vietmessenger.com
Hồ Trường An
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1998
Post by Sơn râu 6 Feb 2026

Chương 9.
Sau Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (1968)
Trước khi bắt qua giai đoạn ca nhạc sau Tết Mậu Thân, tôi xin điểm mặt thêm bốn giọng hát Lệ Thu, Thanh Lan, Kim Loan và Giao Linh. Thêm vào đó là giọng của Trung Chỉnh, dù ca nghiệp của anh ngắn ngủi, nhưng anh vẫn nổi tiếng như cồn, tượng trưng cho giọng hát từ ngưỡng cửa học đường bay ra ca trường nhạc giới. Năm giọng nầy đã bắt đầu nổi tiếng vào những năm 1966, 1967, 1968.

* Lệ Thu:
Lệ Thu bước vào ngành ca hát trước khi có cuộc đảo chánh 1963. Cô là ca sĩ phòng trà Tự Do, hát nhạc ngoại quốc những bài âm hưởng bán cổ điển Tây phương đã từng được ca các sĩ hạng cừ khôi của Mỹ như Patti Page, Jo Stafford, Mahila Jackson và Andy Williams diễn tả. Khách Mỹ lui tới phòng trà Tự Do đều hoan nghinh cô nồng nhiệt, nhất là khi cô hát bài blue bất hủ “Summer Time”, một bản đã từng thắp sáng tên tuổi nữ danh ca da đen Mahila Jackson. Ngoài ra cô hát bài ruột của của Andy Williams là “Love Is a Many Splendored Thing” rất tuyệt. Nhưng thuở đó cô không nổi danh. Trước cô có nhiều nữ ca sĩ phòng trà hát nhạc ngoại quốc. Giai đoạn đó gần như thoảng xa rồi. Khán thính giả Việt Nam thích nghe những bản cây nhà lá vườn hơn. Cô đã cho thu vào dĩa nhựa microsillon bản “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của Trịnh Công Sơn vào năm 1966, vậy mà tên tuổi cô vẫn chưa bay ra khỏi phòng trà Tự Do và Trịnh Công Sơn vẫn chưa nổi tiếng. Phải đợi tới lúc có Quán Văn trong khuôn viên trường Đại Học Văn Khoa, phải đợi Khánh Ly và Trịnh Công Sơn nổi tiếng như cồn, khán thính giả mới ngoảnh lại tiếng hát cô. Họ mới biết rằng, chính cô là người đã đi trước Khánh Ly, đã thổi vào nhạc Trịnh Công Sơn một không khí đặc biệt, làm cho các nhạc phẩm họ Trịnh thêm tình ý mặn nồng. Nếu giọng mật ong của Hà Thanh làm giảm đi nhiều ý tình quằn quại trong hai bản “Hạ Trắng” và “Nhìn Những Mùa Thu Đi”, nếu chất chua trong giọng Thái Thanh không thể làm nổi bật tình ý đắng đót của “Diễm Xưa”, thì giọng Lệ Thu và giọng Khánh Ly đã đem lại cái ý vị cần thiết cho những ca khúc của Trịnh Công Sơn.
Rồi đó, ngoài nhạc Trịnh Công Sơn, Lệ Thu còn được bài “Ngậm Ngùi” của Phạm Duy tháp đôi hia vạn dặm để tên tuổi cô bay khắp miền Nam đất nước. Trước cô, ca sĩ Anh Ngọc có hát bản nầy một cách nhạt nhẽo. Nhưng khi nó được giọng ấm áp như hỗn hợp khói chiên đàn, trầm thủy, giao hương của cô diễn tả, giới trẻ và giới sành điệu chạy kiếm mua bản “Ngậm Ngùi” mà hát nghêu ngao. Phạm Duy liền sáng tác bản “Nước Mắt Mùa Thu” (dịch nghĩa chữ Lệ Thu) để trang tặng cô. Nhưng hình như Lệ ở đây không có nghĩa là nước mắt mà là đẹp, là mỹ lệ, hoa lệ, tú lệ có phải? Mùa thu có nước mắt biết đâu đẹp não nùng hơn lên. Người Tàu há không cho rằng mùa thu là “mùa diễm lệ túy nhân” (đẹp say người) hay sao? Giọng Lệ Thu khàn và ấm. Nhưng đây không phải là giọng alto hay giọng contralto. Bằng cớ là khi xuống chỗ hơi trầm là giọng cô hơi mỏng, hơi nghẹt lằm thính giả cảm thấy ran ngực. Độn thổ không nổi, giọng cô chỉ có nước đằng vân.
Tuyệt vời thay, giọng cô khi lên cao quát tháo dũng mãnh và vang dội. Cô rống rất hay, rất tròn tiếng (pleine voix) bởi vì lên cao mà rống thật suông sẻ, thật trơn tru thống khoái đâu phải dễ. Riêng tác giả quyển sách nầy vốn không ưa giọng hát của một số quá đông nữ ca sĩ ở chỗ khi lên cao họ phải nhốt sâu tiếng hát trong cổ họng và rít the thé, chua lòm lòm như trộn yaourt, như pha chanh pha giấm. Những bản để cho Lệ Thu rống gồm có “Chiếc Lá Cuối Cùng” của Tuấn Khanh, “Tình Khúc Thứ Nhất” của Vũ Thành An, “Xin Mặt Trời Ngủ Yên” của Trịnh Công Sơn, “Hoài Cảm” của Cung Tiến. Riêng bài “Hương Xưa” của Cung Tiến dù được giọng nồng ấm và chói ngời của cô diễn tả, nhưng cô phải nhường Mai Hương ở bản nầy. Dù giọng Mai Hương yếu ớt và lu chìm, nhưng kỹ thuật hát của Mai Hương tinh vi làm cho bài hát đẹp một cách trữ tình, đẹp và cực kỳ cao sang quý phái. Về phần ngân nga, Lệ Thu không vững. Chuỗi ngân của cô lanh chao, rời rạc, không được tự nhiên lắm.
Cuộc đời tình ái của Lệ Thu cũng bao phen chìm nổi. Mối tình lớn của cô với nhà văn kiêm ký giả Hồng Dương đã làm xôn xao dư luận một thời. Hồng Dương có vợ cái con cột. Vợ anh là nữ sĩ Linh Linh Ngọc, về văn và thơ vượt xa anh một khoảng lớn. Khi nổi tiếng, Lệ Thu cư xử với bạn đồng nghiệp lẫn ký giả kịch ảnh không được tế nhị. Có lần tại phòng trà Tự Do, cô muốn đánh gục Thanh Lan. Hôm đó, cô tới phòng trà trước Thanh Lan, hát những bản ruột của Thanh Lan. Thuở đó, Thanh Lan chưa nổi tiếng, làm sao đương đầu với Lệ Thu khi cả hai cùng hát chung một số bản nhạc? Cho nên, khi tới sau, Thanh Lan hát những bản ruột của mình, chỉ được khán giả vỗ tay chiếu lệ, không được nồng nhiệt như mấy hôm trước. Hỏi ra, Thanh Lan được bạn bè kể lại chuyện chơi khăm của Lệ Thu, cho nên Thanh Lan chỉ có nước khóc ròng. Thắng trận một lần, nhưng về sau, Lệ Thu phải chong mắt nhìn những thành công tới tấp của Thanh Lan chẳng những ở địa hạt ca hát mà còn ở lãnh vực điện ảnh nữa.
* Thanh Lan:

Đây không phải là Thanh Lan vợ ông Cao Xuân Vỹ hành nghề ca hát một thời với Trúc Mai, Thùy Nhiên, Băng Tâm … Đây là cô Phạm Thái Thanh Lan (tên cúng cơm), xuất thân từ lò Thiếu Nhi Nguyễn Đức. Thanh Lan nầy xuất thân một lượt với Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh. Về kỹ thuật, cô vượt cả Hoàng Oanh lẫn hai cô Phương kia. Vì rằng, sau khi rời ban Thiếu Nhi Nguyễn Đức, Thanh Lan tiếp tục luyện giọng dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát. Chính nhờ tìm gặp thầy giỏi nên cô mới luyện tập theo phương pháp chân truyền, đưa tiếng hát của mình lên hàng ngũ tiếng hát Thái Thanh, Hà Thanh. Thật ra, có lúc cô bắt chước theo tiếng hát Thái Thanh. Dù giọng cô ngọt hơn giọng Thái Thanh, nhưng cô làm sao có bùa ngải, có nét sắc bén cùng nét truyền cảm để đưa vào giọng hát như Thái Thanh? Về sau, cô hát theo cái bản sắc của cô. Nhưng dù sao đây vẫn là một giọng ngọt ngào gợi cảm, có một chút nũng nịu phơn phớt chứ không điệu đà, có những nét láy thật mềm mại bay bướm và có một chuỗi ngân có thể kéo dài theo trường độ khá dài của một nốt nhạc.
Tôi còn nhớ khi tôi vừa trải qua 4 tuần huấn nhục của khoá 26 trường Bộ Binh Thủ Đức, tức là vào gần cuối năm 1968 thì trường có tổ chức một đêm trình diễn văn nghệ với hai giọng ca then chốt là Phương Hoài Tâm và Phương Hồng Hạnh. Kỳ đó Thanh Lan cũng được mời đến hát. Hai cô Phương hát nhạc yêu lính, thạo cách trang điểm dù là họ mặc áo mousseline trắng và chiếc quần sa teng tuyết nhung trắng hơi đơn giản đi nữa. Cho nên cả hai được hoan nghinh. Thật ra giọng hát của họ làm cho tôi có cảm nghĩ đây là hai búp nụ hãy non yếu chưa thể đương đầu cùng với mưa dầm nắng cháy và bài hát do họ trình bày là những bài dành cho đám đông chứ không thể chui vào những nơi có nhiều kẻ sành điệu. Còn Thanh Lan hôm đó mặc chiếc áo trắng in những chùm rong lục trông thật tẻ ngắt tẻ ngơ. Cô lại không thạo hóa trang nên mặt cô lại càng lu càng tái. Nhưng cô hát bài “Chân Trời Tím” thật điệu nghệ. Tuy nhiên, chỗ các chàng sinh viên sĩ quan vẫn không phải là chỗ của những kẻ sành điệu nên hôm đó cô chỉ được nhận một tràng pháo tay chiếu lệ trông thật tội nghiệp.
Sau khi mãn khóa 26 và trở về thăm Sài Gòn, tôi được xem cuốn phim Tiếng Hát Học Trò do cô thủ vai chánh. Cô đóng thật hay vì cô nhạy cảm, có thể khóc theo ý muốn. Trong phim cô đẹp trội hẳn lên. Và cũng ít lâu sau đó, trường Quốc Gia Hành Chánh làm lễ mãn khóa, tôi được một anh bạn mời đến dự. Hôm đó, Thanh Lan trở thành cây đinh trong buổi trình diễn văn nghệ. Cô mặc áo dài bằng surat mềm mại vẽ những nét kỷ hà học cực kỳ choáng lộn với những màu hoàng yến, màu cam, màu đỏ, màu nâu trà trộn nhau một cách hài hòa theo giai điệu ton-sur-ton. Tóc cô chải những boucles anglaises từng chùm lạp xưởng buông hai bên vai, từng chum bì cuốn chả giò buông sau gáy. Đó là mái tóc bất hủ của nữ thần điện ảnh Greta Garbo trong phim Camille (Trà Hoa Nữ). Hôm đó cô hát những bản có giá trị như “Hương Xưa” của Cung Tiến, “Ngày Đó Chúng Mình” của Phạm Duy, “Mái Tóc Dạ Hương” của Nguyễn Hiền, “Chiều Tím” của Đan Thọ, toàn
là những bản mà các ca sĩ của lò Nguyễn Đức không dám hát. Trên sân khấu, cô đẹp như một nữ thần, xử dụng micro thành thạo nên tiếng hát càng thêm quyến rũ.
Từ đó, Thanh Lan trở nên mục tiêu ăn khách ở phòng trà, trên các sân khấu Đại nhạc hội, trong làng dĩa nhựa lẫn băng nhựa. Cô trở thành thần tượng của giới sinh viên và trở thành gần gũi với giới sành nhạc. Cô đóng một loạt phim như Xin Đừng Bỏ Em, Gánh Hàng Hoa, Ngọc Lan, Xóm Tôi …Thanh Lan có cái bậy là cô thích khỏa thân trên màn bạc, dù trong những màn ấy cô vẫn che ở ba chỗ cần phải che trên thân thể. Nhưng cái ức của cô không mịn, sủng ngực cô không báo hiệu nét gồ ghề của cặp nhũ hoa, đôi chân cô không dài, đùi cô không săn chắc, mông cô không vun cao và tròn trặn. Cô chỉ có một thân vóc tạm được vậy thôi khi cô mặc áo dài. Xin Đừng Bỏ Em là một cuốn phim mà Thanh Lan làm cho các chàng sinh viên học sinh thất vọng không ít vì ở hai màn khỏa thân cô làm hoen ố hình ảnh thánh thiện của mình trong tâm tưởng họ.
Thanh Lan ái mộ Thái Thanh và dám hát những bài đưa tên tuổi Thái Thanh lên cao. Bài “Đường Chiều Lá Rụng” của Phạm Duy được Thái Thanh diễn tả cực kỳ điệu nghệ, nhưng vẫn không nao núng, vẫn hát thu băng bản ấy. Kết quả: cô hát gãy ở nhiều chỗ, lại thiếu cái truyền cảm đậm đà, thiếu cái nét bay bướm và huê dạng mà Thái Thanh đã đưa vào bài hát trác tuyệt nầy.
* Kim Loan:

Kim Loan có một giọng hát hơi khàn, hơi nghẹt mũi một chút. Cô đến ca trường nhạc giới giữa lúc Phương Dung, Hoàng Oanh, Hà Thanh, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh đang làm mưa làm gió khắp nơi trình diễn văn nghệ. Nhưng may mắn thay, cô vẫn có một chỗ ngồi riêng ở lãnh vực ca hát. Và càng may mắn hơn nữa, chỉ mới chân ướt chân ráo vào nghề mà cô đã nổi tiếng qua bản “Căn Nhà Ngoại Ô”.
Kim Loan có khuôn mặt đẹp, nụ cười thật tươi, sóng mũi thanh tú, vầng trán băng sương, mái tóc buông dài và cài nơ thật đẹp. Vóc mình cô cao lớn, nhưng không thanh. Bàn tay cô hơi thô, dáng đi cô không yêu kiều uyển chuyển. Nhưng cô ăn mặc đẹp, lộng lẫy mà không lố bịch. Tuy nhiên, ở cô, người đối diện nghĩ rằng nếu khéo trau chuốt thêm một chút nữa, nếu học cách đi đứng, ăn nói thêm một chút nữa, cô vẫn là cây bonsai được uốn cành tỉa lá để trở thành một thứ cây cảnh với những đường nét hài hòa ngoạn mục. Tiếng hát Kim Loan tuy nồng ấm nhưng vẫn hơi thô tháp. Cô không biết bào mỏng ở vài chỗ để tiếng hát mịn màng vóc nhung, không biết hát cho vang dội ở vài chỗ khác cho tiếng hát chói ngời vóc gấm. Cô hát quá chân phương, không biết làm sao bớt rồ ở vài chỗ khác nữa. Đó là một viên kim cương chưa được lảy những chấm bọt, chấm than và chưa được cắt cạnh giồi mặt để tra vào chiếc nhẫn bạch kim mà trở thành một món nữ trang tinh xảo. Năm 1977, cô có dịp qua Paris trình diễn tại một rạp ở khu Maubert Mutualité. Tôi có tìm gặp cô để nói dăm ba câu chuyện, nhưng thật ra cô không biết tôi là ai vì khi tôi khởi nghiệp ký giả kịch ảnh thì cô đã rời nước. Trên sân khấu, cô hiện ra với dáng dấp cao sang thanh thoát hơn xưa nhiều. Và cô cũng đẹp hơn nữa. Cái đẹp thật tươi sáng, thật thanh tao. Làn hơi cô cũng phong phú hơn nữa. Nói chuyện với cô, tôi nhận thấy đây là một mẫu phụ nữ khiêm tốn, thành thực, tránh nói nhiều về những bạn đồng nghiệp vắng mặt.
Trước đó, sau cuộc Tổng Tấn Công của Việt Cộng, có nhiều tiếng thì thào rất bất lợi cho cô khi cô bỏ ngang nghề ca hát để qua định cư bên Tây Đức. Họ cho rằng cô muốn tránh một chuyện tình cảm rối reng giữa vị nguyên thủ quốc gia và cô. Nhưng thuở đó, báo chí không dám làm om vì Bộ Thông Tin quyết lòng bịt mồm siết họng báo chí chặt chẽ quá. Nhưng vào năm 1978, Kim Loan nhận lời đóng vai Điêu Thuyền trong tuồng Phụng Nghi Đình cho đoàn Kim Chung ở Paris, một đoàn hát nổi tiếng là thân Cộng và làm việc cho tập đoàn Cộng Sản được đội cái tên là Hội Việt Kiều Yêu Nước. Từ đó, tên tuổi Kim Loan bị cháy tiêu. Báo chí Việt Nam bên Hoa Kỳ mới khui xấu cô, bảo rằng cô sở dĩ ra ngoại quốc trước năm 1975 là cốt để đợi ngày đập chum, còn tác giả cái chum mà cô mang trên bụng là Vua Thiệu. Điều đó bậy vô số! Những người viết những bài mạ ly đó chính họ cũng không rõ vận sự đó có thật hay không, hay chỉ là những tin đồn nhảm. Vả lại, lúc đó Kim Loan có chồng con, vẫn là vợ đảm mẹ hiền mà bạn bè quen thân đều biết. Mà nói cho cùng, điều đó nếu có thật đi nữa vẫn chỉ là một sự lầm lỡ của một thiếu nữ và sau cuộc lầm lỡ cô đã tạo lập một gia đình êm ấm, sống một cuộc đời lương thiện, đã rửa sạch mọi điếm nhục của dĩ vãng.
Kim Loan và phu quân của cô đã từng giúp tạp san Quê Mẹ phổ biến trên nước Đức. Bị sỉ nhục như vậy mà cả hai không thèm phản ứng, chỉ tiếp tục giúp đỡ cộng đồng kiều bào trong việc phổ biến tin tức và văn hóa. Chúng ta đừng chỉ buộc tội cô hát cho ban Kim Chung mà nỡ quên bẳn những lần cô hát ủng hộ cho những ban tổ chức giúp người vượt biển không nhận tiền thù lao hoặc chỉ nhận một món tiền tượng trưng thật khiêm nhượng.
* Giao Linh:

Vào năm 1967, bà chị Thụy Vũ tôi, nghệ sĩ diễn ngâm Đoàn Yên Linh và tôi đi lên Hóc Môn dự buổi văn nghệ của một đơn vị của Công Binh. Kỳ đó, hai cây đinh của buổi trình diễn là Kim Loan và Giao Linh.
Kim Loan khá cao lớn, còn Giao Linh hơi nhỏ nhắn. Khuôn mặt Giao Linh tròn, mắt cô hơi tròn hợp với nét mày cong và thanh, cặp môi cô nũng nịu, vóc mình cô mềm mại thon thon. Cô không đẹp như Kim Loan, nhưng mặn mà hơn Kim Loan. Thuở đó, Giao Linh mới ra nghề. Cô mặc chiếc áo bằng tơ lụa nội hóa màu trắng, mình khô bông ướt. Bông dệt trên áo là cặp long phụng quấn nhau lồng trong khung mặt nguyệt to bằng miệng bát đựng bánh trôi nước. Kèm chiếc áo để dành đi bát phố chứ không phải để dành bước lên sân khấu ấy, cô mặc chiếc quần sa teng tuyết nhung đen. Mái tóc của cô uốn kiểu rất thường. Cô có vẻ một cô giáo tỉnh ly dù màu sắc trang điểm của cô khá tươi thắm. Màu phấn hồng đào, màu son môi và màu sơn móng tay móng chân màu đỏ tía, trông ngọt lìm lịm, nhưng khi cô bước ra ánh đèn sân khấu thì màu sắc trang điểm kia lại bị ánh đèn nhận chìm đi. Giao Linh do nhạc sĩ Nguyễn văn Đông khám phá. Đây là một giọng hát thanh tao sang sảng, tiếng vàng và tiếng ngọc chen tiếng đồng. Bản chất của tiếng hát là phẩm chất quý báu, giá mà cô tập luyện chu đáo thì đây sẽ là tiếng hát làm nao núng những tiếng thuộc loại thượng phẩm đã từng xuất hiện từ trước như tiếng hát của Thái Thanh, của Hà Thanh, của Mai Hương. Nhưng mà, Nguyễn văn Đông chỉ huấn luyện Giao Linh để tranh thủ với Hoàng Oanh, Thanh Tuyền, Phương Dung, chứ đâu có cao vọng nâng tiếng hát cô lên ngang hàng với những tiếng hát tuyệt vời vừa kể kia. Cho nên tiếng hát cô chỉ dừng lại ở các chương trình tạp lục, ở phòng trà, ở trong đám đông mà không bay đến những ban đại hòa tấu. Giao Linh thành công mau, nổi tiếng trong một sớm một chiều. Dù sao tiếng hát cô nhuyễn hơn tiếng Phương Dung và tiếng Thanh Tuyền. Những bài hát của Nguyễn văn Đông như “Chiều Mưa Biên Giới”, “Sắc Hoa Màu Nhớ”, “Hải Ngoại Thương Ca”, “Phiên Gác Đêm Xuân” đều được cô diễn tả bằng giọng ngân vang, vẫn có một hấp lực đặc biệt. Cô cũng sớm canh tân cải cách khoa trang điểm và lối phục sức. Mái tóc chải gie cánh quạt phía bên phải lại hợp với khuôn mặt hơi tròn của cô. Những chiếc áo dài mini, tay ráp raglan bằng đăng ten, bằng surat choáng lộn làm cho cô đẹp trội lên dưới ánh đèn sân khấu. Nhưng lúc nào cũng vậy, mỗi khi trình bày một bài hát nào, Giao Linh cũng phô trương cái mặt buồn kinh niên, buồn rã rời da diết như mang mối thất tình từ muôn thuở. Và mỗi khi cô hát bài “Tiếng Xưa” và bài “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước thì khuôn mặt của cô càng thảm đạm hơn để được hòa hợp với tiếng hát rên rỉ não nuột của mình.
Khi ra hải ngoại, Giao Linh vừa lập tiệm phở, vừa tiếp tục đeo đuổi lai rai nghiệp cầm ca của mình. Cô có thực hiện một băng nhạc, trong đó có nhiều ca khúc của Nguyễn văn Đông để trang tặng ông thầy cũ của cô đã từng lôi kéo cô ra m đông để đặt cô ngồi trên cương vị rực rỡ trong ca trường nhạc giới.
* Trung Chỉnh:

Anh nổi tiếng khi song ca với Hoàng Oanh bản “Nhịp Cầu Tri Âm”. Anh có khuôn mặt khôi vĩ, giọng hơi khàn, khi lên cao thoải mái, nhưng khi xuống trầm thì tiếng mỏng như the và bở rệt như mạng nhện. Song giọng anh có âm sắc đẹp, kỹ thuật vững chãi, chuỗi ngân óng ả. Anh hát chung với Hoàng Oanh khi anh hãy còn là sinh viên Đại học Y Khoa. Vì bận việc học, anh không dám dấn thân vào nghiệp cầm ca, chỉ ca hát lai rai cho thỏa mãn nghệ sĩ tính của mình. Khi ra hải ngoại, anh định cư ở Mỹ, trở thành bác sĩ y khoa. Anh được Hoàng Oanh mời thu chung dĩa nhạc qua ba bài “Hồn Vọng Phu” của Lê Thương. Tiếng hát của anh vẫn khỏe và ngọt như dạo nào, vẫn là một giọng có vẻ chuyên nghiệp lắm.
Sau 1963, trong vòng hai năm đã xảy ra 13 cuộc chính biến. Hết Dương văn Minh đảo chánh tới Nguyễn Khánh chỉnh lý. Và sau vụ xé Hiến Chương ở Vũng Tàu và Nguyễn Khánh phải lưu vong tới những cuộc khuynh đảo liên miên của Nguyễn Chánh Thi, Lâm văn Phát, Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Cao Kỳ. Các chính khách lần lượt lập chính phủ: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Tôn Hoàn …
Chính phủ nào cũng không thọ được nửa năm vì bị báo chí tấn công, bị thiên hạ xuống đường đả đảo.
Tướng Nguyễn văn Thiệu thành lập Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vào tháng 2/1965, cho tới hai tháng sau thì Hiến Pháp ra đời mở đầu cho nền Đệ nhị Cộng Hòa, tình thế mới tạm ổn định.
Về chiến tranh gia trọng, nhà văn Võ Phiến đã viết trong quyển Văn Học Miền Nam Tổng Quan như sau:
Tháng 8/64, sau vụ tàu Maddox bị tấn công, Mỹ oanh tạc Bắc Việt, trực tiếp nhảy vào vòng chiến. Sau đó Bắc Việt đánh vào các trại cố vấn, các cư xá sĩ quan Mỹ; tháng 3/65, thủy quân lục chiến Mỹ bắt đầu đổ bộ lên Đà Nẵng: sự tham dự tiến thêm một bước nữa. Bắc Việt lại đưa sư đoàn 325, đưa quân đội chính qui vào Nam; Mỹ gia tăng quân số, gia tăng oanh tạc: năm 1965 lính Mỹ ở Miền Nam lên đến 400.000, phi cơ Mỹ thả bom cả các kho dầu tại Hải Phòng, Hà Nội … Sang năm 1967, quân số Mỹ tại miền Nam lên đến hơn 670 nghìn. Đầu năm 1968, Bắc Việt mở cuộc tấn công nhân dịp tết Mậu Thân, hi sinh ngót nửa quân số …
Khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam song song với nhạc rock thì ở Sài Gòn nhiều ban nhạc trẻ hát rặt ròng các ca khúc ngoại quốc ra đời. Đó là các ban CBC, The Uptight, The Hammers, The Enterprise, The Peanuts, Cats’ Trio (Ba Con Mèo), The Three Apples (Ba Trái Táo), The Dreamers. Những ban nầy đã tạo những ca sĩ nổi tiếng về sau như Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Duy Quang, Minh Phúc, Paolo, Prosper Thắng, Khánh Hà, Vi Vân, Cathy Huệ, Uyên Ly, Kim Anh, Carol Kim, Pauline Ngọc, Julie Quang, Thái Hiền, Minh Xuân.
Cuộc Tổng Tấn Công của Việt Cộng trong dịp Tết Mậu Thân đã làm nhiều ngành sinh hoạt bị giới hạn hay bị tê liệt trong đó có sinh hoạt ca nhạc. Tết Mậu Thân (1968), chiến tranh vào các thành phố. Việt Cộng với chủ đích gây tiếng vang qua tận bên Mỹ để rồi bị đẩy lui. Huế nặng nhất với những cuộc thanh toán rùng rợn và vụ những mồ chôn tập thể. Nhưng Huế không phải là môi trường sinh hoạt cho ca nhạc từ đầu cuộc và xa hơn nữa từ bao đời. Tình hình vừa yên ổn là Sài Gòn vẫn tái diễn cuộc du hí về đêm, dù có vụ giới nghiêm bắt đầu từ 12 giờ khuya. Thỉnh thoảng có cuộc biểu tình bãi khoá của sinh viên hay vụ sư sãi đem bàn thờ xuống đường hoặc các cuộc biểu tình của các đảng phái nên giờ giới nghiêm bắt đầu sớm hơn 12 giờ khuya. Trong thời gian nầy, những phòng trà mới mọc lên gồm có phòng trà Tự Do với ban nhạc Blues Notes, phòng trà Ritz của Jo Marcel, phòng trà Queen Bee với ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh, nhà hàng Maxim’s vốn là quán ăn có phần ca nhạc và phần vũ do Hoàng Thi Thơ và Trịnh Toàn phụ trách, phòng trà Đêm Màu Hồng với ban Thăng Long và ban Tam Ca Đông Phương. Sau hết là phòng trà Khánh Ly. Các sinh viên, các nhà văn nhà thơ trẻ cũng đua nhau ra lập quán nhỏ để họ trình diễn ca nhạc. Quán Văn thành lập trên bãi đất trống sau trường Đại Học Văn Khoa với sự có mặt thường xuyên của Khánh Ly. Sau đó là quán Thằng Bờm ở đường Đề Thám. Quán Dalat ở gần sân banh Cộng Hòa. Sauđó, Khánh Ly còn mở quán Cây Tre ở Đa Kao sau khi quán Văn dẹp tiệm từ lâu. Lại thêm Chiều Tím, Hầm Gió. Những quán ca nhạc nầy nhiễm cái không khí thời thượng của văn nghệ sĩ hiện sinh bên Pháp do ông Jean Paul Sartre và bà Simone de Beauvoir chủ trương ở hai quán Flore và Aux Deux Magots. Tại quán Thằng Bờm, Phạm Duy đưa ban Dreamers đến để giới thiệu với ẩm khách rằng: “Đây là các con tôi do tôi sinh ra. Nhưng nuôi dưỡng nghề nghiệp ca hát của chúng là do quý vị”. Tại nơi đây, các nhà thơ Đỗ Quý Toàn, Trần Dạ Từ đến đọc thơ của mình cho ẩm khách nghe. Nhà văn Từ Kế Tường và nhà văn Nguyễn Hoàng Đoan cũng đọc thơ của mình.
Thiếu mất trang 293
Sắc, mà là cái Không cuối cùng khi bỏ hết cái Sắc lẫn cái Không đối đãi kia đi). Khi đạt tới cái Không cuối cùng thì mọi thứ cũng như nhau, cái nầy là cái kia, cái nầy là cái đối đãi của nó.
Chẳng hạn như câu thơ sau đây của Viên Linh:
Lưng phơi dáng thú, bụng phơi hình người.
Đây là câu thơ đạt tinh thần bất nhị rất cao. Nó không có một chữ nào trong kinh kệ, không kêu gọi thập phương chư Phật, không réo thập phương chư Bồ Tát mà nó vẫn là một câu thơ Thiền. Lưng và Bụng là hai cái đối đãi ở một Thân Thể. Còn Người và Thú là hai cái đối đãi nhau về Trí Tuệ (người khôn, thú ngu). Phải làm sao có hai cái đối đãi ở cùng một sự việc thì mới đạt tinh thần bất nhị, tức là đi vào cốt tủy của đạo Phật. Phạm Thiên Thư không làm được công việc đó. Về sau, khi ra hải ngoại, Phạm Duy sáng tác những bài nói về cái Tâm của Phật giáo cũng không làm được việc đó. Phạm thi sĩ và Phạm nhạc sĩ dù cứ gọi Phật ơi ới, nhưng không đạt được cái cốt tủy của Phật pháp nên Phật không hiện trong thi ca và lời nhạc của họ. Cả hai cứ gào rống Phật nhiều quá như chủ nợ réo con nợ chỉ tổ làm Phật kinh hãi quá lặn trốn mất biệt. Phạm Duy có một sự nghiệp vĩ đại về âm nhạc, trăm nghìn năm trước chưa có ai và trăm năm sau chẳng biết có ai nối gót anh không? Bởi anh ôm đồm quá nhiều nên nhạc anh loãng đi. Còn Phạm Thiên Thư sáng tác thơ tình, thơ yêu thiên nhiên, thơ đầy cảm tính, thơ thuần chất thẩm mỹ đều rất đạt, xứng đáng ở hàng đầu. Nhưng mấy cuốn Kinh Ngọc, Kinh Thơ của anh chỉ là một thứ thơ Thiền giả hiệu, một thứ đạo ca bị gượng ép một cách sống sượng thảm thê. Bởi vì khi làm thơ kiểu đó anh gồng mình, anh gắng sức, anh tính toán quá nhiều nên từ khởi điểm thơ anh hỏng nặng. Thơ Thiền không phải do sự dụng công mà hình thành được. Nó chỉ được kết tinh ở những phút hiển linh của thần trí sáng tạo mà thôi.
Trong giai đoạn nầy, Phạm Duy có những ca khúc dễ hát, nhưng đạt giá trị nghệ thuật cao như “Nước Mắt Mùa Thu”, “Thu Ca Điệu Ru Đơn” (lời phỏng theo thơ Verlaine), “Mùa Thu Chết” (lời phỏng theo thơ Apollinaire), “Tưởng Như Còn Người Yêu”, “Phượng Yêu”, “Giết Người Trong Mộng”, Nghìn Trùng Xa Cách” … Ngô Thụy Miên với “Mùa Thu Cho Em”, Trường Sa với “Rồi Mai Tôi Đưa Em” đều thoát khỏi cái khung sáng tác chật hẹp của loại nhạc thao túng trên thị trường của các tác giả Hoài Linh, Minh Kỳ, Phượng Linh, Tú Nhi. Còn Đỗ Lễ với “Sang Ngang”, Nguyễn Ánh 9 với “Thôi”, “Buồn Ơi Chào Mi” cũng được giới trẻ chiếu cố đặc biệt, nhưng giá trị nhạc phẩm của hai nhạc sĩ Đỗ, Nguyễn nầy không cao lắm. Về sau, Ngô Thụy Miên phổ các bài thơ của Nguyên Sa đều đạt giá trị cao như “Áo Lụa Hà Đông”, “Paris Có Gì Lạ Không Em … Cũng trong giai đoạn nầy, những nhạc sĩ trẻ tài hoa rất mực bắt đầu nổi lên gồm có thêm Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà song song với nhạc của Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng. Lê Uyên Phương gồm có nữ ca sĩ Lê Uyên và chàng nhạc sĩ kiêm ca sĩ Phương, nhưng chỉ có chàng soạn nhạc, còn nàng thì hát có chàng đệm tiếng cho thêm hương nổi vị vậy thôi. Nhạc của Lê Uyên Phương vẫn có những bài buồn than thân phận theo chủ nghĩa thời thượng của hầu hết nhạc sĩ trẻ (“Vũng Lầy Chúng Ta”, “Tình Khúc Cho Em”) nhưng vẫn có bản hết sức lạc quan ca tụng tình yêu giữa thiên nhiên bao la (như “Hãy Ngồi Xuống Đây”, “Uống Nước Bên Bờ Suối”). Phạm Duy cho rằng nhạc của Lê Uyên Phương có nhục tính. Nhưng theo tôi, Lê Uyên Phương ca tụng những con người hoang sơ với bản năng bén nhạy, với những cuộc tình thật mê cảm giữa thời thái cổ hồng hoang thật thanh bình, thật thơ mộng. Những con người nầy tuy không y phục che thân, nhưng không bị chi phối bởi cái hổ thẹn giả dối … (la fausse pudeur) của kẻ văn minh. Vì rằng những kẻ văn minh như chúng ta ngày nay dù được quần áo che đậy thân thể mà không có tấm tình yêu thật chân thành, thật hồn nhiên và cực kỳ say đắm như những người thời tiền sử kia.
Hãy ngồi xuống đây
Như loài thú hoang yêu nhau ngoài đồng
Dưới nắng ban mai phô thân trần truồng
Kiếp sống hoang sơ
(“Hãy Ngồi Xuống Đây”)
Về nhạc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, nhạc sĩ Phạm Duy viết như sau:
Thế là trong giai đoạn phát triển tột bực của âm nhạc ở miền Nam nầy, đã có nhiều xu hướng khác nhau, nhưng tất cả đều nằm trong hai chủ đề Tình Yêu và Chiến Tranh/Hoà Bình. Có nhạc phục vụ cho lính quốc gia, cho tuổi mơ mộng nhưng cũng có dòng nhạc nhận thức thân phận làm người trong một nước trong cơn tao loạn. Tình khúc là “nhạc tình tân lãng mạn”, “nhạc tình cảm tính”, “nhạc tình não tính”, “nhạc tình nhục tính”. Như thế đã đủ chưa? Thưa, chưa đủ ạ! Còn “nhạc tình ảo tính” của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang nữa! Hai nhạc sĩ nòng cốt của ban nhạc trẻ PHƯỢNG HOÀNG, trong thời kỳ nầy, đã soạn ra những ca khúc, tôi cho là mới mẻ nhất. Với nhạc ngữ rất lạ, phù hợp với ban nhạc combo hơn là “nhạc tiền hiến”, những “Hợp Khúc” của họ hay không thua gì những bài hay nhất của nhạc rock Hoa Kỳ. Nhạc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, theo tôi, phản ảnh một lớp trẻ lạc loàitrong xã hội sa đọa. Nói chung, trong giai đoạn gần cuối thập niên 60 để bước qua 5 năm đầu của thập niên 70, các nhạc sĩ trẻ như Thanh Trang, Hồng Duyệt, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trường Sa, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Lê Hựu Hà & Nguyễn Trung Cang đều là những nhạc sĩ tài hoa, ý nhạc mới mẻ, lời đẹp và sâu sắc.
Nhạc và lời của Miên Đức Thắng và của Tôn Thất Lập cũng đẹp nữa, nhưng tôi không tiện nói nhiều ở đây. Nếu các bạn độc giả yêu quý của tôi cho rằng dù Trịnh Công Sơn soạn nhạc phản chiến, nhưng lời nhạc của anh truyền cảm vì anh cảm xúc chân thành lúc sáng tác thì họ Miên lẫn họ Tôn Thất cũng chân thành không kém. Nhưng họ chân thành theo khuynh hướng của họ, theo chủ nghĩa của họ. Họ không thể là nhạc sĩ của chúng ta. Và chắc chắn họ cũng không muốn họ là người của chúng ta đâu.
Những ca sĩ nổi bật trong giai đoạn nầy ngoài những chàng du ca nhạc sĩ như Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng còn phải kể Miên Đức Thắng, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Thanh Phong, Phương Đại, Hoàng Hạc, Khánh Ly, Hồng Vân, Uyên Phương, Khánh Hà, Julie Quang, Cathy Huệ, Pauline Ngọc, Ngọc Minh, Bích Nga, Xuân Thu, Phương Hồng Quế, Mai Lệ Huyền, Phương Anh, Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Đào Hoa Nữ, Phương Thu, Thu Oanh, Kiều Loan … Nhưng ở đây, tôi chỉ xin kể những giọng hát tiêu biểu trong giai đoạn nầy thôi.
* Khánh Ly:

Năm 1967, Trịnh Công Sơn để thay thế Lệ Thu đã từ chối không theo anh dấn bước du ca nên đã tìm gặp một giọng hát độc đáo ở Đà Lạt. Đó là Khánh Ly, ái nữ của một cựu hoa khôi đầu tiên ở Hà Nội. Khánh Ly không hưởng được cái quốc sắc của mẹ, nhưng vẫn làm khuynh đảo cả một thế hệ qua tiếng hát cực kỳ say đắm của cô. Hơn nữa, tuy cô không đẹp lắm, nhưng cô có cái duyên nồng mặn. Khuôn mặt cô khi xuất hiện trên Tivi thì ăn ảnh kỳ diệu. Khánh Ly không hề phủ nhận rằng mình đã nhờ khoa giải phẩu thẩm mỹ để khoét cho cặp mắt thêm rộng. Nhưng dù gì thì dù, cặp mắt một mí của cô khi chưa cần tới mỹ viện dù hơi nhỏ, nhưng cái nhìn cô bao la, cực kỳ niềm nở thân tình. Cặp môi Khánh Ly khi ngậm im thì thanh tú và có vẻ nũng nịu. Nhưng khi cô cười, cặp môi cô tươi sáng hẳn lên, khóe mắt và thần thái cô cũng sáng nữa. Tôi rất thích ngắm cô trong những chiếc áo dài mini bằng tơ lụa nội hóa dệt mặt nguyệt màu thúy ngọc, màu nguyệt bạch, màu vảy kim ngư, màu “boọc-đô”, màu beige hơn là những chiếc áo dài surat vẽ những bông hoa choáng lộn màu sắc như hoa trong các bức tranh dã thú của Matisse.
Tôi gặp Khánh Ly vào năm 1968, vào dịp tôi viếng Trịnh Công Sơn tại Quán Văn lúc trời mới rựng sáng. Ở đó, cuộc sinh hoạt vừa bắt đầu. Sơn nhờ tôi xem chỉ tay cho Khánh Ly. Ai chứ Sơn rất tin tưởng khoa nầy, nhất là ở cái tài tiên tri của tôi. Hôm đó, chẳng hiểu tôi nói những gì với Khánh Ly mà coi bộ cô chỉ cười chấm câu, tỏ vẻ không mấy nhiệt thành như Sơn. Số là, trước đó nửa năm, Trịnh Công Sơn có nhờ tôi xem chỉ tay cho anh. Tôi ngắm nghía hình ngôi sao trên gò Thái Dương ở bàn tay phải của anh, quả quyết bảo:
— Ông có ngôi sao năm cánh rực rỡ như thế nầy mà không nổi tiếng được thì lạ thật. Thôi, từ đây tới ba năm nữa, nếu ông không nổi tiếng thì đem con dao lại đây vanh hết hai bàn tay tôi đi.
Trịnh Công Sơn không cần đợi ba năm. Chỉ có nửa năm thôi mà tên tuổi anh và tên tuổi Khánh Ly nổi như cồn, làm bàng hoàng ngây ngất một thế hệ. Năm 1970, tôi nhảy vào nghề lính văn phòng, viết truyện ngắn lai rai cho tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Năm. Tôi thường tháp tùng nhà thơ Phổ Đức tới quán Cây Tre thăm Khánh Ly và nhất là thăm nữ ca sĩ Uyên Phương, một giọng ca mà tôi hằng mến mộ. Thuở đó, Khánh Ly cùng Uyên Phương và Phương Hồng Hạnh lập ban Tam ca Ba Trái Xí Mụi. Tôi không hiểu vì sao có một dạo Khánh Ly tỏ ra lạnh nhạt và có vẻ hầm hừ với tôi. Truy ra, tôi có giỡn nhột Trịnh Công Sơn trong một bài báo khi anh tuyên bố rằng giọng anh sẽ thu vào dĩa vàng để hát chung với Joan Baez, Bob Dylan và Judy Garland.
Trong bài ấy, hình như tôi có chê anh hát hơi sai (faux) khi lên tới nốt cao; như thế, thì làm sao anh hát chung với một danh ca cừ khôi kiêm minh tinh màn bạc lẫy lừng như Judy Garland được? Khánh Ly binh Trịnh Công Sơn, mắng vói tôi qua ký giả Trần Quân:
— Cái thằng H.T.A là tên lính sữa Babylac, đã làm được gì chưa mà phách lối, xấc xược!
Kể từ đó, cô và tôi hễ chạm mặt nhau thì cô làm cái mặt nặng chầm vầm như cái cối đá, còn tôi làm cái mặt lạnh ngắt như khứa cá thu ướp muối nước đá. Rồi đó, sau 1975, tôi còn kẹt ở Việt Nam. Một hôm Trịnh Công Sơn lên Làng Báo Chí để viếng nhà Họa sĩ Trương Đình Quế, có đi ngang qua nhà tôi. Tôi kêu anh vào chơi. Nhân dịp đó, tôi mắng:
— Ông không biết dạy cô đệ tử của ông. Tôi lớn hơn ông một tuổi, tức là hơn anh chồng Nguyễn Hoàng Đoan của cô ta ít nhất 3 hoặc 4 tuổi. Vậy mà cô ta mắng tôi còn con nít mà đã xấc xược.
Vật đổi sao dời, thấm thoát mà chỉ còn 5 năm, tôi bước vào tuổi 60. Vào năm 1992, nhân dịp đi Paris trình diễn, Khánh Ly có phone cho tôi để cám ơn tôi, rằng dù có chánh kiến bất đồng với Trịnh Công Sơn, nhưng tôi vẫn viết tốt cho Trịnh Công Sơn trong quyển ký sự văn học Cõi Ký Ức Trăng Xanh. Cả hai, sau 21 năm (từ 1972 cho tới 1993) mới tái hội nên mừng thôi là mừng. Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Qua cuộc điện đàm, tôi không dè cô lại thích đọc tiểu thuyết của tôi và mua khá nhiều những quyển của tôi do Đại
Nam xuất bản. Cô dặn:
— Anh nên viết chuyện đồng quê ở cố hương cho Mai đọc. Đừng viết mấy chuyện bên Tây, đọc chán thấy mồ!
Nhứt là anh nên mô tả các món ăn cho thiệt nhiều, thiệt ngon. Hôm đó, tôi có nhắc lại lời cô nhiếc mắng tôi hồi 21 năm về trước, cô bảo rằng cô quên hết rồi, chẳng biết có nói lời thô lời ác ấy hay không. Và cả hai cười xòa thông cảm. Tôi có bảo cô rằng vào năm 1975, tôi không ra trình diện với chế độ Quân quản của Cộng Sản để khỏi đi học tập cải tạo. Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn làm ngơ, không vì bài báo giỡn nhột cũ của tôi mà tố cáo tôi với chánh quyền Cộng Sản. Nói có Trời làm chứng, thuở xưa tuy ghét Khánh Ly, nhưng tôi chưa hề viết bài nào để đánh gục cô ta, nếu không bảo là khen giọng hát đặc biệt của cô ta. Vả lại, lúc đó ngôi sao danh vọng cô ta đang lên ngự đỉnh vòm trời ca nhạc; tôi dại gì chơi cái trò dã tràng xe cát Biển Đông, dại gì đem một cái khăn mu-soa để mong che một vùng nắng sáng bao la hay đem một gáo nước để mong dập tắt một đám hỏa hoạn hay sao?
Giọng Khánh Ly đặc sánh như cao hổ cốt, như mật ong, đôi lúc nẩy lóe những âm vang giòn và sang sảng. Một giọng kỳ lạ, khàn khàn như phưởng phất hơi khói thuốc lá mà vẫn trơn ngọt khỏe khoắn làm cho tâm trí thính giả trôi lênh đênh vào cơn mơ mòng ngây ngất. Giọng Khánh Ly là giọng alto, nhưng cô có thể xuống trầm đòi hỏi ở một giọng contralto được, tuy nhiên âm lượng của giọng cô ở những nốt nhạc thật trầm ấy không dũng mãnh và không thừa làn hơi để ngân nga. Cũng như Lệ Thu, Khánh Ly hát không chút õng ẹo. Nhưng giọng cô vẫn đẹp, vẽ nên cảnh hoang vu chìm trong sương mù, vẽ nên cảnh đêm trăng mờ ảo ở chốn man rợ thời khuyết sử. Chuỗi ngân của Khánh Ly óng ả, trơn ngọt, gờn gợn sóng thu. Chuỗi ngân ấy điêu luyện và đẹp hơn chuỗi ngân của Lệ Thu nhiều. Giọng hát cô đen và đắng nhưng pha ngọt có thể làm cho chúng ta liên tưởng đến hương vị ngon tuyệt vời của ly cà phê phin. Tiếng hát đó trên sân khấu có thể lan rộng khắp hí viện một âm vọng vừa huyền hoặc vừa ma quái làm cho ý tình trong những bài Phận Ca của Trịnh Công Sơn được bộc lộ gần như trọn vẹn.
Từ năm 1975, Khánh Ly là vợ của Nguyễn Hoàng Đoan, ký giả kiêm nhà văn viết tiểu thuyết phóng sự. Độc giả thuộc thế hệ tôi chắc không quên Đoan viết tiểu thuyết phóng sự rất lỗi lạc (như quyển Bà Lớn chẳng hạn). Khi làm thơ, anh ký tên là Triều Sao Đại. Thơ, văn, nghệ thuật làm báo của anh đều có bản lĩnh cả. Về báo chí và chuyện đi và sống, tôi kém anh rất xa. Vì rằng trước 1975, tôi chỉ là con mọt sách, chứ đi và sống rất ít. Giờ đây, tôi nằm khoèo dưới mái Cổ Nguyệt Đường, ngại đi xa lắm. Biết được Khánh Ly hạnh phúc với
Đoan, tôi rất mừng. Tuy là nhà báo mà anh vẫn có tâm hồn nghệ sĩ, tôi tin rằng hai vợ chồng anh luôn tâm đầu ý hiệp với nhau.
* Phương Hồng Quế:

Xuất thân từ lò Nguyễn Đức, Phương Hồng Quế bước vào nghề với một giọng hát không mấy vững vàng. Nhưng đây là tiếng hát có một hấp lực rộng rãi lan khắp quần chúng trong một sớm một chiều. Cô biết chọn những bản nhạc mà quần chúng thích. Giọng cô như một phiến ngọc không cần giồi mài, cắt cạnh. Nó hơi nghẹt mũi một chút để cô uốn vặn làm nũng với khán giả đực rựa, nhất là lính tráng bằng cái duyên dáng sắc đậm riêng. Cô cũng không cần ngân nga, khi mà đa số khán thính giả chỉ cần cô hát cho thật rõ lời, thật vang lộng mà thôi. Phương Hồng Quế thật đẹp. Khuôn mặt cô vừa chường lên màn ảnh Tivi là như say sưa, như ngây ngất, như bị một anh chàng nào đó thôi miên. Đó là một khuôn mặt chín mùi đam mê, chín rục cảm xúc, vừa thơ ngây trinh khiết vừa như sẵn sàng nhập cuộc vào tình yêu. Cô bỏ tóc xõa thật thơ mộng. Cô mặc áo màu gì, in hoa gì cũng bắt mắt, cũngchoáng lộn. Còn nhớ có lần tôi đến đài truyền hình gặp cô mặc chiếc áo mousseline đen thêu hoa vàng lá lục trông thật buồn trữ tình. Lại có lần tôi theo Toán Chiến Tranh Chánh Trị Tiểu Khu Bình Dương rước cô cùng Hương Lan và danh hề Phi Thoàn lên Lái Thiêu trình diễn. Cô xuất hiện trên bục ca với chiếc áo bằng nhiễu màu hồng phấn thật chói, màu sắc diêm dúa vẫn làm cô sang trọng một cách kỳ lạ. Từ 1969 tới 1975, Phương Hồng Quế xuất hiện trên Tivi nhiều nhất nên được báo chí gọi là “Tivi chi bảo”. Cô xuất hiện rất nhiều trên sân khấu Đại nhạc hội và xuất hiện trong các chương trình văn nghệ dành cho quân nhân.
* Julie Quang:

Trên tạp san Quê Mẹ, cũng vào năm 1978, tôi viết về tiếng hát Julie Quang như sau:
Tôi biết Julie Quang từ năm 1970, thuở nàng ra mắt giới sinh viên Sài Gòn tại quán Thằng Bờm qua bản “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy. Hôm đó, nàng mặc chiếc mini jupe, áo tay ngắn, màu da nàng ngăm ngăm nồng mặn. Trông nàng thuở đó có vẻ chững chạc, đầy phong độ của một ca sĩ nhà nghề lắm rồi. Và ít lâu sau, tên tuổi nàng phổ biến nhiều trong giới yêu nhạc trẻ. Tiếng hát khàn của nàng như chiếc đũa thần, thâu ngắn lộ trình của nàng từ khởi điểm đến đài danh vọng, không mấy khó khăn. Tiếng hát của Julie Quang thuộc loại khàn, lúc lên hơi cao thì mất âm lượng, chuỗi ngân không óng ả và đều đặn lắm. Tiếng hát đó, nói theo kịch tác gia Trần Lê Nguyễn trong vở kịch Tối Ba Mươi là “tiếng hát đắng”. Nó thấm nhuần lời than vãn nhè nhẹ, một tiếng thở dài kín đáo. Nó không cần được uốn giọng và được nhấn vuốt tiếng hát, thế mà tự bản chất, tiếng hát như ngầm chứa nỗi ưu tư mơ hồ hoặc niềm thương tiếc mông lung. Đến năm 1971, tiếng hát Julie Quang đứng sau hàng ngũ tiếng hát Lệ Thu, Khánh Ly đối với giới yêu nhạc trẻ và cùng với Thanh Lan, Uyên Phương, Cathy Huệ, Như An, nàng tạo thành một hàng ngũ vươn lên sức sống vạm vỡ như một đợt sóng mới hùng hậu. Điện ảnh gia Lê Dân đã dùng tiếng hát của nàng qua bài “Giết Người Trong Mộng” để làm chủ đề cho cuốn phim xã hội Trần Thị Diễm Châu do ông đạo diễn. Tôi còn nhớ ở phần générique của cuốn phim, tiếng hát nàng như trải dài trên những đợt chữ sáng, thảm thiết và quằn quại để rồi ở séquence chót cuốn phim, tiếng hát đó lại vang lên theo bầy chim bồ câu từ những chiếc lồng lớn bọc lưới kẽm, bay vút lên trời xanh, tiếng hát lại như theo những cánh chim kia đi vào cái thênh thang bát ngát của hư không và tan dần trong cái plangénéral chót. Julie Quang dù có đi sâu vào nhiều môi trường sinh hoạt như truyền hình, băng nhạc, dĩa nhựa, nhưng vẫn là một giọng hát khiêm tốn. Nó mang một chất đắng vừa phải, với một nồng độ bi thảm trung bình, vì ở nó, chúng ta chỉ mường tượng một lứa tuổi trẻ ưu tư, nhưng chưa dấn thân vào cuộc đời, chưa lăn xả vào một cuộc hành hương cam go cho một tín ngưỡng nào đó … Tiếng hát đó là một người bạn sầu muộn nhưng thân quen, đưa ta đối diện với nỗi cô đơn thầm kín của chúng ta. Tiếng hát đó cũng không phải là tiếng hát của quảng đại quần chúng gồm nhiều thành phần tạp nhạp vì nó có một số thính giả chọn lọc khá sành điệu … Julie Quang thạo khoa trang điểm. Tôi còn nhớ vào chiều Chúa nhật ngày 4/3/79, nhóm báo Quê Mẹ tổ chức chương trình văn nghệ “2 Giờ Sống Với Việt Nam” tại rạp Espace Cardin tại quận 8 Paris, Julie có hát bài “Ở Bên Nhà Em Không Còn Đứng Đợi Chờ Anh”, nhạc của Phạm Duy, thơ Cao Tần. Hôm đó, cô hoá trang thật nổi, làn da ngăm của cô rất ăn son phấn, cặp môi cô tô son màu hồng đào dịu ngọt cực kỳ gợi cảm; chiếc áo dài nền đen in hoa lam ngọc thật đài các làm cô như lột xác. Tôi không hiểu vì sao, khi rời quê nhà, giọng Julie Quang không còn khàn đặc và ấm áp như xưa. Nhưng âm sắc của giọng hát cô đượm một chút nũng nịu dễ thương ăn nhịp với cặp môi nũng nịu dưới lớp son môi chói bóng và hường dìu dịu.
Sau nầy, không còn chung sống với Duy Quang, Julie Quang trở về với cái khuê danh Julie suông trơn của mình. Tiếng hát cô càng lúc càng trong, càng điệu đà, nhưng không còn gợi cảm một cách hồn nhiên như thuở cô mới bước vào nghề.
* Hồng Vân:

Cô vốn người Quảng Ngãi rất thông minh, nhanh nhẹn, nói tiếng Huế rất sõi. Cô có vóc vạc tầm thước, khuôn mặt trái soan, cặp mắt ranh mãnh, vầng trán thông minh, cặp môi như lúc nào cũng dọn một nụ cười dí dỏm. Thường thì người đàn bà nếu được vẻ thông minh thì mất vẻ gợi cảm. Đằng nầy Hồng Vân được hai cái khắc kỵ ấy. Cô vừa thông minh, vừa gợi cảm ở cái nhìn đôi lúc như rực ánh sáng trí tuệ, đôi lúc như say sưa chất ngất với tình ý bang khuâng man mác. Nụ cười cô không phải lúc nào cũng dí dỏm đâu, đôi lúc nó cũng nũng nịu để làm dáng với cuộc đời. Ở cô, đó là sự phối hợp của con thỏ ngọc yêu kiều và con chồn tinh thật quỷ quái. Hồng Vân có giọng hát sắc sảo và bén như lưỡi dao lá iễu. Làn hơi cô phong phú và bền dẻo. Chuỗi ngân của cô thật trác tuyệt. Cô hát dân ca ba miền thật điệu nghệ, ngâm thơ, hát chèo đều rựa ràng. Khi cùng Thu Hà và Tuyết Hằng thành lập ban Tam Ca Đông Phương dưới sự dìu đắt của hai nhạc sĩ Hùng Lân và Hồ Đăng Tín, Hồng Vân chưa chi đã đưa tên tuổi mình bay cao và bay xa. Cô là điểm sáng trong ban tam ca nầy, bởi cô trình diễn bài hát thật lẳng, thật tếu, thật sống động làm cho sân khấu bừng bừng phấn khởi. Cũng như Phương Hồng Quế, Hồng Vân ăn mặc y phục kiểu gì, màu gì, hoa in hoa thêu gì cũng ngoạn mục cả. Khi trình diễn cùng với Tuyết Hằng và Thu Hà trong ban Tam Ca Đông Phương, Hồng Vân luôn đội khăn vành giây màu hoàng cúc tức là màu đậm nồng hơn màu hoàng yến. Những chiếc áo dài để diện với khăn vành giây thường có màu thúy ngọc trông ngọt cả mắt, màu yên chi thật thắm rỡ rỡ, màu hoàngyến sóng sánh ánh nắng mai, màu lục ngọc thắm biếc như mạ non, như đọt chuối. Những lúc đó cùng với kiềng vàng, hoa tai, kim hoàn, kim xuyến, bướm vàng cài chéo áo, Hồng Vân hiện thân là cô tiểu thư Kinh Bắc thập phần mỹ lệ cao sang. Cho đến khi cùng diễn nhạc kịch với Vân Sơn (thuộc ban A.V.T) trong vai cô gái quê ở đồng bằng phù sa sông Cửu, cô mặc áo cánh cụt tay, quần mỹ a dệt bông mai, tóc búi tròn như trái cam hồng mật sau gáy, cô vẫn có cái đẹp mặn mà của cô gái quê Hậu Giang.
Hồng Vân đã đóng vai Lý Chiêu Hoàng bên cạnh Huyền Trân (giả trai đóng vai Trần Cảnh) trong vở hát chèo Trần Cảnh & Lý Chiêu Hoàng được báo chí khen ngợi không tiếc lời. Cô cũng đóng vai My Nương trong vở kịch thơ của Hoàng Cầm trong ban Tao Đàn, ngâm thơ với một kỹ thuật già dặn với một phong cách thật huê dạng và bay bướm.
* Mai Lệ Huyền:

Cô có vóc mình nhỏ, nhưng cân đối, khuôn mặt cô tròn, nụ cười xinh và lém lỉnh, thần thái sáng rỡ rỡ. Cô đẹp chỉ có ba bốn, nhưng xinh tới mười. Cô mặc áo dài, mini jupe, thậm chí tới quân phục rằn ri cũng xinh ơi là xinh! Trong 3 năm cuối của thập niên 60 và trong 5 đầu của thập niên 70, đây là thời đại vàng son của Mai Lệ Huyền. Cô hát những bài kích động nhạc yêu lính cùng với Hùng Cường ăn khách kinh khủng. Trên màn ảnh Tivi, trên sân khấu, cả hai làm cho sàn gỗ như nổi sóng, màn nhung như dậy bão lửa. Lính tráng say mê cô đã đành, mà giới trẻ cũng chiêm ngưỡng cô đặc biệt. Giọng cô liếng thoắng, ngập tràn hứng thú, mắt cô ranh mãnh, nụ cười cô ấm áp, tay chân cô cử động theo sự diễn tả tình ý bản nhạc một cách nhanh nhẹn, phấn khởi. Đây là giọng hơi khàn, ấm áp và giòn tan, làn hơi khá phong phú. Đừng ai tưởng rằng cô chỉ biết hát nhạc kích động mà thôi. Cô còn có thể hát nhạc buồn, chẳng hạn như bản “Điệu Ru Nước Mắt” trong phim Điệu Ru Nước Mắt do Lê Hoàng Hoa đạo diễn rất mùi mẫn du dương, rất điệu nghệ.
Mai Lệ Huyền có đóng hai vai quan trọng trong hai phim Còn Gì Cho Nhau của Minh Đăng Khánh và Mãnh Lực Kim Tiền của Lê Mộng Hoàng. Cô diễn xuất thật tự nhiên, như sống với vai trò chứ không phải đóng trò. Có lần trên màn ảnh Tivi, cô giả trai mặc quân phục rằn ri theo kiểu Thủy Quân Lục Chiến để hát chung với Túy Phượng, làm vẻ ga-lăng âu yếm trông rất tươi. Cũng có lần trên Tivi, trong ban Trường Sơn do Duy Khánh phụ trách, cô cùng Thanh Tuyền giả làm hai anh Biệt Động Quân vừa phì phà điếu thuốc, rồi hát bài “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” của Duy Khánh. Cô làm gì cũng có duyên. Cho nên tôi không lấy làm lạ khi biết Mai Lệ Huyền trên tiểu bang California xoay qua đóng hài kịch với Xuân Phát và Văn Chung rất nhộn, rất thành công.
* Xuân Thu:

Lúc đầu Xuân Thu hát trong ban kích động nhạc The Blue Stars. Cô giữ phần hát, còn các cô kia giữ phần đàn, trống. Khi trình diễn, Xuân Thu mặc áo đầm, váyvà áo đều bằng vải sọc hoặc vải kể ô vuông. Cô trang điểm thật gượng tay, thật kín đáo. Ban The Blue Stars tan rã. Xuân Thu xoay qua hát nhạc tình cảm. Bởi cô có khuôn mặt hơi giống khuôn mặt của Lệ Thanh nên cô bắt chước giọng hát và cách hát của Lệ Thanh tối đa. Khi bước ra sân khấu, khi thì cô cầm khăn mu-soa, khi thì cô nâng chéo vạt áo dài trong khi hát, dáng điệu thật Ngoan lành thục nữ, khuôn mặt thật thùy mị đoan trang gấp ba gấp bốn lần dáng điệu và khuôn mặt của Lệ Thanh. Xuân Thu thường tạo vẻ e ấp, thẹn thùng một khi có ký giả đến phỏng vấn cô. Thật ra, nụ cười cô có một chút gì kềm chế, không cho niềm vui cô bộc lộ trọn vẹn. Ánh mắt cô rực rỡ và hơi nung nấu, cho nên khi nói chuyện với ai, cô làm ra vẻ mơ màng, vẻ lờ đờ cho ánh gay gắt dịu xuống đi. Những cách che giấu đó, làm cho cô có cái duyên dáng riêng, thông minh và tinh tế kỳ diệu. Tiếng hát của Xuân Thu trôi chảy và ngọt hơn tiếng Lệ Thanh, nhưng không vang lộng bằng. Khi trình diễn một bài hát, cô có một dáng dấp rất thơ mộng, rất cao sang. Cô thường mặc áo dài trắng hoặc áo màu thật tái, thật lu chìm, không inhoa. Cô trang điểm thật phơn phớt. Cho nên đối với giới trẻ, cô hiện thân là chân dung nàng thơ, dưới ánh đèn rọi cô trở nên hư ảo như hình bóng trong cơn chiêm bao. Tiếng hát cô thỏ thẻ, êm đềm cũng trở nên tiếng vọng từ một cảnh giới nào ngoài cảnh giới mà chúng ta đang sống. Mỗi khi nhìn cô trình bày một bài hát trên Tivi hay trên sân khấu, tôi có cảm tưởng ở nhất cử nhất động, Xuân Thu đều có tính toán cả. Và cô tính đâu ra đó, gợi được một phong cách, một dáng điệu có thể lôi kéo sự chú ý của khán thính giả. Cho nên sự nghiệp ca hát của cô dù không làm chấn động ca trường nhạc giới, nhưng vẫn kéo dài cho tới ngày nay.
* Uyên Phương:
Trước hết, tôi xin quý vị độc giả đừng lộn Uyên Phương ở đây với nữ ca sĩ Lê Uyên trong ban song ca Lê Uyên Phương. Uyên Phương là em họ của nữ danh ca Bạch Yến. Lúc đầu cô lấy cái nghệ danh là Bạch Uyên
Phương để có chị có em với Bạch Yến. Và cô cũng bắt chước theo giọng và cách diễn tả của Bạch Yến. Trên con đường sự nghiệp ca hát, Uyên Phương không hề được Bạch Yến chỉ dạy và dìu dắt. Sau đó, nhận thấy giọng của mình phong phú và trơn ngọt hơn giọng Bạch Yến nên Uyên Phương hát theo cái bản chất, cái cung cách riêng của mình. Và cô bỏ chữ Bạch ở đầu nghệ danh của mình vì cô nhận thấy cái tên Uyên Phương suông trơn thôi cũng đủ nên thơ lắm rồi, đèo thêm chữ Bạch vào thì coi có vẻ tên mấy cô đào cải lương của mấy gánh hạng B thế nào ấy! Uyên Phương xinh đẹp và hiền lành, không cầu kỳ, không điệu đà. Khuôn mặt cô kết hợp bằng những nét congmềm. Cặp môi cô rõ nét và gợi cảm. Giọng của cô khàn đục. Ở những chỗ ngang ngang của bài hát, cô diễn tả bằng một giọng rã rời. Nhưng khi lên cao, giọng cô trầm thống và đắng đót. Tiếng hát của cô về điêu luyện thì thua giọng Bạch Yến, nhưng về phong phú và về âm sắc thì giọng cô khỏe khoắn và đẹp hơn giọng Bạch Yến nhiều. Nhưng mà, cô vốn ngại lên sân khấu lớn. Cô chỉ thích hát ở phòng trà. Và cô cũng không cảm thấy thoải mái với ánh đèn trên sân quay của đài Truyền Hình. Mỗi khi có ánh đèn xanh rọi tạt qua mặt cô là cô bàng hoàng như bị chém hụt. Uyên Phương sinh tật say mê bài bạc. Có nhiều khi cô từ chối vài ba show trình diễn để binh xập xám thả giàn. Có một lần cô đến nhà của thi sĩ Phổ Đức tìm tôi, để tôi phỏng vấn cô cho một tờ báo xuân. Cô gầy sút hẳn đi, mặt mày phờ phạc, mắt thâm quầng. Hỏi ra thì tôi mới biết suốt cả tuần lễ vừa qua cô đánh bạc thâu đêm suốt sáng nên thua cháy túi. Cô có hứa sẽ nghỉ ngơi tịnh dưỡng rồi đi hát trở lại. Thật tình tôi không thể nghĩ ra tại sao ở một con người hiền lành mộc mạc như cô lại không chịu chí thú làm ăn mà lại ưa miệt mài trong sòng bài, trên chiếu bạc như thế?
Về hôn nhân, dù bị cha mẹ phản đối, nhưng Uyên Phương nhất định kết hôn với một cựu sĩ quan bị thương ở bàn chân phải giải ngũ. Dù anh ta có lớn tuổi hơn cô khá nhiều và dù có dáng đi hơi khập khiễng, nhưng đó là người chồng tốt, có tấm lòng rộng lượng, có nhân dáng thật hùng tráng và nhất là hết lòng yêu cô.
* Phương Thu, Đào Hoa Nữ, Thu Oanh:
Phương Thu có vóc mình dong dảy, khuôn mặt khá đẹp. Nhưng nhân dáng cô vẫn không có gì đặc biệt. Cô bắt chước hát theo Thanh Thúy. Nhưng cô thất bại. Giọng cô không được trầm rền như giọng Thanh Thúy. Cô không có cái vẻ đẹp Liêu Trai như Thanh Thúy thì làm sao hớp hồn những khán giả đã từng mê say Thanh Thúy được? Cũng vậy, Đào Hoa Nữ cũng bắt chước hát giống Thanh Thúy tối đa. Nhưng Đào Hoa Nữ không đẹp, làn da ngăm đen, khuôn mặt có nhiều góc cạnh không được thanh tú. Cô chỉ có dáng dấp phong lưu phơi phới, có cách ăn mặc bắt mắt với những màu chói sáng dưới ánh đèn sân khấu phòng trà. Nhưng tiếng hát nhại theo tiếng hát Thanh Thúy kia lại không hợp nhân dáng của cô. Cho nên cũng như Phương Thu, Đào Hoa Nữ hát hoài mà không nổi tiếng. Thu Oanh là em gái của Phương Thu, chuyên hát nhạc kích động ngoại quốc. Cô không đẹp bằng chị, lại nhỏ con. Nhưng khi cô lên sân khấu, trông cô khá xinh vì cô thạo cách trang điểm. Vào năm 1971, Phương Thu có mở một phòng trà ở Sài Gòn. Tôi được giấy mời đến xem buổi trình diễn hôm
phòng trà nầy khai trương. Thu Oanh mặc chiếc áo màu bích lục, cổ hở rộng có viền dải lụa nhiều nếp xếp, tay rộng kết nhiều tầng và nhiều nếp; chiếc váy đầm của cô cũng màu bích lục và cũng có nhiều tầng và nhiều nếp xếp như áo, trông giống loại y phục của các cô nữ vũ công Tây-ban-nha. Cô vừa hát vừa múa, thân mình uốn vặn mềm mại làm nhà thơ nữ Hoàng Hương Trang buột miệng:
— Thu Oanh mặc áo xanh và trườn mình trông giống con rắn lục quá đi thôi!
Có một dạo, Thu Oanh si tình Hoàng Hạc. Cả hai thường cặp tay nhau đi bát phố. Sau đó ít lâu, cô tuyên bố cả hai đã chia tay.
* Miên Đức Thắng:

Anh có khuôn mặt thanh tú, nước da sáng mịn. Giọng anh là giọng trong và ngọt, chỉ diễn tả những bài ca của anh mà thôi. Trong giới sinh viên anh là một thần tượng lộng lẫy huy hoàng. Rất tiếc, tôi chỉ được nghe anh hát loáng thoáng ở trong vài băng nhạc. Giọng hát anh là giọng của cậu trai sau thời kỳ vỡ tiếng, ngọt mềm và đượm men say đắm của một tuổi trẻ thật thần thoại. Năm 1992, nhân đi giải khát tại tiệm Saigon Billard ở quận 13, kinh thành Paris, tôi gặp Miên Đức Thắng qua sự giới thiệu của nhiếp ảnh gia Huỳnh Tâm. Tôi phàn nàn với Thắng rằng hồi còn ở Việt Nam, tôi không dịp hội kiến với anh, giờ đây chắc anh không biết tôi là ai. Miên Đức Thắng nở một nụ cười ấm áp và tràn ngập thiện cảm bảo rằng trong thời gian gần đây dù anh còn kẹt ở Việt Nam, anh vẫn biết tôi viết lách thật nhiều. Và sau đó, tôi được Huỳnh Tâm mời cùng chụp chung một tấm ảnh với Miên Đức Thắng. Cả hai cùng sánh vai nhau, cùng nhìn về ống kính của Huỳnh Tâm, nhưng không nhìn về một lý tưởng, một chính kiến chung. Buồn thật là buồn!
Ít lâu, Miên Đức Thắng trở về Việt Nam.
* Elvis Phương:

Elvis Phương nổi tiếng từ khi anh hát bài “Thôi” của Nguyễn Ánh 9. Tiếng hát anh vang lộng, khi chẻ qua giọng óc để làm duyên thì giọng anh trở nên quyến rũ. Một giọng hát khỏe, hơi nũng nịu một chút, nhưng không lố lăng. Khi lên cao, Elvis Phương hát tròn tiếng và ngọt lịm như kẹo gương. Những lúc đó, tiếng anh thật mê cảm, như tiếng ọng từ đáy vực sâu, từ hang động huyền bí làm người nghe bàng hoàng từng thoáng tê điếng rờn rợn. Khi bỏ nhỏ, giọng anh thật mịn như nhung, êm đềm ve vuốt những đợt sóng mềm hôn bãi cát phẳng lặng. Cái đặc sắc của Elvis Phương là anh hát những bản nhạc phố chợ, nhạc máy nước đều có thể làm bản nhạc đỡ quê, đỡ chuế, đỡ thộn. Anh hát đủ loại nhạc, nhạc cao sang hay nhạc thấp lẹt đẹt về phẩm chất đều hay tuốt luốt. Rồi chuyển qua dân ca, anh hát bài “Qua Cầu Gió Bay” cũng nổi tình nổi ý. Trong 3 năm đầu của thập niên 70, theo cuộc thăm dò ý kiến khán thính giả bốn phương do nhật báo Trắng Đen tổ chức, Elvis Phương được coi là đứng đầu về phương diện ăn khách. Ngoài bản “Thôi”, những bài làm anh nổi danh là “Bao Giờ Biết Tương Tư” của Phạm Duy, “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” của Phạm Duy và Ngọc Chánh, “Chiều Nay Không Có Em” của Ngô Thụy Miên, “Chờ Người” của Lam Phương v.v …
Elvis Phương không bô trai, nhưng ở anh, khán thính giả bắt gặp một mẫu người đơn giản, dễ mến. Trải qua, hơn 25 năm, giọng Elvis Phương vẫn giữ âm sắc trẻ trung, ngọt ngào và tràn trề sinh lực. Anh trải qua ba đời vợ. Người vợ thứ hai của anh vốn là một nữ diễn viên điện ảnh có nhiều triển vọng. Đó là nữ nghệ sĩ Cát Phương, ái nữ của nữ kịch sĩ Xuân Dung và kịch sĩ Ba Bé. Cát Phương có đóng vai quan trọng trong hai phim Hoa Mới Nở (do Lê Dân đạo diễn), Xóm Tôi (cũng do Lê Dân đạo diễn).
* Jo Marcel, Như An:

Jo Marcel hơi nhỏ người, nhưng anh có một khuôn mặt khôi ngô và một nụ cười thật đậm đà. Anh lại thạo dậm mặt hóa trang và chọn màu áo veste cho nổi khi bước vào ánh đèn sân khấu. Bởi đó, Jo Marcel có thể làm cho khán thính giả quên vóc mình hơi bé nhỏ của anh. Jo Marcel có một giọng đẹp nhưng không phong phú lắm. Nhưng anh xử dụng máy vi âm thật cừ, lại thường mang theo hệ thống âm thanh đặc biệt dành riêng cho mình mỗi khi anh đi trình diễn bất cứ ở đâu. Cho nên giọng anh đã đẹp lại càng thêm âm sắc mê hoặc. Jo Marcel khi hát không điệu đà, nhưng anh là một phù thủy âm thanh, biết hát cho vang lộng chỗ này, biết bào mỏng chỗ nọ, cho nên tiếng hát anh gieo vào tâm tưởng, vào ấn tượng khán thính giả những giấc mơ lộng lẫy, những khung trời tưởng tượng rực rỡ hình ảnh như trong lăng kính vạn hoa. Những bản ruột của Jo Marcel là “Mộng Dưới Hoa” của Phạm Đình Chương, “Em Tôi” của Lê Trạch Lựu, “Ai Về Sông Tương” của Thông Đạt, “Mưa Hồng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng nói cho cùng, bản “Mộng Dưới Hoa” do anh hát thì không có có ca sĩ nào khác hát bằng anh. Khi ra hải ngoại, hai bản “Đường Xa Ướt Mưa” của Đức Huy, bài “Chiều Hôm”, nhạc Trung Hoa do anh hát rồi thì chẳng có ca sĩ nào có thể trình bày đậm đà như anh.
Vợ của Jo Marcel là Như An. Cô không đẹp, nhưng hiền hậu. Cô có giọng đắng như cà phê và sánh đặc như cao hổ cốt, thật quyến rũ. Hai bài “Đường Về” của Hoàng Trọng và “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy được cô trình bày thật mặn nồng. Nhưng Như An luôn mờ nhạt bên cạnh chồng, như một cái bóng lặng lẽ song hành theo bước đường nghệ thuật của chồng. Khi cùng Nam Lộc thực hiện cuốn phim Tình Yêu và Nhạc Trẻ, Jo Marcel dan díu với cô tài tử Minh Lý đóng vai chính trong phim. Như An không hề tuyên bố điều gì với báo chí cả. Cô qua đời khi định cư được vài năm bên Tây Đức.
* Thanh Phong:

Anh có tầm vóc cũng hơi nhỏ, khuôn mặt tròn, cặp mắt một mí, nụ cười cầu tài. Ây vậy, trên sân khấu và trên khung màn ảnh Tivi, anh vẫn có nét linh hoạt dễ mến. Giọng Thanh Phong khá phong phú, có chuỗi ngân khá điêu luyện. Vậy mà vì chiều theo thị hiếu thấp kém của quần chúng nên anh hát những bản nhạc nịnh nọt lính tráng nhưng nghèo nàn giai điệu. Điều mà anh thích thú nhất là được mặc quân phục lính dù, tay cầm súng M16 để hát các ca khúc ca tụng lính theo thể điệu boléro. Sau năm 1975, anh gia nhập ban Kịch nói Kim Cương. Sau đó, anh cùng gia đình vượt biên vào năm 1979 và định cư ở Paris, hát cầm chừng trong các chương trình trình diễn văn nghệ lẻ tẻ. Có một dạo, anh sống bằng nghề làm kẹo đậu phọng và kẹo hột điều, hốt bạc ngon lành.
Tiếp nối và phát triển

Gia dình Phạm Duy những năm đầu ở hải ngoại














Henry Chúc & Dalena

Kim Huyên, Ngọc Huệ, Tuyết Nhung trình bày Bóng Chiều Xưa

Hải Phong & Khả Tú
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.