Mùa Đông Giữ Lửa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 29 Dec 2025

Bài 2

Khu Kiên Giam

Trong nhiều năm dài bị giam giữ ngoài Bắc, ngồi miết với bóng tối, đôi khi anh phải bật cười vì những lẽ, ” … Sợ cái gì thì cảng dính cái ấy. “Sợ ở tù – Vâng, đã viết hẳn ra như thế (Dọc Đường Số I, Đại Ngã, đài Gòn 1969) thì lại bị ở tù kỹ hơn ai hết. Trong tổng số trăm ngàn, triệu người bị lực lượng Cộng sản bỏ tù, bức hại từ trước tới nay (kể từ 1945, khi hệ thống bạo lực Cộng sản nắm quyền trên một vài địa phương nước ta); nếu lấy khoảng năm, mười người điển hình chắc thế nào cũng có tên anh trong đám người tối thậm bất hạnh này. Nếu thua chăng, là kém phần khốn khổ so với Nguyễn Công Thành, Biệt kích kiên giam từ 1964. Chẳng biết giờ nầy sống ở nơi đâu? Chết khi nào? Thứ đến là “sợ đọc báo đảng, thì trước ngày vào kiên giam 1979, cứ tối đến là chong cây đèn hạt đỗ, ngồi đọc ra rả một hơi đến hai ba tờ báo đặc nghịt chữ, đầy những nội dung mà dù tay đang dỡ qua trang, mồm vẫn có thể ong óng “ … đồng chí x, y … uỷ viên bộ chính trị cùng các đồng chí lãnh đạo thuộc ban bí thư, thành uỷ Hà Nội, ban nghiên cứu lịch sử đảng, đoàn báo cáo viên …. ra sân bay đón đoàn ôm hôn thắm thiết thể hiện tinh đoản kết chiến đấu …. v.v“. Thêm những bài viết khô như rơm của Lê Nin, Lê Duẫn (gớm, không biết chữ đâu ra nhiều đến thế. Vừa đọc vừa rủa thầm). Đọc riết đâm … quen. Có thể viết lại, chỉ sai vài chữ, cái chấm, dấu phết!! Thế nhưng, hôm nay từ yêu cầu nghề nghiệp, phải đọc một hơi bốn, năm tờ báo Xuân của “đảng ta“. Hỏi thử gánh nặng cực hình lớn đến bao nhiêu? Nhưng chuyển họa thành phúc; anh tìm thấy ở trong những giòng chữ “sự thật” kia đủ điều hay ho. Sự Thật, tên nhà xuất bản và báo bình luận chính trị ở Hà Nội và bên … Liên Xô!! Thế nên, nhân thể “văn ôn võ luyện”, anh ở “Khu kiên giam” nầy hành nghề giáo dục để bước đầu có tiến bộ nhất định. “Chỉ khác, đối tượng bị cải tạo kỳ này là các “đồng chí đảng ta” Nào … Ta bắt đầu làm việc.

Thứ nhất, chúng ta điểm về chính trị, giềng mối của tất cả sự việc – Sức mạnh của “đảng ta.” Và từ, với sức mạnh này “ta” sẽ thực hiện mục tiêu chung cuộc: “Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội công bằng, văn minh”. Cụm từ nầy đúc kết trong lời phát biểu của Võ Văn Kiệt tại kỳ họp thứ 6, Quốc Hội khóa IX. Vâng, cái mục tiêu đó, không những đẹp mà lại “thơm” (chữ của Phạm Văn Đồng trong Đại Hội Văn Hoá Toàn quốc 1948); như thế thì ai có thể cãi vào đâu được nữa. Nên chúng ta hãy xem thử người cầm quyền tại Hà Nội đã làm những gì để “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.”

Nói như thế này tức đã chấp thuận tiền đề: “Mục tiêu của Đảng và Nhà Nước là như thế; vậy ai phê phán, chống đối Đảng, Nhà Nước tức là “không muốn” dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.” Đấy, bạn đã thấy người Cộng Sản (mấy trự lãnh đạo đảng khôn ra gì chưa). Thế mà cứ bảo là “cán ngố”!! Phe ta có ngày vỡ mặt như đã từng bị rất nhiều lần. Để xác nhận và giải thích nguyên nhân đưa đến thành quả mạnh (về chính trị này), Trần Văn Giàu, lý thuyết gia của Đảng “giáo dục” theo đường vòng từ xa, với bài viết đầy tính “trí tuệ.” Xin lưu ý bạn đọc một lần, chữ nào người viết đặt trong ngoặc đơn, in nghiêng hoặc in đậm là của người cộng sản chứ không phải từ tư tâm, tư ý. Qua bài “Những yếu tố nào trong Văn Hoá Văn Lang để nước này khỏi bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc”, giáo Giàu phân giải: “Nước Văn Lang là một thực tế lịch sử, một nước bền vững lâu dài, có bờ cõi, chế độ xã hội, phong tục tập quán riêng của mình”. “Nước” này sở dĩ tồn tại được, thoát khỏi áp lực đồng hóa mạnh mẽ của văn minh, văn hóa Hoa Hạ (trung tâm văn hoá đã tác động toàn cõi Ngũ Lĩnh và Nam sông Dương Tử, bởi đã hội đủ, thực hiện các điều kiện:

– Đã có một thực thể nội tại liên kết bền bỉ – “Nghĩa Đồng Bào”- Thể hiện qua câu thơ

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương.

Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

– Từ đầu nguồn, Dân Tộc đã có tính hợp nhất, hiện thực qua việc tổ chức 15 Bộ nên thành một “khối thống nhất” chứ không phải chia năm xẻ bảy như những dân tộc khác ở sơ kỳ dựng nước. Ví dụ như chiến tranh giữa người Troy và Hy Lạp và có tham dự của các vị thần theo hai phe. Chuyện thần thoại nầy phản ảnh phân hóa xã hội của văn minh Địa Trung Hải, (kém xa so với “ta” ngay từ đầu).

– Thứ ba, trong quá trình dựng nước và giữ nước, xuất hiện liên tục “những anh hùng dân tộc vì nước quên mình”. Ví dụ, đánh xong giặc Ân, Thánh Gióng bay ngựa về trời chứ không ở lại trần gian “làm vua”. Đây là một “sức mạnh văn hóa tinh thần tinh tế”, nhuần nhuyễn chứ không là sức mạnh bắp thịt, bắn cung tên thô tục kiểu Hercule, Samson. Sức mạnh này cao quý và sâu sắc hơn nhiều so với cung cách gồng bắp thịt tầm phào của bên Tây. Để tăng thêm “sử tính” cho Gióng (gọi Gióng là để nhân gian hóa, quần chúng hoá chứ không phải vì trịnh thượng, hỗn hào), ông giáo thay vì cho “kẻ thù” của Gióng là giặc Ân (như trong cổ tích, truyền thuyết) nay trở thành quân Nam Hạ củaTần Thủy Hoàng. Chuyện Gióng thuộc “thời đại Hùng Vương”cách chúng ta 4,000 năm, nên có cụm từ “4,000 năm văn hóa”

-Thứ tư, qua truyền thuyết (vẫn chỉ là truyền thuyết) Lạc Long Quân diệt Hồ Tinh, Mộc Tinh, Ngư Tinh, “Lịch sử Việt Nam” (Thú thật khi dùng cụm từ này bản thân chúng tôi cứ ngờ ngợ làm sao, sẽ giải thích sau) chứng thật luôn có mặt hàng loạt “Anh Hùng Dân Tộc” sẵn sàng “Trừ Bạo An Dân.”

-Thứ năm, cuối cùng. “Nước” Văn Lang thay vì thờ các vị thần vớ vẩn (Kiểu Thần Zeus ở Hy Lạp; Jupiter của La Mã … Hoặc các Ông Trời như Jehovah, Allah … ) thì chỉ thờ “tổ tiên mình” và các “Anh Hùng Dân Tộc” của mình (Nghe nói đi nói lại cứ sốt cả ruột vì dân tộc ta quả thặng dư … “anh hùng”).

Vâng, bài viết phân tích sâu sắc trên vì quá nồng nhiệt nên bị hai điểm quá đỗi “tích cực,” thay vì “tiêu cực” như người cộng sản thường phê bình và tự phê. Đấy là: Vì e ngại khi gọi kẻ thù của “Gióng” (nghĩa là của dân tộc ta) là giặc Ân, có vẻ không được oai. Vì “giặc Ân” là chú Ba Tầu nào, quả thật không ai biết! Nên giáo Giàu phải “thay màu da xác chết”

– Đổi quân bạ lũ giặc vô danh kia thành “quân Nam Hạ của Tần Thủy Hoàng”. Tức là lão giết người, chôn sống học trò, tịch thu “văn hoá phẩm phản động,” lùa dân đi “cưỡng bách lao động” xây Vạn Lý Trường Thành – Việc làm sai trái này bị tất cả “nhân dân tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới lên án và phỉ nhổ”. Lính của y chắc chắn phải là tụi … “ác ôn, có nợ máu với nhân dân.” Thế nên, cho “chiến sĩ Gióng” đánh bọn “xâm lược Nam Hạ” ắt đạt thành tích lẫy lừng, đáp ứng “mục đích yêu cầu của cách mạng giải phóng dân tộc” hơn.

Nhưng khổ thay, đời Hùng Vương (Theo Ủy ban Nghiên cứu Thời đại Hùng Vương của Uỷ ban Khoa Học Xã Hội Hà Nội) cách chúng ta 4,000 năm mà đời anh vua phản động Tần Thủy Hoàng chỉ ở Thế kỷ thứ Hai trước Công Nguyên. Lính của anh vua này làm sao đánh được với Gióng hở trời?!

Vậy, chúng ta kiến nghị: Kiếm ngay một đám “Trung Quốc bành trướng xâm lược” khác cho Gióng. Nhưng,

muốn Gióng có một kẻ thù thích hợp, đúng tầm cỡ như thế thì gặp trở ngại, ông Giang Trạch Dân vừa thăm Hà Nội tháng 11/1994, và ông này có thể đã “đồng ý với quan điểm” của Tần Thuỷ Hoàng trong chính sách đối với sinh viên học sinh qua vụ Thiên An Môn tháng 5/1989!! Thế nên, biết đâu đây cũng là một cách chơi xỏ, vừa chửi được Tần Thủy Hoàng, vừa xách mé ông Giang. Nếu thế thì giáo Giàu thâm thật. Xứng mặt Nam Kỳ tốt nghiệp “Bắc kỳ điếm”. Cũng chữ của Giàu chưởi xéo mấy ổng ngoài Hà Nội, không phải chúng tôi.

Điểm tích cực thứ hai: Nói điều này ra thì e bị … chửi. Nhưng thấy phải thì cứ nói thôi. Ấy là hai câu thơ:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng.

Dù gan liều cách mấy cũng không thể bảo đã có từ đời … Hùng Vương(!). Bởi một lẽ giản dị, “Văn Lang không biết xuất hiện từ đâu? Chỗ nào? Và cũng không ai ghi, lại chưa có … chữ.” Vẫn là lời dẫn nhập của quý giáo sư. Tuy nhiên, bài viết vẫn đạt “mục đích yêu cầu” vì đã nêu bật chủ điểm: “Thời Đại Hùng Vương ấy có Thật” – Hiện thực hôm nay với thời đại Hồ Chí Minh. Bởi bác, (Lại “bác ta”, chứ không ai khác) đã nói:

Các Vua Hùng có công dựng nước

 Bác cháu ta có công giữ nước.

Khi bác đã nói tức ắt có. Bác thì còn sai vào đâu?! Giáo sư vì khiêm tốn không nói rõ ra mà thôi. Vậy nên, chúng ta phải trình bày đúng “mục đích yêu cầu” của bài viết với lời kết luận ngợi ca như thế này:

Từ Hùng Vương vào thời đại chúng ta Cứ như Hà Nội thẳng Mát-cơ-va Muốn được dân giàu nên nước mạnh Vượt biên đi Mỹ chớ qua Nga. Từ chuyện chính trị, tất nhiên ta tiếp qua hoạt động ngoại giao là mặt sống động sôi nổi của nó. Từ đầu năm, Thủ Tướng Singapore đến thăm Hà Nội (Tháng Ba); một ngày sau, ông Tổng Thống Mông Cổ, 3 tháng 3; cô công chúa Anne nước Anh ý hẳn buồn chuyện chồng con lại không coi lịch (hoặc không xem phim 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới) nên đi trùng ngày với Ông Thủ Tướng Singapore. Hay là cô này và ông kia có ý gì với nhau, hẹn gặp ở Hà Nội chăng (?). Đức Ông Claudio Celli của Vatican theo tiếp sau mấy ngày, 13 tháng 3. Và được đà làm tới, các ông Thủ Tướng Thái Lan, Tổng Thống Phi Luật Tân, Thủ Tướng Slovaquia, Chủ Tịch Lào, Thủ Tướng Mali … Và cuối cùng, Hoàng tử Phillipe của Vương Quốc Bỉ, ngày 6/12/1995. Bạn đến ta, thì ta đi thăm bạn. Đỗ Mười đi Malaysia;

Lê Đức Anh đi Indonésia; Nguyễn Thị Bình đi năm nước Châu Phi và Pháp; Nông Đức Mạnh đi Tầu, 2n; Võ Văn Kiệt đi Campuchia, Singapore và Myannar; Phan Văn Khải, Trần Đức Lương và Nguyễn Khánh đi Ba Lan, Brazil, Canada, Hung, Roumanie, Singapore, Tầu, cuối cùng Nguyễn Mạnh Cầm luôn “trên đường đi”. Xin bạn đọc đừng sốt ruột, chúng tôi đã bỏ, lược đi rất nhiều. Bởi thế nào bạn cũng tự hỏi: “Quái, đi và đến gì lắm thế ?” Bởi ngày xưa (lúc còn ở Bắc Kỳ với vi-xi), như vừa nói ở trên, anh đã phải hành nghề “đọc báo”, tức là ngồi đọc ra rả cho một đám tù khổ ngủ gật nghe suốt hai giờ vào mỗi đềm (gọi là giờ học tập) nên đâm quen với những hoạt động, nhân vật, chức chưởng, cơ quan … “Nhận lời mời của trung ương đảng ta, đồng chí phó chủ tịch hội nghiên cứu và báo cáo của ban chấp hành trung ương đảng nhân dân cách mạng … Đã đến thăm nước ta. Cùng đi với đoàn có các đồng chí … Uỷ viên trung ương đảng, bí thư thứ nhất ban nghiên cứu lịch sử đảng nhân dân cách mạng … ” Và cứ thế kể đến người cuối cùng của đoàn. Xong qua phần thứ hai của bài viết thế nào cũng có đoạn “Ra sân bay đón đoàn có đồng chí Nguyễn … , uỷ viên trung ương đảng, bí thư thứ nhì ban nghiên cứu và báo cáo; thứ trưởng bộ … ” Và cũng kể đến người cuối cùng với đầy đủ tên, đảng cấp, chức vụ. Xong “ta” có kết luận: “Các em bé thủ đô đã dâng lên (chủ tịch, bí thư v.v … ) bó hoa tươi thắm”. Mô tả lượt về, cũng nội dung trên với kết luận: Các đồng chí lãnh đạo đảng và nhà nước đã ôm hôn các đồng chí trong đoàn thắm thiết, biểu hiện tình đoàn kết chiến đấu (có thể thay đổi vài chữ tùy theo đối tượng đón, đưa). Sau quá trình đọc báo kia anh có ý nghĩ: “Ở Hà Nội ắt hẳn phải có những người chuyên hành nghề “Đón và tiễn đoàn” và không biết chính quyền ấy làm thế nào để luôn “điểm hẹn lại lên sân bay đón đoàn” liền tù tì như thế (Điểm Hẹn Lại Lên – Tên cuốn phim do Nhà Nước làm, chiếu cho cả nước xem sau 1975). Tưởng là ý nghĩ tầm phào quấy quá, nào ngờ hôm nay trên tờ báo có kể các cuộc đi, đến vừa nêu trên có xuất hiện một nhân vật. Trước khi nói đến kẻ kia, chúng tôi xin kể câu chuyện để bạn đọc lưu ý … Ngày xưa, cũng không xưa bao nhiêu, khoảng 1945-1954, ở Hà Nội có thằng ma bùm rất nổi tiếng, coi chừng đến nay nó vẫn còn ăn khách, bởi chắc một điều, nó trên tay hẳn những trự già nua ngoài Hà Nội, những “anh hùng” chợ Đồng Xuân, Ô Đông Mác, Khâm Thiên, Bắc Bộ Phủ, Quán bà Mâu … Những chỗ dơ dáy, chơi bời của Bắc Kỳ kiểu như Ngã Ba Chuồng Chó, Cầu Hàng trong Nam vậy. So sánh như thế để có ý niệm cơ bản thôi, chứ những nơi chốn miền Nam tư cách hơn hẳn. Trở lại chuyện thằng ma bùm kia, sở dĩ nó nổi tiếng là từ vị thế một đứa câu ếch, đánh dậm ở nhà quê, nó “tiến về thủ đô“, hành nghề nhặt banh tơ-nít, lần hồi biến thành “anh hùng dân tộc”, có công làm cho “đế quốc thực dân Pháp” phải kiêng nể “ta”, đến nổi nhà nước phải trao “huân chương kháng chiến hạng nhất”. Tưởng đỉnh cao sự nghiệp của nó đến đấy thì thôi, nào ngờ, tham vọng của nó không chỉ luẫn quẫn chung quanh cái bờ hồ như kẻ tiền bối của nó, một thằng vô lại khác, nhưng rất biết điều đối với những “hạnh phúc đủ tiêu chuẩn nhất định”, đấy là thằng Chí, Chí Phèo, người tình của chị đàn bà “có dáng dấp của gã đàn ông không đẹp trai”, thị Nỡ- Một mẫu người đàn bà “hoàn chĩnh mang vóc dáng thời đại, người đàn bà của giai cấp công nhân, của nhân dân giác ngộ – Giác ngộ cách mạng – Là giai cấp ưu tú, siêu việt nhận nhiệm vụ lịch sử giao phó của “đêm hôm trước cách mạng”, đào huyệt chôn bọn tư bản dẫy chết”. Mẫu người đàn bà nầy hiện thực một cách sâu sắc qua những “chiều kích của thời đại chúng ta” như chị Minh Khai, Kan Lịch, Út Tịch, Giáp thị Thập, Nguyễn thị Định … Những người đàn bà đã thề nguyền “còn một lai quần cũng đánh Mỹ … ”. Khổ quá, đang nói chuyện thằng ma bùm nhưng chúng tôi đã đi quá xa đến mấy mợ cái, điều nầy xẩy ra là do thiện chí muốn báo động đến cùng cộng đồng người Việt ở Mỹ, đồng thời nói cho cả người Mỹ, “Đừng tin những gì cộng sản nói … “- Chúng tôi chỉ mượn nửa câu nầy thôi cũng đủ, bởi vì qua thực tế đã xẩy ra ở Việt Nam từ 1960 (Đại hội đảng lần thứ Ba để quyết định đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực) và đánh giá “đế quốc Mỹ là kẻ thù của dân tộc ta, của nhân dân ta…” cho đến nay, tựu trung tiếng, lời người cộng sản không thay đổi – TRƯỚC SAU NHƯ MỘT. Xin nhấn mạnh, họ nói chứ không phải chúng tôi. Chúng tôi chỉ lập lại một cách trung trực “từ lời văn đến nội dung” (Như Lê Đức Thọ, Nguyễn thị Bình, Trần Văn Trà, Võ Đông Giang cam kết thi hành Hiệp Định Paris 1973 vậy). Thế nên, đến đây có một điều nghịch lý bày ra: Hoặc người cộng sản ở Hà Nội nói LÁO – Hoặc, chúng ta, người Việt không cộng sản và người Mỹ TIN LẦM- Hai điều phải có Một. Chúng tôi nói chắc như thế. Bạn tự xét ra hà tất phải bàn thêm. Tiếp tục chuyện thằng vô lại điếm đàng kia, nó ma mãnh hơn cả người đẻ ra nó đã nghĩ đến. Từ Hà Nội nó theo các chú “bộ đội giải phóng” vào tiếp quản Miền Nam, chứ không chỉ riêng Sài Gòn; Sài Gòn do chính đích thân nó đặt “chỉ huy sở”. Tại đây nó “đổi tên”. Nhấn mạnh lại lần nữa, đổi tên chứ không đổi họ, bởi một điều giản dị – Nó là con hoang- Do một chị chàng (kiểu mẫu đàn bà như vừa kể trên) gá nghĩa cùng một tên du thủ du thực nào đó (có thể là một tên săng-đá đi lính thuỷ hoặc làm bồi cho tầu Tây đã đến Việt Nam hồi đầu thế kỷ). Vào Sàigòn, nó đổi tên, thật cũng không hẳn đổi tên mà chỉ đổi cái “hí danh” từ trước đến nay vẫn bày ra nguồn gốc khốn cùng, cướp giật, ăn cắp vặt của nó; và cuối cùng nó ra … báo!! Nhưng bởi chữ nghĩa không nhiều (Đặc trưng chung của toàn thể những kẻ gọi là “lãnh đạo” hiện nay ở Hà Nội, kể cả cái ông bác của họ). Dị ứng với sách vở là một nét ưu việt, sáng tạo tính của “đảng ta”. Không tin, quý vị cứ dồn mấy chục tập của “Lê Nin toàn tập, Lê Duẫn toàn tập, Hồ chí Minh toàn tập, và Staline … một tập”, chúng ta sẽ thấy ra chỉ khoảng vài chục cụm từ được lập đi lập lại đến nổ con mắt nhỡ đọc phải. Vào phần dẫn nhập, chúng tôi có nói đến chuyện đã thuộc lòng loại chữ nghĩa trời gầm kia, ắt đến đây quý vị hẳn nên hiểu là lời nói thật, và cái thằng lộn giống ấy trong khi chuyển qua nghề làm báo, nó không hề dấu được “bản chất lẫn hiện tượng”, bằng cách ghép cái tên nó nhặt được khi hành nghề lượm banh ở sân Nhà Hát lớn Hà Nội năm xưa với một cái “nghề” mà bất kỳ ai ở Việt Nam nghe qua cũng phải đi đến gốc cây … Hoặc bà mang thai gần ngày sinh rất có hy vọng đẻ non. Tờ báo của thằng ăn hớt lịch sử nầy có tên “Xuân Công An“, thay thế cụm từ đã được người Việt Nam dùng như một biểu trưng của lưu manh tính : “Xuân Tóc Đỏ”. Nhà Văn quả là Tiên Tri. Tóc mầu đỏ thì còn ai ngoài nó?!

Vũ Trọng Phụng thánh thật. Kính phục ông. Trở lại chuyện tờ báo “Xuân”, trong đó có lời “khen” của Thủ Tướng Indonesia “Việt Nam như cô gái đẹp đang tuổi vuân, mọi người cứ dành mà đến?! ” Không biết lời khen này thật hay xỏ lá, chỉ biết (qua tờ báo): “Ở Hà Nội chưa kịp gỡ tấm bảng khẩu hiệu (banderole) đón đoàn này thì đoàn kia đã đến”. Nghĩa là đoàn trước vừa vào nhà khách thì đoàn sau đã qua cầu Sông Hồng lên Bến Nứa. Thế nên, cô công chúa Anne được đọc băng chào mừng bằng chữ Mông Cổ “Hân hoan chào đón Ngài Tổng Thống và Phu Nhân”. Âu là một dịp cho cô nàng học thêm ngôn ngữ mới. Thì cũng là chuyện “tốt thôi”. Và :ũng trên tờ báo kia, có bài viết của một tác giả, tên là “Thợ Họp.” Ông “thợ” này có giỡn không? Chắc chắn không, chúng tôi xin cam đoan như thế, vì căn cứ trên chức vụ, công tác của anh ta gồm “Trưởng khoa, kiêm rưởng bộ môn, kiêm giáo viên chủ nhiệm, ủy viên ban quản lý khu tập thể, phó ban bảo vệ (khu tập thể) và đội rưởng đội bảo vệ … ” Với chức vụ đa năng nặng nề như trên, lẽ tất nhiên người này phải đi … họp. Và “quá trình họp” phải được hoạch định như thế nào để “xuống họp” tiến qua “sang họp”, chuyển “tới họp“, để nên … tiếp họp” cốt làm sao để động tác “đi họp” được giảm thiểu tối đa. Và quá trình họp phải theo diễn tiến gồm “hai bước“:

a. Bước thứ nhất-Trước khi họp: Lên kế hoạch-Dự trù chi phí-Dự thảo nội dung-Duyệt danh sách (Danh sách đại biểu đi họp- Từ đề nghị của “Thợ Họp” và xin duyệt danh sách ấy (Bởi giới chức cao hơn ông thợ), v.v ..

b. Bước thứ hai-Sau khi họp: Phổ biến sơ bộ (nội dung, kết quả buổi họp)-Họp bàn triển khai thực hiện (kết quả vừa nêu)-Triển khai chính thức: Sơ kết bước 1; sơ kết bước 2 … Tổng kết: Họp phê bình, rút ưu khuyết điểm, đẩy mạnh công tác (do, từ, của “quá trình họp” vừa kể). Đọc đến đây chắc thế nào các quý vị cũng phải kêu lên … “Biết rồi khổ lắm nói mãi..!!. ”. Chúng tôi có thêm cảm giác rờn rợn bởi điều tiên tri chính xác, còn ai ngoài Vũ Trọng Phụng với miêu tả bản chất của “đảng ta” nơi đất Bắc, ở Hà Nội đúng hơn thế nữa?! Đúng từ tên gọi cho đến tiếng lời. Đi xa hơn, chúng ta phải cúi mình trước các cụ đời xưa (Chẳng biết là xưa đến cỡ nào, chỉ đoán chừng khoảng trước sau 1945, ở Bắc (Vâng, cũng chỉ Bắc Kỳ mới có thôi; Trung, Nam kỳ đừng hòng !!), xuất hiện một tên lơ láo, chỉ nhìn vào mắt y người ta đã có cảm giác ghê ghê như khi đứng gần đứa giết người; ta nghe ra mùi máu từ hơi thở đến tiếng lời đầm đìa xác chết, thây ma. Kẻ vô lại nầy trân tráo nhảy chồm vào đời sống lịch sử với một cái “tên” cũng không hề nói thật; khi lấy tên Tầu, khi mang tên Xiêm; có cả tên Nga La Tư … Đến với người Việt, đồng bào cùng tóc đen máu đỏ, những người cùng một dạ sống chết, đem cả sinh mạng ra cùng với y; hỏi “Ông là ai?” … Hắn ta chỉ cười cười làm ra điều khiêm cung, “ … Tôi ý à, tôi là “Bác thằng Bần” ấy mà ... “. Thằng Bần? Thằng Bần nào? Hoá ra là cái thằng chứa thổ, “đổ hồ“, không một lần nghe kể ra cha mẹ, chỉ thấy khai trong căn cước một lý lịch bẩn thỉu, “có lão bác hành nghề cờ bạc lậu !”.

Các cụ quả thấy … suốt!! Chúng ta chấm dứt những chuyện rác rưởi nầy ở đây. Nhưng, “Đón và công tác tiễn đoàn” cũng như “Tranh thủ mọi điều kiện; động viên mọi phương tiện; khắc phục mọi khó khăn; tận dụng mọi khả năng để tiến hành một cuộc “họp” đạt mục đích yêu cầu”, thì dù thành công đến bao nhiêu cũng chưa cụ thể hóa mục tiêu “dân giàu nước mạnh” được. Vậy “đảng và nhà nước ta” phải làm gì? Bạn đọc cùng chúng tôi sang phần thứ hai.

VỀ KHẢ NĂNG THU HÚT 20 TỶ USD VÀO NĂM 2000.

Một tỷ là một ngàn triệu; một trăm Đô-la được tính hơn một triệu đồng Việt Nam. Số tiền 20 tỷ này quả rất lớn. Nhưng khổ thay, giả sử nhà nước Hà Nội có nhận đủ tiền đầu tư, thì các công ty ngoại quốc, người nắm giữ nguồn tài chánh lớn lao kia lại chỉ muốn, “tập trung vào việc xây cất khách sạn và các công tác dịch vụ” –

Trả lời của Đỗ Mười với báo Thanh Niên. Lẽ tất nhiên Đảng và Nhà Nước không thụ động. Những người cầm quyền mở ra phương hướng giải quyết và chắc chắn thâu đoạt thành công: Ta khai mỏ dầu hỏa – Nguồn vàng lỏng màu đen nằm dưới đáy thềm lục địa Việt Nam – Ta chỉ cứ thế mà đào lên. Nhưng khổ thay, (lại khổ nữa) tính từ thùng dầu đầu tiên, 1986 đến nay có được 27 triệu tấn và mỗi ngày, trung bình nhà nước thu vào 30 tỷ đồng Việt Nam (tương đương 3 triệu Đô-la) thì kết quả đưa đến (của năm 1994) chỉ thâu được 900 triệu USD, nghĩa là lỗ 150 triệu so với dự trù!! Thế thì tiền lỗ ấy lấy đâu bù vào?! Ta đã đánh thắng ba đế quốc lớn, ba kẻ thù “xâm lược hung ác nhất của thế kỷ” (Các ông Pháp, Mỹ Nhật, đừng cáo buộc chúng tôi ác miệng, nhắc những từ ngữ không hay. Chúng tôi chỉ lập lại khẩu nghiệp của người cộng sản (sẽ trình bày nơi những phần sau của bài viết này). Thế thì việc kiếm ra tiền để làm giàu nào có khó chi. Hãy xem các “đồng chí đảng ta làm giàu”.

“Trời của ta, đất của ta … ” Rừng vàng biển bạc, lẽ tất nhiên là của ta. Vậy thì đồng bằng sông Cửu Long kia ta cứ tập trung sức người, sức của, nguồn lợi tất yếu từ đất ta ắt đoạt. Vì ở đây, “đồng bằng sông Cửu Long đã có kinh nghiệm lâu đời về cung cách canh tác độc lập tự chủ, cùng kinh nghiệm của 19.000 Tập đoàn sản xuất và hàng trăm Hợp tác xã sản xuất đã thành lập vội vã sau 1978, mà kết quả nông dân miền Hậu Giang phải thiếu gạo ăn trên vựa thóc lớn nhất Đông Nam Á”. Sau Đại Hội 6 (1984) nông dân đồng bằng sông Cửu Long được “cởi trói” và Việt Nam vụt trở nên anh khổng lồ lúa gạo sau hàng chục năm vắng bóng. (Từ 1926 đến 1936, Việt Nam xuất cảng đến 8,2 triệu tấn gạo, phần lớn của Đồng bằng sông Cửu Long). Sau hai mươi năm thống nhất đất nước, người cầm quyền Cộng Sản mới nhớ lại số liệu nàyvào năm 1990. Nhưng có một điều nghịch lý đã xẩy ra: “Nông dân lúa chất đầy nhưng không biết bán đi đâu”.

(Vì chỉ có một nơi bán với giá qui định bởi nhà nước thì nông dân lại không thích người khách hàng này). Họ đành chịu giữ lại và xẩy ra tình trạng “vật đổi vật” của thời kỳ kinh tế “tiền phong kiến,” đi đám cưới vác theo một bao bố giấy bạc. Cũng là kiểu năm 1945, 46 ở vùng “An toàn khu”, gánh một thúng “bạc cụ Hồ” đi mua miếng kẹo đậu phọng đường đen. Và dù có tận dụng tối đa sức người (coi như vô tận) thì miếng đất gọi là ruộng kia (cho dù là đồng bằng sông Cửu Long) cũng phải đến ngày kiệt cạn, nên Đảng lại có kết luận, hiện nay những khu vực thuần nông ở đồng bằng sông Cửu Long không thể làm giàu với mỗi cây lúa, vì chỉ phát triển theo chiều rộng và đi lên một cách chậm chạp nếu không nói là dẫm chân tại chỗ. (Báo Xuân Thanh Niên, trang 12, lại một “đồng chí Xuân” khác). Nhưng giả thử, nếu giải tỏa tất cả những trở ngại nêu trên thì Việt Nam vẫn mắc phải cái “noi” của các nước chậm tiến: Dân đông, tỷ lệ sanh đẻ hơn 3%, tỷ lệ lao động dùng trong nông nghiệp quá lớn (70-80%). Trong khi các nước phát triển chỉ dùng 15% và Mỹ thì không quá 6% thành phần lao động dùng trong nông nghiệp để nuôi 250 triệu người của họ, cùng 200 triệu người trên thế giới sống bằng lương thực, thực phẩm Mỹ. Con số 6% được thiết lập từ những năm 70 do Alvin Toffler. Tuy nhiên, thắng lợi (cho là có được) trên mặt nông nghiệp với hơn một triệu tấn gạo xuất cảng vẫn không thể là bảo đảm để dân giàu nước mạnh được?! Phải có một hướng tấn công khác dài theo 2,500 cây số đường biển với những đặc, hải sản của riêng vùng biển Đông. Nhưng, “cách khai thác tàn nhẫn với chất nổ, ánh sáng cực mạnh, kích điện, đã tàn phá bờ biển từ độ sâu 50 thước”, thì nguồn tài nguyên biển vẫn là một khoảng trống chưa có đáp số, vì hải sản ven bờ đã bị vét cạn, hải sản xa chưa với tới. Con số 1,6 triệu tấn hải sản trước năm 2,000 vẫn chưa “lên phương án giải quyết !” Đồng thời những “tín hiệu và số liệu tiêu cực” đã xuất hiện: Cá mòi, đặc sản của biển Việt Nam đã hoàn toàn biến mất dù số thuyền tuy được nâng cao (11,000 chiếc của năm 1993, thêm 1,000 tàu trọng năm 1994); trong khi đó hải sản đánh bắt từ 977,000 tấn hạ xuống còn 800,000 tấn và tôm, mực, những “mũi nhọn xuất khẩu” từ “40Kg/một tầu/một ngày(đêm)” nay chỉ còn 10Kg. Như vậy là thế nào?

Phải có một nguyên nhân khách quan, một yếu tố tiêu cực nào đó đã xẩy ra gây tác động xấu? Không thể nào chấp thuận tình trạng bất cân đối, người ở Sài Gòn mua xe Mercedes Benz với giá 70,000 USD trả tiền liền tay trong khi các em bé Phương, Trung, Dung, Hiền theo ông bà, cha mẹ và anh trai từ Nghệ An vào Đồng Xoài (Phước Long, tên mới là Sông Bé) kiếm sống. Ông bà, cha mẹ bị sốt rét ác tính lần lượt bỏ thân. Anh trai đi bán vé số nuôi em bị xe cán chết. Bốn đứa bé tuổi chưa lên mười ngồi ôm nhau nơi mái lá giữa rừng hoang, lã người chờ … chết đói. Đề nghị cùng ông S. Beckett sửa lại vở kịch, thay vì “En Attendant Godot” nên thành “Đói Đợi Đảng” và ông Sartre ra khỏi mồ, tập họp tất cả những cá nhân gọi là “trí thức lớn của nước Pháp, đồng ra tuyên cáo, xác nhận các ông đã tối tăm, ngờ nghệch, mắc lừa thằng vô lại, khi họp báo, biểu tình hoan hô trò giết người của nó năm 1968 … Đồng thời ném hết chữ nghĩa của ông vào thùng rác, chứ chẳng phải riêng một cuốn La Nausée”. Báo Công An Thành Phố (H.C.Minh)  phải cho người đến cứu trợ, đưa ba đứa nhỏ về làng cô nhi SOS Gò Vấp. Phải giải quyết tình trạng xã hội này, xã hội chủ nghĩa gì mà kỳ cục như thế? Cũng như phải giải quyết tình trạng “sốt xi-măng”, trong năm 1994 cả nước thiếu 1,5 triệu tấn và dự báo thiếu 1,8 triệu tấn vào năm tới. Như vậy làm sao xây dựng hệ thống cầu đường, hạ tầng cơ sở, các khách sạn, trung tâm du lịch để thu hút đầu tư ngoại quốc đang chực sẵn đổ vào?

Điển hình Ngân Hàng Xuất Khẩu Nhật Bản trong tháng 9/1994 đã nâng Việt Nam lên là đối tượng số Hai (sau Trung Quốc) để nhận tư bản của họ. Cuối năm 1992, Việt Nam đứng thứ năm sau Tầu, Mỹ, Indonesia, Thái, nay đã lên ưu tiên số Hai. Thật đáng mừng thay. Nhưng những anh tài phiệt ngoại quốc này hình như vẫn có một điều gì không thật (Dù Đảng ta vẫn luôn cảnh giác đối với bọn nhà giàu; lẽ tất nhiên với quan điểm giai cấp của Marx-Lenine chứ không do lời dặn Chúa Ky-Tô). Vì thực tế 1988, năm thi hành luật Đầu Tư, đã duyệt ký hàng ngàn giấy phép liên doanh sản xuất với 50 nước huy động số vốn 7,5 tỷ. Nhưng tính đến đầu năm 1994, chỉ thực hiện 836 hợp đồng với số đầu tư thực tế 2 tỷ (30% số vốn đăng ký). Tóm lại sau sáu năm thực hiện Luật Đầu Tư, kiếm được 780 triệu USD sản phẩm, nộp ngân sách 711 triệu và xuất khẩu 279 triệu. Hóa ra, liên doanh đầu tư với nước ngoài không phải là “Hoa thơm, cỏ ngọt” (chữ của “Xuân Công An Nhân Dân” trang 10; toàn là những thứ “Xuân” độc địa lạnh mình), mà phải trả giá khá đắt với 48 vụ lừa đảo gây thiệt hại 3,695,800 USD và 5,191 tỷ đồng Việt Nam. 48 vụ lừa đảo này có tỷ lệ bất cân xứng: 42 vụ do nước ngoài lừa ta và ta chỉ lừa lại được 6 phát. Tóm lại, ta không “điếm” bằng tư bản ngoại quốc. Hèn gì cụ Marx-Engels cứ dặn đi dặn lại phải coi chừng cái bọn khốn nạn gọi là tư bản. Nghĩ đến thiệt hại tội phạm kinh tế, với 83,9% do nước ngoài gây ra cũng đủ ứa máu, sôi gan, nhưng không buôn bán, hợp tác với nó thì còn ai vào đây?! Đồng chí Kim Nhật Thành đã nằm xuống, dân Bắc Hàn thực sự kêu đói; đồng chí Fidel kính mến (Người hứa cho vi-xi đến máu của mình ba mươi năm trước) ngày nay phải xuất cảng lậu dân qua Mỹ bằng cách đưa ra biển vì nuôi không nổi. Biết trông cậy vào đâu ngoài bọn tư bản tham tàn kia?! Ta phải tìm cho ra lẽ để năm 2,000 có được 20 tỷ Đô-la. Đây đúng là hoàn cảnh …

Ai đưa “ta” đến cảnh này,

Bên điếm Tư bản, bên xài Đô-la.

CHỦ NGHĨA KIÊU NGẠO CHIẾN THẮNG

Nhất định ta phải tìm cho được “kẻ thù” để chửi cho hả giận; cũng đồng thời giải thích cho dân nghe xuôi tai vì hiện tượng “tiến bộ khó coi” như trên vừa kể ra. Quả tình ta chỉ “bước đầu có tiến bộ nhất định.” Bước đầu thôi – Ta phải thành thật và khiêm tốn với mình. Còn mấy năm nữa mới chấm dứt thế kỷ 20, ta phải mau thành rồng, cọp, beo gì chứ cứ xếp “hạng thứ tư” từ dưới kể lên trong đám thế giới đói khổ thì quả tình quá chướng?! Có gì cũng là “cường quốc quân sự khu vực” đã từng chiếm đóng Lào, Camphuchia, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Nguy nhào”, đâu phải thứ xoàng xĩnh?! Nhưng sở dĩ “ta” phải mang tiếng một trong mười nước nghèo nhất thế giới này chính là do “cái gọi là Liên Hiệp Quốc” kia bầy nên trò “thống kê không sâu, sát“.

nước với “rừng vàng bể bạc, trai tuấn tú tài giỏi, gái trung hậu đảm đang, đi ra ngõ gặp ngay một đám anh hùng, do Đảng “thông minh, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo và táo bạo” lãnh đạo thì làm sao lợi tức tính theo đầu người hằng năm (GNP) chỉ được 230 Đô-la?! Tính như thế là láo … Liên Hiệp Quốc hãy coi chừng! (Đã có một giáo viên cao cấp trong giờ “lên lớp chính trị” có lời “giáo dục cơ bản” như sau: “liên hiệp quốc hay đế quốc cũng là một, chúng chỉ do bọn tư sản mại bản quốc tế trả tiền cho tập đoàn lính đánh thuê mũ nồi xanh). Tính như thế họa là tính lộn. Vì theo cục thống kê (rất chính xác và cũng thật khiêm tốn của ta) thì GNP của mỗi người Việt Nam phải là 810 USD và con số 2.000 USD cho năm 2.000 thật ra chỉ là số tối thiểu. Muốn có chỉ số chính xác thì phải tính tới “sức mua” của người dân nước ấy mới được. Làm sao tính ra số trứng vịt “đang và sắp đẻ“, hoặc cá tôm đang có trong đầm, lầy, ao lạch Miền Nam. 230$ thế nào được?! Tính như thế chỉ bày cái dốt, cái yếu của mình mà thôi. Bọn Liên Hiệp Quốc kia đúng là tay sai tư bản!!

Bài xã luận của Tổng biên tập Xuân Thanh Niên chắc chắn là phản ảnh đường lối phê phán đứng đắn của Đoàn ta, không phải là lời tầm thường, (đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí Minh, để phân biệt đoàn Lê-nin, đoàn Mao trạch Đông, đoàn Fidel … Như kiểu tổ chức của các đoàn Hitler, đoàn Himmler, đoàn Goering của phát-xít Đức ngày trước; cơ quan nôn luận trung ương của đoàn ta không gì khác hơn là báo của “đồng chí Xuân”).

Nhưng sở dĩ cơ quan quốc tế này phạm sai lầm bởi đã có kẻ thúc dục, giật dây, quyến dụ:”Đế quốc Mỹ với toàn bộ tham tàn, bóc lột của nó chứ không ai khác!“. Cái quốc gia này không khá chút nào cả. Từ vụ nhân viên phản gián cao cấp CIA, Almes làm gián điệp cho Liên-Sô chín năm không bị phát giác, đến sự kiện hai thằng khật khùng, Coorder lái máy bay Chessna oanh tạc và diễn trò Kamikasé xuống bãi cỏ (tháng 9) và Duran pháo kích vào Dinh Bạch Ốc bằng súng tiểu liên! Nước Mỹ đã đến hồi suy tàn, bởi nơi tượng trưng cho quyền lực và nền dân chủ kia thật ra chỉ là chỗ để những thằng bị bệnh tâm thần tuôn xả nỗi ức chế, tập dợt những trò phá phách ngu độn; cũng như cơ quan tình báo gớm ghê quyền lực kia hóa ra là vùng ẩn náu của đám gián điệp nhị trùng. “Người ta (Ai là người này?) nghi ngờ Nhà Trắng có còn là nơi tuyệt đối an ninh không? Nền Dân Chủ Mỹ thực sự đang bị bạo lực đe dọa”, Xuân Công An Thành Phố, trang 25.

Lo cho nước Mỹ đến thế là qúa hậu hĩ tốt bụng. Phải chăng “đảng ta” đang tính đến chuyện, nếu chính quyền Mỹ lỡ sụp đổ thì lấy ai trao căn nhà của Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thịnh Đốn lại cho chăng? Này đây, chính phủ Mỹ, CIA hãy học bài học cần kíp. Mười năm trước, 1984, tên Dương Văn Túy sinh 1962 ở xã Trung Hưng, huyện Mỹ Văn, Hải Hưng sau khi thi hỏng vào Đại học 1981, đành ở nhà làm ruộng. Nếu cứ ở yên làm anh nông dân tiên tiến thì “cuộc đời vẫn đẹp sao … tình yêu vẫn đẹp sao” như một bài ca thời trang cách mạng. Nhưng cái thằng ngu dốt này không biết do từ đâu xúi dục đâm ra bày trò phản động. Dùng phấn viết lên tường UBND xã Trung Hưng những câu cực kỳ khốn nạn kiểu “địt mẹ đồng chí đỗ mười!! ” Và thằng “tay sai đế quốc, tập đoàn phản động quốc tế” này lặn trốn sau thành tích “chống đối cách mạng” được hoàn tất. Trước ngày bầu cử Quốc Hội khóa XI, 1992, tên này do nhận được lệnh của bọn gián điệp quốc tế, tập đoàn chống Cộng ở nước ngoài (nói trắng ra là tụi Việt kiều ở Mỹ) lại lén lút tái lập hoạt động phá hoại an ninh xã hội, quốc gia. Tên Túy dán đến hai áp-phích (mỗi áp-phích viết những ba bài thơ … Thơ mới sang, chứ văn xuôi là xoàng) Những bài gọi là thơ kia có những nội dung cực kỳ sai trái, đáng trừng phạt như:

Bác Hồ có mỗi chòm râu,

Ta nay đem bán đổi bầu Cô-ca.

Hoặc:

Bác Tôn chỉ thích ăn cà,

Ông đem xuất khẩu đô-la lấy về.

Thế là trinh sát xã, an ninh huyện, hợp với đoàn Điệp Vụ đến từ Trung Ương phối hợp mở ngay cuộc hành quân truy quét bọn “phản động nằm vùng”. Lẽ tất nhiên bộ đội, công an ta tóm ra ngay thằng khốn nạn.

Ngày 29/10/1994 tên Túy ra tòa án Nhân Dân huyện Mỹ Văn. Để cảnh cáo những tên phản động khác (đám Việt Kiều ở Mỹ hãy lấy đó làm gương) Tòa phạt tên Túy 7 năm tù cộng thêm 3 năm quản chế tại địa phương (Xuân Công An Nhân Dân, trang 20).

Coi chừng nhá, những ông Việt kiều nào định về Việt Nam nói chuyện với Hà Nội, đề nghị giải tán Đảng Cộng Sản, chia quyền hành, hãy xem gương Dương Văn Túy, chỉ là một thằng cu ở đâu dưới quê còn bị phạt đến ra gì vì tội … viết bậy trên tường! Các anh đừng có hòng. Nhưng suy đến cùng, trường hợp tên Túy không hề là phản ứng của một cá nhân đơn lẻ. Túy chỉ có thể thực hiện những hành vi cực kỳ sai trái kia khi hắn ta đã được móc nối, điều động, hứa hẹn bởi những tổ chức phản động đặt bản doanh ở Cali, nơi quận Cam với cộng đồng người Việt luôn kích động hận thù dân tộc!! Đám người này (có khả năng) được trả lương bởi cơ quan (suy thoái) CIA như vừa kể trên kia cũng nên?! Nếu không, lấy tiền đâu để hội họp, hội thảo ra tuyên ngôn phản đối Đảng, Nhà Nước, Nhân Dân ta, hiện đang chuẩn bị cơ may, đón vận hội mới với thế kỷ 21 trước mặt. Tên Túy chỉ có thể là thành viên phong trào “Diễn Tiến Hòa Bình” khởi đi từ Mỹ. Không trật vào đâu được, Đảng ta nói chắc nịch như thế. Trong phong trào này điển hình có những người như Tú, một sinh viên Đại học Huế trong những năm 60 … Ngày ấy, năm 1967, khi phong trào ly khai nổi dậy ở miền Trung, người thầy giáo trẻ Hoàng Phủ Ngọc Tường là thủ lĩnh sinh viên Huế, với trái tim nồng nhiệt của tuổi trẻ ý thức dân tộc sâu sắc, Tường cũng như Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Quang Long … không thể nào chấp nhận sự hiện diện quân Mỹ trên đất nựớc mình. Tường và những “trái tim trẻ tuổi cách mạng Huế” tiến lên đưa ngực thanh xuân thách đố súng, đạn Mỹ-Ngụy. Hào hùng thay. Và Tú, người sinh viên trẻ, học trò của Tường thấy thầy trong lúc nguy cấp (khi lực lượng trấn dẹp phe ly khai từ Sài Gòn ra Huế, Đà Nẵng) đã đề nghị cùng thầy biện pháp hy sinh cao cả: “Che chở thầy dưới tấm áo giòng tu, giúp thầy trốn thoát lùng vây”. Cao quý biết bao trái tim tuổi trẻ Huế kiêu hãnh sắc son!! Hai mươi bốn năm sau đoạn trường chinh chiến thắng, Tường trở lại chốn xưa, vùng núi Bạch Mã (Thừa Thiên), nơi những con đường đầy bóng cây trong thành nội Huế, ở “Tuyệt Tình Cốc” của Tường và bằng hữu thuở tuổi trẻ tóc xanh … Những ngày phơi phới lãng mạn và cách mạng với thơ Ngô Kha, Trần Quang Long, tranh Trịnh Cung, nhạc Trịnh Công Sơn và … máu-Máu người!! Yếu tố sau cùng này Tường không kể vào bài viết-Tuyệt Tình Cốc, Xuân Thanh Niên. “Tuyệt Tình Cốc – Chỗ của “Trái Tim Cách mạng” Trong bài viết đầy thi, nhạc, và “cách mạng tính” ấy Tường đề cập đến Tú (người học trò của Tường ngày trước) như sau:” … Tú hoặc Kim, (NVK) đang tham gia nhiều tổ chức chống Cộng cực đoan (ở Mỹ), kích động hận thù dân tộc tới cùng. Tôi không ngờ đã có một người học trò dữ dằn đến như vậy. Sao lại thế? Quyền của Tú thôi. Dĩ nhiên. Nhưng đừng quên rằng, dù sao – Tú cũng đã có một thời cắp sách đến trường … ” Ông giáo Tường ngạc nhiên thật hay giả vờ ngạc nhiên về vụ Tú (NVK) “hung hăng kích động hận thù dân tộc ở Orange County, California?”. Chúng tôi không biết, chưa gặp ông K. này, cũng không biết mức độ “dữ dằn” của ông ta; nhưng tôi có thể trả lời Tường như sau:

– Nếu ông K. (Tú) kia phải tội hung hăng, dữ dần như thế thì không gì lạ-Học thầy nào thì ta phải bắt chước thầy ấy. Yếu tố này cũng để trả lời thắc mắc của Tường về việc K(Tú) dù hung hăng tới đâu chắc chắn cũng không hề đòi cắt cổ, mổ bụng ai. Tường, nhà văn, giáo sư, người cách mạng Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông có nhớ bạn bè, em ông (HP Ngọc Phan) và chính ông cùng cái gọi là “những trái tim trẻ tuổi Huế lãng mạn và cách mạng” ấy đã làm gì trong những ngày xuân Mậu Thân Huế, ngay chính trên đường Âm Hồn, nơi “Tuyệt Tình Cốc” của ông? Chiến hữu đơn vị tôi, Tiểu đoàn 9 Nhẩy Dù hôm nay sống đủ ở Mỹ. Và nhân chứng cụ thể chính xác nhất, Thiếu Tá Trương Dưỡng (lúc ấy, 1968, Trung úy Đại đội trưởng Đại đội 91, Tiểu đoàn 9), người bị thương nơi ngã Tư đường Âm Hồn và con đường chạy song song bờ hồ Tịnh Tâm, sẽ nhắc nhở cho ông một điều “Anh hãy nhớ đã một lần cắp sách đến trường … dạy học.” Riêng tôi có đề nghị, nơi chốn các anh lớn lên, đọc thơ, nghe nhạc, làm cách mạng và bị “tuyệt tình” đó nên đổi tên, phải đổi là “Tuyệt Tình Người” – Hãy cố làm người trước khi làm nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn và … “nhà cách mạng”.

Nếu Hoàng Phủ Ngọc tường qua bài viết nhắn nhe, dạy dỗ cộng đồng người Việt không được hung hăng và phải nhớ đã “được đi học.” Câu mắng mỏ xỏ xiên này “điếm” lắm! Nó không chỉ “chửi” riêng ông K (Tú) kia và đánh tất cả “bọn người Việt phản động” ở hải ngoại. Vì đau đớn thay, những người bị kẹt lại sau 30/4/1975, ai lại chẳng một lần đi … “học tập”. Anh Tường này khi viết như kia ý hẳn muốn nói: “Thằng nào chống Cộng hung hăng dữ dằn như kiểu ông NVK (Tú) kia là đồ „không học tập tiến bộ !!”

Vâng, thưa quý vị, các bác “điếm BắcKỳ” quả thật không ăn ai, chỉ mang tiếng nơi chốn vũ trường, bàn rượu với các em õng ẹo xanh đỏ thôi. Điếm Trung Kỳ, đặc biệt “điếm Huế” cứ luôn giả vờ dại dột, tẩm ngẫm, nhưng khi ra chiêu thì chỉ có nước … chết, không chết cũng vào ấp, mang cùm. Đống “hói” của Tổng hội sinh viên Sàigòn những năm sau 1963 là một điển hình. Ngày 30 tháng Tư, 1975, Đống đi xe đạp, mang băng đỏ, cùng Cung Tích Biền, Kim Cương, Nguyễn Trọng Thức, (trung uý hải quân, chồng K Cương buổi đó, thư ký báo Dân Chủ của Đảng trưởng Nguyễn Văn Thiệu, Bí thư Trần Thiện Khiêm …) đi lùng bắt “nguy văn, nguy thi sĩ, nguy ca, nguy nhạc … Kể cả nguy cải lương, nguy thầy giáo … ”. Đám nầy làm hăng đến nổi Vũ Hạnh phải xin can!!

Nhưng, ở đời lắm sự bất ngờ. Khi “điếm” nó tụt dần vô Nam, tới Sài Gòn thì “điếm tính” được tôi luyện đến mức tinh xảo, kể như toàn bích. Đây xin dẫn chứng. Anh Trần Bạch Đằng, tức Nguyễn Trương Thiên Lý hay Trương Gia Thiều hay Tư Ánh hay Tư Méo … Gốc Bắc Kỳ nhưng vào Nam từ trước 1954 có nhiệm vụ cấy hạt nhân Bắc Kỳ giữa đám kháng chiến Nam Bộ, đặc trách trí vận trong thập niên 60-70; chức vụ cao nhất là ủy viên Trung Ương, Bí thư Thành ủy Sàigòn-Gia Định. Nhưng, nếu anh Ba, Lê Duẫn với mặt nổi qua các chức Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ từ 1946 và Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam (gồm cả Cao Miên) khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành lập (1960) … thì anh “Bắc Kỳ Tư Méo” này là một cái thắng, một hướng đặc trách riêng kềm giữ, theo dõi Duẫn. Và khi được “Nam hóa” ở phương diện “ác và điếm” thì Đằng đã nên mức thượng thừa. Nguyễn Bình, Lê Duẫn sống lại chưa chắc hơn. Bởi lẽ Tư Méo “viết văn.” Mà nhà văn khi đã lên cơn đểu cáng, điếm đàng thì … hết sẩy. Quý vị viết văn, làm thơ lưu ý, chúng tôi dẫn chứng vụ việc Trần Bạch Đằng hợp với Trần Thời hay Hai Khuynh, Nguyễn Huy Khánh là chủ trì toàn bộ áp đảo văn nghệ sĩ miền Nam sau 30/4/1975. Phe ta, dân viết văn, làm báo, ca hát, kịch nghệ, cải lương trình diện đi học tập ở 110 Nguyễn Du (bây giờ là trụ sở báo Công An Thành Phố) theo diện “Văn Nghệ Sĩ” ắt hẳn đã nếm đủ nhục của những “lần lên lớp, giáo dục” do đám văn công, văn lại, cấp cao như Hai Khuynh, Tư Méo, Hồ Nam (Trần Văn Giàu…), sau tăng cường các quan văn hoa ngoài Bắc như Chế Lan Viên, Huy Cận vô thêm lời chưởi mắng, dạy dỗ. Cứ như vua đời xưa chửi quan hoạn, nô tì … Chửi từ tam đại đến mỗi “bài thơ” chưa làm(?), ý nghĩ chưa có!” Tất cả bài viết, sách in, tuồng tích, bản nhạc, lời ca trước 30/4/75 là “toàn thể sản phẩm đồi trụy phản động … Được hoàn thành theo lệnh của bọn tâm lý chiến Mỹ-Ngụy.” Ai không tin về Việt Nam, đi gặp Nguyễn Thị Thụy Vũ hẳn biết. Cứ xem trường hợp của Phạm Thiên Thư, Nguyễn Thị Hoàng thì hiểu ra. May quá, chúng tôi đi lính nên trình diện bên “khâu” bộ đội giáo dục. Đỡ bớt nhục. Đằng cũng là tay “bắn FM” (FM: xin viết và đọc “ép-em” thì tất hiểu ra) cự phách không kém Tám Thiệu phe ta. Hợp cùng Hai Khuynh trấn giữ dãy biệt thự đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu); Tư Méo và Hai Khuynh “điếm” bằng thích. Điếm suốt ngày. Điếm cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, Bắc Kỳ và Trung Kỳ điếm chắc chắn thua xa. Việc Tư Méo sẽ bàn rộng khi có dịp.

Bài viết này chỉ nói riêng về một khía cạnh độc đáo của y. Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường xỏ xiên lặt vặt với NVK (Tú) cùng với cộng đồng người Việt. Tư Méo chơi cha hơn. Dạy Mỹ và cả khối Tây Phương. Méo ví von: “Biến động đổi đời 1989, 1990, 1991 ở Đông Âu Liên Sô cứ như là Hồng Thủy kể trong Kinh Thánh.” Mà kể như “Hồng Thủy” cũng đúng. Todor Gipcov, N. Ceaucesscu, E. Honecker phút chốc trở thành những tay tội đồ lơ láo, hoặc một cái chết không toàn thây, hoặc không nơi ngủ đỗ cuối tuổi già. Staline màn vén lên bày ra một tay giết người ghê tởm nhất nhân loại và dần dà Mao Trạch Đông cũng hiện nguyên hình một tên cuồng dâm đê tiện, không tắm rửa, không đánh răng (Không biết bao giờ đến “lãnh tụ kính mến Kim Nhật Thành” và cái gọi là “bác thằng Bần” kia. Chắc cũng gần thôi. Chúng tôi cóthể nói mạnh như thế). Cơn Hồng Thủy cuốn trôi tất cả những tượng đài, những bệ thờ … Đống đá vỡ vụn bức tường Bá Linh bị hốt đi như một thứ rác rưởi bẩn thỉu cần được mau chôn vùi, thiêu hủy. Bão cứ nổi và biển cứ dâng, cơn hồng thủy đi qua, trên mặt đất điều tàn nước rút, phơi cạn đáy đại dương tan tác … Ông Nô-ê (Noah) thuở xưa nhìn quanh địa cầu trống vắng ngậm ngùi. Nhưng cơn hồng thủy cuối thế kỷ đi qua … “Ta vẫn là Ta“-Ta còn nguyên với “Tư Tưởng Hồ Chí Minh”,đỉnh cao trí tuệ con người toàn phần rực sáng:

Bốn ngàn năm Ta vẫn là Ta!!

Vâng, “ta vẫn là ta,” không ai có thể chen vào được. Bất khả thay thế. Kim cương bất hoại. Chắc như bắp, rắn hơn bo bo. Tư Méo viết: “Quả thật chúng ta ra khỏi trận Hồng Thủy an toàn. Điều mà cả thế giới hằng kinh ngạc. Hẳn, chế độ Cộng Sản Việt Nam không đổ dây chuyền theo, dù địa chấn cực cao, do những nguyên nhân hoàn toàn không thể lý giải rõ, liên quan đến lịch sử, đặc tính, tư thế Việt Nam, cơn người Việt Nam hiên tại, của Tư  Tưởng Hồ Chí Minh siêu việt, của Đảng Cộng Sản Việt Nam vinh quang. Bài ca “Chủ nghĩa Cộng Sản cáo chung” không trọn vẹn, dàn nhạc (các chế độ dân chủ Tây Phương, các lực lượng quốc gia Châu Á) phần nào cụt hứng. “Cái gọi là Việt Nam” nửa thế kỷ qua đâm nhói đau, hết thực dân cũ đến thực dân mới !!!” (Bài “Sau Cơn Hồng Thủy” trang 5, Xuân Thanh Niên).

Tóm lại, Tây Phương, nói trắng ra là Mỹ đừng để bị chứng “Triomphalisme-Chủ nghĩa kiêu ngạo chiến thắng” làm mờ mắt trước “đảng ta”. Đừng có hòng!! Thật sự Trần Bạch Đằng muốn nói câu này nhưng hơi mắc cở vì Mỹ vừa trả lại Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thịnh Đốn để “đảng, nhà nước ta” làm phòng liên lạc. Và, “đây là thắng lợi ngoại giao cực kỳ quan trọng của trí tuệ đảng, nhà nước ta sau quá trình cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Tư méo không nói ra, chúng tôi thêm vào cho đủ vế. Anh vừa thôi, đừng to mồm, lại là mồm méo!!

Nhưng nếu không được nói thẳng như trên, Tư Méo xúi đàn em chửi Mỹ. “Westmoreland, Tổng Chỉ Huy quân Mỹ và chư hầu bị thua trận và bị cách chức vì quân dân ta cho một đòn trí mạng vào dịp Tết Mậu Thân. Trong trận chiến 45 ngày, quân ta loại khỏi vòng chiến 147,000 tên ác ôn (có 43,000 quân Mỹ); xúi dục 20,000 quân Ngụy đào ngũ; bắn rơi phá hủy 2,370 máy bay; 35,000 xe quân sự; 368,000 tấn vật dụng chiến tranh; bứt rút 700 đồn, giải phóng 1,000 thôn và 1,200,000 dân (Xuân Công An Nhân Dân, trang 26, người viết MĐ).

Nhưng kể như trên với những số liệu quá độ như thế không làm cho Mỹ sợ, bởi lẽ, suốt cuộc chiến Việt Nam, Mỹ chỉ bị chết khoảng 58.000 người, thì ta không thể làm sao “giết kịp” để có thể đủ 43,000 xác lính Mỹ trong 45 ngày. Nghĩa là một ngày một ngàn người!! Hơn nữa, suốt hai đợt tổng tấn công năm 1968, từ tháng 1 đến tháng 5, tại vùng Sàigòn, lực lượng võ trang cộng sản chỉ đụng với một lực lượng an ninh Mỹ, một trung đội quân cảnh giữ Toà Đại Sứ, sau tăng cường một đại đội, cũng chỉ là lính quân cảnh. Mặt trận Huế, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ chỉ tham chiến cùng TQLC Việt Nam sau mồng 10 Tết. Và quả tình lính Mỹ đuổi bắt Việt Cộng hơn đúng nghĩa tác chiến quân sự. Nói kiểu bài báo kia là nói láo để dọa bà già con nít Mỹ mà thôi. Chúng tôi ghi lại đây những số liệu chính thức từ phòng Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu. VNCH, dẫn thêm báo Newsweek số tháng 2/1968. VNCH; tử thương: 3,5000; bị thương: 10,678; mất tích 543; tổng cộng 14,722 người. Phía Đồng Minh, chết: 2,832; bị thương: 15,832; mất tích: 352; tổng cộng: 19,016. Phía Cộng sản: chết 41,191; bị bắt 48,572 … Người Cộng Sản cũng quên ghi (không muốn thì đúng hơn) số thiệt hại của dân – Mà đây là thành phần thụ nạn đau đớn và oan uổng nhất. Này, Dân chết 14,300; bị thương 24,000; nhà bị phá hủy 72,000 căn; người tỵ nạn 627,000 người. Việt Cộng, các ông nhớ số liệu để viết báo kỳ tới, dịp khác. Kiểu hù dọa với những con số trên, một bài viết không nêu tên thật, quả tình không ăn ai. Xuân Công An xoay qua cách khác với “người thật, việc thật”. Người thật: Nguyễn Tài, tức Tư Trọng, Trưởng Ban An Ninh Sài Gòn-Gia Định, sau 1975 được hàm Thứ Trưởng Nội Vụ. Việc thật: “Theo chỉ đạo của Khu Ủy, thì nhiệm vụ của các chiến sỹ An Ninh T4 (tức Thành Ủy Sài Gòn, bí số trong giới An Ninh, Tình Báo) là phải diệt bọn đầu sỏ, nhằm hổ trợ cho quần chúng nổi dậy. Ngoài việc “Diệt Ác” ở nhiều khu vực thành phố, cảnh cáo những tên “chưa có” nợ máu với nhân dân. Trong những thành tích, đáng kể có vụ tấn công nhà tên Tướng Kiểm, Thủ Tướng Hương, đặt mìn Tổng Nha Cảnh Sát và rạp Quốc Thanh. (Xuân Công An Nhân Dân, trang 8). Vâng, rõ ràng các “đồng chí ta” đã khai ra thế đấy. “Chiến sĩ an ninh”, tức là dân đặc công chuyên nghề phá hoại và ám sát. “Diệt ác” tức là cắt cổ, mổ bụng người. Và rạp Quốc Thanh chắc chắn không phải là cơ sở Ngụy quyền, đồn bót Ngụy quân. Ông Nguyễn Ngọc Loan có thể mượn bài báo này để nói cùng thế giới và người Mỹ, “ … Cái thằng tôi bắn hôm Mậu Thân trong Chợ Lớn chính là một trong tụi “an ninh” chết người này. Tôi bắn một thằng nhằm nhò gì, nó nổ rạp Quốc Thanh sao không nói đi … ” Thế mới biết phe ta “điếm và ác” không thấm vào đâu so với vi-xi?! Hình như vẫn có rất nhiều người không nhận ra điều đơn giản này.

Nhưng, nếu trưng Nguyễn Tài, Tư Trọng ra cũng chưa oai. “Xuân đảng ta” đi tiếp bài của Trần Ngọc Hiền, trưởng cụm tình báo chiến lược, với đối tượng hoạt động là trí thức, sĩ quan cấp sao Sài Gòn-Gia Định. Hiền chỉ dạy: “Lịch sử chứng minh tình báo Pháp đã thua ta, tình báo Mỹ cũng đã thua ta. Tôi cảm nhận tình báo Mỹ còn đau lắm về chuyện thua Việt Nam và họ cũng chưa tìm ra lời giải vì sao họ thua.” (Xuân Thanh Niên, trang 53) Nói như trên kể ra “nặng ký” thật, nhưng nếu là người trong nghề (Nghề Mật Thám, xin nói rõ) người ta cười cho. Ông Hiền ạ, khi được trao trả lại Lộc ninh (Tháng 2, 1973) thì ông cũng phải hiểu ra: “khi một nhân viên tình báo bị bể thì giá trị của anh ta đã là gì rồi”. Nếu có thể qua Mỹ, ông đến tôi, chúng ta cùng đi gặp vài người bạn … Chy, ở DC; Gg, ở Seattle, những người này sẽ cho ông biết “Người Mỹ đã thua như thế nào.”

Cuối cùng, chúng tôi xin có lời thành thật bái phục các vị ở những tờ báo vừa trích đăng trên – Vì qua đó các Tổng biên tập đã chứng tỏ một khả năng “cách mạng giác ngộ” rất cao – Cao hơn bất cứ người “gọi là cộng sản” nào còn sót lại ở cuối thế kỷ này. Đấy là, các bài viết đã nại đến một đơn vị mà theo chúng tôi nghĩ không hề liên quan, trở ngại gì đến “công cuộc đổi mới đảng ta đang tiến hành”. Các ông đểu giã “gài” Chúa Trời vào. Cách “đánh” này rất cổ điển cũng rất cụ thể, ép-phê. “Đánh Chúa” bằng những người chơn chất yếu đuối, (Cũng như xúi những kẻ ngây thơ ném đá vào Người Khổ Nạn); những người mà Chúa luôn dành riêng chỗ thương yêu cùng trẻ con, người khờ … Apanh, chủ tịch Uy Ban Nhân Dân xã ở Sơn La có con gái là My. My không lấy chồng được vì “cái ấy” bị bít lỗ. Bà con trong xã nói kháy: “Vì Apanh theo cộng sản nên Chúa Trời nổi giận bít cái ấy của My”; kiểu như một anh y sĩ thẩm mỹ không quen nghề. Apanh tức quá bèn nói cùng Y Ngông Kieck Dăm, chủ tịch Ủy Ban Dân Tộc ở Quốc Hội Hà Nội. Y Ngông viết thư cho Nguyễn Thị Ngọc Phượng, bác sỹ Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, cũng là Dân biểu quốc hội, đơn vị Sài Gòn. Nhân ra Hà Nội họp, Phượng sơ khám cho My, hứa sẽ chữa lành cái tật do Chúa phạt!! Apanh đưa con vào Từ Dũ, Phượng “đục” cho em My một cái lỗ. Em tôi đi về lấy được ngay một anh chồng. Chuyện xẩy ra hay như “Công chúa ngủ trong rừng” có kết luận với lời Apanh: “Nhờ Đảng đổi mới tư duy, bản làng chúng tôi từ nay quyết lấy khoa học đánh cái tà giáo”. Vẫn trò thô thiển dạy người thiểu số chối Chúa và cưỡng ép người vùng Bùi Chu, Phát Diệm bỏ Đạo như của thời kỳ 1945, sau 54 … Tính Ác khác tính Thiện ở hai chiều đối nghịch về tâm lý cũng như về lý luận. Một bên càng ngày càng Mới. Một cứ chậm chạp lăn về phía xưa cũ, lầy đọng. Những lời kể, cách thức dựng chuyện như trên được lập lại lần thứ hai với chị Chiền Thị A ở miền Tây, cũng với bác sỹ Phượng của bệnh viện Từ Dũ tham dự quá trình “cứu rỗi”. Đối tượng Phượng không phải được chọn lựa vô cớ; Phượng là bác sĩ Sài Gòn, người Công Giáo, học trường Tây. Dùng Phượng chống Chúa Trời là kiểu “gậy ông đập lưng ông.” Ai bảo Việt Cộng ngu và ác đâu? Ngu thì không rõ nhưng quả thật ác đã ra gì!!. Vâng, đến Chúa Trời mà người cộng sản cũng không tha thì huống gì chúng ta. Nhưng, sở dĩ chúng tôi viết nên bài này cũng không ngoài ý thúc dục của “đồng chí ta” Người này, Nguyễn Khải, đại tá, Tổng thư ký Hội Nhà Văn có họ hàng gì với bà Nguyễn Phước Đại, luật sư, dân biểu trước 1975 ở Sài Gòn. Tóm lại, đây là một “điển hình tiên tiến”– Công tử con quan, nhà giàu, học giỏi, kể cả xinh trai và nói giọng đểu. Ông này đểu lắm, chúng tôi nói chắc như thế. Đọc “Tháng Ba Tây Nguyên,” bút ký nói về việc đánh chiếm Tây Nguyên và tiếp theo tấn công về Sài Gòn của lực lượng cộng sản vùng Tam Biên thì rõ ra. Trong cuốn sách nầy, ông mô tả sĩ quan, tướng tá vùng II, Sài Gòn toàn là một lũ ngô ngẩn, ngu độn, tham ăn tục uống và không cả … đẹp trai. Phía cộng sản từ anh bộ đội đến người chỉ huy thì cứ như … rồng. Tuy nhiên, vì là kẻ “thắng trận cao cả”, với tấm lòng nhà văn rộng lượng, anh thương yêu tụi Ngụy quân, Ngụy quyền, đảng phái phản động ở miền Nam như Phật đối với chúng sinh. Mà cũng vì cái trần gian nó bé nhỏ mong manh, phận đời chìm nổi … Ghét làm gì tụi Ngụy thất thế, lỡ thời nơi cõi “nhân gian bé tí” này.

Vâng, từ ông nhà văn cao quý này chúng tôi nhận được lời khuyên: “Khi viết, anh nên nghĩ đến người đọc hơn là nghĩ về nhau … Đừng viết cái bạn bè thích, bạn bè sợ, bạn bè phục mà phải hướng đến đông đảo quần chúng”. Có gì anh cũng cầm bút hơn hai mươi năm, và các văn hữu miền Nam trước đây, hoặc ở Mỹ bây giờ, hình như chẳng bao giờ ai (dám) khuyên bảo gì ai. Thế nên, khi được khuyên như thế thì anh thấy như vừa nhận được điều gì quý giá lắm. Đấy là cảm nghĩ khi bắt đầu viết bài này, nhưng đến giòng chữ cuối này thì chợt nhớ:

“Quái nhỉ … Từ trẻ đến giờ mình có viết cho ai bao giờ đâu?! Miền Nam làm gì có ông chủ tịch, tổng thư ký hội nhà văn, nhà báo, làm gì có ông tổng biên tập, trợ lý, chủ đạo chính trị nào … Không viết cho người đọc, người mua sách mình thì viết cho … ma à. Vớ vẩn!”

Thế nên, chúng tôi có mấy câu thơ sau đây nhại theo Trần Mạnh Hảo, bắt chước Xuân Sách đề tặng ông và cái hảo ý cao đẹp của ông:

Một cõi Nhân Gian bé tí (1)

Mà Mùa (Hành) Lạc ông lâu

Được Chủ Tịch Huyện bố thí

Chức Tổng Thư Ký quá hời.

(1) Cõi Nhân Gian Bé Tí; Mùa Lạc; Chủ Tịch Huyện …

Chuyện của Khải.

Đầu năm 1995,

Lần bắt đầu lại.

Phan Nhật Nam


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment