vietmessenger.com
Hồ Trường An
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998
Post by Sơn râu 27 Dec 2025

Chương 5
Vào Buổi Bình Minh Chế Độ Mới
Vào những năm chót của chế độ Liên Hiệp Pháp, ở dăm ba các bản nhạc tình, người đẹp được dùng làm tựa cho các nhạc phẩm, ngoài công việc làm đối tượng sáng tác và làm chất liệu gây cảm hứng cho nhạc sĩ. Trần Hoàn với
“Sơn Nữ Ca”, Tô Hải với “Nụ Cười Sơn Cước”, Canh Thân với “Cô Hàng Cà Phê”, Hoàng Quý với “Cô Láng Giềng”, Đức Quỳnh với “Kỹ Nữ Với Cung Đàn”, Ngọc Bích với “Thiếu Nữ Trên Ngàn”, Vũ Huyến với “Cô Hàng Nước” v.v … Những bản nhạc tình gây sôi nổi gồm “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” và “Tạ Từ” của Tô Vũ, “Nhạc Sầu Tương Tư” của Hoàng Trọng, “Lời Người Ra Đi” của Trần Hoàn … Đúng lúc đó, Đoàn Chuẩn xuất hiện với một mớ nhạc ướt át, được khán thính giả tiếp đón nồng nhiệt. Những bản nầy đều do Từ Linh phổ lời, đại khái như “Thu Quyến Rũ”, “Tình Nghệ Sĩ”, “Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay”, “Lá Thư”, “Chuyển Bến”, “Lá Đổ Muôn Chiều” v.v …
Dương Thiệu Tước sáng tác hăng qua các bài “Đêm Ngắn Tình Dài”, “Bến Xuân Xanh”, “Hương Giang Mộng Khúc”, “Thuyền Mơ”. Ông đặt lời thường thôi. Nhưng ở bài “Ngọc Lan”, lời dựa trên ấn tượng lẫn trừu tượng nên đẹp bất ngờ:
Ngọc lan, dòng suối tơ vương
Mắt thu hồ dịu ánh vàng.
Ngọc lan, ngành liễu nghiêng nghiêng
Tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song.
*Hoàng Trọng
ngoài “Nhạc Sầu Tương Tư”, còn sáng tác những bản khác vui có, buồn có. Ngọc Bích cùng hợp soạn với Xuân Tiên bản “Chờ Một Kiếp Mai”, mở cho Xuân Tiên một con đường sáng tác sau nầy.
Bánh xe lịch sử cứ lăn mau hay chậm, nhưng không bao giờ ngừng nghỉ. Âm nhạc cũng là một yếu tố của bánh xe ấy, cũng theo vòng lăn mà biến chuyển trên từng chặng lộ trình. Căn cứ Điện Biên Phủ của Pháp bị thất thủ. Hội nghị Genève khai mạc vào tháng 4/54 và bế mạc vào tháng 7. Nền bảo hộ và thuộc địa của Pháp tại Đông Dương kết liễu. Biến cố dồn dập cứ xảy đến. Chính phủ của Hoàng thân Bửu Lộc giải thể. Đức Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định ông Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới. Phong trào di cư đưa người Bắc chuộng tự do, thoát ly chủ nghĩa Cộng Sản vào định cư ở miền Nam. Rồi ông Ngô Đình Diệm thắng được phe chống đối Cao Hoà Bình (tức là Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên).
Rồi cuộc thành lập nền Đệ nhất Cộng Hòa khởi đầu với ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, ông Nguyễn Ngọc Thơ làm Phó tổng thống. Một giai đoạn thanh bình và thịnh trị khởi đầu. Bản Quốc Ca của nền Cộng Hoà là bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của Lưu Hữu Phước được sửa lời cho phù hợp với giai đoạn mới và vận hội mới của đất nước. Quân nhân, công chức, học sinh mỗi khi chào cờ chẳng những hát bài Quốc Ca mà còn phải hát luôn bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”, nhạc của Ngọc Bích, lời của Thanh Nam. Thậm chí trước khi mở màn hát cải lương, mở màn buổi Đại nhạc hội, mở màn buổi chiếu phim cũng phải có màn phát thanh nhạc của bản Quốc Thiều và bài suy tôn vị nguyên thủ quốc gia kia. Khán giả phải đứng dậy lắng nghe, đợi cho nhạc dứt mới được ngồi xuống. Mỗi sáng thứ hai, các học sinh phải ra sân trường chào cờ, hát Quốc Ca và hát bài “Suy Tôn Ngô Tổng Thống”. Vậy mà rồi cứ mỗi sáng những ngày tiếp theo trong tuần, vừa khi vào lớp học, các học sinh cũng phải hát hai bài kia. Nền Tân nhạc lúc bây giờ có phong trào nhạc tố cộng.
Các bài “Về Miền Nam” của Trọng Khương, “Về Đây Anh” và “Tiếng Than Miền Bắc” của Nguyễn Hiền, “Con Đã Về Đây” của Hùng Lân, “Hận Bến Hải” của Chung Quân …

* Nguyễn Hiền
là một nhạc sĩ có tài. Ngoài bản “Về Đây Anh” và “Tiếng Than Miền Bắc” anh còn sáng tác nhiều bản nhạc tình có giá trị để đời như “Về Bến Xưa”, “Hồ Than Thở”, “Tìm Đâu”, “Lá Rơi Bên Thềm”, “Mái Tóc Dạ Hương” (phổ thơ của Đinh Hùng) v.v …

* Đan Thọ
lúc đầu với bản “Xa Quê Hương” thật du dương mềm mại, tuy nhiên vì khó hát nên chưa làm chấn động thính giả. Nhưng đến bản “Tình Quê Hương” (phổ thơ của Phan Lạc Tuyên) thì anh nổi tiếng như cồn. Về sau, bài “Chiều Tím” do anh phổ thơ của Đinh Hùng được giới sành điệu tán thưởng nhiệt liệt.

* Y Vân
khi cho trình làng bản “Lòng Mẹ” thì được thính giả hoan nghênh ngay. Sau đó, anh tung ra “Người Vợ Hiền”, “Chiều Mưa Công Viên”, “Gió Lạnh Đêm Hè”, “Về Miền Tây” v.v … bản nào cũng được thính giả chiếu cố cả.

* Văn Phụng
đem đến miền Nam những bản nhạc lạ tai, âm hưởng loại nhạc Nam Mỹ như “Ô Mê Ly”, “Trăng Sơn Cước”, “Tiếng Vọng Chiều Vàng”. Nhưng các bản “Các Anh Đi”, “Trăng Sáng Vườn Chè” (phổ thơ của Nguyễn Bính), “Đêm Buồn” (phổ bài ca dao “Vì Nhớ Mà Buồn” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư) lại có âm hưởng nhạc dân tộc. Về sau, Văn Phụng có sáng tác những bài nhạc vui như “Nhạc Ngày Xanh”, “Vui Bên Ánh Lửa”, “Tiếng Ca Bên Đồi Vắng”. Song song đó, bài “Tiếng Dương Cầm”, “Mưa Trên Phím Ngà” lại âm hưởng nhạc bán cổ điển Tây Phương. Bài “Nhớ Bến Đà Giang” thật gần gũi tâm hồn man mác của người nghe. “Gió Chiều” là bài valse rất lý tưởng cho các vũ trường. Nhạc của Văn Phụng giữ âm hưởng nhạc dân tộc tuy ít, nhưng bài nào cũng có giá trị cả. Tuy nhiên, có lẽ mọi tầng lớp thính giả khoái bài “Ghé Bến Sài Gòn” cùng bài “Ô Mê Ly” của anh nhiều hơn, cho nên hai bài đó nổi danh một thời. Nhạc của anh dành để khiêu vũ thì tuyệt. Những bài “Tiếng Hát Với Cung Đàn”, “Vó Câu Muôn Dặm”, “Bên Lưng Đèo” đều thổi vào tâm hồn trẻ trung và yêu đời những làn gió bừng bừng sinh khí. Anh là người soạn hòa âm phối khí vào bậc nhất trong thời kỳ 1954-1975.

* Nhật Bằng
Có bài nhạc vui là “Ánh Sáng Đồng Quê” được nổi tiếng khi anh vừa đặt chân vào miền Nam. Anh là nhạc sĩ có tài. Các bài “Sau Lũy Tre Xanh”, “Thuyền Trăng” của anh đều là những bài phổ thông trong giới sành nhạc. Nhật Bằng có thành lập ban Hợp Ca Hạc Thành với các em của anh là Thể Tần, Hồng Hảo và Nhật Phượng. Ban nầy ca điệu nghệ, nhưng sớm tan rã vì Thể Tần, Hồng Hảo và Nhật Phượng phải đeo đuổi việc sách đèn. Nhật Bằng còn lại một mình nên đầu quân với nhiều ban nhạc khác, hát hơn nửa thập niên 50, leo qua nửa thập niên 60. Giọng anh không có gì đặc biệt, cách ngân nga không vững. Nhưng khi hát nhạc biệt thể, anh có phong độ rất Hoa Kỳ, đem lại một nét mới cho giới thời thượng.

* Trọng Khương
nổi tiếng ngoài bản “Về Miền Nam”, còn có “Bánh Xe Lãng Tử”, “Ghen” (phổ thơ của Nguyễn Bính).

* Lê Trọng Nguyễn
khi tung ra bản “Nắng Chiều” chỉ chừng đầu hôm sớm là nổi tiếng ngay, đi sâu vào quần chúng thật hào hứng. Nhưng bản “Bến Giang Đầu” tức là “Nắng Chiều II” lại không được kẻ yêu nhạc tiếp đón niềm nở. Bản “Mầu Tím Cuộc Đời” (khi mới tung ra lần đầu có cái tựa “Tím Cả Cuộc Đời”), “Chiều Bên Giáo Đường”, “Sao Đêm” dù không phổ thông trong quần chúng, nhưng đó là ba món trân bảo của kho tàng âm nhạc nước nhà vậy.

* Vũ Thành
nổi tiếng nhất ở bài “Giấc Mơ Hồi Hương”. Nhưng bài nầy kén giọng hát. Phải có giọng hát với âm vực rộng, có làn hơi phong phú, có kỹ thuật thâm hậu thì hát nó mới đạt. Những bài về trước của anh như “Gửi Áng Mây Hàng”, “Nhặt Cánh Sao Rơi”, “Nhớ Bạn” tuy không nổi tiếng, nhưng đều đạt giá trị cao.
Về Vũ Thành, nhạc sĩ Lê văn Khoa trên tạp san Văn Học số 26, tháng 3 năm 1988 đã viết ở bài “Nhạc Trưởng Vũ Thành và Tôi” như sau:
Theo nhạc sĩ Phạm Duy thì Vũ Thành là một trong hai nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên trong ban nhạc hòa tấu (1938-1939). Lúc ấy, phần lớn người chơi nhạc hôm nay vẫn còn là con nít, hoặc chưa ra đời. Âm nhạc đã ở với ông cho phút cuối cùng. Nhưng chơi nhạc lâu năm cũng không nói lên được trình độ và thành tích của người chơi nhạc. Trường hợp Vũ Thành thì khác. Ông có tác phẩm và thừa thành tích để bảo đảm lời ông nói. Ông là tác giả của những ca khúc có giá trị cao, giá trị thưởng ngoạn hơn giải trí như “Giấc Mơ Hồi Hương”, “Nhặt Cánh Sao Rơi”, “Gửi Áng Mây Hàng”, “Thầm Ước Một Chiều”, “Đêm Trăng”, “Nhớ Bạn” v.v … và các tác phẩm hòa tấu như: “Phiếm Khúc”, “Thỉnh Nhập Vũ Điệu” và “Arpège”. “Cạn Một Hồ Trường” là tác
phẩm ông viết cho vĩ cầm độc tấu với dàn nhạc hòa tấu và cầm khúc cho tây ban cầm. Ngoài ra, ông còn soạn rất nhiều nhạc khúc phổ thông VN cho dàn nhạc hòa tấu và ban Kim Mộc chơi. Nhìn vào ta thấy ngay ông không phải chỉ là người viết ca khúc. Ngôi vị ông cao trọng hơn nhiều …
Nữ ca sĩ Quỳnh Giao, cũng trên Văn Học số 26 nầy đã viết bài “Vũ Thành, Người Nhạc Sĩ Khí Khái và Ngạo Nghễ” như sau:
Trước năm 1954, ông là công chức và là nhạc trưởng trong ban nhạc “Việt Nhạc” của đài phát thanh Hà Nội. Chính thời kỳ nầy nhạc của Vũ Thành được hát nhiều nhất. Âm hưởng thanh tao, óng ả của những dòng nhạc tuyệt vời của Vũ Thành đem đến một luồng không khí mới mẻ cho nhạc Việt, lúc đó còn nặng những âm điệu ủ ê, sướt mướt của cung Ré thứ trong hầu hết nhạc của Đặng Thế Phong, của Văn Chung, và một số của Văn Cao.
… Ngoài tài năng của một người viết “giai điệu” ông còn là người soạn “hòa âm phối khí” có công nhất với tân nhạc Việt Nam. Công việc nầy, trái với sáng tác ca khúc, ông làm rất nhiều. Có thể nói hầu hết các ca khúc của Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Cung Tiến được ông làm đẹp bằng những hòa âm công phu, tuyệt diệu. Ông đã nâng những ca khúc phổ thông lên hàng tác phẩm nghệ thuật. Ở đây, tôi xin được nói qua về vai trò quan trọng của người hòa âm. Thính giả khi thưởng thức một bản nhạc thường ghi nhận hai điều khiến họ thích thú: giọng hát của ca sĩ và tác giả của bài hát. Tên của tác giả đôi khi còn bị bỏ quên hoặc bị lầm lẫn, huống hồ là người viết hòa âm cho ca khúc ấy. Nhưng nếu nghe lại cũng chính ca sĩ và bài hát đó không có phần hòa âm phối khí cho giàn nhạc, chắc chắn sự thích thú giảm thiểu đến 80%. Tôi xin ghi ra vài thí dụ: Ban hợp ca Thăng Long, nếu không có Phạm Đình Chương viết hòa âm và bè cho từng giọng ca, thì thử tưởng tượng những giọng ca vàng ấy sẽ hát ra sao? Có nghệ thuật không nếu họ đồng ca một giọng như một toán quân trong quân trường …
Nói chung, những nhạc sĩ mà tôi kể đều là những người có tài. Trội nhất là Vũ Thành, sau đó mới tới Lê Trọng Nguyễn và Đan Thọ … Văn Phụng bị nhiều bản nhạc Tây phương ám ảnh. Cho nên bài “Tiếng Vọng Chiều Vàng” của anh khi thì giống ca khúc cổ truyền “Ah! Si Mon Moine Voulait Danser” của Pháp, khi thì giống bài “O Cangaceiro” của Mễ-tây-cơ. Còn bài “Bức Họa Đồng Quê” thì không có theo âm hưởng dân ca miền Nam hay miền Bắc xứ Việt Nam mà là phảng phất giọng điệu dân ca bên Mỹ. Riêng bài “Xa Quê Hương” của Đan Thọ thì ở điệp khúc lại giống ý nhạc trong phim La Strada. Nói thế, không phải tôi hoàn toàn phủ nhận tài hoa của hai nhạc sĩ nầy. Họ đã cùng Nguyễn Hiền, Nhật Bằng, Trọng Khương, Y Vân tạo nên một đợt sóng thần khá hùng vĩ làm phong phú cho âm nhạc xứ mình. Bên cạnh họ, có Hoàng Thi Thơ và Lam Phương chuyên sáng tác loại dân ca theo thể điệu mambo của Nam Mỹ. Không hiểu sao loại nhạc nầy đi vào mọi tầng lớp quần chúng thật nhanh. Có người độc miệng gọi đó là “dân ca mắm bò”.
* Hoàng Thi Thơ với “Gạo Trắng Trăng Thanh”, “Trăng Rụng Xuống Cầu”, “Đôi Mái Chèo Trăng”, “Lúa vàng Sao Sáng”, “Múc Ánh Trăng Vàng”. Tuy nhiên anh vẫn có những bản hay như “Duyên Quê”, “Phố Chiều”, “Tà Áo Cưới”, “Gặp Nhau”, “Đường Xưa Lối Cũ”, “Tìm Anh”, “Phút Đầu Tiên”, “Chiều Cố Đô” …
* Lam Phương với “Khúc Ca Ngày Mùa”, “Trăng Thanh Bình”, “Nhạc Rừng Khuya”. Tuy nhiên, trong thời gian ấy, Lam Phương vẫn có những bản khá hay như “Đoàn Người Lữ Thứ”, “Sầu Cố Đô”, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” v.v … Về sau, anh sáng tác những bản tuy phổ thông rộng rãi, nhưng phẩm chất kém dần như “Chiều Hành Quân”, “Tình Anh Lính Chiến”, “Kiếp Nghèo”, “Kiếp Tha Hương” v.v …

* Hoàng Trọng:
Vào những năm cuối của thời chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh, anh sáng tác những bản “Chiều Tha Hương”, “Buồn Nhớ Quê Hương”, “Đường Về”, “Nhạc Sầu Tương Tư”, “Gió Mùa Xuân Tới”, “Tiếng Lòng” v.v … Vào đầu mùa Đệ nhất Cộng Hòa, anh sáng tác những bản sau đây đều nổi tiếng như “Thương Về Quê Cha”, “Mộng Ban Đầu”, “Bắc Một Nhịp Cầu”, “Bên Bờ Đại Dương”, “Nguồn Mến Yêu”. Có lẽ Hoàng Trọng là người đặt nhạc theo thể điệu tango nhiều nhất. Nhưng bài “Dừng Buớc Giang Hồ” theo thể điệu paso doble của anh cũng rất nổi tiếng, không có bản paso doble của tác giả nào khác sánh kịp. Về sau, anh lập ra ban nhạc Tiếng Tơ Đồng, trừ Hoàng Oanh và Bạch Lan Hương ra đều là những ca sĩ tinh luyện như Châu Hà, Mộc Lan, Quỳnh Giao …

* Dương Thiệu Tước
trong vai đoạn nầy sáng tác yếu hẳn đi. Ông chỉ có vài bản như “Thơm Lành”, “Thiết Tha Vài Lời” …

* Thẩm Oánh
với các bản “Vương Tơ”, “Ngược Giòng”. Nhạc của ông gò bó trong ngũ cung, lại ảnh hưởng nhạc tàu nên ít được ưa chuộng.

* Phạm Duy:
có những bản làm say lòng người như “Ngày Trở Về”, “Người Về”, “Tình Tự Tin”, “Phố Buồn”, “Tình Nghèo”, “Tình Hoài Hương”, “Hoa Xuân”, “Chim Lồng”, “Lữ Hành”, “Xuân Thì” … Đề tài âm nhạc của anh xoay đủ chiều hướng sáng tác: tình yêu đôi lứa, tình quê hương, tình người. Thứ tình nào cũng mặn mà nồng đượm cả, cho nên nhạc anh dễ đi sâu vào mọi tâm hồn người nghe. Bài “Lữ Hành” không hẳn chỉ là bài nói lên cuộc viễn du trên đất nước mà là cuộc viễn du vào thân phận con người, vào ý nghĩ thâm sâu của tâm linh:
Người đi trong dương gian
Vượt xe uốn vòng tử sinh
Bánh xe tang ngoại ô
Chiếc nôi trong vườn hoa
Người đi đi không thôi
Ngày thế giới lên nguồn vui
Ngát như hương lúa mùa
Sẽ lên đường trở về.
Cũng thế, bài “Thương Tình Ca” nào phải chỉ là bài ca tụng đôi lứa “dìu nhau trên phố vắng” mà là dìu nhau vào một cõi huyền nhiệm và chỉ có những người vươn lên đến cõi tâmlinh thâm viễn mới chịu nghĩ tới. Phạm Duy là một nhạc sĩ kiêm thi sĩ, sĩ nào cũng tài hoa rất mực. Anh là một người đặt lời duy nhất (vào giai đoạn đó) ưu tư tới tâm linh và triết học, mở đường cho Trịnh Công Sơn sau nầy.
Nhà nhạc học Hàn Vĩ, bạn âm nhạc thời kháng chiến của Phạm Duy đã viết bài “Nhạc Kháng Chiến của Phạm Duy (1945-1951)” trên tạp san Văn Học, số 21 tháng 10 năm 1987 như sau:
Tóm lại, trong phạm vi thẩm mỹ, có 4 đặc thù thì ta đều tìm thấy ở trong nhạc Phạm Duy:
1/ cao độ: nếu như trong dân ca cổ truyền chúng ta ít khi thấy có những nét nhạc nằm trong những quãng âm rộng rãi thì trong dân ca kháng chiến của Phạm Duy, những cao độ mới mẻ (mà nghe vẫn Việt Nam) đã khiến cho nhạc dân ca mới của Việt Nam phong phú hơn.
2/ trường độ: nhạc dân ca cổ truyền vì bị đóng khung trong thể thơ lục bát cho nên nhịp điệu thông thường là chậm rãi, tĩnh tại. Với thời đại mới, dân ca Phạm Duy đã có những nhịp độ mới, tuy vẫn hài hòa những có tính chất dũng đạt hơn.
3/ cường độ: nhạc Phạm Duy không bao giờ làm chói tai, chói mắt người nghe dù là nhạc hùng. Rất ung dung, rất lãng mạn nhưng cũng rất cách mạng.
4/ âm sắc: nếu đem nhạc Phạm Duy ra để phối khí, ta sẽ thấy nhạc của anh rất phù hợp bộ dây, bộ gỗ và không hợp với bộ đồng. Nó mang nhiều tính cách êm dịu như nhạc classique.

* Phạm Đình Chương
với “Xuân Tha Hương”, “Chú Cuội”, “Khúc Giao Duyên” (khi ban Thăng Long còn đủ 6 người), sau đó mới có “Thuở Ban Đầu” (khi ban Thăng Long chỉ còn có Hoài Trung Hoài Bắc và Thái Thanh mà thôi). Ngoài ra có những nhạc sĩ khác cũng nổi tiếng không kém, chẳng hạn:
* Huyền Linh với “Mưa Đêm” …
* Thanh Châu với “Dặn Dò”, “Đường Ra Bình Phú” …
* Xuân Tiên có “Về Dưới Mái Nhà”, “Tình Bắc Duyên Nam”, “Nguồn Sống Bao La” …
* Canh Thân với “Túi Đàn”, “Vui Cảnh Mùa Hè” …
* Xuân Lôi với các bản, “Tiếng Hát Quê Hương”, “Ánh Sáng Miền Nam”, “Về Làng Cũ”, “Nhạt Nắng” …
* Lê Hữu Mục với “Hẹn một Ngày Về” rất tuyệt vời, đây là bản nhạc rất kén người hát mà cố văn hào Nhất Linh rất ưa chuộng và thường dùng clarinette để thổi.
* Khánh Băng với hai bài “Vọng Ngày Xanh” và “Đừng Trách Người Đi” là nổi tiếng. Ngoài ra một số lượng phồn thịnh nhạc phẩm khác không nổi tiếng bằng.
* Thanh Bình với “Lá Thư Về Làng”, “Những Nẻo Đường Việt Nam”. Anh cũng là nhà văn. Quyển Gió Dập Mưa Vùi của anh được thực hiện thành phim Nàng do Thẩm Thúy Hằng đóng vai chính.
* Hoàng Nguyên với “Đàn Ơi Xa Rồi”, “Ai Lên Xứ Hoa Đào”, “Tôi Sẽ Về Thăm Em” đều là những nhạc phẩm có phẩm chất cao.
* Hoàng Lang với hai bài nổi tiếng là “Hoài Thu”, “Hoài Cảm”. Ở bài “Hoài Thu”, anh lấy biệt hiệu là Văn Trí, lời hát của anh phỏng theo một bài tùy bút của nhà thơ Đinh Hùng nên đẹp như thơ, diễm ảo như mộng. Hoàng Lang có lập ra ban nhạc đàn giây với những giọng hát Kim Tước, Mai Hương …
* Trần Ngọc có bản nhạc đoạt giải nhất trong một kỳ thi nhạc. Đó là bản “Ngày Vui”. Khi anh tung ra nhạc phẩm “Quán Nửa Khuya” và lấy biệt hiệu là Tuấn Khanh thì anh mới nổi danh như cồn. Những bản “Vườn Đời”, “Một Chiều Đông”, “Dưới Giàn Hoa Tím”, “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”, “Chiếc Lá Cuối Cùng” … của anh đuợc nhiều ca sĩ hạng cừ hát và rất phổ thông trong giới sành nhạc.
* Trịnh Hưng với “Lối Về Xóm Nhỏ”, “Màu Tím Hoa Sim”, “Lúa Mùa Duyên Thắm” … Nhạc của Trịnh Hưng tuy gần gũi cảm quan đa số quần chúng, nhưng vẫn có phẩm chất vượt những loại nhạc thương mãi của các bạn đồng nghiệp cùng thời của anh.
Ngoài ra có hiện tượng người đặt lời hát nổi tiếng. Đó là Hồ Đình Phương và Thanh Nam. Hồ Đình Phương là một thi sĩ gốc người Huế. Ông ta làm thơ không nổi tiếng lắm vì làm thơ rất ít, chưa hề cho xuất bản tâp thơ nào. Ấy vậy, ông phổ nhạc cho Hoàng Trọng những bản rất nổi tiếng như “Mộng Ban Đầu”, “Mộng Lành”, “Bạn Lòng”, “Bắc Một Nhịp Cầu”, “Bên Bờ Đại Dương”, “Mộng Đẹp Ngày Xanh” v.v … Trước đó, vào thời chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh, ông có đặt lời cho bản “Xa Quê” của Lê Quang Nhạc. Trong thời gian
đặt lời cho nhạc của Hoàng Trọng, ông còn đặt lời cho bài “Lá Thư Miền Trung” của Lam Phương, “Tình Quê” của Châu Kỳ.
Thanh Nam đặt lời cho “Hoa Bướm Ngày Xưa” của Nguyễn Hiền, “Đẹp Giấc Mơ Hoa” của Hoàng Trọng, “Mưa Trên Phím Ngà” của Văn Phụng, “Thuyền Trăng” của Nhật Bằng … Thanh Nam là một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết ướt át, hợp với cảm quan mềm mại và mẫn cảm của phụ nữ. Tâm hồn của anh lai láng nguồn thơ. Tập truyện Buồn Ga Nhỏ của anh là một tập thơ bằng văn xuôi đúng hơn. Khi ra hải ngoại, anh cho xuất bản tập thơ Đất Khách và trở thành ngôi sao thi ca hàng đầu ở hải ngoại bên cạnh Cao Tần, Mai Thảo. Cách đặt lời cho các bài hát của anh thật lạ đời. Nhà soạn nhạc chỉ cần nói với anh ý của bài nhạc rồi ghi ở mỗi câu hát nốt nhạc nào nên viết bằng tiếng có dấu sắc, nốt nào nên viết bằng tiếng có dấu huyền, hoặc dấu hỏi hay dấu nặng. Thanh Nam cứ cày cục nương theo cách bỏ dấu ở mỗi tiếng tương ứng với nốt nhạc rồi liên tưởng đến tình ý của tác giả mà đặt lời, lời nào cũng thấm nhuần chất thơ, không kém lời hát của Hồ Đình Phương chút nào. Đa số những nhạc sĩ di cư từ miền Bắc trong những năm đầu định cư ở miền Nam đều có tâm trạng nhớ quê, căm thù Cộng sản một cách sâu sắc. Do đó mà nhạc của họ đều tha thiết, có sự rung cảm chân thành. Các bản “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Về Đây Anh” và “Tiếng Than Miền Bắc”, “Lá Thư Gửi Mẹ” (phổ thơ của Thái Thủy) của Nguyễn Hiền, “Lá Thư Về Làng” của Thanh Bình, “Hướng Về Đất Bắc” của Phó Quốc Lân, “Hận Ly Hương” của Anh Hoa đều là những nhạc phẩm hay. Nhưng miền Nam đãi ngộ họ xứng đáng với cái tài của họ nên về sau họ sáng tác những bài theo cảm hứng trữ tình của họ một cách phóng khoáng và phong phú để diễn tả tâm hồn nhạy cảm của họ, nhất là để biểu hiệnsự tự do sáng tác của họ. Cho nên vì đó kho tàng âm nhạc ở miền Nam trong giai đoạn đó chẳng những dồi dào chất lượng mà còn muôn vẻ muôn màu.
Nhạc theo thể điệu mới thích hợp với không khí vũ trường như mambo, rock and roll, calypso, slow rock, bolero v.v … nhập cảng vào nước ta ảnh hưởng vào nguồn sáng tác của mộtsố nhạc sĩ thời thượng hoặc một số nhạc sĩ nặng óc thương mại. Trước hết là nhạc blue và nhạc slow rock Thể điệu slow rock thường dìm ý nhạc vào không khí ứ nghẹt khói thuốc, men rượu và nhục cảm ở vũ trường. Nhưng Văn Phụng với bản “Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn”, Hoàng Trọng với “Một Thuở Yêu Đàn” cũng trong thể điệu slow rock đã nâng ý nhạc bay bổng vào không khí lâng lâng siêu thoát, vào thinh không bát ngát xanh lơ. Trước kia, loại blue trắng qua các bản “Bến Xuân” của Văn Cao, “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu đều là những bản trữ tình quyến rũ. Nhưng loại blue đen với tiết điệu đậm và đắng hơn ra đời qua các bản “Đường Chiều” của Hồng Duyệt, “Những Chiều Không Có Em” của Trường Hải vẫn là những bài quyến rũ mà những giọng hát của Hùng Cường,
Thanh Hùng, Trường Hải, Kiều Loan, Mary Linh, Phương Tâm đều hát rất đạt.
Nữ ca sĩ Minh Nguyệt đã lấy chồng trước khi có Hiệp Định Genève. Đài Pháp Á cáo chung. Những ngôi sao Tân nhạc lần lượt vắng bóng có Hoàng Yến, Ngọc Thanh, Phạm Đức, Thu Hồ … Bích Thuận nhận thấy đài Sài Gòn từ khi được thành lập có nhiều ca sĩ được đào luyện đúng mức dần dà loại bớt những ca sĩ có trình độ kỹ thuật non kém nên không dám xuất hiện trong các chương trình ca nhạc trên làn song điện nữa. Kim Chung, Bích Hợp, Huỳnh Thái, Ngọc Toàn khi vào Nam thì chỉ biết sống chết với cải lương. Thanh Tình giải
nghệ đi lấy chồng. Giai đoạn nầy là thời đại hoàng kim của Ánh Tuyết, Châu Hà, Kim Tước, Ngọc Nga, Tuyết Mai, Thanh Nguyên (bên nữ), Ngọc Giao, Ngọc Quang, Đỗ Tuấn, Duy Trác, Duy Khánh (bên nam). Nữ nghệ sĩ Túy Hoa cùng chồng là Anh Lân gom góp một số ca sĩ để thành lập ban thoại kịch Dân Nam. Thành phần gồm có: Túy Hoa, Mộc Lan, Lan Chi, Tuyết Vân, Túy Phượng (bên nữ), Anh Lân, Vân Hùng, Tùng Lâm, Hoàng Mai (bên nam). Về sau, ban Dân Nam bổ sung thêm Ly Lan và Túy Hồng. Ban Sầm Giang của Trần văn Trạch gồm nhiều ca sĩ tài tử, chỉ có Ngọc Phu, Đỗ Đình Phù là ca hát khá vững. Ban Thăng Long từ chỗ Tứ Ca với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng lại có thêm Khánh Ngọc và Phạm Duy. Còn Tâm Vấn, Khánh Ngọc, Linh Sơn, Ngọc Hà, Mộc Lan và Châu Kỳ và đôi uyên ương Mạnh Phát & Minh Diệu cùng Quái Kiệt Trần văn Trạch vẫn là những cây đinh trên sân khấu Đại nhạc hội. Về vũ thì vắng bóng Mỹ An nên Lưu Bình và Lưu Hồng tìm Mỹ Dung thay thế. Nhảy thiết hài thì vẫn là Nguyễn Thống, Nguyễn Tình. Thỉnh thoảng có Ngọc Chiếu, nam ca sĩ Vọng Cổ giả gái để vũ theo điệu Á-rập. Còn kịch thì đã có Kiều Hạnh, Xuân Dung, Hoàng Năm, Ba Bé, đôi khi có Phạm Đình Sỹ, Đinh Xuân Hòa, Vũ Đức Duy, Mỹ Tín, Minh Đăng Khánh, Bạch Tường, Thùy Dương …
Sau đây là những ca sĩ nổi danh trong giai đoạn nầy:

* Ánh Tuyết:
Ánh Tuyết xuất thân trong ban kịch Lửa Hồng. Chị có một nhân dáng rất cao sang thanh thoát, một khuôn mặt rất ăn ánh đèn sân khấu. Giọng của Ánh Tuyết mới đúng là giọng kim cao chót vót, càng lên cao càng vang lộng như chuông vàng khánh ngọc. Một giọng sắc sảo mà vẫnngọt ngào, âm sắc lại đẹp, gợi nên hình ảnh tấm gấm màu hồng phấn rực rỡ dệt hoa ngân tuyến xen kim tuyến lung linh ánh sáng. Chỉ tiếc rằng chuỗi ngân của chị nhọn sắc như răng cưa, chứ không gợn nét thu ba như chuỗi ngân của Thái Thanh.
Những bản nhạc có chỗ lên cao như “Mộng Đẹp Ngày Xanh” của Hoàng Trọng, “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành được Ánh Tuyết trình bày một cách trơn tru và thoải mái như kình ngư đùa sóng. Trên sân khấu Đại nhạc hội, Ánh Tuyết còn làm say mê khán thính giả qua bản “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng.

* Ngọc Nga:
Chị là em gái của nữ tài tử điện ảnh Mai Trâm (thủ vai chính trong phim Chúng Tôi Muốn Sống). Ngọc Nga đẹp tươi sáng, dịu dàng, vóc vạc mảnh mai. Giọng hát của chị thật ngọt ngào, tươi sáng, nhưng cũng thật dịu dàng đằm thắm. Cách ngân nga của chị thật vững vàng. Trong ban nhạc của Ngọc Bích, chị thường tam ca với Thái Hằng và Ánh Tuyết, chẳng hạn như bài “Nắng Lên Xóm Nghèo” của Phạm Thế Mỹ. Có lần trong kỳ Đại nhạc hội, Ngọc Nga xuất hiện trên sân khấu và hát bản “Chiều Về Trên Sông” của Phạm Duy. Tuy giọng chị không cao, nhưng chị hát tròn tiếng ở chỗ lên cao nhất của điệp khúc bản nhạc. Ngọc Nga có thể hát chung với những danh ca hát giỏi như Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà mà không lép vế dù kỹ thuật hát xướng của chị không bằng họ.
Ngọc Nga là một trong ba chị em đẹp nổi tiếng ở đất Bắc. Nếu Hà Nội có Tứ Kiều (Kiều Dinh, Kiều Vinh, Kiều Hinh, Kiều Hương) thì Hà Nội cũng có Tam Mỹ (Mai Trâm, Ngọc Nga và Ngọc Thoa). Khi mới lớn, Ngọc Nga yêu một chàng hào hoa và đẹp trai. Chàng nầy được giới tài hoa son trẻ gọi là Phương Thế Ngọc. Phương Thế Ngọc đã từng là người yêu của Kiều Hinh (tức là Giáng Hương). Nhưng Kiều Hinh khám phá được tông tích của Phương Thế Ngọc. Thì ra chàng chỉ là một công tử bột, không bằng cấp, không kiến thức. Cho nên Kiều Hinh từ hôn với chàng. Về tình cảm, Kiều Hinh có nội lực thâm hậu nên chị sớm tìm gặp cuộc hôn nhân với ca sĩ Anh Ngọc, san bằng mọi sứt mẻ của tình cảm. Nhưng Ngọc Nga thì khác. Chị đâu được tinh thần vững chãi như Kiều Hinh. Quá thất vọng, chị trèo lên cây cao buông mình xuống đất để tự tử. Nhưng chị không chết, chỉ tội phải què một chân suốt đời và phải dùng gậy để chống đỡ lúc đi đứng. Khi trở thành ca sĩ, chị đã có gia đình êm ấm. Thời gian đã hàn vá vết thương lòng chị tuy chậm mà vững chắc. Về sau, Ngọc Nga bỏ nghề ca hát để trở thành xướng ngôn viên đài Sài Gòn như Minh Diệu, Minh Tần.
* Thanh Nguyên, Mỹ Ngọc, Tuyết Anh:
Đó là những ca sĩ của đài Sài Gòn. Mỹ Ngọc có giọng ngọt ngào hiền dịu. Chị hát quá chân phương, âm sắc không chút quyến rũ. Giọng hát đẹp như nàng tiên, nhưng thiếu cái mê hoặc của thần nữ. Tuyết Anh ca vững, tuy không có làn hơi phong phú, nhưng chị dàn trải làn hơi đâu vào đó để tránh khỏi lúc hụt hơi. Tuyết Anh hát thật lâu, nhưng chỉ ở đài Sài Gòn mà thôi. Thường thì chị song ca với Hồng Phúc. Bởi yêu nghề nên chị cứ nhắm mắt hát trước sự ghẻ lạnh thờ ơ các thính giả trong thập niên 60.
Thanh Nguyên có giọng mạnh, nhưng chuỗi ngân lại nhọn sắc như răng cưa. Tiếng chị mượt mà và óng ả nhưng lẩn trong cái mượt mà đó, có những chỗ hơi khàn rất đậm đà nồng ấm. Thanh Nguyên vì thường ca chung với ca sĩ Ngọc Quang nên si mê anh dù anh có vợ. Cuộc tình của cả hai không gây huyên náo vì cả hai không nổi tiếng. Cũng như Mỹ Ngọc, sự nghiệp ca hát của Thanh Nguyên lu mờ và ngắn ngủi. Chị đến với làng ca nhạc rất lặng lẽ và rút lui âm thầm như một cái bóng.

* Châu Hà:
Đây là giọng trầm rất đặc biệt, một giọng contr-alto khi xuống nốt trầm thật tròn tiếng, thật dội sâu, thật
vang lộng. Thái Thanh khi xuống trầm không dũng mãnh bằng, không thừa hơi để ngân nga một chuỗi dài, tóm lại không như trường hợp của Châu Hà. Khi hát những chỗ ngang ngang, hoặc khi lên cao, giọng Châu Hà tuy không lảnh lót như giọng Ngọc Hà, nhưng ngọt hơn giọng Ngọc Hà nhiều. Lúc mới khởi nghiệp, Châu Hà bắt chước theo lối hát của Minh Trang. Nhưng về sau chị tạo lấy bản sắc riêng cho chị. Những bản có chỗ trầm như “Nhắn Gió Chiều” của Nguyễn Thiện Tơ, “Chung Thủy” của Văn Phụng, “Hình Ảnh Một Buổi Chiều” của Lâm Tuyền được Châu Hà trình bày thật điệu nghệ. Ở những chỗ trầm chị hát thật sướng tai, càng nghe càng mê cảm rụng rời. Riêng bản “Hình Ảnh Một Buổi Chiều”, chị hát ở những chỗ lên cao thật ngọt ngào, trơn tru, không một chút chai sượng nào trong khi Thái Thanh khi hát lên cao thì giọng lại chua chua như yaourt.
Mối tình giữa Châu Hà và Văn Phụng cũng khá gay go vì mỗi bên đều có gia đình. Về sắc vóc, họ không phải là một cặp đẹp đôi. Nhưng Châu Hà yêu Văn Phụng qua cái tài sáng tác cùng sự nghiệp âm nhạc của anh. Còn Văn Phụng yêu Châu Hà qua cái thông minh, duyên dáng và tiếng hát với kỹ thuật thâm hậu của chị. Cũng may là Châu Hà không mấy nổi tiếng vì chị ít khi xuất hiện trên sân khấu phòng trà và sân khấu Đại nhạc hội, cho nên cuộc tình của họ không bị báo chí phanh phui khai thác. Dù sau, trong thời gian đôi bên ly khai
gia đình để lập tổ uyên ương thì Mộc Lan, Kim Tước cùng Châu Hà trong ban Văn Phụng khi hát trên làn sóng điện đài Sài Gòn phải đổi tên. Mộc Lan lấy biệt hiệu là Thy Nga, Kim Tước lấy biệt hiệu là Lan Châu, Châu Hà lấy biệt hiệu là Kim Châu. Vận sự nầy, thú thật tôi không hiểu lý do.
Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà đều có giọng giống nhau. Phải tinh lắm mới phân biệt nổi. Mộc Lan xài nhiều giọng óc hơn nên tiếng hơi chua, tuy nhiên khi hát chỗ ngang ngang và chỗ khá trầm thì giọng lại nồng nàn. Tiếng Kim Tước mỏng mịn hơn, thỉnh thoảng có những nét láy mềm mại cho nên có vẻ cao sang quý phái hơn. Tiếng Châu Hà chân phương và ấm áp hơn tiếng Kim Tước và ngọt hơn tiếng Mộc Lan, nhưng không quyến rũ bằng tiếng Kim Tước và không đậm đà bằng tiếng Mộc Lan. Có nhiều bài hát, cả ba cùng ca kế tiếp nhau, nhưng không hợp ca với nhau. Mỗi người gạt bỏ cái tiểu dị (nuance) độc đáo trong tiếng hát của mình. Thính giả lúc đó có cảm tưởng là một người hát chứ không phải ba người. Trong các ban tam ca giọng nữ, có lẽ Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà hợp thành một ban tam ca già dặn nhất, độc đáo nhất. Mỗi giọng đều thuần thục và tinh luyện đúng mức, xứng đáng ở cương vị hàng đầu.
Chị Mộc Lan thường bảo tôi:
— Châu Hà và Kim Tước xuất thân là nữ sinh, tuy mê hát, nhưng cũng mê học. Chúng nó đâu biết cách trang điểm ăn mặc. Hồi cùng tôi hợp ca trên sân khấu, chúng nó chưa biết dùng son phấn dậm mặt, chưa biết mặc “xú-cheng” và chưa biết mặc áo dài chít pince.
Châu Hà sinh động và duyên dáng. Khi hát là chị tự tin thấy rõ. Vào khoảng tứ tuần, chị hơi mập, kèm với hàm rang hơi vẩu nên chị không ăn ánh đèn rọi của sân khấu và không ăn ánh đèn rọi trên sân quay Tivi. Cho nên, có một lần bộ ba Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà cùng tam ca trên sân khấu Đại nhạc hội bản “Dịu Dàng” của Văn Phụng thì tiết mục văn nghệ nầy không ăn khách. Có một cô ca sĩ nào đó cằn nhằn ông bầu tổ chức Đại nhạc hội:
— Mời ba mụ Kim Châu Mộc hát làm chi cho tốn tiền.
Vận sự đó tới tai bộ ba Kim Châu Mộc. Châu Hà bảo:
— Chúng tôi hát bằng mồm thì làm sao bằng những kẻ hát bằng cả người, hử quý cụ?
Châu Hà cùng ban Văn Phụng xuất hiện trên Tivi là như mang một ngọn gió bừng bừng phấn khởi. Chị xông xáo, duyên dáng cũng như nữ ca sĩ Annie Cordy của Pháp. Có lần cũng trong chương trình ban Văn Phụng chiếu trên tivi, chị giới thiệu nữ ca sĩ Thái Thanh như sau:
— Một nhà thơ bảo tình yêu là những con chim tuyệt vời.
Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ bài thơ ấy thành ca khúc “Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài”. Chị Thái Thanh chắc hẳn đã biết con chim tuyệt vời ấy ra sao rồi, vậy mời chị hát bài “Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài” của Phạm Duy.
Chị Châu Hà nhấn mạnh bốn tiếng “con chim tuyệt vời”, mắt chị long lanh tinh quái làm khán giả cười lăn.
Châu Hà có hát bài “Yêu” của Văn Phụng cho phần générique của cuốn phim Yêu do Đỗ Tiến Đức đạo diễn. Hôm trình chiếu cuốn phim đó cho các văn nhân ký giả xem tại rạp Nguyễn văn Hảo, tôi cũng có đến xem. Gặp chị, tôi ngạc nhiên quá vì chị gầy đi, đẹp lạ lùng. Tôi hỏi chị cái bí quyết
làm gầy. Chị mệt nhọc bảo:
— Con Khánh Ly chỉ cho tôi thứ thuốc Sveltine. Tôi uống chừng hai ống, mỗi ống 20 viên là tôi sụt cân xuống vùn vụt. Mệt quá, ông An ơi! Tôi bị thuốc hành nên ăn chẳng ngon và ngủ chẳng được.
Chị mở xắc lấy giấy bút ghi tên thuốc cho tôi. Quả thật, thuốc làm tôi sụt 15 ký. Tôi mất ngủ, hay đổ mồ hôi. Mặt tôi chao vao như kẻ bị xì ke ma túy.
Năm 1989, nhân chuyến qua Washington D. C. ra mắt quyển Giai Thoại Hồng, qua sự trung gian của Thúy Minh (vợ nhà văn Trần Long Hồ), tôi gặp lại chị Châu Hà. Chị đẹp hơn xưa nhiều, sau 17 năm mà tôi không gặp. Vóc chị thon, da dẻ chị mịn màng, gương mặt hồng hào tươi nhuận. Chị đưa tôi đi ăn sáng cùng gia đình chị và có dịp cùng nhau ôn cố nhi tri tân suốt bốn tiếng đồng hồ.

* Kim Tước:
Đây là một trong những giọng hát mà tôi quí mến nhất. Chị là mẫu người hiền lành, ăn nói khiêm tốn, có học lực ở bậc đại học. Chị Kim Tước không đẹp không xấu, làn da ngăm đen, có nốt ruồi duyên bên mép. Có một thuở chị đẹp hẳn lên, thần thái rạng rỡ như trăng rằm. Đó là vào ba năm đầu của thập niên 70. Chị mặc áo dài đã đẹp mà mặc Âu phục cũng đẹp nữa. Lúc đó chị thường xuất hiện trên Tivi trong những màn song ca với ca sĩ Trường Duy. Cả hai chỉ là bạn song ca đồng diễn thôi, nhưng trông thật đẹp đôi.
Giọng Kim Tước mềm mại. Thuở còn son giá thì cao chót vót. Nhưng sau mấy bận sinh nở nó lại mỏng khi lên cao. Đây là giọng ca đẹp nhất, lão luyện nhất trong bộ ba Kim Châu Mộc, dù chị nhỏ tuổi hơn Châu Hà và Mộc Lan. Có người bảo rằng Châu Hà và Mộc Lan ca suông đuột, không một chút màu mè riêu cua cho thêm màu sắc hương vị trong giọng hát. Nhưng đối với giọng hát của Kim Tước thì người ta không nghĩ thế. Kim Tước vẫn có chút làm dáng thật kín đáo trong giọng hát. Giọng của chị cao sang quý phái, đẹp như một chiếc ly pha lê thuần khiết, không một lỗi lầm, không một tỳ vết, nhả thứ ánh sáng trắng tinh khôi. Tiếng hát gợi nên một giòng suối trong vắt chảy giữa bờ cỏ mùa xuân tươi non.
Chuỗi ngân của chị thật óng ả và thoải mái. Năm 1987, chị theo ban Gió Nam gồm Hoài Trung, Hoài Bắc, Mai Hương, Quỳnh Giao, Diễm Chi, Nguyệt Ánh, Hoàng Thi Thi, Nghiêm Phú Phi qua trình diễn bên Âu Châu. Ban Gió Nam cũng có ghé tỉnh Troyes mà tôi cư ngụ để trình diễn một đêm, sau đó mới đến Paris trước khi trở về Hoa Kỳ. Dạo đó chị hơi phát phì, nhưng vẫn có eo trong những tấm áo dài mà chị diện trên sân khấu. Mặt chị buồn bã, nhẫn nhục và trầm lặng, lời nói vẫn giữ vẻ khiêm tốn như thuở nào. Trên sân khấu, chị cùng Mai Hương và Quỳnh Giao đã thạo cách ăn mặc trang điểm lắm rồi. Áo dài mà chị dùng mặc trên sân khấu nhiều bông hoa ngoạn mục rổi bật trên nền gấm xôn xao ánh sáng. Chị đơn ca những bản “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Nhớ Người Phương Xa” của Phạm Duy rất hay. Tiếc rằng giọng của chị hơi nặng nhọc, chứ không lưu loát và thoải mái như xưa. Khi muốn ngân nga, chị phải kéo một hơi khá dài rồi mới lấy trớn ngân được.
Điều tôi hơi buồn trong bữa ăn chiều do ban tổ chức của Hội Văn Hóa Kiều Bào vùng Champagne (tỉnh Troyes nằm trong vùng Champagne) khoản đãi, Kim Tước cổi mái tóc giả ra để bày cái đầu hơi hói làm mọi người bàng hoàng. Nhưng chị vẫn giữ vẻ thản nhiên, nụ cười cam phận và nhẫn nhục. Có một điều buồn cười là có một võ sư ở Paris tên là Đào Tuấn Ngọc. Anh ta là kẻ sành nhạc, có sáng tác một lô nhạc. Anh muốn Kim Tước trình bày những tác phẩm của mình nên bỏ tiền ra mua vé máy bay khứ hồi mời chị qua hát ở Paris.
Trong tấm chương trình, anh đề tên Kim Tước và một số nhạc phẩm sáng giá của Văn Cao, Vũ Thành, Phạm Duy, Lê Hữu Mục … Tôi cũng cất công lấy vé xe lửa khứ hồi để đi Paris xem Kim Tước hát loại nhạc xưa. Nhưng những bài ghi trong tấm chương trình thì dành cho các tài tử ở Paris hát. Còn Kim Tước hát trên 10 bài của Đào Tuấn Ngọc làm khán thính giả khờ khạo hốc hác luôn. Không phải nhạc của họ Đào dở. Nhưng các ca khúc âm hưởng loại nhạc bán cổ điển không dễ thấm sâu tức khắc vào tâm hồn người nghe. Nhạc của anh cần có đủ thời giờ hòa nhập vào cảm quan khán thính giả theo kiểu nước chảy đá mòn. Nhưng hôm đó, nhạc anh cứ tung ồ ạt và xối xả hết lớp nầy kế tiếp lớp khác vào tâm hồn khán giả làm tâm hồn họ bị bội thực. Sau cùng, họ yêu cầu chị Kim Tước hát bản “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của Tô Vũ để lấy lại tinh thần thoải mái. Kim Tước cùng Vũ Anh hát trong dĩa nhạc “Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ” của Phạm Duy rất điệu nghệ. Ở dĩa nhạc nầy chị lấy lại phong độ thuở nào. Tiếng hát khỏe khoắn vang lộng làm cho người nghe có cảm tưởng như được tắm mát trong giòng suối âm thanh ngọt mát dị kỳ.

* Tuyết Mai:
Giọng hát trong trẻo và ngọt ngào rất quyến rũ. Khi lên cao, chị chuyền giọng óc không khéo như Thái Thanh, nhưng không quá vụng như Hoàng Oanh sau nầy. Dù không có giọng kim cùng cách phân phối và dàn trải làn hơi một cách tinh vi như Mai Hương, nhưng về sau nầy Tuyết Mai nhiều lần hát bản “Dòng Sông Xanh”, nghe cũng ngọt tai. Phải nói rằng đây là một giọng có âm sắc đẹp, gợi nhiều ấn tượng và hình ảnh đẹp cho thính giả. Chị hát dân ca đạt hơn hát những loại nhạc vũ trường, nhạc biệt thể, nhạc âm hưởng bán cổ điển Tây phương. Chị song ca với Duy Khánh thật điệu nghệ. Chị có vóc vạc vừa tầm, khuôn mặt khá xinh, ăn ánh đèn sân khấu. Chị giống như Ánh Tuyết, giỏi cách ăn mặc trước khi bước ra sân khấu, cho nên nhan sắc chị dưới ánh đèn sân khấu trội hẳn lên. Trong thập niên 50, chị là một nữ ca sĩ rất ăn khách và xuất hiện thường xuyên trên sân khấu Đại nhạc hội. Đêm đêm, chị như con bướm bay từ phòng trà nầy sang phòng trà khác. Tuyết Mai ăn ở với Duy Khánh được một mặt con.
* Tuyết Nhung:
Chị duyên dáng chứ không đẹp. Giọng mạnh, có âm sắc đẹp, nhưng lại có chuỗi ngân răng cưa như giọng Ánh Tuyết. Trên sân khấu, chị thường song ca với Thanh Thoại những bản nhạc theo thể điệu mambo. Sự nghiệp ca hát của Tuyết Nhung quá ngắn. Chị còn gửi lại trong lòng khách mộ điệu ân hưởng một giọng hát mạnh mà không thô, mềm mại và gợi cảm qua bài “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng.
* Yến Hương:
Chị có một sắc đẹp thật Tây phương với sống mũi cao. Nhưng vóc vạc chị vừa tầm, cung cách đoan trang thùy mị. Giọng chị trong trẻo dịu mềm, ngân nga thật vững. Nhưng không hiểu sao chị không thể nổi danh dù có Quái Kiệt Trần văn Trạch nâng đỡ. Có một dạo chị hát ở phòng trà Hòa Bình. Nhưng tên tuổi chị bị những tên như Bạch Yến, Bích Chiêu lấn át.
Yến Hương có đóng phim Thoại Khanh Châu Tuấn bên cạnh Kim Cương, Vân Hùng do Trần văn Trạch đạo diễn. Nhưng chị không biết diễn xuất nên bị Kim Cương lấn át luôn. Vào năm 1972, chị xuất hiện ở phòng trà ca nhạc Lê Lai. Thân vóc chị trở nên nặng nề. Giọng ca chị chẳng những bị Lệ Thu, Khánh Ly lấn át mà còn bị giọng hát của Carol Kim và của Ngọc Anh (em gái Khánh Ly) húng hiếp thêm. Thế là chị rút lui vĩnh viễn vào bóng tối.

* Túy Phượng:
Cô là con riêng của Túy Hoa, nhưng được Anh Lân hết lòng thương yêu và bồi đắp trên bước đường nghệ thuật trình diễn. Túy Phượng giống mẹ như đúc, nhưng nõn nà và bốc lửa hơn mẹ. Vóc mình cô nhỏ nhắn, cân đối, tay chân xinh xắn. Khuôn mặt cô kết hợp bởi những đường nét cong mềm và thanh tú. Đó là một vẻ đẹp chanh cốm, mũm mĩm làm say lòng người. Cô đoạt giải Hoa Hậu Đông Phương trong đó có Kiều Chinh tham dự. Túy Phượng khi sinh ra được nghệ sĩ Bích Thuận nhận làm mẹ đỡ đầu. Cô lại được nữ ca sĩ Mộc Lan luyện giọng. Giọng hát của cô không có gì đặc biệt. Cô lại hát bằng cách phát âm người miền Nam như Túy Hoa, Ngọc Hà. Tuy nhiên đây là một giọng có kỹ thuật cao, ngân nga rất vững. Những bản slow chẳng hạn như bản “Sương Thu” của Văn Phụng được cô diễn tả rất nghề, làm thỏa mãn khách sành điệu. Ở bản “Mộng Đẹp Ngày Xanh” của Hoàng Trọng, dù gặp chỗ lên cao vượt ngoài âm vực của giọng hát cô, vậy mà cô hát vẫn không gãy, vẫn ngọt ngào làm cho nhiều người thán phục.
Cũng như giọng Mai Hương, Hồng Phúc, giọng Túy Phượng không thích hợp với sân khấu mà chỉ thích hợp trên làn sóng điện mà thôi. Nhưng khi cô xuất hiện trên sân khấu, chính thân mình nhỏ nhắn và bốc lửa của cô cùng khuôn mặt mũm mĩm của cô chài bẫy khán thính giả nhiều hơn là giọng hát. Tôi còn nhớ, vào một tối năm 1959, Túy Phượng xuất hiện ở phòng trà Hoà Bình. Cô mặc chiếc robe bằng nhung đen, xẻ đùi và hở ngực hở vai khá rộng. Cô mang găng tay bằng nhung đen dài đến khuỷu tay, đeo những món nữ trang lấp
lánh và cài vương miện trên tóc. Cô hát bài “Mambo Italiano” rất bừng bừng phấn khởi, như rải cơn bão lửa khắp phòng trà Hòa Bình.
Về sau, khoảng 1961-1963, Túy Phượng xoay qua hát nhạc twist và trở thành “Nữ Hoàng Nhạc Twist”. Nhưng cô chỉ nổi tiếng trong một thời gian ngắn ở lãnh vực mới nầy. Rất tiếc, Túy Phượng có biệt tài trình diễn nhạc hay, nhưng khan thính giả chỉ say mê cô qua sắc đẹp chói chan, qua những điệu hát rậm rật mà không tìm được cái nội lực chân truyền cùng kỹ thuật thâm hậu trong giọng hát của cô. Cho nên cô phải dùng nhạc Twist để làm quỉ làm yêu, trổ nhiều quái chiêu để thu phục nhiều khán giả.
Túy Phượng đóng kịch rất hay. Sau khi Kim Cương, Vân Hùng và Túy Hồng tách rời khỏi ban Dân Nam thì cô thay thế Kim Cương thủ những vai thương cảm nồng cốt của vở kịch. Túy Phượng không có duyên với điện ảnh. Cô đóng vai nhì bên cạnh Kim Cương trong Duyên Bích Câu do Hoàng Anh Tuấn đạo diễn và Nhạc Lòng Năm Cũ do Lê Mộng Hoàng đạo diễn. Tuy nhiên, cô không ăn ảnh, lại không có chỗ để diễn xuất nên bị Kim Cương nhận chìm. Buồn cười nhất là trong phim Duyên Bích Câu, cô đóng vai người kỹ nữ vào một triều đại xa xưa mà nói toàn những lời hiện sinh làm khán giả cười ngất! Trong phim Thạch Sanh Lý Thông, Túy Phượng thủ vai công chúa Quỳnh Nga, cũng không tạo được thành tích vẻ vang nào. Túy Phượng có yêu một sĩ quan cao cấp đẹp trai tên Minh. Nhưng rất tiếc ông ta có vợ cái con cột. Đùng một cái, bà vợ ông ta bị ai đó ném lựu đạn vào nhà. Thế là ông thiếu tá kia bị tình nghi giết vợ. Sau vài cuộc điều tra của bót cảnh sát, ông ta bị tống giam. Bên vợ của ông vì nghĩ tình lũ cháu mồ côi nên xin cho ông được phóng thích dù họ căm thù ông không để đâu cho hết.
Trong bữa tiệc do Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu khoản đãi các văn nghệ sĩ tại Dinh Độc Lập, Túy Phượng níu áo Vua Thiệu, xin vua ban đặc ân cho người yêu của cô. Ít lâu, ông Minh được phóng thích.
Kể từ khi chính thức làm vợ của ông sĩ quan bị tình nghi giết vợ kia, Túy Phượng lu mờ dần trong giới trình diễn.
* Ngọc Giao, Đỗ Tuấn:
Đây là hai chàng ca sĩ xuất thân dòng khoa bảng. Thân phụ hai anh là nhà chí sĩ Đỗ Đình Đạo và cũng là nhà cách mạng đồng thời với các ông Luật sư Trần văn Tuyên, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Văn Lang Trần văn Ân. Vào thuở thiếu thời, trừ Nhất Linh ra, ba nhà ái quốc nầy đều có khuôn mặt khôi vĩ và tuấn tú.
Dưới thời Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí, ông Đỗ Đình Đạo làm giám đốc Cơ Sở Quân Thứ Lưu Động. Nhiệm vụ của cơ sở nầy là bình định và nới rộng các khu vực do phe Quốc Gia kiểm soát. Bọn Việt Minh vừa sợ vừa căm thù cơ sở nầy nên dùng nữ sĩ Thụy An làm gián điệp và gài bà vào cơ sở nầy để giết ông Đỗ Đình Đạo. Khi chài bẫy được ông Đạo và trở thành nhân tình của ông, bà Thụy An yêu ông, không nỡ xuống tay hạ thủ ông. Nhưng “lịnh trên” lại thúc giục và hăm dọa bà. Cho nên sau cùng, bà bỏ thuốc độc vào tô phở để đầu độc người tình của mình rồi bỏ trốn khỏi căn nhà mà cả hai chung sống trong thời gian yêu đương hạnh phúc. Ông Đỗ Đình Đạo chết trong căn nhà đó, khi thi thể ông bị hư vữa thì mới được lân lý phát giác.
Từ năm 1964, khi dọn về ở xóm Đình Phú Thạnh, gần tòa Đại sứ Căm-bốt, chị em tôi thỉnh thoảng qua viếng nhà ký giả Tùng Sơn vốn là hàng xóm của chúng tôi. Căn gác của anh dùng làm tiệm hút. Ở đây có nhiều nhà văn và ký giả nằm kê đầu lên chiếc gối sành để đi mây về gió. Anh Tùng Sơn sau khi hút đã đời, thường kể cho chúng tôi nghe chuyện tình giữa ông Đỗ Đình Đạo và nữ sĩ Thụy An bằng giọng ai hoài.
Ngọc Giao và Đỗ Tuấn đều giống cha ở diện mạo khôi ngô. Ngọc Giao tên thật là Đỗ Đình Giao có khuôn mặt trắng trẻo và đẹp như ngọc, đẹp như tài tử Rudolph Valentino. Giọng hát anh trong trẻo, ngọt ngào và vang vọng sang sảng. Chưa ai hát bản “Ai Xuôi Vạn Lý” của Lê Thương tuyệt vời như anh. Giọng anh mỏng như lụa the, nhưng bền dẻo như thép và sáng vằng vặc như trăng rằm, càng lên cao càng vang lộng. Đã vậy chuỗi ngân lại đều đặn và óng ả. Mỗi khi hát, anh như rót từng đợt suối mát vào tâm hồn người. Tuy đẹp trai
và ca hay, nhưng anh không xuất hiện trên sân khấu. Ngọc Giao là sĩ quan cao cấp trong ngành Quân Cảnh và cũng là chồng của nữ ca sĩ Mai Hân. Nhưng khi qua định cư bên Mỹ, cả hai lại rã nhau. Mai Hân hiện giờ định cư bên Cali, cộng tác cho chương trình Việt ngữ của đài phát thanh bên tiểu bang ấy.
Đỗ Tuấn tên thật là Đỗ Đình Tuân, đẹp trai và hát hay không kém Ngọc Giao. Trong khoảng 1955 đến 1960, anh hát thường xuyên cho đài Sài Gòn. Anh không vì ca hát mà bỏ phế việc học. Những bản âm hưởng nhạc bán cổ điển như “Ngọc Lan” của Dương Thiệu Tước, “Dạ Lai Hương” của Phạm Duy, “Xuân Ly Hương” của Phó Quốc Lân đều được anh hát thật điệu nghệ. Đôi khi anh song ca với Kim Tước các bản nhạc vũ trường vui nhộn. Khách sành điệu thường đợi chờ lúc Ngọc Giao và Đỗ Tuấn cất giọng lên cao, giọng tuy xé lụa
mà không gắt, và trái lại ngọt ơi là ngọt như cam Cái Bè, như mận Trung Lương nghe sướng tai biết ngần nào!
Đỗ Tuấn khi qua bên Mỹ lấy được bằng Tiến sĩ Văn Chương. Anh có nhà xuất bản Văn Khoa và tiệm sách Văn Khoa. Năm 1988, anh xuất bản quyển truyện dài Đêm Chong Đèn của tôi. Ngọc Giao và Đỗ Tuấn có người em gái tên là Lĩnh Mai. Lĩnh Mai kết hôn với họa sĩ tài hoa và nổi tiếng Nguyễn Trung. Ngoài ra, đứa em trai út của họ là Đỗ Đình Phương nổi danh ở ngón đàn Tây-ban-cầm tuyệt kỹ, trước năm 1975 thường trình diễn trên đài Truyền Hình Việt Nam hoặc trên các sân khấu Đại nhạc hội.

* Duy Trác:
Tên thật là Khuất Duy Trác, một giọng hát già dặn và gợi cảm. Làng ca nhạc Việt Nam có bốn giọng trầm. Đó là Dạ Chung, Ngọc Long, Duy Trác và Sỹ Phú. Nhưng trong các giọng trầm chỉ có giọng Duy Trác gợi cảm nhất. Tiếng hát anh trầm và dội sâu, lại thừa hơi để ngân nga. Những bản nhạc của Đoàn Chuẩn & Từ Linh và những bản có chỗ xuống trầm như “Nhắn Gió Chiều” của Nguyễn Thiện Tơ, “Chung Thủy” của Văn Phụng đều là những bản để anh trổ tài. Anh hát chẳng những tròn tiếng mà còn diễn tả một cách truyền cảm. Anh Ngọc hát giỏi, còn Duy Trác hát hay. Tiếng hát của anh chẳng những đầy vẻ nam tính và theo nếp chân truyền mà còn có cái quyến rũ thâm trầm và sắc đậm. Trước năm 1975, Duy Trác có cho giọng hát của mình thâu vào bang nhạc “Tứ Quý” gồm bốn giọng thời danh và sáng giá là Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác và Tuấn Ngọc. Duy Trác coi chuyện ca hát là chuyện phụ, chuyện giải trí. Anh cố công ăn học để trở thành thẩm phán tòa án. Dù được nhiều ban nhạc ở Đài Truyền Hình mời xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, dù nhiều ông bầu tổ chức Đại nhạc hội mời trình diễn trên sân khấu, nhưng Duy Trác một mực từ chối. Trong xã hội Việt Nam, một ông thẩm phán ca hát đã là hơi kỳ kỳ rồi, nếu “ông ta” lại xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu và trên màn ảnh Tivi thì lại còn kỳ cục tới đâu. Khi ra hải ngoại và định cư ở tiểu ban Texas (Hoa Kỳ), Duy Trác bảo rằng sở dĩ anh không xuất hiện trên sân khấu hoặc trên Tivi là tại anh không dạn dĩ trước mắt công chúng. Đó chỉ là một cách nói chống chế thôi. Xã hội chúng ta ở trong nước đâu được phóng khoáng như xã hội trong cộng đồng của người Việt ở các tiểu bang của Hoa Kỳ. Vả lại khi ra ngoại quốc, Duy Trác đâu còn là một ông thẩm phán nữa, mà là một kẻ tị nạn mà thôi. Lớp sóng phế hưng và vận mệnh điêu linh của đất nước cùng cuộc sống trên đất tạm dung đã xóa nhòa một Duy Trác thẩm phẩm để nhường chỗ cho một Duy Trác ca sĩ chiếu sáng. Nhưng than ôi, trên một băng hình do Thúy Nga sản xuất, Duy Trác xuất hiện với mái tóc nhuộm đen cẩn thận, nhưng trông mặt anh thật tang thương, dù nó còn giữ một vài nét khôi ngô và trí thức đi nữa. Tuy nhiên giọng hát của anh vẫn không hề mất phong độ, vẫn mặn nồng gợi cảm như vào thuở hãy còn là tiếng hát của thời thanh xuân thơ mộng xa xưa. Theo tôi, thôi thì anh nên hát thâu vào băng nhạc và vào dĩa nhạc là hơn.

* Duy Khánh:
Đây là một giọng hát khỏe và truyền cảm. Kể ra về sắc vóc, Duy Khánh hồi còn thanh xuân cũng khá bảnh trai, nước da sáng hồng, mặt mũi có nhiều nét hài hòa. Duy Khánh hát dân ca khá đạt, với điều kiện là anh đừng thả giọng cung văn nhiều trong lúc diễn tả bài hát. Giọng anh sang sảng và vang dội, thật nồng ấm, như rải tràn ngập sân khấu và hí viện chất men say đắm. Giọng anh cũng hợp với những bản blues. Tiếc thay, nhiều lúc cao hứng anh thả cái giọng lơ lớ của dân ca miền Trung vào những bản nhạc mà anh trình bày làm người nghe có cảm tưởng anh bỏ mắm nục mắm nêm quá tay vào những món ăn thanh tao. Và cũng tiếc thay, chuỗi ngân của Duy Khánh lại bén nhọn như răng cưa. Nhưng dù sao, đối với quần chúng, giọng hát anh ngấm sâu vào tâm hồn họ, ngấm sâu sắc và bền bỉ vào cả một thế hệ khán giả trẻ tuổi trong ba thập niên 50, 60 và 70. Trong ba năm chót của thập niên 50 và trong ba năm đầu của thập niên 60, anh cùng Thanh Thúy, Lệ Thanh chiếm hàng đầu về mục ăn khách ở các hãng dĩa, ở sân khấu Đại nhạc hội.
Duy Khánh có một thời là chồng của Tuyết Mai. Anh sáng tác nhiều bản nhạc nổi tiếng như “Ai Ra Xứ Huế”, “Lối Về Đất Mẹ”, “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” … Có lẽ chỉ có bài “Ai Ra Xứ Huế” là đạt đủ tiêu chuẩn nghệ thuật hơn cả.
Anh hát bài “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” thật hay, làm cho tác giả bài hát ấy (Phạm Duy) rất khoái tỉ khi ngồi nghe anh hát. Những bài âm hưởng nhạc Huế như “Nhớ Huế” của Lê Mộng Nguyên, “Tiếng Xưa” và “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước được anh diễn tả rất đạt. Và có lần, tôi được nghe anh hát bài “Đường Chiều” của Hồng Duyệt và bài “Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu” của Phạm Duy vốn là hai bản blues cũng rất thống khoái.
Nói gì thì nói, dù giọng Duy Khánh ưa pha đục ngầu mắm nục mắm nêm, nhưng nhiều nhạc sĩ có tài năng vững chắchoặc nhiều nhạc sĩ gà mờ phải biết ơn anh. Nhờ anh mà loại nhạc âm hưởng dân ca của họ mới được mọi lớp quần chúng biết đến. Duy Khánh chỉ có cái nhược điểm là không thể trình bày sành điệu một ca khúc âm hưởng nhạc bán cổ điển mà thôi. Anh mở đường cho nhiều ca sĩ sau nầy như Chế Linh, Anh Duy.
Có một dạo, mỗi khi Duy Khánh chường mặt lên Tivi là bị nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang viết những câu khích bác anh ở mục “Điểm Mặt Tivi” trên tuần san Minh Tinh. Tức quá anh nhắn nhe qua mấy anh ký giả chơi thân với Hoàng Hương Trang, thách Hoàng Hương Trang đối thoại với anh về vấn đề âm nhạc. Chị Trang không nhận lời mà còn bồi thêm một câu ở mục “Điểm Mặt Tivi” rằng: “Xin nhắn ca sĩ Duy Khánh, nếu có chường mặt trên Tivi, nhớ vẽ đậm cặp chân mày, kẻo không khán giả có cảm tưởng khuôn mặt anh trắng và phèn phẹt như tảng bánh đúc”. Tức quá, Duy Khánh thuê một anh ký giả nổi tiếng là ác ôn côn đồ viết một bài chửi chị Hoàng Hương Trang rằng với sự nghiệp văn nghệ chẳng có gì, với tuổi nghề viết báo chẳng có là bao, với kiến thức âm nhạc thì cạn mỏng, nhưng chị dám giở trò láu cá với một nghệ sĩ thâm niên như Duy Khánh. Từ đó, chị Hoàng Hương Trang mới hết dám đá động tới Duy Khánh nữa.

* Hùng Cường:
Đây là giọng ténor vừa cao vừa khỏe. Anh xuất hiện trong làng ca nhạc từ năm 1955. Anh ưa hát những bản nhạc có nhiều chỗ lên cao như “Tiếng Dương Cầm” của Văn Phụng, “Vọng Ngày Xanh” của Khánh Băng, “Mộng Đẹp Ngày Xanh” của Hoàng Trọng. Thuở anh mới bước vào làng ca nhạc, đa số thính giả hơi khó chịu vì khi lên cao anh rống dữ dội. Nhưng họ có biết đâu đó là giọng dũng mãnh, khi lên cao vẫn hát tròn tiếng (pleine voix) và thừa hơi để ngân nga. Hùng Cường “đô” con, lại tập thể dục thẩm mỹ nên có bắp thịt đẹp. Nhận thấy Tân nhạc không thể nuôi sống mình nên anh tập hát Vọng Cổ và đầu quân cho gánh Ngọc Kiều do cặp Hoàng Kinh và Ngọc Đán làm giám đốc. Chính ở lãnh vực mới nầy giúp tên tuổi anh đi sâu vào quần chúng. Về sau, vào thập niên 60, tên tuổi anh chói lọi trên các sân khấu cải lương như Kim Chưởng, Dạ Lý Hương v.v … Anh trở thành một danh tài ngành nầy đồng hạng với Hữu Phước, Thành Được, Thanh Hải … Cải lương chi bảo Bạch Tuyết là bạn đồng diễn lý tưởng của anh. Tuy hốt bạc bên cải lương, nhưng anh không bỏ tân nhạc và thường song ca với Mai Lệ Huyền những bản ca tụng lính thật quấy nhộn.
Song song với kịch trường và tân nhạc, Hùng Cường còn đóng phim Bạch Viên Tôn Các bên cạnh Kim Cương, Chân Trời Tím bên cạnh Kim Vui và Mộng Tuyền, Điệu Ru Nước Mắt bên cạnh Thiên Trang, Nắng Chiều bên cạnh Thanh Nga và Phương Hồng Ngọc, Mãnh Lực Kim Tiền bên cạnh Thanh Nga, Mai Lệ Huyền. Hùng Cường về sau quen hát loại nhạc kích động nên khi hát những bản nhạc tình anh vẫn giữ thói ụa mửa, gào rống, nhún tới nhún lui và quậy phá lung tung làm kẻ sành điệu phải nhăn mặt. Bớt điệu, bớt ẹo và bớt phá phách, bớt làm quỷ làm yêu thì đây là một giọng hát rất hiếm quý. Bản “Hàng Hàng Lớp Lớp” của Nguyễn văn Đông được anh cùng Hà Thanh hát và thâu vào dĩa nhựa làm khách mộ điệu phải say sưa. Bản “Ông Lái Đò” của Hiếu Nghĩa và bản “Mấy Dặm Sơn Khê” cũng của Nguyễn văn Đông được anh diễn tả cực kỳ truyền cảm.
* Thanh Thoại, Hồng Phúc:
Thanh Thoại hát thật lâu, suốt 20 năm có lẻ mà vẫn không nổi tiếng. Bởi tiếng anh không có gì đặc sắc, làn hơi không phong phú, chuỗi ngân rời rạc. Anh có một thời hát chung với Tuyết Nhung, nhưng vẫn không làm ai chú ý. Sau đó, anh cùng Phùng Trọng và Hoàng Long lập ban Tam Ca Số Dzách, bắt chước theo ban A.V.T. hát những bản hài hước theo điệu chầu văn. Ban Tam Ca Số Dzách cự đương không lại ban A.V.T. nên rút lui sớm. Về sau, Thanh Thoại làm nghề chuyển âm cho tài tử Trần Quang trong các cuốn phim do Trần Quang đóng.
Hồng Phúc cũng ca nhiều năm trên đài Sài Gòn, đôi khi anh cũng xuất hiện trên sân khấu Đại nhạc hội, nhưng vẫn không nổi tiếng. Anh cũng thường song ca với Tuyết Anh những bản dân ca kiểu mambo trên làn sóng điện, nhưng vẫn không làm khán thính giả bốn phương chú ý.
Hồng Phúc có giọng hát tinh luyện hơn giọng Thanh Thoại, dàn trải làn hơi thật nghề, ngân nga thật rựa ràng. Thật ra, giọng anh không lảnh lót. Đây là một giọng lu chìm, mềm mại thì có, vang lộng thì không. Dù giọng ấy có âm sắc đẹp, nhưng trên sân khấu Đại nhạc hội, nó không ăn micro. Đã vậy anh hát rất chân phương, không biết diễn tả sao cho hấp dẫn. Xem và nghe anh hát, khán thính giả chỉ muốn anh hát cho mau hết để nhường tiết mục trình diễn cho ca sĩ kế tiếp. Tuy nhiên, trên làn sóng điện, thính giả sành điệu có thể thưởng thức kỹ thuật già dặn cùng âm sắc đẹp của anh khi anh hát những bản nhạc tình ướt át.
* Hoàng Cầm:
Anh có một thời ra hát ở Đài Phát thanh Huế. Vào năm 1957, anh mới trở về Sài Gòn cộng tác với ban Dân Nam và song ca với Túy Phượng. Hoàng Cầm đóng kịch tạm được, ca hát tầm thường. Giọng anh không có gì đặc biệt. Khi đóng kịch thì anh thủ vai nhì bên cạnh Vân Hùng chuyên thủ vai chính. Khi Vân Hùng rút lui khỏi ban Dân Nam thì ông bầu Anh Lân không dám đôn Hoàng Cầm lên ngôi vị kép chánh mà phải mời Ngọc Đức về thay chỗ cho Vân Hùng. Hoàng Cầm rất đẹp trai, một vẻ đẹp của một người lai Âu. Khuôn mặt anh có những nét thô vụng xen với những nét thanh tú, nhưng sự kết hợp của chúng hài hòa một cách tuyệt vời. Đó là một khuôn mặt mát như lụa và sáng như gương. Khi anh cùng Túy Phượng xuất hiện trong các màn song ca thì khán thính giả trầm trồ không ngớt thần thái tươi tắn và rực rỡ như một vầng trăng sáng nguy nga của anh. Giọng anh cũng là giọng lu chìm. Anh ngân nga cũng không vững. Được một cái là với làn hơi không phong phú, anh biết dàn trải và xử dụng làn hơi ấy khá thuần thục. Cho nên không bao giờ anh hát gãy hay hát hao hụt làn hơi ở các chỗ hiểm hóc trong bài hát. Vào những năm 1962, 1963, thần thái của Hoàng Cầm lu mờ một cách thảm hại, anh lại mập mạp nặng nề. Anh đành giải nghệ sau đó ít lâu. Trước khi giảm sút dung nhan, anh có đóng một vai phụ trong phim Mười Năm Giông Tố bên cạnh Thẩm Thúy Hằng và La Thoại Tân, nhưng anh cũng không gây một tiếng vang nhỏ nhoi yếu ớt nào.
* Thúy Nga:
Người nữ ca sĩ nổi bật trong giai đoạn nầy là Thúy Nga. Chị xuất hiện trong ca giới nhạc trường bằng hào quang chiếu xa rộng, bằng cơn địa chấn chưa từng có, át đi ánh sáng danh vọng của Thái Thanh và của Ngọc Cẩm trong một thời gian khá lâu. Thúy Nga có dáng dấp nữ sinh hơn là một nghệ sĩ: khuôn mặt dịu dàng phúc hậu, trang điểm kín đáo. Mái tóc chị buông xõa như tóc gái Huế, áo dài một màu thuần nhất, nhưng lại là màu nhạt hoặc màu nguội. Chị đeo nữ trang rất thanh nhã kín đáo, đôi hoa tai nạm ngọc lựu, sợi giây chuyền với cây thánh giá bằng vàng. Đặc biệt nhất chị ôm chiếc phong cầm khi xuất hiện trên sân khấu để vừa hát vừa đệm đàn. Dù lúc hát, chị không diễn tả nét mặt theo ý nhạc, không làm nũng với khán giả, nhưng tiếng hát chân phương ấm áp của chị thôi miên khán giả một cách dị kỳ. Họ nín thở để nghe chị hát, tâm trí họ hoàn toàn bị tiếng hát của chị chi phối.
Thúy Nga có giọng khàn đặc, nhưng đây không phải là giọng trầm contralto. Khi xuống trầm, giọng chị mỏng và bở rệt. Nhưng lần đầu tiên, khán thính giả nghe được giọng khan ở một người nữ nên họ chiếu cố đặc biệt. Tuy họ bảo đó là giọng vịt đực, nhưng giọng chị rất gợi cảm, tuy cách diễn tả bài hát đơn giản, nhưng nó có sức thu hút ma quái. Từ năm 1955 cho tới năm 1961, đây là thời đại hoàng kim Thúy Nga. Những bài dân ca theo thể điệu mambo của Lam Phương hay của Hoàng Thi Thơ nếu được chị hát qua vài lần là nổi tiếng
ngay. Cùng với đôi song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, Thúy Nga vô dĩa xối xả. Thúy Nga cắt mái tóc thề thơ mộng để uốn quăn. Đó là điềm chị sẽ đi lấy chồng. Phu quân của chị là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Sau đó, chị hát ở đài phát thanh nhiều hơn và xa lánh dần dần ánh đèn sân khấu của các buổi Đại nhạc hội. Ở trường hợp của Thúy Nga, câu châm ngôn “bạo phát bạo tàn” không phải là câu sai ngoa vậy. Chị đến vòm trời ca nhạc như một ngôi sao chổi, sự xuất hiện lộng lẫy huy hoàng khá ngắn ngủi. Sau chị, có những giọng khàn như các giọng Bạch Yến, Thanh Thúy, Phương Tâm, Mary Linh, Nhật Thiên Lan. Sau đó là những giọng Lệ Thu, Khánh Ly, Carol Kim, Cathy Huệ, Pauline Ngọc, Minh Xuân, Jenny Mai …
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.