Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 29 Sep 2025

Google image edited by Sơn râu

8. Quả Bom

TRỞ lại Caracas. Thật là cả một thích thú khi tôi gặp lại thành phố sống động này.

Tôi được phóng thích đã 20 tháng, nhưng vẫn chưa hội nhập vào xã hội. Nói thì rất hay: “Chỉ cần làm việc!”. Nhưng không kể tôi không tìm ra một công việc tạm được, tôi lại không nói thạo tiếng Tây Ban Nha và vì không nắm vững ngôn ngữ nên nhiều nơi đã không nhận tôi. Thế nên tôi mua một quyển sách về văn pháp rồi tự giam mình trong buồng, nhất quyết ở riết trong nhà cho đến khi nào nói thạo tiếng Tây Ban Nha. Tôi bực bội, không cách nào tôi đọc đúng giọng, và sau vài ngày, tôi vứt quyển sách trong xó, trở lại đi quanh các đường phố, các quán cà phê, hầu tìm một người quen giúp tôi tìm công ăn việc làm.

Càng ngày người Pháp từ Âu Châu qua càng nhiều vì họ chán cảnh chiến tranh và các xáo trộn chính trị. Người thì chạy trốn một nền công lý bất ổn, độc đoán tùy thuộc xu hướng chính trị giai đoạn, người khác đi tìm cảnh yên ổn, một bờ bến dễ thở, không bị thiên hạ mỗi lúc lại bắt mạch xem quả tim đập mạnh yếu thế nào.

Tôi thấy họ không có vẻ gì là người Pháp nhưng mà họ là người Pháp thật. Tuy nhiên những người lương thiện ấy không dính líu gì đến ông cụ Charrière cùng những người tôi biết trong buổi thiếu thời. Khi tiếp xúc với họ, tôi nhận thấy vô số ý kiến khác hẳn những gì tôi hấp thụ lúc nhỏ, khiến tôi không còn hiểu gì hết. Nhiều lúc tôi nói với họ:

– Thiết tưởng có lẽ các ông không nên quên quá khứ, nhưng không nên nói đến nữa. Hitler, bọn quốc xã, bọn Do Thái, đỏ, trắng, De Gaulle, tả phái, bao nhiêu thứ khác nữa mà các ông đã phá hay dung dưỡng trong cõi lòng? Có thể nào, sau chiến tranh, trong các ông, có những người bênh vực chủ nghĩa quốc xã, chế độ mật vụ Đức hay Pháp? Tôi nói cho các ông biết: Khi các ông nói đến người Do Thái, người ta tưởng trông thấy một dân tộc trút niềm thù hận trên đầu một dân tộc khác.

“Các ông sống ở Venezuela, trong lòng dân tộc này, thế mà các ông không thể hòa đồng với triết lý vô cùng kỳ diệu của xứ này. Ở đây, hoàn toàn không có kỳ thị chủng tộc hoặc kỳ thị tôn giáo. Lẽ ra, giai cấp xã hội khốn cùng nhất, do điều kiện sinh sống dưới mức bình thường của con người, phải mang trong lòng loại siêu vi trùng về thù hận đối với hạng người được ưu đãi. Thế mà, ở đây không có thứ siêu vi trùng ấy.

“Ngay các ông cũng không thể lập lại một cuộc sống để mà sống như những người khác. Lẽ nào cuộc đời chỉ là một cuộc đấu tranh triền miên giữa những người không cùng chung một chủ nghĩa?

“Xin các ông im đi! Đừng đến đây như những người Âu Châu đầy mặc cảm tự tôn dân tộc, như những tay thám hiểm. Đúng, trung bình trình độ trí thức của các ông cao hơn quảng đại quần chúng ở đây, rồi sao nữa? Việc ấy có ích gì đâu nếu rốt cuộc các ông ngốc hơn họ? Có thể nói đối với các ông, học vấn không có nghĩa là thông minh quảng đại, nhân ái, cảm thông mà chỉ là một mớ hiểu biết do sách vở đem lại. Nếu tâm hồn các ông khô khan, ích kỷ, thù vặt, thủ cựu, những tri thức ấy không có nghĩa lý gì hết.

“Thượng Đế tạo ra mặt trời, biển cả, đồng cỏ mênh mông, rừng sâu, nhưng để cho ai? Có phải để cho các ông đâu?

“Các ông tưởng mình là chủng tộc trời định để tổ chức thế giới. Khi nhìn các ông, nghe các ông nói, tôi nghĩ rằng xuyên qua công lý của các ông, tôi chỉ là một đống rác, thế giới do hạng người khốn nạn như các ông điều khiển sẽ chỉ có chiến tranh với cách mạng dài dài. Bởi vì các ông là hạng người có lẽ chỉ mơ ước một nền an ninh công cộng nhưng với điều kiện phải phù hợp với quan điểm của các ông.

“Mỗi người đưa ra một danh sách những người cần phải tranh đấu, phải kết án, phải bỏ tù. Và mặc dù thất vọng, tôi không khỏi buồn cười khi nghe hạng người như các ông ngồi trong một tiệm cà phê hay một phòng khách nhà trọ hạng bét, công kích lung tung rồi kết luận chỉ có các ông mới xứng đáng dìu dắt nhân loại”.

Rồi tôi lo sợ, vâng, tôi lo sợ, bởi lẽ cảm thấy rõ rệt nguy cơ mà những người mới đến đem theo: chất độc nhiễm của những chủ nghĩa lỗi thời của cựu thế giới.

Năm 1947. Tôi làm quen với một cựu phạm, Pierre René Deloffre chỉ biết tôn thờ mỗi một người, tướng Angarita Medina, cựu Tổng Thống Venezuela, bị cuộc đảo chánh quân đội năm 1945 lật đổ. Deloffre là một nhân vật đặc biệt. Hiếu động, nhưng hăng say và quảng đại.

Hắn đã đem hết nhiệt tình thuyết phục tôi rằng các người kế nghiệp cuộc đảo chánh ấy không bằng đế giầy của Medina. Xin nói trống ra rằng hắn không thuyết phục được tôi, nhưng vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn nên tôi không nói trái ý hắn.

Hắn đã nhờ một tay tài phiệt, một người phi thường, tìm việc cho tôi. Anh tài phiệt tên là Alejandro. Thuộc giòng dõi thế gia ở Venezuela, anh là người cao thượng, rộng rãi, tế nhị, thông thái, thông minh, can đảm đặc biệt, nhưng phải cái tội: có một người anh đố kỵ, ngu ngốc và bất tài. Những hoạt động mới đây của anh cho thấy sau 25 năm, anh vẫn không thay đổi. Deloffre giới thiệu tôi với anh ta mà không vòng vo:

– Papillon, bạn tôi, trốn thoát từ ngục tù Pháp. Papillon đây là người tôi đã nói chuyện với anh.

Alejandro nhận tôi ngay rồi với thái độ bình dị của một vương tôn công tử, anh hỏi tôi có cần tiền không.

– Thưa ông Alejandro, tôi cần công việc làm. Dù sao, tôi thích chờ, không nên vội vã. Vả lại, thật tình trong lúc này tôi chưa cần tiền.

– Mời anh 9 giờ sáng mai trở lại đây.

Ngày hôm sau, ông ta dẫn tôi đến một hãng sửa xe mang tên Hãng “Pháp – Venezuella”, để giới thiệu với những cộng sự viên của ông. Đó là ba người thanh niên tràn trề máu nóng, luôn luôn sẵn sàng phi nước đại mà ông cầm cương, cũng không cần thắng, mới nhìn qua đã thấy rõ như vậy. Hai người đã lập gia đình. Một người có vợ tên Simone, dân Ba Lê, 25 tuổi, rất đẹp; vợ người kia tên Dédée, dân xứ Bretagne, 20 tuổi, mắt xanh biếc, trang nhã như một cành hoa tím, đã có tý nhau tên Cricri.

Cả ba người đều đẹp trai, cởi mở, không hậu ý. Họ tiếp tôi niềm nở, như thể đã quen tôi tự bao giờ. Họ đặt ngay cho tôi một chiếc giường trong một góc nhà sửa xe rộng lớn, gần cửa phòng tắm, có treo một tấm màn để ngăn cách sơ sài. Tôi có thể chân thực viết rằng đã 17 năm, đây là gia đình đầu tiên của tôi. Được nhóm người trẻ ấy yêu mến, nuông chiều, trọng nể, tôi càng sung sướng nhận thấy dù có hơn họ ít tuổi, tôi cũng yêu đời như họ, cũng ham sống không biên giới và không luật lệ.

Không cần hỏi han – thật ra nào có cần – tôi cũng dễ dàng thấy rằng không người nào đích thực là thợ máy. Họ chỉ hiểu biết thô sơ, rất thô sơ – một thoáng hiểu biết nếu tôi có thể nói như vậy – về máy nổ, lại còn biết rất ít về máy móc xe hơi Huê Kỳ là thứ xe được đem đến sửa nhiều nhất. Một người là thợ tiện, vì vậy có một máy tiện để điều chỉnh các pit-tông, theo lời hắn nói.

Không lâu tôi được biết máy tiện ấy dùng để làm lậu những bình hơi có gắn ngòi nổ.

Đối với đợt Pháp kiểu mới đến, hãng sửa xe Pháp – Venezuela sửa xe lấy có, nhưng đối với ông tài phiệt Venezuela, nó chế ra nhiều trái bom cho một cuộc đảo chính. Chuyện này không hợp với tôi tí nào.

– Trời ơi! Vụ này bày ra để ủng hộ ai, chống ai vậy? Nhờ các anh giải thích cho tôi rõ. Tôi hỏi ba anh người Pháp như vậy, một đêm, dưới ánh đèn, sau khi các bà vợ và mấy đứa con đã đi ngủ.

– Chúng tôi không cần biết. Chúng tôi chỉ làm những cái ống theo lời yêu cầu của Alejandro. Sau đó không cần biết.

– Có lẽ các anh không cần biết. Nhưng tôi cần biết.

– Tại sao? Anh được trả lương hậu hĩ, tụi mình đùa dỡn suốt ngày, phải vậy không?

– Đùa dỡn thì tôi đùa dỡn, nhưng tôi không phải như các anh. Tôi bị “quản thúc” trong xứ này. Người ta tin tôi và cho tôi được tự do.

Họ sửng sốt khi nghe tôi nói như vậy trong hoàn cảnh của tôi. Vì họ đã biết, định kiến của tôi, do tôi đã có lần nói. Tuy nhiên tôi không nói cho họ biết vụ trộm tiệm cầm đồ. Vì vậy, họ bảo tôi:

– Vụ này, nếu thành công, anh sẽ có đủ số tiền cho công việc anh định làm, hơn nữa là khác. Đối với chúng tôi, chúng tôi từng nghĩ sẽ không ở trong hãng sửa xe này đến mãn đời. Đành rằng chúng ta vui đùa, nhưng không phải một công việc làm ăn vững chãi nếu đem đối chiếu với giấc mơ của chúng tôi khi bước chân đến Nam Mỹ, chắc anh nghĩ vậy chứ?

– Còn vợ các anh, con các anh?

– Các bà xã đều biết công chuyện. Một tháng trước ngày đảo chính, họ sẽ đi Bogota.

– À, à!… Các bà ấy biết. Tôi cũng tự bảo như vậy khi thấy họ không tỏ vẻ ngạc nhiên đối với công chuyện ở đây.

Đêm ấy tôi đến gặp Deloffre và Alejandro. Tôi nói chuyện với họ rất lâu. Alejandro giải thích cho tôi nghe:

– Trong xứ tôi, Betancourt với Gallegos lãnh đạo dưới danh nghĩa đảng ngụy dân chủ A.D. (Dân chủ tác động). Họ nhận chính quyền từ tay các quân nhân ngây thơ không biết tại sao đã lật đổ một quân nhân khác phóng khoáng hơn, ông Médina, nhân ái hơn các nhân vật dân sự rất nhiều. Tôi đã im lặng chứng kiến cuộc tàn sát các cựu viên chức của chế độ Médina và tôi cố hiểu tại sao những con người đã làm một cuộc cách mạng với khẩu hiệu “công bằng, xã hội, tôn trọng tất cả mọi người, không trừ một ai”, lại trở nên tồi tệ hơn những người tiền nhiệm một khi đã nắm chính quyền. Thế nên tôi muốn góp phần đưa Médina trở lại.

– Alejandro, như thế hay lắm. Tôi cảm thông với anh, trước hết anh muốn chấm dứt các vụ khủng bố của đảng đang cầm quyền. Còn anh, Deloffre, anh có một thần tượng, đó là Médina, vừa là bạn, vừa là người che chở cho anh. Nhưng xin nhớ cho tôi điều này, đối với tôi, Papillon, chính đảng cầm quyền đã phóng thích tôi ra khỏi ngục tù El Dorado.

“Sau cách mạng ít ngày, ông tân giám đốc đến – hình như ông ấy vẫn còn tại chức – ông Don Julio Ramos, một luật sư, một nhà văn tên tuổi, ông thả tôi ra và chận đứng ngay chế độ khủng bố tàn bạo trong ngục thất. Thế mà các anh muốn tôi tham dự vào một âm mưu chống lại các người ấy? Không, các anh để tôi đi. Các anh cũng biết các anh có thể tin tôi rất kín miệng”.

Alejandro vốn là một tay hào hiệp, biết rõ hoàn cảnh khó khăn của tôi, nói:

– Henri, anh không làm các quả bom, anh không làm việc tại máy tiện. Anh chỉ lo sửa xe và đưa các dụng cụ khi cần. Thế thì anh ở lại một thời gian nữa. Chính tôi yêu cầu anh điều này, tôi hứa với anh và anh nên tin chắc như vậy, rằng là khi chúng tôi hành động, anh được báo tin trước một tháng.

Rồi tôi ở lại với ba thanh niên, tôi không nói hết tên của họ, mà chỉ gọi bằng những chữ đầu: PL, BL, và JG. Cả ba hãy còn sống. Chúng tôi trở thành một nhóm ghê gớm, luôn luôn có nhau sống như ngựa buông cương, đến nỗi Pháp kiều ở Caracas gọi chúng tôi là Ba chàng Ngự lâm pháo thủ trong khi đến bốn chàng. Mấy tháng ấy vẫn là thời kỳ đẹp nhất, vui nhất, trẻ trung nhất của tôi ở Caracas.

Lúc bấy giờ sống chỉ để mà đùa dỡn. Ngày thứ bảy, chúng tôi để dành chiếc xe đẹp nhất của khách hàng và nói sửa chưa xong, rồi chúng tôi đi ra biển trên một bãi kỳ diệu đầy hoa lá và có nhiều dừa, để tắm và làm một trăm chuyện điên khùng. Dĩ nhiên đôi khi chúng tôi gặp người chủ xe giận dữ thấy xe của mình chở bọn quỉ vật này trong khi anh ta tưởng nó nằm ở xưởng sửa chữa. Thế là với giọng điệu nhã nhặn, chúng tôi chậm rãi giải thích cho anh ta nghe chúng tôi làm thế này là vì anh, chúng tôi không muốn giao chiếc xe chưa hoàn hảo, do đó cần phải chạy thử. Ít khi gặp chuyện rắc rối, có lẽ nhờ nụ cười tươi đẹp của hai thiếu phụ trong bọn chúng tôi.

Trái lại, có xảy ra vài vụ đẫm máu: thùng chứa xăng trong xe của ông đại sứ Thụy sĩ bị chảy. Ông ta đem xe đến để hàn chỗ lủng. Tôi cẩn thận rút hết xăng ra bằng một ống cao su, tôi hút đến giọt cuối cùng. Có lẽ vẫn còn xăng trong thùng, vì khi để mỏ hàn xì vào, thùng xăng quỉ quái nổ tung, chiếc xe phụt cháy, tiêu tan hoàn toàn. Trong khi tôi với người thợ mặt mũi mình mẩy bám đầy than khói, sờ vào nhau để xem quả mình đã thoát chết, thì tôi nghe giọng nói bình thản của B.L:

– Xem có nên báo cho công ty mình biết tai nạn tí ti này hay không?

Nó điện thoại cho Alejando, nhưng lại gặp thằng Vicente ngu ngốc.

– Vicente, nhờ anh cho tôi số điện thoại của hãng bảo hiểm xưởng sửa xe của mình.

– …….

– Không có hả? Sao kỳ vậy? Chính anh phụ trách công việc hành chánh mà.

– ……….

– Tại sao? À, phải rồi, tôi quên! Vì là chiếc xe của ông đại sứ Thụy sĩ bị cháy. Bây giờ chỉ còn là một đống tro.

Không cần nói rằng năm phút sau, Vicente chạy đến hai cánh tay đưa lên trời, nó càng nổi giận vì thực ra xưởng sửa xe không được bảo hiểm. Phải cần đến ba ly Whisky khá đậm cùng tất cả vẻ mỹ miều của cặp giò hở hang của Simone, lão mới bình tĩnh trở lại. Alejandro thì ngày hôm sau mới đến, với thái độ hết sức tự chủ. Ông ta nói một câu rất dễ thương: “Vì có làm việc nên mới xảy ra tai nạn. Dù sao, nên cho qua, tôi đã sắp đặt xong với ông đại sứ”.

Viên đại sứ đã tìm lại một chiếc xe, nhưng không bao giờ chúng tôi thấy lại Alejandro.

Trong khi sống trẻ trung và vui nhộn, lâu lâu tôi nhớ đến kho tàng nho nhỏ của tôi giấu dưới gốc cây trong nước cộng hòa nổi tiếng nhờ thịt đông lạnh. Đồng thời tôi để dành số tiền lộ phí khứ hồi khi nào tôi đến lấy kho tàng ấy. Ý nghĩ tôi đã có đủ, hoặc gần đủ phương tiện trả mối thù khiến tôi hoàn toàn thay đổi. Tôi sống không cần kiếm nhiều tiền, vì đó không còn là vấn đề cần thiết đối với tôi nữa. Tiền tôi tiết kiệm là đủ. Vì vậy tôi sống không chút bận tâm cuộc đời của những chàng ngự làm pháo thủ, và một buổi chiều chủ nhật, chúng tôi gặp nhau lại mặc xì líp tắm trong hồ một công trường ở Caracas. Ít ra trong vụ này Vicente đã chứng tỏ có khả năng vì đã xin những người cộng tác với em của lão bị bắt vì tội công xúc tu sỉ được cuộc cảnh sát thả ra.Tuy nhiên nhiều tháng đã trôi qua và bây giờ tôi có thể yên tâm đi tìm kho tàng của tôi.

Vậy thì, xin chào các bạn, cảm ơn lòng tốt của các bạn! Thế là tôi trực chỉ phi trường.

Đến nơi lúc 6 giờ sáng, tôi thuê một chiếc xe và 9 giờ tôi có mặt tại chỗ.

Tôi băng qua cây cầu. Trời ơi! Việc gì đã xảy ra? Tôi mất trí hay đây là một ảo ảnh? Qua khỏi cầu, tôi cố nhìn, không thấy cây cổ thụ ở đâu hết. Không những chỉ mỗi cây của tôi, mà tất cả các cây đều biến mất. Cây cầu đã được mở rộng theo đường lộ đã biến thể, rộng hơn trước kia rất nhiều. Tính từ cây cầu, tôi phỏng đoán địa điểm cây cổ thụ và kho tàng của tôi. Không thể tin được, tôi hết thở. Không còn gì hết!

Một cơn điên như chó dại xâm chiếm tôi. Tôi lấy gót chân nện vào nhựa đường như thể nó có cảm giác vậy. Trong cơn phẫn nộ, tôi tìm quanh một thứ gì để đập phá, chỉ thấy mấy đường trắng kẻ trên mặt lộ, tôi lấy chân đạp cho tan tành, làm như mấy mảnh sơn vụn tróc ra ấy có thể gây ra một thảm họa.

Tôi trở lại cây cầu, và so với mối cầu bên kia không bị thay đổi, tôi tính ra người ta đã phải đào sâu hơn 4 thước đất. Kho tàng của tôi chỉ chôn dưới một thước đất, hẳn là người ta thấy ngay liền.

Tôi tựa mình vào lan can cầu và trong nhiều phút tôi nhìn nước chảy. Dần dần tôi bình tâm trở lại, nhưng các ý nghĩ vẫn quay cuồng trong đầu óc. Phải chăng tôi cứ tiếp tục đập phá? Có nên từ bỏ các cuộc phiêu lưu mạo hiểm hay không? Làm gì bây giờ? Đôi chân tôi quỵ xuống. Rồi tôi nghĩ lại tự nhủ: “Trước lần thoát ngục cuối cùng, mày đã thất bại biết bao nhiêu lần rồi? Bảy đến tám lần, phải vậy không? Thế thì trong đời cũng vậy. Một canh bạc thua, sẽ thắng canh khác! Đời là vậy nếu ta thực tâm yêu đời!”.

– Tôi không ở lại lâu trong cái xứ ham sửa chữa đường sá này. Thật là chán mớ đời khi nghĩ rằng trong một nước văn minh – vì cái xứ hoang vắng này người ta cũng văn minh đáo để – ngay cả đến các cây cổ thụ cũng không được tôn trọng. Và tại sao, tôi xin hỏi anh, phải mở rộng một con đường đã khá rộng đối với sự lưu thông hiện hữu?

Trong chuyến phi cơ trở về Caracas, tôi nghĩ đùa rằng con người tưởng làm chủ được vận mạng của mình, có thể xây dựng tương lai, đoán trước những việc sẽ làm trong một hai năm. Sai tuốt, Papillon ạ. Một người chính xác nhất, tính toán nhất, tổ chức cuộc sống tài tình nhất cũng chỉ là một trò chơi trước số mệnh bất khả tri. Chỉ có hiện tại là chắc, kỳ dư đều là mờ mịt, nào là may, nào là rủi, nào là vận số, lại còn ngón tay bí mật và khó hiểu của Thượng Đế.

Ở đời chỉ có một điều đáng kể trước tiên: “đừng bao giờ chịu thua và sau mỗi lần thất bại, cứ bắt đầu trở lại”. Đó là việc tôi sắp làm.

Lúc ra đi, tôi đã chào vĩnh biệt các bạn. Quả vậy, nếu tìm được kho tàng, tôi sẽ đi qua các nước khác chứ không đi qua Venezuela, đổi các món nữ trang để cho người ta khỏi nhận ra, rồi sau khi bán xong, tôi sẽ đến Tây Ban Nha và từ đó sẽ đến viếng lão Phó Chưởng Lý và đồng bọn. Thế nên người ta có thể tưởng tượng cả một sự động binh của bọn ngự lâm pháo thủ khi nhìn thấy tôi hiện ra trước cửa xưởng sửa xe. Tiệc, bánh mừng tôi trở về với bốn cành hoa do Andrée để trên bàn. Mọi người nâng ly chúc mừng giây phút tái ngộ rồi cuộc sống lại diễn ra hết mình. Tuy vậy tôi không còn vô tư như trước.

