Bà Chúa Hòn

vietmessneger.com

Sơn Nam

Kỷ Nguyên xuất bản 1969

Post by Sơn râu 27 May 2025

Chương 9.

Bà chánh thất ngồi trên cầu, thả câu xuống ao sen. Gió chiều mát rượi, hương sen tỏa thoang thoảng. Ở thảo am, mấy vị sư nữ đang tụng thời kinh “công phu chiều”.

Một con cá lội gần sợi nhợ, đứng lại. Cá nhìn mồi rồi do dự. Nhờ nước trong leo lẻo nên bà chánh thất theo dõi được sự dịch vẫn của con cá rô. Cá chúi đầu xuống dưới sâu. Đáng lý ra, bà phải đỡ cần lên cho miệng mồi nằm ngang mặt nước. Cá đến gần mồi, quạt đuôi rồi chạy mất, khuất dưới lá sen.

Bà chánh thất ngẩng đầu lên. Lũ chăn trâu nói to:

– Bà ơi! Có chiếc ghe lớn lắm, xóm nầy không ai có chiếc ghe như vậy.

Bà chánh thất đứng dậy, nhận ra chiếc ghe của Bá Vạn, có mui vuông, thếp vàng phía trước. Bà vừa mừng vừa lo. Mừng vì được gặp Bá Vạn, tha hồ bày tỏ tâm tình. Hơn tháng qua bà đoán rằng cậu Cẩu đã lộng quyền, làm nhiều chuyện thất lương tâm.

Nhưng tại sao Bá Vạn lại đến đây không có bọn tay em tiền hô hậu ủng như dạo nào? Phía sau lái, một lão gầy guộc đang cầm sào, chống thật nhẹ, bằng cớ là chiếc ghe lướt tới quá chậm chạp.

– Hay là Bá Vạn không có mặt trong chiếc ghe ấy? Ông ta giàu sang rồi, sắm chiếc ghe mới!

Nhưng Bá Vạn đã xuất hiện. Ông ta mặc áo dài đen, hỏi chuyện với mấy chiếc xuồng chỗ cửa qua lại. Đáng lý ra, bà chánh thất phải ngoắt tay làm hiệu. Nhưng bà muốn giữ thể diện với mấy sư nữ trong am.

Lát sau, Bá Vạn đến trước bến. Ông chạy nhanh đến bờ am, gương mặt buồn bã vô cùng, nụ cười héo hắt gượng nở trên môi:

– Thưa bà.

Bà chánh thất hỏi:

– Sao bơ phờ vậy?

Bá Vạn nói:

– Bà có tưởng được không? Thằng Cẩu nó đuổi tôi, tịch thâu tất cả tài sản.

– Ác thiệt! Chồng con tôi mà nó còn giết, huống gì ông. Ông ăn cơm chưa? Mời ông vô nhà.

Bá Vạn hơi lúng túng, chẳng biết tại sao bà chánh thất dám làm chuyện mà luật tu hành không bao giờ cho phép. Bà chánh thất nói nhanh:

– Tôi như cư sĩ tu tại gia. Những bà sư nữ bên am theo giới luật, tôi thì sống dễ dãi hơn. Nhà ở bên cạnh đó, ông cứ tự nhiên. Tôi chỉ ăn chay vào ngày sóc, ngày vọng.

Đi theo sau bà chánh thất, Bá Vạn suy nghĩ mông lung. Phải chăng bà chánh thất còn nhiều dục vọng muốn trở lại địa vị cũ nên chưa muốn thí phát qui y? Khi vào nhà, Bá Vạn thấy bàn ghế khá tươm tất, toàn là cây danh mộc. Bà chánh thất dùng cái chén bằng ngọc xanh như hôm nào. Bà đem cái chén ngọc thứ nhì, rót nước mời Bá Vạn.

– Tại sao nó đuổi ông?

– Bởi vì nó sợ tôi chiếm đoạt tài sản.

Bà chánh thất vẫn không quên đối thủ lợi hại nhứt:

– Còn cô Huôi? Nó dám đụng tới cô Huôi không? Tôi suy nghĩ mãi, hiểu rằng kẻ chủ mưu giết chồng tôi chính là cô Huôi. Tôi phải giết nó. Ông giúp tôi được không?

Bá Vạn mừng thầm vì ít ra đêm nay ta cũng còn được ngủ một đêm êm ấm bên bà chánh thất. Hồi lâu, ông mới trả lời:

– Tôi sẵn sàng giúp bà, nhưng lúc nầy tôi là kẻ sa cơ thất thế, không còn đứa hộ vệ nào đi theo.

– Thằng Cẩu là đứa chết yểu. Đêm rồi tôi nằm chiêm bao thấy nó bị đâm chết.

– Có lẽ vậy. Nhưng lúc nầy nó mạnh lắm.

– Mạnh mà yếu, ông ơi! Ba bốn ngày rồi, ở đây có nhiều người mới tới. Họ ở núi Mo So. Họ nói rằng xung quanh núi đầy khói, nhiều nhà bị cháy. Ông Mười Hấu với cô Ngó làm nhiều điều tàn ác. Dân chúng nổi lên…

Rồi bà nói khẽ vào tai Bá Vạn:

– Có thằng Thừa chèo ghe cho ông mọi lần, nhớ nó không?

Nghe qua, Bá Vạn cau mày. Quả thật cậu Cẩu quá ác độc. Chắc là sau khi cách chức ông, cậu ta về Hòn Chông đuổi thằng Thừa ra khỏi nhà, ngôi nhà mà ông Chúa Hòn ban cho từ trước. Hồi xuống ghe để đến núi Đất nầy, Bá Vạn vẫn nuôi hy vọng trở về Hòn Chông để di chuyển chút ít vàng bạc và ghé thăm cô Huôi, nhờ cô chỉ dạy cách đối phó.

Nếu đến sớm quá thì bất lợi, cậu Cẩu đang tức giận. Ông muốn tránh né về ngay, đến thăm bà chánh thất. Thằng Thừa đến núi Mo So làm loạn, phải chăng là cậu Cẩu đã hành hung nó, hoặc đã đập phá, tịch thu ngôi nhà của ông ở Hòn Chông rồi!

– Làm cách nào cho nó chết? Mọi khi, ông nhiều mưu kế lắm mà! – Bà chánh thất hỏi.

Bá Vạn trở lại thực tế:

– Nên nhẫn nhịn, bà ơi. Giông tố nổi lên thì cây cỏ phải rạp đầu xuống, nếu không muốn bị trốc gốc.

– Thằng Cẩu là đứa thất học, so sánh nó với trận giông thì hơi quá đáng.

– Bởi vì thất học nên mới đáng sợ. Hồi xưa, tôi gặp nó một lần. Nó đang đá cá thia thia. Lúc tức giận, nó không thèm đá cá nữa, đem con cá quí nhứt mà ném xuống đất.

– Bởi vậy, tôi nói nó là đứa không ra gì. Tại sao những người lớn tuổi như ông, như tôi lại sợ nó.

– Để tôi nói tiếp… Khi liệng con cá xuống đất, mặt thằng Cẩu xanh lè, coi dễ sợ. Tóm lại, tôi muốn nói rằng nó là thằng điên. Khi thằng điên lên cơn, mình nên tránh mặt chạy trốn.

– Nhưng muốn giết thằng điên thì dễ quá, vì điên là ngu dại, mất trí khôn.

– Phải. Tôi hiểu rồi. Nhưng chờ xem tình thế ra sao! Nếu quả thật thằng Thừa đã xúi giục dân chúng ở núi Mo So nổi dậy chống Mười Hấu và cô Ngó thì đó là cơ hội tốt. Thằng Cẩu không đủ sức chống cự đâu. Bọn hộ vệ còn hơn vài chục đứa…Nhưng trước tiên, mình nên giữ bí mật. Không khéo, thằng Cẩu cho người tới đây giết hại tôi với bà.

Hồi lâu, bà chánh thất giựt mình, vỗ vai Bá Vạn:

– Nầy ông! Nghe nói ông đạo Đất ở gần đây! Tại sao ông với tôi không tới gặp, nhờ xem giùm quẻ? Ông đạo xem giỏi, nói đúng thời vận cô Huôi. Nếu ông đạo bảo rằng tôi với ông hạp tuổi với nhau thì ông nên tìm cách giết thằng Cẩu, nhập bọn với thằng Thừa.

Trời đã khuya.

Sau bữa cơm, Bá Vạn và bà chánh thất nằm chung một giường. Tuy hưởng hạnh phúc, nhưng ông vẫn lo âu. Bà chánh thất hỏi:

– Tôi làm điều gì khiến ông không hài lòng?

Bá Vạn nắm tay bà chánh thất. Ngoài song cửa, ánh trăng soi chênh chếch. Nếu được hưởng hạnh phúc mãi mãi như vầy thì có chi đáng rầu lo. Ông nghĩ đến cuộc khởi loạn ở núi Mo So. Dân chúng Lung Tràm ắt sẽ khởi loạn theo. Đứng về phía nào bây giờ? Nếu đang lúc trai tráng mà gặp cơ hội nầy, nhất định ông sẽ xông pha trận mạc, dẫn bọn hộ vệ và võ sĩ đến Hòn Chông để cướp phá, bắt sống cậu Cẩu. Bây giờ tuổi già sức yếu rồi…

– Ông buồn điều gì? – Bà chánh thất hỏi.

Bá Vạn đáp:

– Tôi không biết làm cách nào để sống yên ổn

– Liệu chừng bọn thằng Thừa ở núi Mo So có thắng nổi không?

Bá Vạn đáp:

– Ở trên núi thì được địa thế tốt, cầm cự lâu ngày, nhưng lần hồi dân chúng mỏi mệt. Nếu thắng trận mà sống trên núi với rắn rít muỗi mòng thì thắng để làm gì?

– Như vậy là thằng Cẩu đang nắm ưu thế.

– Nó không mạnh hơn ai hết! Vài chục tên hộ vệ, sẵn sàng liều chết để canh giữ vòng rào ngôi nhà. Vậy thôi. Nhưng trong ngôi nhà có bàn ghế tốt, có thức ăn ngon, có nữ tỳ. So sánh cho kỹ thì mình ở đây vui nhứt.

Bà chánh thất đáp:

– Vui mà buồn! Hôm nào thằng Cẩu sẽ cho người tới đây hạ nhục tôi với ông. Bởi vậy, tôi khuyên ông tìm cách giết thằng Cẩu. Dễ quá mà! Bỏ thuốc độc vào thức ăn. Cần gì cầm gươm dáo.

Bá Vạn đáp:

– Nhưng liệu cô Huôi cho phép tôi làm chuyện đó không?

Bà chánh thất nảy ra ý nghĩ ghen tương:

– Sao ông sợ cô Huôi? Cô ta nào có binh lực gì trong tay!

– Tôi sợ cái trí khôn của cổ. Không bao giờ cô Huôi là người yếu thế.

– Tại sao lúc nầy cô Huôi không ngăn cản cho thằng Cẩu bớt hung ác?

– Nó càng hung ác thì thiên hạ càng tin cậy vào cô. Nhưng mà rốt cuộc, cô Huôi lại khổ vì chẳng bao giờ có chồng được. Hễ có chồng, dân chúng không tín nhiệm như trước.

Bà chánh thất gật đầu:

– Ông nói hữu lý. Chưa ai chê cô Huôi lời nào cả. Đàn bà mà tỉnh táo như vậy thì quá khéo léo. Ông đạo Đất bói quả đúng. Tại sao mình không gặp ông đạo Đất?

Ý kiến ấy khiến Bá Vạn vui mừng. Thật ra ông ta còn quá nhiều tham vọng, muốn trở lại Hòn Chông để tiếp tục vai trò quản gia, vơ vét thêm vàng bạc. Lúc nầy, bà chánh thất yêu ông chỉ vì ông là người quen thuộc, có tài. Lâu ngày chầy tháng, bà sẽ chê ông là bất tài, nếu suốt ngày ông chỉ biết làm tình rồi uống rượu, câu cá. Hơn nữa, bà chánh thất dám cho sống trong căn nhà ầy, bên cạnh thảo am mà không sợ dư luận?

Nếu muốn hưởng lạc thú, ông có thể tìm vài cô gái tơ. Như vậy đời ông tươi mát hơn. Bên cạnh bà chánh thất, ông chỉ là kẻ thuộc hạ, tôi tớ của …

– Ngày mai, gặp ông ta thử xem…Hỗm rày tôi quên…

Ăn xong bữa cơm sáng, bà chánh thất và Bá Vạn đi bộ lên núi Đất. Dọc đường, Bá Vạn sực nhớ đến ông Tư Thính cha ruột của cô Huôi. Ngôi nhà cũ được tu bổ lại sơ sài, sau khi bị Hai Điền đốt cháy. Bên cạnh, ngôi chùa khá to đang xây cất.

Tư Thính mặc áo lụa ra cửa đón tiếp hai vị thượng khách. Bá Vạn chắp tay xá:

– Tôi không còn là quản gia nữa. Cậu Cẩu đuổi tôi rồi.

Tư Thính đáp:

– Tôi kính trọng ông hơn xưa. Nhưng mà ngày mai ông sẽ làm chức lớn.

– Ai nói vậy?

Tư Thính đáp:

– Ông đạo Đất! Đôi ba ngày, ông tới đây thăm tôi một lần.

Bà chánh thất hỏi:

– Ông đạo Đất bây giờ còn ở trên am?

– Còn đó chớ đi đâu. Xin lỗi bà, ông đạo khen bà là người nhiều phước đức. Về già, bà được yên vui.

– Ông mới là nhiều phước đức chớ? Con gái ông bây giờ là người sang trọng nhứt…

– Tôi chỉ dám cầu mong cho nó được trong sạch nhứt, để cha mẹ khỏi mang tiếng xấu. Con người sanh ra, chịu cực khổ, bỗng vui sướng rồi chết. Mời bà và ông vô nhà.

Vì ganh tức với địa vị cô Huôi, bà chánh thất cương quyết từ chối:

– Tôi chỉ xứng đáng đứng ngoài sân nhà nầy. À! Nghe nói trước sân có bụi quỳnh hoa đẹp lắm.

Tư Thính chắp tay xá bà chánh thất:

– Xin bà đừng giận tôi. Tới ngày giờ nầy, con gái tôi cho tôi đủ tiền để cất một ngôi chùa. Tôi hứa đi tu mà! Ông đạo Đất nói rằng nếu không tu hành, theo con cái về Hòn Chông mà hưởng vinh hoa phú quý thì tôi bị giết!

– Ghê vậy! Để tôi lên gặp ông đạo Đất …

Rồi bà giải bày:

– Hỗm rày, tôi ở ngoài am. Tình cờ gặp Bá Vạn nên tôi nhờ ổng dẫn đường. Bụi quỳnh hoa ở chỗ nào? Cho tôi xem.

Tư Thính đưa bà chánh thất tới trước sân. Chỉ là bụi cây um tùm. Ông cho biết từ đó đến nay, nó không trổ thêm nụ nào hết.

Bá Vạn nói khẽ:

– Nên an hưởng tuổi già, ông Tư à!

Tư Thính cau mày:

– Ai mà không muốn được an nhàn? Nhưng mà ông đạo Đất dạy rằng: Khôn cất trại, dại cất nhà. Ổng dám đoán rằng vài năm nữa, con gái tôi trở về đây để tưới rau, trồng cải, cấy lúa. Ông tin không? Theo ông đạo Đất thì đời nầy sắp thay đổi. Vùng đồi núi Hòn của ông Chúa Hòn xưa kia chỉ là cánh bèo trên biển Đông. Khi tươi khi héo. Có bao giờ cánh bèo sống trăm năm, ngàn năm?

Bá Vạn bèn thúc hối bà chánh thất:

– Thưa bà, tôi muốn lên gặp ông đạo Đất. Ông nói nhiều chuyện lạ quá. Quá khứ, ông nói đúng, thì nhất định là đâu có sai lầm những chuyện vị lai. Tôi muốn biết thằng Cẩu sống bao lâu?

Ông Tư Thính muốn dẫn đường nhưng Bá Vạn nói khéo:

– Bà chánh thất nầy không ưa cô Huôi. Nếu ông có mặt thì làm sao ông đạo Đất dám bói quẻ.

Rồi ông nói riêng:

– Hôm nào gặp cô Huôi, nhờ ông nói giùm. Lúc nầy tôi thất thế.

Ông Tư Thính nói:

– Sống ngoài vòng danh lợi như tôi, thích hơn. Chừng gặp ông đạo Đất, ông sẽ nói nhiều điều mầu nhiệm lắm.

Khi Bá Vạn và bà chánh thất đến thảo am thì gặp ngay ông đạo Đất. Ông ngồi trên bộ ván sơ sài, gương mặt mệt mỏi:

– Tôi ít nói lắm.

Bà chánh thất bèn tự giới thiệu dài dòng. Ông đạo Đất đốt ngọn nến, soi tứ phía rồi để ngay trước mặt bà chánh thất:

– Về già, bà được hưởng chữ nhàn.

Bà chánh thất chưa được thoả mãn cho lắm:

– Nhờ ông coi kỹ lại. Nhàn mà bị đày ải nơi xa xôi, ngày đêm lo lắng thì sướng ích gì? Cô Huôi mới là người nhàn rỗi, ở không cũng có ăn, bên cạnh luôn luôn có người hầu hạ.

Ông đạo Đất nói:

– Cô Huôi lo lắng hơn. Rồi đây cô sẽ cất một cái thảo am như bà vậy thôi. Về già, ai cũng bớt nóng nảy.

– Nhưng chẳng lẽ số phận tôi và cô Huôi lại giống nhau? Trời sanh ra, giọt nước nầy rơi trên đồng, giọt nước kia rơi xuống giếng.

Ông đạo Đất cười hiền lành:

– Nhưng tất cả đều về biển. Chỉ khác một điều là cô Huôi đi tu sớm hơn bà. Bà đi tu năm nầy, năm được ngoài bốn mươi tuổi. Cô Huôi thì… cũng đi tu năm nay, chừng vài tháng nữa thôi.

Bá Vạn nãy giờ ngồi trầm tĩnh, đoán chừng ông đạo Đất chỉ xem quẻ chiếu lệ để trấn an bà chánh thất. Khi nghe chi tiết lạ lùng ấy, ông sửng sốt hỏi:

– Vài tháng nữa là cô Huôi đi tu?

Ông đạo Đất gật đầu:

– Thiên cơ mầu nhiệm lắm. Đây là thời Ma Pháp. Tôi ở non cao nên thấy vài chuyện ma, người ở dưới không thấy. Ngoài biển khơi hôm nào trời trong vắt…luôn luôn có vài con cá kình nổi lên!

Bà chánh thất cằn nhằn:

– Ông nầy nói nhiều chuyện khó tin quá.

Nhưng ông đạo Đất đứng dậy nói với Bá Vạn:

– Muốn thấy cá kình thì hôm nào rảnh, ông Bá tới với tôi, đứng trên chót núi.

Bá Vạn bước theo chân ông đạo. Bà chánh thất ngồi lì trong am, thắp ba cây nhang cắm trong cái lư nhỏ. Nếu quả thật vài tháng nữa cô Huôi phải đi tu thì bà vui mừng biết chừng nào. Chừng đó, tất cả mọi người đều tủi nhục, ngang hàng với nhau. Và người nào nếm mùi tủi nhục trước thì sẽ được xem là khôn ngoan.

Đến tảng đá bằng phẳng, ông đạo ngồi xuống.

– Ông Bá nói chuyện cho vui. Vì bà chánh thất ở trong am nên tôi muốn tới đây.

Bá Vạn ngồi xuống với vẻ mặt hơi bực dọc:

– Đầu đuôi cũng tại ông. Nếu không có cô Huôi thì tôi đâu nhục nhã như vầy! Thằng Cẩu đuổi tôi, chưởi tôi trước đám đông rồi còn tịch thu tài sản. Hồi xưa cậu Hai Điền chỉ làm một chuyện nhỏ là hất tô thịt kho vô áo tôi. Bởi vì tử vi cô Huôi quá hên, nên tôi hứng chịu bao nhiêu nhục nhã.

– Kìa!

Ông đạo Đất chỉ về phía Tây. Núi Đất ở xa bờ biển chừng trăm mẫu đất. Mặt biển xanh chàm, gió thổi mát lạnh. Hòn Nghệ, hòn Heo nằm im lìm. Và cánh buồm như không di chuyển. Nơi bãi bùn, vài chiếc thuyền câu sắp rời bến.

Bá Vạn hỏi:

– Ông muốn nói chuyện trời biển tang thương hay là ông rủ tôi ra ngoài hoang đảo để lánh nạn?

– Không! Gần Hòn Nghệ phía trái hai ngày trước, dân chúng thấy hai con cá kình nổi lên. Cá kình lớn hơn cá ông. Nhưng vài người chài lưới bảo rằng đó không phải là cá kình.

– Vậy chớ cá gì?

– Là hai chiếc tàu sắt, phun khói đen kịt. Trên tàu có nhiều người da trắng bạch, tóc hoe, mắt đục. Họ cầm súng, bên cạnh họ còn nhiều người “An Nam” khác. Sau lái tàu, có lá cờ xanh trắng đỏ. Bọn đó tới Hòn Chông, thì …liệu cậu Cẩu chống cự nổi không? Nghe đâu miệt trên, Vĩnh Long, Định Tường đều thất thủ. Bọn nó tới chợ Rạch Giá rồi.

Bá Vạn nhăn mặt. Ba màu xanh, trắng, đỏ khiến ông ta nhớ đến bọn Sơn Đông mãi võ đến Hòn Chông để nhảy qua vòng lửa. Bọn chúng là quân dọ thám, nghi ngờ gì nữa! Như vậy có nghĩa là sớm muộn gì Hòn Chông nầy cũng lọt vào tay người lạ mặt. Nhưng Bá Vạn vẫn còn thắc mắc:

– Biết đâu họ đem tàu sắt tới xứ nầy để thị oai rồi qua xứ khác. Bên kia bờ biển là nước Xiêm!

Ông đạo Đất nói:

– Sự đời thấy thì hay vậy! Tôi không dám bàn thêm. Mỗi ngày, tôi tới thăm ông Tư Thính, nói chuyện đạo hạnh cho vui. Bởi vậy …tôi khuyên ông Bá đừng nóng nảy.

Bá Vạn đứng dậy, nhắc ông đạo Đất ở trong am còn bà chánh thất đang chờ. Trên đường về am, Bá Vạn nài nỉ:

– Ông coi cho tôi một quẻ, coi thiệt tình, đừng nịnh bợ, thấy sao nói vậy…

Ông đạo Đất lẩm bẩm:

– Thế nào vùng Hòn Chông cũng lộn xộn. Cậu Cẩu phải nhờ tay ông. Ông ở đây mà chờ….

Cậu Cẩu về Hòn Chông, vui sướng vô cùng vì đã giải chức Bá Vạn mà không gặp sự chống đối nào cả. Cậu cho người đến núi Mo So, rước mẹ và ông ngoại về Hòn Chông.

Ông Mười Hấu và cô Ngó đến cư ngụ tại ngôi nhà trước kia dành cho bà chánh thất và ông Chúa Hòn.

Là người thận trọng, ông Mười Hấu hỏi:

– Cháu đã làm điều gì hỗn hào không? Dầu sao đi nữa, ông Bá Vạn giúp cháu quá nhiều.

Cậu Cẩu đáp:

– Hễ cháu đuổi là làm chuyện hỗn hào rồi. Cháu nghĩ rằng dung dưỡng Bá Vạn thì ngoại đâu còn công chuyện mà làm! Theo ý cháu thì từ rày về sau, ông ngoại sẽ lên chức quản gia thay thế Bá Vạn.

– Không được cháu ơi, thiên hạ bàn tán xôn xao. Họ nói rằng ông đây chủ mưu giết cậu Hai Điền.

– Cháu liệu định rồi. Thỉnh thoảng, ông ngoại tới Vàm Rầy mà ở. Bá Vạn cất ba căn phố, dự trữ đầy đủ nào là tôm khô, bong bóng cá để bán với giá cao trong mùa tới. Ông ngoại tới đó làm sổ sách…

Ông Mười Hấu đáp:

– Để tính kỹ lại. Khó lắm.

– Có gì mà khó! Cháu đủ quyền hạn mà.

Thật ra, ông Mười Hấu đang khổ tâm vì chuyện khác. Từ khi cậu Cẩu nắm quyền thay thế cậu Hai Điền và ông Chúa Hòn thì dân chúng núi Mo So vô cùng phẫn uất. Họ không tin cậu Cẩu, xem cậu là đứa ngu dại, khùng điên. Ông Mười Hấu nói:

– Khó lắm. Cháu thì khác…

– Chắc ông ngoại muốn uống rượu chớ gì? Xí Vĩnh đâu?

Xí Vĩnh xuất hiện trước sự ngạc nhiên của Mười Hấu. Nàng mặc áo gấm, chân đi dép cườm. Cậu Cẩu nói:

– Đây ông ngoại. Em hãy chào ông ngoại.

Mười Hấu nói:

– Được rồi! Cô nầy là ở đâu vậy cháu?

Cậu Cẩu nói:

– Cháu nhìn nhận Xí Vĩnh là vợ. Ông ngoại thấy sao? Chưa ai xinh đẹp bằng. Thấy Xí Vĩnh ở đây, ông Bá Vạn nổi cơn ghen mà chết. Thằng A Chúa rước bọn gái đẹp để dành cho Bá Vạn. Dè đâu cháu chận trước đem về đây.

Day qua Xí Vĩnh, cậu Cẩu nói:

– Em hát một bài, hay là đem cây đờn tranh ra khẩy một bản Hành Vân, Lưu Thủy gì đó cho ông ngoại nghe.

Trong phút giây, ông Mười Hấu thấy cảnh suy sụp của gia đình. Theo ý ông thì công việc đầu tiên mà cậu Cẩu nên chỉnh đốn là phòng thủ, tuyển chọn thêm một số đông hộ vệ quân, cho bọn nầy ăn uống đầy đủ, phòng khi hữu sự thì chúng nó dám liều chết cứu chủ.

Nghe chưa dứt bản đàn, ông Mười Hấu đứng dậy:

– Cháu cứ nghe. Ông muốn nằm nghỉ.

Cậu Cẩu hỏi:

– Hay là Xí Vĩnh đờn quá dở. Nếu vậy cháu phạt nó uống rượu?

– Thôi! Ông đã già rồi. Cháu cứ vui…

Cậu Cẩu cau mày:

– Hay là ông ngoại chê cháu ham chơi? Cháu làm công việc dữ lắm. Phải trừ tuyệt bọn tay em của Bá Vạn.

Khi Mười Hấu ra cửa, cậu Cẩu ra lịnh:

– Hộ vệ đâu? Đưa ông ngoại tao tới nhà ông Chúa Hòn. Tụi bây quét dọn trong ngoài cho sạch sẽ.

Tên hộ vệ theo chân ông Mười Hấu. Lần đầu tiên, ông bước vào căn nhà sang trọng, từ trước đến nay. Tên hộ vệ mở khóa rồi chỉ dẫn:

– Đây là bàn thờ…

Ông Mười Hấu sực nhớ một việc quan trọng nên dừng lại.

Sau khi đốt nhang khấn vái lâm râm, ông xá ba lần trước bàn thờ. Trên ấy, có nhiều bài vị, nhưng còn thiếu cái bài vị đề tên ông Chúa Hòn và cậu Hai Điền.

– Trưa nằm ngủ bên nầy.

Cánh cửa mở rộng. Người hộ vệ vào trước, đốt mấy ngọn đèn sáp. Vì quen sống bên ngoài nên Mười Hấu đứng lại mà quan sát rồi hỏi:

– Tại sao tối om om vậy?

– Dạ ban ngày ban đêm gì cũng phải thắp đèn sáng. Hồi trước ông Chúa Hòn nói rằng nhà phải kín đáo thì làm ăn mới khá. Đây là kiểu nhà của vua quan bên Tàu. Nếu khoét cửa thì có ba điều hại.

Mười Hấu hỏi thành thật:

– Điều gì?

– Dạ gió lọt vô dễ bị cảm mạo. Tiền bạc bên trong có thể…bay ra ngoài.

– Ngộ quá! Vậy vua chúa có nhiều phong tục lạ. Nhưng còn điều thứ ba?

– Ông cho phép thì tôi mới dám nói.

– Cứ nói. Ta thưởng tiền bạc cho.

Nhìn kỹ gương mặt người hộ vệ, Mười Hấu hơi sửng sốt vì lão nầy hơi già, trán nhăn lại, gân tay nổi lên. Mười Hấu nói tiếp:

– Tôi lớn tuổi rồi, muốn hưởng nhàn. Cháu tôi mời mọc, tôi phải tới đây. Còn điều thứ ba?

Người hộ vệ bèn cúi đầu:

– Tôi hầu hạ ông Chúa hơn mười năm rồi. Tôi không phải là hộ vệ vì sức lực đã suy giảm. Điều thứ ba là nếu nhà có cửa sổ thì kẻ gian bên ngoài có thể nhảy vào mà thích khách…

Mười Hấu rởn tóc gáy khi nghe hai tiếng đó. Ông ta bèn trao cho lão nọ một nén bạc, với dụng ý mua chuộc tình cảm để lão nói cả sự thật.

Lão cúi đầu, ngỏ lời cám ơn. Mười Hấu nằm xuống sạp, lão cầm quạt phe phảy đứng bên cạnh. Mười Hấu vẫn chưa hết thắc mắc:

– Rủi người ngoài vào đây thích khách thì ta làm sao?

– Dạ, bên ngoài đã có bọn hộ vệ trẻ tuổi. Trong nầy có cách khác…tôi lo món ăn cho ông Chúa Hòn ngày trước. Hỗm rày tôi muốn trình cậu Ba vài việc nhưng chưa dám. Một khi nắm quyền hành trong tay, con người nên cẩn thận việc ăn uống, coi chừng bị đầu độc!

Trong một thoáng, Mười Hấu nhớ đến Xí Vĩnh và cái bầu rượu trên bàn cậu Cẩu lúc nãy:

– Phải đó. Đề phòng bị đầu độc bằng cách nào?

Người hộ vệ thưa:

– Đáng lý ra, trước khi ăn uống, cậu Ba nên hỏi ý tôi.

Mười Hấu trợn mắt:

– Ông làm thầy thuốc? Làm sao biết món ăn có trộn thuốc độc? Ông hửi thử hay là ăn trước vài miếng? Lúc nầy tôi nên đề phòng, dân chúng ở núi Mo So bắt đầu chống đối, hăm he không chịu góp lúa ruộng.

Người hộ vệ bèn kéo cửa tủ rồi mở cái ngăn nhỏ bên trong. Ông ta đem ra một cái dĩa màu xanh mướt trao cho Mười Hấu.

Ông nầy trố mắt, đem cái dĩa lại gần ngọn đèn sáp mà ngắm xem. Nước men nổi lên màu xanh láng kỳ diệu, rờ vào là mát lạnh:

– Ngộ quá! Hồi nhỏ tới lớn, tôi chưa thấy cái dĩa nầy.

Người hộ vệ đáp:

– Đó là cái dĩa quí của vua chúa bên Tàu. Mấy người thương gia đem qua “cống sứ” cho ông Chúa Hòn. Nhờ nó mà hồi mười năm trước, ông Chúa thoát nạn. Ông xem kỹ thì thấy cái màu xanh kỳ lạ, nước biển không ra nước biển, xanh lá cây thì khác hơn…

Mười Hấu thích chí, hỏi thêm:

– Có chén bằng ngọc không?

Người hộ vệ đáp:

– Cái dĩa nầy còn quí hơn ngọc. Nghe đâu nó còn phép lạ khác, để đồ ăn vô dĩa đôi ba ngày mà không hôi thúi.

– Tôi bỏ cái dĩa nầy trong túi. Khi nào nghi ngờ thì đem ra xài.

Người hộ vệ đáp:

– Ngày xưa, ông Chúa Hòn giữ kín, không cho ai thấy cái dĩa nầy, lâu lâu mới đem ra xài một lần. Nếu ông cho người khác thấy thì ai ngu dại gì ám hại bằng cách đầu độc?

– Vậy thì tôi để đây!

Vừa lúc ấy, bên ngoài có tiếng kêu la ơi ới. Mười Hấu chạy ra sân. Cậu Cẩu nói hơ hãi:

– Ông ơi. Nguy rồi! Ông cầm…binh được không?

Mười Hấu hoảng hốt:

– Cầm binh là làm sao? Thì cháu có sẵn mấy chục đứa hộ vệ. Chuyện gì mà đánh mõ ỏm tỏi vậy?

Cậu Cẩu nói khẽ:

– Dân ở núi Mo So chạy giặc lên đây. Thằng Thừa tay sai của ông Bá Vạn tới đó, đốt nhà cửa, xúc lúa đem lên núi.

– Cháu tính cách nào?

– Ông qua đây mà xem thử. Ông sẽ thấy chuyện nầy lớn chớ không nhỏ đâu.

Bên nhà cậu Cẩu, hàng trăm người ngồi chồm hỗm trước sân. Mười Hấu nhận ra tất cả những người quen thuộc:

– À! Tư Hinh!

Trước kia, Tư Hinh sống bằng nghề hái ổ ong, lấy sáp và mật. Tư Hinh vuốt mồ hôi trán, chắp tay thưa:

– Ông Mười ơi! Nguy lắm. Xóm mình không còn một căn nhà nào đứng vững. Nhà ông bị đốt trước. Thằng Thừa gom tất cả dao mác. Dẫn chừng bốn năm chục cậu trai lên núi để luyện tập võ nghệ. Phải chi ông cầm binh đánh một trận cho nó sợ.

Nhiều người mạnh dạn đến gần cậu Cẩu, chắp tay xá dài để xin cơm nước, xin chỗ tá túc. Cậu Cẩu bèn nghiêm nét mặt:

– Tại sao không dám ở núi Mo So? Thằng Thừa bây giờ ở trên chót núi? Ai dám trở về giết nó thì tôi trọng thưởng. Phải về xứ mà ở. Đây là nhà tôi, làm sao chứa chấp hàng trăm người được?

Có người khóc mếu máo mà nói:

– Cậu ơi! Nó mạnh lắm. Mỗi đêm, nó đốt đuốc trên núi, đánh trống mõ vang trời. Nó hẹn năm ngày nữa là kéo binh tới Hòn Chông để …trả thù cho ông Bá Vạn!

– Sao? Mấy người nói gì?

Ông Mười Hấu truyền lịnh nấu cơm cho bọn người tản cư ấy ăn tạm rồi dẫn Tư Hinh vào nhà. Trước kia, Tư Hinh thường uống rượu và đánh cờ tướng với Mười Hấu nên được tin cậy.

Vào trong phòng, ông Mười hỏi kỹ:

– Thằng Thừa mạnh yếu thế nào? Bá Vạn tới núi Mo So chưa?

Tư Hinh đáp:

– Làm sao tôi so sánh được? Nếu ở đây mạnh thì nó yếu. Nó có hơn năm mươi đứa, cầm dao mác.

Nghe qua, Mười Hấu hoảng sợ vì với lực lượng ấy, thằng Thừa đủ sức đốt phá Hòn Chông. Chừng ấy, chưa ắt bọn hộ vệ còn giữ lòng trung thành với cậu Cẩu. Nếu Bá Vạn đi theo thằng Thừa thì mặc nhiên ông ta sẽ thắng thế.

Mười Hấu hỏi tiếp:

– Ai xúi giục thằng Thừa? Bá Vạn có ở đó không?

– Dạ, không thấy Bá Vạn. Nhưng dường như thằng Thừa có chiêu mộ được một người “Sơn Đông mãi võ”. Người nầy ở chợ Rạch Giá mới tới, loan tin rằng quân Lang Sa đang tràn về phía Hòn Chông!

Cậu Cẩu nằm yên trên giường, mồ hôi để tuôn nườm nượp, mặc dầu cô Xí Vĩnh quạt không ngừng tay. Con nít khóc ré trước sân, mấy người tản cư như đói khát lắm giành nhau từng chén cơm. Cậu đếm lẩm bẩm:

– Mười, mười bảy, ba chục đứa hộ vệ. Yếu quá!

Ông Mười Hấu bước vào, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài rồi nói với cậu Cẩu:

– Cháu tính sao? Ông thấy rằng để trễ thì…không còn nơi nào chạy trốn. Bọn hộ vệ của thằng Thừa hăng hái lắm…

– Nguy thiệt. Ông tính cách nào thì cháu tuân theo.

Mười Hấu cau mày, sực nhớ đến cô Huôi. Lập tức, ông qua tư thất của cô vấn kế..

Cô Huôi cười lạt:

– Gieo gió thì gặt bão. Người như Bá Vạn đâu dễ kiếm. Bởi vì cậu Cẩu cách chức Bá Vạn nên thằng Thừa hoảng sợ. Muốn dẹp loạn thì nên…

Mười Hấu đáp:

– Thưa cô, nên mời ông Bá Vạn về, biểu cậu Cẩu xin lỗi vài tiếng.

– Không! Nên để cho cậu Cẩu tới núi Mo So dẹp loạn một lần.

Mười Hấu trố mắt:

– Nó đi thì chắc là chết dọc đường. Trước đây, cậu Hai Điền có oai thế nhờ biết săn bắn. Thằng Cẩu là cháu ngoại tôi, nó chỉ biết giỡn gái và đá cá thia thia.

Cô Huôi nói:

– Đây là dịp cho cậu ta thấy rằng làm ông vua con đâu phải dễ. Sau đó, hãy rước Bá Vạn. Nhưng Bá Vạn đâu phải con nít. Theo tôi thì cậu Hai Điền chỉ có tật là “nói bậy nói bạ” cho vui chớ chưa bao giờ dám đuổi Bá Vạn, tịch thu tài sản.

Mồ hôi tuôn giọt vắn giọt dài trên trán Mười Hấu:

– Thưa cô, nhờ cô giúp…

– Phải cho cậu Cẩu hiểu rằng đời là khó.

– Nhưng nó chỉ sợ cô thôi. Cô dạy dỗ nó. Ở xứ nầy cô là người nhiều quyền hạn nhứt.

– Điều đó hơi khó. Thú thật với ông tôi muốn đi tu cho rồi, nhưng chưa rảnh nợ đời. Cha tôi đã cất gần xong một kiểng chùa ở núi Đất… Cứ biểu cậu Cẩu tới núi Mo So ra trận một lần. Chỉ khi nào bại trận, cậu ta mới bớt háo thắng. Thôi! Ông nên ra ngoài, kẻo nó giận tới tôi.

Ra khỏi nhà cô Huôi, Mười Hấu gặp cậu Cẩu, khuyên đứa cháu ngoại nên ra trận, tiến vào núi Mo So để tiễu trừ bọn phiến loạn. Phản ứng đầu tiên của cậu là chờ đợi. Ông Mười Hấu hơi bối rối:

– Nếu cháu không giết nó trước thì nó kéo tới đây. Ông chạy trốn bây giờ.

– Theo ý ông thì nên làm gì?

– Cháu đi thử một chuyến, cho bọn hộ vệ quân đi trước, nếu gặp bất trắc thì chúng nó chết trước.

– Xí Vĩnh với cháu đi sau…Rời Xí Vĩnh cháu thấy buồn quá. Nhưng phải chờ sáng mai, cho bọn hộ vệ tập dượt trước.

Quá thất vọng vì thái độ khiếp nhược của đứa cháu ngoại. Mười Hấu bèn đến gặp cô Huôi lần thứ nhì. Sau khi suy nghĩ khá lâu cô đáp:

– Ông viết thơ năn nỉ Bá Vạn. Có Bá Vạn thì việc nầy mới xong.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply