This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Vũ Thành một trong những nhạc sĩ kỳ cựu của chúng ta. Ông từng là chỉ huy trưởng của Quân Nhạc VNCH. Cũng có
một thời ông giữ chức Chủ Sự Phòng Văn Nghệ đài Phát Thanh Quốc Gia Sài Gòn. Sau biến cố 1975 ông rời Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ và ông cũng là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên đã mất tại hải ngoại kể từ 1975.
Trong nền tân nhạc Việt Nam người ta có thể xếp nhạc Vũ Thành và Dương Thiệu Tước vào dòng nhạc quý phái. Bản chất lãng mạn, Vũ Thành không viết gì khác ngoài tình ca.
Nhưng nghe nhạc ông, người ta còn nhận ra một điều khác nữa: ông là một người rất nặng lòng với quê hương. Dù ông có nói tới bất cứ điều gì trong nhạc của mình, cái nỗi tư hương ấy vẫn cứ bàng bạc ở khắp nơi. Quả thật là một điều đáng tiếc đối với Vũ Thành là Hà Nội sau 54 và Sài Gòn sau 75, những nơi phải bỏ đi, ông đã không một lần được nhìn thấy lại. Hiện nay, nếu muốn, mọi người đều có thể trở về những nơi ấy, dù chỉ với tư cách du khách.
Cái chết của ông đã biến những chuyến tạm biệt các thành phố thân yêu của mình thành những lần vĩnh biệt. Bởi vì, khi Vũ Thành còn, chuyện trở về Việt Nam còn là chuyện trong tưởng tượng. Song, có thể cũng vì thế, cái nỗi đau, nỗi tư hương không rời trong nhạc của ông, đã trở thành linh hồn, trở thành sự thật trong nhạc của ông, không bao giờ rời đổi nữa. Nhiều người cho rằng nhạc Vũ Thành chịu ảnh hưởng nhạc bán cổ điển Tây phương. Nhưng nếu nghe kỹ nhạc ông, người ta sẽ nhận ra, đó chỉ là sự liên tưởng nhiều hơn là điều có thật. Người ta sẽ khám phá ra rằng, đó là tâm sự của một người có cách diễn tả như thế, không liên quan gì tới nhạc Tây hay nhạc Tầu. Ông có lối kiến trúc âm thanh riêng, thuần nhất, người ta có thể nghe và nhận ra đó là nhạc của ông.
Và khi được phổ biến, nó đã đóng góp vào sự giàu có chung của kho tàng âm nhạc Việt Nam. Ngoài sáng tác, Vũ Thành còn là một trong những nhạc trưởng tài hoa đầu tiên của chúng ta.
Phải nhìn thấy Vũ Thành với bộ quân phục trắng, mũ lưỡi trai có cành lá, đứng điều khiển ban nhạc trong một công viên nào đó, trước những dàn kèn đồng bóng láng, người ta mới biết, vì sao, có lần, trước một đám đông cử tọa, giới thiệu Ánh Tuyết trình bầy ca khúc Giấc Mơ Hồi Hương, Phạm Duy đã gọi Vũ Thành là ‘nhạc sĩ đẹp trai nhất nước” [chỉ sau có Phạm Duy thôi] không chỉ là lời nói đùa. Trong những tình khúc đầu tiên của mình, Cung Tiến dùng tiếng ‘người’, Vũ Thành dùng tiếng ‘bạn’ để gọi người tình. Người ta không biết những tiếng ấy có bền vững hơn tiếng ’em’ hay tiếng ‘người yêu’ không? Nhưng rõ ràng là có một khoảng cách giữa các tên gọi đó. Thế nhưng khi nhạc được hát lên, cái khoảng cách ấy không còn nữa. Ôi, giá mà chúng ta ai cũng có được một người yêu suốt đời, lại còn là một người bạn nữa nhỉ? Có lẽ vì thế, khi đạt đến đỉnh cao này, người ta gọi nhau là ‘bạn đời’ chăng?
Đối với chung những người nghe, nhạc Vũ Thành chỉ có một điều đáng tiếc là hơi khó hát. Muốn hát nhạc ông, người ta phải có một trình độ nhạc lý nào đó và còn phải mất công phu luyện tập nữa. Nói cách khác, nhạc Vũ Thành có vẻ như chỉ để dành riêng cho các ca sĩ. Thế nhưng, nếu thích và khi yêu, bạn lại thuộc ít câu nhạc Vũ Thành, bạn cứ việc hát, bạn vẫn tìm thấy trong nhạc của ông những rung động và tiếng nói đúng với lòng mình.
Với tư cách là người yêu chúng ta không nhất thiết phải là ca sĩ.
Có nhạc Vũ Thành tình bạn hình như đẹp hơn, tình yêu trở nên đẹp hơn và cả Hà Nội cũng thêm phần đẹp hơn. Ước muốn của ông gần gụi với mọi người. Cái buồn trong nhạc của ông nếu có, cũng là cái buồn thơ mộng, khoẻ khoắn, dù khi ông nói lời từ biệt. Vũ Thành là người đầu tiên gọi Hà Nội bằng tiếng ‘Em’ ngọt ngào.
Hà Nội trong nhạc Vũ Thành, Hà Nội trong nhạc Hoàng Dương, Hà Nội trong nhạc Trần Văn Nhơn, đều có thể coi là những “tháp rùa âm thanh” trang điểm cho Hà Nội. Và những gì ông viết ra, đều có ý nghĩa một tác phẩm nghệ thuật một người có thể tạo ra dâng hiến cho đời, không mang một hậu ý nào khác.
Quà tặng của Vũ Thành chúng ta đã nhận được. Các thệ hệ sau chúng ta tiếp nhận những tác phẩm ấy như thế nào, chúng ta không thể biết trước.
Vũ Thành không còn nữa. Nhưng nếu nhạc của ông còn được nghe, còn được hát, thì dù ông có mất, cũng chỉ là sự vắng mặt. Và trong đời sống còn tình yêu và, quê hương đối với mỗi người chúng ta vẫn còn là một phần thịt xương, thì Vũ Thành vẫn còn là niềm hãnh diện của chúng ta. Vì tựu trung,
ông là một trong những nhạc sĩ viết tình ca hay nhất của chúng ta vậy.
Vũ Nhân còn một bút hiệu nữa là Văn Như Hoàng Băng. Nếu lấy 1954 làm dấu mốc thì Vũ Nhân thuộc lớp những người viết ca khúc sau cùng xuất hiện tại Hà Nội trước khi xẩy ra hiệp định Genève. Ngoài Vũ Nhân còn có thể kể thêm Văn An. Vũ Nhân và Văn An cũng có một sáng tác chung là bản
Thu Tàn.
Tàn thu khi chiều xa chốn cố hương
Tìm đâu quê nhà bóng tre xanh rờn
Hoàng hôn dân thôn hòa vang tiếng hát
Nhịp sống nhạc vương
Trong nắng thu trầm lan khói chiều
Hương chiến chinh còn vương đây đó
Người nghệ sĩ hồn thơ phiêu diêu
Bên đồi thông lá rơi tiêu điều
Ấn bản ca khúc Thu Tàn khi ấy không ghi rõ Văn An và Vũ Nhân, ai viết nhạc, ai viết lời ca. Văn An thường xuất hiện trong những buổi phụ diễn ca
nhạc tại các rạp chớp bóng, cùng một ban nhạc gồm độ bốn, năm người, với tư cách “nhạc trưởng” và, chiếc đũa dẫn nhạc của ông luôn gắn một bóng đèn “pin” trên ngọn!
Thỉnh thoảng Văn An cũng xuất hiện trên sân khấu với tư cách ca sĩ, song ca với Thanh Hằng. Nhưng ở địa hạt này hình như ông không mấy thành công. Vũ Nhân thì người ta chỉ biết mặt qua tấm hình in ở đằng sau bản Tình Thắm. Và Tình Thắm trong những ngày xa xưa ấy được nhớ tới nhiều nhất là qua giọng hát Tâm Vấn.
Đó là những ngày, sau này, có người kể lại rằng, Hà Nội chừng như mắc chứng hoại huyết, chưa tới tháng bẩy trời đã đổ những trận mưa lớn bất chợt, trời đất u ám, cây cỏ nhợt nhạt, ủ rũ, báo trước nỗi tang thương sắp sửa. Thảm họa đất nước bị chia cắt, ở lại miền Bắc hay ra đi là chuyện đã chiếm trọn tâm trí mọi người, vì đó là việc người ta bắt buộc phải quyết định. Và, dù lựa chọn cách nào, người ta đều hiểu rằng đây là một một cuộc chia tay: người ta chia tay nhau và chia tay với nếp sống cũ. Đúng hơn phải gọi là một cuộc đổi đời. Chính trong nỗi bấp bênh còn mất, không biết ngày mai sẽ ra sao, hình như người ta bỗng nhận ra mọi sự vật quanh mình đều trở nên quý giá và muốn biến thành kỷ niệm để cất giữ. Một trong những cái gần gũi và dễ nhớ nhất đối với mọi người là âm nhạc, đặc biệt là các ca khúc. Tình Thắm của Vũ Nhân [Văn Như Hoàng Băng] ở trong trường hợp ấy:
Tình Thắm
Tôi nhớ một ngày xa xôi chớm thu
Em đến thăm tôi một chiều khi nắng tàn
Cỏ hoa dường như khoe sắc thắm
Nghiêng nghiêng đón gót người đi
Yêu đương dâng sóng tình mến
Tôi nhớ một chiều đơn côi chớm thu
Em đến thăm tôi hoàng hôn rơi lá vàng
Gần nhau đẹp bao mơ duyên dáng
Bên em ngát gió tình thương
Mơn man đính ước trầm hương
Chiều vắng, tình thắm
Nhớ mãi phút giây bên nhau
Tình tôi đây người ơi
Chiều xa
Lòng ta rung trong kiếp sống
Dưới trăng khuya âm thầm bến sầu
Đàn vắng nhưng sóng tình thắm
Dư âm còn vương tình thương nhớ nhung
Ngát hương say mơ
Dìu trăng bên mái lầu
Đời trót luyến mến bóng dáng người
Tôi nhớ miệng cười xinh xinh ngát hương
Tiếng hát say sưa trầm rung khi nắng chiều
Lời thơ đẹp bên nhau đôi phút
Dâng trong khoé mắt huyền nhung
Vương trên đôi môi trìu mến
Tôi nhớ nụ cười xinh bao ước mơ
Em đến thăm tôi một chiều khi gió về
Rơi tay còn trông theo lưu luyến
Say hương mến tiếc người đi
Xa nhau nhớ phút biệt ly
Quý vị nào muốn nghe lại Tình Thắm, với lời ca chính xác, xin tìm CD Vàng Phai Mấy Lá, do ca sĩ Mai Hương trình bầy. Vì nghe nói ca sĩ Mai Hương có trong tay ấn bản đầu tiên của ca khúc này.
Độ mười ngày sau thì đường thông, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình.
Các bạn thử tưởng tượng chúng tôi đi với sức lực nào, với tâm tư nào. Vậy mà chúng tôi phải đi, trong khi đó thì lại có người đi ngược chiều với chúng tôi.
Lúc bấy giờ vào khoảng tháng sáu dương lịch. Mưa vẫn còn đang mùa. Mưa là kẻ thù của chúng tôi, không kém nguy hiểm hơn bom đạn . Leo núi lại dầm mưa. Cả nghị lực dường như cũng bị nước mưa dội vào làm cho nó nhũn hẳn đi. Mưa tàn nhẫn, mưa không thương xót.
Bây giờ tôi lại phải để ý tới bước đi của ông bạn “Tiếng Còi Trong Sương Đêm” của tôi. Hoàng Việt luôn luôn đi tụt ở sau và cách người cuối cùng ít nhất là trăm thước. Tôi cứ phải dừng lại để chờ ông ta. ông ta đi chậm quá làm lắm lúc tôi cũng phải bực mình.
– Đi gì đi chậm thế cụ?
– Tao đi đây là quý lắm rồi nhé! Cậu bảo với thằng giao liên tao là người chớ không phải là máy nhé! Mẹ kiếp, đi gì đi mãi thế. Đi không thấy đến đâu cả.
Tôi cười dả lả.
– Thì tại đường đi nó thế chứ có phải tại giao liên đâu!
– Tại đường thế nào? Nó phải thông minh nó lựa đường dễ đi cho mình chớ.
Anh giao liên chờ tôi và Hoàng Việt đến lại bắt đầu đi và nói:
– Các đồng chí chuần bị xuống dốc nhé!
Bộ đội ì ạch nặng nề đi qua mặt chúng tôi. Trông đến đau buồn. Thú thật lắm lúc tôi không dám nhìn, vì thấy họ như đoàn người tù chung thân.
Tôi thầm nghĩ.
– Xuống dốc thì khỏe rồi!
Trời đã xế hẳn. Mặt trời thiêu đốt cả vùng rừng núi suốt ngày giờ đã hạ nhiệt độ, nhưng những tia nắng vẫn còn gay gắt xuyên qua lớp áo đẫm mồ hôi của chúng tôi và chọc thẳng vào làn da bệnh hoạn của chúng tôi, làm cho chúng tôi gây gây khó chịu.
Tiếng chân bộ đội đi nặng chình chịch. Vai chịu đòn, tay vịn đòn, còn một tay họ phải chống gậy, để đi cho vững, hoặc để gượng lại mỗi khi trượt chân.
Hai anh bộ đội đi trước mặt tôi khiêng một cái nòng súng không biết súng gì phủ lá um tùm tôi không nhìn thấy chỉ thấy hai người khiêng ì ạch quá.
Chân họ như cong vòng ra dưới sức nặng của nòng súng. Và cái nòng súng thì cứ trút xuống dồn sức nặng xuống vai người đi dưới.
Cứ chốc chốc người đi dưới lại kêu nặng và lại đổi người đi trên xuống dưới. Tôi thấy đau hai đầu gối của tôi và đau hai đầu gối của những người khiêng nòng pháo.
Đường đi xuống vừa trút lại vừa quanh gắt. Đang đi xuống lại phải quanh qua ngay, nếu bước sấn tới một bước thì lao ngay xuống hố. Trong trường hợp này hai chân đóng một vai trò quyết định. Không có nó thì cái nòng súng sẽ đưa cả hai người xuống hố!
Nhưng không phải chỉ có một nòng súng mà có rất nhiều nòng súng. Có lẽ đây là một đơn vị pháo binh. Trong sự vắng lặng của rừng chiều, tôi chỉ nghe tiếng gậy chỏi thật nặng tay xuống mặt đất cứng như đá, gây thành những tiếng khô khốc cộc cằn như tiếng nói của các nhà lãnh tụ.
Tôi cứ quay lại hỏi anh giao liên đang đi phía sau tôi:
– Tới chưa đồng chí?
– Đồng chí cứ đếm đủ tám trăm bậc thì tới.
– Trời đất ơi!
– Tôi nói thiệt đấy.
– Vậy nãy giờ đi mấy trăm rồi đồng chí?
– Theo đồng chí thì đi được mấy trăm?
– Bốn năm trăm chắc!
– Mới hai trăm rưỡi thôi.
– Sao mà xem lâu quá vậy?
– Tại vì mình đi chậm. Phải đi tới cái gốc cây to dưới kia thì mới được nửa đường. Các đồng chí cố đi nhanh lên, không chốc nữa tối là khó đi lắm.
Mà thật vậy, khi chúng tôi đi qua cái mốc đánh dấu nửa đường một chốc thì trời bắt đầu nhá nhem, bước chân cứ chập choạng, không chắc chắn nữa. Giao liên bảo lấy đèn pin ra rọi đi cho dễ.
Chớp lóe khắp trên đường. Nhìn phía trước thấy đèn, phía sau cũng thấy đèn. Tội nghiệp những anh bộ đội không có đèn đóm gì hết, phải đi nhờ đèn của cán bộ dân chánh.
Tôi thấy thương hại anh bộ đội khiêng nòng pháo quá, nên không nỡ vượt qua mặt họ. Tôi tự cho tôi cái nhiệm vụ giúp ánh sáng cho họ đi.
Anh giao liên thì vừa đi vừa chờ. Anh nói với tôi:
– May mà không mưa. Mưa thì còn chết nữa đồng chí ạ! Nhiều lúc tôi đưa anh em khiêng thương binh từ chiều đi lên tới hết dốc là sáng trắng.
– Còn đi xuống thì bao lâu đồng chí?
– Ít nhất năm tiếng!
Hoàng Việt xen vào hỏi:
– Lên hồi nào mà xuống dữ vầy?
– Tôi cũng không biết nữa.
Tôi nói:
– Có lẽ mỗi ngày lên một chút nên mình không hay. Có những lúc mây bay lất phất qua đầu mình mà mình không để ý. Ở đây có lẽ đã cao ngang với dốc lên Sa Pa rồi đấy.
Hoàng Việt nói:
– Ở Sa Pa, xe lên dốc thì còn dừng lại đổ nước, còn mình thì cứ lội đều đều, nước lã cũng không có mà đổ nữa ! Mẹ kiếp. Bây giờ trong đầu gối không còn một chút nước nhờn. Cái bánh chè đã khua lọc cọc như ổ đạn của chiếc xe đạp tòng tọc rồi. Cậu có thấy hai cái đầu xương chỏi vào nhau đau thốn ghê quá không?
– Có chứ, nhưng phải cố gắng? Biết làm thế nào? Xài đèn pin thì sợ hao pin mai mốt không có mà xài, nếu không bấm lên thì đi không được. Còn lúc bấm lúc tắt thì con mắt không quen, vả lại đường đi thì không chỗ bằng phẳng. Cho nên đành phải bấm bụng mà xài đèn suốt.
Hoàng Việt cứ rên rỉ càn nhàu luôn mồm. Năm Cà Dom thì vụt lên phía trước. Còn Thu thì cứ đi trước với cái ánh đèn của tôi vừa rọi cho hai anh khiêng nòng pháo vừa rọi cho Thu.
Rõ tội cho nàng. Bây giờ thì tâm tư nàng nặng nề tối ám biết mấy. Lệnh xuất phát đưa ra một cách bất ngờ, trong lúc nàng còn nuôi hi vọng thằng Hồng trở lại. Nàng đi mà cứ quay lại nhìn xem thằng em trai có chạy đuổi theo không?
– Nó không sao đâu em ạ. Trận B52 đó cách xa bệnh xá mà.
– Thế sao nó không trở ra?
Tôi an ủi nàng:
– Biết đâu đấy! – Nhưng tôi lại thấy mình cộc lốc, tôi bèn nói ngay- Nhưng em cứ tin rằng trong một đêm nào đó nó sẽ đến bên võng em!
– Giấc mơ có bao giờ trở lại hai lần.
– Sự mơ ước quá khát khao thì chính nó sẽ trở thành sự thực.
– Lần này mà em gặp lại nó thì em sẽ không cho nó đi rời em một bước.
Bỗng tôi nghe một tiếng đánh xoảng sắc gọn tiếp theo là một tiếng kêu ngắn, rồi thôi không nghe gì nữa. Tôi chỉ trông thấy một tia lửa lóe lên như điện xẹt.
– Cái gì vậy?
Tôi nghe tiếng một vật rơi lăn lóc càng ngày càng xa, rồi im bặt. Anh giao liên đi nhanh tới trước. Rồi tôi và Hoàng Việt, Năm Cà Dom cùng tới chỗ vừa xảy ra câu chuyện. Thì ra anh bộ độ khiêng nòng pháo đi phía trước rơi xuống hố. Nòng pháo rơi theo đè lên anh và cả người và vật nối nhau rơi. Còn anh bộ đội đi sau thì bám lại kịp ở sát miệng hố.
Ba bốn cái đèn pin chụm lại rọi xuống. Ở dưới kia sâu hun hút, tôi không còn trông thấy anh bộ đội nữa, cũng không nghe tiếng rên la.
Còn cái nòng pháo rơi được một quãng thì quay ngang, một đầu ghim vào vách đá, một đầu gác trên một cái rễ cây. Người ta nhìn nhau. Vô kế khả thi. Làm sao mà giải quyết một “ca” như vậy?
Trời tối, chân mỏi, đường cheo leo. Chỉ bước sẩy một bước là tan xác ngay. Trường hợp của anh pháo binh xấu số như thế đó.
Rồi cuộc đi lại tiếp tục.
Tôi, Hoàng Việt và Năm Cà Dom đều lặng câm bước.
Thế là xong à? Không có cách gì khác à?
Tôi hỏi anh giao liên:
-Vậy mà bỏ luôn sao đồng chí?
Anh giao liên lặng thinh một hồi lâu rồi mới hỏi lại tôi:
– Theo đồng chí thì đồng chí làm sao?
– Tôi cũng không biết làm sao!
– Ừ, thì như vậy đó. Coi như đồng chí ta hy sinh trên mặt trận và không lấy xác được thôi. Tôi chỉ hơi ân hận là tới chỗ quanh gắt sát miệng hố mà tôi không báo trước cho các đồng chí đề phòng. .. Thế thôi!
– Hồi đó tới giờ đồng chí có gặp trường hợp nào như vậy không? Ở trên dốc này hoặc ở nơi khác?
– Có chớ. Tôi đã từng trông thấy, cũng một anh bộ đội leo lên vách núi bằng một cái rễ cây. Leo một vài bước thì anh ta rơi xuống, không hiểu sút tay hay đút cái rễ cây. Bây giờ nhớ lại tôi còn rởn tóc gáy.
Tôi cũng rởn tóc gáy và tôi cứ giật mình thon thót mỗi khi bướcnhằm một hòn đá con con làm bàn chân tôi trượt tới phía trước.
Tôi hỏi anh giao liên:
– Gần tới chưa anh?
– Cũng còn xa xa.
– Nghĩa là bao nhiêu?
– Còn vài trăm nấc nữa!
– Trời đất!
– Thì tôi đã bảo cái dốc này, nếu leo lên thì phải mất một đêm, còn đi xuống thì sẽ mất sáu tiếng đồng hồ mà, kêu cái gì?
– Tôi có kêu gì đâu, tôi phải hỏi cho biết con đường tôi đi chớ. Chẳng có lẽ tôi đi trên một con đường mà tôi không biết nó dẫn tôi tới đâu mà rồi tôi không có quyền hỏi?
Anh giao liên phát cáu:
– Các đồng chí rắc rối lắm. Yêu cầu các đồng chí cứ đi theo tôi chừng nào tôi bảo đến là đến, còn tôi chưa nói gì hết thì cứ đi theo tôi. Có thế thôi!
Tôi càng đi càng có cảm giác là mình đi xuống âm phủ. Bóng đêm với những ánh đèn chập chờn càng làm cho tôi có cảm giác ấy rõ rệt hơn.
Quả thật là tôi đang đi dần tới cái chết. Chung quanh tôi bốn bề là cái chết? Chỉ có cái chết. Muốn thoát khỏi vòng vây của cái chết thì tôi phải đi, nhưng khốn khổ thay càng đi tôi càng thấy mình chỉ tới gần cái chết mà thôi.
Càng đi tôi càng thương Hoàng Việt. Tôi đã từng nhìn ngắm cặp giò của anh ta. Nói như Thu, thì chân của bộ đội như những cây cọc màn còn cặp chân của Hoàng Việt thì chỉ còn bằng những chiếc chân hương. Tôi sợ một lần nào đó, khi bước xuống một nấc thang, cái chân của anh ta sẽ gãy lọi như một cây mía tây vàng.
Ơ dưới kia có người khiêng thương binh đi lên.
Trời đất ! Một cái việc mà chỉ mới trông thấy thôi, tôi cũng đã hoa cả mắt.
Ở cái suối ngoài kia, tôi đã từng trông thấy tận mắt những chuyện não lòng, bây giờ đây, cái dốc này lại là bối cảnh xảy ra những chuyện não lòng khác nữa.
Mỗi cái ba lô trên lưng đã trở thành cái bướu của mỗi người đi, ..vứt nó đi thì không được, còn mang nó, thì cùng với sức nặng của thân mình, cái sức nặng của nó dằn xuống làm cho người ta lúc nào cũng chúi xuống, phải chống gậy chỏi ngược lên để khỏi ngã úp mặt xuống đất.
(Hoàng Việt ơi! Anh chết rồi, nhưng khi viết lại những dòng này thì tôi lại thấy như anh còn sống đang lom khom đi trên cái dốc quái gỡ đó, nó không tên nhưng không bao giờ tôi quên.
Hồi ở Hà Nội, tôi và Hoàng Việt ờ chung với nhau một thời gian khá dài. Kỷ niệm còn lưu lại biết bao nhiêu. Rồi vượt Trường Sơn, kỷ niệm càng nhiều hơn nữa.
Khi tôi viết thiên hồi ký này lòng tôi cứ xót xa nghĩ tới Hoàng Việt. Tôi biết gia đình anh ở đâu đây nhưng không rõ địa chỉ nên không đi thăm được.
Chúng tôi đã từng làm giỗ Hoàng Việt lúc tôi còn ở Kiến Hoà, một con người tài hoa chết vô lối, phí uổng trong khi Tổ Quốc đang cần.
Hoàng Việt ơi ? Bây giờ đời không còn anh. Tài năng của anh chưa kịp dâng hiến cho đời và cháu bé Lê Tương Phùng, tội nghiệp thay, mồ côi cha tùu trong bụng mẹ, nó có hiểu vì đâu? Lý do gì?)
Tôi và các bạn đi xuống hết dốc thì ngồi phệt ra. Đây là đâu? Trên cao cũng như ở dưới thấp, tôi không thấy áp suất không thấy khác nhau là mấy, tôi không thấy gì cả. Cả người tôi như một chiếc xe bò nát sắp rã ra từng mảnh.
Thế mà lại có tai nạn xảy ra.
Vắn tắt thế này: là có mấy cậu lính thuộc về con rơi con rớt’của một đơn vị nào đó nằm lại đây, lúc chiều đi “dạo mát” chẳng ngờ lại gặp của “loạ”. Vốn con nhà lính cho nên tay chân hay táy máy. Mấy anh chàng thấy một cái quả chi chi to bằng quả bứa mắc trên cành cây. Mấy anh chàng bèn lấy que chọc cho rơi xuống chơi. Cái que chọc lên, cái quả kia lập tức rơi theo và đoàng! . . .
Nó nổ toang ra. Úy chu mẹc ơi! Nó là quả bom bi. Hiểu ra thì đã muộn.
Một anh bị thương nặng. Lòi ruột ra. Đồng đội anh ta khiêng anh ta về đến lều một chập thì chúng tôi vừa đổ dốc xong.
– Ở đây có anh nào bác sĩ không?
– Để làm gì? Năm Cà Dom vọt miệng hỏi lại.
– Mổ dùm cái thằng kia!
– Nó làm sao?
– Phèo ruột. Anh chàng đối đáp với Năm Cà Dom càu nhàu một mình. Chơi cái gì vậy mà chơi kia chứ. Bom bi mà không biết lại lấy cây chọc như chọc cam chọc quít vậy? Bây giờ thì nằm phơi ra đó mà thở nghe è è.
Năm Cà Dom hỏi:
– Anh thuộc đơn vị nào?
– Có đơn vị chó nào đâu, toàn một lũ ma cà rồng ăn chung ở chạ rồi thành lũ với nhau, ăn cắp lẫn nhau, đánh nhau chớ đơn vị cái nước mã gì đâu.
Năm Cà Dom lại hỏi:
– Thế anh thương binh kia nằm đâu?
– Ở kia kìa!
– Dẫn tôi tới xem nào.
Rồi Năm Cà Dom đi theo anh kia. Anh bác sĩ Cà Dom lúc nào cũng tỏ ra có lương tâm của người thầy thuốc. Chao ôi! Giữa rừng hoang, ánh lửa chập chờn leo lét như ma trơi âm hồn lẩn quất ẩn hiện đâu đây, như có hằng trăm kẻ chết oan dậy lên lởn vởn trong bóng tối.
Vậy mà sắp có thêm một oan hồn gia nhập vào cái lũ oan hồn đó. Ý nghĩ ấy làm cho tôi rùng mình.
Tôi ngồi đờ người ra không muốn cử động nữa. Bên cạnh tôi chị Tâm như một cái bóng cố lê chân đi, có lẽ chị đi tìm suối. Tôi quay mặt đi, tôi chỉ còn đủ sức quay mặt đi và nhắm mắt lại. Tôi vẫn nhớ rằng bên tôi còn một con người mà lúc nào tôi cũng phải để mắt tới và một con người khác nữa đang lôi hút đôi mắt của tôi.
Hai người đó là Thu và Ngân nhưng tôi không buồn làm gì hết.
Năm Cà Dom đi một chập rồi trở lại bên tôi:
– Chuyện gì đâu không biết nữa.
Thấy tôi lặng im, Năm Cà Dom tự biện luận một mình:
– Bây giờ chẳng lẽ mình lại trơ mắt ếch ra mà ngồi ngó? Vô lý quá!
– Cậu muốn làm sao cho có lý thì làm. Ừ thì cứ làm như cái kiểu bên bờ suối hôm trước. Tớ không có ý kiến.
Năm Cà Dom âm thầm lục “đồ nghề” mà tôi biết là không có gì ngoài mấy mũi Nô-vô-ca-in và một ít Sul-fa-mít. Mặc kệ anh ta, tôi không còn thương ai nữa hết. .
Năm Cà Dom đi thì tôi ráng mắc võng, leo lên võng nằm. Tôi định nghỉ cho đỡ mệt một chút rồi sẽ dậy tính cách giải quyết vấn đề bao tử, xong rồi mới mắc tăng che sương. Nhưng tôi thiếp đi hồi nào không hay.Tôi giật mình ngồi dựng dậy vì tiếng kêu rống lên như tiếng rống của một con bò bị đâm họng.
– Cái gì vậy? Cái gì vậy?
Có tiếng hỏi. Nhưng tôi đã hiểu ra rồi. Bác sĩ Năm Cà Dom đang giải phẫu vết thương cho cái anh bị bom bi. .
Anh ta giải phẫu với cái gì?
– Không có cái gì cả, ngoài cái tình cảm xót xa trước vết thương của đồng đội.
Tôi nhìn về hướng có ánh lửa lập lòe. Anh ta đang làm những việc tinh vi nhất với cái ánh sáng khi mờ khi tỏ đó. Anh chàng bị thương cứ rống lên từng chập. Tôi hình dung một anh chàng tay chân bị trói chặt vào gốc cây không cựa quậy được, còn ông bác sĩ thì nghiến răng mà cắt cứa da thịt thối hỏng để vứt đi.
Tôi không còn đủ sức khỏe để chịu cho những tiếng kêu rống kia dội thẳng vào tâm não tôi. Tôi chúi mũi vào vách võng mà tưởng tượng ra những chuyện khác.
Tôi cũng ngủ thiếp đi và tiếng kêu thét kia cũng mòn mỏi dần.
Sáng hôm sau tôi mới gặp lại Năm Cà Dom tay còn dính đầy máu, cả trên mặt cũng có vết máu.
Tôi hỏi:
– Thế nào?
– Thế nào gì? Năm Cà Dom hỏi vặn lại.
– Kết quả không?
– Kết quả lắm chứ!
Năm Cà Dom lắc đầu và kể lại cho tôi nghe câu chuyện giải phẫu vừa qua. Không kém cái “ca” mổ ruột thừa bằng lưỡi cạo râu trước đây tôi đã từng nghe kể.
– Tôi chưa từng thấy, Năm Cà Dom vừa nói vừa lắc đầu. Chưa từng thấy ở đâu lại có trường hợp như thế này. Cậu biết không, tớ đã trở thành một tên đồ tể làm lợn. Mặc cho lợn kêu, mình vẫn cứ đâm họng nó. Cậu hãy tưởng tượng, tớ đã moi hết tất cả ruột của anh ta ra xếp trên một tấm ni lông trải dưới đất bên cạnh anh ta. Và dưới ánh sáng chập chờn của mấy ngọn đèn pin đã hết điện cộng với mấy ngọn đuốc, tớ phải lần dò mằn mò từng khúc tìm những chỗ thủng của đường ruột. Tất cả là chín lỗ. Ruột thủng phân chảy tràn ra ngoài, sẽ làm nhiễm trùng tất cả các bộ phận khác. Không mổ nó cũng chết thôi chi bằng mổ may ra nó có thể sống. Tôi đã vá lại bằng chỉ may quần áo tất cả những lỗ thủng đó xong tôi rửa bằng thuốc đỏ cả đường ruột rồi dồn trở vào bụng nó như cũ.
Tôi chặn ngang và hỏi:
– Vẫn được à?
– Được chứ? Tại sao không?
– Tại sao lại dễ dàng như thế. Giống như là mổ lợn vậy. Cậu nói tớ nghe còn dễ hơn mổ lợn nữa. .
Năm Cà Dom nói tiếp:
– Ruột nó để lâu ngoài gió nó sình lên to tướng cậu ạ. Cho nên khi vá xong rồi thì tớ nhét nó không vào hết bên trong nữa mà cứ thừa ra bên ngoài. Thế mới chết. Không có cách nào khác! Cậu biết đấy, người ta mổ là phải ở trong buồng kín không có tí gió lọt vào Còn mình thì cứ phơi nó ra đấy, trên tấm ni lông trải dưới đất thì làm sao mà nó không sình chướng lên.
– Thế rồi cậu làm sao?
– Thì mình vẫn cứ làm hết sức thì thôi.
– Vậy là anh ta vẫn được sống à?
– Sống thế nào mà sống ? Tôi có nói nó sống bao giờ đâu!
– Cậu thiệt!
– Sao?
– Vậy mà nãy giờ cứ nói lằng nhằng, tôi tưởng cậu đã làm cho khoa học hiện đại lùi lại thời kỳ đồ đá.
– Tớ nói thật với cậu, tớ hết biết cái sự đời ở đây nữa. Tớ hơi tiếc rằng cậu không đến xem sơ qua, chỉ xem sơ qua thôi. Chỉ nhìn cái bọng không của nó và cái mớ ruột đã tuôn ra ngoài thì cậu sẽ có thêm tài liệu mà “sáng toác”
Sau cái đêm xuống dốc kinh hồn đó, cả bè lũ chúng tôi móc dính vào một đơn vị bộ đội.
Cũng từ đây trở đi, cứ mỗi bước đi của chúng tôi là một sự điêu đứng và cái chết lúc nào cũng lấp ló bên mình.
Chúng tôi quyết định đi theo sát chân bộ đội, để bớt lo sợ, nhất là biệt kích, kế đó là dựa vào thế lực của bộ đội cho giao liên sợ.
Ở dưới dốc này tôi và Năm Cà Dom đã gặp chính tiểu đoàn trưởng Mạnh, bạn cũ của Năm Cà Dom cũng đang trên đường “về nước”.
Cổ anh ta hơi rụt lại, nên anh em quen gọi là Mạnh cổ rùa rồi do đó mà gọi tắt là Mạnh rùa.
Ban đầu Mạnh không muốn nhận, Mạnh nói:
– Không được đâu, các cha toàn là tài tử giai nhân, làm sao chơi với chúng tôi được?
– Thôi mà cha! Người ta đang “cu ki, hãy thương xót dùm chút. Ở đây coi tệ tệ vậy chớ vô tới trong kia rồi đốt đuốc tìm không ra đó!
Mạnh nói:
– Đi chung với tụi tôi rủi gặp chiến đấu rồi làm sao?
– Làm sao thì làm chớ!
Mạnh nháy mắt và nói:
– Hì hì… mà này, các cậu đi đầu, đi giữa hay đi sau chót?
– Đi đâu cũng được ? Miễn là có dính hơi “lính” thì thôi!
Mạnh cứ ngần ngại mãi không dứt khoát nhận chúng tôi vào đơn vị nói:
– Phần tôi thì được rồi, để tôi còn hỏi lại ông chánh trị viên thủ trưởng của tôi đã. Anh ta khó tính lắm.
Thủ trưởng đơn vị là Tuất, một anh chàng râu rậm, râu mọc rất đậm ở mép và ở dưới cắằ làm thành một cái vòng tròn như một cái chén dính lọ vừa in vào đấy. Tuất trầm lặng, có lẽ không phải do tính tình mà do đau buồn:
– Các đồng chí muốn đi với chúng tôi thì cứ đi, nhưng chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm về các đồng chí . Nghĩa là đau ốm chúng tôi không có thuốc men, bị thương chúng tôi không khiêng, thiếu gạo chúng tôi không chia chát. Đấy các đồng chí có đồng ý như thế thì cứ đi. Đường đất rộng mênh mông, ai muốn đi thì cứ đi.
Tôi nghe những lời giao ước mà thối chí, nhưng trong hoàn cảnh này thì đành phải chấp nhận thôi.Buổi tối hôm đó trong lúc tôi đi xuống suối múc nước về nấu cơm, tôi gặp một anh chàng bị trói ở gốc cây. Anh chàng này còn rất trẻ, nhưng gầy gò, tay chân dài ngoẳng. Thấy tôi đi ngang anh ta rất thản nhiên, không có vẻ gì xấu hổ. Tôi hỏi:
– Sao vậy ông tướng?
– Ơ, họ cho nghỉ phép vài tiếng đồng hồ vậy mà.
– Lý do gì nghỉ phép?
– Cũng có khuyết điểm tí ti. .
– Có cần tôi “giải phóng” cho không?
– Để hết giờ thì họ thả!
Tôi ghé tạt vào một cái lều, tôi hỏi thăm đầu đuôi câu chuyện.
Thì ra đó là một tay nhám nhúa nhất đại đội. Anh ta có biệt tài “mượn đồ đạc của bạn bè không thời hạn”. Một anh chàng tên là Ngạc nói với tôi như thế. Ngạc còn tiếp:
– Nó tên là Roánh. Quê ở Hà Nam, Nam Định chi đó. Học hết lớp bảy, ở nhà chuyên môn đi đánh dậm thành ra vô đây anh ta cũng quen tay quen chân mò mẫm của anh em!
-Thế à!
– Anh nghe cái tên Roánh có buồn cười không?
– Tên cúng cơm hay anh ta cải danh khi đi vô Nam?
– Em cũng không rõ nữa. Chỉ biết rằng Roánh là một tay ảo thuật độc nhất vô nhị ở đây. Em nói thật đấy, anh không coi chừng thì rồi đồ đạc của anh sẽ mất hết cho mà coi. Anh đừng ngạc nhiên chi cả. Rồi anh sẽ thấy. Ngay cả khẩu phần của chúng em, anh nuôi vừa chia ra đầy đủ cho từng người, quay qua quay lại là mất đi vài khẩu phần.
– Anh ta làm thế nào mà hay thế?
– Không rõ đâu anh ạ! Đại khái là anh ta rất lanh tay lẹ mắt. Anh nấu cơm vừa cạn, loay hoay làm thức ăn, đến chừng thức ăn chín, trở lại nhắt cơm mới hay là cái cà mèn cơm đã bay mất từ lúc nào. Đó là ông Roánh chứ ai vô đây.
Anh ta ăn hết cơm rồi, thừa cơ hội tốt, anh ta vứt cái cà mèn lại cho anh. Em được biết thêm là anh ta có một cây cần câu. Anh ta câu cơm rất tài.
– Trời đất? Câu cơm thế nào?
– Đấy nhé! Cơm anh nuôi nấu xong thì vắt ra từng vắt tròn bằng nắm tay sắp hàng trên một tảng đá, đếm cho đủ rồi mới mang đi phát cho anh em. Đấy, trong lúc anh nuôi đang bận rộn thì Roánh vác cầu câu tới, rồi tùy địa thế, Roánh sẽ hành động, hoặc Roánh lén lên mõm đá thò cần câu xuống chĩa từng nắm rồi rút cần câu lên, anh ta chỉ cần thành công vài mẻ thế là đủ no bụng rồi. Hoặc địa thế xấu quá, thì Roánh đứng ngay sau lưng anh nuôi bỏ cần câu qua vai anh nuôi mà câu. Hễ lộ bí mật thì Roánh ném cần câu mà chạy. Nếu không bị bắt thì thôi, Roánh vừa chạy vừa tọng vắt cơm vào mồm, còn nếu bị bắt thì Roánh cũng đã nuốt xong vắt cơm. Vấn đề là no bụng. No rồi có bị đòn bị phạt thì đó là chuyện về sau.Ngạc tiếp:
– Trận vừa rồi anh ta bị phục kích nên không chạy thoát được. Bị mất cắp nhiều lần, anh nuôi bực tức. Biết thủ phạm không ai lạ hơn Roánh nhưng không bắt quả tang được. Một hôm họ phục kích. Đợi cho cậu ta giở trò cũ, mấy đứa xông ra đuổi riết. Roánh là tay chạy giỏi. Roánh vừa chạy vừa tọng vào mồm và nhai và nuốt trửng hai vắt cơm, nhưng chằng may, Roánh ta vấp ngã. Cả đám xô lại đấm đá tơi bời không thương tiếc. Tội nghiệp, bị đánh như thế mà Roánh nhà ta vẫn còn nuốt cho trôi vắt thứ ba. Roánh bị đánh cho đến lả người ra và bị trói, đem nộp cho ban chỉ huy với tờ biên bản ghi rõ “ăn cắp cơm vắt khẩu phần của đồng đội.”
Bất giác tôi nói:
– Đáng gì mà đánh anh ta như vậy!
– Thật không đáng gì, nhưng mà nếu không có vắt cơm thì làm sao sống?
– Giác ngộ anh ta thôi chớ, đánh đá như thế còn gì là tình đồng chí.
– Thì ở đây nó như thế đó đồng chí ạ. Chẳng có ai coi ai là đồng chí hết. Tình đồng chí có khi nhẹ hơn nắm cơm thực ra chỉ to bằng quả trứng.
Tôi nghe mà buồn lòng ghê. Triết lý ở đây tàn nhẫn vô cùng. Ở cái xã hội nầy muốn sống phải xem cá nhân mình trên hết.
Ngạc kể tiếp:
– Vừa rồi anh ta đã tái diễn cái trò ấy, và cũng bị nện cho một trận nhừ tử và lại bị trói ở gốc cây. Thế thôi!
– Có định bao giờ sẽ trả tự do cho anh ta không?
– Không rõ nữa, chỉ được cái là hễ anh ta ôm gốc cây thì cơm không bay mất nữa.
(Câu chuyện xảy ra đã tám năm, trên con đường “Giải phóng miền Nam” của tôi. Nhưng bây giờ tôi vẫn còn nhớ những phút hãi hùng có thể làm cho người ta đứt mạch máu chết ngay tại chỗ. Bây giờ cái khe suối đó, cái vách đá đó, mỗi khi tôi nhớ lại, vẫn cứ dựng đứng trong đầu tôi với cái xác chết có người nhận nhưng lại hóa ra vô thừa nhận.
Tôi nhớ lại, lúc đó tôi lôi tay Thu chạy về và cũng cuốn tăng giựt võng chạy đi. Về sau tôi hỏi ra mới biết là chị y tá vợ anh y sĩ kia (anh ta là bác sĩ chớ không phải y tá như người ta đồn} rốt cùng rồi cũng phải bỏ xác chồng nằm đó mà chạy đi với những người khác)
Có lẽ chị ta tưởng rằng chị ta chỉ chạy lánh tạm một lúc rồi trở lại tìm cách chôn cất cho chồng, dù không đủ nghi lễ nhưng vùi khỏi mặt đất cho ấm thân thì cũng được. Nhưng chị không ngờ rằng chị không trở lại được nơi đó một lần thứ hai nữa. Mà cũng không có ai trở lại đó lần nào nữa. Kể cả anh giao liên là người “có trách nhiệm.”
Nếu như ở đồng bằng thì người ta có thể đào vội một cái huyệt cạn cạn rồi cho cái xác xuống lấp đất lại, nhưng ở đây thì không thể.
Vì toàn vách đá, đá liền với đá không thể đào xới xuống một tấc đất. Chỉ có thể tìm một kẹt đá, dồn cái xác vào và đóng kín lại bằng một hòn đá.
Ấy là nói tường hợp có đủ thì giờ. Chứ còn như vừa rồi là đành chịu để cho cái xác người bác sĩ xấu số kia nằm đó cho đến lúc…
Ngay cả người vợ cũng không kịp khóc cho hết nước mắt tình nghĩa với người chồng. Ở thì không được. Đi không đành, nhưng vẫn phải đi. Đến chỗ hạ trại mới, chúng tôi mới tỉnh hồn ra.
Chị y sĩ vợ của anh bác sĩ tên là Tâm.
Chị Tâm đến nơi, quăng tất cả đồ đạc xuống đất, và ngồi khóc tiếp những giọt nước mắt mà lúc nãy vì sợ hãi không lăn ra được. Chị khóc to, khóc mùi mẫn, khóc nhưng không gào thét nữa.
Tiếng khóc bật ra từ tim gan, tâm não của chị như một mạch suối nứt chảy từ một vách đá, tràn trề.
Trông thảm thê quá, tôi không dám nhìn, cũng không dám hỏi thăm. Bây giờ ai động tới nỗi đau thương của chị, chị cũng không hay biết hoặc chỉ làm cho chị đau hơn mà thôi.
Tôi và Năm Cà Dom cả Hoàng Việt cũng đều ngậm tăm không ai nói với ai điều gì. Hoàng Việt thì thỉnh thoảng lại chắc lưỡi. Năm Cà Dom thì chửi đổng. Còn Thu thì thất sá hồn kinh mặt xanh như chàm đổ.
Trong khi chị Tâm cứ ngồi phệt đó, tóc xõa dài xuống phủ cả lưng, hai tay cứ bưng lấy mặt , đôi vai của chị cứ run lên theo những tràng nấc dài, tức tửi.
Thời may, anh giao liên lại đi qua. Anh ta vừa đi vừa hỏi:
– Ở yên chưa?
– Được rồi.
Anh ta dừng lại lại trước mặt chúng tôi và giải thích:
– Nhưng phải coi chừng, tụi biệt kích này ghê gớm lắm. Tụi nó là người Thượng, hơn chục thằng thôi, nhưng nó lội nhẩm dấu rừng này, không có bộ đội nào đánh được. Nó rình rình một cú ngon ăn là nổ mấy phát rồi rút ngay. Nó leo núi như khỉ. Thấy đó là biến mất. Đố cha ai đuổi kịp. Có đuổi theo thì cũng chẳng biết đường nào. Đâu có dấu chân? Lớ quớ lại bị nó làm thêm mấy phát. Ai dám đuổi?
Anh ta lại nói tiếp:
– Bộ đội ta chặn đánh nó mãi. Bằng cách là đi lẩn trong một đoàn cán bộ dân chánh để nhử nó. Hễ nó nổ súng là bộ đội rượt ngay. Nhưng tụi nó khôn lắm. Hễ bộ đội đi ở khúc đầu thì nó đợi cho khúc đầu qua xong rồi nó tỉa khúc đuôi, hễ bộ đội đi khúc đuôi thì nó chơi khúc đầu, còn hễ bộ đội đi hai đầu thì nó nằm im.
Làm mãi không kết quả, rồi bộ đội cũng thối chí không theo nữa. Cho nên bây giờ tụi nó lộng hành lắm! Xuất hiện và biến đi đều bất ngờ.
Anh giao liên vừa nói đến đó thì chị Tâm chạy tới vừa khóc vừa nói:
– Trời ơi! Vậy bỏ chồng tôi ở một mình sao?
Anh giao liên lắc đầu và dậm chân:
– Vậy chớ tôi biết làm sao bây giờ?
– Thôi anh đưa đùm tôi đến đó.
– Úy trời đất! Chị muốn đi theo ảnh luôn sao!
– Tôi bây giờ sống cũng chẳng làm gì.
– Sao chị nói vậy, ảnh không vui lòng đâu. Thôi chị ạ, đừng khóc nữa. Tôi rầu thối ruột đây. Mấy trăm khách ở trong cái hang đó tưởng nằm yên chờ đường thông rồi sẽ đi chẳng ngờ nó đánh tán loạn thế này thì khổ quá ! Một bước cũng không dám đi. Rừng núi rậm rì hiểm trở thế này, biết nó núp ở đâu ? Nguy hiểm lắm. Trở lại không được đâu chị ạ! Chị nên nghe tôi. Đầu óc chị bây giờ tối mù mịt, không nghĩ ra được gì sáng suốt đâu. Không phải tôi tàn nhẫn với chị hoặc với anh ấy. Nhưng vì tôi đã gặp chuyện bất ngờ như vậy cũng đã nhiều rồi. Cho nên tôi có kinh nghiệm giải quyết. Giữa một người đã chết và một người còn sống, nên bảo vê người nào? Cố nhiên không thể quý người chết hơn là kẻ sống, dù người chết đó có là ông gì đi nữa? Đó, trường hợp hồi nãy không xua tất cả mọi người đi, ở đó có thể chúng nó hồi mã tam thương trở lại lắm.
Chị Tâm càng khóc to. Chị cố nén tiếng khóc và nói:
– Vậy thì tôi đành ở lại đây thôi. Chớ đi về trong đó làm nữa. .
– Chị nói vậy sao được. Người sống đống vàng mà!
– Khi ra đi… thì hai đứa… còn bây giờ…
– Chiến tranh mà chị. Sống nay chết mai ai nào đoán được.
Tôi được biết hai anh chị lấy nhau từ Hà Nội. Anh người Nam cùng quận với tôi, nhưng anh ở An Thái cách xã tôi ba xã. (Đến nay tôi vẫn còn nhớ tên anh, nhưng không rõ gia đình anh ở đâu để báo tin dùm). Còn chị Tâm là người Hà Nội. Lại một cặp uyên ương Nam Bắc. Nhưng giờ đây đã chích cánh dọc đường.
Hai người định về tận quê nhà rồi sẽ làm lễ cưới lại lần thứ hai để có sự chứng kiến của gia đình. Chị Tâm rất sung sướng với cái hình ảnh thắm thiết đó. Chị rất yêu mến đất nước miền Nam và đã nuôi hy vọng được vào Nam hồi còn đi học.
Họ dự định sẽ xây một chiếc tổ hạnh phúc đơn sơ, bé nhỏ trong khói lửa. Họ sẽ săn sóc mẹ già và sống với nhau đến trọn đời.
Bà mẹ người Nam sẽ rất yêu quý cô dâu miền Bắc.
Đứa con trai đi xa hơn mười năm, khi cất bước trở về, chỉ ước mơ có thế. Người con dâu mới đi vào một gia đình miền Nam cũng chỉ mơ ước giản đơn như thế. Nhưng rồi đều không thành.
Ai sáng suốt và trải đời, hãy tính dùm cho chị Tâm. Các ông lớn ông nhỏ ở miền Bắc ngồi trong phòng viết những bài hịch kêu gọi này nọ có dám nhìn tận những sự thực xảy ra trên con đường này không?
Tôi thì quá ngao ngán rồi. Mắt tôi đã đầy hết cả những hình ảnh đau thương. Vừa mới xảy ra việc cậu em trai của Thu đó, bây giờ lại thêm chuyện biệt kích này.
Rồi đêm đến. Chúng tôi như những người nằm trong chơi vơi của sự đau thương cả phần hồn lẫn phần xác. Nửa đêm tôi giật mình thức dậy. Lúc bấy giờ trời có trăng ánh trăng lờ mờ rọi qua những tàng cây dày đặc. Tôi thấy một cái hình người đứng bỏ tóc xõa lặng chết như tượng đá.
Tôi không dám cựa mình.
Cái hình người ấy cứ đứng lặng ngắt như một cái bóng ma. Ánh trăng lạnh lẽo rơi xuống vai, xuống tóc mập mờ hư ảo như có như không. Sự đau khổ đã hóa thành người. Hay con người quá đau khổ đã hóa đá. Vận mệnh đã gỡ tay chị ra khỏi sự bám víu của cuộc đời . Bỗng tôi nghe tiếng rên rỉ khe khẽ. Tiếng kêu bị nén trong cổ họng chỉ bật ra ri rỉ như nước rịn ra từ những làn nứt của một hòn đá. Chị Tâm đã không còn sức để khóc gào nữa. Chị nói lảm nhảm những câu gì trong miệng không nghe được rồi lại khóc, rồi lại nói.
Sau cùng có lẽ nước mắt đã cạn, chị kể lể.
Tôi chỉ nghe được một đoạn như sau:
– Anh ơi! Sao anh nỡ chết bỏ em. Chết tức tưởi đau đớn làm vậy. Anh sắp về đến quê rồi… Mẹ già trông đợi. Mà anh cứ mãi nằm lại đây, chẳng bao giờ về. Còn em sống đây cũng như đã chết rồi Em đi với ai? …
Tôi nằm không dám thở, chín lịm cả người.Bỗng cái bóng kia di chuyển. Nó lù lù đi tới ít bước, rồi quay trở lại trên dấu chân cũ, rồi gục đầu vào một gốc cây, rồi lại ngửa mặt lên trăng, làm cho những vệt tóc chảy ngược ra sau gáy trông rất ghê rợn.
Tôi muốn gọi chị một tiếng, an ủi chị nhưng tôi không dám, mà cứ nằm như thế cho đến lúc Thu kêu lên thất thanh:
– Hồng! Hồng… Đứng lại.
Vệt đèn pin của Thu rọi vút theo một bóng người. Và tiếng thét của Thu có vẻ đuổi theo người kia:
– Em trốn thì chị tự vận.
Bây giờ tôi mới hiểu ra. Và tôi chạy vụt sang lều của Thu.
Thu đã nhoài người ra khỏi màn, một tay giơ đèn pin ra và lại quát:
– Em trở lại không? Em có trở lại không? Em trốn chị lần này thì chị sẽ chết ở đây cho em xem!
Cái bóng người hiện rõ trong vệt ánh sáng xanh rẽ quạt. Đúng là thằng Hồng. Tôi nhận ra hắn nhờ mái tóc bù xù của hắn.
Thật là kỳ quái. Cái thằng nhỏ trốn chị, lại trở về tìm chị như một cái bóng ma. Mà Thu cũng ghê gớm thật. Giá Thu không nói cái câu quyết hệt đó thì hắn không trở lại.
Hắn đi chầm chậm như sợ phải đến gặp chị hắn.
Còn Thu thì cứ lăm lăm chiếc đèn trong tay như sợ thằng em bất kham lủi mất.
Nhưng không, hắn chỉ đi chầm chậm ít bước rồi dường như không đè nén được tình cảm, hắn chạy lao tới ngả vào lòng người chị. Chiếc đèn trên tay Thu rơi xuống đất.
Tôi muốn xem lại sự thực một lần nữa xem có phải là sự thực hay là tôi nằm mơ?
Tôi nhặt chiếc đèn soi vào cảnh tượng đó. Quả thật. Cũng mái tóc hôm trước của thằng người Kinh Kong.
Thế là yên ổn. Tôi trở về võng nằm, như nằm giữa hai gọng kềm tương phản, một bên là tử biệt một bên là trùng phùng, nhưng cả hai người trong cuộc đều khóc: Thu và chị Tâm.
Chị Tâm vẫn còn lởn vởn ở đấy.
Tôi lắng nghe câu chuyện của hai chị em Thu.
– Sao em cứ trốn chị?
– Em không muốn cho chị trông thấy thằng người của em đã biến thành ngợm.
– Rồi em định đi đâu?
– Thì em cứ đi lang thang trong rừng như em đã sống lâu nay.
– Nhưng sao hôm qua em biết chị mà không nhìn chị?
– Em ghét chị lắm.
– Sao lại ghét?
– Đi làm gì vào trong này kia chứ?
– Sao?
– Chị không thấy con đường này nọ như thế nào à?
– Chi đâu có dè.
– Em đã viết bao nhiêu lá thư cho chị, còn gì nữa.
– Ơ kìa sao lại hờn, chi có nhận được thư em đâu nào? Em có biết thầy mẹ ở nhà khổ sở vì em bao nhiên không?
– Em biết chứ, nhưng em…
– Nhưng tại sao em không trở về?
– Em như thế này, em không muốn trở về.
-Bây giờ nếu chị đi về với em thì em có cùng đi với chị không?
– Cái gì cơ?
– Chị sẽ đi về với em.
– Về đâu?
– Em ngớ ngẩn thế!
– Em không hiểu thật mà.
– Chứ em định về đâu? .
– Nếu em có về thì sẽ về đâu ngoài nhà mình?
– Thì chị cũng như em. .
Im lặng một lúc lâu. Có lẽ Thu đang ôm đầu đứa em trai vào lòng mình và hai chị em cùng khóc. Một lát sau tôi lại nghe. .
– Lâu nay em sống ở đâu?
– Ngoài rừng ra thì còn ở đâu hở chị?
– Lấy gì em ăn?
– Ăn cắp!
-Hả? Em nói gì?
– Em ăn cắp để ăn. Ăn cắp gạo, ăn cắp thức ăn. .
– Của ai?
– Của bệnh xá, của những người như chị đây này.
– Trời, em làm những chuyện như vậy sao?
– Đói mà chuyện gì không dám làm, chị!
– Trời ơi, em trai của chị.
– Thôi, chị đừng có khóc rồi em cũng khóc theo, không nói chuyện được. Em còn sống và gặp chị đây cũng là chuyện may hiếm
Câu chuyện gián đoạn một chập, rồi tiếp:
– Bây giờ chị định thế nào?
– Về thôi em ạ!
– Tại sao, chị không đi theo đơn vị chị nữa à?
– Còn em?
– Em ớn lắm rồi! Người ta bỏ em suýt chết rã xác, bây giờ chẳng lẽ em lại lót tót chạy theo xin đi với họ?
– Nhưng em có kế hoạch trở về như thế nào?
– Em đã chuẩn bị lương khô xong rồi. Thế là đi!
– Không gặp chị em có đi không?
– Đi chứ! Rủi quá, nếu em về gặp chị ở Hà Nội thì em không cho chị đi vô đây bao giờ. Chung quanh đây có ai không, họ nghe chị em mình bàn chuyện này họ báo cáo với giao liên thì chết với họ đấy.
– Không có ai đâu.
– Cái anh gì đi vô trong bệnh xá hôm qua, nay đâu rồi? Anh ấy là…
– Thôi bỏ chuyện đó đi. Nói chuyện khác. Chị hỏi em nhé. Tại sao em lại tìm đến chị trong lúc nửa đêm mà lại không cho chị biết và khi chị biết thì em vụt chạy?
– Em nhớ chị quá cơ! Lúc em gặp chị lần đầu tiên, em muốn kêu lên và chạy tới ôm chầm lấy chị mà khóc hết tất cả nước mắt cho chị, nhưng không hiểu sao lúc đó trong tình cảm em lại gợn lên một điều gì, rồi em dừng lại, rồi em lánh xa chị. Em có ý định không cho chị gặp nữa. Nhưng rồi em không chịu đựng nổi sự xa cách đó. Lúc chị đã lên bệnh xá tìm em, em cũng trông thấy chị, nhưng em không để chị thấy em. Em muốn theo dõi chị như một cái bóng ma.
– Em toàn nói gở!
– Thật mà. Bây giờ, em chẳng khác nào con quỉ rừng xanh. . Em phá phách, em gây rối loạn. Chị xem đồng đội của em đó. Bỏ bạn mình trong trường hợp như vậy thế mà còn gọi nhau là đồng chí được à? Bây giờ em thù tất cả những ai em gặp trên con đường này. Em muốn lập một đảng cướp hùng cứ cả vùng này đánh tất cả không đầu phục ai cả. .
Trời lại sáng như nhũng buổi sáng khác.
Thu ngồi bên cạnh cậu em trai sờ mái tóc, sờ má. sờ tay nó và cứ hỏi luôn mồm:
– Sao thế này em?
Còn thằng bé thì cứ cười khảy:
– Thì em đã bảo em là người rùng mà lại.
– Sao lại cái sẹo này?
– Chẻ củi thuê cho bệnh xá bị đứt.
– Sao lại chẻ củi thuê?
– Chẻ củi người ta mới cho ăn cơm chứ!
– Em có nhịn đói không?
– Cái đó thì xoàng quá!
– Cái gì mới không xoàng?
– Đánh nhau. Bắn nhau suýt chết!
– Trời! Em không còn là em ngày xưa nữa.
– Nhưng em vẫn là em chị chứ! Chi vui lòng không?
– Sao em lại hỏi chị thế? .
– Vì em bây giờ không là em ngày xưa nữa. Như chị nói. .
– Thôi mà em!
Buổi sáng ấy chúng tôi ăn cơm với nhau. Cả ba không nói chuyện gì. Cơm xong thì thằng Hồng đòi về. Thu gắt:
– Em về đâu?
– Về bệnh xá, chỗ ở của em.
– Em ở đó bao lâu rồi?
– Gần một năm. Nếu không có chị đến đây thì em sẽ ở mãi.
– Nhưng từ giờ phút này trở đi, chị nhất định không để cho em đi xa chị một bước. Nếu em cãi chị mà em đi thì em sẽ không còn trông thấy mặt chị nữa.
Hồng, cậu bé có vẻ ngang ngạnh kỳ khôi, bây giờ bên chị đã trở nên ngoan ngoãn. Sự dịu hiền có sức thuyết phục và hoán cải. Hồng nói với chị bằng một giọng thân ái:
– Em xin lỗi chị. Em hứa với chị như thế. Nhưng em trở về để lấy đồ đạc rồi mới thực hành ý định của chị em mình được chứ. Nếu chị kiềng em ở đây mãi rồi làm sao?
– Chị em mình sẽ chia nhau khẩu phần. Chi sẽ cắt đôi võng và dây võng ra, thê là em được một cái võng. Để tránh muỗi, chị sẽ đắp chăn trùm đầu, còn em thì ngủ màn.
– Không, em không cần chăn màn. Muỗi đòn xóc bây giờ vô hiệu quả đối với em rồi!
Hai chị em cứ quấn quít bên nhau mãi và bàn chuyện trở ra Hà Nội một cách công khai trước mặt tôi. Tôi không lấy làm lạ lùng gì, cho nên câu chuyện của hai chị em rất tự nhiên. Thu còn quả quyết về tôi:
– Anh ấy về Nam là vì quê anh ấy ở trong Nam, chứ nếu anh ấy là người Hà Nội thì anh ấy cũng làm “bê quay” như mình!
Sau khi nghe Hồng giải thích, Thu ưng chịu cho Hồng trở về nhưng chỉ cho phép Hồng đi trong nội ngày rồi trở lại. Hồng cũng hứa chắc như vậy. Thu đưa Hồng một quãng. Tôi cũng đi theo.
Hồng và Thu cả hai chị em vui hẳn lên, như đã trông thấy ngày sum họp của gia đình mình ngay trước mắt.
– Nếu bây giờ đi thì bao giờ tới Hà Nội em? Thu hỏi.
Hồng đáp:
– Chậm nhất là sáu mươi ngày.
– Sao lâu thế?
– Thì phải trừ hao ngày bệnh, ngày nghỉ của chị. Lần vào chi đi đã mất gần hai tháng rồi mà. Bây giờ chỉ yếu hơn trước.
– Không biết người ta có cho mình trở ra không?
– Cho ra thì không bao giờ, nhưng mình trốn.
– Trốn cách nào?
– Mình cứ đi theo đường mòn, nhưng khi gần đến trạm giao liên thi mình rẽ vào từng. Cứ thế mà đi.
– Em có thuộc đường không?
– Thuộc chứ!
– Đường giao liên họ thay đổi liền liền, em làm sao biết được mà đi?
Thằng Hồng bị một câu hỏi bất ngờ, cứ ậm ờ không trả lời suông sẻ được, nhưng hắn cũng nhanh trí đáp:
– Đường ở trong miệng mình chớ ở đâu mà không biết, chị!
– Ở đây đâu có gặp ai mà hỏi đường.
Bị bắt bí lần thứ hai Hồng hơi cáu, Hồng gạt phắt:
– Thôi chị để em lo, chị đừng lo.
Rồi Hồng vuột khỏi tay chạy vút về phía trước nhưng Thu thét lên như bị một viên đạn đúng vào ngực.
Thằng bé chạy bỗng quay trở lại. .
Thu nắm tay nó rồi ôm chầm lấy nó nức nở.
– Thôi đừng đi em ạ!
– Tại sao vậy chị!
– Em ở lại đây với chị hoặc chị sẽ đi với em. Chị không thể vắng em.
Tôi nói với Hồng:
– Thỏi đừng đi nữa Hồng ạ, để chị Thu khỏi buồn. Anh khổ lắm. Rồi chừng nào hai chi em thấy thuận tiện cho việc trở lại Hà Nội thì cứ đi. Anh không khuyên Thu đi tới mà Thu trở lại cũng không can. Cuộc sống của một người bây giờ là tùy thuộc cá nhân người ấy. Ở đây không có ai giúp đỡ gì cho chúng ta, ngoài anh giao liên có một nhiệm vụ duy nhất và độc nhất là dẫn đường.
Hồng nói với Thu:
– Chị cứ gàn cản mãi thế này thì rồi chị em mình sẽ cứ dậmchân ở mãi một chỗ không đi đâu được. Chị cứ theo anh về đi, rồi em sẽ trở lại.
– Nhưng em đi đường nào cơ?
– Em đi đường của em mà. Chị sợ biệt kích phải không?
– Em đừng có dại mồm.
– Con đường biệt kích là con đường của em đây.
Rồi Hồng lại đi.
Tôi trở về với Thu, lòng buồn và nặng trĩu. Toàn những chuyện bi đát bất ngờ. Từ lúc Hồng đi, Thu cứ hết đứng lại ngồi và trông chừng mặt trời.
Mãi tới chiều, rồi trời tối hẳn không thấy Hồng trở lại. Rồi cho đến khuya, cũng không thấy.
Thu cứ càu nhàu:
– Thằng này nó hoang rồi. Đầu óc nó hỏng rồi anh ạ. Em không nói nổi nó đâu! Khổ lắm!
Rồi tới lúc gần sáng, đang ngủ bỗng nhiên tôi lật nhào xuống đất Chiếc võng bật lên, và dây mắc tăng đứt tung ra như có bàn tay nào bứt thật mạnh.
Ình ình ình. .. liên hồi. Tôi như một trái bóng nẩy lia lịa trên mặt đất Mặt đất nghiêng ngửa, sàn qua sàn lại mà tôi là hạt gạo trên một cái sàn đang lắc mạnh.
– Thu ơi!
Tôi muốn gọi nhưng mồm thốt không ra tiếng. Tôi cứ nằm miết xuống đất và nghe những tiếng nổ hằng loạt dài tưởng trận mưa bom đang rơi trên lưng mình.
Tôi vừa ngóc lên thì lại ình… ình… ình.
Tôi lại nằm mép xuống, nín thở, tay quờ quạng ôm chặt một gốc cây để khỏi bị tung ra xa. Chung quanh tôi cây run ào ào như bão dậy. Có tiếng gọi nhau í ới, thất thanh. Tôi mới biết rằng trận B52 vừa qua ở gần mình quá, gần đến nổi tưởng chính mình đang chịu trận bom ấy. Tôi lồm cồm ngồi dậy và lại gọi:
– Thu ơi!
– Dạ! Em đây.
-Có sao không em?
– Không sao cả.
Bỗng Thu òa lên khắc mùi mẫn. Tôi gạn hỏi mãi Thu mới bật ra tiếng nói:
– Chắc thằng Hồng chết quá. Em đã bảo đừng đi mà. Trời ơi. Em làm gì mà trời bắt em phải khổ thế này? Làm sao đi tìm nó bây giờ. Lần này mà gặp nó nhất định hai chị em sẽ trở lui ngay.
Rồi trời sáng thiệt mặt.
Thu biến sắc. Trông Thu như người đang ốm nặng. Tôi không biết làm gì, đành nằm thở dài. Có lẽ tai họa này chỉ có tiên thánh mới cứu thoát.
Bất chợt, nhìn sang tăng của Thu tôi bỗng thấy chiếc nanh heo từng mắc tòng teng ở ngay đầu võng của Thu. Tôi nói và trỏ vào chiếc nanh heo:
– Thằng Hồng nó tặng lại cho em kia kìa.
Thu đang nằm bỗng nhìn lên. Rồi Thu ngồi bật dậy với món đồ vật cầm nơi tay. Tôi nói:
– Chiếc nanh heo đó quí lắm đấy em. Mang vào người đi! Có tai nạn sắp đến là em có thể biết trước đấy. Người ta đeo nó như đeo bùa vậy!
Thu làm thinh. Từ đôi mắt lệ rơi từng giọt xuống cái món đồ ly kỳ.
Thu càng buồn. Thu cảm thấy như thằng Hồng tặng lại Thu món đồ này để làm kỷ niệm. Thu cứ sụt sịt khóc.
Đến xế chiều hôm ấy thì anh chàng thiếu tá Kim đến. Không phải anh ta tìm tôi mà vì tôi trông thấy anh ta đi ngang nên tôi gọi.
Anh ta ngồi xuống đất và nói ngay:
– Suýt chết. Cả tôi lẫn thằng Cường.
– Bom hả?
– Không phải nó bỏ ngay bệnh xá đâu. Nó bỏ đâu ở miệt cửa khẩu ấy mà.
– Nhưng sao lại anh và Cường suýt chết?
– Một trái bom văng vào khu vực bệnh xá. Chỉ có một trái thôi. Và là trái cuối cùng. Nó bắn tung ra khỏi bãi chừng mấy cây số! Lúc đó tôi và bác sĩ Cường đang lụm cụm nấu nước uống trà.
Tôi hỏi:
– Anh có trông thấy thằng em tôi về đó không?
– Không thấy!
-Ủa, sao nó bảo nó về đó kia!
– Nếu hôm nay có nó thì tôi lôi nó cùng về Hà Nội luôn.
Thu hỏi Kim:
– Anh không trông thấy nó về bệnh xá từ chiều hôm qua tới nay à anh?
– Không thấy. Cái thằng bé ấy đáng thương lắm. – Kim thở dài.- Cuộc sống tàn nhẫn một cách kỳ cục ở đây đã làm hỏng thằng bé. Nó thích đọc sách ghê. Gặp sách gì cũng đọc. Thế mà bây giờ lại ra hồn thế đó. Nó đi suốt ngoài rừng. Một hôm nó nhặt được một cái nanh heo từng chết rũ. Cái nanh cắm hẳn trong một thân cây. Nghe người ta nói quí lắm nó mới buộc dây đeo vào cổ.
Thu nói một mình:
– Thế thì nó không sao đâu.
– Hôm qua nó ra chơi ngoài này à? Kim hỏi.
– Dạ vâng, em ra tìm tôi, nhưng khi tôi trông thấy nó lại lủi trốn.
– Thế thì không sao đâu, trận B52 ở xa mà!
Tôi hỏi Kim:
– Thế bây giờ anh định đi đâu?
– Về Hà Nội.
– Chỉ có hai thầy trò thế này à? Tôi trỏ vào cậu cần vụ của Kim và hỏi: Cậu này có giỏi đường rừng không?
– Thì đi từng chặng thôi. Về báo cáo cho bộ tổng rõ tình trạng đường sá. Để thế này thì lính tráng chết hết. Đi mười thằng vô tới nơi chỉ còn hai ba tên là cùng. Tôi đi tay không, có người giúp đỡ thế này mà còn lê lết huống gì pháo binh?
Tôi tuôn ra ngay:
– Không biết trung ương nghĩ thế nào mà cho bộ đội và cán bộ đi trên một con đường thế này mà lại không đủ thực phẩm.
Kim lắc đầu:
– Chết vô lý nhiều quá!
Thu ngồi thờ thẫn. Có lẽ nghe Kim nói về Hà Nội và nếu có thằng Hồng thì y sẽ lôi nó cùng đi. Nếu nó đi thì Thu cùng đi với nó. Nếu đi thì khổ gì Thu cũng xin chịu, có chết rồi Thu cũng còn cố lóc tới vài bước để được gần Hà Nội thêm lên.
Tôi bỗng quay lại Thu:
– Kìa em, viết thư về nhà đi, gửi anh Kim mang về dùm cho. Được không anh?
– Được nhưng viết ngắn thôi. Túi tôi bây giờ ít ra cũng trên chục bức. Toàn dân Hà Nội đi vô đây rồi bị mắc kẹt không về được. Đứa nào đứa nấy kêu trời không thấu.
Thu vội vã lấy bút giấy ra viết còn tôi thì trò chuyện với Kim.
Tôi hỏi:
– Theo anh thì trung ương có biết tình trạng của binh sĩ, cán bộ trên đường này không?
– Biết chứ.
– Biết sao không sửa?
– Sửa thế nào? Theo anh thì trung ương phải sửa như thế nào?
– Tôi không hiểu như thế nào, nhưng nếu thế này thì đừng để cho quân sĩ và cán bộ phải đi.
Kim lại thở dài. Rồi anh nói:
– Ở đây chưa phải là cái đỉnh gian khổ, thế mà bà con mình đã kêu thế. Huống hồ gì vô một quãng nữa?
Tôi không muốn nghe K im kể những gian khổ ở phía trước mặt chúng tôi, những gian khổ mà chắc chắn chúng tôi phải chịu đựng, mà chúng tôi không muốn chịu đựng. Tôi hỏi:
– Bao giờ thì anh đi?
– Thì tôi đang đi đây.
Tôi không bao giờ nghĩ rằng tôi phải trở ra Hà Nội, ngược lại tôi sợ điều đó nữa là đằng khác, nhưng tôi thương Thu. Tôi đoán biết tâm trạng của Thu lúc này. Thu muốn đi lắm, nhưng đi làm sao được với một người mới quen. Nếu có cậu bé ở đây thì Thu nhất định đi ngay với nó. Không có ai can được. Chập sau Kim từ giã ra đi.
Trời trên đầu tôi thật nặng.
Dưới đất, chung quanh tôi cũng không có gì vui. Lấy rừng làm nhà. Đó là một điều đã quen thuộc với chúng tôi. Và chung quanh lúc nào cũng có vài chuyện vô lý xảy ra.
Thu hết đứng lại ngồi, cứ ngóng về phía thằng Hồng. Còn tôi thì cứ im lặng. Cứ để cho Thu đắm mình trong nỗi đau buồn của Thu Tôi cũng không sang nói chuyện với Năm Cà Dom và Hoàng Việt.
Khi hắn tới, Lài bận tiếp khách. Hắn ngồi ngoài cửa ngó sang đám bụi mù. Họ đang phá nốt những gì còn lại. Trong xóm đồn đãi, tương lai đống gạch đá ấy sẽ hiện lên bề thế một cái khách sạn ba sao. Công nhân xây cất đang cố sức làm vượt chỉ tiêu, hoàn thành hợp đồng trước mùa mưa. Hắn mường tượng ra một hình khối đứng án ở ngã tư. Như vậy, sự tăm tối ở đây sẽ phải tối tăm thêm. Nắng không tài nào đi sâu, liếm bóng chiều tà trên những mái tôn xiêu đổ. Khách đi ra. Lặng câm, vội vã. Đó là một cậu thanh niên. Nếu còn cắp sách đến trường thì án chừng cậu học tới lớp 10. Hắn nhìn cái lưng con ong trẻ nhỏ ấy vừa bay khỏi một đài hoa và phát hiện bức tường vôi nham nhở bên kia còn nuối tiếc một hàng chữ ám trên thân: … sống mãi trong sự nghiệp của chúng… Chữ ở hai đầu bị rơi rụng đi. Bức tường thu ngắn dần như một ổ mì có hai miệng ăn. Tiếng động không ngớt dồn đẩy qua. Một cái chết, hay một sự hồi sinh thảy đều ồn ào giống nhau. Phá vỡ cái cũ, dựng xây cái mới thảy đều đinh tai nhức óc.
Dì Chín rót cho hắn một ly nước đun sôi để nguội.
– Ngồi chơi. Tui đi chợ.
Người đàn bà có hai thứ tóc trên đầu đội nón đi ra khỏi nhà. Chân bà tuồng như dẫm trùng lên vị trí những sãi bước của thằng con trai hồi nãy. Hắn nghĩ tới sự diệu kỳ của đồng tiền, về cái cách phiêu dạt truân chuyên của nó. Thằng con trai trao tiền cho Lài, qua tay bà dì, tới tay hàng tôm hàng cá, và cứ thế nó luân lưu sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Nó bất tử, ngoại trừ nhà nước buồn tình ra sắc lệnh: Đổi bạc!
Hắn dắt xe vào nhà, khép đóng cánh cửa gỗ. Bản lề kêu lên, tiếng đau thương.
– Đến lâu chưa?
Lâu rồi, và khô dầu. Hắn nói thầm. Khi mắt quen với bóng mờ hắn nhìn thấy Lài đang cầm ở tay một cái thau nhựa đỏ, nhỏ nhắn. Cô đã tạt nước đi, hiện tại một đôi giọt nhểu thầm lặng xuống nền nhà. Bộ đồ lụa nhăn nhàu, ăn với mái tóc rối bung. Lài có một vẻ đẹp khó cắt nghĩa. Một đoá sen nở trên mặt bùn? Không. Hắn chưa từng tĩnh tâm để nhận ra vẻ đẹp rạng ngời của sen. Hoa, hắn không bao giờ bị mê hoặc, bị mềm lòng trước bất kỳ một giống hoa nào. Cái mong manh của hoa không phải là nơi tiềm ẩn vẻ đẹp. Trước tiên, nó biểu hiện ở đấy niềm bất an.
– Thằng đó nó xưng hô với Lài cách sao?
– Em đừng ngại. Anh không phải là hạng người dập liễu vùi hoa. Hắn nói thế.
– Lài mà hoang sớm có thể đẻ con bằng thằng ấy.
– Ác khẩu. Bụng dạ lúc nào cũng chứa đầy dao!
– Nó còn con nít chay. Cái mặt ấy chắc chỉ biết bú.
– Thôi đi ông thánh, nó xịn không tưởng được. Điệu đàng. Và nó có khối tiền dắt sau đít.
Lài thả chiếc thau nhựa xuống đất, đưa chân gạt nó vào dưới gầm giường. Giường trải chiếu lát, hai gối có thêu chim. Mùng buông rủ một góc, thấy hai ba miếng vải vá khác màu, trông như một cổ bài thu cất chẳng vén khéo, còn vướng mắc con chuồn con rô. Lài kéo tấm màn che đậy giang sơn đó lại. Vải màn nội hoá in hình lem nhem, xô động và đẩy đưa một mùi ngai ngái. Chăn chiếu ẩm mốc không có được thứ mùi lạ thường đó.
– Hẹn mấy giờ?
Lài hỏi khi kẹp lại mớ tóc đen, quăn, nhiều, rậm.
– Hai giờ.
– Sao chẳng nghe động tĩnh gì vậy?
– Ai biết. Trong khi chờ đợi, để anh ngả cái lưng một tẹo.
– Thôi, nằm mà làm gì? Em mới lau chùi, chiếu chưa khô.
Hắn ngó Lài. Áo lụa mỏng. Ở ngực như tuồng có dính hai hột đậu phụng, ở phiá trong. Thứ đậu phụng còn nguyên lớp lụa hồng chưa bóc.
– Có gì nhậu không? Lạt miệng quá!
– Được tài đòi hỏi. Chờ chút, nhờ dì Chín đi mua rồi. Ông đó ra sao ?
– Ngó cũng đặng.
– Cái gì đặng?
– Lài tự khám phá lấy. Như thế thích hơn.
– Thích? Thằng Dần bảo: Ngó ông ta tự nhiên em đâm nhớ tới ba em. Anh biết tuổi ông ấy không?
– Sao biết được? Hôm kia nhậu thịt rắn ông ta nói: Ai đời mà mình xơi cả bổn mạng mình.
– Xỉn chưa mà ăn nói ra chiều khó hiểu?
– Ông ấy phát ngôn: Tui không tin dị đoan. Năm nay là năm tuổi của tui, biết đâu chừng lại lấy được vợ xinh.
– Tuổi Tỵ à? Có lý nào ổng hơn Lài những hai giáp?
– Thì đã sao? Chả chưa già đâu. Đỏ da thắm thịt. Coi bộ còn sung. Nhậu lai rai mà mất ngoẻn hai vé. Lài phải chứng kiến bộ mặt dửng dưng của khứa lão khi móc ví. Mê mẩn luôn!
– Dầu gì thì đi với bọn nhỏ cũng đã hơn. Thằng chả chắc đồng trang lứa với dì Chín?
– Bậy nà. Tóc còn đen mun. Da săng, người thơm như Đường tăng.
– Anh ăn được cái giải gì mà hôm nay trở chứng đi bốc người dưng.
– Chả ăn được gì. Chẳng qua muốn Lài sa chân vào cái hủ nếp béo bở ấy thôi. Dầu sao anh cũng đóng vai anh, quyền huynh thế phụ. Mấy khi mà có kẻ chìu lòn mình, thích quá đi chứ!
– Giao xe cho thằng Dần đi đón à? Thằng quỉ sứ. Hẹn hai giờ sao kỳ vậy?
– Lui dội qua một miếng nước cho toảnh ngoảnh. Thay đổi xiêm y và nếu cần thì chơi chút dầu thơm. Làm bộ tịch con nhà lành à nghen.
– Cái gì lành, cái gì rách? Phá đời người ta rồi còn lên giọng kiểu cọ này nọ. Con nhà lành thì đéo có xài dầu thơm.
– Ừ… Đéo xài…
Lài kéo màn. Sợi dây thép căng trong góc nhún nhảy. Chiếc quần lót màu xanh láng lườm phơi trên dây bị lôi xuống. Lài chỉ có hai quần, như vậy thì em đang mặc chiếc màu đen. Tất cả đều chẳng còn mới. Lài bảo: phiá trong ai thấy mà lo. Nếu lỡ thấy thì mắt sẽ mù loà khi đó. Bởi chúng ưa vội vã lột ra để thấy cái đáng thấy. Lài nói thật chí lý, vì vậy hắn định tâm mua cho Lài một chiếc mới, màu đỏ; đôi ba bận nhất trí như thế rồi lại đành lòng lãng xao. Tiền ấy làm một hớp rượu cay thì đáng đồng tiền bát gạo hơn. Vã lại Lài không thích màu đỏ. Đứa nào có máu Việt cộng thì nó đỏ cho tới cả cái quần lót. Em nói thế, xanh dờn ác cảm, váng vất chút miệt thị. Dì Chín đội nắng trở về, khi ở phiá sau Lài bắt đầu dội xuống những gáo nước. Hắn ngó hai ba bịch ny-lông, sau cùng lôi ra được một lon bia lạnh.
– Nghe nói nhà có khách Việt kiều?
– Dạ. Ông về tìm vợ và coi bộ mết Lài.
– Biết con Lài hồi nào hay vậy?
– Trong túi áo thằng Dần lúc nào cũng thủ sẵn cái hình Lài chụp ở bãi biển Vũng tàu. Hắn ngửa cổ đổ bia vô mồm. Thấp thoáng trong đầu hắn hình những cánh bướm đang bay. Đúng hơn, áo tắm hai mảnh nhỏ xíu bó căng cơ thể Lài sũng nước. Lài thật ăn ảnh. Bắt mắt. Em như nàng tiên cá từ biển sâu lên bờ thoát y. Buồn tình, thằng Dần có thể mang tấm hình ấy ra mà thủ dâm. Em khiêu gợi tới độ người ta dễ trút bỏ muộn phiền, tuôn trào ra những mộng mị thầm kín.
– Không phải đùa, người có số cả! Chọn lựa cho lắm cũng chẳng đi tới đâu. Không hiểu con Lài nó chê cậu ở điểm nào?
Hắn làm thinh, ngó dì Chín chất đồ lên bàn có thứ lớp.
– Cơm nước chiều nay biết tính sao đây?
– Khỏi nấu nướng. Lài không cho dì hay à? Đi kéo ghế nhà hàng, đó là bổn phận của ông Việt kiều.
– Ừ, tha cho tui một bữa. Nói Lài là tui sợ đám đông, tui chuồn sớm cho mấy người tiện làm việc, chiều tui ăn cơm bụi. Khỏi thắc mắc.
Nắng chưa dịu sắc lửa bên ngoài. Người đàn bà bước đi, chân dẫm lên bóng; và trong phút giây con đường nhỏ ngập bụi nuốt rất mau cái bộ dạng le te vung vẫy ấy. Tất cả mọi cánh cửa đều đóng kín, chòm xóm coi bộ chưa một ai hay biết công việc của Lài. Hãy cầu mong thế. Hãy đợi cái khách sạn ba sao kia thành hình rồi hẳn phát hiện cũng chưa muộn. Con đĩ Lài. Hắn thật chẳng muốn nghe chữ ấy. Có lần hắn nói gần xa với Lài chuyện làm ăn lương thiện và đón nhận ở Lài một nụ cười khinh miệt. Quê hương mình đau khổ lắm ai ơi! Lài nói. Vu vơ, trống không. Một dấu chấm lửng lơ. Buồn như hết đường binh với mười ba lá bài xập xám chướng. Đằng sau những căn hộ đóng kín cửa có tiếng ca cải lương rất ngọt của một thằng bé. Chuyện tình oan trái nhiều nước mắt đã được thằng bé nhuận sắc lại, ca cẩm nghe vui tai. Lài cũng biết xuống sáu câu, thê thảm; nhưng không theo một bài bản nào cả. Đại loại như khi nhà nước đổ nhựa nâng cao mặt đường lên, Lài chửi rủa những cơn mưa tự trời xanh đổ xuống. Không có chỗ rút, mưa đọng vũng trong nhà, bởi cái nền giờ này đã chịu thiệt thòi trũng thấp so với mặt đường. Lài biết tân cổ giao duyên khi mặc cả với cái bọn làm nghề nâng cấp nền nhà. Hệt như chuyện thần thoại Sơn tinh Thủy tinh, một mình Lài phải chiến đấu theo từng độ cao của con đường ưa chơi trội. Lụt lội không chỉ tới với nhà cửa, nó còn chảy vào người làm úng nước những tấm lòng. “Anh đã từng biểu em đừng đi tắm sông tắm hồ tắm ao tắm biển, để cho mấy con cá lia thia nó rỉa mấy sợi lông..a.. à.. mày”. Hắn hồi hộp theo dõi tiếng ca vút cao. Hú hồn, thằng nhỏ chấm câu bằng một chữ thật đắt địa. Câu vọng cổ như biết diù hắn lui sau bếp, nuốt nước miếng ngó Lài lau mình lau mẩy. Đôi lông mày Lài thoáng nhíu:
– Phá mồi chi sớm vậy cha?
Mặt hắn đỏ. Chắc Lài tưởng hắn đã tợp ba bốn lon bia? Tương xứng với mái tóc, những chỗ khác cũng phồn thịnh mọc rậm rạp. Riêng lông mày thì suy một đường cong, sắc lẻm. Nếu tắm sông, hẳn cá sẽ không rỉa vào lông mày làm gì. Moi tiền của thằng giàu chứ ai lại đè kẻ nghèo mà bóc lột.
– Vẫn chưa đến à?
– Chưa. Cha con nó giờ này dám ngồi rung đùi trong quán bia ôm.
– Kỳ cục. Buổi sơ ngộ đầu tiên mà chơi vậy mất linh!
Hắn ngó hai lúm đồng tiền duyên dáng trên mông Lài:
– Để giết thì giờ ta vầy cuộc vui.
– Nghèo mà ham!
– Lâu rồi. Lài không nhớ sao? Anh đã quên bén mùi em.
– Trửng giỡn gì giờ này. Thằng chả lò dò vác mặt tới lại nghĩ bọn mình anh em mà vô luân… Chơi dầu thơm không?
– Kệ, bôi một ít cho đời lên hương.
– Thông thường người ta xức ở chỗ nào. Cổ, cườm tay hay hai bên má?
– Thằng chả ưa nhậu thịt rắn thì em cứ đè chỗ ấy mà xức.
– Sao kỳ vậy?
– Rắn có mùi nồng y chang. Không tin em thử đi tắm sông tắm hồ, rắn đánh hơi nó chui đầu vào cho xem.
– Nói nghe ghê.
Lài mở hộp giấy rút lọ nước hoa ra ngắm nghía. Dung dịch màu vàng sóng sánh như bia, nhưng chất nước ấy đắt tiền hơn bia cả vạn lần. Đó là món quà mọn của người đàn ông hơn Lài những hai mươi bốn tuổi. Ông uống rượu ngũ xà, bảo đó là thuốc cường dương. Năm thứ rắn độc chảy vào người chưa đủ, ông nói chuyến này về tôi còn mang theo thuốc Viagra. Trời! Phải biết lượng sức mình chứ. Nhìn ảnh Lài mặc đồ tắm kiểu này thì biểu ai mà cầm lòng cho đậu! Ông tuyên bố một cách nghiêm trang, ít nhiều thành khẩn trong khai báo.
Mùi thơm lan tỏa, dật dờ cả căn bếp. Lài kéo quần lên rồi cất lại chai Romance vào hộp giấy có in chữ Ralph Lauren.
– Hôm nào vơi bớt đổ tí nước trà vào rồi mang ra chợ trời là xong. Xu-chiên xì-líp coi bộ cần thiết hơn.
Lài nói trong khi mặc áo. Hắn không nhớ rõ là Lài có bao nhiêu cái nịt vú. Với hắn, có lẽ xú-chiên cũng là thứ nằm trong danh mục những loại chẳng cần thiết. Rườm rà, nhiêu khê. Lấn át vẻ đẹp thân thể của một người nữ. Hắn đưa tay tính gài hộ Lài những hạt nút áo thì có tiếng xe gắn máy vừa thắng đứng. Cả hai nhìn nhau, sau cùng Lài giả bộ ho hen: Chung cuộc thì Tào Tháo đã tới.
Hắn đến bên lu nước múc một gáo, rửa mặt, vuốt cho tóc ướt. Hôm nay hắn cần minh mẫn để bàn tính chuyện trọng đại, hắn phải diễn vai khó, nửa vui mừng nửa đau thương khi bàn giao đứa em gái cật ruột duy nhất đến tay ông… khúc ruột ngoài ngàn dặm. Khi đi lên nhà trên hắn cũng đằng hắng mấy bận cho thông cổ:
– Ủa, vậy chớ ổng đâu?
– Xảy ra sự cố.
Thằng Dần loan tin. Tóc rối bụi đường, da ăn nắng, mặt mồ hôi mồ kê.
– Mẹ kiếp. Cái gì gọi là sự cố mày? Trở ngại kỹ thuật à?
– Ừa. Ổng bận họp công ty quỉ quái gì đó. Cho qua xin lỗi nghe cưng, nói Lài tối nay qua sẽ đền tội. Chả nói vậy đó. Đứng ngoài khách sạn chờ chả muốn chết luôn.
Lài ngó chăm vô mặt thằng Dần:
– Tin được mấy phần? Cái mặt mày sao tao nghi quá!
– Quỉ thần ơi! Hết chuyện giỡn chơi rồi sao, mánh mung gì ba cái vụ này.
Dần ngồi xuống ghế. Hắn tự động khui một lon bia:
– Nhưng mà như thế này, trong khi đợi trước khách sạn, tui có làm quen được một thằng Tây ba lô.
Lài đặt tia nhìn hướng về hắn và cô tới kéo ghế ngồi gần thằng Dần.
– Chuyện lạ! Mày có áp phe gì ngon nói tao nghe.
– Nửa vé. Chị tính sao?
Hắn đứng vòng tay dõi trông tình hình. Lài rót bia ra ly, uống từ tốn. Cô liếm môi, cái nốt ruồi nằm bên khóe trở nên đen bóng.
– Bổn cũ soạn lại hả mày?
– Uả, ảnh đẹp như vậy không khoe cũng uổng. Thu cất trong túi làm gì cho nó mốc meo.
– Ngại lắm mày…
– Chị ngại gì, thằng chả nói tiếng Việt xịn lắm à nghen. Chị đâu có tốn công hoa tay múa chân.
– Mày không nhớ tuồng cải lương Củ Chi kiên cường đánh thắng giặc Mỹ sao? Tao nhớ như in trong vở đó có câu: Cái vật ấy to dài thế nào gần xa ai nấy cũng đều hay…
– Thôi mà bà chị. Họ ca ngợi khẩu B-40 đó. Chớ đừng có méo mó nghề nghiệp mà chúng cười.
– Bà tổ mày… Tây ba lô thật à?
– Thật. Mắt xanh mũi lõ đàng hoàng.
– Lông lá đầy mình à?
– Lông lá cả ổ. Nơi ngực mọc từng nạm xum xuê. Y như râu bắp. Coi ngộ lắm.
Lài nuốt nước bọt.
– Đừng tả cảnh nữa mày… Nửa vé. Năm mươi đô, nghe cũng ham. Tao đang cần tiền để nâng cấp căn nhà, chí ít cũng ngăn được cái buồng, toang hoang trống trải như vầy không chừng có ngày mà mắc phong.
– Chị mà nhất trí thì tui làm tài công. Hắn nói chiều nào cũng ra ăn nơi nhà hàng nổi.
Lài có vẻ bồn chồn. Ngồi trong nhà mà bềnh bồng như đang tọa mông trên sông nước. Sau cùng Lài đứng lên:
– Uống hết bia rồi chở tao đi.
Thằng Dần nhìn lên hắn:
– Ở nhà ngơi một giấc điệp cho khoẻ khoắn. Ngó cái mặt anh kià, y như dân choác thứ thiệt đang chờ tới cử.
– Nó nói đúng đó. Ngủ đi, tối nay có sức mà nhậu thịt chó. Thịt chó hay thịt rắn mày? Trời, thực đơn của thằng cha già kia coi bộ khó nuốt.
Hắn không nói. Hắn ngồi xuống bàn và bắt đầu phá mồi thực sự. Ai nói tiền của đĩ bỏ ra ăn không ngon miệng? Sai lầm. Hương vị tôm khô củ kiệu vẫn tanh nồng. Men bia vẫn đắng như đã từng, chẳng suy suyển. Hừ, chân lý ấy ngàn năm cứ không đổi!
Lài chẳng thưa thốt gì với hắn khi bước ra ngoài. Leo lên yên xe dream, ôm eo thằng Dần và tiếng động cơ dòn dã vất lại, khuấy động lòng đường hẹp, đâm thốc vào người hắn, ghìm chặt hắn ở bàn ghế, không động đậy trong nhất thời.
Hắn lui chỗ Lài tắm, đứng đái. Gục mặt nhìn cái vòi nước vẽ rồng vẽ rắn uốn lượn. Hắn lên giường của Lài lật chiếu, moi bao gối, kéo những hộc tủ lục soạn. Không tìm ra được một tờ giấy bạc. Bắt ghế đứng thò tay vào ống xối thăm dò, trống không. Thọc năm ngón bóp bóp sờ soạn trong hủ gạo, chẳng có. Cũng lạ, nhà như cái lỗ mũi, chẳng biết Lài thu dấu ở ngóc ngách nào? Thất bại trong việc kiểm kê tài sản, buồn tình hắn đóng cửa bỏ đi. Chiếc xe đạp quay từng vòng chậm rãi trong khi hắn động não về một đích đến. Nửa giờ sau hắn dẫn xác vào một căn nhà có nhiều tấm bià cứng trám nơi vách tôn rỉ sét. Đứa con gái nằm trên giường tre ló mặt sau tờ báo mở rộng.
– Chà lâu ngày dữ. Cứ tưởng là có lê quên lựu có trăng quên đèn. Rồng tới nhà tôm có chuyện gì không?
Hắn mang xe vào kê sát bên giường, ngồi xuống xoa tay nơi hai đầu gối.
– Chuyện gì? Thì nhớ mùi tôm nên chủ đích là tới xơi tôm đây.
– Tiền trao cháo múc.
Đứa con gái nói. Vẫn nằm yên như đang đọc dở dang một trang báo.
– Cho anh ghi sổ, mai trả cộng với tiền lời.
– Không tin. Đưa thẻ chứng minh nhân dân cho em cất.
– Xong ngay.
Đứa con gái đón nhận miếng giấy bọc nhựa. Một ảnh trắng đen đóng khung cái sọ người hốc hác bên trong.
– Của anh hay móc từ túi thằng nào mà cái mặt lạ hoắc.
– Đừng đùa. Ảnh chụp lúc anh chưa mất trinh.
Hắn moi túi quần ra một viên thuốc. Ông già Việt kiều cho hắn hôm qua, bảo là thần dược đó cưng, Hoa Đà tái thế thấy cũng sáng mắt sáng lòng. Hắn nuốt khan, chẳng cần chiêu một ngụm nước. Lý ra Lài là người đón nhận sự thử nghiệm này. Thôi, phi vụ này xin em chịu khó trải thân làm vùng oanh kích tự do.
Hắn thong thả thoát y chờ chuyển biến rạo rực trong máu. Hắn lột quần đứa con gái ra. Cô ta cũng xài thứ quần lót như Lài. Người cô cũng có hương nồng y chang. Đàn bà con gái có nhiều điểm trùng hợp (ngoài ý muốn). Rập khuôn. Trăm hoa nở cùng một thứ. Đàn ông như hắn thì sao? Chuyện đó thì hắn chẳng thể giải thích. Chắc cũng đồng phục y trang? Có sao Lài mới đi thực tế nơi người thằng Tây ba lô. Mắt xanh mũi lõ, lông lá rậm rạp, to lớn dềnh dàng, đế quốc tư bản. Chừng ấy thứ đã là khoảng cách mênh mông rồi, nói chi tới chuyện ăn độn mãi cũng nhạt mồm, mấy khi mà được dùng bữa sơn hào hải vị! Tới luôn bác tài. Phải không Lài?
Hắn dùng hai tay nâng đôi chân đứa con gái lên. Tờ báo thủy chung vẫn ở vị trí cũ. Đó là giai phẩm Xuân in bìa bốn màu lộng lẫy. Cái anh hoạ sĩ nhân dân nào chắc là có con tim bồ tát, vẽ rắn hổ mang mà từ đầu cho chí mình mẩy đều hiền từ trông như một khúc dồi nằm cuộn mình trên bàn nhậu. Hắn giật tờ báo ném xuống gối, hắn muốn nhìn mặt đứa con gái hơn. Hắn ưa theo dõi từng biểu lộ sẽ hiện lên trên dung nhan kẻ nằm dưới. Mồ hôi bắt đầu tuôn chảy trên sống lưng hắn trong khi đứa con gái tỉnh queo nằm hát vu vơ. Trong trang ruột tờ báo bị lật ngửa, hắn đọc thấy hàng chữ : Năm mới thắng lợi mới. Dưới góc là những tin tức coi bộ khó gặt hái thắng lợi: Xì ke ma túy lộng hành, trộm cắp đĩ điếm như rươi, nghèo nàn lạc hậu đứng gần chót ở bảng thống kê toàn cầu. Bán máu, đua xe gắn máy trở ngại lưu thông, bệnh Sida lan tràn đến mức báo động đỏ…
Hắn thở hổn hển với trái tim co thắt. Chiều nhuộm đen rất mau khung cửa nhỏ mở tầm nhìn tới một bãi rác vắng. Thoang thoảng ở mũi hắn mùi hôi nách của chủ hộ. Hay gió lùa hương chua từ bãi rác xô dạt về? Hắn gục xuống trên bụng trần đứa con gái. Cái lỗ rốn ấy thật sâu, thật đen. Như mộ huyệt. Tiếng đứa con gái cất cao: Đừng đùa dai cha nội. Bộ muốn chết hả? Năm mới năm me chơi vậy là triệt đời tui. Nè, lai tỉnh đi chớ. Ba hồn bảy viá đâu về…
Posted on July 19, 2025, by dongsongcu Post by Sơn râu 7 Aug 2025
Tượng người chiến sĩ VNCH tại Đài Tưởng Niệm chiến sĩ Việt Mỹ tại Thành Phố Westminster, CA. (Hình minh họa: BK/SGN)
Anh Nguyễn Quốc Sự, nhà báo bạn tui, có cái bút hiệu nghe rất là giựt thịt. Có lần nhậu, rượu vô lời ra, tui kêu ảnh cắt nghĩa cái ẩn ý của cái bút hiệu nầy?
Anh nói: “Quốc Sự cũng là tên thiệt của ảnh. Vì ông cố nội của ảnh tên là Nguyễn Quốc Sư. Nên Tía ảnh thêm đấu nặng vô chữ Sư cho nó gọn.
Cái tên Quốc Sự nầy làm ảnh rất đổi tự hào (cái nầy nghe quen quen nha). Vì ông cố nội Nguyễn Quốc Sư của ảnh là một người yêu nước nồng nàn (cũng nghe quen quen nha).
Ông cố nội của ảnh đã từng theo Thủ Khoa Huân làm quốc sự ở Mỹ Tho. Ông Thủ Khoa Huân và ông Nguyễn Quốc Sư bị giặc Pháp bắt được, đày tuốt qua tới tận Cayenne, một thuộc địa của Pháp bên Nam Mỹ.
Phần có rất nhiều người Việt mình họ Nguyễn. Nên Nguyễn Quốc Sự là người Viêt lo vận nước! Chớ tỉnh bơ, “lừng khừng cầu an là đầu hàng cộng sản”.) Cái nẩy ông Thiệu nói chớ hổng phải tui nhe!).
Thấy anh Nguyễn Quốc Sự chiếm đài phát thanh nói hoài mỏi miệng nên tui nhào ra cứu bồ. Tui đố anh con gì có vú mà biết bay?
Anh Nguyễn Quốc Sự trên thông thiên văn, dưới tường địa lý; nhưng câu nầy anh bí. Tui cười hê hê trả lời rằng:
-Một là con dơi. Hai là ca sĩ Khánh Ly.
Anh hỏi lại:
-Ủa Khánh Ly bay đi đâu vậy?
-Bay về Đà Lạt hát ‘Gia tài của Mẹ’ của Trịnh Công Sơn đó.
Chuyện ruồi bu, kiến đậu lùm xùm hổm rày anh không hay biết gì sao?
Thì anh Nguyễn Quốc Sự nói rằng: “Bà Khánh Ly vọt ngày từ Tháng Tư 75. Ở hải ngoại, bả vừa hát vừa khóc “hi hi”. Bả thề sẽ không về lại Việt Nam hát chừng nào Việt Nam còn nằm dưới chính quyền của Đảng Cộng Sản.”
Chuyện đó là do bà nói, chớ hổng ai bắt bả phải nói thế nầy hay phải nói thế kia cả? Nhưng giờ bả là con có vú và biết bay thì là chuyện của bả. Rồi Công an Đà Lạt nó đòi vả miệng bả; vì bả hát “Gia tài của mẹ” của Trịnh Công Sơn. Tụi nó nói với bả là: “Không có nội chiến gì ráo mà là chiến tranh “giải phóng Miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước.” Bước vô Sài Gòn để chiếc dép râu dẫm nát đời son trẻ. Chúng ta lột túi nó sạch bách chừa cho nó cái quần xà lỏn mà thôi! Hiểu chửa?”
Chuyện ruồi bu, kiến đậu đó, tui đâu có hưỡn để mà quan tâm. Phần ca từ của bài nầy đâu có gì hay? Chỉ là nhắc sơ sơ, về lịch sử. Tàu đô hộ 1000 năm. Tây 100 năm, 20 chục năm, theo Trịnh Công Sơn, là nội chiến. (?!)
Ca từ cứ cà lăm, cứ lập đi lập lai, rồi hô khẩu hiệu, chửi bới chung chung, chửi bới lung tung. CS bị chửi nó cũng tức chớ! Nên nó cấm bả hát là điều dễ hiểu.
Có đứa nói: Khánh Ly về hát chỉ đơn thuần vì lý do kinh tế. Nghĩa là để kiếm tiền và không quan tâm gì đến chính trị. Khánh Ly cũng nói về hát cho khán giả, không liên quan gì đến chánh trị! Thì bả có dám hỏi tại sao CS lại cấm hát bài nầy hay không? Sao mà im re vậy?
Rồi cũng có đứa tát nước theo mưa, tán hưu tán vượn là không phải do ‘20 năm nội chiến từng ngày đâu’ mà vì 1000 năm đô hộ giặc Tàu nên mới có chuyện? Nghĩa là quan anh sợ Tập Cận Bình nhột nên cấm cụ Khánh Ly “hót” bài này.
Thiệt là chuyện mù sờ voi. Phán lung tung! Tui quan niệm là: giờ Khánh Ly đã gần 80 tuổi rồi. Đèn của bả dầu đã lụi. Bấc của bà đã khô. Biết tắt lúc nào? Ham hố danh lợi làm gì nữa hè?
Tuy nhiên, chuyện của bả, bả muốn làm sao thì tùy bả. Thiệt tình tui không có hưỡn mà để ý tới mấy cái chuyện ruồi bu, kiến đậu nầy đâu. Chuyện của ông Phạm Duy, ông Du Tử Lê, ca sĩ Thanh Tuyền… và ai đó thì cũng vậy.
Cái ông Nguyễn Quốc Sự nầy muốn bàn là cái câu ‘hai mươi năm nội chiến từng ngày?” Nội chiến cái mốc xì gì? Tui tức vì có một ông nhà báo nói phe ta ở Mỹ với lập luận cà lăm, một ý lập lại ba bốn lần rõ ràng để câu cho hết giờ báo nói. Khi buổi phát thanh chấm dứt, tôi thiệt không hiểu ổng muốn nói cái giống gì? Quan điểm của ổng ra sao về lời bài hát ‘Gia tài của Mẹ’ trong tuyển tập ‘Ca khúc Da vàng’ của Trịnh Công Sơn? Tôi chỉ dù sức hiểu loáng thoáng là ổng đồng thuận và khen ngợi Trịnh Công Sơn nói đúng.
Ổng nói vòng vo tam quốc nhưng tựu trung, tôi xin gom lại thành 3 điểm để tranh luận với ổng chơi.
Cộng sản bắc Việt cho rằng cuộc chiến nầy là chống xâm lược Mỹ để giải phóng Miền Nam?! Ổng nêu số 58 ngàn lính Mỹ chết trận ở Việt Nam để chứng minh chiến tranh là do Mỹ xâm lược. Vì Mỹ không xâm lược thì làm sao có lính Mỹ chết ở Việt Nam?
Như vậy cho tôi đặt câu hỏi là quân Mỹ đổ bộ vào Miền Bắc nước Pháp và chết vào D-Day, cùng quân British, Canadian. Lính Úc từ Nam Bán Cầu, xa xôi, phải xa cha, xa mẹ, xa người yêu rồi bỏ mình trên đất Pháp thì họ có phải là quân xâm lược hay không?
Ông nhà báo nói nầy cho rằng người nước ngoài nhìn vào cuộc chiến Việt Nam, là nội chiến như Trịnh Công Sơn đã gọi và ông đồng thuận. Ông dẫn trường hợp Nam, Bắc Hàn, Đông và Tây Đức để biện mình cho lập luận của mình.
Anh Nguyễn Quốc Sự nói: “Tôi chưa hề nghe người Mỹ nào gọi cuộc chiến nầy là nội chiến cả. Người Mỹ gọi đó là cuộc chiến tranh Việt Nam. ‘Vietnam war!’ Khi Kim Nhựt Thành xua quân Bắc Hàn xâm lược Nam Hàn, tôi chưa nghe người Mỹ nào gọi đây là cuộc nội chiến cả. Mỹ gọi là cuộc chiến tranh Triều Tiên. ‘Korean War.’
Tôi e rằng ông Trịnh Công Sơn và ông nhà báo nói nầy không hiểu nội chiến là cái giống gì?
Khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và lập ra Liên minh miền Nam (Confederate States); 25 tiểu bang còn lại ủng hộ chính phủ Liên bang miền Bắc (Union).
Trận chiến kéo dài suốt 4 năm cho tới khi quân miền Nam đầu hàng quân Miên Bắc vào năm 1865. Nghĩa là hai bên cùng một nước Hoa Kỳ đánh nhau. Đó là nội chiến. Như thời Lê-Mạc (1533–1677), từ một triều đình nhà Hậu Lê, chúng chia phe, chia phái đánh lẫn nhau. Từ 1533–1592, nhà Mạc làm chủ vùng Bắc Bộ Việt Nam, nhà Lê làm chủ khu vực từ Thanh Hóa trở vào. Thời kỳ 1593–1677: khi tàn dư họ Mạc rút chạy lên Cao Bằng cát cứ. Nghĩa là hai bên cùng một triều đình đánh nhau. Đó là nội chiến. Rồi thời kỳ ‘vua Lê chúa Trịnh’ ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong). Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là 2 vị bề tôi của nhà Hậu Lê. Nghĩa là hai bên cùng một triều đình đánh nhau. Đó là nội chiến.
Còn chiến tranh Việt Nam (1960-1975) là khác. Năm 1954, hiệp định Geneve đã quy định vùng đất nầy có hai nước, có biên giới, có hai quốc kỳ, có hai quốc ca, có hai thủ đô, có hai chánh phủ.
Miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và Miền Nam là Việt Nam Cộng Hoà.
Khi xâm lược VNCH thì cộng sản bắc Việt che dấu bằng cách dùng đường mòn HCM để xâm nhập vào Nam. Tù binh cộng sản khai mình là người Huế. Chớ không dám khai mình là từ Miền Bắc qua Lào rồi Miên để xâm nhập vào Nam.
Cộng sản bắc Việt cũng biết họ đang tiến hành một cuộc chiến xâm lược một nước có chủ quyền. Nên lúc xe tăng T-54 của Trung Cộng ủi sập cổng Dinh Độc Lập, chúng chỉ dám treo cờ Việt Cộng, đỏ xanh ngôi sao vàng. Chớ không toàn đỏ sao vàng.
Rồi buộc Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn lúc 11 giờ 30 sáng ngày 30 Tháng Tư. Dương Văn Minh đầu hàng ai? Dương Văn Minh đầu hàng Chánh phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam của Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát.
Vài tháng sau, Phạm Hùng mới hiệp thương với Trường Chinh dâng Miền Nam cho CS Miền Bắc. Nghĩa là Lê Duẩn xua quân xâm lược Miền Nam là sai, là chà đạp Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973.
50 năm đã trôi qua! Nhiều tài liệu mật hết thời hiệu đã được tiết lộ. Rõ ràng đây là cuộc chiến tranh của cộng sản quốc tế tấn công một thể chế tự do, nước VNCH.
Vậy mà một nhà báo nói có tiếng ở hải ngoại, còn hùa theo Trịnh Công Sơn để gọi đây là một cuộc nội chiến? Quả tôi không thể nào hiểu nổi!
Thiếu tá Chi L. Truong* được bổ nhiệm chức Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ (CBRNE) thuộc Sư đoàn 1 Thiết Kỵ** (1ST Cavalry Division) từ tháng 5 năm 2023. Nhiệm kỳ vừa qua, ông là Sĩ quan trưởng Phòng yểm trợ của Quân đoàn III Thiết kỵ tại Fort Hood, Texas từ tháng 6 năm 2022 đến tháng năm năm 2023. Năm 2024, Thiếu tá Chi L. Truong được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Lục quân chọn đề cử thăng cấp Trung tá và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn*** ngày 23 tháng 5 năm 2024.
Là một Sĩ quan ngành Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ (CBRNE) Lục quân, Thiếu tá Chi L. Truong được chỉ định lần lược phục vụ qua các đơn vị: Sĩ quan Phó Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ tại Fort Hood, Texas; Sĩ quan Phó Phòng CBRNE, kiêm Sĩ quan phòng vệ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ tại Châu Âu; Sĩ quan điều hành Tiểu đoàn Tổng hành dinh Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 Thiết Kỵ tại Fort Hood, Texas; Sĩ quan trưởng Phòng yểm trợ của Quân đoàn III Thiết kỵ tại Fort Hood; Và hiện nay, Thiếu tá Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, thuộc Sư đoàn 1 Thiết Kỵ.
Huy hiệu Bộ Tư lênh Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử, Chất nổ thứ 20 của upload.wikimedia.org
Cần biết thêm về ngành Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ (CBRNE)**** của Lục quân Hoa Kỳ là một Bộ Tư lênh Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử, Chất nổ thứ 20, (20th Chemical, Biological, Radiological, Nuclear, Explosives (CBRNE) Command) do nữ Chuẩn tướng W Bochat làm Tư lệnh, là đơn vị duy nhất của Bộ Lục quân trực thuộc Bộ Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ. Bộ tư lệnh CBRNE bao gồm 75% các Đơn vị giải quyết các vật liệu chất nổ (EOD), Hóa học, Sinh học và Phóng xạ, Nguyên tử của Quân đội đang hoạt động. Bộ tư lệnh là một đội hình chuyên biệt, có kỹ thuật cao với khoảng 3.800 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ và Nhân viên dân sự đồn trú tại 16 Tiểu bang và 19 cơ sở khác nhau và hoạt động thường xuyên để yểm trợ các tổ chức và đơn vị liên hợp, hoạt động đặc biệt, liên ngành và Quốc tế. Bộ tư lệnh duy trì phục vụ 24 giờ/7 ngày trong việc chống lại nhiều mối nguy hiểm từ Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ trong nội địa và nước ngoài.
Thiếu tá Chi L. Truong tốt nghiệp các Văn bằng Cử nhân và Cao học: Văn bằng Cử nhân Tâm lý học – Trường Đại học University of Southern California năm 1999; Văn bằng Cử nhân Khoa học Sinh học tổng quát – Trường Đại học University of Southern California năm 1999; Văn bằng cao học Khoa học Môi trường – Trường Webster University năm 2012; Và tốt nghiệp Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) nằm 2019.
Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá phục vụ trong các binh chủng và ngành của Quân chủng Lục quân có thể hơn 150 vị, không tính những vị Thiếu tá hồi hưu. Một số Thiếu tá Lục quân gốc Việt được ghi nhân sau đây: Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Chúc Tân Trung tá Chi L. Truong thăng tiến binh nghiệp.
Chú thích: *Ghi theo họ tên từ tài liệu; **Sư đoàn 1 Thiết Kỵ đã từng tham chiến tại Việt Nam, còn được gọi là Sư đoàn 1 Không kỵ hay Sư đoàn 1 Kỵ binh không vận; ***Sau khi dược Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn, môt thời gian sau, vị Sĩ quan được đề cử sẽ chính thức thăng cấp; ****Gọi tắt là Binh chủng hoá học Lục quân.
Nữ Đại tá Tammy Hollister, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 97 yểm trợ trao hiệu kỳ Phi đoàn 97 cho Thiếu tá Châu Trần trong buổi lễ nhận quyền chỉ huy đơn vị tại căn cứ Không quân Altus Air Force Base tháng 6 năm 2024 (ảnh của facebook.com/97AMW).
Tháng 6 năm 2024, Thiếu tá Chau Tran* nhậm chức Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng vệ căn cứ không quân Altus Air Force Base. Ông được nữ Đại tá Tammy Hollister, Chỉ huy trưỡng Liên đoàn 97 yểm trợ trao hiệu kỳ Phi đoàn 97 trong buổi lễ nhận quyền chỉ huy đơn vị. Thiếu tá Châu Trầntiếp nhận chuyển giao quyền chỉ huy đơn vị từ Thiếu tá Luke Restad tiền nhiệm.
Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ trực thuộc Liên đoàn 97 yểm trợ (97th Mission Support Group), đảm nhận nhiệm vụ giữ an ninh, bảo vệ cho Không đoàn không vận lưu động 97 (97th Air Mobility Wing) tại căn cứ không quân Altus Air Force Base là nơi đồn trú của các loại phi cơ vận tải C-17 Globemaster III của Phi đoàn không vận 58; Phi cơ tiếp nhiên liệu KC-135 Stratotanker cùa Phi đoàn tiếp nhiên liệu 54 và phi cơ tiếp nhiên liệu KC-46 Pegasus của Phi đoàn tiếp nhiên liệu 54, đồng thời cũng bảo vệ và hỗ trợ cho lực lượng hơn 10.000 quân nhân tại ngũ, viên chức dân sự (DOD), nhà thầu, gia đình quân nhân và quân nhân đã nghỉ hưu trong đơn vị.
Thiếu tá Châu Trần phát biểu trong buổi Lễ nhận quyền chỉ huy Phi đoàn 97 tại căn cứ Không quân Altus Air Force Base tháng 6 năm 2024
Khi còn đóng quân tại căn cứ Không quân Osan, Nam Hàn, Đại úy** Châu Trần là Chỉ huy phó đơn vị an ninh phòng vệ của AFIMSC yểm trợ cho các các đơn vị Không quân Hoa Kỳ trú đóng và hoat động tại đây. Ông đã tình nguyện tham gia vào toán tìm kiếm hài cốt những quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong cuộc chiến Việt Nam của Cơ quan tìm kiếm tù binh Chiến tranh/Quân nhân mất tích trong chiến tranh (POW/MIA) của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của DPAA là phải đưa tất cả những người đã hy sinh trở về quê hương, bất kể bao lâu, đã chạm đến trái tim ông. Ông cảm nhận và tận mắt nhìn thấy được sự đau khổ của gia đình những người mất tích phải chiu đựng như thế nào! Đại úy Châu Trần là người nói và hiểu được Việt ngữ chính trong toán tìm kiếm hài cốt quân nhân Hoa Kỳ. Ông sử dụng các kỹ năng ngôn ngữ đã giúp điều phối hoạt động cho 89 thành viên của toán tìm kiếm hài cốt Hoa Kỳ và địa phương trong các nỗ lực tìm kiếm, và đã tìm thấy hai bộ hài cốt của Quân nhân mất tích mang họ về quê nhà.
Thời gian phục vụ trong toán DPAA, tìm kiếm hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích tại Việt Nam làm Đại úy Châu Trần chạnh lòng nhớ lại, ông có người Cậu là một Thuỷ thủ phục vụ tại một Giang đoàn Hải quân Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến Việt Nam, chiếc giang đĩnh của cậu ông đã trúng phải mìn phát nổ, và thi thể của cậu ông không bao giờ tìm thấy được, “Bà và mẹ tôi luôn nói về việc cậu tôi mất tích một cách đau buồn và khó khăn như thế nào… khi biết rằng họ sẽ không bao giờ tìm thấy thi thể của Cậu. Vì vậy, khi có cơ hội tham gia nhiệm vụ với DPAA, đó là điều không cần phải suy nghĩ”. Đại úy Châu Trần nói.
Thiếu tá Châu Trần luôn mơ ước sống và phục vụ quân đội, ông đang sống trong giấc mơ đó mỗi ngày và là một phần của điều gì đó lớn lao hơn nhiều so với chính ông. Những gì ông làm, dù nhỏ bé, đều có ý nghĩa, nhưng công việc của ông không phải lúc nào cũng nhỏ bé. Ngày nay trong vai trò Sĩ quan chỉ huy Phi đoàn 97 phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base, Thiếu tá Châu Trần luôn hết lòng thi hành công vụ giữ gìn an ninh, bảo vệ quân nhân và gia đình trong đơn vị và yểm trợ Không đoàn không vận lưu động 97 Không quân Hoa Kỳ hoạt động hữu hiệu.
Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *Ghi theo họ và tên từ tài liệu (họ và tên Việt Trần Châu); **Ghi theo thời gian còn mang cấp Đại uý.
Cách đây vài tháng, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi có tổ chức một buổi họp mặt tại lớp nhạc của ông ở đường Bolsa. Nghiêm Phú Phi thường đứng ra làm công việc ấy mỗi khi có ai trong giới từ xa tới Cali, để anh em có dịp gặp lại
nhau. Buổi họp mặt vừa rồi là để mừng các nhạc sĩ Xuân Tiên ở Úc sang, hai nhạc sĩ Nguyễn Ánh Chín và Thanh Sơn từ Việt Nam qua.
Vũ Chấn đã tự mình chạy xe lăn tới. Đã phải dùng xe lăn, tất nhiên ông không còn khoẻ mạnh nữa. Nhưng Vũ Chấn vẫn tươi cười, vui vẻ. Và, đối với những người quen biết ông từ lâu, đã ba chục năm, bốn chục năm rồi, mới có dịp gặp lại, thấy ông vẫn “tếu” như hồi nào!
Ông cho biết, từ đầu đến chân ông, bây giờ toàn đồ giả. Nghĩa là sao?
Tóc giả. Răng giả. Tim giả. Tim giả? Phải có máy chạy kèm.
Tim giả nhưng còn yêu thật được không? Hết rồi. Tám mươi lăm rồi.
Ông ứng đối với mọi người và các câu đùa bỡn còn hết sức lanh lẹ và minh mẫn. Không biết đối với các bạn bè thật sự thân thiết, gần gụi với ông, Vũ Chấn là người thế nào. Nhưng đối với những người chỉ biết ông qua giao tiếp bình thường, qua công việc hàng ngày, ông là một người, tuy lúc nào cũng có thể chọc cho người khác cười, nhưng lại rất nghiêm túc trong công việc. Khi còn cộng tác với các ban nhạc trên các đài phát thanh trước 75, trước 54 nữa, ông luôn đúng giờ giấc, không bắt người khác phải chờ đơi hay vì mình mà bị trễ công việc.
Về sáng tác, ông có khuynh hướng hài hước và đặc biệt, dù thông thạo nhạc lý Tây phương nhưng tất cả các sáng tác của ông đều mang đậm nét nhạc cổ truyền dân tộc. Nghe bất cứ một bài hát nào của ông, người ta cũng có thể nhận ra điều ấy một cách dễ dàng. Một số ca khúc của Vũ Chấn từng được phổ biến trên các đài phát thanh ở trong nước trước và sau 1954, người ta
còn nhớ được là các bản:
Cô Tây Đen, Lính Ba Gai, Quê Tôi, Đánh Giầy [ca khúc này hình như Vũ Chấn viết chung với Hoàng Trọng], Tai Nạn Xe Máy Dầu.
Vũ Chấn có còn viết thêm ca khúc nào nữa không, chỉ thân nhân ông biết. Vì đã lâu lắm, người ta không được nghe bất cứ một bài nào của ông, kể cả cũ lẫn mới. Bài hát có tên Cô Tây Trắng, sau 1954, thỉnh thoảng người ta vẫn được nghe ở Sài Gòn là sáng tác của Đức Quỳnh, không phải của Vũ Chấn. Bài này cho đến nay e cũng không có ai giữ được. Bản thu thanh lại càng ít hy vọng có. Người ta nghĩ bài Cô Tây Trắng là của Vũ Chấn có lẽ
vì liên tưởng đến bài Cô Tây Đen vậy thôi. Nhớ lại buổi gặp gỡ sau cùng mới đây, ngồi trên xe lăn, khi bắt tay từ giã mọi người, ông cười nói đại khái “không hẹn ngày gặp lại, có dịp còn tới được sẽ tới, tuổi này, không
thể biết trước ngày mai thế nào”.
Không phải ngày mai mà hai tháng sau, ông mất. Vũ Chấn mất chưa được một ngày [hay hai ngày] người ta lại được tin ca sĩ Ngọc Giao bị đột quỵ [tim] qua đời. Ngọc Giao là một trong những ca sĩ kỳ cựu của Đài phát
thanh Sài Gòn xưa, khi ấy còn được gọi là Đài Vô Tuyến Quốc Gia. Trước 1954, nếu ai từng nghe đài này, hẳn còn nhớ đến nhiều giọng hát khác như Trọng Nghĩa, Văn Thiệt, Ngọc Hà, Đỗ Tuấn …
Đỗ Tuấn và Đỗ Đình Phương [guitarist] đều là em ruột Ngọc Giao. Đỗ Tuấn [tức giáo sư Đỗ Đình Tuân, hiện là chủ nhà sách Văn Khoa trong khu Phước Lộc Thọ]. Không biết có bao nhiêu ca khúc của Vũ Chấn, bản in,
bản chép tay, ghi âm, thân nhân của ông hay ai đó còn giữ được?
Riêng Ngọc Giao [hình như] không còn chút dấu vết nào về tiếng hát của ông. Trường hợp Vũ Chấn, nếu mai ngày, có ai khám phá ra cái hay của nhạc ông, đem hát lại, sự việc có thể [gọi là] sửa chữa được đôi chút.
Trường hợp Ngọc Giao chắc là tuyệt vọng. Đời sống đôi khi làm người ta liên tưởng tới những ngọn đèn, những vì sao, lặng lẽ sáng, lặng lẽ tắt.
Sau đây là nguyên văn bài Cô Tây Đen của Vũ Chấn, ghi theo một cuốn băng cassette, do Vân Sơn [ban AVT xưa] trình bầy [tài liệu của Chu Van Lê, Canada]:
Võ Đức Thu cùng với Trần Văn Lý, Trần Văn Nhơn là những nhạc sĩ danh tiếng ở miền Nam trước 1954 và cũng là những người đã góp công làm nên thời huy hoàng của tân nhạc Việt Nam thời bấy giờ. Mưa Đêm Thu của Võ Đức Thu, Sài Gòn Xa Hoa của Trần Văn Nhơn và Mẹ Ơi! của Trần Văn Lý, không phải chỉ là những bài hát hay mà còn đánh dấu một giai đoạn lịch sử của chúng ta nữa.
Đó là những ngày đất nước chìm ngập trong chiến tranh, nhưng “Sài Gòn rất may, cửa nhà chẳng xiêu đổ tàn nát, bao phố phường vẫn như hồi thái bình”. Còn Hà Nội thì “khắp chốn nay điêu tàn, nhà xiêu đổ một cảnh nát tan” và “Tôi đứng im lặng nhìn, nhìn tháp cũ bóng soi hồ Gươm. Tháp kia sao lạnh lùng như dấu muôn e thẹn căm hờn”. Mẹ Ơi! của Trần Văn Lý có những câu:
Nước mắt ướt thấm cách biệt mẹ hiền
Người mà lòng này đầy thương mến nhiều
Đứng trước quốc biến phải đành lìa xa …
Chiến tranh tàn khốc nhưng đôi khi bom đạn cũng bỏ sót một vài nơi song nước mắt của các cuộc chia lìa thì hình như chan hòa khắp chốn. Mưa Đêm Thu của Võ Đức Thu không nói gì tới chiến tranh, nhưng nó chính là bức tranh ảm đạm của những ngày tháng u buồn đó.
Mưa đêm thu
Trời lạnh lẽo gió thu vi vu
Kìa nhạn kêu dưới trời mù mù
Biết bay về đâu
Đám mây xa mờ
Ta gửi tâm hồn theo gió
Cách xa quê vời
Ta những mong mỏi chờ mong
Những ngày đầu tiên nghe ca khúc này, người Hà Nội cho rằng, hình như Hà Nội và Sài Gòn có cùng một thời tiết. Chỉ sau 54, vào Sài Gòn, người ta mới biết không phải như vậy.
Mùa thu Sài Gòn khác mùa thu Hà Nội.
Cái giống nhau người ta cảm nhận được trong ca khúc của Võ Đức Thu chỉ vì đêm Việt Nam ở nơi nào cũng giống nhau: quá buồn!
Người Hà Nội được làm quen với Võ Đức Thu khi ông cùng với Phạm Duy, Ban Hợp Ca Thăng Long, Trần Văn Trạch ra Hà Nội trình diễn trong đoàn Gió Nam. Đó có lẽ cũng là lần đầu tiên người Hà Nội được nghe một bản nhạc thuần tuý, sáng tác theo phong cách cổ điển Tây phương của một nhạc sĩ Việt Nam, do chính tác giả độc tấu dương cầm. Đó cũng là những ngày cả Hà Nội ngây ngất với giọng hát Thái Thanh và bài Tống Biệt, thơ Tản Đà do Võ Đức Thu phổ nhạc, ngây ngất với Ngựa Phi Đường Xa của Lê Yên và nghệ thuật hợp ca của ban Thăng Long và ngây ngất với Trần Văn Trạch tự đàn dương cầm và hát Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca.
Tống Biệt là một thành công lớn của Võ Đức Thu, có thể coi như mẫu mực của nghệ thuật phổ nhạc thơ. Bài thơ Tống Biệt có cái không khí cổ điển và nét chấm phá của một bức tranh thủy mặc.
Nhạc Võ Đức Thu đã giữ trọn được những nét đặc thù ấy của bài thơ, giữ được một cách hết sức tự nhiên, tựa hồ ông đã khám phá ra nhạc chứa dấu trong từng chữ của bài thơ. Ca khúc điển hình nhất của Võ Đức Thu có lẽ là bài Đồng Quê. Đây là một bức họa bằng âm thanh được giải nghĩa bằng lời ca, một trong những ca khúc có kiến trúc giai điệu khác hẳn với các ca khúc đương thời.
Nó có cái nghiêm chỉnh của nhạc cổ điển Tây Phương. Nhưng nó cũng bàng bạc cái tâm hồn mộc mạc Đông phương.
Đồng quê một màu xanh in cành biếc
Dìu dịu nghiêng cơn gió hiu hắt từ xa đưa đến
Nhè nhẹ ru ru duyên
Hoàng hôn trên đồi vắng sương chiều xuống
Mờ mờ xa bao phủ trên cánh đồng bát ngát
Dưới trời thanh thanh bao la
Cảnh vật êm đềm hồn thiên nhiên của nước non
Bóng cây la đà đồng lúa chín vàng vàng tươi
Tiếng tiêu mục đồng xa văng vẳng lùa theo gió
Từng áng mây hồng lờ lững trôi trên cô thôn
Cảnh chiếm một phần lớn tâm hồn Võ Đức Thu. Ngay cả khi ông thu nhỏ trong tình, tình của Võ Đức Thu cũng chìm lẫn trong cảnh. Ngoài ca khúc, Võ Đức Thu còn viết nhiều nhạc thuần túy, nhạc không lời. Một số trong các tác phẩm này rất nhiều người đã được nghe chính ông trình diễn trên các đài phát thanh, các sân khấu, trước đây.
Nhưng các buổi trình diễn nhạc thuần túy như thế không có nhiều. Nên chắc rằng vẫn còn những tác phẩm khác của ông chúng ta chưa được nghe. Mong rằng sẽ có dịp nào đó, thân nhân của ông hay các nhà tổ chức sẽ thực hiện những buổi trình diễn, phổ biến đầy đủ tác phẩm của ông và mọi người sẽ dịp nghe cả những bài chưa bao giờ được công bố của ông nữa:
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.