vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 6 Feb 2026


Cái nón sắt của anh
Phần 2 – Phân đoạn 4
Chân dung cần phải viết lại
Dẫn Nhập.
Người cộng sản không phải hên may nên đoạt thắng. Chúng ta, những người lính Quân lực Việt Nam Cộng hòa không hề thua vì kém chiến đấu. Chúng ta đã thua trận từ những nguyên nhân vượt khỏi trách nhiệm người lính, quá xa tầm súng và sức chịu đựng của chiếc lưng. Chiếc lưng mang khối nặng ba-lô đã khởi đi từ một thuở rất lâu, những năm sau Thế chiến thứ Hai, khi trên thế giới, toàn loài người đang cố gắng chữa trị vết thương, xóa bỏ dấu ấn sự chết. Từ thời điểm đáng ghi nhớ và cũng đáng nguyền rủa đó, dân tộc Việt Nam, toàn thể những con người sống trên vùng đất chữ “S” vùng Đông – Nam Châu Á bị đẩy vào vũng lửa của một cuộc chiến tranh bị hạ nhục, mạ ly, vu khống và không cân sức.
Cho dù tất cả các cuộc chiến tranh đều có chung yếu tính Sự Ác và Hủy Diệt, nhưng đây là một trong những cuộc chiến tồi tệ nhất của dòng sống con người. Cuộc chiến vô ích, dai dẳng, khắc nghiệt nhất của lịch sử dân Việt. Người lính Việt Nam, Quân lực Việt Nam Cộng hòa gánh chịu phần nặng nề, thua thiệt và đau đớn nhất.
Gần hai mươi năm sau khi cuộc chiến kia chấm dứt, vết thương bị lăng nhục vẫn còn tươi máu. Trên tất cả những vùng đất, thị trấn, xóm làng, thành phố tan tác, loang lồ của khắp miền Nam hôm nay vẫn nguyên độ nóng của dấu bom miểng đạn, vẫn hằng hằng những người tóc ngả màu mệt nhọc cúi mình trên tập vé số, tì tay lăn chiếc xe phế binh hoen rỉ bên trên lề đường đặc lềnh bụi khói mờ mờ che màu cờ đỏ của một buổi đổi thay tàn nhẫn. Nơi Nghĩa trang Quân đội Long Bình lũ chó hoang kéo lê những lóng xương rã mục, Trung Liệt Đài sụp xuống chiếc mái, biến thành nơi tích chứa phân của đơn vị bộ đội cộng sản làm nhiệm vụ khai thác đá và chăn nuôi vùng Tăng Nhơn Phú. Người lính và các con họ vẫn là đám “ngụy tiện dân” bị xếp hạng thứ “13” của phân chia thành phần giai cấp, chỉ trên đứa trộm cắp, giết người lãnh án tù chung thân khổ sai, loại cùng đinh xã hội.
Và cuối cùng, ở đây, nơi xứ người, trên đất Mỹ, “những người đi theo diện H.O” đã nên thành một giai cấp, một cộng đồng trong lòng một cộng đồng. Một tổng số của tập hợp bị xem nhẹ và coi thường. Chân dung người lính đó từ lâu đã bị ngộ nhận. Hôm nay chúng ta cần viết lại. Phải vẽ lại đúng vóc dáng kỳ vĩ nỗi chịu đựng lặng lẽ đầy bi tráng này.
1. Chiến đấu giữa bóng tối
Một cuộc biên chế toàn trại bắt đầu từ 7 giờ sáng. Đến trưa, năm trăm người thuộc thành phần sĩ quan từ Đại, Trung tá đến Đại úy được xếp theo 13 đội vào từng khu riêng biệt; một khu gồm hai căn nhà lớn liền nhau, mỗi nhà chứa hai đội khoảng bảy, tám chục người. Sân trại giam chỉ còn lại mình Nhân với đám cán bộ công an vây quanh, những khuôn mặt lạnh lùng cẩn mật. Mang đồ ra phòng trực trại ở cổng! Tại đây một màn lục soát sơ khởi tiến hành. Bắc, gã cán bộ an ninh nhân lực, người quyết định sinh mạng chính trị và cả đời sống của toàn thể tù nhân, chỉ huy cán bộ trực trại và gã phụ tá, đồng thời cũng tự tay thực hiện việc khám xét. Ba người, sáu bàn tay, sáu con mắt đồng mân mê từng lai quần, đổ tung những lon guigoz đựng đường, bột. Không khó khăn, họ tịch thu ngay cuốn nhật ký Nhân viết từ ngày vào trại Long Giao, tháng 6, 1975. Còn gì nữa không? Bắc khép mở cánh môi màu gạch nung, lớp da xác chết, hàm răng kín khít, con mắt chó đá nhìn anh không chớp. Nhân lắc đầu, quả tình anh nói không được, cổ họng đóng khô …
Anh nhìn bàn tay (không phân biệt mặt người) xé tấm bìa cuốn nhật ký; hình vẽ khuôn mặt con trai anh bị ném tung từng mảnh … Anh đưa mắt nhìn theo những mảnh vụn. Bắc biết ý. Y dẫm chân lên, đế dép lốp xe hơi chà xát giày xéo. Y nhìn vào mắt anh lạnh và ngắn … Mang một chăn, một chiếu, một bát, một cóng vào phòng kỹ luật! Vâng! Nhân long cóng ôm gói đồ lếch thếch theo hai người, kẻ thứ ba đi sau anh.
Phòng kỷ luật ở về phía cực phải cuối trại giam; khi sắp bước chân qua ngạch cửa dẫn vào khu kỷ luật, Nhân có ý định chạy về khu nhà phía trái, nơi có cánh cửa khép hờ dẫn vào đội những người già, yếu, bệnh hoạn. Nhưng anh bỏ ngay ý nghĩ. Bởi nếu muốn thế, anh phải chạy vào khu nhà ở thuộc đội những người khoẻ mạnh, gan góc (như đội cũ của anh trước cuộc biên chế sáng nay). Bây giờ, những người bạn trẻ kia đã bị chia tan tác qua những đội mới; còn đội già yếu này, đa số, nếu không nói hầu hết đều là những người lớn tuổi an phận, nếu có những người trẻ tuổi thì cũng chỉ những người vốn đau yếu. Họ đã không mang vác nổi cảnh khốn cùng của bản thân lấy đâu sức mạnh thể chất, cứng cỏi tinh thần để che chở cho anh. Vô ích thôi! Nhân bước chân vào khu kỷ luật với ý nghĩ cùng đành buông xuôi. Bắc trở mặt ngay. Để đồ xuống! Đứng nghiêm! Y lấy trong túi ra tờ giấy viết sẵn, chẳng cần nhìn vào, y đọc nhanh, vẻ chán chường, bất đắc dĩ phải làm công việc vô ích, phiền toái.
“Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Bộ nội vụ, trại cải tạo số 5 quyết định tên Phạm Trung Nhân, sinh 1943 tại Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng trị can tội ngụy quân, án phạt tập trung cải tạo. Quá trình cải tạo không chuyển biến tốt, biểu hiện phản động sai trải qua hành động tổ chức phá rối an ninh trật tự trại giam ngày 13 tháng 2, 1979. Xét bốn tiêu chuẩn của trại cải tạo và để duy trì an ninh kỹ luật trại giam, nay quyết định. Phạt kiên giam tên Nhân từ 21 tháng 2 cho đến khi có biểu hiện tiến bộ. Đồng chí Bùi Dù, cán bộ trực trại thi hành”.
Cởi đồ ra! Bắc nôn nóng. Cách nóng nảy của con thú chờ mồi quá lâu. Cát, tên phụ tá chuẩn bị ra đòn, dù có vẻ bình tĩnh và quen công việc, khôn Ngoan giấu đi phản ứng. Thôi xong rồi! Nhân tự nhủ, cổ họng đắng như nuốt phải cục vôi khô. Người anh trống không nhẹ tênh. Bắc chú ý đến cái áo khoát ni-lông từ khi anh bỏ ra, lưng áo nổi cộm lộ liễu. Y đặt tay lớp lót bằng vải bao cát mà Nhân đã khâu vào thành lớp dày chống rét. A! Bắc không ngăn được vẻ khoái trá khi bóp được lớp giấy lot giữa hai tầng áo. Xoẹt! Y xé lớp vải bao cát không nương tay. Rồi! Nhân kêu lên tiếng nhỏ, xem như đã đứng trước một dãy nòng súng …
Tập thơ năm trăm bài làm từ ngày đi tù, bút ký ghi sự việc, cảm xúc từ Nam ra Bắc và cuốn dàn bài chi tiết về bộ trường thiên tiểu thuyết dự tính từ bao năm nay. Xong rồi! Nhân không còn gì phải gìn giữ và lo sợ. Mọi sự coi như đã kết thúc! Bắc không phải lật với một tay mà cả hai tay hối hả … Đây là những cái mà y đã truy lùng từ bao lâu, từ tháng 10 năm ngoái khi Nhân bắt đầu viết những tập bản thảo kia. Khuôn mặt Bắc cau lại, y không đọc ra được … (vì chữ viết bằng bút chì quá nhỏ chen lẫn giữa hai hàng chữ mực tím của bản thảo tài liệu dịch cho bộ Quốc phòng từ những năm trước mà Nhân đã lưu giữ sau bao đợt chuyển trại).
Trong dự kiến, theo báo cáo của những tên ăng-ten (những gã tù chỉ điểm trong tập thể sĩ quan cải tạo), Bắc nghĩ rằng Nhân đã có những lời đả kích lộ liễu đối với chế độ, chủ nghĩa cộng sản, chính sách giam giữ của các trại tù. Thế nhưng ở đây lại là …“Luyện Ngục Rực Lửa; Đá Nát Vàng Phai … “. Bắc không hiểu được, suy diễn ra … Cho vô cùm, mai đưa ra sân trại, đánh tàn phế một cơ quan trước tập thể … Tính sau! Cửa vào phòng kỷ luật mở ra, Nhân bước vào. Cửa đóng lại. Phòng chìm bóng tối, im lặng, ẩm mốc, không khí, cảnh sắc của sự chết, nhà mồ. Thêm một cửa nữa được mở, cửa cuối cùng, và anh bước vào căn phòng, đúng hơn một cái hộp, dài hai thước, rộng khoảng một thước, cao ba thước, chiếc bệ đất tráng lớp xi-măng, phần cuối có thanh sắt chắn ngang bên trên lủng lằng hai vòng cùm hình chữ U.
Nhân đút chân vào cùm, nằm xuống. Trời tháng 2 lạnh cóng, căn phòng sũng ướt như một hầm nước đá. Không có vật gối đầu, Nhân định cởi cái áo mưa ngắn làm gối nhưng lưng không chịu nổi lạnh, bèn dùng gà-men lính gối đầu lên. Bây giờ mới hiểu tại sao Kinh Thánh có câu: “Con Người không có chỗ gối đầu ... “. Tình trạng này đây! Hoá ra cũng đã có người trải qua những giây phút này mà là Con Người – Thiên Chúa. Nhân nằm như thế bao lâu, không biết trời bên ngoài sương mù hay ửng nắng, trưa, chiều, tối, khoảng mấy giờ … Chỉ bóng tối mờ mờ lầy lầy, lạnh tanh và im lặng. Hình như chung quanh có âm động, tiếng nói nào đó … thoảng nghe xa … từ xa dội lại. Đầu và chân mình ở hướng nào? Nhân cố gắng xác định nhưng vô hiệu. Những cơn mê ngắn nối tiếp giấc ngủ chập chờn và khoảng thức tỉnh ngây ngây.
Thân thể rất lạnh, cái lạnh dị thường từ thời tiết bên ngoài, lạnh giữa bốn bức tường thẫm tối và bên trong từ gan ruột, dưới lớp da. Lạnh khiếp sợ của thần kinh bị tê liệt, tổn thương, nhưng bên ngoài da thịt hầm hập nóng như lên cơn sốt, hai hàm răng dẫu nghiến chặt vẫn đập cầm cập vào nhau. Thôi, tất cả đã hết … Vậy ta cho xong luôn! Nhân quyết định đời sống bản thân ở bước chót – Nhịn đói để chết. Bởi lẽ, nếu chỉ mỗi việc tổ chức tuyệt thực trong ngày 13 vừa rồi cũng đã phải chịu hình phạt tối đa, vì đây là trại tù Trung ương miền Bắc, hậu thân Lý Bá Sơ thiết lập và nổi danh từ năm 1945 về thành tích giam giữ, sát hại tù chính trị, lúc cộng sản chỉ là tổ chức sơ khai, còn ẩn danh dưới chiêu bài Mặt trận Việt Minh; Việt Nam độc lập đồng minh hội để tranh thủ sự yểm trợ phía đồng minh Mỹ, Anh, Tàu và cả Pháp.
Từ 1945 đến nay, 1979, hơn ba mươi năm dựng thành tích trên thân phận và sinh mạng người tù, trại 5 Lam Sơn ắt sẽ không nưong tay. Thêm ngàn trang bản thảo … Chỉ còn đường chết thôi! Lê Đức Thịnh chỉ vì mỗi câu “anh không chịu bó tay … “. Câu nói vô thưởng vô phạt trong lá thư gởi vợ cũng đủ nát thân nơi pháp trường trại Long Giao. Nhân quyết định cho mình ân huệ tự do tội nghiệp cuối cùng nầy. Việc nhịn ăn quả tình không khó lắm khi đã qua hai, ba, ngày đầu. Những ngày sau Nhân chỉ có cảm giác trống rỗng, người như bay bềnh bồng giữa khoảng không. Nhiệt lượng trong người bốc ra hừng hực để giữ thân nhiệt ở mức cần thiết, chống chỏi, vượt qua cái lạnh kỳ dị. Anh chìm dần vào cơn mê mờ nhạt lãng đãng, nhưng hình như các giác quan tinh tế, sắc sảo hơn.
Và trong trạng thái tỉnh thức bất định này anh nghe vang dội chuỗi âm động từ bên ngoài nhưng cũng bên trong vang lên. Tiếng động bàn chân người giậm mạnh lên bệ nắm theo nhịp đi … Bảo vệ làng thôn quân lực Việt Nam Cộng hòa … Nhân dân chờ mong, không nề hiểm nguy …Nhịp hát một lúc một phấn khởi, người hát như đang được thôi thúc bởi một nguồn sinh lực mạnh mẽ, tuy âm lượng không giấu nét mệt mỏi, cằn cỗi, tắc nghẹn ở những nốt cao, ngân. Và như để bù trừ cho phần khuyết điểm này, người hát chuyển qua hành khúc quen thuộc “Đường trường xa ta quyết đi cho đến cùng. Đoàn hùng binh say sưa trong gió reo vang . “. Đến điệp khúc “Muôn đời Lục quân Việt Nam … ” thì lời hát đã nên thành tiếng thét vang dội và không chỉ với bàn chân giậm trên bệ nằm mà nắm tay hình như đang sử dụng để đập vào vách tường thay nhịp trống, chêm giữa âm sắc khắc nghiệt của chiếc cùm chạm lanh canh lên thanh sắt chắn ngang … Chào cờ! Nghiêm! Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi ... Tiếng hát vang vang tràn vỡ căn phòng trùm bóng tối. Người hát hình như đang tận dụng hết sức lực của cánh tay, bàn chân không bị cùm để nâng cao, đẩy mạnh lên lời hát hào hùng phơi phới. Thanh âm, ngôn ngữ đã một lần vọng dội sông núi miền Nam. Những bàn chân rất đông người chạy vào rần rật (hình như đã chuẩn bị sẵn cho tình thế), cửa vào phòng kỷ luật bị tống mạnh, ánh sáng lùa vào …Những người tù đồng bật dậy, sắt cùm kéo lê xoen xoét, cánh cửa các buồng giam lay động … Hình như toàn phòng sẵn chờ đợi diễn tiến sắp xảy ra … Ầm …ầm … Một cánh cửa nào đó bị mở tung và âm động xương của xương thịt người trong cơn cấu xé, dầm dập … Đéo mẹ cho mày còn hát được không nào …
Đánh cho chừa thói phản động đi …Chen trong tiếng chửi và chuỗi đòn thù Nhân nghe lời thét gào đứt khúc … Các ông hèn … hèn lắm!! Hèn là thế nào … Mày trả lời đi … Đánh người đang bị cùm thì giỏi giang gì, đánh thẳng già đang bị cùm thì lại hèn hơn … Tại mày già nhưng còn chống đối, mày ngu thì phải dạy cho mày khôn ra. Tiếng cười nhạt … Ai dạy ai, mấy mươi năm các ông biết đã dạy đưọc ai không rồi chứ? Mày câm mồm đi … Ông lại cho thêm một trận nữa bây giờ. Nếu ông đánh tôi chết được thì nên đánh bằng không vô ích thôi. Giọng trả lời tỉnh như không. Được, ngày mai mày trả lời với “ban” (Ban giám thị trại giam).
Cửa phòng đóng lại, bóng tối chụp xuống. Nhân biết được trời đang trong buổi trưa nhờ liếc bóng nắng đổ chéo qua ngạch cửa. Một thế giới với những con người kỳ lạ, không thấy mặt, có thật ở đây.
2. Tưởng như là không thật.
Trong ngây ngây do sau mấy ngày nhịn ăn, loạt âm động của trận đòn, lời đối đáp … Tất cả như cơn say trầm trầm đẩy Nhân xuống vũng tối mờ mờ của môi trường không thật. Cũng có vẻ như không thật những lời đối đáp mạnh mẽ anh vừa nghe được kia. Trong một lúc, anh nghĩ hoàn cảnh của mình cũng chỉ là thoáng mong manh. Anh chờ đợi điều sắp xảyra như có dự phần trực tiếp trách nhiệm ….Vâng, thưa Ban … chỗ này. Dạ, phòng này. Tiếng mở cửa phòng, chiếc cùm kéo lê. Rút chân ra! Bước chân nhiều người di chuyển ngoài hành lang, tiếng nói loáng thoáng … Đỡ hộ cho anh ý … Không, tôi có thể đi được. Âm lượng yếu ớt nhưng sắc gọn, cứng cỏi. Đưa … đưa anh ấy đến đây, chỗ sáng này. Hôm nay, ban giám thị đến tham quan phòng kỷ luật để cải tiến chế độ sinh hoạt của anh em trại viên và điều nghiên đề xuất của những người có vấn đề …
Người cán bộ trực trại lên tiếng trước. Anh là anh Thành? Một người nào đó hỏi chậm rãi; giọng người vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh nghiêm nhặt khô khan. Anh có khoẻ không? Không có tiếng trả lời. Anh có nhận được thư nhà không? Cũng không người trả lời. Im lặng một lúc. Thôi, anh vào nghỉ … Đưa anh ấy vào đi. Tiếng chân đi chậm, bước ngắn. Cửa phòng đóng lại, ổ khoá, thanh cùm lọc xọc, kéo lê.
Rầm! Thanh sắt cùm được kéo về phía cực trái, chiếc cùm hình móng ngựa tự động rời khỏi cổ chân, tiếng khô lạnh. Nhân chưa xác định được tình thế, cửa phòng vụt mở, anh chống tay ngồi dậy ngơ ngác …
Anh đi ra, Ban giám thị đến tham quan. Nhân được dẫn đến trước người đàn ông dáng thấp đậm, mặc áo quần đại cán may theo lối lính Tàu, cổ cao, bốn túi; chiếc nón cối hơi rộng che sụp ngang tầm mắt. Nhân nghiêng đầu, khẽ nhắm mắt, ánh nắng dẫu chỉ đổ ngoài hàng hiên cũng đủ gây chói chang, người anh trống trải lao đao … Anh có khoẻ không? Nhân chưa kịp trả lời. Anh có nhận được thư gia đình không? Nhân nghe chưa hết câu. Thôi, anh vào nghỉ nhá …
Còn mấy phòng nữa? Nhân không biết câu hỏi nhắm đến ai giữa đám người hỗn độn, nhưng anh vẫn trả lời theo phản ứng không định trước … Vâng … vâng … Khi Nhân nằm lại trên chiếc bệ, tiếp quen bóng tối, anh nghe mơ hồ những cửa phòng nào đó được mở và giọng nói đều đều … Anh có nhận được thư nhà không … Hình như câu hỏi có khác một từ nào đó khi hỏi với anh. Anh cố nhớ nhưng quá mệt mỏi nên không tìm ra. Và khi cánh cửa chính căn nhà kỷ luật đóng lại, Nhân nghe từ phòng anh Thành câu chuyện vang rõ giữa bóng tối.
– Anh Thành! Bắc, gã cán bộ an ninh nhân lực lên tiếng.
– Tôi nghe cán bộ. Anh Thành nói tiếng nhỏ nhưng chắc, gọn.
– Anh hãy phát biểu về việc thăm hỏi vừa rồi của Ban giám thị.
– Tôi chẳng có gì phát biếu cả.
– Ban xuống đây là do đề xuất của anh mà, anh không thấy Ban đã hỏi anh trước sao, trong khi mấy người kia cấp bực, chức vụ người ta hơn anh xa.
– Tôi với họ khác nhau, không ai giống ai!
– Khác nhau là thế nào, các anh tất cả là ngụy quân, ngụy quyền.
– Ngụy thế nào được. Năm 1973, trong danh sách trao trả theo Hiệp-định Paris chúng tôi là “nhân viên quân sự của Việt Nam Cộng Hòa” bị bắt giữ. Các ông đã dối trá giữ lại không trả …
– Đó là do các anh tự gọi lên như thế, các anh là những người có nợ máu với nhân dân được Đảng và nhà nước khoan hồng không giết là may còn đòi trao với trả … Ai gọi các anh như thế đâu?!
– Người các ông gọi nên như thế, cả phe cộng sản các ông gọi nên như thế. Không những thế, các ông còn phát cho chúng tôi quần áo, đưa về Hà Nội để chuẩn bị trao trả … Trả mà như thế này đây!! Tiếng cùm lay lục cục …
– Tại vì anh chống đối không chịu học tập cải tạo nên chúng tôi phải áp dụng biện pháp kỷ luật để duy trì an ninh trật tự trại giam. Anh xem ngoài trại đấy, tướng, tá, tổng, bộ trưởng tất cả có đủ, chúng tôi có cần nhốt ai đâu. Hừ, chúng tôi đánh người chạy đi không đánh người chạy lại, những người thất trận đầu hàng …
Có tiếng cười nhạt.
– Cán bộ nói không đúng. Họ thất trận đầu hàng ở đâu tôi không biết. Tôi, tôi không thất trận, không đầu hàng … Chúng tôi nhảy xuống đất các ông, giật cầu, đặt mìn phá hoại. Các ông tập trung cả ba làng, một Tiểu đoàn lính đánh một toán chúng tôi. Đuổi tôi chạy hai đêm một ngày … Tôi, tôi bắn hết đạn, mới bị bắt. Tôi không thất trận, không đầu hàng. Tôi không đầu hàng ai cả. Gần mười thằng nhào vào một lúc, tôi không đánh lại được. Tôi bị bắt, tôi không đầu hàng. Giọng nói chắc nịch, dứt khoát, đôi khi hân hoan hãnh diện chen trong tiếng thở dồn dập kích động …
– Không đầu hàng mà cả lũ, cả bọn buông súng theo lệnh Dương Văn Minh, chạy được thì như Nguyễn Văn Thiệu, còn tất cả vào đây một dọc, mấy thằng chỉ huy của anh chúng tôi cũng không coi ra gì chứ đừng nói cỡ như anh, một thẳng biệt kích!
Thành cao giọng …
– Phải, tôi chỉ là binh nhì biệt kích, nhưng tôi không hề đầu hàng, tôi không cần biết Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu nào cả, Trưởng toán chúng tôi là Thiếu úy Đặng Ngọc Khiết bị các ông đem ra bắn ở chợ Ninh Bình, tôi không người chỉ huy, bắn hết đạn, bị bắt. Thành dứt khoát kết luận. Hình như yếu tố “đầu hàng” là một xúc phạm lớn, anh nhất mực chối từ.
– Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu là mấy thằng đầu sỏ, lãnh đạo các anh, sao anh lại không biết?!
Thành cắt ngang:
– Người lãnh đạo chúng tôi, miền Nam là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, không phải là những người ông vừa kể và chuyện họ đầu hàng, bỏ chạy quả thật tôi không biết. Các ông cùm tôi suốt bao nhiêu năm nay, tôi làm sao biết được cái gì?
Câu chuyện chấm dứt ở đây với yếu tố cụ thể nầy. Khi đóng cửa phòng Thành, Bắc lẩm bẩm … Đồ ngoan cố, phản động, cùm mục xương cũng không tởn. Nhân theo dõi câu chuyện với ngây ngây xúc động. Có thật không sức chiến đấu của con người giữa trùng vây đơn độc, bóng tối và sự chết. Có thật không sự xếp đặt kỳ lạ của Thượng Đế trong hành trình nguy nan của người. Bởi vì qua câu chuyện kia, Nhân đã nghe rõ đến tên một người. Một người bạn. Một bạn thân, rất thân. Đã từ lâu. Anh đặt bàn chân không cùm xuống đất, ghé mặt sát khe cửa. Một khoảng nền xám của căn phòng. Toàn thể thế giới còn lại, thấy được của anh. Nhưng anh không hề tuyệt vọng, bởi bên kia, cách mấy bước, sau cánh cửa đóng kín có một con người, một sự sống bền bỉ, một sức mạnh chiến đấu.
Một binh nhì biệt kích quân, người lính không có số quân của một quân đội đã bị đánh bại, bị hạ nhục. Nhân gọi nhỏ … Thành … anh … anh Thành ..cho tôi hỏi … Và câu chuyện được ráp nối theo từng chi tiết …
Toán biệt kích gồm tám người, Thiếu úy Đặng Ngọc Khiết, sĩ quan Khoa 17 trường Võ Bị Đà Lạt. Trưởng toán, có nhiệm vụ phá hoại đoạn đường đèo Tam Điệp, Nam tỉnh Ninh Bình, gây rối, chận bít tuyến giao thông, chuyển quân, khí cụ, đạn dược Bắc – Nam của quân đội Hà Nội. Toán quân không được may mắn, chiếc C47 vừa vào vùng, bị lộ ngay mục tiêu, một giàn đạn phòng không đan kín, viên phi công người Mỹ bắt buộc phải đáp khẩn cấp sau khi thả được toán dù.
– Thế người phi công có được cứu thoát không?
Nhân cắt ngang lời kể.
– Không, lúc ấy phương tiện cấp cứu còn ít, hơn nữa các phi vụ bí mật này coi như là hoạt động chiến tranh không quy ước, phi công mặc đồ dân sự, máy bay không số đuôi; máy bay của Air America không phải không lực Mỹ.
– Toán anh bị bắt hết ngay à?
– Không rõ, xuống đến đất phải tự cá nhân chiến đấu, chúng tôi vừa chống cự vừa chạy ra hướng biển, không biết những người kia thế nào, riêng tôi chạy đến hai ngày sau mới bị bắt. Nó dùng đến cả chục con chó kiếm tôi … Cả người lẫn chó nó bâu tôi như đỉa.
– Sau đó anh có gặp Khiết không?
– Không, nó giết liền mà … Nó họp tòa án nhân dân xong đem ra bắn tại trung tâm thị xã Ninh Bình.
Tiên sư, nó đưa cả vạn, triệu người vào Nam thì bảo là đi giải phóng, mình chỉ mới nhảy dù xuống đã mắc tội máu với nhân dân … Nhân dân nào?! Mười năm sau ở Ninh Bình vẫn còn nhắc đến vụ bắn anh Khiết.
– Tại sao?
– Thiếu úy chửi chúng nó thẳng mặt. Họ tưởng khi bắt “học tập” vụ bắn anh Khiết sẽ làm chúng tôi sợ hãi. Đâu phải thế, chúng tôi khi bước lên máy bay là coi như đã chết, cho dù sống sót trở về, cũng phải thay hình đổi họ. Nhảy xuống đất Bắc, hoàn tất công tác tức là trả đủ nợ cho đất nước, miền Nam … Chúng tôi còn điều gì phải hối tiếc hay sợ hãi. Tôi còn có mối thù của bố tôi bị đấu tố chết năm Năm Mươi Ba. Tiếc là không nổ được cái phủ chủ tịch của chúng thôi.
– Thế anh bị kiên giam từ năm nào?
– Từ 1964, có khi giam, khi cho đi lao động, nhưng từ 1972, khi Mỹ dội bom Hải Phòng, Hà Nội thì nó nhốt tôi tới bây giờ.
– Anh biết nó nhốt tôi ở đâu không? Anh nói cho biết đi?
– Dưới chân cầu Long Biên đó!
– Chứ không ở Hỏa Lò sao?
– Nó độc lắm, để dưới cầu Long Biên, nhỡ phải bom Mỹ dội chết chúng cho trưng ra để buộc tội giết
tù binh, Việt cộng mà!
– Sao lại là Việt cộng. Việt cộng là tụi trong Nam kia chứ?! Anh mà còn nói thế huống gì ai …
– Nam, Bắc không là Việt cộng thì là gì … Cá mè một lứa cả. Anh Thành cao giọng phẩn kích.
– Từ hầm dưới cầu Long Biên chúng cho tụi tôi thấy xe phái đoàn trong Nam ra nhận tù binh Mỹ, nó còn cho chúng tôi biết vụ anh nhà báo bên nhảy dù chửi chúng nó ở sân bay Gia Lâm. Và bảo thẳng chúng tôi cứ việc chống đối, tuyệt thực, phái đoàn Việt Nam Cộng hòa trong ban liên hợp có đấu tranh cách mấy, chúng cũng không trả. Cũng như loại anh nhà báo kia, chúng tôi là những người cần phải giết bỏ, không thể nào tính đến chuyện trao trả hoặc cho về. Anh phi công Mỹ chở toán chúng tôi cũng không được thả, dẫu đã cụt một tay.
– Tôi có thấy người Mỹ nào ở Hỏa Lò nữa đâu?!
– Sao anh ngây thơ thế, nó để chỗ khác, trên Bác Vạc.
– Bác Vạc ở đâu?
– Ở Sơn Tây.
– Chỗ Mỹ đổ bộ giải cứu tù ấy à?
– Đấy, chỗ đó, nhưng khi Mỹ xuống thì nó đã di đi chỗ khác rồi. Việt cộng mà anh, từ năm đó cho đến
bây giờ nó cùm tôi miết!
– Không cho ra?
– Không, đúng mười lăm năm tù, bảy năm bị cùm liên tục, trước 72 không tính! Sau 75 cũng không có gì thay đổi? Sau 75, chính tôi quyết định vụ bị cùm này!
– Anh nói tôi không rõ?
– Nghĩa là tôi coi như đã chết, ra khỏi hầm cũng là tù thôi … Dẫu được thả cũng thế!
– Thả ra mình về Nam chứ.
– Vô ích thôi, đâu còn là miền Nam của mình nữa, rồi anh sẽ thấy … Tôi sinh và lớn lên ở miền Bắc, người Nghệ An, hỏi thử bây giờ về Nghệ An tôi có sống được không, Sàigòn cũng vậy. Mình mất nước rồi, sống làm chi anh.
Giọng Thành tắt lại. Sau hai lớp cửa, Nhân nghe tiếng thở dài bị ghìm giữ.
– Có bao giờ anh nghĩ đến chuyện chết không?
– Có chứ, tôi nghĩ và sống với nó từ bao năm nay, nhất là sau 75. Nhưng bởi là người Công giáo, tôi hiểu mọi sự tất cả đã THÀNH THEO Ý CHÚA. Và tôi cũng tin thế nào người dân cũng vùng lên hất đổ chúng xuống, cũng từ những người cộng sản có lương tri, biết suy nghĩ. Không ai có thể sống mãi với sự dối trá, nói dối ngay với chính mình. Tôi sống với Đức Tin và Niềm Tin này. Ủa, mà sao anh hỏi tôi kỹ vậy?
– Tôi, tôi là bạn thời con nít với Đặng Ngọc Khiết, cùng đi đoàn Hướng Đạo, học một lớp, vào trường Đà Lạt chung khóa, ra trường lại ở với nhau một nhà. Ngày Khiết nhảy ra Bắc tôi nhớ, ngày 20 tháng 8 năm 1964, và tôi cũng chính là anh nhà báo, lính nhảy dù ra Hà Nội ngày thứ Sáu, mồng 3 tháng 4, 1973 … Tôi có đọc tấm bảng “Tù binh Hạ Lào còn bị giam ở đây” nơi nhốt tù dưới chân cầu Long Biên … Tôi đấy … tôi …ở đấy anh ơi!
Tiếng thét uất hận xé căn phòng vỡ tung …
– Nhưng tại sao mấy ngày hôm trước tôi không nghe anh nói năng gì hết?
Đến bây gời Thành đã đứng sát cửa; anh hỏi Nhân giọng nhỏ thân mật.
– À … tại vì, tôi … nhịn ăn!
– Nhịn ăn để chết ư? Hình như có tiếng cười nhỏ trong âm nói.
– Vâng, cũng trong ý định đó … Nhân lúng túng ngượng ngập.
– Thế này nhé, anh ăn lại đi, chẳng đi đến đâu đâu. Khi nó muốn mình chết, đang còn sống, nó cũng đem đi chôn. Chôn sống! Ở trại Quyết Tiến trên Hà Giang nó chôn anh em tôi như thế đó. Không có tội gì, khi cần giết, nó ghép cho năm ba tội, như trước ngày Tàu đánh Việt Nam, nó đem bắn mấy anh Tàu vì cái tội làm gián điệp cho “Cục tình báo Hoa Nam”. Cha Mã Nhì trước khi chết không biết đến cả “Hoa Nam” ở đâu. Chả là dân Móng Cái mà! Nó bắn ở đây, trong phòng số 5, trước khi các anh về trại này một tháng, đâu khoảng tháng 7. Đến tháng 8 các anh mới về phải không? Khi không muốn giết thì nó bắt mình phải sống để chịu nhục. Anh nghe lời tôi, ăn lại đi, mấy ngày kỷ luật của anh chỉ là giấc ngủ ngắn của tôi mà thôi. Nó chưa để cho anh chết đâu!
– Vâng … Nhân cầm lấy chén cơm nguội lổm cổm những lát khoai, sắn đỏ nâu, lòng chùng xuống trong nỗi phiền buồn có Tội – Tội đã sống. Tội được sống sót.
Kết Từ
Anh Thành thân mến,
Khi tôi viết những dòng này về anh thì quả tình tôi cũng không biết được anh còn sống hay đã chết …
Sống ở đâu và chết ở đâu? Tôi với anh cũng không hề thấy, biết mặt nhau, cho dẫu chúng ta chỉ ở cách nhau hai thước bề ngang. Tháng 8 năm 1980, anh chuyển lên trại Thanh Phong, tôi vào kỷ luật lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng để rời khỏi đất Bắc mười năm sau. Con số “mười bảy năm kiên giam” của anh – Số lượng thời gian mới nghe tưởng như không có, không thật đó …
Cuối cùng chính tôi cũng vượt qua. Riêng anh vượt qua thêm bao nhiêu lằn mức nữa? Không ngờ chúng ta cùng dự phần vào một cuộc đua khốn nạn, khắc nghiệt mà chính bản thân đôi khi cũng ngạc nhiên vì tính cách phi nhân ghê tởm của nó. Cuộc chiến đấu giữ gìn sự sống, giữa bóng tối, cái chết. Lần vượt chết qua nỗi dối trá miệt thị con người. Tôi cũng nhân cơ hội này để cám ơn anh về hai điều từ anh đã thúc giục tôi tồn tại được và duy trì bền bỉ. Đấy là, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không hề kém cỏi, yếu hèn; lính cộng sản không phải quá đỗi tài giỏi. Nhưng quả thật họ đã được chỉ huy và học tập điều “lý tưởng” (cho dù học nhồi ép về một điều dối trá, không thật …) trong khi đó cấp chỉ huy của mình trước thì vì “bơ thừa sữa cặn”, đến khi thất trận, đi tù thì vì “canh thừa cơm cặn”.
Rồi ra sẽ thấy những điều xa xót, càng ngày càng đau lòng thêm. Trong tù cũng như ngoài xã hội tất cả sẽ bị “cộng sản hóa” ở những tính cách tồi tệ, xấu xa nhất. Lời của anh đã nói cùng tôi. Và người Việt Nam sẽ dần hóa thân nên thành biểu tượng của sự cùng kiệt – Cơn kiệt cùng tan vỡ cấu trúc tinh thần của dòng sống Việt Nam. Nhưng chúng ta phải sống, vượt sống để xác chứng điều huyền nhiệm. Con Người vẫn hằng sống trong Ý Chúa. Cho dẫu khi anh nói điều này tôi chưa hề là tín đồ của một tôn giáo nào. Khi ấy, chúng ta đang bị vây khốn giữa vũng tối.
Phải không anh Thành. Người Lính Biệt Kích Nguyễn Công Thành.
Tháng Tám, Mùa Cô Hồn, 1995
Thành Hựu Tống Bang Tiến Xa,
Hợp Chủng Quốc Bắc Mỹ
Phan Nhật Nam
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.