This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chuyện Ở Tỉnh Ly là tác phẩm thứ hai của Vũ Thư Hiên được xuất bản ở hải ngoại này, sau cuốn Đêm Giữa Ban
Ngày, cuốn sách vẫn còn tiếp tục gây dư luận của ông. Chuyện Ở Tình Ly gồm 10 truyện ngắn. Và, với 10 truyện ngắn này, ông Vũ Thư Hiên vẫn cho thấy, ông là một người nhậy cảm, tinh vi, sự việc gì xẩy ra, chỉ thoáng qua,
ông có thể ghi nhận được ngay, kể cả những chi tiết. Tài năng và sự tỉnh táo của ông khiến người đọc vừa khâm phục vừa sợ. Người ta tự hỏi, những người mẫn cảm như thế, sắc xảo như thế, làm thế nào có thể tồn tại được
trong một chế độ mà chính họ nhìn đâu cũng chỉ thấy, không phải chỉ những chuyện đau lòng mà là một đời sống gần như không thể sống được. Những con người không ra con người.
Những con người bị bóp méo, bị vặn vẹo. Những con người có sự khôn ngoan của quỷ, đối xử với nhau như súc vật. Lòng tốt chỉ còn là những tiếng khóc. Người ta có thể tin chắc Vũ Thư Hiên không bịa đặt. Những gì ông kể lại trong chuyện Con Bò Hà Lan chẳng hạn, đối với những người đã từng ở trong các trại cải tạo ra, người ta có thể biết ngay đó là sự thật. Ngôn ngữ các cán bộ nói với tù, tù nói với cán bộ, ngớ ngẩn, độc ác, thứ ngôn ngữ cười ra nước mắt. Những tên gọi người ta đặt cho nhau ở trong tù: Quảng Vixi, Dần Mọt Gông, Bân Mẹ Chồng, con bò của bác Phi Đen Cát Tờ Rô [tặng bác Hồ được giao cho trại chăn nuôi]. Quảng Vixi gọi nó là con bò Phi Đen, bị cán bộ quy tội xúc phạm lãnh tụ, mất chức chăn bò, 15 ngày kỷ luật, có nghĩa là bị còng, bị nhốt cát-sô, bị cúp thăm nuôi nếu có thăm nuôi, hạ mức ăn.
Xin trích một đoạn trong các trang 50-51:
“Hai viên thầy thuốc của nhà tù bàn cãi một lúc lâu. không sao ngã ngũ được về nguyên nhân con bò bỏ ăn. Những người ngoại đạo đối với y học, dán mắt vào họ cố hiểu những từ chuyên môn và những tên thuốc. Suốt thời
gian ấy, Dần Mọt Gông chỉ đứng ngoài, vẻ đăm chiêu, gật gù cái đầu to. Mãi rồi ông mới len vào, ngồi xuống bên cạnh con vật, sờ sờ, nắn nắn bụng nó. Con bò liếc nhìn ông già bằng con mắt bất cần đời. Anh y sĩ trại hỏi Dần Mọt Gông:
– Bác nghĩ nó là cái gì?
Dần Mọt Gông nín lặng. Ông đang bận suy nghĩ.
– Có phải ngộ độc không? – Y sĩ trại giật giật tay áo ông
– Anh Quảng nói nó đang ăn uống bình thường bỗng dưng bị thế.
Dần Mọt Gông vốn tinh ý. Ông biết viên y sĩ trại chẩn đoán con bò bị ngộ độc, còn y sĩ cơ quan thì lại cho rằng có nhiều dấu hiệu rối loạn tiêu hóa. Ông nói nước đôi:
– Dễ thế lắm. Rừng nào cũng đủ loại cỏ, lành có, độc có.
Y sĩ trại giới thiệu Dần Mọt Gông:
– Thưa Ban, anh này biết nhiều về về thuốc lá, tức là, tôi muốn nói, thuốc dân tộc …
“Thưa Ban”, đó là lối nói đặc biệt của xã hội miền Bắc dưới chế độ công sản. Nó từa tựa như một mẻ lưới để không bỏ sót ai, để tránh tội vạ cho mình, đồng thời vẫn giữ được vẻ tôn kính, lại còn tránh cho các đối tượng được thưa gửi không ai phải chịu trách nhiệm một mình, nếu vì lẽ gì, sau đó, xẩy ra chuyện rắc rối, không như ý.
Người ta đắm chìm trong những chuyện tương tự, hành hạ lẫn nhau, kể cả giết nhau để mưu toan chức tước, quyền lợi, không còn chỗ nào dành cho sự hiểu biết, phát triển. Sống chết cũng chẳng biết thế nào. Ai đó muốn kẻ này chết, hắn phải chết. Nếu được tha, hắn cũng không hiểu vì sao được tha và ai tha. Ngày mai có còn bị bắt lại nữa hay không hắn hoàn toàn không thể biết. Ở bên cạnh, ở ngoài cái vòng quay khủng khiếp đó, vẫn có những người nhìn thấy hết, biết hết, nhưng chẳng làm gì được, tự giấu mình trong đám đông để tồn tại. Ở trong tù mà anh tỏ ra anh hiểu biết hơn người khác là một cách tự rước lấy họa. Hay nói như Lý Cẩm Dương, ở trong chuồng vịt mà anh lại riễu cợt cái dáng đi lạch bạch của con vịt thì anh phải chết.
Thế nhưng, nếu không có cơ hội nào thoát khỏi cái chuồng vịt ấy thì sao? Trong cái đời sống như thế, người ta gần như bị bắt buộc phải tự tạo thành những con người hai mặt để tồn tại. Điều đó trở thành thảm kịch của mỗi cá nhân. Chuyện Sương Xuân & Hoa Đào, Vũ Thư Hiên viết về Nguyễn Tuân, tác giả Vang Bóng Một Thời, với tư cách bạn của thân phụ ông. Chỉ bằng vài nét phác lược, Vũ Thư Hiên cho ngay một người tinh tế, kiểu cách, như người ta vẫn thường nghe nói.
Ở trang 215 Vũ Thư Hiên viết:
“Ra khỏi cổng Nguyễn Tuân dừng lại hồi lâu trên hè, nhìn phố Hai Bà Trưng thưa thớt người đi lại vào sáng sớm tinh sương, ông nghiêng đầu nói khẽ với tôi:
– Anh có thấy Hà Nội buổi sáng mùng Một này thiếu cái gì không?
Tôi không cần động não để tìm câu trả lời. Câu hỏi được đặt ra chỉ là cái cớ cho câu trả lời đã có sẵn, chắc chắn là sẽ rất Nguyễn Tuân.
– Anh không nhận ra cái sự thiếu ấy, tôi không trách. Anh còn quá trẻ. Ngày trước, sáng mùng Một bao giờ cũng có sương nhè nhẹ, không nhiều, một chút gọi là có, nhưng đích thực là sương. Nó bay là là, thoang thoảng như có mà như không. Rét ngọt. Chỉ có trên các lá cây mới có sương hiển hiện, lâu lâu đọng thành giọt, rơi xuống mặt mình, có khi lọt vào cả cổ áo mình, rất là Tết. Đã mấy năm nay, vào ngày Tết mình cứ thấy thiếu thiếu cái gì đó mà không biết là cái gì. Bây giờ mới hiểu ra: đúng là thiếu nó, thiếu sương”.
Nguyễn Tuân, được rất nhiều người Hà Nội gần đây, lấy ra làm mẫu mực để hãnh diện lây, vì cái kiểu cách sống của ông. Những người khác lại nhớ đến cái cảnh cũng do chính ông viết kể lại chuyến ông đi thăm chiến trường miền Nam, thấy một người lính Mỹ chết, ông đã cầm điếu thuốc nhét vào miệng anh ta bảo “hút đi!”.
Giữa giọt sương và điếu thuốc lá của Nguyễn Tuân có sự khác biệt nào chăng? Chuyện Ở Tỉnh Ly là một tập truyện ngắn hay, nhưng buồn. Đọc thấy cảm thương cho cả người lẫn đất nước.
Khi hắn tới, Lài bận tiếp khách. Hắn ngồi ngoài cửa ngó sang đám bụi mù. Họ đang phá nốt những gì còn lại. Trong xóm đồn đãi, tương lai đống gạch đá ấy sẽ hiện lên bề thế một cái khách sạn ba sao. Công nhân xây cất đang cố sức làm vượt chỉ tiêu, hoàn thành hợp đồng trước mùa mưa. Hắn mường tượng ra một hình khối đứng án ở ngã tư. Như vậy, sự tăm tối ở đây sẽ phải tối tăm thêm. Nắng không tài nào đi sâu, liếm bóng chiều tà trên những mái tôn xiêu đổ. Khách đi ra. Lặng câm, vội vã. Đó là một cậu thanh niên. Nếu còn cắp sách đến trường thì án chừng cậu học tới lớp 10. Hắn nhìn cái lưng con ong trẻ nhỏ ấy vừa bay khỏi một đài hoa và phát hiện bức tường vôi nham nhở bên kia còn nuối tiếc một hàng chữ ám trên thân: … sống mãi trong sự nghiệp của chúng… Chữ ở hai đầu bị rơi rụng đi. Bức tường thu ngắn dần như một ổ mì có hai miệng ăn. Tiếng động không ngớt dồn đẩy qua. Một cái chết, hay một sự hồi sinh thảy đều ồn ào giống nhau. Phá vỡ cái cũ, dựng xây cái mới thảy đều đinh tai nhức óc.
Dì Chín rót cho hắn một ly nước đun sôi để nguội.
– Ngồi chơi. Tui đi chợ.
Người đàn bà có hai thứ tóc trên đầu đội nón đi ra khỏi nhà. Chân bà tuồng như dẫm trùng lên vị trí những sãi bước của thằng con trai hồi nãy. Hắn nghĩ tới sự diệu kỳ của đồng tiền, về cái cách phiêu dạt truân chuyên của nó. Thằng con trai trao tiền cho Lài, qua tay bà dì, tới tay hàng tôm hàng cá, và cứ thế nó luân lưu sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Nó bất tử, ngoại trừ nhà nước buồn tình ra sắc lệnh: Đổi bạc!
Hắn dắt xe vào nhà, khép đóng cánh cửa gỗ. Bản lề kêu lên, tiếng đau thương.
– Đến lâu chưa?
Lâu rồi, và khô dầu. Hắn nói thầm. Khi mắt quen với bóng mờ hắn nhìn thấy Lài đang cầm ở tay một cái thau nhựa đỏ, nhỏ nhắn. Cô đã tạt nước đi, hiện tại một đôi giọt nhểu thầm lặng xuống nền nhà. Bộ đồ lụa nhăn nhàu, ăn với mái tóc rối bung. Lài có một vẻ đẹp khó cắt nghĩa. Một đoá sen nở trên mặt bùn? Không. Hắn chưa từng tĩnh tâm để nhận ra vẻ đẹp rạng ngời của sen. Hoa, hắn không bao giờ bị mê hoặc, bị mềm lòng trước bất kỳ một giống hoa nào. Cái mong manh của hoa không phải là nơi tiềm ẩn vẻ đẹp. Trước tiên, nó biểu hiện ở đấy niềm bất an.
– Thằng đó nó xưng hô với Lài cách sao?
– Em đừng ngại. Anh không phải là hạng người dập liễu vùi hoa. Hắn nói thế.
– Lài mà hoang sớm có thể đẻ con bằng thằng ấy.
– Ác khẩu. Bụng dạ lúc nào cũng chứa đầy dao!
– Nó còn con nít chay. Cái mặt ấy chắc chỉ biết bú.
– Thôi đi ông thánh, nó xịn không tưởng được. Điệu đàng. Và nó có khối tiền dắt sau đít.
Lài thả chiếc thau nhựa xuống đất, đưa chân gạt nó vào dưới gầm giường. Giường trải chiếu lát, hai gối có thêu chim. Mùng buông rủ một góc, thấy hai ba miếng vải vá khác màu, trông như một cổ bài thu cất chẳng vén khéo, còn vướng mắc con chuồn con rô. Lài kéo tấm màn che đậy giang sơn đó lại. Vải màn nội hoá in hình lem nhem, xô động và đẩy đưa một mùi ngai ngái. Chăn chiếu ẩm mốc không có được thứ mùi lạ thường đó.
– Hẹn mấy giờ?
Lài hỏi khi kẹp lại mớ tóc đen, quăn, nhiều, rậm.
– Hai giờ.
– Sao chẳng nghe động tĩnh gì vậy?
– Ai biết. Trong khi chờ đợi, để anh ngả cái lưng một tẹo.
– Thôi, nằm mà làm gì? Em mới lau chùi, chiếu chưa khô.
Hắn ngó Lài. Áo lụa mỏng. Ở ngực như tuồng có dính hai hột đậu phụng, ở phiá trong. Thứ đậu phụng còn nguyên lớp lụa hồng chưa bóc.
– Có gì nhậu không? Lạt miệng quá!
– Được tài đòi hỏi. Chờ chút, nhờ dì Chín đi mua rồi. Ông đó ra sao ?
– Ngó cũng đặng.
– Cái gì đặng?
– Lài tự khám phá lấy. Như thế thích hơn.
– Thích? Thằng Dần bảo: Ngó ông ta tự nhiên em đâm nhớ tới ba em. Anh biết tuổi ông ấy không?
– Sao biết được? Hôm kia nhậu thịt rắn ông ta nói: Ai đời mà mình xơi cả bổn mạng mình.
– Xỉn chưa mà ăn nói ra chiều khó hiểu?
– Ông ấy phát ngôn: Tui không tin dị đoan. Năm nay là năm tuổi của tui, biết đâu chừng lại lấy được vợ xinh.
– Tuổi Tỵ à? Có lý nào ổng hơn Lài những hai giáp?
– Thì đã sao? Chả chưa già đâu. Đỏ da thắm thịt. Coi bộ còn sung. Nhậu lai rai mà mất ngoẻn hai vé. Lài phải chứng kiến bộ mặt dửng dưng của khứa lão khi móc ví. Mê mẩn luôn!
– Dầu gì thì đi với bọn nhỏ cũng đã hơn. Thằng chả chắc đồng trang lứa với dì Chín?
– Bậy nà. Tóc còn đen mun. Da săng, người thơm như Đường tăng.
– Anh ăn được cái giải gì mà hôm nay trở chứng đi bốc người dưng.
– Chả ăn được gì. Chẳng qua muốn Lài sa chân vào cái hủ nếp béo bở ấy thôi. Dầu sao anh cũng đóng vai anh, quyền huynh thế phụ. Mấy khi mà có kẻ chìu lòn mình, thích quá đi chứ!
– Giao xe cho thằng Dần đi đón à? Thằng quỉ sứ. Hẹn hai giờ sao kỳ vậy?
– Lui dội qua một miếng nước cho toảnh ngoảnh. Thay đổi xiêm y và nếu cần thì chơi chút dầu thơm. Làm bộ tịch con nhà lành à nghen.
– Cái gì lành, cái gì rách? Phá đời người ta rồi còn lên giọng kiểu cọ này nọ. Con nhà lành thì đéo có xài dầu thơm.
– Ừ… Đéo xài…
Lài kéo màn. Sợi dây thép căng trong góc nhún nhảy. Chiếc quần lót màu xanh láng lườm phơi trên dây bị lôi xuống. Lài chỉ có hai quần, như vậy thì em đang mặc chiếc màu đen. Tất cả đều chẳng còn mới. Lài bảo: phiá trong ai thấy mà lo. Nếu lỡ thấy thì mắt sẽ mù loà khi đó. Bởi chúng ưa vội vã lột ra để thấy cái đáng thấy. Lài nói thật chí lý, vì vậy hắn định tâm mua cho Lài một chiếc mới, màu đỏ; đôi ba bận nhất trí như thế rồi lại đành lòng lãng xao. Tiền ấy làm một hớp rượu cay thì đáng đồng tiền bát gạo hơn. Vã lại Lài không thích màu đỏ. Đứa nào có máu Việt cộng thì nó đỏ cho tới cả cái quần lót. Em nói thế, xanh dờn ác cảm, váng vất chút miệt thị. Dì Chín đội nắng trở về, khi ở phiá sau Lài bắt đầu dội xuống những gáo nước. Hắn ngó hai ba bịch ny-lông, sau cùng lôi ra được một lon bia lạnh.
– Nghe nói nhà có khách Việt kiều?
– Dạ. Ông về tìm vợ và coi bộ mết Lài.
– Biết con Lài hồi nào hay vậy?
– Trong túi áo thằng Dần lúc nào cũng thủ sẵn cái hình Lài chụp ở bãi biển Vũng tàu. Hắn ngửa cổ đổ bia vô mồm. Thấp thoáng trong đầu hắn hình những cánh bướm đang bay. Đúng hơn, áo tắm hai mảnh nhỏ xíu bó căng cơ thể Lài sũng nước. Lài thật ăn ảnh. Bắt mắt. Em như nàng tiên cá từ biển sâu lên bờ thoát y. Buồn tình, thằng Dần có thể mang tấm hình ấy ra mà thủ dâm. Em khiêu gợi tới độ người ta dễ trút bỏ muộn phiền, tuôn trào ra những mộng mị thầm kín.
– Không phải đùa, người có số cả! Chọn lựa cho lắm cũng chẳng đi tới đâu. Không hiểu con Lài nó chê cậu ở điểm nào?
Hắn làm thinh, ngó dì Chín chất đồ lên bàn có thứ lớp.
– Cơm nước chiều nay biết tính sao đây?
– Khỏi nấu nướng. Lài không cho dì hay à? Đi kéo ghế nhà hàng, đó là bổn phận của ông Việt kiều.
– Ừ, tha cho tui một bữa. Nói Lài là tui sợ đám đông, tui chuồn sớm cho mấy người tiện làm việc, chiều tui ăn cơm bụi. Khỏi thắc mắc.
Nắng chưa dịu sắc lửa bên ngoài. Người đàn bà bước đi, chân dẫm lên bóng; và trong phút giây con đường nhỏ ngập bụi nuốt rất mau cái bộ dạng le te vung vẫy ấy. Tất cả mọi cánh cửa đều đóng kín, chòm xóm coi bộ chưa một ai hay biết công việc của Lài. Hãy cầu mong thế. Hãy đợi cái khách sạn ba sao kia thành hình rồi hẳn phát hiện cũng chưa muộn. Con đĩ Lài. Hắn thật chẳng muốn nghe chữ ấy. Có lần hắn nói gần xa với Lài chuyện làm ăn lương thiện và đón nhận ở Lài một nụ cười khinh miệt. Quê hương mình đau khổ lắm ai ơi! Lài nói. Vu vơ, trống không. Một dấu chấm lửng lơ. Buồn như hết đường binh với mười ba lá bài xập xám chướng. Đằng sau những căn hộ đóng kín cửa có tiếng ca cải lương rất ngọt của một thằng bé. Chuyện tình oan trái nhiều nước mắt đã được thằng bé nhuận sắc lại, ca cẩm nghe vui tai. Lài cũng biết xuống sáu câu, thê thảm; nhưng không theo một bài bản nào cả. Đại loại như khi nhà nước đổ nhựa nâng cao mặt đường lên, Lài chửi rủa những cơn mưa tự trời xanh đổ xuống. Không có chỗ rút, mưa đọng vũng trong nhà, bởi cái nền giờ này đã chịu thiệt thòi trũng thấp so với mặt đường. Lài biết tân cổ giao duyên khi mặc cả với cái bọn làm nghề nâng cấp nền nhà. Hệt như chuyện thần thoại Sơn tinh Thủy tinh, một mình Lài phải chiến đấu theo từng độ cao của con đường ưa chơi trội. Lụt lội không chỉ tới với nhà cửa, nó còn chảy vào người làm úng nước những tấm lòng. “Anh đã từng biểu em đừng đi tắm sông tắm hồ tắm ao tắm biển, để cho mấy con cá lia thia nó rỉa mấy sợi lông..a.. à.. mày”. Hắn hồi hộp theo dõi tiếng ca vút cao. Hú hồn, thằng nhỏ chấm câu bằng một chữ thật đắt địa. Câu vọng cổ như biết diù hắn lui sau bếp, nuốt nước miếng ngó Lài lau mình lau mẩy. Đôi lông mày Lài thoáng nhíu:
– Phá mồi chi sớm vậy cha?
Mặt hắn đỏ. Chắc Lài tưởng hắn đã tợp ba bốn lon bia? Tương xứng với mái tóc, những chỗ khác cũng phồn thịnh mọc rậm rạp. Riêng lông mày thì suy một đường cong, sắc lẻm. Nếu tắm sông, hẳn cá sẽ không rỉa vào lông mày làm gì. Moi tiền của thằng giàu chứ ai lại đè kẻ nghèo mà bóc lột.
– Vẫn chưa đến à?
– Chưa. Cha con nó giờ này dám ngồi rung đùi trong quán bia ôm.
– Kỳ cục. Buổi sơ ngộ đầu tiên mà chơi vậy mất linh!
Hắn ngó hai lúm đồng tiền duyên dáng trên mông Lài:
– Để giết thì giờ ta vầy cuộc vui.
– Nghèo mà ham!
– Lâu rồi. Lài không nhớ sao? Anh đã quên bén mùi em.
– Trửng giỡn gì giờ này. Thằng chả lò dò vác mặt tới lại nghĩ bọn mình anh em mà vô luân… Chơi dầu thơm không?
– Kệ, bôi một ít cho đời lên hương.
– Thông thường người ta xức ở chỗ nào. Cổ, cườm tay hay hai bên má?
– Thằng chả ưa nhậu thịt rắn thì em cứ đè chỗ ấy mà xức.
– Sao kỳ vậy?
– Rắn có mùi nồng y chang. Không tin em thử đi tắm sông tắm hồ, rắn đánh hơi nó chui đầu vào cho xem.
– Nói nghe ghê.
Lài mở hộp giấy rút lọ nước hoa ra ngắm nghía. Dung dịch màu vàng sóng sánh như bia, nhưng chất nước ấy đắt tiền hơn bia cả vạn lần. Đó là món quà mọn của người đàn ông hơn Lài những hai mươi bốn tuổi. Ông uống rượu ngũ xà, bảo đó là thuốc cường dương. Năm thứ rắn độc chảy vào người chưa đủ, ông nói chuyến này về tôi còn mang theo thuốc Viagra. Trời! Phải biết lượng sức mình chứ. Nhìn ảnh Lài mặc đồ tắm kiểu này thì biểu ai mà cầm lòng cho đậu! Ông tuyên bố một cách nghiêm trang, ít nhiều thành khẩn trong khai báo.
Mùi thơm lan tỏa, dật dờ cả căn bếp. Lài kéo quần lên rồi cất lại chai Romance vào hộp giấy có in chữ Ralph Lauren.
– Hôm nào vơi bớt đổ tí nước trà vào rồi mang ra chợ trời là xong. Xu-chiên xì-líp coi bộ cần thiết hơn.
Lài nói trong khi mặc áo. Hắn không nhớ rõ là Lài có bao nhiêu cái nịt vú. Với hắn, có lẽ xú-chiên cũng là thứ nằm trong danh mục những loại chẳng cần thiết. Rườm rà, nhiêu khê. Lấn át vẻ đẹp thân thể của một người nữ. Hắn đưa tay tính gài hộ Lài những hạt nút áo thì có tiếng xe gắn máy vừa thắng đứng. Cả hai nhìn nhau, sau cùng Lài giả bộ ho hen: Chung cuộc thì Tào Tháo đã tới.
Hắn đến bên lu nước múc một gáo, rửa mặt, vuốt cho tóc ướt. Hôm nay hắn cần minh mẫn để bàn tính chuyện trọng đại, hắn phải diễn vai khó, nửa vui mừng nửa đau thương khi bàn giao đứa em gái cật ruột duy nhất đến tay ông… khúc ruột ngoài ngàn dặm. Khi đi lên nhà trên hắn cũng đằng hắng mấy bận cho thông cổ:
– Ủa, vậy chớ ổng đâu?
– Xảy ra sự cố.
Thằng Dần loan tin. Tóc rối bụi đường, da ăn nắng, mặt mồ hôi mồ kê.
– Mẹ kiếp. Cái gì gọi là sự cố mày? Trở ngại kỹ thuật à?
– Ừa. Ổng bận họp công ty quỉ quái gì đó. Cho qua xin lỗi nghe cưng, nói Lài tối nay qua sẽ đền tội. Chả nói vậy đó. Đứng ngoài khách sạn chờ chả muốn chết luôn.
Lài ngó chăm vô mặt thằng Dần:
– Tin được mấy phần? Cái mặt mày sao tao nghi quá!
– Quỉ thần ơi! Hết chuyện giỡn chơi rồi sao, mánh mung gì ba cái vụ này.
Dần ngồi xuống ghế. Hắn tự động khui một lon bia:
– Nhưng mà như thế này, trong khi đợi trước khách sạn, tui có làm quen được một thằng Tây ba lô.
Lài đặt tia nhìn hướng về hắn và cô tới kéo ghế ngồi gần thằng Dần.
– Chuyện lạ! Mày có áp phe gì ngon nói tao nghe.
– Nửa vé. Chị tính sao?
Hắn đứng vòng tay dõi trông tình hình. Lài rót bia ra ly, uống từ tốn. Cô liếm môi, cái nốt ruồi nằm bên khóe trở nên đen bóng.
– Bổn cũ soạn lại hả mày?
– Uả, ảnh đẹp như vậy không khoe cũng uổng. Thu cất trong túi làm gì cho nó mốc meo.
– Ngại lắm mày…
– Chị ngại gì, thằng chả nói tiếng Việt xịn lắm à nghen. Chị đâu có tốn công hoa tay múa chân.
– Mày không nhớ tuồng cải lương Củ Chi kiên cường đánh thắng giặc Mỹ sao? Tao nhớ như in trong vở đó có câu: Cái vật ấy to dài thế nào gần xa ai nấy cũng đều hay…
– Thôi mà bà chị. Họ ca ngợi khẩu B-40 đó. Chớ đừng có méo mó nghề nghiệp mà chúng cười.
– Bà tổ mày… Tây ba lô thật à?
– Thật. Mắt xanh mũi lõ đàng hoàng.
– Lông lá đầy mình à?
– Lông lá cả ổ. Nơi ngực mọc từng nạm xum xuê. Y như râu bắp. Coi ngộ lắm.
Lài nuốt nước bọt.
– Đừng tả cảnh nữa mày… Nửa vé. Năm mươi đô, nghe cũng ham. Tao đang cần tiền để nâng cấp căn nhà, chí ít cũng ngăn được cái buồng, toang hoang trống trải như vầy không chừng có ngày mà mắc phong.
– Chị mà nhất trí thì tui làm tài công. Hắn nói chiều nào cũng ra ăn nơi nhà hàng nổi.
Lài có vẻ bồn chồn. Ngồi trong nhà mà bềnh bồng như đang tọa mông trên sông nước. Sau cùng Lài đứng lên:
– Uống hết bia rồi chở tao đi.
Thằng Dần nhìn lên hắn:
– Ở nhà ngơi một giấc điệp cho khoẻ khoắn. Ngó cái mặt anh kià, y như dân choác thứ thiệt đang chờ tới cử.
– Nó nói đúng đó. Ngủ đi, tối nay có sức mà nhậu thịt chó. Thịt chó hay thịt rắn mày? Trời, thực đơn của thằng cha già kia coi bộ khó nuốt.
Hắn không nói. Hắn ngồi xuống bàn và bắt đầu phá mồi thực sự. Ai nói tiền của đĩ bỏ ra ăn không ngon miệng? Sai lầm. Hương vị tôm khô củ kiệu vẫn tanh nồng. Men bia vẫn đắng như đã từng, chẳng suy suyển. Hừ, chân lý ấy ngàn năm cứ không đổi!
Lài chẳng thưa thốt gì với hắn khi bước ra ngoài. Leo lên yên xe dream, ôm eo thằng Dần và tiếng động cơ dòn dã vất lại, khuấy động lòng đường hẹp, đâm thốc vào người hắn, ghìm chặt hắn ở bàn ghế, không động đậy trong nhất thời.
Hắn lui chỗ Lài tắm, đứng đái. Gục mặt nhìn cái vòi nước vẽ rồng vẽ rắn uốn lượn. Hắn lên giường của Lài lật chiếu, moi bao gối, kéo những hộc tủ lục soạn. Không tìm ra được một tờ giấy bạc. Bắt ghế đứng thò tay vào ống xối thăm dò, trống không. Thọc năm ngón bóp bóp sờ soạn trong hủ gạo, chẳng có. Cũng lạ, nhà như cái lỗ mũi, chẳng biết Lài thu dấu ở ngóc ngách nào? Thất bại trong việc kiểm kê tài sản, buồn tình hắn đóng cửa bỏ đi. Chiếc xe đạp quay từng vòng chậm rãi trong khi hắn động não về một đích đến. Nửa giờ sau hắn dẫn xác vào một căn nhà có nhiều tấm bià cứng trám nơi vách tôn rỉ sét. Đứa con gái nằm trên giường tre ló mặt sau tờ báo mở rộng.
– Chà lâu ngày dữ. Cứ tưởng là có lê quên lựu có trăng quên đèn. Rồng tới nhà tôm có chuyện gì không?
Hắn mang xe vào kê sát bên giường, ngồi xuống xoa tay nơi hai đầu gối.
– Chuyện gì? Thì nhớ mùi tôm nên chủ đích là tới xơi tôm đây.
– Tiền trao cháo múc.
Đứa con gái nói. Vẫn nằm yên như đang đọc dở dang một trang báo.
– Cho anh ghi sổ, mai trả cộng với tiền lời.
– Không tin. Đưa thẻ chứng minh nhân dân cho em cất.
– Xong ngay.
Đứa con gái đón nhận miếng giấy bọc nhựa. Một ảnh trắng đen đóng khung cái sọ người hốc hác bên trong.
– Của anh hay móc từ túi thằng nào mà cái mặt lạ hoắc.
– Đừng đùa. Ảnh chụp lúc anh chưa mất trinh.
Hắn moi túi quần ra một viên thuốc. Ông già Việt kiều cho hắn hôm qua, bảo là thần dược đó cưng, Hoa Đà tái thế thấy cũng sáng mắt sáng lòng. Hắn nuốt khan, chẳng cần chiêu một ngụm nước. Lý ra Lài là người đón nhận sự thử nghiệm này. Thôi, phi vụ này xin em chịu khó trải thân làm vùng oanh kích tự do.
Hắn thong thả thoát y chờ chuyển biến rạo rực trong máu. Hắn lột quần đứa con gái ra. Cô ta cũng xài thứ quần lót như Lài. Người cô cũng có hương nồng y chang. Đàn bà con gái có nhiều điểm trùng hợp (ngoài ý muốn). Rập khuôn. Trăm hoa nở cùng một thứ. Đàn ông như hắn thì sao? Chuyện đó thì hắn chẳng thể giải thích. Chắc cũng đồng phục y trang? Có sao Lài mới đi thực tế nơi người thằng Tây ba lô. Mắt xanh mũi lõ, lông lá rậm rạp, to lớn dềnh dàng, đế quốc tư bản. Chừng ấy thứ đã là khoảng cách mênh mông rồi, nói chi tới chuyện ăn độn mãi cũng nhạt mồm, mấy khi mà được dùng bữa sơn hào hải vị! Tới luôn bác tài. Phải không Lài?
Hắn dùng hai tay nâng đôi chân đứa con gái lên. Tờ báo thủy chung vẫn ở vị trí cũ. Đó là giai phẩm Xuân in bìa bốn màu lộng lẫy. Cái anh hoạ sĩ nhân dân nào chắc là có con tim bồ tát, vẽ rắn hổ mang mà từ đầu cho chí mình mẩy đều hiền từ trông như một khúc dồi nằm cuộn mình trên bàn nhậu. Hắn giật tờ báo ném xuống gối, hắn muốn nhìn mặt đứa con gái hơn. Hắn ưa theo dõi từng biểu lộ sẽ hiện lên trên dung nhan kẻ nằm dưới. Mồ hôi bắt đầu tuôn chảy trên sống lưng hắn trong khi đứa con gái tỉnh queo nằm hát vu vơ. Trong trang ruột tờ báo bị lật ngửa, hắn đọc thấy hàng chữ : Năm mới thắng lợi mới. Dưới góc là những tin tức coi bộ khó gặt hái thắng lợi: Xì ke ma túy lộng hành, trộm cắp đĩ điếm như rươi, nghèo nàn lạc hậu đứng gần chót ở bảng thống kê toàn cầu. Bán máu, đua xe gắn máy trở ngại lưu thông, bệnh Sida lan tràn đến mức báo động đỏ…
Hắn thở hổn hển với trái tim co thắt. Chiều nhuộm đen rất mau khung cửa nhỏ mở tầm nhìn tới một bãi rác vắng. Thoang thoảng ở mũi hắn mùi hôi nách của chủ hộ. Hay gió lùa hương chua từ bãi rác xô dạt về? Hắn gục xuống trên bụng trần đứa con gái. Cái lỗ rốn ấy thật sâu, thật đen. Như mộ huyệt. Tiếng đứa con gái cất cao: Đừng đùa dai cha nội. Bộ muốn chết hả? Năm mới năm me chơi vậy là triệt đời tui. Nè, lai tỉnh đi chớ. Ba hồn bảy viá đâu về…
Tối hôm ấy, Batton gửi cho tôi ba điếu Gauloises và một mảnh giấy viết: “Bươm bướm ơi, tớ biết rằng khi ra đi cậu sẽ mang theo một kỷ niệm tốt về tôi. Tôi là trưởng tù thật, nhưng tôi cố sao càng ít làm hại các bạn tù càng tốt. Sở dĩ tôi nhận cái chức vụ này là vì tôi có chín đứa con và tôi rất cần được ân xá thật sớm. Tôi sẽ cố gắng làm sao đừng đối xử quá tệ đối với anh em mà vẫn được tha sớm. Từ biệt nhé. Chúc cậu may mắn. Ngày kia cậu sẽ lên đường rồi”. Quả nhiên ngày hôm sau họ tập hợp chúng tôi lại thành từng tốp ba chục người trong hành lang của khu trừng giới. Mấy người y tá ở Caen đến tiêm chủng cho chúng tôi để đề phòng các bệnh nhiệt đới. Mỗi người được ba mũi tiêm và hai lít sữa. Dega đứng gần tôi. Bác ta có vẻ đăm chiêu tư lự. Bây giờ tù không tuân thủ quy tắc im lặng nữa, vì ai nấy đều biết rằng vừa mới tiêm chủng xong họ không thể nhốt tù vào xà-lim được. Chúng tôi nói chuyện khe khẽ với nhau ngay trước mũi bọn cảnh sát. Bọn này không dám nói gì vì ngại các y tá ở thành phố về. Dega nói với tôi: – Không biết họ có đủ xe xà-lim để chở cả bọn đi một chuyến không? – Chắc là không. Saint-Martin-de-Ré xa lắm, nếu cứ mỗi ngày chở sáu chục thì phải mất mười ngày mới chở hết, vì chỉ riêng ở đây thôi cũng đã có gần sáu trăm. tù rồi. Đã tiêm chủng rồi thì cứ yên chí. Vì như thế có nghĩa là mình đã có tên trong danh sách, thế nào cũng được đưa ngay đến nơi khổ sai. Can đảm lên Dega ạ, một giai đoạn mới sắp bắt đầu. Bác hãy tin cậy tôi như tôi tin cậy bác. Dega nhìn tôi, hai mắt sáng long lanh. Bác ta đặt bàn tay lên cánh tay tôi và nhắc lại: “Sống chết có nhau Papi nhé”. Cuộc hành trình trên xe chở tù không có gì đáng kể lại. Họa chăng cũng chỉ có một điều là mỗi người bị nhốt trong cái ngăn chật chội của mình trên thùng xe, rất ngột ngạt. Bọn áp giải không chịu mở hé mấy cánh cửa để cho chúng tôi thêm một ít không khí. Khi đến La Rochelle, trên chiếc xe chở chúng tôi có hai người đã chết ngạt từ bao giờ. Saint-Martin-de-Ré là một hòn đảo, muốn ra đó phải chuyển sang tàu thủy để đi qua lạch biển. Những người vô công rồi nghề tụ tập trên bến để xem tù đã chứng kiến việc phát hiện hai cái xác người thảm hại kia. Họ không bày tỏ một cảm xúc nào trước cảnh ấy. Vì bọn cảnh sát phải bàn giao đầy đủ số tù do chúng áp giải cho khám Citadeue ở trên đảo, dù còn sống hay đã chết, cho nên chúng đưa cả hai cái xác chết cùng lên tàu với chúng tôi. Cuộc vượt biển không dài, nhưng dù sao chúng tôi cũng được thở không khí trong lành của biển một lát. Tôi nói với Dega: “Chưa chi đã phảng phất hương vị của một chuyến vượt ngục”. Dega mỉm cười. Julot, lúc bấy giờ đứng cạnh chúng tôi, nói: – Đúng. Có mùi vượt ngục thật. Bản thân tôi đây, tôi đang trở lại nơi mà tôi đã trốn khỏi cách đây năm năm. Tôi đã bị bắt một cách ngu xuẩn đúng vào lúc tôi sắp giết cái thằng cha chứa chấp tôi đã đi báo cảnh sát cách đây mười năm. Chúng mình hãy cố đứng sát nhau, vì đến Saint-Martin-de-Ré họ sẽ phân đám tù thành từng tốp mười người, mỗi tốp nhốt vào một phòng giam, trên tàu đứng như thế nào thì họ cứ thế mà phân bừa. Cái anh chàng Julot ấy nhầm. Đến nơi, họ gọi tên Julot và hai người khác nữa bắt đứng riêng ra. Đó là ba người khổ sai đã vượt ngục, đã bị bắt lại ở Pháp, nay đang trở lại nơi khổ sai lần thứ hai. Bị nhốt mười người một buồng, chúng tôi bắt đầu sống trong cảnh chờ đợi. Chúng tôi có quyền nói chuyện, hút thuốc, và họ cho chúng tôi ăn rất khá. Thời kỳ này chỉ nguy hiểm đối với cái plan mà thôi. Thỉnh thoảng, người ta bỗng dưng gọi anh ra, bắt cởi truồng và khám rất kỹ. Trước hết là khám cái ngóc ngách ở trên người cho đến tận gan bàn chân, rồi sau đó là khám áo quần, đồ đạc. Xong đâu đấy mới được mặc áo quần trở lại và về phòng giam. Hết phòng giam lại đến nhà ăn và khoảng sân trong đó chúng tôi nối đuôi nhau đi vòng quanh suốt mấy giờ liền. Một, hai! Một, hai! Một, hai. Chúng tôi đi thành từng đội, mỗi đội một trăm năm mươi tù nhân. Đoàn diễu hành khá dài, tiếng guốc gỗ kêu lốc cốc. Khi đi như vậy phải im lặng tuyệt đối. Rồi đến lệnh “giải tán!” Chúng tôi ngồi xuống đất thành từng tốp chia theo phạm trù xã hội. Trước hết là những người thuộc giới giang hồ chính danh. Đối với hạng người này quê quán không có gì quan trọng: người Corse, người Marseille, người Toulouse, người Bretagne, người Paris, v v Lại có cả một người Ardèche nữa: ấy là tôi. Và cũng cần phải nói rõ một điều đáng lấy làm tự hào cho cái tỉnh Ardèche là trong đoàn tù gồm một ngàn chín trăm người này chỉ có hai người quê ở Ardèche: một anh cảnh sát canh nông giết vợ và tôi. Kết luận: dân Ardèche là người lương thiện. Các nhóm khác thì hình thành một cách bất kỳ, vì số người “tử tế” đi khổ sai vốn nhiều hơn số người “lôm côm”. Những ngày chờ đợi này được gọi là những ngày quan sát. Thật vậy, ở đây người ta quan sát chúng tôi dưới đủ mọi góc độ. Một buổi chiều tôi đang ngồi phơi nắng thì có một người đến cạnh tôi. Hắn ta đeo kính trắng, người nhỏ và gầy. Tôi cố đoán xem hắn là hạng người nào, nhưng vì tù mặc đồng phục, ai cũng như ai, cho nên rất khó đoán. – Anh là Papillon phải không? hắn nói giọng Corse rất nặng. – Vâng, chính tôi. Anh muốn gì tôi? – Ra nhà xí đi – hắn nói xong bỏ đi ngay.
– Thằng cha này người Corse – Dega nói với tôi – Chắc chắn là một tên kẻ cướp vùng núi. Không biết nắn muốn gì ở cậu thế? – Rồi sẽ biết. Tôi đi về phía dãy nhà xí ở giữa sân, và giả vờ đi đái. Người kia cũng đang đứng đái ngay bên cạnh tôi. Hắn không nhìn tôi, nói: – Tôi là em rể của Pascal Matra. Hôm đến thăm tôi ở nhà tù, anh ấy có nói là nếu tôi cần sự giúp đỡ thì nhờ anh. – Đúng, Pascal là bạn tôi. Anh cần gì? – Tôi không mang plan được nữa: tôi bị kiết lỵ. Tôi không biết nhờ ai giừ hộ, chỉ sợ người ta lấy mất hoặc bị bọn cớm phát hiện. Tôi van anh, anh mang hộ tôi mấy hôm. – Đoạn hắn cho tôi xem một cái plan to hơn của tôi nhiều. Tôi sợ hắn giăng bẫy, và hắn yêu cầu tôi giúp chẳng qua chỉ để biết rõ bản thân tôi có mang plan hay không: nếu tôi nói rằng tôi không chắc có thể mang hai plan một lúc, hắn sẽ biết ngay. Cho nên tôi nói tỉnh khô: – Có bao nhiêu trong ấy? – Hai mươi lăm ngàn francs. Không hỏi thêm gì nữa, tôi cầm lấy cái plan (nó rất sạch), và trước mặt hắn, tôi đút nó vào hậu môn, trong lòng băn khoăn không biết liệu một người có mang nổi hai cái hay không. Về điều này tôi hoàn toàn chưa có kinh nghiệm. Tôi đứng dậy, mặc quần… Hình như ổn cả, chẳng thấy vướng gì. – Tôi tên là Ignace Galgani, – hắn nói với tôi trước khi bỏ đi. – Cám ơn Papillon. Tôi trở lại chỗ Dega và kể lại việc vừa qua. – Không nặng quá chứ? – Không. – Thế thì được. Không nói chuyện này nữa.
Chúng tôi tìm cách bắt liên lạc với những người đã từng ở tù khổ sai về, nhất là Julot hay là le Guittou. Chúng tôi đang khao khát tài liệu: ở bên ấy ra sao, chế độ ở đấy đối với tù nhân như thế nào; làm cách nào để có thể nói chuyện riêng với một người bạn, v.v… Sự tình cờ đã xui khiến cho chúng tôi gặp được một mẫu người kỳ thú, một trường hợp đặc biệt. Đó là một người Corse ra đời trong nhà tù khổ sai. Bố hắn làm giám thị ở đấy và cùng với mẹ hắn ở Quần đảo Salut. Hắn sinh ra ở đảo Royale là một trong ba cái đảo làm thành Quần đảo này (hai đảo còn lại là đảo Saint Joseph và đảo Quỷ). Và giờ đây, số phận đã xoay vần như thế nào mà hắn đang trở lại nơi chôn nhau cắt rốn không phải với tư cách con ông giám thị mà với tư cách tù khổ sai. Hắn bị xử mười hai năm khổ sai vì tội ăm trộm có bẻ khóa. Mười chín tuổi, một gương mặt cởi mở, đôi mắt sắc sảo và trong sáng. Tôi và Dega thấy ngay tức khắc rằng đây là một người phạm tội chỉ vì một lúc lỡ bước. Cậu này không biết gì nhiều về giới tội phạm, nhưng đối với chúng tôi cậu ta sẽ có ích bằng cách cho chúng tôi tất cả những điều cần biết về cảnh sống đang chờ chúng tôi. Cậu ta kể lại cuộc sống ở quần đáo, nơi cậu đã sống mười bốn năm. Chẳng hạn cậu ta cho chúng tôi biết rằng người coi sóc cậu ở Quần đảo là một tên tù khổ sai nổi tiếng bị sa cơ trong một cuộc đấu dao trên đồi La Butte vì đôi mắt kiều diễm của Casque d’Or. Cậu ta cho chúng tôi những lời khuyên rất quý: muốn vượt ngục thì phải xuất phát từ đất liền, vì xuất phát từ Quần đảo Salut là điều không thể được; thứ đến là phải cố sao đừng bị phân vào loại nguy hiểm, vì nếu thế thì đến Saint – Laurent một cái là sẽ bị cấm cố ngay trong một thời gian hay suốt đời tùy mức nặng nhẹ được ghi trong sổ nhận xét. Nói chung, không đến năm phần trăm tù khổ sai bị cấm cố ở Quần đảo. Số còn lại thì ở đất liền. ở Quần đảo khí hậu tương đối lành, nhưng ở Đất liền, như Dega đã kể cho tôi nghe, nước rất độc, khiến cho người tù kiệt sức dần vì đủ các thứ bệnh; ở đây người ta có thể chết rất nhiều cách, vì bệnh hay vì bị ám sát, v.v.:. Dega và tôi cùng hy vọng sẽ không bị cấm cố ở Quần đảo. Nhưng tôi vẫn thấy nghẹn trong cổ: nhỡ ra tôi bị ghi trong sổ là thuộc loại tù nguy hiểm thì sao? Tôi bị án chung thân, lại thêm chuyện Tribouillard và chuyện chửi viên giám đốc, một bức chân dung tuyệt mỹ rồi còn gì! Một hôm có tin đồn: dù có thể nào cũng không được xin vào bệnh xá, vì những ai quá yếu hay có bệnh xem chừng không chịu nỗi cuộc hành trình đều bị nhân viên bệnh xá đầu độc cho chết. Chắc là tin vịt thôi. Quả nhiên một người Paris tên là Francis la Passe đã xác nhận rằng tin đồn ấy là bịa đặt. Của đáng tội, có một người bị đầu độc thật, nhưng một người anh ruột của Francis la Passe làm việc trong bệnh xá đã nói cho hắn biết đầu đuôi câu chuyện. Số là có một chuyên gia cỡ lớn về tủ két sắt, nghe nói đã từng ăn trộm tài liệu mật của đại sứ quán Đức ở Genève hay ở Lausanne trong thời kỳ đại chiến lần thứ nhất để trao cho các cơ quan tình báo Pháp. Những tài liệu ấy có tầm quan trọng rất lớn, cho nên cảnh sát đã phải giao hắn cho Phòng nhì để làm việc này trong khi hắn đang ngồi tù (hắn bị xử năm năm). Và kể từ 1920, mỗi năm làm một hai vụ, hắn sống yên ổn. Cứ mỗi lần bị bắt, hắn lại cầu cứu bên Phòng nhì để họ can thiệp hộ. Nhưng đến lần này thì không ăn thua. Hắn bị xử hai mươi năm và lẽ ra sẽ đi đày cùng một chuyến với chúng tôi. Để tránh đi chuyến này, hắn đã giả vờ ốm để vào bệnh xá. Một viên cyanure – vẫn theo lời người anh của Francis la Passe – đã kết thúc mọi sự Bây giờ thì các tủ két sắt và Phòng nhì có thể ngủ yên. Cái sân tù này đầy ắp những câu chuyện ly kỳ, đúng sự thật cũng có mà bịa đặt cũng có. Dù sao thì chúng tôi cũng vểnh tai lên mà nghe: ít nhất cũng giết được thì giờ. Mỗi lần tôi đi ngoài, dù là khi đang ở trong sân hay trong xà-lim, Dega phải đi theo tôi, vì có hai cái plan: Dega đứng che cho tôi trong khi tôi hành động, để ngăn chặn những con mắt quá tò mò. Một cái plan đã là rầy rà, thế mà tôi mang những hai cái trong khi đó thì Galgani ốm càng ngày càng nặng. Và ở đây có một hiện tượng bí ẩn không hiểu sao được: cái plan mà tôi đút vào sau bao giờ cũng ra sau, và cái đút vào trước bao giờ cũng ra trước. Chúng nó đổi chỗ cho nhau trong bụng tôi như thế nào thì tôi không biết, nhưng kết quả là như thế đấy! Hôm qua ở phòng cắt tóc người ta đã tìm cách giết Clousiot trong khi người thợ cạo đang cạo mặt cho anh ta. Hai nhát dao ở gần tim. Phúc bảy mươi đời, anh không chết. Qua một người bạn của anh ta tôi biết được chuyện này. Đó là một câu chuyện kỳ lạ, và có ngày tôi sẽ kể lại chuyện này. Vụ giết người này là một cuộc thanh toán nợ nần. Kẻ mưu sát sẽ chết sáu năm sau ở Cayenne vì ăn phải bichromat calium trộn vào món rong biển. Hắn đã chết trong những cơn đau khủng khiếp Người y tá phụ mổ cho bác sĩ mổ tử thi có đưa cho chúng tôi xem một khúc ruột dài khoảng mười phân. Trên khúc ruột thấy thủng mười bảy lỗ. Hai tháng sau, kẻ đã bỏ thuốc độc cho hắn đã bị bóp cổ chết trên giường bệnh. Cho đến bây giờ người ta vẫn không biết ai đã bóp cổ hắn. Chúng tôi ở Saint-Martin-de-Ré đã được mười hai ngày. Nhà tù chật ních. Ngày đêm lính canh thường xuyên đi tuần quanh thành. Một cuộc ẩu đả đã nổ ra trong phòng tắm, giữa hai anh em ruột. Hai đứa đã đánh nhau dữ dội như hai con thú, và một trong hai đứa đã được đưa vào phòng giam của chúng tôi. Hắn tên là André Baillard. Họ không thể trừng phạt hắn được, hắn nói thế, vì cuộc ẩu đả này xảy ra là do lỗi của ban quản trị nhà tù: họ đã được lệnh không để cho hai anh em gặp nhau vì bất kỳ lý do nào. Khi đã biết chuyện, người ta sẽ hiểu tại sao. André đã giết một bà già sống bằng lợi tức cho vay lãi và anh hắn là Emile cất giấu món tiền lấy được. Emile bị bắt vì một vụ trộm và bị xử ba năm tù. Một hôm trong phòng giam, có cả mấy người tù khác, vì ức thằng em không chịu gửi tiền cho hắn mua thuốc lá, hắn nói toẹt ra và cam đoan rằng thế nào thằng André cũng đi đời vì chính nó giết cụ già, còn như hắn, tức Emile, chỉ cất giấu tiền mà thôi. Cho nên khi ra tù hắn sẽ không cho thằng André một xu nào. Một tù nhân liền đem kể chuyện này cho viên giám đốc nhà tù nghe. Chẳng bao lâu André bị bắt và hai anh em bị xử tử. Trong khu vực tử tù ở nhà lao Santé, hai đứa bị giam vào hai xà-lim kế cận. Mỗi đứa đều làm đơn xin ân xá Đến ngày thứ bốn mươi ba, đơn của Emile được chấp thuận, nhưng đơn của André bị bác bỏ. Tuy vậy, do một biện pháp nhân đạo để nương nhẹ André, Emile vẫn bị giữ ở khu tử tù, và hai anh em mỗi ngày vẫn lần lượt được đi dạo trong sân, chân mang xiềng xích. Đến ngày thứ bốn mươi sáu, người ta mở cửa phòng giam André vào lúc bốn giờ rưỡi. Mọi người đều có mặt đông đủ: viên giám đốc nhà tù, viên biện lý, và ủy viên công tố đã đòi xử tử André. Giờ hành quyết đã đến. Nhưng vừa đúng lúc viên giám đốc bước tới để báo tin này cho tội nhân, viên trạng sư của hắn chạy vào, theo sau là một người khác nữa trao một tờ giấy của công tố viên. Mọi người lui ra hành lang. Họng André tắc nghẹn đến nỗi không nuốt nước miệng được nữa. Chẳng lẽ! Người ta không bao giờ chặn ngang một cuộc hành quyết đang được tiến hành. Thế mà lần này lại khác. Mãi đến hôm sau, sau bao nhiêu giờ lo âu khắc khoải, André mới được ông trạng sư cho biết rằng trước ngày hành quyết một ngày, tổng thống Doumer đã bị một người tên là Gorguloff ám sát. Nhưng ông Doumer không chết ngay. Suốt đêm hôm ấy viên trạng sư đã túc trực trước bệnh viện sau khi báo cho Bộ trưởng Bộ tư pháp rằng nếu ngày tổng thống chết trước giờ hành quyết (từ bốn giờ rưỡi sáng đến năm giờ), ông ta yêu cầu bãi bỏ việc hành quyết vì lý do khuyết diện người chịu trách nhiệm tối cao về án tử hình. Doumer chết vào lúc bốn giờ hai phút. Viên trạng sư vội vàng báo tin cho Bộ tư pháp rồi nhảy ngay lên xe tắc-xi cùng với người cầm lệnh bãi án: ông ta đã đến muộn mất ba phút, không kịp ngăn chặn người ra mở cửa phòng giam André. Như vậy hai anh em được được giảm án thành khổ sai chung thân. Ngày bầu tổng thống mới, viên trạng sư đã đến tận Versailles, và Albert Lebrun vừa được bầu xong một cái là ông ta trình đơn xin ân xá ngay. Chưa bao giờ một vị tổng thống bác bỏ đơn xin ân xá đầu tiên được trình lên cho mình xét: ông Lebrun đã ký, thế là tôi yên lành lên đường đi Guyane”. André kết thúc câu chuyện. Tôi nhìn con người vừa thoát khỏi máy chém vào phút cuối và tự nhủ rằng dù sao những nỗi cơ cực của tôi cũng không thể so sánh với những cơn dày vò mà hắn đã phải chịu đựng. Tuy vậy tôi không bao giờ làm thân với hắn. Nghĩ rằng hắn đã giết chết một bà già khốn khổ để lấy tiền, tôi thấy buồn nôn quá. Vả chăng hắn còn có đủ những khả năng để trốn thoát. Về sau, ở đảo Saint Joseph hắn sẽ giết anh hắn. Nhiều tù nhân đã chứng kiến việc ày. Hôm ấy Emile đang đứng câu cá trên một tảng đá, bao nhiêu tâm trí đều dồn hết vào công việc này. Sóng vỗ rất mạnh, át hết mọi tiếng động khác. André đến gần anh hắn từ phía sau, tay cầm một cây tre gộc dài ba mét. Hắn chỉ cần đẩy cây tre vào lưng Emile là đủ làm cho ông anh mất thăng bằng rơi xuống biển. Chỗ này cá mập nhiều vô kể: chẳng bao lâu Emile trở thành món ăn chính trong bữa ăn hàng ngày của chúng. Trong buổi điểm danh tối hôm ấy, hắn vắng mặt và được coi là mất tích trong khi mưu toan vượt ngục. Người ta không nhắc đến hắn nữa. Chỉ có bốn năm người tù đang nhặt dừa trên đảo chứng kiến cảnh này. Dĩ nhiên các tù nhân đều biết chuyện, chỉ có bọn cảnh sát là không hay biết gì. André Baillard không bao giờ bị họ hỏi đến. Hắn được miễn cấm cố vì “hạnh kiểm tốt”, và ở Saint-Laurent-du-Maroni, hắn được hưởng một chế độ ưu đãi. Hắn có cả một phòng giam riêng. Một hôm có chuyện với một tù nhân khác, hắn đã xảo quyệt mời người này vào phòng giam của hắn và dùng dao đâm trúng tim vị quý khách. Được công nhận là ở vào thế tự vệ hợp pháp, hắn được tha bổng. Đến kỳ bãi bỏ chế độ tù khổ sai, hắn được trả tự do, lần này cũng lại là vì “hạnh kiểm tốt”. Saint-Martin-de-Ré đầy ấp những tù nhân. Ở đây có hai loại người rất khác nhau: tám trăm đến một ngàn tù khổ sai và chín trăm người bị đày biệt xứ. Để trở thành tù khổ sai, phải phạm một tội nặng hoặc ít nhất phải bị buộc tội đã vi phạm luật pháp một cách nghiêm trọng. án nhẹ nhất là bảy năm khổ sai, rồi cứ thế tăng lên từng bậc, cho đến khổ sai chung thân.
Một người bị xử tử mà được ân xá thì đương nhiên trở thành tù khổ sai chung thân. Đày biệt xứ thì có khác. Một người bị kết án từ ba đến bảy lần thì có thể bị đày biệt xứ. Quả tình đó đều là những tên trộm cướp thâm căn cố đế, cho nên có một điều dễ hiểu là xã hội phải tự bảo vệ bằng cách cách ly những người như thế. Tuy nhiên, một dân tộc văn minh mà phải dùng đến biện pháp đày biệt xứ cũng thật là đáng xấu hổ. Có những kẻ ăn cắp vặt, rất vụng về vì luôn luôn bị bắt, phải chịu án đày biệt xứ – thời bấy giờ như vậy chung quy cũng chẳng khác gì bị tù chung thân – mà thật ra cả đời chưa ăn cắp được lấy mười ngàn francs. Chính đây là chỗ vô nghĩa lý nhất của nền văn minh Pháp. Một dân tộc không có quyền trả thù hay loại trừ một cách quá nhanh chóng những người gây phiền hà cho xã hội. Những người như thế là những người cần được điều trị nhiều hơn là phải trừng phạt một cách vô nhân đạo đến thế. Chúng tôi đến Saint-Martin-de-Ré như vậy là đã được mười bảy ngày. Bây giờ chúng tôi đã biết tên chiếc tàu sẽ đưa chúng tôi đến nơi tù đày: người ta gọi nó là chiếc La Martinière. Nó sẽ chở một ngàn tám trăm bảy mươi phạm nhân. Cái số tám chín trăm tù khổ sai sáng hôm nay đều được tập hợp trong sân của cái pháo đài được dùng làm nhà tù. Từ khoảng gần một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã đứng xếp hàng mười kín cả khoảng sân hình chữ nhật. Một cánh cửa mở ra và chúng tôi thấy bước vào sân mấy người ăn mặc không giống như những tên cai tù mà chúng tôi đã từng biết. Họ mặc một thứ trang phục may theo kiểu quân sự màu xanh da trời, trông khá sang trọng. Không giống đồng phục của cảnh sát mà cũng không giống quân phục của nhà binh. Ai nấy đều thắt một cái nịt rộng bản có đeo bao súng lục. Cán súng lộ rõ ra ngoài. Họ có khoảng chừng tám mươi người. Có mấy người đeo lon. Ai nấy da đều rám nắng, tuổi tác khá chênh lệch, xê xích giữa ba mươi và năm mươi tuổi. Những người già trông dễ ưa hơn những người trẻ: bọn này ưỡn ngực ra vẻ quan trọng và hãnh diện. Nhóm chỉ huy của bọn này cùng ra với viên giám đốc nhà lao Saint-Martin-de-Ré, một đại tá hiến binh, ba bốn ông bác sĩ mặc quân phục thuộc địa và hai ông linh mục mặc áo chùng trắng.
Viên đại tá hiến binh cầm một cái loa đưa lên miệng. Chúng tôi chờ đợi hiệu lệnh “đứng nghiêm”, nhưng không thấy có. Viên đại tá nói lớn: – Tất cả nghe kỹ dây. Kể từ giây phút này các người được chuyển sang quyền phụ trách của những người quan chức thuộc Bộ Tư pháp đại diện cho ban quản trị trừng giới của xứ Guyane thuộc Pháp mà trung tâm hành chính là thị trấn Caen. Thưa ngài thiếu tá Barrot, tôi xin bàn giao cho ngài tám trăm mười sáu phạm nhân hiện có mặt, được ghi tên trong danh sách này. Xin ngài xác nhận cho rằng họ đều có mặt. Cuộc điểm danh lập tức bắt đầu: “Jean Mỗ? Có! Paul Mỗ? Có! v.v… Thủ tục này kéo dài hai tiếng đồng hồ: mọi sự đều ổn thỏa. Sau đó đến cuộc trao đổi chữ ký giữa hai ban quản trị được tiến hành trên một cái bàn nhỏ mới bày ra sân vì mục đích này. Thiếu tá Barrot đeo một số lon ngang với số lon viên đại tá, nhưng lon màu hoàng kim chứ không phải màu bạc như trong hiến binh. Ông ta cầm cái loa lên: – Các phạm nhân nghe đây, từ nay về sau danh từ này sẽ được dùng thường xuyên cho các anh: phạm nhân Mỗ hay phạm nhân số bao nhiêu đấy, như người ta sẽ ấn định cho từng người. Ngay từ bây giờ các người được đặt dưới những luật lệ riêng của nhà tù khổ sai, dưới những nội quy và những tòa án nội bộ, khi cần sẽ có những quyết định cần thiết để xử lý với các người. Các tòa án tự trị này, trong trường hợp các người vi phạm điều lệ của nhà tù khổ sai, có thể xử các người từ hình phạt giam cầm đến tử hình. Dĩ nhiên những hình phạt có tính chất kỷ luật này, như giam cầm hay cấm cố, sẽ được thi hành trong các trụ sở thuộc quyền ban quản trị. Các nhân viên mà các người trông thấy ở đây được gọi là giám thị. Mỗi khi nói với họ, các người sẽ thưa: “Thưa ông giám thị”. Sau bữa ăn tối mỗi người sẽ được phát một cái bị lính thủy đựng trang phục nhà tù và mấy thứ đồ dùng cá nhân. Trong đó đã có đủ những gì cần thiết, các người không được có những thứ đồ đạc khác. Ngày mai các người sẽ lên tàu La Martìmère. Chúng tôi và các người sẽ cùng đi trên chuyến tàu ấy. Các người không nên lấy làm tuyệt vọng khi phải rời đất nước: ở nơi tù đày các người sẽ thấy dễ chịu hơn là bị cấm cố ở Pháp. Các người có thể nói chuyện, chơi, ca hát và hút thuốc, các người không sợ bị hành hạ nếu hạnh kiểm các người tốt. Tôi yêu cầu các người hãy đợi đến khi tới nhà tù khổ sai rồi hãy thanh toán những chuyện xích mích cá nhân. Trong khi tàu đang vượt biển, kỷ luật cần phải rất nghiêm minh, tôi hy vọng rằng các người sẽ hiểu điều đó. Nếu trong số các người có ai tự cảm thấy không có đủ điều kiện thể chất để trải qua chuyến đi này, tôi yêu cầu họ đến trình diện ở bệnh xá; họ sẽ được các sĩ quan thầy thuốc đi theo trên tàu khám cho. Tôi chúc các người lên đường bình an. Phần nghi lễ thế là xong. – Này bác Dega, bác thấy thế nào? – Papillon ạ, bây giờ tôi thấy là tôi có lý khi nói rằng điều nguy hiểm nhất phải khắc phục chính là bọn tù khổ sai khác. Cái câu của ông ta nói: “Hãy đợi đến khi tới nhà tù khổ sai rồi hãy thanh toán những chuyện xích mích” thật là đầy ý nghĩa. Sẽ có bao nhiêu vụ giết người xảy ra!
– Tuy vậy bác đừng lo, bác cứ tin tôi đi. Tôi đi tìm Franeis la Passe và nói với hắn. – Anh cậu vẫn làm y tá đấy chứ? – Vẫn làm, anh tớ không phải là tù khổ sai, chỉ là đày biệt xứ thôi. – Cậu phải bắt liên lạc ngay với anh ta để xin cho được một con dao mổ. Nếu anh cậu cần trả tiền, cậu cứ cho tớ biết là bao nhiêu, tớ sẽ trả đủ. Hai giờ sau tôi đã có được một con dao mổ cán bằng thép rất cứng. Khuyết điểm duy nhất của nó là hơi to một chút, nhưng đó là một vũ khí rất đáng sợ. Tôi đến ngồi gần dãy nhà xí ở giữa sân. Tôi đã nhờ người đi tìm Galgani để trả lại cái plan cho nó, nhưng chắc khó lòng tìm nổi một con người trống cái đám luôn luôn di chuyển trên khoảng sân rộng mênh mông chứa đến tám trăm người. Từ khi chúng tôi đến đây, Julot, le Gui~toun, Suzini đều không thấy đâu cả. Ưu thế của sinh hoạt tập thể là ở chỗ người ta được sống, được nói với nhau và cùng thuộc một xã hội chung, nếu có thể gọi đây là một xã hội. Có bao nhiêu những điều cần nói, cần nghe và cần làm, đến mỗi người ta không có thì giờ suy nghĩ nữa. Khi nhận thấy dĩ vãng mờ nhạt hẳn đi và lùi xuống hàng thứ yếu so với cuộc sống hàng ngày, tôi nghĩ rằng khi đã đến nơi rồi chắc người ta sẽ gần như quên bẳn trước kia mình là ai, tại sao mình lại rơi vào cảnh này, và làm thế nào để rơi vào đây để chỉ quan tâm đến một điều duy nhất: vượt ngục. Tôi nghĩ như vậy là lầm, vì ngay từ đầu, cái điều có sức thu hút nhất và quan trọng nhất trước tiên là phải cố sao để mà sống đã. Vậy thì bọn cảnh sát, bọn bồi thẩm, những phiên tòa đại hình, những viên chức của tòa án bây giờ ở đâu? Vợ tôi, cha tôi, các bạn tôi bây giờ ở đâu? Họ vẫn sống sờ sờ ra đấy, và mỗi người có một vị trí riêng trong lòng tôi, nhưng hình như vì cái trạng thái bừng bừng như lên cơ lì sốt của giờ xuất phát, của bước nhảy khổng lồ vào cõi chưa từng biết, của những tình bạn mới và những mối liên hệ quen biết khác nhau, tưởng chừng như những con người ấy không còn quan trọng như trước. Nhưng đó chỉ là một cám giác. Mỗi khi tôi muốn, vào cái giây phút mà trí óc tôi vui lòng mở cái ngăn kéo tương ứng với từng người, họ lại sẽ có mặt đâu vào đấy. Kìa Galgani đã đến: người ta phải dẫn hắn đến tìm tôi, vì tuy đã đeo đôi kính dày cộp, hắn chỉ trông thấy lờ mờ. Trông hắn có vẻ đỡ đỡ. Hắn lại gần tôi và im lặng và nắm chặt tay tôi, không nói một lời. Tôi nói với hắn. Tôi muốn trả cái plan cho cậu. Bây giờ cậu đỡ rồi, cậu có thể tự mang lấy. Trong cuộc hành trình dài ngày này, trách nhiệm mà cậu giao cho tôi quá lớn, vả lại làm sao biết được tôi với cậu có được phân chỗ gần nhau hay không, rồi đến nơi, dù có gặp được nhau nữa thì chưa chắc đã có điều kiện trao tay. Vậy cậu lấy lại ngay từ bây giờ thì hơn. Galgani nhìn tôi, vẻ khổ sở. Tôi giục: – Nào, cậu ra nhà xí để tớ trao plan lại. Không, tôi không lấy lại đâu, anh cứ giữ lấy, tôi cho anh đấy, nó là của anh. – Sao cậu lại nói thế – Tôi không muốn bị chúng nó giết để lấy plan. Tôi thà sống không có tiền còn hơn là chết vì có tiền. Tôi cho anh, vì xét cho cùng không có lý do gì anh lại phải chịu liều cả tính mạng để giữ tiền cho tôi. ít nhất, nếu anh đã chịu hiểm họa thì điều đó phải có lợi cho anh. – Cậu sợ à, Galgani? Người ta đã đe dọa cậu à? Có kẻ nghi ngờ là cậu có plan sao?
Vâng, tôi bị ba tên A-rập theo dõi thường xuyên: Chính vì thế mà tôi không đám đến gặp anh lần nào, để cho chúng nó đừng nghi ngờ là tôi với anh có liên hệ với nhau. Mỗi lần tôi đi ngoài, dù ban. ngày hay ban đêm, một trong ba thằng khốn ấy đều đến ngồi gần tôi. Tôi đã cố gắng làm sao – cho chúng. nó thấy rõ rằng tôi không mang gì trong hậu môn (dĩ nhiên tôi cố làm như vậy một cách thật tự nhiên), thế mà chúng nó vẫn không ngừng quan sát tôi. Chúng nó đoán là có một người khác giữ hộ plan cho tôi, chỉ có điều không biết là ai mà thôi, cho nên chúng nó cố rình để biết lúc nào cái plan sẽ trở về với tôi. Tôi nhìn Galgani và thấy rõ là cậu ta đã lâm vào tình trạng khiếp nhược vì bị đe dọa thực sự. Tôi nói: “Chúng nó hay đến chỗ nào nhiều nhất trong khoảng sân này?” Cậu ta nói: “Phía gần nhà bếp và nhà giặt đồ’, “Được, cậu cứ ở đây, tôi đến đó. à, thôi, cậu cứ đi với tôi” Tôi đi với Galgani về phía bọn A-rập. Tôi đã lấy con dao mổ trong mũ vải ra. Bàn tay tôi cầm cán dao, lười dao đặt ngược lên phía trên, lấp trong tay áo. Quả nhiên đến gần nhà bếp tôi trông thấy chúng. Chúng gồm có bốn tên: ba tên người A-rập và một tên người Corse, tên là Girando. Tôi hiểu ra ngay: chính tên người Corse này bị những người trong giới tẩy chay, đã mách chuyện này cho bọn A-rập. Chắc Girando biết Galgani là em vợ của Pascal Matra cho nên không thể không có plan được. – Chào Mokrane thế nào, khỏe chứ? – Khỏe, Bươm bướm ạ. Còn anh thì sao? – Còn tôi thì đang gay đây. Tôi đến gặp các cậu để nói cho các cậu biết rằng Galgani là bạn tôi. Hễ có việc gì xảy ra với nó là tôi thịt cậu trước Girando ạ; sau đó đến lượt các cậu kia. Tùy các cậu liệu lấy. Mokrane đứng dậy. Hắn cũng cao bằng tôi, khoảng một mét bảy mươi tư, bề ngang cũng như tôi. Lời thách thức của tôi đã làm cho hắn khó chịu. Hắn phác một cứ chỉ gây hấn, nhưng tôi lập tức chìa con dao mổ sáng choang ra, mũi dao nhọn hoắt chĩa thẳng vào tim hắn, và nói: – Hễ mày động dậy là tao giết mày như một con chó. Bàng hoàng vì thấy tôi cầm vũ khí ở một nơi mà người ta luôn luôn bị khám xét, lại choáng ngợp trước thái độ của tôi cũng như trước chiều dài của con dao mổ, hắn nói: – Tôi đứng dậy là để tranh luận với anh, chứ không phải để đánh nhau. Tôi biết thừa là không phải như thế, nhưng cũng thấy rằng để cho hắn vớt vát sĩ diện trước mặt các bạn hắn là điều có lợi cho tôi. Tôi bèn dành cho hắn một lối thoát danh dự:. – Tốt. Cậu đã đứng dậy để tranh luận thì… – Tôi không biết rằng Galgani là bạn anh. Tôi tưởng hắn là dân trưởng giả, và Bươm bướm ạ, anh cũng phải hiểu rằng ai cũng cần có chút bím để vượt ngục. – Phải, đó là chuyện bình thường. Cậu có quyền vật lộn để giành lấy sự sống, Mokrane ạ.. Chỉ có điều là chỗ này cấm. Liệu đi tìm chỗ khác. Hắn chìa tay ra, tôi cầm lấy. Tôi dàn xếp ổn thỏa được việc này cũng thật là may mắn, vì thật ra nếu tôi giết chết thằng này, mai tôi sẽ không lên đường được nửa. Sau đó ít lâu, tôi nhận ra rằng tôi đã phạm một sai lầm. Galgani cùng về chỗ với tôi. Tôi dặn cậu ta đừng nói cho ai biết chuyện này. Tôi chẳng muốn bị bác Dega mắng cho một trận. Tôi cố thuyết phục cho Galgani chịu lấy lại cái plan. Hắn nói: “Thế thì mai, trước khi xuất phát”. Hôm sau hắn lẩn đi đâu mất không sao tìm được. Và rốt cuộc tôi đành lên tàu với hai cái plan trong bụng. Đêm hôm ấy trong căn buồng giam nhốt mười một người, chẳng ai nói gì với ai. Là vì ai nấy ít nhiều đều nghĩ rằng đây là đêm cuối cùng mình còn được sống trên đất Pháp. Mỗi người trong bọn chúng tôi ít nhiều đều cảm thấy nuối tiếc xót xa khi nghĩ rằng mình sắp vĩnh viễn giã từ quê hương để đến một nơi xa xôi chưa từng biết và sống một cuộc đời đọa đày, chẳng biết số phận sẽ xoay vần ra sao. Dega cũng không nói gì. Bác ta ngồi bên cạnh tôi gần cái cửa có chấn song mở ra hành lang, nơi có nhiều không khí lọt vào hơn những chỗ khác một chút. Tôi cảm thấy mất phương hướng thật sự. Những điều chúng tôi được thông báo về nơi đang chờ đợi chúng tôi nó trái ngược nhau đến nỗi tôi không còn biết là mình nên hài lòng, nên buồn hay nên tuyệt vọng nữa. Những người cùng bị giam với tôi một phòng đều thuộc giới chúng tôi. Chỉ có anh chàng người Corse nhỏ bé ra đời trong nhà tù khổ sai không hẳn là người cùng giới. Tất cả những con người ấy đều lắng sâu vào nội tâm. Tính chất nghiêm trọng của giờ phút này đã làm cho họ hầu như hóa câm. Khói thuốc lá từ căn phòng giam bốc ra như một đám mây bị không khí trong hành lang cuốn đi, và nếu không muốn bị cay mắt thì phải ngồi trệt xuống cho thấp hơn lớp khói ấy. Không có ai ngủ, trừ André Baillard: điều đó cũng dễ hiểu, vì anh này đã tưởng mất cả cuộc sống. Đối với một người như thế thì ngoài cái chết ra, tất cả mọi thứ khác đều là một cảnh thiên đường mà dù có nằm mơ cũng không thấy được. Cả cuộc đời tôi diễn ra trước mắt tôi như một cuốn phim: thời thơ ấu của tôi giữa một gia đình đầy tình thương yêu, đầy nền nếp, trong đó mọi người đều quen những cách xử sự phong nhã và cao thượng; những sắc hoa đồng nội, tiếng rì rầm của những dòng suối, hương vị của hạt dẻ và của những trái đào trái mận mà khu vườn của chúng tôi cung cấp ê hề cho cả nhà; mùi thơm của hoa mimosa cứ đến mùa xuân lại nở rộ trước cửa; ngôi nhà ấm cúng của chúng tôi, vẻ ngoài cũng như cảnh bên trong, lần lượt hiện ra rất nhanh trước mắt tôi. Cả một cuốn phim có âm thanh trong đó tôi nghe thấy tiếng nói của người mẹ đã yêu thương tôi hết mức, rồi tiếng nói của cha tôi, bao giờ cũng ôn tồn và hiền dịu, và những tiếng sủa của Clara, con chó săn của cha tôi đang gọi tôi ra vườn để đùa nghịch; những đứa con trai và con gái đã từng chơi đùa với tôi trong những giờ phút tốt đẹp nhất của đời tôi, cuốn phim mà tôi xem lại mặc dầu không cố ý gợi lên, chiếu ra từ cõi tiềm thức, đưa vào cái đêm chờ đợi này một cảm xúc dịu dàng để chuẩn bị cho tôi lao vào chiều sâu thăm thẳm của tương lai. Đây là giờ phút phải làm một cuộc sơ kết. Thử coi: tôi hai mươi sáu tuổi, khỏe mạnh, trong bụng có năm ngàn sáu trăm francs thuộc quyền sở hữu của tôi, cộng thêm hai mươi lăm ngàn của Galgani, Dega bên cạnh tôi cũng có mười ngàn. Như vậy là tôi có thể coi như mình được sử dụng bốn mươi ngàn francs khi cần, vì nếu cái anh chàng Galgani ấy đã không đủ sức bảo vệ số tiền này ở đây thì còn mong gì giữ được nó khi đã xuống tàu và khi sang đến Guyane. Vả chăng cậu ta cũng biết thế, cho nên mới không lấy lại cái plan. Vậy thì tôi có thể trông mong vào số tiền ấy, dĩ nhiên là khi dùng đến nó để vượt ngục, tôi nhất định phải đem Galgani đi theo; nhất thiết Galgani phải được hưởng cái quyền lợi đó, vì số tiền là của cậu ta chứ đâu phải của tôi Tôi sẽ dùng nó để đem lại tự do cho Galgani nhưng chính tôi cũng trực tiếp được lợi trong đó. Bốn mươi ngàn francs là một số tiền lớn, dùng nó tôi sẽ dễ dàng mua được những người đồng lõa, tù nhân đang bị giam, tù nhân đã mãn hạn, cũng như bọn giám thị. Cuộc sơ kết này đã đưa đến một kết quả khả quan. Hễ đến nơi, tôi phải vượt ngục ngay cùng với Dega và Galgani: đó là đề tài duy nhất mà tôi phải chú tâm vào Tôi sờ con dao mổ và thấy hài lòng khi chạm phải lưỡi dao thép lạnh ngắt. Có được trong tay một vũ khí đáng sợ như vậy, tôi cảm thấy thêm tự tin. Công dụng của nó đã được thử thách trong khi tôi cảnh cáo bọn Ả-rập. Vào khoảng ba giờ sáng, mấy người tù cấm cố đã xếp trước chấn song sắt của căn phòng giam mười một cái bị lính thủy bằng vải thô đầy ắp đồ đạc, mỗi cái đính một cái nhãn rõ to. Tôi có thể nhìn rõ một cái nhãn như vậy lọt vào phía trong dãy chấn song. Trên nhãn có đề: C Pierre, ba mươi tuổi, một mét bảy mươi ba, khổ người bốn mươi hai, cỡ giày bốn mươi mốt, số điểm danh X… Cái anh Pierre C… chính là Pierrot le Fou, một người Bordeaux đã bị tòa án Paris xử hai mươi năm tù khổ sai vì tội giết người. Đó là một anh chàng rất đáng mến, một người của giới giang hồ, thẳng thắn và chững chạc, tôi biết rất rõ. Cái nhãn kia cho tôi biết tổ chức quản trị nhà tù khổ sai làm việc tỉ mỉ và có quy cũ đến nhường nào. So với quân đội thì hơn hẳn, vì ở đây người ta phát áo quần cho lính bằng cách áng chừng, cứ mặc thử không vừa lại đổi bộ khác. Chứ ở đây mọi thứ đều được ghi tỉ mỉ và mỗi tù nhân đều được phát áo quần đúng khổ người mình. Nhìn qua tấm lưới bịt trên bề mặt cái bị, tôi có thể thấy rằng trang phục của tù nhân bằng vải trắng có sọc kẻ dọc màu đỏ. Mặc bộ đồ này đi đâu người ta cũng nhìn ra ngay. Tôi chú ý cố làm sao cho trí óc tôi tạo ra những hình ảnh của phiên tòa đại hình, của bọn bồi thẩm, của lão công tố viên, v.v… Nhưng nó dứt khoát không chịu tuân theo và chỉ đưa ra những hình ảnh bình thường. Tôi hiểu rằng muốn sống lại những cảnh ở nhà lao Conciergerie hay Beaulieu với một cường độ như tôi đã từng sống qua, thì phải chỉ có một mình, hoàn toàn cô độc mới được. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi nhận chân ra điều đó, và hiểu rằng cuộc sống tập thể đang chờ đợi tôi sẽ làm nảy sinh những nhu cầu khác, những phản ứng khác, những ý đồ khác. Pierre le Fou đến gần chấn song, bảo tôi: “ổn cả chứ Papi”. – Còn cậu? – Tớ thì xưa nay vẫn mơ ước đi Châu Mỹ một chuyến, nhưng vì là tay cờ bạc, tớ không sao dành dụm được một món tiền đủ để thực hiện chuyến du lịch đó. Thế mà nay bọn cớm lại đứng ra cho tớ đi Mỹ không mất tiền. Bở thật Bươm bướm nhỉ? – Hắn nói rất tự nhiên không hề có giọng huênh hoang. Có thể cảm thấy rõ hẳn thực sự tự tin – Chuyến đi du lịch không mất tiền do bọn cớm đãi tớ quả nhiên có những ưu thế của nó. Tớ thà đi đày khổ sai còn hơn ngồi tù cấm cố mười lăm năm ở Pháp. – Còn phải xem xem kết quả cuối cùng ra sao đã, Pierrot ạ. Cậu không tin à? Phát điên trong xà-lim, hay chết vì kiệt sức trong một nhà tù cấm cố nào đó ở Pháp còn tệ hơn là mắc bệnh hủi hay bỏ mạng vì sốt rét vàng, tớ nghĩ như vậy. – Tớ cũng thế. – Cậu xem này, cái nhãn này là nhãn của cậu. Pierrot cúi xuống xem kỹ cái nhãn như để đọc, rồi giả vờ đánh vần, đoạn nói: – Tôi nóng lòng mặc bộ quần áo này, tôi muốn mở bị ra và thắng bộ vào, họ chẳng nói gì đâu. Dù sao thì áo quần này cũng dành cho tôi. – Thôi đi Pierrot, hãy đợi đã. Bây giờ không phải là lúc sinh sự lôi thôi. Tôi cần yên tĩnh. Pierre le Fou hiểu ý, rời chấn song ra chỗ khác. Louis Dega nhìn tôi rồi nói: “Cậu bé ơi, đêm nay là đêm cuối cùng. Ngày mai chúng ta sẽ rời bỏ nước Pháp xinh đẹp của chúng ta”. – “Cái đất nước xinh đẹp của chúng ta có một hệ thống pháp luật chẳng xinh đẹp chút nào Dega ạ. Có thế chúng ta sẽ được biết những đất nước khác không được đẹp như nước ta, nhưng có một cách xử sự nhân đạo hơn đối với những người phạm lỗi”. Lúc ấy tôi không biết là mình đã nói đứng đến mức nào: tương lai sẽ cho tôi thấy rằng mình hoàn toàn có lý. Xung quanh lại im lặng.
Tôi đã nhờ chiếc thám thính cơ đang bay trên trời đảo quanh vùng để tìm kiếm cánh quân của chú Phiến. Phi cơ báo cáo rằng họ đã nhìn thấy một tiểu đội quân bạn đang trên đường đi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch. Vậy mà mấy ngày sau tôi cũng không có tin tức gì của Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến. Tôi thấy, trong trường hợp này chỉ có ba lý do, một là Thiếu úy Phiến và mấy anh lính đi theo Phiến đã đào ngũ, hai là toán quân này đã bị Việt-Cộng bắt, ba là họ đã bị Việt-Cộng chặn đường giết chết.
Sau khi tản thương, quân số của tiểu đoàn chỉ còn gần 100 người, một phần ba trong số này là những người bị thương nhẹ nhưng tự nguyện ở lại, không lên trực thăng. Trong khi bay ra, bay vào để tiếp tế đạn và di chuyển thương binh, Thiếu tá Ðồng Ðăng Khoa cũng thả cho tôi 90 tân binh nhưng là những Lao Công Ðào Binh Phục Hồi để bổ sung quân số. Với số tân binh này, cùng những quân nhân cơ hữu, tôi tạm thời tổ chức được 2 đại đội tác chiến và một trung đội trừ bị. Mỗi đại đội tác chiến có quân số 80 người. Ðại đội 1 do Thiếu úy Phạm Văn Tô chỉ huy.
Ðại Ðội 3 do Thiếu úy Phạm Ðại Việt chỉ huy. Trung đội trừ bị do Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm chỉ huy. Ðại Ðội 2 tạm thời bị giải tán. Bốn giờ chiều, Sư Ðoàn 22 Hành Quân gửi vào một trực thăng để tôi ra Ngã Ba Mỹ-Thạch gặp mặt một phái đoàn báo chí quốc tế. Tôi nhìn lại thân mình thì thấy mình thảm hại quá!
Trên người tôi tuy còn đủ, nón sắt, dây ba chạc, khẩu súng lục, cái địa bàn và cả tấm bản đồ. Nhưng tất cả áo quần và vật dụng của tôi đều như bị nhúng bùn vừa phơi chưa khô. Giờ này tìm đâu ra quần áo sạch mà thay để ra mắt phái đoàn báo chí? Tất cả quân trang của tôi đều còn nằm trong hầm trú ở Plei Ngol Ho, chắc đã bị Việt-Cộng lấy hết rồi. Thế là, cứ với hình thù lấm lem, đen thui, bẩn thỉu, tôi leo lên tàu.
Vừa rời trực thăng, tôi đã bị hơn chục phóng viên ngoại quốc xúm lại chụp hình rồi phỏng vấn rối rít. Tôi nói với họ rằng tôi phải gặp cấp chỉ huy của tôi trước, rồi mới được phép tiếp chuyện với họ. Phòng thuyết trình của Bộ Tư Lệnh Hành Quân 22 chỉ là một cái nhà bạt lớn dựng sát bên lề Quốc Lộ 14. Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm ra tận cửa đón tôi vào, rồi ân cần giới thiệu:
– Thiếu tá Vương Mộng Long Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân vừa về từ chiến trường sẽ tường trình cho quan khách những gì đã xảy ra trong trận ác chiến vừa qua. Cuộc họp báo này chỉ giới hạn trong thời gian 15 phút, vì sau đó chúng tôi phải trả Thiếu tá Long trở lại trận địa để chỉ huy đơn vị.
Quay qua tôi, ông Tướng Tư Lệnh nói,
– Long có thể tóm lược cho phái đoàn báo chí biết những gì mà em thấy cần.
Thời gian giữ chức Trưởng Phòng 2 của Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 tôi không lạ gì với những buổi thuyết trình trước những phái đoàn quân sự ngoại quốc hoặc báo chí quốc tế. Trong vòng 10 phút tôi đã tường trình hết diễn biến trận đánh đã diễn ra hai ngày vừa rồi. Tôi đặc biệt nhấn mạnh chuyện Việt-Cộng đã dùng hơi ngạt để tấn công đơn vị tôi vì đây là một hành động vi phạm quy ước chiến tranh của Liên Hiệp Quốc.
Tôi thuyết trình bằng tiếng Anh nên không tốn thời gian thông dịch. Sau đó tôi xin phép trở lại đơn vị, vì đơn vị tôi hiện thời đang ở sát địch quân mà lại không có người chỉ huy. Tôi cứ tưởng chỉ có mình tôi leo lên máy bay quay về, đâu ngờ sáu phóng viên với sáu cái máy quay phim cũng lên tàu theo tôi. Về tới vị tri trú quân, tôi nhảy xuống, theo sau là sáu phóng viên chiến trường. Sáu anh nhà báo ngoại quốc tranh nhau chụp hình toàn cảnh trước mắt họ. Phóng viên nào cũng săn đón hỏi han những người lính bị thương. Họ lấy làm lạ, không hiểu vì lý do gì mà cả chục thương binh còn hiện diện ở đây. Tôi nghe tiếng đối đáp bằng tiếng Anh giữa một ký giả và một thương binh có cánh tay trái đã bị quấn băng trắng treo lên cổ là Thượng sĩ Y Khen Nier:
– Anh đã bị thương! Anh không được phép di tản hay sao mà còn ở đây?
– Ông chỉ huy của tôi còn ở lại chiến đấu, vì thế, những người bị thương nhẹ như tôi đã tình nguyện ở lại với ông ta.
Thượng sĩ Khen là người đã hiện diện ở Pleime từ khi căn cứ này mới thành lập. Trải qua 5 năm sống và làm việc với người Mỹ nên ông Khen nói tiếng Anh còn rành hơn là nói tiếng Kinh. Nhân cơ hội này tôi bán cái cho ông Khen nhiệm vụ thông dịch cho các ông phóng viên. Cũng nhờ những câu hỏi xoi mói của các ông nhà báo mà mấy hôm sau, thế giới đã biết rằng ở Việt-Nam đã có những người lính Biệt Ðộng Quân dù mang thương tích đầy mình nhưng vẫn tình nguyện ở lại chiến trường mà chiến đấu.
Bất ngờ, từ hướng Tây có tiếng pháo địch khai hỏa.
Thoáng chốc, trong khói bụi mịt mù, trên mặt đất chỉ còn một mình tôi là người đang đứng. Anh phóng viên người Nhật nằm ngửa, chĩa ống kính ngay mặt tôi, anh ta vừa tránh đạn vừa làm công việc thu tin tức của mình. Còn tôi, cũng đang làm công việc của một Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân là cứ đứng thẳng lưng, không nằm úp mặt xuống đất. Có thế, tôi mới không làm mất thể diện một sĩ quan chỉ huy của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Tôi biết chắc rằng, hình ảnh ghi trong cuộn phim của anh nhà báo người Nhựt kia, mai đây sẽ được đem ra trình chiếu cho toàn thể thế giới xem. Vì vậy, dù đạn đại bác cứ réo “Xè! Xè!” rồi nổ “Oành! Oành!” sát bên; dù trong lòng rất ngán bị mảnh đạn 105ly cắt đứt đầu, nhưng tôi vẫn phải làm như người tỉnh bơ trước nỗi hiểm nguy, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Anh lính mang máy truyền tin của tôi thì úp mặt dưới chân tôi; cái dây nối từ ống nói tới chiếc PRC 25 đã căng dãn hết cỡ. Sau khi nhờ chiếc quan sát cơ đang bay trên trời tìm vị trí pháo địch, tôi gọi cho Tướng Niệm:
“Tôi đang bị pháo! Yêu cầu cho trực thăng trở lại đem mấy ông nhà báo ra khỏi đây ngay!”
Vài phút sau thì pháo cũng ngưng, trực thăng quay trở lại. Trước lúc leo lên tàu các phóng viên còn chen nhau đứng bên tôi để chụp một tấm hình. Gần tháng sau tôi nhận được một cái bì thư gửi từ Tòa Ðại Sứ Nhật-Bản ở Sài-Gòn, trong đó chứa tấm ảnh tôi đứng một mình trong khói bụi mịt mù, với cái tựa đề “Last man standing!” (Last man standing có nghĩa là: Người cuối cùng còn đứng vững)
Bảy giờ tối ngày 15 tháng 4 năm 1974 tôi nhận được bản tin A2 cho biết ngoài 6 tiểu đoàn bộ chiến của E48 và E64, địch còn tung vào trận Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát, Tiểu Ðoàn D25 Vận Tải và Tiểu Ðoàn H12 Ðịa Phương của Tỉnh Gia-Lai. Chín tiểu đoàn bộ chiến này của địch còn được Trung Ðoàn 40 Pháo và Tiểu Ðoàn D16 chiến xa Việt-Cộng yểm trợ để đánh Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân và Chi Ðoàn 3/19.
Trong bản tin phát đi tối 15 tháng 4 năm 1974, đài BBC Luân-Ðôn đã mô tả trận Căn Cứ Hỏa Lực 711 như sau:
“Ðây là một trận đánh vô cùng ác liệt mà tổn thất của đôi bên tham chiến được coi là nặng nề nhất kể từ sau Hòa Ðàm Paris.”
Tôi được phi cơ AC 47 Hỏa Long soi sáng và yểm trợ tiếp cận suốt đêm.
Ngày16 tháng 4 năm 1974
Tới sáng 16 tháng 4 thì nhiều phi tuần A37 được gửi tới để liên tục đánh bom dọc Tỉnh Lộ 6C từ 711 tới đồi Tử Chiến. Không Quân cũng thông báo rằng có nhiều ổ pháo và phòng không của địch đã bị hủy diệt vùng hướng chính Nam quận lỵ Thanh An. Khoảng 9 giờ sáng 16 tháng 4 một hợp đoàn trực thăng đã đổ một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh xuống vùng Nam Ngã Ba Mỹ Thạch. Giao tranh ở đó bắt đầu với nhiều tiếng nổ của pháo binh yểm trợ cho quân bạn. Ðúng 10 giờ sáng 16 tháng 4 thì tiểu đoàn thứ nhì của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cũng được thả xuống cách tôi hai cây số về hướng Tây.
Tôi nhận được tần số để liên lạc với đơn vị này, vì thế, tôi biết người chỉ huy tiểu đoàn này là Ðại úy Nguyễn Văn Chấn. Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Ðà-Lạt là đàn em của tôi. Bộ Tư Lệnh 22 đặt tiểu đoàn của Ðại úy Chấn dưới quyền điều động của tôi. Tôi giao cho chú Chấn nhiệm vụ án ngữ vùng hướng Tây Tỉnh Lộ 6C dọc theo triền Nam của sông Ia Meur để ngăn chặn bước tiến của hai tiểu đoàn địch là K1 của E48 và K7 của E 64.
Tôi sẽ tự mình tìm cách tái chiếm Căn Cứ 711. Trưa 16 tháng 4 năm 1974 thì Biệt Ðộng Quân và Thiết Giáp đã được tiếp tế lương khô và đạn dược đầy đủ. Ðại úy Xá bò sang chỗ tôi đang ngồi rồi hỏi nhỏ,
– Thái Sơn tính lúc nào thì mình rút ra đường?
Tôi nhìn ông bạn kỵ binh,
– Ra đường để ông Toàn bóc lon tụi mình hả?
Xá tròn mắt,
– Cái gì mà bóc lon? Bộ ông ấy không thấy mình đã đánh nhau gần chết hai ngày nay ư?
Tôi từ tốn nói với Xá,
– Tin tôi đi! Mình mà không tái chiếm được cái căn cứ vừa mất thì chắc chắn tôi với ông sẽ thành binh nhì. Hoặc may mắn lắm mỗi đứa cũng ký 40 Trọng Cấm. Ông là dân Thiết Giáp mà cũng không biết tính nết cha Toàn sao?
Nghe tôi quả quyết như thế, Xá thừ người ra,
– Vậy Thái Sơn tính làm gì tiếp theo đây?
Tôi vỗ vai Xá,
– Ðể đó tôi lo. Xá cứ nằm đây với thằng Chủ, bất cứ tình huống nào xảy ra cũng không được bỏ vị trí này, nghe rõ chưa?
Xá gật đầu,
– Dạ!
Chờ Xá rời đi, tôi gọi Thiếu úy Trần Văn Phước theo tôi tới gặp từng người lính đang nằm trên tuyến.
Tôi chọn ra được 100 người sẽ theo tôi đi làm công tác tái chiếm 711.
Lực lượng này gồm có 40 anh lính Lao Công Ðào Binh Phục Hồi, 40 quân nhân của Ðại Ðội 3, cộng với hai toán cận vệ của Hạ sĩ Ba và Binh nhất Yang. Cùng đi với tôi để chỉ huy trận này sẽ có Thiếu úy Phạm Ðại Việt, Thiếu úy Trần Văn Phước và Chuẩn úy Lý Ngọc Châu. Tôi dẫn toán quân này ra triền đồi hướng Ðông rồi chỉ dẫn cho từng người sẽ phải làm gì tối nay. Chỉ một giờ sau, mọi người đều thuộc bài. Thực ra thì bài học này cũng chẳng khó khăn gì, chỉ cần một chút bình tĩnh và gan dạ là đủ. Ðêm 16 tháng 4 năm 1974 trời tối đen như mực. Tôi và 100 quân lên đường quay lại Plei Ngol Ho. Nếu kiểm soát được Plei Ngol Ho thì ta sẽ chiếm lại Ðồn 711 một cách dễ dàng. Trong thời gian tôi chuyển quân thì pháo binh liên tục tác xạ 100 viên hỗn tạp trên mục tiêu. Tới bìa làng, tôi dàn quân thành 3 hàng ngang, mỗi hàng có 33 tay súng.
Khi có lệnh thì 33 chiến binh sẽ sát cánh nhau, thẳng tay ném một trái lựu đạn M26 về phía trước rồi nằm xuống. Ðợi một phút sau khi lựu đạn nổ thì sát vai nhau, quân ta khom lưng tiến lên, vừa chạy, vừa bắn. Tới lúc ra tới bờ rào sau cùng cả toán ngừng lại, mỗi người đều ném ngược về hướng sau lưng mình một quả M26 nữa.
Những trái lựu đạn ném ngược này nhằm mục đích ngăn ngừa những tên địch sẽ truy kích ta. Ðợt xung phong chấm dứt, tất cả phóng lên đỉnh đồi Ðông tập họp, rồi kéo nhau về vị trí tiểu đoàn.
Chương trình đề ra là:
– Ðợt xung phong thứ nhất bắt đầu đúng 8 giờ tối.
– Ðợt xung phong thứ nhì cách đợt thứ nhất 10 phút.
– Ðợt xung phong cuối cùng cũng cách đợt thứ nhì đúng 10 phút.
Tôi đi giữa đoàn quân xung phong cuối cùng.
Nằm sát bờ đất của Plei Ngol Ho, tôi hồi hộp theo dõi tình hình.
Chỉ 5 phút sau khi dàn quân thì lựu đạn nổ,
“Oành!Oành!Oành!”
Một phút kế đó, quân ta phóng tới. Tiếng M16 giòn giã giữa màn đêm. Không lâu sau, nơi cuối làng, lựu đạn lại nổ.
“Oành! Oành! Oành!”
Vậy là quân của Thiếu úy Phạm Ðại Việt đã lướt qua tường đất sau cùng. Suốt thời gian đợt tiến công thứ nhất diễn ra, tiếng súng M16 của ta hoàn toàn áp đảo tiếng AK của địch. Hình như địch chỉ bắn trả khi quân ta đã đi qua mục tiêu?
Mười phút kế đó, M26 lại nổ, “Oành! Oành!Oành!”
Rồi M16 cũng nổ, “Cành! Cành! Cành!” kèm với tiếng la,
“Biệt Ðộng! Sát!”
Lần này quân xung phong ồn ào hơn, dũng mãnh hơn, vì ông chỉ huy toán quân này là một tay bán trời không văn tự là Trần Văn Phước. Chỉ vài phút sau Thiếu úy Trần Văn Phước đã hoàn thành nhiệm vụ.
Vừa nghe tiếng lựu đạn “Oành! Oành! Oành!” của toán quân đi trước vọng lại từ cuối sân, tôi bèn đổi ý. Tôi không chờ 10 phút nữa mà la lên,
– Ðợt ba sẵn sàng!
Vậy là 33 trái M26 bay vào sân Plei Ngol Ho,
“Oành! Oành! Oành!”
Một phút sau Hạ sĩ Ba và Binh Nhất Yang hét vang,
“Sát! Sát! Sát!”
“Cành! Cành! Cành!”
Chúng tôi bắn liền tay, từng ba viên một, cứ nhắm những khu có ánh sáng hay có tiếng người rên la mà bóp cò. Trong sân Plei Ngol Ho tôi chỉ thấy vài đống lửa chập chờn khu pháo binh, ngoài ra không thấy bóng dáng tên địch nào xuất hiện. Tới bờ đất cuối cùng, nơi có hai ụ pháo binh, tôi hô to,
– Ðứng lại! M26!
Thế là, mỗi người quăng đại lại phía sau lưng mình một trái lựu đạn rồi chạy nhanh lên ngọn đồi hướng Ðông. Có lẽ địch không ngờ lại có hai cú xung phong chớp nhoáng kế tiếp nhau khiến chúng không kịp trở tay, nên không có tiếng súng nào của địch bắn lại. Lên tới đỉnh đồi Ðông, chúng tôi theo đuôi nhau rút về hướng Bắc.
Ở “tù Việt Cộng” mà nói “Cơm Tù” là trật lất, bởi vì Việt Cộng có nuôi tù bằng cơm bao giờ đâu! Cũng không thể gọi Việt Cộng nuôi tù. Chính là tù nuôi tù. Tù trồng khoai mì (sắn) nuôi tù; tù trồng rau nuôi tù… và nuôi cả Việt Cộng nữa.
Việt Cộng vô ơn và tham lam. Không những bọn chúng không nhớ ơn tù trồng tỉa nuôi chúng, mà chúng còn giành lấy cái ngon, cái tốt. Cái dở, cái siu thúi, hư mốc thì đem cho tù ăn.
Trong trại tù, con chi ăn được là người tù ăn, rau trái chi ăn được là người tù ăn, dù cái ấy là người tù nuôi trồng hay thú hoang, cây lá mọc hoang.
Có một thứ cải không ăn được, không ai dám ăn!
Đó là cây chi?
Khi tôi còn ở “Đội Mộc”, đội mộc gồm nhiều tù nhân gốc miền sông nước Cửu Long, nói nôm na là gốc “người nhà quê” nên so với dân thành phố như chúng tôi, lớn lên quanh quẩn trên những con phố, đại lộ, biết gì về rau trái mọc trong vườn, trong đồng, nên một hôm tôi ra khoảng sân trống giữa đội mộc và xưởng cưa, hái mấy cây cải, định đem về luộc ăn chơi. Nói thật lòng, không phải “ăn chơi”, mà “ăn no”, “độn” thêm rau vào bụng cho no, như mẹ tôi thường nói theo câu tục ngữ, “Đói ăn rau, đau uống thuốc”.
Thấy tôi cầm mấy cây cải trong tay, cựu Đại úy Nguyễn Tấn Trí, ông nầy gốc là lính của ông Năm Lửa, nói:
– “Cây “cải trời”, không ăn được đâu!
Ông Trịnh Xuân Chính, đúng là “chuyên viên hạng hai” của Văn phòng Phụ Tá Ngoại Vụ Tổng Thống, chẳng biết mô tê gì cây lá miền quê, “cải” lại, đúng “lý thuyết”:
– “Đã gọi là cải sao không ăn được?
Ông Trí thực tế hơn:
– “Không ai ăn được nên không ăn được.”
Tôi cũng mù tịt về hoa lá “vùng nước nổi” bèn hỏi:
– “Cây nầy là cây cải chi?”
– “Cây cải trời.” Ông Trí nói lại.
Ông Cựu Đại úy Lương Văn Lịch, nhìn vấn đề theo “lăng kính chính trị”, cười nói:
– “Mấy cha nầy cãi nhau vô ích. Cây “cải trời” là “cây Cộng Sản”. Chỉ có Việt Cộng mới cãi lại Trời. Mấy ông ăn vô là thành Việt Cộng. Bộ ưng thành Việt Cộng lắm hả?”
Tù mà thành Việt Cộng thì mau được tha. Ai cũng muốn được tha, nhưng không ai muốn thành Việt Cộng. “Đời là thế đấy!”
– “Cho nó vô mạt cưa. “Mạt cưa mướp đắng gặp nhau là xứng đôi.” Đấy là tôi nói theo ý một câu Kiều. (Tình cờ chẳng hẹn mà nên Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường. Chung lưng mở một ngôi hàng. Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề)
Nấm Chỉ
Tôi và anh Lã Trung Tâm đang ngồi ăn chiều. Trời cuối hè, cái nóng bớt đi, mấy hôm nay buổi tối có mưa lai rai. Trời âm u và có nhiều sương. Dù trời thế nào, cũng lo ăn cho mau xong, còn rửa chén bát và tập họp “vào chuồng”, tức là Công an điểm danh, cho vào phòng và đóng cửa lại.
Bỗng anh Tâm nói:
– “Tụi thằng Đông thiệt ghê! Không biết nấm chi mà nó dám ăn!
Tôi nói đùa:
– “Nấm chỉ đó anh!”
Anh Lã Trung Tâm nôn nóng:
– “Răng” mi biết nấm chỉ. Nấm đó ăn được?” (Ăn chung với tôi, anh thường bắt chước tôi dùng: mô tê, răng rứa để chọc quê tôi.).
– “Tui nghe Ngọc Xùi nói. Không biết ai nói với nó là nấm chỉ.” Tôi trả lời.
– “Tao chưa nghe ai nói cái thứ nấm chỉ nầy bao giờ. Nấm mối, nấm rơm, nấm Đông-Cô… Làm chi có cái thứ nấm chỉ mà ăn được.”
Tôi cười:
– “Anh đúng là “ông già ham vui” mà chẳng biết gì cả. Bọn nó nói, ăn xong, cả bọn thằng Đông kéo nhau lên Trạm Xá xin thuốc. Bác sĩ Đôn hỏi đau chi? Bọn nó chỉ vô họng. “Á khẩu” hết rồi, không nói được, nên đưa tay chỉ vào họng. Không gọi là “nấm chỉ” thì gọi là chi?
– “Mày!… “đâm hông không?”
– “Không phải tui. “Không phải tui mấy ông ơi! Người ta mới cho tiền để tui cưới vợ. Tụi nó nói, không phải tui nói ông Tâm ơi!”
(“Không phải tui mấy ông ơi.” là câu chúng tôi thường nói nhại theo Nguyễn Văn Trỗi, hôm y bị đem xử bắn.)
Sự việc là, hôm ấy phá rừng về, Dương Tiến Đông và một đám khoảng bốn năm người, mỗi người ôm một cái mũ hay nón đựng đầy nấm. Bọn họ kéo nhau ra hồ nước rửa sạch nấm, nhóm lửa để luộc, lấy muối ớt làm nước chấm. Sau đó, mấy chả đem ra ăn, hì hà hì hụp khen ngon.
Có người hỏi:
– “Biết nấm có ăn được không, mấy ông ăn với nhau.”
– “Được chớ! Được chớ. Ngon lắm!” Đông nói.
– “Sao ông biết ăn được?” Có người hỏi.
– “Hễ nai ăn được là mình ăn được!” Đông trả lời.
– “Làm sao ông thấy nai đang ăn?”
– “Có dấu chân nai. Chỗ nấm có nhiều dấu chân nai.” Đông trả lời.
– “Thôi đi! Để chúng nó ăn. Ông hỏi khắc hoài, nổi sùng, nó cự cho bây giờ.”
Thế là họ bỏ đi.
Đêm hôm đó, không thấy ai rên la gì. Ai nấy ngủ ngon.
Đúng là trời không hại người ngay bao giờ!
Thuốc Suyễn
Nhiều người từng bị suyễn khi còn nhỏ, như ông Trịnh Xuân Chính chẳng hạn.
Tới năm mười tuổi, ông Chính hết bệnh suyễn. Người ta bảo là khi đã lớn hơn chút ít, nhờ ăn uống đầy đủ, nên người ta không còn bị suyễn.
Tới khi vô trại tù, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chất kháng sinh yếu đi, bệnh suyễn lại tái phát.
Mỗi lần Chính lên cơn suyễn, trông tôi nghiệp lắm. Ngồi tựa lưng vào tường, lót hai ba cái gối, người anh gục xuống, tóc rủ rượi, mắt nhắm nghiền, thở khò khè, như có ai lấy tay chận ở cổ họng anh, không cho anh ta thở.
Huỳnh Hà Đông ngồi trước mặt Chính, chờ Chính biểu gì làm nấy. Chính đưa tay chỉ phía trái, Đông không hiểu Chính muốn gì nên chưa kịp làm chi thì Chính đã nạt: “Bơm. Bơm!” Đông hiểu là lấy ống thuốc bơm để thở. Đông vội choài người tới phía đó, tay chụp ống bơm, mở nắp đưa ngay cho Chính. Chính trợn mắt nhìn Đông, tuồng như chê Đông chậm chạp.
Một lúc, cơn suyễn nhẹ bớt, Chính thở được, nhẹ nhàng. Đông đỡ Chính nằm xuống, lấy gối lót đầu, lấy cái quạt giấy quạt nhẹ cho Chính.
Chính dần dần đi vào giấc ngủ êm.
Bấy giờ Đông mới trụt xuống tầng dưới, lấy nước uống. Anh Chung Văn Nghiêm vội đưa cho Đông chén trà nóng. Anh Nghiêm nói:
– “Nước nhì đó! Ngon lắm.”
Trà Đỗ Hữu chính hiệu, nước thứ hai mới thật là ngon.
Hớp một hớp trà xong, Đông cười:
– “Ổng làm tui khiếp luôn. Không nói được, ông đưa tay chỉ. Tui biết cái gì mà lấy. Chưa kịp, ổng nạt cho một tiếng.” Nói xong, Đông cười hề hề.
Khi chúng tôi bị chuyển ra trại ngoài, trại mới xây bên chân “Đồi Phượng Vĩ” thì tình trạng thăm nuôi đã tệ lắm. Ở tù đã hơn năm năm rồi, lâu quá, gia đình cũng đuối sức. Thức ăn đã ít đi nhiều mà thuốc men lại thiếu lắm, có thứ thuốc không có. Gia đình dù có tiền cũng tìm mua chưa hẳn đã có, chưa nói là thuốc Tây thì “bán dưới đất mà giá thì trên Trời.”
Trong hoàn cảnh đó, cái ăn đã “tự biên tự diễn”, đào trộm củ khoai củ sắn, nắm lá nắm rau, mà thuốc thì tự tìm lấy nơi đồng hoang cỏ dại.
Sau Đồi Phượng Vĩ có con suối ngầm.
Có lẽ nước mưa thấm vào ngọn đồi, chảy ra thành một con suối phía sau đồi. Nước suối từ chân đồi chảy ra, khi nhiều khi ít, tùy theo “hai mùa mưa nắng”, nhưng dòng suối ngầm, nước không bao giờ dứt.
Nhờ có nước, hai bên bờ suối, rau sam mọc nhanh và rậm. Đó là món “cải thiện” trời cho của anh em tù chúng tôi. Ngày nào chúng tôi cũng xuống suối hái rau. Hôm trước mới cắt rau, hôm sau rau đã mọc xanh đầy. Món rau “cải thiện” của chúng tôi không bao giờ cạn kiệt.
Những ngày nắng hạn, suối nầy cũng là nơi tập trung của các loài ếch nhái, chồn cáo. Chồn cáo thì chúng tôi chưa bắt được, nhưng ếch nhái, cũng có người “vồ được”, chặt đầu, lột da, nướng ăn với muối hay chiên xào với rau, nếu anh nào có chút mỡ, tiêu, hành.
Cũng lắm khi có mấy chú rắn tìm về đây. Rắng cần nước hay vì nơi nầy có ếch nhái? Điều đó không quan trọng! Quan trọng là rắn độc hay không độc, hễ bị chúng tôi phát hiện thì “mày chạy đằng nào!” như lời Đông nói, mỗi khi anh ta bắt được rắn. Có lần anh ta bắt một lần được những hai con. Không hiểu căn cớ vì sao, Đông phát hiện hai con rắn, con nầy nuốt con kia, nửa chừng hai con rắn nằm lại đó, chờ Đông đến bắt lột vỏ, nướng ăn.
Mỗi khi bắt được một con rắn, như một thông lệ, sau khi đâp đầu rắn, lột da, người ta kêu:
– “Trắc đâu! Trắc đâu!”
Con rắn vừa bị lột vỏ, bộ lòng hiện ra, tái tim còn đập. Người ta moi ngay cái mật rắn, đưa cho Trắc. Trắc cầm cái mật rắn, ngữa cổ, bỏ vào miệng, nuốt đánh ực môt cái. Xong, Trắc đưa tay vuốt ngực, nói: “Khỏe quá! Khỏe quá!”
Khỏe gì đâu! Mật rắn đâu phải là thuốc tiên. Trắc bị suyễn, nghe ai nói đâu đó, bảo rằng nuốt mật rắn thì hết ngay. Vì vậy, một khi bắt được một con rắn, anh em thường lấy cái mật mà cho Trắc. Nhờ vậy, Trắc ít bị lên cơn suyễn như trước kia. Đó là món thuốc suyễn kỳ diệu!
Có lẽ ông Hoa Đà tái thế mà giúp Trắc đó chăng?!
Tên Trộm Bầu
Đội Rau Xanh có một khoảnh đất phía sau trại, từ hàng rào dài tới bìa rừng – Chỗ nầy ông Cựu Thiếu Úy Châu Tử, Đội trưởng Đội Vệ Sinh, có cái hầm phân người. Đội Vệ Sinh đổ phân xuống đó hằng ngày, chờ khi phân đã “hoai”, có khi chưa kịp “hoai” cũng moi lên, đem bón vào ruộng rau, cho rau mau xanh, mà làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa.”
Mấy chú Miên Đội Rau Xanh thường “phát huy sáng kiến”. Thường mỗi “đội viên” có một khoảnh đất nhỏ cho riêng mình. Sau khi hoàn tất công việc của đội, họ lo cho khoảnh đất riêng. Họ nhờ gia đình đem lên cho ít hột giống để họ tự trồng thuốc lá mà hút, xà lách, đậu bắp mà ăn. Gia đình khỏi “tiếp tế”. Họ làm giàn trồng một ít bí, bầu…
Sau mùa xuân, cây trái ra hoa xong, bầu bí bắt đầu có trái, trông ngon mắt.
Buổi tối, đội viên về trại. Sáng hôm sau trở ra, họ bị mất một ít trái bầu, trái bí. Có hai thành phần thủ phạm trộm bầu bí: Một là mấy cán bộ Công An có gia đình, hái đem về nhà. Hai là mấy chú “dộc” từ trong rừng ra.
“Dộc” là một loài “hầu”, con cháu ông Tề. Ông Tề lông vàng, vì ông Tề sinh trưởng ở Châu Á, còn mấy chú “dộc”, có nguồn gốc “Châu Phi đen”.
Một hôm, mấy chú Miên làm bẫy sập bắt được một chú “dộc” đem về trại. Nó bị trói vào cột nhà. Mặt mũi nó là khỉ, nhưng chân tay dài như một đứa con nít hai ba tuổi thiếu ăn. Thấy người tới, con “dộc” sợ hãi nhìn mọi người, nước mát chảy xuống hai dòng theo khóe mắt. Ai cũng thấy tội nghiệp cho nó.
Trong hoàn cảnh ăn uống đầy đủ, chưa hẳn người ta tha mạng cho nó, huống chi trong cảnh tù. Thịt con “dộc” dù có dai, không thơm, dù thấy nó tội nghiêp. Giết nó rồi, lông đen cạo sạch, da trắng ra, nó nằm dài trên mặt đất như một đứa con nít. Thịt con “dộc” được xào nấu, luộc, kho để mấy chú Miên chén một bữa ngon lành.
Thịt là nhục
Khi ở Trại Suối Máu, nhờ gia đình thăm nuôi, có người nuôi gà, nuôi vịt. Nhờ vậy nên người ta không còn ăn những con ốc trơi, ốc ma bắt được ngoài hàng rào.
Khi chuyển trại đợt đầu, – sau nầy mới biết là đi Phước Long – tham gia cái gọi là “Bộ đội làm nhiệm vụ kinh tế” là chương trình do Võ Nguyên Giáp đề ra – những tù cải tạo ra đi đều được đem theo gà vịt sống đang nuôi. Đợt hai, – sau nầy biết là bị đày ra Bắc – tù không được đem bất cứ cái gì theo, ngoài cái Bộ Đội ra lệnh là “bồng gọn nhẹ”. Thế mà anh bạn Huỳnh Văn Khánh của tôi cố đem theo con vịt anh đang nuôi. Khánh dấu con vịt sống vào cái bị bàng, nhét vô ba-lô. Có lẽ con vịt chết ngộp khi mới xuống tầu ở Tân Cảng.
Trước khi chúng tôi chuyển trại về Xuân Lộc, Bùi Xuân Toàn với Đào Sơn Bá làm thịt một con mèo Toàn đang nuôi. Không biết do đâu Toàn có con mèo con để nuôi, nay mèo đã lớn, làm thịt được rồi.
Có người nói:
– “Đừng ăn thịt mèo. Mèo xui lắm.”
– “Xui gì mà xui. Dị đoan. Thịt mèo ngon lắm.”
Giết mèo xong, Toàn và Bá đem mèo ra giếng cạo lông, mổ bụng, làm thịt. Sau đó, họ đốt lửa nấu thịt mèo.
Bá nói:
– “Thịt mèo ngon thiệt, còn hơn thịt bê.”
Có người nói mỉa:
– “Mèo mà cũng đem làm thịt ăn.”
Tôi nói:
– “Con chó có nghĩa với chủ. Chủ cũng làm thịt chó của mình mà ăn, nói chi mèo.”
Có người lại cười:
– “Thịt là nhục. Ăn miếng thịt thì không nhục!”
Ấy là người ta “chơi chữ” đấy.
Con Bơ
Con kiến dương hình dạng như con bọ hung, chỉ khác là hai cái sừng nhọn hơn, hình dạng như sừng nai. Hôm đội tôi được lệnh dọn đất phía sau Đồi Phượng Vĩ, để lấy thêm đất trồng, phải bứng mấy cái gốc cây bị đốn đã lâu ngày. Gốc và rễ mục đi một phần.
Khi chặt một cái rễ lớn, rễ toác ra, Đông phát hiện trong rễ có một con sùng, trắng và to hơn ngón tay cái một chút. Cầm con sùng trong tay, Đông nói:
– “Con sùng. Mình có nhiều mỡ, trông như bơ.”
Nói thế rồi Đông thổi cho bay một chút đất còn dính trên mình con sùng, bỏ vào miệng nhai, tấm tắt khen:
– “Béo! Béo lắm. Mỡ nó như bơ.”
Trắc nói:
– “Sùng chớ bơ gì. Con sùng mà cũng ăn.”
– “Mày ăn mật rắn trị bệnh. Tao ăn con bơ cần chất béo. Có gì đâu!”
Tôi nói:
– “Nó con trùng của con bọ hung đấy! Ai lại ăn bọ hung.”
– “Đâu phải bọ hung. Anh “xuyên tạc” không. Nó là con sùng của con kiến dương.”
Tôi nói đùa, qua câu đối của Cống Quỳnh ngày xưa:
– “Trời sinh ông Tú Cát, Đất nứt con bọ hung.”
Ngọc xùi nói:
– “Mai mốt “mệ Hải” moi trong đống phân bò bắt con bọ hung cho thằng Đông coi.”
Tôi cười:
– “Ai hơi đâu mà làm, chọc Đông chơi!”
Mấy ngày sau, trong khi bứng gốc cây, hễ gặp con sùng nào là người ta gọi to: “Đông ơi! Con bơ của ông đây.” Đông vội chạy tới, nắm con sùng, bỏ vào miệng ăn ngon lành, còn bảo: “Con bơ béo quá!”
“Con chó khóc đứng khóc ngồi,” (ca dao)
Khi đội chúng tôi lãnh phần đất canh tác phía sau Đồi Phượng Vĩ, Dương Tiến Đông làm Đội trưởng. Cán bộ Hoành làm quản giáo.
Đông là người lanh lợi, giỏi buôn bán. Nhờ cái tài ấy, anh ta “xỏ mũi” dắt quản giáo và Công An như chuyện đùa.
Mỗi sáng, khi ra tới bãi, nhóm lửa, nấu nước. Nước trong thùng vừa sôi là anh Nghiêm bỏ một gói trà Đỗ Hữu vào “gô”. Đông bưng tới cái chòi cao cho vệ binh, móc trong túi ra một gói thuốc lá Phúc Khánh, cái hộp quẹt “gas”. Anh ta nói, “Mời cán bộ.” Xong, anh ta “đi buôn”. Trong khi đó toàn đội chúng tôi, kẻ đi mài cuốc, người cuốc đất, “lu lơ” cho hết giờ.
Đông lận trong mình, khi thì một, khi thì hai bộ quần áo mới do trại cấp phát, đem ra mấy cái quán của xóm nhà dân, nằm bên cạnh con lộ từ Giá Rai đi Võ Đắt – Võ Xu để bán cho dân.
Nhiều anh em tù không mặc đồ tù do trại phát, mỗi năm một hay hai lần. Đó là những bộ đồ màu xanh lam, may theo kiểu nông dân thường mặc, sợi vải to và xấu, chưa mặc sợi chỉ đã bung, đường may chưa mặc đã đứt. Họ nhờ Đông đem bán, mua một ít thực phẩm để ăn thêm. Họ vẫn mặc những bộ treilly cũ, sờn rách, vá chằng vá đụp. Dù sao thì những bộ quần áo ấy cũng bền hơn thứ trại cấp phát nhiều.
Bán quần áo xong, Đông mua “hàng” về bán lại cho anh em trong trại: Vài nãi chuối, vài trái đu đủ, gói thuốc lá, chai dầu gió trị bệnh, con cá lóc, v.v… Đông kiếm ít lời, lại mua trà và thuốc lá “chiêu đãi” cán bộ. Nhờ Đông biết xoay xở, nên anh em chúng tôi lao động tà tà qua ngày. Quản giáo cũng như cán bộ vệ binh, chẳng theo dõi, đốc thúc chúng tôi cuốc đất, làm cỏ gì nhiều!
Cái tiếng “có trà và thuốc” của đội tôi làm cho nhiều vệ binh biết tới, nên có hôm, mới ra tới bãi chưa lâu, đã có tên vệ binh hạch hỏi, “Trà lá đâu?!”
Điều đó làm cho anh em chúng tôi thấy một điều. Té ra Việt Cộng đánh đổ “giai cấp địa chủ bóc lột”, “cường hào ác bá” thì chúng lại có những cái tư tưởng, hành động như cường hào, bóc lột và hách dịch không khác chi giai cấp mà chúng đã đánh đổ. Lịch sử xã hội chỉ là con đường vòng.
Thế rồi một hôm Đông phổ biến tin tức: “Ai muốn mua thịt chó thì đóng tiền!” Có người mua một ký, có người hai ký, có người nửa ký, v.v…
Số là hôm rồi, Đông rủ quản giáo Hoành “đi nhậu chơi”. Hai người đi tuốt vô một xóm Thượng. Đông gạ một người Thượng bán cho Đông một con chó. Người Thượng ấy đồng ý. Vì vậy, khi về trại, Đông phổ biến việc mua thịt chó.
Thu tiền đâu đó xong rồi, hôm sau, Đông rủ thêm một bạn tù nữa, tôi không nhớ là ai, cùng quản giáo Hoành đi mua chó, làm thịt, nấu một món nhậu cho cả mấy người nhậu chơi, trước khi về lại bãi lao động, rồi đem thịt chó về giao cho “bạn hàng.”
Chiều hôm đó, Đông rủ tôi và anh Lã Trung Tâm cùng ăn thịt chó với Đông. Anh Tâm từ chối. Tôi cũng không ăn. Sợ mất lòng, tôi nói: “Tui ngại lắm! Nhà tôi có con chó, ai cũng thương. Hôm con chó bị người ta bắt, thằng Hùng (móm) em tôi nó khóc đó. Mẹ tôi phải đi chuộc về!”
Đông nói:
– “Con chó như có linh tính. Khi tôi ra bắt nó, tui thấy nước mắt nó chảy ra. Nó khóc. Tui không muốn bắt. Thằng Thượng bắt, trói chân lại, giao cho tui.”
Đông còn làm một chuyện “động trời” nữa.
Tuần sau, anh ta rủ một vệ binh đi chơi với anh, rồi hai người nhậu “ngoắt cần câu”. Tới giờ hết lao động, Đông và anh vệ binh cũng chưa về. Quản giáo Hoành nói:
– “Thôi! Cứ về đi, tôi báo cáo hai người có công tác.”
Mãi đến tối, Đông mới về, mặt mày đỏ gay, còn hơi rượu, rồi chui vào giường ngủ mất.
Hôm sau, Đông nói với tôi:
– “Thằng vệ binh say quá, tôi phải dìu nó. Nó gởi cây súng cho trưởng ấp, về tay không. Bữa nay nó mới đi lấy về.”
Đội tôi, cứ cái đà cuốc đất tà tà như vậy mà kéo dài, đến khi mưa tới, lô đất cuốc chưa được một nửa, làm sao gieo hột bắp. Đông xúi quản giáo Hoành cho đốt hết cỏ dại, cây dại; xong, xoi lỗ gieo hột như người Thượng, chẳng cần phải cuốc. Được nửa tháng bắp đã mọc, nhưng èo uột. Kiểu nầy thì tới khi thu hoạch, chắc là mất mùa to, chẳng được hột bắp nào. Cũng may, sau đó, trời hạn hán, cả tháng không có giọt mưa nào. Không riêng gì đất của đội tôi mà toàn trại, bắp cháy hết! Tới đó thì coi như “huề cả làng.”
Được ít lâu, quản giáo Hoành được chọn đi học y sĩ. Cán bộ Nhâm thay thế. Thằng nầy nổi tiếng ác. Hai cái môi bao giờ cũng tím dắt. Đó là tướng người ác.
Nó cấm hết mọi chuyện buôn bán, “cải thiện linh tinh”, đến nỗi rau đắng bên bờ suối cũng không được hái. Anh Nghiêm hái trộm một nắm nhỏ, thấy được, y bắt anh Nghiêm phải đem đổ, không cho đem về.
Tới thời kỳ gay go đó thì sau tết khoảng hai tháng, một mình tôi được lệnh chuyển vô Trại Cây. Có lẽ bọn Công An nghi tôi trốn trại, đưa vô Trại Cây cho chắc ăn.
Tôi khỏi trốn trại. Vô Trại Cây được hai tháng thì tôi “được tha ra khỏi trại cải tạo”, xong một đời tù gian khổ kéo dài 7 năm 10 ngày.
Những chuyện tôi kể trên chỉ là những chuyện “cải thiện linh tinh”, bởi vì bản năng sinh tồn là một ý chí kỳ diệu mà Tạo Hóa ban cho con người ta.
Bất cứ trong hoàn cảnh nào, để sống còn, người ta, phần đông là người tù, tìm dủ cách để sống, kiếm thêm rau trái để ăn, tìm cây lá để trị bệnh… Thay thế “xuyên tâm liên” do trại phát, chúng tôi trồng “cây sống đời” để làm thuốc. Lá cây nầy có chất trụ sinh.
Còn như “cơm tù”, khi tới mùa thì được ăn bắp, khi hết mùa thì ăn khoai mì lát. Khoai hay bắp thì được ăn với rau muống luộc chắm nước muối, tên thường gọi là “nước mắm đại dương”.
Khi tù còn được Bộ Đội quản lý, từ giữa năm 1975 đến giữa năm 1977, dù không được ăn no, nhưng chúng tôi còn được ăn cơm, ít được thăm nuôi. Khoảng đầu năm 1977, không được phát gạo, chúng tôi được ăn bột mì, – thứ bột để làm bánh mì.
Không làm được bánh mì, chúng tôi làm bánh bao. Nguyễn Thụy Hiền nói đùa: “Tui là đàn ông, cũng được phát mỗi ngày một “cặp bánh bao”.
Khi được chuyển qua cho Công An “quản lý”, bọn nầy có kinh nghiệm coi tù, tàn ác và thủ đoạn vô cùng.
Không được ăn cơm, có lúc chúng cho ăn bo bo. Thằng Trung úy Ngọc, trại phó Trại Cây (B), “lên lớp” chúng tôi: “Các anh đừng chê bo bo. Trung Quốc gọi bo bo là cao lương; các anh được ăn cao lương đấy”. Ý của y là muốn nói tới “Cao lương mỹ vị” là đồ ăn của vua chúa đấy. Miệng lưỡi Cộng Sản ghê gớm chưa!? Dĩ nhiên bọn chúng ăn cơm, không ăn bo bo bao giờ.
Khi bị Công An quản lý, lệnh cho thăm nuôi hàng tháng. Người tù sống còn được, phần nhiều cũng là nhờ gia đình thăm nuôi. Gia đình đem cho gạo, cá khô, thịt khô, nước mắm… ăn dần dần chờ kỳ thăm nuôi sau.
Đối với Công An, dù người tù nào có công, cũng không được “thưởng” gì thêm, dù chén cơm hoặc miếng thịt. Tuy nhiên, chúng dùng ngay cái thức ăn của gia đình đem cho người tù để khống chế người tù.
Hễ ai “học tập tốt, lao động tốt” mới được thăm nuôi. Còn như ai “chống đối”, “ngoan cố” “âm mưu trốn trại” thì chúng cúp thăm nuôi. Gia đình lên tới trại, phải mang quà mà trở về, không được gặp người thân mà cũng không được gởi quà lại.
Dùng thực phẩm của gia đình người tù, để “trừng trị” người tù, đó không phải là một thủ đoạn đê hèn hay sao?!
Hôm tôi ở trại mới bên cạnh Đồi Phượng Vĩ, có một đám tù từ Bắc được đưa về. Tôi gặp một số người quen: Cựu Trung Tá Trương Như Xin của Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng trước kia và anh Cao Văn Thanh, Cao học Hành Chánh, em một người bạn gái cùng lớp niên khóa 1954-55.
Anh Xin bị sưng phù hai chân, tôi nhờ “Bác sĩ Hảo” trưởng Trạm Xá chăm sóc giùm. Còn Cao Văn Thanh, một bữa tôi rủ anh ăn chung với tôi. Tôi và Thanh bày khoai mì ra. Thanh nói:
– “Khoai mì nầy ngon quá, lát khoai còn trắng.”
– “Ngoài đó cũng ăn khoai mì?” Tôi hỏi.
– “Muôn năm!” Thanh nói. “Suốt cả mấy năm tui ở ngoài Bắc, chỉ ăn khoai mì đen, lát khoai mì đã thâm đen, mốc, có khi bị mục không ăn được.”
Tôi nghĩ thầm: Khoai mì mà ngon gì. Và nghĩ tới những người bi đày ra Bắc như Thanh, bao nhiêu năm trời bị đày ra ngoài đó, họ chỉ có được một thứ khoai mì đen.
&
Nói “Cơm Tù” chỉ là một cách nói thông thường. Người tù Cải Tạo không mấy khi được ăn cơm, ngoại trừ Tết hay khi có “Ba ngày nễ nớn” – cán bộ thường nói ngọng như thế – thì được lưng chén cơm, ăn chưa đủ tráng cái miệng thèm cơm.
Có lần Phan Hải nói:
– “Hồi trước, ăn uống đâu có như ri. Cơm gạo trắng mà ăn đủ, ăn no, không bao giờ đói!”
– “Còn thức ăn?” Tôi hỏi.
– “Mỗi tuần 7 ngày, ba ngày ăn thịt, bốn ngày ăn cá. Có khi đại diện tù chê cá ươn, không nhận, nhà thầu phải cung cấp ngay cá hộp, cho kịp bữa. Họ quậy đó, làm gì có cá ươn!”
Phan Hải là Cựu Trung úy, làm việc ở Toà Đô Chánh, đặc trách coi sóc đời sống tù Chí Hòa.
Nguyên năm 1954, anh ở lại miền Nam với ông Bác. Anh lớn lên, được đi học, rồi bị gọi Động viên, nhập học Trường Sĩ quan Thủ Đức.
Cha mẹ anh “tập kết” ra Bắc. Ông thân là ông Phan Mạch, Chủ Nhiệm Ủy Ban Thống Nhứt của chính phủ Bắc Việt. Bác là Phan Mỹ, Chủ Nhiệm Văn Phòng của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Bác cả là nhà văn Phan Khôi. Đây là dòng họ “Phan Điện Bàn”, thường người ta gọi là “Phan Cộng Sản” để phân biệt với họ “Phan Quế Sơn”, như giáo sư Phan Khoang, nhà văn Phan Du, thường gọi là “Phan Việt Quốc”.
Không biết khi Phan Hải được tha, kể chuyện “cơm tù” cho cha mẹ nghe, cha mẹ anh sẽ nghĩ như thế nào. Họ thấy “tội nghiệp” cho con họ. Còn những người cùng tù như Phan Hải thì sao, họ có thấy “tội nghiệp” không, hay nghĩ đơn giản như bọn cán bộ Cộng Sản thường nói: “Bây giờ thì lo ăn no mặc ấm, mai kia thì các anh được ăn ngon mặc đẹp.”
Thực tế, bây giờ ăn “chưa no”, làm chi mai sau có “ăn ngon?”
Đây chỉ là cái bánh vẽ.
Cái “bánh vẽ” trông thiệt là ngon lành, nhưng không ai bao giờ rớ tới được. “Thiên đường Cộng Sản” là vậy đấy!!!
Câu chuyện nầy làm tôi nhớ tới bài thơ của “ông Phán Hoan” (Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị, tức nhà thơ Cộng Sản Chế Lan Viên, trước 1945 làm thông phán cho Tây)
Bánh vẽ
Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn Cầm lên nhấm nháp. Chả là nếu anh từ chối Chúng sẽ bảo anh phá rối Ðêm vui Bảo anh không còn có khả năng nhai Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc… Thế thì đâu còn dịp nhai thứ thiệt? Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn Như không có gì xảy ra hết Và những người khác thấy anh ngồi, Họ cũng ngồi thôi Nhai ngồm ngoàm…
Trích Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, từ trang 92 đến trang 98.
Kiên Trinh và số anh em trong đội của mình đã kiệt kê một danh sách 21 tên tàn quân của đội biệt kích văn hóa – tư tưởng của Mỹ có thể là thành viên của cái “tòa soạn bí mật tại chỗ” mà Tư Tuân đã gợi ra. Công việc ấy không mấy khó khăn vì chỉ cần lật ra các tập tài liệu, trao đổi với một số người am hiểu giới nhà văn, nhà báo cũ ở Sàigòn thì có thể lòi ra từng tên rằn ri đang núp ở xó xỉnh nào đó. Hầu hết, số người này quen thói lêu bêu, tối ngày la cà, bù khú với nhau ở quán cóc, cà phê cà pháo với nhau. Chỉ cần liếc qua là biết họ đang sống thế nào. Đó là những con ngựa quen đường cũ, chuyên gieo rắc nọc độc hòng gây tác hại về mặt chính trị tư tưởng. Sự tiêu xài vung vít mỗi khi được chủ trả tiền công cũng góp phần tự tố cáo chúng.
Căn phòng của Kiên Trinh nhỏ nhưng khá náo nhiệt. Chuông điện thoại reo từng chặp, mấy chiếc máy đánh chữ hiệu Remington mổ lốc cốc liên hồi. Chỗ này, một anh trinh sát trẻ hí hoáy viết, chỗ khác mấy anh đang hăng hái tranh luận với nhau, không khí giống hệt tòa soạn một nhật báo trước giờ báo lên khuôn, chỉ thiếu mùi mực in và dĩ nhiên không thiếu khói thuốc mù mịt. Kiên Trinh quen thuộc với khung cảnh và nhịp điệu sinh hoạt này đến nỗi mỗi khi ngồi viết một mình trong căn phòng vắng lặng, anh cảm thấy dường như thiếu một cái gì đó kích thích tính năng động của bộ óc. Các nhà khoa học cho rằng tiếng ồn ào ảnh hưởng xấu đến sự hoạt động tinh thần, nhưng với anh, loại tiếng ồn thân thương này là một chất liệu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày.
Trông bề ngoài, Kiên Trinh ốm yếu: người dong dỏng cao gầy, mặt thon, lúc nào cũng không rời cặp kính trắng. Nhưng anh dẻo dai như một sợi mây rừng. Anh có thể ngồi lì suốt ngày xem tài liệu như một tu sĩ khổ hạnh, nhưng khi hành động thì anh lại rất nhanh nhẹn. Anh em kháo nhau rằng Trinh giỏi vũ thuật. Anh không hề nhận điều này nhưng thường lấy một trong những phương châm của vũ thuật cổ truyền vận dụng cho người trinh sát để tự rèn luyện mình: “Đi như lá, trụ như đá” Nghĩa là khi hành động thì nhẹ nhàng, linh hoạt như chiếc lá bay trong gió và khi tập trung nghiên cứu vấn đề gì hoặc trước mặt kẻ thù thì kiên trì vững vàng như tảng đá đầu non. Thật ra, anh không khỏe hơn ai về mặt sức vóc, nhưng có lẽ nhờ vận dụng phương châm ấy cộng với ý chí được tôi luyện trong chiến đấu, trong gian khổ, đã giúp anh nhân sức lực và trí tuệ của mình lên.
Đồng đội của anh mỗi khi thấy anh bù đầu ở phòng làm việc trong mấy ngày liền là đoán được sắp có cú “làm ăn lớn”. Anh em vẫn thường nói đùa với nhau: đó là sự im lặng trước giờ nổ súng.
Thật tình mà nói, Kiên Trinh cũng không tránh khỏi những lúc “bí rì rị” như hôm nay. Có những việc tưởng như sự thật đã phơi bày ra đó nhưng khi bắt tay vào mới thấy khó. Những lúc ấy anh cần có trí tuệ tập thể của đồng đội, nhưng hoàn toàn không ỷ lại vào tập thể. Chừng nào bản thân đã cố hết sức xoay xở vẫn không xong, lúc ấy anh mới yêu cầu đồng đội tiếp tay.
Vấn đề của anh hôm nay là trước mớ sự kiện ngổn ngang đã thu thập được, trước hàng tá đối tượng với hàng trăm trang tài liệu ấy, anh nên bắt đầu từ chỗ nào. Thế mà ngày mai anh đã phải trình chỉ huy trưởng bản kế hoạch rồi. Chỉ còn ngày và đêm nay nửa thôi.
Mười giờ sáng, Trinh tìm một bàn vắng người dưới gốc cây trứng cá đằng sau căng tin của đơn vị. Cái dạ dầy hay giở chứng của anh không ưa cà phê, nhất là cà phê đá. Đến giờ này, chén cơm chiên ăn lúc sáng đã tan biến từ lâu rồi, không cho phép anh thưởng thức chất cà-phê-in.
Nhưng anh vẫn cảm thấy không cưỡng nổi, gọi một ly cà phê đen, nếu như Hồng Sơn, một đồng đội trẻ của anh không kịp thời mang đến cho anh một chai xá xị. Anh thầm cảm ơn sự chăm sóc của bạn, nhưng trong mắt thoáng đôi chút thất vọng.
Sau khi châm điếu thuốc Đà Lạt, nhấp một ngụm nước ngọt, Kiên Trinh lên tiếng trước.
– Thế nào?
– Anh hỏi tôi? Hồng Sơn ngước lên nhìn Kiên Trinh thăm dò.
– Ừ. Chả lẽ mình lại nói chuyện với đầu gối của mình. Việc của cậu đi đến đâu rồi?
– Việc nào? Bọn tôi đang chờ bật đèn xanh đấy, sao anh lại hỏi tôi?
– Chờ mình là thế nào? Việc ai nấy làm chớ?
– Nhưng anh đã phân công cụ thể cho tôi làm gì đâu? Ngày mai mấy “cụ” mới duyệt kế hoạch của anh kia mà. Đến đâu rồi?
Kiên Trinh chột dạ, mặc dầu hơn ai hết, anh biết rõ thế nào Hồng Sơn cũng hỏi anh câu ấy. Năm phút trước đó, anh quyết định rủ Hồng Sơn đi uống nước để xả hơi đôi chút. Anh tin rằng Hồng Sơn sẽ giúp anh những ý kiến hay như bao nhiêu lần trước để anh bổ sung, củng cố những “tư duy chiến thuật” của mình. Vì thế, anh không do dự đặt ván đề với Hồng Sơn:
– Theo cậu, ta nên bắt đầu từ đâu?
– Tôi biết mà – Hồng Sơn cười khoái trá – Anh cần lính tráng “hiến kế” mới chịu rủ anh em xuống đây chớ dễ gì?
– Ừ. Hiểu thế cũng được. Nhhung cậu nhớ cậu cũng có trách nhiệm trong vụ này đấy, lại phải chịu phần “mũi nhọn” nữa là khác.
– Thôi được. Hồng Sơn làm ra vẻ long trọng. Thưa đồng chí đại úy, tôi xin được hiến kế…
– Nói đại đi, đừng kiểu cách “dỏm” nữa. “Vạn sự khởi đầu nan”. Nói đi, ta nên khởi đầu chỗ nào? – Kiên Trinh dục bạn.
Hồng Sơn xoa xoa mái tóc ngắn cắt đúng điều lệnh nội vụ và nói thẳng vào vấn đề mà đội trưởng mình đang quan tâm, dường như chính anh đã chuẩn bị trước. Anh bắt đầu trình bày:
– Đến nay, tài liệu chúng ta có trong tay khẳng định một điều là bọn phản động trong nước và số lưu vong ở nước ngoài đã thiết lập sự liên lạc thường xuyên với nhau. Nhưng chúng liên lạc với nhau bằng con đường nào, với phương tiện gì thì ta chưa rõ. Đây là vấn đề sống chết của bất cứ tổ chức gián điệp nào. Về mặt lý luận, liên lạc là khâu trọng yếu nhất và cũng dễ bộc lộ nhất, có phải vậy không? Đánh vào đó là trúng yết hầu của địch.
– Đúng. Bài bản của bất kỳ trường huấn luyện tình báo và phản gián nào trên thế giới đều thống nhất điều đó. Nhưng trong vụ này thì thế nào? Vấn đề là ở chỗ đó! Xin lỗi, mình không làm cậu mất hứng đấy chứ? Tiếp tục đi!
– Anh yên tâm. Dù sao tôi cũng tiêu hóa được ít nhiều bài học lý thuyết ở nhà trường để “hiến kế” với anh. Nhưng điều tôi vừa nói là đặc điểm chung nhất của bất kỳ tổ chức gián điệp nào. Nhưng những điều rất thông thường, ai cũng biết, không có nghĩa là điều dễ dàng giải quyết.
– Cậu vào vấn đề chính đi. Nhập đề như thế là bài bản lắm rồi! Thú thật với cậu, tôi thấy bọn này làm ăn nửa kín nửa hở, nếu không muốn nói là hơi bầy hầy. Cậu xem cái gã Trần Tam Tiệp ấy dám quảng cáo trên báo truyện “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” do “một tác giả còn kẹt trong nước gửi ra”. Và cũng lúc đó, nhà xuất bản Nam Á cũng quảng cáo sắp phát hành tập “Bình thơ Nguyễn Du” do một tên quỷ quái nào đó có bút hiệu Dương Hồng Ngọc, từ trong nước gửi ra. Bọn chúng tung hỏa mù chăng?
– Cũng có thể đây là thủ đoạn “gây nhiễu” để che dấu một hoạt động khác nguy hiểm hơn, nhưng cũng không loại trừ cái trò “lộng giả thành chân”. Điều đó ta có thể khẳng định qua công trình xét nghiệm “văn phong” của anh. Tôi hoàn toàn nhất trí với anh “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” dứt khoát do một tên nào đó trong nhóm “Hòa Bình, Độc Lập” cũ viết thì kẻ “Bình thơ Nguyễn Du” chắc chắn không ai khác ngoài tay Hoàng Hải. Cái giọng bình thơ xỏ lá ấy chỉ có hắn thôi.
– Chuyện đó để hồi sau phân giải. Cậu trở lại vấn đề đi: Làm thế nào bọn Trần Tam Tiệp nhận được bài vở của những tên biệt kích văn hóa ấy? Và đổi lại, bọn biệt kích ở đây được trả công như thế nào? Nếu không có xơ múi gì, tôi cam đoan chẳng tên nào chịu viết một chữ. Chúng căm thù chế độ cộng sản, chống đối một cách có ý thức và quyết liệt, nhưng đồng thời cũng là những tên rất hám tiền và háo danh.
– Vì vậy, anh đã nắm được chân lý của Archimède đã tìm ra nguyên lý về sức đẩy của nước. Đúng, tiền, tiền phải đóng vai trò nào đó trong vụ này. Nói khái quát, không chỉ là tiền mà là “lợi ích vật chất”. Đương nhiên cái ấy phải đi đôi với ý thức phản cách mạng.
– Tiền! Không loại trừ. Nhưng bằng hình thức nào khác?
– Hàng, chẳng hạn? Hồng Sơn trả lời ngay.
Kiên Trinh vụt đứng dậy. Anh thấy lóe ra một dấu hiệu rất đáng phấn khởi. Trong truyện “Nếu chàng Trương Chi đẹp trai” có nói đến việc Trọng Thủy lần theo vết lông ngỗng mà Mỵ Châu đã rắc trên đường bôn tẩu với cha. Phải chăng trong vụ này, tiền, hàng – chứ không thể gì khác – là dấu chân ngỗng để phăng ra mối liên hệ trong ngoài của địch thủ.
– Hay! Kiên Trinh kêu lên.
– Đề nghị đại úy hãy bình tĩnh. Nếu có reo lên tiếng “Euréka” như Archimède cũng được nhưng chớ bắt chước nhà bác học ấy để tồng ngồng mà chạy từ sông về nhà giữa ban ngày khi ông tìm ra nguyên lý về sức đẩy của nước phải không, thưa đại úy?
Cả hai cười phấn chấn hẳn lên, cất tiếng cười sảng khoái.
Ta thấy đồng chấy Thủ trưởng, tức Giám đốc Sở Công an thành phố Hồ Chí Minh quang vinh rực rỡ tên vàng giả, giao công tác đi bắt bỏ tù mút chỉ cà tha mấy tên văn nghệ sĩ Sàigòn kẹt giỏ bỏ của, bỏ nước chạy lấy người không thoát, dám liều mạng viết những bài tố cáo , châm biếm xã hội chủ nghĩa ưu việt ác ôn côn đồ, gửi ra nước ngoài đăng trên những tờ báo Việt hải ngoại, cho đồng rận Tư Tuân, trưởng cái gọi là Ban Công tác chống phá hoại tư tưởng. Đồng rận Tư Tuân lãnh công tác về nhà nghiên kíu, điều cha, điều mẹ năm bẩy ngày đêm, người ngợm phờ phạc, mất ăn bỏ ngủ với vợ. Chị vợ phiền não phải chạy sang nhờ đồng bọn bên Nhà Đẻ Nhân Dân cung cấp một số thuốc bổ thận Nhân cao chế tạo bằng thai nhi xã hội chủ nghĩa để anh chồng tẩm bổ. Thế rồi qua những trang sau đó, ta thấy – dù ta có căm thù cộng sản đến mấy ta cũng phải nhìn nhận: dường như đồng rận Tư Tuân trên thực tế chẳng có làm cái mẹ gì cả- Đồng rận giao toàn bộ công tác bắt bỏ tù bọn bị gọi là Những tên biệt kích cầm bút cho đồng rệp Kiên Trinh.
Buổi sáng trước khi tới sở làm công tác bắt bớ nhân dân, đồng rận Tư Tuân đớp nhẹ có “mấy chén cơm chiên”. Đến đây ta lại thấy tả đồng rệp Kiên Trinh ở vào cảnh “đến giờ này, chén cơm chiên ăn lúc sáng đã tan biến tự lâu rồi…” Cớm cộng đớp toàn cơm chiên thôi ư? Cũng chẳng có gì để ta phải théc méc. Cộng sản chuyên lấy máu nhân dân nhuộm cờ đỏ, lấy mỡ nhân dân chiên cơm đảng viên đớp ngon lành. Dzì dzậy nhân dân ta mới có câu: “Đừng có no. Để đảng no…”
Đồng chấy Thủ trưởng giao công tác cho đồng rận Tư Tuân, đồng rận Tư Tuân giao cho đồng rệp Kiên Trinh. Đến đây, người đọc ngây thơ lương thiện tưởng các cớm đẩy công tác xuống hạ tầng đến đồng rệp Kiên Trinh là hết, nhưng đồng rệp Kiên Trinh lại đẩy công tác bắt bớ, bỏ tù nhân dân xuống một tầng thấp hơn nữa. Nhân vật thứ tư xuất hiện là đồng xám xây cọoc Hồng Sơn.
– Theo cậu, ta nên bắt đầu từ đâu?
– Tôi biết mà – Hồng Sơn cười khoái trá – Anh cần lính tráng “hiến kế” mới chịu rủ anh em xuống đây chớ dễ gì?
– Ừ. Hiểu thế cũng được. Nhhung cậu nhố cậu cũng có trách nhiệm trong vụ này đấy, lại phải chịu phần “mũi nhọn” nữa là khác.
Tiếp đó Đồng xám xây cọoc Hồng Sơn long trọng thuyết trình:
– Đến nay, tài liệu chúng ta có trong tay khẳng định một điều là bọn phản động trong nước và số lưu vong ở nước ngoài đã thiết lập sự liên lạc thường xuyên với nhau. Nhưng chúng liên lạc với nhau bằng con đường nào, với phương tiện gì thì ta chưa rõ. Đây là vấn đề sống chết của bất cứ tổ chức gián điệp nào. Về mặt lý luận, liên lạc là khâu trọng yếu nhất và cũng dễ bộc lộ nhất, có phải vậy không? Đánh vào đó là trúng yết hầu của địch.
Ný nuận ba hoa chích chòe nghe chơi dzậy thôi. Ở Thành Hồ, em nhỏ lên ba, cụ già chín bó đều biết nhân dân thành Hồ muốn niên nạc, niên mỡ với người nước ngoài chỉ cần tình thư con cá oong đưa toa lét mang ra bưu điện chi tiền cò gửi đi là xong. Nói theo ngôn từ cộng sản những cuộc niên nạc kiểu này đều là tự phát. Nhân dân Sàigòn trước năm 1975 có cuộc sống tương đối an ninh và sung túc nhất nước. Rất đông người Sàigòn mần lương tháng, kiếm được bao nhiêu sài hết bấy nhiêu, tháng sau lại có lương, chẳng mấy người tính chuyện để dành, để sọt. Bởi dzậy nên nón cối, dép râu, mông đít bự chỉ ngơ ngáo kéo vào Sàigòn có năm bữa, nửa tháng là một số đông cư dân Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi đã thấy cái đói lù lù đứng trước chân giường nát. Các anh con trai bà Cả Đọi ngẩn ngơ thấy những anh con trai bà Cả cũng như mình được trực thăng Mỹ bốc đi thoát, được đưa sang Mẽo quốc xứ thần tiên no đủ bơ sữa thịt bò vứt bỏ đầy đường, whisky tràn ống cống, đô la nhiều như lá Rừng Phong. Mấy ảnh lúc đầu chỉ gửi thư đi với mục đích đau thương và cao thượng là hy vọng mấy anh con trai bà Cả đẻ bọc điều sang được Mẽo quốc giầu đẹp thương tình bớt đớp, bớt xài chi cho vài chịch đô cứu đói. Những bức thư đầu tiên gửi ra nước ngoài – do đó – đều là những lá thư “Con cá nó sống vì nước. Dzợ chồng, bố con em sống nhờ quý ông, quý bà…”
Nhưng lẽ tự nhiên, tất nhiên, kiêm thiên nhiên, nhân nhiên là muốn gợi lòng thương hại của quý ông, quý bà để quý ông, quý bà đẻ bọc điều, tu mười kiếp, được Thủy Quân Lục Chiến Mẽo nó bốc lên trực thăng bay ra biển, chi về cho ít đô, những lá thư con cá bắt buộc phải kể khổ. Ngoài những nhớ thương biệt ly, nhớ nhung từ đây, chiếc lá trôi theo heo may… Người sang Mẽo có hay… rồi nỗi sầu tử biệt, sinh ly, kẻ ở người đi, lệ rơi thấâm đá, tơ chia rũ áo lụa Hà Đông, rách luôn cả áo lông Hà Nội, thư con cá phải kể về cuộc sống u tì, đen sì, đen sịt, đen hơn cái lá đa ca dao, đen hơn mõm chó mực của nhân dân Thành Hồ. Trong số đó, đời sống của các anh con trai bà Cả Đọi chiếm giải quán quân về mặt đen tối, rách nát và bi đát.
Từ kể khổ sang kể oán chẳng có mấy hồi. Kể khổ với kể oán liền nhau như hai mặt của lưỡi lame Gillette. Điều nguy hiểm là sống trong gông cùm cộng sản người dân có cả một triệu nguyên nhân để căm hận chế độ. Và bọn cộng sản ác ôn khi nắm được quyền ở nước nào cũng vậy, đều bắt nhân dân phải nhận chế độ của chúng là trong sạch, công bằng, nhân ái, đầy tình người một trăm một ngàn lần tốt đẹp hơn chế độ tư sản cũ. Chúng bắt nhân dân phải tỏ ra “phấn khởi, hồ hởi”, phải nói mình sung sướng, mình được giải phóng. Người dân nào than sầu khổ – chỉ cần than thở thôi, chưa nói đến chuyện tố cáo cộng sản ác độc, bóc lột, ăn cắp, nói dối – là đã bị coi là phản động, phải bắt cất đi để khỏi làm “nhiễm độc sầu buồn” lây lan người khác.
Về Nguồn là một tuyển tập gồm các bài Tiểu Luận, Hồi Ký, Điểm Sách, Tùy Bút, Cảm Nhận, Chính Luận Thơ và Ghi chú của Vũ Ký. Sách do Trung Tâm Văn Hóa Xã Hội Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Hòa Liên Bang Đức xuất bản, dầy gần 400 trang.
‘Cảm Nhận’ là một bài viết, một bài chú giải và bình của Huyền-Thanh-Lu Le Hòa về bài thơ Vô Đề bằng Hán văn của tác giả Vũ Ký.
Ngoài ra sách còn có hai bài của Nguyễn Thùy, trình bày những cảm nhận của ông khi đọc các cuốn Luận Cương Về Văn Hóa Việt Nam và “Nghệ Thuật Viết Văn Đọc Văn” cũng của tác giả Vũ Ký.
Được biết trước 75 ông Vũ Ký là giáo sư dạy tại các trường Quốc Học Huế, Petrus Ký Saigòn. Ông từng soan nhiều sách giáo khoa về Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Văn Học Việt Nam Toàn Thư, Việt Nam Văn Học
Lược Sử thời đại cận và hiện kim. Cuốn Nghệ Thuật Viết Văn và Đọc Văn của ông được tái bản nhiều lần chứng tỏ ngày càng được nhiều người đọc.
Các tác phẩm của ông được đánh giá cao về văn chương và sư phạm, nhắm mục đích biểu dương, bảo tồn và phát huy nền văn hóa truyền thống Việt Nam.
Ngoài văn chương, các bài viết của ông còn đề cập tới nhiều khía cạnh thẩm mỹ, nghệ thuật khác của đời sống kể cả những ưu tư về chính trị.
Bài Lời Tâm Sự Gửi Đến Các Bạn Trẻ Sau Này là những lời tâm huyết của ông gửi tới các thế hệ mai sau về một hoàn cảnh lịch sử khắt khe, đau đớn, chúng ta đang trải qua đây, phải giải thích như thế nào với các thế hệ kế tiếp
về cuộc lưu đầy này. Bài Tưởng Niệm Về Nhà Thơ Bùi Giáng của Vũ Ký là một bài viết cảm động vừa cho thấy rất rõ chân dung Bùi Giáng vừa cho người đọc thấy lại một cách cư xử của con người xã hội một thời với nhau.
Ở trang 156, Vũ Ký viết:
“Cách đây khá lâu, trong cuộc đời làm thầy giáo tỉnh lẻ, lúc tạm dứt cuộc đời làm sinh viên ở Hà Thành, tôi hân hạnh có được ba người đệ tử – có thể gọi là đệ tử được không nhỉ vì tôi không lập một môn phái nào để trở thành là sư phụ của họ – đúng hơn là ba người em lớn thân thương, lỗi lạc.
Đó là Bùi Giáng, Tạ Ký và Nguyễn Thùy.
Không lớn hơn họ bao nhiêu tuổi và cũng là đồng hương, họ học với tôi từ lớp nhỏ ở bậc trung học Pháp như Bùi Giáng, Nguyễn Thùy, từ hết cả bậc trung học ở trong bưng rồi về thành Huế rồi sau này là đồng nghiệp với mình như Tạ Ký.
Nhắc tới bộ ba Nguyễn Thùy, Bùi Giáng, Tạ Ký, ngày nay kẻ mất người còn, có người trong hiện tại vẫn gọi tôi là Thầy như Bùi Giáng và Nguyễn Thùy, có người để được thân mật hơn, đã bỏ lối xưng hô “Thầy-Con” từ bao giờ mà gọi bằng tiếng ‘anh-em’ ngọt xớt như Tạ Ký … Tôi thật vô cùng
bùi ngùi về bao nhiêu hoài niệm cũ ray rứt, được sống với họ trên mảnh đất quê hương đất nước suốt từ thời bình đến khi thời loạn. Nhớ về họ, tôi cũng không có chút hậu ý nào lấy cái thực danh và chân tài của cả ba làm cái hư danh phảng phất cho chính mình”.
Còn chúng ta biết gì về Bùi Giáng?
Bùi Giáng dạy học, làm thơ, vẽ tranh, dịch sách?
Bùi Giáng điên ư?
Có lẽ chúng ta nghe nói về Bùi Giáng nhiều hơn là biết về ông. Theo Vũ Ký, Bùi Giáng không đọc và cũng ít để ý về chính trị, kinh tế. Giáng sống với cái “tâm từ bi” và cái “dạ tin người”. Sau biến cố 75 có những thời gian ông sống lê la ở gầm cầu, xó chợ, đền chùa, nghĩa trang, không thèm ăn, chẳng thèm đọc sách, chẳng nói văn chương, thi phú, đi đây đi đó với cái gánh lỉnh kỉnh đồ vật dơ dáy lượm lặt dọc đường. Có khi chửi chế độ, đem cả Chúa, Phật, Khổng, Trang, Nguyễn Du và cả Hồ Chí Minh ra đùa giỡn, bảo là thầy, là bạn, là tiền thân, đương thời, hậu duệ, là sư huynh, sư đệ, là em, là học trò của mình … Cái khùng đó không rõ do cái “điên loạn” hay dụng ý nào, thật khó lòng nhận định. Trong Tư Tưởng Hiện Đại cũng như Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột không thiếu những từ tục tĩu, văng ra một cách bất ngờ, sắp vận để thành thơ … sở dĩ có hiện tượng ấy, vẫn theo Vũ Ký, là do những ẩn ức sinh lý từ lâu không được giải thoát và suy đến cùng, thái độ, tâm trạng, xử sự nửa say nửa tỉnh của Bùi Giáng, tất cả cái bất bình thường ấy nằm trong một sự bế tắc nan giải về tư duy và tư tưởng của Bùi Giáng. Giáng đọc rất nhiều Khổng, Phật, Lão và viết về Khổng, Phật, Lão rất siêu bằng những luận giải và tìm hiểu độc đáo của mình. Nhưng hầu như Bùi Giáng ngả hẳn về phía Phật và Trang Chu, cho đấy là nguồn sinh khí và tâm lực của Đông phương, chưa ai lĩnh hội đến cùng như Giáng.
Chương viết về Bùi Giáng cũng như chương viết về truyện Kiều của Vũ Ký cho thấy, ông đã đọc người khác bằng tấm lòng của mình, tấm lòng yêu cái đẹp, yêu đất nước, yêu nhân tài, và đem cả tấm lòng và tình yêu ấy viết thành tác phẩm để truyền đạt lại cho người đọc.
Những dòng cuối bài nói về Bùi Giáng, Vũ Ký viết:
“Đôi trang tâm thành, tim rưng rưng nhòa lệ, tôi viết vội với xúc động rộn ràng nơi tâm cảm, gọi là nén hương lòng của một người anh, một người thầy già, lữ khách ở phương xa, đã đi trong cuộc đời của người em thiên tài lỗi lạc từ quê hương đau khổ đến thị thành xa lạ, ngày nay không còn nữa”.
Nhân ngày giỗ thứ hai, để tưởng niệm nhà thơ họ Bùi, bây giờ đây chắc hương linh phất phơ thanh thoát bay lên cao vút trong cõi vô thủy vô chung nào đó mà nhà thơ luôn vọng tưởng:
Đoản Văn Xa Nước do nhà An Tiêm ấn hành. Kể cả phần phụ lục, sách dày khoảng 200 trang. Về tiểu sử, chúng ta được biết:
Vũ Khắc Khoan sinh năm 1917 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Đại Học. Trước 1954 ông là giáo sư tại các trường Trung Học Nguyễn Trãi và Chu Văn An [Hà Nội]. Vào Nam từ 54 tới 75 ông dạy tại các trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, Đà Lạt, Vạn Hạnh, Sư Phạm. Ông cũng là giáo sư trưởng ngành kịch tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn. Ông qua đời ngày 12 tháng 9 năm 1986 tại Minesota, Hoa Kỳ, nơi gia đình ông cư ngụ từ khi ra khỏi nước sau biến cố 1975.
Đoản Văn Xa Nước là tác phẩm cuối cùng của ông, được xuất bản sau khi ông mất. Vũ Khắc Khoan nổi tiếng như một kịch tác gia, nhưng văn và truyện cũng đóng một vai trò không nhỏ trong sự nghiệp của ông. Nhận định về Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo viết:
“Bằng kịch Vũ, chúng ta thấy qua cái bề ngoài đánh lừa, một con ngựa chiến đã già, đã mỏi, thực ra tác giả vẫn là người lữ hành đi trên con đường tìm kiếm những sự thật, mãi mãi muốn kiếm tìm những sự thật, nói một cách khác, một con người khởi sự là của suy tưởng muốn trở thành một con người của hành động. Thảm kịch tự thân của Vũ mở màn ở đây, giữa cái chia sẻ cái mâu thuẫn của suy tưởng đơn thuầnvà hành động cụ thể. Tôi mơ hồ muốn nhận thức cho tôi viết văn là một vinh dự. Bởi viết văn không chỉ có nghĩa là viết văn, còn dẫn đưa người tới những hành động khác!
Lời nói [đó] của Camus cũng được xem là ý niệm sáng tác, sống, và dự phóng nghệ thuật của Vũ.
Quả thực đọc Vũ Khắc Khoan người ta có cảm tưởng ông lựa chọn chữ như lựa chọn thái độ sống. Hình như đối với ông mỗi cử chỉ, mỗi hành động phải mang một ý nghĩa nào đó, phải phản ánh cái vẻ đẹp muôn hình, muôntrạng của đời sống. Và làm như thế là một cách vừa hưởng thụ vừa phân phát cái đẹp. Chữ của ông chập chờn một bóng chữ, giữa lựa chọn và không lựa chọn, hay nói cách khác, trong cái kỹ càng có cả cái tuyệt vọng của sức người và giới hạn của chính chữ nghĩa, có cả sự đánh liều, lỡ lời, đành phải dùng, hình như thế”.
Đúng như Mai Thảo đã viết, Vũ Khắc Khoan là “một con người trầm trọng, nghiêm trang, muốn văn nghệ là một có mặt trong đời mình mãi mãi. Một có mặt có thái độ, có cứu cánh, một có mặt trên một trận tuyến, dưới một bóng cờ”.
Và, để làm tất cả những điều ấy, với tư cách một nhà văn, ông chỉ có chữ. Chữ của ông tung hoành, và dường như, cùng một lúc, ông muốn nó vừa có nét đẹp cái phất tay áo đạo sĩ vừa có cái đẹp của một đường gươm trừ tà.
Đoản Văn Xa Nước là tác phẩm cuối cùng của Vũ Khắc Khoan, được viết trong những ngày ông lưu lạc ở xứ người, trong đó có thiên tùy bút Đọc Kinh ông cho là ưng ý nhất. Những trang khác ông đọc thơ bằng hữu, nhắc lại công việc đã làm với những người quen biết, uống rượu, giang hồ đây đó, bàn chuyện nghệ thuật, gặp người này, không gặp người kia.
Có thể tóm gọn là những chuyện đời thường của một người, nhưng nó đặc biệt vì người đó là Vũ Khắc Khoan. Nên mọi chuyện lại tưởng chừng như không có gì không liên quan tới nghệ thuật. Nói chi tới cách ông đọc thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Thanh Tâm Tuyền. Ông đã mở thêm những cánh cửa để những ai muốn đọc, có thể vào xa, vào sâu hơn, trong thế giới của các nhà thơ ấy. Nhưng muốn hiểu rõ Vũ Khắc Khoan hơn không gì bằng hãy đọc chính ông.
Sau đây là một đoạn trong thiên tùy bút Đọc Kinh được ông ưng ý nhất:
“Tuyết rơi từ vào khuya, mặt trời vừa mọc, tuyết đã ngập trắng vườn sau. Tôi đẩy thêm một khúc củi vào lò. Nhìn lửa bốc ngọn, nhớ lại mấy vần thơ cũ đã quên mất cả nguyên văn:
Chàng như mây mùa thu
Thiếp như khói trong lò
Cao thấp tuy có khác
Một thả cũng tuyệt mù Đọc lại bài thơ. Rất nhỏ, từng chữ, từng vần. Rất nhỏ, đủ để một mình mình nghe. Cho đến khi lời thơ tan rã, ý thơ nhạt nhòa, cho đến khi trong tôi, về một bài thơ, chỉ còn một chút bâng khuâng không tên thì tôi lặng thinh đi vào cái bâng khuâng đó.
Quanh một chữ. Tuyệt mù. Nghĩ đến một cánh chim thoáng trên mặt nước. Bóng chim nước không lưu giữ. Chim đâu để lại đường bay? Khói mây tan tác. Âm thanh, màu sắc cũng vậy. Cũng vậy, thiếp và chàng. Tất cả, một thả cũng tuyệt mù. Kể cả chữ và lời. Kinh và kệ”.
Nhà lao trung tâm Caen Vừa đến nơi, chúng tôi đã được đưa vào phòng giấy của ông giám đốc. Ông ta ngồi sau một cái bàn giấy đồ sộ đóng theo kiểu thời Đế chính, đặt trên một cái bệ cao đến một mét. – Nghiêm! Quan giám đốc sẽ nói chuyện với các người. – Các phạm nhân! Các người sẽ được tạm giam ở đây trong khi chờ đợi lên đường đến trại khổ sai. Nơi này là một nhà giam tuyệt đối nghiêm ngặt. Bất kỳ giờ nào cũng phải hoàn toàn im lặng; không có thăm viếng; không nhận thư từ. Một là khuất phục, hai là diệt vong. ở đây chỉ có hai cửa ra: một đưa đến nơi khổ sai, nếu hạnh kiểm các người tốt; một đưa ra nghĩa địa. Nếu có trường hợp hạnh kiểm chưa tốt, thì nhẹ nhất sẽ là sáu mươi ngày xà-lim ăn bánh mì không, uống nước lã. Xưa nay chưa ai sống qua hai lần phạt xà-lim như vậy. Hễ lơ mơ thì đừng có trách! Ông ta quay sang Pierrot le Fou, một tù nhân người Tây-ban-nha đã bị chính phủ nước này trao cho tòa án Pháp. – Nghề nghiệp của anh ngoài đời là gì? _Thưa ông giám đốc đấu bò. Nghe câu trả lời, ông giám đốc quát lớn: “Tống khứ tên này đi, theo tác phong quân sự!” Trong nháy mắt, người đấu bò đã bị bốn năm tên cảnh sát dùng dùi cui và quả đấm đánh túi bụi rồi lôi nhanh ra khỏi phòng. Tôi nghe tiếng anh ta gào: “Đồ khốn k.., đã năm thằng đánh một mà còn phải dùng dùi cui, lũ hèn hạ!” Một tiếng “ah!” của loài dã thú bị tử thương, rồi không nghe thấy gì nữa. Sau đó chỉ có tiếng lệt xệt của một vật gì nặng bị kéo lê trên sàn xi-măng. Sau cảnh này mà còn chưa hiểu thì sẽ không bao giờ hiểu được cái gì hết. Dega đứng cạnh tôi. Bác ta đưa một ngón tay một ngón thôi, chạm vào quần tôi. Tôi hiểu như thế có nghĩa là gì: Dega muốn khuyên tôi cố nhịn nhục để còn sống mà đến nơi tù đày. Mười phút sau, mỗi người trong chúng tôi (trừ Pierrot le Fou đã bị đưa xuống tầng hầm nhốt vào một căn xà-lim nhơ bẩn) đều có vị trí trong một căn xà-lim của khu trừng giới trong nhà lao trung tâm Caen. Vận may đã làm cho căn xà-lim của Dega đặt ngay cạnh căn của tôi. Trước đó người ta đã giới thiệu với chúng tôi một con quái vật tóc hung cao một mét chín mươi là ít, chột mắt, tay phải cầm một cây roi cặc bò mới toanh. Đó là tên trưởng tù, nghĩa là một tù nhân giữ chức năng trấn áp các tù nhân khác theo lệnh của bọn cai tù. Hắn là nỗi kinh hoàng của các phạm nhân. Nhờ hắn, bọn cai ngục có được cái lợi là có thể đánh đập người ta mà không phải động tay động chân, và mặt khác, nếu có ai chết thì ban quản trị nhà lao không phải chịu trách nhiệm. Về sau, nhờ mấy hôm ở bệnh xá, tôi đã được biết lý lịch của con thú có hình người này. Ta hãy lấy làm mừng cho ông giám đốc nhà lao trung tâm đã chọn được một đao phủ thủ đắc lực đến như vậy. Tên này trước kia vốn làm nghề đập đá. Một hôm, trong cái thị trấn miền bắc là nơi gia đình hắn sinh sống, hắn quyết định tự sát và đồng thời giết luôn cả vợ hắn. Hắn sử dụng vào mục đích ấy một thỏi mìn dynamit khá to. Hắn nằm xuống bên cạnh người vợ đang ngủ say (căn hộ của hai vợ chồng ở vào tầng thứ ba của một ngôi nhà bảy tầng). Hắn châm một điếu thuốc lá dùng để châm ngòi vào thỏi mìn mà hắn cầm trong tay trái, đặt vào giữa đầu hắn và đầu vợ hắn. Một tiếng nổ kinh hoàng. Kết quả: người ta phải dùng thìa múc từng mảnh vụn của vợ hắn. Tòa nhà sập hắn một bên, ba đứa trẻ bị vôi gạch đè nát, cùng với một bà già bảy mươi tuổi, những người khác ở trong tòa nhà đều bị thương, kẻ nặng người nhẹ. Riêng hắn, Tribouillard, mất một phần bàn tay trái, chỉ còn ngón tay út và nửa ngón tay cái, ngoài ra mắt trái và tai trái của hắn cũng không còn. Dầu hắn bị một vết thương nặng, bệnh viện đã phải khoan sọ mới cứu được. Từ khi bị xử, hắn được làm trưởng tù ở các xà lim trừng giới ở trung tâm Caen. Thằng người giở điên giở dại này có quyền tự ý xử sự với những con người khốn khổ chẳng may lọt vào địa phận của hắn. Một, hai, ba, bốn, năm, quay đằng sau… một, hai, ba, bốn, năm… cuộc di chuyển vô tận từ tường đến cửa xà lim lại bắt đầu.
Ban ngày tù nhân không được nằm. Đúng năm giờ sáng một tiếng còi lảnh lói đánh thức cả cái đám người tù tội ấy Họ phải vùng dậy, thu dọn chăn đệm, rửa mặt, sau đó, phải đi đi lại lại hoặc ngồi yên trên chiếc ghế đẩu gắn chặt vào góc phòng. Không được nằm trên giường. Điểm tinh vi nhất trong hệ thống trừng giới ở nhà tù là cái giường của tù nhân ban ngày được nâng lên áp vào tường cho đến tối. Như vậy tù nhân không nằm được và người ta có thể giám thị hắn kỹ hơn. Một, hai, ba, bốn, năm… mười bốn giờ đi đi lại lại. Muốn cho cái thao tác liên tục này có được tính chất hoàn toàn tự động hóa, phải tập cách cúi đầu, chắp hai tay sau lưng, đi sao cho vừa phải, đừng nhanh quá mà cũng đừng chậm quá, bước cho đều, bước nào cũng dài bằng nhau, đến cuối phòng thì quay lại một cách máy móc, đến cửa xà-lim thì quay chân trái, đến tường đối diện thì quay chân phải. Một, hai, ba, bốn, năm… Các xà-lim sáng sủa hơn ở nhà lao Conciergerie, và người ta nghe được những tiếng động ở bên ngoài, như những tiếng động ở khu trừng giới đưa sang, nhưng cũng có cả những tiếng động từ phía đồng ruộng vẳng tới. Ban đêm có thể nghe thấy tiếng huýt sáo hay tiếng hát của những người công nhân nông nghiệp đang trở về nhà sau một ngày lao động, hài lòng vì đã uống được mấy cốc rượu cidre ngon lành. Tôi cũng đã có được món quà Noel: qua một khe hở giữa những tấm ván bịt cửa sổ, tôi nhìn thấy cánh đồng tuyết phủ trắng xóa và mấy lùm cây đen viền bạc dưới ánh trăng. Trông như một tấm bưu ảnh thuộc các loại điển hình mà người ta vẫn gửi tặng nhau vào dịp Noel. Bị gió lay mạnh, những lùm cây ấy đã trút bỏ tấm áo khoác bằng tuyết, cho nên nhìn thấy rất rõ. Nó làm thành những vệt sẫm lớn nổi bật lên trên nền tuyết trắng. Đây là một lễ Noél cho mọi người, thậm chí cho cả một phần của nhà lao. Đối với các tù nhân khổ sai đang tạm giam ở đây, ban quản trị nhà lao đã có một cố gắng đáng kể: chúng tôi được quyền mua hai thỏi sô-cô-la.
Xin nói là hai thỏi chứ không phải là hai tấm đâu nhé. Hai thỏi sô-cô-la Aiguebelle chính là bữa tiệc réveillon của tôi năm 1931. Một, hai, ba, bốn, năm… sự trấn áp của Công lý đã biến tôi thành một thứ quả lắc đồng hồ, cái thao tác đi đi lại lại trong xà-lim là tất cả vũ trụ của tôi. Điều này đã được tính toán một cách chính xác. Trong phòng giam không được để lại một cái gì, tuyệt đối không có một chút gì để phạm nhân có thể dùng làm cách giải trí. Nếu có ai bắt gặp tôi nhìn qua khe hở trên cửa sổ, chắc chắn tôi sẽ phải chịu một sự trừng phạt nghiêm khắc. Thật ra họ làm như vậy là rất có lý vì đối với họ tôi chỉ là một người đã chết. Tôi có quyền gì mà tự cho phép mình hưởng cái thú được ngắm cảnh thiên nhiên? Cạnh cửa sổ có một con bướm đang bay lượn, cánh nó màu xanh nhạt, có một đường chỉ đen mảnh, và cách đấy không xa lại có một con ong đang bay vù vù. Hai con vật này đến đây để tìm cái gì vậy? Có thể nghĩ là chứng nó phát điên vì ánh nắng mùa đông này, nếu không phải là chúng nó lạnh quá muốn vào tù cho ấm. Mùa đông mà có bướm nhỉ! làm sao nó lại không chết, cái gì làm cho nó sống lại? Còn con ong kia nữa, tại sao nó rời tố đến chỗ này? Nó không biết rằng đến chỗ tù tội này là một việc liều lĩnh. May mà tên trưởng tù không có cánh, chứ không thì hai con này chằng còn sống được bao lâu. Cái tên Tribouillard là một kẻ xa-đích* đáng ghê tởm, (*một chứng bệnh tâm thần (Sadisme) trong đó bệnh nhân tìm thấy khoái lạc khi được chứng kiến hay được làm cho kẻ khác đau đớn cùng cực) và tôi có linh cảm là thế nào cũng xảy ra một chuyện gì giữa tôi với hắn. Tiếc thay, tôi đã không nhầm. Hai con vật đáng yêu kia đến thăm tôi bên cửa sổ được một hôm, thì hôm sau tôi báo cáo là bị ốm. Số là tôi không chịu được nữa, tôi ngột ngạt vì cảnh cô đơn, tôi cần được trông thấy một gương mặt, nghe thấy một tiếng nói, dù là một tiếng nói rất khó chịu cũng được, vì đó là vẫn là một tiếng nói, tôi cần nghe bất cứ một âm thanh nào. Trần truồng trong cái không khí lạnh buốt của hành lang, mặt quay vào tường, mũi chỉ cách tường bốn ngón tay, tôi là người áp chót của một dãy gồm tám tù nhân đang đợi đến lượt khám. Tôi đang muốn trông thấy người: thế thì tôi đã toại nguyện? Tên trưởng tù đã bắt gặp được tôi đang nói thì thầm với Julot, vốn có biệt hiệu là người cầm búa. Phản ứng cửa tên mọi tóc đỏ này thật là khủng khiếp. Hắn giáng một quả đấm thôi sơn từ phía sau đầu tôi, và vì bất ngờ, tôi bị giập mũi vào tường. Máu ộc ra, tôi gục xuống, rồi cố gượng dậy, lắc đầu thật mạnh cho tỉnh và cố định thần để hiểu cho được việc gì vừa mới xảy ra. Tôi phác một cử chỉ phản đối. Con đười ươi ấy chỉ đợi có thể: hắn giơ chân đá vào bụng tôi làm tôi lại ngã lăn ra đất, và dùng roi cặc bò quất túi bị vào người tôi. Julot không chịu nổi cảnh này. Anh ta chồm lên người hắn, một cuộc ẩu đả khủng khiếp nổ ra, và vì Julot ở vào thế yếu cho nên bọn canh tù thản nhiên đứng nhìn. Không ai chú ý đến tôi lúc bấy giờ vừa mới lồm cồm đứng dậy. Tôi nhìn quanh xem có cái gì dùng làm võ khí được không. Bỗng tôi nhìn thấy ông bác sĩ nghiêng người trên ghế bành để từ phòng khám dòm ra hành lang xem việc gì đang xảy ra ở đấy, và đồng thời tôi cũng nhìn thấy một cái vung lớn đậy trên một cái nồi sắt tráng men đầy nước sôi đang bập bồng nâng lên hạ xuống do sức đẩy của hơi nước. Cái nồi lớn này đang sôi sùng sục trên chiếc lò than dùng để sưởi phòng làm việc của bác sĩ. Tôi phản xạ rất nhanh: nắm lấy hai quai nồi cố chịu bỏng tay, tôi hắt hết chỗ nước sôi vào mặt tên trưởng tù đang mải đối phó với Julot. Từ họng hắn phát ra một tiếng gào khủng khiếp. Hắn đã lãnh đủ. Hắn lăn lộn dưới đất, và vì mình hắn mặc ba chiếc áo len dệt, hắn cởi áo rất khó khăn. Khi hắn cởi đến chiếc thứ ba thì da của hắn cũng ra theo. Cổ áo vốn chật, nên khi hắn cố kéo áo lên thì da ngực, một phần đa cổ và da mặt dính chặt vào áo dệt kim. Cả con mắt duy nhất còn lại của hắn cũng bị luộc chín: từ nay hắn sẽ mù. Cuối cùng hắn đứng dậy, nhầy nhụa, thịt chín từng mảng, trông thật gớm ghiếc, và Julot thừa cơ đã cho hắn một cú trời giáng vào đúng hạ bộ. Cả cái thân hình hộ pháp của hắn đổ xuống, hắn bắt đầu nôn ọe, rải rớt chảy ròng ròng. Đáng đời cho hắn. Còn chúng tôi thì cứ đợi đấy, chẳng mất gì. Hai tên giám thị đã chứng kiến cảnh này không đủ can đảm để tấn công chúng tôi. Chúng bấm còi báo động để xin viện trợ. Viện binh của chúng từ khắp nơi ùa tới, và những phát dùi cui giáng tới tấp lên chúng tôi như một trận mưa đá. Tôi được cái may mắn là ngất đi rất nhanh cho nên cũng đỡ đau. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đã được đưa xuống tầng dưới, mình trần như nhộng, nằm trong một căn xà-lim ngập nước. Các giác quan của tôi từ từ hoạt động trở lại. Tôi đưa tay sờ khắp cái thân hình đau đớn của tôi. Trên đầu tôi có ít nhất mười hai đến mười lăm chỗ sưng vù. Bây giờ là mấy giờ? Tôi không biết. ở đây không có đêm mà cũng không có ngày. Không hề có ánh sáng. Tôi nghe có tiếng ai gõ gõ vào tường, những tiếng gõ hình như từ xa lắm. Cộc, cộc cộc cộc, cộc, cộc Những tiếng gõ này là những tiếng gọi “điện thoại”. Nếu tôi muốn nhận thông điệp thì bản thân tôi phải gõ vào tường hai tiếng để trả lời ừ thì gõ, nhưng gõ bằng cái gì? Trong bóng tối tôi không trông thấy một vật gì có thể dùng để gõ cả. Gõ bằng tay thì không được, vì tiếng không truyền đi xa. Tôi lần về phía mà tôi đoán là phía cửa, vì ở đấy đỡ tối hơn một chút. Tôi vấp phải hàng chấn song mà tôi không hề trông thấy. Sờ soạng một lúc, tôi nhận thấy rằng trong phòng giam có một cánh cửa cách tôi hơn một mét. Tôi không thể động đến cánh cửa này vì đã có hàng chấn song chặn tôi lại. Như vậy khi có ai vào căn xà-lim giam loại tù nguy hiểm, tù nhân không thể với tới người đó được vì hắn bị nhốt trong một cái chuồng. Người ta có thể nói với hắn, đổ nước vào hắn, ném thức ăn cho hắn và lăng mạ hắn một cách an toàn tuyệt đối. Nhưng cũng được một cái là người ta không thể đánh đập tù nhân một cách không có gì nguy hiểm cho bản thân, vì muốn đánh hắn thì phải mở chuồng ra. Những tiếng gõ chốc chốc lại được nhắc lại. Ai gọi tôi thế nhỉ? Dù là ai thì hắn cũng xứng đáng được tôi trả lời, vì nếu hắn bị bắt gặp thì khốn to cho hắn. Trong khi mò mẫm đi trong bóng tối, tôi suýt ngã vỡ mặt. Chân tôi vừa giẫm phải một vật gì cứng và tròn. Tôi sờ thì thấy đó là một cái muôi bằng gỗ. Tôi lập tức cầm nó lên và chuẩn bị trả lời “điện thoại”. Tai áp vào tường, tôi chờ đợi. Cộc, cộc, cộc, cộc, cộc – stop, cộc cộc – Tôi trả lời: cạch, cạch. Hai tiếng này báo cho người gọi điện biết là bên kia sẵn sàng nhận điện, cứ đánh đi. Những tiếng gõ của người kia bắt đầu: Cộc, cộc cộc những chữ cái lần lượt diễu qua rất nhanh… a, b, c, d, e, f, g, li, i, j, k, l, m, n, o, p, stop. Người kia dừng lại ở chữ p. Tôi gõ một tiếng lớn: “cạch”, như thế là người kia biết rằng tôi đã ghi nhận chữ p: Sau đó là một chữ a, một chữ p, một chữ i, và cứ thế. Người kia nói với tôi: “Papi thế nào rồi? Cậu bị khá nặng còn tớ gãy một tay”: Đó là Julot. Chúng tôi “gọi điện thoại” cho nhau như thế trong hơn hai tiếng đồng hồ mà không hề bận tâm lo bị bắt gặp: Chúng tôi say sưa trao đổi những từ ngữ, những câu cú đến mức như đã hóa dại. Tôi nói cho Julot biết rằng tôi không có chỗ nào bị gãy, không có vết thương, tuy đầu tôi đầy u. Julot đã trông thấy người ta cầm chân tôi kéo xuống thang gác, anh ta nói rằng cứ mỗi lần bậc thang thì đầu tôi lại nện xuống đánh cộc một cái. Còn anh ta thì không lúc nào bị ngất cả. Anh ta cho rằng tên Tribouillard bị bỏng rất nặng, và do mấy chiếc áo len, những vết thương của hắn rất sâu hắn đã lãnh dủ chỉ vì một lúc ra oai. Ba tiếng gõ rất nhanh, và được lặp lại mấy lần, cho tôi biết rằng có động. Tôi ngừng gõ. Quả nhiên, một lát sau cánh cửa xà-lim mở ra. Có tiếng quát: – Lùi vào, thằng khốn kiếp! Lùi vào sát trong kia và đứng nghiêm! – Đây là tên trưởng tù mới. – Tao tên là Batton, tên thật của tao đấy. Một cái tên rất hợp với chức vụ của tao* (*Batton gần đồng âm với báton, có nghĩa là “cái gậy”). Hắn cầm một cái đèn lồng lớn của hải quân soi căn phòng giam, chiếu vào cái thân thể trần truồng của tôi. – Đây cầm lấy mà mặc. Đứng yên đấy. Đây là nước và bánh mì. Chớ ăn hết ngay một lúc, vì hai mươi bốn tiếng nữa mới lại phát thức ăn* (*Bốn trăm năm mươi gam bánh mì và nửa lít nước -chú thích của tác giả). Hắn quát tháo một cách man rợ, rồi đưa cái đèn lên ngang mặt. Tôi thấy rõ hắn đang cười, một nụ cười không có gì ác độc. Hắn đặt một ngón tay lên môi rồi chỉ cho thấy những thứ hắn mang đến. Chắc hẳn ngoài hành lang có một tên cảnh sát, và hắn muốn làm cho tôi hiểu rằng hắn không phải là một kẻ thù. Quả nhiên trong ổ bánh mì tôi thấy có một miếng thịt luộc rất to, và trong túi quần, quý hóa thay, một bao thuốc lá và một cái bật lửa kèm thêm một dúm bùi nhùi. Ở đây, những món quà này quý như cả triệu bạc. Hai chiếc áo sơ-mi chứ không phải một, và một ái quần len, gọi là quần đùi nhưng dài đến mắt cá. Tôi sẽ nhớ hắn mãi, cái thằng Batton. Tất cả những thứ đó có nghĩa là hắn đã thưởng tôi vì đã diệt trừ được thằng Tribouillard. Trước khi xảy ra vụ này, Batton chỉ là phó trưởng tù, bây giờ nhờ tôi hắn đã chính thức lên chức trưởng. Nói chung, tôi đã làm cho hắn được thăng chức, và hắn đã tỏ lòng biết ơn tôi bằng những món quà ấy. Vì phải có được tính kiên nhẫn của người Sioux* (*Tên một bộ tộc thổ dân Anh-điêng (“Da đỏ”) ở Bắc và Trung Mỹ, nổi tiếng là mưu trí) mới xác định được những tiếng gõ “điện thoại” từ đâu đến và chỉ có người trưởng tù có thể làm được việc đó (bọn gác vốn lười, không đứa nào buồn bỏ công theo dõi) tôi và Julot cứ tha hồi nói chuyện với nhau, hoàn toàn yên tâm về phía Batton. Chúng tôi đánh điện cho nhau suốt ngày. Nhờ Julot, tôi được biết rằng ngày xuất phát không còn lâu nữa: chỉ ba bốn tháng là lên đường. Hai ngày sau người ta đưa chúng tôi ra khỏi xà-lim, và chúng tôi được dẫn đến phòng giấy của ông giám đốc, mỗi người có hai tên cảnh sát kèm hai bên. Đối diện với cửa vào có ba người ngồi sau một cái bàn lớn. Dó là một thứ tòa án. Ông giám đốc làm chánh án, ông phó giám đốc và ông tổng giám thị làm quan tòa. – À, à? Hai anh bạn trẻ, đã đến đấy à? Hai anh có thể nói gì đây? Julot mặt tái nhợt, hai mắt sưng húp: chắc chắn là anh ta đang sốt. Với cánh tay bị gãy từ ba hôm nay, chắc anh ta phải đau khủng khiếp. Julot trả lời khe khẽ: “tôi bị gẫy tay”. – Thì chính vì anh muốn người ta làm gãy tay anh chứ còn ai. Có thế anh mới chừa cái thói xông vào đánh người ta. Bao giờ bác sĩ đến đây, anh sẽ được khám. Tôi hy vọng rằng chỉ một tuần nữa thôi bác sĩ sẽ đến. Thời gian chờ đợi này sẽ có tác dụng tốt đối với anh vì có lẽ cái đau sẽ dạy khôn cho anh. Tôi thiết tưởng anh cũng chẳng hy vọng rằng tôi gọi bác sĩ đến đây để chữa riêng cho một thứ người như anh? Vậy anh hãy đợi bác sĩ ở nhà lao trung tâm có đủ thì giờ đến chữa cho anh. Tuy vậy tôi vẫn xử hai anh phải ở lại xà-lim cho đến khi có lệnh mới. Julot nhìn thẳng vào mắt tôi, như muốn nói: “Cái ông lớn ăn mặc chỉnh tề kia có một thái độ thật là dễ dãi đối với sinh mạng của một con người”. Tôi lại quay đầu về phía ông giám đốc và nhìn vào mặt ông. Ông ta tưởng tôi muốn nói gì. Ông nói: “Còn anh, quyết định này không làm cho anh hài lòng ư? Anh có ý kiến gì?” Tôi đáp: “Tuyệt nhiên không có ý kiến gì, thưa ông giám đốc. Tôi chỉ cảm thấy có nhu cầu nhổ vào mặt ông, nhưng tôi không nhổ vì sợ bẩn mất nước miếng của tôi”. Ông ta kinh ngạc đến nỗi đỏ bừng cả mặt và thoạt tiên hình như không hiểu. Nhưng ông tổng giám thị thì lại hiểu ngay. Ông ta quát bảo bọn giám thị: – Lôi nó ra ngay và chăm sóc nó cho kỹ! Phải làm sao một tiếng nữa hắn phải bò lê bò càng đến xin lỗi. Sẽ có cách làm cho nó biết tay! Ta sẽ bắt nó liếm giày của ta cho sạch, hết liếm trên lại liếm dưới. Các anh không được ghê tay, tôi giao nó cho các anh đấy. Hai tên gác vặn trẹo tay phải tôi, hai tên khác vặn cánh tay trái. Tôi bị dí sấp xuống đất, hai bàn tay kéo giật lên ngang xương bả vai. Họ còng tay tôi lại bằng một bộ khóa có kìm gắn chặt ngón tay trỏ bên trái với ngón tay cái bên phải, và viên tổng giám thị túm tóc tôi nhấc bổng lên như người ta nhấc một con vật. Không cần phải kể lại cho các bạn nghe tất cả những gì họ đã làm để hành hạ tôi. Chỉ cần biết rằng tôi bị khóa tay sau lưng suốt mười một ngày. Tôi còn sống được là nhờ Batton. Cứ mỗi ngày hắn lại ném vào buồng giam của tôi ổ bánh mì thường lệ, nhưng vì không sử dụng được đôi tay, tôi không ăn được ổ bánh mì đó Tôi thử dùng đầu ép ổ bánh mì vào chấn song sắt để ngoạm, nhưng không được. Thấy vậy, Batton ném thêm cho tôi những mẩu bánh mì nhỏ vừa bỏ vào miệng, đủ để cho tôi khỏi chết đói. Tôi dùng chân gom những mẩu bánh mì ấy lại thành từng mớ nhỏ, rồi nằm sấp xuống ăn như con chó. Mỗi miếng bánh mì tôi đều nhai thật kỹ, để đừng bỏ phí mất chút nào. Đến ngày thứ mười hai, khi họ mở khóa cho tôi, chất thép đã ăn sâu vào thịt tôi, và cái khóa số tám có nhiều chỗ dính đầy thịt thối. Viên cai ngục phát hoảng khi thấy tôi ngất đi vì quá đau. Sau khi đổ nước cho tôi tỉnh lại, người ta dẫn tôi đến bệnh xá. Mấy người y tá dùng nước ô-xy rửa chỗ thối cho tôi. Một người y tá nhất định đòi tiêm cho tôi một liều huyết thanh chống uốn ván. Hai cánh tay tôi bị tê dại không sao trở lại được tư thế bình thường. Họ phải dùng dầu long não xoa bóp hơn nửa tiếng đồng hồ tôi mới hạ được hai cánh tay xuống song song với nhân hình. Tôi lại trở về xà-lim, và viên tổng giám thị khi thấy mười một ổ bánh mì còn nguyên liền nói với tôi: “Thế là mày có được một bữa tiệc ra trò? Kể cũng lạ, mày nhịn đói mười một ngày mà trông cũng không đến nỗi gầy lắm…” – Thưa sếp tôi uống nhiều nước lắm ạ. – À! Đúng thật, tao hiểu rồi. Bây giờ phải ăn thật nhiều cho lại sức. Nói đoạn hắn bỏ đi. Rõ nguy. Hắn nói như vậy vì yên trí rằng tôi không ăn gì suốt mười một ngày, và nếu bây giờ tôi ăn nhiều thì sẽ chết ngay vì bội thực. Hắn sẽ được một mẻ tẽn tò. Đến chiều tối Batton ngầm chuyển cho tôi một ít thuốc lá rồi kèm theo lá cuốn thuốc. Tôi hút lấy hút để, phun khói vào cái lỗ khoét trên ống truyền hơi nóng (đây là hệ thống sưởi của nhà tù – dĩ nhiên cái hệ thống này chẳng mấy khi hoạt động). Ít nhất bây giờ nó cũng có được một công dụng. Sau đó tôi “đánh điện” gọi Julot. Cậu ta tưởng tôi nhịn đói mười một ngày vừa qua cho nên vội khuyên tôi phải ăn từ từ. Tôi không dám nói sự thật cho cậu ấy biết, sợ rằng một tên khốn kiếp nào đó rình đọc “bức điện”. Cánh tay Julot đã được bó bột, tinh thần anh ta khá vững, anh ta chúc mừng tôi vì đã chịu đựng được cơn thử thách vừa qua. Theo Julot thì chuyến tàu đã sắp khởi hành. Người y tá có nói với anh ta rằng nhà lao đã nhận được những ống thuốc tiêm chủng dành cho tù khổ sai trước khi lên đường. Thường thường những ống thuốc này được gửi đến nhà lao trước ngày khởi hành một tháng. Julot là một anh chàng thiếu thận trọng, vì anh ta dám hỏi xem tôi có giữ được plan không. Có tôi vẫn giữ được, nhưng tôi đã phải làm gì để giữ được món tài sản ấy thì tôi không thể nói ra được. Hậu môn của tôi bị những vết thương rất đau đớn. Ba tuần sau người ta lùa chúng tôi ra khỏi xà-lim. Có chuyện gì thế này? Hóa ra họ cho chúng tôi một bửa tắm nước nóng tuyệt vời có cả xà-bông. Tôi cảm thấy như mình sống lại. Julot cười sằng sặc như thằng con nít; Pierrot le Fou thì mặt mày rạng rỡ niềm vui sống. Vì vừa ở xà-lim ra, chúng tôi không biết chút gì về những việc đang diễn ra. Tôi thì thầm hỏi anh thợ cắt tóc: “Có chuyện gì thế?” Nhưng anh ta không chịu trả lời.
Một người tù không quen biết có bộ mặt rất khó ưa nói với tôi: “Chắc bọn ta được miễn chế độ xà-lim. Có lẽ chúng nó sợ một ông thanh tra nào đó sắp ghé qua. Điều cốt yếu là phải sống”. Mỗi đứa chúng tôi được đưa vào một căn buồng giam thường. Đến trưa, trong bát xúp nóng đầu tiên tôi được ăn kể từ bốn mươi ba ngày nay, tôi nhặt được một mảnh gỗ nhỏ. Trên mảnh gỗ có viết: “Tám ngày nữa xuất phát Mai tiêm chủng”. Ai đã gửi cho tôi bức thông điệp này? Mãi cho đến nay tôi vẫn không được biết. Chắc chắn đó là một người tù cấm cố đã có nhã ý báo cho chúng tôi. Người ấy biết rằng chỉ cần một đứa trong bọn chúng tôi biết là ai nấy đều sẽ biết cả. Sở dĩ bức thông điệp đến tay tôi chứ không phải ai khác, chắc chắn là do sự tình cờ. Lập tức tôi gọi điện cho Julot, dặn anh ta truyền đi cho người khác biết. Suốt đêm hôm ấy tôi nghe thấy tiếng gõ “điện thoại” lộc cộc. Còn tôi thì khi đã chuyển bức thông điệp xong, tôi im lặng. Tôi thấy quá dễ chịu trên cái giường ấm áp của tôi. Tôi không muốn rắc rối, và nhất là không muốn trở lại xà lim. Và bây giờ càng hơn bao giờ hết.
Hiện thời, hàng năm, cứ tới ngày 15 tháng 4 thì chính quyền Cộng-Sản của Thành Phố Pleiku lại tổ chức lễ hội kỷ niệm Chiến Thắng Cứ Điểm 711 tháng 4 năm 1974. Tuy vậy, đa phần dân chúng Pleiku đã không biết rõ vì sao lại có lễ hội này. Trong hồi ký “Cao Nguyên sau ngày đình chiến” của Vương Mộng Long có một chương đặc biệt tường thuật thật chi tiết diễn tiến của trận ác chiến đã xảy ra trên Cứ Điểm 711 năm xưa. Hy vọng hồi ký này sẽ giải đáp phần nào những thắc mắc của dân chúng Pleiku và giúp các bạn trẻ Việt-Nam đang lưu tâm tới công việc sưu tầm chiến sử có thêm tài liệu để tham khảo.
Thấy cơ hành của khẩu súng đã bình thường, tôi mới yên tâm kéo đạn lên nòng. Chợt Phước ra dấu cho tôi im lặng cùng lúc hướng phòng thủ của Thiết Giáp có tiếng chân người và tiếng nói chuyện:
“Mình vào kiểm tra khu chỉ huy sở của tụi nó xem có gì lạ không? Chắc anh em K7 đang ở đó.”
(Ghi chú: K7 là Tiểu Ðoàn 7 của Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản)
Tôi ra dấu cho Thiếu úy Phước sẵn sàng. Hai cán binh vừa ló dạng sau bụi tre gai; tên đi trước có vẻ là cấp chỉ huy với khẩu súng ngắn K54 bên hông; tên đi sau có lẽ là người hộ vệ mang súng AK 47. Tôi và Phước bóp cò.
“Ðoàng! Ðoàng!”
Thầy trò hai tên địch ngã gục bên nhau, không la lên được tiếng nào. Tôi không ngờ là trong trận này chú Phước cũng chứng tỏ là một xạ thủ súng lục có bản lãnh. Viên đạn của Phước đã trúng ngay giữa ngực tên cán binh hộ vệ đeo AK47.
Bất chợt Phước nắm áo tôi lo ngại,
– Thái Sơn ơi! Em hết đạn rồi!
Tôi giật mình nhớ ra, băng đạn trong súng của tôi cũng còn chừng hai hay ba viên thôi. Tôi lần dây lưng lấy băng đạn mới lắp vào súng.Thấy Phước vẫn ngồi im, tôi hỏi,
– Sao không thay băng đạn mới?
Phước lắc đầu,
– Em có 6 băng đạn, bắn hết 5, băng đạn cuối cùng đang nằm trong súng!
Thấy tôi ngẩn người ngạc nhiên, Phước giải thích:
– Trong thời gian đánh nhau, em núp dưới giao thông hào, thấy tụi nó xung phong chạy ngời ngời, em đã bắn hết băng đạn này tới băng đạn khác mà chẳng trúng thằng nào. Không phải lỗi em bắn dở đâu, mà là lỗi của tụi nó! Tụi nó chạy nhanh quá làm cho em bắn trật!
Thấy thằng em mặt mày nhăn nhó, miệng thì càu nhàu, trách cứ tụi Việt-Cộng chạy nhanh quá, làm cho chú ấy tốn hết 30 viên đạn Colt 45 mà chẳng hạ được tên nào, tôi an ủi,
– Thôi! Ðừng buồn! Nhờ có băng đạn cuối cùng của chú mà anh còn sống đây! Thử hỏi trên đời này có xạ thủ nào giỏi như Thiếu úy Trần Văn Phước 82 Biệt Ðộng Quân không? Có ai làm nên kỳ tích, chỉ với 5 phát Colt 45 mà hạ gục 4 thằng giặc? Trong đó có thằng lãnh tới 2 viên?
Tôi đưa cho Phước một băng đạn mới rồi ngồi thủ thế. Bỗng tôi nhìn thấy trước mặt tôi là ba cái thây ma Việt-Cộng đang nằm đè trên những khẩu AK47 đẫm máu, tôi bèn chỉ tay cho Phước,
– Súng đây!
Mắt Phước sáng lên,
– Cám ơn Trời Ðất!
AK47 mà vào tay viễn thám thì không còn gì lợi hại hơn; Phước vơ vội cái dây đạn AK quàng qua vai rồi ghìm súng chăm chú nhắm về hướng Nam. Không còn tiếng nổ của thủ pháo, đợt tấn kích thứ nhì đã đi qua, đợt thứ ba chưa bắt đầu. Cứ theo lời nói chuyện của hai tên Việt-Cộng vừa rồi thì Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn 64 Cộng Sản đã tràn ngập nửa phần hướng Bắc Plei Ngol Ho trong lúc tôi đang lo chống đỡ khu vực Tây Nam của căn cứ này. Chắc chắn mấy tên Việt-Cộng tranh nhau đuổi bắt con heo xổng chuồng và ba thằng cán binh ôm vật tôi phải là người của K7. Nhưng hiện thời không biết đơn vị này rút đi đâu mà trên sân chẳng còn tên địch nào cả?
Tôi nghĩ thầm, nếu K7 đánh vào khu Bắc Plei Ngol Ho thì chắc chắn K8 hoặc K9 của E64 là lực lượng đã tấn công Nam Plei Ngol Ho. Lợi dụng lúc súng địch tạm ngưng, tôi ra sức kéo cẳng cái thây ma trước mặt sang một bên để lấy khẩu AK47 và dây đạn thứ hai. Ngồi đâu lưng với Thiếu úy Phước, tôi ghìm súng hướng về Tây Bắc, khu lều vải của Thiết Giáp dỏng tai nghe ngóng động tĩnh. Bỗng tôi thấy một người từ hầm truyền tin vừa ló đầu ra, đó là Trung úy Nguyễn Công Minh, Sĩ quan Truyền Tin của tiểu đoàn. Tôi gọi,
– Minh! Minh!
Nhận ra người vừa kêu tên mình là ai, Minh cuống quýt,
Từ cửa, một người đầu trần, không nón mũ, trên lưng anh ta là một cái PRC 25 ăng ten lá lúa, người này là Hạ sĩ Thạnh. Thạnh phóng khỏi miệng hầm,
– Em đây!
Vừa lúc đó súng đồng loạt nổ giòn hướng chân đồi, rồi thì “Xung phong! Xung phong!’ – “Ðùng! Ðùng! Ðoàng! Ðoàng! Ùm! Ùm! Oành! Oành!” đâu đâu cũng có tiếng nổ, đâu đâu cũng có khói đen bốc lên, đợt tấn kích thứ ba bắt đầu. Ðạn B40 không ngừng “Xè! Xè!” theo nhau bay, rồi nổ “Oành!Oành!” trên nóc cái lô cốt chứa đạn cối 4.2. Hai khẩu AK 47 trên tay tôi và Thiếu úy Phước cứ liên tục “Cành! Cành!” nhả đạn. Trời còn đang mưa, chúng tôi thấy địch, nhưng địch thì không thấy chúng tôi. Tất cả những tên địch bén mảng tới gần vị trí khẩu súng cối 4.2 đều bị bắn bể gáo…
Tôi chụp cái máy truyền tin của chú Thạnh, vào tần số Không Lục, nói một hơi,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn! Tôi bị overrun rồi! Yêu cầu đánh ngay trên đầu!
Gọi Bắc Ðẩu xong, để tiết kiệm đạn, khẩu AK47 của tôi tạm ngừng. Khẩu AK47 trên tay Thiếu úy Phước cũng bắn chậm lại thành từng đợt ba viên. Áo quần của Phước giờ này đầy máu đỏ, không biết Phước đã bị thương hay máu từ cái dây đeo những băng đạn AK ướt đẫm máu địch mà chú ấy mang trên vai? Tôi thấy cứ tình trạng này mà kéo dài, không chóng thì chầy chúng tôi sẽ bị chúng phát giác, sẽ hết đạn, sẽ bị bao vây và tiêu diệt. Chờ một lúc không nghe tiếng Bắc Ðẩu trả lời, tôi đứng lên đảo mắt một vòng để quan sát trận địa thì thấy hướng đỉnh đồi chính Ðông không có bóng dáng tên Việt-Cộng nào.
Nhưng vừa nhổm người bước lên, Trung úy Minh bỗng trở gót chui vào hầm truyền tin. Tôi ngạc nhiên quát lớn,
– Minh! Làm gì vậy?
Không nghe Minh trả lời, tôi nóng ruột nhảy tới cửa hầm hét lên,
– Ra mau!
Tôi la vừa dứt câu thì Minh đã ló đầu ra,
– Xong rồi! Em vào mở lựu đạn lân tinh để phá máy truyền tin.
Bốn người cắm đầu chạy lên đỉnh đồi.
Trung úy Minh và cái máy PRC25 đi trước, khẩu AK47 của tôi chĩa về phải, khẩu AK47 của Thiếu úy Phước chĩa về trái; tôi và Phước bóp cò liên tục, “Cành! Cành! Cành!”
Chạy ngang qua hầm thuyết trình tôi nghe tiếng ai đó gọi,
– Thái Sơn ơi! Thái Sơn ơi!
Tôi ngoái cổ nhìn, thì thấy một thương binh đang ôm cây M16 thất thểu phóng về hướng tôi, tôi nhận ngay ra đó là thằng em người Nùng tên là Nông Văn Út. Từ trưa hôm qua tới hôm nay hai anh thương binh là Trung sĩ Nông Văn Út và Chuẩn úy Trần Quảng lo nhiệm vụ canh gác hai cái cửa phòng thuyết trình chứa đầy thương binh.
Tôi hỏi:
– Út đó hả? thằng Quảng đâu?
Út lắc đầu,
– Dạ em không biết!
Tôi la lên,
– Chạy lên đỉnh đồi!
Sau đó, tôi vượt lên trước dẫn đầu, phóng về phía rừng lau, rừng lau này cao quá đầu người. Tôi gióng địa bàn, lấy hướng 2100 ly giác. Theo hướng này, dự trù hai cây số sau thì tới con đường xe be dẫn về Nam. Từ đây tôi có thể chạy một mạch về Plei Le Tam Pôte rồi vào Pleime, trong Pleime tôi còn Ðại Ðội 4 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy.
Tôi sắp chui vào rừng thì anh hiệu thính viên níu áo tôi,
– Bắc Ðẩu muốn gặp Thái Sơn!
Tôi ngừng lại cầm máy,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!
– Yêu cầu Thái Sơn xác nhận lại lần cuối cùng là chính ông xin đánh bom ngay trên mục tiêu có phải không?
Nhìn thấy chú thương binh Nông Văn Út đang đi sát bên, tôi chợt nhớ ra, hiện thời còn cả chục thương binh nằm trong hầm thuyết trình, nên tôi hét lên,
– Check air! Check air! Tôi hủy bỏ yêu cầu trên. Mục tiêu giờ này là con suối nằm về hướng Tây của hai khẩu pháo.
– Okay! Tôi sẽ thỏa mãn yêu cầu này của Thái Sơn.
Sau đó có tiếng rocket chỉ điểm, tiếng oanh tạc cơ gầm rú, rồi tiếng bom nổ…
Tới đỉnh đồi, anh lính mang máy truyền tin lại níu tay tôi,
– Có Trường An gọi Thái Sơn!
Tôi áp tai vào ống nghe. Cùng tiếng rè rè của máy là tiếng người gọi tôi,
– Thái Sơn đây Trường An!
Nhận ra trong máy đúng là giọng nói của Ðại Tá Phạm Duy Tất, tôi mới dám trả lời,
– Trường An đây Thái Sơn nghe!
Tôi thấy ông Tất mừng rỡ la,
– Thái Sơn đó hả? Tình trạng ra sao? Giờ này cậu đang ở đâu vậy?
– Banh hết rồi! Tụi nó đánh bằng hơi độc hóa học. Tôi bị tụi nó túm! Mới vừa thoát ra xa chỗ đó được chừng hai trăm thước. Tôi đang trên đường chạy về Pleime!
– Tui mới gọi được thằng Xá cua sắt và thằng Chủ, tụi nó chạy được nửa đường đi Mỹ Thạch. Tui ra lệnh cho tụi nó ngừng ở đó chờ tin tức của Thái Sơn. Ủa! vì sao tụi nó chạy một đường, Thái Sơn đi một ngả vậy?
– Tôi bận chỉ huy khu pháo binh hướng Nam, mặt Bắc giao cho thằng Chủ và thằng Xá. Tới khi bị tấn công bằng hơi độc, tôi rút về bộ chỉ huy thì mới hay thằng Chủ và thằng Xá đã dẫn lính chạy từ lâu rồi!
– Ðể tui gọi thằng Xá đem xe vào cứu Thái Sơn. Nó mà không quay lại, tui lột lon nó!
Kế đó tôi và Ðại tá Tất đều vào tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 để gọi Trung úy Chủ và Ðại úy Xá. Không có tiếng trả lời.
Tiếp đó tôi thấy Trường An tắt máy. Có lẽ ông đại tá sang tần số nội bộ của Chi Ðoàn 3/19; tôi không có tần số này. Kỳ hành quân này, Tiểu Ðoàn 205 Ðịa Phương Quân và Chi Ðoàn 3/19 nằm dưới quyền chỉ huy của tôi, do đó hai đơn vị này phải liên lạc với tôi trên tần số nội bộ của Tiểu Ðoàn 82. Nhưng từ sáng tới giờ, tôi bận quá nên không liên lạc với họ lần nào. Tôi không biết tình trạng hiện thời của họ ra làm sao. Hai phút sau Ðại tá Tất gọi lại, cho tôi biết rằng 18 chiếc chiến xa của Chi Ðoàn 3/19 đã bị mất 12 chiếc, chỉ còn lại 6 chiếc.
Tọa độ của 6 chiếc M113 hiện giờ cách tôi chừng 2 cây số. Ông Tất đã ra lệnh cho Ðại úy Xá bằng mọi giá phải trở lại trận địa để cứu tôi. Ðể tìm về với quân bạn, thày trò tôi phải theo chân nhau đổ xuống cái dốc hướng Tây Bắc. Mấy phút sau thì chiếc chiến xa chỉ huy của Ðại úy Nguyễn Xá ào tới, rồi trở đầu thật nhanh. Ông Chi đoàn trưởng nhảy xuống đất, ôm tôi, rồi ra sức đẩy tôi vào cửa hậu. Trong xe đã có mấy ông Biệt Ðộng Quân ngồi sẵn, trong số này có ông Chuẩn úy Nguyễn Tiến Dũng, Sĩ Quan Trợ Y của tiểu đoàn.
Thấy Chuẩn úy Dũng, tôi vội hỏi thăm,
– Ông thầy thuốc còn sống đó hả? Quân y có còn đủ không?
Dũng cười,
– Dạ! Quân y còn đủ và đang ở với Trung úy Chủ. Trường An ra lệnh cho em quay lại cứu Thái Sơn, Thái Sơn có bị thương không?
– Ồ! Không sao! Anh chỉ bị tụi nó ôm vật, suýt bị bắt sống, chứ không bị thương tích gì!
Chợt tôi nghe tiếng trực thăng trên trời; ông Tất mới bay lên vùng. Thì ra từ nãy tới giờ ông đại tá liên lạc với tôi từ đỉnh núi Hàm Rồng, nơi đặt một đài tiếp vận của Biệt Ðộng Quân. Xen lẫn tiếng động cơ là tiếng cười hì hì của Ðại tá Tất.
Ông Tất báo cho tôi một tin vui,
– Ông già vợ của cậu vừa nhờ ta báo cho cậu biết rằng vợ cậu vừa đẻ cho cậu một đứa con gái thứ ba. Vậy là từ nay Vương Gia có ba cô công chúa!
Giờ này chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ tới vợ con, nên tôi chỉ đáp lời ông Tất bằng một câu gọn lỏn,
– Cám ơn Trường An!
Tới vị trí tập trung của đơn vị, tôi nhảy ra khỏi xe M113 thì thấy Chuẩn úy Nguyễn Văn Trâm và Trung úy Trần Dân Chủ đang đứng chờ. Hai ông sĩ quan này quần áo xốc xếch bẩn thỉu, mặt mày nhợt nhạt thất thần. Ông Chuẩn úy Trâm còn đủ mũ sắt, áo giáp, súng ống. Nhưng ông Trung úy Chủ thì đầu trần, súng đạn, mũ mãng, bản đồ, địa bàn, dây ba chạc đều mất hết. Tuy thế, tôi thấy trên ngực ông Chủ vẫn còn cái máy ảnh trong bao da màu đen treo tòn ten!
Thấy anh em nằm, ngồi, ngổn ngang trên mặt đất, tôi bèn quơ tay ra dấu cho mọi người quây thành một vòng tròn. Sáu chiếc M113 được dàn thành hình cánh cung hướng về Nam. Tiếp đó, tôi gom góp tất cả thương binh trên triền dốc ngọn đồi mà tôi đang đóng quân. Triền dốc này nằm về hướng Ðông của tỉnh lộ, hơi thấp so với mặt đường nên được che khuất nhưng cũng đủ rộng và an toàn cho trực thăng lên, xuống. Công tác tản thương được tiến hành cùng thời gian tôi điều chỉnh không quân đánh trên các trục tiến quân của địch. Tổng kết lại, hiện thời đã có 44 Kỵ Binh và 48 Biệt Ðộng Quân chết hoặc mất tích.
Trong tổng số 11 sĩ quan thực tập, chỉ còn lại 6 người, tất cả đều bị thương, 5 sĩ quan mất tích gồm có 4 thiếu úy Ðà Lạt và 1 chuẩn úy Ðồng Ðế. Trong số ba ông đại đội trưởng tác chiến, chỉ còn Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1 là Thiếu úy Phạm Văn Tô đang ở đây. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 2 là Trung úy Nguyễn Trọng Thọ bị thương còn nằm trong Plei Ngol Ho. Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3 là Thiếu úy Tăng Ngọc Phiến đã thoát chạy trước khi tôi rời Plei Ngol Ho nhưng không rõ đang ở đâu. Trên tần số, Thiếu úy Phiến nói rằng chú ấy đang trên đường tới với tôi. Nhưng lạ một điều là càng lúc tiếng nói của chú ấy càng nhỏ dần.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.