Tôi linh cảm Alejandro và Deloffre định giao cho tôi một công việc mà họ chưa tiết lộ cho tôi biết. Theo tôi đoán có lẽ là liên quan đến vụ đảo chính, tuy rằng họ đã biết lập trường của tôi đối với vấn đề này. Họ thường mời tôi đến uống rượu hoặc ăn cơm tại nhà Deloffre. Những bữa cơm rất ngon lành, không khách lạ. Deloffre làm bếp và Victor, người tài xế trung thành của hắn bưng dọn. Chúng tôi nói đủ mọi chuyện nhưng rốt cuộc cũng đi đến một chủ đề: tướng Medina, một trong những vị tổng thống dân chủ nhất của Venezuela, dưới trào ông không có một tư nhân chính trị, không một ai bị truy tố vì chính kiến của mình, một chính sách sống chung với tất cả các quốc gia, tất cả các chế độ đi đến chỗ lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô; Medina là người rất tốt, rất cao thượng và dân chúng mến ông vì tính tình bình dị đến nỗi có một hôm, trong một buổi lễ ở Paraiso, người ta đã công kênh ông với vợ ông như những tay chiến thắng trong trận đấu bò rừng.

Mãi nói đi nói lại cho tôi nghe về ông Medina thân tình, thường đi dạo trong đô thị Caracas chỉ với một người cận vệ và đi xem chiếu bóng như tất cả mọi người công dân nào, Alejandro và Deloffre riết rồi hầu như đã thuyết phục được tôi rằng một người có lòng phải làm mọi cách để đưa ông trở lại chính quyền. Những bất công, óc trả thù của bọn viên chức trong chính phủ hiện tại đối với một phần dân chúng đã được phác họa bằng những nét đen tối nhất. Để cho vị tổng thống phi thường ấy thêm dễ mến đối với tôi, Deloffre kể rằng ngoài các đức tính ấy, Medina là một người chơi bời có hạng, chưa kể là một người bạn thân, tuy Deloffre là một tù nhân vượt ngục. Xin ghi thêm rằng trong cuộc cách mạng vừa qua, Deloffre đã mất tất cả. Những tay trả thù bí mật đã phá tan nhà hàng khiêu vũ của hắn; Medina và tất cả dân thanh lịch đô thị Caracas thường đến đó ăn uống hoặc ngồi chơi một lúc.

Cuối cùng, hầu như đã bị thuyết phục – sau này tôi mới biết đó là một điều sai lầm – tôi định nhận đóng một vai trò trong cuộc đảo chính. Những do dự của tôi hoàn toàn tiêu tán (tôi phải nói điều này ra vì tôi muốn trung thực) khi được hứa hẹn một số tiền quan trọng cùng các phương tiện cần thiết để thực thi kế hoạch trả thù của tôi.

Thế là rồi một đêm nọ, tôi đến nhà Deloffre gặp hắn, tôi là đại úy, Deloffre là Đại tá, sẵn sàng hành động.

Công việc bắt đầu gặp trục trặc. Dễ nhận biết nhau, những người đảo chính dân sự mang một băng tay màu xanh lục và ám hiệu là aragua. Chúng tôi phải có mặt tại địa điểm hành động lúc hai giờ sáng và vào khoảng 11 giờ đêm chiếc xe ngựa duy nhất của thành phố Caracas chở đến bốn thằng hoàn toàn ngu xuẩn. Bốn thằng điên ấy hát inh ỏi lại còn được đàn guitare. Họ dừng ngay trước nhà và tôi kinh hoàng nghe chúng nó hát những câu đề cập một cách thô lỗ đến cuộc đảo chính trong đêm nay. Một thằng kêu lớn Deloffre:

– Pierre! Cơn ác mộng chấm dứt trong đêm nay! Hãy can đảm và xứng đáng. Các bạn! Cha già Medina bảo chúng ta phải trở về.

Không thể đần độn hơn. Chỉ cần một thằng nào đó báo cảnh sát, cảnh sát đến hỏi thăm sức khỏe chúng tôi là đẹp nhất rồi! Tôi tức điên người; mà tức là phải: chúng tôi có ba quả bom trong thùng xe, một quả dưới băng sau, giấu dưới một chiếc mền.

– Trời! bọn đồng lõa của anh đẹp nhỉ! Nếu tất cả đều như vậy, chẳng cần phải nhọc sức, thà đi thẳng vào nhà tù còn hơn!

Deloffre cười ngặt nghẽo, thoải mái như sắp đi khiêu vũ, rạng rỡ trong bộ đồng phục sĩ quan cấp tá ngắm nhìn trước gương.

– Papillon, đừng có lo. Vả lại chúng ta chả làm hại ai hết. Như anh biết, trong ba quả bom kia chỉ có thuốc nổ mà thôi. Chỉ để gây tiếng nổ, không hơn không kém.

– Rồi tiếng nổ ấy để làm gì?

– Giản dị lắm: để báo hiệu cho những người đảo chính tản mác trong thành phố. Không hơn không kém. Anh thấy không, không có gì tàn ác, chúng ta không muốn hại ai cả. Chỉ buộc họ đi chỗ khác chơi mà thôi.

Được rồi, dù muốn dù không, tôi đã dấn thân, kệ xác tôi! Tôi khỏi cần phải run sợ hay hối tiếc, chỉ cần chờ đến giờ.

Tôi từ chối ly rượu Porto của Deloffre mời; nó chỉ uống mỗi một thứ rượu này, ít nhất hai chai một ngày. Nó uống vài ly.

Ba chàng ngự lâm pháo thủ đến, trên một chiếc xe đò đã cải trang thành chiếc xe cần trục. Xe ấy sẽ dùng để lấy đi hai chiếc tủ sắt, một của một công ty hàng không và một của nhà tù kiểu mẫu mà một trong các viên giám đốc – chỉ huy đồn binh địa phương là đồng lõa. Tôi sẽ được chia 50 phần trăm số bạc trong tủ sắt và sẽ hiện diện lúc lấy chiếc tủ sắt của nhà tù. Sẽ là một cách trả thù đẹp nhất đối với tất cả các nhà tù trên thế gian. Tôi quyết tâm thực hiện việc này.

Một liên lạc viên đem đến các mệnh lệnh sau cùng: không bắt một kẻ thù nào hết, nên để họ chạy đi. Phi cảng dân sự ở trung tâm thành phố đã được giải tỏa để các yếu nhân và nhân viên chính phủ hiện tại có thể dùng phi cơ nhỏ trốn đi mà không gặp trở ngại nào.

Lúc bấy giờ tôi được biết địa điểm sẽ cho nổ trái bom đầu tiên. Trời, thằng Deloffre quả là gan cùng mình! Sẽ cho nổ ngay trước cổng dinh Tổng Thống ở Minaflores, tương đương với điện Elysée của nước Pháp, không hơn không kém. Còn hai trái khác, một trái cho nổ ở phía Tây, một trái ở phía Đông thủ đô Caracas để gây cảm tưởng bom nổ lung tung. Tôi mỉm cười một mình khi nghĩ đến nỗi khiếp sợ của những người trong dinh Tổng Thống.

Cánh cổng lớn bằng gỗ ấy không phải là lối vào chính thức của dinh. Nó ở phía sau dinh và dùng để các xe nhà binh và các xe lớn khác ra vào và cũng để cho một số nhân vật, đôi khi là Tổng Thống, vào ra mà không ai để ý.

Tất cả các đồng hồ của chúng tôi đều lấy giờ lại cho phù hợp nhau. Chúng tôi phải có mặt trước cổng lúc hai giờ kém ba phút. Một người bên trong sẽ hé mở cửa trong hai giây đồng hồ, vừa đủ để người tài xế phát ra một tiếng như tiếng cóc kêu bằng một thứ đồ chơi con nít bắt chước giống y chang tiếng cóc kêu. Thế là người ta biết chúng tôi đã có ở đó. Để làm gì? Tôi chẳng hiểu vì không ai giải thích cho tôi rõ. Đám cận vệ của Tổng Thống Gallegos có tham gia đảo chính hay không và có bắt ông ấy giam lại hay không? Hay là đám cận vệ sẽ bị đặt trong tình trạng bất động vì đã bị những người thù đảo chính, ở trong dinh, hòa giải? Tôi không thể biết được.

Một điều chắc chắn là đúng hai giờ, tôi phải châm ngòi nổ quả bom tôi kẹp trong hai đùi, rồi quăng ra cửa xe rất mạnh để cho nó lăn đến cổng dinh Tổng Thống. Ngòi nổ cháy đúng một phút ba mươi giây. Thế nên tôi phải dùng lửa điếu thuốc xì gà để châm, và khi ngòi bắt đầu cháy, sẽ giãn chân phải ra mở cửa xe, vừa đếm đủ 30 giây. Đến giây thứ 30, tôi cho nó lăn trên mặt đường. Chúng tôi đã tính quả bom lăn trên mặt đất sẽ có gió làm cho ngòi bom cháy mau và chỉ còn khoảng 40 giây trước khi nổ.

Tuy bom không có đạn, nhưng mảnh bom vô cùng nguy hiểm và vì vậy phải cho xe thoát chạy hết tốc lực để tránh mảnh bom. Đó sẽ là công việc của Victor, người tài xế.

Tôi đã được Deloffre hứa là nếu có một người lính hoặc một cảnh sát viên đứng gần đấy, nó sẽ ra lệnh, vì nó mặc quân phục đại tá, cho người ấy phải chạy đến góc đường phố.

Chúng tôi đến trước cổng lúc hai giờ kém ba phút, không gặp khó khăn gì. Mọi người đứng dọc theo lề đường phía trước. Không có lính canh, cũng không có cảnh sát. Tốt quá. Hai giờ kém hai phút……. Hai giờ kém một phút. Hai giờ…

Cánh cổng không thấy mở.

Tinh thần tôi căng thẳng. Tôi nói với Deloffre:

– Pierre, hai giờ rồi.

– Tôi biết. Tôi cũng có đồng hồ như anh.

– Thế là có triệu chứng bất thường.

– Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chúng mình hãy chờ 5 phút nữa.

– O.K.

Hai giờ hai phút… Cánh cổng mở mạnh hết sức, một đoàn lính chạy ra, tay cầm súng và trải ra trong thế sẵn sàng nổ súng. Rõ ràng như ban ngày, chúng tôi bị phản.

– Chạy đi, Pierre, chúng ta bị phản.

Phải nói nhiều hơn thế để chứng minh cho Deloffre hiểu vì nó có vẻ hoàn toàn vô ý thức.

– Anh lầm! Họ về phe ta.

Tôi rút một khẩu súng 45 và ấn vào gáy Victor.

– Cho xe chạy nếu không tao giết mày!

Thay vì cảm thấy xe vọt chạy vì tôi tin rằng Victor ráng sức bình sinh đạp ga, tôi nghe một câu bất hủ:

– Bạn ơi, ở đây anh không chỉ huy mà ông chủ. Ông chủ bảo sao?

Thật là hết chỗ nói. Tôi đã từng thấy những thằng ngu ngốc lạ lùng, nhưng chưa thấy ai như cái thằng lai da đỏ này!

Tôi không thể làm gì vì bọn lính chúng cách tôi có ba thước. Vì họ thấy ba hoa mai bạc đại tá trên vai Deloffre đang tựa vào cửa xe, nên họ không lại gần.

– Pierre, nếu anh không bảo Victor cho xe chạy, tôi không giết Victor mà tôi giết anh.

– Nhóc con, tôi nói cho anh biết họ theo mình. Hãy chờ một chút nữa, Pierre quay đầu lại phía tôi đáp.

Lúc bấy giờ tôi mới thấy có bột trắng dính nơi lỗ mũi của Deloffre. Tôi hiểu: thằng cha này xài bạch phiến. Tôi sợ quá, vâng, tôi sợ kinh khủng, tôi để khẩu súng ngang gáy nó thì vừa lúc nó hết sức bình tĩnh:

– Papillon, bây giờ là hai giờ sáu phút. Hai phút nữa chúng mình đi. Chắc hẳn chúng ta bị phản.

Khoảng thời gian 120 giây thật là vô tận. Tôi không rời mắt khỏi mấy người lính: những người đứng gần nhìn chúng tôi, nhưng hiện giờ không biểu tỏ điều gì. Cuối cùng Deloffre nói:

– Victor, chạy đi. Chậm chậm, như thường vậy, không nên đi quá mau.

Và chúng tôi thoát được cạm bẫy ấy, thật là một phép lạ. Thật là may! Ít năm sau, người ta có cho ra cuốn phim “Ngày dài nhất”. Người ta cũng có thể làm một cuốn phim nhan đề: “Tám phút dài nhất”.

Deloffre ra lệnh cho tài xế đi về phía chiếc cầu của thành phố nối liền khu Paraiso với đại lộ Saint-Martin. Nó muốn cho nổ quả bom dưới cây cầu. Dọc đường chúng tôi gặp hai chiếc xe chở bọn người đảo chính; họ không biết phải làm gì vì lúc hai giờ không nghe tiếng nổ. Chúng tôi giải thích nội vụ, rằng đã bị phản và bây giờ Deloffre lại đổi ý kiến, ra lệnh về gấp nhà nó. Quả là một sai lầm to bằng cái nhà. Bởi vì, chúng tôi đã bị phản thì có thể cảnh sát đã có mặt tại nhà nó rồi. Chúng tôi vẫn đến đó; trong lúc giúp một tay cho Victor để quả bom vào thùng, tôi thấy có vẽ mấy chữ trên ấy: P. R. D. Khi Pierre Resé Deloffre giải thích lý do, trong lúc tôi cởi bộ quân phục, tôi chỉ còn biết cười xòa:

– Papillon, đừng bao giờ quên rằng trong những vụ nguy hiểm, phải biết để vào đó một cành hoa. Những chữ ấy là tấm danh thiếp gởi đến kẻ thù của bạn tôi.

Victor đem bỏ chiếc xe trong bãi đậu, dĩ nhiên nó không để khóa xe. Ba tháng sau người ta mới phát giác ba quả bom.

Không nên ở lâu tại nhà Deloffre, nó đi phần nó, tôi đi phần tôi. Không liên lạc với Alejandro. Tôi đi thẳng đến xưởng sửa xe để giúp tháo máy tiện cùng năm sáu ống hơi để ở đó. Lúc 6 giờ, điện thoại reo, một giọng bí mật nói:

– Các anh Pháp, các anh nên đi hết đi, mỗi người một ngả. Chỉ B.L. là phải ở lại xưởng sửa xe. Hiểu chưa?

– Ai ở đầu dây đó?

Người bên kia đầu dây đã gác máy.

Cải trang thành đàn bà, đi trên một xe Jeep do một sĩ quan cựu kháng chiến Pháp lái, người này đã được tôi giúp đỡ khá nhiều từ ngày đến xứ này, tôi ra khỏi Caracas không gặp trở ngại gì, rồi thẳng tiến Rio Chico, cách đó hai trăm cây số, trên bờ biển. Tôi ở đó hai tháng với anh cựu đại úy, vợ anh và hai người bạn quê ở Bordeaux.

B.L. bị bắt. Không bị tra tấn, một cuộc thẩm vấn gắt gao nhưng tử tế. Khi biết chuyện ấy, tôi kết luận rằng chế độ của Gallegos và Betancourt không tội lỗi như người ta phao cho, ít nữa là trong vụ này.

Deloffre đã tỵ nạn ngay đêm ấy trong tòa đại sứ xứ Nicaragua, nếu tôi không lầm.

Về phần tôi, luôn luôn đầy tin tưởng vào cuộc đời, một tuần lễ sau, tôi cùng tên cựu đại úy lái chiếc xe vận tải của Sở Kiều lộ Rio Chico. Chúng tôi đã nhờ một người bạn giới thiệu vào làm việc ở tòa thị chính. Lương hai chúng tôi mỗi ngày 25 đồng dùng để nuôi sống năm đứa!

Cuộc đời phu lục lộ kéo dài hai tháng, khoảng thời gian đủ để cho sóng gió do âm mưu đảo chính vừa rồi lắng dịu ở Caracas và để cho cơ quan cảnh sát quay sang chú tâm đến những tin tức về một âm mưu đảo chính mới. Họ lưu ý đến hiện tại và gác quá khứ về một bên, điều ấy rất hợp lý. Tôi không mong gì hơn bởi vì tôi nhất định không để bị bắt vì một vụ như vậy nữa. Một lần đã quá đủ. Bây giờ tốt hơn hết là sống bình yên với bạn bè, không làm cho người ta chú ý đến mình.

Để cho bữa ăn thường ngày khác hơn, mỗi buổi chiều tôi thường đi câu ở biển. Chiều nay tôi câu được một con cá gáy lớn; ngồi trên bãi biển, tôi đánh vảy cá, vừa nhìn cảnh mặt trời lặn huyền diệu. Buổi chiều đỏ rực, hy vọng đấy Papillon! Và mặc dù từ ngày được phóng thích, gặp bao nhiêu chuyện rắc rối, tôi vẫn cười. Vâng, niềm hy vọng sẽ giúp tôi thắng và sống. Nhưng đến bao giờ mới thành công? Papillon, hãy thử tổng kết hai năm tự do.

Hiện giờ tôi không nghèo lắm, nhưng không có nhiều: tối đa là ba ngàn, kết toán của hai năm phiêu lưu mạo hiểm.Trong thời gian ấy, việc gì đã xảy ra?

– Một: đống vàng ở Callao. Không cần phải dài giòng, không phải một thất bại, nhưng là một sự từ khước để cho các bạn cựu phạm ở đó được sống yên ổn. Mày biết rõ hả? Không. Tốt lắm, hãy chôn chặt tấn vàng ấy đi!

– Hai: đánh bạc ở mỏ kim cương. Mày đã suýt bỏ mạng hai mươi lần vì mười nghìn mỹ kim không bao giờ sờ mó được. Jojo đã chết thay cho mày, mày đã thoát! Không bao giờ mày quên nổi không khí căng thẳng của những đêm ấy, mặt mũi dễ sợ của các con bạc dưới ánh đèn khí đá, thái độ bình tĩnh và tự tin của Jojo. Thế thì không có gì đáng tiếc rẻ.

– Ba: đường hầm dưới nhà ngân hàng. Vụ này lại khác: không kiếm được đồng nào trong vụ này. Tuy nhiên, trong ba tháng trời, mày đã xúc động suốt 24 trên 24 giờ, mỗi giờ có những sự kiện để tinh thần căng thẳng. Cho dù không có chuyện gì khác thì cũng đủ để mày không nên phàn nàn gì cả. Nhưng mày cũng nhận thấy trong ba tháng, ngay trong các giấc mộng ban đêm, mày đã tự thấy trở thành triệu phú bằng mỹ kim, nên không có lý do gì để không giàu có. Như vậy không đáng kể sao? Vẫn biết chỉ may mắn thêm cho mày một đường tơ kẽ tóc là mày được của ấy, nhưng mày cũng có thể bị xui xẻo hơn. Thế nên lúc mày ở dưới đất, đường hầm sập thì sao? Mày đã chết như một con chuột cống hay như một con chồn trong hang.

– Bốn: Nhà cầm đồ với mấy căn phòng ướp lạnh. Không có gì đáng khiếu nại, trừ phi với Sở Kiều lộ của xứ hoang vu ấy.

– Năm: Âm mưu đảo chính. Nói cho đúng, mày không hăng lắm trong vụ này. Các vụ rắc rối về chính trị, các trái bom có thể giết bất cứ ai, không phải nghề của mày. Thật ra, mày đã tham gia vì hai thằng cha quá tử tế và cũng vì tin rằng với số tiền kiếm được mày có thể thực hiện dự mưu của mày. Nhưng mày không tha thiết lắm bởi vì mày lật đổ một chính phủ đã trả tự do cho mày là một việc không hợp tình chút nào. Tuy vậy mày cũng lợi được 4 tháng vui thích với bọn ngự lâm pháo thủ, vợ con chúng nó, và còn lâu mày mới quên những ngày vui sống chan hòa tuổi trẻ ấy.

Chưa kể những chuyện khác, chiếc phi cơ của Carotte vân vân.

Kết luận: tôi bị tù oan trong 13 năm, người ta đã cướp mất tuổi xuân của tôi, nếu tôi ngủ, tôi ăn, tôi uống, tôi vui đùa, không bao giờ tôi quên rằng một ngày nào đó tôi phải trả thù. Tốt lắm.

Tóm lại, mày đã được tự do hai năm rồi. Trong hai năm, mày đã trải qua trăm ngàn chuyện, mày đã làm nhiều vụ phi thường, thoát vụ này lại bắt tay qua vụ khác. Hơn thế, mày không cần tìm kiếm, công chuyện tự nhiên đến với mày; không ai có được tình yêu như mày, mày đã gặp đủ hạng người kết thân với mày, mày với các bạn đã đem mạng sống ra thử thách, thế mà mày còn rên siết nỗi gì? Mày cạn túi hay gần như thế phải không? Không nên bận tâm vì nghèo không phải một thứ bệnh nan y.

Thế thì, Papillon ơi, hoan hô Thượng Đế. Hoan hô các cuộc phiêu lưu mạo hiểm đã làm cho mày sống mãnh liệt mỗi ngày, mỗi phút! Chẳng khác nào mày uống một thứ nước tuyệt diệu, mỗi hớp chảy vào tận đáy lòng! Và mày vẫn khỏe mạnh, đó là điều quan trọng nhất.

Thưa quí vị, chúng ta hãy xóa hết đi và bắt đầu lại. Canh bạc đã sẵn sàng. Thua rồi, theo, theo nữa! Mãi mãi! Chỉ cần toàn thân mày rung cảm, nói lên niềm hy vọng và tin tưởng rằng một ngày kia mày sẽ được nghe: “Chín nút! Mời ông Papillon vơ tiền, ông trúng chén bạc này!”

Vừng thái dương xuống sát chân trời. Buổi chiều đỏ rực. Hy vọng. Hẳn rồi; tôi tràn trề hy vọng và tin tưởng ở tương lai. Gió đã trở lạnh, bình thản, sung sướng vì hãy còn sống tự do, chân trần đi trên cát ướt, tôi bước vội về nhà, mọi người đang trông chờ kết quả buổi câu cá của tôi cho bữa cơm tối. Nhưng tất cả những màu sắc kia, hằng ngàn vệt bóng đêm và vệt ánh sáng đùa rỡn trên các ngọn sóng chạy thẳng ra khơi đã làm cho tâm hồn tôi quá đê mê, nên sau khi gợi lại các tai biến đã vượt qua, tôi chỉ còn biết nghĩ đến đấng tạo hóa đến Thượng Đế: “Xin chúc Người một đêm yên lành! Dù đã nhiều lần thất bại, xin cảm tạ Người đã ban cho một ngày đầy ánh sáng tự do, lại còn thêm cảnh mặt trời lặn của vùng nhiệt đới mỹ miều!”.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply