Cao nguyên sau ngày đình chiến

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 6 July, 2023

Post by Sơn râu 14 Oct 2025

Kỳ 10

Lời Giới Thiệu:  Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.

Tôi đã gọi đài tiếp vận Hàm Rồng xin tiếp viện nhiều lần, lần nào cũng bị trả lời, “Gắng chờ! Gắng chờ!”  Mấy ngày sau tôi mới hay, từ sáng sớm ngày 14 tháng 4, thượng cấp đã gửi một tiểu đoàn bộ binh vào tiếp viện cho tôi, nhưng vừa đi qua ngã ba Mỹ Thạch được năm cây số thì đơn vị này đã bị địch đánh tan. Chuẩn úy Trâm và Trung đội Trinh Sát 82 đã tiếp tay được Trung úy Thọ. Cùng đi với Thọ có hai thằng em bị thương gãy tay là Binh nhất Lê Thanh Phong và Trung sĩ 1 Nông Văn Út người Nùng. Trung sĩ Út đang là một Trung đội trưởng của Ðại Ðội 2 thay thế cho Thượng sĩ Don Luân người Thượng đi phép vắng.

Trước đó Chuẩn úy Lê Văn Phước, tức là Phước Răng Vàng cùng hai anh lính Truyền Tin của Ðại Ðội 2 là Trung sĩ Thế và Hạ sĩ Khanh đã chạy sang Plei Ngol Ho; cả ba người này đều bị thương. Trung úy Thọ vào tới sân Plei Ngol Ho đúng vào thời điểm địch cắm được lá cờ Giải Phóng Miền Nam trên nóc phòng thuyết trình của 711. Cũng ngay giờ phút đó, Cứ Ðiểm Plei Ngol Ho hứng chịu loạt mưa pháo đầu tiên.

Vũ khí tàn phá của địch chủ yếu vẫn là 122ly, 105 ly cùng với hỏa tiễn AT3. Có điều địch không nhìn thấy 6 chiếc M113 của Ðại úy Xá nằm núp sau các bụi tre gai, nên AT3 chỉ lập loè nhắm vào hai khẩu 155 ly và cái xe ủi đất. Vì địch đã chiếm được 711 và làm chủ đoạn Tỉnh Lộ 6C hướng Bắc đồi Tử Chiến, nên chúng công khai dùng xe chở quân tăng viện tới sát bên 711 rồi mới nhảy xuống, dàn trận, xung phong. 9 giờ sáng 14 tháng 4, trong màn mưa, một biển người ào lên bờ đất phòng thủ hướng Tây Plei Ngol Ho. Ngay đợt xung phong đầu, ba sĩ quan trung đội trưởng của Ðại Ðội 3 đã bị thương.

Tôi ra lệnh cho ba anh chuẩn úy này lui về sau, nhường quyền chỉ huy cho ba sĩ quan thực tập thì Chuẩn úy Trương Trọng Tài, Trung đội trưởng Trung Ðội 2 Ðại Ðội 3 xua tay từ chối. Ông chuẩn úy này chỉ còn tay phải, tay trái bị thương nhẹ, đã được băng bó rồi được treo lên bằng một cuộn băng cá nhân vòng quanh cổ.

Trong màn khói đạn mịt mù, hiện ra một Chuẩn úy Trương Trọng Tài, còn gọi là Trương Thiên Tài, đẹp như một nam tài tử trong phim cao bồi của Mỹ, một tay anh treo tòn ten trước ngực, một tay ôm M16, một chân dưới giao thông hào, một chân nhịp nhịp chống trên bờ đất, hai ống quần hoa đã bị cắt tới đầu gối, cái mũ đi rừng thì đội lệch một bên, miệng anh đang ngậm nửa điếu Ruby đã tắt lửa tự bao giờ.

Tôi nghĩ, nếu có phóng viên quốc tế nào ở đây, thì hình ảnh của tài tử Trương Thiên Tài chắc chắn sẽ chiếm trang đầu của Báo Life hay Báo Times. Tài cười vang rồi nhìn tôi:

– Thái Sơn để tui chơi tiếp với mấy thằng Việt-Cộng này! Lính của tôi còn ở đây, tui mặt mũi nào mà trốn sau lưng tụi nó!

Thấy thế, hai ông chuẩn úy còn lại là Trần Quảng và Trương Anh Kiệt cũng không chịu kém,

– Tui cũng không trốn, tui xin Thái Sơn cho tui ở lại với thằng Tài! Chết thì chết! Có chi mà ngán!

Tôi đành lắc đầu, ái ngại cho ba thằng em, nhưng trong lòng tôi cảm thấy ấm áp vô cùng. Tôi rút bao Lucky ra châm cho ba đứa em mỗi đứa một điếu rồi đi sang khu pháo binh. Ðể có sĩ quan chỉ huy dự phòng, tôi cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt tạm thời giữ chức đại đội phó cho Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Cùng lúc, tôi gọi Trung úy Chủ dẫn hai ông sĩ quan thực tập tới Ðại Ðội 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu úy Phiến. Trận đánh tiếp tục giằng co. Tôi không lo địch pháo nữa mà chỉ lo chúng cứ liều mạng xông lên, chúng nó mà xông lên vài đợt nữa thì chúng tôi hết đạn!

Tới xế trưa thì hai trung đội trưởng Trần Quảng và Trương Anh Kiệt bị vết thương làm độc lên cơn sốt cao nên Thiếu úy Phiến phải đưa họ vào phòng thuyết trình để ông trợ y săn sóc. Hai sĩ quan thực tập đã sẵn sàng trám chỗ cho hai người này. Tới chiều, dù pháo địch cứ rộ từng cơn, nhưng không thấy địch xung phong, tôi vội đi thị sát một vòng. Tới khu pháo binh tôi mới hay, Trung úy Danh và một thiếu úy dưới quyền anh cùng bốn binh sĩ đã bị thương cách đây vài phút. Hai khẩu đại bác 155ly xẹp bánh, nằm nghiêng một bên. Những pháo thủ còn lành mạnh giờ đây đã biến thành những chiến binh đánh nhau bằng M16.

Cũng từ lúc này, tôi là người trực tiếp xin pháo yểm vì ông Trung úy Danh đã nằm trong hầm cứu thương. Trở về hầm chỉ huy, tôi gọi Sư Ðoàn 22 hỏi xem lúc nào có quân tăng viện thì câu trả lời vẫn là, “Gắng chờ!” Thấy màn đêm sắp buông, tôi gọi cho các đơn vị phải cảnh giác canh chừng Ðặc Công. Tôi sợ rằng, vị trí đóng quân của tôi chưa có hàng rào, chưa có mìn bẫy, nếu địch vừa đánh Ðặc Công xong, liền xua đại quân ào lên đánh biển người thì tôi vô phương chống đỡ. Bỗng trong óc tôi lóe lên ý nghĩ sử dụng đơn vị trừ bị là Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân. Qua mười phút liên tục phát thanh, tôi vẫn không nghe Thiếu tá Nguyễn Hoàng trả lời.

Tôi vào tần số của Chi Khu Phú-Nhơn để nhắn tin cho Thiếu tá Nguyễn Hoàng thì nghe họ thông báo rằng Thiếu tá Hoàng vừa đem lính đi Ngã Ba Mỹ Thạch để đón một đại đội của ông đóng quân cách ngã ba 5 cây số, nhưng đêm qua đơn vị này đã bị Việt-Cộng đánh tan tành và đang thất lạc. Cuối cùng, túng thế quá, tôi đành phải tính chuyện sử dụng Ðại Ðội 1. Sử dụng Ðại Ðội 1 là một hành động vô cùng liều lĩnh, cần phải cân nhắc kỹ. Nếu không đem Ðại Ðội 1 ra kịp, chắc chắn tôi sẽ vỡ trận vì không đủ quân. Nhưng nếu địch biết tôi đã đem Ðại Ðội 1 đi thì chúng sẽ đánh chiếm Pleime ngay.

Sau một hồi suy đi, tính lại, tôi thấy, hiện giờ tôi đang ở Plei Ngol Ho, Plei Ngol Ho là mạng sống của tôi! Nếu tôi còn sống, chuyện an nguy của Pleime mới thành vấn đề, nếu tôi chết thì Pleime còn hay mất đâu còn ăn thua gì nữa? Thế là, tôi quyết định chơi xả láng! Bỏ Pleime để chống đỡ Plei Ngol Ho! Kế đó, tôi gọi Thiếu úy Phạm Văn Tô, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 vào máy rồi ra lệnh:

– Thái Sơn về núi!

Ðầu máy bên kia có tiếng Thiếu úy Tô,

– Nhận 5!

Từ ngày nhận chức chỉ huy 82, tôi đã có mật ước với 5 vị đại đội trưởng là, trong trường hợp khẩn cấp nếu nghe được chính miệng tôi phát ra mật lệnh “Thái Sơn về núi!” thì người nghe phải lập tức vặn máy sang tần số 47.70 để nghe tôi ra lệnh tiếp. Ðại Ðội 1 đang ở Làng Xổm, chỉ cách Căn Cứ 711 chưa đầy 7 cây số đường chim bay. Nếu là bình thường thì đơn vị này chỉ cần một tiếng đồng hồ di hành là đã qua đoạn đường này. Nhưng giờ đây vùng Bắc của Tỉnh Lộ 6C đã bị địch chiếm cứ, Ðại Ðội 1 mà đi trên tỉnh lộ thì không khác gì tự tử.

Tôi nói,

– Mở thực đơn ra nghe lệnh!

(Thực đơn: là bản đồ ghi mục tiêu)

Ngưng một phút cho Thiếu úy Tô chuẩn bị bản đồ rồi tôi mới bắt đầu chậm rãi,

– Target 1 Le Tam Pôte! Target 2 Le Dido! Target 3 Torr! Nghe rõ chưa? Lặp lại!

Tôi không chờ lâu, Tô đã đáp lời ngay,

– Nhận 5! Le Tam Pôte, Le Dido, Torr!

Tôi tin rằng, không chỉ mình Thiếu úy Tô, mà tất cả quân nhân của Ðại Ðội1 đều thông thuộc những địa danh này, không cần bản đồ hay địa bàn họ cũng có thể đi tới đó một cách dễ dàng.

Vì chắc chắn vào giờ phút ấy, bên hướng Ðông suối Ia Tur sẽ không có tên Việt-Cộng nào, nếu an toàn qua được Plei Le Tam Pôte thì coi như hết lo lắng. Rồi từ Plei Le Tam Pôte ta cứ yên trí chạy một mạch theo con đường xe be lên hướng Bắc, vượt qua 6 cây số thì tới làng Plei Torr. Tới Plei Torr coi như tới 711!

Quả nhiên, gần 7 giờ tối tôi đã nghe Thiếu úy Tô thở hổn hển,

– Trình Thái Sơn! Tôi thanh toán xong làng Torr!

Tôi ra lệnh,

– Cho anh em nghỉ vài phút rồi đi tiếp!

– Nhận 5!

Kế đó, từ làng Plei Torr rẽ trái, theo đường xe be, chỉ nửa giờ sau Ðại Ðội 1 đã có mặt trên Plei Ngol Ho. Tôi cho Ðại Ðội 1 giữ tuyến chính Ðông, mặt Tây vẫn do Ðại Ðội 3 phòng thủ, vì những người lính của đơn vị này đã quen với địa hình địa vật trước mặt. Tiếp đó, tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 1 chia sẻ bớt đạn và lựu đạn cho Ðại Ðội 3 và Ðại Ðội 2. Lúc này, bình quân trên lưng mỗi người lính chỉ có khoảng dưới 100 viên đạn M16. Ðánh nhau mà thiếu đạn thì khổ lắm, nhưng biết làm sao bây giờ? Bố quân xong, tôi quay về hầm truyền tin, tính nhắm mắt vài phút cho tinh thần bớt căng thì nghe trong máy khuếch âm có tiếng gọi lớn, giọng Bắc Xâm Nhập,

– Thái sơn! Thái ổi! Thái rau! Thái thịt! Thái cứt! Thái đái! Ðây là Bố gọi! Con có nghe không? Trả lời!

Nghe thấy vậy, Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn liền la lên,

– Truyền Tin! Sang tần số giải tỏa! Số nhà này bị Việt-Cộng vào phá rối rồi!

Chiến trận đã nhiều, nhưng tôi thấy rất ít khi bị Việt-Cộng vào tần số chọc phá, nên tôi nói với ông Chủ,

– Kệ mẹ nó! Cứ hỏi nó muốn cái gì?

Trung úy Chủ cầm máy lên,

– Chúng mày muốn gì?

– Bố mày muốn nói chuyện với thằng Thái Sơn.

Thấy tôi gật đầu, ông Chủ nói tiếp,

– Thái Sơn đây! Mày là ai? Muốn gì?

Ðầu máy bên kia có tiếng “Ẹc! Ẹc! Ẹc!” như có sự chuyền tay cái loa phát âm, rồi tôi nghe tiếng người dõng dạc,

– Tao là người chỉ huy Quân Giải Phóng, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Tôi ra dấu cho Trung úy Chủ trao máy cho tôi rồi cũng dõng dạc đáp lời,

– Tao là người chỉ huy Biệt Ðộng Quân, tao ra lệnh cho mày phải đầu hàng ngay, nếu không tao sẽ không tha! Nghe rõ chưa?

Ðáp lời tôi là tiếng “Chát” do máy phát đập trên nền cứng, cùng với tiếng hét,

– Ð! Mẹ mày! Mày là đồ tay sai của đế quốc Mỹ!

Tôi cũng già hàm, không chịu kém,

– Ð! Mẹ mày! Ông nội, ông ngoại, thằng cha, con mẹ mày chỉ là thứ bần cố nông, hốt cứt, gắp phân! Mày cũng chỉ là một tên tay sai của Liên Xô và Tầu Phù!

Người bên kia nghiến răng,

– Thái Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cũng nghiến răng,

– Hồng Sơn! Tao thề sẽ giết mày!

Tôi cứ tưởng rằng mình đang chửi nhau với Thượng tá Hồng Sơn, Chính ủy của Sư Ðoàn 320A nhưng bỗng nghe người bên kia hét thật to,

– Tao là Kim Tuấn! Mày sẽ không thoát được tay tao!

Thì ra, từ nãy tới giờ tôi đang cãi nhau với Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản. Tôi bèn lớn tiếng, nhưng thật là chậm rãi,

– Tao là Thái Sơn! Mày vào bao nhiêu tao giết hết bấy nhiêu! Cứ xua quân vào đi! Tao thách mày đấy! Ở Tây Nguyên này tao là vô địch! Nghe rõ chưa?

Tôi dứt tiếng thì người bên kia rít lên,

– Tao thề sẽ giết mày!

Rồi máy tắt, không còn nghe gì nữa.

Mười phút sau không biết cơ man nào là pháo từ Tây, và Tây Nam, bắt đầu bay tới Plei Ngol Ho. Ðạn 105ly, đạn 122ly nòng ngắn, nòng dài, hàng nghìn trái theo đuôi nhau. Cũng may là địch pháo hơi dài so với hướng súng, khiến cho tất cả đạn đều rơi trên đỉnh đồi hướng Ðông. Căn cứ 711 nằm trong lòng đất trũng của làng Plei Ngol Ho nên không có viên đại bác nào rơi trên chỗ chúng tôi đóng quân.

“Thái Sơn đây Hỏa Long!”

Ðang khổ sở vì pháo địch, nghe tiếng ông niên trưởng Trần Bạch Thanh khóa 17 Võ Bị trên AC47 tôi vừa mừng lại vừa lo. Tôi mừng vì có thể nhờ Hỏa Long oanh kích những khu vực địch đặt pháo, nhưng lo vì nếu được hỏa châu soi sáng, tụi bộ binh của Việt-Cộng sẽ tập trung dễ dàng hơn, di chuyển cũng nhanh hơn. Khi đã nhận biết nguồn sáng phát ra từ cái đèn Beacon của Thiếu úy Trần Văn Phước ở giữa sân Plei Ngol Ho, anh Thanh hỏi tôi,

– Giờ đây Thái Sơn cần tôi càn quét chỗ nào?

– Okay! 4 clicks Tây Nam! Ðánh thả giàn!

Bầu trời đêm cuối tháng Âm Lịch rực sáng dưới hỏa châu, sau đó là những luồng đạn lập lòe chớp chớp từng chặp. Văng vẳng, tôi nghe vọng lại tiếng đại liên “Ồ! Ồ! Ồ!” Trên trời bỗng loé sáng như ai đó vừa bắn pháo thăng thiên! Một phút sau tai tôi nghe, “Bốp! Bốp! Bốp!”  tiếng phòng không 37ly giòn giã. Chiếc Hỏa Long bỗng tắt hết đèn, rồi bay đi đâu mất. Mấy phút sau, máy bay bất thình lình quay lại, vẫn tắt đèn, bắn vội vài tràng đạn, rồi biến luôn. Ðúng nửa đêm 14 tháng 4 năm 1974 địch triển khai đợt biển người thứ nhất trong ngày nhắm vào Plei Ngol Ho.

“Oành! Oành! Oành!

Thủ pháo mở đường, rồi bộ binh ào lên,

“Cành! Cành! Cành!”- “Xung phong! Xung phong! Xung Phong!”

Quân ta đã chuẩn bị sẵn sàng, bắn chéo cánh sẻ, đạn đan nhau, không một tên Việt-Cộng nào tới được bìa rào. Hai giờ sau, địch tiếp tục tung ra đợt biển người thứ hai, cũng cùng một kỹ thuật tiến công, cũng cùng hướng tiến, rồi cũng bị đẩy lui.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply