Xương trắng Trường Sơn

vietmessenger.com

Xuân Vũ

Post by Sơn râu 7 Aug 2025

Kỳ 20.

Năm Cà Dom đang nằm im bỗng bất thần gọi tôi:

– Ê này, nhà “răng!”

– Gì đó nữa?

– Mình có đề tài hay lắm, cậu có “siêu” tầm không?

– Thôi đi, giấy má đã nhóm bếp hết rồi.

– Bỏ qua cái này thì rất uổng! Tớ hứa với cậu là một ngàn năm trước một ngàn năm sau, không thể gặp.

– Ăn thịt kỳ đà xong cổ nói toàn chuyện đâu đâu không hè!

Năm Cà Dom bật ngồi dậy, nghển cổ sang phía tôi.

– Này, cậu có tưởng tượng chôn sống thương binh không?

Năm Cà Dom ngả người ra trên võng, như một trái bóng bơm căng bất thần bị chọc thủng. Năm Cà Dom rên rỉ:

– Đù mẹ. Tàn nhẫn quá, không chịu được.

– Mà cái gì vậy?

Tôi gắt và bị Năm Cà Dom gắt lại:

– Thì đã bảo là nó chôn sống thương binh mà cứ hỏi.

Tôi lịm người ra. Không biết Năm Cà Dom nói thiệt hay nói chơi. Vừa rồi, vào bệnh xá, tôi cũng có nghe một người nói: “ở bệnh xá khác thì người ta đem người chết vào nhà xác, còn ở đây thì người ta đem người bệnh vào đó cho họ chết.”

Ở cái bệnh xá của bác sĩ Cường cũng thế chăng?

Mãi về sau, tôi gạn hỏi Năm Cà Dom thì anh ta mới kể lại chuyện đó. Số là hôm đổ, ăn thịt kỳ đà xong tôi đưa Hồng về chỗ tôi ở, Nam Cà Dom ở lại. Lúc đó người ta đem thương binh vào chật ních cả khu rừng. Cường phải lẩn tránh vì không có thuốc men. Một lúc sau, Năm Cà Dom đi ra rừng. Năm Cà Dom đang ngồi bỗng nghe tiếng rên rỉ từ dưới lòng đất. Rõ ràng là tiếng người. Nhưng Năm Cà Dom bị sự xui xẻo của con kỳ đà ám ảnh. Cho nên anh ta tưởng ma quỉ hiện hình. Anh ta chạy vào vừa thở hổn hển vừa gọi bác sĩ Cường và kể lại tự sự cho Cường nghe.

Bác sĩ Cường suy nghĩ mãi mới thú thật với Năm Cà Dom rằng đó là một cách trị bệnh nhân đạo nhất mà Cường đã phát minh sau những ngày làm trưởng bệnh xá ở đây. Năm phản đối ngay:

– Vô nhân đạo, dã man!

– Ừ đúng thật. Vô nhân đạo, dã man, tán tận lương tâm nữa, nhưng mà nếu để cho họ rên siết, vật vã, lăn lộn, mà mình không cứu chữa cũng không kéo dài được sự sống của họ thêm phút nào, thì lại càng dã man, tán tận lương tâm hơn. Tớ đã suy nghĩ rất nhiều, thấy mình ác, tệ thật. Nhưng làm sao? Đứt động mạch, vỏ não bị thương, gãy đốt xương sống v.v. . . cậu có là thánh cũng đành co tay ở đây. Nhưng tớ không ra lệnh. Tớ cứ để cho tổ lao động họ làm. Bề nào cũng chết thà chết sớm cho đỡ đau khổ.

Năm Cà Dom gạt phắt:

– Làm như thế, tụi thương binh chung quanh mất mẹ hết tinh thần.

– Úy! Chúng nó đâu làm sao biết được! Chứ nếu để nó cứ rên la, chửi bới thi tụi kia càng mất tinh thần hơn. Thôi thà bỏ xuống hầm, như núp máy bay vậy. Rồi lấp đất luôn.

Tôi gạn hỏi mãi Năm Cà Dom xem đó có phải là sự thực không Năm Cà Dom chỉ lắc đầu:

– Thật là ngoài sức tường tượng. Thảo nào tôi trông thấy những cái hầm giống như những cái huyệt mộ dưới đó thấy có những thương binh nằm sẵn. Khi cần, cứ lấp đất, tiện lợi biết bao.Năm Cà Dom nói tiếp:

– Có cái chuyện này thì tôi không trông thấy thật!

– Chuyện gì?

– Chuyện mình bắt dân công người Thượng khiêng thương binh mệt quá, nó ghét nó đào lỗ chôn sống luôn.

– Có thật không?

– Ai biết đâu nhưng nghe tụi nó nói thế!

Thật là toàn những chuyện oái oăm kỳ cục cứ ít hôm lại gặp trên con đường này.

Càng đi những chuyện như thế này càng nhiều ra và càng kỳ cục hơn lên. Càng đi tư tưởng con người càng phân tán, như một cái cây càng mọc lên thì càng tủa ra vô số nhánh nhóc. Những nắm tay không còn vung lên nổi vì chúng bận tìm củi, hái rau, nấu cơm vác súng mất hết cả sức lực.

Vô tới đây bao nhiêu tâm sự chất chứa hàng chục năm ở miền Bắc mới xì ra. Ai kín mồm nhất tới đây cũng xì ra. Nằm trong cái khe suối âm u này với những đêm mưa dầm, những cơn sốt dai dẳng thì người ta buồn, người ta thất vọng cho nên người ta hay tâm sự. Như cái thiên tâm sự của ông Chín, ông ta về Nam vì bị chèn ép không ngoi lên nổi và về để khỏi gởi xương nơi đất khách.

Năm Cà Dom thì về nuôi ngựa đua. Còn Thu thì không muốn đi nữa. Tôi biết rõ điều đó. Nhất là ngay trong nhũng giờ phút này, sau khi xảy ra cuộc gặp gỡ bất ngờ cậu em trai. Tôi nghe tiếng võng khua sột soạt của Thu rồi thỉnh thoảng có tiếng hít mũi. Tôi biết Thu cố nén không cho tôi và Năm Cà Dom biết nàng khóc.

Ngày mai trở đi thì cuộc sống của chúng tôi vô cùng phức tạp về tình yêu, về tình chị em, và sự bế tắc của con đường.

Tôi càng nghĩ mà càng ngán ngẩm và càng thấy con đường xa vời vợi. Hôm qua cái nhà bếp của chúng tôi xiêu, tôi phải đốn câv chống lại, những sợi dây nhợ căng tăng đã mục, tôi phải bứt dây mây rừng để thay. Vài lỗ thủng trên nóc tăng. . . Thì ra chúng tôi đã ở đây như đã cất nhà, và hình như người nào cũng yên tâm đóng quân ở đây vô thời hạn.

Tôi đang nằm miên man nghĩ ngợi thì có tiếng kêu thất thanh của Thu, như có ai bóp họng Thu:

– Á á …

Tôi ngồi bật dậy và chụp lấy cái đèn bấm treo trên cổ như một thói quen, bấm rọi sang Thu.

-Gì vậy? Gì vậy?

– Á á … á!…

Tôi chạy vụt sang. Thu đang ngồi trên cái võng lắc lư, đầu tóc rối tung, một tay nàng bám chắc một đầu võng cho khỏi ngã, mắt nàng quắc lên nhìn ra bóng tối như hai tia sáng chọc thủng màn đen dày đặc.

Tôi nắm tay nàng giặt giặt và hỏi:

– Gì vậy em?

– Nó về. . . về anh ạ!

– Nó nào?

– Thằng Hồng… Hồng về!

Tôi rọi đèn chung quanh một chập chờ Thu tỉnh hẳn lại rồi mới hỏi:

– Em nằm chiêm bao hả?

– Em đâu có ngủ mà chiêm bao.

– Em trông thấy em Hồng thật à?

– Nó ở ngoài bước vào lều em thật mà.

Năm Cà Dom vẫn nằm trên võng nói vọng sang:

– Cô nằm chiêm bao đấy, chẳng có đứa nào về đâu.

Thu nói:

– Em đâu có ngủ mà chiêm bao?

– Thằng nào mà lại mò tới đây được! Không phải đâu cô! Tại cô nghĩ tới nó nhiều quá, rồi tự nhiên cô trông thấy nó như hiện lên rước mặt cô. Tôi đã biết một “ca” như vậy rồi. Đó là hồi tôi ở trong Nam. Có lần má tôi trông thấy tôi về. Bà đang ngủ bỗng ngồi dậy chạy ra mở cửa và giơ tay chụp vào vai tôi, chẳng ngờ không có ai cả. Vì lúc đó, tôi đang ở cách xa bà ba tỉnh.

Nhưng Thu cứ quả quyết:

– Em trông thấy nó rõ ràng. Tóc nó dài xõa xuống trước ngực. Nó bước vào chạm võng em, em quơ tay ra đụng tay nó rõ ràng. – Thu xòe tay ra và nói tiếp- Em đụng nó ở chỗ này này!

Tôi hỏi:

– Sao em không gọi nó?

– Em không nói ra tiếng được.

-Sao em không rọi đèn theo?

– Em đâu còn nhớ đèn đuốc gì.

-Sao nó lại làm kỳ vậy nhỉ?

– Ai biết. . . em không hiểu sao nó làm khổ em như vậy?

Tôi ngồi xuống đất. Tôi thở dài. Rồi tôi ngồi nhích lại võng Thu.

Từ một chuyện oái oăm lại đẻ ra thêm một chuyện khác không kém phần oái oăm. Đã bảo là trên đường này không có người nào bình thường, cho nên không thể có sự gì bình thường được.

Tôi nói với Thu:

– Em có chắc chắn nó là Hồng không?

– Chắc trăm phần trăm.

– Bằng chứng gì?

– Nội cái nó gọi em là chị Bích thì cũng đủ rồi.

-Tạì sao?

– Cái tên Bích chỉ có bố mẹ em và nó biết thôi. Cái tên ấy đã không dùng từ mười năm qua. Với lại cái tuồng chữ của nó anh ạ. . Cái gì thì thay đổi, chứ tuồng chứ không thể thay đổi được, huống chi mới cách đây có mười tám tháng.

Thu ngưng một chốc, lại tiếp:

– Với lại sự linh cảm và những trực giác của con người. Trước khi nó đến, em có kêu với anh là sao em thấy khó chịu quá, nhưng không phải bệnh. Còn về phần thằng Hồng thì tuy nó có thay đổi nhưng cái dáng dấp nó không khác mấy. Thôi đích rồi mà, anh đừng có hỏi gặn em nữa làm cho em thêm khổ tâm.

Đêm thật là dài.

Tôi cứ ngồi như thế, không đốt lửa cũng không nói năng chi. Cảm thấy mình như con sinh vật đang lặn ngụp giữa một đại dương đau khổ về vật chất lẫn tinh thần.

Thu bỏ một tay trên vai tôi. Tôi mân mê những ngón tay gầy guộc của nàng như ve vuốt những kỷ niệm đã qua.

Thu nói:

– Yêu em, anh khổ nhiều hơn hạnh phúc.

– Không có tình yêu nào không đau khổ

– Nhưng anh đau khổ nhiều quá thì lòng em không đành.

– Đau khổ gì đâu.

Anh không cho em biết nhưng em vẫn biết, nỗi nọ niềm kia. Anh đừng dấu em. Em cũng như anh. Đau khổ quá, nhưng khi yêu thì chỉ có yêu, những tình cảm khác thì dù mình có muốn hay không, chúng cũng biến đi hết cả.

Tôi cười khảy:

– Còn một tình cảm: Giận!

– Giận cũng vì yêu… Nhưng thôi em không bao giờ giận anh

Tôi bóp mạnh bàn tay nhỏ nhắn của nàng kẻo qua mũi tôi nhưng không hít vào. Tôi nghe sự giá lạnh của tim nàng qua làn da ở lưng bàn tay.

Tôi biết nàng sắp sửa nói những chuyện không vui, nên tôi rẽ sang hướng khác. Tôi vẽ ra một tương lai xa vời.

– Nè bây giờ hai đứa cùng về Hà Nội thì anh sẽ làm gì, và em sẽ làm gì?

Tôi giặt giặt tay Thu để đánh thức trí tuệ nàng. Nhưng nàng vẫn lặng thinh và rụt tay lại, nàng khẽ sờ tìm nốt ruồi trên má tôi.

Nàng vuốt ve nốt ruồi làm tôi xúc động. Tôi biết nàng muốn nói gì qua cái cử chỉ nhẹ nhàng ấy. Những lần âu yếm nàng bao giờ cũng đặt vào đấy những chiếc hôn, và hầu như nàng chỉ hôn cái nốt ruồi ấy và kêu lên khe khẽ: “Của em, của em, anh giữ lấy cho em.”

Bây giờ nàng không nói gì, nhưng nàng cứ mân mê cái nốt ruồi, như ngón tay cố bấm lại phím đàn quen thuộc làm cho cây đàn lòng rung lên với tất cả âm thanh.

Tôi tựa vào võng và nàng ngã đầu trên vai tôi, tóc nàng chảy dài trên vai tôi vừa mát vừa ấm như một vệt suối. Tôi hỏi:

– Sao em không đáp?

– Em không thể đáp được.

– Sao vậy em?

– Vì đó là những chuyện không có trong đời chúng mình.

– Tại sao?

– Anh cũng thừa hiểu rồi, còn hỏi em làm gì nữa.

– Em cứ nói cho anh nghe. Dù sao chính em nói thì vẫn hay hơn.

Thu thở dài não nuột:

– Vào Nam mà vào tận quê anh là điều không thể có, vì như anh biết, em không thể đi nổi nữa. Ở đây mới độ một phần ba đường, mà sức khoẻ của em thì đã cạn. Hơn thế nữa, em không muốn đi để thêm gánh nặng cho anh.

Tôi nói:

– Được rồi…

– Anh để yên, em nói hết cả. Đối với anh, em không còn một “ẩn số” nào nữa cả. Thì những sự suy nghĩ sâu kín nhất của em em cũng nói cho anh. Nhất là từ khi em gặp lại thẳng Hồng thì em đã phác họa ra một kế hoạch.

– Ghê gớm nhỉ!

– Thật tình anh ạ. Có nó rồi, em sẽ cương quyết hơn.

– Làm “bê quay” hả?

– Đã hằn rồi. Em nhất định sẽ quay ra với thằng Hồng!

– Làm sao mà đi được em?

– Em sẽ xin vô làm ở bệnh xá. Vì theo anh nói thì thằng Hồng sẽ phục vụ cho bác sĩ Cường cho đến ngày nào bác sĩ Cường về Hà Nội thì ông ấy sẽ mang nó về. Thay vì ông ta có một thằng em phục vụ thì ông ta sẽ có cả con chị phục vụ, lẽ nào ông ta lại không chịu?

– Nhất là cô chị lại đẹp quá phải không?

– Anh không nên đùa như thế. Em cho là em đang ở một khúc ngoặc quan trọng nhất của đời em. Em phải quyết định dứt khoát.

– Trở ra?

– Cố nhiên rồi?

Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi hỏi:

– Còn nếu trường hợp thứ hai xảy ra?

– Chuyện đó không bao giờ có.

– Tại sao?

– Không bao giờ anh trở ra Hà Nội. Tình cảm quê hương và gia đình của anh ghê gớm lắm. Em biết anh xem Hà Nội như một nơi xa lạ. Anh như con chim đậu trên cành cây Hà Nội, không bao giờ anh lót tổ ở đó. Anh chỉ đậu ở đó để gióng hướng về. Con đường này hay những con đường nào khác khả dĩ đưa anh về tới quê anh, anh đều chấp nhận cả. Hà Nội và tất cả những gì thuộc về Hà Nội dù chỉ mới hôm qua đều đã ở lại phía sau của anh chìm mất trong sương mù.

Thu nói tiếp:

– Em muốn nói Hà Nội đã rơi lại phía sau anh, cả em nữa. Nghĩ tới đó, em thấy buồn, nhưng đó là sự thật. – Thu tiếp – Anh ạ! Em yêu anh đến thế này cũng còn là ít, nhưng cũng đã quá nhiều. Anh đối với em cũng thế. Tình yêu không biết đong đến đâu cho đầy. Em ngẫm về em mà em biết . Cứ đầy lại vơi, đang vơi bỗng chốc lại đầy. Bây giờ giữa anh và em có một giới tuyến. Giới tuyến đó là một con sông, một vách đá hay một lằn kẽ của nét bút chì rất nhuyễn, nhưng nó chia cắt chúng ta mãi mãi.

– Sao em khẳng định như vậy?

– Vì nó đã như vậy mà. Có lẽ anh không còn luyến tiếc cái gì ở Hà Nội cả. Nếu có thể có thì cái đó là em. Em có thể nói một cách không quá đáng như vậy.

– Em nói đúng.

– Nhưng rồi anh sẽ quên em ngay. Không quên ngay, nhưng mà rồi anh sẽ quên đi vì trước mắt anh là cả một chân trời rộng mở.

Thu tắt ngang câu nói.

Tôi nghe những tiếng sau cùng đẫm nước mắt. Thu nghẹn ngào. Tay Thu càng ve vuốt nốt ruồi trên má tôi. Tôi nghe trên vai tôi âm ấm. Tôi không dám cử động nữa. Thu nuốt ực. Rồi đột nhiên hai tay nàng bám vào cổ tôi, kéo mặt tôi ngửa ra để cho đôi mắt đầm đìa của nàng áp sát xuống làm cho cả khuôn mặt tôi hứng nhận một trận mưa…

Trời đã sáng.

Tôi và Thu đi lên bệnh xá để tìm Hồng. Năm Cà Dom bảo:

– Nhớ đi nhanh nhanh, kẻo có chuyện gì ở ngoài này mất hết đồ đạc!

Tôi và Thu đến bệnh xá gặp ngay Cường. Tôi nói ngay không để trễ một giây:

– Xin giới thiệu với bác sĩ đây là cô Thu, chị ruột của cậu… Úm Ba La!

– Không ạ? Không ạ! Thu xua tay ha lịa. Tôi là chị ruột của cậu Hồng, Vũ Phương Hồng.

– Đây đâu có cậu nào…

– Dạ Hồng chính là Úm Ba La đấy bác sĩ! Tôi nói.

– Hả? Anh nói gì? Thu tròn xoe đôi mắt. Hồng nào lại là Úm Ba La? Sao em tôi lại mang cái tên gì kỳ quặc như vậy?

– Chuyện đó để khoan hãy nói! Bây giờ xin bác sĩ cho gọi cậu bé lên đây dùm. Tội nghiệp cô ấy đau khổ quá.

Tôi kể sơ lược câu chuyện gặp gỡ của hai chị em và chuyện tối hôm qua cho Cường nghe. Cường ngơ ngác:

– Cậu ta đâu có trở về đây. Tôi lại tưởng cậu ta vui chuyện ở chơi với anh ngoài đó.

Thu hỏi:

– Dạ thưa anh, thường thường cậu bé có mặt ở đây vào lúc nào ạ?

Cường hơi mất tự nhiên đáp:

– Cậu ta thì tự do. Cậu ta đến với tôi bất chấp ngày giờ. Có khi tôi đang ngủ, cậu ta lại tọng vào mùng tôi một giề ong mật rồi chạy đi mất, có khi tôi ăn cơm cậu ta về, tôi ăn chưa xong cậu đã chạy đi. Nghĩa là tôi không thể bắt buộc cậu ta làm việc với tôi với một cái thời dụng biểu nào cả. Tôi chỉ yêu cầu một điều là đừng phá phách bệnh xá, và cũng chỉ hứa với cậu ta một điều là: Khi nào tôi trở ra Hà Nội, tôi sẽ mang cậu ấy theo. Chỉ có thế thôi.

– Nó ở đây với bác sĩ được bao lâu rồi, bác sĩ? Thu hỏi.

– Độ gần một năm.

– Tại sao nó cứ ở đây mà không đi vô nữa, bác sĩ có bao giờ hỏi nó không?

– Tôi không hỏi, nhưng vẫn biết. Là vì nó không muốn đi. Là vì nếu đi thì đi không đến được, và nếu có đến được thì không có ngày về, trong lúc gia đình cần sự có mặt của cậu ta hơn. Tất cả những cậu “bê quay” dầu già hay trẻ đều có chung một lý do đó.

Thấy không có Hồng, tôi bảo Thu trở về, nhưng Thu nằn nằn đòi ở lại để chờ Hồng về. Điều đó làm hài lòng Cường, nhưng trái lại tôi không vui. Nhưng dù tôi bảo thế nào Thu cũng cương quyết ở lại đây Thu nói:

– Em chờ đến chừng nào gặp nó thì mới về. Nếu anh thấy cần về thì anh cứ về trước đi. Còn riêng em thì em thấy không cần gì hơn cần gặp nó. Em phải gặp nó thì em mới sống yên ổn được.

Tôi đành tìm chỗ mắc võng nằm, để cho Thu tiếp tục hỏi thăm bác sĩ Cường về Hồng.

Trời càng ngày càng trưa, rồi càng ngày càng tối, vẫn không thấy bóng Hồng. Rồi trời tối. Tôi vẫn phải chìu Thu mà ở lại.

Thu nói với tôi nghe thương tâm quá:

– Em tin rằng lòng thương của em đối với nó sẽ truyền tới nó làm cho nó đứng ngồi không yên và có sức lôi kéo nó đến với em. Để anh xem, tối nay nó sẽ về. Đêm nay nó sẽ về. Đêm nay anh cứ chuẩn bi đi nhé! Hễ nghe em kêu thì chạy ra túm giữ nó lại.

Thu thao thức trăn trở mãi để chờ thằng em, nhưng cho đến lúc tia nắng xuyên qua kẽ cây rừng, thằng em kỳ quặc kia vẫn mất hút bóng hình.

Tôi và Thu ra về, không quên nhờ bác sĩ Cường báo tin cho khi nó trở lại.

Chúng tôi đi lặng lẽ bên nhau, bất mãn tràn lòng.

Thu không về mà lại đi thẳng ra lều của Ngân. Ở đó có mấy cô bạn gái Thu vừa mới làm quen, nào dược sĩ, y sĩ, kỹ sư v.v. . . Thấy vậy tôi cũng không về, bỏ mặc cho ông Cà Dom nằm queo ở nhà coi chừng đồ đạc, tôi đi đến chỗ ông bạn Hoàng Việt của tôi.

– Đói quá ! Có gì ăn không ?

– Vô đây ăn phở, xong rồi làm cà phê…

– Cha nội nữa!

– Ủa thật mà! Phở “gió” và cà phê cũng “gió.”

Tôi lấy võng ra mắc và ngả lưng. Tôi kể ngay câu chuyện của hai chị em Thu cho Hoàng Việt nghe.

Họ Hoàng lắc đầu, nói bằng tiếng Pháp:

– Thật là dã man! Rồi bây giờ nó ở đâu?

– Nó lủi mất đi rồi.

– Không tìm được à?

– Có ai đi tìm đâu.

Hai đứa đang vui chuyện với nhau bỗng thấy ngoài đường người ta ùn ùn chạy ra. Họ dẫm lên nhau, chạy bừa như chạy thoát chết.

– Cái gì thế?

– Cái gì thế?

– Biệt kích! Biệt kích!

Có hai tiếng súng nổ gọn ở phía lều của Ngân. Lúc nãy Thu đã ghé vô đó để thăm Ngân.

Tôi chạy vô tới đó. Thì ra biệt kích đánh ngay vào cái cụm lều của Ngân. Người ta đang lúm xúm ở đó. Một người chạy vọt ra. Tôi hỏi:

– Có ai làm sao không?

– Một người chết.

– Đàn ông hay đàn bà?

– Không rõ.

Tôi chạy vô tới nơi thì thấy một người đàn bà đang ôm một người đàn ông kêu la thất thanh để giật anh ta dậy, còn chung quanh thì người ta đang tán loạn, kẻ chạy lủi vô bụi người chui dưới đít võng. Tôi kêu lên:

– Thu ơi! Thu!

Không thấy Thu đâu cả. Thấy mọi người chạy tản ra một cách hốt hoảng nên tôi cũng không dám đứng ở đấy.

Có tiếng thét xé màng tai tôi:

– Biệt kích! Sao đứng đó?

Tôi lủi vào một gốc cây. Chẳng ngờ cả Thu lẫn Ngân đều đang chui trốn ở đó. Thế mới biết trong cơn hốt hoảng thì trí khôn không còn nữa. Cái gốc cây to không đầy một ôm mà hai người núp.

Nhưng giá chỉ có Ngân hoặc Thu thì đỡ ngỡ ngàng cho tôi. Đằng này lại có cả hai….

Bên kia cái tiếng kêu gào của người đàn bà ôm cái xác cứ vang lên nhưng đáp lại tiếng kêu ấy dội lại từ vách đá mà thôi.

Chập sau mới có một người lồm cồm bò ra dáo dác nhìn quanh rồi mới nói:

– Tụi nó đi hết rồi! Thôi ra đi bà con!

Tôi nhìn chung quanh xem có ai bò ra không. Thì có người ở gốc cây bên kia khoát khoát tay bảo tôi:

– Coi chừng! Đó chính là biệt kích giả trang.

– Thế à!

– Ừ, ở rừng này thường xảy ra những chuyện như thế.

-Kỳ vậy?

– Kỳ gì. Đó là cái món biệt kích mà!

Nhưng người đứng ngoài kia đã kêu lên:

-Thôi ra đi bà con ơi! Nó bắn có người chết đây này. Ra phụ chôn đặng mà dời chỗ. Ở luống cuống đây nó trở lại bây giờ.

Người lóp ngóp bò ra và lần lượt những người khác thấy không có nguy hại gì cũng dớn dác chui ra khỏi lùm bụi.

– Ai chết?

– Ai chết đâu?

– Ông y sĩ đang tiêm thuốc cho bà vợ.

– À, cái ông y sĩ .. hai vợ chồng đó hả?

– Đúng rồi. Vợ cũng là y sĩ.

Tôi đi đến nơi. Anh y sĩ bị bắn đúng giữa ngực. Anh ta đang nằm quằn quại dưới đất trên vũng máu. Không biết làm gì hơn, người vợ chỉ nhào lăn quanh xác chồng mà khóc, mà gào.

Còn những người khác cũng trơ mắt đứng ngó. Chớ làm gì khác được ? Một người bảo:

– Thôi chôn đi.

– Ừ chôn nhanh đi. Không khéo biệt kích nó trở lại.

Chưa dứt sự bàn tán thì anh giao liên hớt hãi chạy tới. Anh ta là một gã thanh niên giò cẳng khẳng khiu với mớ tóc che bít cả mặt và cây súng trên vai.

– Gì thế? – Anh ta hỏi.

– Biệt kích.

– Ấy chết, gặp biệt kích Thượng rồi đó! Đi mau!

– Biệt kích Thượng là biệt kích gì?

– Đã bảo đi, đừng có hỏi. Mau lên! Mau lên. – Anh ta quát.- Cuốn đồ đi ngay bây giờ.

– Còn chồng tôi đây làm sao?

– Ôi để đó! Lo người sống trước. Chết rồi làm gì thì cũng chết.

Một người bảo:

– Chôn đã đồng chí.

Anh giao liên gắt:

– Ở đó mà chôn! Anh xung phong ở lại chôn nhé! Đi mau lên! Ai ở đây tôi không chịu trách nhiệm.

Thế là anh ta biến đi trước nhất.

Mọi người ùn ùn bứt tăng màn, giật võng thồn vào ba lô, tay xách cà mèn, vai mang ba lô lếch thếch láo tháo chạy đi không ai chờ đợi ai kêu gọi ai, ai cũng chỉ lo cho mình trước nhất.

Xương trắng Trường Sơn

vietmessenger.com

Xuân Vũ

Post by Sơn râu 7 Aug 2025

Kỳ 19.

Tôi bị cuốn hút vào cậu thanh niên kỳ dị này. Và cứ theo chiều hướng của Năm Cà Dom thảo luận với Cường thì tôi và Hồng đi để Năm Cà Dom ở lại bệnh xá. Thu đang ngồi nắn nắn bắp chân trên võng. Thấy Hồng tới, Thu vội vàng bỏ chân xuống dép và ngó lom lom vào cái con người kù quái kia.

Hồng vẫn cứ thói quen, quắc mắt nhìn lại và quát:

– Nhìn gì? Đào ngũ đấy. Muốn làm gì không?

Tôi bảo:

– Bạn của tôi đấy cậu! Đừng nói thế! Cậu ngồi võng tôi đây này, rồi tôi sẽ lấy sách cho.

Tôi định soạn ba lô nhưng tôi dừng tay lại vì tôi thấy Thu và Hồng nhìn nhau bằng cái nhìn kỳ lạ làm cho tôi rất ngạc nhiên. Cái nhìn như xoi mói mà lại như thân thuộc với nhau từ lâu, cái nhìn vừa như những tia sáng chọc thẳng vào mắt nhau vừa như êm dịu trao đổi với nhau những tình cảm mến thương.

Nhưng tôi nghĩ ngay rằng Thu đang sửng sốt trước một loại người chưa từng thấy bất cứ ở đâu, còn Hồng thì lấy làm lạ có một người con gái xinh đẹp như một nàng công chúa giữa một bộ lạc mọi dã man này.

Tôi lục ba lô nhưng không thấy quyển sách. Tôi hỏi Thu:

– Em có lấy quyển sách trong ba lô anh không?

– Anh đã cho chị Ngân mượn anh còn hỏi gì nữa?

– Thế à, Ngân chưa trả à?

– Anh còn muốn tặng cho người ta mà còn đòi người ta trả là sao?

– Sao em nói thế!

– Em nói không đúng hả anh? Vậy em xin lỗi nhé!

-Em nói thế chẳng hóa ra anh đối em không có nghĩa gì sao?

– Không phải thế.

– Vậy thế nào? Em cứ nói ra đi.

– Em cũng không rõ nữa, nhưng em cảm thấy là quyển sách ấy không bao giờ trở lại tay em.

– Để anh đi đòi lại ngay bây giờ.Tôi quay sang nhìn Hồng. Hồng vẫn ngồi lặng thinh nhìn Thu không nháy mắt. Cậu ta như bị Thu thu mất hồn. Tôi hơi khó chịu, nhưng vẫn giữ được bình tĩnh.

Tôi bảo:

– Cậu ngồi đây chơi, để tôi đi lấy quyển sách tặng cậu.

– Thôi anh ạ, em làm phiền anh quá!

– Không sao, tôi đã hứa với cậu mà.

Tôi bước ra đi được vài bước thì Hồng cũng chạy vút theo.

– Sao cậu không chờ tôi?

– Thôi anh ạ, để anh mang nó về quê hương.

Hồng nói với tôi với vẻ mặt không vui làm cho tôi ái ngại. Có lẽ vì lời qua tiếng lại giữa Thu và tôi làm cho cậu ta buồn lòng. Nếu quả thật vậy thì tôi cũng đi lấy quyển sách về để chứng minh rằng tôi không có tình cảm gì với Ngân, mặc dù những tình cảm đó đã nảy nở rất tinh vi, tuy không lộ ra ngoài nhưng sự khôn ngoan của Thu cũng là của bất cứ người đàn bà nào, đã lính đoán được.

Hồng hỏi tôi:

– Chị ấy là người yêu của anh à?

– Ừ.

– Hai anh chị yêu nhau lâu chưa? Em xin lỗi nhé. Em xem anh như bậc đàn anh của em. Hồng dè dặt, lễ phép.

– Lâu rồi.

– Chị ấy cũng đi Nam với anh à?

– Chứ còn đi đâu nữa.

– Thích nhỉ.

Tôi và Hồng cùng đi đến lều Ngân để lấy sách. Khi tôi rẽ vào lều của Ngân được một quãng thì tôi thấy Hồng đã chạy vọt tới phía trước. Tôi gọi to. Tiếng gọi vang to giữa hai vách suối, nhưng Hồng không quay lại. Hắn nhảy nhanh qua các đầu mõm đá xa dần với mớ tóc dài xụ xộp xõa xuống quá vai.

Tôi trở về lều với quyển sách trong tay.

– Đây em ạ Quyển sách đã trở về tay em.

– Em không đồng ý anh làm như thế.

– Tại sao?

– Ngân sẽ buồn.

– Ơ hay, sao em cứ nói loanh quanh mãi thế.

– Ừ nhỉ, em nói loanh quanh luẩn quẩn quá nhỉ? Em sẽ chấm dứt ngay bây giờ.

Tôi bèn kể lại câu chuyện giữa tôi và cậu thanh niên quái gỡ kia cho Thu nghe và kết luận:

– Cậu ta ở Hàng Bột đấy, em ở Hàng gì?

– Em ở Hàng gì đến anh mà cũng không nhớ nữa sao?

– Nhiều hàng quá, anh không nhớ hết.

– Nhưng anh phải nhớ Hàng em ở chứ. Hàng nào em ở thì anh không được quên.

– Tội nghiệp cậu ta quá. Tôi đánh trống lãng. Cậu ta giống chàng King Kong quá em nhỉ?

– Vâng thoạt tiên, trông thấy anh ta em cũng nghĩ như vậy.

Tôi lên võng nằm với trăm ý nghĩ trong đầu. Toàn những chuyện kỳ lạ, không chép lại hết.

Còn Thu thì cứ kêu là khó chịu. Thu nằm một chốc lại ngồi, ngồi rồi lại bước đi ra khỏi lều, xong lại lên võng nằm và lại cứ kêu “Eo ôi! khó chịu quá!”

Cứ mỗi lần tôi nghe Thu kêu thì tôi lại sợ hết vía ra. Không biết cái tiếng kêu đó báo hiệu trước cho tôi, cho nàng một cái tai hoạ gì đây.

Tôi lại bắt đầu sợ cái con kỳ đà xui xẻo. Nhưng mình đã nuốt thịt nó vào bụng rồi, nó đã tan vào máu mình rồi, làm sao bóc nó ra cho được.

Cuộc sống dài dằng dặc lê thê buồn nản thối chí đơn điệu ở đây làm cho một con người trở nên tai nạn cho chính mình. Mình cảm thấy sống là khổ ải, vô bổ, nhưng lại rất sợ chết. Đau ốm thì lo chạy chữa cho khỏe lại, nhưng khi khỏe rồi thì cũng chẳng làm gì ngoài cái sự nấu cơm, ngồi trong lều nhìn mưa và tán gẫu.

Giữa tôi và Thu có sự không hài hòa với nhau rồi. Tôi biết vậy. Nếu ở một nơi nào khác thì tình yêu sẽ vọt lên đỉnh cao hơn và sẽ kéo dài hơn. Còn ở đây, nó không có đất sống, nó không thể thọ được hơn nữa. Huống chi trong cuộc sống của hai đứa lại có một kẻ khác chen vào, mà kẻ ấy Thu lại tiên đoán là tình địch của nàng.

Tôi cố chứng minh ngược lại. Tôi làm, tôi nói tất cả những gì có thể bảo đảm với nàng răng tôi không yêu ai ngoài Thu. Nhưng sự đời lại rất oái oăm, càng thanh minh, càng đính chánh thì đó chính là mình tự thú nhận.

Chiều hôm đó thì Năm Cà Dom về.

Năm Cà Dom đưa cho tôi một cái phong bì dán kín khá nặng. Tôi vừa cầm lên tay thì Thu cũng trông thấy ngay. Tôi nghi là của Ngân gửi, nhưng cũng may, Năm Cà Dom nói to lên:

– Của thằng Úm Ba La gởi cho cậu đấy!

Rồi Năm Cà Dom lại tiếp ngay:

– Cái thằng người vượn đó kỳ cục quá. Không biết nó đi đâu mà lúc trở về ôm đầu khóc rưng rức. Cường và tớ gạn hỏi hết sức nó cũng không nói. Xong nó biến đi đâu mất. Đến lúc tớ ra về thì lại thấy nó chạy theo và đưa cho tớ cái thư này nhờ gởi cho cậu. Đọc xem nó nói cái gì trong đó.

Rồi Năm Cà Dom vừa đi vừa càu nhàu:

– Mệt bỏ mẹ ! Từ đó về đây mà đi muốn rụng hai đầu gối.

– Muỗi đòn xóc phải không?

– Hì hì! Năm Cà Dom cười rồi đi thẳng về lều.

Tôi bóc thư ra đọc ngay.

Những dòng chữ đen nghịt chạy dưới mắt tôi.

Chị Bích thân yêu,

Thật là một niềm đau khổ kinh hoàng đối với em và cả đối với chị nữa khi em viết và khi chị đọc những dòng chữ này. Chị không nhận ra em thực ư? Chị đã không nhận ra em thực rồi. Đó là sự thực mà em cứ ngỡ trong chiêm bao. Hồng đây. Hồng ngồi trước mặt chị mà chị không biết.

Một năm rưỡi ở Trường Sơn sống với loài dã thú, sống một đời sống ăn mày, ăn cắp, căn cướp, giật giọc, lường gạt bất lương. Hồng giờ đây đã không còn là Hồng em trai ngoan ngoãn của chị như ngày xưa, mà có gì xưa cho lắm. Chỉ mới hơn một năm thôi.

Em không ngờ gặp chị ở đây. Nhưng em đã gặp chị. Em đã gặp chị, nhưng em không muốn cho chị biết em là em của chị. Nỗi đau khổ, em muốn chỉ riêng mình em chịu thôi. Em không bao giờ còn hi vọng sống yên ấm trong gia đình để quấy phá chị, để chị mách thầy mẹ quở đánh em, nhưng rồi chính chị lại bênh vực em, hoặc lấy thân chị đỡ roi đòn cho em. Hạnh phúc của em đã lùi xa….

Tôi không đọc được nữa. Tôi chạy vọt sang Thu và chìa ngay bức thư cho Thu.

– Em đọc đi, Bích.

– Thôi, em không đọc. Thu ngúng nguẩy.

– Nếu em là Bích thì em phải đọc, đọc ngay.

Thu miễn cường cầm lấy bức thư và đưa lên mắt.

Sự ngạc nhiên lộ hẳn lên khung mặt của Thu. Thu đọc một quãng thì mặt mũi tái ngắt, tay Thu run rẩy. Thu ngước lên hỏi tôi:

-Sao lại thế này anh?

-Anh cũng không rõ nữa.

– Thế nó đâu rồi?

– Anh cũng không biết.

-Trời ơi, sao thằng Hồng lại ra thân thể ấy hỡi trời!

– Có đúng nó không? Sao không bao giờ anh nghe em nhắc đến nó nhất là nó đã vào Nam trước em.

– Em không muốn nhắc vì em nghĩ rằng nó không sống nữa.

Tôi cầm lấy bức thư từ hai bàn tay run rẩy của Thu và đọc tiếp:

Em muốn nhảy tới ôm quàng lấy chị mà oà lên khóc như một đứa trẻ con, nhưng không biết cái gì đã giữ em lại. Chị Bích thân yêu, chị tha thứ cho em. Em biết em hành động như thế là điên cuồng, nhưng có lẽ em thích làm như thế (dù sau này em biết chắc chắn rằng em sẽ ân hận) còn hơn để cho chị gặp đứa em chị với một hình thù kỳ quái như em.

Đúng là chị đây rồi. Chị đã thay đổi rất nhiều nhưng dù sao em cũng còn nhận ra chị với hai hàm răng trắng và đều như hạt ngô như thầy mẹ thường khen như thế, với cái chót mũi thanh tú đã từng thưởng cho em những cái hôn nồng ấm tình thương mỗi khi em làm bài được điểm cao.

Chị Bích thân yêu,

Bây giờ thì em đã trở thành một con người không phải là con người nữa, với bao nhiêu thú tính, với vô số tội lỗi và vô số ý nghĩ điên cuồng nung nấu trong đầu.

Thôi nhé, chúc chị thành công, chúc anh chị hạnh phúc. Vĩnh biệt

Em trai của chị,

Hồng

Tôi đọc suốt bức thư không sót một chữ nào.

Thu ngồi trên võng chết điếng, không một cử động, như một bức tượng đá. Hai hàng nước mắt bị kềm chế từ lâu, từ trong khóe mắt tuôn chảy thành hàng xuống má, xuống môi rồi rơi xuống ngực nàng, tưởng chừng gây thành những tiếng động vang tận đáy tim tôi.

Tôi cũng sững sờ. Không biết nói gì với nàng.

Bất giác tôi nâng những trang giấy soi lên ánh sáng rừng chiều đã mờ nhạt hẳn đi, như để tìm xem còn có một sự thật nào ít chua xót đớn đau hơn không?

Ghê gớm thay những dòng chữ đã làm cho tôi tưởng mình đang xem một vở kịch nhân tạo, chứ không phải một sự thực có thật ngoài cuộc đời.

Chuyện gì mà éo le đau xót quá thế như vậy.

Thu gạt nước mắt:

– Anh gặp nó ở đâu?

– Ở trong bệnh xá.

– Nó làm gì trong đó?

– Làm đầy tớ cho ông Cường bác sĩ trưởng bệnh xá.

– Làm sao đi tìm nó bây giờ hở anh?

– Bây giờ tối rồi, để mai.

Không! Anh dắt em đi tìm nó ngay bây giờ.

– Tối quá rồi em ạ, đi không được đâu.

Thu lặng thinh. Mắt ngó mong ra xa.

Bóng tối đã rây rắc xuống tàng cây ngọn cỏ. Mắt Thu đẫm lệ ngó mong theo lối đi đầy vết chân xuôi ngược ven bờ suối cát, mong tìm lại hình ảnh thằng em.

Rồi trời tối mịt.

Thu vẫn ngồi như thế như tượng đá, chốc chốc lại thở dài áo não. Còn tôi thì không dám đi đâu, cứ ngồi ở đầu võng đó để hầu hạ đối đáp từng cử chỉ, từng câu nói của nàng. Không biết đó có phải là cái tai họa mà con kỳ đà mang đến hay không. Ngẫm cũng thật khó hiểu.

Tôi hỏi Thu:

– Thế em không nhận ra em Hồng à?

– Làm sao mà nhận ra được anh? Nó không còn một nét nào của Hồng năm xưa nữa. Da dẻ, khung mặt, tóc tai. Nhất là bộ tóc bồm xồm hoe hoe của nó làm cho gương mặt của nó tối sầm lại.

Tôi nói:

– Em dở quá. Nếu anh như em thì anh nhận ra ngay.

– Thú thật em cũng thấy ngờ ngợ. Em định hỏi thăm nó vài câu, nhưng chưa kịp hỏi thì nó đã vụt chạy đi rồi.

Tôi chắc lưỡi:

– Cái thằng kỳ thật, gặp chị như thế mà lại trốn đi đâu.

– Tính tình nó kỳ cục lắm anh ạ. Nó có cô người yêu hoa khôi trường Trưng Vương, nhưng nó chẳng bao giờ tìm đến cô ta cả, chỉ cô ta tìm đến nó thôi. Thế mà cô ta không rời nó được.

Bỗng Thu ôm mặt gục xuống và kêu lên khe khẽ:

-Trời ơi! Nếu em khôn ngoan thì em hãy quay trở lại cho chị gặp Hồng ạ! Chị chết mất thôi! Thầy mẹ mà biết em như thế này, thì thầy mẹ cũng sẽ chết mất.

Tôi ngồi lặng im, không dám cử động, tôi tôn trọng sự đau khổ của nàng. Tội nghiệp! Một người chị như nàng làm gì được cho thằng em trai? Tôi nói:

– Để mai anh sẽ đi bắt nó về cho em.

– Đêm nay em tưởng như dài vô tận.

– Chắc chắn nó sẽ trở lại thăm em.

Thu sụt sịt mãi. Thu nói:

– Em càng nghĩ càng thương thầy mẹ em ghê anh ạ! Mỗi lần em đau ốm trượt ngã, đau đớn rên siết, em thương em thì ít, em thương thầy mẹ em càng nhiều. Thầy mẹ em không để cho em trầy da chân, còn thẳng Hồng, đôi lúc thầy em đánh nó, nhưng sau đó thầy em lại bảo nhỏ mẹ em dỗ dành vuốt ve nó.

Còn có hai chị em đi cả thế này mà rồi thân thể lại ra thế này, anh nghĩ có đáng thương ông già bà già không? Giờ này ông bà ở nhà quạnh hiu, ra vào không thấy em cũng không thấy thằng Hồng, tin tức thư từ cũng không, chắc thầy mẹ em sầu muộn mà chết sớm.

Chập sau, Thu lại nói:

– Em không đi nữa anh ạ. Bây giờ thì dù thế nào thì thế, em cũng nhất định không đi vào! Em đánh đổi tất cả, kể cả những cái gì thiêng liêng nhất trong em, để đạt được một chuyện là trở về gặp lại thầy mẹ em ở tại nhà.Tình cảm này của Thu dai dẳng từ mấy trạm qua, Thu nung nấu nuôi dưỡng nó, Thu bảo vệ nó, để bây giờ cái sự việc gặp cậu Hồng ở đây là cái giọt nước làm cho cái ly nước tình cảm kia tràn trề. Tôi cũng như Thu. Trong những cơn đau ốm tôi thường nghĩ tới cha mẹ tôi. Ông bà đang ở trong Nam tựa cửa trông con. Hằng chục vạn cảnh mẹ già tóc bạc tựa cửa trông con từ phương Bắc mịt mờ trở về, ngày nay không còn là một bài. học tượng trưng trong trang sách mà nó đã biến thành sự thực.

Ở ven bờ suối ngay chỗ tôi và Thu thường lên xuống để múc nước, giặt giũ có một cái cây giống in cây trâm bầu. Ai ở miền Nam ắt không lạ gì cái giống cây trâm bầu. Những bờ trâm bầu rậm mát buổi trưa hè là những chiếc giường thiên nhiên cho nhà nông ngả lưng kéo những giấc ngủ trưa tuyệt vời. Thân cây trâm bầu đầy gai nhọn, lá nó không tha thướt nhưng nhìn thấy cây trâm bầu là thấy tình cảnh đồng quê sâu đậm.

Tôi đi ra Bắc mười hai năm, quên hẳn giống cây này, không có một bài thơ một vở kịch nào làm sống lại bóng dáng cây trâm bầu trong lòng người Nam Bộ tập kết.

Bây giờ đây trên bước đường về quê (hay về nước cũng thế) tôi vừa gặp lại cây trâm bầu ở ven bờ suối nầy. Tôi đã làm đủ mọi sự kiểm tra từ vỏ cây, lá cây đến trái cây và sau cùng tôi đứng tựa hẳn vào gốc cây đầy tược non mượt mà và kêu lên khe khẽ tự đáy lòng: Trâm bầu ơi chính ta đây, bạn ngươi, người Nam Bộ hơn mười năm ly hương nay trở về xứ mình.

Tàng cây trâm bầu xum xuề, vỏ cây mốc nhưng ửng lên đầy sinh lực, rễ cây ăn chen vào những kẹt đá, một cái rễ to luồn sâu dưới một hòn đá đã làm nứt hòn đá này ra.

– Trâm bầu ơi! Hôm nay chắc mi thấy bớt cô đơn!

Tại sao chỉ có một cội cây trâm bầu dọc bờ suối này ? Tôi để ý thấy không còn một trâm bầu nào khác ở quanh đây.

Tôi tự hỏi, ai đã mang hạt trâm bầu gieo xuống đây? Một chú chim giang hồ nào trong một chuyến bay phiêu lưu đã mang hạt giống cây kia nhả xuống đây để thử sức sinh tồn của giống cây ấy chăng ? Hay một trận cuồng phong nào đã thổi tung hạt giống ấy từ miền qua sông Cửu Long ra tận vùng núi đá chết tiệt này?

Thu nói:

– Xin anh tha lỗi cho em. Em ngấy lắm rồi. Em không muốn anh nói gì về sự đau đớn của em. Tất cả lý thuyết đối với em bây giờ đây không vượt qua nổi những sự thực đã dầy dẫy trước mắt em hằng ngày. Anh xem đó, một đứa con trai hai mươi mốt tuổi đi vào “giải phóng miền Nam” một năm rưỡi nay, bây giờ tóc tai mắt mũi và tư tưởng như thế đó!

Rất tiếc là em không nắm tay giữ nó lại kịp. Em ân hận vì trước đây em đã xui nó đi mặc dù thầy mẹ em không muốn cho nó đi. Em tưởng em đi theo dấu chân nó sẽ gặp được nhũng điều may mắn, vinh quang để xóa tan sự ân hận ngày trước, chẳng ngờ giờ đây gặp lại nó thì sự ân hận không những đã dấy lên mà còn bốc thành lửa đang thiêu cháy cả tim óc em!

Tôi thấy không thể dùng lý luận mà đánh lạc mục tiêu cho sự đau khổ của cô gái thông minh, cho nên tôi đi vào chuyện thực tế. Tôi bảo:

– Em nằm xuống nghỉ đi! Rồi sáng mai anh sẽ đi bắt nó về cho.

– Có chắc không anh?

– Nó ở trên bệnh xá mà. Rồi em muốn nó thế nào, anh xin cậu bệnh xá trưởng cho nó cũng được.

– Có chắc không anh?

– Chắc chứ. Theo cậu ta nói thì Hồng phục vụ cho cậu ta đến khi nào cậu ta về Hà Nội sẽ mang Hồng về theo.

– Thế hả anh? Thế thì em yên tâm lắm. Em không xin gì thêm cho nó. Chỉ muốn gặp lại nó thôi.

– Em ngủ đi, đừng lo nữa.

Năm Cà Dom lên tiếng xen vào:

– Thôi ngủ đi cô Thu. Không thể làm gì được bây giờ. Nhất định đêm rồi phải đến sáng. Sáng mới đi tìm nó được. Bây giờ cô có vất vả đau khổ thế mấy thì trái đất cũng chỉ quay theo cái nhịp độ của nó mà thôi chứ không chịu theo ý muốn của cô mà quay nhanh lên chút nào. Hãy ngủ đi. Trong giấc ngủ mọi sự sầu muộn sẽ tan biến và tâm hồn mình sẽ phơi phới… ớ…

Năm Cà Dom nói tới đó thì hớ hớ và hắc xì lên hai ba cái rõ to. Tôi tưởng chừng cái chót mũi anh ta bay đi vì những cái hắt hơi đó. Tôi cười:

– Làm gì hắt hơi dữ vậy?

– Cậu tự hỏi xem cậu làm gì mà cũng hắt hơi liên miên vậy?

Hai đứa muốn phá tan cái không khí nặng trĩu, nhưng cả hai đều cảm thấy mình không còn duyên dáng.

Đêm Giáng Sinh ở Chambly, Canada

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

December 21st, 2024

Post by Sơn râu 6 Aug 2025

Như mọi năm, xưởng phim đãi tiệc Giáng Sinh sau 2 giờ trưa ngày 24 tháng 12. Tôi về nhà, 3 giờ ghé rước Chris tới nhà hàng.

– Năm nay xưởng phim hốt bạc … Nên mở tiệc ở nhà hàng Việt-Nhật!

– Vậy là tao trúng ổ 2 món ghiền nhất trong đời … Phở và Sushi

Chris ngồi tuột xuống ghế, nhắm mắt, cười.

– Sao chưa thấy tăng lương … Đó là chuyện quan trọng, không phải tiệc Giáng Sinh.

– Đầu tháng 1 mới tăng….

Chris lầm bầm.

Bữa tiệc ở nhà Hàng Việt-Nhật quá ngon lành. Quầy sushi hình vòng cung, quanh một bar rượu tròn. Khách có thể lấy thức ăn bỏ vô đĩa. Vòng qua, trên quầy bar, một bên là những chai Scotch, rượu chát đỏ, bên kia là 1 thùng dài, đầy những chai, lon bia ướp lạnh.

Tôi lấy dĩa sashimi, 2 miếng bạch tuộc nướng. Bây nhiêu là đủ khai vị cho bữa tiệc tối nay. Vòng qua bar, gọi ly scotch, cô phục vụ bỏ 2 viên đá.

– Chúa ơi!…

– Cái gì vậy?

– Cô đã làm rớt nụ cười trong ly rượu của tôi.

Tôi chọc. Cô đỏ mặt.

– Chúc mừng Giáng Sinh!

– Chúc mừng.

Tôi về bàn. Chris đã ngồi đó, đang ăn tô phở xe lửa, gắp, nhai, húp, rột, rẹt.

– Mầy có thể ăn chậm lại và giảm cái tần số rột rẹt được không Chris?

– Tao có đọc bài nghiên cứu của một nhà văn Việt Nam viết về món phở và cách ăn phở trên Google …

Nó húp cái rột, cọng phở dính lên môi, tọt vô miệng.

– Ông viết “Ăn phở, mà không húp là không thưởng thức được trọn vẹn cái ngon của phở…”

Tôi nhỏ nhẹ nhai miếng bạch tuộc.

– Nhưng không phải húp rột rẹt như mấy con vịt!

Chris bưng tô, húp một hơi, nó lấy ly scotch của tôi, làm cạn, khà!

– Vậy mới đã cái “Hồn” phở Việt Nam.

Tôi gắp miếng cá trắng dầy, quẹt miếng mù tạt, bỏ miệng.

– Tao đi lấy tô phở xe lửa thứ 2.

Tôi sặc, miếng cá bay ra dĩa.

– Mầy có thể ăn 2 tô phở xe lửa?

Chris nhún vai.

– Có thể 3 tô … Nếu không ăn sushi.

Chris đem tới 2 ly rượu, nó quay đi và trở lại với tô phở xe lửa trên 2 tay.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Bữa tiệc Giáng Sinh đang tới cao điểm của nó. Các đồng nghiệp tới lui lấy thức ăn nhiều hơn, nhanh hơn, quầy bar có 4 người sắp hàng chờ lấy rượu, người phục vụ đang sắp thêm bia vô thùng lạnh, mọi người cười nói lớn hơn, … Cheer! Cheer! Và dĩ nhiên có mấy người uống nhiều hơn đã thấm say, dựa lưng vô ghế, mặt đỏ hừng như ông già Noel, lim dim mắt.

– Ê! Tới lấy đồ ăn mang về.

Tôi nói, khi Chris vừa húp cạn tô phở thứ 2.

Chris đưa 2 bao giấy lớn.

– 3 tô phở cho 3 ngày, 2 hộp sushi, 1 hộp má cá nướng Hibachi … Vậy là tao khỏi tốn tiền ăn tuần tới.

– 1 hộp sashimi cho khuya nay và 1 hibachi cho ngày mai.

Tôi tới quầy, lấy 2 ly Scotch đúp với đá, đem lại bàn.

Đã 6 giờ chiều. Tuyết bắt đầu rơi ngoài cửa sổ của nhà hàng. Phía Tây thành phố Montreal, lung linh ánh đèn hắt ra từ những căn nhà gạch đỏ, khuất sau mấy hàng cây nằm cao thấp lưng chừng núi Westmount, mới đây đã phủ trắng bông tuyết. Bầu trời ửng xanh từ chiều, giờ đã xám ngắt, hứa hẹn một trận tuyết không nhỏ.

– Ê! Buổi tối còn dài quá, tao mới ngốn đầy bụng phở … Cần vui chơi đêm nay …

Chris chồm tới.

– Hay tụi mình qua Chambly! Lâu quá tao không coi vụ này.

Chambly là thị trấn, phía Nam Montreal, nơi đây có mấy bar nổi tiếng “Múa ở truồng”, bia rượu rẻ, và mấy cô thì quá đẹp, đa số là gái Nga, Tiệp, Ba Lan.

– Nhưng tuyết rơi nhiều quá!

Tôi chỉ ra ngoài.

– Xe mày chạy 4 bánh, chuyên leo tuyết … Ăn thua gì!

Vậy là 2 thằng đi Chambly chơi đêm Giáng Sinh.

Qua cầu, quẹo phải, tuyết đã ngập trắng đường, bánh xe trơn trợt, tôi quẹo vô căn nhà lớn, có hàng thông cao, đầy đèn chớp sáng ngoài khoảng sân rộng, người đậu xe chạy tới, tôi đưa chìa khóa và $5.

Bar đông nghẹt, tôi và Chris chen vô, tới cuối căn phòng lớn, nhiều bàn nhỏ đã đầy khách, mọi người cười nói lao xao, ngập mùi rượu, cần sa. Tôi lấy bàn 2 chỗ sát vách.

– Chúc mừng Giáng Sinh!… Quý ông sẽ uống gì để bắt đầu đêm vui?

Cô nhỏ chỉ mặc cái áo chẽn đen bó người, nâng cặp ngực, đội nón lông gấu nâu kiểu Nga, phía dưới không mặc gì, hỏi.

– 1 chai Vodka đông lạnh, 2 ly shot.

– Chris! Vodka là món rượu duy nhất và ngon nhất ở Nga. Mùa Đông, tao lấy chai Vodka, chôn trong tuyết, ngay cửa sổ phòng, chỉ một ngày là nó đông đặc như dầu. Mỗi khi nhâm nhi, thò tay ra cửa, lấy vô, nhậu với cá hồi khô … Ngon chết!

Cô nhỏ mang ra chai Vodka đông lạnh, bỏ trong một xô đá lớn.

– Các ông có món cá hồi sấy khô … Đúng kiểu Nga.

– Спасибо! (Cám ơn, tiếng Nga).

– пожалуйста (Không có chi, tiếng Nga)

Cô bước vô quầy.

Đèn tắt, sáng lên màu xanh yếu ớt. Bản nhạc của Yanni, thướt tha nhẹ nhàng. 2 cô gái trần truồng lên sân khấu, bắt đầu múa một đoạn cá nhân … Và! Ầm! Tiếng guitar èo ẹo như ma quỷ của ban nhạc Led Zeppelin nổi lên, Ánh đèn cam ấm cúng chớp nháy trên thân thể uốn éo co giật, lăn lộn những động tác mần tình của 2 cô quấn lại với nhau, trên sàn gỗ đậm màu… Và Phựt! Cả bar tối thui. Đèn sáng, 2 cô gái biến mất. Mọi người vỗ tay.

Dĩa cá hồi đã hết sạch, tôi đưa tay, mua dĩa lớn khoai tây chiên với phô mai.

Trên sân khấu, 10 gái trần truồng, đứng giạng chân tay cầm dao ngắn đưa ngang mặt, đầu đội nón giác đấu La Mã.

Chris cười.

– Sao cười cha?

– Tao chưa bao giờ thấy…

Nó kín đáo chỉ tay.

– 10 khuôn mặt trẻ trung, đẹp, 10 đôi môi ngọt ngào, muốn cắn!…

– Rồi có sao?

– 20 bộ ngực trắng hồng, căng cứng … 20 bộ đùi thon đẹp …

– !!!

– Và… 10 con… Bày hàng trước mặt! Tao chưa bao giờ … Mầy phải nhớ là tao đây ế gái, cho tới bây giờ vẫn chưa có được 1 con …. Vậy mà đêm nay, đêm Giáng Sinh! Tao đã thấy tới 10 con…

Những cô gái bắt đầu trận hỗn chiến giác đấu. Người thua sẽ bị làm tình ngay tại chỗ. Có những cô té xuống, có những cô nhào lên người kẻ thua…

– Hello! Hello!… Xin chú ý! Chú ý.

Tiếng người nói trong loa vang lên ngoài cửa Bar.

– Xin chú ý! Tuyết đang rơi nặng nề, đã cao tới 2 feet, yêu cầu những ai cần lái xe về nhà, xin đi ngay, để tránh bị kẹt lại trên đường ngập tuyết … Xin chú ý! Đội cấp cứu đang làm việc ở xa, không tới Chambly được.

Tôi gọi tính tiền, lấy chai Vodka còn phân nửa bỏ túi, kéo Chris ra cửa.

Tôi nổ máy xe, bật đèn pha, đèn sương mù, đèn cấp cứu, chạy ra con đường nhỏ trước mặt. Chiếc Toyota FJ, chuyên leo tuyết ngon lành băng ào ào qua lớp tuyết dày chừng 2 feet trên con đường làng đâm ra xa lộ. Tuyết rơi dày hơn, tôi nhìn ra cửa, chắc đã 3 feet. Xe không còn chạy thẳng, nó lạng qua phải, qua trái, tay lái bắt đầu nặng và không còn điều khiển chính xác hướng chạy của xe. Những cơn gió quái ác thổi tung đám tuyết trên đường đổ đầy tuyết vô kính trước, 2 quạt nước kẹt cứng trong lớp tuyết lạnh. Tôi hoàn toàn không thấy đường. 2 đứa tôi xuống xe, lấy 2 cây quét tuyết, quét sạch kính trước, kính sau. Leo lên xe chạy tiếp. Có tiếng trực thăng, tiếng loa.

– Yêu cầu các xe đang di chuyển trên xa lộ, nên quẹo vô exit, toán cứu cấp sẽ kéo xe về nơi an toàn.

– Tao nghĩ … Mày nên vô Exit, đợi toán cứu cấp!

– Xe mình chạy được, không sao!

Tôi tiếp tục, chiếc xe lảo đảo chạy qua cơn bão tuyết.

– Rầm!

Đầu xe bên trái sụm xuống.

– Mẹ! Cái gì vậy?

Chris la.

Tôi bước xuống xe. Bánh xe bên trái lọt ổ gà. Tôi vô xe. Gài số mạnh, lái chiếc xe qua bên phải. Máy xe rú lớn, bánh xe chỉ leo lên, rồi rớt xuống. Lớp tuyết quá dày đã cản đầu, xe không leo lên được. Tôi gài số lui, từ từ ép ga, chiếc xe rung lên, nhích lui … Nhích lui, và tôi nhấn mạnh, xe lui lại, ra khỏi ổ gà.

– Còn xa lắm mới ra tới xa lộ, tuyết đã cao hơn 3 feet, tao không thể tin rằng, mình có khả năng vượt qua đêm tận thế này … Có ánh đèn bên phải, gần trước mặt… Tao nghĩ là mình chạy tới đó, xin tạm trú qua đêm, tránh cơn bão … Tối mai nhậu Giáng Sinh tiếp!

Tôi chạy tới ánh đèn bên phải.

– Quẹo vô … Đúng rồi.

Tôi tắt máy xe, 2 đứa bước lên thềm nhà.

– Nhà có đèn, chắc họ đang ăn tiệc đêm.

Chris bấm chuông.

Không một tiếng động.

Chris bấm chuông.

Vẫn không một tiếng động.

– Không lẽ …

Chris bấm chuông.

– Rầm!

Một bóng đen nhảy lên thềm. Tiếng lên đạn.

– Ê! Hai thằng chó! Chống 2 tay vô tường.

2 đứa chống tay vô tường.

– Bỏ súng xuống!

– Không phải súng … Cây quét tuyết!

– Bỏ xuống cho tao thấy!

2 cây quét tuyết rớt xuống thềm.

– Đẩy cửa! Bước vô nhà.

2 đứa bước vô nhà, bóng đen đưa tay mở đèn.

– 2 Thằng chó săn! Tới ngồi xuống ghế dài, quay mặt lại phía tao.

Tôi và Chris, ngồi xuống ghế dài, quay mặt lại.

Bóng đen cởi bộ đồ tuyết, ném qua. Bây giờ thì trước mặt, là một người đàn ông râu xồm, mặc đồ lính Mỹ, Tay chĩa khẩu M-16 vô tụi tôi.

– Tụi bay là trinh sát của D.E.A (Cảnh sát chống ma túy) theo dõi tao?

2 cái miệng trả lời cùng một lúc.

– Không! Không! Không!

– Bỏ ID, thẻ nhà Băng ra bàn.

Ông bước tới.

– Xin ông vui lòng chĩa súng lên trần nhà… Thay vì chĩa vô mặt tui…

Chris đưa tay, nói.

Ông tỉnh bơ lấy ID, thẻ nhà Băng, bước lui, móc phone.

– Hello! Yes! Kiểm tra.

Ông đứng trước mặt, giạng chân, súng chĩa thẳng, sẵn sàng nổ, y hệt như Rambo.

Phone kêu.

– Ừ! Cám ơn.

– Tụi mầy có phải nhân viên Xã Hội.

– Không! Không!

– Nhân viên sở thuế?

– Cũng không!

Đầu súng M-16 hạ xuống.

– Vậy tụi mầy là ai? ở đâu tới? Tại sao vô nhà tao?

Chris.

– Tụi tôi ăn tiệc Giáng Sinh ở nhà hàng tuốt bên Westmount, Montreal…

– Mẹ! Ăn tiệc bên đó thì tại sao vô nhà tao lúc đêm tối bão tuyết bên này?

Tôi.

– Ăn tiệc xong qua Chambly chơi Giáng Sinh…

– Coi múa ở truồng …

Chris.

– Coi xong, ra về trong cơn bão tuyết …

Tôi.

– Bão lớn quá, xe chạy không nổi, sợ bị hư, tụi tôi sẽ chết cứng giữa tuyết.

Chris.

– Nên chạy vô nhà ông xin tạm trú, tránh bão.

Tôi.

– Hết bão, tụi tôi đi liền!

Ông già dựng cây súng vô tường, bước tới. Cúi sát mặt tôi và Chris.

– Tụi mầy biết tao là ai không?

– K… H… Ô… N… G!

Tôi lẹ miệng.

– Tao đã đi lính Mỹ, đã đánh đấm và đổ máu tại Afghanistan, tao giải ngũ, về nước với thương tật và số tiền trợ cấp chỉ đủ ăn tới nửa bao tử! Nản quá, chơi thuốc… Đâm ra nghiện thuốc và bán thuốc để kiếm tiền hút! Cho nên bị tóm, hiện đang tù treo, nếu DEA hay cảnh sát bắt được phạm lỗi, là tao văng vô tù, nhân viên Xã Hội biết được thì mất hết trợ cấp, bảo hiểm!…

Ông ngồi bệt xuống sàn, úp mặt vô đầu gối.

– Nên tao trốn biệt trong nhà, không muốn tiếp xúc với con người.

Tôi đứng dậy.

– Nhà ông quá lạnh… Ông sẽ bệnh.

– Tao không mở sưởi, vì không có tiền trả. Còn mấy khúc củi sau nhà… Tao mệt, không lấy vô được.

Ông bật khóc, chiếc lưng còng rung rung.

– Tụi mày cố chịu cho qua cơn bão … Tao còn mấy cái mền lính trong phòng…

Ông vô phòng, lấy ra 2 cái mền cho tôi và Chris, bước tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài.

– Tao biết đêm nay là Giáng sinh … Nhưng tao không có gì để làm tiệc đêm, chỉ còn 2 cây nến với bình sữa … Tụi bay ráng nhịn đói, sáng mai ra tiệm ăn.

Ông bước vô phòng, quấn thêm chiếc mền.

– Kéo cái ghế dài ra thành giường đôi … Ngủ ở đó.

Ông đưa tay.

– Rất tiếc! Tao không giúp được gì. Chúc Giáng Sinh!

Ông khép cửa.

– Hello! Đợi!

Tôi và Chris đứng bật dậy, bước tới cửa phòng.

– Xin mời ông ngồi xuống bàn … Chúng ta ăn tiệc đêm!

Ông ngồi xuống bàn ăn nhỏ, có 4 cái ghế.

– Ông ngồi đó giùm!

Tôi và Chris ra cửa sau, khiêng mấy khúc củi lớn, bỏ vô lò sưởi, mồi lửa. Ánh lửa màu cam bắt đầu cháy quanh khúc củi, căn phòng ấm lại. 2 đứa ra xe. Đem vô 2 bao giấy lớn, bày ra bàn.

3 tô phở, 3 hộp sushi, 1 hộp sashimi, 2 hộp cá nướng Hibachi.

– Ha! Vậy là chúng ta có bữa tiệc đêm Giáng Sinh ngon lành. Xin mời ông.

Chris cười.

Tôi lấy chai Vodka đông lạnh còn phân nửa, rót đầy cái nắp.

– Mời ông.

Ông cạn ly. Tới phiên tôi, rồi tới Chris, mỗi người 1 nắp. Chúng tôi bắt đầu ăn sushi, sashimi, Hibachi. Tôi lấy 3 tô phở, hâm nóng bên lò sưởi, mang lại bàn.

– Đây là phở, món súp bò nổi tiếng của Việt Nam.

Ông ăn một muỗng, chắp miệng.

– Ngon quá!

Ông đứng dậy, vô phòng, đem ra 2 cây nến lớn, để giữa bàn, thắp sáng. Đưa 2 tay nắm lấy tay tôi và Chris.

– Chúc mừng đêm Giáng Sinh hạnh phúc nhất của tao, từ khi được giải ngũ

Ông nhắm mắt.

Giọt nước mắt lăn trên má.

HDV

Con rắn “Đuôi chuông”

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

November 30th, 2024

Post by Sơn râu 6 Aug 2025

Arhan

Lần tôi xuống thăm trại nuôi gà và đồn điền ớt của Thành, người em họ, con bà dì ở El Paso, Texas. Tối đó trong bàn nhậu.

– Bữa nay em đãi anh món rất đặc biệt của thổ dân Da Đỏ…

– “Da đầu người nhúng giấm”?

Tôi chọc.

Thằng em ngước mặt, rao lớn như những người Sơn Đông quảng cáo thuốc dán ở bến xe Đà Nẵng năm xưa.

– Rắn “Đuôi chuông”, xé phay trộn xương rồng ngâm chua…”

Nó lấy chai Vodka và Tequila có màu đỏ bầm trên bàn ăn.

– …Rượu Vodka pha máu rắn, Tequila pha mật rắn, uống bổ gân dãn cốt…

Thành ngồi xuống, ôm vai người đàn ông lớn tuổi, da nâu đỏ, mái tóc đen bóng, chải ngược ra sau, đánh thành lọn tóc bím, dài tới lưng, kiểu truyền thống của dân Da Đỏ.

– Tất cả những món đặc biệt này, đều do người quản lý trại gà và đồn điền ớt làm, theo kiểu Da Đỏ … Đây Arhan!

Arhan đứng dậy rót 3 ly rượu mật rắn.

– Xin chúc khỏe mạnh!

Cạn ly.

Anh vui vẻ nói với tôi.

– Nhậu thịt rắn “Đuôi chuông”, tôi kể anh nghe…

Rắn đuôi chuông

“Tôi thuộc bộ tộc người Da Đỏ Pueblo ở khu vực Ysleta của El Paso, Texas. Năm 25 tuổi, chuyên nghề sửa xe, nhưng ế khách, nên chỉ làm 3 ngày 1 tuần cho một ga ra ở vùng Socorro. Rảnh, nên tôi thường đi săn chồn, chó rừng, thỏ xám, rắn đuôi chuông ở mấy vùng rừng thấp chung quanh khu núi đá với Perdo, một người lai Da Đỏ, trốn từ Mễ Tây Cơ qua, cắt cỏ ở Socorro.

Đang đi, tôi nghe thoảng trong gió, tiếng chồn chí chóe rất nhỏ. Tôi kéo Perdo, chạy tới, núp sau mỏm đá, nhìn xuống. Dưới vạt dâu rừng sát bên núi, 2 con chồn xám đang lăng xăng ăn những chùm dâu chín đỏ nằm lẫn trong đám lá xanh.

– Vòng bên phải, tới sát mỏm đá bên kia, tao bắn con bên trái, mày con bên phải.

Tụi tôi đi vòng, cách vạt dâu chừng 50m. Hai đứa núp sau tảng đá, đưa súng lên.

– Đùng! Đùng!

Tôi bắn trúng con chồn bên trái, nó văng qua một bên. Phát súng của Perdo chỉ cày tung lớp lá dâu. Con bên phải biến mất. Hai đứa chạy tới. Đúng lúc Perdo cúi xuống vạch đám lá tìm con chồn, tôi nghe tiếng rè rè “Đuôi chuông” của loại rắn độc, nên đưa tay cản Perdo lại, nhưng không kịp. Một con rắn đuôi chuông rất to, màu vàng đất có 2 sọc đen trên lưng đã phóng lên, cắn vô cổ Perdo. Nó té xuống, con rắn trườn nhanh, rồi quay lại, đưa cao đầu khè những tiếng hung dữ, như muốn tấn công chúng tôi. Perdo còn đủ bình tĩnh, nó nạp viên đạn. Đúng lúc đó một con đuôi chuông khác từ bên hông Perdo, trườn nhanh tới, chồm lên cắn vô bắp tay nó, nhưng chỉ vướng vô tay áo. Perdo lẹ tay chụp lấy đuôi con rắn, quăng mạnh, con rắn đuôi chuông rớt vô đám dâu rừng, Perdo lên đạn.

– Đùng!

Con rắn rớt xuống. Tôi đưa súng lên định bắn con rắn trước mặt, nhưng nó đã trườn đi.

Perdo gạt đám dâu rừng qua một bên, tôi bước tới lấy xác con chồn mình bắn, còn xác con chồn kia nằm sát bên một bầy rắn 6 con lúc nhúc vừa nở ra từ những cái vỏ trắng có đốm đen trong một lỗ hang sâu dưới lớp đất khô.

Bây giờ thì tôi hiểu ra. Con rắn đuôi chuông lớn, màu vàng có 2 sọc đen, đã tấn công Perdo là rắn chồng, đang canh cho con rắn vợ (Bị Perdo bắn chết) ấp trứng, lúc các rắn con vừa nở thì Perdo bắn con chồn bên phải, và con rắn vợ đã cắn chết con chồn trước khi viên đạn của Perdo tới đích vì sợ con chồn ăn mất các con của mình mới nở.

Cấp cứu

– Arhan! Arhan…

Mặt Perdo bầm tím lại, miệng sùi bọt, thở khò khè, nó kêu tôi, lảo đảo té xuống.

Biết Perdo bị trúng độc nọc rắn đuôi chuông. Tôi quỳ xuống, lấy dao săn cắt một đường ngắn giữa 2 vết rắn cắn, bóp mạnh, máu độc ứa ra. Tôi lấy bật lửa, hơ nhẹ trên vết cắn, hái một nắm lá dâu, giằm với ít nước tiểu, bóp thành một miếng dài, đắp vô vết thương.

Perdo khò khè

– Tao không thở … Được!

Tôi xốc nó lên vai, chạy thẳng ra xa lộ, nơi có trạm điện thoại cấp cứu.

Một tuần sau, tôi gặp Perdo tại bar Mễ ở Socorro.

– Sao rồi?

Perdo khui 2 chai Corona.

– Tao bị mù mắt trái, miệng méo.

Tôi vỗ vai nó.

– Không chết là may mắn lắm …

Làm ngụm bia.

– Ông chú tao, nuôi đàn bò rừng 10 con ở vùng núi El Paso … Đêm kia 1 con đuôi chuông chui vô chuồng, cắn chết 2 con bò mộng một lúc!

Mối thù

Perdo đập tay xuống bàn, mấy người chung quanh nhìn.

– Tao phải giết nó! Trả mối thù bẩn thỉu này!

Nó nốc cạn chai bia thứ 3.

– Tao nhớ rõ con rắn “Đuôi chuông” to, có 2 sọc đen trên lưng… Mẹ! Tao sẽ giết nó!

Từ ngày đó, Perdo thường xách súng, ra bãi dâu rừng và khu núi đá chung quanh, tìm dấu vết con rắn đuôi chuông 2 sọc. Đôi lúc Perdo nổi điên, nó bắn tan xác bất cứ con rắn đuôi chuông nào thấy được. Bây giờ, Perdo không còn đi săn với tôi, ngày nào nó cũng xách súng đi lòng vòng khu núi đá, bãi dâu, cồn cát, truy sát rắn đuôi chuông, để trả thù cho con mắt mù và cái miệng méo xẹo của mình.

Bữa nhậu ở Bar Mễ, Perdo đã tuyên bố.

– Tao sẽ giết tất cả rắn đuôi chuông, từ lớn tới nhỏ, Không chừa một con nào!

Rắn đuôi chuông tấn công.

Mấy hôm sau, vừa cắt cỏ về. Perdo khiêng máy cắt và đồ nghề bỏ trong hiên nhà, lúc bước ra xe, lấy máy phun thuốc trừ sâu.

– Rè! Rè! Rè!

Tiếng rung đuôi của rắn đuôi chuông từ dưới gầm xe, Perdo nhảy lui lại.

Dưới gầm xe phóng ra con đuôi chuông, mình có 2 sọc đen.

Tối đó, ngồi với tôi ở Bar Mễ.

Perdo đưa bắp chân lên.

– Mẹ! Con rắn to cỡ này.

– Ohhhh!

– Đó là rắn “Chúa”.

Ông già Da Đỏ đang uống rượu ở cuối quầy nói.

– … Là con rắn “Trùm” cả một vùng. Rắn cũng có tổ chức xã hội như người …

Perdo uống ly rượu, nói nhỏ với tôi.

– Mẹ! Đúng là con rắn mà tao đã truy tìm để trả thù …

Perdo chỉ vô con mắt mù và cái miệng méo.

– Mầy chắc là nó không?

– 100%! Chắc! Vì…

“Con rắn phóng ra, quay nhanh lại, lừ đừ đưa cái đầu to lắc lư và cặp mắt màu chì ngẩng lên cao, nó chồm tới, le lưỡi, khè những tiếng lớn, như hăm dọa. Perdo nhảy vô xe, chụp lấy cái ống phun thuốc trừ sâu, đưa ra trước mặt, tay bấm nút mở máy. Làn thuốc trắng phun vô mắt con rắn, nó quay đầu, trườn lẹ về hướng núi đá.

– Vậy là mầy hên!

Người khác nói.

– Nó mà tấn công … Là mầy mù luôn con mắt bên kia!

Tôi vỗ vai Perdo.

– Rắn đuôi chuông ít khi nào cắn trật! Nhất là rắn “Trùm”.

Perdo gọi 2 ly Tequila, nói với tôi.

– Tao thề! Sẽ tìm ra và giết con rắn “Trùm” Tao không thể chịu thua nó!

Mấy người bạn đứng ngay quầy bar cùng đưa cao ly rượu.

– Chúc Perdo hạ thủ được con rắn “Trùm”

Như mỗi cuối tuần, Perdo xách súng vô khu núi đá, truy tìm con rắn đuôi chuông. Vì biết con rắn “Trùm” này rất tinh khôn, nên anh dụ con rắn bằng cách cột 2 con thỏ sống với sợi dây dài, để nó tự do chạy tới lui, ăn những củ cà rốt đã được rải chung quanh, khi con rắn tấn công thỏ, anh sẽ, bắn nát đầu nó.

Chiều đã mát lại, vài cơn gió nhẹ len qua các mỏm đá, xua bớt đi cơn nóng thiêu đốt của mùa hè.

Perdo dựa lưng vô vách đá, nhìn một vòng chung quanh, rồi gác súng ngang người, lấy trong túi xách miếng thịt chồn sấy và chai whiskey còn phân nửa. Perdo nốc hết phần rượu, khà một tiếng dài, cắn miếng thịt chồn, nhai nhóp nhép…

– Tao đang lim dim thưởng thức cái ngọt thơm của whiskey quyện với miếng thịt chồn khô thì.

– Rẹt!

Một vật màu xám lao xuống, tao chỉ kịp ôm đầu, lăn qua một bên tránh …

Perdo đưa 2 tay lên trời.

– Mẹ ơi! Con rắn “Trùm” đã phóng xuống tấn công tao.

Ông Da Đỏ, đứng ở quầy rượu, nói.

– Vậy sao mầy còn đây?

– Nó cắn vô đầu … Nhưng nhờ lăn qua nên con rắn cắn trúng vô cổ áo khoác, nọc độc phun nóng hổi, rát rạt một bên cổ, tao đứng nhanh dậy, chụp khẩu súng đã lên đạn nhưng không bắn được, vì con rắn đu đưa sau lưng, nó cong người lại quấn quanh mình tao, cố rút hàm răng nhọn bị cắm vô cổ áo. Tao xoay người, đập mạnh cái lưng vô mỏm đá, con rắn “Trùm” bị đau, nó cong mình lại, quất cái đuôi to vô đầu tao. Những cái vảy lớn sau đuôi của rắn rung chuông cứng như móng chân bò nên tao đau quá, lấy hết sức đẩy lưng một cú mạnh, con rắn “Trùm” trúng đòn, nó phì một tiếng lớn, phóng xuống đất, tao quay lại, đưa khẩu súng, định bắn, con rắn vươn cao đầu, há to miệng, phun những tiếng phì phì rồi phóng vô mặt tao. Tao dội ngược, rút dao, chém ngang một phát, trúng đầu con rắn, nó khè một tiếng lớn, trườn lẹ vô đám xương rồng, để lại vệt máu trên mặt đất khô.

– Theo những điều linh thiêng của rừng núi, mà người Da Đỏ đã biết, qua bao trăm năm …

Ông già Da Đỏ gục gặc đầu.

– … Khi con thú dữ đối mặt, hù dọa, chống lại mình, đó là điềm báo trước về sự suy tàn của vận mạng.

– Ha! Ha! Nó chỉ là một con rắn lớn! Ông Già ơi… Vậy là nó suy tàn! Không phải tôi.

Perdo đưa cao ly rượu, cái miệng méo xẹo la lên.

Rắn đuôi chuông trả thù.

– Tao sẽ giết con rắn “Trùm”! Cạn ly.

Tới ly thứ 5, thì Perdo bắt đầu say. Nó nốc một ly nước cải chua lớn cho giải rượu, trước khi về.

Perdo leo lên chiếc Jeep, Arhan bước tới.

– Perdo! Mầy say quá! Về nhà tao ngủ, sáng sớm về.

Perdo gạt tay.

– Không sao Arhan! Tao còn tỉnh, tao muốn về nhà!

Vậy là Perdo nổ máy, phóng đi.

Về tới nhà, đã 10 giờ tối. Perdo đi tắm. Anh lấy con gà luộc mua hồi chiều để ra bàn, cắt cái đùi, rót ly whiskey. Ăn xong, Perdo ra cửa nhìn một vòng chung quanh. Vì lời cảnh báo của ông già Da Đỏ, anh vô giường, để khẩu súng sát tay phải. Cơn say bốc lên, Perdo cởi hết áo quần, nằm ngủ trần truồng.

Perdo kéo chiếc mền mỏng lên ngực.

Con rắn “Trùm” đuôi chuông từ dưới giường bò ra, tiếng xè xè của chiếc đuôi vang to trong đêm tối. Perdo mở đèn.

– Mẹ! Rắn!

Đúng! Con rắn “Trùm” ngẩng đầu có vết chém của Perdo xéo ngang cái má to. Perdo chụp khẩu súng.

Nhưng trễ rồi! Con rắn đuôi chuông, đã há to cái miệng đầy răng và nọc độc phóng thẳng vô hạ bộ trần truồng của Perdo …

Và như ông già Da Đỏ đã nói.

“Khi con thú dữ đối mặt hù dọa mình, đó là điềm báo trước về sự suy tàn của vận mạng”

Nhưng Perdo không bị suy tàn vận mạng … Chả mất mạng!

Một tuần sau, những du khách đi thăm vùng Pueblo của bộ tộc người Da Đỏ ở khu vực Ysleta, El Paso, Texas. Lúc nào cũng thấy một con rắn đuôi chuông “Trùm”. Mình có 2 sọc đen, đầu gác trên cánh chim ưng bằng gỗ, hiền lành nhắm mắt, quấn mình quanh cây cột Totem thờ thần núi rừng.

Con rắn đuôi chuông “Trùm” đã về tu thân với thánh thần, sau khi trả thù cho vợ.

HDV

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 6 Aug 2025

105. Võ Đức Phấn

Võ Đức Phấn không biết có liên hệ huyết thống gì với Võ Đức Thu, Võ Đức Tuyết? Võ Đức Thu thì mọi người đã biết. Võ Đức Tuyết là bào đệ của Võ Đức Thu. Ông là nhạc sĩ dương cầm và cũng là một trong những nhạc trưởng kỳ cựu của các đài phát thanh Pháp Á, Sài Gòn trước 1975. Võ Đức Tuyết không sáng tác, nhưng ông rất được các nhạc sĩ cũng như các ca sĩ nể trọng về trình độ chuyên môn. Cái gọi là “thế giới nhạc” của chúng ta một thời, tuy vậy cũng nhỏ thôi, nên mọi người đều biết nhau cả. Vậy mà hỏi những người từng cộng tác với các đài phát thanh lâu năm, họ đều nói, chưa hề gặp Võ Đức Phấn bao giờ. Ông chỉ có một sáng tác là bài Cùng Một Kiếp Hoa nhưng nhiều thế hệ ca sĩ đã hát.

Ca sĩ trình bày Cùng Một Kiếp Hoa được nhiều người thích nhất có lẽ là Mai Hương. Có vẻ như chính Mai Hương đã gợi ý cho các ca sĩ trong nước trình bày ca khúc này, như Ánh Tuyết, Hoàng Kim. Cũng xin đừng ngạc nhiên khi thấy ở trong nước bây giờ có đủ các ca sĩ mang tên Lệ Thu, Ánh

Tuyết, Kiều Chinh, Thanh Thúy vv …

Một điều đáng chú ý khác nữa là gần đây người ta thấy các ca sĩ ở trong nước đã hát, đã cho sản xuất hàng loạt CD  trong đó có đủ các tác giả, các bài hát trước đây bị xếp vàoloại gọi chung là nhạc vàng và bị cấm. Nhạc đã dàn xếp được một vài chuyện rắc rối, chính trị không làm được chăng?

Một điều đáng mừng khác là bài Cùng Một Kiếp Hoa do Mai Hương, Anh Dũng [ngoài nước] và Ánh Tuyết, Hoàng Kim [trong nước] hát, lời ca hoàn toàn giống nhau, chắc là đúng với bản chính, một điều hiếm thấy đối với các đĩa nhạc của chúng ta trong những năm gần đây. Cả ba nhạc sĩ Võ Đức Thu, Võ Đức Tuyết, Võ Đức Phấn đều đã mất.

Cùng Một Kiếp Hoa

Trông em xinh xinh mắt tình tình

Đôi môi tươi tươi má hồng hồng

Mái tóc phất phới bay như gió đưa làn sóng

Đôi my cong cong mắt huyền huyền

Tai em von von [?] thoáng nhìn vào

Mắt thấy ướt ướt luôn như đẫm lệ từ lâu

Trông em đi tha thướt dường nào

Đôi khi em mỉm cười

dường hoa kia chớm nở

Lả lướt phất phơ tà áo

Dáng đi thêm dịu dàng tựa

cành hoa trước gió

Nhìn hoa mới nở

Màu hoa thắm tươi

Nhởn nhơ nhởn nhơ đàn bướm

Nhụy hoa trắng trong

Đàn bướm mê say đến gần bên hoa

Cành hoa tha thiết

Màu hoa thắm tươi

Đổi trao biết bao lời hứa

Tình xuân chan chứa

Hương xuân thơ ngây

Trao tình đưa duyên

Đời hoa ngây thơ

Nhụy hoa đã rữa, màu hoa úa phai

Tìm thấy đâu con bướm vàng

Còn duyên đưa đón khi hoa đương xuân

Đến chiều hoa rơi

Mai Hương

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 6 Aug 2025

104. Việt Lang

Việt Lang nổi tiếng với bài Tình Quê Hương. Bài hát được lưu truyền trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến

chống Pháp. Đây hoàn toàn là một bản tình ca, ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, các thôn xóm Việt Nam, và lòng tư hương dường như người Việt Nam nào cũng mang theo trong lòng. Dù quê hương của mỗi người hẳn cũng có chút gì đó khác biệt, nhưng đất nước chúng ta như vậy, quê ai hình như cũng có một dòng sông, một con đê, những ao hồ, những cánh đồng thẳng cánh cò bay … nên bài hát của Việt Lang được rất nhiều người yêu thích.

Vì, gần như ai cũng tìm thấy trong đó vài hình bóng của quê hương mình, và cho đến hiện

nay nó vẫn được coi là một trong những ca khúc hoài hương hay nhất trong âm nhạc của chúng ta.

Phải nói rõ như vậy, vì khi những người cộng sản biến cuộc kháng chiến giành độc lập của toàn dân thành cuộc chiến tranh thực hiện chủ nghĩa Mác-Lênin, rất nhiều người đã không chấp nhận điều đó và rời bỏ kháng chiến.

Việt Lang vẫn ở lại hậu phương, ở lại với cộng sản, cho đến hiện nay [nếu ông còn sống].

Việt Lang có trở thành đảng viên cộng sản không, chúng ta không biết. Vì cho đến khi Việt Cộng vào Sài Gòn, giới văn nghệ của họ cũng không thấy ai nhắc đến tên ông. Chắc ông cũng không được giữ một vai trò quan trọng

nào trong sự sắp xếp của Đảng. Trong nhiều cuộc tranh chấp địa vị, đấu tố lẫn nhau trước đó nhiều năm, trong giới văn nghệ tại miền Bắc, người ta cũng không nghe nói đến tên ông. Kể cũng là một điều lạ. Trong cái thế giới lúc nào người ta cũng đòi hỏi “triệu người như một”, một người có tên tuổi như Việt Lang không thể trốn đi đâu được, không thể đứng ngoài bất cứ chuyện gì. Vậy, trong cuộc cải cách ruộng đất rồi các vụ Nhân Văn

Giai Phẩm, Việt Lang ở đâu và ông đã làm gì nhỉ? Bây giờ thì không còn nghe thấy các người cộng sản nhắc tới mấy chữ “thế giới đại đồng” nữa. Nhưng đã có một thời các từ ấy được coi như kim chỉ nam, mục tiêu tranh đấu của người cộng sản. Chính trong những ngày ấy, thời ấy, Việt Lang đã viết bài “Mùa Không Biên Giới”. Nhưng bài hát này, lại không được phổ biến lắm ở ngay các vùng gọi là hậu phương, ít người biết.

Ông là cộng sản thật hay mắc chứng lãng mạn một mình ông? Ông đi trước người khác nên bị ngăn lại? Vào những ngày ấy, chưa có ông lãnh tụ nào kịp viết về cái đề tài “không biên giới” đó cả, ít nhất là trong nhạc. Một ca khúc khác của Việt Lang, ghi được nhiều không khí những ngày kháng chiến là bài Thu Trên Sông:

Tha phương từng đoàn thuyền xuôi đêm

Vốn liếng trơn chỉ còn niềm tin

Vui sống là tiếng đời dâng lên

Gót giang hồ tìm bóng lãng quên

Dòng sông trôi

Mùa thu ơi!

Qua bao bến xưa nghe kể chuyện đời đây đó

Cây xanh máu loang

ghi thêm một mùa thương nhớ

Bài hát của Việt Lang được nhiều người biết đến nữa sau bài Tình Quê Hương có lẽ là bài Đoàn Quân Đi.

Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm

không một vì sao

Uốn khúc đường đào

Mưa trơn bùn sâu

Đoàn quân đi giữa sóng mến thương

Xuân về mùa thắm

Tôi thấy những nàng khăn hồng lệ thắm

Hẹn ngày mai chiến thắng chớ quên

đường về làng xưa

Em vẫn mong chờ

Tới ngày đó đôi ta cùng mơ

Cuộc sống của chúng ta có nhiều nỗi buồn. Một trong những nỗi buồn ấy là âm nhạc. Nhạc của chúng ta không là nhạc bình thường nữa mà còn là nhạc của “phía bên này” hay “phía bên kia”. Đó là điều người ta không thể tách rời ra được nữa. Nhạc bị nguyền rủa, bị ruồng bỏ, khinh miệt, bị tác giả

thắt dây treo cổ rồi nhận lại. Người ta không còn biết đâu là sự thật nữa.

Điều đó khiến đôi khi nghe, người ta có cảm tưởng, nhạc tự nó tiết ra chất độc.  Nhưng đó cũng là một phần sự thật đời sống của chúngta, dù ta có muốn nhìn nhận hay không thì nó vẫn cứ có đó và có như thế.

Việt Lang có lẽ là người ít nói nhất trong giới văn nghệ miền Bắc. Chúng ta cũng không biết ông còn, mất hay sinh sống thế nào. Thật là buồn khi chỉ nghe nhạc thôi mà đôi khi chúng ta cũng không biết mình đúng hay sai, có lỗi lầm gì chăng, nghe nói tới một đoàn quân cũng phân vân không biết quân nào, đi đâu, đi đánh ai.

Tình Quê Hương

Ngàn dâu xanh ngắt mấy nếp tranh xa mờ

Tiếng sáo bay dập dìu đường về thôn xưa

Tình quê lai láng dưới trời thu

Khói xây thành chập chùng mây đưa

Cành tơ liễu thấp thoáng bên hồ mùa nhớ nhung

Dòng nước lững lờ

Ta ra đi một chiều thắm

Vang lời ca buồn trong khóm lá

Nỗi u hoài ngày tháng khôn nguôi

Này đây khóm lá

Này đây bao nếp tranh mờ khói

Những khi chiều tới

Này đây bao mái tranh êm đềm tình thương

Ôi buồn nhớ quê hương

II

Lòng trai muôn thuở những bước chân giang hồ

Kiếp sống trong bụi mờ một chiều chia phôi

Đường đi xa tắp tháng ngày trôi

Nhớ nhung hoài nhạc sầu chơi vơi

Lòng say mê dấn bước ra đi

Vì núi sông ca khúc nguyện thề

Bên nương dâu đồng xanh ngắt

Ta về đây chiều mơ gió mát

Bóng chiều tàn tràn khắp thôn quê

Này đây khóm lá

Này đây bao nếp tranh mờ khói

Những khi chiều tới

Này đây bao thiết tha êm đềm tình thương

Ôi buồn nhớ quê hương!

Sĩ Phú

Xương trắng Trường Sơn

vietmessenger.com

Xuân Vũ

Post by Sơn râu 6 Aug 2025

Kỳ 18.

Một hôm tôi và Năm Cà Dom buồn quá, mới bèn rủ nhau đi vào cái bệnh xá của ông bác sĩ Cường chơi. Thực ra đi chơi mà vô một cái bệnh xá thì còn lý thú gì, nhưng vô đó có thằng quen là xếp bệnh xá, may ra nó sẽ giúp đỡ mình chút đỉnh. Ở đây thì chỉ có thế, hễ đi ra là mong gặp được một sự may mắn gì, nhất là mong gặp được một cái lợi bất ngờ.

Nhưng hôm đó chúng tôi lại gặp rủi. Không phải gặp rủi nhưng lại gặp một cái biểu trưng của sự rủi ro.

Đang đi, chúng tôi bỗng dừng lại, vì nghe trên đầu có tiếng gió như có một nhánh cây gãy đang giáng xuống đầu mình. Cả hai đứa đều nhảy qua một bên để tránh theo bản năng tự vệ chứ không kịp dòm ngó gì.

“Pạch.” Một vật đen thui dài nhằng rơi đánh phịch xuống đất và nằm im. Chúng tôi nhìn. Và Năm Cà Dom kêu lên:

– Kỳ đà! Kỳ đà!

Năm nhảy tới hai tay chặn ngang cổ con vật. Con vật vùng vẫy và vươn móng vuốt ra trông kinh hãi lắm. Mồm nó há ra đỏ loét như chậu máu, đầy vẻ man rợ. Năm quát tôi:

– Đi bứt dây trói nó, mau lên.

Tôi loay hoay mãi, Năm Cà Dom lại quát:

– Bứt sợi dây leo kia kìa.

Tôi nắm lấy sợi dây không biết là dây gì, nhổ bật cả gốc lẫn rễ lên, tuốt sạch lá ngay, trao cho Năm.

Tài thật. Năm hì hục một chốc đã trói gô con vật và bỏ nằm im đó.

Năm Cà Dom chống nạnh lên thở dốc, rồi rút khăn lau mồ hôi.

Tôi hỏi:

– Con này thịt ngon không?

Năm Cà Dom vừa quệt mồ hôi trán vừa đáp có vẻ không phấn khởi tí nào cả.

– Ngon. Thịt nó trắng như thịt gà.

– Thế thì nhất trần đời rồi. Trời cho mình một bữa no nê. Hay quá nhì! Thôi quảy nó trở về. Đi bệnh xá làm gì nữa.

Năm đứng làm thinh làm thế. Tôi hơi ngạc nhiên về thái độ của Năm trước một món chiến lợi phẩm to lớn từ trên trời rơi xuống không phải tiêu phí một chút sức lực nào mà đạt được.. Năm không nhìn con vật, và quay ra lắc đầu:

– Xui …

– Sao? Cậu nói gì?

– Xui lắm cậu ơi!

– Sao mà xui. Hên chớ. Ra đường được thịt mà xui gì?

– Cậu dốt bỏ bố đi đấy! Ai đời gặp kỳ đà mà hên?

– Thế xui à?

– Xui chớ còn gì nữa.

– Xui làm sao?

– Thì xui tức là nay mai mình sẽ gặp việc chẳng lành chứ còn làm sao nữa.

Tôi lặng thinh. Tôi cũng có nghe nói về những chuyện “kỳ đà cản mũi” cản lái cản lái, gặp kỳ đà là mần ăn không khá. Ra đường gặp kỳ đà nếu đi mần ăn thì người ta sẽ quay về nhà ngay không đi nữa.v..v… nhưng trong lúc thèm ăn này tôi chỉ nghĩ tới ăn, đâu có nhớ những chuyện mơ hồ đó. Nhưng khi nghe Năm Cà Dom nhắc thì tôi tỉnh ngộ ngay. Tôi hỏi:

– Vậy bây giờ làm sao?

– Ai biết làm sao bây giờ.

– Thôi kệ nó, cứ đem về làm thịt rồi sẽ hay.

-Để xem!

– Xem cái gì nữa bề nào mình cũng “gặp” nó rồi. Vứt nó đi cũng không có nghĩa là tống cái xui đi khỏi chúng mình. Cứ ăn như thường lệ.

Năm Cà Dom cứ ngập ngừng mãi không chịu quả quyết đem con kỳ đà về. Tôi bảo:

– Cậu cứ ăn đi, xui tôi chịu cho!

– Cậu cứ nói tướng!

– Chứ vứt nó đi à? Cậu không ăn thì tớ ăn.

– Tớ đã từng trông thấy rồi mà. Cậu sao kỳ quá!

– Trông thấy cái gì?

– Một tổ công binh đi đánh tàu! Vừa bơi xuồng ra sông là gặp kỳ đà lội qua sông. Thằng tổ trưởng cứ đi, nhưng một thằng đề nghị bỏ kế hoạch. Thằng tổ trưởng không nghe cứ đi. Thằng đội viên này nhảy lên bờ trở về. Hai thằng kia đi chết hết trọi.

Tôi nghe cũng ớn quá. Không biết tại sao bác sĩ là người của khoa học mà hắn lại tin dị đoan ghê thế. Nó làm cho tôi nản lòng. Tôi nói:

– Vậy mình đem nó về bịnh xá làm thịt ăn chung.

– Chi vậy?

– Cho có nghĩa là… mỗi người chịu một chút cái cục xui đó!

– Chịp! Khổ quá? -Năm Cà Dom ngước nhìn cái nhánh cây cao trên đầu và nói – kỳ cục thế nó đeo sẵn trên đó mà chờ mình đi ngang rồi buông tay rơi xuống đầu mình. Thế mới khổ!

– Thôi, cứ thế. Đi!

Tôi hăng hái bước lại xách chú kỳ đà lên. Trông gớm quá. Da nó đen nâu có đốm rằn vàng, đuôi nó có gai, như đuôi sấu, da nó sùi lên cũng giống da sấu, hay nói quách ra là nó giống như một chú sấu con.

Coi vậy mà nặng ra phết. Tôi ước chừng trên năm kí lô! Trời ơi! Năm kí lô thịt gà (như Năm Cà Dom nói) trong lúc này vì tin dị đoan mà phải đi mời mỗi người ăn một chút thì uổng quá chừng.

Năm Cà Dom đốn một nhánh cây xỏ vào hai đứa khiêng đi. Năm Cà Dom dặn tôi:

– Đi vô tới bệnh xá, thăng Cường nó có hỏi kỳ đà ở đâu thì cậu nói là chúng mình đuổi bắt trong một cái thân cây mục nghe.

Tôi hỏi:

– Tại sao vậy?

– Tại vì nếu nói thật, tụi nó không ăn thì mình gánh hết sự xui xẻo đó.

– Được rồi. Để tớ bịa chuyện cho tin nó ăn mà phải mang ơn mình.

Cái bệnh xá hôm nay trông càng thê thảm với những dãy thương binh nằm làng khang trong rừng . Màu bông băng trắng thấp thoáng qua những kẽ cây rừng như những mảng tuyết trong đồi cây ở Âu Châu mùa đông.

Chúng tôi đến gặp ông bạn Cường chẳng khó khăn gì. Cường rất mừng. Có lẽ Cường bị cái bệnh cô đơn vây riết, mà bác sĩ tài ba mấy cũng không phương trị.

Cường hỏi ngay lý do chúng tôi có con kỳ đà. Tôi cố dựng lên một câu chuyện đầy chi tiết, nhưng đâu cần phải nhiều đến thế. Cường tin ngay.

Cường nói:

– Ở đây cái thứ này tụi tôi bắt được hoài.

– Thiệt hả?

– Ở rừng mà! Con gì cũng to. Có nhiều con to như những con quái vật thời tiền sử. Có những bộ xương voi như xương “ma mút!” Xương đầu to bằng mặt ghế sa lông!

Tôi hỏi tiếp:

– Nhưng kỳ đà là anh săn được hay…

– Săn cũng có, gặp bất ngờ cũng có!

-Thế anh gặp mà không sợ xui à?

– Ban đầu thì cũng có hơi ngán nhưng sau rồi không kể nữa. Đói bỏ bố gặp thịt thì cứ mần cái đã, xui đâu không biết.

Thế là tôi nhẹ nhõm trong người, nhưng chưa nói ra vội.

Năm Cà Dom bảo:

– Thế thì làm thịt đi! Làm gì ăn?

– Kho chớ làm gì? Ở đây mà làm gì được?

Cường gọi một cậu cần vụ bảo hắn làm. Còn bọn tôi thì đi nấu nước châm trà uống rồi ngồi nói dóc.

Năm Cà Dom hỏi ngay:

– Này, có mấy cha ba Tàu qua đây nữa à?

– Có chứ. Nó đi nghiên cứu sốt rét đó ta! Nó xin mấy đứa con gái y tá của tớ theo nó để dành bắt muỗi đòn xóc đấy.

– Bắt thế nào?

– Đại khái bắt như mình bắt gà, nhưng nhẹ nhàng hơn. Bắt sống nguyên rồi rộng vào một cái chai, đem về cho các lão.

– Hay ha!

Năm Cà Dom cười:

– Thế một ngày một cô bắt được mấy con?

– Ai biết!

– Nói với các lão ấy, nếu các lão lập trường vững thì cứ cởi quần ra cho muỗi cắn rồi bắt lấy nó. Đó là cách nghiên cứu thiết thực nhất! Mẹ kiếp! Cậu cho tớ xin một cô đi theo bắt muỗi đòn xóc coi.

Cường nói:

– Được rồi!

– Thiệt không? Năm Cà Dom hỏi gặn.

– Cậu hãy tự hỏi cậu có muốn thật không đã.

– Há há há… Năm Cà Dom phá cười vang lên cả rừng. Thiệt chớ! Hì hì, thế ra cậu luôn luôn bắt mấy cô em đi bắt muỗi đòn xóc cho cậu phải không?

– Cái đó mà hỏi làm gì. Tớ chỉ sợ cậu không dám thôi.

– Sao không?

– Được rồi. Cậu cứ chuẩn bị “đòn xốc ” kẻo cô ta đến bắt rồi nó thun mất đấy.

– Úy! Mình hô khẩu hiệu chớ!

Năm Cà Dom nói tiếp:

– Nhưng cậu phải cho chút “tét-tốt-tê-rôn “để cho chú muỗi giương cái đòn xốc lên khi cô ta chạm tới nó chớ?

– Thì có cả con kỳ đà đó bổ ra phết còn đòi gì nữa.

Bác sĩ Cường lại nói:

– Nói đùa chứ hại thân lắm ông Cà Dom ạ! Ông nên nhớ rằng tuổi thọ của con a-nô-phen không có dài lắm. Nhất là sau khi nó chích người ta xong là nó chết.

Ở đây con người cũng vậy. Chích xong là sức khỏe sụp xuống ngay không có gượng dậy nổi đó. Rồi nếu mà sốt rét thương hàn ập xuống là câu quỵ luôn hiểu chưa. Chứ ở đây không thiếu cái món ấy đâu. Ở rừng bọn “fê-mi-ne” nó khỏe hơn giống “mát-cu-le” chúng mình mà. Cho nên mặc dù chúng nó vẫn sốt, nhưng chúng vẫn cứ khỏe như thường! Còn bọn mình càng sốt càng gục xuống.

Năm Cà Dom ngồi nghe, không cãi lại. Riêng tôi thì tôi thấy bác sĩ Cường nói rất đúng, đúng từng tí một. Tôi cười:

– Đó là ông bác sĩ nói kinh nghiệm bản thân đấy nhỉ?

– Chứ sao! Đó là thói quen nghề nghiệp. Chúng tôi chỉ nói kinh nghiệm cho người khác khi những kinh nghiệm đó được đúc kết, có khi rằng chính bản thân mình.

Tôi nói.

– Thế ra ông bác sĩ Cà Dom chưa được vỡ lòng trên đường Trường Sơn này à?

– Đúng!- Cường tiếp- Ông Cà Dom làm hùm làm hổ vậy thôi, nhưng để rồi xem, ổng sẽ hắt hơi ba, bốn ngày liền và sẽ chửi rằng tôi hại ông bỏ xác trên đường Trường Sơn này.

Cà Dom gạt ngang:

– Đường đường một đấng như ông Cà Dom mà lại chịu thua đám phờ-nờ đó à?

Cường gật gù:

– Trông ông Cà Dom hăng lắm! Nhưng lửa sẽ thử vàng ông bạn ạ!

Rồi Cường sang chuyện khác:

– Hôm nay tôi sẽ mời thêm ông bạn vàng của tôi tới ăn thịt kỳ đà cản mũi chơi nhé!

– Ai đó? Cà Dom hỏi.

– Một ông đại úy và một ông thiếu tá. Ông thiếu tá tên là Kim còn ông đại úy thì tên gì không rõ nhưng thấy gọi anh Bảy. Hai người là bạn nhau. Cả hai đều là bệnh nhân của tôi.

Tôi hơi hồ nghi. Tôi bèn hỏi:

– Hình dáng của ông đại úy kia ra sao?

– Da trắng hơn dân Miên một tí. Răng thì cái nọ xéo cái kia. Mồm nói không để kéo da non.

Tôi biết ngay là anh Bảy nhà tôi rồi. Vì đứng về hình dáng còn có thể lẫn lộn chứ đứng về hai nét độc đáo vừa kể thì không ai có thể có như anh Bảy.

Nhưng tôi hãy làm thinh cái đã, xem ông bác sĩ Cường nói tiếp làm sao. Cường tiếp:

– Mới hôm đầu anh ta vào trình giấy thì tôi không xem nhưng anh em kể lại thì anh ta có cái giấy ba bốn gạch loại A chi đó. Rồi sau đó, thì anh ta nhìn ông Kim là bạn rồi thì anh ta mắc võng nằm bên cạnh ông Kim là bệnh nhân cũ của tôi.

Một hôm tôi xuống láng thăm bệnh thì bắt gặp anh ta khoe với ông Kim mấy tấm ảnh phụ nữ rất đẹp toàn diễn viên xi nê Hà Nội cả. Anh ta bảo rằng đó là những người yêu của anh ta, nhưng hiện nay đã cắt đứt. Chỉ còn lại một cô đẹp nhất. Và cô này đang đi ở phía sau. Anh ta đi trước chuẩn bị chỗ cho cô này tới nghỉ ngơi và dưỡng sức cặp chân, vì cô này là diễn viên “ba lê số dách la mã của Hà Nội!

Cường tiếp:

– Anh ta nói vậy thì tôi tin vậy. Nào tôi có biết anh ta là ai ? Nhưng thấy anh ta thân thiện với ông Kim thì tôi cũng vui lòng nghĩ rằng anh ta là hạng người chơi được. Nhưng chỉ được vài hôm thì anh ta lại tìm cách làm quen với mấy cô y tá, rồi bắt mối thân thiện với một cô đẹp nhất ở đây. Tôi cũng không rõ hai bên đã hẹn hò với nhau những gì chỉ thấy một hôm anh ta lên xin phép tôi ở lại đây công tác luôn.

– Thế bỏ bố chưa! Năm Cà Dom kêu lên thích thú. Rồi người yêu của anh ta sắp đi tới thì làm sao?

– Tôi cũng không rảnh trí đâu mà nghĩ tới chuyện đó.

Tôi hỏi:

– Hiện giờ thì câu chuyện đến đâu rồi ông bác sĩ?

-Tôi vẫn còn treo ở đó. Nếu anh ta bệnh không đi nổi thì ở lại đây công tác, tôi vẫn sẵn lòng. Chuyện đó đâu có hại gì.

– Nhưng nhở cô “ba-lê” vô tới phá nhà ông thì sao?

– Tôi biết là ông ta nói láo, nói để khoe khoang tài chim gái của mình thôi chớ chẳng cô nào yêu anh ta. Vì theo tôi thấy, cái anh chàng này trông khó thương quá. Để chốc nữa tôi rủ lên chơi cho các bạn biết thêm một ông đại úy trên đường Trường Sơn này.

Tôi hơi lùng bùng lỗ tai, trước nhất vì hắn chạm đến danh dự của Thu cố nhiên là danh dự của tôi. Kế đó là vi tư cách của hắn. Đi đâu cũng nghe tiếng của hắn. Trường Sơn rộng thế mà ở đâu cũng có những giai thoại về Bảy Việt. Khi thì tôi nghe câu chuyện Bảy Việt, nhà viết kịch bản phim nổi tiếng của Xưởng Phim Hà Nội, do một anh giao liên kể, khi thì tôi nghe chuyện Bảy Việt nhà văn kiêm nhà thơ có rất nhiều tác phẩm.

Lúc tôi và Thu chuẩn bị qua con sông “Bến Hải thứ hai” dưới ánh pháo sáng của máy bay thì Việt đã lẩn trốn vì Việt sợ phải dìu dắt một người con gái dù là đồng đội của hắn, bị hắn tán nhưng không yêu hắn. Hắn tìm đường đi sấn tới trước để tự do nói láo bịp người và vừa bắt giao liên phục dịch vừa xin xỏ của họ được chút nào hay chút ấy. Việt biến mất tăm luôn cho đến bây giờ. Tôi không thấy thiếu hẳn, nhưng chẳng ngờ bây giờ tôi lại gặp hắn. Tôi thấy hắn là thừa. Đó là điều khổ tâm cho tôi hết sức, nhất là tôi vừa nghe những chuyện lếu láo của hắn ở đây.

Cường gọi cậu cần vụ lên hỏi chuyện làm thịt con kỳ đà. Nhưng cậu cần vụ đã trả lời rằng cậu ta không dám làm thịt nó vì sợ xui xẻo dính vào người.

Té ra nãy giờ con kỳ đà vẫn còn sống nhăn.

Nhưng Cường vẫn vui vẻ bảo cậu cần vụ:

– Mày tệ quá. Không dám làm thì nói ngay. Nhưng tao làm thì mày có ăn không?

– Dạ ăn ạ!

Cả đám chúng tôi cùng cười vui vẻ.

Cường bảo:

– Thế mày mời thằng “Úm Ba La” vô đây cho tao.

Tôi vừa định hỏi Cường thằng nào mà lại có cái tên kỳ cục vậy thì Cường đã nói ngay:

– Anh em đặt cho nó cái tên khôi hài đó là vì lúc nào nó cũng nhảy chân sáo và hát “úm ba la”. ” Nó bị sốt ác tính dọc đường, nhưng cái tổ tam tam của nó đã bỏ nó mà đi. May nó không chết cho nên nó cứ nhớ cái kỷ niệm tốt đẹp đó mà hát luôn mồm, vừa hát vừa nhăn mặt nhăn mũi và lắc đầu “úm ba la.”Cường vừa định quay vào gọi thằng Úm Ba La thì nó đã xuất hiện ngay kia rồi, trước mặt chúng tôi.

Một con người hay con ngợm vậy nhỉ?

Giữa cái khí độc Trường Sơn này mà Úm Ba La lại ở trần mặc quần đùi, tóc nó xõa xuống quá vai, mặt mũi tối sầm với hai con mắt như hai cái giếng sâu mà ở dưới tận đáy giếng có thắp hai ngọn đèn cầy hắt hiu vì không đủ dương khí. Cổ nó đeo lủng lẳng một cái nanh heo rừng.

Hắn quắc mắt nhìn chúng tôi với vẻ giận dữ

– Nhìn gì? Đào ngũ đây, nói gì? Hả?

Làm như chúng tôi sắp sửa quát mắng hay nói những lời khinh miệt hắn! Nhưng Cường đã bảo:

– Đừng vô lễ, Úm Ba La, bạn của anh đấy em. Bây giờ anh có việc này cần em giúp tí.

Úm Ba La rụt chân lại thành thế đứng nghiêm và giơ tay chào Cường với vẻ cung kính thực sự.

Cường bảo:

– Anh có con kỳ đà, em đi làm thịt dùm và nấu nướng mang đến đây cho anh đãi khách. Nhanh lên em!

– Rõ! Úm Ba La lại chào và quay lui, biến dạng nhanh như sóc để lại cả một sự ngạc nhiên cho tôi và Năm Cà Dom.

Lại một nhân vật đặc biệt trên đường Trường Sơn. Hắn làm cho tôi nghĩ đến những con xà-niên mà ngày xưa tôi đọc thấy trong các truyện giải trí không biết có hay không, nhưng đã để lại trong đầu tôi một ấn tượng không phai nhạt . Thằng này chỉ khác xà-niên là vì hắn không có lông lá đầy mình.

Cường giải thích thêm cho chúng tôi về nguồn gốc của Úm Ba La như sau:

– Sau khi thoát cơn ác tính, Úm Ba La từ từ phục sức lại. Quả thật trời đẻ trời nuôi. Thằng bé bò đi xuống suối uống nước rồi nằm luôn bên bờ suối chịu một cơn mưa không bò về lều nổi. Thế mà vẫn không chết.

Rồi hắn lê đi, hắn không nhớ là hắn đã ăn những thứ gì mà khỏe lại. Hắn nhìn chung quanh, không thấy ai cả. Thì ra người ta đã đi hết cả từ lâu rồi. Bởi vì khi trí khốn trở lại với hắn nên hắn nhớ tất cả . Hắn thấy không còn một vết chân mới nào chung quanh hắn.. Bản năng tự vệ của hắn đã dựng hắn dậy. Hắn gióng hướng và cắt rừng đi đi mãi. Sau cùng hắn gặp một đơn vị, nhưng hắn đã bắt đầu thù hận, cho nên hắn không nhập vào đơn vị mà hắn bò vào ăn cắp gạo muối, ăn cắp ba lô. Không phải tự nhiên mà hắn làm như vậy, mà chính cái cuộc sống thực tế Trường Sơn đã dạy cho hắn những việc đó. Nói rõ ra là trên con đường này vô số vụ mất cắp xảy ra hằng ngày ngay cả trong những đơn vị “anh hùng” chống Mỹ.

Hắn thấy ăn cắp là cách sống khoẻ nhất và không phải đi đâu cả. Muốn làm gì thì làm. Hắn trở thành tên ăn cắp chuyên nghiệp. Với một khẩu AK đầy đủ đạn và trang bị của một cán binh đi Nam, hắn không thấy sợ ai.

Cường tiếp:

– Đại khái như thế. Cho đến một hôm hắn lột hết lương thực của một đồng đội của hắn bị sốt nặng mê man nằm bên đường. Hắn không suy nghĩ gì cả. Hắn lấy ngay và ăn ngon lành không chút ân hận. Hắn chỉ nghĩ: “Nếu tao sốt nằm ở đây như mày mà mày bắt gặp thi mày cũng sẽ làm như tao làm đối với mày bây giờ!” Đó là lương tâm của hắn.

Cường tiếp:

– Rồi đến một hôm hắn mò vào bệnh xá của tớ. Lúc trước ở một địa điểm khác. Chao ôi ! Hắn mò vào tận kho. Hắn tha hồ quơ. Nào đậu xanh, đường sữa những thứ mà trên Trường Sơn này không ai có nổi. Hắn ăn quen lại mò vào. Và lại tha đi cạn cả cái kho của bệnh xá. Ban đầu thì tớ hồ nghi anh em nhân viên, nhưng sau khi dò xét thì thấy có vài món đồ rơi vãi xa xa ngoài bệnh xá.

Tớ kết luận là có một kẻ từ ngoài vào. Nhưng xem kỹ lại thì gần đây đâu có cơ quan nào. Cũng không có đơn vị nào đóng gần. Tớ bèn cho bố trí canh phòng và cuối cùng là tóm được hắn. Anh em giả cho hắn một trận nên thân. Tớ cũng giận, nhưng tớ không cho đánh nữa. Tớ bảo cởi trói, cho ăn uống và gọi hắn lên nói chuyện. Hắn đã kể cho tớ tất cả quá trình của hắn mà tớ đã kề lại cho các cậu nghe.

Tôi hỏi:

– Nhưng sao bây giờ hắn ở dưới trướng của cậu?

Cường vui vẻ đáp:

– Đó là một cái lối xài người của mình. Sau khi nói chuyện với hắn tớ thấy hắn rất thông minh, suy nghĩ rất sâu sắc và hoạt bát nữa. Cậu nghĩ, hắn ta đã học hết lớp mười. Rồi bị động viên. Hắn không chịu đi, nhưng người ta nói chỉ đưa hắn đi vài tháng rồi cho về. Thế là hắn đi. Vô tới Trường Sơn chỉ hai tháng là bị sốt ác tính như tôi vừa kể. -Cường tiếp – Tôi bắt hắn ăn cắp quả tang nhưng làm gì hắn bây giờ l Giết hắn ư? Mình không có quyền. Đuổi hắn đi ư? Chắc chắn hắn sẽ quay trở lại, ngựa quen đường cũ chi bằng đối xử nhân đạo thì mình sẽ được một đứa đỡ tay chân cho mình, hai là hắn sẽ không phá mình nữa.

Năm Cà Dom gật gù:

– Thằng khôn thật.

– Đấy! Bây giờ tôi bảo gì nó cũng nghe. Và nó không bao giờ phá phách tôi. Có hôm tôi hỏi thật hắn, nếu sau trận đòn đó mà tôi xử tệ với hắn thì hắn sẽ trốn, và nhất định hắn sẽ trở lại để đốt bệnh xá và “để” cho tôi một băng AK làm kỷ niệm… Ghê gớm chưa?

Tôi lắc đầu:

– Không bao giờ tôi tưởng tượng nổi rằng trên Trường Sơn này lại có một nhân vật giống như King Kong như vậy.

Chập sau Kim và Bảy Việt đến.

Cường giới thiệu Kim với chúng tôi:

– Ông này có sáu cây K54 trong ba-lô. Ổng mới cho tớ một cây đây. K54 ở đây rẻ lắm, một hộp ruốc chà bông, vài hộp sữa, nửa ki-lô đường là có thể đổi được với ổng ngay một khẩu. .

Kim cười:

– Tôi mang vô Nam cho mấy chả. Nhưng dọc đường ốm đói quá phải tùy cơ ứng biến. Thế thôi.

Cường nói thêm:

– Ổng đi xe hơi đấy các bạn. Ông nào muốn đeo vè thì đeo.

Kim xua tay:

– Thôi thôi, xin van!

– Sao vậy? Làm hiểm quá!

– Không phải đâu nếu các cậu muốn đi xe hơi thì phải làm ba việc mà ở đây thì không thể làm được. Thứ nhất là cặp thêm một cái thanh sắt sau xương sống mình. Thứ hai là phải đội thêm một cái gối bông dày hai tấc trên đầu và ngồi trên một cái gối bông khác cũng dày từng ấy. Vì sao? Vì xe chạy giằn, nó xốc, đầu các cậu sẽ đội vào mui xe vỡ ra, đít các cậu hổng lên rơi xuống, xương sống các cậu sẽ quẹo và đít các cậu sẽ tà . Vì thế tôi đã bỏ xe hơi mà lội bộ đây. Lội bộ tuy vất vả nhưng chắc sống hơn. Còn đi xe hơi các bạn lo ngay ngáy, xe lật lúc nào không biết. Lại còn máy bay đuổi các bạn không thể nhảy trốn được . Đấy, các bạn có đi thì xin mời?

Cả tôi và Năm Cà Dom le lưỡii lắc đầu:

– Thôi thôi xin kiếu.

Cường hỏi tôi:

– Cậu có quen với ông bạn này không?

Tôi ấp úng chưa biết trả lời thế nào cho hợp tình thì Việt đã vọt miệng đáp ngay:

– Chúng tôi quen từ Hà Nội, trong nghề với nhau.

Rồi Việt hỏi tôi:

– Thu đã khỏe chưa anh?

– Thu nào cơ?

– Thu. . Thu ấy mà!

Cường hỏi tiếp:

– Có phải người yêu của ông đại úy không?

Tôi vọt miệng đáp:

– Người yêu của ông đang đi ở đằng sau, nhưng nghe tin ông sắp xây dựng với một cô y tá trong bệnh xá này nên…

Tôi ngập ngừng một chốc. Tôi định nói: “nên cô ta quay trở lại,” nhưng nói thế càng giúp sự thuận lợi cho thằng đểu cho nên tôi sửa lại ngay.

– Cho nên cô ta quyết đi vượt trạm, vô tới đây chắc có một trận ác chiến rền trời.

Cường nhìn Việt. Việt lấm lét nhìn tôi. Có lẽ hắn không hiểu tại sao tôi lại biết tỏng hết cả bí mật của hắn. Nhưng hắn vẫn cứ bình tĩnh để xoay nước cờ:

– Tôi có người yêu nào đâu mà anh nói vậy!

– Sao không có. Tôi gầm lên. Chẳng tin ông bạn đưa cái bóp ra đây. Trong đó có năm, sáu tấm ảnh phụ nữ Hà Nội. Cô nào đẹp nhất là vị hôn thê của ông bạn đấy mà!

Viên đại úy cười dả lả chữa ngượng:

– Anh theo phá em hoài. ..

– Tôi đâu có phá cậu. Đó là cậu tự phá cậu thôi chớ.

Cũng rất may là con kỳ đà lại tái xuất hiện, nhưng lần này với một hình dáng khác hẳn. Hắn nằm gọn trong những cái dĩa nhôm dưới hình thức những cục vuông cục tròn, xương nạc và da lẫn lộn, khói bốc lên nghi ngút.

Bác sĩ Cường mời:

– Thôi chúng ta cầm đũa. Ai ăn kỳ đà có gặp xui xẻo xin đừng đổ thừa cho tôi.

Tôi nói:

– Không sao đâu bác sĩ! Cái xui do chú kỳ đà này mang lại tôi đã gặp rồi. Chắc chắn sau bữa ăn này, cái xui đã lùi lại sau lưng tôi.

Kim nói bằng giọng độc địa:

– Theo như ông bạn này (tức tôi) vừa nói thì ông đại úy không nên nên ăn thịt con kỳ đà này.

– Tại sao? Việt đang gắp một cục thịt khá to ngừng tay hỏi.

– Tại sao chắc cậu biết rồi. Sự xui xẻo đã đến bên lưng cậu rồi đó Cậu hãy chặn cái xui kia lại, nếu để cho nó đến thì đổ nợ ra cái trạm xá này ngay.

Việt nuốt dở cục thịt, Kim cười và nói tiếp:

– Đấy thấy không, cậu bị nghẹn mà. Khéo chứ nuốt không trôi đấy! Thôi nên xơi một cục thôi. Cục thứ hai nó sẽ nằm tại cổ họng cậu!

Việt lúng túng cố nuốt cho trôi cục thịt và nói:

– Xui thì chịu xui chớ tôi biết làm sao bây giờ?

Kim nói:

– Xui thì phải xả xui chớ!

Năm Cà Dom gạt ngang và hỏi:

– Ăn thế này không có “nước ngược” à Cường!

– Không có! Ở đây tìm ở đâu ra?

– Cậu có mà không biết dùng.

– Ở đâu?

– Lấy alcool đốt đèn ra pha một ít nước vào. Thế là thành rượu thượng hảo hạng ngay. Ở Hà Nội tớ đã từng pha cồn chín mươi độ uống rồi mà!

Cường mang ra một chai. Năm Cà Dom rót cả vào bi đông rồi lấy nước lã pha vào liệu cho vừa liều lượng mà dạ dày chấp nhận được. Thế là Cà Dom rót ra mời khách.

Bữa tiệc kỳ đà đâm ra vui vẻ, rộn rịp, rùm beng hằn lên vì cái mớ cồn pha nước lã của Năm Cà Dom.

Tiệc xong tôi bảo Cường gọi cậu Úm Ba La lên cho tôi nói chuyện. Ai cũng tìm chỗ nghỉ. Chỉ còn tôi và Úm Ba La. Tôi mắc võng nằm. Úm Ba La ngồi bên đầu võng của tôi. Tôi hỏi ngay:

– Bây giờ cậu muốn gì? King Kong? ấy chết. Cậu muốn gì Úm Ba La?

Úm Ba La cười khảy:

– Anh cứ gọi em là King Kong cũng được mà!

– Em biết King Kong à?

– Biết chứ.

– Anh gọi em thế em không buồn à?

– Không. Em cũng thấy em đúng là một thứ King Kong Việt Nam sinh sống ở Trường Sơn này… Em không thể trở thành loài người khỉ kỳ quái đó, nhưng em bây giờ rất giống King Kong. Em đã trở thành một loại người rừng. Nếu không nhờ anh Cường thì em sẽ trở thành một tên thổ phỉ giết người và làm mọi sự bất nhân không gớm tay.

– Tại sao vậy? Tôi hỏi.

-Em thấy cuộc đời tàn nhẫn với em quá đỗi. Em là thằng học sinh lớp mười biết gì đâu. Thế mà sau một cơn thoát chết, em cảm thấy hận đời và em nhất quyết trả thù đời.

Nếu như anh Cường xử tệ với em thì nhất định em sẽ trốn thoát rồi sẽ trở lại bệnh xá, một đêm nào đó, em sẽ lia một băng, đúng một băng vào mùng anh ấy rồi sau đó nổi lửa đốt tất cả các láng trại.

Tôi hỏì:

– Bây giờ em muốn gì?

– Em nhất định sẽ trở về với thầy mẹ. Em không đi đâu cả. Em không nghe lời ai nữa cả. Em chỉ nghe theo tiếng gọi của thầy mẹ em. Khi em đi, thầy mẹ em khóc bảo em trốn đừng đi nhưng em nghĩ làm như thế là hèn. Bây giờ đi vô tới đây em mới thấy ân hận ! Giải phóng cái chó gì. Em không biết miền Nam đâu là đâu cả Không biết người miền Nam có cần mình giải phóng hay không mà mang thây vào đó, bỏ thầy mẹ em ở ngoài Hà Nội không ai chăm sóc. Chỉ còn người chị gái, mà. ..

Em biết em mất rất nhiều nhân tính. Anh đã đi đến đây trên con đường này rồi, anh xem có ai còn nhân tính hay không? Em sốt suýt chết mà đồng đội của em bỏ em như thế. May mà em còn sống . Nếu em chết ở giữa rừng thì ai biết ? Bây giờ em nhất định không đi vô nữa. Em nhất đinh một bước cũng không đi. Em phải trở về dù trên đường về em có chết em cũng cam nhắm mắt. Em có ngựời yêu. Anh xem, bỏ cô nàng mà đi, rồi thân thể ra thế này. Vô lý! Vô lý! Vô lý! Em không nhận được của cô ta bức thư nào cả Em biết cô ta rất sầu não, vì ngoài em em ra chẳng ai có thể nói những lời làm rung động trái tim cô ta.

-Em ở phố nào?

– Hàng… Hàng Bột. .

– Bố mẹ còn đủ không?

– Còn đủ.

– Anh chị em đông không?

– Người anh cả đã chết ở Hồng Gai. Còn người chị gái thôi. Nhưng chị ấy yếu đuối lắm, mà lại hay khóc, chằng làm gì nuôi bố mẹ em nổi.

– Hiện giờ em muốn gì?

– Em thấy cần một cuốn sách để đọc.

– Sách gì?

Úm Ba La ngồi thừ người ra. Tôi có cảm giác rằng câu chuyện của tôi đã dần dần đem lương tri trở về cho cậu bé. Tôi thấy càng nói chuyện, cậu ta trở nên hoạt bát, đôi mắt láu lĩnh và cái mồm linh động hẳn lên.

Có lẽ ở đây không ai nói chuyện với cậu ta nhiều và có chiều sâu như tôi. Cường chỉ sử dụng cậu ta như một kẻ lao công. Cậu ta ngồi lâu lắc mới đáp:

– Sách gì cũng được anh ạ.

-Thế à?

– Vâng ! Sách gì cũng được miễn có chữ thì thôi. Em vô đây đã hơn một năm rưỡi, mắt nhìn toàn rừng núi, sốt rét, lá khô, xác chết, máu chảy… chứ đâu có trông thấy chữ bao giờ. Và chính em cũng không có dịp nào cầm bút viết một chữ. Mà bút đâu có mà viết ? Đôi khi em định mượn bút giấy của anh Cường để viết về gia đình một bức thư, nhưng mỗi lần nghĩ tới việc đó em thấy ngại vô cùng ngại vì hai lẽ. Một là vì phải làm một việc mà hơn một năm rưỡi qua em không làm. Anh xem hai bàn tay em đây.

Cậu bé xòe hai tay đưa ra trước mắt tôi. Những ngón tay đen thui đầy sẹo và gồ ghé như những mắc tre có tật. Nhìn những ngón tay ấy, không ai nghĩ rằng trước đây chúng đã từng cầm bút bao giờ.

Úm Ba La nói tiếp:

– Bây giờ nghĩ tới viết những dòng chữ, em thấy khổ tâm hơn bất cứ việc gì. Em cảm thấy nó mệt nhọc hơn bổ củi nấu cơm. Còn lý do thứ hai là: viết thư nhất định em phải nói về em cho bố mẹ em rõ. Nhưng nói cái gì. Trong em bây giờ có cái gì hay ho mà nói? Nếu nói láo thì viết thư làm gì ? Em không muốn làm cho bố mẹ và chị em thất vọng. Anh nghĩ xem anh nhìn xem người em thế này…

Cậu bé ngồi lặng thinh, mắt rưng rưng.

Tôi cũng thấy xúc động sâu xa về những lời tự thuật của cậu bé. Bây giờ tôi mới nhìn rõ cậu ta. Cái lớp vỏ bên ngoài kỳ quái bao nhiêu thì những tình cảm của cậu bé sâu sắc bấy nhiêu.

Mái tóc vàng hoe không phải vì bẩm sinh mà vì tắm mưa gội nắng dầm dãi gió sương quá nhiều, một năm rưỡi có thể bằng mười lăm năm trong đời cậu.

Nước da cậu ta trông càng gớm ghiếc. Nó chia làm nhiều vùng khác nhau. Da lưng thì mốc cáy, xùi lên như vảy rắn. Ngực và bụng thì thâm sịt và đầy nốt vừa nâu vừa đen. Có lẽ cậu ta đã dùng cái bộ ngực ra như cái mũi tàu để chống lại sóng gió của cái biển Trường Sơn mênh mông ác nghiệt này, cho nên nó mới nhận lãnh nhiều thành tích đến thế.

Tôi chợt nghĩ nếu bất ngờ, anh thanh niên này xuất hiện tại Hà Nội và tự giới thiệu rằng đây là người của Trường Sơn trở về thì có lẽ dân thủ đô sẽ lập tức phân hóa làm hai nhóm: nhóm thứ nhất chạy trốn, nhóm thứ hai dạng dỉnh hơn chạy ùa tới coi như coi một con ngựa rằn hay một con dã nhơn trong sở thú.

Tôi hỏi:

– Nhưng cậu làm sao mà về được Hà Nội bây giờ?

Úm Ba La đáp:

– Em chưa biết chừng nào và bằng cách nào em sẽ về được Hà Nội, vì chuyện ấy còn tùy hoàn cảnh, nhưng nhất định em sẽ về không có ai, không có cái gì, bất cứ cái gì, dù cái đó có thiêng liêng chăng nữa, cũng không thể bắt buộc em đi tới được.

Em có thể nói với anh rằng em không còn tin ai nữa cả, ngoài tin em. Em tin em vô cùng. Vì thế, em tin rằng có ngày em sẽ về được Hà Nội.

Tôi hỏi:

– Em tên thật là gì nhỉ?

– Tên là… nhưng mà,.thôi anh ạ. Người ta ở đây, cuộc đời ở đây đã đặt cho em cái tên Úm Ba La rất hay. Tây không phải Tây, Tàu không phải Tàu, nhưng em rất thích. Em đã quên đi cái tên cúng cơm của em. Đúng ra cái tên hoa mỹ do cha mẹ mình đặt không còn thích hợp với cảnh trí mọi rợ này nữa. Ở đây cái gì đẹp nhất cũng phải tiêu tan, ngay cả lý tưởng của tuổi trẻ.

– Em nói gớm thế.

– Đó là ý nghĩ thực qua cuộc sống của em mà. Anh không thể bắt em nghĩ khác được. Anh biết không, khi em tỉnh dậy sau cơn sốt dài mê man không biết bao nhiêu ngày, em nghĩ gì không?

– Em nghĩ gì?

– Em nhìn khắp chung quanh em, không có một cái gì có thể cầu cứu được cái gì đối với em cũng có vẻ lạnh lùng.

– Nhưng em tên là gì chứ.

– Tên là Hồng. Chị em tên là…

– Tên gì?

Tôi chờ đợi với cả sự ngạc nhiên sắp xảy đến với tôi. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ rằng cậu bé này là em của Thu. Tôi thấy cái mũi nó hao hao giống mũi Thu. Có lẽ trên bộ mặt con người, ngoài cái bộ răng ra thì cái mũi là bộ phận ít thay đổi nhất sau những cuộc tang thương.

– Chị em tên là gì?

– Bích.

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Té ra thằng bé không phải là em của Thu vì Thu theo tôi biết thì chỉ là Thu, và tôi cũng chưa bao giờ nghe Thu nói về một đứa em trai nào đi công tác trên con đường ác nghiệt này cả.

Tôi hỏi:

– Em có bao giờ nghĩ rằng chị của em sẽ đi vào nam và sẽ gặp em trên đường này không?

– Không.

-Tại sao không?

– Vì chị em rất yếu đuối và hay khóc lắm! Hơn nữa bố mẹ em có cho đi đâu mà đi!

-Nhưng nếu em gặp chị em đi vào nam ở đây thì em làm gì? Thí dụ như anh đây là chị Bích của em thì em sẽ nói gì?

– Không, chị Bích của em là người Bắc không thể có những ý nghĩ giống anh được, cho nên em không thể nói với anh những gì em sẽ nói với chị Bích của em trên con đường này.

– Tại sao?

– Tại vì anh càng đi vào thì càng gần nhà anh, còn chị em càng vào thì càng xa nhà. Hai người hai tình cảm, hai mục đích khác hẳn nhau.

Tôi nhắc lại vấn đề quyển sách:

– Anh có mang trong ba-lô một quyển sách, của chính anh viết. Anh định sẽ mang về tặng gia đình anh, nhưng bây giờ gặp em, ý định anh thay đổi. Anh sẽ tặng quyển sách ấy cho em.

– Ôi chao! Ôi chao! – Úm Ba La đưa tay lên cào cào mớ tóc dài cộp quến vào nhau thành mảng, như những lời nói của tôi làm động tới bộ não của cậu ta. Cậu ta lắp bắp hỏi – Sách gì vậy anh?

– Truyện ngắn.

– Chao ôi! Em may mắn quá. Cha cha!

Cậu bé xoa xoa tay. Bây giờ mà em giở trang sách ra nhìn lại những dòng chữ thì chẳng khác nào nhìn lại mặt người yêu! Em hồi hộp quá! Em mong đợi ghê quá! Nhưng sách ở đâu hiện giờ anh?

– Trong ba-lô anh.

– Đi đi lấy đi anh.

Úm Ba La đứng phắt dậy lôi tay tôi. Tôi bảo:

– Nhưng từ nay về sau, bỏ cái tên Úm Ba La đi nhé em! Hồng?

– Chuyện đó hậu xét!

Xương trắng Trường Sơn

vietmessenger.com

Xuân Vũ

Post by Sơn râu 6 Aug 2025

Kỳ 17.

Tôi không ngờ bên cạnh tôi có một ông bác sĩ Trung Hoa. Không biết ông ta đi đâu đây mà lại sốt nằm lê mê. Cùng đi với ông bác sĩ này có một ông khu ủy viên và một toán cần vụ nam có nữ có. Sở dĩ tôi biết được chuyện này là vì một hôm ông bác sĩ Trung Hoa kia đi ngang qua lều tôi và thấy Thu ngồi xem quyển sách của tôi ông ta dừng lại và nói chuyện với Thu bằng những tiếng Việt Nam khá khá mà có lẽ ông học được trước khi lên đường sang đây công tác. Ông ta hỏi thăm Thu và Thu đã giới thiệu tác giả của quyển sách. Ông ta cho biết quyển sách của tôi đã được dịch và xuất bản ở Bắc Kinh. (Nhưng tôi không được xu nào). Ông cũng tự giới thiệu ông ta là bác sĩ. Ông ta đi sang bên này để nghiên cứu sốt rét giúp cho Mặt Trận Giải Phóng. Ông ta vui vẻ nói thêm và trỏ mặt mũi, da thịt của ông ta đã xơ xác và ngoách ra vì những cơn sốt rét liên miên. Ông ta nói:

– Muỗi Trường Sơn độc lắm. Bị đốt chừng vài mũi là sốt ngay.Tôi nói:

– Diệt được sốt là thắng trận.

– Muỗi a-nô-phen đáng sợ hơn bất cứ thứ gì trên trái đất. Thế mà các anh vừa chống muỗi vừa đánh nhau thật là giỏi chịu đựng?

Tôi cười, gật gật đầu tỏ vẻ hưởng ứng lời khen đó của ông ta. Nhưng sự thực thì trong thâm tâm, tôi đã tự bảo: “lại gặp các cha đại tếu nữa rồi.”

Tôi đã từng nghe những lời khen na ná tâng bốc tới trời như thế của những đồng chí ngoại quốc đàn anh. Đại khái là khen những người miền Nam là thần thánh. Họ sang Việt Nam một tuần lễ là phải mang vợ theo rồi, còn người Việt Nam (nói rõ hơn người Nam Bộ) đi tập kết mười năm để vợ ở nhà mà vẫn chịu được.

Bây giờ tôi lại gặp sự tếu đó tái hiện lên ở trên dãy Trường Sơn này.

Tôi hỏi:

– Đồng chí sốt mãi như vậv sao?

– Không sao, tôi đấu tranh qua hết.

– Đồng chí uống thuốc gì?

– Uống thuốc thì ít, nhưng đấu tranh tư tưởng thì nhiều.

Ông bác sĩ đang nói chuyện với tôi thì có hai người thanh niên người Thượng tới. Đó là những người trong toán cần vụ của ông ta đi tìm ông ta về vì sợ ông ta đi lạc.

Một anh to tướng thân hình lực lưỡng như võ sĩ. Đặc biệt cặp chân rất to, bắp chân và đùi to bằng nhau. Một anh có cái quai hàm gần vuông như thước thợ. Hai anh mời ông bác sĩ về. Nhưng ông bác sĩ tỏ vẻ thích thú vì đã gặp tôi. Ông ta nói với tôi và trỏ vào quyển sách:

– Quyển sách này chúng tôi đã xuất bản ở Bắc Kinh, không ngờ hôm nay tôi được hân hạnh gặp tác giả! Tôi muốn mời đồng chí chụp với tôi một tấm hình và ta ghi sổ lưu niệm với nhau.

Ông bạn Tàu tỏ vẻ rất thành tâm. Nhưng tôi chỉ nhận có một điều là ghi lưu niệm. Ông ta viết cho tôi đặc nghẹt một trang giấy, còn sự chụp hình thì tôi từ chối vì mặt mũi của tôi thế này thì chẳng hay ho gì mà chụp với nôm!

Tôi còn đang loay hoay ghi lưu niệm thì anh quai hàm vuông đã bắt chuyện với Thu mà tôi nghe loáng thoáng là việc đổi đồ để lấy đường.

Tiếng “đường”làm cho tôi mất hết tinh thần để ghi lưu niệm cho ông bạn vàng.

Những người giao liên Thượng trên đường này là những tay súng, những thớt vơi. Họ tải đồ như voi, họ leo núi như sóc và họ không ăn gì ngoài nắm cơm với tro, hoặc muối và vốc nước suối mà uống ngon lành.

Mỗi người mang một lúc sáu quả DKZ mỗi quả vừa vỏ vừa ruột nặng mười lăm kí lô. Nhưng đó cũng chưa phải là những kiện tướng, những kiện tướng đeo nặng hơn thế vài. . . chục kí-lô. Và có điều rất đặc biệt là những người được bầu làm kiện tướng thì không được thưởng cái gì cả ngoài hai chữ kiện tướng. Có những người gùi cả gùi đường cát về cho bệnh nhân , nhưng không bao giờ họ nếm một miếng đường.

Họ không ăn đường, không biết vị ngọt là gì, không thèm ngọt bao giờ. Cho nên họ gạ Thu đổi đường.

Hai anh giao liên người Thượng dẫn ông bác sĩ Tàu về. Đi ngang một lạch suối, tôi thấy anh võ sĩ khom lưng, ông bác sĩ leo lên và anh võ sĩ lội một mạch qua suối rồi đi khuất.

Chập sau hai anh trở lại, mỗi người một gói đường trên tay. Chuyện mặc cả bắt đầu. Tôi thú thật rằng tôi muốn giật phăng lấy trút hết vào mồm nuốt trửng hết ngay. Vậy mà tôi phải bình tĩnh, coi.như mình xem đường không có nghĩa gì. Anh quai hàm vuông hỏi:

– Các anh có cái gì đổi?

– Khăn, quần, áo, cái gì cũng có. Tôi đáp. Tôi đã giằn lấy tôi, nếu không thì tôi đã nói phức ra rằng: “Đổi cả tôi cũng được!”

Nhưng Thu đã bảo:

– Đường đâu, đưa cho tôi coi!

Mỗi anh đưa cái gói đường của mình ra. Cái gói bằng giấy dầu, ràng buộc rất kỹ. Nhiều chỗ đường đã ướt thấm ra ngoài ngon lành như mật ong. Tôi nói với Thu:

– Thế là vừa đủ cho hai đứa.

Tôi soạn cả ba-lô quần áo, lớp cũ, lớp mới, còn lại sau cái trận đổi gà chó trong sóc cùng đi với Việt, cốt sao cho hai anh người Thượng này tìm được một món đúng ý thích ngay.

Anh có quai hàm vuôn trông thấy cái khăn sọc vừa xanh vừa đỏ của Thu, anh ta chớp lấy đưa lên mắt xem giũ giũ rồi quấn ngay lên cổ, và đưa ngay gói đường cho Thu.

Hai người nói với nhau bằng tiếng của dân tộc họ, reo mừng tỏ ý hoan hỉ vì có được một cái khăn như thế. Anh quai hàm vuông cứ cúi xuống ngực nhìn cái chéo khăn cười lên sung sướng, xong lại cởi ra cầm trên tay căng ra đưa ngang mắt rồi giơ lên soi với ánh mặt trời. Anh thanh niên võ sĩ giật lấy ướm thử vào cổ. Xong anh nói câu gì. Anh quai hàm vuông phản đối và giật lại ngay. Có lẽ anh kia bảo anh này nhường cái khăn lại cho, nhưng anh nầy không đồng ý.

Đó là cái khăn vải thô hạng bét của nhà trường phát cho mỗi đứa một vuông không biết để làm gì.

Tôi trỏ cho anh thanh niên võ sĩ cái mớ đồ của tôi, nhưng anh không chú ý mà cứ đưa mắt theo cái khăn đã cuộn chắc trên cổ của anh bạn kia một cách thèm thuồng.

Tôi cầm lấy chiếc khăn lông trắng nuốt của tôi căng thẳng tay ra và đưa ra trước mắt anh. Chiếc khăn có thể làm chăn đáp được thế nhưng anh ta không buồn xem. Anh ta hỏi tôi:

– Anh không có khăn à?

– Thì khăn đây, còn khăn gì nữa? – Tôi hơi cáu.

– Không, chiếc khăn kia kìa.

– Trời ơi! Chiếc khăn lông này giá trị gấp mười chiếc khăn sọc kia mà anh!

– Tôi không ham chiếc khăn nớ.

– Tại sao? Anh có thể dùng nó trong rất nhiều việc, quấn cổ rất ấm, tắm xong rồi lau, đêm ngủ đắp ấm.

Mặc dù tôi giải thích cặn kẻ như vậy, nhưng anh thanh niên vẫn lắc đầu:

– Tôi muốn chiếc khăn kia!

(Về sau tôi mới biết thêm rằng họ tắm xong đâu có cần lau chùi gì, họ không lạnh, cần gì khăn quấn cổ hoặc đắp trong lúc ngủ?)

Thấy tôi bí lối, Thu hỏi:

– Còn chiếc khăn của trường phát cho anh đâu rồi?

– Anh vứt đi rồi!

– Anh thiệt!

– Mang một mảnh vải như vậy để làm gì?

– Thì để làm gì anh thấy đây này.

– Ai mà biết. Hằng trăm việc lớn còn không ngờ được, huống chi việc này.

Anh thanh niên vẫn không thay đổi ý định. Anh ta cứ nhìn khăn trên cổ anh bạn kia một cách thèm thuồng. Thì ra anh ta thích màu mè loè loẹt, chứ tính ra giá thành thì cái khăn sọc kia chỉ đáng giá một phần mười của cái khăn lông.

Tôi bực quá nhưng biết rằng không thể giải thích được cho anh ta nghe. Đó là sở thích của cả một dân tộc. Tôi bèn lôi món đồ đắt giá nhất trong ba-lô tôi ra, cái áo len màu sô-cô-la giá bằng một trăm cái khăn sọc kia trao cho anh thanh niên võ sĩ và nói:

– Tôi đổi cho anh đấy!

Nhưng anh thanh niên chỉ nhận lấy một cách miễn cưỡng. Anh nâng ngang mắt rồi căng ra giở lên trời xem. Anh bạn kia cũng bước lại. Cả hai cùng ngắm nghía. Xong cả hai lại nói tiếng dân tộc của họ, rồi quay sang tôi, họ bảo:

– Áo rách hết!

Tôi và Thu cười:

– Áo mới mà!

– Đâu mà mới.

– Chịp! Khổ quá. – Tôi nói – Áo tôi mới đan để đi Nam mà. Rách đâu mà rách?

Anh thanh niên võ sĩ nói:

– Cái áo rách nhìn thấy ông trời mà! Đây anh chị lại đây coi.

Thu đem hết sự thông minh của nàng ra để giải thích cho hai anh hiểu rằng đó là len, nó thưa thớt như thế, nhưng nó đắt giá lắm. Nhưng hai anh đâu có cần đến cái “áo rách” nhìn thấy ông trời đó! Nếu tôi dè họ thích khăn sọc thì tôi đã không mang cái áo len và cái khăn lông kia ra.

Cuối cùng anh thanh niên đành nhận chiếc khăn lông mà trao cho tôi gói đường.

Tôi biết càng đi vào càng khốn khổ, cái mồm càng khô, cái bụng càng lép, cho nên đổi cho được gói đường.

Tôi hỏi:

– Đường của anh à?

– Của tôi, tôi không ăn!

– Tại sao anh không ăn?

– Tôi không biết!

– Anh không ăn bao giờ à?

– Không.

– Anh đi theo ông kia (ông bác sĩ Tàu) để làm gì?

– Để dắt đường, để cõng ổng leo cái dốc, để cõng ổng qua cái suối, để mắc cái võng cho ổng nằm, để nấu cơm cho ổng ăn.

– Còn làm gì nữa hết?

– Để giặt cái quần cái áo cho ổng mặc!

– Để che cái máy bay bắn.- Anh thanh niên quai hàm vuông đáp – Máy bay bắn là phải che.

Tôi hỏi tiếp:

– Máy bay nó ở trên trời che làm sao được?

– Nó bắn tành tành chớ! Lúc đó mình phải đưa cho ổng vô hầm rồi mình ngồi ngoài miệng hầm. Nó có bắn thì trúng mình trước.

À, ra che máy bay là thế đó!

Năm Cà Dom đi đâu về, thấy tôi đang soạn đồ đạc trong ba-lô ra như người Do Thái bày hàng ra bán ở vỉa hè. Tôi chưa kịp thuật với Năm Cà Dom chuyện đổi đường vừa qua thì Năm đã reo lên:

– À đây rồi!

– Cái gì?

– Trời đất, nếu hổm rày mà tớ biết cậu có cái này thì tớ sẽ kiếm đồ ăn lia lịa. Sao mà kính miệng quá vậy?

Năm Cà Dom vồ lấy cái máy ảnh của tôi, cái món đồ mà lâu nay tôi cũng không còn nhớ rằng tôi mang nó trên lưng. Lâu lâu, tôi lại thấy nó nặng nề như cục sắt, tôi muốn vứt nó đi, hay nói đúng hơn, tôi muốn đổi nó với giá một lon muối.

Tôi bảo Năm:

– Nhúng nước suối, dầm nước mưa, nó hỏng mất rồi!

– Sụyt! – Năm Cà Dom xua tay lia lịa. Đừng nói, đừng nói!

Rồi Năm Cà Dom rỉ tai tôi:

– Làm ăn được như thường không sao đâu.

Tôi hiểu ý của Năm rồi. Đây cũng là một cái ngón nghề.

Năm Cà Dom nói:

– Cậu không biết chớ ở Hà Nội có một thằng cha bác sĩ chích ống không cho thân chủ, vậy mà không ai phát hiện được. Ở ngoài đó, không có một phòng mạch nào của bác sĩ làm riêng tư cả. Vậy mà hễ có bác sĩ lén làm riêng là họ chơi cái kiểu đó, làm sao bệnh nhân sống nổi?

Năm Cà Dom tiếp:

– Có cái máy ảnh này thì tớ bảo đảm thức ăn cho cậu hằng ngày.

– Ở xưa này có ai chụp làm gì?

– Cậu không có nghiên cứu tâm lý. Chính trong cái cảnh này người ta mới ham chụp hình. Có một tấm hình để làm kỷ niệm về cuộc đời “cách mạng” chết đói của mình, hiểu không?

Tôi nói:

– Nhưng phim đâu còn mà chụp?

– Tớ đã bảo, chậc… không có cần mẹ gì hết. Cứ đưa cái máy ảnh đây cho tớ, tớ làm sao thì làm miễn có ăn thôi! Tớ đã tổng kết rồi! Thằng lớn thằng nhỏ đều thích chụp hình cả.

Thật là ghê gớm. Một cái anh lương thiện như Cà Dom mà cũng sanh ngụy. Ở đây, ai làm được gì để sống, để khoẻ thì cứ làm, không có kể lập trường lập bò gì cả.

Có lẽ cái con người “giữ lập trường” bền bĩ nhất là ông Chín. Và người thứ hai là ông bác sĩ Tàu đi nghiên cứu chữa bệnh sốt rét Trường Sơn. (Nghe đâu có một ông bác sĩ khác cùng đi với ông, bị sốt ác tính đem về Hà Nội không kịp chết giữa rừng. Người ta giấu kỹ lắm)

Nếu ông Chính mà gặp ông bác sĩ Tàu vừa nói chuyện với tôi khi nãy có lẽ đó là một cuộc đàm thoại vui nhất thế giới. Tôi đã bàn với Năm Cà Dom nếu còn ở lại đây lâu tôi sẽ đạo diễn cái màn “hát chập” đó.

Trận “Hang Gió”

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

July 31st, 2025

Post by Sơn râu 5 Aug 2025

Xâm nhập

9 giờ sáng. Ở khu phố chính của Thị trấn Zaker-E-Sharif.  không một ai biết từ lúc nào, ông già ăn xin, có miếng da che mắt phải, mặc áo choàng xanh, tóc râu bạc trắng, bung ra như mảng bông tuyết mùa đông, đã có mặt ở đây. Ông ngồi trên một tấm thảm dệt bằng sợi gai, 4 góc đã rách, tại đầu con hẻm vắng, sát tiệm trà “Thiên Đàng”, nơi hai bình hookah để trên cái bàn dài trước cửa với những thanh niên Ả Rập mặc áo choàng, ngả lưng trên ghế, ngậm ống hút, phì phà làn khói thơm mùi thuốc phiện. Ông già ăn xin chơi đàn hơi, một nhạc cụ dân gian của Afghanistan giống như đàn organ. Đàn này có miếng gỗ dài phía trước thùng, dính với miếng da có nhiều nếp gấp như một cái bơm hơi. Tay trái ông già đẩy miếng gỗ ra vô để bơm hơi cho buồng chứa trong thân đàn, tay trái ông gõ trên những phím trắng ngà như đàn piano, đánh bài dân gian “Da Zamong Zeba Watan” (Quê hương tươi đẹp của chúng ta), ông chơi bài này suốt ngày, trừ lúc nghỉ để ăn trưa. Cái lon nhôm đặt trước mặt, có khi được vài chục, mấy điếu thuốc lá Winston, hoặc bao chà là khô.

Xéo tiệm trà. Bên kia đường. Người đàn ông Ả Rập lớn tuổi đang cắt những trái cam vàng tươi, bỏ vô máy xay. Ông đổ nước cam đã xay vô thùng nhựa trong, mở vòi, rót 2 ly, đưa cho 2 đứa bé đang đứng đợi. Xuống dưới đường một đoạn. Ông Ả Rập quấn khăn đen, áo choàng trắng, đẩy chiếc xe thùng gỗ đi lên. Ông cầm cái gắp sắt, gắp giấy, lon, vỏ trái cây và rác rưới tấp dưới lề đường.

– Shalom!

Ông gật đầu chào người bán nước cam xay, Ông bán nước cam đưa tay lên nói vô máy.

– Ryan đã vô vị trí!

Ông Ả Rập, đẩy xe thùng qua đường. Chiếc xe Land Rover Defender kiểu quân đội đang chạy tới, thắng lại.

– Pin! Pin!

Người lái xe bấm kèn. Ông Ả Rập đưa tay xin lỗi. Chiếc Defender quẹo phải, ngừng bên hông nhà thuốc tây “Ali”, nơi có cái đèn hình chữ thập màu xanh lá chớp sáng. Ông Ả Rập đẩy xe thùng tới đậu sau lưng chiếc Defender. Ông lấy cái thùng sắt nhỏ, đi gắp rác dọc theo lề đường trước mặt nhà thuốc Tây. Ông trở lại chiếc xe thùng, đổ rác vô.

Tiếng Thomas trong máy.

– Ryan! Đi thẳng, qua đầu xe Defender, có cánh cửa nhỏ, là cầu thang lên lầu của tiệm thuốc Tây. Mầy đứng đó, gắp rác… Tao tới ngay!

Ông bán cam băng qua đường vô tiệm thuốc Tây ngồi xuống ghế, đợi mua thuốc. Ông già chột mắt, tóc râu bạc trắng đặt cái bao đựng cây đàn hơi xuống gần xe rác. Ông nói vô máy GPS đeo ở tay.

– Ryan! Canh chiếc xe của chủ nhà thuốc Tây, Jimmy ngồi trong nhà thuốc, coi mặt trước. Tuyệt đối không xài vũ khí… Tao! Xâm nhập lên lầu!

Thomas lách vô cửa, lột bỏ đầu tóc trắng, anh cúi xuống, bò lên cầu thang. Thomas nghe tiếng gõ trên bàn phím, tiếng Ả Rập léo nhéo qua hệ thống Video. Anh bò tới…

“Bố già” Đại tá Stefan Banach, chỉ huy trưởng lính rừng 72, nói.

– Quân báo cho biết! Taliban hiện có một nơi sản xuất bạch phiến từ thuốc phiện đen, nằm đâu đó trong các hang của vùng núi đá phía bắc thị trấn Zaker-E-Sharif. Trước đây B-52 đã thả bom phá hang, loại bom mới của không lực Mỹ xuống vùng núi đá này…

Ông chỉ tay vùng núi đá trên màn hình.

– Sau một tháng rà hết vùng đó bằng máy bay không người lái… Quân báo và không ảnh vẫn không tìm được dấu vết của nơi sản xuất bạch phiến trong vùng tình nghi đó!…

– … Nên! Bây giờ lính rừng đi tìm và đánh phá?

Thomas buột miệng.

– Chắc chắn là vậy! Còn ai ra?

Bố già cười hà hà!

– Tụi mồ côi mẹ ơi! Tụi con được sinh ra để làm việc thánh thiện này! Amen!

Ông chống tay xuống bàn.

– Thomas, Jimmy, và Ryan! Tao xin giới thiệu lần nữa… Ryan mới chuyển từ “Đội 9” của lực lượng người nhái qua. Anh là trung sĩ, chuyên viên chơi chất nổ và phá hoại hang….

– Chuyến này con trai trổ tài đánh hang!

Ông chỉ Ryan.

– OK! Ryan?

Ryan vỗ tay vô miệng như chiến binh da đỏ trước khi xung trận

– Wo…Woooooh!

Bố già tiếp.

Tranh Hồ Đắc Vũ

– Thomas, Jimmy, Ryan! Tụi con giả trang thường dân, tới thị trấn Zaker-E-Sharif. Nhà thuốc Tây “Ali” ngay phố chính, là văn phòng giao dịch, bán thuốc bạch phiến của Taliban. Ở đó có dữ kiện cho chúng ta biết nơi sản xuất nằm ở đâu, trong số hang đá trùng điệp đó!… Vậy là xong! Lính rừng sẽ được trực thăng cho quá giang tới tận hang… Và Ryan chơi cái “BÙM”!

Tìm được “Hang Gió”

…Thomas bò qua khỏi ghế dài ngay đầu cầu thang, anh ngẩng đầu. Trên chiếc bàn sắt sát tường, 5 màn hình vi tính với những số mã, dữ kiện. Người đàn ông Ả Rập đang làm việc trên bàn phím, khẩu AK báng gấp dựng ngay bàn. Thomas không muốn đổ máu… Nên thay vì dùng dao để hạ thủ anh Ả Rập. Thomas đứng dậy, bước nhẹ tới sau lưng anh ta. Hai bàn tay của Thomas, chụp đầu anh Ả Rập, xoay mạnh!

– C..rack!

Tiếng kêu nhỏ như cây viết chì bị bẻ đôi.

Thomas giữ cứng đầu anh Ả Rập, đẩy ra sau, dựa vô lưng ghế. Giống như anh ta đang nghỉ ngơi. Thomas kéo hộc bàn, lục những tập hồ sơ. Anh đóng lại, kéo hộc bàn bên kia, cũng những tập hồ sơ, không có một dữ kiện nào về nơi sản xuất bạch phiến. Thomas nhìn lên những màn hình vi tính. À! Anh Ả Rập này xài windows, Thomas rà con chuột vô dấu hiệu hồ sơ sắp một hàng dài trên khung hình. Thomas mở từng cái…

Hồ sơ nhập nhựa Thẩu, hồ sơ sản xuất nhựa, hồ sơ vận chuyển. Một máy khác là. Hồ sơ nhân viên, hồ sơ khách hàng… Thomas mở hồ sơ nhân viên: Danh sách nhân viên nhà thuốc Tây, nhân viên thu mua Thẩu, nhân viên thu hoạch và nấu nhựa Thẩu ở “Hang Gió”.

– Bingo!

Thomas chụp hình màn vi tính. Anh bấm tìm kiếm, Google maps, Zaker-E-Sharif. Bản đồ thị trấn hiện ra với chi tiết đường phố, khu dân cư, hình chụp bằng vệ tinh của con đường chính với tiệm thuốc Tây “Ali”. Thomas đánh vô khung tìm kiếm, “Hang Gió”. Bản đồ di chuyển tới vùng núi đá ở vị trí phía đông Zaker-E-Sharif và ngừng lại. Một đốm đỏ hiện ra ở núi đá. Thomas chụp hình vị trí và tọa độ.

– Lính rừng! Tao đã có vị trí của nơi sản xuất Bạch phiến! Rút hết vô sau xe Land Rover Defender. Thằng chủ đi chầu Ala rồi! Tao xuống!

Thomas từ trong cửa bước ra.

– Ryan! Chuyển hết thuốc nổ của mầy từ xe rác vô xe Defender… Jimmy bấm vị trí “Hang gió” vô GPS…

Thomas gọi về phòng chỉ huy.

– Bố già! Tụi con có vị trí của “Hang Gió”, nơi tụi Taliban sản xuất bạch phiến rồi!

– Bravo! Lính rừng!

– Vì bây giờ mới 4 giờ chiều, còn sớm!… Nên con xin lệnh bố già, cho mấy thằng con chạy tới đó tấn công luôn! Không cần trực thăng vì chỉ có 3 km phía đông Zaker-E-Sharif.

– Nhưng tụi con chạy tới đó bằng gì?… Bằng dê hay lạc đà?

– Không bố già ơi! Bằng chiếc Land Rover Defender mới tinh, kiểu quân đội của cha chủ tiệm thuốc Tây!

Chiếc Defender chạy về hướng đông. Họ không thấy anh Ả Rập chạy ra từ tiệm thuốc Tây “Ali”, Anh ta gọi phone.

Tấn công

– Giấu xe vô rừng gai! Tao thấy đồng hồ xăng còn đầy… Tụi mình sẽ lái nó chạy về trại luôn.

Thomas, Jimmy, Ryan bò lên “Hang Gió”. Thomas quan sát qua ống kính trên súng. Anh ra dấu, 3 người bò tới bên hông hang. Gió từ trong hang thổi ra từng luồng mạnh.

– Tao biết tại sao người ta gọi là “Hang Gió”!

Thomas chỉ lên hang.

– Núi đá này cao, nằm theo chiều ngang, có nhiều khe ngách thông hơi tự nhiên, nên gió luồn vô hang, thổi ra rất mạnh. Đánh chất nổ vô hang rất khó vì sức nổ sẽ bị tạt ra ngoài!

Thomas bò tới sát bên vách hang. Anh để cái xe quan sát hồng ngoại xuống đất, bấm điều khiển. Xe chạy vô hang, ánh đèn nhỏ sau lưng xe chớp màu xanh. Thomas nhìn màn hình đeo trước ngực.

– Có 2 lính Taliban gác ở đầu hang… tới cửa gỗ lớn, thêm 2 lính… Vô trong là khu vực sản xuất, rất nhiều công nhân mặc đồ ka ki xanh, khăn bịt mặt màu xanh đang làm việc…

Ryan đeo thùng chất nổ, bò lên núi đá, tới 4 khe thông hơi lớn. Anh treo ở mỗi khe 3 trái mìn chấn động. To cỡ bàn tay, đây là loại mìn mới, không đánh sập hang, nhưng áp suất chấn động của chất nổ sẽ bùng lên theo cấp số nhân, hủy diệt tất cả sinh vật, và người trong hang. Ryan bò xuống, cầm hộp điều khiển, đẩy những nút sắt lên, 4 cái đèn nhỏ, chớp màu xanh. Thomas ra hiệu, cả 3 lính rừng rút ra xa, cách mặt hang chừng 15m.

– Tạch! Tạch! Tạch!… Tạch! Tạch! Tạch!

Bất ngờ. Hai loạt AK bắn vô lính rừng.

Thomas la.

– Xe tải hướng 3 giờ!

– Tưng! Tưng! Tưng! Tưng!

Thomas bắn chận đầu xe tải. Bốn trái phóng lựu M-79 của Jimmy và Ryan bắn thẳng vô xe, chiếc xe nổ tung, lật nghiêng qua. 3 anh Taliban cầm AK, chạy từ sau xe chạy ra tấn công thẳng vô 3 lính rừng. Một anh Taliban quỳ xuống chĩa cây B-40. Thomas vùng dậy.

– Tạch! Tạch! Tạch!… Tạch! Tạch! Tạch!

Thomas xả nguyên băng M-16 vô anh Taliban cầm B-40. Anh ta té xuống, cây B-40 lăn ra một bên.  3 anh Taliban, chạy lại, núp sau xe tải. Bỗng chiếc xe tải màu đen khác, từ sau núi chạy nhanh tới, 2 anh Taliban đứng trên thùng xe với 2 anh núp sau xe tải cùng tấn công, 4 khẩu AK tuôn mưa đạn, ghìm chặt 3 lính rừng dưới đất.

– Thomas, Jimmy! Yểm trợ!

Ryan, bò nhanh qua cánh phải. Thomas, Jimmy quỳ lên, bắn cả tràng M-16 vô Taliban. Thomas, Jimmy lăn qua 2 bên, thay đạn. Ryan ném mạnh. Trái mìn áp suất văng vô xe tải bị lật. Ryan ấn nút sắt trên hộp điều khiển.

– Bùm!

Mìn nổ.

– Bùm!

Chiếc xe tải nổ.

– Bùm!

Chiếc xe tải màu đen tung lên, những mảng lửa màu cam đỏ bùng lên, như nham thạch núi lửa phun xuống.

Thomas la.

– Jimmy! Bắn Taliban trong hang đang chạy ra!

Jimmy, Thomas dồn hết hỏa lực vô 4 anh Taliban từ trước cửa hang đang bắn ra.

– Tao cần tới gần 10m, mới bấm nút được!

Ryan nói.

Anh nằm xuống, những viên đạn AK cày trên mặt cỏ sát chân Ryan, anh cố bò nhanh tới gần “Hang Gió”

– … 3 m! 6 m! 9 m!… 10 m

– Ầm! Ầm! Ầm!

3 tiếng nổ đồng loạt của mìn áp suất!

Ba người lính rừng đứng lên, nhìn vô cửa “Hang Gió”

Một cơn gió từ trong hang nổ bùng ra ngoài. 3 lính rừng che mặt tránh.

– Đúng là mìn chấn động… Không có một người nào chạy ra!

Thomas nói.

Luồng khói trắng bốc lên từ những khe thông hơi. Mùi thuốc phiện thơm lựng cả khu núi đá.

3 lính rừng tới rừng cỏ gai. Lái chiếc Defender về trại.

Thuốc

Jimmy mặt bần thần. Anh đưa ra một bao nhựa trong, bên trong đủ loại thuốc. Tylenol, trị nhức đầu, Alka Seltzer trị no hơi sình bụng, Imodium trị tiêu chảy, Mucinex trị ho… Bao cao su ngừa thai…

– Ủa? Sao có nhiều thuốc vậy?

Thomas hỏi.

– Thì mầy muốn tao ngồi trong tiệm thuốc Tây “Ali” canh mặt trước…

– Đúng! Mầy lấy thuốc của họ à?

Jimmy nhăn mặt.

– Không!

Nói tiếp

– Mẹ! Không lẽ tao ngồi trơ trơ ở đó!… Nên tao phải đứng lên mua thuốc, rồi ngồi xuống! Rồi đứng lên… mua, ngồi xuống, đứng lên… Cho họ không nghi!…

– Chúa ơi!

Jimmy lầm bầm.

– Cuối cùng thì tao mua được chừng này… Mẹ! Hết luôn tiền túi!… Bây giờ tao phải làm gì với đống của nợ này?

– Thì xài! Mầy xài… Đỡ phải mua!

Jimmy nổi cộc.

– Mẹ! Còn mấy bao cao su ngừa thai…. Thì tao xài với ai?  HẢ!

HĐV

Nhạc sĩ Thanh Bình một đời tình lỡ

baotrenline.com

Tám Vạn

March 23rd, 2025

Post by Sơn râu 5 Aug 2025

Nhạc sĩ Thanh Bình thời trai trẻ

Thôi thế từ đây cách biệt rồi

Đường đời đôi đứa rẽ đôi nơi

Từ đây vĩnh viễn xa nhau mãi

Vĩnh viễn xa nhau đến trọn đời

Em có khi nào nhớ đến anh

Chỉ xin một phút lặng sau mành

Anh từ đây sẽ không yêu nữa

Để giữ trong anh một bóng hình

(Thanh Bình)

Nguyễn Ngọc Minh với bút danh Thanh Bình là tác giả của các truyện ngắn kiêm ký giả phụ trách trang văn nghệ của nhiều tờ báo xuất bản trên đất Bắc. Tên tuổi ông được nhắc nhở qua hai cuốn tiểu thuyết thu hút độc giả thời đó là “Mưa dập gió vùi” và “Mình còn trẻ lắm”. Ở mảng âm nhạc, sáng tác đầu tay “Những nẻo đường Việt-Nam”, tác giả vẽ lên hình ảnh đẹp đẽ của quê hương đất nước trên bước đường phong sương lang bạt kỳ hồ …

“Những nẻo đường Việt-Nam

Suốt từ Cà-Mau thẳng tới Nam-Quan

Ôi, những nẻo đường Việt-Nam

Ơi, ta đắp đường làng ta

Nhắn ai đi xin chớ quên quê nhà

Con đường về thôn vui quá”

Và bức tranh quê nhà với những hình ảnh mộc mạc, gần gũi, gợi nhớ gợi thương vẫn thấp thoáng đâu đó trong khúc hát “Lá thư về làng” …

“Từ miền xa viết thư về thăm xóm làng

Sắt son gửi trong mấy hàng

Thăm bà con dãi dầu mưa nắng

Em thơ ơi, có còn học hành sớm tối

Áo nâu tươi, gái làng còn che môi cười

Và đàn bò còn nghe chim hót lưng đồi”

Tánh tình ông vốn dĩ hào hoa và cư xử lịch thiệp nên được nhiều người quý mến rồi đem lòng thầm thương, trộm nhớ nhưng nhạc sĩ Thanh Bình luôn gặp phải những cuộc sống tình cảm lận đận và tréo ngoe vì số phần không may mắn.

Hiệp định Genève cắt chia đất nước ở vĩ tuyến 17 đã đánh dấu cuộc phân ly của đôi trai gái ở lứa tuổi thanh xuân với mối tình vừa chớm nở. Hình ảnh người con gái tên Hằng ở Hải-Phòng và dư âm của cuộc tình dang dở đó theo chân ông rời đất Bắc rồi dong ruổi trên bước đường di cư xuống phương Nam. Từ trên boong tàu, ông nhìn thấy người yêu đang chạy dọc theo bờ cảng và hối hả chen lấn giữa đám đông hỗn độn. Không được tận mặt nhau, không nói được với nhau câu nào là hình ảnh sau cùng của một cuộc tình không đoạn kết. Không lâu sau đó, ông được tin người yêu nơi xa bị gia đình ép gả đi lấy chồng và nhạc phẩm “Tình lỡ” với lời lẽ xót xa, nức nở ra đời như để nhắc nhở và tiếc nuối cho một cuộc tình đã xa mờ theo dĩ vãng ..

Minh tinh Thẩm Thúy Hằng trên hình bìa tờ nhạc “Tình lỡ”, tái bản 1970

“Thôi rồi còn chi đâu em ơi

Có còn lại chăng dư âm thôi

Trong cơn thương đau men đắng môi

Yêu rồi tình yêu sao chua cay

Men nào bằng men thương đau đây

Hỡi người bỏ ta trong mưa bay”

Năm 1970, hãng Vietnam Films của minh tinh Thẩm Thúy Hằng và đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện cuốn phim “Nàng” dựa trên tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Bùi Hoàng Thư. Phim với sự góp mặt của các tài tử sáng giá như Thẩm Thúy Hằng, Trần Quang, La Thoại Tân, ca sĩ Phương Hoài Tâm, v.v. và đoạt giải Tượng Vàng tại Đại hội Điện ảnh Á Châu ở Đài-Loan lần thứ 7. Nhạc phẩm “Tình lỡ” của Thanh Bình với tiếng hát Khánh Ly được chọn làm ca khúc chính (the soundtrack). Những lời ca nỉ non, ai oán đó giống như một lời tiên đoán, một định mệnh đã an bài. Bài hát càng được yêu thích thì cuộc đời của ông triền miên lâm vào hoàn cảnh trái ngang. Mãi đến năm 1973, khi tuổi ngoài 40, ông mới tạo dựng được cho mình một mái nhà êm ấm với vợ đẹp, con ngoan. Nhưng hạnh phúc đã sớm chia tay với ông khi người vợ khoác áo ra đi và để lại cho ông đứa con gái tuổi vừa lên 3 ..

“Một vầng trăng vỡ đã thôi không theo nhau

Cuộc tình đã lỡ với bao nhiêu thương đau

Hết rồi nay đã không còn gì thật rồi

Chỉ còn hiu hắt cơn sầu không nguôi”

Cuộc đổi đời năm 1975 đã đưa đời sống của ông lâm vào ngõ cụt. Hạnh phúc bất hạnh khiến cho ông luôn sống trong cảnh nghèo túng, cô đơn và bệnh tật. Người con gái không may vướng vào vòng lao lý và ông phải sống nương náu nơi người cháu ruột cho đến khi qua đời năm 2014. Tang lễ của ông diễn ra lặng lẽ, vắng mặt đứa con duy nhất và với chưa đến 20 người thân quen đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng.

Có lẽ định mệnh cay nghiệt như đã âm thầm báo trước qua những lời ca mà ông đã viết, nên mối tình trăm năm cứ là tình lỡ, và cuộc đời 82 năm của ông vẫn là đời buồn …

“Phương trời mình đi xa thêm xa

Nghe vàng mùa thu sau lưng ta

Em ơi, em ơi thu thiết tha

Ôi người vì ta qua phong ba

Có còn gì sâu trong tâm tư

Mắt lệ mờ hoen dư âm xưa”

TV

Lệ Thu