Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

4.Boogie – Woogie 

Phòng nghiên cứu âm thính là một căn phòng rộng, trần cao có nhiều cửa sổ. Trong phòng bừa bộn và đầy chật những dụng cụ điện tử đặt trên những tấm ván, quầy sắt, bàn ráp máy, trong những ngăn tủ ván ép được chế tạo từ một công xưởng ở Mạc Tư Khoa đem đến, máy móc, dụng cụ cũng đặt đầy cả trên mặt tất cả những chiếc bàn trong phòng. 
Những bóng đèn điện nằm trong những lồng kiếng mờ trên trần tỏa một làn ánh sáng dễ chịu khắp phòng. 
Trong góc phòng có một vật trong như cái tủ đứng, bốn mặt đều có kiếng. Đó là phòng ghi âm kín, tiếng động bên ngoài không lọt vào được. Phòng ghi âm này có vẻ như chưa được hoàn toàn. Ở dưới chân ba mặt phòng ghi âm có xếp những bọc rơm để ngăn tiếng động. Lúc này cánh cửa kiếng dầy của phòng được mở rộng, tấm màn len che cửa được gạt sang bên để cho phòng thoáng khí. Bên cạnh phòng ghi âm những hàng cốt đầu dây điện bằng đống sáng lên trên một phiến đá đen. 
Một thiếu nữ nhỏ nhắn, gầy gò, khuôn mặt hơi dài có những nét nghiêm trọng, ngồi ở cái bàn gần với phòng ghi âm nhất. Lưng nàng quay vào cửa phòng, đôi vai gầy gò của nàng được choàng một chiếc khăn len. 
Ngoài thiếu nữ này, trong phòng có chừng mười người nữa, tất cả đều là đàn ông, tất cả đều bận những bộ y phục đậm màu giống nhau. Được soi sáng bởi những bóng đèn điện trên trần và thêm nhiều bóng đèn nữa trên bàn, họ bận rộn làm việc. Họ đi lại, nối dây điện, ráp những bộ phận máy vào nhau, hàn điện, vặn kềm, gõ búa, ghi chép… 
Ở ba chỗ khác nhau trong phòng có ba dàn máy radio, cả ba dàn máy thâu thanh này đều không có vỏ bao ngoài, cả ba dàn đều đang phát thanh những chương trình nhạc khác nhau. Ba tiếng nhạc hòa lẫn, mâu thuẫn, đối chọi nhau trong phòng; nhạc jazz, nhạc dương cầm hòa tấu và nhạc dân ca miền Đông. 
Rubin bước chậm qua phòng để đi đến bàn làm việc của anh, hai tay anh cẩn thận ôm trước ngực quyển từ điển Mông Cổ – Phần Lan và quyển tiểu thuyết Hemingway. Trên bộ râu quai nón rậm và đen của anh còn vưỡng những mẩu bánh vụn. 
Dù tất cả những bộ y phục phát cho tù nhân đều được may cắt cùng một kiểu giống nhau, những người đàn ông ở đây vẫn bận chúng khác nhau. Bộ áo trên người Rubin có một nút áo ngực bị mất, dây lưng áo không được gài chặt, những nếp áo thùng thình quanh bụng anh. Trái lại, người thanh niên có mái tóc màu nâu gụ dài và bồng, người đứng chặn đường đi của Rubin, lại bận bộ quần áo trên người anh như một chàng công tử hào hoa. Dây lưng áo được chàng gài sát vào vòng bụng thon làm nổi bộ ngực nở và đôi vai lớn của chàng. Bên trong chàng bận chiếc áo sơ mi màu xanh, tuy màu áo đã bạc vì giặt quá nhiều lần nhưng trông vẫn còn sang và hợp với màu chiếc ca vát chàng mang trên cổ. Người thanh niên này chặn mất lối đi của Rubin. Tay phải chàng cầm cây hàn điện, chân trái chàng đặt trên một cái ghế đẩu. Cúi mình trên đầu gối, chàng đang chú tâm vào việc ráp một bộ phận thâu phát thanh theo một đồ hình trên tờ tập san Wireless Engineer mở trên bàn, miêng chàng hát khẽ: 
Boogie-woogie… boogie-woogie 
Samba! Samba! 
Boogie-woogie… boogie-woogie 
Samba! Samba! 
Rubin không thể đi qua được và anh đứng lại đó với vẻ mặt giả vờ sợ hãi, bối rối. Người thanh niên có vẻ như không hay biết có anh đứng đó. 
“Valentulya…” – Rubin nói – „Anh làm ơn nhích giùm cho tôi đi nhờ.” 
Valentine, người thanh niên tóc hạt dẻ, không nhìn lại Rubin, chàng nói bằng một giọng nhát gừng: 
“Lev Grigovich! Anh làm rộn tôi trong lúc tôi đang làm việc. Anh làm rộn mọi người. Anh làm mất thì giờ. Anh tới đây ban đêm làm chi? Ở đây đâu có chuyện gì cho anh làm?” 
Chàng quay lại và đôi mắt sáng, trẻ trung của chàng lại để lộ ý ngạc nhiên khi chàng nhìn Rubin: 
“Một nhà ngôn ngữ học có thể làm được việc gì ở đây? Ha… Ha… Ha… Anh không phải là kỹ sư. Thật xấu hổ.” 
Rubin dẩu môi ra như một anh bé con bị đời chế nhạo và đôi mắt trợn lên: 
“Chú em… Chú nên biết rằng trong xã hội này kỹ sư của chú không có giá trị gì cả. Chú không thấy có những kỹ sư đi bán nước ngọt, sô đa ngoài đường, đi làm bồi nhà hàng đó ư?” 
“Những kẻ thất bại đó không liên can gì đến tôi. Tôi không ở hạng kỹ sư đó. Tôi là kỹ sư hạng nhất. Ông già râu dê nên nhớ kỹ điều quan trọng đó.” 
Valentine đặt cây hàn điện xuống bàn và đứng thẳng người lên. 
Valentine có cái vẻ sạch sẽ, tươi tắn của tuổi trẻ. Cuộc đời chưa in hằn một vết nhăn nào trên mặt chàng. Nhìn chàng, người ta khó có thể tin rằng chàng đã tốt nghiệp đại học trước cuộc đại chiến, chàng đã nhập ngũ chiến đấu trên mặt trận, đã bị bắt làm tù binh và sống sót từ trại tù binh của Đức Quốc Xã, chàng từng sống ở Âu châu và giờ đây chàng đang sống năm tù thứ năm ở ngay trên tổ quốc của chàng. 
Rubin thở dài: 
“Rất tiếc. Vì đồng chí không có giấy tờ chứng minh nên tôi không thể tin được lời đồng chí…” 
“Giấy tờ chứng minh là cái quái gì?? Anh tin ở con người hay anh tin ở giấy tờ?” 
Người hỏi câu này là Pryanchikov: 
“Ha… ha…” – Pryanchikov cười lớn và nói tiếp – “Quên giấy tờ đi chứ. Các bạn có tin không khi tôi nói ằng tôi yêu đàn bà lắm, tôi yêu mê đàn bà đến điên dại.” 
Người thiếu nữ có khuôn mặt nghiêm trang không thể ngăn môi nàng thoáng nở nụ cười. 
Một tù nhân khác ngồi ở cái bàn cạnh cửa sổ ngừng tay làm việc để gật đầu tỏ ý tán đồng với Pryanchikov. 
“Trên lý thuyết, lời bạn vừa nói có thể tin được.” Rubin nói với vẻ mặt suy nghĩ. 
“Tôi thích tiêu tiền nữa.” 
“Bạn có thể thích tiêu tiền nhưng bạn không tiêu được, vì bạn không có tiền.” 
Pryanchikov nhún vai: 
“Nếu tôi yêu đàn bà, nếu tôi thích tiêu tiền, nhất định tôi không thể là một kỹ sư xoàng. Này nhé… để có thể yêu được đàn bà và được đàn bà yêu – tôi nói yêu nhiều đàn bà chứ không phải yêu một ạ – tôi cần có tiền. Không phải chỉ cần có tiền mà thôi, tôi còn cần có nhiều tiền nữa. Và để có nhiều tiền, tôi cần làm việc nhiều. Nói cách khác, muốn có nhiều tiền, tôi phải là tay xuất sắc, tay cự phách trong ngành chuyên môn của tôi. Tôi không thể xuất sắc được nếu tôi không có tài, nhất là nếu tôi không yêu nghề. Ha… Ha… Đúng chưa? Lý luận chính xác của tôi làm bạn ngán chưa? Hình như bạn xanh mặt thì phải.” 
Tuy là nói rỡn chơi cho vui nhưng sự tin tưởng cũng sáng lên trên mặt Valentine. Chàng ngừng lại chờ đợi Rubin trả lời. 
“A ha…” 
Người tù ngồi ở cái bàn đối diện với bàn thiếu nữ mặt buồn đột nhiên la lên: 
“Lev… Lại đây nghe… Tôi vừa thâu được tiếng nói của Valentuya. Rõ lắm, tuyệt lắm. Tiếng nói nghe như tiếng chuông. Trong như tiếng chuông. Tôi phải ghi ngay điều này vào báo cáo của tôi mới được. Đúng là như tiếng chuống. Ta có thể nhận ra ngay tiếng nói này của ai bất kể những tiếng động khác.” 
Người tù này mở vội một quyển sổ lớn bìa cứng, trên những trang giấy trong quyển sổ này vẽ chi chít những hình kỷ hà tượng trưng cho đặc tính của tiếng nói từng người. 
Valentulya lại cầm cây hàn điện lên, chàng chỉ nói: 
“Việc của anh làm chỉ là việc lẩm cẩm, không thể tin được.” 
Chàng đứng sát vào bàn nhường lối cho Rubin đi qua. Rubin đi tới đứng cạnh bàn kỹ sư Gleb Nerzhin, người vừa gọi anh đến để nghe tiếng nói trong như tiếng chuông. 
Lev Rubin và Gleb Nerzhin là hai người bạn thân, thông cảm nhau trong nhà tù này. Họ cùng yên lặng nhìn xuống trang giấy. 
“Tiến bộ nhiều rồi đấy, Gleb” – Rubin nói nhỏ đủ cho một mình bạn anh nghe – “Cùng với ấn bản âm thanh, chúng ta sẽ có thể đi tới việc phát hiện những đặc tính của tiếng nói qua máy điện thoại.” 
Chợt Rubin giựt mình: 
“Cái chi vậy?” 
Tiếng nhạc jazz lớn nhất trong phòng nhưng giữa những âm thanh kèn đồng rộn rịp ấy họ nghe thấy một tiếng nhạc khác. Tiếng nhạc này trong vắt như lúc có lúc không, phát ra từ chiếc radio nhỏ do họ làm lấy đặt trên thành cửa sổ sau lưng Nerzhin. 
“Đó là một phép lạ” – Nerzhin nói – “bản Sonata thứ bảy trên D thứ của Beethoven. Không biết vì sao, chưa bao giờ… Nghe đi. Đừng nói.” 
Hai người ghé tai vào chiếc radio nhưng tiếng nhạc jazz quá lớn làm họ khó chịu. 
“Valentine…” – Nerzhin nói – “Làm ơn cho chúng tôi nghe. Chìu chúng tôi một chút.” 
“Tôi đã chìu các anh nhiều quá rồu” – Valentine đáp – “Tôi đã ráp dây vào máy cho các anh. Nếu tôi tháo dây ra các anh sẽ không biết đường nào mà mò.” 
Người thiếu nữ duy nhất trong phòng nhướng đôi lông mày: 
“Valentine Martunich… Tắt máy của anh đi. Làm sao nghe được cả ba cái radio phát thanh cùng một lúc.” 
Nàng nói câu này mặc dù nàng cũng thích nghe nhạc jazz như Valentine. 
“Serafima Vitalyevna… Không thể được…” 
Valentine buông cây hàn điện xuống bàn, chàng đứng vịn tay lên thành ghế và nói như người đang diễn thuyết trên diễn đàn: 
“Một người trẻ tuổi, yêu đời như cô nhất định phải thích nghe nhạc jazz, điệu nhạc khỏe mạnh, bổ dưỡng tinh thần. Cô không nên thương hại vô lý những anh già bệnh hoạn. Cô phải nghĩ đến cô trước đã. Cô chưa bao giờ nhảy bản Blue Tango hay sao? Cô chưa bao giờ được nhìn thấy những bước lướt đi tuyệt diệu của Arkady Raikin? Nghĩa là cô chưa được biết những cái gì đẹp nhất mà loài người có thể tạo ra được. Đáng buồn cho cô hơn nữa là cô chưa từng bao giờ được sống ở Âu châu. Không ở đâu trên trái đất này cô có thể học sống thanh thoát bằng ở Âu châu. Tôi chân thành khuyên cô: cô nên yêu một người nào đó. Thật mà. Cô yêu ai cũng được, nhưng cô phải yêu. Yêu ai tùy cô, nhưng nhất định là phải yêu trước đã. Rồi cô sẽ thấy ánh sao sáng trong trời đêm mặc dù đêm không có sao, tiếng nhạc êm đềm trong không gian mặc dù quanh cô không có nhạc…” Chàng say sưa nói và không để ý gì đến vành môi cay đắng mím chặt của người thiếu nữ. “Hắn lại bốc đồng rồi” – Rubin nói – “Mình bắt buộc phải dùng đến sức mạnh.”
Và Rubin thò tay ra vặn tắt chiếc radio sau lưng Valentine. 
Valentine quay phắt lại: 
“Lev Grigorich… Ai cho phép anh…?” 
Chàng cau mày và cố gắng làm ra vẻ đe dọa. 
Tiếng nhạc sonata thứ bảy bay vút lên trong như tiếng suối. Trong phòng chỉ còn tiếng nhạc dân ca phát ra từ chiếc máy ở tít đầu kia. 
Rubin xịu mặt xuống trước vẻ đe dọa hung hăng của chàng thanh niên, bộ râu đen còn vướng những vụn bánh của anh run run khi anh hỏi: 
“Kỹ sư Pryanchikov. Anh có còn thắc mắc gì về Hiến chương Liên minh Đại Tây dương không? Anh đã viết di chúc chưa? Anh từ chối không chịu để lại cho ai đôi giày vải cũ của anh?” 
Lời nhắc đến cái chết chung đó là một ước lệ bất thành văn của những tù nhân ở đây. Mỗi lần có người nổi nóng là người khác có bổn phận hỏi y một câu tương tự. Quả nhiên câu hỏi này có mãnh lực làm cho Pryanchikov dịu lại. Chàng nhìn vào mắt Rubin và dịu giọng: 
“Anh làm tôi phát điên. Dù ở tù, ít nhất mình cũng phải có một chút tự do chứ.” 
Có một người cất tiếng gọi Pryanchikov. Chàng lặng lẽ bỏ đi, nét mặt vẫn u buồn. 
Rubin cũng lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế sau bàn làm việc dành riêng cho anh cạnh bạn của Gleb Nerzhin. Anh vội vã chú tâm nghe nhạc nhưng tiếng nhạc đang êm đềm bỗng tắt ngang, mất hẳn không ngờ, như một bài diễn văn bị cắt đứt ở giữ một tiếng. Bản sonata thứ bảy tiêu tan luôn. 
Rubin thốt ra một tràng chửi thề trong bộ râu, những tiếng chửi thề này chỉ có một mình Gleb Nerzhin nghe hiểu. 
“Làm ơn đánh vần giùm, tôi nghe không kịp.” 
Gleb nói đùa nhưng không cười. Gleb Nerzhin và Lev Rubin ngồi đâu lưng vào nhau. Họ quen nói nhỏ với nhau mà không ai quay lại. Họ có thể nói với nhau cả tiếng đồng hồ mà người ngồi xa họ vẫn không hiểu. 
“Tôi thật không may…” – Rubin dằn giọng – “Thế là tôi mất dịp nghe bản nhạc tôi chưa từng được nghe bao giờ.” 
“Đó lại tại vì anh sống không có tổ chức. Đã bao lần tôi nói với anh điều ấy?…” 
Gleb Nerzhin nói như người nói một mình. Trước đó vài phút anh hào hứng, hăng hái thâu tiếng nói của Pryanchikov để thí nghiệm, nhưng bây giờ anh âu sầu và mệt mỏi: 
“Bản sonata của Beethoven là một bản nhạc tuyệt vời. Nhưng tại sao nhạc sĩ không đặt cho nó một cái tên như tất cả những bản nhạc khác? Như “Nhạc khúc rực rỡ” chẳng hạn. Đúng lắm chứ. Tất cả những gì chứa đựng trong nó sáng lên, long lanh – tốt và xáu, vui lẫn buồn, như trong cuộc đời. Và cng như cuộc đời… nó không có đoạn kết… Có thể gọi là “Nhạc đời” Anh làm gì mà đến muộn vậy?” 
“Tôi dự lễ Giáng sinh với những người bạn Đức.” 
“Tốt”, Gleb nghĩ thầm và nói: 
“Tôi mến thái độ của anh đối với bọn họ. Hay lắm. Tôi biết anh vẫn dành nhiều thì giờ để dạy chàng Max học tiếng Nga trong lúc anh có đủ các lý do để thù hận họ.” 
“Thù hận? Không, tôi không thù hận gì họ nhưng tôi cũng phải nói rằng cảm tình trước đây của tôi đối với họ đã mờ đi nhiều. Ngay cả anh chàng Max, dù trước đây không biết gì đến chính trị, cũng phải chịu chung trách nhiệm với bọn giết người. Ít nhất chúng ta cũng đã không làm gì để ngăn cản bọn giết người.” 
“Cũng như chúng ta giờ đây, chúng ta không làm gì hết để ngăn cản Abakumov và Shishkin – Myshkin.”
“Anh nghe tôi… lần này là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng… tôi là người Do Thái nhưng tôi cũng là người Nga. Và tôi tuy là người Nga nhưng tôi cũng là một công dân của thế giới!” 
“Hay lắm. Công dân thế giới. Nghe có vẻ hiền lành và không khát máu chút nào.” 
“Vì là công dân thế giới, họ có lý khi họ bỏ tù chúng ta.” 
“Tất nhiên là họ có lý rồi. Vậy mà anh vẫn cứ cố gắng làm cho Hội đồng Xô Viết tối cao thấy rằng họ sai.” 
Chiếc radio trên thành cửa sổ đang loan bản tin thành tích thi đua gia tăng năng suất trong ngày. Gleb Narzhin đưa tay ra lạnh lùng vặn nút radio, làm mất đi giọng nói khàn khàn của xướng ngôn viên. Khuôn mặt mệt mỏi của Gleb có màu xanh tái. 
Valentine Pryanchikov lúc này đã đặt hết tâm trí vào một công việc mới. Chàng vừa làm việc vừa hát như một kẻ tự do, không ưu tư và bất cần đời… 
Boogie-woogie… boogie-woogie 
Samba! Samba!

——————————–

1Boogie – Woogie, tên một điệu nhảy phổ thông phát sinh từ Hoa Kỳ sau trận Thế chiến thứ hai.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

Chương 20 – Cùng là anh em một nhà

Ông Eric von Marbod đi một vòng quanh Việt Nam với một chủ đích, cứu vãn chiến cụ được bấy nhiêu hay bấy nhiêu, và phá hủy những gì không thể di tản được . Ông đến căn cứ lớn nhất của Biên Hòa sáng ngày 27 tháng 4. Không có một hoạt động nào hết hoặc đang ở trong tình trạng bối rối, các hạ sĩ quan và binh sĩ Miền Nam đi lang thang ngoài phi đạo. Không thấy có một sĩ quan nào ở đâu hết.

Dụng cụ điện tử của Bộ Chỉ Huy Không Quân Việt Nam, các cơ xưởng sửa chữa máy móc và điện, các thiết bị vô tuyến, các dụng cụ đo đạc tối tân nhất…, tất cả đều còn nguyên vẹn. Muốn thu nhặt hết cũng phải tốn vài ngày. Tức giận quá, ông Eric trở lại Sài Gòn. Ông cực lực phản đối với tướng Đồng văn Khuyên đang thay thế tướng Cao văn Viên trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng vốn đã xin Tổng Thống Hương được từ chức. Sợ bị ám sát, ông thay đồ dân sự để kín đáo ra đi. Ông von Marbod nói chuyện với các phi công, trong số đó có tướng Kỳ để biết xem liệu họ có thể phá hủy được các chiến cụ đã được bỏ lại hay không? Họ trả lời rằng hệ thống phòng không của Bắc Việt, nhất là các hỏa tiễn Strella, rất là chình xác và rất là nguy hiểm, nếu muốn phá hủy mục tiêu thì phi cơ phải bay thật thấp, rất là nguy hiểm vì sẽ bị bắn rớt ngay.

Ngày hôm sau, ông Von Marbod đến gặp đại sứ Martin. Ông này coi thường những hoạt động của Von Marbod. Ông cho rằng lại có thêm một người đến làm tăng thêm sự hoảng loạn nữa đây. Ông Martin chưa có hủy bỏ một trong những lệnh của ông, nhằm cấm di tản tất cả mọi phi cơ hay trực thăng của Miền Nam Việt Nam. Cũng giống như những người có trách nhiệm ở Ngũ Giác Đài, ông Von Marbod vốn là một người bi quan; nhưng ông Martin thì không. Ông Martin cho ông Von Marbod biết là người ta đang hướng đến một cuộc “hưu chiến tại chỗ” và một Chánh Phủ Liên Hiệp của tướng Dương Văn Minh. Ông Martin tin chắc là người Mỹ còn thì giờ, ít nhất là một tháng, để kiểm kê, phân loại, dán nhãn, và chở đi các chiến cụ quân sự, trong an toàn sau lằn ranh ngừng bắn.

Ông Von Marbod không chú ý đến những cảm tưởng của ông đại sứ. Ông ta yêu cầu Bộ Chỉ Huy của Không Lực Hoa Kỳ ở Thái Lan hãy chuẩn bị để tiếp đón tại phi trường một số lớn trực thăng hay phi cơ của Miền Nam Việt Nam. Khoảng 200 chiếc sẽ đến các phi đạo ở Thái Lan.

Càng ngày lệnh lạc càng mâu thuẫn nhau, giữa người Mỹ và người Việt Nam. Ở phi trường Tân Sơn Nhất , hai ngàn dân tỵ nạn người Việt Nam đang sẵn sàng để được bốc đi. Trong số này có cả các công chức và quân nhân mặc thường phục. Tuy nhiên Tổng Thống Trần văn Hương chẳng những cấm không cho họ đi mà còn bắt buộc các quân nhân và công chức ở ngoại quốc phải trở về Việt Nam trong vòng 30 ngày. Tỉ mỉ hơn, ông còn cho biết là nếu họ không thi hành lệnh này thì những người Việt Nam đó sẽ mất hết quốc tịch Việt Nam và tài sản của họ sẽ bị tịch thu. Tổng Thống Hương còn cho bắt đầu thiết quân luật lúc 6 giờ thay vì 7 giờ như trước.

Qua đài truyền thanh và truyền hình, ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn đã cùng các tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và thuộc Vùng III Chiến Thuật ở Sài Gòn đã lên tiếng triệu tập một buổi họp của các nghị sĩ và dân biểu.

Trước một trăm ba mươi tám thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội , ông Đôn trình bày tình hình quân sự rất là chi tiết. Các tin tức đã quá chính xác đến độ người ta phải tự hỏi xem liệu Bộ Tham Mưu Bắc Việt có cố ý gởi các điện tín bằng bạch văn hay không, để gây hoang mang cho Bộ Tham Mưu của Miền Nam Việt Nam?:

– Ở đây, về phía Đông Nam của Tây Ninh, chỉ để đối diện với sư đoàn 25 của chúng ta thôi, Bắc Việt đã có tới 4 sư đoàn, các sư đoàn 320, 316, 70 và 968.

…………Và cứ lần lượt đến các mặt trận khác chung quanh Sài Gòn. Tổng kết quá thảm: 5 sư đoàn phải chống cự với ít nhất 18 sư đoàn. Đường đến Vũng Tàu bị cắt đứt. Người ta không thể điều động binh sĩ ở đó được. Ngay như các đoàn xe của dân tỵ nạn cũng không qua được Đêm hôm qua, các hỏa tiễn 122 ly đã rơi vào vùng ngoại ô của Sài Gòn.

Ông Chủ Tịch Thượng Viện chấp nhận là ông Dương Văn Minh có thể nắm lấy quyền hành, tất cả quyền hành. Lại bàn cãi thêm nữa ở Quốc Hội. Vẫn luôn luôn có mặt ông Brochand ở đó. Ông ta giúp ông Lý quý Chung, cố vấn của ông Minh, để hoàn chỉnh một vài phương thức. Đưa ra lấy biểu quyết ở Quốc Hội cũng là một điều rất có ích. Người ta biểu quyết lúc 20 giờ 30.

Câu hỏi được đặt ra là: Liệu các nghị sĩ và dân biểu có đồng ý cho Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chuyển giao tất cả quyền hành cho tướng Dương Văn Minh để ông này tìm phương tiện lập lại hòa bình ở Việt Nam hay không?

Có 136 phiếu thuận và 2 phiếu trắng, như vậy là nghị quyết được chấp thuận. Chỉ có một chút khó khăn đó mà đã tốn quá nhiều thì giờ. Tổng Thống Hương mong rằng buổi lễ bàn giao quyền hành sẽ được tiến hành ngay ngày mai, chớ không phải ngay bây giờ. Lúc đó thì thời gian ngồi ở ghế Tổng Thống của ông sẽ được đúng một tuần tròn.

Thế là đường lối ngoại giao của Pháp đã đạt được mục đích. Ông Martin điện về ông Kissinger:

-“Cũng như người Ba Lan và người Hung gia Lợi, người Pháp đã chuyển tiếp tất cả những tin tức cần thiết cho cộng sản để “phía bên kia” ngừng tấn công”

Để chứng tỏ rằng ông không phải là người Mỹ lạc quan duy nhất, ông Martin còn viết thêm:

– “Tất cả mọi nhân viên cấp cao của tòa đại sứ đồng nghĩ rằng Sài Gòn sẽ không bị tấn công”

Điều này mặc nhiên cho thấy là các nhà ngoại giao cấp thấp không có ý nghĩ khích lệ như vậy Hơn nữa các cơ quan tình báo từ Honolulu đã cho biết là họ đã bắt được nhiều điện tín bằng bạch văn của Bắc Việt, nhiều tiêu lệnh liên quan đến tác xạ của pháo binh nhằm vào sân bay Tân Sơn Nhất . Chuyện đó không gây xúc động cho ông Martin chút nào. Các chuyên viên về kiểm thính truyền tin đã giải thích cho ông Martin rằng trong vòng 15 năm cuối cùng, chưa bao giờ các lệnh lại rất quan trọng như thế này lại được chuyển thẳng bằng bạch văn. Từ đó ông Martin cho rằng đây là một đòn đe dọa của Bộ Tham Mưu Bắc Việt.

Đại sứ Martin báo cáo về sự tiến triển của kế hoạch di tản:

“Nhìn chung diễn tiến rất tốt. Đến trưa ngày 27 tháng 4, đã có 35 ngàn 425 người đã được di tản, Chỉ còn chờ lễ nhận chức của ông Dương Văn Minh mà thôi.”

Ông Kissinger cho phép liên lạc với những người trong trại Davis, nhưng chỉ duy nhất để giải quyết “tình hình ở địa phương” mà thôi. Những người của trại Davis họ rất là giữ kẽ. Không có việc gì quan trọng hết, tất cả chuyện đó sẽ phải được giải quyết ở cấp cao. Tại Ngũ Giác Đài ở Hoa Thạnh Đốn cũng như ở Bộ Tư Lệnh Lực lượng Thái bình Dương ở Honolulu, người ta không hề bị ý định của Hà Nội ru ngủ. Chỉ có những người làm chánh trị , những người như ông Martin mới tin vào cuộc hưu chiến. Không cần phải hỏi ý tòa đại sứ, Ngũ Giác Đài lấy một quyết định căn bản:

_ “Ngay sau khi sân bay Tân Sơn Nhất bị tấn công, tất cả mọi cuộc di tản bằng phi cơ đều được đình hoãn. Trực thăng sẽ bốc những người tỵ nạn ra các tàu ở ngoài khơi. Và chính tướng Homer Smith – chớ không phải người chỉ huy trực tiếp của ông là đại sứ Martin- sẽ là người ra lệnh di tản các nhân viên quân sự Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn”.

Trong một vài ngày nào đó, những quân nhân có trách nhiệm ở Honolulu đã tưởng rằng sẽ có một cuộc hưu chiến. Nhưng một bức điện tín gởi cho ông Martin ngày 27 tháng 4 đã cho thấy rõ là không hề có chuyện đó:

_ “Lực lượng cộng sản đã bắt đầu một cuộc hành quân có thể được xem là cuộc tấn kích cuối cùng vào Sài Gòn”

Đối với tướng Homer Smith thì thật là tế nhị, bởi vì theo hệ thống quân giai ông cũng phải trực thuộc với Bộ Tư Lệnh quân sự ở Honolulu.

Ông Martin ngồi suy luận về một bức điện tín dài của ông Kissinger:

_ “Về diễn tiến chánh trị ở Sài Gòn tôi nghĩ rằng sau khi ông Minh thành lập Chính Phủ, thì không chóng thì chầy sẽ có những cuộc thương lượng có thể dẫn đến một thỏa hiệp cho một Chánh Phủ Liên Hiệp 3 thành phần…. mà hai phần ba là cộng sản và một phần ba còn lại do cộng sản giật dây…. Như vậy, câu hỏi được đặt ra là phải cần biết xem tòa đại sứ của chúng ta sẽ làm cái gì? Có thể sau đó Bắc Việt sẽ cố gắng ngăn cản mọi cuộc di tản của người Việt Nam. Khi chuyện đó xảy ra, tôi tin rằng chúng ta phải giảm xuống tối đa nhân số, chỉ cần giữ lại một số người thật sự tối cần thiết ở tòa đại sứ mà thôi. Lúc bấy giờ câu hỏi được đặt ra là: phải biết xem liệu chúng ta phải rút đi hoàn toàn, hay phải ở lại, để giữ sự có mặt tượng trưng với một vài nhân viên của tòa đại sứ…?. ”

Hoa Kỳ có quyền lợi gì để giữ lại một tòa đại sứ? Trong hiện tại chỉ duy nhất có một, đó là: sự giao hoàn hài cốt của quân nhân Mỹ và tìm người Mỹ còn bị xem là mất tích.

Ông Martin không chấp nhận ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng Hòa bị hoàn toàn sụp đổ trên cả hai phương diện chánh trị và quân sự . Người Pháp thì sẽ ở lại. Tại sao những Mỹ sẽ không ở lại tại chỗ ? Ông Martin không thấy có gì mà phải đánh bóng sự ra đi khỏi Phnom Penh của ông bạn đồng nghiệp của mình là Đại sứ John Dean. Ông Martin tin tưởng – hay giả bộ tin tưởng- vào giải pháp Dương Văn Minh.

Trong buổi tối ngày 27 tháng 4, ông Eric von Marbod ngồi uống trà xanh và rượu mạnh ở nhà tướng Kỳ. Xa xa có tiếng nổ của đạn pháo và có tiếng còi hụ trong thành phố. Tướng Kỳ cho rằng người ta đang lo gom các đơn vị quân sự lạ:

_ “Chúng tôi có thể chiến đấu ở đồng bằng sông Cửu Long, và có thể giữ vững một vài tháng. Liệu Chánh Phủ Hoa Kỳ có yểm trợ cho chúng tôi được hay không ? không phải về nhân sự mà chỉ là về súng đạn?

_ Rất tiếc là không,” ông Marbod trả lời

Ông khuyên tướng Kỳ nên rời khỏi Việt Nam với ông ta trong hai hay ba ngày nữa. Tướng Kỳ có thể định cư ở Hoa Kỳ. Nhưng gia đình của Kỳ là phải nên cho đi tức khắc.

Ông Trần văn Hữu, cựu Thủ Tướng, người đã đến Bộ Ngoại Giao Pháp hôm tháng giêng, đã có gởi đại diện đến Sài Gòn trong số này có ông Lê quốc Túy và viên cựu phi công Hành . Họ đến tiếp xúc với Đô đốc Chung tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam. Không thông báo cho Bộ Tổng Tham Mưu, Đô đốc Cang chuẩn bị cuộc triệt thoái của các đơn vị khả dụng để ra biển. Ông cho chở dầu, lương thực, đạn dược và gia đình của sĩ quan, binh sĩ Hải Quân. Ông nghĩ là phải tạm đổ đàn bà, trẻ con và người lớn tuổi lên đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan. Ở đó có một căn cứ Hải Quân Việt Nam hoàn toàn dễ phòng thủ. Sau đó ông Cang sẽ đưa đoàn tàu và các thủy thủ về đồng bằng sông Cữu Long. Ông sẽ đặt bản doanh trên một trong những chiếc tàu tuần duyên, chiếc HQ.03, một loại hộ tống hạm cũ của Hải Quân Pháp.

Đô đốc Cang và hai sứ giả của ông Hữu cùng đi đến nhà ông Dương Văn Minh.

“Ở Ba Lê chúng tôi đã có gặp người của Hà Nội và của CPLTCHMN . Họ đồng ý để thành lập một Chánh Phủ chuyển tiếp. Lê quốc Túy còn nói thêm:

_ “Phải mời ông Trần văn Hữu trở về nước và trao quyền cho ông ta để ông ta thương lượng với cộng sản.

Ông Minh thấy dự án này không hấp dẫn. Đô đốc Cang hỏi:

_ “Có được một tiến triển nào trong vấn đề bàn thảo với “phía bên kia” không?

Ông Dương Văn Minh đáp:

_ “Những người đại diện ở trại Davis không có muốn thương thuyết đâu. Họ nói họ chỉ làm một nhiệm vụ quân sự của phái đoàn quân sự mà thôi và họ không có quyền thương lượng những vấn đề chánh trị.

_ “Như vậy tại sao ông đã nhận lấy quyền hành, mà không có một bảo đảm nào không chắc chắn là Bắc Việt họ muốn gì? Bây giờ phải mời ông Trần văn Hữu về để tìm một giải pháp, ông Túy nói.

_ “Đó là vì Chánh Phủ Pháp đã thúc đẩy việc này và họ đã chuẩn bị tất cả. Hai ông Mérillon và Trần văn Đôn luôn luôn nói với tôi là đã có sẵn một kế hoạch, và rằng tôi sẽ có sáu tháng để dàn xếp. Và bây giờ thì không có gì hết ! Tôi biết các ông đại diện cho ông Trần văn Hữu, và tôi tin rằng ông ta có thể làm được một vài việc…. Tôi kính trọng ông ta…. Làm thế nào để yêu cầu ông giúp chúng ta bây giờ?

Đô Đốc Cang:

_ “Ông khỏi cần lo gì hết, tôi sẽ lãnh làm việc này cho. Tôi có nhân viên. Trong khi chờ đợi, dù có chuyện gì xảy ra, mình cũng phải cầm cự đến cùng. Trường hợp tình hình quá nghiêm trọng, tôi đề nghị với Tổng Thống phải rời Sài Gòn và lui về ở Cần Thơ, là thủ đô của vùng đồng bằng. Tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Vùng 4, đã vừa điện thoại cho tôi chiều hôm qua để nói với tôi là tình hình ở đó rất là bình thường. Ông có trong tay 3 sư đoàn tốt, một Không lực và tất cả lực lượng hải quân. Ngoài ra còn có lực lượng Phật Giáo Hòa Hào và Cao Đài, và Nhân Dân Tự Vệ nữa Chúng ta có thể kháng chiến và bàn thảo ở vị thế mạnh. Tướng Minh:

_ “Bây giờ thì các ông hãy về đi. Khi các sự bố trí kỹ thuật đã hoàn tất, thì tôi sẽ tuyên bố trên đài phát thanh, trong một giờ nữa đây.

Đô Đốc Cang:

_ “Vậy là kế hoạch của ông như thế nào?

Tướng Minh:

_ “Tôi không có kế hoạch nào hết.

Đô Đốc Cang cố nhấn mạnh:

_ Lúc nào mà chúng ta còn ở Sài Gòn, thì chúng ta sẽ bị bao vây. Chúng tôi …. Ông có dự trù một cuộc điều động nào hay không trong lúc Hải Quân chúng tôi còn ở lại đây. Phải tuyên bố bỏ ngỏ Sài Gòn và sau đó chuyển Chánh Phủ về Cần Thơ. Ở đó, vị thế của ông không mạnh lắm, nhưng ít nhất cũng là một vị thế. Và mình có thể tận dụng được truyền thanh truyền hình để cho lệnh tất cả các đơn vị hãy tập họp nhau lại ở thủ đô lâm thời.

Tướng Minh đáp lời một cách mệt mỏi:

_ “Chiến tranh! Lúc nào cũng chiến tranh! Với chiến tranh thì chừng nào người ta mới chấm dứt được nó đây?

Thật quá rõ ràng là ông Dương văn Minh không thích dự án này. Đô Đốc Cang đặt một câu hỏi chót:

_ “Như vậy thì mỗi người chúng ta đều chuẩn bị cho kế hoạch riêng của mình?

_ “Ông muốn làm gì đó thì làm.

Tính kiên trì của giới hành chánh thật đáng khen. và đây là bằng chứng: nền hành chánh vẫn tiếp tục chạy đều, ông tổng thơ ký Tổng Thống Phủ loan báo là “các cơ quan công cộng sẽ làm việc ngày 1 tháng 5”.

Đồng mỹ kim hiện có giá là 4000 đồng.

Các cộng sự viên của tướng Kỳ khuyên ông ta nên liên lạc với tướng Dương Văn Minh. Ông Kỳ điện thoại cho trung tá Đẩu, tùy viên của tướng Minh. Trung tá Đẩu trả lời:

_ “Xin cám ơn thiếu tướng đã gọi, nhưng bây giờ thì Tổng Thống không thể nói chuyện với ông được. Ông đang bận lo thành lập Chánh Phủ. Chúng tôi sẽ gọi lại ông sau.

Từ giã tướng Minh, Đô đốc Cang và hai đại diện của ông Trần văn Hữu trở về Bộ Tư Lệnh Hải Quân.. Giải pháp Trần văn Hữu xem ra cũng hay hay. Ông này không thể bị Hà Nội cáo buộc là nằm trong “tập đoàn của ông Thiệu” được. Và ở Sài Gòn hồi xưa người ta nhắc lại là ông suýt trở thành Chủ Tịch của MTGPMN. Ông cũng từng là ứng viên đắc ý của Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN.

Đô Đốc Cang và hai người của ông Hữu chờ ông Minh. Ông không đến và Đô Đốc cũng không thể đến ông Minh được . Đô Đốc gọi thử ông Mérillon để nhờ ông gởi về Ba Lê một điện tín của ông Minh, nhưng vô ích. Ông đành phải nhận xét:

_ “Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm được, nhưng hiện giờ chúng ta không còn có một nhân vật chánh trị nào có giá nữa hết. Ngay như người ta lật đổ ông Minh xuống, cũng là một chuyện dễ thôi vì tướng Minh không còn chỉ huy ai nữa cả, thì tôi thấy cũng không có giải pháp nào. Tôi còn một nhiệm vụ phải làm : di tàn và cứu vãn ba chục ngàn người với các tàu chiến của tôi.

Do đó giải pháp Trần văn Hữu bị chết trong trứng nước.

Đến gần nửa đêm, gần 20 người có trách nhiệm ở tòa đại sứ họp nhau lại. Người ta phải xem lại các danh sách của người Việt Nam bắt buộc phải cho di tản, nhất là những người sẽ gặp nhiều nguy cơ trong trường hợp cộng sản Bắc Việt chiếm được Sài Gòn. Phải di tản ít nhất mười ngàn người ngày mai. Không thể được ư? Vậy thì là hai ngàn…

Trong lúc đó, ở Hoa Thạnh Đốn, ông đại sứ Liên Xô, Dobrybine xem xét các câu hỏi mà ông Kissinger đã yêu cầu ông chuyển cho Hà Nội:

1.- Bắc Việt có sẳn sàng thương thảo với tướng Dương Văn Minh không?

2.- Bắc Việt có sẳn sàng chấp nhận sự hiện diện tối thiểu của người Mỹ ở Sài Gòn không?

3.- Bắc Việt có sẳn sàng để cho cuộc di tản của người Mỹ được dễ dàng không?

a)- một hành lang không phận đến Sài Gòn

b)- quốc lộ từ Sài Gòn đến Vũng Tàu phải được lưu thông tự do.

Những câu trả lời thẳng thắng và trực tiếp đã được nghe. Sau đó không lâu Đài phát thanh giải phóng xác nhận trong một bản tin là: “Giữ lại tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, dù là với nhân số tối thiểu, không có nghĩa là một sự bất can thiệp của Hoa Kỳ” Nói như vậy là có ý nghĩa gì đây?

Ở Hoa Thạnh Đốn cũng như ở Sài Gòn người ta gợi lên một sự “tắm máu” trong tương lai. Dường như ở Đà Nẵng các cảnh sát đã bị chặt đầu, ở Ban Mê Thuột thì các công chức bị xử bắn. Còn các chỗ khác nữa, các sĩ quan của Miền Nam bị trói tay và bị hành quyết bằng lựu đạn.

. Các công chức cao cấp nhận xét là trong thập niên 50, sau khi làm chủ được Miền Bắc, cộng sản đã hành quyết trên năm chục ngàn người. Ông Wolfgang Lehmann thì nghĩ rằng các cuộc hành quyết hay thanh toán đó sẽ được cộng sản thi hành trong dài hạn.

Trong những ngày sau cùng này, tòa đại sứ đã nặng tay đối với báo chí. Các ký giả của tờ Newsweek đã phỏng vấn nhiều người dân tỵ nạn và đã đi đến một kết luận rằng người ta thấy rất ít nhân chứng trực tiếp của những hành động tàn bạo này. Để cho họ thấy sự thật, ông Martin ra lệnh cho họ xem những công điện trong đó có nêu rõ các cuộc hành quyết ở Đà Nẵng, ở Ban Mê Thuột và ở các nơi khác. Các nhà ngoại giao thú thật với các nhà báo là người ta đã chọn cho họ những điện tín có tính gây lo sợ. Có người lại còn nói họ có hơi nghi ngờ đề tài của các bức điện tín đó. Dù sao thì hiển nhiên là phải di tản những người Việt Namđã từng làm việc với người Mỹ ở Sài Gòn và ở Cần Thơ và nhất là những cộng tác viên của Trung Ương Tình. Báo CIA. Hình như không có gì dự trù cho nhân viên ngành Thông Tin. Ông Alan Carter tỏ ra rất lo ngại cho 50 nhân viên người Việt Nam của ông.

Trừ tòa đại sứ Pháp, các tòa đại sứ khác đã dọn trống, hầu hết đều dùng phi cơ. Ông John Bushell, đại sứ Anh Quốc, muốn ở lại tại chỗ, sau khi đã di tản hết nhân viên và khoảng 12 binh sĩ hoàng gia đã từng giữ an ninh cho tòa đại sứ của mình. Thủ Tướng Anh, ông James Callaghan đã thân mật bảo ông phải chuồn đi. Ông John yêu cầu cho ông một tàu phóng ngư lôi. Thật là quá phù phiếm!. Nhưng nếu người ta đánh chìm chiếc tàu này trên sông Sài Gòn thì hậu quả sẽ rất là tai hại. Người ta gởi cho ông 4 phi cơ Hercules của Không Lực Hoàng Gia Anh, được quá cảnh ở Tân gia Ba. Được bỏ trống, tòa đại sứ Anh được xử dụng như chỗ trú của các công chức Miền Nam và cảnh sát. Có một số tòa đại sứ đã bỏ quên nhân viên người Việt Nam của họ lúc nào cũng mong muốn được ra đi, họ đã xử sự không tốt như một số công ty tư nhân ngoại quốc. Những công ty này đã tỏ ra lo lắng cho nhân viên người Việt của mình, đó là các cơ quan báo chí, truyền hình và truyền thanh, các nhật báo và các tuần báo. Những người có trách nhiệm đã có biện pháp thận trọng, từ tháng 2 /75. Có nhiều người đã thuê bao phi cơ của công ty công Eckes, Hảng Dịch Vụ Hàng Không Continental. Các công ty thuộc giới thông tin rất cần phi cơ chẳng những để thu hình hay gởi ra ngoài những hình ảnh đã rửa hoặc chưa rửa, mà cũng còn để di tản nhân viên của mình vào giờ chót. Họ không hề bỏ nhân viên của mình hay gia đình của nhân viên ở lại. Các hãng CBS, ABC, NBC đã dự trù một cầu không vận để đưa họ về Tân Gia Ba hay Hong Kong. Hãng Associated Press đã gởi một phi cơ loại nhỏ đến Phnom Penh, để bốc các phóng viên người Cam Bốt của họ, lúc Cam Bốt bị thất thủ. Một vị Phó Chủ tịch của hãng NBC đã đích thân lo lắng cho một anh tài xế và cả gia đình đông con của anh ta.

Tại phi trường, tất cả các người có thiện chí đều được hoan nghênh. Những người tình nguyện như ông Jim Eckes, đã lên danh sách, đưa những người tỵ nạn ra tận phi cơ vốn phải cất cánh từng 45 phút một. Khi những người tỵ nạn không có đủ giấy tờ hợp lệ thì có những người tình nguyện và ngay những công chức hộ tống họ đến các phi cơ bay đi Guam hay đi bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Hoa Kỳ . Như vậy một khi được đến nơi rồi thì họ không thể nào bị đuổi về lại Việt Nam được. Thí dụ như khi đến Phi luật Tân, người tỵ nạn sẽ gặp nhiều nguy cơ sẽ có nhiều vấn đề mới được vào nước Mỹ.

Trong ngày 28 tháng 4, các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có nhiệm vụ phải bảo vệ cuộc di tản, đã có cảm tưởng là đã bị tòa đại sứ quan trọng hóa vấn đề .Một toán Thủy Quân Lục Chiến gồm có một trung úy, một hạ sĩ quan , 36 binh sĩ và 2 y tá đến Tân Sơn Nhất theo lệnh của Ngũ Giác Đài.. Từ lúc đến phi trường, các Thủy Quân Lục Chiến này rất lấy làm thất vọng. Mấy ngày trước đó, 4 sĩ quan và 1 hạ sĩ quan thuộc nhóm tiền đạo đã thấy tại chỗ là những sự chuẩn bị cho cuộc di tản rất là “mù mờ”. Thủy Quân Lục Chiến thì chỉ biết có một việc di tản thôi, và họ trực thuộc thẳng Bộ Tư Lệnh của họ về mặt quân sự . Nhưng tòa đại sứ thì phải chịu trách nhiệm về sự di tản nhân viên của họ. Ông Martin lại không muốn tạo ra một cảm tưởng triệt thoái để tránh tình trạng hoãng loạn cho dân chúng Việt Nam. Có rất nhiều cuộc bàn thảo giữa tòa đại sứ và các sĩ quan này, rất là cần thiết, để Thủy Quân Lục Chiến có thể chuẩn bị những bãi đáp trực thăng ở Tân Sơn Nhất , như phá bỏ các sân quần vợt, và bố trí lại các hàng rào kẽm gai. Ông Martin thì lại ngăn cản. Từ lâu rồi, Bộ Tư Lệnh tối cao ở Honolulu đã soạn sẳn nhiều đường lối hành động.(1)

Lệnh di tản ồ ạt những người Mỹ bằng phi cơ đã được ban hành ngày 22 tháng 4. Thủy Quân Lục Chiến phải dự trù một cuộc di tản, căn cứ duy nhất trên việc xử dụng trực thăng mà thôi: đó là phương thức có tên là “Cánh Thông Thường”. Tên mật mã cũ “Như Gót Chân” đã được thay đổi vì đã bị tiết lộ. Kế hoạch khuyến cáo nên có 13 điểm tập trung trong thành phố, để bốc đi những người Mỹ cuối cùng và đưa họ ra phi trường. Là những người chuyên môn nên Thủy Quân Lục Chiến họ muốn gắn những cọc tiêu chiếu sáng trên các nóc nhà liên quan đến 13 điểm bốc đó. Tòa đại sứ phản đối cũng luôn luôn chỉ vì vấn đề sợ dân chúng hoãng loạn. Trong một bản phúc trình cuối cùng của mình, tướng Richard Carey, chỉ huy trưởng toán lực lượng Thủy Quân Lục Chiến này đã viết:

“Có nhiều việc đã được thực hiện mà không có sự phê chuẩn chánh thức” (nguyên tác: được diễn dịch ra là không có phép của ông Graham Martin). Có một chi tiết quan trọng, đó là kế hoạch di tản không lúc nào có dự trù là các trực thăng loại lớn sẽ đáp xuống nóc tòa đại sứ. Người ta dự trù tiến hành cuộc di tản như thể các đường bay ở phi trường còn xử dụng được trong dài hạn, tức là xử dụng phi cơ.”

Người ta có cảm tưởng rằng ông Martin, bị dính cứng vào ý nghĩ của một cuộc hưu chiến, nên ông ta tưởng rằng cuộc di tản sẽ được bảo vệ, do lực lượng an ninh trật tự chung gồm có Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ , binh sĩ của Miền Nam Việt Nam và  tại sao không, luôn cả cảnh sát và bộ đội Bắc Việt?

Ông Dương Văn Minh cho người gọi điện thoại báo cho tướng Kỳ.

_ “Đại tướng Minh muốn gặp Thiếu tướng vào sáng ngày mai ở Dinh Tổng Thống.”

Tướng Kỳ đã đổi ý. Hầu hết các sĩ quan của ông đều khuyên ông không nên đến Dinh Độc Lập theo lời mời đó. Vì nếu họ muốn bắt giữ để cô lập ông thì sao? Hay nếu họ muốn trao ông cho Bắc Việt thì sao? Thật ra, tâm địa của tướng Minh và tướng Kỳ hoàn toàn khác nhau để hai người có thể nghe lẫn nhau. Bốc đồng và sôi sục, tướng Kỳ luôn nghĩ về một sự chiến đấu hơn là một sự thương thảo mà ông không bao giờ tin. Còn ông Minh thì huởn đãi và hay tránh né, nên nhắm vào một cuộc hưu chiến. Trong giới có nhiều thủ đoạn chánh trị ở Sài Gòn, hai ông Minh và Kỳ nương nhau, người trẻ thì kính nể người lớn tuổi hơn mình, nhưng không người nào ưa người nào. Họ còn nghi ngờ nhau đến tuyệt đỉnh. Do vậy ông Kỳ sẽ không có đến gặp ông Dương Văn Minh.

Lễ bàn giao quyền hành giữa Ông Trần văn Hương và ông Dương Văn Minh được dự trù vào 9 giờ sáng. Nhưng theo lời yêu cầu của Tổng Thống Hương, buổi lễ được dời lại vào buổi trưa. Ông muốn buổi lể được tổ chức một cách trọng thể, nên ông đã nói là gần như hai người còn có nhiều tuần lễ trước mặt họ vậy:

_ “Người ta không thể bàn giao trách nhiệm và quyền hạn như trao một khăn tay được” (nguyên tác: pas comme un mouchoir)

Ở các vùng ngoại ô của Sài Gòn, binh sĩ còn dựng lên những bức tường phòng thủ bằng bao cát, và bố trí các ổ súng liên thanh và bách kích pháo. Dân tỵ nạn tràn vào thành phố ngàn này sang ngàn khác. Trên quốc lộ Sài Gòn- Biên Hòa các đoàn xe quân sự và dân sự lẫn lộn với các xe bò, đã làm tê liệt lưu thông. Các đơn vị quân cảnh, vốn chưa hề hấn gì, nhận được quá nhiều lệnh, lệnh này mâu thuẩn với lệnh kia..

Các tiệm buôn bán nữ trang ở đường Tự Do đã đóng cửa. Vàng lá càng ngày càng khó tìm. Ở phi trường, những Mỹ đi dạo chơi, tay lo le cầm hằng xấp tiền và mỹ kim để tán tỉnh các lính gác và cảnh sát. Việc phân phát thư từ vẫn còn rất bình thường.

Ở tư thất của ông Dương Văn Minh, điện thoại cứ reo không dứt. Hồi 15 giờ, ông Minh nói với tướng Timmes rằng ông nghĩ là cộng sản sẽ thương thảo với ông ta. Sau đó không lâu, ông Minh nhận được điện thoại từ Băng Cốc của Ngô công Đức, chủ nhiệm báo Tia Sáng, cho biết là anh ta từ Ba Lê về mà không đến Sài Gòn được:

_ “Ông đừng nên nhận ghế Tổng Thống, đã quá trễ rồi. Cộng sản không có một ý định nào về chuyện thương thảo đâu.”

Buổi lễ bàn giao được tổ chức vào lúc 17 giờ. Cổng rào của Dinh Độc Lập được mở rộng, và gần như không có lính gác. Các dân biểu, nghị sĩ, các quân nhân, nhà báo vào thong thả, không có bị kiểm soát . Trên hàng ghế đặt trước khán đài người ta thấy sự có mặt của các sĩ quan , các cựu Tổng Trưởng và công chức cao cấp, hàng giáo phẩm Công Giáo, và các lãnh đạo Phật Giáo, với đồng phục rất chỉnh tề đầy màu sắc… Đại tá Hòa đích thân coi về công tác thu hình của các toán nhân viên truyền hình.. Trời đang nóng bức bắt đầu có vẻ ẩm ướt. Cơn gió mạnh thường thổi trước khi có giông bão làm lay chuyển các cây dừa nước ngoài bãi cỏ và những tấm màn trắng treo ở cửa sổ của phòng tiếp tân ..

Ông Trần văn Hương, tay chống gậy, được một cộng sự viên dìu ra, lên tiếng đầu tiên lác 17 giờ 15 phút. Ông nói:

_ “Tuổi tác và sự bệnh hoạn của tôi không cho phép tôi điều khiển được đất nước trong giờ phút khó khăn này…

Trời đã bắt đầu mưa. Hướng về ông Dương Văn Minh, ông nói tiếp:

_ “Thưa Đại tướng, nhiệm vụ của ông rất nặng..

Sau đó là một sự yên lặng kéo dài. Khán đài vẫn trống, Không một ai nhúc nhích. Mọi việc diễn tiến gần như không có dự trù trong nghi thức của buổi lễ. Ông Dương Văn Minh thì vẫn ngồi yên tại chỗ. Tất cả cử tọa nhìn nhau. Một nhân sĩ người của ông Minh đứng dậy và đi đến khán đài. Một người lính trẻ gỡ cờ hiệu cũ của nền đê nhị Cộng Hòa xuống, thay vào đó một tấm biển trên đó có khắc tượng trưng một hoa mai nở trên hai cánh âm dương kiểu Tàu -hai lực đối trọng nhau của Trời Đất- , với ý nghĩa là 2 lực lượng chống đối nhau của Việt Nam trên con đường hòa hợp hòa giải chăng?

Ông Dương Văn Minh đứng dậy, và với một giọng cứng cỏi hơn của ông Hương, ông nói:

_ Chúng ta không hề có một ý định trả thù, và không có một lý do nào cấm cản những anh em cùng trong một nhà hòa giải với nhau…. Tôi có trách nhiệm tìm kiếm một sự hưu chiến…. Luật sư Nguyễn văn Huyền trong chức vụ Phó Tổng Thống là người đã chấp nhận sẽ giúp tôi trong công tác thương lượng. Ông Vũ văn Mẫu sẽ giữ ghế Thủ Tướng… Thưa đồng bào và anh chị em, trong những ngày cuối cùng này tình hình quá trầm trọng nên đã có nhiều nhóm Tôn Giáo và nhiều tướng lãnh đã yêu cầu tôi đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống …. Một trong những quyết định chánh trị cấp thiết là trả tự do cho tất cả các tù nhân chánh trị và ngừng tất cả mọi kỳ thị phân biệt ngay trong giới truyền thông báo chí.

Ông Minh cất cao giọng lên để át tiếng sấm sét và tiếng mưa rơi nặng hột bên ngoài cửa sổ đang được mở rộng:

_ “Sự thành công của Chánh Phủ sẽ tùy thuộc vào sự bình tĩnh và sự ủng hộ của đồng bào. Tôi kêu gọi tất cả những đảng phái chánh trị và tất cả các Giáo Hội Tôn Giáo. Hãy quên đi sự hận thù và sự nghi kỵ….Anh em binh sĩ, tôi đã dâng gần hết cuộc đời của tôi cho Quân đội . Hơn tất cả mọi người, tôi biết rõ những khó khăn của các anh trong những tuần lễ sau cùng này. Bây giờ thì trang sử cũ đã được lật qua. Các anh có một bổn phận mới, gìn giữ lãnh thổ để bảo vệ hòa bình… Đừng buông bỏ vũ khí của mình và hãy tuyệt đối tuân lịnh cấp chỉ huy của mình. Mọi hành động vô kỷ luật sẽ bị trừng phạt ngay tức khắc.

Bây giờ một vài câu nói với các bạn ở “phía bên kia”, CPLTCHMN:

Ông Minh tránh nói tới Hà Nội hay những sư đoàn Bắc Việt bởi vì cộng sản Việt Nam chưa bao giờ công nhận sự có mặt của họ ở Miền Nam. Không nên làm mất lòng họ.

_ “…. Thật tình, chúng tôi muốn hòa giải. Các anh cũng biết là hòa giải đòi hỏi mỗi người chúng ta trong đất nước này đều phải tôn trọng quyền lợi của nhau…

Thưa đồng bào, thưa các bạn, trong những ngày sau cùng này, chúng ta tự hỏi tại sao có quá nhiều người đã lặng lẽ bỏ nước ra đi . Tôi muốn nói với các bạn là đừng bỏ đất nước thân yêu của chúng ta . Tôi van xin các bạn hãy can đảm lên. Hãy ở lại đây và hãy chấp nhận định mệnh đã được Thượng Đế an bài. Tôi yêu cầu các bạn hãy ở lại và sống đoàn kết với nhau. Hãy cùng nhau xây dựng một Miền Nam Việt Namđộc lập, dân chủ và thạnh vượng để người Việt Nam có thể sống cùng chung với nhau trong tình anh em huynh đệ.”

Tổng Thống Dương Văn Minh đã nói trong vòng 20 phút.

Đối với nhiều khán thính giả Việt Nam của đài truyền thanh và truyền hình, cơn mưa và sấm sét trước gió mùa, là những điềm bất tường.

Cũng có một số người cố lấy lại sự can đảm. Kỹ sư Văn tự nhủ: về phương diện quân sự thì chúng ta đang ở thế yếu, nhưng cộng sản mà chiến thắng thì biết đâu họ sẽ tỏ ra nhân đạo hơn.

Ông Minh chấm dứt diễn văn của ông hồi 17 giờ 48 phút.

Một giờ sau đó, trong khi các nhà ngoại giao, các chánh trị gia và các nhà báo còn đang phân tích bài nói chuyện của ông thì đài Giải Phóng đã bình luận về buổi lễ bàn giao này như sau:

_ “Sau khi tên phản quốc Nguyễn văn Thiệu ra đi, thì những người lên thay ông ta, được biết là tập đoàn Dương Văn Minh, Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu, vẫn khăng khăng muốn vừa tiếp tục chiến tranh để giữ lãnh thổ hiện có, vừa hô hào thương thuyết. Rõ ràng là tập đoàn này tiếp tục ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh để duy trì chế độ thực dân mới của Mỹ. Nhưng tập đoàn này không gạt được ai hết. Chiến trận chỉ sẽ chấm dứt khi nào tất cả binh sĩ của Sài Gòn buông súng xuống hết và các tàu chiến của Mỹ đã rời hết khỏi lãnh hải của Miền Nam Việt Nam. Hai điều kiện này của chúng tôi phải được thi hành thì mới có được ngừng bắn.”

Con trai của Dương Văn Minh cố gắng liên hệ với tòa đại sứ của CPLTCHMN ở Ba Lê, nhưng vô ích.

Lần đầu tiên, đài gải phóng đã tuyên bố rất rõ ràng là Dương Văn Minh và các cộng sự viên của ông ta không phải là những người lãnh đạo được lực lượng thứ ba chấp nhận:

_ “Các thành viên thuộc lực lượng thứ ba phải suy nghĩ kỹ lại lời kêu gọi của CPLTCHMN

… và tìm ra mưu mô của các tay sai của đế quốc Mỹ… Họ phải gia nhập vào lực lượng cách mạng …”Diễn dịch, và mọi người đều hiểu: không có một người nào ở Miền Nam Việt Nam ủng hộ Dương Văn Minh như là kẻ được CPLTCHMN hay Hà Nội nhìn nhận như một người đối thoại.

Ông Trần văn Hương gọi điện thoại cho tướng Kỳ:

_ “Chúng nó buộc tôi phải ra đi. Bây giờ thì ông muốn làm gì đó thì làm.”

Như vậy những đề nghị chua chát này có ý nghĩa gì đây? Một người như ông già Hương, hay bắt bẻ có thể nào lại chính là người đi xúi giục một cuộc đảo chánh?

Vào lúc 18 giờ 15, sau buổi lễ trao quyền Tổng Thống cho Dương Văn Minh, có 5 chiếc phi cơ loại A.37 (của Miền Nam) được phát hiện trên trục các đường bay chánh của Tân Sơn Nhất. Đài kiểm soát không lưu hỏi:

_ “Các anh thuộc phi đội nào đây?

Một phi công trả lời lạ lùng:

– Các phi cơ này đều được sản xuất ở nước Mỹ.”

Các phi cơ bổ nhào xuống và thả bom gần khu thể thao và những văn phòng của tướng Homer Smith, nơi có 3000 người tỵ nạn Việt Nam đang chờ để được xe đưa lên phi cơ di tản, gây một phen hoảng sợ.

Ông Jim Eckes lúc đó đang dứng gần dảy hăng-ga của hãng Dịch Vụ Hàng Không Continental. Ông đã gọi một phi cơ loại nhỏ từ Băng Cốc đến, chiếc Baron, và đang sửa soạn ra đi. Ông phải nhảy xuống một hầm trú ẩn đầy nước. Ở đâu cũng có tiếng súng nổ, có những tràng đại liên ròn rã. Từ Dinh Độc Lập và từ các chiến hạm đậu ở bến Bạch Đằng, các cao xạ phòng không đang bắn lên. Phi công của chiếc Baron giục ông Eckes lên phi cơ.

– “Jim, ta đi thôi!

Ngoài phi trường, có nhiều thiệt hại quan trọng. Có cả những trực thăng và phi cơ quân sự, 3 chiếc AC-119 và 4 chiếc C.47 bị phá hủy. Chiếc Baron đang đậu trên một đường bay nhỏ gần hăng-ga của hãng Hàng Không Air America. Ông Eckes và viên phi công lên xe chạy thẳng đến chiếc Baron. Có nhiều binh sĩ Việt Nambắn vào họ. Họ tưởng rằng bộ đội Bắc Việt tấn công phi trường. Các phi cơ địch bay trở lại. Chiếc Baron cất cánh bay lên cao, đạn phòng không nổ chung quanh họ. Phi cơ bay vút lên cao và lấy hướng trường đua ngựa để vào Chợ Lớn.

Hai phi công Việt Nam đã bay lên với 2 chiếc F.5A để săn đuổi các phi cơ địch, nhưng họ đã bay đi mất hút. Ông Dương Văn Minh vừa mới yêu cầu ngừng bắn, là Bắc Việt đã leo lên thêm một nấc thang chiến tranh, vì giờ đây họ đang xử dụng phi cơ. Phi tuần tấn công được một phi công Miền Nam Việt Nam đào ngũ hướng dẫn, người phi công này đã bay vào thả bom xuống dinh Độc Lập cách đây mấy ngày. Tướng Văn Tiến Dũng nói:

_ “Một cuộc tấn công được phối hợp rất tốt, một cuộc hành quân liên quân rất là hoàn hảo do tất cả các lực lượng của chúng ta thực hiện”.

Tướng Tư Lệnh quân Bắc Việt đã nói quá lời. Có rất nhiều trái bom đã rơi trên đồng ruộng. Nhưng người trung úy phi công đào ngũ cũng đã dạy các phi công lái những chiếc MIG của Bắc Việt cách xử dụng các chiếc phi cơ A.37. Cuộc hành quân này được đặt tên là “Quyết định để thắng”, có cả 2 mục tiêu chánh trị và quân sự . Rất rõ ràng cho những ai còn nghi ngờ: đó là không bao giờ có chuyện thương thuyết. Bây giờ thì tướng Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam đã đồng ý với ông Eric Von Marbod, ra lệnh cho tất cả phi cơ của Việt Nam Cộng Hòa bay hết sang Thái Lan.

Vài giờ sau bài diễn văn của ông Dương Văn Minh, đại diện của CPLTCHMN ở Ba Lê loan báo rằng “dân chúng ở Sài Gòn đã đồng loạt nổi dậy…. Binh sĩ Sài Gòn đã buông súng xuống và đã đầu hàng…”

Phịa và Phịa lại gặp nhau: ở Sài Gòn đã có nhiều người quả quyết là binh sĩ người Pháp đã đổ bộ.

Tại thủ đô nước Pháp, đại sứ Bắc Việt Võ văn Sung và đại diện của CPLTCHMN Phạm văn Ba được ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Jean Sauvagnargues tiếp. Vừa ra khỏi Thủ Tướng Phủ, người ta hỏi đại sứ Bắc Việt tại sao ông Dương Văn Minh không được xem là một người đối thoại có giá. Một nhà báo ghi nhận là ông Minh đã thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết đã được CPLTCHMN đưa ra từ 48 giờ trước , “thi hành đúng theo Hiệp Định Balê, và bãi bỏ chánh quyền Sài Gòn”.

_ “Không phải là trường hợp đó”, đại sứ trả lời cụt ngủn, vô nghĩa Ông TổngTrưởng Ngoại Giao Pháp buộc miệng phát biểu:

_ “Tất cả các điều kiện cho một giải pháp chánh trị hình như đã được thực hiện. Chúng tôi rất ngạc nhiên là giải pháp đó không được tiến hành…

Các đơn vị thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở chung quanh Sài Gòn và ở Đồng Bằng sông Cửu Long đã liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn để yêu cầu được đặt trực tiếp dưới sự chỉ huy cùa Bộ. Trong các đơn vị này người ta nhận thấy họ thuộc các binh chủng Thiết Giáp Biệt động Quân, Nhảy Dù.

Về phía Bắc của thủ đô, các kho đạn và kho xăng đang bốc cháy với những ngọn lửa cao màu đỏ và tím…

Bộ máy hành chánh còn đang chạy. Các sĩ quan thuộc cơ quan hành chánh tài chánh của tướng Homer Smith đang họp. Để thanh toán hết các chương mục, vị sĩ quan tài chánh cần có 300 triệu đồng bạc Việt Nam. Phải đến nhận số tiền này ở tòa đại sứ. Biết rằng phải cho các nhân viên Việt Nam thuộc các cơ quan của tướng Smith nghỉ việc, người ta đã sẳn sàng mọi thủ tục hành chánh về chuyện bồi thường cho nghỉ việc. Nhưng một phần của sở tài chánh đã được chuyển về Honolulu năm ngày trước rồi với một số hóa đơn chưa được thanh toán và những giao kèo đang thực hiện. Hóa đơn chót nhất ký ngày 17 tháng 4 về 45 ngàn chiếc áo mưa với trị giá là 220.500 Mỹ kim.

Vào buổi chiều, ông Martin quyết định là “ngày mai sẽ di tản mười ngàn người. Ông ta đã nhận được một công điện từ Hoa Thạnh Đốn của ông Kissinger:”

_ “Sáng nay, trong buổi họp của toán “hành động đặc biệt” (2), tất cả các đại diện của các cơ quan, ngành đều nghĩ rằng chúng ta chỉ còn tối đa từ một đến 3 ngày trước sự sụp đổ hoàn toàn về quân sự và trước khi phi trường Tân Sơn Nhất không còn xử dụng được nữa.”

Ông Kissinger mong muốn đích thân ông Martin phải rời khỏi Sài Gòn trên chuyến bay cuối cùng “chuyến 130 chót”. Ông Tổng Trưởng lo lắng cho số phận của các nhân viên tòa đại sứ Hoa Kỳ. Ông không phải là người thích giữ lại một sự hiện diện quan trọng dưới một chính phủ bị cộng sản thống trị. Các nhà ngoại giao và các nhân viên nào bị kẹt ở lại đều có thể “biến thành con tin”. Phải hết sức thận trọng:Tôi nghĩ là chúng ta không thể phí thì giờ khi mà Sài Gòn sắp rơi từ một thể chế trung lập vào tay của người cộng sản…. Đến lúc đó, chúng ta sẽ không còn một nghĩa vụ nào nữa hết, và chúng ta phải nhìn tất cả sự việc với một nhãn quan mới.”

Tối hôm đó, cũng hơi khuya, có nhiều chiếc phi cơ vận tải C.130 chở đầy vũ khí đạn dược đáp xuống Tân Sơn Nhất. Trên đường về mỗi chiếc chở theo 180 hành khách, tất cả đều là dân tỵ nạn người Việt Nam.

Tại Băng Cốc ông Jim Eckes cùng đến với những người Mỹ khác, sau khi đã tránh không bay qua ngang không phận Cam Bốt. Ông sực nhớ tới tất cả những người Việt Nam, hằng trăm người , mà ông không thể giúp cho di tản được. Nhất là ông nhớ đến Tân Sơn Nhất là một trong những sân bay có nhiều hoạt động tích cực nhất trên thế giới, nhớ tới những công trường mà thợ thuyền còn đang làm việc cách đó vài phút trước cuộc tấn công của các phi công Bắc Việt, nhớ tới những dãy nhà và những công trình đang được xây, nhớ tới những cảnh sát viên, những nhân viên hải quan luôn tươi cười nhưng lãnh đạm, nhớ đến những hồ sơ đầy bụi, nhớ cái điện thoại và cả cuộc đời mấy tháng dài sống ở đó.

Cũng giống như hằng ngàn, hằng trăm ngàn người Mỹ khác, cả dân sự và quân sự đã từng đến ở Việt Nam, ông Jim Eckes tự hỏi bây giờ làm thế nào để ông có thể đưa đi một người bạn này hay một người bạn Việt Nam khác, những người đã không kịp trốn đi khỏi đất nước Việt Nam?

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

Cái Chết, Nghĩ Cho Cùng!

” … là gió xin về cùng gió

là mây xin trở lại cùng mây … “

Người đang đi du lịch xa thành phố năm bảy ngày, buông thả tất cả những công việc bận rộn trong cuộc sống hàng ngày, họ không còn ngồi trước máy

computer, không còn để ý đến tiếng điện thoại reo hay chờ người mang đến một đống thư từ cần giải quyết. Nhưng người đang đi du lịch chắc chắn mình sẽ trở lại những thói quen này trong vài ngày nữa, như cuộc sống này đã ràng buộc khó có thể trốn chạy. Nhưng đối với một người, giữa đêm khuya, được đưa lên một chiếc xe cấp cứu đến bệnh viện, thân thể chằng chịt bởi những dụng cụ y tế, giữa tình trạng nửa mê nửa tỉnh, có còn hăm hở với những công việc ngày mai tới, những dự tính trong tương lai … hay trong một phút nào đó, như mọi thứ đều phải ngừng lại, tất cả đều ngoài tầm tay, không còn tính toán, mơ ước. Nói mộtcách lãng mạn thì: “những hẹn hò từ nay khép lại, thân  nhẹ nhàng như mây … (TC)”nhưng thực tế là họ đang trên những giờ phút cuối cùng của cuộc sống. Không thất vọng, không luyến tiếc, tuổi tác và bệnh tật, cái chết, nghĩ cho cùng rồi cũng đến!

Nhiều người đã từ nursing home không còn có hy vọng trở lại nhà, trong bệnh viện đã có người ra đi đêm nay, đi một mình, tay không, nghĩa là cô đơn và không có gì “mang theo,” nếu có chăng, đó là những điều “để lại.” Cũng có thể là họ để lại rất nhiều điều hữu ích cho đời, nhiều hào quang danh vọng, tiền của, hay không có gì ngoài một ngôi nhà và những đứa con, mà họ đã gầy dựng và sinh ra theo quy luật của đời sống, hay tệ hơn nữa với mấy đồng tiền lẻ, cái lon bia không đã bị bóp méo và đống chiếu chăn ố bẩn như một người vô gia cư chết trong cái giá lạnh của mùa Đông mỗi năm. Nói về cái chết và sống trong cuộc đời này người ta thường dùng chữ vô thường, đó gọi là sự vô thường của một thực thể sanh diệt trong Phật Giáo. Chắng có thứ gì trên đời gọi là vĩnh cửu. Từ Công Phụng đã hy vọng rằng: “Nếu có điều gì vĩnh cữu được thì em ơi đó là tình yêu chúng ta, “nhưng đó chỉ là lời thơ hoa mỹ dànhcho tình yêu mà có lẽ trên đời này không có thật!

Chúng ta từ đâu đến và khi chết sẽ đi về đâu, có lẽ là một câu hỏi khó trả lời, nếu có, cũng khó có thể cho nhân loại ai cũng đồng ý. Con người trong cái vô cùng của đất trời cũng chỉ là hạt bụi, dễ so sánh hơn là một hạt cát trong sa mạc mịt mùng, hay cụ thể hơn là một hạt cát của con sông Ganges dài 2,500 cây số của Ấn Độ (Hằng hà sa số), cho nên những ai tự cho mình là cái rốn của vũ trụ đều có tâm bệnh hoang tưởng. Trên địa cầu này chỉ tính phút thôi, đã có 173 đứa trẻ ra đời khóc oe oe nhưng cũng có 151 người từ giã cuộc sống này. Chúng ta đã đến và đi như những con người đó thôi!

Trong số gần 150.000 người chết mỗi ngày trên toàn cầu, khoảng 66% chết vì các nguyên nhân liên quan đến tuổi già, ở các nước công nghiệp, tỷ lệ này là cao lên đến 90%. Nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển là bệnh tật, tại các quốc gia này, điều kiện vệ sinh kém và vì thiếu thuốc men, dụng cụ y tế nên các bệnh truyền nhiễm tác hại hơn. Bệnh lao phổi, một bệnh do vi khuẩn giết chết 1,7 triệu người vào năm 2004, bệnh sốt rét gây ra từ 1 đến 3 triệu tử vong mỗi năm. Số người chết vì bệnh AIDS ở châu Phi có thể đạt 100 triệu vào năm 2025. Theo các chuyên viên lương thực của Liên Hợp Quốc nghiên cứu từ năm 2000 đến tháng 3 năm 2008, tỷ lệ tử vong do suy dinh dưỡng chiếm 58% tổng tỷ lệ tử vong của thế giới trong năm 2006. Thuốc lá đã giết chết 100 triệu người trên thế giới trong thế kỷ 20 và có thể giết chết 1 tỷ người trên thế giới trong thế kỷ 21, theo một cảnh báo của tổ chức Y Tế Thế Giới …

Rất nhiều người từ bỏ cuộc sống đột ngột bất kể tuổi tác, giàu nghèo khắp mọi nơi trên thế giới vì chiến tranh, tù đày, diệt chủng, thiên tai … thân xác tan biến không hề được một nấm mồ, vậy thì một người nào đó được chết trên giường trong ngôi nhà của họ đêm nay, hẳn phải là hạnh phúc hơn những người xấu số khác.

Không ai sống được “bất tận” thì sự chết là lẽ đương nhiên, trẻ hay già, bằng cách này hay cách khác.

Dù cuộc đời của bạn đã làm thay đổi cả thế giới này thì ra đi của bạn cũng chẳng có gì là quan trọng. Cũng không ai nên cho mình là người quan trọng, vì thật sự chẳng có ai quan trọng hay có việc gì quan trọng cả.

Trên thế giới này có ai danh vọng và quyền lực bằng vị Tổng Thống của nước Mỹ, trước một nhiệm kỳ, ông có nhiều kế hoạch, dự tính, lo toan, tưởng như không ai có thể thay thế một con người quan trọng như thế, nhưng nếu định mệnh bắt ông phải ra đi, thì mọi việc rồi cũng sẽ an bài, vậy thì bạn cũng đừng sợ một ngày nào đó bạn phải giả từ cõi đời này, mà trái đất sẽ trống vắng hơn.

Tổng thống thứ 9 của Hiệp Chủng Quốc, William Henry Harrison chỉ làm Tổng Thống trong 30 ngày, 12 giờ và 32 giây. Ông đắc cử Tổng Thống Mỹ năm 1840 khi đã 68 tuổi. Trong buổi lễ nhậm chức trước tiền đình Quốc Hội vào một ngày mưa lạnh, không mang áo khoác cũng như đội nón, William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn nhậm chức dài 8,444 chữ, trong hai tiếng đồng hồ, chiếm kỷ lục dài nhất trong các bài diễn văn nhậm chức của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ. Cơn lạnh của Washington DC trong ngày hôm đó đã đốn ngã vị Tổng Thống này và ông đã qua đời sau đó đúng một tháng vì bệnh viêm phổi. Ông mất đi thì đã có vị Phó Tổng Thống John Tyler thay thế, rồi nước Mỹ vẫn tồn tại cho đến hôm nay.

Trong chúng ta rất ít người chọn được cái chết cho mình.

Có nhiều vị tướng lãnh chết lẫm liệt giữa trận tiền nhưng cũng có nhiều người chết trong sự quên lãng của mọi người, mòn mỏi, phai nhạt trong một căn nhà già nào đó ở trên đất khách. Nhiều người chết trẻ trong

khi còn muốn cống hiến nhiều lợi ích cho đời, nhưng cũng có những cái chết già tẻ nhạt. Chúng ta không ai mang theo được gì những có nhiều người để lại thương tiếc cho mọi người, vì sự vắng mặt của họ.

Lúc từ giã cuộc đời, xin đừng tiếc nuối là đã không mang theo được gì nhưng hãy tiếc là không có gì để lại.

Tuần lễ này chúng ta mất đi hai người, một nhà văn và và một nghệ sĩ. Họ ra đi không mang gì theo nhưng những điều để lại thì nhiều.

Xin thương yêu, sống hết mình, tận tụy với đời, rồi ra, một lúc nào đó thì:

“… là gió xin về cùng gió,

là mây xin trở lại cùng mây …! “

Đại tá Thomas Nguyễn, Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on March 12, 2016 by dongsongcu

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

Huy hiệu Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân.

Tháng 8 năm 2015, Đại tá Thomas Nguyễn được chính thức bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ/Bộ tư lệnh các lực lượng Lục quân chiến lược (U.S. Army Space and Missile Defense Command/Army Forces Strategic Command). Ông là Đại tá Lữ đoàn trưởng duy nhất trong tám Đại tá Lữ đoàn trưởng pháo binh phòng không lục quân được chọn về làm Tham mưu trưởng cho Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân. Ông là cấp chỉ huy ở vị trí thứ ba sau Trung tướng David L. Mann, Tư lệnh và Chuẩn tướng Gregory S. Bowen, Tư Lệnh phó hành quân.

Trong vai trò Tham mưu trưởng, Đại tá Thomas Nguyễn thực hiện nhiệm vụ của Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân là tiến hành các hoạt động phòng thủ hỏa tiễn bảo vệ không gian và cung cấp kế hoạch, liên kết, kiểm soát và phối hợp với các lực lượng lục quân, tăng cường khả năng trong các nhiệm vụ phòng thủ yểm trợ cho Bộ tư lệnh chiến lược Hoa Kỳ, như đề nghị hiện đại hóa lực lượng lục quân trong nhiệm vụ bảo vệ không gian và phòng thủ hỏa tiễn trên toàn cầu, xúc tiến nghiên cứu trong lãnh vực liên quan đến yểm trợ và phát triển lực lượng phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân.

Chủ trương của Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân là cung cấp huấn luyện để các lực lượng phòng thủ hỏa tiễn và không gian sẳn sàng tác chiến và tăng cường năng lực chiến đấu để bảo vệ quốc gia hôm nay. Và xây dựng các lực lượng phòng thủ hỏa tiễn và không gian tinh nhuệ cho ngày mai, đồng thời nghiên cứu, thí nghiệm và nối kết không gian, phòng thủ hỏa tiễn, an ninh hệ thống mạng, nâng cao chuyên môn kỷ thuật quân sự cho hôm nay và ngày mai.

Đại tá Thomas Nguyễn, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 35 tường trình cho Thiếu tướng Jim Richardson về chiến thuật phòng thủ hỏa tiễn tại Bộ chỉ huy Lữ đoàn 35 vào đầu tháng 6 năm 2015 (US Army photo).

Đại tá Thomas Nguyễn rất nổi bật trong binh chủng pháo binh phòng không lục quân (Air Defense Artillery Branch) qua thời gian ông làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, Trung đoàn 44, Lữ đoàn 108 pháo binh phòng không, Sư đoàn 101 Nhảy dù vào năm 2009. Và Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 35 Pháo binh Phòng không Lục quân.

Đại tá Thomas Nguyễn được thuyên chuyển về làm Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 35 pháo binh phòng không vào tháng 7 năm 2013, Lữ đoàn 35 trú đóng tại phi trường Osan Nam Hàn. Nhiệm vụ của Lữ đoàn là phòng thủ và quan sát tất cả các hoạt động của hỏa tiễn trên bán đảo Triều Tiên, và là đơn vị hỏa tiễn phòng không yểm trợ cho Đệ thất không lực (7th Air Force) và Bộ tư lệnh lục quân thứ tám (Eight Army) và các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Nam Hàn. Nỗ lực của Lữ đoàn là bảo đảm huấn luyện tác chiến, bảo trì vũ khí, và sẵn sàng chiến đấu là ưu tiên hàng đầu của đơn vị. Trong suốt nhiệm kỳ chỉ huy Lữ đoàn 35, Đại tá Thomas Nguyễn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Lữ đoàn trưởng, chỉ huy các đơn vị trực thuộc gồm Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 52 pháo binh phòng không với các Pháo đội cơ hữu trang bị Hỏa tiễn phòng không Patriot, tạo thành một Lực lượng tinh nhuệ phòng thủ chống phi đạn bảo vệ bầu trời Nam Hàn. Ngày 24 tháng 6 năm 2015, ông bàn giao chức Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 35 Pháo binh Phòng không lại cho Đại tá Mark Holler, tân Lữ đoàn trưởng, sau đó ông được thuyên chuyển đên nhiệm sở mới tại Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ.

Cần biết thêm, trong Lục quân Hoa Kỳ có 3 vị Sĩ quan cấp tá gốc Việt có cùng họ và tên Thomas Nguyễn đó là Trung tá Thomas Văn Thọ Nguyễn, Sĩ quan kế hoạch và huấn luyện tại Trung tâm huấn luyện quốc gia (National Training Center); Trung tá Thomas Nguyễn, Product Manager at JPM Force Protection Systems; và Đại tá Thomas Nguyễn, Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ.

Đại tá Thomas Nguyễn, Tham mưu trưởng, Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ (USASMDC/ARSTRAT PHOTO).

Đại tá Thomas Nguyễn sinh tại Sài Gòn. Gia đình ông tỵ nạn tại Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 1975. Ông tốt nghiệp Đại học Towson năm 1991, và thụ huấn khóa Sĩ quan trừ bị qua chương trình quân sự tại trường Đại học Loyola College of Baltimore, tiểu bang Maryland. Trong thời gian phục vụ quân đội, ông tiếp tục hoàn tất các văn bằng Cao học Khoa học nghiên cứu chiến lược tại Trường Cao đẳng Lục quân Hoa Kỳ (US Army War College) và văn bằng bằng Cao học Quản trị tại Đại học Central Michigan.

Đại tá Thomas Nguyễn được thăng cấp Thiếu tá năm 2001, Trung tá 2006, Đại tá 2012. Hơn 26 năm phục vụ quân đội ông được ân thưởng nhiều loại Huy chương cao quý như: the Legion of Merit; the Bronze Star Medal; the Defense Meritorious Service Medal; the Meritorious Service Medal (three oak leaf clusters); the Joint Service Commendation Medal; the Army Commendation Medal (one oak leaf cluster); the Army Achievement Medal(three oak leaf clusters); the National Defense Service Medal with Bronze Star; the Armed ForcesExpeditionary Medal; the Afghanistan Campaign Medal with Campaign Star; the Global War On TerrorismService Medal; the Korean Defense Service Medal; the Joint Meritorious Unit Award; the Meritorious UnitCitation; the NATO ISAF Medal (second award); the Spanish Cross Medal; the U.S. Army Senior ParachutistBadge; theAir Assault Badge; the British Army Parachutist Badge, and the German Armed ForcesProficiency Badge (gold).

Từ nay cho đến hết nhiệm kỳ, trên phương vị Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh phòng thủ hỏa tiễn và không gian Lục quân Hoa Kỳ/Bộ tư lệnh các lực lượng Lục quân chiến lược, Đại tá Thomas Nguyễn có rất nhiều cơ hội và hy vọng được chọn thăng cấp Chuẩn tướng, vì ông là một Đại tá xuất sắc, có tài lãnh đạo chỉ huy trong binh chủng Pháo binh phòng không Lục quân. Tính theo thời gian thâm niên cấp bậc, ông hội đủ các điều kiện để có thể được chọn thăng cấp Chuẩn tướng vào năm 2016-2017, và nếu được thăng cấp thì ông sẽ là vị Tướng Lục quân gốc Việt thứ ba sau Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Đại tá Lapthe. C. Flora sẽ được chính thức thăng cấp Chuẩn tướng vào tháng 6 năm 2016.

Trần Anh, September 2015.

Tài liệu: USASMDC/ARSTRAT; 35th ADA Brigade-Homepage-8th Army; dvidshub-35th Air Defense Artillery Brigade; 35th Air Defense Artillery Brigade (Official)-Facebook; October officer promotions released-Army Times; U.S. Air Defense doctrine release marks ‘cornerstone’ in South Korea/U.S. interoperability; Unit History-The 94th Army Air and Missile Defense; Nguyen takes command of 2nd Battalion, 44th ADA; Congress.gov; Những vị Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai; Vietnamese-American Uniformed Services Association; Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Thomas Nguyễn; SBTN: Tiệc Họp Mặt Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Vùng Hoa Thịnh Đốn.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

3.Một lễ giáng sinh Cơ đốc

Cây Nô en của họ là một cành thông cắm vào một cái khe trên cái bục gỗ. Một dây bóng đèn nhỏ, ánh sáng yếu ớt được quấn hai vòng quanh thân cây, đầu dây cắm vào bình điện nhỏ đặt dưới sàn. Cây Nô en được đặt trong một góc phòng, giữa hai dãy giường từng, một tấm nệm giường được dựng lên để che ánh ngọn đèn điện trên trần và chiếu vào đó. 
Sáu người đàn ông bận những bộ quần áo binh sĩ Nhảy dù dầy, màu xanh đậm, đứng xúm xít quanh cây Nô en tí hon. Họ chụm đầu vào nhau và cúi mặt yên lặng. Max Richman, một người trong bọn họ, đọc khẽ bàn kinh cầu nguyện đêm Giáng sinh của đạo Cơ đốc. 
Không còn ai khác ngoài sáu người này trong căn phòng rộng chỉ có những chiếc giường hai tầng đứng xếp hàng. Tất cả đều là giường sắt. Sau bữa ăn tối và một giờ đồng hồ đi bộ ngoài sân, mọi người đều đi làm việc đêm. 
Max đọc xong bài kinh và sáu người cùng ngồi xuống. Năm người trong bọn họ đang ngẩn ngơ vì tâm hồn dạt dào những kỷ niệm vừa dịu ngọt vừa cay đắng về quê hương họ – những Đức mến yêu, những Đức trật tự của họ, ở đó dưới những mái nhà lợp ngói đá đen, cuộc lễ đêm nay được cọi là lễ quan trọng nhất trong năm, cuộc lễ được cử hành ở đó trong không khí thiêng liêng, tin tưởng vui vẻ và ấm cúng biết là chừng nào. Người thứ sáu trong bọn họ là một người đàn ông vóc dáng lực lưỡng với một bộ râu quai nón đen nhánh như những nhà tiên tri trong Thánh Kinh – tên anh là Lev Rubin, anh là người Do Thái và anh là một đảng viên Cộng sản. 
Số mệnh của Lev Rubin liên hệ nhiều đến nước Đức cả trong thời chiến và thời bình. 
Trong thời bình, anh là một nhà ngôn ngữ học chuyên về Đức ngữ, anh có thể nói tiếng Đức thông thạo không sai một âm thanh, đôi khi cầ đến anh còn có thể nói được cả những thổ ngữ của miền núi nước Đức. Anh có thể nói đến bất cứ một văn thi sĩ người Đức có tác phẩm xuất bản như nói đến một người bạn quen. Anh có thể tả cảnh những thị trấn nhỏ nhất hai bên dòng sống Rhin như anh từng sống ở những nơi đó nhiều năm. 
Nhưng thực ra, Lev Rubin chỉ mới đặt chân lên đất Áo – rồi từ đó anh lên mặt trận. 
Trong trận đại chiến thế giới, anh là một thiếu tá Sô Viết trong đoàn đặc biệt mệnh danh là “Lực lượng phá hoại tinh thần chiến đấu của binh sĩ địch”. Anh tới những trại giam tù binh tuyển chọn những tù binh Đức nào chịu giúp anh thi hành công tác. Anh đem những tù binh này ra khỏi trại giam, anh huấn luyện và cấp cho họ những vật dụng cần thiết. Vài người trong bọn này vượt được những chiến tuyến bằng những bộ quân phục giả, phù hiệu giả, căn cước quân nhân giả, giấy tờ giải ngũ giả và những bánh thuốc nổ TNT thật. Họ đặt thuốc nổ phá hoại những cây cầu ở sau lưng quân Đức Quốc xã và tìm đường về nhà để sống cho đến ngày họ bị bắt. Với nhiều người khác, Lev Rubin thảo luận về Goethe và Schiller và những tờ truyền đơn tuyên truyền, sau đó anh cho những người này lên những chiếc xe phóng thanh đi ra mặt trận dùng loa kêu gọi những chiến hữu của họ hãy quay súng bắn lại Hitler. Với một số ít người khác, anh vượt qua mặt trận, và chỉ dùng lời thuyết phục, anh chiếm được nhiều cứ điểm của quân Đức, cứu được nhiều tiểu đoàn Xô Viết. 
Nhưng Lev Rubin không thể thuyết phục được những người lính Đức nếu anh không trở thành một người như họ, nếu anh không yêu thương họ chân thành, và bắt đầu ngày quân Đức bại trận, anh không thể không thương hại họ. Chỉ vì việc sau cùng này, anh bị bắt. Sau cuộc tấn công tháng Giêng năm 1945, anh bị kết tội phản bội, vì anh đã chống lại chiến dịch trả thù “máu trả máu, chết trả chết” do Hồng quân Xô Viết phát động trên đất Đức chiến bại. 
Lời kết tội đúng, Lev Rubin không hề nói là anh oan. Xong sự thật phức tạp hơn, tế nhị hơn, rắc rối hơn nhiều những gì được đăng tải trên các báo hồi đó và ghi trong bản án kết tội anh. 
Hai chiếc bàn nhỏ được kê sát vào nhau cạnh cây Nô en làm thành bàn ăn. Họ bắt đầu thưởng thức món đồ hộp mua được từ những Hợp tác xã thực phẩm – (tù nhân ở những nhà tù đặc biệt được quyền gửi mua thức ăn ở những tiệm bán thực phẩm ở Mạc Tư Khoa nếu họ có tiền) – Sau đó họ chia sẻ nhau chiếc bánh Nô en do họ làm lấy và cà phê lạnh. Cuộc nói chuyện bình thường của những cuộc họp mặt anh em nổi lên. Max hướng dẫn cuộc nói chuyện về những đề tài hòa bình: những phong tục, tập quán xưa cũ, những câu chuyện cảm động về đêm Giáng sinh. Alfred, mang kiếng trắng, một sinh viên không được học hết khoa vật lý ở Vienna, nói chuyện rất vui với giọng nói người Áo của anh. Gustav, một đoàn viên đoàn Thanh niên Hitler, bị bắt một tuần lễ sau ngày chiến tranh kết liễu, một thanh niên còn quá trẻ, má bầu, tai hồng, ngồi mở lớn cặp mắt xanh nhạt nhìn cây Nô en, không dám tham dự vào cuộc nói chuyện của các bậc tiền bối. 
Tuy vậy, cuộc nói chuyện rồi cũng quay về với chiến tranh. Một người trong bọn nhớ lại lễ Giáng sinh năm 1944 năm năm trước đêm nay, khi tất cả những người Đức đều kiêu hãnh vì trận tấn công ở miền rừng núi Ardennes, y như những chuyện đã xảy ra thời thượng cổ, trong trận tấn công này, kẻ thua đuổi theo kẻ thắng. Họ nhớ lại trong đêm Giáng sinh năm ấy, toàn thể nước Đức đã lắng nghe tiếng nói của Goebbels. 
Rubin, những ngón tay rứt nhẹ những sợi trổ ra ngoài bộ râu đen nhánh của anh, công nhận chuyện này. Anh nhớ rõ bài diễn văn đêm Giáng sinh năm xưa của Goebbels nói với một sự xúc động sâu xa như y đích thân gánh chịu tất cả gánh nặng đang làm cho nước Đức gục ngã. Có thể trong đêm đó Goebbels đã có linh tiánh biết trước cái chết của riêng y. 
Reinhold Zimmel, cựu Quận trưởng SS, vì quá cao nên phải ngồi khom lưng để đầu khỏi chạm thành giường, bất mãn vì câu nói lịch sử của Rubin. Y không thể chịu nổi việc gã Do Thái kia dám lên tiếng phê bình Goebbels. Y không bao giờ thèm ngồi chung bàn với gã Do Thái đó nhưng đêm nay là đêm Giáng sinh, nếu y không chịu thì y sẽ không được dự cuộc họp mặt với đồng bào của y. Y không bằng lòng những bốn người Đức kia quyết định phải mời Rubin đến dự cho bằng được. Vì với nhóm người Đức nhỏ xíu lạc lõng, chìm mất vì số mệnh trong nhà tù này, người duy nhất có thể hiểu được họ là viên Thiếu tá của cái quân đội đã đánh bại quân đội họ, người đã sống qua cuộc chiến với việc gieo rắc nghi ngờ và phá hoại quanh họ. Chỉ có người này mới có thể giải thích cho họ biết những phong tục, tập quán của giống người xa lạ ở đây, chỉ cho họ cách xử sự như thế nào là đúng và dịch cho họ những tin tức thế giới từ tiếng Nga sang tiếng Đức cho họ nghe. 
Với mục đích nói ra một câu gì đó làm cho Rubin phải khó chịu đến tối đa, Zimmel nói rằng Đức quốc thời đó có cả trăm diễn giả tuyệt vời như Goebbels và y vẫn lấy làm lạ không hiểu tại sao những người Bôn Sơ Vích chỉ thích đọc những bài diễn văn đã được viết trước và được cấp trên chấp thuận cho đọc. 
Đúng như ý muốn của Zimmel, lời nhận xét có tính cách chê bai này làm cho Rubin khó chịu, anh càng khó chịu hơn khi thấy sự chê bai đó đúng. Nhưng anh không thể giải thích những lý do lịch sử của việc ấy với tên sát nhân này. Rubin ghê tởm Zimmel. Cảm giác ghê tởm vẫn mạnh như ngày đầu. Anh nhớ lại lần đầu tiên anh nhìn thấy y đến đây từ khám đường Butyrshkaya trong chiếc áo da đã rạn hãy còn dấu vết huy hiệu SS thường dân – bọn SS thường dân là bọn tàn ác, dã man nhất hạng. Ngay cả nhà tù và những năm tù đày vẫn không xóa được những nét tàn ác trên mặt Zimmel. Dấu hiệu riêng của những tên hành hạ người đã được đóng xâu trên bộ mặt ấy. Sự có mặt của Zimmel trong bữa ăn này làm cho Rubin mất vui nhưng nhóm người Đức lẻ loi này khẩn khoản mời anh đến dự, và anh thương hại họ cô đơn và lạc lõng ở đây, anh thấy anh không thể nào làm cho ngày lễ của họ trở thành đen tối vì sự từ chối của anh. 
Nén giận, Rubin nói bằng tiếng Đức lời khuyên của Pushkin 1cho một số người: Đừng đưa ra lời xét đoán, nào cao hơn mũi giầy của mình. 
Max, hoảng hốt và vội vàng dẹp sự mâu thuẫn đang nhen nhúm như ngọn lửa sắp bốc lên. Max là người, dưới dự hướng dẫn của Lev Rubin, đã đọc được từng vần thơ của Puskhin bằng tiếng Nga. Tại sao, Max hỏi, Reinhold lại không ăn bánh với bơ? Và Lev Rubin ở đây trong ngày Giáng sinh năm 1944? 
Reinhold phết một chút bơ lên miếng bánh và Lev Rubin nhớ lại rằng ngày Giáng sinh năm ấy anh ở trong một pháo đài trên chiến tuyến Narew gần Rozan. 
Và trong lúc năm người đàn ông Đức tưởng nhớ, mơ về những Đức bị giày xéo, chia xẻ, tan nánt của họ với những màu sắc rực rỡ nhất do tưởng tượng của họ đắp lên đó, Rubin đột ngột nhớ lại tuyến đầu Narew và những khu rừng ẩm ướt quanh hồ Ilmen. 
Ánh đèn xanh đỏ trên cây Nô en sáng lên trong mắt của sáu người ngồi dưới gốc cây. 
Sau đó, Rubin được hỏi về những tin tức mới. Anh cảm thấy xấu hổ, ngượng ngùng vì những sự kiện xảy ra trong tháng Chạp này ở trên đất Nga cũng như trên khắp trái đất. Nhưng anh vẫn không sao có thể xử sự như một kẻ không phải là người Cộng sản và từ bỏ hy vọng truyền bá chủ nghĩa cho những người này. Xong, anh vẫn không sao có thể giải thích cho họ hiểu được rằng trong chế độ xã hội phức tạp này sự thật nhiều khi tiến diễn theo đường lối quanh co và biến dạng. Vì vậy anh tuyển lựa cho họ – cũng như anh từng tuyển lựa cho chính anh – những sự kiện nào có tính cách chứng tỏ chủ nghĩa xã hội sẽ thắng, anh quên đi những sự kiện nào trái với điều ấy, kể cả những sự kiện làm cho người ta khó hiểu. 
Nhưng trong tháng Chạp đặc biệt này, ngoài cuộc hội thảo Nga Xô Viết – Trung Hoa cộng sản vẫn kéo dài và ngày kỷ niệm sinh nhật thứ bảy mươi của vị Lãnh đạo Nhân dân, không còn sự kiện gì đáng để nói cả. Thực ra còn có nhiều chuyện có thể nói về vụ xử án Traicho Kostov, nhưng nếu nói đến vụ xử này, anh sẽ bắt buộc phải kể rằng đó là một trò hề sống sượng, vụng về, rằng những phóng viên nhà báo đến dự phiên tòa xử đã được, sau một chậm trễ khó hiểu nhiều tiếng đồng hồ, phát một bản thú tội giả mạo nói rằng do chính tay Kostov viét trong khám tử tội – những chuyện này làm cho Rubin cảm thấy nhục và anh thấy rõ là chúng không thể có lợi cho việc tuyên truyền chủ nghĩa. 
Do đó Rubin chỉ nói với họ về những chiến thắng lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Hoa. 
Max chăm chú nghe Rubin nói. Thỉnh thoảng y lại gật đầu tỏ vẻ đồng ý, tán thành. Đôi mắt nâu nhìn trái ô liu của Max biểu lộ sự tin tưởng ngây thơ. Trước đây Max hoàn toàn tin tưởng và trung thành với Rubin, nhưng từ ngày xảy ra cuộc phong tỏa Bá Linh, y bắt đầu nghi ngờ về sự đứng đắn của những nguồn tin Rubin vẫn liều mạng sống để nghe trộm những bản tin của hai đài phát thanh BBC và Colonge phát đi bằng tiếng Đức bằng một cái máy thâu thanh tí hon do chính tay y chế tạo bí mật. Mỗi ngày Max đều ráp cái máy thâu thanh này, nghe tin xong lại tháo rời ra từng bộ phận cất đi dù rằng đó là một cái máy thâu thanh. Với cái máy này không những Max chỉ biết rõ rằng Traicho Kostov đã lên tiếng tố cáo ở giữa tòa việc mình bị bắt buộc phải ký vào những bản thú tội viết sẵn trong những kế hoạch của Liên minh Bắc Đại Tây dương và những tin tức kinh tế của Tây Đức. Tất nhiên là Mã đều nói lại tất cả những tin tức này cho những người Đức ở tù với anh cùng biết. 
Tuy vậy, tất cả năm người vẫn chăm chú nghe Rubin với những vẻ mặt tin tưởng. 
Bây giờ Rubin thấy rằng đã đến lúc anh nên từ biệt họ. Đêm nay cũng như mọi đêm, anh vẫn phải đi làm việc đêm. Rubin thốt ra vài câu ca ngợi cái bánh ngon và chàng sinh viên Vienna, người tạo ra cái bánh, sung sướng nhận lời khen ngợi. Sau đó Rubin xin kiếu từ. Năm người Đức giữ anh lại theo phép lịch sự trước khi để anh đi. Sau khi Rubin đi khỏi phòng, họ chuẩn bị nho nhỏ những bài ca Giáng sinh. 
Lev Rubin đi ra hành lang, tay ôm một quyển từ điển Mông Cổ – Phần Lan và một quyển tiểu thuyết của Hemingway bằng tiếng Anh. 
Hành lang rộng, đường đi lát bằng những phiến gỗ lớn, hai bên vách không có cửa sổ và ở đây đèn điện được thắp suốt đêm. Cũng trong hành lang này trước đây hơn một tiếng đồng hồ, Rubin cùng nhiều tù nhân cũ đứng xúm xít hỏi chuyện những tù nhân mới đến. Một cánh cửa từ chân thang lầu mở ra hành lang này, tiếp đó là nhiều cánh cửa phòng khác. 
Cửa phòng và cửa xà lim. Được gọi là phòng vì cánh cửa không có khóa, bị gọi là xà lim vì tên cánh cửa có lỗ lắp kiếng để lính canh có thể đứng ngoài hành lang nhìn vào bên trong. Bọn lính canh ở đây ít khi dùng đến những lỗ nhìn này nhưng người ta vẫn cứ cho đục chúng trên những cánh cửa như trong một nhà tù thực sự theo đúng quy chế nhà tù, vì trên giấy tờ chính thức, nơi này vẫn được gọi là “nhà tù đặc biệt”… 
Qua một lỗ nhìn một cánh cửa đó, đêm nay người đi qua hành lang có thể nhìn thấy một cuộc lễ Giáng sinh nữa. Đó là cuộc lễ của nhóm tù nhân Latvia, nhóm người này cũng xin được phép nghỉ làm việc đêm nay để hành lễ. 
Tất cả những tù nhân khác đều đi làm việc. Nghĩ đến chuyện này Rubin hơi lo lắng rằng anh có thể bị đưa tới Thiếu tà Shikin để giải thích về sự vắng mặt của anh. 
Hai đầu hành lang là hai cánh cửa lớn. Một cửa hai cánh gỗ dẫn vào một nơi trước kia, khi tòa nhà này còn là một giáo đường miền quê chưa bị biến thành nhà giam, là tầng lầu ở trên bàn thờ. Nơi này bây giờ trở thành phòng giam người. Cửa thứ hai bọc sắt kín từ trên xuống dưới, có lính canh và người đứng ngoài không thể tự mở ra để bước vào. Tù nhân gọi cửa này là “Cửa thánh”… 
Rubin đi tới trước cánh cửa bọc sắt đó và gõ nhẹ lên khung cửa sổ nhỏ trên đó. Bên trong, khuôn mặt chăm chú, bất động của người lính canh hiện ra sau mặt kiếng. 
Chìa khóa xoay nhẹ trong ổ khóa. Người lính này là một ông dễ tính và điều này là một may mắn cho Rubin. Người lính này có thể không cho anh vào phòng làm việc vì đã quá giờ và đưa anh tới gặp thiếu tá Shikin. 
Rubin đi lên thang lầu. Hai đường thang làm thành một vòng cung và gặp nhau ở tầng trên. Anh rảo bước dưới cây đèn đồng cổ lỗ đã từ lâu rồi không còn xài được nữa và tới đẩy cánh cửa phòng nghiên cứu đề hàng chữ: ÁM THÍNH.

——————————–

1Alexandr Sergeyevitch Pushkin, thi sĩ Nga nổi tiếng, sinh 1799, mất 1837.



Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

Chương 19 – Bán hạ giá 50 phần trăm

Ông Phạm văn Ba, đại diện của CPLTCHMN tại Ba Lê, thông báo cho Tổng Thống Phủ Pháp:

_ một giải pháp chánh trị đưa ông Dương Văn Minh lên làm nguyên thủ quốc gia có thể được chấp nhận, với điều kiện là ông phải trình diện một chính phủ có tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Chỉ cần chọn các nhân vật có thể chấp nhận được. “Được CPLTCHMN chấp nhận” liệu có nghĩa là “được Hà Nội chấp nhận hay không”?

Tổng Thống Phủ Pháp chuyển tin tức này cho tòa đại sứ Mỹ ở Ba Lê để họ chuyển tiếp về Hoa Thạnh Đốn và từ đó chính ông Kissinger sẽ gửi đến cho tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn . Cũng theo lời của chính ông Phạm văn Ba này, “Hoa Kỳ phải giải quyết các vấn đề của Miền Nam Việt Nam với CPLTCHMN chớ không phải với Hà Nội. Về phần mình CPLTCHMN sẳn sàng mở ra một cuộc đối thoại.”

Theo những người đã gặp ông Phạm văn Ba này thì ông ta có vẻ cởi mở. Người ta xì xào rằng Ông là một người “ôn hòa”. Tại Ba Lê, ông thường trò chuyện với ông Bùi kiến Thành, phó bí thư đặc trách về các vấn đề quốc tế của một đảng nhỏ, ít được người ta nhắc tới, gắn liền với Đệ Nhị Quốc tế , đó là đảng Xã Hội Việt Nam. Các đảng Xã Hội ở Âu Châu không bao giờ để ý đến ông Thành này. Ông Thành đề nghị với CPLTCHMN một thành phần Chánh Phủ có đủ mặt các vị lãnh đạo Tôn Giáo chính. Ông Thành nói:

_ “Riêng những nhân vật Tôn Giáo này đã đại diện cho phần lớn dân chúng Việt Nam. Không có một chánh trị gia nào, không một nguyên thủ quốc gia nào, cũng không phải ông Dương Văn Minh hay những người khác, không thật sự đại diện cho ai hết. Chỉ có những đại diện của các Tôn Giáo lớn mới có thể đại diện cho dân chúng để nói chuyện với CPLTCHMN, những người thuộc đảng Xã Hội Việt Nam đã xác nhận như vậy.

Hình như ở Ba Lê ông Thành cho ý kiến này rất là hay. Do vậy, các đảng viên đảng Xã Hội Việt Nam rất cảm động với buổi lễ cầu nguyện mấy ngày trước ở Nhà Thờ Chánh Tòa ở Sài Gòn nên đã gởi một điện tín cho Đức Cha Nguyễn văn Bình. Nhưng ông này không nhận được. Họ cũng đã gởi cho tòa đại sứ Mỹ ở Ba Lê: ở đây có thể nào thiết lập liên lạc được với các vị lãnh đạo Tôn Giáo hay không?

Các đại diện của CPLTCHMN ở Ba Lê khuyến khích họ, nhưng đã bắn tiếng cho biết là họ không thể hứa là có ngừng bắn, ngay cả nếu có một Chánh Phủ được chấp nhận được thành lập tại Sài Gòn.

Trong một số trung tâm chánh trị ở Ba Lê, người ta cho biết là có nhiều bất đồng giữa CPLTCHMN và Hà Nội và ngay trong nội bộ CPLTCHMN cũng vậy.

Trước hết ông Mérillon tưởng là một trò đùa. Từ trung tâm điện thoại của Sài Gòn nữ xướng ngôn nói:

_ Tổng Thống muốn nói chuyện với ông. Không phải Tổng Thống của chúng tôi mà là Tổng Thống của ông.

Ông Valéry Giscard d’Estaing khuyến khích ông Mérillon:

  • Việc ông đã làm rất tốt. Tôi khen ngợi ông. Nhưng đừng có lãnh lấy quá nhiều nguy hiểm đó!

Ông Giscard thân mật nói thêm:

  • “Tất cả những sáng kiến của ông đều là sáng kiến tốt.
  • Tôi không có sáng kiến đâu, tôi làm theo các sự chỉ dẫn của ông thôi.

Đúng là chánh trị trung gian: ở Ba Lê cũng như ở Sài Gòn người ta chánh thức công bố câu chuyện trao đổi trên điện thoại trên đây của Tổng Thống Pháp để cho thấy là Ba Lê đã chọn quân bài Dương Văn Minh. Đường lối ngoại giao của Pháp là cố gắng trồi lên hàng đầu. Ông Jean Sauvagnargues bảo đảm rằng “hành động của nước Pháp hoàn toàn vô tư.”

Ông Mérillon được ông Tổng Thống Hương tiếp kiến và ông ta khuyên ông Hương nên nhường chỗ cho Dương Văn Minh. Miền Nam Việt Nam đang hấp hối, cần phải mổ xẻ ngay. Vị Tổng Thống già nua cố bám, viện cớ có nhiều khó khăn về mặt Hiến Pháp. Ông Hương tiếp ông Trần văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện. Ông này tuyên bố sẵn sàng lèo lái con thuyền quốc gia đúng như Hiến Pháp đã qui định, trong trường hợp ông Hương từ nhiệm. Ông Lắm nói với báo chí:

_ “Ông Tổng Thống Hương có thể từ chức. Ông không thể trao quyền hành lại cho bất cứ người nào hết. Nếu ông trao quyền lại cho ông Dương Văn Minh là ông đã xem thường Hiến Pháp.

Người ta hỏi ông về vai trò của nước Pháp. Ông Lắm trả lời một cách ỡm ờ:

_ “Tôi hy vọng rằng nước Pháp có thể ảnh hưởng được với phía bên kia…. Vai trò của họ là có thể can thiệp với các cường quốc và đặc biệt hơn hết là các cường quốc cộng sản.

Ông Lắm đã từng là Tổng Trưởng Ngoại Giao năm 1973 và là thương thuyết gia của Hiệp Định Ba Lê. Cũng giống như các chánh trị gia ở Sài Gòn ông tin vào những sự can thiệp của Mạc tư Khoa hơn là thiện chí của Hà Nội.

Tại Hoa Thạnh Đốn, Hạ Viện khi tranh cãi lại về vấn đề Việt Nam, đã chấp thuận ngân khoản 327 triệu mỹ kim viện trợ nhân đạo, nhiều hơn 77 triệu của bên Thượng Viện. Cả hai viện đều cho phép Tổng Thống Ford xử dụng quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ cuộc di tản.

Tại Nhà Trắng, trước sự hiện diện của các doanh gia bảo trợ cho những chiến dịch quảng cáo về quyền lợi của dân chúng, ông Ford tuyên bố:

_ “Hoa Kỳ sẽ bắt đầu một bước đi mới. Hoa Kỳ sẽ tiến tới phía trước.”

Phi công Nguyễn cao Kỳ và linh mục Thanh nói chuyện với khoảng mười ngàn người trong một cuộc mết tinh ở một vùng ngoại ô Sài Gòn. Các diễn giả nói đủ thứ chuyện : họ kêu gọi thành lập một Chánh Phủ mới, kêu gọi kháng chiến, kêu gọi ngừng bắn và kêu gọi thương thuyết…

Ở tòa đại sứ Hoa Kỳ, trong khi ông Martin thì chọn quân bài Trần văn Hương thì ông Polgar lại chọn ông Dương Văn Minh. Cố vấn Lehmann thì làm yên lòng khách khứa: Tất cả rồi cũng sẽ tốt thôi. Khi tiếp ông Lucien Hébert, vị xử lý thường vụ Gia nã đại, khi ông này đến từ giã đề về nước ngày mai thì ông Lehmann phản đối:

_ “Không, đừng có đi. Chúng tôi đây, chúng tôi ở lại. Bắc Việt không có chiếm Sài Gòn đâu, sẽ có một cuộc dàn xếp…

Sau đó, sau một lúc lưỡng lự, ông nói tiếp:

_ “Dù sao đi nữa, nếu xảy ra chuyện gì thì vẫn có chỗ cho ông kia mà.” Có nghĩa là, trong phi cơ Hoa Kỳ của chúng tôi.

Ông Polgar tự thấy mình được khích lệ, khi ông lại gặp được đại tá Hung gia Lợi thân thích của ông tại nhà của mình. Đại tá Toth bảo đảm với ông Polgar là tất cả các điện tín của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã được nhanh chóng chuyển tiếp đến “phía bên kia và cả thủ đô Budapest của Hung gia Lợi, và – ông giả thuyết- đến cả những người khác nữa”.

Theo ông Toth, thì những người của CPLTCHMN và của Bắc Việt ở trại Davis, đã cho rằng diễn tiến chánh trị trong mấy ngày qua đã có một “tính chất xây dựng”. Họ rất lạc quan, và ước tính rằng người ta có thể sẽ tìm được những giải pháp “tốt cho cả đôi bên”. Còn dè dặt, Toth đã nhấn mạnh: ông ta không phải là phát ngôn viên của Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay của CPLTCHMN . Tuy nhiên, ông cũng có thể cung cấp cho ông Polgar những mẩu tin tức từ “phía bên kia”. Vì ông có gặp khó khăn về các tên của người Việt Nam nên ông đã có ghi chú. Ông ta lấy cuốn sổ tay ra.

Theo “phía bên kia” thì không có một nhân vật nào được xem là chính yếu trong triển vọng của một cuộc diễn tiến hòa bình. Có nhiều nhân vật của Miền Nam sẽ được chấp nhận. Tướng Dương Văn Minh là một trong số những người đó. Ông cũng không phải là người duy nhất. Nhất là CPLTCHMN muốn rằng những người không đáng được chấp nhận không nên có một vai trò nào nữa ở Miền Nam Việt Nam. Ông Toth nói tiếp:

_ “Không dính dáng gì đến người sẽ lãnh đạo Tân Chánh Phủ, cũng là một chuyện tốt nên để cho họ vào cuộc – thí dụ như – bà Ngô bá Thành, linh mục Chơn Tín.

CPLTCHMN có thể hợp tác với rất nhiều người. Ông Toth còn đọc ngay tên của Thủ Tướng xử lý thường vụ Nguyễn bá Cẩn, người rõ ràng đã ở trong “tập đoàn Nguyễn văn Thiệu”. Nhất là CPLTCHMN muốn có một lời tuyên bố của Hoa Kỳ. Tuyên bố này phải nói rõ là Hoa Kỳ không xen vào chuyện nội bộ của Miền Nam Việt Nam nữa và chấm dứt mọi viện trợ quân sự cho Chính Phủ Sài Gòn.

Hai bản nhạc khác nhau của CPLTCHMN: ở Ba Lê thì các đại diện của họ không bảo đảm sẽ có ngừng bắn. Và ở trại Davis thì các đại diện của họ lại nói là sẵn sàng chấp nhận ngừng bắn nếu có một sự “tiến bộ tốt của quá trình chánh trị ” Ít ra, đây là một truyền đạt không chánh thức đã được ông Toth chuyển tiếp cho ông Polgar. Ông nói là những người đối thoại ở trong trại Davis cũng muốn biết có phải là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ ở Vũng Tàu hay không? Nếu có thì tại sao? ông Polgar đính chánh ngay.

_ “Tại sao còn có quá nhiều tàu chiến Hoa Kỳ, trong khi người ta đã di tản một số lớn người Việt Nam từ hơn hai tuần lễ? ông Toth hỏi.

  • Ông Polgar trả lời rằng các tàu chiến đó chỉ duy nhất dùng cho các cuộc hành quân di tảÔng Polgar muốn ông Toth nói cho “bên kia” hiểu rằng Chánh Phủ của ông Hương, cũng như Chánh Phủ sẽ thay thế ông ta, có nhiều “bài toán tâm lý dễ xúc cảm”. Không nên tiến tới nhanh quá. Phải nghĩ tới tất cả những người của Miền Nam Việt Nam, nhất là các binh sĩ, họ đang nhìn những diễn biến chánh trị mới với con mắt không tốt.
  • “Chúng tôi không muốn thấy các phi công của những chiếc F.5 bỏ bom vào Dinh Độc Lập để phản đối lại những gì mà dưới nhãn quan của họ sẽ là một sự phản bội lại chánh nghĩa quốc gia.

“Thật là kỳ lạ! “Chúng tôi”! Chúng tôi, những người Mỹ, những người Hung gia Lợi, Hà Nội và CPLTCHMN. Ông Polgar tiếp tục nói, dựa trên chủ đề thường được hai ông Martin và Mérillon nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

_ ‘Chúng tôi không muốn thấy luật lệ và trật tự ở Sài Gòn bị sụp đổ. Phải cố tránh những sự bạo động cá nhân và những vận động của quần chúng.”

Ông Polgar không còn nghi ngờ gì nữa là Cảnh sát sẽ áp dụng những chỉ thị của Tân Chánh Phủ. Người ta không biết đến bao giờ Chánh Phủ mới này được thành lập xong, Dù sao thì trước đó Chánh Phủ của ông Hương đã công bố những biện pháp cốt “chỉ rõ là vấn đề hòa giải dân tộc đã là chương trình nghị sự rồi”. Bằng chứng là vài giờ trước đây, Thủ Tướng Xử Lý Thường Vụ Nguyễn bá Cẩn, đã tuyên bố là có vài trăm tù nhân chánh trị sẽ được thả ra. Các cơ quan an ninh của Miền Nam lợi dụng chuyện này để thanh toán nhiều cán bộ quan trọng của Bắc Việt mà họ đang giữ. Do đó Nguyễn văn Tài, một trong những tay gộc bị các cơ quan này tóm được, sẽ được thả xuống từ trực thăng.

Với sự thỏa thuận của ông Martin, ông Polgar yêu cầu ông Toth cho những người ở trại Davis biết là tòa đại sứ muốn bàn cãi một vài vấn đề với một đại diện của CPLTCHMN một cách chánh thức nhưng bí mật. Ông Toth ghi nhận, mong sẽ nhanh chóng cung cấp câu trả lời. Có thể ngay chiều hôm nay.

Được báo cáo đầy đủ về cuộc gặp gỡ này, ông Kissinger vẫn ghi nhận những lời này, nhưng không bao giờ tin. Thật vậy, một cuộc ngừng bắn với những người cộng sản Việt Nam không thể tùy thuộc vào những sự vận động của một ông đại tá Hung Gia Lợi. Ông Kissinger ra lệnh cho ông Martin rằng tất cả những cuộc thương thuyết với CPLTCHMN phải được thực hiện ở Ba Lê chớ không phải ở Sài Gòn.

Đối với một số người, trong đó có ông Mérillon. thì vấn đề của ông Minh đang tiến triển tốt. Ông Martin cũng bắt đầu “o bế” giải pháp này. Tòa đại sứ Mỹ tự nhiên nghĩ rằng người Pháp muốn có mặt lại ở Đông Dương nhưng họ có vẻ tin tưởng ông Mérillon. Tại sao không chơi lá bài Dương Văn Minh? Theo chỗ ông Martin biết thì ông Minh này vẫn là một tướng hồi hưu, làm việc rất ít. Ông ta đã làm được gì trong những năm qua? Ông ta chơi quần vợt, chăm sóc vườn lan và nuôi cá.. Ô hay! muốn thành công về chánh trị, không cần thiết phải quá thông minh. Nhưng phải cần có đức tính lẫn nghị lực. Ông Minh có tánh tốt, nhưng ông ta tính tình ra sao? Nhiều người nói ông Minh là “một con voi với bộ óc của chim se sẽ”. Hai ông Martin và Mérillon đồng ý trên một điểm: giải pháp hoàn toàn (100 %) của cộng sản sẽ là một giải pháp tệ hại nhất trong các giải pháp. Nếu Quân đội Bắc Việt chiếm Sài Gòn , thì tiếp tục chiến tranh sẽ đưa đến việc Bắc Việt sẽ chiếm toàn thể lãnh thổ của Miền Nam.

Người Pháp nhất là ông Pierre Brochand thật tình rất thích ông Dương Văn Minh. Không giống như nhiều tướng lãnh khác được đào tạo thời Mỹ, ông Minh là người thân Pháp như những người thân cận của mình. Là một tướng lãnh, ông Minh có thể được binh sĩ nghe lời.

Còn ông Hương thì không được như vậy. Miền Nam Việt Nam còn khiển dụng được 4 hay 5 sư đoàn . Trong trò chơi chánh trị, ông Minh cũng còn một ít chủ bài. Phải cho ông ta một dịp may để đoàn kết hai lực lượng chánh trị và tôn giáo lại. Nếu CPLTCHMN nghĩ rằng ông ta có thể được chấp nhận thì tại sao chúng ta không yểm trợ tối đa cho ông? Các nhà ngoại giao người Pháp cảm thấy thích thú khi nhận thấy rằng ông Polgar và ngay cả con diều hâu Martin cũng lần lần đi theo giải pháp của người Pháp. Trường hợp xấu nhất, một Chánh Phủ liên hiệp lâm thời sẳn sàng thương thuyết cũng có thể tránh được cuộc chiến trong thủ đô Sài Gòn, một thủ đô mà tướng Kỳ kêu gọi phải cố thủ. Những nhà ngoại giao Pháp không quá ngây ngô như người Mỹ đã tưởng, họ không có quá nhiều ảo tưởng trong dài hạn. Họ thừa biết là từ 30 năm nay, cộng sản Việt Nam đã có ý muốn thống nhất nước Việt Nam và từ 45 năm nay đã từng muốn thống nhất Đông Dương .. Người Pháp ngày hôm nay cũng như ông Kissinger ngày hôm qua, đều nghĩ đến tính cách hợp lý của quốc gia Việt Nam: Hà Nội lúc nào cũng muốn, ít nhất trong một giai đoạn chuyển tiếp từ một đến năm năm, chấp nhận một Chánh Phủ dưới màu cờ của lực lượng thứ ba mà người cộng sản chưa hoàn toàn thống trị được. Một chế độ “dễ coi” ở Sài Gòn , dân chủ hơn chế độ ở Miền Bắc có thể làm cho Hà Nội có điểm tốt ở Á Châu, lại có thể giúp họ giữ được khoảng cách đối với Mạc tư Khoa và Bắc Kinh . Người Pháp còn nghĩ tới những sự cạnh tranh cố hữu giữa Miền Nam và Miền Bắc. Ông Dương Văn Minh sẽ thật sự là người của tình thế này. Cộng sản Hà Nội đến một lúc nào đó sẽ được độc lập đối với cộng sản Mạc tư Khoa. Như vậy tại sao Miền Nam Việt Namsẽ không được như vậy đối với Hà Nội, ít nhất trong một thời gian nào đó?.

Nghị sĩ Paul d’Ornano đến Sài Gòn. Ông nói cho những người này và những người kia về tiêu lệnh của Tổng Thống Pháp: ở lại tại chỗ! Gần như nhờ đó mà cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn loan truyền ra một niềm lạc quan nào đó. Người Mỹ, trong đó có ông Snepp, có cảm nghĩ là thái độ đó gây ảnh hưởng rất nhiều cho người Việt Nam. Nếu người Pháp không đi, điều đó có nghĩa là sẽ có một cuộc dàn xếp nào đó, có thể là một mầm móng của một quốc gia không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam. Một loại giải pháp Nam Kỳ. Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn hoạt động trong chiều hướng này. Tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội thì không tin như vậy.

Ngày 25 tháng 4

Tại trại Davis tướng Hoàng anh Tuấn biết là sẽ không có thương thuyết, và biết là thời điểm chót của “sức mạnh cách mạng” đã đến. Trong trận chiến cuối cùng đó, phi trường Tân Sơn Nhất sẽ bị pháo kích.

Tướng Tuấn gởi cho Hà Nội một công điện ngày hôm nay, theo đúng “mốt” anh hùng tính của những phim ảnh Bắc Việt:

_ “Xin Bộ Tham Mưu đừng nghĩ gì đến sự hiện diện của cá nhân tôi và những người của tôi ở trại Davis. Chúng tôi sẽ đào hầm núp để giữ vị trí của chúng tôi đã chiếm đóng. Nếu quân địch phản ứng mạnh, xin pháo binh của chúng ta cứ tăng cường pháo mạnh, đừng lo nghĩ gì đến chúng tôi. Đây là một danh dự cho chúng tôi khi được hy sinh cho chiến thắng của chiến dịch và cho chiến thắng của cách mạng”

Danh dự hay không khi tự hiến mình cho sự hy sinh, các sĩ quan, hạ sĩ quan và bộ đội Bắc Việt hay Việt Cộng ở trại Davis đều không thấy bao giờ được an toàn trong những dãy nhà bằng cây lợp tôn. Họ dùng xẻng, cuốc hoặc đôi khi dao găm và cọc sắt để đào hầm núp, với những bao mà họ làm để đựng đất. Các biện pháp này không thể che chở họ được khi mà trái đạn pháo rơi ngay vào hầm núp, nhưng có thể giúp họ tránh được những mảnh đạn pháo.

Trong kế hoạch tấn công, tướng Dũng rất chú ý đến sự hiện diện của các phái đoàn cộng sản ở trại Davis. Tướng Tổng Tư Lệnh Bắc Việt này viết:

_ “Trong tiến trình soạn thảo kế hoạch tác xạ vào căn cứ Tân Sơn Nhất, chúng tôi nhiều lần nhấn mạnh với những người có trách nhiệm để họ nhớ đến sự hiện diện của phái đoàn chúng ta để tránh tổn thất cho chúng ta.”

Các binh sĩ của Miền Nam thường xuyên và lặng lẽ canh gác cho các phái đoàn Bắc Việt và Việt Cộng ở trại Davis. Hai phái đoàn cộng sản này có vũ khí cá nhân và một vài khẩu liên thanh. Không đủ để chống trả được một cuộc tấn công nghiêm trọng. Một vài đại đội Dù của Miền Nam cũng có thể chiếm trại Davis một cách nhanh chóng.

Tổng Thống Hương cho gọi đại sứ Martin. Ông giải thích rằng ông Thiệu làm cho cuộc sống của ông không được thoải mái. Ông Thiệu cứ tiếp tục cố vấn cho ông quá nhiều. Ông có cảm nghĩ là sự hiện diện của ông Thiệu ngăn cản ông trong việc thương thuyết. Ông thích được thấy ông Thiệu ra đi.

_ Hoa Kỳ có nhận ông ta hay không?

_ Có, tôi chắc chắn như vậy, ông Martin đáp.

Cũng như phần đông các tướng lãnh, ông Thiệu cũng có một tư dinh ở phi trường Tân Sơn Nhất. Ông ta có thể đến đó ở. Ông Martin nghĩ rằng ít nhất ở đó ông sẽ được an toàn hơn chỗ khác. Sau khi ông Thiệu đã từ chức, ông Martin không muốn thấy một ông Thiệu bị ám sát.

Ông Martin cho gọi một phi cơ từ Băng Cốc đến, một phi cơ cánh quạt lúc nào cũng được đặt dưới quyền xử dụng của ông ta. Theo lệnh của ông Martin, tướng Timmes đề nghị ông Thiệu nên rời khỏi Việt Nam. Ông Thiệu chấp thuận. Ông sẽ đến Đài Loan, nơi đó có anh của ông đang là đại sứ. Vào hồi 19 giờ 30, lúc trời vừa tối, ông cựu Tổng Thống rời khỏi Dinh Độc Lập trong chiếc xe Mercédès, và thay vì đến tư dinh của mình, ông lại đến thẳng tư thất của cựu Thủ tướng Khiêm cùng ở căn cứ Tân Sơn Nhất. Ông Martin giao cho ông Polgar phải cho các người đi theo ông Thiệu điền vào những tài liệu được Tổng Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ chứng thực, được phát ra theo lệnh của Tổng Thống Ford. Những tờ khai này sẽ cho các đương sự quyền được ở trên nước Mỹ với tư cách là người tỵ nạn. Trong lúc hấp tấp, ông Polgar quên những tài liệu đó. Bà Thiệu cũng như bà Khiêm đã đi trước mấy ngày rồi. Ông Thiệu ra đi với 15 người. Lúc 20 giờ 30, tướng Timmes, Frank Snepp và hai viên chức khác đi đến nhà ông Khiêm. Ông Timmes giới thiệu Snepp cho ông Thiệu:

_ “Đây là một phân tích gia của Trung Ương Tình Báo (CIA). Ông ta là một tài xế lành nghề.

Mọi người đều cười. Ông Thiệu, ông Khiêm và ông Polgar cả ba đều lên xe. Trước khi đi qua phi trường quân sự ông Timmes khuyên ông Thiệu nên cúi xuống:

_ “Thưa Tổng Thống, chỉ để giữ an toàn cho Tổng Thống.

Ông Timmes hỏi ông Thiệu về tin tức của bà Thiệu và con gái của ông

_ “Họ đang ở Luân Đôn, chắc đang đi mua đồ cổ.

Các bản ngoại giao giúp cho xe qua hàng rào cản dễ dàng. Ông Martin đứng chờ ông Thiệu cạnh phi cơ. Ông đại sứ ghi nhận là chung quanh hai ông cựu Tổng Thống và cựu Thủ Tướng, chỉ có vài người sĩ quan mà ông ít biết. Quý vị hành khách này không có nhiều hành lý, chỉ có vài chiếc va ly, vài xách tay, các máy ảnh. Ông Martin cho lệnh phi công tắt hết đèn trên phi cơ.

Lúc bấy giờ ông mới nói cho phi công biết là phải đi đến đâu: Đài Bắc, ở Đài Loan. Ông Thiệu thân mật vỗ vai cám ơn ông Snepp và bước lên phi cơ. Ông Martin bước theo ông Thiệu.

Rất bình tĩnh, ông Thiệu nói:

_ “Cám ơn”

_ “God speed, xin Thượng Đế giữ gìn ông, ông Martin dùng một thành ngữ rất đẹp và rất cổ nói với ông Thiệu.

Chiếc phi cơ cất cánh. Ông Martin lên xe, không còn lo lắng gì nữa. Ông đã làm xong một việc rất tốt. Ông Thiệu vẫn được bình yên vô sự. Bây giờ làm sao để các đứa con của Hà Nội cho ông Martin một chút ngơi nghỉ đây? Để cho ông hoàn tất được cuộc di tản. Cũng như ông Polgar, ông Martin đi đến một khu cư xá ở phía Tây của Sài Gòn, ở đó trong một biệt thự, người Ba lan đang đãi rượu. Đại sứ Ryssard Fijalkowski gặp riêng ông Martin. Ông Martin hỏi đại sứ Ba Lan câu hỏi với một trăm ngàn Mỹ kim:

_ “Sau ông Hương, Hà Nội có chấp nhận ông Dương Văn Minh không?

Đại sứ Ba Lan phải đi hỏi lại. Nhưng ông hỏi lại một câu mà cộng sản Việt Nam đang lo lắng:

_ “Tất cả chúng ta đều nhắm vào chuyện thương thuyết để làm việc. Ông cho tôi biết coi tại sao có quá nhiều tàu chiến Hoa Kỳ ở phía Nam của biển Trung Quốc?

_ “Tôi hết sức hy vọng là cả ông và tôi đểu phải hiểu tại sao, ông Martin trả lời.

Trên thực tế ông có thể nói cho tôi biết, ông đây, tại sao có quá nhiều dàn hỏa tiễn Bắc Việt được đặt quá gần Sài Gòn? Nhờ ông cho các bạn của ông ở Hà Nội biết là nếu họ muốn chống lại cuộc di tản của chúng tôi thì tức khắc họ sẽ biết tại sao có hạm đội của chúng tôi ở đó.

Ông Martin nghĩ rằng vị đồng nghiệp Ba Lan của ông sẽ mau chóng chuyển ngay về Hà Nội tin tức này. Ông Martin không thích cái thú ăn chơi kiểu thượng lưu ở đây và ông ra về ngay. Tóm lại ông đã có được một ngày khá tốt. Đã có trên một ngàn người Mỹ, cùng vợ con, bè bạn của họ đã được ra đi, dù có hay không có đầy đủ giấy tờ.

Và cả một ông Tổng Thống.

Để thực hiện tốt cuộc hành quân di tản của mình, ông thấy cần nhất là ông phải có thì giờ Bị nhốt trong một căn nhà, linh mục Jean Mais nghe một phụ nữ trẻ thét lên:

_ “Ngày nào như ngày nấy, bà ta tắm rửa trong một bồn tắm đầy bia 33. Ông ta đã đi ra ngoại quốc rồi với nhiều tấn vàng. Bọn họ hay lắm, người này cứ thay thế cho người kia, chúng tôi phải chiếm Sài Gòn thôi.”

Người đàn bà trẻ này nói về bà Thiệu. và về ông Tổng Thống , về những người thay thế ông ta. Linh mục Mais và người đệ tử của ông được đưa đi từ nhà này đến nhà khác. Bây giờ thì người ta đã gọi linh mục là “anh” để chứng tỏ rằng ông không có gì cao hơn người đối thoại với mình.

_ “Anh, tôi phải trói tay anh lại.

_ “Tại sao?”

Người ta không trả lời cho ông. Người đệ tử của ông thì không bị trói tay. Trên sàn nhà cạnh linh mục có hai người ngồi. Một người thì bị trói tay, người kia thì không bị trói. Không còn chiếc chiếu nào nữa, cũng như giọng nói cũng đã thay đổi.. Tất cả đều chờ. Một ngày, hai đêm…. Họ nghe tiếng xích của chiến xa trên đường. Xuyên qua kẻ ván, linh mục quan sát cuộc di chuyển. Ông thấy nhiều hỏa tiễn SAMM được xe Molotova kéo. Đối với linh mục, ông thấy Miền Nam Việt Nam không có phản công nữa, và không phải CPLTCHMN nắm lấy chánh quyền ở Miền Nam.

Bắc Việt sẽ chiếm Miền Nam

Mặc dù tiếng đồn khắp Sài Gòn cũng như ở các vùng của cộng sản, nhưng thực sự ông Thiệu không phải ra đi với số vàng của Ngân Hàng Việt Nam.

Dĩ nhiên là mọi người đều quan tâm, chánh quyền ở Sài Gòn cũng như chánh quyền ở Hoa Thạnh Đốn . Nếu cộng sản chiếm được thủ đô Sài Gòn, người ta muốn thấy rằng họ sẽ không chiếm được số vàng này. Có hai người theo dõi vấn đề này rất sát ngày 26 tháng 4. Đó là ông Nguyễn văn Hảo, cựu Phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh Tế, và một cố vấn của tòa đại sứ Hoa Kỳ, ông Dan Ellerman. Số vàng này có thể sẽ được ký thác ở Thụy Sĩ, vào Ngân Hàng Quốc Tế, hay ký thác ở Hoa Kỳ ở Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang. Ông Hảo không muốn gởi số vàng này ở Hoa Kỳ dưới sự kiểm soát của người Mỹ. Ông Martin nhấn mạnh để các thỏi vàng này phải được di tản. Ông đến dinh Tổng Thống. Ông Hương dường như lãng trí.

Ông Martin ra về với sự tin tưởng là ông Hương chấp thuận chuyện di tản số vàng này.

Cùng ngày, ông Kissinger điện qua: Chuyện “gởi đi” này – (người ta không hề nói đến vàng) – có thể phải được bảo hiểm cho nhiều tỷ mỹ kim., phải lên đến hai trăm bốn mươi triệu mỹ kim (240 triệu) . Bảo hiểm chỉ có giá trị khi nào sự “gởi đi” phải trước ngày 27 tháng 4. Ông Hảo lo việc chuyển đi, nhưng có nhiều nghi vấn và ông phải cho Tổng Thống biết. Hoặc ông Hương còn là Tổng Thống hoặc ông Dương Văn Minh lên cầm quyền. Nếu số vàng được gởi đi, những người này hay người kia có thể sẽ bị cáo buộc là phản bội. Cần phải suy nghĩ lại. Người Mỹ dự trù là sẽ chuyển đi những thùng đựng các thỏi vàng trên một phi cơ quân sự , như thế sẽ giải quyết được vấn đề bảo hiểm. Các quân nhân không cần thiết phải có nhiều biện pháp phòng ngừa. Công tác chuyển hàng này được dự trù ngay đêm nay.

Tòa đại sứ nhận được điện thoại của ông Hảo: Ông Hảo tuyên bố là Tổng Thống Hương không cho phép chuyển vàng đi. Như vậy là số vàng đã đóng thùng vẫn còn được cất giữ ở ngay chỗ cũ, dưới hầm của Ngân Hàng Quốc gia.

Bị giao động vì quá nhiều lời khuyên của những người này người khác, Tổng Thống Hương, người luôn luôn tôn trọng Hiến Pháp, đã triệu tập Lưỡng Viện Quốc Hội Việt Nam Thượng Viện. Ông đặt với họ một câu hỏi rất nghiêm trọng:

“Liệu tôi có thể từ chức và giao quyền hành lại cho tướng Dương Văn Minh được không?

Để ông ta bắt đầu các cuộc thương thuyết với địch?”

Các nghị sĩ và dân biểu tranh luận với nhau suốt 10 tiếng đồng hồ.

Trong lúc ở ngoài hành lang, ông Pierre Brochand của tòa đại sứ Pháp theo dõi cuộc tranh luận. Buổi họp bị ngưng nhiều lần với những pha cãi cọ qua lại và những bài diễn văn bi thảm, buồn cười và giật gân.

Cuối cùng các nghị sĩ và dân biểu cũng bỏ phiếu cho một quyết nghị:

_ “Họ tái xác nhận lòng tin của họ đối với Tổng Thống Hương. Họ để cho vị Tổng Thống này được trọn quyền quyết định, kể cả quyết định trao quyền lại cho “một nhân vật nào đó được ông lựa chọn”.

Quyết nghị này vi hiến, nhưng nhìn chung, nó cũng giữ được một hơi hướng bàn bạc của pháp chế.

Vào buổi trưa, trong lúc cuộc thảo luận còn đang tiếp tục ở Thượng Viện, đại tá Võ đông Giang họp báo ở trại Davis. Không có gì khích lệ cho lắm về triển vọng thương thuyết. Ông ta chỉ nói:

_ “Các đơn vị của chúng tôi tiếp tục tiến quân, sẽ không có ngừng bắn.”

Ông ta nêu ra 9 điều kiện mà người Mỹ phải thi hành. Trong số đó đại tá Giang bắt buộc:

_ Tất cả các thành viên của CIA phải ra đi hết,

_ Rút hết tất cả các tàu chiến Hoa Kỳ đang lảng vảng trong vùng lãnh hải của Việt Nam cũng như 6000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trên hạm đội đó.

_ Rút hết tất cả 200 phi cơ Hoa Kỳ mà theo ông ta đang sẵn sàng can thiệp,

Ông ta còn nêu thêm 7 điều kiện tiên quyết cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Bảy điều kiện này chung quy chỉ nhằm triệt tiêu hoàn toàn Chánh Phủ này.

Trong khi đại diện của cộng sản đang thao thao bất tuyệt ở trại Davis, thì ông Pierre Brochand điện thoại cho ông Polgar. Theo ông thì các chánh trị gia của Sài Gòn chậm chạp và viển vông đã làm mất quá nhiều thì giờ:

_ “không còn nghi ngờ gì nữa, đã quá trễ cho việc thương thuyết.”

Những người Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế cũng nghĩ như vậy. Cơ quan CIA biết rằng một chiếc phi cơ Ilyouchine sẽ đáp xuống Tân Sơn Nhất trong vài giờ nữa để bốc 280 nhân viên Ba Lan về Varsovie (Ba Lan) qua ngả Băng Cốc. Chuyện di tản này chỉ có một ý nghĩa: người Ba Lan thấy trước một cuộc tiến chiếm Sài Gòn của Bắc Việt và họ không có một hứng thú nào ở lại tại chỗ để chờ đón giải phóng quân. Đây là lần duy nhất người Ba Lan không hề trao đổi tin tức của họ cho ông Snepp hay ông Polgar.

Cuộc di tản đang được tiếp tục rất có tổ chức và trong vòng trật tự. Vị Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương đã cho ông Martin biết về những cảm tưởng của ông ta:

  • “Tinh thần của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã xuống thấp vì gia đình của họ không được di tản cùng với những người tỵ nạn khác..Tại Đà Nẵng mười thành viên thuộc cơ quan tình báo của sư đoàn 1 Không quân của Miền Nam Việt Nam đã bị hành quyết… Người Việt Nam tin rằng họ sẽ bị hành quyết nếu người ta không giúp cho họ trốn thoát.”

Ông Martin giận lắm: các cơ quan tình báo ở Honolulu đã có hoạt động, nhưng ông ta, đại sứ Martin, thì có cần gì đến những tin tức mãi từ xa, tận Honolulu như vậy đâu, về những chuyện đang xảy ra ngay cạnh ông ta, ở Việt Nam.

Ông Kissinger lo âu. Làm gì mà ông Martin cấp giấy phép đi như vậy? Có phải thật sự các phi công Miền Nam Việt Namđang chuẩn bị bắn hạ các phi cơ di tản của Hoa Kỳ hay sao? Từ đâu mà họ biết là cộng sản đã có danh sách những người phải hành quyết, đến hàng triệu người?

Ông Martin trả lời ngay. Rất tự tin, đại sứ Martin nói rõ:

_ “Phải biết lọc kỹ các tin đồn”. Càng ngày càng có nhiều bằng chứng là Hà Nội “mặc nhiên đồng ý sự di tản… trong khi sự di tản chánh trị ở Sài Gòn tiếp tục theo một đường hướng thuận lợi cho họ.” Bằng chứng thiện chí khác của Hà Nội: Họ có thể chiếm cảng Vũng Tàu, cách thủ đô Sài Gòn 80 cây số về phía Nam, nhưng họ không chiếm. Tướng Homer Smith có đi thám sát Vũng Tàu. Người ta sẽ cho 2 chiếc phi cơ vận tải C.130 để di tản gia đình của 250 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam theo yêu cầu của vị Tư Lệnh của họ. Tất cả các thủ tục đều đã làm xong và rất đầy đủ. Các phi cơ sẽ đáp xuống và sẽ cất cánh trong vòng vài phút. Không có phi cơ nào của Miền Nam Việt Nam ở khu vực đó. Như vậy là sẽ không có một nguy cơ nào từ một sự can thiệp bắn phá của các phi công Việt Nam. Cuộc di tản này coi như một cuộc hành quân thí nghiệm. Người ta sẽ thấy đề đốc Bùi thế Lân thật sự có thể bảo vệ được phi trường ở Vũng Tàu hay không”.

Các nhà ngoại giao Pháp bám sát Tổng Thống Hương suốt ngày. Riêng hai ông Mérillon và Brochand thì lộ rõ vẻ lo lắng. Họ bắt đầu nghi ngờ rằng người ta có thể nhận cả một sự đầu hàng trong thương thuyết. Họ tỏ vẻ tin tưởng một cách công khai. Bây giờ thì ông Polgar có thể tin tưởng hơn người bạn đồng nghiệp Brochand của ông về giải pháp Dương Văn Minh.

Tờ báo Tin Tức Viễn Đông, gần như là tờ báo bán chánh thức của tòa đại sứ Pháp, đưa lên hàng đầu 4 tin tức, ngày thứ bảy 26 tháng 4:

“(1).-Tổng Thống Giscard d’Estaing đã nói chuyện với đại sứ Pháp ở Sài Gòn qua điện thoại.

“(2).- Ông Jean- Marie Mérillon đã được Tổng Thống Trần văn Hương tiếp kiến lần thứ ba.

“(3).- Nghị sĩ M. Paul d’Onano đã đến Sài Gòn , mang theo một thông điệp của Tổng Thống Pháp cho các công dân Pháp ở Việt Nam“(4).- Sẽ có một cuộc hưu chiến…”

Diễn dịch: những cuộc vận động của người Pháp đang tạo dựng tình hình cho một cuộc ngừng bắn, để đi tới một giải pháp chánh trị qua thương thuyết.

Tờ báo này cũng cho biết nhiều tin đồn ở Sài Gòn: 5 sư đoàn Bắc Việt trở về Hà Nội , và một lần nữa, một cuộc đảo chánh đã nổ ra trong thủ đô Bắc Việt.

Báo chí Việt Nam thay đổi danh từ. Họ dùng chử “đối phương” hay “anh em” thay vì “quân cộng sản” như họ đã thường dùng.

Các công ty hàng không ngoại quốc như Pan Am, Hàng Không Singapore, Thái International, Hàng Không Trung Hoa, Cathay Pacific … không còn ghé lại Sài Gòn nữa. Trái lại hàng không Air France và hàng không UTA nghiên cứu khả năng để tăng thêm các chuyến bay phụ trội cho ngày chúa nhật 27 và thứ hai 28 tháng 4. Hai Ngân Hàng Mỹ là Chase Manhattan và First National City Bank, đóng cửa mà không báo trước cho khách hàng của họ. Người ta nghĩ rằng Ngân Hàng “Bank of America” cũng sẽ đóng cửa theo. Tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ cho biết ý định của ông là ủng hộ Dương Văn Minh, nếu ông này thay thế Tổng Thống Hương. Có nhiều tin trái ngược mâu thuẩn nhau về tình hình ở tỉnh, nhất là ở phía Nam của thủ đô Sài Gòn.

Thông báo trong tờ “Tin Tức Viễn Đông” “Đính Chánh”

Trong những ngày gần đây, có nhiều tin đồn có ác ý do một vài người xấu miệng loan truyền, nhằm làm hại thanh danh và danh dự của gia đình chúng tôi, về những chuyện gọi là “cướp bóc và hiếp dâm” đã xảy ra tại quán trọ Roches Noires, ở Bãi Dứa, Vũng Tàu.

Để trả lời cho những chuyện bép xép này vốn chỉ là những chuyện ngồi lê đôi mách đốn mạt không đáng của những người đứng đắn, nhân danh gia đình của mình, tôi cực lực đính chánh và tuyên bố là không hề có xảy ra chuyện cướp bóc hay hiếp dâm nào trong quán trọ. Chúng tôi vẫn còn ở tại đây trong hiện tại như bao nhiêu người khác trong quý vị, trong an ninh và hoàn toàn an ninh đúng nghĩa của danh từ này.

Dù trong tình huống nào, dù có sự dàn dựng kể trên, quán trọ của chúng tôi vẫn hoạt động bình thường và vẫn tiếp tục phục vụ cho khách hàng thân mến của chúng tôi.

Là một người đứng đắn, tôi tha thứ hết những luận cứ không xác thật được tung ra trong thời điểm lệch lạc và yêu cầu tác giả (hay những tác giả) của chúng hãy có một chút lương tri và nhất là liêm sĩ để rút lại những lời xảo trá đó vốn nhằm hãm hại gia đình chúng tôi và phá hoại việc làm ăn của chúng tôi.

Lâm văn Hỗ Gustave

Vũng Tàu (Cap Saint Jacques)

Một chỉ dấu quá rõ ràng cho dân chúng Sài Gòn: đó là siêu thị P.X (Post Exchange) một siêu thị rộng lớn không đánh thuế của người Mỹ, đã loan tin là sẽ đóng cửa. Người ta dọn trống hết các kệ, đóng thùng hết các loại rượu mạnh. Tất cả các thứ còn lại như thuốc lá, thức ăn đóng hộp, các bọc khoai tây chiên dòn, máy thu băng.. v.v. đều được bán đại hạ giá năm chục phần trăm (50 %).

Ngoài thành phố, người ta bắt đầu biết được là có rất nhiều binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vốn không phải là binh sĩ từng canh gác tòa đại sứ trước đây, đã đến từ tối hôm qua tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Một vài chánh trị gia người Việt Nam không hề tin có giải pháp thương thuyết. Ông Bùi Diễm điện thoại cho ông Martin:

_ “Tôi không còn có thể làm được gì cho đất nước tôi nữa. Tôi đã quyết định phải rời khỏi Việt Nam. Ông có thể giúp được tôi gì không? Tôi muốn đi với bà mẹ già của tôi.

Một nhà ngoại giao (ông Phó đại sứ Josiah Bennett) đến tìm ông Bùi Diễm. Ông Martin cho xử dụng một chiếc phi cơ nhỏ loại 8 chỗ ngồi của Hải Quân Hoa Kỳ . Đài kiểm soát Không Lưu không cho phép cất cánh. Một ông đại tá Mỹ sốt ruột:

_Phải liều thôi. Cất cánh đi!

Và phi cơ bay đến Băng Cốc (Thái Lan)

Các tướng Văn Tiến Dũng và Trần Văn Trà cho lệnh các người có trách nhiệm ở trại Davis hãy đào hầm núp. Tướng Trà đã nghĩ là phải gởi các đơn vị đến để đem người của họ ra khỏi trại này. Nhưng rồi ông phải bỏ ngay ý định đó, sợ rằng sẽ có nhiều “tổn thất đáng tiếc”. Những người ở trại Davis lo tăng cường các hầm núp của họ nhằm tự bảo vệ, tránh đạn pháo của địch và cả pháo nặng 130 ly của họ nữa. Tại Tân Sơn Nhất, trong trại Davis này vốn có 12 chòi canh được binh sĩ Miền Nam dựng lên chung quanh, đại tá Bắc Việt Ngô văn Sương lo tăng cường hệ thống trú phòng. Binh sĩ và sĩ quan lo đào sâu thêm nữa, dùng những tủ thiếc đổ đầy đất đặt trên nấp hầm. Họ có một bệnh xá nhỏ ở dưới hầm và có một hệ thống giao thông hào nối liền các dãy nhà của hai phái đoàn của họ.

Tướng Trà sẽ đưa các sư đoàn của ông ta tiến chiếm Sài Gòn .cuộc dàn quân đã hoàn tất: về phía Tây Bắc thì có quân đoàn 3 Bắc Việt, về phía Bắc thì có quân đoàn 1, về phía Đông thì có quân doàn 4 và quân đoàn 2, về phía Tây Nam thì có lực lượng chiến thuật 232 (xem bản đồ đính kèm). Tất cả là 18 sư đoàn.

Cũng vô ích như chuyện đóng cửa các ngân hàng ở Sài Gòn , đó là thông điệp của Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ ngày 26 tháng 4.

Ông Tổng Trưởng James Schlesinger gởi một vài lời trấn an đến các nam nữ quân nhân thuộc quân lực Hoa Kỳ,

_ “Trong lúc thực hiện cuộc triệt thoái cuối cùng các quân nhân Hoa Kỳ khỏi nước Việt Nam, đối với nhiều người trong các bạn, tấn thảm kịch ở Đông Nam Á đã là một biến cố xa xôi và vô nghĩa. Các bạn đã từng chiến đấu ở đó. Các bạn đã từng mất đi bè bạn ở đó, các bạn đã từng đau khổ ở đó. Trong chiến trận, các bạn đã từng chiến thắng và các bạn rời chiến trường trong danh dự… Người ta sẽ nói chiến tranh quá phù phiếm. Trong một khía cạnh nào đó, người ta có thể nói chuyện đó như là nỗ lực quốc gia nào cuối cùng cũng không thành công. Nhưng việc tham chiến của chúng ta có một mục đích…. Tôi xin ngả mũ chào các bạn. Dù thế nào thì các bạn có quyền được kính trọng, được hoan nghênh, và được biết ơn…”

Gần như một lời cầu nguyện! Quân dội Hoa Kỳ luôn luôn được đặt dưới quyền lãnh đạo dân sự. Vào năm 1975 cũng không hơn gì năm 1973 đã có một phản ứng dữ dội trong nội bộ Quân đội . Không có chuyện nổi dậy nếu so sánh với cuộc nổi dậy của Quân đội Pháp ở Algérie. Một số lớn các sĩ quan hiện dịch Mỹ đã khẳng định là họ bị quyền lực dân sự trói tay. Có nhiều quân nhân hiện dịch đã giải ngũ một cách lặng lẽ.

Cả thế giới đều biết là sẽ không còn có một quân nhân Hoa Kỳ nào nữa ở Việt Nam. Nhiều người Mỹ có quan điểm khác nhau về chánh trị cũng không nghĩ rằng Quân đội Hoa Kỳ đã “chiến thắng”! Hay là họ đã ra đi “trong danh dự”!

Với một ít may mắn nào đó, tốt nhất là cuộc ra đi cuối cùng sẽ đúng phương pháp và xứng đáng!

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Feb 2026

Trở Lại Trường

Mỗi năm sau những ngày hè, mỗi lần trời chớm sang Thu, ngoài các cửa hiệu trong gia đình các bậc cha mẹ và các em học sinh, chuẩn bị mua sắm cho ngày trở lại niên học mới, nói như Thanh Tịnh, thì “lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường … “

Ý nghĩ của con người, theo thời gian, mỗi năm mỗi khác, nhưng niềm luyến tiếc của một đời người ngắn ngủi là sau một mùa hè nào đó, chúng ta không bao giờ có thể trở lại trường nữa. Sau này khi đã ra đời, đôi khi chúng ta cũng còn có dịp cắp sách trở lại, nhưng còn đâu là sự hồn nhiên và tuổi thơ có thể mang vào trong lớp học như những ngày xưa. Ai cũng công nhận tuổi học trò là tuổi vui tươi, đẹp đẽ, trong sáng nhất của một đời người. Có người hưởng trọn vẹn được một thời cắp sách đầy đủ hạnh phúc, nhưng cũng có người không có được một tuổi học trò, nghĩa là chưa bao giờ được đến trường học hay bị gián đoạn vì nhiều nguyên nhân. Trong nhiều đất nước nghèo đói lạc hậu, trẻ em sinh ra lớn lên có chút trí khôn đã phải lăn ra đời kiếm sống, bắt ốc, hái rau. Chiến tranh gây đổ nát, tang tóc, làm nhiều gia đình ly tán. Hoàn cảnh khốn cùng của nhiều gia đình không cho các em có cơ hội đến trường.

Tuổi trung học, vào một ngày tựu trường nào đó, trong những khuôn mặt mới, bỗng dưng chúng ta thấy mất đi nhiều người bạn cũ. Nhiều bạn nữ sinh đã “theo chồng, bỏ cuộc chơi” như là một quy luật của cuộc đời, nhiều bạn trai đã “xếp bút nghiên, lên đường tranh đấu”, nhiều anh em đã ra đời sớm vì nợ cơm áo nhọc nhằn. Nhà trường đôi khi còn trở thành bãi chiến trường, bom đạn, di tản hay tan hoang, kẻ còn người mất. Chúng ta còn lại, nhưng rồi mai kia chúng ta cũng ra đi, nhà trường chỉ là nơi gặp gỡ của những buổi đầu, và phải chăng, người thầy là nhân vật đã chứng kiến những sum họp và chia lìa như thế?

Tôi cũng có một thời đi học vui tươi nhưng không được song suốt, vì mấy năm chiến tranh và phải từ giả nhà trường ra đời mưu sinh sớm. Tôi còn nhớ một buổi tựu trường cha tôi đèo tôi trên chiếc xe đạp “giàng” của ông cho tôi đỡ một đoạn đường đi bộ. Ngồi trên xe với ông, tôi khóc sụt sùi, vì phải đội một cái nón cối cũ vừa được sơn lại: “Cha ơi! tụi nó cười con!” Nhà nghèo đông con, ăn không đủ no, áo quần còn thiếu thốn, mùa Đông xứ Huế lạnh buốt, những ngày mới hồi cư, anh em chúng tôi chỉ đắp bằng những manh chiếu mà không có chăn, hở đầu lòi chân. Tôi có được một chiếc quần tây cũ đã sờn do người anh họ tôi ở Saigon mang cho, người thợ may đã lộn trái và may lại cho tôi thành một chiếc quần mới. Bộ đồ tươm tất nhất của tôi có lẽ là bộ đồ “short” bằng vải kaki vàng, ưu tiên cho tôi, mà cha tôi đã mua được nhờ tem phiếu dành cho công chức.

Dù vậy những ngày đến trường cũng là những ngày hồn nhiên mà muộn phiền, khổ sở mau quên. Dù vậy, ngày phải bỏ học có lẽ là ngày buồn nhất của đời tôi, vì tôi biết tôi không bao giờ có thể trở lại trường.

Tôi biết thứ lớp, giai cấp trong xã hội cũng thường căn cứ trên học vấn, khoa bảng chia nhau quyền lực của giai cấp thống trị, trừ thời ly loạn, nhưng quả không được học hành là một điều thiệt thòi lớn nhất của nhân loại.

Tôi không danh giá được như ông Nicolas Carnot của nước Pháp trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, trở lại thăm trường cũ để hãnh diện, ân cần nói với các em học sinh nhỏ tuổi rằng: “Ta có được ngày hôm nay là nhờ công lao dạy dỗ của thầy giáo!” Tôi cũng không đủ tiếng tăm để tặng cho ngôi trường trung học cũ

Đồng Khánh một học bổng như nhà văn Nhã Ca đã làm. Tôi cũng không là danh tướng như Nguyễn Khoa Nam để trường Khải Định hãnh diện đã sinh sản ra một bậc anh hùng. Tôi thường có mặt một cách bất đắc dĩ trong các buổi họp “bạn cũ- thầy xưa,” có thể thu mình trong một góc nào đó với những thằng bạn không hề là niềm hãnh diện của thầy cùng của bạn chút nào, trong khi trên sân khấu những tay khoa bảng hãnh diện vái chào, tâng bốc nhau!

Trong quân đội tôi đã được nhìn ánh mắt của một người bạn cũ tốt nghiệp sĩ quan với một người bạn cũ “hỏng tú tài anh đi trung sĩ.” Ở ngoài đời, người ta phân biệt ông bác sĩ với một công nhân, tính trên số năm được cắp sách đến trường, phải chăng đó là nỗi đau đớn của hoàn cảnh và số phận nghiệt ngã của con người. Loài người đã phân biệt đen trắng, giàu nghèo, gái trai và lớn lao nhất trên đời này, có lẽ là học vấn.

Vào mùa hè, chúng ta đã đi qua nhiều ngôi trường đóng cửa, chỉ có những chiếc lá khô rụng trong sân trường và tiếng con chim nhỏ hót ở đâu đây. Ngôi trường chờ đợi một ngày để hội ngộ lại những khuôn mặt quen thân. Trong thời loạn, sau mỗi mùa hè, nhà trường tận hiến cho tổ quốc bao nhiêu người trai tuấn tú cho chiến tranh để sân chơi phía sau, trẻ em có những khoảnh khắc bình yên và thong dong trên những con đường cho những tà áo trắng.

Thật không hiểu vì sao, dù ở đâu, quê hương hay đất khách nghìn dặm, lòng tôi lại buồn thấm thía thời gian của những ngày tựu trường, mà đáng lẽ là niềm vui của tất cả mọi gia đình. Ở đây, chưa lúc nào sự ly tán hiện rõ bằng những ngày sum họp. Bạn có nhớ chăng, những ngày giỗ gia đình là những ngày ta nhận thấy có người vắng mặt, ngày Tết đoàn tụ cũng là ngày nhớ lại những người ra đi không bao giờ về. Ngày tựu trường mỗi năm chính là ngày chúng ta kiểm điểm lại bạn bè mất mát, thầy cô giáo qua đời và nhìn thấy rõ những thay đổi lớn lao của cuộc đời mọi người.

Bao nhiêu mùa tựu trường trở lại, nhưng chúng ta không bao giờ còn có thể trở lại trường cũng như trở về tắm trong dòng nước mát của tuổi ấu thơ. Thời gian như cơn nước lũ, cuốn phăng đi bao nhiêu tháng ngày, còn chăng chỉ là những mảnh vụn trong ký ức, trong sáng hôm nay hiện về. Ôi ngày tựu trường, nghe như có tiếng trống trường văng vắng đâu đây, tiếng trống vọng về ở một nơi chốn xa xuôi, không hề có trong hiện thực:

“Gió thổi sân trường chiều chủ nhật – Ôi! Thời thơ bé tuổi mười lăm … “(HC)

Thiếu tá Dalton Nguyen (gốc Việt), Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force).

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 7, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 8 Feb 2026

Thiếu tá Dalton Nguyen (hình của linkedin.com).

Thiếu tá Dalton Nguyen nhậm chức Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất không lực Hoa Kỳ (1st Air Force) từ tháng 6 năm 2022. Đệ Nhất không lực (Lực lượng Không quân phía Bắc và Lực lượng Không quân Vũ trụ, 1 AF-AFNORTH & AFSPACE) là một Lực lượng Không quân mang danh số 1, thuộc Bộ Tư lệnh không chiến Hoa Kỳ (ACC). Bộ tư lệnh Đệ Nhất không lực đặt tại căn cứ Không quân Tyndall, Florida, do Trung tướng Michael Lucas Ahmann làm Tư lệnh. Nhiệm vụ chính của lực lượng này là phòng thủ không gian cho lục địa Hoa Kỳ (CONUS). Từ tháng 5 năm 2022, Đệ Nhất không lực, Lực lượng Không quân phía Bắc và Lực lượng Không quân Vũ trụ cùng hoạt động cho Bộ Tư lệnh Không gian Hoa Kỳ, với danh xưng Lực lượng Không quân Không gian (AFSPACE), bao gồm các nhiệm vụ hỗ trợ cho các chuyến bay vũ trụ của NASA. Từ 10 năm 1997, Đệ Nhất không lực bao gồm các đơn vị Không quân Vệ binh Quốc gia chịu trách nhiệm phòng thủ không gian cho lục địa Bắc Mỹ. Ngày nay, Đệ Nhất không lực bao gồm các đơn vị Không quân Vệ binh Quốc gia trực thuộc với 9 Không đoàn chiến đấu cơ (fighter wings), 1 Không đoàn yểm trợ gồm các Phi đoàn phi cơ oanh tạc, phi cơ tiếp nhiên liệu trên không và phi cơ tác chiến điện tử và hai khu vực phòng thủ không gian cho các vùng phía Đông và phía Tây của lục địa Hoa Kỳ (CONUS).

Là Sĩ quan Trưởng Phòng truyền thông, Thiếu tá Dalton Nguyen chỉ huy và điều hành hệ thống truyền ​​thông chiến lược, nội bộ và bên ngoài, quản lý các hoạt động của đơn vị, giám sát quan hệ truyền thông, truyền thông khủng hoảng và truyền thông chiến lược, đồng thời cố vấn chuyên môn cho cấp chỉ huy, và quản lý các nhóm, điều chỉnh chiến lược truyền thông phù hợp với mục tiêu. Trách nhiệm và kỹ năng chính của Sĩ quan Trưởng Phòng truyền thông là chỉ huy chiến lược, phát triển và thực hiện các chiến lược truyền thông toàn diện, quan hệ truyền thông và công chúng, hỗ trợ điều hành, cố vấn chuyên môn cho các Sĩ quan chỉ huy.

Huy hiệu Đệ Nhất không lực Hoa Kỳ (1st Air Force) của en.wikipedia.org

Sau khi tốt nghiệp, Thiếu uý* Dalton Nguyen thụ huấn tại Phi đoàn 333 huấn luyện, cung cấp kỹ năng an ninh mạng từ tháng 6 năm 2011 đến 2 năm 2012. Đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan trẻ Không quân, ông được chỉ định phục vụ tại Phi đoàn Truyền tin 633, tại đây ông làm Sĩ quan Trung tâm điều phối thông tin liên lạc (CFP), chịu trách nhiệm quản lý Trung tâm điều khiển hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy và giám sát nhân viên kỹ thuật tại đơn vị và cấp chỉ huy, từ tháng 2 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013. Nhiệm vụ tiếp theo, ông được chỉ định làm Sĩ quan Trưởng bộ phận yểm trợ Truyền tin, Phi đoàn Truyền tin 633, tại căn cứ Không quân Langley AFB từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.

Sau thời gian phục vụ Phi đoàn Truyền tin 633, Trung uý* Dalton Nguyen được chỉ định phục vụ Phi đoàn 83 tác chiến mạng qua các nhiệm vụ; Sĩ quan Trưởng bộ phận quản lý lỗ hổng bảo mật yểm trợ truyền thông, chịu trách nhiệm giám sát hoạt động mạng (CNTT) và an ninh mạng; Sĩ quan Phó phi hành đoàn yểm trợ không gian mạng tại căn cứ Không quân Langley AFB, từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015.

Từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2019, Đại uý* Dalton Nguyen phục vụ tại Phi đoàn yểm trợ hành quân 752, tại căn cứ Không quân Tinker AFB qua các vị trí: Sĩ quan Phó phòng kế hoạch hành quân; Sĩ quan Trưởng Phi hành đoàn kế hoạch hành quân; Sĩ quan Trưởng Phi hành đoàn vận hành và bảo trì thông tin liên lạc.

Từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 6 năm 2022, Đại uý Dalton Nguyen làm Trưởng Phi hành đoàn (Flight Commander), Phi đoàn huấn luyện 320 tại căn cứ Không quân Lackland AFB. Phi đoàn huấn luyện 320, chịu trách nhiệm huấn luyện, đào tạo Quân nhân Không quân các giá trị cốt lõi, kỷ luật và các kỹ năng quân sự căn bản. Trong suốt lịch sử, Phi đoàn đã duy trì một truyền thống xuất sắc, phục vụ cho nhiều thế hệ Quân nhân Không quân.Và hiện nay, Thiếu tá Trưởng Phòng truyền tin Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force) tại căn cứ Không quân Tyndall AFB.

Thiếu tá* Dalton Nguyen, Sĩ quan Không quân phục vụ thường trực với hơn 14 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành kỹ nghệ Quốc phòng và không gian. Ông có kỹ năng về quản lý lỗ hổng bảo mật, chỉ huy, lãnh đạo tổ chức, tác chiến quân sự, chỉ huy và bảo đảm an ninh thông tin, Chuyên gia truyền thông và báo chí giỏi. Ông tốt nghiệp Văn bằng Cao học Khoa học chuyên ngành an ninh mạng tại Đại học Maryland University College.

Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân ngoài Thiếu tá Dalton Nguyen còn có hơn 150 vị (không tính những vị đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận sau đây: Thiếu tá Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit; Thiếu tá Allan Pham, Phi công phi cơ C-130J; Thiếu tá Khiem Nguyen, Nha sĩ phi hành; Thiếu tá Chau Tran, Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base; Thiếu tá Vu Q. Nguyen, Trưởng ban nhạc Không quân Vệ binh Quốc gia vùng bờ biến Tây, Quần đảo Channel, Port Hueneme, California; Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh, Sĩ quan phi hành; Nũ Thiếu tá Ashleigh Nguyen, Luật sư Quân pháp Không quân; Nũ Thiếu tá Anh Ison, Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân; Nữ Thiếu tá Lynn Nguyen, Điều dưởng phi hành, Phi đoàn 18 Quân y; Thiếu Tina Nguyen, Bác sĩ phi hành Không đoàn 104; Nự Thiếu tá Thoa Phạm, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 49 chẩn đoán và trị liệu; Nữ Thiếu tá Jessica Pham; Nữ Thiếu tá Fiona M. Pham; Nữ Thiếu tá Linda Kim Nguyen; nữ Thiếu tá Caroline H. Nguyen; Nữ Thiếu tá Cecilia T. Nguyen; Nữ Thiếu tá Thuy Trang Thu Lam; Nữ Thiếu ta Diana P. T. Le; Nữ Thiếu tá BaoHan Huynh; Nữ Thiếu tá Augustine D. Tran; Nữ Thiếu tá Lyndney U. Vu và còn rất nhiều nam, nữ Thiếu tá Không quân gốc Việt chưa cập nhật hết được.

Chú thích: Ghi theo thời gian mang cấp bậc.

Nguồn: en.wikipedia.org/wiki/First_Air_Force; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt..

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 8 Feb 2026

Phần 3 – Trên Ranh Giới Sống/Chết

Phân đoạn 1 – Ai nằm vùng? Ở đâu

Dẫn Nhập.

Suốt hai năm nay ẩn thân nơi chốn tuyết phủ, “nóc nhà nước Mỹ” này, quả tình tôi không muốn dính dấp đến những chuyện “cặn bã tồi tệ”, với người và việc trong tranh chấp Chính trị. Nhưng nay, nhân người bạn trở lại vụ việc cũ với câu hỏi: “Làm sao năm 1995, ông bị gán cho tiếng “Việt cộng nằm vùng?! ” mà kẻ chụp cái nón cối kia không ai khác là những người cùng ông chung nơi xuất phát, đồng trình độ khả năng kỹ thuật Quân sự và vị thế Chính trị – những người thuộc Hội Võ Bị Đà

Lạt!! “. Tại sao đến nông nổi như thế? Tại sao?

Ngày 30 tháng 4, 1995, lên đường từ San Jose, chốn tôi đã đến Mỹ đầu tiên do bảo trợ của Gia Đình Mũ Đỏ, để trả phần nợ ân nghĩa đối với những người lính đã cùng tôi sống, chết hết một đời người, tôi đi tiếp đến 38 nơi trên toàn thế giới để nói với những  cộng đồng Người Việt một điều tận cùng Dẫu Bị BóTay, Bẻ Súng, Cùng Đành Thất Trận, Nhưng Chính Chúng Ta – Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – Là Người Nhận Sứ Mệnh Bảo Quốc An Dân Trước Lịch Sử Dân Tộc Và Đã Phải Trả Giá Mối Thống Hận Không Hoàn Thành Nhiệm Vụ Kia Bằng Máu Và Mạng Sống Của Mình.

Những tưởng với cố gắng như trên sau 30 năm “ở lính và ở tù”, chí ít cũng làm cho những người khắc nghiệt nhẫn tâm nhất phải nhận ra: Lòng tôi trước sau hằng sắt son thủy chung với một màu cờ đã chọn lựa từ buối thanh xuân, mà nay đang gần hết một đời người. Nhưng tại sao, từ đâu đã xảy ra sự kiện ác độc bất công như trên? Chắc chắn phải có một trung tâm quyền lực với những con người cực thâm hiểm điều hành một cách có hiệu quả âm mưu lăng nhục, vấy bẩn, đánh phá tất cả không từ một ai. Thế nên, hôm nay, tôi phải trở lại câu chuyện cũ để xác nhận một điều cay đắng Chúng Ta Đã Bị Bức Hại Bởi Chính Kẻ Nội Thù Ngụy Trang Trong Đội Ngũ Chúng Ta – Những Tên Việt Cộng Nằm Vùng.

1. Màn kịch Dựng Lên

Trong nỗi thấm nhục rã rời sau ngày 30 tháng 4, 1975, khi lâm cảnh “hàng thần lơ láo” tại những trung tâm “đăng ký trình diện học tập cải tạo”, chúng tôi còn phải gánh chịu thêm tình trạng bàng hoàng của kẻ bị lừa gạt, khi nhận ra những người hôm qua còn là “huynh đệ, bằng hữu”, nay thoắt trở thành “cán bộ” với những y phục xa lạ thô kệch, chiếc nón cối chùm hụp và đôi dép râu quê mùa. Lẽ tất nhiên những kẻ này không quên đeo trên người khẩu K54 và chiếc băng đỏ. Tôi và Triệt, người bạn cùng khóa, gặp Lưu Thừa Chí (cũng chung Khóa 18 Đà Lạt) trong tình thế bẽ bàng đáng hổ thẹn này. Chí ngồi ghi danh người đến “đăng ký” với lon Thượng úy – ba ngôi sao và một vạch ngang, địa điểm trường Trần Hoàng Quân, Chợ Lớn. Thật sự, anh ta cũng có vẻ ngượng khi Triệt hỏi gằn với cách mỉa mai:

– Mày làm cái gì mà kỳ cục như thế này?

– Ờ … ờ … tại vì kỳ làm ở Phong Dinh, tao có vài liên hệ với họ nên bây giờ họ nói tao giúp trong buổi chuyển tiếp.

Tôi đứng xa chỉ nghe Triệt đến kể lại.

– Thôi kệ nó, mày và tao lần này lại ở chung với nhau như mười bốn năm trước trên trường Đà Lạt, chỉ khác bây giờ là trại tù Việt cộng. Đất trời tính ghê quá, con người không biết đâu mà lường.

Ngày 23 tháng 6, 1975, chúng tôi vào trại Long Giao, Long Khánh, câu chuyện về một người gọi là “Thiếu tá an ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa mang lon Thượng úy cộng sản ngồi ghi danh anh em” không ai muốn nhắc lại – Vì hiện tượng phản trắc đã lộ mặt và cùng khắp – tồi tệ hơn, những kẻ thay màu áo này

hãnh diện với “sự nghiệp” tráo trở của mình – thành tích “có công với cách mạng”. Chữ nghĩa được dùng với toàn bộ tính đê tiện khinh miệt nhất. Tôi và Triệt mất liên lạc với nhau khi chuyển ra Bắc, sau chuyến đi địa ngục trên tàu Sông Hương, khởi hành từ Tân Cảng, Sài Gòn, đúng ngày Quân lực 19 tháng 6, 1976.

“Mười tám” năm sau, thêm một lần “số 18” phải nhớ, 1994, tôi và Triệt lại gặp nhau ở Houston, đường

Beechnut. Hai chúng tôi đã thật sự ở tuổi già sau ba mươi năm “tuổi tù và tuổi lính”, nhưng Triệt vẫn giữ nguyên cách thẳng thắn mạnh mẽ của người miền Nam như đang kỳ trai trẻ. Lần gặp gỡ bắt đầu với câu hỏi gay gắt như đã chực sẵn từ lâu:

– Mày nhớ vụ thằng Chí khóa mình ngày trình diện năm 1975 không?

– Thằng Chí Thiếu tá an ninh quân đội, cũng là Thượng úy Việt cộng chứ gì?

Tôi cũng sẵng giọng không kém.

– Hắn qua Mỹ rồi đó, HO2, đi trước khi mày ở tù về, bây giờ đang ở DC. Kỳ Đại hội Võ Bị tháng 7 vừa rồi, nó có mặt trong Ban tố chức!

– Mày có giỡn không? Nó là Việt cộng chính gốc, sao lại đi HO?!

Câu chuyện được kể lại với những chi tiết bất ngờ, cho dẫu kẻ có trí tưởng tượng phong phú cũng khó lường phần bố cục. Bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 80, một số ít sĩ quan miền Nam thuộc những đơn vị chuyên môn như hành chánh tài chánh, quân cụ, quân nhu lần lượt được trở về chịu sự quản chế của địa phương sở tại. Khóa chúng tôi do một may mắn hiếm có (chỉ xảy ra một lần với Khóa 18), vào giai đoạn ra trường cuối năm 1963, khi chiến tranh tăng cường độ, tổ chức quân đội mở rộng nên cần một số sĩ quan về các đơn vị chuyên môn. Những người may mắn này sau 1975 nhận thêm một lần “hên”, họ được thả sớm hơn so với những người bạn ở các đơn vị tác chiến, mà theo đánh giá của cán bộ cộng sản thì món “nợ máu của nhân dân” chia ra bốn cấp: “Nhất Pháo, nhì Phi, tam Rằn Ri, tứ Chính Trị”. (Ý nói, lính Pháo binh; Phi công;

Biệt kích, Nhảy dù, Biệt động, Thủy quân Lục chiến và Chiến tranh Chính trị là những đơn vị đứng hàng đầu tội phạm).

Nhóm sĩ quan may mắn của Khóa 18 kia vào ngày 23 tháng 11, 1981 (kỷ niệm ngày mãn khóa học mười tám năm trước, 23 tháng 11, 1963), tập trung tại nhà Nguyễn Ngọc Ánh, biệt thự gia đình vợ, đường Pasteur cũ. Mười mấy anh, chị lôi thôi, tơi tả vì trận đòn thù từ 1975 đến nay vẫn chưa hồi tỉnh, tính sổ lại 198 mạng của ngày mãn khóa nay chỉ còn không tới 20, với 50 người tử trận vĩnh viễn không về, mươi kẻ ty nạn, vượt biên, số lớn còn lại hiện sống, chết không nên dạng người nơi các trại tù trong Nam, ngoài Bắc. Trong giây phút mừng tủi của lần hội ngộ, bỗng nhiên, Lưu Thừa Chí xuất hiện. Mọi người đồng im bặt. Sau cùng, có người gắng gượng hỏi:

– Anh còn đến với chúng tôi làm gì?

– Tôi cũng đi cải tạo như các bạn, ở trại Cây Trâm!

Chí giả lả làm hòa, hắn đưa ra Giấy Ra Trại để làm bằng và đề nghị được góp phần tiền lớn để cùng mua thức ăn, đồ uống về chung vui buổi gặp mặt. Không khí hóa nên nặng nề, từng người lặng lẽ rút lui.

– Mày có mặt hôm đó không? Tôi nôn nóng hỏi Triệt, cố tìm nên đầu mối.

– Có, năm đó tao mới về, về được một tháng thì Tết Tây.

– Thế thì nó cũng đi tù như bọn mình sao?

– Tù chỗ nào, sao mày ngu vậy, Thiếu tá an ninh quân đội thì phải đi ra Bắc chứ! Với lý lịch an ninh quân đội thì chẳng phải cần đến cấp tá, chỉ Thiếu, Trung úy hoặc Hạ sĩ quan nó còn tìm cớ để bắn chết không cần xét xử như trại ở Xuân Phước, Tiên Lãnh ngoài Trung. Thiếu tá an ninh quân đội nào để lại ở trại Cây Trâm, Bình Dương như thẳng này?! Triệt gắt cao giọng lộ vẻ bực tức vì tôi vẫn chưa rõ đầu mối câu chuyện.

– Trại Cây Trâm ở đâu, ngày ở Long Giao không nghe ai nói đến.

– Đó là trại tụi hình sự, cũng có sĩ quan, nhưng chỉ có cấp Thiếu, Trung úy, mà là thành phần gây vụ việc

sau 1975, chứ không là đám tập trung tháng 5, tháng 6, năm 75 như bọn mình.

– Rồi sao nữa? Tôi ngao ngán.

– Sao nữa, đ.má … nó đi HO2 trước hơn ai hết, kỳ Đại hội 7 vừa rồi ở DC, nó góp 1,000 đồng cho Ban tổ chức.

– Tiền đâu mà một thằng HO có ngay một ngàn để đóng?!

– Mày tìm nó mà hỏi!! Triệt gầm gừ chấm dứt câu chuyện với cách chưởi thề chậm rãi từng tiếng một.

2. Những “kép độc” cũ kỹ

Những nhân sự như Lưu Thừa Chí kể trên sẽ mãi mãi ở trong bóng tối với khả năng tầm thường, đối tượng công tác hạn chế riêng của nó và giá như bị phát hiện (như đã từng bị nhận ra lý lịch), thì cũng chỉ được giải quyết bằng biện pháp “đóng cửa dạy nhau”, coi như trường hợp “xử lý nội bộ” (nói theo cách cộng sản), bởi người phe quốc gia vốn dễ tính, không chấp nhất đối với những kẻ tráo trở, bội phản, cũng do những kẻ này lỡ đã một lần là bạn bè cùng khóa, cùng hội, cùng trường. Nói ra sợ “xấu hổ cả đám”. Nhưng, vì năm 1994 kia, tôi mới qua Mỹ được mấy tháng, lòng còn đang sôi sục “những chuyện cần được kể lại”, với ý hướng “ngây thơ” – người bên ngoài cũng đang muốn nghe về những câu chuyện kia – dẫu những vụ việc nói ra gây nặng lòng, cau mặt. Ngày 23 tháng 4, 1995, đúng hai mươi năm im lặng, tôi trở lại công việc đã bị người cộng sản bắt gián đoạn – Tiếp tục bản tường trình tưởng như huyền thoại về “NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM LÀ MỘT NHIỆM MÀU” – chuyện kể chưa có hồi kết thúc trong Mùa Hè Đỏ Lửa, Tù Binh Hoà Bình của hơn hai mươi năm trước, với bài viết “Sứ Mệnh Người Linh Việt Nam”,mà chương “Nhìn Rõ Địch Tình” là một cáo trạng chính xác, đầy đủ về tổ chức tình báo, gián điệp cộng sản gài nhân sự trong hệ thống công quyền, quân đội miền Nam và hiện nay ở hải ngoại, nơi những cộng đồng Việt Nam, từ Paris, Sydney, Montreal và chính yếu ở California, Texas, vùng tập trung số đông người Việt.

Bài viết cần có những dẫn chứng cụ thể về người, áp dụng cho từng trường hợp, với mỗi đối tượng tác động, tại những giai đoạn đặc biệt của loại công tác, thế nên, tôi phải nại đến những cá nhân như, Thái Quang Chức, thiếu tá hải quân thuộc Bộ Tư lệnh Vùng IV Sông Ngòi ở Mỹ Tho, Trần Trung Phương, Đại úy Biệt Đội Điện Tử Sư đoàn Dù, Đinh Văn Đệ, Đại tá Tỉnh trưởng Bình Thuận, tay chân cật ruột của Nguyễn Văn Thiệu, đã được xếp đặt vào vị trí trưởng ban ngân sách quốc phòng hạ viện, lo phần tài chánh cho quân đội miền Nam.

Danh sách sẽ được kéo rất dài nếu có đủ thời lượng trình bày. Bài viết có ngay phản ứng. Cần phải mở một ghi chú quan trọng ở đây: Những người dậy nên phản ứng thuộc về hàng ngũ chúng ta – chính là chúng ta – Tôi không hề ám chỉ họ là “phe địch” hoặc làm lợi cho cộng sản!

Nhưng chính điều ghi nhận này làm nổi lộ phần tác hại hiểm độc của đám Việt cộng nằm vùng. Bắt đầu, một ông thuộc Khóa 8 Đà Lạt trong một buổi họp của tổ chức cựu quân nhân ở Houston, Texas tuyên bố: “Phan Nhật Nam đề cao cộng sản, phủ nhận cờ quốc gia”; và những tờ báo “chợ” ở địa phương nầy đi tiếp loạt bài: “Phan Nhật Nam phủ nhận Quốc kỳ”, với trích đăng câu: “Chúng ta là những người người lính không còn quân, Quốc kỳ”, của bài viết dài 36 trang, trong đó có những khẳng định chung kết:

“Phần chúng ta, Người Lính Miền Nam dẫu không đi hết bổn phận đến ngày toàn thắng. Nhưng chính chúng ta chứ không ai khác, đã làm làm đúng chức năng cao quý “BẢO QUỐC AN DÂN”. (Những Chuyện Cần Được Kể Lại. PNN xuất bản, Houston 1995, trang 1-8). Hoặc: Thế nhưng, chúng ta vẫn chiến đấu – Người Lính Việt Nam là Một Nhiệm Màu. (Mùa Đông Giữ Lửa, PNN xuất bản, Cali 1996, trang 146).

Những “bài báo chợ” kia biến thành “tài liệu đáng tin cậy” được photocopy (ai thực hiện?) gởi đến những địa điểm tôi “sắp đi tới”, những chốn đông đảo người Việt, những người vốn có hảo ý, quý mến cá nhân tôi, mời đến sinh hoạt. Lẽ tất nhiên những bằng hữu, chiến hữu thân quen cũng không lọt ra khỏi danh sách người nhận. Và những cú điện thoại viễn liên gọi tới tấp (ai gọi?) ngay trong đêm hôm trước ngày tôi sẽ đến một thành phố. Chiến dịch có liền hiệu quả. Một ông chức sắc lớn trong Tổng Cục Chiến tranh Chính trị (tất nhiên của QLVNCH) đi một bài báo dài nhiều kỳ với chủ điểm: “Vạch mặt tên ‘nằm vùng’ (PNN) đội lốt chiến sĩ QLVNCH”.

Cũng phải nói ra một điều khó tin nhưng có thật:

Nếu kết án tôi tội “nằm vùng” như trên, thì trước tiên, Đại tá Trần Ngọc Huyến, Chỉ huy trưởng, toàn bộ ban tham mưu, cán bộ của trường phải liên đới trách nhiệm về quá trình đào tạo tôi trở thành một tay “nằm vùng” siêu đẳng, giỏi giang đến như thế! Nghĩa là, cũng chính ông ta, vì giai đoạn 1960-1963, nhân vật “nhà văn quân đội lão thành” này là sĩ quan chiến tranh chính trị của trường, có nhiệm vụ dạy dỗ tôi về kinh nghiệm “chiến tranh Chính trị”. Hoặc điển hình, lần sinh hoạt ngày 11 tháng 6, 1995 do Đào Quang Vinh (Khóa 19 Đà Lạt, Phi công C130 Sư đoàn 5 Không quân, Tân Sơn Nhất) tổ chức tại Florida, trước giờ khai mạc, phòng họp vắng mặt gần như toàn thể các sĩ quan gốc trường Đà Lạt của địa phương, gờn gợn không khí của buổi “huyết chiến”, duy chỉ có Hổ, Cang, Khóa 17 và anh Lê Minh Ngọc, Khóa 16 đến với tôi và Vinh, (có lẽ nhóm nằm vùng biết được rằng, các anh là những người gần gũi thân thiết với tôi (Khóa 18), bởi cùng chung trường suốt thời gian dài, lại là huynh trưởng, chỉ huy trực tiếp tôi ở nhảy dù; anh Lê Minh Ngọc, Tiểu đoàn

Trưởng Tiểu đoàn 7 Dù; Cang và tôi cùng Tiểu đoàn 9. Hệ quả của “vận động ngầm” không hạn chế trong nước Mỹ, mà kéo dài xuống đến Sydney, Melbourne ở Úc; lên tới Montréal, Québec, Toronto, qua Paris, Luân Đôn. Và không chỉ xảy ra, gây tác động trong 1995, nhưng mãi đến 1996, 97, 98 và nếu như bây giờ, tôi lại “xuống đường”, thì “tổ chức” cũng sẽ bắt đầu khởi động. Tháng 7, 1997 tại Bỉ, buổi nói chuyện của tôi với Thế Hệ Võ Bị Thứ Hai (các con em của Gia Đình Võ Bị) không được kể vào chương trình sinh hoạt của Đại hội Võ Bị Liên Hội Tây Âu, thậm chí tên tôi không được ghi vào danh sách khách tham dự đại hội, dẫu đích thân Nguyễn Văn Giám, Khoá 19, người tổ chức đại hội đã qua Paris mời tôi đến Bỉ.

3. Kết Từ

Tôi đã quá tuổi để bắt đầu một dự định mới, cho dẫu kế hoạch dự trù ấy cần thiết, cấp bách đến bao nhiêu, bởi thời gian còn lại không cho phép và việc chưa hoàn tất lại quá nhiều. Đồng thời hiểu rõ khả năng, khuynh hướng của bản thân có những hạn chế để không thể nào làm nhiều việc một lúc được. Nhưng bổn phận chỉ đích danh những cá nhân tác hại điển hình như Lưu Thừa Chí kể trên (hiện tràn lan khắp cộng đồng Người Việt hải ngoại) quả thật không thể trì hoãn và khoan thứ, vì đây không là “liên hệ giữa những cá nhân”, nhưng là sự tồn vong sinh mệnh chính trị của một tổng thể rộng lớn – Không phải chỉ khối Người Việt miền Nam mà là toàn Việt Nam khổ nạn.

Bởi chúng ta, Người Việt Không Cộng Sản, không bao giờ là Đảng viên cộng sản – đã lần lượt thua những trận quyết định liên quan đến vận mệnh toàn dân tộc, lần tháng 8, 1945, lần 20 tháng 7, 1954, và cuối cùng 30 tháng 4, 1975.

Và nếu chúng ta không điều chỉnh sách lược (mà thật sự đang vô cùng thuận lợi và nhiều khả năng) để NHÌN RÕ ĐỊCH TÌNH thì e rằng khí thế của lần Cali Vùng Dậy Cờ Vàng 1999 sẽ trở nên vô ích, gây tàn lụi nguồn hy vọng bức thiết từ Xuân Lộc, Long Khánh, Thái Bình. Chúng ta sẽ mãi mãi là “Người Việt cay đẳng xấu xí” trước mắt thế giới do âm mưu từ một kẻ nội thù hiểm độc. Nhưng, cũng phải nói rõ thêm một lần hay bao nhiêu lần mới đủ: Đây là LỗI TỪ CHÚNG TA cứ sẵn khắc nghiệt cáo buộc, tranh chấp cùng nhau để rảnh tay cho kẻ thù đồng nghĩa tiếp tay kẻ nghịch, bức hại anh em, để cuối cùng bản thân ta đơn độc nguy khốn vì lẽ đã tự tay phá hủy vũ khí đoàn kết của chính mình.

Những dòng viết đầu mở đầu Thế kỷ 21

Rằm Tháng Giêng, Năm 2000,

Minnesota, Phan Nhật Nam

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 8 Feb 2026

“Mới tới!” 
“Họ đưa tới nhiều người mới!” 
Những tù nhân đứng chật hành lang chính. Những người mới đến đứng giữa và những người cư ngụ trước trong nhà tù Mavrino, trong số có những người vừa ăn xong trong lượt tù ăn đầu, những người đi tới để vào phòng ăn, đứng vây quanh họ. 
“Từ đâu đến đó các đồng chí?” 
“Các bạn, ở đâu đến vậy?” 
“Trên ngực áo, trên mũ của các bạn có cái gì vậy? Họ dán cái gì vào đây vậy?” 
“Số của bọn tôi đó” – một tù nhân mới tới đáp – “Trên lưng áo chúng tôi cũng có số, cả trên hai đầu gối quần nữa này. Khi chúng tôi đi, họ xé hết những miếng vải ghi số đó đi thành ra quần áo có vết…” 
“Bạn nói chi? Số là cái gì?” 
“Thưa quý vị” – Valentine Pryanchikov cao giọng nói – “tôi xin phép được đặt câu hỏi này trước quý vị: Chúng ta hiện đang sống trong thời đại gì?” 
Anh quay lại hỏi Lev Rubin, người bạn tù của anh: 
“Ghi số trên con người. Lev Grigovich… Cho phép tôi được hỏi anh. Anh có thể cho như vậy là tiến bộ được không?” 
“Thôi mà Valentulya, đừng có nặng phần trình diễn” – Rubin nói – “Đi vào ăn cho xong đi.” 
“Nhưng làm sao tôi có thể ăn uống được khi quanh tôi còn có những con người bị ghi số lên áo, lên mũ? Đây là thời Mạt thế mất rồi.” 
“Các bạn” – một tù nhân khác của Mavrino nói – “Họ sẽ phát cho bọn mình mỗi người chín gói Belomor vào cuối tháng Chạp này. Các bạn mới đến như vậy là hên lắm ạ.” 
“Bạn nói thuốc lá Belomor – Yavas hay là thuốc Belomor – Dukats?” 
“Mỗi thứ một nửa.” 
“Dã man thật. Họ định giết mình vì thúc Dukats. Tôi sẽ khiếu nại việc này với đồng chí Tổng trưởng cho mà coi. Tôi thề danh dự với các bạn là tôi sẽ khiếu nại.” 
“Còn các bạn, các bạn bận quần áo gì thế này?” – Người tù mới tới hồi nãy giải thích về những vết vải khác màu trên y phục họ lên tiếng – “Tại sao bạn nào ở đây cũng bận đồ như lính nhảy dù vậy?” 
“Đây là đồng phục mà tất cả anh em trong này phải bận. Bây giờ họ bắt đầu hà tiện với anh em mình rồi. Trước kia họ vẫn phát quần áo len, có cả áo ngoài.” 
Thêm nhiều tù nhân Mavrino nữa bước vào hành lang. 
“Kìa… anh em mới.” 
“Có nhiều anh em mới tới.” 
“Thôi mà các bạn. Các bạn làm như chưa từng nhìn thấy tù mới bao giờ vậy. Đứng nghẹt hết đường đi…” 
“Ô kìa… Phải anh là Dof-Dneprovsky không? Đúng rồi. Mấy năm nay anh ở đâu? Năm 45, tôi đi khắp Vienna 2 tìm anh. Tìm khắp không thấy.” 
“Bạn nào cũng rách rưới, râu ria. Không được cạo râu à? Các bạn từ trại tập trung nào đến đây vậy?” 
“Nhiều nơi lắm. Anh em tôi ở Rechlag…” 
“Chúng tôi ở Dubrovlag…” 
“Tôi ở đù đã tám năm rồi sao tôi chưa từng bao giờ nghe nói đến hai trại đó kìa?” 
“Trại mới cả, trại đặc biệt. Mới có từ năm ngoái, năm 48, theo chỉ thị của Staline: kiện toàn hậu phương…” 
“Hậu phương? Hậu phương nào mới được chứ?” 
“Chẳng biết. Chỉ biết là tôi bị họ bắt ngay trước cửa vào nhà thờ Đức Bà Vienna – Họ nắm cổ tôi, tống tôi lên xe cây…” 
“Chờ chút, Mitenka… Xem anh em mới tới nói gì.” 
“Không, đi ra sân, đi bộ sau bữa ăn. Đi ra ngoài trời một lúc. Theo đúng thời khắc biểu. Dù có động đất cũng đi. Lev sẽ hỏi họ rồi kể lại cho chúng mình nghe, đừng sợ.” 
“Đội thứ hai vào ăn.” 
“Chúng tôi đến từ Ozerlag, Luglag, Steplag, Peshanlag.” 
“Rất có thể là một nhà thơ lớn nào đó có tâm hồn thơ mộng như Puskhin chưa được ai biết đến ở trong bộ An ninh. Nhà thơ lớn chưa được đời biết này không thèm làm những câu thơ dài, nhưng chọn toàn những cái tên đẹp đặt cho trại tập trung. Thấy không?” 
“Ha… ha… Ha. Hay lắm. Thật hay” – Pryanchikov nói – “Xin hỏi quý vị chúng ta đang sống trong thời đại gì?” 
“Đừng làm ồn ào, Velentulya.” 
“Xin lỗi” – một tù nhân mới hỏi Rubin – “Tên bạn là gì?” 
“Lev Grigorich.” 
“Bạn cũng là kỹ sư?” 
“Thưa không, tôi không phải là kỹ sư, tôi là nhà ngôn ngữ học.” 
“Ngôn ngữ học? Người ta giữ cả những nhà ngôn ngữ học ở đây sao?” 
“Có lẽ bạn nên hỏi những ai không bị giữ trong nhà tù này thì dễ trả lời hơn” – Rubin nói – “ở đây chúng tôi có những toán học, vật lý học, bào chế sư, kỹ sư vô tuyến, quang tuyến, kỹ sư điện, chuyên viên điện thoại, nghệ sĩ, dịch giả, kiến trúc sư, thợ đóng sách, thợ đóng giày, thợ may, họa sĩ, trắc lượng viên, có cả bác sĩ đỡ đẻ nữa.” 
“Bác sĩ đỡ đẻ làm gì trong này?” 
“Ổng xoay xở khéo lắm. Hiện ông làm việc trong Phòng phim ảnh.” 
“Lev… Anh vẫn nhận anh là nhà duy vật nhưng anh chuyên nói với người khác những chuyện duy tâm” – Valêntin Pryanchikov nói – “Các bạn mới đến nên nghe lời tôi: Khi họ cho các bạn vào phòng ăn, chúng tôi sẽ để sẵn cho các bạn ba mươi đĩa thức ăn ở cái bàn cuối cùng gần cửa sổ. Các bạn tha hồ ăn, ăn cho no, nhưng nhớ đừng ăn quá mà bội thực ạ.” 
“Cám ơn lắm. Nhưng… các bạn chẳng nên nhường phần ăn cho bọn tôi.” 
“Không đâu. Tại tụi tui chán ngấy mấy món ấy rồi. Thời buổi này mà còn ăn cá mòi Mezen với bánh bột kiều mạch kê nữa. Hai món đó ăn thường quá.” 
“Cái chi? Bạn cho bánh bộ kiều mạch kê là tầm thường ư? Năm năm rồi tôi chưa từng được trông thấy mặt mũi cái bánh ấy ra thế nào.” 
“Chắc không phải là bột kiều mạch đâu, dám là bột bắp lắm à.” 
“Bột bắp? Bạn điên hay sao mà nói vậy? Họ đâu dám cho bọn mình ăn bột bắp. Nếu là bột bắp, tôi sẽ ném vào mặt họ.” 
“Vấn đề ăn uống trong những trại tạm trú hồi này ra sao?” 
“Ở trại tạm trú Chelyabinsk…” 
“Chelyabinsk mới hay Chelyabinsk cũ?” 
“Câu hỏi của bạn chứng tỏ bạn là người hiểu biết nhiều. Ở trại mới…” 
“Ở đó hồi này ra sao? Họ có còn cấm các bạn không được dùng bồn rửa mặt mà phải xách nước từng bô, rửa xong đem đi đổ ngay không?” 
“Vẫn vậy.” 
“Các bạn vừa nói nhà tù này là nhà tù đặc biệt. Như thế nào là đặc biệt?” 3 
“Ở đây mỗi người được phát bao nhiêu bánh mì?” 
“Những gì chưa ăn, vào đi. Toán thứ hai vào phòng ăn.” 
“Bánh mì trắng – ba trăm gờ ram, bánh mì đen thì tùy tiện.” 
“Xin lỗi, bạn nói tùy tiện nghĩa là sao?” 
“Tùy tiện nghĩa là tha hồ ăn. Bánh cắt sẵn để trên bàn, bạn thích ăn thì lấy ăn, không thích thì thôi.” 
“Đúng vậy, nhưng nếu muốn có bơ và gói thuốc Belomor, chúng ta phải làm việc gãy lưng mỗi ngày từ mười hai đến mười bốn tiếng.” 
“Làm gì mà gãy lưng? Ở đây không có ai phải làm việc đến gãy lưng cả, nhất là anh, vì anh ngồi ở bàn làm việc. Người gãy lưng là người làm việc với một cái rìu.” 
“Mẹ kiếp. Hơn gì đâu? Mình ngồi trong nhà này đâu có khác gì mình ở giữa vùng sa mạc hay đồng lầy – mình cũng bị xa cách với cuộc đời như thế. Các bạn nghe tôi nói đây: họ khoe họ đã tận diệt được bọn ăn trộm và móc túi, ở bất cứ thành phố nào, bạn không còn sợ bị móc túi nữa. Tôi nghĩ rằng nghề móc túi sở dĩ bị diệt là bởi vì đâu có ai còn gì trong túi để mà móc.” 
“Phần bơ phát cho giáo sư, kỹ sư ở đây là ba mươi gờ ram, phần bơ phát cho chuyên viên là hai mươi gờ ram. Các bạn thấy không? Làm tùy khả năng hưởng tủy… người ta cho bao nhiêu biết từng ấy.” 
“Như vậy là bạn từng làm việc ở Dneprostroi?” 
“Phải. Và tôi bị tù vì xưởng Dneprosgres.” 
“Bạn nói vậy là sao?” 
“Dễ hiểu quá. Vì tôi bán xưởng đó cho bọn Đức.” 
“Bán gì nổi? Xưởng đó bị bom tan tành hết mà?” 
“Thì tôi bán xưởng đó cho bọn Đức với tình trạng tan tành đó chứ sao.” 
“Tuyệt diệu. Như một trận gió. Tôi như cánh lá bay theo gió. Này nhé… Vô trại tạm trú, lên xe Stolypin. Xe chạy bon bon trên đường thiên lý. Vô trại tạm trú nghỉ. Sáng sau lại lên xe đi. Du lịch như ông hoàng… Ước gì xe chạy thẳng đến công trường Đỏ…” 
“Rồi lại chạy trở về…” 
“Bạn nói phải. Rồi lại chạy trở về. Và lần trở về, chắc chắn là xe chạy nhanh hơn.” 
Một người tù mới đến nói với Rubin: 
“Lev Grigorich… đầu óc tôi quay cuồng vì sự thay đổi đột ngột này. Tôi đã sống năm mươi hai năm rồi, tôi đã đau nặng gần chết và thoát chết mấy lần, tôi từng được ôm trong tay nhiều người đàn bà đẹp, tôi có vợ, tôi có con, tôi từng được trao tặng nhiều giải thưởng khoa học, nhưng thực tình là tôi chưa bao giờ sung sướng như ngày hôm nay. Hôm nay tôi được đưa đến đây. Sáng sớm mai họ sẽ kinh phí bắt tôi ra làm việc ngoài đầm nước lạnh giá nữa. Tôi được hưởng mỗi ngày ba mươi gờ ram bơ tươi. Tôi được ăn bánh mì đen tha hồ ăn no, ăn chán thì thôi. Ở đây họ không cấm tôi đọc sách. Ở đây tôi được quyền cạo râu. Ở đây lính không đánh tù như đánh loài vật. Trời ơi, hôm nay là ngày gì? Sao ánh sáng ở đây trong đến thế? Hay là tôi đã chết? Hay là tôi đang nằm mơ? Có thể tôi đang ở Thiên đàng chăng?” 
“Không đâu ông bạn ơi” – Rubin nói – “ông bạn vẫn sống ở một nơi giống như nơi ông bạn vừa ở, tức là ở Địa ngục. Nhưng ông bạn vừa leo lên được tầng địa ngục cao nhất, tầng địa ngục sướng nhất, tức là tầng địa ngục đầu tiên. Ông bạn vừa hỏi nhà tù đặc biệt này có những gì đặc biệt, tôi xin trả lời ông bạn rằng người có khái niệm đầu tiên về loại nhà tù này là Dante. Ông bạn nhớ rằng thi hào Dante đã vò đầu, bứt tai đến rụng hết cả tóc về vấn đề ông không biết nên cho những nhà thông thái đã chết ở vào chỗ nào dưới địa ngục. Theo tín lý Gia Tô giáo, bổn phận của những tín đồ Gia Tô là phải tống khứ bọn vô đạo xuống địa ngục, những nhà thông thái đời xưa cũng là bọn vô đạo, nhưng lương tâm của nhà đại thi hào không nỡ bắt những nhà thông thái đó phải ở chung một chỗ với bọn phạm đủ thứ tội lỗi và cũng phải chịu những hình phạt như bọn người tội lỗi đó, nên Dante nghĩ ra một nơi đặc biệt dành riêng cho những người hiểu biết ở dưới địa ngục. Vẫn là địa ngục nhưng được ở một tầng riêng. Nếu các bạn cho phép, tôi xin trưng bằng chứng. Ở Ca khúc thứ tư có những câu: 
Sau cùng  chúng tôi tới chân tòa thành vĩ đại. 
Chỉ cần một chút tưởng tượng các bạn sẽ thấy đây là tòa thánh! 
… với bảy lần tường cao vút bao quanh và một dòng suối chảy bên ngoài tất cả. 
Các bạn tới đây trong những chiếc xe Maria Đen 4 nên các bạn chưa nhìn thấy rõ cảnh vật quanh đây. 
… Tôi nhìn thấy bốn Hiện Diện rất mạnh đi tới những Hiện Diện không vui, không buồn. 
Những linh hồn nào mà sự hiểu biết soi sáng bước đi cả ở Địa ngục kia…?” 5 
“Thôi, đủ rồi Lev Grigorich, anh thi sĩ quá” – Valentine Pryanchikov nói – “Tôi có thể giải thích cho ông bạn đây hiểu về nhà tù đặc biệt này rõ ràng hơn anh nhiều. Bạn chỉ cần nhớ lại một bài đăng báo trong đó có câu: “Kinh nghiệm cho ta thấy ta lấy được len nhiều hay ít ở lưng cừu chính là do việc ta nuôi cừu và săn sóc cừu”.

——————————–

1Dante, đại thi hào của Ý quốc và cũng là một đại thi hào của nhân loại. Ông sống ở Ý quốc giữa hai thế kỷ XIII-XIV. Tên họ của ông là Alighieri Dante, sinh năm 1265, mất năm 1321. Ông viết tập truyện thơ bất hủ La Divine Comédie. Trong tập này ông tả cảnh địa ngục và cảnh con người đau khổ dưới địa ngục. Ông mô tả địa ngục có nhiều tầng. Tác phẩm Tầng đầu địa ngục lấy ý từ La Divine Comédie của Dante.
2Vienna, thủ đô Áo quốc. Năm 1945, Hồng quân Nga tiến đánh quân Đức Quốc xã ở đây. Lời nói này có nghĩa là tù nhân nói câu đó từng chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân Nga.
3Trong truyện này, Nhà tù là nhà tù Mavrino được tác giả gọi là “sharaskha”. Đó là một tòa nhà lớn ở vùng ngoại ô thành phố cho dễ đi lại được chính quyền cộng sản Nga làm thành nhà tù, trong nhà này chứa những tù nhân kỹ sư, chuyên viên, những người này bị bắt buộc phải làm việc theo khả năng chuyên môn của họ. Đời sống vật chất của họ đỡ khổ hơn ở những nhà tù chính. Vì chỉ có Nga Xô mới có loại nhà tù này nên tiếng Anh không có danh từ tương đương. Bản dịch tiếng Anh vẫn giữ nguyên danh từ “Sharaskha”.
4Tù nhân gọi những chiếc xe chuyên chở tù sơn đen, kín mít là xe Maria Đen.
5Những câu thơ này được trích trong chuyện thơ dài The Divine Comedy của thi hào Dante.