vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Chương 13.
Vườn Ông Thượng.
Long là Vườn ông Thượng là chưa đúng. Vườn ông Thượng, cũng gọi là công viên Tao Đàn. Phiên dịch Parc Maurice. Tôi không hay giỏi hơn ai, chỉ được cái già (tuổi 92) và là mọt sách.
Tôi lại ham nói, nay xin nói về công viên tên Pháp gọi “Parc Maurice Long” và có một tên Tây khác nữa là “Jardin de la ville”. Theo tôi hiểu “parc” là vườn, công viên, hoa viên, gọi như vậy đều được. Có người đã nói và có lẽ nói ẩu là Vườn Tao Đàn, có người gọi là Vườn Ông Thượng và Thượng đây là toàn quyền Pháp tên Maurice Long.
Tôi nghe thì tức tức, nhưng cãi cọ, cãi giống làm chi, cũng là người kiếm cơm bằng viết lách như nhau. Nay tôi nói như dưới đây, nghe hay không, cũng mặc. Theo tôi tra cứu trong sách đã có, thì Maurice Long làm toàn quyền cõi Đông Dương đến hai kỳ, lần 1 từ 21-2-1920 đến 17-11-1920; và lần thứ 2, từ ler-4-1921 đến 14-4-1922. Nhưng Maurice Long khi ở Pháp trở lại kỳ nhì, khi tàu đến Colombo, ông vướng bịnh thiên thời (choléra) và tắt thở ngày 15-1-1923 quan tài được chở về Pháp theo chiếc André Lebon. Cho hay làm đến chức toàn quyền mà cũng bị giặc trời như ai, quả trời xanh có mắt.
Còn danh từ “vườn ông Thượng”, theo tôi, ông Thượng đây là kính trọng không dám gọi tên và chỉ gọi theo chức tước, Thượng đây là ông Tả quân có lăng mộ thờ nơi Bà Chiểu, ngài có miếu thờ trấn chận trước dinh tòa bố của Tây mà không bị Tây phá và ngày xưa, đất của ngài, chạy dài suốt từ lăng miếu đến khỏi dinh Toàn quyền Tây cũ và ăn lấn luôn vườn Tao đàn nên dân chúng gọi “vườn ông Thượng” là vậy. Năm 1920, học trò trường Chasseloup- Laubat bỏ trường làm “reo” (grève) lần thứ nhứt ở đây – có tôi trong số nghịch ngợm nầy, thì đã có danh từ “vườn ông Thượng” từ lâu từ đời cố hỷ nào cũng không chắc. Nay tôi xin trích dẫn ra đây lai lịch Parc Maurice Long nhưng không chỉ tôi cóp theo sách nào. Đầu tiên, vườn nầy vẫn thuộc và dính liền với hoa viên dinh Toàn quyền cũ. Vào năm 1869, Phó Thủy sư đô đốc Contre-Amiral Chier, với trách nhiệm làm toàn quyền, ra lịnh cắt đứt phần sau của hoa viên và giao cho đô thành làm vườn công cộng cho dân chúng dạo chơi, nhưng suốt ba chục năm trường, đô thành nhận lãnh mà không làm gì theo ý toàn quyền là phải nối dài đường Taberd (nay là Nguyễn Du) chạy nối giáp tới đường Verdun (C.M.T.8 nay) và khai thông vườn với ba cổng (cửa) lớn Taberd, Verdun, Chasseloup (nay đã có rồi).
Đến năm 1899, hoa viên nầy bị bỏ rơi, đô thành không thiết tha đến và vì vậy, có việc vườn bị cắt đất bán chia tam xẻ tứ và nảy ra có: âm nhạc.
– Hội hiếu nhạc “société philharmonique” chiếm một khoảnh (1896) nay quốc gia.
– Hội Tam Điểm (Loe Maonnique) chiếm một phần (1897) và năm nầy có đường Miss Cavell (nay Huyền Trân công chúa).
– Cùng một lúc, có một thực dân Pháp đề nghị xin mướn trọn hoa viên trong 15 năm để lập vườn trồng cây vani, y cho dân được dạo chơi trong vườn, chừng ấy đô thành mới tỉnh ngộ và không chấp nhận lời bao thầu như vậy.
– Năm 1902, hội Câu lạc bộ Thể thao “Cercle Sportif” thành lập chiếm một phần.
Đến ngày 26-2-1923, hội đồng đô thành mới thật thức dậy và để tưởng niệm toàn quyền làm khá nhiều việc ích cho xã hội và đặt tên là Parc Maurice Long. Nhưng vườn vẫn còn bị chia cắt vì thống đốc Krautheimer, năm 1926 và 1927 lập nơi góc Chasseloup và Verdun Viện Dục nhi “Institut de Puériculture”, năm 1932 trở nên trụ sở bộ Y tế và hội A.M.A.S.
Đến đây, tôi nghẹt lối, hồng biết gì thêm nữa, duy nay còn dư chút giấy, tôi xin thêm: Về Maurice Long, Tây với Tây phá nhau, nên đã có báo đối thủ, nhạo chơi và đặt tên lại là Maurice Scieur de Long và scieur de long là thợ xả súc gỗ thành gỗ ván, đố v.v .. , nhưng toàn quyền vẫn cười và không giận.
Một đàng khác, năm 1947, từ Sốc Trăng tôi chạy lên đây, và khi chạy lên xóm Cù lao ở chung với bà Năm Sa Đéc, trên đường gọi đường Võ Di Nguy, mé trái từ viện bảo tàng về xóm, nơi một quán nhỏ bé của một anh thợ hớt tóc quen nhau từ ở Sốc Trăng, khi tôi ngồi cho thợ cắt tóc, chợt tôi thấy treo trên vách, một bức ảnh vẽ dâu màu, là ảnh Maurice Long, miệng ngậm ống điếu cối, râu ria xồm xàm, tóc tai bù rối, tôi chăm chú nhìn thật kỹ, thì đó là một bức họa độc đáo, nói ra đây thì tục và đó là ảnh một con đầm lõa thể nằm lõa lồ, tóc thả xuống, hai vế dựng ngược lên và mồm của toàn quyền Pháp là cửa mình của mụ đầm. Tôi nài mua, anh thợ hẹn sẽ bán … sau tôi trở lại thì anh thợ nầy dọn đi mất!
(viết thêm ngày 26-9-1993)
Công viên Tao Đàn, tên Pháp Parc Maurice Long, tên xưa vẫn là Vườn ông Thượng và một lần nữa, tôi xin lặp lại rằng ông Thượng đây, chính là ngài Tả quân có lăng mộ và miếu thờ ở Bà Chiểu, mà xưa kia không một ai dám gọi ngài bằng tên tộc, chính chức phẩm cũng tránh và kính nể gọi Ông Thượng là đủ, thậm chí ngài làm thái giám, thì dân chúng ở đây cũng kiêng cữ không dám nói chữ “giám” và dùng chữ “giếm” để thay thế. Một tên Pháp khác là Jardin de la ville, thì rất phân minh rồi, duy còn một danh từ mượn của tiếng Tây là “Vườn Bờ Rô” Bờ rô là gì, đến nay còn phân vân bất nhứt, mạnh ai nấy nói và giải thích, không ai nhượng cho ai:
– Một thuyết, do anh giáo Trần Văn Xường, dạy ở Chợ Lớn, nay đã khuất, Xường, tiếng Tàu, tức là Tường, vẫn cho rằng, hoặc người Tây coi sóc vườn có tên là ông Bureau, hoặc giả, ông nầy làm trên văn phòng (bureau) và khi người phu làm vườn muốn lãnh tiền thì lên “bureau” mà lãnh, nên gọi vườn như vậy. Nay anh Xường đã không còn, tôi xin miễn luận.
– Một thuyết thứ 2 là theo như tôi đã nghe người tuổi tác dẫn giải cho biết, thì “Bờ rô” có lẽ do chữ “préau” của Pháp. Vả lại, hiển nhiên:
– “Préau” là sân có lợp nóc để tránh mưa gió của các tu viện, bịnh viện, ngục thất và học đường, mỗi lycée nào cũng có, trường Chasseloup có một préau, không biết nay ra thế nào, và préau nầy ở mé đường Lê Quí Đôn, sát cửa vào. Vậy tôi xin chừa danh từ “Vườn Bờ Rô” cho người cao kiến dạy lại. Riêng như tôi biết và chứng cớ rành mạch thì nơi mé sân túc cầu, phía đường Huyền Trân, lúc đầu tôi có thấy một bệ khá cao và rộng, đời Tây, họ làm nơi diễn tuồng, diễn thuyết, có khi dọn làm sân đánh võ “boxe” và gọi “préau”.
Qua năm có bày hội chợ, gọi kermesse, lối những niên 1930- 35 gì đó, thì họ đặt thêm nhiều chậu kiểng cau vàng và lấy préau nầy làm “théâtre de verdure” rạp hát ngoài trời hoặc lộ thiên gì đó và vợ chồng tôi vẫn có đến dự.
Nay nói luôn bắc cầu qua vài địa danh tiếng Tây, nay đã lạc lối, tỷ như:
– Service de pyrotechnie, đã dịch “Sở kho đạn”, tưởng khỏi cần dài dòng …
Có 3 địa danh đều do chữ “ma” khởi đầu:
– Thành “Ô Ma” là thành lính tập “tirailleurs”, Pháp gọi Camp des Mares. Khu đất rộng bao la hà lãng, nay lấy làm trường Đại học Sư phạm, v.v …, trước khi thuở đàng cựu, có miếu thờ cô hồn và Ngũ Hành, có chứa hai con sấu to dữ và nơi mé Nguyễn Cư Trinh, tôi có gặp sau Tây dỡ mất là một trại thật lớn lợp ngói có rất nhiều cột gỗ và mối ăn, gọi Hiển Trung Từ do chúa Nguyễn Ánh lập thờ công thần (có thờ lính Pháp tên Manuel (Mạnh Hòe) nữa và đời Tây thì để luôn làm miếu của Trại Lính Tập, Hiển Trung Từ nầy vẫn liệt vào hàng cổ tích (monuments historiques), nhưng đến kỳ Tây trở lại thì nhà binh Tây dỡ bỏ … Chính lối năm 1948 hay 1949, tôi đi với ông Pierre Dupont vào đây tìm trụ sở miếu Hiển Trung, có gặp một ngôi mộ cổ kiên cố và đã lạc lối khó biết đường về.
Sau đó là cơ quan mật thám (service du sureté) v.v…Lính tập gọi tirailleurs là lính người Nam và người gốc Đàng Thổ (khmer) Nam kỳ, bị Tây bắt đi lính và tập luyện dạy biết bắn súng, khi còn là trai đúng tuổi quân dịch thì rất sợ làng xã bắt đi lính nhưng khi nhập ngũ xong thì trở về làng
và làng xã đều lánh mặt vì sợ trả thù. Khu Thành Ô Ma nầy gồm khu rộng chung quanh theo tên cũ là đường Arras, Frères Louis, Nancy va đường xe lửa Biên Hòa – Hà Nội, mé đường ngang rạp chớp bóng thẳng lên nhà thương bà Từ Dũ ngày nay và dọc theo đường sắt cũ, trước kia thường ngập lụt, và gọi “Đường nước Nhỉ” – tên ấy chọn thật đúng, nước ứ đọng thường. Trong sách Trương Vĩnh Ký để lại và tạp chí Excursions et Reconnaissances cũ, có nói trước khi biến ra Thành Ô Ma, thì Tây có lập sở Nuôi Ngựa (Haras) sau dời về Tân Sơn Nhứt.
– Một địa danh cũ nữa là Mare’s aux Poissons, truy ra ngày xưa khi Tây qua đây, thú tiêu khiển ngày được nghỉ lễ hoặc ngày chủ nhật, để giết thì giờ, họ ít đi săn bắn vì cũng ít an ninh, nên thông thường họ thích đi câu cá, còn phụ nữ Pháp thì chiều chiều ngồi xe song mã, thắng hai ngựa, chạy vòng chung quanh Sài Gòn – Gia Định và gọi Tours de l’inspection, dạo vòng quanh đường tuần tra. Quan viên, nhứt là kỹ sư quan võ thì câu nơi Thành Ba Son, tiếng Pháp là Mare’s aux Poissons, nhưng đã có người diễn khác và rằng có một thợ tên “Son” thứ ba, nên đặt gọi Ba Son. Tôi biết một giai thoại có một thợ Sở Ba Son, có tánh lập dị, thích hút xì gà (cigar) (thuốc cuốn để nguyên lá) và ngày nào, chiều ra sở đón xe lửa về Gò Vấp ai ai cũng vẫn thấy cụ ta ngậm xì gà, sau mới rõ một tuần cụ chỉ ngậm duy nhứt một điếu, cứ lên xe là quẹt đốt rồi để tắt v.v… chừng ấy dân Gò Vấp mới đặt tên cho cụ là “Ông Xì gà tuần”.
Một thuyết nữa là Trại chữa ghe tàu Ba Son, Pháp vẫn gọi “bassin de radoub” bassin là ụ nước, radoub là sửa chữa ghe tàu, từ Bassin biến ra Ba Son, dễ ợt!
Vậy tôi xin chừa độc giả mặc tình chọn lựa. Ngày xưa chúa Nguyễn lập và tàu đi biển vẫn gọi tàu ô, vì lập nơi Ba Son, nên nay khó làm cầu bắc ngang qua Thủ Thiêm, khiến Thủ Thiêm ngó ngang Sài Gòn mà không phát triển được.
– Một địa danh nữa là “Ô Cấp” tức Pháp là “je vais au cap”, và cap là cap Saint-Jacques, tức đi Vũng Tàu. Tôi không cần nói dài. Độc giả dư biết.
– Còn 6, 7 cơ sở nhà binh cũ của Tây, xưa thuộc cơ mật, ít cho nói, nay xin kể mà không dẫn giải.
– II ème R.I.C. Onzième Infanterie Coliniale là Thành Sơn đá, khu Đại học Lâm Nông tên chánh thức là Caserne Martin des Pallières (lập lối 1870 đến 1873). Sau khi binh Tây rút lui về xứ, tôi đề nghị và kiến trúc sư Lê Văn Lắm cắt Thành Sơn đá làm thông thương và có đường Đinh Tiên Hoàng nối dài tới Chasseloup như hiện nay.
– Khu lính thủy (Marine) gọi Garnier;
– Trại San đầm Gendarmerie Le Lièvre;
– Khu Pháo thủ (Artilletie) (cam Virgile);
– Tòa án nhà binh (Tribunal Militaire, Justice Militaire;
– Direction du Génie;
– Direction d’artillerie
– Bureau de recrutemant la Grandièrem, v.v.
Khi Tây qua đây, ở Miền Nam, vẫn do quan võ cai trị nên dinh họ ở gọi dinh Phó Soái, vì chánh soái, tức là quan Toàn Quyền Đông Dương. Chính trạng sư (luật sư) Blancsubé (đường Lăng Xi Bề) (1834 – 1888) năm 1879 tranh đấu và thắng được, giành quyền cai trị trả về quan văn mới có bỏ chức Phó Soái (La Lăng De: de La Grandière và gọi dinh thống đốc v.v .. Blancsubé ở Tòa binh vực cho nhóm Chà Ấn bán vải, trước đây còn câu rao hàng “Première qualité? Mêm xôi (Même chose) Blancsubé!” và vải bán vo vo.
(viết ngày 21-9-1993)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.