Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 8 Feb 2026

Chương 18 – Giờ của Dương Văn Minh

Sau khi Tổng Thống Thiệu tuyên bố từ chức, thì nước Pháp đưa ra đề nghị giúp đỡ của họ. Tổng Thống Valéry Giscard s’Estaing ngả mũ chào “tinh thần trách nhiệm” của vị cựu Tổng Thống VNCH. Đối với tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn công tác cũng giản dị thôi: chỉ cần giới thiệu tướng Dương văn Minh vào vòng đua chánh trị để có thể tiến tới những cuộc thương thảo.

Theo Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn thuộc đảng Dân Chủ của tiểu bang Georgia thì sự ra đi của Tổng Thống Thiệu chưa phải là đạt được ngay việc thương thảo, mà chỉ mới là một khả năng có thể đưa đến những sự thương thảo mà thôi. Còn Nhà Trắng thì bình tĩnh xác nhận là người ta (Hoa Kỳ) không có đòi hỏi Tổng Thống Thiệu phải ra đi. Dĩ nhiên là có thể một người nào đó ở Sài Gòn đã đề nghị với Tổng ThốngThiệu…. Trong khi tiếp xúc với dân chúng, ông Tổng Thống Ford vẫn cố đổ hết trách nhiệm về mọi biến cố ở Việt Nam cho Quốc Hội.

Ngày 21 tháng 4, ông nói chuyện với các ông Walter Cronkite, Bob Schieffer và Eric Sevareid ở trên đài truyền hình. Luận cứ của Tổng Thống Ford rất là đơn giản: Quân Lực VNCH vừa đánh vừa triệt thối là vì Quốc Hội không chấp thuận viện trở quân sự đầy đủ cho Miền Nam Việt Nam. Nếu không có những sự triệt thối đó thì làm sao có hiểm họa như ngày nay?

Ông Ford còn đi xa hơn nữa, ông còn lo lắng về hiểm họa chiến tranh ở Trung Đông . Và sợ còn có một cuộc phong tỏa dầu hỏa nữa. Trên bình diện kinh tế trong nước có nhiều yếu tố phấn khởi như vấn đề lạm phát đã ổn định, chỉ số bán lẻ đang tăng. Nhưng Sài Gòn thì quá xa xôi….Tuy nhiên vẫn còn vấn đề di tản. Hiển nhiên vẫn còn sự bất đồng giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng . Người ta chống nhau vì có quá nhiều tiết lộ qua báo chí. Ông Bộ Trưởng Quốc Phòng cho biết là giờ này khó có thể xử dụng các phi cơ dân sự hay quân sự, mà bắt buộc phải dự trù một cuộc di tản bằng trực thăng, một cuộc hành quân rất là tế nhị. Vấn đề di tản người Việt Nam chưa được giải quyết. Ngoài ra ở Sài Gòn chánh thức thì các đơn xin di tản được tạm thời đình hoãn. Những người Việt Nam nào đến tòa đại sứ Hoa Kỳ cũng đọc được một thông cáo:

_ “Những yêu cầu có liên quan đến Cha Mẹ.

Vì có quá nhiều việc quan trọng phải giải quyết, nên tạm thời chúng tôi xin ngưng nhận đơn từ liên quan đến Cha Mẹ, Anh , Chị. Xin đừng xếp hàng ở đây nếu quý vị có nhu cầu về vấn đề này.

Hy vọng gần đây chúng tôi có thể nhận đơn xin liên quan đến Cha Mẹ, Anh Chi em…” Ông Kissinger gởi điện thư qua cho ông Martin:

_ “Khi nào sân bay Tân Sơn Nhứt nằm trong tầm hỏa lực của địch quân, thì các cơ sở thuộc Phòng Tùy Viên Quân Lực phải được di tản bằng phi cơ… Không nên, tôi nhắc lại, không nên ỷ lại vào sự di tản bằng trực thăng…..”

Ông Kissinger nhấn mạnh là không nên can dự vào những hoạt động ngoại giao mà người Pháp đang tiến hành. Còn về vấn đề can thiệp của Liên Xô?

_ “Chúng tôi có đề nghị một cuộc ngưng bắn tạm thời chừng hai tuần lễ … để di tản người Mỹ và vài người Việt Nam … “Đối diện, người ta hình như ngỏ ý” đó là một quyền lợi nghiêm trọng….nhưng cho đến giờ này vẫn chưa có trả lời”.

Tại Honolulu, Đô Đốc Noel Gayler, Tư Lệnh Chiến trường Thái bình Dương, đã quyết định lập một cầu không vận tới Sài Gòn. Các phi cơ vận tải C.141 làm con thoi ban ngày và các phi cơ vận tải C 130 vào ban đêm. Tại Quốc Hội, một cuộc tranh đấu mới về ngân khoản đã được tiến hành và Chánh Phủ cuối cùng đã được chấp thuận 160 triệu mỹ kim viện trợ kinh tế và nhân đạo. Ông Ron Nessen ở Nhà Trắng xác nhận là Tổng Thống tin tưởng rằng còn có khả năng và nhất thiết cần phải có được một tỷ mỹ kim cho Miền Nam Việt Nam.

Ngày 22 tháng 4:

Tổng bí thư Lê Duẫn nhân danh Chánh trị Bộ đã diện cho Văn Tiến Dũng và Lê đứcThọ như sau:

_ “Chúng ta phải tranh thủ, tính từng ngày…. Phải tấn công đúng lúc trên tất cả mọi hướng. Mọi chậm trễ sẽ có nguy cơ kéo theo nhiều hậu quả tai hại, trên cả phương diện chánh trị cũng như trên kế hoạch quân sự.”

Tổng bí thư đảng sợ rằng giải pháp chánh trị sẽ làm Bắc Việt mất đi một chiến thắng hoàn toàn quân sự. Không có người lãnh tụ nào quên được lịch sử của năn 1954, với một biên giới được áp đặt ở vĩ tuyến 17 cho hai nước Việt Nam.

Để tấn công vào Sài Gòn, tướng Trần văn Trà cho tập trung quân đội Bắc Việt trong những vùng tạm chiếm cho đến giờ này vẫn còn được bảo đảm an toàn: Chiến khu C ở Tây Bắc Sài Gòn, chiến khu D ở Đông Bắc, Khu Tam Giác Sắt ở phía Bắc, khu rừng U minh ở phía Nam, và các đơn vị thuộc CPLTCHMN ở trong bán đảo Cà Mau.

Tại Lộc Ninh, Lê đức Thọ, Văn Tiến Dũng với tư cách là Tổng Tư Lệnh, và Phạm Hùng như người chánh thức có trách nhiệm về chánh trị ở Miền Nam long trọng ký tên vào tấm bản đồ, trên đó đường tiến quân tới Sài Gòn của các Quân Đoàn Bắc Việt được vẽ màu đỏ. Hai ông Lê đức Thọ và Phạm Hùng là chánh trị viên, thì ở lại Lộc Ninh, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, là quân nhân, thì đóng Bộ Tư Lệnh Tiền Phương tại Bến Cát, ở phía Bắc Sài Gòn.

Tại Lộc Ninh, một anh chàng say mê chiếu bóng tên là Tiến còn nhìn thấy Lê đức Thọ. Anh biết nhân vật này lắm, anh rất bằng lòng. Anh nhận thấy là chung quanh Lê đức Thọ co rất nhiều nhân vật quan trọng. Nhìn thấy cách họ nói chuyện là biết ngay. Một sĩ quan đã nói cho anh ta biết nhiệm vụ của mình:

_ “Tôi phải điều khiển một toán chiến xa, phải dắt dẫn họ, nhất là khi chúng ta vào Sài Gòn.”

Tại Sài Gòn, ông Hương đang là Tổng Thống …. chậm chạp. Ông chỉ còn thấy lờ mờ. Ông bị chứng cao huyết áp và rối loạn nhịp tim. Ông quá lừng khừng trong nhiệm vụ Phó Tổng Thống, một nhiệm vụ rất là danh dự, thường ít lộ diện. Là một cựu giáo viên, ông đã từng là Thị trưởng Sài Gòn, Thủ Tướng trong một thời gian ngắn, và ứng cử viên Tổng Thống năm 1967. Năm 1968 ông Thiệu đã chỉ định ông làm Phó Tổng Thống để rồi một năm sau đó cho ông nghĩ việc và hai năm sau lại đưa ông trở lại đứng chung một liên danh.. Nặng về nghi thức, theo đúng Hiến Pháp, khi đã trở thành Tổng Thống rồi thì việc đầu tiên ông chú trọng đến là chỉ định và bầu bán trong Quốc Hội Lưỡng Viện. Tất cả đâu đó phải được an bài xong rồi ông mới chọn một vị Thủ Tướng. Ông Hương lộ vẻ bằng lòng vì một ngày ngay sau khi ông nhận chức Tổng Thống thì dân biểu Phạm văn Út, thủ lãnh khối Cộng Hòa, được bầu lên làm Chủ tịch Hạ Viện. Hạ Viện đã không có đầu từ khi ông cựu Chủ Tịch đã trở thành Thủ Tướng. Tổng Thống Hương lo lắng: tại sao người ta không đưa ra được một ứng cử viên vào chức vụ Tổng Thư Ký của Hạ Viện ? Thật là phiền hà, ứng cử viên duy nhất đứng đắn lại ở tận Cần Thơ. Ồ! mà vị tân Tổng Thống lại rất chú trọng đến việc Vương quốc Ô Man đã chấp thuận gởi một đại sứ đến Sài Gòn kể từ ngày 26 tháng 4. Mình phải gởi người nào đến Ô Man đây? Dường như ông Hương quan tâm về vấn đề hình thức của chính phủ của ông hơn là bản thân ông, cũng như chương trình tương lai của ông hơn là những viễn ảnh của đời ông.

Pháo Binh cộng sản đang bắn vào Long Bình. Cho tới giờ này, chưa bao giờ những khẩu đại bác 130 ly Bắc Việt được bắn vào căn cứ này, một trong những căn cứ quan trọng nhất vào thời của người Mỹ còn ở đây.

Một buỗi lễ cầu nguyện đã quy tụ những đại diện của bốn Tôn Giáo lớn là Công Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài ở tại nhà thờ Chánh Tòa. Thật là một cảnh tượng đẹp mắt, vì các vị lãnh đạo Phật Giáo Hòa Hảo mặc toàn đen đứng chung quanh Giám mục mặc toàn trắng và các nhà Sư Phật Giáo đắp toàn y vàng. Vị Đại diện chánh thức của Cao Đài không thể đi đến thủ đô được vì đường 22 nối liền Tây Ninh và Sài Gòn đã bị cắt đứt .Ở tỉnh Tây Ninh, các đơn vị của Miền Nam đã đẩy lui nhiều trận tấn công của Bắc Việt, điều này chứng tỏ rằng sự ra đi của Tổng Thống Thiệu không có ảnh hưởng gì đến binh sĩ của Miền Nam Việt Nam.

Về sự từ chức của Tổng Thống Thiệu, người ta ghi nhận là có nhiều bình luận mâu thuẫn kỳ lạ. Có nhiều người từng không ưa ông Thiệu, giờ đây lại khâm phục ông sau khi ông chửi Mỹ. Có những người khác thù ghét chế độ chuyên chế của ông Thiệu, tự hỏi rằng ông Hương sẽ có quyền hành tối thiểu nào? ông Thiệu vẫn ở trong Dinh Độc Lập, sẽ cố vấn giúp cho ông tân Tổng Thống , vị này sẽ có thái độ ra sao?

Quen nghề dạy học, ông Hương dường như hay lẫn lộn lời nói và hành động. Đọc một bài diễn văn trên đài truyền hình, ông Tân Tổng Thống chỉ cho phép phụ nữ và trẻ em được phép rời khỏi đất nước nếu họ muốn. Còn đàn ông thì họ phải ở lại Việt Nam và chiến đấu.

Tại phi trường Tân Sơn Nhất các phi cơ vận tải nối đuôi nhau. Các viên chức Hoa Kỳ lo về di tản làm việc ngay tại phòng thể dục để kiểm soát người tỵ nạn. Ngày 22 tháng 4, chánh thức có ba ngàn ba trăm người đã ra đi từ Sài Gòn trên các phi cơ quân sự Hoa Kỳ.

Ở Hoa Thạnh Đốn ông Kissinger đã đạt được một đạo luật giải tỏa hết chướng ngại cho vấn đề nhập cư áp dụng cho hơn 300 ngàn người Đông Dương , trong đó có 50 ngàn người Việt Nam xét thấy “có bị nguy hiểm đến tánh mạng”. Đây là một sự nhượng bộ quá tốt: vì theo chánh sách cô-ta, không một nước nào được quyền có trên 20 ngàn chiếu khán nhập cư trong một năm. Chỉ sau thời điểm của Vịnh Con Heo, đặt biệt các cơ quan di trú Hoa Kỳ mới chấp thuận 60 ngàn chiếu khán cho người Cuba.

Bây giờ thì ông Kissinger thấy rằng ông đại sứ Martin đã quá trì hoãn trong vấn đề di tản. Liệu có thể tin được một con số quá lớn người Miền Nam sẽ có thể thoát thân hay được di tản chăng? Liên quan đến những vấn đề được đặt ra theo đó gia đình người Việt Nam quá đông, ông Tổng Thống Ford đã thuật lại một câu chuyện vui trong một cuộc thảo luận ở Nhà Trắng:

_ “Một người Việt Nam đến trình diện ở tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn với 4 bà vợ. Người ta hỏi ” ông muốn bà nào đi với ông?” – Trả lời : – “Bà trẻ nhất ”.

Ở Sài Gòn người ta không tìm kiếm gì hơn ngoài một tờ chiếu khán của Hoa Kỳ

Thông báo trong tờ Sài Gòn Post:

“Tìm cha mẹ nuôi. Sinh viên nghèo, biết lao động:

_ Chu thị Mỹ Hồ, sanh ngày 2 tháng 10 năm 1954 ở Nam Định, căn cước số 00113070

_ Chu thị Tuấn Hòa, sanh ngày 12 tháng 10 năm 1958 ở Khánh Hòa, căn cước số 10796374”

Báo chí đăng thông báo tìm người đầy rẫy. Những người Việt Nam cố gắng tìm người Mỹ dân sự cũng như binh sĩ mà họ có quen biết. Vì những người này có thể bảo đảm, hay có thể đưa thoát họ ra khỏi Sài Gòn:

  • Muốn tìm lại J.T. Slotberg ….”
  • Ông Tom Westerling, ông hiện ở đâu?

Bất thình lình, người ta tưởng rằng có một sự ngừng tiếng súng. Điều kiện ông Thiệu phải ra đi đã được thực hiện, một điều kiện mà phía cộng sản đã từng đòi hỏi, như vậy là họ phải có một sự ngưng hoạt động về quân sự.

Ông Kisinger gởi cho ông Martin công hàm trả lời của Liên Xô, (có phần lưu ý qua cho vị đại sứ của mình rằng đây thật sự là lần đầu tiên mà ông ta thông báo chi tiết về các cuộc thương thảo cho một trong các thuộc cấp của mình):

_ “Sau khi nhận được công điện của Tổng Thống Hoa Kỳ đề ngày 19 tháng 4, gởi cho ông Leonid I Brejnev, Liên Xô đã có “những biện pháp cần thiết để liên lạc với phía Bắc Việt. Lập trường của phía Bắc Việt đối với sự di tản các công dân Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam được coi như hoàn toàn thuận lợi. Trong khi mở cuộc hành quân, phía Bắc Việt không có ý định làm trở ngại cho sự di tản đó.”

Bây giờ là các điều kiện thuận lợi đã có cho một cuộc di tản như thế rồi “Liên Xô đã nói rõ là phía Bắc Việt sẽ căn cứ trên Hiệp Định Ba Lê cho mọi dàn xếp chánh trị. Hà Nội không có ý định làm nhục Hoa Kỳ”.

Người ta tin tưởng là ông Ford không làm cho tình hình ở Đông Dương thêm quá căng thẳng. Hình như ông Kissinger đang bối rối. Ông ta đòi ông Martin phải cho ông biết xem ông Martin “nghĩ thế nào về sự trà lời của Liên Xô.” Ông Tổng trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ ước tính rằng người Mỹ có thể tiến hành cuộc di tản của họ và cả “cuộc di tản người Việt Nam” mà không gặp một trở ngại nào.

Ông Kissinger còn nói thêm là: Thư trả lời chỉ rõ là “CPLTCHMN sẵn sàng tiến tới các cuộc thương thảo theo công thức ba Bên”

Liệu ông Kissinger cũng bị đầu độc chăng ? Những tin tức đến từ Mạc tư Khoa xuyên qua ông Kissinger, và từ Hà Nội xuyên qua đại tá Hung gia Lợi đã trùng hợp nhau. Ông Kissinger yêu cầu ông đại sứ phải giảm thiểu con số người Mỹ ở Miền Nam Việt Nam đến con số 800 người trong vòng 4 ngày tới.

Chung quanh Tổng Thống Hương và đại sứ Martin. người ta bàn tán về hoạt động chánh trị của Chánh Phủ Pháp. Ông Jean-Marie Mérillon là thành viên duy nhất thuộc ngoại giao đoàn ở Sài Gòn đi dự buổi lễ cầu nguyện ở Nhà Thờ Chánh Tòa. Ở Ba Lê, Tổng Thống Valéry Giscard d’Estaing đã tiếp ông Jean Sauvagnargues, Tổng Trưởng Ngoại Giao, để bàn về tình hình ở Đông Dương. Rồi đến lượt ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Pháp tiếp kiến ông Võ văn Sung, đại sứ của Hà Nội, và Phan văn Ba, đại diện cho CPLTCHMN. Và tất cả những chuyện này đã diễn ra thật là ồn ào.

Ở Tổng Thống Phủ Pháp, có nhiều người muốn nhìn nhận ngay CPLTCHMN nhằm bảo đảm sự hiện hữu của một Chánh Phủ. Thật là tế nhị. Thủ Tướng Jacques Chirac là một trong những người chống lại việc này, vì muốn tránh những phản ứng của Việt Nam Cộng Hòa đối với người Pháp còn ở Miền Nam Việt Nam. Đó là điều khôn ngoan. Trong tất cả thủ đô của các quốc gia ở Tây Phương các nhà ngoại giao Miền Nam Việt Nam cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Các phái đoàn cộng sản không muốn gặp họ ở La Celle-Saint Cloud. Họ và các nhà báo giải thích là :”Ông Hương cũng vẫn là Thiệu mà không có Thiệu”.

Tại nhà riêng của mình ở tòa đại sứ Mỹ, vào buổi tối, ông Martin thảo một bức công điện cho ông Kissinger :

_ “1.- Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng quốc phòng, đã đến gặp tôi hôm qua. Ông ta nổi tiếng là một tay chuyên môn nhảy đầm…nên khi ông ta kết thúc một bản nào rồi thì không ai còn biết được ông đang ở đâu hết, nhưng người ta cũng thấy vui vui….

Mấy ngày trước ông Đôn đã giải thích ở tòa đại sứ rằng một khi mà Tổng Thống Thiệu ra đi và được ông Hương thay thế rồi, thì ông ta, Trần văn Đôn, sẽ là một Thủ Tướng xuất sắc!

2.- Chiều hôm qua, ông Đôn lại đã đề nghị một kịch bản khác: Tướng Dương văn Minh, người mà Hà Nội mong muốn, dĩ nhiên với tướng Đôn là cố vấn. Xuất xứ: từ tướng Minh và Đại sứ Pháp. Ông Đôn đã thừa hưởng cái áo khoác đẹp đẽ đó của ai vậy? Làm sao người ta có thể dàn xếp một chuyện giao quyền hành như thế được? Ông Minh có thể được chỉ định làm Thủ Tướng… với toàn quyền hành động về quân sự và chánh trị do ông Hương trao cho ông ta… Hoặc một giải pháp khác : ông Hương có thể giao hết chánh quyền lại cho ông Dương văn Minh để ông này bắt đầu ngay việc thương lượng để thành lập một Hội Đồng Hòa Giải… Theo tướng Đôn thì những người Công Giáo, Phật Giáo và các Giáo Phái khác đều sẵn sàng yểm trợ cho giải pháp này. Câu hỏi chủ yếu được đạt ra là: tướng Đôn đã chắc chắn là Hà Nội đã chấp nhận Dương văn Minh rồi …. nhưng ông ta không thể đưa ra được một bằng chứng nào. ” Người Mỹ sẽ nghĩ thế nào đây? Ông Martin viết tiếp: “Tôi đã trả lời rằng Quốc Hội Hoa Kỳ đã cho thấy là họ không quan tâm lắm về nhân vật nào sẽ ở chánh quyền … và tôi không có một quyền nào để chấp thuận hay không chấp thuận những gì được cọi là thỏa thuận chủ yếu giữa người Việt Nam.” Ông Martin đã giải thích cho ông Tổng Trưởng quốc phòng Việt Nam rằng đây không phải là một bài toán của Hoa Kỳ nữa. Có thể ông Đôn sẽ gặp người Pháp vì họ khẳng định là họ có một ảnh hưởng nào đó đối với Hà Nội.

3.- Tôi đã gặp ông Mérillon hồi trưa này, sau khi ông ta đến gặp Tổng Thống Hương, ông Martin viết tiếp. Đại sứ Pháp nói rằng ông ta đã có lưu ý ông Hương là phải hành động nhanh. Tổng Thống Hương có vẻ hơi chậm chạp, bệnh hoạn và quá già. Ông ta không có phản ứng gì đặc biệt. Ông Mérillon xác nhận là Tổng Thống Pháp có thúc đẩy ông đưa ông Minh lên. Tôi có hỏi ông ta có nhận được tín hiệu chính xác của Hà Nội chứng nhận rằng Hà Nội sẽ chấp thuận ông Minh chưa? Tôi đã không nhận được câu trả lời trực tiếp nào.

Tôi có cảm tưởng rằng người Pháp đã đề nghị tên của ông Minh cho Hà Nội mà không nhận được một câu trả lời chính xác nào, nhưng họ giải đoán sự im lặng này đương nhiên là một sự thỏa thuận ngầm. Người Pháp cũng có nói là họ đã yêu cầu một sự ngừng bắn sau khi ông Thiệu

đã ra đi, để có thể đặt những thể thức chánh trị mới , và chuyện Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động quân sự bây giờ là một trong những kết quả của những sáng kiến của họ. Tin tưởng rằng họ có thể ảnh hưởng được ông Dương văn Minh nên họ hấp tấp tìm cách đưa ông ra nắm chánh quyền, hy vọng là một khi đã ngồi được ở ghế Tổng Thống rồi thì Hà Nội khó mà không thừa nhận được … Về phần tôi, “tôi nghĩ rằng Hà Nội khuyến khích những áp lực của người Pháp cốt để triệt tiêu tính cách hợp pháp của chế độ, bằng cách tạo ra một cuộc chuyển giao quyền hành một cách bất hợp hiến, có thể họ sẽ chấp nhận ông Dương văn Minh trong một thời gian nào đó như kiểu một chánh quyền thiên tả, và sau đó họ sẽ hành động thật nhanh để giành lấy thắng lợi không thể lật ngược được cho phía cách mạng .”

Ông Dương văn Minh đã có tiếp xúc với tướng Timmes. Ông Kỳ có vẻ muốn động thủ trở lại.

4.- Ông Dương văn Minh đã cho Tướng Timmes biết là có một số tướng lãnh người Bắc (những người ở chung quanh tướng Kỳ) đang chuẩn bị có hành động chống lại ông ta. Như tôi đã từng mong muốn là Sài Gòn phải được yên tịnh từ ngày mai cho đến cuối tuần, nên tôi đã có gởi một đặc phái viên đến gặp tướng Kỳ để cho ông biết rằng, nếu nguồn tin đó đúng thì chúng tôi thấy rằng chuyện đó chẳng đi đến đâu. “Ông Martin còn lắt léo: “giả sử như ông Kỳ chối, thì tôi cũng cho ông biết là chúng tôi chấp nhận lời nói danh dự của ông, nhưng mà không một người nào khác tin ông đâu. Do vậy, điều tốt hơn hết cho ông là sẽ không có gì xảy ra”. Thật ông Martin biết mình quá là Việt Nam hơn là một người Việt Nam.

Ông Hương đã yêu cầu vị Tân Thủ Tướng vừa được Tổng Thống Thiệu chỉ định hãy tạm thời giữ chức vụ đó. Vì ông Nguyễn bá Cẩn muốn rời khỏi đây. Ông Hương đã nói với ông Martin: “Tôi đã nói là tôi vẫn giữ nguyên trạng không có một thay đổi nào cho đến cuối tuần”. Ông Martin viết rõ như vậy. Cần phải tránh sao cho tình trạng chánh trị ở Sài Gòn đừng bị xáo trộn.

Ông Mérillon đã thúc ông Tổng Thống Hương. Ông hấp tấp cho biết là ông Hương đã cho gọi ông. Trong lúc văn phòng của Tổng Thống thì nói rằng ông Mérillon đã xin được tiếp kiến. Ông Martin biết rất rõ những chuyện vận động kiểu này:

“6.- Ông Mérillon đã trở lại gặp Tổng Thống lúc 16 giờ chiều. Sau đó, qua điện thoại, ông ta nói với tôi là vẫn không có gì mới mẻ hết. Tổng Thống Hương đã mời tôi lúc 17 giờ chiều. Mặc dù có một sự ngơi nghỉ trong hoạt động quân sự… nhưng ông không biết được chuyện đó sẽ kéo dài bao lâu.”

Ông Mérillon yêu cầu ông Martin thúc dục ông Hương từ nhiệm.

Ông Hương né tránh. Lúc ông tiếp đại sứ Mỹ, ông nói chuyện với ông này như một người bạn. Ông Martin giải thích rằng theo ông thì cộng sản cho ông Hương là hình bóng của ông Thiệu. “một ông Thiệu mà không có Thiệu”? Ông Hương nói:

_ Nếu tôi phải làm một ông Pétain của Việt Nam, thì ít nhất tôi cũng sẽ làm được trong danh dự và trong nhân cách đó.

Ông Tổng Thống mong muốn biết ông Martin nghĩ gì về ông Dương văn Minh. Đại sứ Mỹ chưa bao giờ gặp ông Minh. Có quá nhiều tin đồn về những tham vọng của ông ta. Có nhiều người khẳng định rằng nếu ông Minh được chỉ định làm Thủ Tuớng theo một thể thức thông thường thì đó là một điều rất tốt.. Có nhiều người khác thì nói rằng ông ta muốn được Quốc Hội và dân chúng lựa chọn, Có nhiều người lại nói ông ta đòi hỏi phải có toàn quyền hành động.

Ông Hương thì nhắc lại tình bạn cũ với ông Minh. Tướng Dương văn Minh luôn gọi ông Hương bằng “Thầy”. Hồi xưa ông Hương đã từng khuyên ông Minh nên đi ra ngoại quốc. Ông Hương cũng đã cho gọi ông Minh trở về từ Băng Cốc (Thái Lan) vào năm 1968. “Có nhiều mối liên quan giữa chúng tôi”.

Ông Martin gợi ý là các nhóm thuộc lực lượng thứ ba và một số tướng lãnh đã thấy có thể chấp nhận ông Minh. Cảm tưởng của ông Martin về ông Hương dường như có phần đúng. Câu hỏi chủ yếu là liệu Hà Nội có chấp nhận ông Minh hay không? Ông Hương không biết gì hết. Ông yêu cầu ông Martin hỏi đại sứ Ba Lan thuộc phái đoàn quốc tế kiểm soát ngừng bắn về vấn đề này.

Ông Hương thấy không có gì mà phải gấp. Trong buổi tiếp kiến, thình lình ông Tổng Thống già nua nói chuyện thơ phú với ông Bruson McKinlet, người đi theo ông Martin. Ông Martin tận hưởng được phút thoải mái này.

Ông Martin viết tiếp:

“8. – Ông đại sứ Ba Lan đã đến gặp tôi lúc 20 giờ tối. Đó là một người cộng sản cứng rắn và là một nhà ngoại giao loại “nhà nghề”. Chúng tôi hiểu nhau. Tôi cho ông ta biết cảm tưởng của tôi, khi biết rằng vị tân nguyên thủ quốc gia phải đối đầu với những sự thật, và nghĩ rằng định mệnh bắt ông ta phải chịu lãnh vai trò của một ông Pétain…. Không có cách nào để biết được liệu Hà Nội có chấp nhận ông Dương văn Minh trong vai trò tạm thời của một ông Laval hay không… ? Ông đại sứ Ba Lan sẽ thử tìm hiểu tin tức này. Ông ta là một người rất thận trọng và Varsovie phải cho phép ông hành động. Tôi nghi rằng rồi sẽ có một câu trả lời đúng lúc. Tôi tin chắc rằng vào sáng ngày mai thế nào ông ta cũng sẽ cho tôi biết là ông ta không nhận được câu trả lời. Tôi có thể cho Tổng Thống Hương câu trả lời đó và sẽ chấm dứt tại đây…”Ông Martin nghĩ rằng “vào ngay lúc này ông Dương văn Minh có giá trị của một người khác rồi”, nhưng người Mỹ không nên có một vai trò nào trong câu chuyện này. “Tại Hoa Thạnh Đốn, liệu chúng ta có một chỉ dấu tối thiểu nào cho thấy là ông Dương văn Minh được Hà Nội chấp nhận?”

Trong trò chơi lớn đầy kiên nhẫn đang diễn ra , vẫn còn thiếu một quân cờ. Người ta biết là ông Dương văn Minh sẽ đóng được vai tuồng gì, nhưng người ta không biết được Bắc Việt có chấp nhận dàn dựng vở tuồng này hay không?

Tại Ba Lê, Tổng Thống Giscard d’Estaing cho gọi ông Paul d’Ornano, nghị sĩ của những người Pháp ở ngoại quốc, từng là một nhà trồng tỉa ở Đông Dương, vì ông này sắp sửa đi qua Sài Gòn. Ông Tổng Thống Pháp nghĩ rằng CPLTCHMN có nhiều may mắn. Dù thế nào đi nữa thì cũng phải giữ sự có mặt của người Pháp. Ông d’Ornano nhất định phải bảo người Pháp phải ở lại tại chỗ.

Tổng Thống Pháp có thể sẽ có lệnh cho các viên chức, và lời khuyên cho những công dân Pháp.

Hai ông Kissinger và Martin thường xuyên liên lạc với nhau.. Ngày 23 tháng 4, ông Kissinger giải thích cho ông Martin là ” đối với tình hình chánh trị ở Sài Gòn, có hai cách giải quyết:

_ Chúng ta có thể thử cố giữ một cấu trúc vững chắc của Chánh Phủ, có nghĩa là người ta không để cho Chánh Phủ hiện hữu bị sứt mẻ thêm nữa..

  • Chúng ta có thể tìm để đạt những gì cụ thể chính yếu mà người Pháp đang mò mẫm tiến hành : thử thực hiện một vài thay đổi cho đến khi nào chúng ta tìm ra được một cơ cấu cho một Chánh Phủ khả dĩ được Bắc Việt chấp nhận …

Trên thực tế , hy vọng duy nhất cho một sự cải thiện không thể tránh được, là phải đi qua đường dây Liên Xô.”. Phải chờ câu trả lời từ Mạc tư Khoa , và từ đây đến đó phải giữ nguyên trạng cơ cấu chánh trị hiện thời. “Nếu trong hai ngày mà chúng ta không nhận được câu trả lời, hoặc có nhận được câu trả lời phủ định, thì chúng ta có thể xem lại vị thế của chúng ta . Trong khi chờ đợi, tôi đề nghị là ông có thể làm tất cả những gì ông có thể làm được để yểm trợ cho Tổng Thống Hương và Chánh Phủ của ông ta mà không cần nói gì cho ông biết về sáng kiến của chúng ta liên quan đến Liên Xô.

Bây giờ lại đến lượt ông Hương sẽ trở thành một món tiền để trao đổi! Liên quan đến vấn đề di tản, ông Martin cũng như ông Kissinger vẫn đứng trước một ngã ba đường: Ngũ Giác Đài thì tỏ vẽ hối thúc. Trong trường hợp Sài Gòn bị tấn công, người ta không muốn thấy quân chiến cụ và đạn dược bị rơi vào tay cộng sản . Nhưng nếu người ta đưa quân chiến cụ đi thì Miền Nam Việt Nam sẽ hốt hoảng ngay.

Những người của ông Thiệu sửa soạn ra đi. Cựu Thủ Tướng Trần thiện Khiêm gởi nhiều tấn hành lý ra ngoại quốc. Tân Tổng Thống Hương tiếp tướng Đặng văn Quang, Phụ tá đặc biệt về an ninh của ông Thiệu và nói với ông này rằng ông phải từ chức vì ông liên hệ quá chặt chẻ với ông Thiệu. Ông Quang tuân hành ngay và sau đó yêu cầu ông Hương coi sóc giùm mấy người đệ tử của ông Thiệu. Ông Hương sẽ coi lại…, ông ta nói với ông Thiệu trong những ngày tới. Chuyện quan trọng bây giờ phải là vấn đề thương thuyết với kẻ địch:

_ “Vấn đề an toàn của đất nước phải được ưu tiên hơn là an toàn của cá nhân”

Vài giờ sau đó, khoảng giữa trưa ngày 23 tháng 4, tướng Kỳ đáp trực thăng xuống nóc Dinh Độc Lập, ở đó có Tổng Thống Hương đón ông ta. Ông Kỳ nói:

_ “Quân cộng sản Bắc Việt có thể tiến đến Sài Gòn trong vài ngày, hay trong vài giờ sắp tới…

Ông Hương đáp:

_ “Phải thương thuyết thôi. Ông Mérillon và nhiều người khác thúc giục tôi trao quyền cho tướng Dương văn Minh. Quân đội không thể kháng cự được. Có phải thật sự là họ đã hết đạn rồi phải không?

Tướng Kỳ nghĩ rằng Quân đội cần phải có một lãnh đạo có nghị lực:

_ Với những gì chúng ta đang có, chúng ta có thể cầm cự được một hai năm. Ông hãy bổ nhiệm tôi làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân đi.

Ông Hương thoái thác:

_ “Một người như ông, đã từng là Thủ Tướng và Phó Tổng Thống, không thể chỉ trở thành một Tham mưu trưởng thường được. Ít lâu nữa đây tôi sẽ chỉ định ông làm cố vấn quân sự đặc biệt cho Chánh Phủ.

  • Nhưng thưa Tổng Thống , thời gian còn quá ít.

Ông Kỳ ra đi. Toàn là những người yếu đuối, toàn là những người chần chờ ! Người Mỹ và người Pháp đang dùng con bài Dương văn Minh là một người yếu đuối khác nữa. Nếu ông ta lấy được quyền hành hay được người ta giao cho quyền hành (vì Minh không tự mình chiếm lấy quyền hành bao giờ) thì tất cả sẽ còn yếu nữa. Tướng Kỳ tiếc là mình không chịu tiến hành một cuộc đảo chánh.. Chỉ vài ngày trước khi Tổng ThốngThiệu ra đi, một phi đội trưởng đã đề nghị ném một trái bom “gặt hết bông” (bom hút hết dưỡng khí) xuống Dinh Độc Lập.

Người Pháp khuyến khích ông Dương văn Minh hãy nhận ghế Thủ Tướng, ít nhất trong thời gian đầu. Chiều lại ông Minh họp các cố vấn của ông lại. Ông nói:

_ “Nếu được chỉ định là Thủ Tướng một cách “hợp hiến” như vậy, thì quá yếu: Tôi muốn nhận ghế đó trực tiếp từ dân chúng. Thí dụ như qua sự tán thành của những nhóm Tôn Giáo chánh hay các nhóm khác.

Ông Minh tưởng tượng là nhiều nhóm khác nhau đồng thỏa thuận cho ông một loại ủy nhiệm của dân chúng. Ông yêu cầu dân biểu Nguyễn văn Binh liên lạc giùm với các hội chuyên viên như luật sư, giáo sư, các doanh gia, và nhà báo. Về phía Quân đội Ông Minh rất tự tin. Vài giờ trước đó, các tướng lãnh đã họp ở Bộ Tổng Tham Mưu, có mặt cả tướng Cao văn Viên. Ông này ước tính rằng phải bỏ qua Hiến Pháp để tướng Minh được chỉ định là nguyên thủ quốc gia. Ai sẽ chỉ định ông ? Ông Minh trả lời là dân chúng. Ủy nhiệm của dân chúng, của các vị lãnh đạo Tôn Giáo, của các Hội đoàn chuyên nghiệp, của Thượng Đế. Ông Minh biết ít nhất là Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, đã sẵn sàng đi với ông ta.. Nếu người ta trao cho ông toàn quyền, thì sẽ có nhiều tướng lãnh và sĩ quan cao cấp sẽ ở lại tại chỗ và nghe lệnh ông ta thay vì sửa soạn chạy ra ngoại quốc. Ông nói:

_ “Muốn thương thuyết, thì cũng phải có một vài đơn vị có kỷ luật.

Ở Đà Lạt, linh mục Mais đã có được một giấy phép đi lại của Ủy ban hành chánh Phường cấp cho. Ông và một người đệ tử của ông dùng một chiếc Honda đỏ chạy theo Quốc lộ 1 theo dòng người tản cư và theo các đoàn xe của Bắc Việt. Vào giữa trưa tại một làng cách Xuân Lộc khoảng 20 cây số, xe ông bị một toán dân chính mang ba sao đỏ chận lại.

_ “Ông đi đâu?

_ Tôi đi Gia Kiệm thăm một linh mục bị thương, cha Mais trả lời bằng tiếng Việt Nam. Dưới con mắt lưu tâm của một vài người có mang súng lục, và hai anh bộ đội Bắc Việt, người ta xem kỹ giấy căn cước Pháp và thẻ cư trú của linh mục… Một người mời cả hai vào một căn nhà gần đó. Người ta mời ông dùng trà và ăn chuối. Một giờ trôi qua… Người ta dẫn hai người đến một căn nhà khác và người ta để cho họ đứng đó. Một người dân sự khoảng 50 tuổi tự giới thiệu là người có trách nhiệm an ninh xẵng giọng hạch hỏi hai người. Anh ta giữ một khoảng cách với linh mục và gọi linh mục bằng “ông”:

_ “Ông là ai? Từ đâu đi đến đây? Và ông đi đâu? Ông không cần phải đi như vậy. Tôi không thể bảo đảm an ninh cho ông đâu.

Một người nữa tới. Ông này hướng về linh mục và gọi bằng “giáo sư”. Cả linh mục và người đệ tử của ông đều chờ đợi. Họ ngồi trên ghế đẩu. Một người thứ ba lại đến, người này lễ độ và có vẻ cung kính hơn, Anh ta gọi Linh mục là “cha”. Người ta tịch thu hết giấy căn cước của hai người. Người ta cho hai người lên lầu của căn nhà này, ở đó họ gặp một ông cựu xã trưởng, một người nông dân và một người dạy giáo lý. Trời đã tối. Người ta đem cho họ cơm nguội, canh rau, và chiếu. Có những người còn trẻ, khoảng 15 tuổi, mặc ka ki hay đồ đen đến gát căn nhà này. Nghe giọng nói linh mục Mais biết là họ đến từ miền Trung. Người ta thả một vài người , rồi nhanh chóng lại có những người khác vào. Linh mục Jean Main hỏi về chuyện của mình. Người ta đáp:

_ “Trường hợp của ông chưa được giải quyết.

Ngày 24 tháng 4.

Từ căn cứ Plessetsk, Liên Xô phóng một vệ tinh có độ chụp ảnh cao, có thể dò thấy các đơn vị đến cấp trung đội, và phân biệt được rõ ràng loại chiến xa. Độ nghiêng của vệ tinh này là 81 độ. Tám ngày trước đó, Liên Xô cũng đã có phóng lên một vệ tinh ở độ nghiêng là 65 độ. Hai vệ tinh này phối hợp lại thì sẽ giúp cho Liên Xô thấy được một hình ảnh rất rõ ràng của nước Việt Nam trong 6 ngày, tức là cho đến ngày 30 tháng 4. Các vệ tinh thuộc thế hệ 2 này gởi hình ảnh có thể rửa thật nhanh được. Và kết quả sẽ được chuyển tiếp đến Hà Nội trong vài giờ. Và từ thủ đô Bắc Việt đến tổng hành dinh của Văn Tiến Dũng ngay tức khắc. Do đó, vị Tổng tư Lệnh Bắc Việt sẽ biết ngay được trước mặt quân mình có những đơn vị cấp nào của Miền Nam Việt Nam.

Ở Sài Gòn, dân chúng hy vọng sẽ có một cuộc ngừng bắn sắp tới. Một hình ảnh , đúng hơn là một ảo ảnh .. đang bàng bạc trong không khí : 3 người Việt Nam, một Bắc Việt cộng sản, một Trung Việt với một chế độ hòa giải, một Nam Việt với một Chánh Phủ mở rộng để thương thuyết với Hà Nội ….

Sáng sớm ngày 24 này, Tổng Thống Hương và ông Dương văn Minh kín đáo gặp nhau ở nhà riêng của cựu Thủ Tướng Khiêm trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất . Bí mật ? Rồi đây trong vài giờ nữa, tất cả Sài Gòn cũng sẽ biết rõ việc này.

Vị Tân Tổng Thống muốn mặt đối mặt bàn cãi với ông Dương văn Minh, nhưng ông này chỉ muốn cuộc nói chuyện kéo dài trong hai giờ này phải có sự hiện diện của ông cựu Chủ Tịch Thượng Viện Nguyễn văn Huyền.

Ông Hương vẽ lên một bức tranh đen tối của tình hình quân sự . Nhiều lắm là Chánh Phủ chỉ còn có 5 sư đoàn để chống lại 5 Quân đoàn Bắc Việt. Giỏi lắm ta chỉ còn đủ đánh một trận danh dự ! Ông Hương cố thuyết phục ông Minh hãy nhận ghế Thủ Tướng, điều này hoàn toàn hợp hiến. Rất bình tĩnh ông Minh từ chối. Vì việc này sẽ tự mình làm hại thanh danh của mình. Cộng sản Bắc Việt sẽ cáo buộc ông là người nắm giữ chánh quyền hợp pháp từ một thành viên của “tập đoàn Nguyễn văn Thiệu”. Như vậy ông Minh sẽ ở trong thế quá yếu, khó mà thương thuyết được. Ông Minh đề nghị ông Hương cho ông một ân huệ là hãy từ chức đi . Thật là kỳ lạ cho ông này! Thường thường, trong những cuộc khủng khoảng nghiêm trọng thì những kẻ huênh hoang thì nín lặng, những kẻ ẩn dật mới lên tiếng tự xác nhận, và những người khiêm nhường có thể sẽ trở thành khó tính. Ông Minh biết là những người Công giáo, Phật Giáo đang sửa soạn ra thông cáo, riêng lẻ hay chung nhau nhưng cùng có một nội dung : ông Dương văn Minh cần có được quyền tối thượng. Ngay hôm nay, thượng tọa Thích trí Quang, vị sư hoạt động hăng say nhất của chùa Ấn Quang, sẽ họp báo để xác định vị trí của mình trong chiều hướng này.

Vị nguyên thủ già ngồi nghe ông Minh nói mà không hề chấp nhận.. Vị cựu Chủ tịch Thượng Viện ủng hộ ông Minh. Ông Hương nhất định không nhượng bộ. Ông còn nói đùa:

_ “Đơn giản nhất để loại tôi ra, là chỉ cần làm một cuộc đảo chánh thôi.. Như vậy nó tự nhiên hơn!

Người ta dự tính một số biện pháp để làm dịu những người cộng sản , nhất là việc thả các tù chánh trị . Ngày hôm qua, tướng Minh có nói với tướng Nguyễn khắc Bình, Tổng Giám Đốc Nha Cảnh sát. Cả ông Bình và ông Hương dường như tuần tự vừa khó chịu vừa nhẹ lo vì những sự liên lạc của tướng Minh. Thật khó mà nghi ngờ được ai ai và đâu đâu cũng chấp nhận ông Minh, kể cả Cảnh sát . Ông Dương văn Minh trước kia đã cứu tướng Bình, sau khi ông Diệm bị lật đổ. Vì tướng Bình là người trung thành với ông Diệm, sau này ông mới theo ông Thiệu. Mà nếu cần thì ông ta lại theo ông Dương văn Minh.

Khi di chuyển thì ông Hương thường chống gậy, và ông hơi run rẩy, nhưng ông không có chọn một quyết định nào hết.

Các nhà chánh trị và quân sự vô ra nhà ông Dương văn Minh bao nhiêu thì vô ra Dinh Độc Lập bấy nhiêu. Hoặc là ông Minh quá tự tin rằng chỉ có một mình ông là có thể gặp được CPLTCHMN hay Hà Nội, hoặc là ông quá tự kiêu không đúng chỗ, ông Minh điềm tĩnh đó nhưng không có vẻ gì là một nhà hòa giải. Ông không chịu hiểu câu châm ngôn Việt Nam: “Nếu có người nào đó đến trước, thì tôi sẽ là người thứ nhì, nếu đã có người thứ nhì rồi thì tôi vui vẻ chấp nhận chỗ thứ ba vậy”

Ông Minh phác thảo một Hiến Pháp tạm thời hoặc một Hiến Chương mà ông đề nghị công bố ngay khi Hiến Pháp hiện thời sẽ được bãi bỏ khi ông Hương từ nhiệm, không còn là Tổng Thống nữa. Ông Minh lên danh sách một Chánh Phủ lâm thời. Tổng Thống: Dương văn Minh, ông cũng coi luôn những vấn đề quân sự. Phó Tổng Thống của ông sẽ là nghị sĩ Nguyễn văn Huyền, người đã giúp ông ta trong cuộc gặp gỡ với ông Hương. Trước hết, ông sẽ lo việc thương thuyết với địch. Ông sắp xếp người trong Chánh Phủ rất là khôn khéo. Ông Huyền, người Miền Nam là Công Giáo, ôn hòa, sẽ làm yên lòng phe quốc gia . Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Ngoại Giao: nghị sĩ Vũ văn Mẫu với một phó Thủ Tướng: dân biểu Hồ văn Minh. Hai người này sẽ tập hợp được các thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội . Một chủ ngân hàng, ông Nguyễn võ Điểu sẽ là Tổng Trưởng Tài Chánh. Ông Minh cũng đưa những nhân vật mà cộng sản chắc chắn sẽ chấp nhận : Bà Ngô bá Thành, Tổng Trưởng Tư Pháp, người mà ông Thiệu đã biết là trung lập và quản chế tại gia.; dân biểu Hồ ngọc Nhuận, một người công giáo thuộc cánh tả sẽ là Tổng Trưởng xã hội và Tỵ nạn. Dĩ nhiên, danh sách này có thể còn thay đổi, nhưng đầy hứa hẹn, đã chứng minh được thiện ý của ông Minh. Sự phối hợp này còn quá khéo léo hơn một Chánh Phủ dưới thời đệ tứ Cộng Hòa Pháp nữa! Nhưng vấn đề là làm sao thuyết phục được cộng sản Bắc Việt đây?

Cả Tổng Thống Hương và ông Dương văn Minh đều có gởi sứ giả riêng rẽ đến trại Davis. Những người này được đại diện của CPLTCHMN tiếp đón rất là lịch sự, nhưng họ không chịu hứa hẹn gì cả. Cùng ngày nay ở Ba Lê và Hà Nội CPLTCHMN cho đăng một bản tuyên bố:

  • “…. Phải thành lập một nền hành chánh mới ở Sài Gòn (và) trong đó không được có một bộ mặt nào đã ở trong tập đoàn Nguyễn văn Thiệu….”

Như thế là thông cáo này nhắm thẳng vào ông Hương và cũng nhằm vào một số đông nhân vật dân sự hay quân sự của Miền Nam Việt Nam.

Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn rất khôn khéo đã làm trung gian để Tổng Thống Hương và tướng Minh đạt được một thỏa hiệp. Và nếu ông Tổng Thống đề nghị với tướng Minh chiếc ghế Thủ Tướng với đầy đủ quyền hành, cả hành chánh lẫn quân sự thì sao ? Khi mà có những sự kiện chống lại ông thì mỗi chữ nói ra đều nặng ký. Khi một người Việt Nam càng là công dân Pháp bao nhiêu (ông Đôn là một công dân Pháp cực đoan) thì ông ta càng đầu tư từng chữ một về pháp lý bấy nhiêu. Theo sơ đồ của ông Đôn, thì vị tân Tổng Thống Trần văn Hương chỉ có một vai trò mới , một chức vụ danh dự, như một quốc vương ở vùng Bắc Âu vậy thôi. Ông ta không được can thiệp vào công việc của Chánh Phủ . Ông sẽ có một nhiệm vụ như Hoàng Đế Bảo Đại khi ông trao hết quyền hành lại cho Tổng Thống Diêm. Danh dự của ông Hương vẫn còn và người ta có thể bắt đầu thương thuyết. Tướng Đôn đã cố thử thời vận của mình khi ông tuyên bố với đại sứ Mérillon là ông ta có thể là “người số một” trong cuộc vận động chánh trị này và ngoài ra ông ta cũng còn được người Mỹ ủng hộ nữa. Ông ta cũng đã đưa đề nghị này cho ông Martin và xác nhận rằng ông ta đã được người Pháp khuyến khích. Hai ông đại sứ trao đổi tin tức với nhau, và họ chỉ có cười thôi!

Bây giờ thì ông Đôn sẵn sàng chiếu cố đến lá bài Dương văn Minh, nhưng ông ta nghĩ rằng ông Minh có nhiều ảo vọng khi ông tưởng rằng ông sẽ được dân chúng hoan hô và đẩy ông vào Tổng Thống Phủ.

Những lời tuyên bố của một vài nhân vật lãnh đạo Tôn Giáo dù có lỗi lạc, cũng chưa đủ để đánh bóng tính cách hợp pháp được. Hơn nữa, ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn có cảm giác là các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp còn ở vị trí chỉ huy, không dễ dàng chấp nhận Dương văn Minh lắm đâu. Họ nghĩ rằng ông Minh chỉ muốn nắm được quyền hành trong tay để đưa lá cờ trắng lên mà thôi. Dưới nhãn quan của một số quân nhân, chuyện thương thuyết mà ông Minh đang nói đến sẽ giống như một chuyện đầu hàng.

Làm sao mà những chánh trị gia và những quân nhân ở Sài Gòn có thể thỏa mãn những đòi hỏi quá mức của CPLTCHMN được? Tất cả các tướng lãnh, các đại tá, trung tá thiếu tá, các nghị sĩ, dân biểu đều nằm trong guồng máy hành chánh của Sài Gòn. Thật ra, cái gọi là CPLTCHMN này trước hết tìm cách phá tan quyền lực của nền hành chánh và của Quân đội mà thôi.

Vào hồi 16 giờ chiều, nội các Nguyễn bá Cẩn chánh thức từ nhiệm. Như thế, Chánh thể Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam chỉ còn có một ông Tổng Thống và một vài vị Tổng Trưởng xử lý thường vụ và vỏn vẹn chỉ còn có Vùng Sài Gòn và một phần lớn của Đồng bằng Sông Cửu Long. Theo yêu cầu của ông Tổng Trưởng Quốc Phòng , tướng Tổng Tham Mưu Trưởng cho lệnh các đơn vị chiếm các vị trí phòng thủ.. Họ được lệnh phải tránh không được tấn công bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng . Còn một bằng chứng để tỏ thiện chí nữa là tiêu lệnh được truyền đi đến nhân viên của đài phát thanh: “Trong tất cả các bản tin tức, phải có một chiều hướng hòa giải hơn.” Các nhân viên thuộc Bộ Thông Tin phải tháo gỡ hết các bản thông cáo, các biểu ngữ chống cộng khắp nơi trong thủ đô và vùng ngoại ô. Tổng Thống Hương đang xét duyệt các danh sách tù nhân chánh trị để nhanh chóng được thả ra.

Vào hồi 17 giờ, ông Dương văn Minh họp vài nhà báo:

_ “Tôi đã từ chối không nhận ghế Thủ Tướng mà Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã đề nghị. Nếu tôi nhận thì tôi không thể nào thương thuyết được với phía bên kia, vì họ đòi ông Hương cũng phải ra đi.

Những cộng sự viên của ông Minh phụ nhĩ với các nhà báo:

_ “Ông già Hương sẽ từ chức, đó là giải pháp duy nhất.

Tại tòa đại sứ Mỹ, ông Martin và ông Polgar quan sát từng giờ một con đường ngoằn ngoèo của các cuộc vận động này. Khác hơn ông Martin, ông Polgar thì nhắm vào ông Dương văn Minh.

Ngày 24 tháng 4:

Cuối cùng, ngày hôm nay ông Martin chánh thức cho lệnh di tản nhân viên Việt Nam thuộc tòa đại sứ Mỹ. Người ta cũng dự trù di tản một số lớn người Việt Nam từ Vũng Tàu. Ông Polgar giữ liên lạc thường trực với đề đốc Bùi thế Lân ở Bộ Chỉ Huy Hải Quân Việt Nam. Ông này hứa sẽ lo cho một cuộc di tản khoảng từ 40 ngàn đến 250 người dân tỵ nạn. Ông Polgar thông báo cho Hoa Thạnh Đốn:

_ “Nếu Sài Gòn thất thủ, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam sẽ cho nổ sập hết các cầu để cắt đứt quốc lộ dẫn đến Vũng Tàu. Người ta sẽ ngăn chận bớt làn sóng người tỵ nạn có thể tràn ngập cả Vũng Tàu. Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam sẽ hợp tác với người Mỹ. Để duy trì trật tự, quân lực Việt Nam Cộng Hòa có thể sẽ động thủ, nếu cần. Ông Polgar kín đáo điện cho Hoa Thạnh Đốn:

_ “Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ không thể nào có biện pháp cần thiết được. Thủy Quân Lục Chiến của đề đốc Bùi thế Lân được rộng đường hành động.” Tóm lại, nếu cần phải giải quyết những người dân tỵ nạn thì tốt hơn là phải do Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Đề đốc Bùi thế Lân không có yêu cầu phải di tản người của ông ta, nhưng đương nhiên là những người này cũng thích được di tản.”

Ông Jim Eckes được tự do vô ra phi trường Tân Sơn Nhất rất thong thả. Đã từ lâu cả quân nhân và cảnh sát giữ an ninh ở đây đều biết chiếc xe Volkswagen trắng của ông Giám Đốc hãng Continental Air Services.

Các phi cơ cứ là tiếp tục cất cánh từng nửa giờ một, chở người dân tỵ nạn có đầy đủ hay không có giấy tờ hợp pháp. Trên một đường bay, một chuyến chót của hãng Pan Am phải chở 600 người, toàn là nhân viên của công ty hàng không và gia đình họ. Ông Eckes thấy một nhóm người Việt Nam, tất cả đều mặc đồng phục tiếp viên hàng không của hãng Pan Am. Có nhiều người mặc cũn, đi giầy cao gót muốn trẹo chân. Họ có vẻ sợ sệt, nhất là khi họ đi qua hàng rào cảnh sát. Thình lình, ở chân cầu thang có một bà lột giầy ra và ba chân bốn cẳng bò lên phi cơ. Ông Eckes hiểu ngay: một tiếp viên người Việt Nam của hãng Pan Am đã phát đồng phục tiếp viên ít nhất cho chị em, bạn bè của mình để họ được rời khỏi Sài Gòn. Sáu trăm hành khách trên một phi cơ chỉ có ba trăm năm chục ghế ngồi: trên phi cơ, một thanh tra người Mỹ thuộc Hàng Không Liên Bang không nói gì hết. Người ta đóng cửa lại. Ông Al Topping, giám đốc Pan Am ở Sài Gòn thấy là còn hai tiếp viên người Mỹ còn bị bỏ quên trong phi cảng. Người ta chạy đi tìm họ.

Chiếc phi cơ phải chờ ở phi đạo. Đài kiểm soát không lưu không cho chiếc phi cơ này cất cánh. Ông Jim Eckes chợt thấy một sĩ quan Việt Nam chiếc máy radio liên lạc cầm ở tay. Ông Jim chìa ra hai trăm mỹ kim:

_ Ông hãy bảo đài không lưu cho chiếc phi cơ đó cất cánh đi. Ông trao cho họ số tiền này để họ nhậu với nhau. Hay họ muốn làm gì đó thì làm.”

Vị sĩ quan kia nói với đài kiểm soát không lưu, và chiếc phi cơ nhận được phép cất cánh. “Bây giờ thì tất cả các bè bạn của tôi đều đã được đi rồi”

Ông Eckes vừa lẩm bẩm…., vừa cảm động rơi nước mắt …..

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 8 Feb 2026

6. Chuyến Tàu Đời

Thời gian còn ở bậc tiểu học, chúng tôi đã thuộc lòng bài “Những Chuyến Tàu” của thi sĩ Tế Hanh và dù ngây thơ chưa biết gì về cuộc sống, cũng vướng víu theo cảm xúc của người thi sĩ này để “tôi thấy tôi thương những chuyến tàu,” và bỗng dưng tâm hồn bị những “nỗi đau xa” ám ảnh.

Lớn lên được biết thêm người ta ví cuộc đời này như một chuyến tàu chạy trên đường sắt, và như mỗi giai đoạn của cuộc đời, con tàu sẽ dừng lại ở mỗi sân ga, mà trên chuyến tàu này, nỗi buồn thường nhiều hơn chuyện vui.

Một này nào đó khi chúng ta sinh ra đời, cất tiếng khóc đầu tiên, như người bước lên một toa tàu đang dừng lại ga. Lên tàu, chúng ta gặp được nhiều người đã có mặt sẵn, trong gia đình đó là mẹ cha, các anh chị ra đời trước, hay bà con, lối xóm bạn bè. Trên toa tàu có những người ruột thịt thân quen, bạn bè cùng trang lứa, nhưng cũng có những người xa lạ, cùng đi chung một đoạn đường. Họ có chung với chúng ta một không gian là toa tàu đang chạy và thời gian là đoạn đường giữa nhà ga này đến nhà ga kế tiếp.

Rồi con tàu rời sân ga ra đi, chạy qua những nhịp cầu, những bến nước, những cánh đồng, qua những ngày mưa nắng, như những niềm vui, nỗi buồn trong từng giai đoạn cuộc sống. Lúc con tàu đừng lại một ga khác, trong gia đình chúng ta có thêm những đứa em,  trong trường học chúng ta có thêm bạn bè và trongcuộc đời có thêm một người yêu mến thề nguyện, hứa đi chung với chúng ta suốt trong cuộc hành trình. Đó là những cuộc gặp gỡ tình cờ của định mệnh, trong toa tàu có thêm một người và một gia đình khác, có khi xa lạ chưa hề quen biết bước lên, trở thành người bạn đồng hành của chúng ta. Đó là người vợ hay người chồng mà chúng ta hứa kết hợp trọn đời, nhưng có một điều mà chúng ta khó biết trước, là rồi ra, cả hai người đều không thể nào cùng xuống một sân ga. Cũng có người xem cuộc hành trình là một gánh  nặng, cũng có người xem đó là cuộc rong chơi. Cũng cóngười mới gặp gỡ trong giây lát rồi, bỗng dưng ra đi biền biệt, như người khách đi tàu xuống một sân ga nào đó mà chúng ta không hề hay biết.

Có ai đi một chuyến tàu dài ngày mà không có một người bạn đồng hành để chuyện trò hay một người để cho chúng ta ngưỡng phục và yêu mến, và mỗi người trong chúng ta ai cũng phải có một người bạn như thế.

Họ có thể đi với chúng ta qua nhiều ga, hay bất chợt xuống một ga nào đó để lại những niềm luyến tiếc cho riêng chúng ta, mà cho cả những người hiện diện trong toa tàu. Chúng ta cũng vậy, làm thế nào để khi chúng ta xuống một ga nào đó trên đường tàu mà không ai tiễn chúng ta bằng những chiếc dép hay bằng những lời nguyền rủa ném theo.

Chuyến tàu đời là chuyến tàu đi một chiều không có lần trở lại. Những nhà ga chúng ta đã ghé qua, dù vui buồn cũng chỉ một lần, khi con tàu đã kéo còi đi về phía trước, không bao giờ để cho chúng ta có cơ hội trở lại những nhà ga cũ, nói ví von là chúng ta không thể nào tắm lại trong dòng sông xưa. Đó là những nhà ga của tuổi thơ dịu dàng, đó cũng có thể là những nhà ga của muộn phiền đau đớn, đó có thể là những nhà ga đem lại cho chúng ta niềm vui hạnh ngộ mà cũng là những nhà ga của xót xa cách biệt mà chúng ta đã để lại ở đó những người thân yêu, mà giờ đây vui buồn “chở mấy toa đầy nặng khổ đau.”

Con tàu đời đã dừng lại hàng trăm nhà ga, mỗi nơi ghi nhận thêm những nỗi chia xa. Những người khách mới lên tàu thì xa lạ, chúng ta chưa hề quen biết, nhưng bạn bè và những người thân yêu của chúng ta lại lần lượt từ giã chúng ta, xuống ga. Có những buổi sáng mai thức giấc mới thấy trong toa vắng bóng một người quen, vì đêm qua, họ đã xuống tàu, mà trong cơn say ngủ chúng ta không hề hay biết.

Tuổi già rồi sẽ đến như con tàu sẽ dừng lại ở những nhà ga cuối cùng nào đó của riêng ta. Tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray mỗi lúc mỗi nặng nề, làn khói tàu theo gió vật vã, phì phào như nghẹn ngào hơi thở và tiếng còi tàu rền rĩ vang xa. Bạn bè mỗi lúc rời toa tàu càng đông, mới hôm qua cười cười nói nói đó, hôm nay đã khuất dạng, tan biến trong không gian, ẩn hiện trong niềm nhớ, nỗi quên của mọi người. Và con tàu vẫn hăm hở, băng băng, vô tư nuốt quãng đường dài, hết ga này rồi đến ga kia, từ một ga nhỏ heo hút, tăm tối ở một ven rừng nào đó, rồi đến ga lớn trong vùng đô thị đầy ánh sáng, và … ga nào là ga cuối cùng của tôi?

Mọi người, không trừ ai, trước hay sau đều phảixuống ga. Tiếng còi tàu đã cất lên, con tàu giảm tốc độ, thở những hơi thở dài, chậm rãi vào ga. Nào, có ai dưới ga kia, chờ đợi tôi. Nào có ai trên toa tàu này đưa tiễn, bịn rịn cầm lấy tay tôi hay không? Tôi sắp xuống ga rồi, quy luật của chuyến tàu là chỉ có thể xuống một mình và không thể mang một thứ hành lý nào theo. Xin vẫy tay chào người ở lại, và xin bạn bè, thân thuộc, quen biết hay xa lạ, xuống ở những ga sau. Biết đâu, ở một nơi nào đó, chúng ta sẽ gặp lại nhau!

Tầng Đầu Địa Ngục

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 7 Feb 2026

Tác giả và tác phẩm 

Aleksandr I. Solzhenitsyn được thi sĩ Yevgeny Yevtushenko, một nhà thơ trẻ tuổi được ái mộ nhất của văn nghệ Nga Xô gọi là “Nhà văn cổ điển duy nhất của chúng ta…” Ở Nga Xô không có nhà văn nào xứng đáng với danh hiệu trên hơn là tác giả Tầng đầu địa ngục. 

Solzhenitsyn ra đời năm 1918. Sau mười một năm sống trong những trại tập trung tù chính trị của chế độ Xô Viết, nơi ông thu thập, ghi nhận những tài liệu sống để viết thành hai tác phẩm Một ngày trong đời của Ivan Denisovich và Tầng đầu địa ngục, ông sống như một bệnh nhân trong một bệnh viện điều trị bệnh ung thư cho tới năm 1950. Năm 1967, ông công khai lên tiếng chống lại chính sách đàn áp tư tưởng con người của chế độ Xô Viết. Ông từng viết: “Không còn có thể chịu đựng được lâu hơn nữa sự đàn áp tinh thần ấy, nền văn nghệ của chúng ta đã quằn quại dưới sự đàn áp ấy trong nhiều thế hệ. Không ai có thể chặn đường sự thật. Để chiến đấu cho sự thật, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng và chấp nhận cả cái chết”. 

Harrison E. Salisbury, một chuyên gia Hoa Kỳ về các vấn đề Nga Xô Xiết, đã ví Aleksandr I. Solzhenitsyn như một Dostoevsky của thời đại mới. Harrison E. Salisbury đã viết về Aleksandr I. Solzhenitsyn và tác phẩm Tầng đầu địa ngục như sau trên tờ New York Times Book Review: 

“Tầng đầu địa ngục là một tác phẩm mới nối tiếp tập Hồi ký của Dostoevsky. Trong thời gian chế độ Xô Viết ngự trị trên đất Nga chúng ta có một chuỗi dài vô tận những tiết lộ bi thảm về những trại giam tù chính trị ở đó. Giờ đây, vóc dáng to lớn vượt bực của Solzhenitsyn xuất hiện. Cũng giống như Dostoevsky, Solzhenitsyn là một kẻ sống sót, một người trở về từ địa ngục lao tù. Ông từng sống nhiều năm trong tù ngục và lưu vong. Những người đàn ông, đàn bà trong tác phẩm của ông đều là những nhân vật bằng xương, bằng thịt, họ yêu, họ ghét, họ thù, họ thương, họ cười, họ khóc, họ trò chuyện, họ ước mơ. Và bỗng dưng, ta hiểu rằng lao tù, khủng bố, sa đọa và tàn ác chỉ làm trong sạch thêm tinh thần con người. Cuối cùng, không phải tù nhân là những kẻ bị tiêu diệt dù rằng họ có thể bị mất đời sống. Kẻ bị tiêu diệt dù rằng họ có thể bị mất đời sống. Kẻ bị tiêu diệt chính là những tên cai ngục. Bọn đàn áp chính là bọn thất bại. Những nhà độc tài kể tiếp nhau đã cố gắng ngăn chặn ý tưởng tiến đến những lý tưởng nhân bản của các nhà văn Nga trong quá nhiều năm đến nổi giờ đây, ta khó có thể biết chắc sự cố gắng ngăn chặn ấy bắt đầu có từ bao giờ. Nhưng ta biết chắc rằng họ đã thất bại thê thảm. Solzhenitsyn là bằng chứng của sự thất bại ấy.” 

Aleksandr I. Solzhenitsyn được giải văn chương Nobel năm 1970. Chính quyền cộng sản Nga ngăn cản không cho ông đi sang Thụy Điển để lãnh giải này. Tầng đầu địa ngục là tác phẩm dài nhất của ông. Tác phẩm này không được xuất bản ở trong nước Nga, tác giả của nó đã phải gửi bản thảo ra ngoại quốc để in. Tầng đầu địa ngục được dịch và ấn hành ở Hoa Kỳ dưới nhan đề The First Circle trong năm 1968. Trong khoảng thời gian năm năm trời nay, The First Circle là quyển tiểu thuyết được nhiều người đọc nhất thế giới. 

Hiện nay, Aleksandr I. Solzhenitsyn sống ở ngoại ô Mạc Tư Khoa cùng với gia đình ông gồm một người vợ trẻ và hai đứa con nhỏ. Cộng Đảng Nga mở chiến dịch bôi lọ ông, vu cáo ông và cô lập ông, họ không cho vợ chồng ông làm việc ở bất cứ đâu và gạt ông ra ngoài mọi hoạt động văn nghệ. Nhưng uy tín và giá trị cá nhân của ông đã quá lớn, cho tới nay những người lãnh đạo chế độ Xô Viết ở Nga chỉ cố tình quên ông nhưng chưa dám thẳng tay hãm hại ông.

1. Và anh là ai?

Đôi kim đồng hồ chỉ bốn giờ năm phút. 
Trong ánh sáng hấp hối của một ngày tháng Chạp, mặt đồng của chiếc đồng hồ đặt trên giá trông như có màu đen. 
Hai cánh cửa kiếng của khung cửa sổ cao nhìn xuống dãy phố đông đảo, nhộn nhịp bên dưới, nơi những người gác cửa đang dồn những mảnh tuyết nâu lại thành từng đống, tuyết tuy mới rơi nhưng đã ướt và dơ bẩn, những cây cào gỗ đẩy tuyết ngay dưới chân những người qua đường. 
Innokenty Volodin, cố vấn Quốc gia đệ nhị, nhìn ngây xuống cảnh đó nhưng không ghi nhận gì hết, chàng đứng dựa vài vào thành cửa sổ, miệng khẽ huýt gió một điệu nhạc mệt mỏi. Những ngón tay chàng lật mở từng từ giấy trắng bóng, in sặc sỡ nhiều màu của một tập san ngoại quốc. Nhưng mắt chàng cũng không nhìn thấy những hình ảnh in trên những trang báo đó. 
Cố vấn Quốc gia đệ nhị hạng Innokenty Volodin, chức vụ này của chàng trong ngành ngoại giao tương đương với cấp Trung tá trong quân đội, là một thanh niên cao và mảnh mai. Không bận đồng phục và bận bộ y phục may bằng một thứ hàng len dệt, trông chàng có vẻ là một công tử hào hoa hơn là một viên chức trung cấp trong Bộ Ngoại giao. 
Bây giờ đã đến lúc chàng phải bật đèn trong văn phòng nếu chàng muốn ở lại làm việc ngoài giờ, nhưng chàng không bật đèn, hoặc rời văn phòng để về nhà. Chàng cũng không để lộ vẻ gì là sửa soạn ra về. 
Bốn giờ chiều không có nghĩa là giờ làm việc trong ngày đã hết, bốn giờ chiều chỉ có nghĩa là ánh sáng của một ngày đã tắt, hoặc mờ đi, vào giờ nay tất cả mọi người đều về nhà ăn bữa tối để rồi bắt đầu từ mười giờ đêm, cả ngàn khung cửa sổ của sáu mươi nhăm cơ quan chính phủ ở Mạc Tư Khoa lại sáng đèn. Chỉ có một người, một người mà thôi, sống ở giữa khoảng một tá tường thành ở Mạc Tư Khoa, không ngủ được ban đêm, và người này đã làm cho tất cả những viên chức chính phủ lớn nhỏ ở Mạc Tư Khoa cũng phải thức với y cho tới ba, bốn giờ sáng. Vì đã biết rõ thói quen thức đêm của Vị Chúa Tể, đêm nào cũng vậy, khoảng ba mươi ông Tổng trưởng ngồi như những chú học trò được gọi đến tên. Để cho khỏi buồn ngủ, những ông Tổng trưởng này hành hạ những ông phụ tá, những ông phụ tá hành hạ những ông trưởng phòng và những nhân viên phụ trách lưu trữ hồ sơ vất vả leo lên những bậc thang mở những ô kéo tìm những tấm phiếu lý lịch hồ sơ, trong hành lang có những viên thư ký hấp tấp đi lại và trong văn phòng có những viên thư ký hồi hộp làm gãy những ngọn viết chì. 
Và ngay cả hôm nay nữa, đêm nay là đêm Giáng sinh Tây phương, từ hai ngày nay tất cả những Tòa đại sứ ở Mạc Tư Khoa đều đóng cửa, tê cứng trong cái lạnh đêm cuối năm, trong những Tòa đại sứ ấy tất cả những máy điện thoại đều ngừng reo chuông, và ngay trong phút này, nhân viên của những Tòa đại sứ ấy chắc là đang thoải mái ngồi chung quanh những cây Giáng sinh, trong những cơ quan chính phủ này người ta vẫn làm việc. Nhiều người ngồi đánh cờ, nhiều người ngồi khảo chuyện phiếm, nhiều người khác nữa ngủ gật – nhưng đêm nay, người ta vẫn là làm việc. 
Những ngón tay bối rối, hơi run của Volodin lơ đãng lật nhanh những trang tập san. Suốt trong thời gian đó cảm giác sợ hãi dâng lên trong chàng, nó bốc lên như lửa một lúc rồi tàn đi và sau cùng, đông lại. 
Từ ngày còn thơ ấu, Innokenty đã biết bác sĩ Dobroumov, chàng vẫn nhớ rõ hình ảnh của ông từ ngày đó cho đến bây giờ. Thời ấy bác sĩ Dobroumov hãy còn là một ông thầy thuốc rất thường, danh tiếng ông chưa nổi sáng và người ta chưa cử ông cầm đầu những phái đoàn đi ra ngoại quốc. Thời ấy, chưa ai coi ông là khoa học gia, ông chỉ là một ông thầy thuốc đi chữa bệnh tận nhà. Mẹ của Innokenty thường đau yếu luôn và lần nào có bệnh bà cũng mời đến bác sĩ Dobroumov. Bà tin ở tài ăng và kinh nghiệm của ông. Mỗi lần ông đến nhà và treo cái mũ da của ông lên mắc sau cánh cửa, cả nhà như tràn dầy một làn không khí dễ chịu bình yên, tin tưởng. Không lần nào ông ngồi lại dưới nửa tiếng đồng hồ bên cạnh giường người bệnh. Ông hỏi về tất cả những khó chịu, những đau đớn của người bệnh, như những chuyện đó làm cho ông hài lòng, ông xem mắt, xem lưỡi, nghe ngực người bệnh và sau đó ông giải thích cho người bệnh nghe về phương pháp điều trị mà ông áp dụng cho người bệnh. Khi đi ra khỏi nhà, lần nào đi ngang trước mặt chú nhỏ ông cũng dừng lại để hỏi một câu, chú nhỏ sẽ nói ra một câu thông minh. Trong những ngày xa xưa đó, ông bác sĩ đã có mái tóc bạc xám. Bây giờ không biết ông ra sao? 
Innokenty liệng tập báo xuống bàn và thần kinh chàng căng thẳng, bối rối, khó nghĩ, chàng đi đi lại lại trong phòng. 
Chàng có nên gọi điện thoại hay không? 
Nếu vụ này liên can đến những bác sĩ mà chàng không đích thân quen biết, Innokenty sẽ không phải bận trí suy nghĩ đến hai lần về việc nên hay không báo cho người trong cuộc biết. Nhưng người trong cuộc lại là bác sĩ Dobroumov! 
Có thể có cách nào làm người ta nhận ra được giọng của một người qua ống điện thoại nếu người nói nói thật nhanh, gác máy và đi ngay khỏi chỗ đặt máy điện thoại? Họ có thể nhận ra tiếng nói của một người qua điện thoại không? Chắc là họ chưa có kỹ thuật nào dùng vào việc này. 
Chàng đi trở lại bàn giấy của chàng. Trong bóng tối của ngày đông tàn chàng vẫn nhìn thấy rõ tập chỉ thị mật về công tác mới mà chàng sắp phải làm. Chàng sẽ đi trước ngày đầu Năm mới, vào thứ Tư hay thứ Năm gì đó. 
Nếu chàng đợi thì hợp lý hơn. Chàng cũng sẽ khôn ngoan hơn nếu chàng đợi. 
Trời ơi! Hai vai chàng rung động trong một cái rùng mình, vai chàng chưa bao giờ bị đè nặng như thế này. Nếu chàng đừng biết gì hết về vụ này, chàng sẽ đỡ khổ biết là chừng nào. Nếu chàng đừng biết… 
Chàng cầm tập chỉ thị và tất cả những giấy tờ trên bàn đem đến cất vào trong tủ sắt. 
Nhưng… Làm sao người ta lại có thể kết tội bác sĩ Dobroumov chỉ vì lời hứa đó của ông? Lời hứa đó chỉ biểu lộ tấm lòng quảng đại của một người có tài. Tài năng là một cái gì bao giờ cũng biểu lộ ra ngoài bất kể người có tài muốn biểu lộ hay không, người có tài và có lòng tốt bao giờ cũng sốt sắng chia sẻ tài năng của mình cho người khác. 
Cảm giác bối rối, khó xử trong Innokenty tăng lên, mạnh hơn. Chàng đứng tựa vai vào thành tủ sắt, đầu cúi xuống, hai mắt nhắm lại. Chàng đứng như thế ở đó một lúc khá lâu. 
Rồi đột ngột, như chàng vừa để cơ hội tốt cuối cùng trôi qua, không gọi điện thoại xuống nhà để xe để người ta mang xe hơi của chàng ra trước cửa, không kịp cả đậy nắp lọ mực trên bàn, Innokenty đi vội ra khỏi văn phòng. Chàng khóa cửa và đưa chìa khó cho người hạ sĩ trực ngồi ở cuối hành lang, bận áo khoác ngoài và bước nhanh xuống thang lầu. Chàng đi như chạy ra khỏi tòa nhà, len lỏi giữa đám nhân viên bận những chiếc áo thêu vàng, cầu vai vàng, nẹp vàng. Và chàng chạy vào vùng trời hoàng hôn bên ngoài, chàng thấy dễ chịu hơn nhờ sự hoạt động này. 
Đôi giày da bóng theo kiểu Pháp của chàng súc vào những tảng tuyết ướt bẩn. 
Đi ngang đài kỷ niệm Vorosky trong sân trước của Bộ Ngoại giao, Innokenty nhìn lên và không thể ngăn được rùng mình. Chàng cảm thấy tòa nhà mới xây cất ở đường Bolshaya Bubyanka đối diện với công viên Furkasovsky có một ý nghĩa mới đối với chàng. Tòa nhà trắng xám chín tầng kia giống như mười tám khẩu đại bác. Cô đơn và yếu đuối, Innokenty bị cuốn hút qua công viên nhỏ tới dưới đầu chiến hạm khổng lồ ấy. 
Chàng quay đi, như để tự cứu – chàng rẽ tay phải, đi xuống đường Kuznestsky Most. Ở đầu đường này, ngay khúc quanh, một chiếc tắc xi sắp rời khỏi vỉa hè. Innokenty vào xe và bảo tài xế chạy theo đường Kuznestsky Most rồi quẹo trái để vào con đường Petrvka vừa mới sáng đèn đường. 
Chàng vẫn còn do dự – chàng nghĩ đến chuyện chàng có thể gọi điện thoại ở đâu để khỏi bị người đứng chờ đến lượt bên ngoài gõ gõ lên cửa kiếng phòng điện thoại thúc dục chàng nói mau và nhường chỗ. Nhưng nếu chàng đi tìm một phòng điện thoại công cộng ở một chỗ vắng vẻ, ít người, chàng sẽ còn dễ bị nghi ngờ nhiều nữa. Có lẽ chàng nên đến một phòng điện thoại ở một khu thật đông người, miễn là phòng điện thoại đó đứng sát vào một bức tường. Rồi chàng nghĩ ra rằng chàng không nên đi lang thang vô định trong thành phố trong chiếc tắc xi này, nếu có chuyện gì xảy ra, người tài xế này sẽ là một người làm chứng. Chàng thò tay vào túi áo tìm một đồng mười lăm kopeck. 
Bỗng dưng tâm trí chàng an định gần như hoàn toàn. Tất cả những đe dọa dường như vừa trở thành không đáng kể nữa. Chỉ trong vài giây đồng hồ ngắn ngủi, Innokenty bỗng thấy tâm hồn bình thản như chàng chưa từng bao giờ sợ hãi, chưa từng bao giờ do dự trước việc làm này. Vì chàng vừa nhận ra rằng chàng không sao làm khác được. Việc này có thể nguy hiểm, nhưng chàng vẫn phải làm… 
Nếu người ta cẩn thận quá, nếu người ta đề phòng quá, người ta có thể nào còn là người được không? 
Dưới ánh những ngọn đèn đường Okhotny Ryad những ngón tay chàng tìm thấy trong túi áo hai đồng mười lăm kopeck – một dấu hiệu tốt! 
Xe chạy ngang trường Đại học và Innokenty ra hiệu cho người tài xế rẽ sang tay phải. Xe chạy nhanh về đường Arbat. Innokenty trả tiền cho tài xế và không đợi lấy lại tiền lẻ, chàng đi ngang công trường. Chàng cố giữ cho chân bước từ từ và đều đều. 
Khu Arbat cũng đã sáng đèn. Từng dãy khán giả sắp hàng trước cửa rạp hát bóng chờ vào coi phim Tình nàng vũ nữ. Chữ “M” màu đỏ trên cửa xuống trạm xe điện ngầm mờ nhạt và gần như chìm mất trong làn sương xám. Một người đàn bà ăn bận giống một thiếu phụ Bô-hê-miêng đứng bán những cành hoa mimosa màu vàng. 
Cố gắng làm việc này thật nhanh. Nói ít thôi, càng ngắn càng tối – cắt máy ngay. Càng nhanh chừng nào nguy hiểm càng ít chừng ấy. 
Innokenty đi thẳng về phía trước mặt. Một thiếu nữ qua đường nghiêng mặt nhìn chàng. 
Rồi một thiếu nữ khác. 
Một phòng điện thoại công cộng vách gỗ ở trước cửa xuống trạm xe điện ngầm không có người bên trong nhưng Innokenty đi ngang không nhìn vào, chàng đi thẳng vào trong nhà trạm. 
Trong này có bốn phòng điện thoại, tất cả bốn phòng đều sát vách – nhưng trong cả bốn phòng đều có người. Innokenty dừng lại. Ở trong phòng đầu tiên bên trái người thanh niên đứng bên trong đã mắc ông nói lên máy. Thanh niên này vừa ra, Innokenty bước vội vào, chàng cẩn thận đóng cánh cửa kiếng dày lại, một tay giữ cửa, tay kia chàng run run nhét đồng tiền vào máy và quay số. Hai tay chàng vẫn còn mang bao tay. 
Sau nhiều tiếng chuống reo dài, máy nói ở đầu dây bên kia được một người nào đó nhấc lên. 
“Tôi nghe…” 
Một giọng nói đàn bà vang lên, giọng nói không có vẻ vui nhưng cũng không có vẻ khó chịu. 
“Đây có phải là nhà riêng của bác sĩ Dobroumov?” 
Innokenty hỏi, chàng cố gắng làm cho giọng nó của chàng đổi khác đi. 
“Dạ phải.” 
“Làm ơn cho mời bác sĩ cho tôi nói chuyện.” 
“Anh là ai? Anh là ai mà muốn nói chuyện với bác sĩ?” 
Giọng nói của người đàn bà hơi nặng và lười biếng. Rất có thể chị ta đang nằm dài trên đi văng trong khi trả lời chàng, chị ta không vội vã như chàng. 
“… Thưa cô… cô không biết tôi là ai đâu. Việc tôi là ai không quan trọng… nhưng mà… tôi có chuyện cần nói với bác sĩ gấp. Thật mà… Mời bác sĩ tới ngay giùm tôi.” 
Quá nhiều lời thừa thãi, vô ích – Innokenty hồi hộp nghĩ thầm tất cả chỉ vì chàng lịch sự, lễ phép quá. 
Giọng nói của người đàn bà bắt đầu có những âm thanh bất mãn: 
“Bác sĩ đâu có thể mất thì giờ nói chuyện với bất cứ ai gọi điện thoại đến…” 
Giọng nói của thị làm cho Innokenty nghĩ rằng thị có thể gác ngay ống nói sau khi nói câu đó. 
Bên ngoài khung cửa kiếng dầy, người ta qua lại tấp nập, người ta dừng lại chờ nhau, người ta bước vội cho kịp nhau. Có người đã dừng chờ đến lượt vào gọi điện thoại ở bên cửa. 
“Anh là ai? Tại sao anh lại không xưng tên?” 
“Tôi là một người bạn của bác sĩ. Tôi có chuyện quan trọng cần nói với bác sĩ.” 
“Thì sao? Sao anh lại sợ không dám cho tôi biết tên?” 
Đã đến lúc chàng nên cắt đứt cuộc điện đàm lẩm cẩm, vô ích này. Người ta không có quyền lấy những chị đàn bà ngu ngốc này làm vợ. 
“Cô là ai? Phải cô là vợ của bác sĩ không?” 
“Tại sao tôi phải trả lời anh trước?” – Người đàn bà phản đối – “anh phải nói trước…” 
Bàn tay cầm ống nói của Innokenty đã giơ lên với ý định là gác máy không nói nữa. Nhưng trong vụ này, không phải chỉ có một mình bác sĩ Dobroumov là bị liên can. Cơn giận trong Innokenty dâng lên và chàng không còn để ý tới chuyện làm thay đổi giọng nói nữa, chàng cũng không còn cố nén hồi hộp, cố giữ bình tĩnh để giọng nói của chàng giống giọng nói của một người chỉ gọi đến để nói một chuyện rất thường. Chàng gằn lên vào ống nói, vừa năn nỉ vừa giục dã: 
“Cô nghe tôi… Này cô… Tôi phải báo cho bác sĩ biết một chuyện nguy hiểm.” 
“Nguy hiểm?” 
Giọng nói của người đàn bà trầm xuống, rồi tắt đi. Nhưng chàng vẫn không nghe thấy tiếng thị gọi ai đến máy. Rồi giọng thị lại cất cao: 
“Nếu vậy, tôi lại càng không nên gọi ông ấy tới. Chuyện gì là chuyện nguy hiểm? Biết đâu anh chẳng bày đặt? Làm sao tôi biết được là anh nói thật hay nói dối?” 
Sàn phong điện thoại như có lửa bốc lên đốt hai chân Innokenty và ống nói đen có dây xích sắt buộc vào dàn máy như trơn tuột trong lòng bàn tay chàng. 
“Nghe tôi nè… Cô phải nghe tôi…” Chàng kêu lên trong tuyệt vọng. “Lần xuất ngoại vừa rồi, khi ông bác sĩ ở Paris, ông ấy có hứa với những bác sĩ Pháp là ổng sẽ cho họ một thứ gì đó. Một thứ thuốc mới. Trong vài ngày nữa ổng sẽ đưa cho họ thứ thuốc ấy. Họ là người ngoại quốc. Cô hiểu gì không?” 
“Ông ấy không có quyền cho người ngoại quốc bất cứ thứ gì… Ông sẽ bị…” 
Một tiếng cách vang lên và Innokenty đứng chết lặng với ống nói áp trên tai. 
Một kẻ nào đó đã cắt đứt đường dây.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 7 Feb 2026

22. Chương 17 – Lượm đá lấp biển

Ở Phủ Tổng Thống Pháp, người ta nhấn mạnh là tất cả những chuyện quan trọng không thể thực hiện một cách công khai ở nơi thanh thiên bạch nhật được . Đó là lề lối ngoại giao của người Pháp, kín đáo nhưng không có bí mật.

Tại Sài Gòn thì không được kín đáo lắm. Có quá nhiều trung gian, toàn là những người tốt, nhưng cũng có những sứ giả thật mà cũng có những sứ giả tưởng tượng nữa, những điệp viên hai ba mang, mờ ám.. hay ra vào các các trung tâm chánh trị và quân sự.

Bị châm biếm hay không thì vị trí của người Pháp ở đây ai cũng biết cả rồi: đại sứ Mérillon đã có quyết tâm xử dụng tới cùng lá bài của “lực lượng thứ ba” và của tướng Dương văn Minh.

Đối với người Pháp thì Miền Nam Việt Nam coi như đã thua trận rồi, nhưng chế độ Sài Gòn cũng chưa đến đỗi phải sụp đổ trong những tuần lễ sắp tới.. Cần phải thử bảo đảm cho sự tồn tại của một Miền Nam Việt Namthu hẹp, một loại Nam Kỳ quốc. (nguyên tác: Cochinchine) Bắc Việt hình như chưa có gì gấp gáp lắm, họ sẽ chấp nhận một Chánh Phủ trung lập với lãnh đạo là ông Minh Dương.

Đó là những gì mà ông Pierre Brochand đã giải thích cho ông Polgar ngày 13 tháng 4 tại hồ bơi của Câu Lạc Bộ Thể Thao Sài Gòn. Ông Brochand là đệ nhị Cố Vấn của Tòa Đại Sứ Pháp, chuyên viên về các vấn đề Đông Dương, người có một vẻ đẹp ngâm đen của người Miền Nam nước Pháp, thực sự ông ta là người phụ tá chánh về chánh trị của đại sứ Mérillon. Ông đệ nhất Cố Vấn lo về vấn đề văn hóa và cơ quan của ông ta ở cách tòa đại sứ đến gần 2 cây số. Thời gian gần đây hai ông Brochand và Polgar gặp nhau rất thường.

Đã từ lâu rồi, ông Brochand có trách khéo ông Mérillon là không chịu khó đi gặp thường các người của lực lượng thứ ba. Ông Mérillon biết vậy nhưng ông nghĩ rằng nếu mình lui tới với ông Minh Dương thì ông Thiệu sẽ không được vừa lòng.

Bây giờ thì ông Polgar ngả về một giải pháp chánh trị, từ sự ra đi của ông Thiệu để cho có được người kế vị cho ông ta. Tại sao không phải là ông Minh Dương? Hơn nữa, ông Cố Vấn Brochand đã chứng minh rất thực tế là nước Pháp sẵn sàng đón nhận 50 ngàn tỵ nạn chánh trị người Việt Nam. Như thế là ông ta đã áp dụng đường lối chánh trị của vị Đại Sứ của ông rồi.

Ông Mérillon người không lớn lắm, hơi cận thị, xuất thân từ trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh, có họ xa với Tổng Thống Giscard d’Estaing, đã được ông Georges Pompidou bổ nhiệm qua Sài Gòn và khi trình ủy nhiệm thư ông được Tổng Thống Thiệu đón tiếp bằng bản quốc thiều Pháp, một bản nhạc mà người ta mới được nghe lần đầu tiên từ 10 măm nay ở Miền Nam Việt Nam. Theo ông Mérillon thì đó là người ta cho người Pháp nhiều hơn những gì mà họ đang có. Cũng theo ông, thì có nhiều người Việt Namnhìn ông ta như là một phó vương trong tư cách đại diện cho nước Pháp. Ông Mérillon có nhiều mục tiêu phải làm:

_ Lo vấn đề an ninh cho người Pháp ở Việt Nam (gần 10.000 công dân Pháp), và ông đã đưa được về Sài Gòn hơn 300 người từ Cao Nguyên bằng các chuyến bay riêng..

_ Trong viễn ảnh Sài Gòn bị Bắc Việt chiếm thì phải bảo vệ cộng đồng người Pháp, nhất là trong giai đoạn bàn giao, tranh tối tranh sáng.

Ông Mérillon nghĩ tới năm 1945, lúc người Nhật ra đi thì ở Sài Gòn trong một cư xá, người Pháp đã bị tàn sát trong những điều kiện thật đau thương tàn bạo , với trẻ con liệng vào lửa, phụ nữ bị hãm hiếp, đàn ông bị tra tấn hành hạ… Ông Mérillon cũng không nuốn thấy số phận Sài Gòn giống như Đà Nẵng.

_ Phải làm sao cho nước Pháp càng có lợi bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.. Trong hai Miền Nam Bắc Việt Nam, đường lối chánh trị của Pháp nếu có, thì sẽ là một sự pha trộn giữa những kỷ niệm và những lời chúc tụng không chính xác….

Đới với chánh quyền Pháp, nước Việt Namkhông có gì ưu tiên hết. Sau phong trào chống Mỹ thời Tổng Thống De Gaulle thì chánh quyền của ông Pompidou dịu dàng hơn đã mở đường cho Chánh Phủ hiện tại của ông Giscard d’Estaing căn cứ trên giả thuyết dễ dãi của Hà Nội . Có rất nhiều người Việt Nam ở Sài Gòn , ít nhất là những người ở lứa tuổi trên 40, đã nhắc đi nhắc lại là họ thấy gần người Pháp hơn là người Mỹ. Các người Mỹ thì thô lỗ và thẳng tánh, còn người Pháp thì nặng về tình cảm hơn. Về lịch sử thì họ đã có mặt ở cả Đông Dương. sự kiện ngoại giao quan trọng là Hiệp Định 1973 đã được ký kết ở Ba Lê.

Khi ông Mérillon rời Ba Lê để qua Sài Gòn thì ông có xin chỉ thị của ông Tổng Trưởng Michel Jobert thì ông này nói:

_ “Người Đại Sứ không cần có chỉ thị. Ông ta phải tự tìm lấy cho mình”. Và ông còn nói tiếp

_ “Tòa đại sứ bên đó ra làm sao rồi? Hãy làm thế nào để phải có một tòa đại sứ cho ra hồn!

Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn rất đẹp. Trong dinh thự của mình, ông Mérillon đã cho người ta ngắm thỏa thích thang lầu hình khu ốc lấy kiểu ở các chiếc tàu chiến thời các Đô đốc Toàn quyền. Trên tường quét vôi trắng tinh, ông có nhiều sưu tầm quý giá màu xanh, nổi bật lên như các thác nước, như các vũ khí của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, hay của Phủ Toàn Quyền… rất đẹp.

Trong tòa đại sứ của mình, ông Mérillon lúc nào cũng muốn tỏ ra mình là một nhà chánh trị có tầm cỡ. Ông tiếp khách nhiều, chịu khó nghe, và khuyến khích người nói.

Với ông Hoàng Đức Nhã, ông nói:

_ “Ông cần phải nói với ông Anh của ông là ông ta phải biết chịu khó dàn xếp, đưa “lực lượng thứ ba” vào quỹ đạo, hay phải tiếp xúc với CPLTCHMN. (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam)

Ông Nhã đã trả lời:

_ “Ông nghĩ rằng Hà Nội sẽ để cho ông ấy nói chuyện với CPCMLTMN hay sao?

Ông Mérillon cũng đã to nhỏ với ông Nhã rằng:

_ “Về phần ông, ông có thể có một vai trò quan trọng trong Chánh Phủ mới đó!

_ “Chuyện đó không làm cho tôi quan tâm chút nào. Tôi không hề có một chút tin tưởng nào về cái gọi là Chánh Phủ Liên Hiệp đó bao giờ.”

Những người của ông Thiệu thất là quá thiển cận!

Ông Mérillon là một trong những người đại sứ hiếm hoi được ông Martin mời cơm. Hai người đều biết giá trị của nhau. Theo lời khuyên của Polgar, Đại sứ Martin không mấy tin tưởng vào tin tức quân sự hay chánh trị của người Pháp. Dĩ nhiên người Pháp là chủ đồn điền, là nhà thầu, là các tu sĩ sống rải rác khắp nơi ở các tỉnh, nhưng không có gì qua được hệ thống hữu hiệu của Trung Ương Tình Báo Mỹ (CIA). Trái lại, ông Martin sẳn sàng nghe ông Mérillon trên lãnh vực ngoại giao. Tối thiểu người ta cũng có thể nhờ người Pháp. Hai người đều ở cạnh nhau trên đại lộ Thống Nhất. Hai ông đại sứ đã cho đục một cánh cửa xuyên qua bức tường chung của hai tòa đại sứ. Trong trường hợp hệ thống điện thoại của Sài Gòn bị hư hay bị trục trặc thì hai người sẽ dùng một đường giây trực tiếp nối liền hai điện thoại màu đỏ được đặt ở ngay văn phòng của mỗi người . Về phía người Pháp, điện thoại này được đặt ở trong một hầm trú ẩn nằm ở sát cạnh văn phòng của ông Mérillon. Do đó mà có một lần khi vị sứ thần của Tòa Thánh đến thăm ông Mérillon, thấy ông này lật đật chạy ra khỏi văn phòng, vị sứ thần này lấy làm ngao ngán tưởng ông đại sứ này đang bị tháo dạ.

Ông Martin đang tìm một lối thoát chánh trị và càng ngày ông càng nghe nhà ngoại giao của Pháp. Vào giữa tháng 4, hai ông Martin và Mérillon đều đồng ý là: ông Thiệu thật sự là một chướng ngại.

Ông Martin cũng mân mê một số giải pháp khác. Một trong số đó có vẻ hấp dẫn trong giai đoạn này: (viện trợ quân sự bổ túc + thương thuyết chánh trị ) Nhưng không may, vào ngày 16 tháng 4 Kissinger báo tin không vui về cuộc chạy đua của các Tiểu Ban trong Quốc Hội và những sự bàn cãi của Quốc Hội:

_ “Chúng ta phải thấy trước là chúng ta đang chờ đợi môt cuộc bỏ phiếu chống”

Theo ông Tổng Trưởng Ngoại Giao thì các cuộc tranh luận ở Thượng Viện và Hạ Viện đều tập trung vào một bài toán hoàn toàn giả tạo (nguyên tác: tiếng Anh totally phoney). Ông Kissinger này biết cách động viên ông Martin của mình, khen ông Martin và xác nhận là ông này ở Sài Gòn hành sử tuyệt diệu như là một ông tướng ngoài mặt trận vậy. Và ông lợi dụng cơ hội này để hỏi ông Martin xem bằng cách nào ông có thể đưa về nước nhanh chóng con số 2000 công dân Hoa Kỳ?

Không biết có phải là hớ hênh hay vô ý khi cũng trong ngày 16 tháng 4 này, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông ta đã cho lệnh di tản hết tất cả những người Mỹ nào ” xét thấy không cần thiết” ? Do vậy ông Kissinger phải xin lỗi ngay sau đó với ông Martin:

_ “Tôi biết là điều này đã làm cho công việc của ông càng thêm khó khăn hơn.”

Đại sứ Martin buộc lòng phải chấp nhận ý kiến “chỉ di tản khi tình hình tương đối được ổn định và với sự hợp tác của QLVNCH”. Theo một vài tờ trình mới nhất thì các sĩ quan Miền Nam Việt Nam cho biết là nếu người Mỹ bỏ họ để rút đi thì họ sẽ ngăn không cho phi cơ cất cánh. Họ cũng còn sẵn sàng bắn vào các phi cơ đó nữa.

Cũng trong ngày 16 tháng 4 này ông Martin đã cùng đô đốc Hugh Benton đặc phái viên của Tổng Tư Lệnh Vùng Thái bình Dương, nghiên cứu một kế hoạch di tản 200.000 người Việt Nam. Đô đốc đề nghị cho họ đi bằng ngả Vũng Tàu và từ đó họ sẽ được đưa về Thái Lan, Phi Luật Tân hay Tân gia Ba. Ông Martin vì hoài nghi nên đã trình bày những sự nghi ngờ của ông trong một công điện gởi thẳng cho tướng Brent Scowcroft ở Tòa Bạch Ốc. Theo hệ thống hành chánh, ông Martin phải trực thuộc ông Kissinger, nhưng ông cũng thích chứng tỏ cho mọi người đều biết ông là người đại diện cho Tổng Thống Hoa Kỳ . Ông Martin là sĩ quan tình báo trong thời Đệ Nhị Thế chiến, nên ông tự xem mình giỏi hơn bất cứ ông tướng hay Đô Đốc nào khác.

Cũng còn giỏi hơn bất cứ ai khi đụng vào những bài toán di tản: vì ở Ba Lê, ông đã từng lập kế hoạch di tản người Mỹ nếu có xảy ra một cuộc tấn công của Liên Xô vào Tây Âu . Ông Martin đã từng đưa nhân viên của ông lên thủ đô Bruxelles của nước Bỉ, đi ngược chiều với dòng người tản cư xuống phía Nam.

Chắc ông Martin không bao giờ dự trù đưa người Mỹ của ông hay những người Việt Namđi ngược ra Hà Nội. Nhưng theo ông thì kế hoạch của Đô đốc không đứng vững và quá tốn kém. Kế hoạch này cần phải trả tiền thuê 16 chiếc tàu với giá 250.000 mỹ kim một ngày.

Điều bớt lo cho một số lớn cộng sự viên của ông Martin là ít ra ông cũng đã bắt đầu chú ý tới những bài toán về cuộc di tản.

Cuối cùng trong khi ông đổi ý về một cuộc rút đi với một sự chết lặng trong tâm hồn, thì ông lại nhận được một công điện của ông Kissinger ngày 17 tháng 4, một công điện quá bối rối, chỉ riêng một mình ông Martin mới được đọc mà thôi. Ông Kissinger đã thảo bức công điện này sau một buổi họp gồm toàn nhân viên cao cấp quan trọng thuộc các Bộ và cơ quan khác:

_ “Ông phải biết là gần như không có một người nào hỗ trợ cho ý kiến phải di tản người Việt Nam, hoặc dùng quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ cuộc di tản. Các quân nhân thuộc Bộ Quốc Phòng và ở Trung Ương Tình Báo, có cảm nghĩ chính là phải đi nhanh và ngay bây giờ (nguyên tác: to go out fast and now)”

Ông Kissinger đồng ý với ông Martin là phải tránh các phản ứng giây chuyền vì sự hoảng lọan, nhưng ông Tổng trưởng đòi hỏi là đến ngày 22 tháng 4 không được còn quá 2000 người Mỹ ở Việt Nam.

Sau khi đi một vòng ở ngoại quốc trở về, ông đại sứ lưu động Bùi Diễm xin gặp Tổng Thống Thiệu. Một đại tá đã trả lời:

_ “Tổng Thống đang lo buồn vì tỉnh nhà của ông bị chiếm mất. Thủ tướng sẽ tiếp ông.”

Ông Bùi Diễm không hề muốn gặp ông Thủ tướng lạ này, một người hơi nhu nhược về chánh trị . Ngoài ra ở Việt Nam chỉ có Tổng Thống mới là người quan trọng. Điện thoại ở nhà ông Bùi Diễm reo. Đích thân ông Thủ tướng Cẩn ở đầu giây:

_ “Tổng Thống muốn là tôi phải tiếp ông.”

Ông Bùi Diễm ngần ngừ. Ngay lúc đó thì tướng Đôn tới.. Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng cố nhấn mạnh: Dù sao thì ông Cẩn cũng là Thủ Tướng. Ông Bùi Diễm hơi khó chịu.

_“Tôi không muốn mất thì giờ.

Ông Đôn ra về, xong trở lại và cuối cùng đưa Bùi Diễm đến nhà ông Cẩn. Ở đó họ lại gặp đệ nhị Phó Thủ Tướng, ông Nguyễn văn Hảo. Nhận định một vòng về tin tức bi thảm. Hơn nữa những người này không ai có quyền quyết định.

Bùi Diễm nói:

_ “Sự thật cho ta thấy là không còn gì để làm được nữa.

Cả Thủ tướng và vị phó Thủ tướng đều bàng hoàng. Cả hai ông đều biết là ông Bùi Diễm biết rất rõ người Mỹ và bộ máy của thể chế ở Hoa Kỳ. Ông Đôn thì tỏ ra ít ngạc nhiên hơn. Ông Hảo nói lên ngay:

_ “Như vậy là phải tổ chức phòng thủ ở Đồng bằng sông Cửu Long.!”

Ông Đôn trình bày các khó khăn trong vấn đề ông Hảo vừa nói: “Người Mỹ ở Sài Gòn sẽ nghĩ gì về việc đó?”

Ông Bùi Diễm đi lại tòa đại sứ Hoa Kỳ . Hai ông Martin và Bùi Diễm đều biết giá trị của nhau, nhưng giờ này thì giữa hai người không có sự thành thật. Ông Martin nói:

_ “Ông sẽ đến gặp Tổng Thống Thiệu? Ông sẽ nói với ông Thiệu tất cả sự thật?

_ Vâng, sự thật đó là đối với người Mỹ chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi.”

Ông Martin không bình luận gì về câu nói này. Ông tiếc gì một vài khuyến khích mơ hồ đối với ông Bùi Diễm? Ông không nói với ông Bùi Diễm rằng chính ông ta, đại sứ Hoa Kỳ, đại diện cho cá nhân Tổng Thống Hoa Kỳ, đang nghĩ tới sự ra đi của Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa! Ông Martin sẵn sàng thổ lộ là một nhà ngoại giao thì phải biết đóng kịch.

Tin tức nghiêm trọng nhất trong ngày đã đến: Quân Khmer Đỏ đã kiểm soát Phnom Penh , cách Sài Gòn 190 cây số.

Tướng Minh Dương biết được tin này trong khi ông đang dùng bữa nhẹ với vài người bạn ở quán nhậu của tướng Mai hữu Xuân, gần một đồn điền cao su ở Thử Đức, không xa Sài Gòn bao nhiêu. Ông Minh không có gì tỏ ra ngạc nhiên hay lo âu. Một trong những người bạn của ông, ông Tôn thất Thiện buột miệng nói:

_ “Bây giờ thì cộng sản sẽ dồn toàn lực đánh vào Sài Gòn.”

Ông Minh phản đối ngay:

_ “Phải mất 6 tháng nữa họ mới tới Sài Gòn được Các anh không biết gì cả. Các anh không phải là quân nhân.”

Theo ông Minh, cộng sản phải dừng quân lại thôi, ông nói với một giọng sành đời, vì họ không có đủ cán bộ cần thiết để kiểm soát và chỉ huy cả thành phố. Tướng Minh đang tìm sự hỗ trợ để cho hai đại sứ Pháp và Hoa Kỳ biết đúng lúc . Sự liên lạc với tòa đại sứ Mỹ được thực hiện qua tướng Charles Timmes, một tướng hồi hưu và đang phục vụ cho Trung Ương Tình Báo (CIA), và với tòa đại sứ Pháp thì qua ông Brochand. Ông đại sứ Mérillon có lệnh cho ông Brochand nối lại liên lạc với tướng Minh. Một cộng sự viên thân cận với tướng Minh là ông Vũ văn Mẫu muốn gởi 6 hay 7 sứ giả thuộc “lực lượng Hòa Giải ” của ông đến vùng tạm chiếm của cộng sản . Ở đó các đại biểu này có thể tiếp xúc với người của CPCMLTMN.

Tướng Minh nhắc lại là cộng sản không có ý định tiến chiếm thủ đô, mà họ chỉ muốn cô lập Sài Gòn thôi. Nếu với một số đơn vị đầy đủ người ta giữ vòng đai Sài Gòn nhất là về hướng Đông đến Xuân Lộc, và nếu người ta đi tới chuyện thương thuyết nhanh chóng, thì người ta có thể tránh được việc thành lập một “Chánh Phủ Liên Hiệp không thể chấp nhận được” Phải đi đến một thỏa hiệp nào đó để giữ được một lãnh thổ nhỏ của Miền Nam Việt Nam. Sau đó mới xét tới một “Chánh Phủ Liên Hiệp” .

_ Nhưng tại sao cộng sản lại chấp nhận dự án này?

_ Bởi vì họ không có đủ phương tiện để quản lý cả một Miền Nam Việt Nam” tướng Minh nhắc lại một lần nữa như vậy.

Các giới chức của CPCMLTMN ở Hà Nội tổ chức một chuyến viếng thăm Đà Nẵng mà họ cho là đã được họ “giải phóng” ngày 17 tháng 4. Họ mời ông Alexandre Casella, một tham vấn trong Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, cùng đi với phái đoàn các nhà báo ngoại quốc. Họ nói với ông này:

  • ” Ông có thể cùng đi vì ông cũng là một nhà báo. Ông không đi với tư cách là một đại diện của Cao Ủy Tỵ Nạn.

Phái đoàn gồm có các nhà báo của tờ Le Monde (Pháp), của thông tấn xã AFP, của tờ Pravda (Liên Xô), của thông tấn “Tân Trung Hoa”, các toán truyền hình của Thụy Điển và Pháp. Chiếc Yak 40 chở phái đoàn đáp xuống phi trường lớn ở Đà Nẵng. Có một buổi tiếp tân có thức ăn ngay tại phi trường, nơi có treo một tấm hình lớn của Hồ chí Minh.

Thành phố có vẻ yên tĩnh. Có rất ít bộ đội Miền Bắc trên đường phố. Người của CPCMLTMN điều chỉnh sự lưu thông. Các hàng quán của người Tàu treo cờ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, điều này gây thích thú cho người phóng viên của thông tấn xã “Tân Trung Hoa” một cách kỳ lạ. Đây là một cuộc thăm viếng có hướng dẫn.. Nói chung là tốt. Họ có đến viếng một nhà nuôi trẻ mồ côi do các dì phước đảm trách. Một bà nói:

-“Không thấy có chạm súng ở Đà Nẵng . Chúng tôi được bộ đội Bắc Việt giải phóng. Chúng tôi chỉ lo cho các em mồ côi thôi.”

Lúc trở về Hà Nội, Ông Casella gởi về Liên Hiệp Quốc một bản phúc trình được ông Tổng Thơ Ký công khai hóa. Phúc trình này xác nhận là “tình hình thực phẩm hình như bình thường, dân chúng đã lần lượt trở về nhà, các khu cư dân nghèo được phát hiện trống vắng… Người ta cần một vài công tác cứu thương khẩn cấp nhưng chỉ trung hạn, dĩ nhiên nên có một sự giúp đỡ nào đó để cho dân chúng trở về làng mạc của họ”.

Báo chí Hà Nội tung tin: “Một công chức của Liên Hiệp Quốc đã đi đến Đà Nẵng . Tình hình đã trở nên bình thường.”

Thật là một sự lật ngược lối nói quá trơ trẽn nhưng quá đẹp:

Đối với người dân Miền Bắc lúc bấy giờ là ông Casella đã đi đến Đà Nẵng trong cương vị đại diện cho Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc!

Ông Casella không ghi nhận được một không khí thắng trận nào trong thủ đô Bắc Việt có liên quan đến những sự tiến triển về quân sự ở trong Miền Nam.

Trong ngày đầu của cuộc đi tham quan của ông Casella ở Đà Nẵng, ở một nơi nào đó thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn, ông Frank Snepp gặp người nhân viên của mình đã gài vào bên trong, được coi là một người điệp viên giỏi của ông ta. Người nhân viên này khẳng định: Bắc Việt đã có quyết tâm phải tiến đến chiến thắng cuối cùng, không bao giờ có giải pháp ngoại giao – chánh trị nào hết.

Cả hai ông Martin và Polgar đều không chú ý tới tầm quan trọng của tờ trình này của Frank Snepp. Tờ trình này cuối cùng cũng đến được trên bàn giấy của ông Tổng Trưởng Ngoại Giao ở Hoa Thạnh Đốn trong lúc ông Kissinger đang bắt đầu làm áp lực Liên Xô trở lại. Đây là một chiến lược làm cho ông Martin vui thích. Ông đã gởi một công điện cho Kissinger:

_ “Tôi thấy họ cần phải trả một giá nào đó cho sự hòa hoãn của chúng ta . Có thể nào chúng ta tìm cách nào đó để cho cả Liên Xô và Trung Quốc hiểu rằng điều rất có lợi cho họ trong mối quan hệ với chúng ta trong tương lai là phải mạnh mẽ can thiệp với Hà Nội để họ phải lui lại trước Sài Gòn và bắt đầu đi lại con đường thương thảo.”

Ngày 18 tháng 4,

Vào lúc 12 giờ trưa ở Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger gặp đại sứ Liên Xô Anatol Dobrynine, người biết quá nhiều về Hoa Kỳ và quá quen thuộc với sân khấu chánh trị của Hoa Thạnh Đốn. Kissinger trao cho ông này một bức thơ của Tổng Thống Ford gởi cho ông Brejnev:

_ “Sự lo âu chánh yếu của chúng tôi là vấn đề di tản người Mỹ và một số người Việt Nam quan trọng phải được tiến hành trong trật tự.” Tổng Thống Hoa Kỳ muốn thấy cuộc “di tản này phải được kiểm soát”, để tránh sự đối đầu giữa binh sĩ của Bắc Việt và bộ phận bảo vệ của Hoa Kỳ . Ông yêu cầu phải được trả lời nhanh chóng. Nếu Bắc Việt ngưng tiếng súng thì Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ chiến cụ cho Sài Gòn và sẵn sàng tiếp tục lại các cuộc đàm phán chánh trị”.

Đối với ông Dobrynine, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rõ là quân Bắc Việt không được đụng tới phi trường Sài Gòn. Nếu không thì Hà Nội sẽ có nhiều hậu quả rất là tai hại. . Kissinger cho thấy là Hoa Thạnh Đốn giải quyết trực tiếp với Mạc tư Khoa , chớ không phải với Hà Nội và cũng không phải với Bắc Kinh . Tóm lại, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đe dọa ngay Hà Nội và ngầm đặt vấn đề hòa hoãn bằng cách chỉ nói thằng với Liên Xô. Âu cũng là một sự vận động cần thiết nhưng chẳng có kết quả gì, nếu không muốn nói là phù phiếm. Kinh nghiệm cho thấy là ông Kissinger vẫn biết là muốn bàn cãi với cộng sản ở Mạc tư Khoa hay Hà Nội cũng vậy, thì phải bắt đầu trong một tư thế mạnh. Hình như ông ta đặt giả thuyết hay giả bộ tin là ông Brejnev có thể ra lệnh cho các sư đoàn của Bắc Việt.

Ông không biết và ngay như ông Dobrynine cũng vậy, là trước đó 4 ngày, tức là vào ngày 14 tháng 4, từ Bộ Tư Lệnh Lộc Ninh, vị Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đã chuẩn bị cho cuộc tấn kích cuối cùng vào Sài Gòn.

Ở chỗ này, các trung tâm chánh trị thường được tin tức không chính xác trên bình diện chánh trị, nên không loại bỏ ước tính thủ đô Sài Gòn sẽ phải bị bao vây và cô lập.

Đại sứ Pháp, ông Mérillon có chiến lược chánh trị của ông: phải làm áp lực cả tướng Minh và ông Martin.

Nhà ngoại giao Pháp gặp tướng Minh lần đầu tiên ngày 17 tháng 4, đã xin lỗi là đã không thể đến thăm ông trước đó được. Ông bảo đảm rằng Ông Minh sẽ được hậu thuẫn của nước Pháp. Ở Việt Nam nước Pháp có bổn phận, có quyền và có quyền lợi. Hơi liếng thoắng ông Mérillon phác thảo cuộc dàn dựng cho một cuộc hành quân lớn về chánh trị, mà tướng Minh là trung tâm điểm. Dĩ nhiên người ta cũng phải tránh cho Sài Gòn không bị đổ máu dưới làn lửa đạn. Nếu cộng sản chiếm được thủ đô thì điều chắc chắn là một lối sống nào đó sẽ biến mất. Hai người đều dùng tiếng Pháp để trò chuyện. Cả hai đều rất cảm động, nhất là tướng Minh, nắm chặt tay ông Mérillon và siết chặt một hồi lâu, hai mắt đẫm lệ:

_ “Vâng, phải như vậy mới đúng. Ông thật là một người có lòng, thưa ông đại sứ. Tôi sẽ thử, tôi sẽ coi lại..”

Ông Mérillon thi hành đúng chị thị đã nhận .Ông đã nhận một công điện lạ lùng nếu không muốn nói là quá đáng từ Phủ Tổng Thống Pháp. Đại để:

_ “Cho Tổng Thống Thiệu đi, đặt ông Minh vào Phủ Tổng Thống.’

Ông Mérillon nghĩ là có thể đạt được một sự “chuyển tiếp đứng đắng” . Không còn có một giải pháp nào khác hơn, ngoài sự thương lượng.

Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam cho phổ biến trên cả các báo Việt ngữ và Anh ngữ một bản tin theo đó : “Đẩy lui được các cuộc tấn công qui mô của cộng sản Bắc Việt ở Xuân Lộc và Long An, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chứng minh được quyết tâm gìn giữ đất nước và khả năng của mình trong việc chiến thắng lực lượng xâm lăng cộng sản.”

Tất nhiên không tin tưởng lắm vào “khả năng chiến thắng được quân thù” như đã loan tin, Chánh Phủ Miền Nam đang chuẩn bị gởi số vàng dự trữ dằn kho sang Hoa Kỳ . Nếu Quốc Hội Mỹ không bỏ phiếu thuận cho ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam thì Tổng Thống Thiệu nói là sẽ dùng số vàng này để mua vũ khí và đạn dược.

Có quá nhiều tin đồn về hòa bình cũng như về chiến tranh như là:

_ Bắc Việt sẽ không bao giờ tấn công vào Sài Gòn,

_ các đơn vị nhỏ Bắc Việt, những đặc công giả dạng thường dân đang xâm nhập thủ đô,

_ có đảo chánh ở Sài Gòn

_ có đảo chánh ở Hà Nội

……..

Hầu hết những người Mỹ còn lại ở Việt Nam đều chống Cộng, nhưng người ta cũng thấy có vài người có thiện cảm với CPCMLTMN và cả Bắc Việt , đặc biệt trong những tổ chức nhân đạo hay cơ quan từ thiện công giáo, thường ngày tiếp xúc với những người nghèo khó và các nạn nhân chiến tranh. Đối với những người Mỹ đó, sự tiến quân của Bắc Việt không phải là một cuộc xăm lăng, cũng không phải là một sự chiếm đóng.. mà là một cuộc giải phóng, một sự bảo đảm là cuối cùng chiến trận sẽ chấm dứt. Đối với họ, hòa bình là một sự cần thiết.

Bà Claudia Krich là một thành viên của một tổ chức nhân đạo thuộc giáo phái ” Quây Cơ” (Quaker). Bà tiêu xài không tiếc tiền cho dân chúng. Bà nói rành tiếng Việt Nam, và đã có làm việc trong một trung tâm chỉnh hình và giải phẫu ở Quảng Ngãi, nằm về phía Bắc của Sài Gòn. Ở đó người ta cung cấp chân tay giả, nạng gỗ, và xe lăn cho các người tàn tật. Nghĩ rằng Quảng Ngãi sẽ bị dội bom nên bà đã về Sài Gòn từ tháng 3. Đây là nhật ký của Bà Claudia Krich:

Sài Gòn ngày thứ năm, 17 tháng 4 1975

“Lại có những tin đồn nữa: thứ bảy sẽ thấy được giải phóng, hay ít nhất cũng là một cuộc tấn công vào Sài Gòn. Các mẩu tin tức nhặt được ngày hôm qua: “mật mã bí mật” mà tòa đại sứ Hoa Kỳ xử dụng sẽ được phổ biến trên đài phát thanh khi nào Hoa Kỳ có quyết định di tản. Có người sẽ nói : “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và còn lên cao nữa.” Sau đó là bản nhạc “Tôi mơ một ngày lễ Giáng Sinh trắng” (I’m dreaming of a white Christmas)

Tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn đều biết mật mã này.”

Bà Krich viết:

  • “Mỗi ngày, chúng tôi nghe đài phát thanh để đếm xem bao nhiêu tỉnh đã lần lượt bi thất thủ. Quảng Ngãi đã được giải phóng ngày 24 tháng 3… Người ta chỉ bắn có mỗi một phát súng. Đà Nẵng đã được giải phóng ngày 29 tháng 3… Bây giờ thì còn rất ít lãnh thổ trong tay của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Với Sài Gòn thì cũng tới thôi. Ngày hôm nay, một người bạn Mỹ đã ghi nhận được là Ngân Hàng của Hong Kong và Thượng Hải không còn nhận chi phiếu bằng Mỹ kim nữa..”

Thủy Quân Lục Chiến và lực lượng Hải Quân của Đô Đốc Cang và các đơn vị Địa Phương Quân đã chận đứng được sư đoàn 5 và sư đoàn 7 Bắc Việt ở Bến Lức, trên sông Sài Gòn . Tổn thất của Bắc Việt rất nặng, lực lượng Hải Quân của Miền Nam đã tác xạ bằng đại bác 20, 40 và 105 ly . Tuy nhiên tinh thần của Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Namcàng ngày càng xuống thấp. Trong một bức thư gởi cho Đại sứ của mình, tướng Homer Smith thấy là ngay cả tướng Tham mưu trưởng Cao văn Viên cũng không nghiêng về việc Tổng ThốngThiệu phải ra đi – một điều đã được xác nhận qua cảm tưởng của ông Wolfgang Lehmann –

Tinh thần của ông Thiệu xuống quá thấp. Trước hết là ông rút vào tư phòng của ông, sau đó vào hầm trú ẩn bằng bê tông ở tầng dưới cùng của Dinh Độc Lập. Ông đã được biết là Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân trước khi rút lui đã san bằng mồ mả của tổ tiên ông ở một làng nằm ở gần bờ biển Phan Rang. Tinh thần nặng triễu vì điềm báo trước thật là kinh khủng

… ông Thiệu từ khước cả những cú điện thoại của tòa đại sứ Hoa Kỳ.

Ý thức được nỗi lo âu của người dân Sài Gòn , ông Martin ra lệnh cho thuộc cấp là phải trấn an dân chúng. Ông chỉ thỉ cho Alan Carter, chủ nhiệm sở thông tin phải đến nói chuyện ở đài truyền hình. Phải khó khăn lắm ông Martin mới giải quyết được việc này; ông không mấy thích cái anh chàng râu xồm này, một người không cùng quan điểm thông tin với ông đại sứ của mình. Cũng có thể ông Martin cảm thấy có một thích thú nào đó khi ông giao cho Carter nhiệm vụ khó khăn này. Ông Carter cảm thấy không được thoải mái lắm trước ống kính truyền hình, khi được một người Việt Nam phỏng vấn ông ta:

Hỏi: “Có một tin đồn nói rằng nếu ngân khoản viện trợ bổ túc không được chấp thuận thì người Mỹ sẽ được di tản hết từ ngày 19 tháng 4?

Đáp: “Tin đồn này không có gì làm nền tảng. Nếu ông đến thăm biệt thự của vợ chồng ông đại sứ Martin, ông có thể nhận xét là không có món gì đã được di tản, Nhà tôi cũng vậy.

Hỏi : “Cũng theo một tin đồn khác, thì Lãnh sự của Hoa Kỳ cấp phát giấy phép di tản cho một số người Việt Nam .Người ta đang sắp hàng dài trước cơ quan dịch vụ của tòa Lãnh Sự….

Ông Carter phản đối:

_ “Lại một tin đồn nữa! Tòa Lãnh sự chỉ giải quyết công việc bình thường mà thôi. Người ta điền vào hồ sơ cưới xin, làm khai sanh, và phát chiếu khán..”

Nghe ông Carter nói, người ta có thể tin rằng tỷ suất sanh sản trong cộng đồng người Mỹ ở Việt Namđang tăng mạnh.

Ông Carter biết rõ là có nhiều khán thính giả đã thấy người ta xếp hàng chờ đợi ở tòa lãnh sự. Ông nói tiếp:

_ “Sự thật là có vài người Mỹ đã ra đi. Trong hoàn cảnh này, họ có đi sớm hơn dự tính thì cũng là chuyện bình thường thôi. Tóm lại những người Mỹ đó chỉ có về sớm hơn trước ngày dự trù trong dịp nghỉ hè của họ mà thôi.”

Lối giải thích của người trưởng cơ quan thông tin này không thuyết phục được ai hết. Ngay như khán thính giả ở các tỉnh cũng cảm thấy hình như một cuộc di tản đang bắt đầu. Ông Carter đã làm hết sức mình. Để cho thấy là ông Đại sứ của ông ta đã hết lòng trong công tác phản tuyên truyền.. Ông Martin gởi về cho ông Kissinger bản văn cuộc phỏng vấn truyền hình này và còn nhấn mạnh thêm:

“Nếu Quốc Hội có bỏ phiếu chống viện trợ, tôi ước mong rằng ông và Tổng Thống sẽ công bố hết sức bình tĩnh rằng các ông đã làm hết sức mình để đạt được thắng lợi cho ngân sách năm 1976”

Ông Martin nghĩ rằng ông đã đi hơi xa:

_ “Ông có thể cho rằng chuyện đó không thực tế lắm, nhưng ở đây chuyện đó lại có nhiều kết quả. Người ta sẽ nói với chính phủ ở Sài Gòn là năm 1975 thì không có một mỹ kim nào, nhưng các ông sẽ thấy vào năm 1976, nó sẽ có trở lại!

Ông Martin sợ sẽ có những phản ứng không tốt từ phía dân chúng và binh sĩ ở Miền Nam:

_ “Hoa Thạnh Đốn không nên hoảng hốt. Một cái lệnh di tản bất thần và táo bạo có thể gây ra (ở đây) nhiều sự loạn động.”

Theo ông Martin thì quân lực VNCH có thể ngăn chận sức tiến quân của Bắc Việt đến Sài Gòn trong một thời gian nào đó. Ông không tin là Hà Nội “muốn tấn công trực diện vào Sài Gòn” Đại sứ lo ngại về những suy luận mà người ta có thể tung ra trên thế giới về những quyết định của Hoa Thạnh Đốn . Danh từ “phản bội” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bức công điện này.

_ “Không thể để cho người ta tưởng rằng Hoa Kỳ đã phản bội lại người Việt Nam.”

Nhất là ông muốn thuyết phục ông Kissinger đừng gởi Thủy Quân Lục Chiến đến Việt Nam trước khi ông đích thân yêu cầu trong cương vị của một Đại Sứ.

_ “Tôi sẽ không ngần ngại yêu cầu ngay, nếu trật tự công cộng bị suy sụp.”

Sau đó, lần đầu tiên, ông Martin viết trong công điện:

_ “Tôi nghĩ rằng giải pháp thương thuyết không thể bắt đầu được nếu ông Thiệu vẫn còn ở chánh quyền. Trừ phi người ta ấn định cho ông những chỉ thị khác, nếu không thì ông Martin

sẽ đến bàn cãi với ông Thiệu. Ông Martin không muốn có môt cuộc độc thoại lúc đối diện với Tổng Thống Thiệu: ông sẽ nói với ông ta như một người bạn. Vị trí của ông Thiệu trong lịch sử sẽ được bảo đảm. Nếu ông không tự ý từ nhiệm thì các tướng lãnh của ông sẽ cưỡng bức ông vào con đường đó. Về mặt pháp lý thì phải giữ cho đúng theo Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa. Phải có can đảm để thực hiện việc này. Ông Thiệu sẽ đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Ông Martin sẽ khuyên ông Thiệu với tư cách cá nhân, không theo một chỉ thị nào của Tổng Thống Ford hay của ông Tổng Trưởng của mình.

Đây là một hành động ngoại giao khéo léo và ngoạn mục được mô tả trong đoạn 9 của bức điện tín mà ông Martin gởi cho Tổng Trưởng Ngoại Giao của mình, với yêu cầu “nếu không có lịnh nào khác” thì xin cho phép ông thúc đẩy Tổng Thống Thiệu sớm ra đi, nhưng phần trách nhiệm không hề dính đến ông Kissinger hay Tổng Thống Ford.

Không biết đây là đạo đức giả hay là một sự hy sinh?

Bức điện tín số 710 này được ông Martin thảo ra trong một trạng thái căng thẳng thật ra không phải viết ra như một bài nghị luận. Ông trở lại vấn đề di tản người Mỹ:

_ “Nếu quân lực Hoa Kỳ đến đây ồ ạt trong hoàn cảnh hiện tại, thì khi rút đi không chừng họ phải chiến đấu với lực lượng quân sự của Miền Nam Việt Nam.” Ngược lại, nếu Hoa Thạnh Đốn cứ giữ sự bình tĩnh, thì Martin tôi có thể cho di tản người của mình “một cách không gây thêm một lỗi lầm nào, tôi xin nhắc lại một cách không gây thêm một lỗi lầm nào tai hại khác trong số hàng ngàn lỗi lầm mà người Mỹ đã vấp phải ở Việt Nam. Thân kính.”

Bức điện tín này vẫn giữ độ “Mật- Kín”. Tại Sài Gòn thì chỉ có thơ ký và nhân viên mật mã của ông Martin đọc được mà thôi. Ông Kissinger trả lời như sau:

_ “Tôi đã có bàn thảo với Tổng Thống Ford về bức điện tín số 710 của ông. Không có gì phản đối về những gì ông đã tiến hành như ông đã cho biết trong đoạn 9.”

Thật đúng là một bài kinh cầu nguyện ngắn gọn và kín đáo cho ông Thiệu!

Trong một bức điện tín được phổ biến rộng rãi từ Hoa Thạnh Đốn được gởi cho Honolulu và Sài Gòn, ông Kissinger nói:

  • “Hôm nay chúng tôi có một buổi họp rất là giản dị với các thành viên thuộc nhiều cơ quan khác để xem xét chương trình và kế hoạch của chúng ta trong vấn đề di tản người Mỹ và người Việt Nam. Dư luận chung và của Quốc Hội đều muốn chúng ta phải đặt ưu tiên cao cho vấn đề an toàn của người Mỹ. .. “Tin rằng có thể xử dụng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô” có thực tế hay không ? Các ông có tin tưởng là chúng ta có thể tin dùng một vài đơn vị của Miền Nam Việt Nam để giữ an ninh cho những vùng di tản hay không?”

Ngày 18 tháng 4, ông Kissinger lại cho một số chỉ thị khác:

_ “Mặc dầu có những sự toan tính của các ông và cả năng khiếu của riêng tôi, theo lối nhận định của Hoa Thạnh Đốn về tình hình quân sự chung quanh Sài Gòn và những ý định của Hà Nội , tôi buộc lòng phải đòi hỏi các ông giảm thiểu sự hiện diện của người Mỹ đến con số 1.100 người, tính đến chiều ngày thứ năm 24 tháng 4. Đó là con số nhân viên mà theo chúng tôi có thể được di tản trong một cuộc hành quân trực thăng vận”

Ông Kissinger sợ người ta cáo giác cả ông ta và ông Martin là đã “dậm chân tại chỗ”

Quốc Hội suýt cho lệnh di tản ngay tức khắc tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn:

_ “Tôi biết là quyết định đó sẽ làm ông bực mình, cả với tôi cũng vậy. Tôi bảo đảm với ông rằng… tôi không đòi hỏi ông phải giảm con số người đó xuống nữa cho đến một ngày nào đó mà ông nhận được lệnh đóng cửa tòa đại sứ. Xin Chúa gìn giữ chúng ta! Thân mến”

Với ít nhiều sự đồng ý của ông Martin, ít thì đúng hơn, các quân nhân đã xem xét cấu trúc của sân bay Tân Sơn Nhứt. Vấn đề được đặt ra là sẽ có một lực lượng an ninh khoản 350 người được gởi tới để bảo vệ các cơ quan thuộc Phòng Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ. Một toán tiền sát đã gởi một công điện cho vị Tổng Tư Lệnh ở Honolulu và cho Tư lệnh lực lượng xe lội nước của Hải Quân ở Okinawa. Bức công điện nói rõ là “phải cần có ít nhất 1 tiểu đoàn bộ binh cho nhiệm vụ được dự trù.”

Ông Martin đã có một phản ứng mỉa mai đối với bức điện tín sau cùng của ông Kissinger mà nguyên văn như sau:

_ “Chúng tôi sung sướng mà nhận thấy là buổi họp rất giản dị. Tối thiểu cũng phải như vậy. Cần phải tránh chiều hướng giả dụ cho trường hợp “xấu nhất” sẽ xảy ra . Chúng ta cũng thấy nó sẽ xảy ra, nhưng chúng ta phải sẵn sàng có kế hoạch đối phó.”

Tinh thần bi quan và lo sợ của nhóm hành chánh ở Hoa Thạnh Đốn đã làm cho ông Martin cáu lên.

Ngày 18 tháng 4

Ở Hà Nội, Thủ tướng Phạm văn Đồng tiếp một nhân vật người Pháp, ông bác sĩ Roussel.

Ông này sẽ trình bày cho tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội những lời tuyên bố của Phạm văn Đồng.

Ông Thủ tướng Bắc Việt đã tuyên bố:

_ “Có rất ít cơ may để có được một lối thoát chánh trị.

Có nhiều mâu thuẫn khắp nơi với người Mỹ. Không thấy có một người nào nghiêm chỉnh nói là phải di tản một triệu người Việt Nam. Ông Kissinger chỉ ước tính chung quanh con số hai trăm ngàn. Một tổ chức được thành lập ở Hoa Thạnh Đốn với thành phần là đại diện của các cơ quan trong Chánh Phủ, và mọi phối hợp hoạt động đều do một đại sứ hồi hưu, ông Bill Brown, một người bạn thân của ông Martin.

Người ta phải dự trù di tản 50 ngàn người tị nạn Việt Nam trong vòng 80 ngày sắp tới. Để tiếp đón họ, vị chỉ huy trưởng căn cứ Pendleton ở tiểu bang California phải sẵn sàng cho điều hành từ ngày 29 tháng 4. Mọi sự chuẩn bị phải được tiến hành với sự phối hợp của tất cả các tổ chức từ thiện và các cơ quan của Chánh Phủ. Ông Martin nói ngay là ông ta không thể cho từng ấy người ra đi từ Sài Gòn được. Ông nghĩ tới con số 200 ngàn mà Tổng Thống Ford đã đưa ra. Đối với nhân viên làm việc cho các các cơ quan Hoa Kỳ, ông sẽ chỉ định thật sự cho họ vài điểm bốc dọc theo bờ biển:  “nhiều người có thể sẽ không đến đó được”

Đơn thỉnh nguyện từ các công ty xí nghiệp tràn ngập Bộ Ngoại Giao và một số Bộ khác trong Chánh Phủ Hoa Kỳ để yêu cầu di tản các nhân viên người Việt của họ. Các đơn này lại được chuyển ngược lại Sài Gòn làm cho ông Martin bực tức. Theo ông, nếu đà này cứ tiếp tục thì nó sẽ gây “hỗn loạn”. Ông Martin yêu cầu Kissinger nên dùng uy tín của mình đối với các bạn đồng nghiệp ở các Bộ khác để cho những chuyện này êm đi, hay ít ra cũng không làm quá ồn ào “trong vòng 10 ngày sắp tới, thời gian mà sự bình tĩnh hoàn toàn phải là điều chính yếu.”

Ông Martin muốn kiểm soát chặt chẽ sân khấu chánh trị của Sài Gòn .Người ta lại nói đến tướng Kỳ và sự tiếp xúc không ngừng của ông ta với các tướng lãnh khác như tướng Tư Lệnh Không quân Trần văn Minh, tướng Lê quang Lưỡng, Tư lệnh sư đoàn Dù, Đô đốc Bùi thế Lân của Hải Quân, và những sĩ quan khác như chỉ huy trưởng các đơn vị thiết giáp của Biệt Khu Thủ Đô và Vùng 3 Chiến Thuật. Người ta cũng biết rõ họ đã bàn bạc với nhau về vấn đề gì: “Tổng ThốngThiệu phải ra đi.”

Tướng Kỳ đã có kế hoạch: Chỉ cần chiếm được Dinh Độc Lập, nha bưu điện, Bộ Tổng Tham Mưu, đài phát thanh và Truyền hình. Tất cả các tướng lãnh đều đồng ý rằng nếu không làm gì hết thì Miền Nam sẽ thua. Nhưng mọi người đều thối thoát:

_ “Tôi hả, tôi không làm gì được hết

_ Ông có thể làm được đó, ông Kỳ

Tướng Viên Tổng Tham Mưu trưởng nói với tướng Kỳ:

_ “Hãy làm đi. Cho tôi biết ngày giờ, tôi sẽ cho mở cửa Bộ Tổng Tham Mưu.

Tướng Tư Lệnh Không quân cũng tâm sự:

_ “Hãy làm đi, nếu ông muốn giữ tôi như một tù binh, tôi sẽ không có một chút phản kháng nào. Ông biết không , Tổng Thống Thiệu đã biết hết rồi. Sau khi chúng ta gặp nhau lần chót, người Mỹ đã gởi đến tôi một sứ giả. Họ nói với tôi là đừng có nhúc nhích. Họ đã bảo đảm với tôi là nếu có xảy ra chuyện gì, họ sẽ cho đưa tôi sang Hoa Kỳ và sẽ lo lắng hết cho tôi.

Ngồi kế bên tướng Kỳ, vị Tư Lệnh Hải Quân nói với ông:

_ “Tôi thì không có lính, nhưng nếu ông hành sự thì người của tôi không chống trả đâu.”

Tướng Kỳ bực lắm. Ngay những người thân cận với ông, những tướng lãnh người Bắc, họ cũng nghe theo luận điệu của người Mỹ. Không biết họ muốn gì đây? Chắc họ muốn tướng Kỳ này phải đơn thân độc mã đi vào Dinh Độc Lập với một nhúm nhỏ binh sĩ rồi bắt Tổng Thống Thiệu chỉ với khẩu súng lục cầm tay sao? Tướng Kỳ này làm sao làm công việc của một tiểu đoàn cho được?

Ngày 18 tháng 4, ông Charles Timmes điện thoại cho tướng Kỳ tại tư dinh của ông ở Tân sơn Nhứt. Ông xin một cái hẹn để cùng với một nhân vật rất quan trọng của tòa đại sứ đến gặp tướng Kỳ. Ông Timmes đến đúng hẹn vào buổi trưa nay, trên một chiếc xe Volkswagen cũ kỹ, và người cùng đến với ông lại chính là ông đại sứ Martin.

Ông Martin đã tỏ ra lo lắng vì những hoạt động lăng xăng chung quanh tướng Kỳ. Người ta trình với ông là nếu người Mỹ rút đi, thì các phi công Việt Nam sẽ thật sự sẵn sàng bắn vào các phi cơ di tản. Ông ta phải đi thăm dò tướng Kỳ và nếu cần sẽ làm cho ông bình tĩnh lại.

Người Việt Nam dù là ở Miền Nam hay Miền Bắc, khi bắt đầu trò chuyện, ít khi người ta đi thẳng vào đề tài. Phải có một vài câu trao đổi xã giao….Là một người lịch lãm, ông Martin hỏi thăm về bà Mai, một cựu tiếp viên hàng không, người vợ rất đẹp của tướng Kỳ.

Sau đó hai Mỹ và một Việt cùng nhau lượng định về tình hình quân sự trên bản đồ.. Cho tới giờ này cả 3 người đều đồng ý nội dung của cuộc gặp gỡ này. Nhưng sau đó họ lại đánh trống lảng. Ông Timmes có mang theo một máy thu âm, nhưng máy hư không chạy. Tướng Kỳ và ông Martin trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, do đó có thể có hiểu lầm vì ngôn ngữ. Tướng Timmes dường như thấy rằng ông Martin không nói rõ ràng cho lắm những gì ông cần phải nói với tướng Kỳ trong buổi gặp gỡ này. Ông Martin xác nhận là buổi viếng thăm không có nghi thức này của ông chỉ nhằm vào một việc: cho tướng Kỳ hiểu rõ rằng ông ta không nên phiêu lưu với một cuộc đảo chánh. Theo ông Kỳ thì ông Martin có hỏi ông:

_ “Nếu ông lập Chánh Phủ thì ông sẽ làm gì ông Thiệu?

Trả lời:

_ “Chúng tôi không thanh toán ông Thiệu đâu. Dân chúng Việt Nam sẽ có quyết định của họ.

Chỉ cùng một việc mà mỗi người hiểu một cách.

Sau đó cả 3 người trở lại những vấn đề quân sự . Cúi xuống bản đồ, ông Kỳ vẽ một vòng đai phòng thủ mà các đơn vị của Miền Nam được gom lại để có thể giữ được thủ đô, dựa vào Châu thổ sông Cửu Long. Khả năng khác: Cố gắng giữ vững mặt trận từ Tây Ninh sát biên giới Cam Bốt cho đến bờ biển nếu có thể, dựa vào Phan Thiết.

Ông Martin có vẻ mệt mỏi. Còn ông Kỳ thì cảm thấy những lời nói của mình quá mơ hồ và vô nghĩa. Ông đại sứ sẽ xem mình làm được gì, ông cần có thời gian, tình hình có vẻ cực kỳ rối rắm ….

Khi hai người chia tay nhau, ông Martin có cảm tưởng là ông Kỳ sẽ không có hành động nào. Còn ông Kỳ thì có cảm nghĩ rằng người ta chỉ muốn ông gác qua một bên dự tính nắm lấy chánh quyền của mình. Ông Martin dĩ nhiên không thể nói cho ông Kỳ biết là Hoa Kỳ đang có ý định khuyên ông Thiệu từ nhiệm. Và do vậy mà mọi người có thể tự hạn chế mình trong mưu đồ đảo chánh.

Để làm nản lòng những người có mưu đồ phiêu lưu này, cũng trong ngày hôm nay, ông Tổng trưởng Quốc Phòng đã cho lệnh phạt giam hoặc bắt giữ trên một chục tướng lãnh và tỉnh trưởng.

Nhật ký của bà Claude Krich.

Ngày 18 tháng 4, 1975 (thứ sáu)

“Tôi tìm cách xin 2 đứa con nuôi, hai đứa bạn trẻ Văn và Tư. Một đứa 4 tuổi và một đứa 6 tuổi. Mẹ của hai cháu này là chị Yến là một người giúp việc cho tôi. Chị xin tôi mang giùm 2 đứa trẻ qua Lào để từ đó chúng có thể được gởi về Hà Nội cho ông bà của chúng để chúng có thể đi học. Đã hai tuần rồi, tôi có nói với một viên chức ở tòa đại sứ là tôi muốn xin 2 đứa trẻ này làm con nuôi, nhưng người ta nói là đã quá muộn rồi.

Hôm nay tôi trở lại tòa đại sứ, và lần này tôi quyết định sẽ nói hết sự thật. “Tôi không muốn đem hai đứa trẻ này về Hoa Kỳ, tôi chỉ muốn cho chúng nó về với ông bà chúng nó ở ngoài Bắc.” Viên chức tòa đại sứ trả lời cho tôi là: “Nói như vậy còn nghe được đó. Tôi rất chán ngấy về cái chuyện “xuất cảng bọn con nít” này lắm rồi đến độ tôi phải hét lên đó!”

Thông báo trên tờ Sài Gòn Post ngày 18 tháng 4:

“Nữ sinh trung học trẻ khá đẹp, 18 tuổi, có bằng tú tài đôi, biết chơi đàn dương cầm, con nhà đàng hoàng, muốn tìm một ông chồng người ngoại quốc, quốc tịch Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức hay nước nào khác cũng được. Để đưa tôi đi ra ngoại quốc một cách hợp pháp, để tôi có thể tiếp tục con đường học vấn, bậc đại học, ở ngoài nước Việt Nam với học phí hoàn toàn của mình.

Xin điện thoại cho tôi ở số: 45 470”

Tất cả mọi người không ai có thể hình dung được đời sống của mình ở ngoại quốc bằng chính phương tiện của mình.

Cùng ngày 18 tháng 4 , cùng trên một tờ báo:

“Tìm việc làm: đầu bếp chính người Việt Nam, chuyên môn các món ăn Mỹ và làm bánh.

Tình nguyện đi ở đâu cũng được, miễn là ra khỏi nơi đây”

Chánh quyền Hoa Kỳ tiếp tục cho di tản trẻ con. Có nhiều đứa là trẻ mồ côi, nhưng có những đứa khác thuộc gia đình công chức Việt Nam muốn tìm nơi lánh nạn. Ngày 18 tháng 4 này ở Genève có 121 quốc gia đang bàn cãi về phương tiện cải tiến các công ước của Hồng Thập Tự. Có hai nước Việt Nam đang chạm trán nhau, Hà Nội thì tố cáo cầu không vận đang bốc những trẻ con ra khỏi đất nước của chúng, cái mà họ gọi là  “một sự nhân đạo hoàn toàn giả tạo”, còn đại diện của Sài Gòn đả kích lại, dựa vào những cuộc “hành quyết bằng võ khí thô sơ” và những cuộc “tàn sát tập thể” ở các khu do CPLTCHMN tạm kiểm soát.

Bộ máy Lập Pháp của Hoa Kỳ đang chạy. Ông Henry Kissinger trình diện ở phòng số 2172 của tòa nhà Quốc Hội, trước 34 thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế Vụ thuộc Hạ Viện Hoa Kỳ. Không có lời tuyên bố mở đầu. Tổng Trưởng Ngoại Giao ước tính là các thành viên đáng kính trong Tiểu Ban dĩ nhiên thích đặt câu hỏi cho ông ta hơn.

Ông Chủ tịch Tiểu Ban mở đầu:

_ “Liệu chúng ta có thể rút tỉa được gì từ những bài học ở Cam Bốt để áp dụng cho sự tiến chiếm Miền Nam Việt Nam hay không?”

Kissinger:

_ “Trước hết, giờ này chúng tôi không muốn lợi dụng sự kiện cộng sản Bắc Việt tiến chiếm Miền Nam Việt Nam. Nhưng tất cả mọi bài học đều chứng tỏ rằng không có gì thay thế được một sự quân bình về quân sự. Không có nó thì không thể nào có những sự thương thảo hữu hiệu được…. Trong một số tình huống nào đó, có thể cộng sản đặt nặng quyền lợi hơn là thương thuyết.

Ông Kissinger không muốn đặt Cam Bốt ngang hàng với Việt Nam. Ở Việt Nam có nhiều vũ khí hơn. Một vị dân biểu tán dương Chánh Phủ về cách thức di tản ở Phnom Penh. Ông ta ước mong rằng nếu cần thiết thì cuộc hành quân di tản ra khỏi Sài Gòn cũng được thành công như vậy. Ông Kissinger lợi dụng cơ hội này ca một bài “đoàn kết” để hàn gắn Hành Pháp với Lập Pháp. Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao dùng lại một trong những danh từ được ông Martin ưa dùng: “hoảng loạn” mà ai ai cũng muốn tránh nó với bất cứ giá nào.. Trong thủ đô Hoa Kỳ, có nhiều người đề nghị là hãy nên di tản chậm rãi từ từ, Chánh Phủ muốn để lại vài người Mỹ làm con tin cho cộng sản Bắc Việt. Những mẩu chuyện này không xứng đáng để đem ra bàn cãi.

Người ta bước qua chuyện của ông Tổng Thống của Miền Nam Việt Nam. Câu hỏi:

_ “… Thưa ông Tổng Trưởng, có nhiều thành viên trong Quốc Hội – trong đó phải nói là không có tôi – ngả về ý muốn ông Thiệu nên từ chức… Ông nghĩ thế nào về việc này?

Ông Kissinger muốn rằng người ta nên dành những vấn đề này cho một phiên họp kín. Tuy nhiên ông cũng nói:

_ “… Hoa Kỳ ủng hộ Chánh Phủ ở Miền Nam Việt Nam nhưng không ủng hộ cá nhân nào.

Tuy vậy đã quá rõ ràng là ông Kissinger buông ông Thiệu trong khi ông bênh vực Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam:

_ “Tại Sài Gòn bây giờ, người ta sẵn sàng thương thuyết với một sự linh động đáng kể.

Ông Kissinger không dưa ra một bằng chứng nào về vấn đề ông vừa nói. Ở Sài Gòn thực ra có nhiều người mong cho có được một sự thương thảo, nhưng chắc chắn không phải là ông Thiệu.

Tất cả những biên bản của các phiên họp của mọi Tiểu Ban đều một lần nữa theo đường dây chạy thẳng ra cho báo chí, và như thế đã nhanh chóng đến Hà Nội và từ đó chạy thẳng đến Tổng hành dinh của chiến dịch Tổng Tấn Công ở Miền Nam ngay.

Úc Châu là quốc gia đã công nhận Sihanouk và Khmer Đỏ. Các nước khác cũng sắp làm như vậy. Về phía Hoa Kỳ thì sao? Ông Kissinger không thấy có một lý do nào để mà phải hấp tấp. Việc công nhận về mặt ngoại giao sẽ còn là quá sớm. Liệu ông Sihanouk có phải là Thủ Tướng của cái Chánh Phủ mới này hay không?

Kissinger:

_ “Tôi chắc chắn là chính ông ta cũng muốn biết việc này.

_ “Theo một số báo chí, thì Khmer Đỏ đã được dân chúng hoan nghênh khi họ vào thủ đô Phnom Penh. Người ta có chờ đón như vậy không?

Ông Kissinger:

_ “Đối diện với một quân đội chiến thắng, phản ứng của dân chúng gần như có một thái độ nào đó giống nhau…

_ “Cái gọi là CPLTCHMN có được Chánh Phủ Bắc Việt công nhận là một Chánh Phủ chánh thức của Miền Nam Việt Nam hay không?

Ông Kissinger:

_ “Không … Thật là một điều lý thú để chờ xem những mối liên hệ đó sẽ tiến triển tới đâu.

Ông dân biểu Donald Fraser, người vừa mới là thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến Việt Nam cách đây vài tuần lễ:

_ “Cảm tưởng chung… là Việt Nam Cộng Hòa coi như đã mất rồi…

Kissinger:

_ “.. Giữa một chiến thắng quân sự với một sự sụp đổ hoàn toàn, vẫn có nhiều giai đoạn trung gian… Đối với những giai đoạn trung gian đó, muốn có được một kết cuộc có kiểm soát, thì một cuộc bỏ phiếu dành cho một viện trợ quân sự nào đó sẽ là điều rất cần thiết.”

Ông Fraser rất đồng ý, nhưng ông không nhận thấy được một sự linh động nào ở Sài Gòn cả. Ngay như ông Valéry Giscard d’Estaing, Tổng Thống của nước Pháp, ông cũng đòi hỏi một vị lãnh đạo khác cho Sài Gòn.

Người ta nói đến nhiệm vụ của ông Martin. Ông Kissinger nhận xét là một ông đại sứ không thể công khai chỉ trích Chánh Phủ mà ông ta được ủy nhiệm đến.

Ông Fraser đặt thẳng vấn đề:

_ “Có nhiều người trong chúng ta đã không tín nhiệm ông đại sứ của mình. Điều này là vì chúng ta đã có kinh nghiệm với ông ta.

Ông Kissinger bênh vực ông Martin ngay:

_ “Dĩ nhiên, đây không phải là một ý kiến mà chúng ta chia xẻ, nếu không thì ông ta đâu còn là đại sứ của chúng ta nữa … Trong những điều kiện hiện tại, rõ ràng là nếu Hoa Kỳ thay đổi đại sứ ngay trong lúc này, và cùng lúc với sự thay đổi lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam… thì thật tình không phải là một phương cách tốt để kiểm soát được tình hình…. Ông đại sứ Martin là một nhà ngoại giao có kỷ luật, đang thi hành hết sức hoàn hảo những chỉ thị mà ông ta đã nhận được.

Ông Fraser là người đã được gặp một đại diện của CPLTMNVN ở Genève:

_ “Tôi có cảm tưởng là phía họ có một sự leo thang trong những sự đòi hỏi. Người ta nói với tôi rằng quan trọng nhất là phải làm sao cho ông Thiệu ra đi. Người ta cũng có nói với tôi về sự chấm dứt hết mọi viện trợ quân sự.”

Ông Kissinger:

_ “Và trước đó rất lâu, Bắc Việt họ đã nói nhiều về vấn đề chấm dứt mọi viện trợ…..

Trong một phiên họp kín, ông Kissinger cho biết về sự vận động của Tổng Thống Ford với ông Brejnev (Liên Xô)

Ông Kissinger, quá cô đơn, có cảm nghĩ rằng phải đối đầu với cả một nước đang bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cấp tiến và hòa bình của ông Mc Govern. Tổng Thống lại không phải do dân bầu lên. Ông Kissinger nghĩ rằng tại Quốc Hội, những người bảo thủ cũng như ôn hòa “đang ôm ấp một lý thuyết theo đó sự hòa hoãn là một ân huệ lớn của người Mỹ dành cho Liên Xô, và vì thế chúng ta có thể đòi hỏi họ phải trả lại cho chúng ta một cái giá nào đó. Tại sao chúng ta không bắt họ phải cho khoảng một trăm ngàn người Do thái được phép rời khỏi Liên Xô? Tại sao họ không làm thế này, tại sao họ không chịu làm như thế kia …? Thật là một phép lạ khi người Liên Xô không lợi dụng được sự sụp đổ của ông Nixon để theo đuổi một đường lối chánh trị gây hấn hơn?… Chúng ta không thể nhận được gì hơn khi chúng ta đe dọa họ.”

Người ta đã tập trung cả một đại hạm đội ngoài khơi Cam Bốt. Chúng ta sẽ phải làm như vậy dọc theo bờ biển Việt Nam. Tuy nhiên ông Kissinger biết là ông không thể xử dụng hạm đội đó trong mục đích quân sự được . Liên Xô họ cũng hiểu rõ như vậy. Khi ông Kissinger gọi ông Dubrynine (đại sứ Liên xô) đến Bộ Ngoại Giao, thì ông đã bịp trước một viên chức ngoại giao loại nhà nghề đáng gờm này. Chung quanh Tổng Thống Ford, là những người như Rumsfield và Nessen đã có sẵn một lý thuyết “điên rồ” loại “quẫn trí” như ông Kissinger đã nói: người ta sẽ gán cho ông Ford một sự hãnh diện là đã “rút” được người Mỹ ra khỏi Việt Nam”.

Ngủ Giác Đài muốn có một bản đánh giá nhanh chóng, còn ông Martin thì lại muốn có một cuộc di tản thật chậm rãi. Ông Kissinger thì khẳng định rằng cách tốt nhất để di tản người Việt Nam ra khỏi Việt Nam là phải giữ người Mỹ lại tại chỗ trong một thời gian nào đó. Nếu di tản hết người Mỹ, như những người ở Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao đang mong muốn, thì chẳng những người ta sẽ không cứu được bao nhiêu người Việt Nam, mà còn có nguy cơ là binh sĩ Việt Nam sẽ bắn lại người Mỹ nữa. Và do vậy mà người ta sẽ không có thể di tản được người Mỹ nữa. Đây là một vấn đề nói không cùng.

Để làm cho tình hình trở nên rắc rối thêm, có hai nghị sĩ loại nặng ký, ông Jacob Javits và Redmund Muskie, trong hai buổi phát hình rất được dân chúng đón nghe là “chương trình đối diên với đất nước ” và “Gặp gỡ báo chí” (Face the Nation, và Meet the Press) đã tuyên bố rằng: “nếu cần thì Tổng Thống có quyền xử dụng một số nhỏ Thủy Quân Lục Chiến để di tản người Mỹ, nhưng Tổng Thống Ford phải được Quốc Hội cho phép trước khi di tản hai trăm ngàn người Việt Nam”.

Từ Sài Gòn ông đại sứ Martin phản đối:

_ “Như vậy thì không phải là một chuyện dễ dàng cho những người Mỹ đang còn ở Sài Gòn”

Ngày 18 tháng 4, đài phát thanh Hoa Kỳ đã thông báo trước cả đài truyền hình Mỹ rằng:

_ “Tiểu Ban Quân Lực Thượng Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ đơn xin viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu Ban Quốc Tế Vụ của Hạ Viện Hoa Kỳ đã chấp thuận cho Tổng Thống Ford xử dụng quân lực Hoa Kỳ một cách hạn chế và dè dặt trong việc di tản người Mỹ.

Như thế là mọi trò chơi đã được an bài.

Ông Henry Kissinger đã rút tỉa được kết luận từ những quyết định của Lập Pháp:

  • Cuộc tranh luận về Việt Nam đã chấm dứt…. Chánh Phủ sẽ phải chấp nhận một bản án của Lập Pháp mà không có tinh thần hồi tố và trả đũa lại.

Sau này, tại trường Đại Học Tulane, Tổng Thống Ford nâng lên thêm:

_ “Bây giờ thì chúng ta có thể tìm thấy lại được sự hãnh diện mà Hoa Kỳ đã có từ trước sự kiện Việt Nammột sự hãnh diện mà Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tìm lại được, nếu còn tham gia vào một cuộc chiến coi như đã hoàn toàn chấm dứt đối với chúng ta.”!

o O o

Tại trại Davis (Tân sơn Nhứt), đại tá Võ đông Giang, trưởng phái đoàn MTGPMN, trong một buổi họp báo thường lệ vào mỗi sáng thứ bảy, lần đầu tiên đã nói thẳng về đại sứ Hoa Kỳ là ông Martin. Ông ta nói:

_ “Ông đại sứ Hoa Kỳ “Là một nhà ngoại giao Mỹ” nhưng “điều khiển các cuộc hành quân quân sự , chánh trị và kinh tế. Ông ta là người phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi hành vi tội ác của ông Thiệu”

Chi bộ đặc trách về cuộc tấn công chánh trị ở Hà Nội làm việc quá đắc lực . Đại tá Giang chấp nhận sự có mặt của hàng ngàn người “Mỹ dân sự”, nhưng theo ông ta thì chỉ một người cố vấn quân sự Mỹ cũng thể hiện một sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lẻ!

Cách trại Davis chừng vài trăm thước, trong những dãy nhà thuộc Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ , một phòng chiếu bóng được chỉnh trang lại thành một trung tâm thanh lọc người tỵ nạn Việt Namvà vì thế người ta đã hủy bỏ hẳn buổi chiếu bóng cuối cùng trong ngày. Chương trình quảng cáo cuốn phim dự trù “Giai Đoạn 4″ cho thấy một con nhện đang bò trên một bàn tay đầy máu đỏ, ” ngày mà trái đất sẽ biến thành nghĩa trang”.

Các viên chức Hoa Kỳ đang xem xét chứng từ của những di dân sắp lên đường đi tỵ nạn. Để hợp thức hóa tình trạng của vài trăm người Việt Nam, người ta không tiến hành các lễ cưới cấp thời , người ta thực hiện và đóng dấu các “giấy hứa hôn”. Những vị hôn phu tương lai người Mỹ phải ký vào lời khai “có ý định cưới vợ”. Trong những hàng dài đang đứng chờ đợi, người ta nói chuyện hay đọc báo.

Thông báo trên tờ Sài GònPost:

“Các bạn Mỹ thân mến,

Các bạn là những người Mỹ bình thường, không có việc gì làm trong hiện tại. Nếu bạn nào muốn có một nghề đúng sở thích, xin hãy đến gặp chúng tôi ngay, chúng tôi sẵn sàng giúp các bạn tiền bạc, nếu cần. Lương bổng hậu.

Xin làm ơn liên lạc với Cô Lan. điện thoại số 96 052.”

Ngoài thủ đô, giá của một người chồng hay vị hôn phu người Mỹ, người Pháp hay Đức.. đang lên cao. Người ta nói rằng gia đình của một số thiếu nữ trẻ, bằng lòng chịu trả hằng trăm ngàn mỹ kim tiền mặt.

Ông đại sứ Mỹ không biết chính xác hiện có bao nhiêu công dân Hoa Kỳ đang ở Việt Nam. Ông ta muốn tất cả những người này phải đi hết, và đúng lúc. Các nhà kinh doanh, các kỹ sư, các nhà thầu … đều phải tuân theo lệnh. Nhưng các người ờ ngoài lề, kể cả những người đào ngũ không liên lạc được với tòa lãnh sự Hoa Kỳ và tất cả những người mà ông Martin gọi là “những người ăn bông sen”…Theo ông Martin, có quá nhiều người Mỹ dân sự đã coi thường vấn đề, tưởng rằng đây chỉ là một cuộc tấn công như mọi cuộc tấn công bình thường khác. Ông Martin sẽ vừa chiều họ và vừa đe dọa họ, những người ăn bông sen này. Ông ta làm việc, vừa gởi điện về cho ông Kissinger, vừa nghĩ là ông Tổng Trưởng “mong muốn tòa đại sứ còn mở cửa dài dài cho tới khi nào ông ta có được một sự dàn xếp về thương lượng”.

Ông Martin sẽ di tản khoảng 750 công dân Hoa Kỳ trong vòng 3 tuần lễ. Dĩ nhiên ông sẽ giữ lại các phi công thuộc Hàng Không Hoa Kỳ. Ông ta sẽ đóng cửa tòa Lãnh sự ở Biên Hòa ở cách Sài Gòn 25 cây số ngàn. Nhất là, người ta làm ơn đừng nói gì hết ở Hoa Thạnh Đốn.

_ “Tôi muốn tránh những rủi ro như đã xảy ra ở Đà Nẵng”

Theo ông Martin thì ở đây chưa có gì gọi là nguy hiểm cho người Mỹ. Người ta còn “một tháng hay ít nhất 6 tuần lễ nữa”. Phải chờ khi nào ông ta gặp được ông Thiệu đã, trước khi có một quyết định quan trọng. Nếu ông Martin thấy ông Thiệu vẫn còn “cứng đầu và trong một tinh thần tử thủ”, thì ông đại sứ mới tăng tốc độ cho cuộc di tản. Ông Martin biết là quân Bắc Việt có thể sẽ pháo kích vào Tân Sơn Nhứt với pháo binh nặng, hoặc xử dụng hỏa tiễn SAM 7 chung quanh phi trường. Họ không phải chọn lựa gì hết để thực hiện chuyện này. Tính ảo thuật của nhà ngoại giao vốn đang ngủ say trong người ông Martin chợt bừng tỉnh dậy. Ông giải thích cho ông Kissinger là ông sắp đi gặp đại sứ Ba Lan ở Ủy Hội Quốc Tế.

_ “Nếu có hỏa tiễn được pháo vào vùng phụ cận Sài Gòn thì chắc chắn là Bắc Việt muốn bảo vệ Tổng hành dinh của họ mà thôi”, ông Martin nói với ông Kissinger như vậy. Ông ta cũng nói luôn với ông Kissinger rằng chính ông ta, đại sứ Martin, hy vọng quân cộng sản Bắc Việt sẽ thử bắn hạ một phi cơ Mỹ “bởi vì không có gì cung cấp được một lời xin lỗi tốt nhất để Không Lực Hoa Kỳ trả đũa xuống Hà Nội” ….

Nhật ký của bà Claudia Krich:

Ngày 19 tháng 4, 1975 (thứ bảy)

CPLTCHMN mong muốn có được một dàn xếp nào đó để thương thuyết. Điều này bao hàm là ông Thiệu phải từ chức. Ông Thiệu hình như không có ý định đó. Như vậy , người ta tiên đoán là sẽ có một cuộc tấn công vào Sài Gòn …. Keith (một nhân viên Quaker khác) đã cho tôi biết là có rất nhiều binh sĩ trong Sài Gòn chưa từng có đánh trận bao giờ. Họ đã trả tiền để được trốn ở nhà. Với một ít may mắn nào đó…. họ sẽ đầu hàng mà không cần chiến đấu.”

Ông Martin họp Bộ Tham mưu của ông lại để có được một nhận định tình hình mới nhất. Hà Nội sẽ cố gắng chiếm Sài Gòn để kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh ngày 19 tháng 5. Nhưng có thể để loại trừ Thiệu, Hà Nội sẽ cố gắng đặt ở Sài Gòn một Chánh Phủ trung lập không mạnh lắm để dễ loại bỏ sau đó. Ông đại sứ đã gặp lại ông Bùi Diễm, người vừa mới dự một buổi họp của các tướng lãnh ở nhà của tướng Kỳ. Người ta đã khóc với nhau nhiều khi họ nghĩ tới tương lai. Ông Martin có đòi hỏi ông Bùi Diễm phải thắng các ông bạn quân nhân của ông ta lại. Và nhất là không nên có bất cứ một cuộc đảo chánh nào. Ông Martin tự hỏi về những lời tuyên bố của đại tá Võ đông Giang. Người đại diện của CPLTCHMN có nói rõ về con số cả ngàn người Mỹ sẽ có thể còn ở lại tại chỗ. Như vậy là có thể có thương thuyết . Chuyện này ông Tổng Truởng Quốc Phòng Trần văn Đôn cũng có nói. Như vậy là mình phải tận dụng các lá bài này.

Cũng như ông Martin, mặc dầu có những lời cảnh cáo của thuộc viên phân tích gia Frank Snepp, ông Polgar cũng nghĩ rằng lần lần thấy có nhiều khả năng có được những cuộc thương thuyết. Người chủ nhiệm sở Trung Ương Tình Báo CIA có nhận được một cú điện thoại từ đại tá Toth của Hung gia Lợi để họ gặp nhau. Họ dùng cơm ở nhà ông Polgar. Ông Toth hỏi:

_ “Anh có chấp nhận ý kiến là Miền Nam Việt Nam đã thua rồi không? và không thể tránh khỏi việc này sẽ kéo theo nhiều hậu quả chánh trị?

  • Vâng . Ông Polgar nhường lời.
  • Nếu anh chấp nhận, thì chúng ta có thể có được một sự dàn xếp để có thể tránh được các cuộc chạm súng trên đường phố trong thủ đô Sài Gòn.
  • Anh có nhân danh những người bạn của anh ở “phía bên kia” để nói điều này? ông Polgar hỏi lại.
  • Không , nhưng sau nhiều lần nói chuyện với họ, tôi có cảm tưởng là họ không mong muốn làm nhục Hoa Kỳ.

Đại tá Toth muốn đánh tiếng là những tin tức của ông ta đến từ Hà Nội chớ không phải chỉ từ CPLTCHMN đâu. Ông ta cũng thừa biết là đối với ông Polgar CPLTCHMN chỉ là một “hư cấu” mà thôi.. Đại tá Toth muốn chuyển những điều kiện tiên quyết cho một cuộc thương lượng. Danh từ “tiên quyết” này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ông Polgar không tin lắm. vì ông biết có thể đây là chuyện phản tin tức. Nhưng trên bình diện quân sự thì coi như đã hoàn toàn hỏng hết rồi. Phải tìm một đường lối chánh trị thôi. Những nhà quan sát như ông Malcolm Browne, phóng viên của tờ Nữu Ước Thời Báo mà ông Polgar thường gặp, cũng xác nhận là CPLTCHMN muốn thương lượng. Một cuộc hợp ca phấn khởi ! Ông Polgar nói:

_ “OK, Đi từ chỗ đó, bây giờ chúng ta phải làm gì đây? Ai làm cái gì và làm cho ai?”

Đại tá Toth kể ra các điều kiện tiên quyết.

_ Ông Thiệu phải từ chức, không điều kiện. Phải lập một Chánh Phủ gồm những nhân vật mới được Bắc Việt chấp thuận. Hoa Kỳ sẽ ngừng cung cấp mọi viện trợ quân sự cho Chánh Phủ mới này. Ông đại sứ Hoa Kỳ phải giới hạn những hoạt động của ông lại.”

Tất cả đều không có gì mới mẻ hết, nếu có (nếu Toth thật sự nhân danh họ) thì địch quân chỉ cho phép ông đại sứ Mỹ còn ở lại Sài Gòn mà thôi.. Liệu Đại tá Toth có thể hỏi những người phía bên kia danh sách những nhân vật Miền Nam Việt Nam nào mà họ chấp nhận được?

Đại tá Hung gia Lợi sẽ thử hỏi, nhưng ông ta nhấn mạnh là “thời gian đã cấp bách lắm rồi.

Đây là một vấn đề của từng ngày chớ không phải từng tuần nữa”.

Ông Polgar, quá bị kích động đã phúc trình ngay cho ông Martin, và ông đại sứ đã điện về cho ông Kissinger cùng ngày 19 tháng 4 lúc 18 giờ 10. Tất cả mọi việc hình như rất là thú vị. Có thể nào ông Kissinger được soi sáng thêm khi ông ta gởi ngay một “công điện cho Lê đức Thọ”? Bất chấp những lý do thật hay giả của đại tá Toth, đại sứ Martin cũng thấy như vừa cắn phải miếng mồi ngon, qua ý kiến cho tòa đại sứ của ông được duy trì ở Sài Gòn.

Trong công điện của ông, đại sứ Martin than phiền hết người này đến người khác. Các sĩ quan có trách nhiệm soạn thảo kế hoạch di tản thì vừa đòi hỏi nhu cầu phải có đến 800 Thủy Quân Lục Chiến .Ông Martin thì không muốn quá 300 . Ông bị chế độ hành chánh ở Hoa Thạnh Đốn ám ảnh. Mọi người ai cũng chạy theo một định hướng “hồn ai nấy giữ” (nguyên tác của tác giả : CYA: “Cover Your Arse”) tức là hãy thu xếp thế nào để khỏi bị trách nhiệm và không bị khiển trách). Theo ông Martin thì các trung tâm tình báo “chỉ ước tính chuyện xấu nhất. Thật là không thực tế, nhưng chuyện đó sẽ che chở cho họ”. Các quân nhân thuộc Bộ Quốc Phòng lúc nào cũng nói là họ đã sẵn sàng với phi cơ của họ. “Như vậy, nếu có chuyện không hay xảy ra thì người ta sẽ nói là Bộ Quốc Phòng đã làm tất cả những gì mà họ có thể làm được, và nếu có chuyện gì xảy đến cho những người Mỹ thì đó không phải là lỗi ở họ…. Người duy nhất có cái đầu không được ai che chở là tôi (đại sứ Martin). Bất cứ có xảy ra điều gì, thì tôi cũng sẽ lãnh đủ: không chạy khỏi bị chỉ trích.”

Hơn nữa, nghệ thuật thảo công điện ngoại giao đòi hỏi phải có tính bi kịch vừa có tính khôi hài trong đó nữa. Nên ông Martin gởi về một tin tức mà ông vừa thu lượm được qua kiểm thính được từ các đơn vị Bắc Việt:

“80 % bộ đội thuộc đại đội 6 đang bị nhậm mắt. Tất cả tiểu đoàn có thể bị lây hết không chừng. Hảy gởi y tá đến để săn sóc tức thời.”

Ông Martin cho lệnh ông Polgar giữ liên lạc chặt chẽ với viên đại tá Hung gia Lợi. Mặc kệ ý kiến của thuộc cấp như Snepp.

Ông Kissinger không quan tâm lắm về chuyện gặp gỡ bí mật của viên trưởng cơ quan tình báo CIA với một ông đại tá Hung gia Lợi. Người cộng sản không có thói quen tiến hành những chuyện thương thảo nghiêm trang qua những nhân vật hàng thứ yếu như vậy.

Chiến cuộc ở Xuân Lộc cuối cùng đã không được tốt lắm cho quân Miền Nam và tình hình quân sự hình như đã trở nên thảm hại trở lại.

Sáng chúa nhật 20 tháng 4:

Ông Kissinger trả lời: “Cái đầu của tôi cũng không được ai che chở ! Cuối cùng rồi những chỉ trích sẽ rơi vào tôi hơn là vào ông, ông Kissinger yêu cầu ông Martin hãy thăm dò thử xem ông Thiệu có định từ nhiệm hay không ? Thời điểm chọn lựa cho việc này rất là quan trọng. Ông Kissinger có liên lạc với phía Liên Xô. Ông khuyên ông Martin không nên nói gì với ông Thiệu hết: “người ta có thể dùng ông Thiệu trong vấn đề mặc cả.”

Những người có trách nhiệm ở Ngũ Giác Đài đang lo âu về chiến cụ và đạn dược của VNCH có nguy cơ bị rơi vào tay của Bắc Việt.

Ở Hoa Thạnh Đốn, trong những buổi họp có đủ mặt đại diện các ngành, ông Kissinger buông ra một câu:

_ “Tôi biết rằng nếu người Mỹ bị chết, thì đó là lỗi ở tôi. Tôi biết rằng, nếu chỉ còn một người Mỹ nào đó còn sót lại ở Việt Nam, thì đó cũng là lỗi ở tôi. Thưa các ông, bây giờ quý vị ai cũng đã tự lo đề phòng cho mình cả rồi. Chúng ta hãy bắt đầu làm lại đi”

Tại Bộ Ngoại Giao ở Mạc tư Khoa, người ta tiếp rất nhiều nhà ngoại giao ngoại quốc, nhất là từ Đông Phương. Dựa trên những sự trao đổi với các đại diện Bắc Việt và của CPLTCHMN, các viên chức ngoại giao cao cấp Liên Xô nhắc đi nhắc lại rất ngọt ngào rằng “cộng sản Việt Nam không có ý định chiếm Sài Gòn hay đi tới chiến thắng quân sự với cuộc tổng tấn công hiện tại.” Họ nói rằng Bắc Việt nhìn nhận rằng họ cũng có nhiều bài toán về tiếp vận, cùng có nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực. Bằng chứng là khẩu phần trong vùng Hà Nội đã bị giảm thiểu…

Đây là luận cứ mới nhất của Liên Xô: Quá bất ngờ vì các đơn vị tiến quá nhanh, Bộ Tư Lệnh Bắc Việt đã gặp khó khăn trong việc đối phó với các sư đoàn cuối cùng được trang bị quá đầy đủ của Sài Gòn. Cuối cùng CPLTCHMN không muốn tiếp thu một thủ đô Sài Gòn bị tàn phá.

Cũng vẫn những tin tức tương tự được tung ra từ Ba Lê (Pháp). Tại đây phái đoàn VNCH đòi hỏi Bắc Việt và CPLTCHMN phải trở lại bàn Hội Nghị “mà không có điều kiện tiên quyết”. Đại diện CPLTCHMN trả lời rằng: “Bao lâu mà ông Nguyễn văn Thiệu còn ở chánh quyền thì chừng đó không bao giờ có tiến triển về chánh trị được”.

Trước đây vài tháng theo đề nghị của đại sứ Martin, Tổng Thống Thiệu đã cử tướng Nguyễn văn Toàn – một người to con, một người lính thật giỏi nhưng hư hỏng – đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Vùng 3 Chiến Thuật, bao gồm Sài Gòn và Xuân Lộc.

Tướng Toàn trình cho Tổng Thống là Xuân Lộc chắc sẽ bị thất thủ. Quân Bắc Việt có thể tràn ngập các đơn vị phòng thủ cuối cùng ở đây và sẽ đánh bọc hậu vào thành phố. Ở phía Bắc Sài Gòn, Bắc Việt không phải tập trung các sư đoàn mà là tập trung các quân đoàn của họ. Lần lần họ sẽ có mặt ở vùng Đồng Bằng. Đứng trước tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, tướng Toàn, người được Tổng Thống Thiệu tin cậy, đã có nhận định:

_ “Chúng ta không còn lực lượng trừ bị. Chúng ta không có thể tiếp tục chiến đấu được nữa. Trên phương diện quân sự, coi như chiến tranh đã chấm dứt. Phải thương thảo với cộng sản mà thôi.

Trong một vài trung tâm chánh trị tại Sài Gòn, những nơi mà ai cũng biết khá rõ về lịch sử nước Pháp, thì người ta giải thích là phải có một cuộc chuyển giao quyền hành hợp pháp giống như tướng De Gaulle đã nhận lấy chánh quyền hồi tháng 5 năm 1958 vậy mới được . Một vài người như ông Bùi Diễm ước tính rằng tất cả những cuộc vận động của những người này hay người khác đều vô ích thôi. Ông Martin có điện thoại cho ông Bùi Diễm. Ông Martin hỏi:

_ “Ông có gặp được Tổng Thống Thiệu chưa?

_ “Chưa, khó mà vô được lắm.

Ông Thiệu tự cô lập mình trong tư phòng, tinh thần bị đè nặng.

_ “Có lẽ bắt buộc tôi phải đích thân đến đó mới được, ông Martin vừa nói vừa thở dài. Ngày 20 tháng 4, vào buổi sáng, Ông Martin và người tùy viên là ông Brunson Mc Kinley.

đến dinh Độc Lập. Trước đó ông đã đọc qua các bản phúc trình sau cùng của các cơ quan tình báo.

Đại sứ Hoa Kỳ giải thích cho Tổng Thống Thiệu biết là “phân tích bản trận liệt và so sánh tương quan lực lượng hiện hữu đã dẫn đến một kết luận hết sức bi quan, nếu không muốn nói là thảm não .. Nếu Hà Nội muốn tiêu diệt QLVNCH thì Sài Gòn không thể cầm cự quá một tháng, hay có thể là không quá 3 tuần lễ, ngay như có được một sự phòng ngự vững chắc. Hà Nội mong muốn chiếm được Sài Gòn còn nguyên vẹn. Nếu những cuộc thương thảo không tiến hành được , người ta cũng không thể loại ra ngoài ý muốn của Bắc Việt là họ vẫn muốn chiếm một thủ đô Sài Gòn bị tàn phá hay không cũng vậy.

_ “Vậy thì triển vọng viện trợ như thế nào?

Ông Thiệu lên tiếng hỏi

_ “Mù mờ lắm” ông Martin trả lời.

Xem chừng như ông Thiệu rất bình tĩnh, đáng kính nể lắm trong khi ông Martin mô tả những nét chánh của một thất bại ê chề. Ông nói với ông Thiệu là tất cả những người nào ở vào vị thế

so với vị thế của ông ta ở tại Sài Gòn này, ở Thủ tướng Phủ bên Anh, ở Tổng Thống Phủ bên Pháp, ở điện Kremlin ở Liên Xô hay ở ngay Nhà Trắng bên Mỹ, đều có một bài toán chung giống nhau: họ không bao giờ biết được là người ta có nói hết sự thực cho mình hay không ? Người ta có thể nói dối với họ, trang điểm các phúc trình để được lợi ích cho cá nhân hay cho phòng sở của mình, để mà không làm phương hại đến người nắm giữ quyền hành tối thượng. Hay là vì người ta sợ và không muốn đưa tin quá xấu đến cho người đó.

Ông Thiệu ngồi nghe một cách kiên nhẫn.

Ông Martin tuyên bố là ông nói với tư cách cá nhân, không phải trong tư thế của một đại sứ Hoa Kỳ, với tư cách của một người từ lâu đã có quan sát được những biến cố ở Đông Nam Á Châu, của một người trong hai năm dài vừa qua đã làm việc cật lực để tìm hiểu sự phức tạp của những bài toán Việt Nam….. ông cứ tiếp tục nói…:

Càng về già, ông càng thấy mình không sao biết hết được .Người ta có thể nghi ngờ. Lúc nào cũng vậy. Đó là điều rất là có lý. Nhưng trong những thời điểm đau khổ này, những sự quan sát của ông có giá trị như của bất cứ người Đông Phương nào. Tình hình quân sự xấu kinh khủng, và người dân Việt Namcho đó là trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu. Trong giới chánh trị, về phía bạn cũng như về phía quân thù, không có một ai dám tin rằng ông Thiệu có thể đưa đất nước của ông ra khỏi cuộc khủng khoảng này được. Các tướng lãnh của ông có thể tiếp tục chiến đấu, nhưng cũng phải đạt tới một sự ngơi nghỉ qua miếng mồi thương thuyết. Ông Martin ước tính rằng nếu ông Thiệu không sớm có hành động thì các tướng lãnh của ông sẽ đòi hỏi ông phải ra đi.

Thật là một cảnh lạ lùng, ngoài sự yên lặng của hai người đang đối thoại. Ông Thiệu đặt nhiều câu hỏi chứng tỏ rằng ít nhất tới một điểm nào đó ông mất hẳn sự tiếp xúc với thực tế, cũng giống như đại sứ Martin đôi khi vậy. Ông hỏi:

_ “Đơn từ chức của tôi có ảnh hưởng gì đến Quốc Hội Hoa Kỳ và sự bỏ phiếu của họ hay không?

_ “Vài tháng trước thì có thể có” ông Martin trả lời.

Còn bây giiờ thì ông tỏ ra nghi ngờ. Điều quan trọng là sự ra đi của ông Thiệu sẽ có ảnh hưởng đến “phía bên kia” hay không?. Ông Martin không biết….. Ông đại sứ tưởng rằng Hà Nội sẽ chống đối bất cứ người nào có nghị lực. Tất cả những người của ông Thiệu, tất cả Chánh Phủ của ông đều có cảm nghĩ rằng sự ra đi của ông sẽ giúp mua được thời gian. Ông Martin ước tính rằng hy vọng đó rất là thấp nhưng người ta có thể căn cứ vào sự sống còn của một nước Việt Nam độc lập.

Ông Thiệu trả lời là ông sẽ có một quyết định tốt, đúng theo quyền lợi của đất nước ông. Ông Martin thấy không còn chờ đợi gì hơn nữa được ở Tổng Thống Thiệu. Ông Thiệu sẽ phải suy tính lại.

Cuộc đối thoại kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ.

Khi trở về tòa đại sứ, ông Martin phúc trình ngay với ông Kissinger:

_ “Ông Thiệu có thể sẽ còn thử có một hành động nào đó để giúp ông ta qua mặt được kẻ thù của ông. Chắc không còn bao nhiêu thời gian nữa đâu. Xét kỹ lại thì tôi nghĩ rằng ông ta sẽ ra đi gần đây thôi…. Nếu các tướng lãnh của ông cho ông được vài ngày nữa thì có thể ông ta sẽ dàn dựng một màn từ nhiệm cảm động lắm. Tôi sẽ về nhà để đọc qua những phúc trình từ Hoa Thạnh Đốn … rồi mới đi tắm gội được . Tôi nhức đầu lắm rồi đây.

Kính,

Martin”

Vào buổi trưa cùng ngày 20 tháng 4 này, ông đại sứ Pháp đi một mình tới dinh Độc Lập. Được ông Thiệu tiếp ông cũng một mình. ông Mérillon cảm thấy sự vận động của ông có vẻ kỳ quặc nhưng thân mật.

_ “Thưa Tổng Thống, tôi đến tìm ông vì tình hình đã hết sức nghiêm trọng rồi. Không còn một lối thoát nào bằng hành động quân sự hết.

Ông Thiệu không trả lời, ông Mérillon lại tiếp:

_ “Tôi chỉ thấy được có một con đường chánh trị …. Phải để cho một tiến trình chánh trị nó phát triển.

Vốn ít nói, ông Thiệu vẫn lặng thinh. Nên cuộc nói chuyện trở thành một cuộc độc thoại dài của đại sứ Pháp. Ông điểm qua những sự kiện mà ông Thiệu mới bắt đầu biết. Ba phần tư đất nước coi như đã mất rồi. Có được bao nhiêu thành phố còn được ở trong tay của Chánh Phủ?- Sài Gòn, Cần Thơ. Nếu tình thế không nghiêm trọng thì không bao giờ Mérillon này dám tự cho phép mình… Căn cứ theo những gì Tổng Thống đang nắm được, điều rất rõ là…..

Đại sứ Pháp nhắc lại những quan hệ cá nhân giữa 2 người , nhắc lại lịch sử, danh dự, những mối liên lạc giữa bà Thiệu và bà Mérillon. Tổng Thống có thể giúp cứu vãn được dân tộc của mình . Xuyên qua một cuộc thương thảo không thể tránh né được, người ta có thể hy vọng sẽ cứu vãn một số đặc thù nào đó của Miền Nam Việt Nam được.

Tổng Thống Thiệu nói về những sự tập trung quân lực cần thiết, nói về sự phản bội của đồng minh Hoa Kỳ, về sự chủ bại của một vài tướng lãnh. Ông tỏ ra rất bình tĩnh nhưng ông Mérillon khi điện về Tổng Thống Phủ bên Pháp đã có nhận xét là: “thỉnh thoảng cái nhìn của ông Thiệu có vẻ ngơ ngác”.

Đại sứ Pháp thấy mình cần phải nêu lên những hành động chống Pháp trong những ngày gần đây ở Sài Gòn. Ông thấy cần phải lên án thái độ rất có lễ độ được dùng để làm rõ nét những sự vận động của người Pháp là “can dự vào những công việc nội bộ”. Và cuối cùng là Hiệp Định Ba Lê đã được long trọng bảo đảm ngay tại thủ đô nước Pháp.

Ông Thiệu lắng nghe mà không phản đối.

Cuộc nói chuyện kết thúc bằng một nhận xét rất là vô vị của Tổng Thống Thiệu:

_ “Rồi sẽ ra sao thì ra!”

Cũng giống như ông Martin, ông Mérillon từ giã Tổng ThốngThiệu, in trí rằng ông này rồi cũng phải ra đi.. May phước là ông Thiệu không có hỏi xem nước Pháp có chấp nhận cho ông ta tỵ nạn chánh trị ở Pháp hay không?

Ông Mérillon trở về tòa đại sứ của mình một cách bình thản. Ở Thủ tướng Phủ Pháp, có một số người sợ rằng ông Thiệu sẽ trục xuất đại sứ Pháp, hay hơn thế nữa sẽ cho người ám sát ông này.

Ngay buổi chiều hôm đó, ông Thiệu trích đọc những bức thư của ông Nixon cho các thành viên của Chánh Phủ và một số Nghị sĩ, Dân biểu Quốc Hội nghe. Trong các tiệm ăn, các quán nhậu ở Chợ Lớn, người ta đánh cá sự ra đi của Tổng Thống Thiệu, một ăn ba, rồi một ăn mười. Nội trong tuần này hay trong mười ngày tới thôi.

Ngày 21 tháng 4,

Lúc 8 giờ 20, ông Polgar lại đi gặp đại tá Toth. Viên chức Mỹ này nói với viên chức Hung gia Lợi là người ta đã lắng nghe những nhận định của ông ta. Trước khi phê phán nội dung đó, người Mỹ muốn được nghe rõ ràng hơn về vị trí của “phía bên kia”. Nhất là cộng sản sẽ muốn nghe Hoa Kỳ tuyên bố những gì?

Hai người Mỹ và Hung gia Lợi điểm qua tình hình quân sự trong 48 giờ sau cùng. Những chuyện đổ máu thêm thấy không có ý nghĩa gì hết. Đứng về quyền lợi chung của tất cả mà nói thì cần phải tránh sự hỗn độn. Ông Polgar thắc mắc là những cuộc thương thảo chừng nào mới sẽ bắt đầu và sẽ diễn ra ở đâu?

Trong khi hai ông Polgar và Toth đang xây dựng lại nước Việt Nam, thì đại tá Võ văn Cầm thuộc võ phòng của ông Thiệu đi đến đài truyền hình Việt Nam ở số 9 đường Hồng Thập Tự để xin đại tá Lê vĩnh Hòa Giám Đốc đài Truyền Hình Việt Nam tổ chức một buổi trực tiếp truyền hình. Đại tá Giám đốc đi ngay đến dinh Độc Lập mang theo dụng cụ lưu động và 20 chuyên viên. Có một đài tiếp vận trên xe để bảo đảm chuyển tiếp hình ảnh và âm thanh đến thẳng Đài Truyền Hình trung ương.

Trong một phiên họp nội các ngắn, Tổng Thống Thiệu báo cho các Tổng Bộ Trưởng của ông về quyết định của mình. Đến 2 giờ trưa Tổng Thống gặp Giám Đốc đài Truyền thanh truyền hình, lúc ông này đang đặt dụng cụ:

_ “Anh có thể cho phát hình vào lúc 6 giờ chiều được không? Để chỉnh các máy quay hình, anh hãy chọn một người nào đó có vóc dáng như tôi vậy được rồi.

Đến 3 giờ chiều, ông Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia loan báo là chiều nay Tổng Thống sẽ ngỏ lời với quốc dân đồng bào trên đài. Đến 5 giờ chiều, Tổng Thống cho gọi Giám Đốc đài truyền hình vào văn phòng của ông. Ông nói:

_ “Trong lúc chuyển giao quyền hành, anh quay luôn cả tôi và ông Hương nghe.

Ông Thiệu muốn được trực tiếp truyền hình để nói chuyện tự do hơn. Nếu ông cho thâu bài nói chuyện của ông trước thì người Mỹ có thể tạo ra những biến cố kỹ thuật được. Vì giây trời (ăn ten) phát hình nằm ngay trên đài truyền thanh của Mỹ.

Tổng Thống Thiệu chỉ thị cho Giám đốc truyền hình lần chót:

_ “Tôi sẽ nói vào đúng 19 giờ 30. Cuối cùng anh cứ giữ một máy quay trên hình của tôi.

Và cứ cách hai giờ anh lại cho phát lại một lần.”

Được biết là trước cuộc tổng tấn công của cộng sản về truyền hình đã có 5 đài chuyển tiếp, ở Sài Gòn, Cần Thơ, Nha Trang, Qui Nhơn và Huế. Trong tổng số bốn trăm ngàn máy thu hình ở Miền Nam Việt Nam, đã có hơn phân nửa ở ngay trong vùng thủ đô Sài Gòn. Bài diễn văn cũng sẽ được trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh trên nguyên tắc nghe được khắp cả nước Việt Nam.

Được biết ý định của Tổng Thống Thiệu, ông Martin cho ông Kissinger biết:

_ “Ông có thể cho đại sứ Liên Xô Dobrynine biết để biến chuyện này thành lợi thế là ông đã cố gắng sắp xếp chuyện này với Hà Nội qua Mạc tư Khoa. Mặc dầu tôi không biết được ông Thiệu sẽ nói gì chiều nay, nhưng tôi cũng không chờ đợi là ông sẽ quá cứng rắn đối với Hoa Kỳ.”

Ông Kissinger trả lời ngay cho ông Martin:

_ “Nếu ông Thiệu muốn rời khỏi Việt Nam, chắc chắn là ông phải lo cho ông ta mọi sự giúp đỡ cần thiết. Bất luận điều gì mà ông có thể nói về tôi, tôi vẫn có một sự kính trọng rất lớn đối với ông ta”

Ông Thiệu đã mời tất cả những Dân biểu và Nghị sĩ vào Hội trường lớn ở tầng dưới của Dinh Độc Lập, trên bục danh dự có thiết trí hai máy thu hình. Trong phòng có vài quân nhân, trong số này có đại tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu trưởng. Mọi người tuy có vẻ lo âu, bối rối nhưng có phần nào nhẹ nhõm. Ông Thiệu đã nắm chánh quyền từ cả chục năm nay. Ông ta đã chịu đựng và có quá nhiều kẻ thù. Giờ thì ông sắp ra đi. Liệu người ta có thể thay thế nhau ngay lúc đang ở giữa dòng hay không ? (tác giả dùng danh từ cộng sản là “thay ngựa giữa dòng”).

Ông Tổng Thống Thiệu lên tiếng:

_ “Thưa quý bà, thưa quý ông, Thưa đồng bào, Anh Chị em thân mến, đây là chiến lược của cộng sản: Quá mạnh về mặt quân sự, họ hăng say chiến đấu và các cuộc thương thuyết là phụ thuộc. Còn nếu họ thấy quá yếu về quân sự thì họ trở lại rất mạnh trên bàn thương thảo…”

Ông Thiệu vẽ lại một biến cố lịch sử. Ông lên cao giọng. Đôi khi ông khoa tay làm như bị trật khớp vậy. Ông xin lỗi vì địa điểm nói chuyện hôm nay thiếu hẳn sự long trọng… :

_ “Đã có một sự thông đồng giữa cộng sản và Hoa Kỳ để đi đến Hiệp Định từ ngày 26 tháng 10 năm 1972. Vào lúc đó tôi can đảm nói thẳng với Tổng Trưởng Ngoại Giao Mỹ ông Kissinger rằng “Nếu ông chấp nhận bản Hiệp Định này tức là ông chấp nhận bán Miền Nam Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt . Còn tôi, nếu tôi chấp nhận nó tức là tôi là một kẻ phản bội lại đất nước và dân tộc tôi….

Ông Thiệu đã từ chối không chịu ký tên vào Bản Hiệp Định trong suốt 3 tháng. Lần đầu tiên Tổng Thống Thiệu công khai nói rằng để ép ông ký, vào năm 1973 Tổng Thống Nixon của Hoa Kỳ đã phải đe dọa cúp hết tất cả mọi viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.

Bài diễn văn này không được ông Hoàng Đức Nhã phụ ông soạn thảo, giống như những lần trước . Tổng Thống vừa đọc vừa thêm bớt tùy hứng, rất dài, và rất khúc chiết. Đôi khi cử tọa thấy bực mình vì nghe được tính cách quá nghiêm trọng của diễn tiến lịch sử này.

Thỉnh thoảng Tổng Thống đã tỏ ra rất giận dữ, quá xúc động, nên ông phải ngưng lại một lúc để tìm lại đoạn nối tiếp cho đúng chỗ trong bài diễn văn của mình. Chỉ có vài giây yên lặng mà sao thật là quá dài… Ông Thiệu đã tỏ ra rất là cứng rắn đối với người Mỹ, điều mà ông Martin không bao giờ mong đợi:

_ “Tôi đã nói với họ (người Mỹ) rằng: Các ông đã bắt chúng tôi phải làm những gì mà các ông đã thất bại không làm được với nửa triệu binh sĩ võ trang quá đầy đủ… Các ông không có thua cộng sản thật nhưng các ông cũng không thắng họ được. Và các ông lại tìm được một lối thoát trong danh dự. Bây giờ, trong lúc quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, thiếu đạn dược, thiếu trực thăng, phi cơ và B.52, thì các ông lại đòi hỏi chúng tôi phải thực hiện một việc không thể nào làm được, là lượm từ viên đá để lấp cả một đại dương! Thật giống như các ông chỉ cho chúng tôi có 3 mỹ kim thôi mà buộc chúng tôi phải mua vé máy bay thượng hạng, hoặc buộc chúng tôi phải thuê một phòng ở khách sạn mà thường giá phải là 30 mỹ kim một ngày. .rồi phải ăn 4 hay 5 miếng bò bít tết, phải uống 6 hay 7 ly rượu vang…. Thật là vô lý, không thể nào thực hiện được!

Các khán thính giả đài truyền hình – người Việt Nam thì theo dõi bài nói chuyện trong nhà họ, và những cơ quan truyền thông báo chí thì ở tòa đại sứ Mỹ có người dịch ngay ra tiếng Anh tại chỗ – đều cảm thấy đây không phải là một bài diễn văn của một nhà ngoại giao, mà thật sự là một lá chúc thư.

Quá khích động, mồ hôi nhễ nhãi trên trán, ông Thiệu đã tỏ ra là một người thành thật khi ông thóa mạ người Mỹ:

_ “Các ông bỏ mặc binh sĩ chúng tôi dưới cơn mưa pháo của cộng sản, thật là một hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo!

Ông gằn mạnh từng tiếng và lập lại:

_ “Từ chối giúp đỡ một đồng minh, bỏ mặc cho họ chết, thật là vô nhân đạo.

Sau đó ông trở về với bài diễn văn:

_ “Hoa Kỳ đã tỏ ra rất hãnh diện là một quốc gia tranh đấu không mệt mỏi cho chánh nghĩa và lý tưởng Tự Do trên thế giới này. Năm tới Hoa Kỳ sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm lập quốc…. Liệu người ta còn có ai tin vào những lời tuyên bố của Hoa Kỳ nữa hay không?

Ông Thiệu tự nhủ là ông sẵn sàng chấp nhận mọi chỉ trích của cả thế giới, của những đồng minh của ông , và của cả dân tộc Việt Nam.

_ “Tôi công nhận là có một số cấp chỉ huy quân sự của tôi đã tỏ ra hèn nhát trong những chiến trận gần đây, nhưng không phải tất cả đều như vậy. Trong nhiều Vùng, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu một cách anh dũng…. Tôi có thể tiếp tục nhiệm vụ của tôi trong chức vụ Tổng Thống để cầm đầu cuộc kháng chiến.. Nhưng tôi không thể cung cấp được cho quân đội đầy đủ phương tiện để chiến đấu…. Đồng bào có thể hiểu lầm tôi, cho tôi là một chướng ngại trên con đường đi đến hòa bình. Tôi chọn giải pháp thứ hai, là tôi xin từ nhiệm. Sự từ chức của tôi chỉ là một sự hy sinh rất nhỏ.”

Ông xin tất cả hãy giúp đỡ Phó Tổng Thống Trần văn Hương, người sẽ kế vị ông theo đúng Hiến Pháp vào chức vụ Tổng Thống.

Ngồi bên cạnh ông Thiệu, ông Trần văn Hương rất cảm động sau cặp kính đen lớn của ông.

Ông Thiệu nói tiếp:

_ “Không phải vì những áp lực của Đồng Minh chúng ta, cũng không phải vì cuộc chiến đấu khó khăn vối với quân đội cộng sản Bắc Việt mà tôi bỏ cuộc. Có những vị Tổng Thống của một vài quốc gia lớn cũng đã từng trải qua sáu hay bảy cuộc khủng khoảng. Họ đã viết sách, tự giới thiệu như những vị anh hùng, những chánh trị gia lỗi lạc. Còn tôi, trong mười năm qua, tất cả những năm, tháng, ngày, giờ của đời tôi đều gặp khó khăn, như tử vi của tôi đã tiên đoán.”

Trong hàng cử tọa người ta muốn ông Thiệu chấm dứt. Nhưng ông cứ tiếp tục, trở lại những đề tài đã nói:

_ Tôi sẵn sàng chấp nhận những phê phán và những cáo buộc của quốc dân đồng bào… Đời sống của cả một dân tộc không thể nào được trả giá như người ta trả giá một con cá ngoài chợ được

Cuối cùng ông Thiệu tuyên bố:

_ “Tôi xin từ nhiệm, tôi không đào ngũ”

Như vậy là ông Thiệu đã nói suốt một tiếng rưỡi đồng hồ.

Vị tân Tổng Thống Trần văn Hương sẽ lên tiếng tiếp theo đây. Người ta phải dìu ông lên đến tận ống nói. Sáu mươi hai tuổi đầu, lưng hơi còng hình như bị thấp khớp, ông nói với binh sĩ:

_ “Bao lâu mà các anh em còn chiến đấu, ngày đó tôi vẫn còn đứng bên cạnh các anh em. Tai họa đã giáng xuống đất nước chúng ta, hài cốt tôi sẽ nằm chung với hài cốt của các bạn chiến binh. Đó là nguyện vọng thiết tha của tôi.

Đối với đồng bào ông Hương tuyên bố:

_ “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.

Sau buổi lễ tuyên thệ của Tân Tổng Thống, Tướng Tổng Tham mưu Trưởng và Tổng Giám Đốc Nha Cảnh Sát đứng lên bảo đảm là quân đội tiếp tục chiến đấu và an ninh trật tự sẽ được vãn hồi.

Nhà văn Duyên Anh đã nghe ông Thiệu nói. Ông tự nhủ: Ông Thiệu không phải tài giỏi gì nhưng người Mỹ tin cậy ông ta. Nếu họ bỏ ông ta, thì cuộc diện coi như đã xong rồi.

Đã từ mấy ngày nay, tên của nhà văn Duyên Anh đã được ghi vào danh sách rồi nên ông chỉ còn chờ còn chờ có một cú điện thoại nữa mà thôi, để được bốc đi Hoa Kỳ. Người ta yêu cầu ông đừng có xử dụng đường giây điện thoại để bất cứ lúc nào cũng có thể nhận được điện thoại khẩn cấp . Giữa cú điện thoại và lúc ra đến điểm hẹn để được bốc đi, chỉ có vỏn vẹn 5 phút mà thôi.

Hòa thượng Thích Thiện Huê đã ngồi ở ngay chùa với môt số dân lánh nạn để nghe bài nói chuyện của ông Thiệu. Mọi người đều vui vẻ. Ông Thiệu đã mất hết vừa đồng minh vừa lòng tin của đồng bào. Ông ra đi là phải lắm rồi. Với một người lãnh đạo khác, tình hình may ra có thể khả quan hơn.

Ông kỹ sư Văn thì không thấy vui một chút nào. Làm sao những người quốc gia có thể thương thuyết được khi họ ở trong thế quá yếu? Còn ông Tân Tổng Thống Hương vốn là một người chống Cộng đến cùng thì làm sao mà thương thuyết được? muốn vậy là phải có một nhân vật nào đó mềm dẻo hơn.

Ở Đà Lạt, cha Jean Marie phải vào nhà ăn của trường Đại Học đóng kín tất cả cửa lại để nghe Tổng Thống nói chuyện. Ông cảm thấy tức giận. Tổng Thống Thiệu đã loan báo là ông sẽ trở lại quân đội như một tướng lãnh. Nhưng mà Cha nghĩ là chắc chắn ông Thiệu đã có trong túi một vé máy bay để đi ra ngoại quốc rồi.

Chỉ hai giờ đồng hồ sau lễ bàn giao quyền hành ở Dinh Độc Lập, thì đài giải phóng và đài Hà Nội đã tuyên bố là: “Đó vẫn là chế độ Thiệu mà không có Thiệu… Chỉ là một chế độ bù nhìn mà thôi.”

Ông Thiệu gặp ông Hoàng Đức Nhã, người em bà con của ông ở nhà riêng của ông này.

Ông cựu Tổng Thống hình như đã thanh thản hơn, không còn quá căng thẳng như lúc ông đọc diễn văn nữa. Đến độ ông đã nở được một nụ cười….. – hay là ông đã nhăn mặt đây? – để nói:

_ “Xong rồi. Nếu họ tưởng rằng họ có thể giải quyết được những bài toán này thì OK, xin cứ tìm giải pháp đi ….”

Sau đó ông thở dài:

_ “Phần tôi, tôi đã làm được tất cả những gì mà tôi có thể làm được cho đất nước tôi rồi”.

Ông ta không còn ở tay lái nữa, nhưng ông chưa rời bỏ con thuyền. Ông chưa có ý định rời khỏi quê hương Việt Nam.

_ “Tôi sẵn sàng giúp ý kiến, nhưng bây giờ tôi không phải là người chỉ huy nữa.”

Trong khi ông Thiệu từ chức, các đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 bộ binh đang rút ra khỏi Xuân Lộc . Tướng Tư Lệnh sư đoàn Lê minh Đảo đã đặt cho cuộc triệt thoái này một cái tên là ” cuộc hành quân bất ngờ, và đánh lạc hướng”. Tướng Đảo đã có được một sự giúp đỡ ngắn – do một trái bom được gọi là ” cắt hết bông cúc” được thả xuống đêm rồi ở 6 cây số về hướng Tây Bắc Xuân Lộc, gần Bộ Tư Lệnh của sư đoàn 341 Bắc Việt. Bom nổ làm chấn động cả thành phố như một cuộc động đất. Tin được loan đi hoảng loạn: Miền Nam Việt Nam có bom nguyên tử loại chiến thuật. Hàng ngàn bộ đội và sĩ quan Bắc Việt bị tử thương do trái bom “hút hết dưỡng khí” này đã đốt hết dưỡng khí trong một đường bán kính 250 thước, làm chết ngay tại chỗ, nghẹt thở, mà không có một thương tích nào trên người.

Ông Eric von Marbod đã có hứa cho Miền Nam 27 trái bom loại “cắt hết bông cúc” này. Đã có 3 trái được giao cho Không Quân hôm 16 tháng 4, kèm theo đầy đủ mỗi trái một ngòi nổ của Hoa Kỳ. Ông ta đã chỉ cho Miền Nam kỹ thuật làm nổ trái bom và cách thức ràng rịt trái bom trên phi cơ vận tải cơ C.130. Muốn thả trái bom đầu tiên này, người ta gặp nhiều khó khăn lắm mới tìm được một phi công của Miền Nam có đủ kinh nghiệm. Vì người phi công Mỹ đã có hứa đến mà không thấy đến. Và người ta cũng không còn thả thêm được một trái bom nào loại này nữa.

Cuộc triệt thoái khỏi Xuân Lộc được tính toán rất kỹ và được thực hiện rất chu đáo. Những đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 bộ binh, của lữ đoàn 1 Dù, vài đơn vị Bảo An và Dân Vệ, đã rời khỏi vị trí đêm 23 tháng 4. Sư đoàn 18 tính tới giờ này đã bị thiệt 30 % quân số, đã tập trung được với pháo binh cơ hữu chung quanh các căn cứ Long Bình và Biên Hòa. Lực lượng Dù ít thiệt hại hơn, đã về thiết lập vị trí trên đường 15, bảo vệ trục lộ Sài Gòn ra Vũng Tàu.

Tổng Tư Lệnh quân đội Bắc Việt đã có quyết định bọc hậu thành phố để tiến về Biên Hòa , nằm ở giữa Xuân Lộc và Sài Gòn. Trong trận tấn công vào Xuân Lộc tướng Dũng đã mất hết 37 chiến xa T. 54.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Feb 2026

Anh Phải Sống

“Ta nợ những người chết sông chết biển

Nợ những người ở lại để ta đi.”(HP)

“Trên đê Yên Phụ vào một buổi chiều mùa hạ … ” Đó là dòng chữ mở đầu cho chuyện ngắn “Anh Phải Sống!” của Khái Hưng mà chúng ta, những người yêu Tự Lực Văn Đoàn, ngày nay đã luống tuổi, đều đã đọc hay còn ghi lại trong trí nhớ.

Một buổi chiều, sau những cơn mưa lớn, trong dòng nước lũ hung hãn, hai vợ chồng anh Phó Thức đem con thuyền nan ra sông vớt củi. Sau khi thuyền bị lật, người chồng phải dìu vợ bơi vào bờ, đã đuối sức. Người vợ đã nói với chồng lời cuối cùng trước khi buông tay để cho anh có thể bơi một mình vào bờ:

“Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé!… Không?… Anh phải sống!”

Hai vợ chồng không thể cùng chết để lại đàn con dại, mà “Anh phải sống!” để nuôi con.

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, trong khổ đau tận cùng, bị đày đọa bởi những tên cai tù cộng sản và cả những tên tay sai “thi đua-văn hóa” tại nhà tù Thanh Cẩm, trong lúc kề cận với cái chết, Linh Mục Lễ đã thức tỉnh và giữ lời thề: “Tôi phải sống!” Ông sống để viết lại một cuốn sách mang lời thề của ông để tố cáo chế độ nhà tù tập trung quân cán chính miền Nam sau năm 1975, và cả những con người cùng chiến tuyến đã mất hết lương tâm. Cuốn hồi ký lao tù “Tôi Phải Sống” được xem là một best-seller ở hải ngoại trong những năm 2003-2005. Sống, để ông làm những công việc vạch trần tội ác của cộng sản và Hồ Chí Minh qua những phương tiện truyền thông.

Hơn năm nay, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ bắt đầu yếu dần vì những vết thương trong thời gian tù tội. Suốt trong thời gian từ ngày ông khỏi nhà tù đến nay, ông đã làm đủ cho mục đích cho sự sống còn của ông qua lời nguyện đẫm máu và nước mắt của ông trong những đêm bị còng trong nhà biệt giam Thanh Cẩm.

Trận chiến Okinawa giữa Nhật và Mỹ kéo dài 82 ngày, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động, trước khi mổ bụng tự sát như là một cách chết trong danh dự, một truyền thống anh hùng của giới võ sĩ đạo Nhật, nghi lễ này gọi là “seppuku” hay “harakiri,” Đại Tá Kanayama, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27BB, tập hợp 102 người còn lại sau trận chiến của trung đoàn.

Ông làm lễ đốt quân kỳ trung đoàn và nói: “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết quân đội Nhật đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.”

Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo.

Trong giờ phút cuối cùng, ông nói với Đại Tá Yahara: “Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.”

Yahara là sĩ quan cao cấp phía Nhật Bản đã sống sót sau trận đánh, và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.”

Chết là oanh liệt, nhưng sống can trường cũng là anh hùng. Rất nhiều người đã thương yêu mong mỏi cho chúng ta còn sống sót qua chiến tranh, tù đày, vượt biển, nhưng liệu sự sống hôm nay của chúng ta có ý nghĩa gì không?

Anh Phó Thức trong câu chuyện “Anh Phải Sống” của Khái Hưng phải sống để thay vợ nuôi con khôn lớn thành người. Những người tù khốn khổ sau bao nhiêu năm bị đày đọa trong các trại tù tập trung, phải sống để trở về nói lên tiếng nói tố cáo cho cả nước và thế giới biết thế nào là chế độ lao tù và sự trả thù tàn độc của những người cộng sản. Cũng như hồi ký “Tôi Phải Sống,” hàng trăm đầu sách về hồi ký lao tù của các tác giả cựu tù nhân chính trị đã được viết ra là một bản cáo trạng về tội ác của cộng sản để cho con cháu đời sau biết đến một giai đoạn lịch sử khổ đau của dân tộc.

Những quân nhân VNCH không phải ai cũng có can đảm tự sát để bảo vệ thanh danh của một người lính không giữ được thành, phải sống như lệnh của Tướng Ushijima cho Đại Tá Yahara: “Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến này!” Sống là phải mang trách nhiệm của một người lính

trong câu chuyện này, dù là một người lính thất trận, chứ không phải sống để chạy theo kẻ thù, đem ô nhục cho đồng đội và cho những người đã chết cho đại cuộc.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc đã qua, những người chết giữ trọn thanh danh đã đành, nhưng không phải ai sống cũng can trường, xứng đáng với kỳ vọng của những người đã chết, thi hành được chúc thư của những người đã nằm xuống. Chúng ta là những người thất trận “may mắn,” những người tù sống sót. Trong ý niệm và trong sự tuyệt vọng vô bờ, bản năng sinh tồn của con người trỗi dậy khiến chúng ta phải bám víu lấy sự sống. Nhưng một sinh vật sống có nghĩa là có ăn, có ngủ, có bài tiết, chắc chắn khác hẳn với sự sống của một con người. Chúng ta thương tiếc những người có cuộc sống quá ngắn ngủi, họ chết để lại những thương tiếc cho hậu thế, nhưng cũng chán chường với những người sống kéo lê tuổi thọ, như những chiếc bình vôi dưới gốc cây đa của nhà văn Phan Khôi. Những người này không những đã phản bội lại những người đã mong cho họ sống mà còn phản bội lại chính con người của mình trước đó.

Đã bao nhiêu người trước cái chết kề cận, giữa bom đạn, đói khát, tuyệt vọng, giữa biển cả muôn trùng mà sự sống như ngọn đèn trước cơn bão đã ước ao, đã thề nguyện, đã ân hận, nhưng khi đã bước chân lên bờ, họ không còn ngoảnh lại một lần. Cái chết bây giờ đã qua, nỗi sợ hãi không còn. Trong một bức thư công khai được đưa lên Internet vào tháng 12, 2008, một thương binh ở Việt Nam là Trần Nhân đã viết những dòng chữ xót xa, trách móc:

“Các anh! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các anh đã quên rồi sao?

Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật  nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ,” và:

“Các anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngửa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một “Việt kiều yêu nước” là “khúc ruột xa ngàn dặm” về thăm “quê hương là chùm khế ngọt.”

Dù tác giả bức thư này là một nhân vật có thật hay không, thì những điều được viết ra trong bức thư đều là những sự thật đắng cay không thể chối cãi. Sau ngày 30 tháng 4, 1975 chúng ta có 96 tướng lãnh được may mắn di tản trước khi Sài Gòn thất thủ (*), định cư yên ổn ở nước ngoài, nhưng đã mấy ai có được ý nghĩ tìm cách gây quỹ, kiếm một đồng đô la cho thương binh thuộc cấp hay thắp một nén hương cho “vạn cốt khô” đang chết dở sống dở mà họ đã bỏ lại ở quê nhà. Để mãi tới 20 năm sau, một nhóm quân nhân lâm vòng tù tội, vừa vượt thoát ra khỏi những ngày tăm tối đã cùng nhau ngồi lại, từ những đồng bạc tiện tặn, quyên góp để có một sự giúp đỡ cho thương binh VNCH quy mô như ngày hôm nay, để chịu bao nhiêu lời nhục mạ, búa rìu, sỉ nhục, vu oan, chống phá của kẻ thù.

Bao nhiêu người lính đã nằm lại trên chiến trường, bao nhiêu sinh mạng đã bỏ mình oan khuất trên biển cả chỉ mong cho anh thay họ, anh phải sống.

“Tôi ra lệnh cho anh phải sống!” Đó là mệnh lệnh của người đã chết!

Nhưng sống như thế này cũng gọi là sống hay sao, thưa anh?

(*) Theo tài liệu “Lược Sử Quân lực VNCH” của Trần Ngọc Thống-Hồ Đắc Huân-Lê Đình Tụy (California, tháng 5, 2012).

Theo Chân Những Tiếng Hát

vietmessenger.com

Hồ Trường An

Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998

Post by Sơn râu 6 Feb 2026

Chương 9.

Sau Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (1968)

Trước khi bắt qua giai đoạn ca nhạc sau Tết Mậu Thân, tôi xin điểm mặt thêm bốn giọng hát Lệ Thu, Thanh Lan, Kim Loan và Giao Linh. Thêm vào đó là giọng của Trung Chỉnh, dù ca nghiệp của anh ngắn ngủi, nhưng anh vẫn nổi tiếng như cồn, tượng trưng cho giọng hát từ ngưỡng cửa học đường bay ra ca trường nhạc giới. Năm giọng nầy đã bắt đầu nổi tiếng vào những năm 1966, 1967, 1968.

* Lệ Thu:

Lệ Thu bước vào ngành ca hát trước khi có cuộc đảo chánh 1963. Cô là ca sĩ phòng trà Tự Do, hát nhạc ngoại quốc những bài âm hưởng bán cổ điển Tây phương đã từng được ca các sĩ hạng cừ khôi của Mỹ như Patti Page, Jo Stafford, Mahila Jackson và Andy Williams diễn tả. Khách Mỹ lui tới phòng trà Tự Do đều hoan nghinh cô nồng nhiệt, nhất là khi cô hát bài blue bất hủ “Summer Time”, một bản đã từng thắp sáng tên tuổi nữ danh ca da đen Mahila Jackson. Ngoài ra cô hát bài ruột của của Andy Williams là “Love Is a Many Splendored Thing” rất tuyệt. Nhưng thuở đó cô không nổi danh. Trước cô có nhiều nữ ca sĩ phòng trà hát nhạc ngoại quốc. Giai đoạn đó gần như thoảng xa rồi. Khán thính giả Việt Nam thích nghe những bản cây nhà lá vườn hơn. Cô đã cho thu vào dĩa nhựa microsillon bản “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của Trịnh Công Sơn vào năm 1966, vậy mà tên tuổi cô vẫn chưa bay ra khỏi phòng trà Tự Do và Trịnh Công Sơn vẫn chưa nổi tiếng. Phải đợi tới lúc có Quán Văn trong khuôn viên trường Đại Học Văn Khoa, phải đợi Khánh Ly và Trịnh Công Sơn nổi tiếng như cồn, khán thính giả mới ngoảnh lại tiếng hát cô. Họ mới biết rằng, chính cô là người đã đi trước Khánh Ly, đã thổi vào nhạc Trịnh Công Sơn một không khí đặc biệt, làm cho các nhạc phẩm họ Trịnh thêm tình ý mặn nồng. Nếu giọng mật ong của Hà Thanh làm giảm đi nhiều ý tình quằn quại trong hai bản “Hạ Trắng” và “Nhìn Những Mùa Thu Đi”, nếu chất chua trong giọng Thái Thanh không thể làm nổi bật tình ý đắng đót của “Diễm Xưa”, thì giọng Lệ Thu và giọng Khánh Ly đã đem lại cái ý vị cần thiết cho những ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Rồi đó, ngoài nhạc Trịnh Công Sơn, Lệ Thu còn được bài “Ngậm Ngùi” của Phạm Duy tháp đôi hia vạn dặm để tên tuổi cô bay khắp miền Nam đất nước. Trước cô, ca sĩ Anh Ngọc có hát bản nầy một cách nhạt nhẽo. Nhưng khi nó được giọng ấm áp như hỗn hợp khói chiên đàn, trầm thủy, giao hương của cô diễn tả, giới trẻ và giới sành điệu chạy kiếm mua bản “Ngậm Ngùi” mà hát nghêu ngao. Phạm Duy liền sáng tác bản “Nước Mắt Mùa Thu” (dịch nghĩa chữ Lệ Thu) để trang tặng cô. Nhưng hình như Lệ ở đây không có nghĩa là nước mắt mà là đẹp, là mỹ lệ, hoa lệ, tú lệ có phải? Mùa thu có nước mắt biết đâu đẹp não nùng hơn lên. Người Tàu há không cho rằng mùa thu là “mùa diễm lệ túy nhân” (đẹp say người) hay sao? Giọng Lệ Thu khàn và ấm. Nhưng đây không phải là giọng alto hay giọng contralto. Bằng cớ là khi xuống chỗ hơi trầm là giọng cô hơi mỏng, hơi nghẹt lằm thính giả cảm thấy ran ngực. Độn thổ không nổi, giọng cô chỉ có nước đằng vân.

Tuyệt vời thay, giọng cô khi lên cao quát tháo dũng mãnh và vang dội. Cô rống rất hay, rất tròn tiếng (pleine voix) bởi vì lên cao mà rống thật suông sẻ, thật trơn tru thống khoái đâu phải dễ. Riêng tác giả quyển sách nầy vốn không ưa giọng hát của một số quá đông nữ ca sĩ ở chỗ khi lên cao họ phải nhốt sâu tiếng hát trong cổ họng và rít the thé, chua lòm lòm như trộn yaourt, như pha chanh pha giấm. Những bản để cho Lệ Thu rống gồm có “Chiếc Lá Cuối Cùng” của Tuấn Khanh, “Tình Khúc Thứ Nhất” của Vũ Thành An, “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của Trịnh Công Sơn, “Hoài Cảm” của Cung Tiến. Riêng bài “Hương Xưa” của Cung Tiến dù được giọng nồng ấm và chói ngời của cô diễn tả, nhưng cô phải nhường Mai Hương ở bản nầy. Dù giọng Mai Hương yếu ớt và lu chìm, nhưng kỹ thuật hát của Mai Hương tinh vi làm cho bài hát đẹp một cách trữ tình, đẹp và cực kỳ cao sang quý phái. Về phần ngân nga, Lệ Thu không vững. Chuỗi ngân của cô lanh chao, rời rạc, không được tự nhiên lắm.

Cuộc đời tình ái của Lệ Thu cũng bao phen chìm nổi. Mối tình lớn của cô với nhà văn kiêm ký giả Hồng Dương đã làm xôn xao dư luận một thời. Hồng Dương có vợ cái con cột. Vợ anh là nữ sĩ Linh Linh Ngọc, về văn và thơ vượt xa anh một khoảng lớn. Khi nổi tiếng, Lệ Thu cư xử với bạn đồng nghiệp lẫn ký giả kịch ảnh không được tế nhị. Có lần tại phòng trà Tự Do, cô muốn đánh gục Thanh Lan. Hôm đó, cô tới phòng trà trước Thanh Lan, hát những bản ruột của Thanh Lan. Thuở đó, Thanh Lan chưa nổi tiếng, làm sao đương đầu với Lệ Thu khi cả hai cùng hát chung một số bản nhạc? Cho nên, khi tới sau, Thanh Lan hát những bản ruột của mình, chỉ được khán giả vỗ tay chiếu lệ, không được nồng nhiệt như mấy hôm trước. Hỏi ra, Thanh Lan được bạn bè kể lại chuyện chơi khăm của Lệ Thu, cho nên Thanh Lan chỉ có nước khóc ròng. Thắng trận một lần, nhưng về sau, Lệ Thu phải chong mắt nhìn những thành công tới tấp của Thanh Lan chẳng những ở địa hạt ca hát mà còn ở lãnh vực điện ảnh nữa.

* Thanh Lan:

Đây không phải là Thanh Lan vợ ông Cao Xuân Vỹ hành nghề ca hát một thời với Trúc Mai, Thùy Nhiên, Băng Tâm … Đây là cô Phạm Thái Thanh Lan (tên cúng cơm), xuất thân từ lò Thiếu Nhi Nguyễn Đức. Thanh Lan nầy xuất thân một lượt với Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh. Về kỹ thuật, cô vượt cả Hoàng Oanh lẫn hai cô Phương kia. Vì rằng, sau khi rời ban Thiếu Nhi Nguyễn Đức, Thanh Lan tiếp tục luyện giọng dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát. Chính nhờ tìm gặp thầy giỏi nên cô mới luyện tập theo phương pháp chân truyền, đưa tiếng hát của mình lên hàng ngũ tiếng hát Thái Thanh, Hà Thanh. Thật ra, có lúc cô bắt chước theo tiếng hát Thái Thanh. Dù giọng cô ngọt hơn giọng Thái Thanh, nhưng cô làm sao có bùa ngải, có nét sắc bén cùng nét truyền cảm để đưa vào giọng hát như Thái Thanh? Về sau, cô hát theo cái bản sắc của cô. Nhưng dù sao đây vẫn là một giọng ngọt ngào gợi cảm, có một chút nũng nịu phơn phớt chứ không điệu đà, có những nét láy thật mềm mại bay bướm và có một chuỗi ngân có thể kéo dài theo trường độ khá dài của một nốt nhạc.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa trải qua 4 tuần huấn nhục của khoá 26 trường Bộ Binh Thủ Đức, tức là vào gần cuối năm 1968 thì trường có tổ chức một đêm trình diễn văn nghệ với hai giọng ca then chốt là Phương Hoài Tâm và Phương Hồng Hạnh. Kỳ đó Thanh Lan cũng được mời đến hát. Hai cô Phương hát nhạc yêu lính, thạo cách trang điểm dù là họ mặc áo mousseline trắng và chiếc quần sa teng tuyết nhung trắng hơi đơn giản đi nữa. Cho nên cả hai được hoan nghinh. Thật ra giọng hát của họ làm cho tôi có cảm nghĩ đây là hai búp nụ hãy non yếu chưa thể đương đầu cùng với mưa dầm nắng cháy và bài hát do họ trình bày là những bài dành cho đám đông chứ không thể chui vào những nơi có nhiều kẻ sành điệu. Còn Thanh Lan hôm đó mặc chiếc áo trắng in những chùm rong lục trông thật tẻ ngắt tẻ ngơ. Cô lại không thạo hóa trang nên mặt cô lại càng lu càng tái. Nhưng cô hát bài “Chân Trời Tím” thật điệu nghệ. Tuy nhiên, chỗ các chàng sinh viên sĩ quan vẫn không phải là chỗ của những kẻ sành điệu nên hôm đó cô chỉ được nhận một tràng pháo tay chiếu lệ trông thật tội nghiệp.

Sau khi mãn khóa 26 và trở về thăm Sài Gòn, tôi được xem cuốn phim Tiếng Hát Học Trò do cô thủ vai  chánh. Cô đóng thật hay vì cô nhạy cảm, có thể khóc theo ý muốn. Trong phim cô đẹp trội hẳn lên. Và cũng ít lâu sau đó, trường Quốc Gia Hành Chánh làm lễ mãn khóa, tôi được một anh bạn mời đến dự. Hôm đó, Thanh Lan trở thành cây đinh trong buổi trình diễn văn nghệ. Cô mặc áo dài bằng surat mềm mại vẽ những nét kỷ hà học cực kỳ choáng lộn với những màu hoàng yến, màu cam, màu đỏ, màu nâu trà trộn nhau một cách hài hòa theo giai điệu ton-sur-ton. Tóc cô chải những boucles anglaises từng chùm lạp xưởng buông hai bên vai, từng chum bì cuốn chả giò buông sau gáy. Đó là mái tóc bất hủ của nữ thần điện ảnh Greta Garbo trong phim Camille (Trà Hoa Nữ). Hôm đó cô hát những bản có giá trị như “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Ngày Đó Chúng Mình” của Phạm Duy, “Mái Tóc Dạ Hương” của Nguyễn Hiền, “Chiều Tím” của Đan Thọ, toàn

là những bản mà các ca sĩ của lò Nguyễn Đức không dám hát. Trên sân khấu, cô đẹp như một nữ thần, xử dụng micro thành thạo nên tiếng hát càng thêm quyến rũ.

Từ đó, Thanh Lan trở nên mục tiêu ăn khách ở phòng trà, trên các sân khấu Đại nhạc hội, trong làng dĩa nhựa lẫn băng nhựa. Cô trở thành thần tượng của giới sinh viên và trở thành gần gũi với giới sành nhạc. Cô đóng một loạt phim như Xin Đừng Bỏ Em, Gánh Hàng Hoa, Ngọc Lan, Xóm Tôi …Thanh Lan có cái bậy là cô thích khỏa thân trên màn bạc, dù trong những màn ấy cô vẫn che ở ba chỗ cần phải che trên thân thể. Nhưng cái ức của cô không mịn, sủng ngực cô không báo hiệu nét gồ ghề của cặp nhũ hoa, đôi chân cô không dài, đùi cô không săn chắc, mông cô không vun cao và tròn trặn. Cô chỉ có một thân vóc tạm được vậy thôi khi cô mặc áo dài. Xin Đừng Bỏ Em là một cuốn phim mà Thanh Lan làm cho các chàng sinh viên học sinh thất vọng không ít vì ở hai màn khỏa thân cô làm hoen ố hình ảnh thánh thiện của mình trong tâm tưởng họ.

Thanh Lan ái mộ Thái Thanh và dám hát những bài đưa tên tuổi Thái Thanh lên cao. Bài “Đường Chiều Lá Rụng” của Phạm Duy được Thái Thanh diễn tả cực kỳ điệu nghệ, nhưng vẫn không nao núng, vẫn hát thu băng bản ấy. Kết quả: cô hát gãy ở nhiều chỗ, lại thiếu cái truyền cảm đậm đà, thiếu cái nét bay bướm và huê dạng mà Thái Thanh đã đưa vào bài hát trác tuyệt nầy.

* Kim Loan:

Kim Loan có một giọng hát hơi khàn, hơi nghẹt mũi một chút. Cô đến ca trường nhạc giới giữa lúc Phương Dung, Hoàng Oanh, Hà Thanh, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh đang làm mưa làm gió khắp nơi trình diễn văn nghệ. Nhưng may mắn thay, cô vẫn có một chỗ ngồi riêng ở lãnh vực ca hát. Và càng may mắn hơn nữa, chỉ mới chân ướt chân ráo vào nghề mà cô đã nổi tiếng qua bản “Căn Nhà Ngoại Ô”.

Kim Loan có khuôn mặt đẹp, nụ cười thật tươi, sóng mũi thanh tú, vầng trán băng sương, mái tóc buông dài và cài nơ thật đẹp. Vóc mình cô cao lớn, nhưng không thanh. Bàn tay cô hơi thô, dáng đi cô không yêu kiều uyển chuyển. Nhưng cô ăn mặc đẹp, lộng lẫy mà không lố bịch. Tuy nhiên, ở cô, người đối diện nghĩ rằng nếu khéo trau chuốt thêm một chút nữa, nếu học cách đi đứng, ăn nói thêm một chút nữa, cô vẫn là cây bonsai được uốn cành tỉa lá để trở thành một thứ cây cảnh với những đường nét hài hòa ngoạn mục. Tiếng hát Kim Loan tuy nồng ấm nhưng vẫn hơi thô tháp. Cô không biết bào mỏng ở vài chỗ để tiếng hát mịn màng vóc nhung, không biết hát cho vang dội ở vài chỗ khác cho tiếng hát chói ngời vóc gấm. Cô hát quá chân phương, không biết làm sao bớt rồ ở vài chỗ khác nữa. Đó là một viên kim cương chưa được lảy những chấm bọt, chấm than và chưa được cắt cạnh giồi mặt để tra vào chiếc nhẫn bạch kim mà trở thành một món nữ trang tinh xảo. Năm 1977, cô có dịp qua Paris trình diễn tại một rạp ở khu Maubert Mutualité. Tôi có tìm gặp cô để nói dăm ba câu chuyện, nhưng thật ra cô không biết tôi là ai vì khi tôi khởi nghiệp ký giả kịch ảnh thì cô đã rời nước. Trên sân khấu, cô hiện ra với dáng dấp cao sang thanh thoát hơn xưa nhiều. Và cô cũng đẹp hơn nữa. Cái đẹp thật tươi sáng, thật thanh tao. Làn hơi cô cũng phong phú hơn nữa. Nói chuyện với cô, tôi nhận thấy đây là một mẫu phụ nữ khiêm tốn, thành thực, tránh nói nhiều về những bạn đồng nghiệp vắng mặt.

Trước đó, sau cuộc Tổng Tấn Công của Việt Cộng, có nhiều tiếng thì thào rất bất lợi cho cô khi cô bỏ ngang nghề ca hát để qua định cư bên Tây Đức. Họ cho rằng cô muốn tránh một chuyện tình cảm rối reng giữa vị nguyên thủ quốc gia và cô. Nhưng thuở đó, báo chí không dám làm om vì Bộ Thông Tin quyết lòng bịt mồm siết họng báo chí chặt chẽ quá. Nhưng vào năm 1978, Kim Loan nhận lời đóng vai Điêu Thuyền trong tuồng Phụng Nghi Đình cho đoàn Kim Chung ở Paris, một đoàn hát nổi tiếng là thân Cộng và làm việc cho tập đoàn Cộng Sản được đội cái tên là Hội Việt Kiều Yêu Nước. Từ đó, tên tuổi Kim Loan bị cháy tiêu. Báo chí Việt Nam bên Hoa Kỳ mới khui xấu cô, bảo rằng cô sở dĩ ra ngoại quốc trước năm 1975 là cốt để đợi ngày đập chum, còn tác giả cái chum mà cô mang trên bụng là Vua Thiệu. Điều đó bậy vô số! Những người viết những bài mạ ly đó chính họ cũng không rõ vận sự đó có thật hay không, hay chỉ là những tin đồn nhảm. Vả lại, lúc đó Kim Loan có chồng con, vẫn là vợ đảm mẹ hiền mà bạn bè quen thân đều biết. Mà nói cho cùng, điều đó nếu có thật đi nữa vẫn chỉ là một sự lầm lỡ của một thiếu nữ và sau cuộc lầm lỡ cô đã tạo lập một gia đình êm ấm, sống một cuộc đời lương thiện, đã rửa sạch mọi điếm nhục của dĩ vãng.

Kim Loan và phu quân của cô đã từng giúp tạp san Quê Mẹ phổ biến trên nước Đức. Bị sỉ nhục như vậy mà cả hai không thèm phản ứng, chỉ tiếp tục giúp đỡ cộng đồng kiều bào trong việc phổ biến tin tức và văn hóa. Chúng ta đừng chỉ buộc tội cô hát cho ban Kim Chung mà nỡ quên bẳn những lần cô hát ủng hộ cho những ban tổ chức giúp người vượt biển không nhận tiền thù lao hoặc chỉ nhận một món tiền tượng trưng thật khiêm nhượng.

* Giao Linh:

Vào năm 1967, bà chị Thụy Vũ tôi, nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh và tôi đi lên Hóc Môn dự buổi văn nghệ của một đơn vị của Công Binh. Kỳ đó, hai cây đinh của buổi trình diễn là Kim Loan và Giao Linh.

Kim Loan khá cao lớn, còn Giao Linh hơi nhỏ nhắn. Khuôn mặt Giao Linh tròn, mắt cô hơi tròn hợp với nét mày cong và thanh, cặp môi cô nũng nịu, vóc mình cô mềm mại thon thon. Cô không đẹp như Kim Loan, nhưng mặn mà hơn Kim Loan. Thuở đó, Giao Linh mới ra nghề. Cô mặc chiếc áo bằng tơ lụa nội hóa màu trắng, mình khô bông ướt. Bông dệt trên áo là cặp long phụng quấn nhau lồng trong khung mặt nguyệt to bằng miệng bát đựng bánh trôi nước. Kèm chiếc áo để dành đi bát phố chứ không phải để dành bước lên sân khấu ấy, cô mặc chiếc quần sa teng tuyết nhung đen. Mái tóc của cô uốn kiểu rất thường. Cô có vẻ một cô giáo tỉnh ly dù màu sắc trang điểm của cô khá tươi thắm. Màu phấn hồng đào, màu son môi và màu sơn móng tay móng chân màu đỏ tía, trông ngọt lìm lịm, nhưng khi cô bước ra ánh đèn sân khấu thì màu sắc trang điểm kia lại bị ánh đèn nhận chìm đi. Giao Linh do nhạc sĩ Nguyễn văn Đông khám phá. Đây là một giọng hát thanh tao sang sảng, tiếng vàng và tiếng ngọc chen tiếng đồng. Bản chất của tiếng hát là phẩm chất quý báu, giá mà cô tập luyện chu đáo thì đây sẽ là tiếng hát làm nao núng những tiếng thuộc loại thượng phẩm đã từng xuất hiện từ trước như tiếng hát của Thái Thanh, của Hà Thanh, của Mai Hương. Nhưng mà, Nguyễn văn Đông chỉ huấn luyện Giao Linh để tranh thủ với Hoàng Oanh, Thanh Tuyền, Phương Dung, chứ đâu có cao vọng nâng tiếng hát cô lên ngang hàng với những tiếng hát tuyệt vời vừa kể kia. Cho nên tiếng hát cô chỉ dừng lại ở các chương trình tạp lục, ở phòng trà, ở trong đám đông mà không bay đến những ban đại hòa tấu. Giao Linh thành công mau, nổi tiếng trong một sớm một chiều. Dù sao tiếng hát cô nhuyễn hơn tiếng Phương Dung và tiếng Thanh Tuyền. Những bài hát của Nguyễn văn Đông như “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Hải Ngoại Thương Ca”, “Phiên Gác Đêm Xuân” đều được cô diễn tả bằng giọng ngân vang, vẫn có một hấp lực đặc biệt. Cô cũng sớm canh tân cải cách khoa trang điểm và lối phục sức. Mái tóc chải gie cánh quạt phía bên phải lại hợp với khuôn mặt hơi tròn của cô. Những chiếc áo dài mini, tay ráp raglan bằng đăng ten, bằng surat choáng lộn làm cho cô đẹp trội lên dưới ánh đèn sân khấu. Nhưng lúc nào cũng vậy, mỗi khi trình bày một bài hát nào, Giao Linh cũng phô trương cái mặt buồn kinh niên, buồn rã rời da diết như mang mối thất tình từ muôn thuở. Và mỗi khi cô hát bài “Tiếng Xưa” và bài “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước thì khuôn mặt của cô càng thảm đạm hơn để được hòa hợp với tiếng hát rên rỉ não nuột của mình.

Khi ra hải ngoại, Giao Linh vừa lập tiệm phở, vừa tiếp tục đeo đuổi lai rai nghiệp cầm ca của mình. Cô có thực hiện một băng nhạc, trong đó có nhiều ca khúc của Nguyễn văn Đông để trang tặng ông thầy cũ của cô đã từng lôi kéo cô ra m đông để đặt cô ngồi trên cương vị rực rỡ trong ca trường nhạc giới.


* Trung Chỉnh:

Anh nổi tiếng khi song ca với Hoàng Oanh bản “Nhịp Cầu Tri Âm”. Anh có khuôn mặt khôi vĩ, giọng hơi khàn, khi lên cao thoải mái, nhưng khi xuống trầm thì tiếng mỏng như the và bở rệt như mạng nhện. Song giọng anh có âm sắc đẹp, kỹ thuật vững chãi, chuỗi ngân óng ả. Anh hát chung với Hoàng Oanh khi anh hãy còn là sinh viên Đại học Y Khoa. Vì bận việc học, anh không dám dấn thân vào nghiệp cầm ca, chỉ ca hát lai rai cho thỏa mãn nghệ sĩ tính của mình. Khi ra hải ngoại, anh định cư ở Mỹ, trở thành bác sĩ y khoa. Anh được Hoàng Oanh mời thu chung dĩa nhạc qua ba bài “Hồn Vọng Phu” của Lê Thương. Tiếng hát của anh vẫn khỏe và ngọt như dạo nào, vẫn là một giọng có vẻ chuyên nghiệp lắm.

Sau 1963, trong vòng hai năm đã xảy ra 13 cuộc chính biến. Hết Dương văn Minh đảo chánh tới Nguyễn Khánh chỉnh lý. Và sau vụ xé Hiến Chương ở Vũng Tàu và Nguyễn Khánh phải lưu vong tới những cuộc khuynh đảo liên miên của Nguyễn Chánh Thi, Lâm văn Phát, Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Cao Kỳ. Các chính khách lần lượt lập chính phủ: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Tôn Hoàn …

Chính phủ nào cũng không thọ được nửa năm vì bị báo chí tấn công, bị thiên hạ xuống đường đả đảo.

Tướng Nguyễn văn Thiệu thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vào tháng 2/1965, cho tới hai tháng sau thì Hiến Pháp ra đời mở đầu cho nền Đệ nhị Cộng Hòa, tình thế mới tạm ổn định.

Về chiến tranh gia trọng, nhà văn Võ Phiến đã viết trong quyển Văn Học Miền Nam Tổng Quan như sau:

Tháng 8/64, sau vụ tàu Maddox bị tấn công, Mỹ oanh tạc Bắc Việt, trực tiếp nhảy vào vòng chiến. Sau đó Bắc Việt đánh vào các trại cố vấn, các cư xá sĩ quan Mỹ; tháng 3/65, thủy quân lục chiến Mỹ bắt đầu đổ bộ lên Đà Nẵng: sự tham dự tiến thêm một bước nữa. Bắc Việt lại đưa sư đoàn 325, đưa quân đội chính qui vào Nam; Mỹ gia tăng quân số, gia tăng oanh tạc: năm 1965 lính Mỹ ở Miền Nam lên đến 400.000, phi cơ Mỹ thả bom cả các kho dầu tại Hải Phòng, Hà Nội … Sang năm 1967, quân số Mỹ tại miền Nam lên đến hơn 670 nghìn. Đầu năm 1968, Bắc Việt mở cuộc tấn công nhân dịp tết Mậu Thân, hi sinh ngót nửa quân số …

Khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam song song với nhạc rock thì ở Sài Gòn nhiều ban nhạc trẻ hát rặt ròng các ca khúc ngoại quốc ra đời. Đó là các ban CBC, The Uptight, The Hammers, The Enterprise, The Peanuts, Cats’ Trio (Ba Con Mèo), The Three Apples (Ba Trái Táo), The Dreamers. Những ban nầy đã tạo những ca sĩ nổi tiếng về sau như Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Duy Quang, Minh Phúc, Paolo, Prosper Thắng, Khánh Hà, Vi Vân, Cathy Huệ, Uyên Ly, Kim Anh, Carol Kim, Pauline Ngọc, Julie Quang, Thái Hiền, Minh Xuân.

Cuộc Tổng Tấn Công của Việt Cộng trong dịp Tết Mậu Thân đã làm nhiều ngành sinh hoạt bị giới hạn hay bị tê liệt trong đó có sinh hoạt ca nhạc. Tết Mậu Thân (1968), chiến tranh vào các thành phố. Việt Cộng với chủ đích gây tiếng vang qua tận bên Mỹ để rồi bị đẩy lui. Huế nặng nhất với những cuộc thanh toán rùng rợn và vụ những mồ chôn tập thể. Nhưng Huế không phải là môi trường sinh hoạt cho ca nhạc từ đầu cuộc và xa hơn nữa từ bao đời. Tình hình vừa yên ổn là Sài Gòn vẫn tái diễn cuộc du hí về đêm, dù có vụ giới nghiêm bắt đầu từ 12 giờ khuya. Thỉnh thoảng có cuộc biểu tình bãi khoá của sinh viên hay vụ sư sãi đem bàn thờ xuống đường hoặc các cuộc biểu tình của các đảng phái nên giờ giới nghiêm bắt đầu sớm hơn 12 giờ khuya. Trong thời gian nầy, những phòng trà mới mọc lên gồm có phòng trà Tự Do với ban nhạc Blues Notes, phòng trà Ritz của Jo Marcel, phòng trà Queen Bee với ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh, nhà hàng Maxim’s vốn là quán ăn có phần ca nhạc và phần vũ do Hoàng Thi Thơ và Trịnh Toàn phụ trách, phòng trà Đêm Màu Hồng với ban Thăng Long và ban Tam Ca Đông Phương. Sau hết là phòng trà Khánh Ly. Các sinh viên, các nhà văn nhà thơ trẻ cũng đua nhau ra lập quán nhỏ để họ trình diễn ca nhạc. Quán Văn thành lập trên bãi đất trống sau trường Đại Học Văn Khoa với sự có mặt  thường xuyên của Khánh Ly. Sau đó là quán Thằng Bờm ở đường Đề Thám. Quán Dalat ở gần sân banh Cộng Hòa. Sauđó, Khánh Ly còn mở quán Cây Tre ở Đa Kao sau khi quán Văn dẹp tiệm từ lâu. Lại thêm Chiều Tím, Hầm Gió. Những quán ca nhạc nầy nhiễm cái không khí thời thượng của văn nghệ sĩ hiện sinh bên Pháp do ông Jean Paul Sartre và bà Simone de Beauvoir chủ trương ở hai quán Flore và Aux Deux Magots. Tại quán Thằng Bờm, Phạm Duy đưa ban Dreamers đến để giới thiệu với ẩm khách rằng: “Đây là các con tôi do tôi sinh ra. Nhưng nuôi dưỡng nghề nghiệp ca hát của chúng là do quý vị”. Tại nơi đây, các nhà thơ Đỗ Quý Toàn, Trần Dạ Từ đến đọc thơ của mình cho ẩm khách nghe. Nhà văn Từ Kế Tường và nhà văn Nguyễn Hoàng Đoan cũng đọc thơ của mình.

Thiếu mất trang 293

Sắc, mà là cái Không cuối cùng khi bỏ hết cái Sắc lẫn cái Không đối đãi kia đi). Khi đạt tới cái Không cuối cùng thì mọi thứ cũng như nhau, cái nầy là cái kia, cái nầy là cái đối đãi của nó.

Chẳng hạn như câu thơ sau đây của Viên Linh:

Lưng phơi dáng thú, bụng phơi hình người.

Đây là câu thơ đạt tinh thần bất nhị rất cao. Nó không có một chữ nào trong kinh kệ, không kêu gọi thập phương chư Phật, không réo thập phương chư Bồ Tát mà nó vẫn là một câu thơ Thiền. Lưng và Bụng là hai cái đối đãi ở một Thân Thể. Còn Người và Thú là hai cái đối đãi nhau về Trí Tuệ (người khôn, thú ngu). Phải làm sao có hai cái đối đãi ở cùng một sự việc thì mới đạt tinh thần bất nhị, tức là đi vào cốt tủy của đạo Phật. Phạm Thiên Thư không làm được công việc đó. Về sau, khi ra hải ngoại, Phạm Duy sáng tác những bài nói về cái Tâm của Phật giáo cũng không làm được việc đó. Phạm thi sĩ và Phạm nhạc sĩ dù cứ gọi Phật ơi ới, nhưng không đạt được cái cốt tủy của Phật pháp nên Phật không hiện trong thi ca và lời nhạc của họ. Cả hai cứ gào rống Phật nhiều quá như chủ nợ réo con nợ chỉ tổ làm Phật kinh hãi quá lặn trốn mất biệt. Phạm Duy có một sự nghiệp vĩ đại về âm nhạc, trăm nghìn năm trước chưa có ai và trăm năm sau chẳng biết có ai nối gót anh không? Bởi anh ôm đồm quá nhiều nên nhạc anh loãng đi. Còn Phạm Thiên Thư sáng tác thơ tình, thơ yêu thiên nhiên, thơ đầy cảm tính, thơ thuần chất thẩm mỹ đều rất đạt, xứng đáng ở hàng đầu. Nhưng mấy cuốn Kinh Ngọc, Kinh Thơ của anh chỉ là một thứ thơ Thiền giả hiệu, một thứ đạo ca bị gượng ép một cách sống sượng thảm thê. Bởi vì khi làm thơ kiểu đó anh gồng mình, anh gắng sức, anh tính toán quá nhiều nên từ khởi điểm thơ anh hỏng nặng. Thơ Thiền không phải do sự dụng công mà hình thành được. Nó chỉ được kết tinh ở những phút hiển linh của thần trí sáng tạo mà thôi.

Trong giai đoạn nầy, Phạm Duy có những ca khúc dễ hát, nhưng đạt giá trị nghệ thuật cao như “Nước Mắt Mùa Thu”, “Thu Ca Điệu Ru Đơn” (lời phỏng theo thơ Verlaine), “Mùa Thu Chết” (lời phỏng theo thơ Apollinaire), “Tưởng Như Còn Người Yêu”, “Phượng Yêu”, “Giết Người Trong Mộng”, Nghìn Trùng Xa Cách” … Ngô Thụy Miên với “Mùa Thu Cho Em”, Trường Sa với “Rồi Mai Tôi Đưa Em” đều thoát khỏi cái khung sáng tác chật hẹp của loại nhạc thao túng trên thị trường của các tác giả Hoài Linh, Minh Kỳ, Phượng Linh, Tú Nhi. Còn Đỗ Lễ với “Sang Ngang”, Nguyễn Ánh 9 với “Thôi”, “Buồn Ơi Chào Mi” cũng được giới trẻ chiếu cố đặc biệt, nhưng giá trị nhạc phẩm của hai nhạc sĩ Đỗ, Nguyễn nầy không cao lắm. Về sau, Ngô Thụy Miên phổ các bài thơ của Nguyên Sa đều đạt giá trị cao như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris Có Gì Lạ Không Em … Cũng trong giai đoạn nầy, những nhạc sĩ trẻ tài hoa rất mực bắt đầu nổi lên gồm có thêm Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà song song với nhạc của Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng. Lê Uyên Phương gồm có nữ ca sĩ Lê Uyên và chàng nhạc sĩ kiêm ca sĩ Phương, nhưng chỉ có chàng soạn nhạc, còn nàng thì hát có chàng đệm tiếng cho thêm hương nổi vị vậy thôi. Nhạc của Lê Uyên Phương vẫn có những bài buồn than thân phận theo chủ nghĩa thời thượng của hầu hết nhạc sĩ trẻ (“Vũng Lầy Chúng Ta”, “Tình Khúc Cho Em”) nhưng vẫn có bản hết sức lạc quan ca tụng tình yêu giữa thiên nhiên bao la (như “Hãy Ngồi Xuống Đây”, “Uống Nước Bên Bờ Suối”). Phạm Duy cho rằng nhạc của Lê Uyên Phương có nhục tính. Nhưng theo tôi, Lê Uyên Phương ca tụng những con người hoang sơ với bản năng bén nhạy, với những cuộc tình thật mê cảm giữa thời thái cổ hồng hoang thật thanh bình, thật thơ mộng. Những con người nầy tuy không y phục che thân, nhưng không bị chi phối bởi cái hổ thẹn giả dối … (la fausse pudeur) của kẻ văn minh. Vì rằng những kẻ văn minh như chúng ta ngày nay dù được quần áo che đậy thân thể mà không có tấm tình yêu thật chân thành, thật hồn nhiên và cực kỳ say đắm như những người thời tiền sử kia.

Hãy ngồi xuống đây

Như loài thú hoang yêu nhau ngoài đồng

Dưới nắng ban mai phô thân trần truồng

Kiếp sống hoang sơ

(“Hãy Ngồi Xuống Đây”)

Về nhạc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, nhạc sĩ Phạm Duy viết như sau:

Thế là trong giai đoạn phát triển tột bực của âm nhạc ở miền Nam nầy, đã có nhiều xu hướng khác nhau, nhưng tất cả đều nằm trong hai chủ đề Tình Yêu và Chiến Tranh/Hoà Bình. Có nhạc phục vụ cho lính quốc gia, cho tuổi mơ mộng nhưng cũng có dòng nhạc nhận thức thân phận làm người trong một nước trong cơn tao loạn. Tình khúc là “nhạc tình tân lãng mạn”, “nhạc tình cảm tính”, “nhạc tình não tính”, “nhạc tình nhục tính”. Như thế đã đủ chưa? Thưa, chưa đủ ạ! Còn “nhạc tình ảo tính” của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang nữa! Hai nhạc sĩ nòng cốt của ban nhạc trẻ PHƯỢNG HOÀNG, trong thời kỳ nầy, đã soạn ra những ca khúc, tôi cho là mới mẻ nhất. Với nhạc ngữ rất lạ, phù hợp với ban nhạc combo hơn là “nhạc tiền  hiến”, những “Hợp Khúc” của họ hay không thua gì những bài hay nhất của nhạc rock Hoa Kỳ. Nhạc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, theo tôi, phản ảnh một lớp trẻ lạc loàitrong xã hội sa đọa. Nói chung, trong giai đoạn gần cuối thập niên 60 để bước qua 5 năm đầu của thập niên 70, các nhạc sĩ trẻ như Thanh Trang, Hồng Duyệt, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trường Sa, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Lê Hựu Hà & Nguyễn Trung Cang đều là những nhạc sĩ tài hoa, ý nhạc mới mẻ, lời đẹp và sâu sắc.

Nhạc và lời của Miên Đức Thắng và của Tôn Thất Lập cũng đẹp nữa, nhưng tôi không tiện nói nhiều ở đây. Nếu các bạn độc giả yêu quý của tôi cho rằng dù Trịnh Công Sơn soạn nhạc phản chiến, nhưng lời nhạc của anh truyền cảm vì anh cảm xúc chân thành lúc sáng tác thì họ Miên lẫn họ Tôn Thất cũng chân thành không kém. Nhưng họ chân thành theo khuynh hướng của họ, theo chủ nghĩa của họ. Họ không thể là nhạc sĩ của chúng ta. Và chắc chắn họ cũng không muốn họ là người của chúng ta đâu.

Những ca sĩ nổi bật trong giai đoạn nầy ngoài những chàng du ca nhạc sĩ như Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng còn phải kể Miên Đức Thắng, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Thanh Phong, Phương Đại, Hoàng Hạc, Khánh Ly, Hồng Vân, Uyên Phương, Khánh Hà, Julie Quang, Cathy Huệ, Pauline Ngọc, Ngọc Minh, Bích Nga, Xuân Thu, Phương Hồng Quế, Mai Lệ Huyền, Phương Anh, Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Đào Hoa Nữ, Phương Thu, Thu Oanh, Kiều Loan … Nhưng ở đây, tôi chỉ xin kể những giọng hát tiêu biểu trong giai đoạn nầy thôi.

* Khánh Ly:

Năm 1967, Trịnh Công Sơn để thay thế Lệ Thu đã từ chối không theo anh dấn bước du ca nên đã tìm gặp một giọng hát độc đáo ở Đà Lạt. Đó là Khánh Ly, ái nữ của một cựu hoa khôi đầu tiên ở Hà Nội. Khánh Ly không hưởng được cái quốc sắc của mẹ, nhưng vẫn làm khuynh đảo cả một thế hệ qua tiếng hát cực kỳ say đắm của cô. Hơn nữa, tuy cô không đẹp lắm, nhưng cô có cái duyên nồng mặn. Khuôn mặt cô khi xuất hiện trên Tivi thì ăn ảnh kỳ diệu. Khánh Ly không hề phủ nhận rằng mình đã nhờ khoa giải phẩu thẩm mỹ để khoét cho cặp mắt thêm rộng. Nhưng dù gì thì dù, cặp mắt một mí của cô khi chưa cần tới mỹ viện dù hơi nhỏ, nhưng cái nhìn cô bao la, cực kỳ niềm nở thân tình. Cặp môi Khánh Ly khi ngậm im thì thanh tú và có vẻ nũng nịu. Nhưng khi cô cười, cặp môi cô tươi sáng hẳn lên, khóe mắt và thần thái cô cũng sáng nữa. Tôi rất thích ngắm cô trong những chiếc áo dài mini bằng tơ lụa nội hóa dệt mặt nguyệt màu thúy ngọc, màu nguyệt bạch, màu vảy kim ngư, màu “boọc-đô”, màu beige hơn là những chiếc áo dài surat vẽ những bông hoa choáng lộn màu sắc như hoa trong các bức tranh dã thú của Matisse.

Tôi gặp Khánh Ly vào năm 1968, vào dịp tôi viếng Trịnh Công Sơn tại Quán Văn lúc trời mới rựng sáng. Ở đó, cuộc sinh hoạt vừa bắt đầu. Sơn nhờ tôi xem chỉ tay cho Khánh Ly. Ai chứ Sơn rất tin tưởng khoa nầy, nhất là ở cái tài tiên tri của tôi. Hôm đó, chẳng hiểu tôi nói những gì với Khánh Ly mà coi bộ cô chỉ cười chấm câu, tỏ vẻ không mấy nhiệt thành như Sơn. Số là, trước đó nửa năm, Trịnh Công Sơn có nhờ tôi xem chỉ tay cho anh. Tôi ngắm nghía hình ngôi sao trên gò Thái Dương ở bàn tay phải của anh, quả quyết bảo:

— Ông có ngôi sao năm cánh rực rỡ như thế nầy mà không nổi tiếng được thì lạ thật. Thôi, từ đây tới ba năm nữa, nếu ông không nổi tiếng thì đem con dao lại đây vanh hết hai bàn tay tôi đi.

Trịnh Công Sơn không cần đợi ba năm. Chỉ có nửa năm thôi mà tên tuổi anh và tên tuổi Khánh Ly nổi như cồn, làm bàng hoàng ngây ngất một thế hệ. Năm 1970, tôi nhảy vào nghề lính văn phòng, viết truyện ngắn lai rai cho tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Năm. Tôi thường tháp tùng nhà thơ Phổ Đức tới quán Cây Tre thăm Khánh Ly và nhất là thăm nữ ca sĩ Uyên Phương, một giọng ca mà tôi hằng mến mộ. Thuở đó, Khánh Ly cùng Uyên Phương và Phương Hồng Hạnh lập ban Tam ca Ba Trái Xí Mụi. Tôi không hiểu vì sao có một dạo Khánh Ly tỏ ra lạnh nhạt và có vẻ hầm hừ với tôi. Truy ra, tôi có giỡn nhột Trịnh Công Sơn trong một bài báo khi anh tuyên bố rằng giọng anh sẽ thu vào dĩa vàng để hát chung với Joan Baez, Bob Dylan và Judy Garland.

Trong bài ấy, hình như tôi có chê anh hát hơi sai (faux) khi lên tới nốt cao; như thế, thì làm sao anh hát chung với một danh ca cừ khôi kiêm minh tinh màn bạc lẫy lừng như Judy Garland được? Khánh Ly binh Trịnh Công Sơn, mắng vói tôi qua ký giả Trần Quân:

— Cái thằng H.T.A là tên lính sữa Babylac, đã làm được gì chưa mà phách lối, xấc xược!

Kể từ đó, cô và tôi hễ chạm mặt nhau thì cô làm cái mặt nặng chầm vầm như cái cối đá, còn tôi làm cái mặt lạnh ngắt như khứa cá thu ướp muối nước đá. Rồi đó, sau 1975, tôi còn kẹt ở Việt Nam. Một hôm Trịnh Công Sơn lên Làng Báo Chí để viếng nhà Họa sĩ Trương Đình Quế, có đi ngang qua nhà tôi. Tôi kêu anh vào chơi. Nhân dịp đó, tôi mắng:

— Ông không biết dạy cô đệ tử của ông. Tôi lớn hơn ông một tuổi, tức là hơn anh chồng Nguyễn Hoàng Đoan của cô ta ít nhất 3 hoặc 4 tuổi. Vậy mà cô ta mắng tôi còn con nít mà đã xấc xược.

Vật đổi sao dời, thấm thoát mà chỉ còn 5 năm, tôi bước vào tuổi 60. Vào năm 1992, nhân dịp đi Paris trình diễn, Khánh Ly có phone cho tôi để cám ơn tôi, rằng dù có chánh kiến bất đồng với Trịnh Công Sơn, nhưng tôi vẫn viết tốt cho Trịnh Công Sơn trong quyển ký sự văn học Cõi Ký Ức Trăng Xanh. Cả hai, sau 21 năm (từ 1972 cho tới 1993) mới tái hội nên mừng thôi là mừng. Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Qua cuộc điện đàm, tôi không dè cô lại thích đọc tiểu thuyết của tôi và mua khá nhiều những quyển của tôi do Đại

Nam xuất bản. Cô dặn:

— Anh nên viết chuyện đồng quê ở cố hương cho Mai đọc. Đừng viết mấy chuyện bên Tây, đọc chán thấy mồ!

Nhứt là anh nên mô tả các món ăn cho thiệt nhiều, thiệt ngon. Hôm đó, tôi có nhắc lại lời cô nhiếc mắng tôi hồi 21 năm về trước, cô bảo rằng cô quên hết rồi, chẳng biết có nói lời thô lời ác ấy hay không. Và cả hai cười xòa thông cảm. Tôi có bảo cô rằng vào năm 1975, tôi không ra trình diện với chế độ Quân quản của Cộng Sản để khỏi đi học tập cải tạo. Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn làm ngơ, không vì bài báo giỡn nhột cũ của tôi mà tố cáo tôi với chánh quyền Cộng Sản. Nói có Trời làm chứng, thuở xưa tuy ghét Khánh Ly, nhưng tôi chưa hề viết bài nào để đánh gục cô ta, nếu không bảo là khen giọng hát đặc biệt của cô ta. Vả lại, lúc đó ngôi sao danh vọng cô ta đang lên ngự đỉnh vòm trời ca nhạc; tôi dại gì chơi cái trò dã tràng xe cát Biển Đông, dại gì đem một cái khăn mu-soa để mong che một vùng nắng sáng bao la hay đem một gáo nước để mong dập tắt một đám hỏa hoạn hay sao?

Giọng Khánh Ly đặc sánh như cao hổ cốt, như mật ong, đôi lúc nẩy lóe những âm vang giòn và sang sảng. Một giọng kỳ lạ, khàn khàn như phưởng phất hơi khói thuốc lá mà vẫn trơn ngọt khỏe khoắn làm cho tâm trí thính giả trôi lênh đênh vào cơn mơ mòng ngây ngất. Giọng Khánh Ly là giọng alto, nhưng cô có thể xuống trầm đòi hỏi ở một giọng contralto được, tuy nhiên âm lượng của giọng cô ở những nốt nhạc thật trầm ấy không dũng mãnh và không thừa làn hơi để ngân nga. Cũng như Lệ Thu, Khánh Ly hát không chút õng ẹo. Nhưng giọng cô vẫn đẹp, vẽ nên cảnh hoang vu chìm trong sương mù, vẽ nên cảnh đêm trăng mờ ảo ở chốn man rợ thời khuyết sử. Chuỗi ngân của Khánh Ly óng ả, trơn ngọt, gờn gợn sóng thu. Chuỗi ngân ấy điêu luyện và đẹp hơn chuỗi ngân của Lệ Thu nhiều. Giọng hát cô đen và đắng nhưng pha ngọt có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến hương vị ngon tuyệt vời của ly cà phê phin. Tiếng hát đó trên sân khấu có thể lan rộng khắp hí viện một âm vọng vừa huyền hoặc vừa ma quái làm cho ý tình trong những bài Phận Ca của Trịnh Công Sơn được bộc lộ gần như trọn vẹn.

Từ năm 1975, Khánh Ly là vợ của Nguyễn Hoàng Đoan, ký giả kiêm nhà văn viết tiểu thuyết phóng sự. Độc giả thuộc thế hệ tôi chắc không quên Đoan viết tiểu thuyết phóng sự rất lỗi lạc (như quyển Bà Lớn chẳng hạn). Khi làm thơ, anh ký tên là Triều Sao Đại. Thơ, văn, nghệ thuật làm báo của anh đều có bản lĩnh cả. Về báo chí và chuyện đi và sống, tôi kém anh rất xa. Vì rằng trước 1975, tôi chỉ là con mọt sách, chứ đi và sống rất ít. Giờ đây, tôi nằm khoèo dưới mái Cổ Nguyệt Đường, ngại đi xa lắm. Biết được Khánh Ly hạnh phúc với

Đoan, tôi rất mừng. Tuy là nhà báo mà anh vẫn có tâm hồn nghệ sĩ, tôi tin rằng hai vợ chồng anh luôn tâm đầu ý hiệp với nhau.

* Phương Hồng Quế:

Xuất thân từ lò Nguyễn Đức, Phương Hồng Quế bước vào nghề với một giọng hát không mấy vững vàng. Nhưng đây là tiếng hát có một hấp lực rộng rãi lan khắp quần chúng trong một sớm một chiều. Cô biết chọn những bản nhạc mà quần chúng thích. Giọng cô như một phiến ngọc không cần giồi mài, cắt cạnh. Nó hơi nghẹt mũi một chút để cô uốn vặn làm nũng với khán giả đực rựa, nhất là lính tráng bằng cái duyên dáng sắc đậm riêng. Cô cũng không cần ngân nga, khi mà đa số khán thính giả chỉ cần cô hát cho thật rõ lời, thật vang lộng mà thôi. Phương Hồng Quế thật đẹp. Khuôn mặt cô vừa chường lên màn ảnh Tivi là như say sưa, như ngây ngất, như bị một anh chàng nào đó thôi miên. Đó là một khuôn mặt chín mùi đam mê, chín rục cảm xúc, vừa thơ ngây trinh khiết vừa như sẵn sàng nhập cuộc vào tình yêu. Cô bỏ tóc xõa thật thơ mộng. Cô mặc áo màu gì, in hoa gì cũng bắt mắt, cũngchoáng lộn. Còn nhớ có lần tôi đến đài truyền hình gặp cô mặc chiếc áo mousseline đen thêu hoa vàng lá lục trông thật buồn trữ tình. Lại có lần tôi theo Toán Chiến Tranh Chánh Trị Tiểu Khu Bình Dương rước cô cùng Hương Lan và danh hề Phi Thoàn lên Lái Thiêu trình diễn. Cô xuất hiện trên bục ca với chiếc áo bằng nhiễu màu hồng phấn thật chói, màu sắc diêm dúa vẫn làm cô sang trọng một cách kỳ lạ. Từ 1969 tới 1975, Phương Hồng Quế xuất hiện trên Tivi nhiều nhất nên được báo chí gọi là “Tivi chi bảo”. Cô xuất hiện rất nhiều trên sân khấu Đại nhạc hội và xuất hiện trong các chương trình văn nghệ dành cho quân nhân.

* Julie Quang:

Trên tạp san Quê Mẹ, cũng vào năm 1978, tôi viết về tiếng hát Julie Quang như sau:

Tôi biết Julie Quang từ năm 1970, thuở nàng ra mắt giới sinh viên Sài Gòn tại quán Thằng Bờm qua bản “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy. Hôm đó, nàng mặc chiếc mini jupe, áo tay ngắn, màu da nàng ngăm ngăm nồng mặn. Trông nàng thuở đó có vẻ chững chạc, đầy phong độ của một ca sĩ nhà nghề lắm rồi. Và ít lâu sau, tên tuổi nàng phổ biến nhiều trong giới yêu nhạc trẻ. Tiếng hát khàn của nàng như chiếc đũa thần, thâu ngắn lộ trình của nàng từ khởi điểm đến đài danh vọng, không mấy khó khăn. Tiếng hát của Julie Quang thuộc loại khàn, lúc lên hơi cao thì mất âm lượng, chuỗi ngân không óng ả và đều đặn lắm. Tiếng hát đó, nói theo kịch tác gia Trần Lê Nguyễn trong vở kịch Tối Ba Mươi là “tiếng hát đắng”. Nó thấm nhuần lời than vãn nhè nhẹ, một tiếng thở dài kín đáo. Nó không cần được uốn giọng và được nhấn vuốt tiếng hát, thế mà tự bản chất, tiếng hát như ngầm chứa nỗi ưu tư mơ hồ hoặc niềm thương tiếc mông lung. Đến năm 1971, tiếng hát Julie Quang đứng sau hàng ngũ tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly đối với giới yêu nhạc trẻ và cùng với Thanh Lan, Uyên Phương, Cathy Huệ, Như An, nàng tạo thành một hàng ngũ vươn lên sức sống vạm vỡ như một đợt sóng mới hùng hậu. Điện ảnh gia Lê Dân đã dùng tiếng hát của nàng qua bài “Giết Người Trong Mộng” để làm chủ đề cho cuốn phim xã hội Trần Thị Diễm Châu do ông đạo diễn. Tôi còn nhớ ở phần générique của cuốn phim, tiếng hát nàng như trải dài trên những đợt chữ sáng, thảm thiết và quằn quại để rồi ở séquence chót cuốn phim, tiếng hát đó lại vang lên theo bầy chim bồ câu từ những chiếc lồng lớn bọc lưới kẽm, bay vút lên trời xanh, tiếng hát lại như theo những cánh chim kia đi vào cái thênh thang bát ngát của hư không và tan dần trong cái plangénéral chót. Julie Quang dù có đi sâu vào nhiều môi trường sinh hoạt như truyền hình, băng nhạc, dĩa nhựa, nhưng vẫn là một giọng hát khiêm tốn. Nó mang một chất đắng vừa phải, với một nồng độ bi thảm trung bình, vì ở nó, chúng ta chỉ mường tượng một lứa tuổi trẻ ưu tư, nhưng chưa dấn thân vào cuộc đời, chưa lăn xả vào một cuộc hành hương cam go cho một tín ngưỡng nào đó … Tiếng hát đó là một người bạn sầu muộn nhưng thân quen, đưa ta đối diện với nỗi cô đơn thầm kín của chúng ta. Tiếng hát đó cũng không phải là tiếng hát của quảng đại quần chúng gồm nhiều thành phần tạp nhạp vì nó có một số thính giả chọn lọc khá sành điệu … Julie Quang thạo khoa trang điểm. Tôi còn nhớ vào chiều Chúa nhật ngày 4/3/79, nhóm báo Quê Mẹ tổ chức chương trình văn nghệ “2 Giờ Sống Với Việt Nam” tại rạp Espace Cardin tại quận 8 Paris, Julie có hát bài “Ở Bên Nhà Em Không Còn Đứng Đợi Chờ Anh”, nhạc của Phạm Duy, thơ Cao Tần. Hôm đó, cô hoá trang thật nổi, làn da ngăm của cô rất ăn son phấn, cặp môi cô tô son màu hồng đào dịu ngọt cực kỳ gợi cảm; chiếc áo dài nền đen in hoa lam ngọc thật đài các làm cô như lột xác. Tôi không hiểu vì sao, khi rời quê nhà, giọng Julie Quang không còn khàn đặc và ấm áp như xưa. Nhưng âm sắc của giọng hát cô đượm một chút nũng nịu dễ thương ăn nhịp với cặp môi nũng nịu dưới lớp son môi chói bóng và hường dìu dịu.

Sau nầy, không còn chung sống với Duy Quang, Julie Quang trở về với cái khuê danh Julie suông trơn của mình. Tiếng hát cô càng lúc càng trong, càng điệu đà, nhưng không còn gợi cảm một cách hồn nhiên như thuở cô mới bước vào nghề.

* Hồng Vân:

Cô vốn người Quảng Ngãi rất thông minh, nhanh nhẹn, nói tiếng Huế rất sõi. Cô có vóc vạc tầm thước, khuôn mặt trái soan, cặp mắt ranh mãnh, vầng trán thông minh, cặp môi như lúc nào cũng dọn một nụ cười dí dỏm. Thường thì người đàn bà nếu được vẻ thông minh thì mất vẻ gợi cảm. Đằng nầy Hồng Vân được hai cái khắc kỵ ấy. Cô vừa thông minh, vừa gợi cảm ở cái nhìn đôi lúc như rực ánh sáng trí tuệ, đôi lúc như say sưa chất ngất với tình ý bang khuâng man mác. Nụ cười cô không phải lúc nào cũng dí dỏm đâu, đôi lúc nó cũng nũng nịu để làm dáng với cuộc đời. Ở cô, đó là sự phối hợp của con thỏ ngọc yêu kiều và con chồn tinh thật quỷ quái. Hồng Vân có giọng hát sắc sảo và bén như lưỡi dao lá iễu. Làn hơi cô phong phú và bền dẻo. Chuỗi ngân của cô thật trác tuyệt. Cô hát dân ca ba miền thật điệu nghệ, ngâm thơ, hát chèo đều rựa ràng. Khi cùng Thu Hà và Tuyết Hằng thành lập ban Tam Ca Đông Phương dưới sự dìu đắt của hai  nhạc sĩ Hùng Lân và Hồ Đăng Tín, Hồng Vân chưa chi đã đưa tên tuổi mình bay cao và bay xa. Cô là điểm sáng trong ban tam ca nầy, bởi cô trình diễn bài hát thật lẳng, thật tếu, thật sống động làm cho sân khấu bừng bừng phấn khởi. Cũng như Phương Hồng Quế, Hồng Vân ăn mặc y phục kiểu gì, màu gì, hoa in hoa thêu gì cũng ngoạn mục cả. Khi trình diễn cùng với Tuyết Hằng và Thu Hà trong ban Tam Ca Đông Phương, Hồng Vân luôn đội khăn vành giây màu hoàng cúc tức là màu đậm nồng hơn màu hoàng yến. Những chiếc áo dài để diện với khăn vành giây thường có màu thúy ngọc  trông ngọt cả mắt, màu yên chi thật thắm rỡ rỡ, màu hoàngyến sóng sánh ánh nắng mai, màu lục ngọc thắm biếc như mạ non, như đọt chuối. Những lúc đó cùng với kiềng vàng, hoa tai, kim hoàn, kim xuyến, bướm vàng cài chéo áo, Hồng Vân hiện thân là cô tiểu thư Kinh Bắc thập phần mỹ lệ cao sang. Cho đến khi cùng diễn nhạc kịch với Vân Sơn (thuộc ban A.V.T) trong vai cô gái quê ở đồng bằng phù sa sông Cửu, cô mặc áo cánh cụt tay, quần mỹ a dệt bông mai, tóc búi tròn như trái cam hồng mật sau gáy, cô vẫn có cái đẹp mặn mà của cô gái quê Hậu Giang.

Hồng Vân đã đóng vai Lý Chiêu Hoàng bên cạnh Huyền Trân (giả trai đóng vai Trần Cảnh) trong vở hát chèo Trần Cảnh & Lý Chiêu Hoàng được báo chí khen ngợi không tiếc lời. Cô cũng đóng vai My Nương trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm trong ban Tao Đàn, ngâm thơ với một kỹ thuật già dặn với một phong cách thật huê dạng và bay bướm.

* Mai Lệ Huyền:

Cô có vóc mình nhỏ, nhưng cân đối, khuôn mặt cô tròn, nụ cười xinh và lém lỉnh, thần thái sáng rỡ rỡ. Cô đẹp chỉ có ba bốn, nhưng xinh tới mười. Cô mặc áo dài, mini jupe, thậm chí tới quân phục rằn ri cũng xinh ơi là xinh! Trong 3 năm cuối của thập niên 60 và trong 5 đầu của thập niên 70, đây là thời đại vàng son của Mai Lệ Huyền. Cô hát những bài kích động nhạc yêu lính cùng với Hùng Cường ăn khách kinh khủng. Trên màn ảnh Tivi, trên sân khấu, cả hai làm cho sàn gỗ như nổi sóng, màn nhung như dậy bão lửa. Lính tráng say mê cô đã đành, mà giới trẻ cũng chiêm ngưỡng cô đặc biệt. Giọng cô liếng thoắng, ngập tràn hứng thú, mắt cô ranh mãnh, nụ cười cô ấm áp, tay chân cô cử động theo sự diễn tả tình ý bản nhạc một cách nhanh nhẹn, phấn khởi. Đây là giọng hơi khàn, ấm áp và giòn tan, làn hơi khá phong phú. Đừng ai tưởng rằng cô chỉ biết hát nhạc kích động mà thôi. Cô còn có thể hát nhạc buồn, chẳng hạn như bản “Điệu Ru Nước Mắt” trong phim Điệu Ru Nước Mắt do Lê Hoàng Hoa đạo diễn rất mùi mẫn du dương, rất điệu nghệ.

Mai Lệ Huyền có đóng hai vai quan trọng trong hai phim Còn Gì Cho Nhau của Minh Đăng Khánh và Mãnh Lực Kim Tiền của Lê Mộng Hoàng. Cô diễn xuất thật tự nhiên, như sống với vai trò chứ không phải đóng trò. Có lần trên màn ảnh Tivi, cô giả trai mặc quân phục rằn ri theo kiểu Thủy Quân Lục Chiến để hát chung với Túy Phượng, làm vẻ ga-lăng âu yếm trông rất tươi. Cũng có lần trên Tivi, trong ban Trường Sơn do Duy Khánh phụ trách, cô cùng Thanh Tuyền giả làm hai anh Biệt Động Quân vừa phì phà điếu thuốc, rồi hát bài “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” của Duy Khánh. Cô làm gì cũng có duyên. Cho nên tôi không lấy làm lạ khi biết Mai Lệ Huyền trên tiểu bang California xoay qua đóng hài kịch với Xuân Phát và Văn Chung rất nhộn, rất thành công.

* Xuân Thu:

Lúc đầu Xuân Thu hát trong ban kích động nhạc The Blue Stars. Cô giữ phần hát, còn các cô kia giữ phần đàn, trống. Khi trình diễn, Xuân Thu mặc áo đầm, váyvà áo đều bằng vải sọc hoặc vải kể ô vuông. Cô trang điểm thật gượng tay, thật kín đáo. Ban The Blue Stars tan rã. Xuân Thu xoay qua hát nhạc tình cảm. Bởi cô có khuôn mặt hơi giống khuôn mặt của Lệ Thanh nên cô bắt chước giọng hát và cách hát của Lệ Thanh tối đa. Khi bước ra sân khấu, khi thì cô cầm khăn mu-soa, khi thì cô nâng chéo vạt áo dài trong khi hát, dáng điệu thật Ngoan lành thục nữ, khuôn mặt thật thùy mị đoan trang gấp ba gấp bốn lần dáng điệu và khuôn mặt của Lệ Thanh. Xuân Thu thường tạo vẻ e ấp, thẹn thùng một khi có ký giả đến phỏng vấn cô. Thật ra, nụ cười cô có một chút gì kềm chế, không cho niềm vui cô bộc lộ trọn vẹn. Ánh mắt cô rực rỡ và hơi nung nấu, cho nên khi nói chuyện với ai, cô làm ra vẻ mơ màng, vẻ lờ đờ cho ánh gay gắt dịu xuống đi. Những cách che giấu đó, làm cho cô có cái duyên dáng riêng, thông minh và tinh tế kỳ diệu. Tiếng hát của Xuân Thu trôi chảy và ngọt hơn tiếng Lệ Thanh, nhưng không vang lộng bằng. Khi trình diễn một bài hát, cô có một dáng dấp rất thơ mộng, rất cao sang. Cô thường  mặc áo dài trắng hoặc áo màu thật tái, thật lu chìm, không inhoa. Cô trang điểm thật phơn phớt. Cho nên đối với giới trẻ, cô hiện thân là chân dung nàng thơ, dưới ánh đèn rọi cô trở nên hư ảo như hình bóng trong cơn chiêm bao. Tiếng hát cô thỏ thẻ, êm đềm cũng trở nên tiếng vọng từ một cảnh giới nào ngoài cảnh giới mà chúng ta đang sống. Mỗi khi nhìn cô trình bày một bài hát trên Tivi hay trên sân khấu, tôi có cảm tưởng ở nhất cử nhất động, Xuân Thu đều có tính toán cả. Và cô tính đâu ra đó, gợi được một phong cách, một dáng điệu có thể lôi kéo sự chú ý của khán thính giả. Cho nên sự nghiệp ca hát của cô dù không làm chấn động ca trường nhạc giới, nhưng vẫn kéo dài cho tới ngày nay.

* Uyên Phương:

Trước hết, tôi xin quý vị độc giả đừng lộn Uyên Phương ở đây với nữ ca sĩ Lê Uyên trong ban song ca Lê Uyên Phương. Uyên Phương là em họ của nữ danh ca Bạch Yến. Lúc đầu cô lấy cái nghệ danh là Bạch Uyên

Phương để có chị có em với Bạch Yến. Và cô cũng bắt chước theo giọng và cách diễn tả của Bạch Yến. Trên con đường sự nghiệp ca hát, Uyên Phương không hề được Bạch Yến chỉ dạy và dìu dắt. Sau đó, nhận thấy giọng của mình phong phú và trơn ngọt hơn giọng Bạch Yến nên Uyên Phương hát theo cái bản chất, cái cung cách riêng của mình. Và cô bỏ chữ Bạch ở đầu nghệ danh của mình vì cô nhận thấy cái tên Uyên Phương suông trơn thôi cũng đủ nên thơ lắm rồi, đèo thêm chữ Bạch vào thì coi có vẻ tên mấy cô đào cải lương của mấy gánh hạng B thế nào ấy! Uyên Phương xinh đẹp và hiền lành, không cầu kỳ, không điệu đà. Khuôn mặt cô kết hợp bằng những nét congmềm. Cặp môi cô rõ nét và gợi cảm. Giọng của cô khàn đục.  Ở những chỗ ngang ngang của bài hát, cô diễn tả bằng một giọng rã rời. Nhưng khi lên cao, giọng cô trầm thống và đắng đót. Tiếng hát của cô về điêu luyện thì thua giọng Bạch Yến, nhưng về phong phú và về âm sắc thì giọng cô khỏe khoắn và đẹp hơn giọng Bạch Yến nhiều. Nhưng mà, cô vốn ngại lên sân khấu lớn. Cô chỉ thích hát ở phòng trà. Và cô cũng không cảm thấy thoải mái với ánh đèn trên sân quay của đài Truyền Hình. Mỗi khi có ánh đèn xanh rọi tạt qua mặt cô là cô bàng hoàng như bị chém hụt. Uyên Phương sinh tật say mê bài bạc. Có nhiều khi cô từ chối vài ba show trình diễn để binh xập xám thả giàn. Có một lần cô đến nhà của thi sĩ Phổ Đức tìm tôi, để tôi phỏng vấn cô cho một tờ báo xuân. Cô gầy sút hẳn đi, mặt mày phờ phạc, mắt thâm quầng. Hỏi ra thì tôi mới biết suốt cả tuần lễ vừa qua cô đánh bạc thâu đêm suốt sáng nên thua cháy túi. Cô có hứa sẽ nghỉ ngơi tịnh dưỡng rồi đi hát trở lại. Thật tình tôi không thể nghĩ ra tại sao ở một con người hiền lành mộc mạc như cô lại không chịu chí thú làm ăn mà lại ưa miệt mài trong sòng bài, trên chiếu bạc như thế?

Về hôn nhân, dù bị cha mẹ phản đối, nhưng Uyên Phương nhất định kết hôn với một cựu sĩ quan bị thương ở bàn chân phải giải ngũ. Dù anh ta có lớn tuổi hơn cô khá nhiều và dù có dáng đi hơi khập khiễng, nhưng đó là người chồng tốt, có tấm lòng rộng lượng, có nhân dáng thật hùng tráng và nhất là hết lòng yêu cô.

* Phương Thu, Đào Hoa Nữ, Thu Oanh:

Phương Thu có vóc mình dong dảy, khuôn mặt khá đẹp. Nhưng nhân dáng cô vẫn không có gì đặc biệt. Cô bắt chước hát theo Thanh Thúy. Nhưng cô thất bại. Giọng cô không được trầm rền như giọng Thanh Thúy. Cô không có cái vẻ đẹp Liêu Trai như Thanh Thúy thì làm sao hớp hồn những khán giả đã từng mê say Thanh Thúy được? Cũng vậy, Đào Hoa Nữ cũng bắt chước hát giống Thanh Thúy tối đa. Nhưng Đào Hoa Nữ không đẹp, làn da ngăm đen, khuôn mặt có nhiều góc cạnh không được thanh tú. Cô chỉ có dáng dấp phong lưu phơi phới, có cách ăn mặc bắt mắt với những màu chói sáng dưới ánh đèn sân khấu phòng trà. Nhưng tiếng hát nhại theo tiếng hát Thanh Thúy kia lại không hợp nhân dáng của cô. Cho nên cũng như Phương Thu, Đào Hoa Nữ hát hoài mà không nổi tiếng. Thu Oanh là em gái của Phương Thu, chuyên hát nhạc kích động ngoại quốc. Cô không đẹp bằng chị, lại nhỏ con. Nhưng khi cô lên sân khấu, trông cô khá xinh vì cô thạo cách trang điểm. Vào năm 1971, Phương Thu có mở một phòng trà ở Sài Gòn. Tôi được giấy mời đến xem buổi trình diễn hôm

phòng trà nầy khai trương. Thu Oanh mặc chiếc áo màu bích lục, cổ hở rộng có viền dải lụa nhiều nếp xếp, tay rộng kết nhiều tầng và nhiều nếp; chiếc váy đầm của cô cũng màu bích lục và cũng có nhiều tầng và nhiều nếp xếp như áo, trông giống loại y phục của các cô nữ vũ công Tây-ban-nha. Cô vừa hát vừa múa, thân mình uốn vặn mềm mại làm nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang buột miệng:

— Thu Oanh mặc áo xanh và trườn mình trông giống con rắn lục quá đi thôi!

Có một dạo, Thu Oanh si tình Hoàng Hạc. Cả hai thường cặp tay nhau đi bát phố. Sau đó ít lâu, cô tuyên bố cả hai đã chia tay.

* Miên Đức Thắng:

Anh có khuôn mặt thanh tú, nước da sáng mịn. Giọng anh là giọng trong và ngọt, chỉ diễn tả những bài ca của anh mà thôi. Trong giới sinh viên anh là một thần tượng lộng lẫy huy hoàng. Rất tiếc, tôi chỉ được nghe anh hát loáng thoáng ở trong vài băng nhạc. Giọng hát anh là giọng của cậu trai sau thời kỳ vỡ tiếng, ngọt mềm và đượm men say đắm của một tuổi trẻ thật thần thoại. Năm 1992, nhân đi giải khát tại tiệm Saigon Billard ở quận 13, kinh thành Paris, tôi gặp Miên Đức Thắng qua sự giới thiệu của nhiếp ảnh gia Huỳnh Tâm. Tôi phàn nàn với Thắng rằng hồi còn ở Việt Nam, tôi không dịp hội kiến với anh, giờ đây chắc anh không biết tôi là ai. Miên Đức Thắng nở một nụ cười ấm áp và tràn ngập thiện cảm bảo rằng trong thời gian gần đây dù anh còn kẹt ở Việt Nam, anh vẫn biết tôi viết lách thật nhiều. Và sau đó, tôi được Huỳnh Tâm mời cùng chụp chung một tấm ảnh với Miên Đức Thắng. Cả hai cùng sánh vai nhau, cùng nhìn về ống kính của Huỳnh Tâm, nhưng không nhìn về một lý tưởng, một chính kiến chung. Buồn thật là buồn!

Ít lâu, Miên Đức Thắng trở về Việt Nam.

* Elvis Phương:

Elvis Phương nổi tiếng từ khi anh hát bài “Thôi” của Nguyễn Ánh 9. Tiếng hát anh vang lộng, khi chẻ qua giọng óc để làm duyên thì giọng anh trở nên quyến rũ. Một giọng hát khỏe, hơi nũng nịu một chút, nhưng không lố lăng. Khi lên cao, Elvis Phương hát tròn tiếng và ngọt lịm như kẹo gương. Những lúc đó, tiếng anh thật mê cảm, như tiếng ọng từ đáy vực sâu, từ hang động huyền bí làm người nghe bàng hoàng từng thoáng tê điếng rờn rợn. Khi bỏ nhỏ, giọng anh thật mịn như nhung, êm đềm ve vuốt những đợt sóng mềm hôn bãi cát phẳng lặng. Cái đặc sắc của Elvis Phương là anh hát những bản nhạc phố chợ, nhạc máy nước đều có thể làm bản nhạc đỡ quê, đỡ chuế, đỡ thộn. Anh hát đủ loại nhạc, nhạc cao sang hay nhạc thấp lẹt đẹt về phẩm chất đều hay tuốt luốt. Rồi chuyển qua dân ca, anh hát bài “Qua Cầu Gió Bay” cũng nổi tình nổi ý. Trong 3 năm đầu của thập niên 70, theo cuộc thăm dò ý kiến khán thính giả bốn phương do nhật báo Trắng Đen tổ chức, Elvis Phương được coi là đứng đầu về phương diện ăn khách. Ngoài bản “Thôi”, những bài làm anh nổi danh là “Bao Giờ Biết Tương Tư” của Phạm Duy, “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” của Phạm Duy và Ngọc Chánh, “Chiều Nay Không Có Em” của Ngô Thụy Miên, “Chờ Người” của Lam Phương v.v …

Elvis Phương không bô trai, nhưng ở anh, khán thính giả bắt gặp một mẫu người đơn giản, dễ mến. Trải qua, hơn 25 năm, giọng Elvis Phương vẫn giữ âm sắc trẻ trung, ngọt ngào và tràn trề sinh lực. Anh trải qua ba đời vợ. Người vợ thứ hai của anh vốn là một nữ diễn viên điện ảnh có nhiều triển vọng. Đó là nữ nghệ sĩ Cát Phương, ái nữ của nữ kịch sĩ Xuân Dung và kịch sĩ Ba Bé. Cát Phương có đóng vai quan trọng trong hai phim Hoa Mới Nở (do Lê Dân đạo diễn), Xóm Tôi (cũng do Lê Dân đạo diễn).

* Jo Marcel, Như An:

Jo Marcel hơi nhỏ người, nhưng anh có một khuôn mặt khôi ngô và một nụ cười thật đậm đà. Anh lại thạo dậm mặt hóa trang và chọn màu áo veste cho nổi khi bước vào ánh đèn sân khấu. Bởi đó, Jo Marcel có thể làm cho khán thính giả quên vóc mình hơi bé nhỏ của anh. Jo Marcel có một giọng đẹp nhưng không phong phú lắm. Nhưng anh xử dụng máy vi âm thật cừ, lại thường mang theo hệ thống âm thanh đặc biệt dành riêng cho mình mỗi khi anh đi trình diễn bất cứ ở đâu. Cho nên giọng anh đã đẹp lại càng thêm âm sắc mê hoặc. Jo Marcel khi hát không điệu đà, nhưng anh là một phù thủy âm thanh, biết hát cho vang lộng chỗ này, biết bào mỏng chỗ nọ, cho nên tiếng hát anh gieo vào tâm tưởng, vào ấn tượng khán thính giả những giấc mơ lộng lẫy, những khung trời tưởng tượng rực rỡ hình ảnh như trong lăng kính vạn hoa. Những bản ruột của Jo Marcel là “Mộng Dưới Hoa” của Phạm Đình Chương, “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu, “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt, “Mưa Hồng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng nói cho cùng, bản “Mộng Dưới Hoa” do anh hát thì không có có ca sĩ nào khác hát bằng anh. Khi ra hải ngoại, hai bản “Đường Xa Ướt Mưa” của Đức Huy, bài “Chiều Hôm”, nhạc Trung Hoa do anh hát rồi thì chẳng có ca sĩ nào có thể trình bày đậm đà như anh.

Vợ của Jo Marcel là Như An. Cô không đẹp, nhưng hiền hậu. Cô có giọng đắng như cà phê và sánh đặc như cao hổ cốt, thật quyến rũ. Hai bài “Đường Về” của Hoàng Trọng và “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy được cô trình bày thật mặn nồng. Nhưng Như An luôn mờ nhạt bên cạnh chồng, như một cái bóng lặng lẽ song hành theo bước đường nghệ thuật của chồng. Khi cùng Nam Lộc thực hiện cuốn phim Tình Yêu và Nhạc Trẻ, Jo Marcel dan díu với cô tài tử Minh Lý đóng vai chính trong phim. Như An không hề tuyên bố điều gì với báo chí cả. Cô qua đời khi định cư được vài năm bên Tây Đức.

* Thanh Phong:

Anh có tầm vóc cũng hơi nhỏ, khuôn mặt tròn, cặp mắt một mí, nụ cười cầu tài. Ây vậy, trên sân khấu và trên khung màn ảnh Tivi, anh vẫn có nét linh hoạt dễ mến. Giọng Thanh Phong khá phong phú, có chuỗi ngân khá điêu luyện. Vậy mà vì chiều theo thị hiếu thấp kém của quần chúng nên anh hát những bản nhạc nịnh nọt lính tráng nhưng nghèo nàn giai điệu. Điều mà anh thích thú nhất là được mặc quân phục lính dù, tay cầm súng M16 để hát các ca khúc ca tụng lính theo thể điệu boléro. Sau năm 1975, anh gia nhập ban Kịch nói Kim Cương. Sau đó, anh cùng gia đình vượt biên vào năm 1979 và định cư ở Paris, hát cầm chừng trong các chương trình trình diễn văn nghệ lẻ tẻ. Có một dạo, anh sống bằng nghề làm kẹo đậu phọng và kẹo hột điều, hốt bạc ngon lành.

Tiếp nối và phát triển

Gia dình Phạm Duy những năm đầu ở hải ngoại

Henry Chúc & Dalena

Kim Huyên, Ngọc Huệ, Tuyết Nhung trình bày Bóng Chiều Xưa

Hải Phong & Khả Tú

Thiếu tá Nathan Nguyen (gốc Việt), Phó phòng Truyền tin, Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 3, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 6 Feb 2025

Thiếu tá Nathan Nguyen tuyên thệ trong buổi lễ thăng cấp vào tháng 5 năm 2023 (hình của 643rd RSG).

Thiếu tá Nathan Nguyen* giữ chức Phó phòng Truyền tin (J-6), Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ từ tháng 4 năm 2024, ông được cấp giấy phép an ninh tối mật (Top-Secret – TS) của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được quyền truy cập thông tin phân loại Nhạy cảm (Sensitive Compartmented Information – SCI) để lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động mà việc tiết lộ trái phép sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Vai trò này thường liên quan đến việc hỗ trợ trực tiếp cho các Bộ chỉ huy tác chiến, các cơ quan tình báo hoặc các hoạt động chiến lược Liên quân và Quân đội đồng minh. Sĩ quan/Viên chức được cấp giấy phép này đòi hỏi phải qua một cuộc điều tra hồ sơ lý lịch nghiêm ngặt, thường bao gồm cả máy phát hiện nói dối, và yêu cầu phải là công dân Hoa Kỳ, có phẩm chất đạo đức cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình an ninh.

Sư đoàn 91 huấn luyện là đại đơn vị cung cấp huấn luyện thực tế, nghiêm ngặt và phù hợp bảo đảm cho các đơn vị Lực lượng Lục quân trừ bị Hoa Kỳ sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng. Bộ chỉ huy khu huấn luyện Lực lượng trừ bị Parks ở California là nơi thuận lợi cho các cuộc tập trận quy mô lớn như các cuộc tập trận huấn luyện yểm trợ chiến đấu (CSTX) ) để nâng cao trình độ và năng lực Sĩ quan chỉ huy đơn vị. Các nhiệm vụ chính bao gồm: Tạo điều kiện huấn luyện tiến hành huấn luyện tập thể cho các đơn vị Lực lượng Lục quân trừ bị, Lực lượng Lục quân thường trực và Vệ binh Quốc gia sẵn sàng hoạt động: Xác nhận khả năng khai triển của các đơn vị thông qua các cuộc mô phỏng và tập trận phức tạp, yểm trợ, cung cấp Huấn luyện viên/Quan sát viên (OC/T) để đánh giá năng lực tác chiến của đơn vị.

Thiếu tá Nathan Nguyen sinh ra ở một làng đánh cá nhỏ gần thị xã Rạch Giá, miền Nam Việt Nam. Gia đình ông nghèo, nhưng ông thấy vui vì được sống với gia đình và bà con lối xóm, nhưng sống dưới chế độ cộng sản hà khắc, không được phép rời khỏi nơi cư ngụ và luôn bị quan sát bởi công an khu vực Khi ông lên 8 tuổi, cha ông đưa ông vượt biên, trốn thoat khỏi Viêt Nam bằng một chiếc ghe đánh cá nhõ đến được trại tỵ nạn Thái Lan và được chuyển tiếp đến trại tỵ nạn Phi Luật Tân, sau đó gia đình ông được Chính phủ Hoa Kỳ cho phép định cư vào mùa hè năm 1987.

Thiếu tá Nathan Nguyen và đồng đội hoàn tất khóa huấn luyện biệt kích Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School) năm 2012 – Hình của Nathan Đạt Nguyễn.

Thiếu tá Nathan Nguyen gia nhập quân đội vì muốn phục vụ đất nước mà ông đã chọn làm quê hương thứ hai. Ông cảm thấy gia đình ông mang ơn rất lớn đối với nước Mỹ vì đã cho phép gia đình ông đến đây để có một cuộc sống tự do tốt đẹp hơn. Ông gánh vác trách nhiệm này và làm điều đó một cách tự nguyện. Ông được chấp nhận vào chương trình Green-to-Gold, và trở thành Thiếu uý Truyền tin Lục quân trừ bị năm 1999, ông đã thụ huân các khoá học chuyên môn quân sư, đặc biệt, ông hoàn thành khóa huấn luyện Biệt kích tại Trường huấn luyện Biệt động quân Hoa Kỳ (US Army Ranger School). Ông cũng từng được điều động yểm trợ chiến dịch Tự do Châu Âu (OEF). Một kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với ông là vụ khủng bố ngày 11 tháng 9, lúc bấy giờ Trung đội Trinh sát của ông đang tham gia một cuộc diễn tập (FTX) thì được lệnh quay trở lại căn cứ. Ông và đồng đội liền mở truyền hình xem thấy cảnh hai tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại Thế giới sụp đổ, sau khi hai phi cơ thương mại bị không tặc đâm vào, khoảnh khắc đó làm ông nhớ mãi.

Thiếu tá Nathan Nguyen hoàn tất Văn bằng Cử nhân nghệ thuât Trường Đại học Tiểu bang California State University-Sacramento. Là Sĩ quan truyền tin Lục quân, Thiếu tá Nathan Nguyen được chỉ định phục vụ nhiều đơn vị khác nhau từ 1999 đến nay, những đơn vị gắn liền với binh nghiệp của ông như: Sĩ quan Phụ tá phòng Truyền tin G-6 thuộc Sư đoàn 25 Bộ binh tại Hawaii; Sĩ quan Truyền tin Liên đoàn yểm trợ khu vực 643 (643rd RSG) và hiện nay, Phó phòng Truyền tin (J-6), Sư đoàn 91 huấn luyện, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ. Với hơn 25 năm kinh nghiệm phục vụ Lục quân Hoa Kỳ, ông am hiểu sâu sắc về huấn luyện quân sự và các hoạt động quân sự liên hợp. Ông tận dụng kinh nghiệm và kiến ​​thức đóng góp vào việc nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và năng lực tác chiến của đơn vị.

Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá, ngoài Thiếu tá Nathan Nguyen, còn có hơn 150 vị khác (không tính những vị đã hồi hưu) đang phục vụ các binh chủng và ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhân sau đây: Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Thiếu tá Chi L. Truong, Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ; Thiếu tá Hung Nguyen, Sĩ quan Tiểu đoàn 411 Công binh; Thiếu tá Miller Tran, Nha sĩ Quân y Lục quân; Thiếu tá Perry Pham, Sĩ quan Lữ đoàn 3 Thiết giáp; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.

Chú thích: Họ tên Việt Nguyễn Đạt

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 6 Feb 2026

21. Chương 16 – Cài hoa trên vành tai

Quốc Hội Hoa Kỳ bắt đầu họp lại từ ngày 7 tháng 4.

Ở quốc gia Hoa Kỳ, nhất là ở các khu vực bầu cử của họ, các nghị sĩ và dân biểu đã nhận thấy là cử tri của họ không nhận định được vị trí của Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam). Rất hiếm công dân Mỹ cảm thấy bị xúc động khi xem các tấm ảnh ở mặt trận Xuân Lộc, cho thấy binh sĩ Miền Nam Việt Namđang ở các vị trí phòng thủ được tổ chức rất chu đáo, hoặc khi họ phất lên những lá cờ cộng sản màu đỏ tịch thu được của quân đội Bắc Việt . Một sự thăm dò của Louis Harris đã đo được cảm tưởng của những người đắc cử. Trong ba người đã có đến 2 người chống lại viện trợ quân sự cho Cam Bốt và Miền Nam Việt Nam, dù nhờ đó mà có thể “tránh được” một sự tắm máu cho dân chúng ở hai quốc gia đó.

Các ban và các tiểu ban trong Quốc Hội cho chuyển động bộ máy dân chủ của họ, tuy chính xác nhưng quá nặng nề . Các nghị sĩ và dân biểu được cho biết tin tức từng giờ một về những sự bất đồng nội bộ ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Nhà Trắng và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ít nhất đã chánh thức hóa đường lối ngoại giao của họ: Miền Nam Việt Nam có thể sẽ được cứu. Ở Ngũ Giác Đài thì một cách không chánh thức người ta cho biết là không còn một hy vọng nào nữa. Tuy nhiên theo lối trình bày công khai thì ông James Schlesinger vẫn trung thành bảo vệ chủ trương của Tổng Thống Ford. Ông Tổng trưởng Quốc Phòng không đi đến mức đoan chắc là một viện trợ quân sự bổ túc có thể sẽ cứu được quân đội Miền Nam Việt Nam. Ông tuyên bố là niềm tin của thế giới đối với Hoa Kỳ đang bị thử thách:

“Chúng ta không thể là một quốc gia có thể buông bỏ bạn bè, phản bội đồng minh của mình, hay nuốt bỏ lời hứa của mình được.”

Ở Hoa Thạnh Đốn càng ngày người ta càng nói tới những mật ước mà ông Nixon đã cam kết với VNCH. Còn hơn thế nữa: có phải người ta cũng đã có những bảo đảm hay cam kết “bằng miệng”? Nghị sĩ Henry Jackson buộc Henry Kissinger phải ra trước Quốc Hội để nói rõ về những bảo đảm do ông ta đã “cam kết mà không báo trước cho Quốc Hội”. Với phong cách “ta đây” của một nghị sĩ bị lăng nhục, ông tự nhủ là phải mở ngay một cuộc điều tra. Cũng như các đồng viện, ông muốn làm sáng tỏ về những cam kết của Hoa Kỳ . Thật ra ông cũng muốn làm giảm uy thế của Tổng Thống Ford khi ông hạch hỏi Kissinger. Họ đã được thấm nhuần đặc tính luôn luôn dị ứng về mọi hành động “đi đêm” từ thời Tổng Thống Wilson, một người đã ca tụng giá trị của những “thỏa thuận công khai được thực hiện công khai”, nên các nhà lập pháp không sẵn sàng để nghe những trình bày của các đại diện Hành Pháp một cách thuận lợi lắm. Hậu quả của sự kiện “nghe lén” (Watergate) chưa tan biến hết. Hơn bao giờ hết, Tổng Thống và Chánh Phủ của ông vẫn bị cáo buộc là “có tội” trước khi họ chứng minh được sự vô tội của họ

Trong các phiên họp công khai hay họp kín, các nghị sĩ và dân biểu hạch hỏi các nhân viên của Bộ Ngoại Giao, của Bộ Quốc Phòng, của Trung Ương Tình Báo hay của tất cả các cơ quan khác của Chánh Phủ gởi tới. Thẳng thừng đến gần như tàn bạo, phiên họp của các tiểu ban thường giống như các cuộc điều tra ; bên trong các phòng vuông bằng đá hoa hay cẩm thạch oai nghiêm thường diễn ra những cuộc đấu trí giữa các đại biểu của Hành Pháp và những người của Lập Pháp . Các công chức ra điều trần ở đây thường khó dấu được sự hoài nghi của họ.

Daniel Parker, trưởng cơ quan phát triển quốc tế đã tuyên bố với các thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế của Hạ Viện rằng:

_ “Tôi không thể nói với các ông là số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao trong những tháng sắp tới, nhưng tôi có` thể nói số phận của dân chúng của họ sẽ ra sao…. nếu chúng ta không chấp thuận cho họ những phương tiện cần thiết.”

Các tiểu ban phân biệt rõ ràng sự giúp đỡ quân sự mà họ càng ngày càng chống đối, với sự giúp đỡ nhân đạo. Nghị sĩ Hubert Humphrey, cựu Phó Tổng Thống và cựu ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, đã nói trong hành lang rằng:

– “Tất cả mọi người đều đi dạo chơi với cành hoa cài trên vành tai, và nói rằng mọi việc rồi sẽ qua đi. Chuyện này sẽ không qua đi một cách tốt đẹp đâu. Đó là một thảm họa . Tôi là người không sẵn sàng cho thêm “một xu” nào nữa, cho những người không muốn đứng trở lên và chiến đấu cho sự sống còn của mình.”

Tổng Thống Ford ngỏ lời với các nghị sĩ và dân biểu đang họp mặt trong một bầu không khí trang trọng. Có nhiều thành viên trong Quốc Hội, vì một niềm tin cho số đông cử tri của họ, và cũng như có một số dân cử không sợ mất lòng cử tri của mình , đã cho các tùy viên trong Quốc Hội và các đại biểu đặc biệt của Chánh Phủ biết , khi được dò hỏi, là họ sẽ sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho viện trợ nhân đạo, và dĩ nhiên cả ngân khoản cần thiết để tiến hành một cuộc di tản, nhưng về viện trợ cho cuộc chiến thì không có một đô la nào thêm nữa.. Do đó ông Ford phải bơi ngược dòng nước….

Hơn một nửa của bài diễn văn được ông dành để nhắc tới Đông Dương.. Về Cam Bốt, Tổng Thống Ford nhắc lại là trước đây 3 tháng ông đã có xin một ngân khoản viện trợ bổ túc. Nhưng ngay chiều nay “có thể là đã quá muộn rồi”. Do đó ông sắp sửa cho đóng cửa tòa đại sứ của ông ở Phnom Penh. Đối với ông, coi như Cam Bốt đã mất rồi, nhưng Việt Nam thì không. Về Việt Nam, ông nhắc lại những luận cứ của Chánh Phủ của ông (một số các vị dân cử cho là ông nhai lại): Hiệp Định Ba Lê có đứng vững được là do Hoa Kỳ đã trợ lực cho Sài Gòn. Những sự từ chối của Quốc Hội không bỏ phiếu cho những ngân khoản viện trợ là sẽ khuyến khích Hà Nội tăng thêm nỗ lực tấn công của họ.

Các vị dân cử không bao giờ chấp nhận luận điệu gán trách nhiệm cho họ về sự tan vỡ của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford dự đoán nhiều giải pháp.

Có hai giải pháp tích cực: Hoặc không làm gì hết, hoặc phải tuyên chiến để thi hành Hiệp Định Ba Lê.

Có hai giải pháp gần như trung dung: Hoặc chấp thuận một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự như đã xin từ trước, hoặc tăng ngân khoản viện trợ quân sự và kinh tế.

Tổng Thống Ford thì khuyến cáo nên dùng giải pháp thứ hai này.

Trường hợp tốt nhất, giải pháp này sẽ giúp cho Miền Nam Việt Nam ổn định được tình hình quân sự và đạt được một dàn xếp chánh trị. Trường hợp xấu nhất cũng có thể giúp di tản được 6000 người Mỹ đang còn tại chỗ và một số người Việt Nam nào đó.

Đọc bài diễn văn một cách đơn điệu, dựa trên phúc trình của tướng Weyand, Tổng Thống Ford xin Quốc Hội ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu và 250 triệu để giúp đỡ cho những người di cư. Tổng Thống yêu cầu Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận các ngân khoản này và bỏ phiếu trước ngày 19 tháng 4.

Tổng Thống Ford cũng nêu lên một bài toán phức tạp: đâu là quyền hạn của một Tổng Thống về việc xử dụng quân đội để di tản người Mỹ ở Việt Nam“nếu thấy đó là chuyện cần thiết” . Ông Ford phải thủ thế khi ông nghĩ tới hiến chế được thay đổi dưới trào ông Nixon nhằm hạn chế quyền hạn của Tổng Thống . Ông hy vọng là người ta sẽ cho phép ông được gởi quân Mỹ để “bảo vệ và hộ tống” các công dân Hoa Kỳ , ông không muốn trong trường hợp nào đó ông lại bị cáo buộc là đã gây chiến tranh trở lại. Theo Hiến Pháp thì Quốc Hội “có quyền … tuyên chiến” . Không có một Tổng Thống nào từ ông Kennedy, ông Johnson đến ông Nixon đều không có kêu gọi các nhà Lập Pháp làm đúng theo Hiến Pháp, một điều sai trái trầm trọng về tâm lý. Thật tình thì Quốc Hội Hoa Kỳ chưa bao giờ tuyên chiến từ Thế chiến Hai. Điều đó không ngăn cản các Tổng Thống gởi quân đội Mỹ qua Hy Lạp và Đại Hàn, (dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Quốc), qua Cộng Hòa Đô mi ni ca, và qua Li băng. Trong một số trường hợp, người ta có thể cho đó là những cuộc hành quân Cảnh Sát đại qui mô. Nhất là từ sau 1965, các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ mặc nhiên cho Tổng Thống quyền được tiến hành chiến tranh mà không cần tuyên chiến. Và cứ mỗi năm các nhà Lập Pháp lại tiếp tục bỏ phiếu cho ngân khoản cần thiết.

Cung cách đó đã qua rồi. Vào tháng 7 năm 1973, Quốc Hội đã bỏ phiếu cho một Luật nhằm xóa hết các ngân khoản cho “tất cả các hoạt động tác chiến” ở Đông Dương. Mặc dầu Tổng Thống Nixon đã phủ quyết, nhưng tiếp theo đó vào tháng 11, Quốc Hội đã chấp thuận một Quyết Nghị về Quyền Hạn Chiến Tranh, quyết nghị này đã trở thành Luật (về Quyền Hạn Chiến Tranh). Theo Luật này, người ta đã thấy là mỗi lần Tổng Thống xử dụng quân đội Hoa Kỳ ở ngoại quốc là ông phải phúc trình.. Luật này không dự trù trường hợp nào có dạng như di tản từ Miền Nam Việt Nam. Vậy Tổng Thống sẽ lấy “quyền” nào để đưa quân lực Hoa Kỳ vào vùng chiến sự hay vào những vùng mà tình hình thực tế cho thấy rõ ràng là mình sẽ có thể bị lôi kéo vào chiến sự. Quyết nghị và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh không phải văn kiện quá sáng tỏ về mặt pháp lý. Ông Ford muốn làm sáng tỏ một vài điểm – để tự bảo vệ cho mình.

Một bài toán khác: Bộ Luật không dự trù di tản người Việt Nam vì họ không phải là công dân Hoa Kỳ. Các nhà Lập Pháp chấp thuận giúp đỡ người Mỹ đang gặp khó khăn, điều đó rất đúng, nhưng còn người Việt Nam thì sao? Và bao nhiêu người?

Để chấm dứt chuyện cam kết mật của ông Nixon, ông Tổng Thống Ford đã có một buổi họp với các lãnh tụ đa số của Quốc Hội ở Nhà Trắng vào ngày 11 tháng 4. Trên căn bản thì Tổng Thống Ford tuyên bố là “những trao đổi riêng tư giữa ông Nixon và ông Thiệu không khác những gì mà người ta đã nói lên một cách công khai”. Đúng là một đề tài rất tốt cho luận án tiến sĩ, câu hỏi hoàn toàn được giữ nguyên: ” sự cam kết riêng của một ông cựu Tổng Thống có bắt buộc ông Tổng Thống đương nhiệm phải cam kết hay không? và nhất là Quốc Hội? Tổng Thống và Quốc Hội thấy không có thì giờ cho quý vị làm luận án nữa!

Tổng Thống Ford ra lệnh cho đại sứ Mỹ John Dean ở Phnom Penh đóng cửa tòa đại sứ ở đó Ngày 12 tháng 4 hồi 7 giờ 45, có ba đợt trực thăng cất cánh từ hàng không mẫu hạm Okinawa ở vịnh Thái Lan. Một số khác đi từ mẫu hạm Hancock. Tất cả Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đều được trang bị súng M.16 và súng phóng lựu. Được chuẩn bị từ tháng 2, cuộc hành quân “Ó bay đi” (Eagle Pull) bắt đầu. Ông John Dean, một nhà ngoại giao lão luyện, người đã theo sát mọi sự kiện của Đông Dương ở Ba Lê và ở Vạn Tượng trước khi được chỉ định vào chức vụ Đại Sứ ở Phnom Penh, đã thông báo cho những nhân vật có trách nhiệm chánh trị và quân sự của Cam Bốt: Những ai muốn nhân cơ hội này để được di tản thì sẽ được bốc đi. Ông John Dean đích thân đến tư dinh của Thủ Tướng Long Boret để thông báo vấn đề này. Trừ một người, còn tất cả các Tổng trưởng và vị xử lý thường vụ Chủ Tịch Nước đều từ chối không ai chịu di tản,

Sau khi bay 160 cây số trên lãnh thổ đang nằm trong tay Kmers Đỏ, các trực thăng đầu tiên thuộc nhóm Alpha đáp xuống Phnom Penh , và các Thủy Quân Lục Chiến bố trí ngay chung quanh Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ

Ông John Dean nhận được một bức thư của ông Sirik Matak, Cố vấn Chánh Phủ , nội dung như sau:

_ “Thưa ông Đại sứ và ông bạn thân mến,

Tôi thành thật rất cám ơn ông, về bức thơ và đề nghị của ông nhằm đưa chúng tôi đến nơi Tự Do. Than ôi, tôi không thể đi một cách hèn nhát như thế được.

Về phần ông và quốc gia Hoa Kỳ hùng mạnh của ông, không có một lúc nào tôi tưởng rằng các ông buông bỏ một dân tộc đang chọn và tranh đấu cho Tự Do. Các ông đã từ chối không bảo vệ dân tộc chúng tôi ; chúng tôi không thể làm gì hơn được. Ông ra đi, Tôi xin chúc ông và quốc gia của ông tìm được hạnh phúc dưới gầm trời này.

Nhưng, xin ông ghi rõ điều này, nếu tôi có chết ở đây, chết ở ngay đất nước thân yêu của tôi, xin hãy mặc kệ chúng tôi , vì chúng tôi được sanh ra thì tất nhiên rồi cũng phải có một ngày nào đó chúng tôi phải chết thôi! Nhưng điều đáng tiếc là tôi đã có môt lầm lỗi, đó là tin nơi ông và tin nơi người Mỹ các ông.

Xin ông Đại sứ và là ông bạn thân của tôi nhận nơi đây tình cảm trung thực và thân thiết của tôi .

Surik Matak

Vì tò mò, không hận thù, người dân Cam Bốt đứng quanh tòa đại sứ nhìn cuộc hành quân di tản đang diễn tiến rất tốt đẹp. Đại úy Cyril Moter tham gia cuộc hành quân này với nhóm Thủy Quân Lục Chiến của ông. Trong hai tiếng đồng hồ, trực thăng đã bốc đi 82 người Mỹ, 159 người Cam Bốt, và một số người Phi luật Tân, Đài Loan, Úc, Thái Lan, Pháp, Tây ban Nha, Thụy điển, Anh cát Lợi, Gia nã Đại và Ý đại Lợi. Trong số những người Mỹ thì có các nhà ngoại giao và một số nhà báo. Nhưng Sydney Schanberg của tờ Thời Báo Nhiêu Do và cộng sự viên của ông, Dith Pran, người Cam Bốt, thì không đi, chọn ở lại Phnom Penh.

Đến 10 giờ 15 thì ông John Dean với vẻ mặt nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thiểu não, ôm lá quốc kỳ Mỹ trong tay bước lên trực thăng.

Vào lúc 10.giờ 41, tất cả các dân sự đều được bốc đi hết.

Các quả đạn bách kích pháo rơi chung quanh tòa đại sứ trong khi một y tá người Mỹ đang săn sóc 2 thương binh.. Từ dưới đất, Thủy Quân Lục Chiến gởi một công điện truyền tin lên chiếc phi cơ chỉ huy là chiếc C.130 đang bay lượn trên không phận Phnom Penh. Nhưng không có một chiếc phi cơ hay trực thăng nào tìm ra vị trí của mấy khẩu bách kích pháo của Khmer Đỏ. Có hơn 12 chiếc phi cơ tiềm kích đang bay tuần tiễu giữa Phnom Penh và bờ biển, nhưng họ không can thiệp.

Ngoài khơi hải cảng Sihanouk, hạm đội Hoa Kỳ đã dàn ra từ hôm qua. Đó là những chiếc Vancouver, Thomaston, Henry D. Wilson, Knox, và chiếc Kirk. Các phi cơ Mỹ thuộc Không Lực Hoa Kỳ đang đóng trên căn cứ ở Thái Lan đều sẵn sàng có thể đến phối hơp với các chiến hạm này để đẩy lui các cuộc tấn công của Khmer Đỏ, nếu có.

 Sau vài giờ tạm nghỉ trên các chiến hạm, những người di tản từ Phnom Penh được đưa về Thái Lan.

Cuộc hành quân “Ó Bay Đi” đã thỏa mãn hoàn toàn các quân nhân Hoa Kỳ . Một công tác được chuẩn bị và thi hành rất chu đáo. Một công trình tiếp vận thành công vì Khmer Đỏ không có phương tiện để chống lại. Trước hết có thể vì dân chúng ở thủ đô Cam Bốt không tìm cách ùa nhau cùng chạy loạn theo các trực thăng.

Tóm lại đây cũng có thể coi như một cuộc thao dượt cho…. Sài Gòn , nếu người ta muốn đi tới đó. Các báo chí trên toàn thế giới đều có “Một đề tài như nhau: Người Mỹ rời khỏi Phnom Penh”, “Vị Xử Lý Thường Vụ Chủ Tịch di tản, chạy theo Đại Sứ Hoa Kỳ”, “Quân đội nắm quyền tại Phnom Penh”, “Ủy Ban Quân sự được thành lập dưới quyền của tướng Sak Suttsakhom”. Tổng Thống Giscard d’Estaing say mê danh từ “thích hợp”. Ngay tức khắc Chánh Phủ Pháp nhìn nhận Quốc Gia mới, nghĩa là chế độ Khmer Đỏ. Việc nhìn nhận quá hấp tấp này thật sự có “thích hợp” hay không đây?

Tòa Đại sứ Pháp ở Phnom Penh chỉ có một lãnh sự là ông Jean Dyrac, tạm thời được nâng lên hàng Phó Lãnh Sự  Nước Pháp đi trước xa đối với chế độ.

Ngày 17 tháng 4 hồi 5 giờ, có một số Khmer Đỏ đến trước Tòa Đại sứ. Sau đó, các xe thiết giáp của Chánh Phủ mang cờ trắng chạy khắp thành phố.

Quân Khmer Đỏ giải phóng Phnom Penh trước khi Bắc Việt chiếm được Sài Gòn . Đây là một cuộc chạy đua với thời gian giữa Bạn và Thù; Khmer Đỏ muốn chứng minh rằng họ có đủ khả năng tiến tới một mình, không cần có sự giúp đỡ của Bắc Việt. Sau đó Khmer Đỏ đuổi hết dân chúng ra khỏi thành phố.

Các công điện của người Pháp từ Phnom Penh được chuyển về Paris qua ngả Sài Gòn và thường bị gián đoạn. Bốn ngàn dân tỵ nạn đang cắm trại trong khuôn viên tòa đại sứ. Trong số này có những người Đông Đức và người Nga. Những người KĐ (Khmer Đỏ)

_ Các chuyên viên gọi họ là “KR”, hai chữ đầu của Khmer Rouge – đã bắn sập tường của tòa đại sứ Liên Xô bằng rốc kết. Hoàng thân Sirik Matak và các thành viên thuộc gia đình Quốc Vương Norodom Sihanouk và 3 đức cháu đang tỵ nạn ở trong tòa đại sứ Pháp. Ngày hôm sau, hai sĩ quan KR và một đoàn tùy tùng trang bị súng không giật đến tòa đại sứ Pháp đòi bắt Hoàng Thân, nhưng Lãnh sự Pháp, ông Dyrac từ chối không cho họ vào, để mua thời gian.

_ Ngày hôm sau chúng tôi sẽ đến, viên sĩ quan KĐ nói như vậy.

Ông Dyrac nhờ các linh mục Francois Ponchaud và Bernard Berger tác động giùm tinh thần cho các người dân tỵ nạn. Họ nâng cao tinh thần những người này bằng cách phổ biến các tin tức: liên lạc với Sài Gòn vẫn được duy trì cho tới khi nào điện bị cắt mới thôi.

Lúc 11 giờ, một chiếc phi cơ Hoa Kỳ lượn trên tòa đại sứ Pháp. Có hai nhà báo người Mỹ dùng máy truyền tin cầm tay liên lạc với phi cơ và yêu cầu được bốc đi bằng trực thăng. Người ta nói là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Lan và cả Ngũ Giác Đài bên Hoa Thạnh Đốn sẽ nghiên cứu vấn đề này. Cuộc hành quân di tản được yêu cầu này có thể sẽ đưa tới một cuộc tàn sát hết tất cả người tỵ nạn ngay ở tòa đại sứ ở đây.  Ngày 19 tháng 4, hoàng thân Sirik Matak và những người Cam Bốt khác quyết định ra hàng. Những người của KĐ với một chiếc xe Jeep và 2 xe vận tải đến trước tòa đại sứ. Hoàng thân Matak còn được nhìn thấy ở cách Phnom Penh chừng 20 cây số, sau đó thì không còn ai thấy được ông ta đâu nữa.

Cơn hấp hối của quốc gia Cam Bốt trong tay bọn Khmer Đỏ đang bắt đầu..

Tổng ThốngThiệu nói chuyện với ông Hoàng Đức Nhã về sự thất thủ của Phnom Penh. Nhã xác nhận:

  • ” Mọi việc rồi cũng sẽ đến với Sài Gòn như vậy,.
  • “Anh tin như vậy sao?
  • ” Vâng, nếu cộng sản Bắc Việt đưa hết lực lượng của họ để tấn công chúng ta.
  • ” Tôi không tin như thế, và tôi không bao giờ tin như thế. Có quá nhiều việc liên quan đến vấn đề này, ông Thiệu nhấn mạnh.

Tổng ThốngThiệu vẫn còn tin chắc là ông sẽ làm cho người Mỹ phải nhảy vào.

Ông Hoàng Đức Nhã tự nguyện sẽ đi Tân gia Ba. Ông rất phục Thủ Tướng Lý quang Diệu, một nhân vật dân chủ xã hội rất có quyền thế đang lãnh đạo một đất nước trên hòn đảo nhỏ bé này . Ông ta đã cho dân chúng Tân gia Ba những gì mà người cộng sản luôn luôn chỉ có hứa suông mà không bao giờ có, như việc làm, học vấn, và nhà ở. Phương thức dân chủ rất mạnh mẽ ở đây đã làm cho Nhã say mê. Cũng vì vậy mà khi có một nhà báo Anh cho ông biết là ông Lý quang Diệu mong ước muốn gặp ông, thì ông tỏ ra rất bằng lòng. Ông Nhã đáp phi cơ đến Tân gia Ba và ở trọ tại Raffles, một khách sạn cũ nhưng rất nổi tiếng và rất đẹp. Sau đó ông đi dùng cơm tối ở nhà hàng Newton Circus. Tân gia Ba là một thành phố rất văn minh, có văn hóa, sạch sẽ, được kiểm soát rất chặt chẽ do một lực lượng gìn giữ trật tự vô hình nhưng hữu hiệu.

Một thanh tra Cảnh Sát mặc thường phục đến gần Nhã:

  • Ông là ông Nhã.
  • Phải
  • Ngài Thủ tướng muốn gặp ông. Ngay bây giờ

Ông Nhã rất thích lề lối mà người ta đã nhanh chóng nhận ra ông ngay ở đây.

Đến nơi, ngoài Thủ Tướng ông còn thấy có ông Tổng trưởng Ngoại Giao và một vị Cố vấn chánh trị . Mọi người đều dùng Anh văn để đàm thoại. Nhã được biết qua về một chuyến du hành của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Nelson Rockefeller. Nhơn dịp sang dự tang lễ của ôngTưởng giới Thạch vừa từ trần hôm ngày 5 tháng 4, ông Rockefeller đi một vòng thăm vùng Đông Nam Á Châu. Ông đã tích lũy được một số chuyện phiếm. Khi người ta nói với ông về tình hình ở Việt Nam, ông trả lời dựa theo các cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1976:

  • “Nếu hai hay ba ngàn người Mỹ chết hay bị bắt làm tù binh, thì sẽ có nhiều bài toán được đặt ra”.

Nếu người ta nhắc lại câu hỏi của đảo Chypre, thì ông sẽ đề nghị với những người Hy Lạp là họ phải rất bằng lòng về cuộc xăm lăng của Thổ nhĩ Kỳ, vì nó giúp khôi phục lại được nền Dân Chủ ở Hy Lạp:

_ “Nếu tôi là người Hy Lạp, tôi sẽ quỳ xuống để cầu nguyện – tôi không biết người Hy Lạp sẽ cầu nguyện với ai? với những vị Thánh nào trong trường hợp này….”.

Không biết Tổng Thống Ford thường hay có ý định xử dụng ông Phó của ông trong lãnh vực ngoại giao loại này hay không? “Điều này chắc phải tùy thuộc xem người nào chết,”

Đi thẳng vào đề, Thủ Tướng Lý quang Diệu nói với ông Nhã :

  • “Chúng ta không nên để mất thì giờ., Tôi đã yêu cầu ông đến đây vì đã gần tới giờ chung cuộc rồi. (ở Việt Nam). Ông Rockefeller đã hỏi tôi, như đã hỏi các vị lãnh đạo khác ở Á Châu, là liệu chúng tôi có chấp thuận một cuộc hành quân để loại bỏ ông Tổng Thống Thiệu hay không ? (nguyên tác:opération)

Nhìn thoáng qua theo ý kiến của ông Rockefeller – của ông ta? hay của ông Ford? chắc chắn không phải của Bộ Ngoại giao hay của Trung Ương Tình Báo CIA – thì sẽ phải dựng lên một nhóm đảo chánh ở Sài Gòn. Tham gia vào đó sẽ có thể là cựu Thủ tướng Khiêm, tướng Viên Tổng Tham mưu trưởng, hay tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ . Sau đó người ta sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp do nhóm này tấn phong . Ông Lý quang Diệu không bàn cãi về khía cạnh hữu lý hay hoang đường của kế hoạch này, một kế hoạch mà chỉ có riêng ông Rockefeller là người phải chịu trách nhiệm mà thôi.

Ông Lý quang Diệu nói với ông Nhã:

  • ” Ông hãy báo cho ông anh của ông biết đi. Còn ông thì nên ở lại đây, đừng có trở lại Sài Gòn. Tôi sẽ lo đưa gia đình ông ra khỏi Việt Nam. Ông biết không? người Mỹ đã chọn nơi cư trú cho ông Thiệu rồi đó”.

Không cần nghĩ là có thể bị nghe lén hay không, ông Nhã liền gọi điện thoại ngay về cho Tổng Thống Thiệu. Tất cả tin tức nhận được đều y như thế. Qua bạn bè của ông, qua các sĩ quan cấp tá trẻ, Nhã biết được sự tức giận trong QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) trên cấp cao. Ông khuyên Tổng Thống Thiệu nên từ chức.

_Anh đừng chờ người ta lật đổ anh, hay người ta tống cổ anh đi. Hãy đi trước một bước đi, càng nhanh càng tốt.

Nhưng rồi Hoàng Đức Nhã cũng về lại Sài Gòn qua ngả BangKok. Ông điện thoại về Dinh Độc Lập. Một tùy viên xin ông gọi lại sau:

  • “Tổng Thống đang làm việc, ông đang thảo một bài diễn văn, nghe hình như một bài diễn văn độc đáo lắm.”.

Ông Kissinger hỏi ông đại sứ Martin: Có thể dùng hải cảng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô được không? Công điện của Tổng trưởng ngoại giao viết:

  • “Trong chìu hướng đó có thể tránh được sự hỗn loạn, phải phối hợp chặt chẽ với ông Thiệu.”

Ông Kissinger tỏ ra lo lắng cho số phận của những người Việt Nam đã cộng tác với người Mỹ:

  • “Chúng tôi muốn biết xem liệu ông Thiệu có sẳn sàng để cho một số người của họ ra đi bây giờ hay không ?”

Ông Martin bắt đầu chịu nghe theo ý kiến về một giải pháp thương thuyết. Ông đã từng luôn luôn bênh vực Tổng ThốngThiệu, nhưng bây giờ thì ông nghĩ là ông này phải ra đi. Gần đây có những tin đồn do người Mỹ gán cho tòa đại sứ Pháp, cho rằng Bắc Việt sẽ liệng bom xuống Sài Gòn nếu ông Thiệu không chịu ra đi ngay từ bây giờ. Tại Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger lại lên tiếng. Ông điều trần trước một tiểu ban ở Thượng Viện . Ông nói như một chiến lược gia loại Clausewitz:

  • ” Cuộc tấn công của Bắc Việt và phản ứng của Miền Nam Việt Nam không phải ngẫu nhiên mà xảy ra. Hơn nữa sự may mắn luôn luôn là một yếu tố trong chiến tranh.

Ông ôn lại những biến cố trong 3 tháng sau cùng. Ông chấp nhận là Miền Nam Việt Namcũng không có thi hành đúng đắn tất cả các điều khoản của Hiệp Định Ba Lê. Nhưng ông nhấn mạnh là theo thống kê thì Sài Gòn ít vi phạm hơn nhiều so với Hà Nội. Bây giờ thì đã có một sự mất thăng bằng về quân sự, có lợi cho Bắc Việt nhiều hơn . Sài Gòn đang tìm một giải pháp chánh trị xuyên qua những cuộc bàn cãi với CPCMLTMN tại Ba Lê:

  • ” Không hề có một sự tiến bộ nào cho một giải pháp dung hòa về chánh trị , bởi vì Hà Nội không bao giờ muốn như thế …..

Ông Kissinger chứng minh qua Hiệp Định Paris. Ông nhắc lại là:

  • “Cả Hoa Kỳ và VNCH không bao giờ thấy Bắc Việt thi hành hoàn toàn và nghiêm chỉnh Hiệp Định Ba Lê. Vì nếu được Hà Nội áp dụng đứng đắn, thì các điều khoản chính của Hiệp Định đã giúp cho họ từ bỏ giải pháp quân sự từ lâu, để bước sang giải pháp chánh trị như Hiệp Định đã ghi rõ.”

Ông Kissinger nói rõ là tất cả đều được thiết lập trên sự mất cân bằng, không còn đồng đẳng về quân sự nữa.

  • “Các đơn vị chiến đấu của Bắc Việt quá nhiều so với Miền Nam , và họ lại được võ trang quá hùng hậu. Quan trọng hơn nữa là họ lại lợi dụng được một tốc độ về tâm lý chiến. Trong một trận chiến điều này có thể là một yếu tố quyết định mạnh hơn là vũ khí nữa.”

Nghị sĩ Joseph Montoya hỏi ông Kissinger về những lý do thất trận của Miền Nam Việt Nam. Kissinger dùng lại những lập luận của ông và của Chánh Phủ Hoa Kỳ:

  • “Với một lực lượng quân sự không cân bằng, vì những cắt xén viện trợ của Hoa Kỳ , do những áp lực về lạm phát, và giá dầu tăng cao..

Ông Kissinger khen ngợi tinh thần can đảm của Quân Lực VNCH, mặc dầu số tử vong lên đến gần 30.000 người vào năm 1994 (Theo chánh quyền Sài Gòn thì con số tử vong là 21.000 người.)

Đối với những cam kết mật của ông Nixon, nghị sĩ Montoya nêu lên bài toán về những nghĩa vụ của Hoa Kỳ trên phương diện pháp lý và tinh thần đạo đức:

  • “Chúng ta phải gánh nghĩa vụ tinh thần đó bao nhiêu lâu nữa, giã dụ như chúng ta đã có nghĩa vụ đó từ lâu đối với Miền Nam Việt Nam?
  • “Thưa nghị sĩ, thật rất khó mà ấn định được một thời gian nào để chấm dứt lắm. Trên thế giới này đã có tình trạng đe dọa thường xuyên nên người ta không thể nói trước một thời gian nào gọi là chấm dứt nghĩa vụ được, trừ phi kẻ xăm lăng chính quyết định chấm dứt cuộc xăm lăng của họ. Chúng ta đã có nghĩa vụ ở Âu Châu trong suốt thời gian sau khi thế chiến chấm dứt, một nghĩa vụ mà chúng ta không thể ấn định được lúc nào mới phải chấm dứt. Chúng ta có một nghĩa vụ đối với quốc gia Do Thái và chúng ta cũng không thể cho một thời gian nào….
  • Ông có thể cho biết một nước nào khác đã có nghĩa vụ tinh thần đối với Miền Nam Việt Namhay không?
  • Có rất ít quốc gia như vậy. Chỉ có Nam Hàn, Úc Châu và Tân Tây Lan là có gởi quân đến đó…

Một nghị sĩ khác thuộc đảng Dân Chủ, ông Henry Bellmon hỏi Kissinger:

-” Đôi khi người ta nói về ông, rằng ông là một nhà sáng tác tài tình nhiều phép lạ trong nghề ngoại giao của ông. Ông đã thiết lập được những liên hệ quá bình thường với Trung Quốc….

Ông Kissinger ngắt lời ông Bellmon nửa đùa nửa thật:

  • “Thiết lập quan hệ bình thường ư? Câu này không phải của tôi đâu, nhưng khi người ta dùng nó, đôi khi tôi không có phản đối quá mạnh….
  • Ông cũng có làm việc để đi đến thỏa thuận với Liên Xô. Các quốc gia đó (Trung Quốc và Liên Xô) đã tiếp tế cho Bắc Việt . Chúng tôi không biết trong trường hợp hiện tại, nếu những sự quan hệ của chúng ta đối với Trung Quốc và Liên Xô được cải thiện tốt đẹp, thì chúng ta có nên xài nó……
  • Kissinger thấy là tất cả chánh sách ngoại giao được đặt thành vấn đề trở lại, bèn đáp:
  • ” Khi có người nói rằng họ nhờ chúng ta, thì phải tự hỏi xem chúng ta đã thiết lập được những gì…. Mục tiêu chính yếu trong vấn đề hòa hoãn với Liên Xô là để giảm thiểu nguy cơ của chiến tranh nguyên tử và làm nhẹ đi những sự căng thẳng nói chung. Đây là những gì đã xảy ra: mức độ cung cấp dụng cụ chiến tranh của Liên Xô cho Bắc Việt được giữ ở mức độ không thay đổi trong những năm sau cùng. Trong khi đó, mức độ cung ứng dụng cụ quân sự của Hoa Kỳ cho Miền Nam Việt Namđã giảm xuống đáng kể. Ngoài ra Liên Xô hình như không bao giờ tự hỏi về việc xử dụng vũ khí viện trợ đó một cách quá tỉ mỉ và quá máy móc như chúng ta”.

Trong thâm tâm, Kissnger không có ý định phải tái dội bom Bắc Việt. Nhưng nghị sĩ Walter Huddleston, Dân Chủ thốt lên một câu:

  • “Người Mỹ chúng ta muốn biết là sau bao nhiêu năm các ngân khoản bổ túc do Chánh Phủ yêu cầu có đi tới được một kết luận tốt hay không? Có hay không? Có một câu trả lời nào cho vấn đề này không?
  • “Không có một câu trả lời nào chính xác hết. Nếu ít ra chỉ có một.

Với vẻ cảm động, như một kịch sĩ lành nghề, ông Tổng truởng ngoại giao lẳng lặng đọc cho các nghị sĩ nghe bức thư của ông Sirik Matak. Các vị dân cử đều ngao ngán…Kissinger bèn khai thác ngay:

  • “Thưa ông Chủ tịch, thưa quý bà, quý ông.., Ông đại sứ Dean và cá nhân tôi nữa không người nào quên được lá thư này. Và ngay cả người đã can đảm viết bức thư này..cũng vậy. Bây giờ đây, với tư cách là người Hoa Kỳ chúng ta cùng nhau phải biết hành động như thế nào để có thể chắc chắn là chúng ta sẽ không bao giờ còn nhận được những lá thư như thế này nữa.!”

Ông Tổng trưởng ngoại giao muốn thử làm cao để tự bào chữa, nên chỉ nhắc sơ qua lý do chính yếu đã đẩy Bắc Việt tiến tới một cuộc tổng tấn công toàn diện và cuối cùng.

Khởi đầu thì có vụ việc “nghe lén” (Watergate) mà chỉ một mình ông Nixon là người lãnh trách nhiệm.. Vừa không thể chấp nhận được, vừa là điều phi lý, sự nghe lén đồi bại nhỏ nhoi trong những khu vực của đảng Dân Chủ đó đã kéo theo một thủ tục mà Kissinger không thể dự đoán được trong lúc đang hình thành những đoạn tế nhị của Hiệp Định Ba Lê. Nếu ông Nixon còn ngồi ở chánh quyền thì không còn nghi ngờ gì nữa và còn chắc chắn là ông sẽ gởi ngay các pháo đài bay B.52 ngay sau khi Bắc Việt tấn chiếm Ban Mê Thuột. Khi cho lệnh dội bom lên Cam Bốt hay Hà Nội , ông Nixon đã cho thấy là ông không có chút lưu tâm tới ý kiến của Quốc Hội cũng như tới dư luận dân chúng Hoa Kỳ. Nghị quyết và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh có ngăn cản ông ta đâu? Nếu các phi công Mỹ đã nhận lệnh của Tổng Thống , với tư cách là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ, họ có tuân lệnh hay không? Hay là, nếu bất tuân lệnh, thì họ có nhờ luật sư của họ, viện dẫn Quyết Định và Luật đó hay không?

Yêu cầu ngân khoản viện trợ của Tổng Thống Ford đã huy động đến 8 tiểu ban ở Thượng Viện và Hạ Viện. Tổng Trưởng Quốc Phòng Schlesinger và tướng Weyand cũng phải ra điều trần.

Các con số teo dần: 515 triệu, rồi 449, 401, 370 rồi 350 triệu… Người ta tính ra là 165 triệu viện trợ quân sự và 165 triệu cho viện trợ nhân đạo. Các thành viên của Quốc Hội nhất là các nghị sĩ, gần như muốn ngân khoản viện trợ nhân đạo và cho cuộc hành quân di tản phải lên đến 200 triệu. Ông Ford vẫn chưa chịu và ông ta đòi 972 triệu cho tất cả. Chuyện đối đầu giữa Hành Pháp và Lập Pháp được công khai đưa lên truyền hình, truyền thanh, và báo chí, quả thật là mệt nhọc. Trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford thử đưa ra một so sánh về yêu cầu của mình: ông xin một ngân khoản nhỏ thôi, dưới một tỷ đô la, một con số có đáng kể gì đâu “so với 150 tỷ mà chúng ta đã xài từ trước.?”

Nhưng.. Lãnh đạo ở Hà Nội và Lê đức Thọ ở Miền Nam, và trên mặt trận ai cũng biết rõ hết từng chi tiết.

Điều rõ ràng là mặc dầu có thiện chí và có thiện cảm với ông Ford, hầu hết các thành viên của Quốc Hội không sẳn sàng chấp thuận cho ông ta một ngân khoản viện trợ quân sự nào nữa. Dĩ nhiên là ông vẫn sẽ được tất cả ngân khoản cần thiết để di tản các công dân Hoa Kỳ. Thật sự, có bao nhiêu người? – 5400 hay hơn thế nữa? Người ta cũng chấp thuận cho Tổng Thống những ngân khoản chủ yếu cho viện trợ nhân đạo và để không bỏ lại cho cộng sản những người Việt Nam đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.

Tổng Thống Ford đã tiếp tất cả những thành viên thuộc tiểu ban Ngoại giao của Thượng Viện trong suốt 1 giở rưỡi. Cả các vị dân cử thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều mong muốn Tổng Thống hứa là sẽ nhanh chóng đưa những người Mỹ ra khỏi nước Việt Nam. Người Việt Nam thì phải ở hàng thứ yếu. Con số được đề nghị bốc đi sẽ là bao nhiêu? Ông Ford đáp lời:

  • ” Đại khái phải tính cho là từ 175.000 đến 200.000. Chúng ta phải có trách nhiệm tinh thần, và chúng ta phải giúp đỡ những người đã từng giúp chúng ta .”

Tổng Thống Ford không muốn cung cấp cho các nghị sĩ một ngày giờ nhứt định. Rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong lúc này là sẽ tạo ngay một tình trạng hoãng loạn, và như thế sẽ nguy hiểm cho tánh mạng của những người Mỹ hiện đang còn ở Việt Nam.

  • ” Chúng tôi cần có thời gian, chỉ trong vòng một vài ngày mà thôi.

Ở Hoa Thạnh Đốn , có nhiều người nói là sẽ di tản chừng 1 triệu người Việt Nam bằng cách chở họ bằng tàu thủy từ cảng Vũng Tàu. Như vậy sẽ có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ để bảo vệ cuộc hành quân đó? Phải tốn đến nhiều sư đoàn …. Các dân cử Mỹ thích con số chừng 200 ngàn người Việt Nam.

Người ta nói đến trường hợp ông đại sứ Martin. Trước khi đến gặp Tổng Thống Ford, hầu hết các nghị sĩ đều đã có đọc một tờ trình của hai ông Richard Moose và Charles Misner, hai người phụ tá của các đại biểu trong phái đoàn từ Việt Nam về. Theo đó thì ông Martin không bao giờ chấp nhận tính cách không thể đảo ngược của tình hình quân sự.

Từ Sài Gòn, đại sứ Hoa Kỳ theo dõi trận chiến ngay trên mặt trận ở Hoa Thạnh Đốn.

Với những ai muốn nghe thì ông sẳn sàng tố cáo ” những cái điếm đàng về ngân khoản của Quốc Hội” . Biết chắc là họ sẽ bỏ phiếu chống mọi viện trợ quân sự , ông Martin đề nghị với ông Kissinger là trong trường hợp đó, thì tốt hơn hết là tìm cách hoản cuộc bỏ phiếu đó lại . Chúng ta không nên làm mất tinh thần Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam, ta phải cho họ thời gian để quay trở lại. Cuối cùng Tổng ThốngThiệu cũng đã hiểu: ông đã cùng với Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng nghĩ ra một kế hoạch khác và một đường lối vận động khác để có thể đạt được viện trợ của Hoa Kỳ . Sài Gòn có thể xin vay Hoa Thạnh Đốn một số tiền chừng 3 tỷ mỹ kim, trả dài hạn trong 3 năm, có thể gia hạn trong 10 năm. Bắt đầu trả nợ từ năm 1985. Quốc Hội Mỹ sẽ ấn định lãi suất. Số nợ vay này sẽ được bảo đảm bằng tài nguyên nông nghiệp và đầu hỏa. Người ta có thể đặt tên rất kêu cho món tiền cho vay này là: “Món nợ vay cho Tự Do”. Cái tên này có vẻ quyến rũ được dư luận dân chúng Hoa Kỳ lắm đó!

Ông Nguyễn Tiến Hưng đưa ý kiến này cho ông Martin, để ông trao cho các chuyên viên kinh tế của ông nghiên cứu. Còn ông thì đi sang Hoa Thạnh Đốn hoạt động ngoài “hành lang” để vận động cho ý kiến “vay món nợ cho Tự Do” này. Qua điện thoại, hình như ông Martin không mấy chú tâm đến vấn đề này, ông Hưng chỉ nhớ thoáng qua một câu của Đại sứ:

-” Thật ra, Tổng Thống của ông sẽ từ nhiệm hay không?”

Trên phương diện quân sự , trong một công điện gởi cho ông Kissinger, ông Martin đã mô tả trân chiến ở Xuân Lộc nằm về phía Tây của Sài Gòn đang diễn tiến tốt đẹp. “Bắc Việt đã có hai ngàn chết và bị thương. Các tù binh còn rất trẻ, có một cán binh nói rằng anh ta được 14 tuổi…” Từ đó chúng tôi nghĩ rằng Hà Nội đã không còn trừ bị. …”

Đại sứ Martin vẫn còn tin tưởng:

  • “Tôi không tin rằng QLVNCH sẽ chịu cúi đầu.”

Cuối cùng rồi Chánh Phủ mới cũng được thành lập xong ở Sài Gòn . Ông Martin vẫn gởi công điện cho ông Kissinger nhiều lần mỗi ngày, lần này:

  • “Người ta không biết bây giờ thì cái gì sẽ xảy ra “

Ở Hoa Thạnh Đốn tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đã tạm thời chấp thuận một yêu cầu pháp chế khẩn cấp, cho phép Tổng Thống quyền được xử dụng quân đội cần thiết trong việc di tản người Mỹ và một số người Việt Nam. Các nghị sĩ bắt buộc ông Martin phải nhanh chóng rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nghị sĩ Charles Percy, Cộng Hòa, yêu cầu Tổng Thống Ford phải bảo đảm là mọi phi cơ lúc rời khỏi Sài Gòn đều không được có ghế nào trống. Tổng Thống Ford đã xác nhận với ông này rằng Kissinger đã có cho lệnh như thế rồi. Ông Martin nhận thấy là không khí ở thủ đô Hoa Kỳ xấu đến mức độ khó nói.

Ngoài những bài toán trực tiếp, cuộc truy tìm những người có trách nhiệm trong vấn đề tán loạn này cũng đã bắt đầu. Như thế là bộ máy dân chủ đang chạy..

Người ta có thể cho đi bao nhiêu người Việt Namđược ? và di tản bằng cách nào cho hợp với pháp lý của Hoa Kỳ? Người nào muốn rời khỏi nước Mỹ đều không cần phải xuất trình một tờ căn cước nào hết. Nhưng đi vào nước Mỹ thì khó lắm, vì còn phải xét đến luật lệ và cấp khoản di trú được tính cho người Việt Nam giống như những người khác. Bộ ngoại giao đã phải tranh đấu cho vấn đề này. Ngày 14 tháng 4, Bộ này đã cho Tòa Đại sư của mình ở Sài Gòn biết là họ chỉ được một vài nhượng bộ rất hạn chế. Một số người Việt Namnào đó chỉ được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với một “lời hứa danh dự” (on parole ). Đây không phải là lòng vị tha suông. Người ta muốn “loại bỏ” một trong những lý do đã thúc đẩy một số người Mỹ từ chối không muốn rời khỏi nước Việt Nam– sự hiện hữu của vợ con họ gốc người Việt Nam– Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ lo về vấn đề di trú đã định nghĩa các tiêu chuẩn như vậy.

Muốn di cư vào Hoa Kỳ thì phải:

1.- Được kết hôn chánh thức với một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ 2.- Là con của một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ)

3.- Là mẹ hay cha của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ một phụ nữ Việt Nam đã trở thành mẹ của một đứa trẻ Mỹ, qua kết hôn)

4.- Là Mẹ hay Cha của người phối ngẫu ngoại quốc của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ mẹ hay cha của một người phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ mà chưa trở thành nữ công dân Hoa Kỳ)

5.- Là một trẻ vị thành niên không do sự kết hôn của một phối ngẫu ngoại quốc (ví dụ con riêng của một phụ nữ Việt Nam đã có trước khi thành hôn với một công dân Hoa Kỳ)

Trước khi đi, mỗi người phải có những giấy tờ chứng minh mối liên hệ cha mẹ của mình. và người đó phải điền vào mẫu I-94.

Các công chức ở Hoa Thạnh Đốn có cảm tưởng là đã thiết lập những luật lệ rõ ràng, công bằng, và rất nhân đạo. Nhưng vô phước thay, ho không nghĩ tới những sự thật ở Việt Nam. Có một số dân sự người Mỹ như thợ, đốc công, kỹ sư … đến làm việc cho các hãng tư ở Việt Nam, những người phóng viên, nhiếp ảnh viên … đã sống không chánh thức từ lâu với các phụ nữ Việt Nam và đôi khi họ cũng đã có con với nhau. Có vài người trong số này chỉ giản dị là quên không kết hôn với nhau thôi. Các ông công chức ở Hoa Thạnh Đốn cứ tưởng đến gia đình người Mỹ thời nguyên tử, một chồng một vợ và một hay hai đứa con là cùng, hay họa hoằn còn thêm một hay hai ông bà. Các gia đình Việt Nam đến trình diện ở Tòa Lãnh sự thường có từ 15 đến 30 người ; có nhiều gia đình người Tàu lại Việt ở Chợ Lớn có đến những 50.

Nhờ Trời, tại Sài Gòn các công chức người Mỹ biết cách xử sự và mềm dẻo hơn. Trên các chuyến bay từ Tân Sơn Nhứt mỗi ngày, số ghế được hạn chế. Do đó khó mà quyết định được ai đi ai ở? Thật là đau khổ! Rất khó khăn trong việc chọn lọc, nhất là khi người Việt Nam nói với toà lãnh sự: Tùy các ông lựa chọn giùm đi!

Một viên chức có trách nhiệm trong vấn đề chọn lọc này là ông Ken Moorefield đã quyết định bất chấp hết luật lệ. Khi người ta không thể chấp nhận toàn thể một gia đình nào đó thì người ta đi từ nguyên tắc : đừng để ở lại Sài Gòn những ông bà già nào không còn một con trai hay con gái để lo phục vụ cho đời sống của họ.

Ngoài ra trên nguyên tắc, trước khi cho giấy phép xuất cảnh, tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ phải được biết chắc chắn là trước khi rời khỏi Việt Nam người đó có ở trong tình trạng hợp lệ đối với Chánh quyền Việt Nam hay không?. Được một thông hành không phải là một chuyện dễ, đó là chưa nói tới những thủ tục về tiền bạc. Người Mỹ vi phạm luật lệ Việt Nam một cách dễ dàng hơn là đối với luật lệ của Hoa Kỳ. Từ đầu tháng 4, tòa Lãnh sự Hoa Kỳ nhận hết các loại giấy xuất cảnh do Bộ Nội Vụ Việt Nam cấp, thường là giấy giả hay giấy mua được ở đâu đó. Để cho chạy việc, người ta hứa với một vài công chức hay thanh tra là sẽ cho di tản họ và cả gia đình họ, nếu họ tỏ ra biết chịu hợp tác. Vào thời điểm bình thường, ở tại Sài Gòn , ngay như người ta muốn thuê một công chức làm giấy tờ, thì cũng phải đợi đến nhiều tuần lễ hay có khi cả mấy tháng mới có được một giấy tờ chánh thức. Còn bây giờ thì có đến hàng chục ngàn người nộp đơn, thì làm sao mà hy vọng có được thông hành, chiếu khán xuất cảnh, giấy chứng nhận không thiếu thuế, giấy thông hành .. được cấp cho một cách nhanh chóng? Do vậy mới có “kỹ nghệ làm giả giấy tờ” và kỹ nghệ này đang nỡ rộ, với tất cả các loại cần thiết từ bản chữ in đến con dấu. Và người Mỹ ở Sài Gòn đã học được cách “không cần xét kỹ ” giấy tờ.

Tại Hoa Thạnh Đốn người ta nói đến con số 1 triệu người có khả năng di cư., Tổng Thống thì gợi lên con số hai trăm ngàn. Không có một chỉ thị chánh thức nào về “con số” được gởi đến cho tòa đại sứ ở Sài Gòn . Mãi cho đến ngày 26 tháng 4, người ta mới cho phép ông Martin chánh thức cho di tản hai mươi lăm ngàn người Việt Nam.

Bên cạnh con đường di tản chánh thức, lại có những hệ thống song song bán chánh thức được thiết lập, do các công ty, các sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, do Cơ Quan Trung Ương Tình Báo CIA hay những nhóm đặc biệt khác đứng ra tổ chức. Do đó có hai công chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao là Larry Johnstone và Lionel Rosenblatt, khoảng 30 tuổi, đang làm việc tại Hoa Thạnh Đốn sau thời gian phục vụ tại Sài Gòn , đã thấy khó chịu về sự chậm lụt hành chánh . Họ tự nghỉ phép và đến Sài Gòn bằng tiền túi của mình mà không báo cho cấp trên biết. Họ đến ở ngay khách sạn Caravelle, và sau đó họ đi thuê trong một căn phòng trống ở ngoài phố. Trong suốt 6 ngày liền họ ngủ rất ít, dùng thì giờ đi khắp Sài Gòn với một chiếc xe Citroen cũ hay với

chiếc xe buýt của hãng Pan Am. Họ nhận tất cả giấy tờ giả, rồi đến một vài chỗ hẹn bí mật trước Bưu Điện Sài Gòn hay Nhà Thờ Chánh Tòa để tập trung các người di tản. Ông Johnstone nói:

  • “Cũng hơi bậy, không theo đúng cung cách của Bộ Ngoại Giao

Cái khó chủ yếu là làm sao đưa những người hành khách lậu này vào phi trường. Cảnh Sát thì họ rất là nghiêm túc, các binh sĩ gát cũng vậy, ngay như đề nghị cho họ tiền cũng vậy. Một vài người chui vào thùng xe Citroen. Ông Rosenblatt giao dịch với ông Jim Eckes thuộc Dịch Vụ hàng không Continental. Nhờ đó hai ông Johnstone và Rosenblatt đã di tản được 200 người Việt Nam, trong số đó có 20 anh trai trẻ mà theo lời của hai ông công chức cao cấp người Mỹ này thì họ sẽ gặp khó khăn to lớn khi bị rơi vào tay của quân cộng sản Bắc Việt.

Trong khi đó thì tu sĩ Thích thiện Huệ đã quyết định là dù có xảy ra điều gì thì ông cũng vẫn ở lại Sài Gòn trong ngôi chùa của ông. Người anh cả của ông là một thiếu úy thường giải các tù binh Bắc Việt bị bắt ở Xuân Lộc về Sài Gòn . Viên thiếu úy này mỗi lần về Sài Gòn đều có khuyên cha mẹ anh nên rời khỏi Việt Nam. Còn cha mẹ anh thì lại khuyên anh nên đào ngũ. Anh đã từ chối. Anh đã thuật cho em của anh nghe về trận chiến ở Xuân Lộc:

  • “Khi bộ đội cộng sản vào thành phố Xuân Lộc lần đầu tiên, có một vài thương binh của chúng ta đã đứng lên để nguyên cả túi thuốc cùng băng ni lông trên bụng, và rảo bước đi rất tự nhiên..

Thiếu úy này có cảm tưởng là Bắc Việt đã có một số đạn pháo vô giới hạn.

Một vài vị dân biểu của Quốc Hội VNCH thường lui tới với các Thầy trong chùa, đã đoan chắc là Hoa Thạnh Đốn và Bắc Kinh đã thỏa thuận với nhau để thiết lập một vùng trái độn do CPLTCHMN kiểm soát. Do vậy mới có chuyện các đơn vị của Miền Nam Việt Nam được lệnh rút đi. Lại có nhiều chuyện phịa mới được tung ra ở thủ đô như: ở Hà Nội đã có đảo chánh và tướng Võ nguyên Giáp đã bị giết, các sư đoàn Bắc Việt đang rút về Miền Bắc để chống lại quân Trung Cộng đang tấn công vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tất cả mọi chuyện đang xảy ra, kể cả trận chiến ở Xuân Lộc, đều nằm trong một kế hoạch chung rất là phức tạp, hết sức tinh tế, do Trung Quốc và Hoa Kỳ xếp đặt, hay do Liên Xô và Hoa Kỳ, hay do Bắc Việt và Hoa Kỳ dàn dựng……

Cộng đồng người Âu Châu và Hoa Kỳ thường lui tới Câu lạc bộ thể thao, nơi được mọi người được yêu cầu nên giữ đúng nội quy: không được mặc áo lá lúc đi dạo, trừ ra ở bên hồ bơi, và lúc nào cũng phải mang giầy bố trắng trên các sân tơ nít. Có người thì đi dạo, tản bộ chậm chậm gần các cây me to, có người thì chơi một ván “boule” .. Các bà thì vắng đi nhiều rồi kể từ vài tuần nay. các anh bồi mang rượu mạnh hay nước ngọt ra cho khách, thường mặc đồ trắng. Thỉnh thoảng có một chú cầm chuông rung lên và báo cáo:

  • Ông Hiền có điện thoại hay là
  • Ông Polgar
  • Ông Brochand …

Có một bầu không khí vui chơi giả tạo để dấu kín một sự lo âu thật sự…. Mấy người Mỹ, người Đức, người Pháp và người Úc trao đổi với nhau những tin tức sau cùng hay những chuyệntầm phào thuở xa xưa, họ đọc báo… Có đôi lúc người ta cười đùa rất thoái mái: ông Ed Daly, chủ tịch hãng hàng không Word Airways, đã gọi các nhà báo đến căn phòng ở khách sạn của ông tại Đông Kinh (Nhật Bản) và đọc cho họ nghe một công điện gởi cho Tổng Thống Ford. Ông Daly đã gởi tới Sài Gòn một chiếc phi cơ DC-8 và một chiếc Boeing 727 để giúp chở người tỵ nạn. Nhưng không một người nào được phép bước lên hai chiếc phi cơ đó, do vậy chúng phải bay trở về Đông Kinh, trống rỗng! Ông Daly đoan chắc là tòa đại sứ Mỹ muốn bắn hạ các phi cơ nào của mình muốn cất cánh, nhưng tòa đại sứ đã đính chánh. Người ta không biết liệu Tổng Thống Ford có đọc được bức công điện này của ông Daly hay không:

  • “Hãy ngăn mấy thắng nhơn viên CIA ngu ngốc của ông lại đi . Hãy đưa vào đây một vài người trung thành và thật sự tận tụy với công việc. Với tư cách cá nhân và của một người chuyên nghiệp đã đóng thuế quá nhiều cho ông, tôi có quyền nói lên một dư luận. Chúng ta hãy làm việc nhanh đi.”

Cơ quan ở Sài Gòn có thể thấy khó chịu vì những lời lẽ trên đây, nhưng với bản chất bình dị, ông Daly đã nói lên một sự thật: Vì muốn tránh tình trạng hoảng loạn nên ông Graham Martin phải kềm hãm sự di tản.

Gần Câu lạc bộ thể thao, trên các bãi cỏ trong Dinh Độc Lập, binh sĩ bố trí các đại bác phòng không, đào phòng tuyến, dựng lên vị trí phòng thủ bằng bao cát và đặt các khẩu liên thanh nặng. Không biết để phòng chống bộ đội Bắc Việt nếu họ tới đây, hay để đề phòng những đơn vị khác của Miền Nam, phản loạn, trong trường hợp có đảo chánh?

Từ trong dinh Độc Lập phát ra những lời tuyên bố chung chung, như những câu thần chú.. Tổng Thống tuyên bố là Chánh Phủ mới, vừa được thành lập có đầy thiện chí để sẵn sàng thương thuyết với cộng sản . Nhưng Chánh Phủ “sẽ không đầu hàng” Tổng Thống ước mong là phái đoàn cộng sản ở La Celle-Saint-Cloud sẽ trở lại bàn hội nghị để thành lập Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia.

Nội các mới phần lớn gồm có những người dân sự được ông Thủ Tướng Nguyễn bá Cẩn chọn lựa. Trong hàng Tổng trưởng, người ta thấy có nghị sĩ Tôn thất Niệm, một người phật tử ôn hòa. Những người dân sự trong Chánh Phủ nói thẳng ra rằng họ không tin tưởng vào giải pháp quân sự nữa, và cũng như hầu hết đồng bào của mình họ đã quá mệt mỏi với chiến tranh rồi. Nhiều người muốn Tổng Thống Thiệu nên từ nhiệm, nhưng họ không dám nói thẳng với ông .Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc Phòng là người rất năng nỗ. Với sự chấp thuận của Tổng Thống, ông ta đã phạt tù một vài sĩ quan cao cấp và tướng lãnh, trong đó có tướng Phú.

Ông Đôn, người đã cho rằng ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc với CPLTCHMN, đã chuẩn bị một chương trình hành động: ông sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống VNCH và trong 48 tiếng đồng hồ ông sẽ cho lệnh ngừng bắn. Sau đó ông sẽ thành lập một Chánh Phủ mới. Để đáp lại CPLTCHMN sẽ bảo đảm an toàn cho người Mỹ ở Sài Gòn. Trừ một toán nhỏ ở tòa đại sứ, còn bao nhiêu đều phải được di tản hết. Sau một thời gian xử lý, CPLTCHMN sẽ kiểm soát thủ đô. Ông không làm gì để ngăn cản bất cứ người Việt Namnào muốn ra đi. Ông sẽ cho chiếu khán xuất cảnh dễ dàng. Ai cũng biết là họ sẽ xin ở đâu rồi, ở Huế, ở Đà Nẵng và ở Sài Gòn. Như thế là vừa được thành lập là Chánh Phủ đã lấy khoảng cách với Tổng Thống Thiệu rồi. Trong một cố gắng cuối cùng, để đo thử dư luận dân chúng và giới dân cử Hoa Kỳ , ông Thiệu cho phổ biến một bức thơ của Tổng Thống Nixon, bức thư đề ngày 23 tháng giêng 1973 đã gây náo động cả thủ đô Hoa Thạnh Đốn . Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra lệnh cho đại sứ Martin nhấn mạnh là một bức thư không phải trở thành một hiệp ước được. Ông Thiệu không thấy được là việc gợi lên cái tên Nixon không thôi đã là một sự vụng về rồi, kể cả trong giới dân cử hay cử tri của đảng Cộng Hòa.

Tổng Thống Thiệu kêu gọi mọi người phải chiến đấu, để chuẩn bị cho một cuộc phản công, để ổn định cả ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến. Để góp phần vào nỗ lực chiến tranh, tòa thị chính Sài Gòn ấn định một số luật lệ mới nhắm vào vấn đề di chuyển: không còn nghi ngờ gì nữa để tránh những cuộc ám sát : tốc độ tối đa cho xe đạp được ấn định là 15 cây số / giờ, cho mô tô, xe vận tải và xe buýt là 25 cây số / giờ, và cho xe du lịch, xe xì cút tơ là 40 cây số / giờ. Nếu có còi báo động thì “dân chúng không nên hốt hoảng”

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 6 Feb 2026

Cái nón sắt của anh

Phần 2 – Phân đoạn 4

Chân dung cần phải viết lại

Dẫn Nhập.

Người cộng sản không phải hên may nên đoạt thắng. Chúng ta, những người lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa không hề thua vì kém chiến đấu. Chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân vượt khỏi trách nhiệm người lính, quá xa tầm súng và sức chịu đựng của chiếc lưng. Chiếc lưng mang khối nặng ba-lô đã khởi đi từ một thuở rất lâu, những năm sau Thế chiến thứ Hai, khi trên thế giới, toàn loài người đang cố gắng chữa trị vết thương, xóa bỏ dấu ấn sự chết. Từ thời điểm đáng ghi nhớ và cũng đáng nguyền rủa đó, dân tộc Việt Nam, toàn thể những con người sống trên vùng đất chữ “S” vùng Đông – Nam Châu Á bị đẩy vào vũng lửa của một cuộc chiến tranh bị hạ nhục, mạ ly, vu khống và không cân sức.

Cho dù tất cả các cuộc chiến tranh đều có chung yếu tính Sự Ác và Hủy Diệt, nhưng đây là một trong những cuộc chiến tồi tệ nhất của dòng sống con người. Cuộc chiến vô ích, dai dẳng, khắc nghiệt nhất của lịch sử dân Việt. Người lính Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất.

Gần hai mươi năm sau khi cuộc chiến kia chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu. Trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lồ của khắp miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom miểng đạn, vẫn hằng hằng những người tóc ngả màu mệt nhọc cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh hoen rỉ bên trên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn. Nơi Nghĩa trang Quân đội Long Bình lũ chó hoang kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản làm nhiệm vụ khai thác đá và chăn nuôi vùng Tăng Nhơn Phú. Người lính và các con họ vẫn là đám “ngụy tiện dân” bị xếp hạng thứ “13” của phân chia thành phần giai cấp, chỉ trên đứa trộm cắp, giết người lãnh án tù chung thân khổ sai, loại cùng đinh xã hội.

Và cuối cùng, ở đây, nơi xứ người, trên đất Mỹ, “những người đi theo diện H.O” đã nên thành một giai cấp, một cộng đồng trong lòng một cộng đồng. Một tổng số của tập hợp bị xem nhẹ và coi thường. Chân dung người lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay chúng ta cần viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.

1. Chiến đấu giữa bóng tối

Một cuộc biên chế toàn trại bắt đầu từ 7 giờ sáng. Đến trưa, năm trăm người thuộc thành phần sĩ quan từ Đại, Trung tá đến Đại úy được xếp theo 13 đội vào từng khu riêng biệt; một khu gồm hai căn nhà lớn liền nhau, mỗi nhà chứa hai đội khoảng bảy, tám chục người. Sân trại giam chỉ còn lại mình Nhân với đám cán bộ công an vây quanh, những khuôn mặt lạnh lùng cẩn mật. Mang đồ ra phòng trực trại ở cổng! Tại đây một màn lục soát sơ khởi tiến hành. Bắc, gã cán bộ an ninh nhân lực, người quyết định sinh mạng chính trị và cả đời sống của toàn thể tù nhân, chỉ huy cán bộ trực trại và gã phụ tá, đồng thời cũng tự tay thực hiện việc khám xét. Ba người, sáu bàn tay, sáu con mắt đồng mân mê từng lai quần, đổ tung những lon guigoz đựng đường, bột. Không khó khăn, họ tịch thu ngay cuốn nhật ký Nhân viết từ ngày vào trại Long Giao, tháng 6, 1975. Còn gì nữa không? Bắc khép mở cánh môi màu gạch nung, lớp da xác chết, hàm răng kín khít, con mắt chó đá nhìn anh không chớp. Nhân lắc đầu, quả tình anh nói không được, cổ họng đóng khô …

Anh nhìn bàn tay (không phân biệt mặt người) xé tấm bìa cuốn nhật ký; hình vẽ khuôn mặt con trai anh bị ném tung từng mảnh … Anh đưa mắt nhìn theo những mảnh vụn. Bắc biết ý. Y dẫm chân lên, đế dép lốp xe hơi chà xát giày xéo. Y nhìn vào mắt anh lạnh và ngắn … Mang một chăn, một chiếu, một bát, một cóng vào phòng kỹ luật! Vâng! Nhân long cóng ôm gói đồ lếch thếch theo hai người, kẻ thứ ba đi sau anh.

Phòng kỷ luật ở về phía cực phải cuối trại giam; khi sắp bước chân qua ngạch cửa dẫn vào khu kỷ luật, Nhân có ý định chạy về khu nhà phía trái, nơi có cánh cửa khép hờ dẫn vào đội những người già, yếu, bệnh hoạn. Nhưng anh bỏ ngay ý nghĩ. Bởi nếu muốn thế, anh phải chạy vào khu nhà ở thuộc đội những người khoẻ mạnh, gan góc (như đội cũ của anh trước cuộc biên chế sáng nay). Bây giờ, những người bạn trẻ kia đã bị chia tan tác qua những đội mới; còn đội già yếu này, đa số, nếu không nói hầu hết đều là những người lớn tuổi an phận, nếu có những người trẻ tuổi thì cũng chỉ những người vốn đau yếu. Họ đã không mang vác nổi cảnh khốn cùng của bản thân lấy đâu sức mạnh thể chất, cứng cỏi tinh thần để che chở cho anh. Vô ích thôi! Nhân bước chân vào khu kỷ luật với ý nghĩ cùng đành buông xuôi. Bắc trở mặt ngay. Để đồ xuống! Đứng nghiêm! Y lấy trong túi ra tờ giấy viết sẵn, chẳng cần nhìn vào, y đọc nhanh, vẻ chán chường, bất đắc dĩ phải làm công việc vô ích, phiền toái.

“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Bộ nội vụ, trại cải tạo số 5 quyết định tên Phạm Trung Nhân, sinh 1943 tại Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng trị can tội ngụy quân, án phạt tập trung cải tạo. Quá trình cải tạo không chuyển biến tốt, biểu hiện phản động sai trải qua hành động tổ chức phá rối an ninh trật tự trại giam ngày 13 tháng 2, 1979. Xét bốn tiêu chuẩn của trại cải tạo và để duy trì an ninh kỹ luật trại giam, nay quyết định. Phạt kiên giam tên Nhân từ 21 tháng 2 cho đến khi có biểu hiện tiến bộ. Đồng chí Bùi Dù, cán bộ trực trại thi hành”.

Cởi đồ ra! Bắc nôn nóng. Cách nóng nảy của con thú chờ mồi quá lâu. Cát, tên phụ tá chuẩn bị ra đòn, dù có vẻ bình tĩnh và quen công việc, khôn Ngoan giấu đi phản ứng. Thôi xong rồi! Nhân tự nhủ, cổ họng đắng như nuốt phải cục vôi khô. Người anh trống không nhẹ tênh. Bắc chú ý đến cái áo khoát ni-lông từ khi anh bỏ ra, lưng áo nổi cộm lộ liễu. Y đặt tay lớp lót bằng vải bao cát mà Nhân đã khâu vào thành lớp dày chống rét. A! Bắc không ngăn được vẻ khoái trá khi bóp được lớp giấy lot giữa hai tầng áo. Xoẹt! Y xé lớp vải bao cát không nương tay. Rồi! Nhân kêu lên tiếng nhỏ, xem như đã đứng trước một dãy nòng súng …

Tập thơ năm trăm bài làm từ ngày đi tù, bút ký ghi sự việc, cảm xúc từ Nam ra Bắc và cuốn dàn bài chi tiết về bộ trường thiên tiểu thuyết dự tính từ bao năm nay. Xong rồi! Nhân không còn gì phải gìn giữ và lo sợ. Mọi sự coi như đã kết thúc! Bắc không phải lật với một tay mà cả hai tay hối hả … Đây là những cái mà y đã truy lùng từ bao lâu, từ tháng 10 năm ngoái khi Nhân bắt đầu viết những tập bản thảo kia. Khuôn mặt Bắc cau lại, y không đọc ra được … (vì chữ viết bằng bút chì quá nhỏ chen lẫn giữa hai hàng chữ mực tím của bản thảo tài liệu dịch cho bộ Quốc phòng từ những năm trước mà Nhân đã lưu giữ sau bao đợt chuyển trại).

Trong dự kiến, theo báo cáo của những tên ăng-ten (những gã tù chỉ điểm trong tập thể sĩ quan cải tạo), Bắc nghĩ rằng Nhân đã có những lời đả kích lộ liễu đối với chế độ, chủ nghĩa cộng sản, chính sách giam giữ của các trại tù. Thế nhưng ở đây lại là …“Luyện Ngục Rực Lửa; Đá Nát Vàng Phai … “. Bắc không hiểu được, suy diễn ra … Cho vô cùm, mai đưa ra sân trại, đánh tàn phế một cơ quan trước tập thể … Tính sau! Cửa vào phòng kỷ luật mở ra, Nhân bước vào. Cửa đóng lại. Phòng chìm bóng tối, im lặng, ẩm mốc, không khí, cảnh sắc của sự chết, nhà mồ. Thêm một cửa nữa được mở, cửa cuối cùng, và anh bước vào căn phòng, đúng hơn một cái hộp, dài hai thước, rộng khoảng một thước, cao ba thước, chiếc bệ đất tráng lớp xi-măng, phần cuối có thanh sắt chắn ngang bên trên lủng lằng hai vòng cùm hình chữ U.

Nhân đút chân vào cùm, nằm xuống. Trời tháng 2 lạnh cóng, căn phòng sũng ướt như một hầm nước đá. Không có vật gối đầu, Nhân định cởi cái áo mưa ngắn làm gối nhưng lưng không chịu nổi lạnh, bèn dùng gà-men lính gối đầu lên. Bây giờ mới hiểu tại sao Kinh Thánh có câu: “Con Người không có chỗ gối đầu ... “. Tình trạng này đây! Hoá ra cũng đã có người trải qua những giây phút này mà là Con Người – Thiên Chúa. Nhân nằm như thế bao lâu, không biết trời bên ngoài sương mù hay ửng nắng, trưa, chiều, tối, khoảng mấy giờ … Chỉ bóng tối mờ mờ lầy lầy, lạnh tanh và im lặng. Hình như chung quanh có âm động, tiếng nói nào đó … thoảng nghe xa … từ xa dội lại. Đầu và chân mình ở hướng nào? Nhân cố gắng xác định nhưng vô hiệu. Những cơn mê ngắn nối tiếp giấc ngủ chập chờn và khoảng thức tỉnh ngây ngây.

Thân thể rất lạnh, cái lạnh dị thường từ thời tiết bên ngoài, lạnh giữa bốn bức tường thẫm tối và bên trong từ gan ruột, dưới lớp da. Lạnh khiếp sợ của thần kinh bị tê liệt, tổn thương, nhưng bên ngoài da thịt hầm hập nóng như lên cơn sốt, hai hàm răng dẫu nghiến chặt vẫn đập cầm cập vào nhau. Thôi, tất cả đã hết … Vậy ta cho xong luôn! Nhân quyết định đời sống bản thân ở bước chót – Nhịn đói để chết. Bởi lẽ, nếu chỉ mỗi việc tổ chức tuyệt thực trong ngày 13 vừa rồi cũng đã phải chịu hình phạt tối đa, vì đây là trại tù Trung ương miền Bắc, hậu thân Lý Bá Sơ thiết lập và nổi danh từ năm 1945 về thành tích giam giữ, sát hại tù chính trị, lúc cộng sản chỉ là tổ chức sơ khai, còn ẩn danh dưới chiêu bài Mặt trận Việt Minh; Việt Nam độc lập đồng minh hội để tranh thủ sự yểm trợ phía đồng minh Mỹ, Anh, Tàu và cả Pháp.

Từ 1945 đến nay, 1979, hơn ba mươi năm dựng thành tích trên thân phận và sinh mạng người tù, trại 5 Lam Sơn ắt sẽ không nưong tay. Thêm ngàn trang bản thảo … Chỉ còn đường chết thôi! Lê Đức Thịnh chỉ vì mỗi câu “anh không chịu bó tay … “. Câu nói vô thưởng vô phạt trong lá thư gởi vợ cũng đủ nát thân nơi pháp trường trại Long Giao. Nhân quyết định cho mình ân huệ tự do tội nghiệp cuối cùng nầy. Việc nhịn ăn quả tình không khó lắm khi đã qua hai, ba, ngày đầu. Những ngày sau Nhân chỉ có cảm giác trống rỗng, người như bay bềnh bồng giữa khoảng không. Nhiệt lượng trong người bốc ra hừng hực để giữ thân nhiệt ở mức cần thiết, chống chỏi, vượt qua cái lạnh kỳ dị. Anh chìm dần vào cơn mê mờ nhạt lãng đãng, nhưng hình như các giác quan tinh tế, sắc sảo hơn.

Và trong trạng thái tỉnh thức bất định này anh nghe vang dội chuỗi âm động từ bên ngoài nhưng cũng bên trong vang lên. Tiếng động bàn chân người giậm mạnh lên bệ nắm theo nhịp đi … Bảo vệ làng thôn quân lực Việt Nam Cộng hòa … Nhân dân chờ mong, không nề hiểm nguy …Nhịp hát một lúc một phấn khởi, người hát như đang được thôi thúc bởi một nguồn sinh lực mạnh mẽ, tuy âm lượng không giấu nét mệt mỏi, cằn cỗi, tắc nghẹn ở những nốt cao, ngân. Và như để bù trừ cho phần khuyết điểm này, người hát chuyển qua hành khúc quen thuộc “Đường trường xa ta quyết đi cho đến cùng. Đoàn hùng binh say sưa trong gió reo vang . “. Đến điệp khúc “Muôn đời Lục quân Việt Nam … ” thì lời hát đã nên thành tiếng thét vang dội và không chỉ với bàn chân giậm trên bệ nằm mà nắm tay hình như đang sử dụng để đập vào vách tường thay nhịp trống, chêm giữa âm sắc khắc nghiệt của chiếc cùm chạm lanh canh lên thanh sắt chắn ngang … Chào cờ! Nghiêm! Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi ... Tiếng hát vang vang tràn vỡ căn phòng trùm bóng tối. Người hát hình như đang tận dụng hết sức lực của cánh tay, bàn chân không bị cùm để nâng cao, đẩy mạnh lên lời hát hào hùng phơi phới. Thanh âm, ngôn ngữ đã một lần vọng dội sông núi miền Nam. Những bàn chân rất đông người chạy vào rần rật (hình như đã chuẩn bị sẵn cho tình thế), cửa vào phòng kỷ luật bị tống mạnh, ánh sáng lùa vào …Những người tù đồng bật dậy, sắt cùm kéo lê xoen xoét, cánh cửa các buồng giam lay động … Hình như toàn phòng sẵn chờ đợi diễn tiến sắp xảy ra … Ầm …ầm … Một cánh cửa nào đó bị mở tung và âm động xương của xương thịt người trong cơn cấu xé, dầm dập … Đéo mẹ cho mày còn hát được không nào …

Đánh cho chừa thói phản động đi …Chen trong tiếng chửi và chuỗi đòn thù Nhân nghe lời thét gào đứt khúc … Các ông hèn … hèn lắm!! Hèn là thế nào … Mày trả lời đi … Đánh người đang bị cùm thì giỏi giang gì, đánh thẳng già đang bị cùm thì lại hèn hơn … Tại mày già nhưng còn chống đối, mày ngu thì phải dạy cho mày khôn ra. Tiếng cười nhạt … Ai dạy ai, mấy mươi năm các ông biết đã dạy đưọc ai không rồi chứ? Mày câm mồm đi … Ông lại cho thêm một trận nữa bây giờ. Nếu ông đánh tôi chết được thì nên đánh bằng không vô ích thôi. Giọng trả lời tỉnh như không. Được, ngày mai mày trả lời với “ban” (Ban giám thị trại giam).

Cửa phòng đóng lại, bóng tối chụp xuống. Nhân biết được trời đang trong buổi trưa nhờ liếc bóng nắng đổ chéo qua ngạch cửa. Một thế giới với những con người kỳ lạ, không thấy mặt, có thật ở đây.

2. Tưởng như là không thật.

Trong ngây ngây do sau mấy ngày nhịn ăn, loạt âm động của trận đòn, lời đối đáp … Tất cả như cơn say trầm trầm đẩy Nhân xuống vũng tối mờ mờ của môi trường không thật. Cũng có vẻ như không thật những lời đối đáp mạnh mẽ anh vừa nghe được kia. Trong một lúc, anh nghĩ hoàn cảnh của mình cũng  chỉ là thoáng mong manh. Anh chờ đợi điều sắp xảyra như có dự phần trực tiếp trách nhiệm ….Vâng, thưa Ban … chỗ này. Dạ, phòng này. Tiếng mở cửa phòng, chiếc cùm kéo lê. Rút chân ra! Bước chân nhiều người di chuyển ngoài hành lang, tiếng nói loáng thoáng … Đỡ hộ cho anh ý … Không, tôi có thể đi được. Âm lượng yếu ớt nhưng sắc gọn, cứng cỏi. Đưa … đưa anh ấy đến đây, chỗ sáng này. Hôm nay, ban giám thị đến tham quan phòng kỷ luật để cải tiến chế độ sinh hoạt của anh em trại viên và điều nghiên đề xuất của những người có vấn đề …

Người cán bộ trực trại lên tiếng trước. Anh là anh Thành? Một người nào đó hỏi chậm rãi; giọng người vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh nghiêm nhặt khô khan. Anh có khoẻ không? Không có tiếng trả lời. Anh có nhận được thư nhà không? Cũng không người trả lời. Im lặng một lúc. Thôi, anh vào nghỉ … Đưa anh ấy vào đi. Tiếng chân đi chậm, bước ngắn. Cửa phòng đóng lại, ổ khoá, thanh cùm lọc xọc, kéo lê.

Rầm! Thanh sắt cùm được kéo về phía cực trái, chiếc cùm hình móng ngựa tự động rời khỏi cổ chân, tiếng khô lạnh. Nhân chưa xác định được tình thế, cửa phòng vụt mở, anh chống tay ngồi dậy ngơ ngác …

Anh đi ra, Ban giám thị đến tham quan. Nhân được dẫn đến trước người đàn ông dáng thấp đậm, mặc áo quần đại cán may theo lối lính Tàu, cổ cao, bốn túi; chiếc nón cối hơi rộng che sụp ngang tầm mắt. Nhân nghiêng đầu, khẽ nhắm mắt, ánh nắng dẫu chỉ đổ ngoài hàng hiên cũng đủ gây chói chang, người anh trống trải lao đao … Anh có khoẻ không? Nhân chưa kịp trả lời. Anh có nhận được thư gia đình không? Nhân nghe chưa hết câu. Thôi, anh vào nghỉ nhá …

Còn mấy phòng nữa? Nhân không biết câu hỏi nhắm đến ai giữa đám người hỗn độn, nhưng anh vẫn trả lời theo phản ứng không định trước … Vâng … vâng … Khi Nhân nằm lại trên chiếc bệ, tiếp quen bóng tối, anh nghe mơ hồ những cửa phòng nào đó được mở và giọng nói đều đều … Anh có nhận được thư nhà không … Hình như câu hỏi có khác một từ nào đó khi hỏi với anh. Anh cố nhớ nhưng quá mệt mỏi nên không tìm ra. Và khi cánh cửa chính căn nhà kỷ luật đóng lại, Nhân nghe từ phòng anh Thành câu chuyện vang rõ giữa bóng tối.

– Anh Thành! Bắc, gã cán bộ an ninh nhân lực lên tiếng.

– Tôi nghe cán bộ. Anh Thành nói tiếng nhỏ nhưng chắc, gọn.

– Anh hãy phát biểu về việc thăm hỏi vừa rồi của Ban giám thị.

– Tôi chẳng có gì phát biếu cả.

– Ban xuống đây là do đề xuất của anh mà, anh không thấy Ban đã hỏi anh trước sao, trong khi mấy người kia cấp bực, chức vụ người ta hơn anh xa.

– Tôi với họ khác nhau, không ai giống ai!

– Khác nhau là thế nào, các anh tất cả là ngụy quân, ngụy quyền.

– Ngụy thế nào được. Năm 1973, trong danh sách trao trả theo Hiệp-định Paris chúng tôi là “nhân viên quân sự của Việt Nam Cộng Hòa” bị bắt giữ. Các ông đã dối trá giữ lại không trả …

– Đó là do các anh tự gọi lên như thế, các anh là những người có nợ máu với nhân dân được Đảng và nhà nước khoan hồng không giết là may còn đòi trao với trả … Ai gọi các anh như thế đâu?!

– Người các ông gọi nên như thế, cả phe cộng sản các ông gọi nên như thế. Không những thế, các ông còn phát cho chúng tôi quần áo, đưa về Hà Nội để chuẩn bị trao trả … Trả mà như thế này đây!! Tiếng cùm lay lục cục …

– Tại vì anh chống đối không chịu học tập cải tạo nên chúng tôi phải áp dụng biện pháp kỷ luật để duy trì an ninh trật tự trại giam. Anh xem ngoài trại đấy, tướng, tá, tổng, bộ trưởng tất cả có đủ, chúng tôi có cần nhốt ai đâu. Hừ, chúng tôi đánh người chạy đi không đánh người chạy lại, những người thất trận đầu hàng …

Có tiếng cười nhạt.

– Cán bộ nói không đúng. Họ thất trận đầu hàng ở đâu tôi không biết. Tôi, tôi không thất trận, không đầu hàng … Chúng tôi nhảy xuống đất các ông, giật cầu, đặt mìn phá hoại. Các ông tập trung cả ba làng, một Tiểu đoàn lính đánh một toán chúng tôi. Đuổi tôi chạy hai đêm một ngày … Tôi, tôi bắn hết đạn, mới bị bắt. Tôi không thất trận, không đầu hàng. Tôi không đầu hàng ai cả. Gần mười thằng nhào vào một lúc, tôi không đánh lại được. Tôi bị bắt, tôi không đầu hàng. Giọng nói chắc nịch, dứt khoát, đôi khi hân hoan hãnh diện chen trong tiếng thở dồn dập kích động …

– Không đầu hàng mà cả lũ, cả bọn buông súng theo lệnh Dương Văn Minh, chạy được thì như Nguyễn Văn Thiệu, còn tất cả vào đây một dọc, mấy thằng chỉ huy của anh chúng tôi cũng không coi ra gì chứ đừng nói cỡ như anh, một thẳng biệt kích!

Thành cao giọng …

– Phải, tôi chỉ là binh nhì biệt kích, nhưng tôi không hề đầu hàng, tôi không cần biết Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu nào cả, Trưởng toán chúng tôi là Thiếu úy Đặng Ngọc Khiết bị các ông đem ra bắn ở chợ Ninh Bình, tôi không người chỉ huy, bắn hết đạn, bị bắt. Thành dứt khoát kết luận. Hình như yếu tố “đầu hàng” là một xúc phạm lớn, anh nhất mực chối từ.

– Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu là mấy thằng đầu sỏ, lãnh đạo các anh, sao anh lại không biết?!

Thành cắt ngang:

– Người lãnh đạo chúng tôi, miền Nam là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, không phải là những người ông vừa kể và chuyện họ đầu hàng, bỏ chạy quả thật tôi không biết. Các ông cùm tôi suốt bao nhiêu năm nay, tôi làm sao biết được cái gì?

Câu chuyện chấm dứt ở đây với yếu tố cụ thể nầy. Khi đóng cửa phòng Thành, Bắc lẩm bẩm … Đồ ngoan cố, phản động, cùm mục xương cũng không tởn. Nhân theo dõi câu chuyện với ngây ngây xúc động. Có thật không sức chiến đấu của con người giữa trùng vây đơn độc, bóng tối và sự chết. Có thật không sự xếp đặt kỳ lạ của Thượng Đế trong hành trình nguy nan của người. Bởi vì qua câu chuyện kia, Nhân đã nghe rõ đến tên một người. Một người bạn. Một bạn thân, rất thân. Đã từ lâu. Anh đặt bàn chân không cùm xuống đất, ghé mặt sát khe cửa. Một khoảng nền xám của căn phòng. Toàn thể thế giới còn lại, thấy được của anh. Nhưng anh không hề tuyệt vọng, bởi bên kia, cách mấy bước, sau cánh cửa đóng kín có một con người, một sự sống bền bỉ, một sức mạnh chiến đấu.

Một binh nhì biệt kích quân, người lính không có số quân của một quân đội đã bị đánh bại, bị hạ nhục. Nhân gọi nhỏ … Thành … anh … anh Thành ..cho tôi hỏi … Và câu chuyện được ráp nối theo từng chi tiết …

Toán biệt kích gồm tám người, Thiếu úy Đặng Ngọc Khiết, sĩ quan Khoa 17 trường Võ Bị Đà Lạt. Trưởng toán, có nhiệm vụ phá hoại đoạn đường đèo Tam Điệp, Nam tỉnh Ninh Bình, gây rối, chận bít tuyến giao thông, chuyển quân, khí cụ, đạn dược Bắc – Nam của quân đội Hà Nội. Toán quân không được may mắn, chiếc C47 vừa vào vùng, bị lộ ngay mục tiêu, một giàn đạn phòng không đan kín, viên phi công người Mỹ bắt buộc phải đáp khẩn cấp sau khi thả được toán dù.

– Thế người phi công có được cứu thoát không?

Nhân cắt ngang lời kể.

– Không, lúc ấy phương tiện cấp cứu còn ít, hơn nữa các phi vụ bí mật này coi như là hoạt động chiến tranh không quy ước, phi công mặc đồ dân sự, máy bay không số đuôi; máy bay của Air America không phải không lực Mỹ.

– Toán anh bị bắt hết ngay à?

– Không rõ, xuống đến đất phải tự cá nhân chiến đấu, chúng tôi vừa chống cự vừa chạy ra hướng biển, không biết những người kia thế nào, riêng tôi chạy đến hai ngày sau mới bị bắt. Nó dùng đến cả chục con chó kiếm tôi … Cả người lẫn chó nó bâu tôi như đỉa.

– Sau đó anh có gặp Khiết không?

– Không, nó giết liền mà … Nó họp tòa án nhân dân xong đem ra bắn tại trung tâm thị xã Ninh Bình.

Tiên sư, nó đưa cả vạn, triệu người vào Nam thì bảo là đi giải phóng, mình chỉ mới nhảy dù xuống đã mắc tội máu với nhân dân … Nhân dân nào?! Mười năm sau ở Ninh Bình vẫn còn nhắc đến vụ bắn anh Khiết.

– Tại sao?

– Thiếu úy chửi chúng nó thẳng mặt. Họ tưởng khi bắt “học tập” vụ bắn anh Khiết sẽ làm chúng tôi sợ hãi. Đâu phải thế, chúng tôi khi bước lên máy bay là coi như đã chết, cho dù sống sót trở về, cũng phải thay hình đổi họ. Nhảy xuống đất Bắc, hoàn tất công tác tức là trả đủ nợ cho đất nước, miền Nam … Chúng tôi còn điều gì phải hối tiếc hay sợ hãi. Tôi còn có mối thù của bố tôi bị đấu tố chết năm Năm Mươi Ba. Tiếc là không nổ được cái phủ chủ tịch của chúng thôi.

– Thế anh bị kiên giam từ năm nào?

– Từ 1964, có khi giam, khi cho đi lao động, nhưng từ 1972, khi Mỹ dội bom Hải Phòng, Hà Nội thì nó nhốt tôi tới bây giờ.

– Anh biết nó nhốt tôi ở đâu không? Anh nói cho biết đi?

– Dưới chân cầu Long Biên đó!

– Chứ không ở Hỏa Lò sao?

– Nó độc lắm, để dưới cầu Long Biên, nhỡ phải bom Mỹ dội chết chúng cho trưng ra để buộc tội giết

tù binh, Việt cộng mà!

– Sao lại là Việt cộng. Việt cộng là tụi trong Nam kia chứ?! Anh mà còn nói thế huống gì ai …

– Nam, Bắc không là Việt cộng thì là gì … Cá mè một lứa cả. Anh Thành cao giọng phẩn kích.

– Từ hầm dưới cầu Long Biên chúng cho tụi tôi thấy xe phái đoàn trong Nam ra nhận tù binh Mỹ, nó còn cho chúng tôi biết vụ anh nhà báo bên nhảy dù chửi chúng nó ở sân bay Gia Lâm. Và bảo thẳng chúng tôi cứ việc chống đối, tuyệt thực, phái đoàn Việt Nam Cộng hòa trong ban liên hợp có đấu tranh cách mấy, chúng cũng không trả. Cũng như loại anh nhà báo kia, chúng tôi là những người cần phải giết bỏ, không thể nào tính đến chuyện trao trả hoặc cho về. Anh phi công Mỹ chở toán chúng tôi cũng không được thả, dẫu đã cụt một tay.

– Tôi có thấy người Mỹ nào ở Hỏa Lò nữa đâu?!

– Sao anh ngây thơ thế, nó để chỗ khác, trên Bác Vạc.

– Bác Vạc ở đâu?

– Ở Sơn Tây.

– Chỗ Mỹ đổ bộ giải cứu tù ấy à?

– Đấy, chỗ đó, nhưng khi Mỹ xuống thì nó đã di đi chỗ khác rồi. Việt cộng mà anh, từ năm đó cho đến

bây giờ nó cùm tôi miết!

– Không cho ra?

– Không, đúng mười lăm năm tù, bảy năm bị cùm liên tục, trước 72 không tính! Sau 75 cũng không có gì thay đổi? Sau 75, chính tôi quyết định vụ bị cùm này!

– Anh nói tôi không rõ?

– Nghĩa là tôi coi như đã chết, ra khỏi hầm cũng là tù thôi … Dẫu được thả cũng thế!

– Thả ra mình về Nam chứ.

– Vô ích thôi, đâu còn là miền Nam của mình nữa, rồi anh sẽ thấy … Tôi sinh và lớn lên ở miền Bắc, người Nghệ An, hỏi thử bây giờ về Nghệ An tôi có sống được không, Sàigòn cũng vậy. Mình mất nước rồi, sống làm chi anh.

Giọng Thành tắt lại. Sau hai lớp cửa, Nhân nghe tiếng thở dài bị ghìm giữ.

– Có bao giờ anh nghĩ đến chuyện chết không?

– Có chứ, tôi nghĩ và sống với nó từ bao năm nay, nhất là sau 75. Nhưng bởi là người Công giáo, tôi hiểu mọi sự tất cả đã THÀNH THEO Ý CHÚA. Và tôi cũng tin thế nào người dân cũng vùng lên hất đổ chúng xuống, cũng từ những người cộng sản có lương tri, biết suy nghĩ. Không ai có thể sống mãi với sự dối trá, nói dối ngay với chính mình. Tôi sống với Đức Tin và Niềm Tin này. Ủa, mà sao anh hỏi tôi kỹ vậy?

– Tôi, tôi là bạn thời con nít với Đặng Ngọc Khiết, cùng đi đoàn Hướng Đạo, học một lớp, vào trường Đà Lạt chung khóa, ra trường lại ở với nhau một nhà. Ngày Khiết nhảy ra Bắc tôi nhớ, ngày 20 tháng 8 năm 1964, và tôi cũng chính là anh nhà báo, lính nhảy dù ra Hà Nội ngày thứ Sáu, mồng 3 tháng 4, 1973 … Tôi có đọc tấm bảng “Tù binh Hạ Lào còn bị giam ở đây” nơi nhốt tù dưới chân cầu Long Biên … Tôi đấy … tôi …ở đấy anh ơi!

Tiếng thét uất hận xé căn phòng vỡ tung …

– Nhưng tại sao mấy ngày hôm trước tôi không nghe anh nói năng gì hết?

Đến bây gời Thành đã đứng sát cửa; anh hỏi Nhân giọng nhỏ thân mật.

– À … tại vì, tôi … nhịn ăn!

– Nhịn ăn để chết ư? Hình như có tiếng cười nhỏ trong âm nói.

– Vâng, cũng trong ý định đó … Nhân lúng túng ngượng ngập.

– Thế này nhé, anh ăn lại đi, chẳng đi đến đâu đâu. Khi nó muốn mình chết, đang còn sống, nó cũng đem đi chôn. Chôn sống! Ở trại Quyết Tiến trên Hà Giang nó chôn anh em tôi như thế đó. Không có tội gì, khi cần giết, nó ghép cho năm ba tội, như trước ngày Tàu đánh Việt Nam, nó đem bắn mấy anh Tàu vì cái tội làm gián điệp cho “Cục tình báo Hoa Nam”. Cha Mã Nhì trước khi chết không biết đến cả “Hoa Nam” ở đâu. Chả là dân Móng Cái mà! Nó bắn ở đây, trong phòng số 5, trước khi các anh về trại này một tháng, đâu khoảng tháng 7. Đến tháng 8 các anh mới về phải không? Khi không muốn giết thì nó bắt mình phải sống để chịu nhục. Anh nghe lời tôi, ăn lại đi, mấy ngày kỷ luật của anh chỉ là giấc ngủ ngắn của tôi mà thôi. Nó chưa để cho anh chết đâu!

– Vâng … Nhân cầm lấy chén cơm nguội lổm cổm những lát khoai, sắn đỏ nâu, lòng chùng xuống trong nỗi phiền buồn có Tội – Tội đã sống. Tội được sống sót.

Kết Từ

Anh Thành thân mến,

Khi tôi viết những dòng này về anh thì quả tình tôi cũng không biết được anh còn sống hay đã chết …

Sống ở đâu và chết ở đâu? Tôi với anh cũng không hề thấy, biết mặt nhau, cho dẫu chúng ta chỉ ở cách nhau hai thước bề ngang. Tháng 8 năm 1980, anh chuyển lên trại Thanh Phong, tôi vào kỷ luật lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng để rời khỏi đất Bắc mười năm sau. Con số “mười bảy năm kiên giam” của anh – Số lượng thời gian mới nghe tưởng như không có, không thật đó …

Cuối cùng chính tôi cũng vượt qua. Riêng anh vượt qua thêm bao nhiêu lằn mức nữa? Không ngờ chúng ta cùng dự phần vào một cuộc đua khốn nạn, khắc nghiệt mà chính bản thân đôi khi cũng ngạc nhiên vì tính cách phi nhân ghê tởm của nó. Cuộc chiến đấu giữ gìn sự sống, giữa bóng tối, cái chết. Lần vượt chết qua nỗi dối trá miệt thị con người. Tôi cũng nhân cơ hội này để cám ơn anh về hai điều từ anh đã thúc giục tôi tồn tại được và duy trì bền bỉ. Đấy là, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không hề kém cỏi, yếu hèn; lính cộng sản không phải quá đỗi tài giỏi. Nhưng quả thật họ đã được chỉ huy và học tập điều “lý tưởng” (cho dù học nhồi ép về một điều dối trá, không thật …) trong khi đó cấp chỉ huy của mình trước thì vì “bơ thừa sữa cặn”, đến khi thất trận, đi tù thì vì “canh thừa cơm cặn”.

Rồi ra sẽ thấy những điều xa xót, càng ngày càng đau lòng thêm. Trong tù cũng như ngoài xã hội tất cả sẽ bị “cộng sản hóa” ở những tính cách tồi tệ, xấu xa nhất. Lời của anh đã nói cùng tôi. Và người Việt Nam sẽ dần hóa thân nên thành biểu tượng của sự cùng kiệt – Cơn kiệt cùng tan vỡ cấu trúc tinh thần của dòng sống Việt Nam. Nhưng chúng ta phải sống, vượt sống để xác chứng điều huyền nhiệm. Con Người vẫn hằng sống trong Ý Chúa. Cho dẫu khi anh nói điều này tôi chưa hề là tín đồ của một tôn giáo nào. Khi ấy, chúng ta đang bị vây khốn giữa vũng tối.

Phải không anh Thành. Người Lính Biệt Kích Nguyễn Công Thành.

Tháng Tám, Mùa Cô Hồn, 1995

Thành Hựu Tống Bang Tiến Xa,

Hợp Chủng Quốc Bắc Mỹ

Phan Nhật Nam

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

5. Dòng nước mắt cho một bản quốc ca

Trải qua một thời gian dài nước mất nhà tan, bị tù đày, gia đình ly tán, phải sống dưới một chế độ thù nghịch, ngày được ra khỏi đất nước, được đứng

nghiêm trang, mắt ngước nhìn lá quốc kỳ thân yêu xa vắng bao nhiêu năm, tai nghe lại điệu nhạc hùng tráng năm xưa, lòng bỗng dưng xôn xao bao kỷ niệm, hai dòng nước mắt tuôn rơi. Đã bao nhiêu người mang tâm trạng như tôi vào những ngày đầu đặt chân đến xứ người. Phải chăng những điều gì đã mất khiến cho lòng chúng ta tiếc nuối và xót xa. Nhớ mới một buổi sáng ngày nào, buổi chào cờ cuối cùng tại đơn vị và không ai ngờ đó là buổi chia ly, tan đàn sẻ nghé. Anh em đồng ngũ mỗi người đi về một hướng, người vượt thoát ra đi bỏ lại quê hương, người vào chốn lao tù nơi chốn rừng sâu nước độc. Gia đình miền Nam bỗng dưng tan tác, mỗi người lâm vào cảnh, không cách biệt giữa hai bên bờ sinh tử thì cũng nghìn trùng biệt ly.

Có những bản quốc ca xưa hàng trăm năm như quốc ca Hà Lan từ thế kỷ XVI, nhưng cũng có những bản quốc ca chỉ vang vọng trong một thời, non yểu trong hoàn cảnh chiến tranh, của một quốc gia vừa thành hình đã bị định mệnh chôn vùi. Trong đất nước ấy, tuổi trẻ bị dập vùi trong lửa đạn, tương lai mờ mịt trong khói súng, và những niềm hy vọng sớm tàn phai. Để bảo vệ cho tự do của miền Nam, một triệu thanh niên dưới lá quốc kỳ, đã nằm xuống, xương tàn cốt mục, mà bây giờ đã gần bốn mươi năm hài cốt vẫn còn xiêu lạc. Quốc ca đâu phải là một bản nhạc của một nhạc sĩ si tình nào đó viết cho một người, để đời sau những người ca sĩ hát lại cho những người mang cùng tâm trạng riêng lẻ ấy thưởng thức. Quốc ca là nhạc phẩm của một người viết cho triệu người nghe.

Xin đừng ai dạy bảo cho chúng ta biết định nghĩa thế nào là một bản nhạc hay. Lời đẹp, nhạc hay, nhưng tiếng “hay” không nói lên được một điều gì cả. Một bản nhạc mới được tác giả sáng tác xong, nếu mới nghe qua chỉ là đợt sơ khảo, mang cho người nghe cái cảm giác ban đầu hời hợt. Suối từ nguồn chỉ là những dòng nước, trở thành những con sông, chảy qua những bờ lau, cánh đồng, qua những chiếc cầu, qua xóm làng, tới những bình minh rực rỡ, đến những buổi chiều nắng xế và chan hòa với đại dương. Nhạc vô hồn nếu nhạc không mang những kỷ niệm, không in dấu được thời gian, không có quá trình vui buồn với cuộc sống của con người. Có ai nghe một bản nhạc mà không nhớ đến một quãng đời, không nhớ đến một kỷ niệm, không nhớ đến một người, ví dụ như trong câu hát nghe rất ngậm ngùi, liên tưởng trong thời chiến tranh: “Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già”(PD).

Tiến sĩ Schubert là học giả nghiên cứu Nghệ thuật trình diễn của Đại học New South Wales Úc cho rằng:”Nếu hỏi bất cứ ai bài hát họ ưa thích nhất là bài nào, nhiều người đã trả lời, đó là những bài hát mà họ đã từng nghe ở thiếu thời hay lúc mới trưởng thành”.

Theo ông, những bản ca khúc luôn đọng lại trong tâm trí người nghe với nhiều nguyên do khác nhau như các khái niệm văn hóa, qua kinh nghiệm và sự việc được lặp lại nhiều lần. Chúng ta, vì vậy không lấy làm lạ khi những ca khúc thời chinh chiến hay những bản tình ca xuất hiện trong thời gian 65-75, gần 40 năm sau đều được đón nhận nồng nhiệt bởi những người bước vào tuổi 60 ngày nay ở ngoài hay trong đất nước.

Chúng ta thường mủi lòng nhớ đến quê hương đã bỏ xa khi nghe những khúc dân ca, những tiếng đàn bầu như lời than thở, những tiếng nhị hồ như lời khóc than. Và những con đò, những đêm trăng, những dòng sông, những bờ tre, những cánh đồng, những tiếng hò, những gì của làng mạc đã xa của một thời thơ ấu như sống lại. Đó không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà là tiếng thì thầm của dĩ vãng, bỗng dưng hiện về. Trong âm nhạc, dân ca hay những bản nhạc mang âm hưởng dân ca thường đánh động đến lòng người và dễ gây xúc động làm người ta rơi nước mắt.

Nhưng nếu có một ca khúc tác động vào lòng người nhất thì tôi không ngần ngại nói rằng đó là bản quốc ca. Không phải ngày đầu tiên lìa xa đất nước ra đi, bỏ lại tất cả những gì gọi là thân yêu từ quê hương ruột thịt mà người ta đã khóc khi nghe lại bài quốc ca, mà cho đến bây giờ, gần mấy mươi năm qua, tất cả tưởng như đã rơi vào quên lãng, nhạt nhòa theo thời gian, những dòng nhạc như đã khơi lên những “trào lệ cảm”(*) trong lòng chúng ta.

Nhiều bản nhạc chỉ nhắc cho chúng ta nhớ đến một người, hôm nay bài quốc ca làm cho chúng ta nhớ đến hàng triệu người. Những người đã phải rời bỏ đất nước vì tự do, xa cội nguồn, đã bị xô đẩy đi khắp chân trời góc biển. Bài hát nhắc cho chúng ta nhớ đến những người đã chiến đấu, hy sinh thân xác và chết dưới cờ trong suốt một thời gian giữ nước. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại những cánh rừng, những con đường, những bãi biển, là chiến trường, nơi mà anh em ta đã gục ngã. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại nỗi nhục tù đày, những chiến hữu cụt què bất hạnh, những góa phụ cô đơn. Bà hát nhắc lại cho chúng ta khoảng thời gian ba mươi năm, dù là ngắn ngủi nhưng tràn đầy kỷ niệm. Bạn đã thấy người khác khóc và chính bạn đã hơn một lần nhỏ lệ cho quốc ca.

Xin hãy hát lên bài quốc ca, hãy ràn rụa nước mắt để khóc cho một nền tự do đã bị đánh mất, hổ thẹn chomột nền hòa bình trong tủi nhục và để nghĩ đến những người chết cho chúng ta sống, những người bị thương tật cho chúng ta lành lặn, những người ở lại cho chúng ta ra đi.

(*) Chữ của Hà Mai Anh trong “Tâm Hồn Cao Thượng.”