Nữ Đại Tá gốc Việt Ly Fecteau, Tổng Thanh Tra Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến khu vực miền Đông

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 31, 2022 by dongsongcu

Post by Sơn râu 12 Feb 2026

Đại tá Ly Fecteau, TQLC Hoa Kỳ (ảnh của mcieast.marines.mil).

Nữ đại tá Ly Fecteau là phụ nữ gốc Việt đầu tiên mang cấp bậc đại tá thủy quân lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ. Bà được bổ nhiệm làm, tổng thanh tra bộ tư lệnh TQLC khu vực miền Đông (MCIEAST) từ tháng 8 năm 2019. Bà được thăng cấp đại tá vào tháng 6 năm 2015, và là phụ nữ gốc Việt duy nhất mang cấp bậc đại tá trong quân chủng TQLC Hoa Kỳ.

Đại tá Ly Fecteau sinh tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hòa và lớn lên ở Dover, Delaware, bà tốt nghiệp văn bằng cử nhân khoa học về tài nguyên nhân lực tại đại học Delaware, và gia nhập lực lượng TQLC trừ bị mang cấp thiếu úy vào tháng 12 năm 1988.

Thời gian mang cấp trung úy và đại úy, Ly Fecteau là sĩ quan tiếp liệu tiểu đoàn, sĩ quan phụ tá ban 4 (G-4) kiêm sĩ quan ban 4 tiểu đoàn tiếp liệu thuộc liên đoàn 1 yểm trợ lực lượng. Sau đó bà được thuyên chuyển đến phục vụ tại tiểu đoàn trợ chiến, sư đoàn 3 thủy quân lục chiến tại Okinawa, Nhật Bản. Bà cũng từng là sĩ quan giao tế khu vực Đông Nam Á, thuộc phòng tình báo TQLC, Quantico, VA.

Khi mang cấp bậc thiếu tá*, Ly Fecteau được bổ nhiệm về phòng 3 (G-3) sư đoàn 3 TQLC, kiêm sĩ quan huấn luyện sư đoàn. Bà được thụ huấn tại trường hậu đại học hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), và là chuyên viên phân tích năng lực tại bộ tư lệnh phát triển và chiến đấu TQLC. Sau đó, bà đươc giữ chức vụ chỉ huy phó tiếp liệu tại căn cứ không quân TQLC Yuma, AZ. Trong chiến dịch Iraqi Freedom 05-07, thiếu tá Ly Fecteau khai triển phòng 4 (G-4) tiếp vận cùng lực lượng I viễn chinh TQLC ( tương đương cấp quân đoàn) tại Fallujah trong chức vụ chì huy phó của Lực lượng An ninh tiếp vận Cell Iraqi.

Trung tá*, Ly Fecteau và các quân nhân trong đơn vị (Ảnh của Marine Corps Base Camp Blaz).

Thăng cấp trung tá*, Ly Fecteau là sĩ quan kế hoạch chiến lược tại phòng 5 kế hoạch tương lai (J-5), phòng cung cấp tiếp liệu Quốc phòng (DLA), New Cumberland, PA. Sau đó là chỉ huy trưởng, phòng phân phối DLA Guam, Marianas. Trong cuộc hành quân Operation Enduring Freedom 12.2, trung tá Ly Fecteau được lệnh khai triển cùng lực lượng I viễn chinh TQLC với chức vụ sĩ quan tiếp liệu phòng 4 (G-4). Sau khi trở về từ chiến trường Afghanistan, bà được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng phòng 4 tiếp liệu (G-4) của lực lượng I viễn chinh TQLC kiêm sĩ quan tiếp liệu tại căn cứ Pendleton, CA. Sau đó trung tá Ly Fecteau được chọn đề cử thăng cấp đại tá và được bổ nhiệm làm phụ tá tham mưu trưởng, phòng G-4, liên đoàn 1 tiếp vận TQLC.

Chính thức thăng cấp đại tá, đại tá Ly Fecteau được thuyên chuyển về liên đoàn 1 không quân TQLC tại Okinawa, Nhật Bản, và được bổ nhiệm làm phụ tá tham mưu trưởng G-4, kiêm chỉ huy trưởng yểm trợ hàng không (AGSD). Sau đó bà trở lại CONUS giữ chức vụ phụ tá tham mưu trưởng G-3 kiêm tham mưu trưởng bộ chỉ huy Huấn luyện tại Quantico, VA. Trước khi được bổ nhiệm chức vụ hiện nay, đại tá Ly Fecteau từng là phụ tá tham mưu trưởng, G-4, MCIEAST, căn cứ Lejeune, NC.

Bô tư lệnh TQLC khu vực miền Đông (MCIEAST) do Chuẩn tướng General Andrew M. Niebel làm tư lệnh, là một đại đơn vị chiu trách nhiệm yểm trợ và giám sát 7 đơn vị TQLC trong hoạt động vùng Đông duyên hải Hoa Kỳ.

Đại tá Ly Fecteau đã hoàn tất thụ huấn và tu nghiệp tại các trường chỉ huy và tham mưu TQLC (Marine Corps Command and Staff College (Non-resident Program); Trường hậu đại học hải quân (Naval Postgraduate School); Trường tham mưu liên quân (Joint Forces Staff College) và trường cao đẳng không chiến (Air War College).

Đại tá Ly Fecteau là một trong bốn sĩ quan gốc Việt mang cấp đại tá TQLC Hoa Kỳ, trước bà có đại tá* William H. Seely III ( nay là thiếu tướng chỉ huy trưởng trường đại học tham mưu liên quân ) và 2 đại tá khác được thăng cấp sau bà là đại tá John T. Nguyễn, phụ tá trừ bị, đặc trách hệ thống truyền tin cho tham mưu trưởng, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương và đại tá Jackson T. Đòan, trưởng phòng G-35, bộ tư lệnh lực lượng TQLC Thái Bình Dương.

*Ghi theo thời gian mang cấp bậc

Nguồn: mcieast.marines.mil; linkedin.com; en.wikipedia.org; marines.mil; Marine Corps Base Camp Blaz.

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 12 Feb 2026

Phần 3 – Phân đoạn 3

Như Phong, như gió thổi qua…

Nhà báo như Phong – Lê Văn Tiến (1923-2001)

Ngày ấy, khoảng 1991, 1992, tôi với “Ông Ba” thường ngồi nơi chái hiên căn nhà tranh vùng Thôn Thạnh Lộc, Gò Vấp, Gia Định lúc đêm đến chụp sẫm tối những đám mía quanh khu vườn và gió từ sông thổi động những tấm màn chắn ngang liếp cửa sổ. Chúng tôi không nói gì với nhau, tôi vuốt lưng chó Ky, con vật nhỏ nằm im, ngủ thiếp. Ông Ba tháo kính, tắt điếu thuốc, dựa lưng vào tấm phên, tay đặt hờ trên cạnh bàn nước, nhìn ra khoảng tối. Chung quanh đồng ruộng rì rì âm động hoang dã, buồn buồn.

1974. Lời báo động đêm mùa Đông Sài Gòn đang trong buổi giới nghiêm do sự kiện lực lượng quân sự cộng sản tấn công Phước Long, và chiếm đóng thị xã để thử sức, dò xem phản ứng của Mỹ cùng Việt Nam Cộng Hòa trước vụ lấn chiếm. Thái độ bất chấp ngang ngược về những điều khoản ngưng bắn của Hiệp định Paris mà họ đã long trọng ký kết trước cộng đồng thế giới. Chính phủ Ford im lặng một cách rất có ý nghĩa và Dinh Độc Lập cố gắng vùng vẫy tuyệt vọng.

Sử dụng Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù giải vây thị xã. Nhưng dẫu người lính biệt kích của đơn vị kiệt liệt này có khả năng tác chiến cao đến bao nhiêu, họ cũng đành thúc thủ trong một thế trận thụ động toàn diện – Những bãi đáp đổ quân bị phục kích, những toán biệt kích không thể nào tấn công vào những vị trí công sự cố thủ do đơn vị cộng sản vừa lấn chiếm được – Những vị trí phải cần đến những đại đơn vị (Sư đoàn Bộ binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục chiến) với vũ khí của chiến tranh trận địa, quy ước, (Pháo binh, Chiến xa, Phi cơ yểm trợ) mới có thể giải quyết. Thế nên, như một điều tất nhiên, người lính biệt kích của Liên đoàn 81 bị phơi thân trần trụi, tan tác trước hàng rào hỏa lực chực sẵn hung hiểm của đối phương, đơn vị bị xé nát thành từng mảnh nhỏ. Cuộc giải cứu thị xã Phước Long biến thành lần thất trận của một đơn vị bách thắng.

Hình ảnh Thiếu Tá Vũ Xuân Thông, Tham mưu Trưởng liên đoàn nét mặt gầm cau, khóc uất trong tay ôm của nữ ký giả Thục Viên (báo Sóng Thần, Sài Gòn) tại sân bay Biên Hòa sau khi được cứu thoát từ Phước Long, hiện thực tình trạng suy sụp không thể giải cứu không chỉ riêng một đơn vị quân đội, nhưng còn là báo hiệu cơn hấp hối cận kề của một quốc gia – Nước Việt Nam Cộng hòa. Sài Gòn im lặng trong đêm mưa cuối năm. Đêm giới nghiêm, điện tắt, đường phố tối tăm, sũng nước. Buổi ra mắt sách Tù Binh và Hòa Bình (có thể là buổi ra mắt sách cuối cùng của sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam) tuy được tồ chức trang trọng nơi phòng tiếp tân bề thế của khách sạn Continental diễn ra trong không khí ngột ngạt của tình hình, đêm ẩm ướt thời tiết phiền buồn. Những người tham dự phát biểu cố nói những tiếng lời mạnh mẽ, nhưng hình như không mấy ai tin vào lời nói của mình, những Chủ tịch Quốc hội, Phu nhân tướng lãnh của hệ thống cầm quyền, điều hành vận động công cuộc chiến tranh Chính trị miền Nam.

Riêng một mình ông, Như Phong Lê Văn Tiến nói những tiếng lời rất thật. Và ông thật tin vào lời nói của mình. Như Phong chống tay vào bục thuyết trình, nhìn thẳng người nghe, ánh mắt long lanh sắc nét sau lớp kính trắng. Ông không nói chuyện văn chương. Ông cũng không trình bày quan điểm Chính trị thuận thảo, thích hợp với yêu cầu buổi tiếp tân.

Ông nói về sự thật của một hòa bình không hề có và trận chiến đang tiếp diễn. Chúng ta phải làm gì? Như thế nào? Nếu không tất cả sẽ là muộn màng, không phương giải cứu!

Ông bày ra một sự thật khắc nghiệt mà mọi người không ai muốn nghe đến. Bất chấp điều lịch sự hòa hoãn đối với buổi tiếp tân giới thiệu một cuốn sách do cơ sở Đất Sống của Mặc Thu, Chu Tử (những bạn thân của ông) bảo trợ. Lời Như Phong lại trình bày sau khi Chủ tịch Quốc hội Trần Văn Lắm phát biểu về một nội dung phấn khởi: “Tình hình Chính trị sẽ khả quan nếu như thực hiện một cuộc ngưng bắn thực sự và thành lập được Hội đồng hòa giải gồm ba thành phần với điều kiện – Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm ra đi”.

Chủ tịch Lắm không nói rõ, nhưng ai cũng hiểu, khi những chức quyền kia không tồn tại thì chính ông sẽ là người lãnh đạo miền Nam (phía Cộng hòa – một phe của ba thành phần) theo tinh thần, nội dung Hiệp định, phù hợp với hiến pháp Đệ Nhị Cộng hòa. Trong hai nội dung nầy, lẽ tất nhiên, số đông người hiện diện không mấy ai đồng thuận sự thật mà Như Phong vừa nói thẳng ra. Ông chấm dứt phần trình bày bằng những câu thơ ngắn. Âm thanh lời thơ tan loãng trong nhịp mưa rơi nặng ngoài hàng hiên. Ông rời bục thuyết trình với bước đi chậm, vẻ mệt mỏi được che giấu mau chóng qua tiếng cười hào sảng cợt đùa. Chẳng lẽ ông anh này nói như thế mà đúng hay sao? Tôi nhìn ra đường Tự Do vắng bóng người qua lại, mặt nhựa loang loáng nước mưa, lay lắt ánh đèn vàng đục khi gió thổi động những tàng me … Sài Gòn đêm nay mà sao buồn thế này?

Tháng 5, 1975, đêm trước ngày trình diện đi tù, tôi ngồi với Tạ Ký nơi hàng hiên âm u ở Chợ Đũi, Sài Gòn điện tắt, trời ủ giông. Tạ Ký gục xuống đầu tóc bạc tơi tả, than câu ai oán giữa kẻ răng ngậm chặt ống tầu thuốc … Sài Gòn đêm nay buồn quá mày ơi!! Anh đánh lên vai, lưng tôi, xong đánh vào ngực mình. Tôi nhớ lời Như Phong với cảm giác gờn gợn nơi sống lưng. Chỉ là mùa đông trước, không đầy sáu tháng, khoảng nửa năm.

1991. Những lần vui không thật

Sáng đầu năm 1991, Đằng Giao ngừng xe Honda, chạy nhanh vào nhà tôi, hốt hoảng … Ông đi đi, đừng xuống dưới tôi, ông Ba vừa bị bắt lại. Trước nhà tôi, công an nó rình từ chiều hôm qua. Tôi không kịp hỏi câu thứ hai, lên lầu lấy chiếc sac marin nhà binh đã để sẵn áo quần và những cuốn sách cần thiết mà tôi luôn chuẩn bị cho những lần vượt biên kể từ ngày ra tù hai năm trước, thảy lên ngang bình xăng xe Honda 67, hướng về phía xa lộ Biên Hòa chạy biến như một tên trẻ tuổi hung hãn. Đến chiều tối khi đã yên ổn nơi chỗ tạm trú kín đáo ở làng Đại học Thủ Đức, ngồi trước bàn thờ Phật trên căn gác vắng im, tính lại sự việc xảy ra trong ngày, bỗng dưng tôi bật lời than não nề không ngăn giữ … Vào cảnh này mà bị tù thêm lần nữa thì thật là khốn nạn. Biết có chịu nổi không đây? Muỗi vo ve bay dày theo bóng tối ngột ngạt của căn phòng châm chích lên cánh tay, nhưng tôi không buồn đuổi bởi có liền liên tưởng … Ông Ba giờ này hằn đã vào cachot. Từ “kinh nghiệm” đã có về ngày đầu tiên mỗi khi vào phòng kiên giam của chế độ tù cộng sản, nên tôi hiểu tận đủ tình cảnh của phận tù “ngày vào cùm” – cũng là dịp con người bị đọa đày thân xác, khủng bố tinh thần không thương xót …

Nếu đã biết thương xót thì đâu còn nhốt người vô cachot anh ơi … Những ý nghĩ rời rạc đến đây chững lại với so sánh: Ông Ba hình như lớn hơn Ông Cả (anh Doãn Quốc Sỹ, sinh năm 1923) một tuổi, bằng tuổi  mẹ mình, tuổi Nhâm Tuất. Tôi ngồi im trong bóngđêm, đầu gục xuống cánh tay – cách ngồi từng áp dụng suốt gần mười năm ở những hầm giam ngoài Bắc – ngồi miết qua hết đêm. Thỉnh thoảng ngẩng đầu lên nhìn xuyên bóng tối, tưởng tượng nét mặt tượng Phật trầm ngâm dưới chấm đèn mờ đỏ từ đầu chân hương chạy điện.

Chỉ vì những chữ viết mà còn người bị đối xử tàn tệ như thế sao? Ông Ba cũng chịu gần bằng số năm tù như mình chứ đâu ít, mà chỉ bị thuần kiên giam, biệt giam! Cảm giác mừng vui hào hứng vì chạy thoát được lần vây bắt buối sáng không còn nữa, bây giờ chỉ còn lại phần nặng nhọc do cảm ứng “được hạnh phúc khi người khác khổ đau – lại là người thân thiết, thương kính” – Phản ứng có thật khi đứng trước Đại lộ Kinh Hoàng của Quảng Trị, trước cửa vào An Lộc, nơi ngã Ba Xa Cam, năm 1972. Phản ứng “có lỗi” ngày Chủ Nhật 15 tháng 3 di tản Pleiku; cách tự xét mình “phạm tội” khi thấy bàn chân đỏ bầm của đứa bé chết trên tay người mẹ thò ra dưới lớp áo dài bên đường đèo Hải Vân ngày 25 của tháng, năm thắt nghẹn, cuối Xuân 1975.

Không hiểu ông còn khôi hài được nữa hay không, lạ thật, sao trời cứ bắt người như thế hoạn nạn, ông Ba lại lớn hơn mình đến hai mươi tuổi mới khổ hơn nữa?! Tôi tự giải thoát tình cảnh khắc khoải bằng cách thức lúng túng vụng về tội nghiệp để qua đêm. Vừa thương thân vừa thương người. Ông Ba ơi! Bằng biện pháp kiên cường bất bạo động, bất hợp tác, hợp cùng vận động áp lực của các tổ chức nhân quyền, báo chí thế giới, nên cuối cùng, khoảng cuối mùa Hè năm 1992, nhà cầm quyền cộng sản phải thả ông ra sau nhiều lần đình hoãn, hứa hẹn. Tôi lên nhà Đằng Giao để gặp ông, mường tượng một con người tan tác, hư hao vì cảnh khổ. Nhưng sự thật lại khác hẳn. Từ chân cầu thang, đã nghe tiếng cười hào sảng, thống khoái với lời nói tự tin:

– Chúng nó (kẻ giam giữ) hỏi tôi: Ông nhịn đói như thế mà không hề gì à? Tôi trả lời: Tôi có phép đấy!

Tôi bước lên, phòng ngủ trước 1975 của Chu Tử, một khuôn mặt rực sáng thanh thản hiện ra nơi cuối phòng giữa những bức tranh sơn mài lộng lẫy của Đằng Giao. Ông Ba đón tôi bằng cách nói khẳng định mạnh mẽ hằng có:

– Này, đừng viết ấm ớ gì nhá, chúng nó lại “tó” cho nữa thì khổ thân. Anh bắt chước tôi không được đâu, đã ở dưới nhà quê kia thì ở yên đấy, hôm nào tôi, ông bà Sĩ với vợ chồng cậu Giao về thăm cậu.

Thoáng ngỡ ngàng vì tình cảnh vượt ra ngoài dự tính, tôi vụng về phân bua:

– Ông Ba bị giam, em không vào thăm được?

– Cậu vào thăm thế nào được, tưởng dễ gặp tôi lắm à … mà chắc gì tôi chịu tiếp! Mấy tên ngoài Bắc vào đòi gặp, tôi cóc nói tiếng nào. Ông cười rộng, đắc ý với cách ứng xử của mình.

– Ông Ba nói thế chứ khi họ đòi lên “làm việc” thì mình cũng phải trả lời các câu hỏi của họ chứ. Tôi đẩy đưa câu chuyện.

Ông giả vờ vụt quắc mắt, nghiêm mặt, xem như một cách xúc phạm, không tin lời ông nói.

– Anh chẳng biết gì cả, tôi vừa nói với cậu Giao là tôi “có phép” mà … Đây này …

Ông đưa ra một tờ giấy viết tay.

– Đây, tôi đọc cho cả hai cậu và cô Thủy (vợ Đằng Giao) cùng nghe. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, độc lập, tự do, hạnh phúc … Đơn xin phép tĩnh tâm và nhịn ăn. Tôi ký tên dưới đây, Lê Văn Tiến sinh 1923 tại Nam Định … làm đơn này để xin ban lãnh đạo trại giam cho tôi được Tĩnh Tâm (nhấn mạnh chữ Tĩnh

Tâm) để cầu nguyện cho Tổ quốc và Dân tộc … Thời gian tĩnh tâm là bảy tuần, bốn mươi chín ngày … “.

Ông ngừng đọc, đưa mắt lên nhìn chúng tôi, hóm hỉnh. Đúng bốn mươi chín ngày đấy nhá. Bốn mươi chín ngày, tớ vào thiền. Vào đại thiền. Bữa ăn hội ngộ vẫn có nguyên cách sống động vui hòa của sinh hoạt xưa cũ nơi căn phòng này trước 1975, ngày Ông Chu còn với chúng tôi, nhưng sau buổi trà, khi tôi đứng lên đội chiếc mũ vải, khoác xắc  mang lưng chuẩn bị về lại Lái Thiêu (Bình Dương, nơi bị chỉ định cư trú theo lệnh quản chế của công an) thì Ông Ba nghiêm mặt, ân cần:

– Cậu ở một mình, có gì thì tìm cách báo cho vợ chồng cậu Giao hay liền, có vàng hay tiền bạc gì nên gởi cô Thủy để có cái mà thăm nuôi. Tôi cũng thế, chưa hẳn yên đâu, khi nào ra khỏi nhà thì không nên đến thẳng đây vội, tới gần đây thì phải trông chừng từ đằng xa. Khi về, nếu thấy đứa nào theo mình thì tránh qua đường khác và đi luôn đến nơi khác. Trong túi vải phải có vài gói mì ăn liền, để nhỡ nó vớ phải dọc đường thì cũng có cái ăn cầm hơi. Cậu không thể áp dụng cái “phép” của tôi được đâu!

Tôi đặt tay lên cánh tay khô gầy, da nâu xạm.

– Em về nghe ông Ba, hôm nào em đón ông Ba và ông Cả lên nhà em chơi.

– Chẳng cần cậu mời, tôi sẽ đến, mà không chừng tôi mời cậu qua nhà tôi, cũng sẽ ở trên vùng của cậu. Nhưng tôi không như cậu, tôi sẽ trồng bông, trồng lan, trồng hồng bán ra nước ngoài, chứ không bán lu, bán chén bát nhà quê như cậu.

Ông trở lại cách thế náo hoạt cười vui. Nhưng khi đưa tôi ra đến đường, Đằng Giao nói nhỏ:

– Ông Ba trông thế chứ yếu lắm, ông cố làm vuiđể chúng ta khỏi lo. Bảy mươi tuổi mà cảnh tù như thế, người bằng thép cũng phải rã ra. Tính thêm cái hạn tù này là ông ấy với anh bằng một cỡ đấy.

– Tôi biết ..

Tôi trả lời tiếng nhỏ, lên xe, lướt mắt nhìn qua bên  kia đường, nơi hành lang Thương xá Tam Đa, không bóng dáng những người thường ngày ngồi ở nhữngchiếc đòn thấp của quán hàng cà phê. Thôi chứ mấy anh, mười bốn năm tù không đủ cho các anh hài lòng hay sao? Từ trong nhà Đằng Giao nói với:

– Ông đi xe cẩn thận nghe.

Giọng bạn không vui. Lòng tôi cũng nặng phần ủ dột. Quãng đường mười mấy cây số về Lái Thiêu sao đêm nay quá dài. Qua cầu sắt An Lộc (tên cũ của cầu An Phú Đông), thấy thấp thoáng những cô gái còn rất trẻ đứng đón khách, những tay lái xe vận tải hạng nặng chạy đường xa lộ Đại Hàn, vòng đai Sài Gòn. Khoảng tuổi các cô độ chừng sinh sau 1968, năm trận chiến lớn đã tận lực xảy ra nơi đây. Gần ba mươi năm, cảnh sống chỉ đổi thay về hình thức theo thời gian – để con người và nỗi khổ mãi mãi không thôi. Căn nhà vuông vức với hàng hiên rộng, mái lợp lá gồi, không cửa chính lẫn cửa sổ. Bốn chiếc võng cột thẳng góc theo những chiếc cột cái, bốn người nằm duỗi đong đưa, lớn tiếng chuyện trò. Ông Ba mở đầu để hai người nằm đối cạnh nghe được.

– Các ông thấy hắn ta kinh khủng chưa, cả một vườn hồng của tôi chết tiệt, không còn được một bông!

– Thì em đã nói rồi, cái tay em nó “hậu đậu” mà, sờ cái gì vỡ cái ấy, đã nói là chỉ cuốc đất, gánh nước  thôi chứ không “hái hoa, bắt bướm” được. Ông Ba nhờ tưới hoa thì em làm, nhưng không bảo đảm.

– Thế thì hồng chết nào phải lỗi tại “thằng nhỏ” ông Ba.

Tôi phân trần với anh Sĩ và Đằng Giao đang lắng nghe câu chuyện. Có tiếng Thủy gọi từ bếp:

– Ông Ba có cái bát nào lớn lớn để đựng thịt gà không đây?

– Cô hỏi hắn ta ấy, chắc làm vỡ của tôi hết rồi, chiều hôm qua hắn nấu bếp. Thế mà cũng là nhà văn, anh phải là nhà “văng” mới phải.

Ông hạ giọng vì tôi nằm kế tiếp. Anh Sĩ từ phía đối diện cười vui:

– Thế nhưng, Phan Nhật Nam cũng giúp anh được khối việc đấy, cậu ấy tưới hoa thế nào không biết, nhưng sen mọc vào đến gầm giường ông cơ mà!

– Ấy là sen tự động bò từ ngoài ao vào đấy chứ, hắn ta có phải tưới sen đâu. Hắn mà tưới sen thì ắt sen cũng tàn luôn. Chán mớ đời.

Ông Ba cười vui rung chiếc võng.

Bữa ăn dọn trên nền gạch, thức ăn bày lên giấy báo. Thủy phân trần:

– Cháu cố tìm mấy cái dĩa mà chẳng thấy cái nào, thôi ông Ba và bác Sĩ ăn theo kiểu dã chiến.

Anh Sĩ thật thà:

– Thế Phan Nhật Nam làm vỡ hết bát rồi đấy hở?

– Hắn ta không làm vỡ, nhưng quăng tất cả xuống giếng. Tôi nhặt lên để trên nhà ông Ba (người chủ đất, bạn của anh chị Doãn Quốc Sỹ).

– Ông Ba nói thế chứ em chỉ đánh rơi cái dĩa nhôm, mười mấy năm đi tù chuyên ở kiên giam, nên đâu biết việc chén bát, bếp núc như mấy cha đi lao động bên ngoài với anh em. Bữa ăn tiếp tục theo những câu chuyện về lan, cụ thể với những giò lan rung rinh đẹp như tranh vẽ treo ở góc vườn, nơi ít bóng nắng nhất.

– Này, đừng động đến mấy giò lan của tôi nhá, còn phải có cái để trình làng với bà con chứ. Ông Ba răn đe tôi để chuyển qua một đề tài khác. Trưa nắng đổ ngoài hiên, anh Sĩ lên nhà trên của ông chủ đất, nhường võng cho Thủy; ông Ba tháo kính, bình yên ngủ thiêm thiếp. Tôi đi vào ngăn kín đáo nhất của căn nhà. Một bàn thờ đơn giản trên tấm gỗ đóng thẳng góc với bức vách. Hình những người đã chết yên lặng. Có tấm ảnh một người còn trẻ nhìn nghiêng, mặt hơi cúi xuống – Nhà văn Hoàng Đạo, người lập thuyết của Tự Lực Văn Đoàn đầu thế kỷ. Hóa ra ông Ba cũng chỉ sống-với-những-người- đã-chết như mình, chỉ có tấm ảnh của bà già đi đâu cũng mang theo. Tôi nói thầm vì thấy những chân hương còn mới – Thói quen của chính tôi khi ra khỏi nhà, hoặc khi vừa về đến nhà. Mẹ mình cũng chết trẻ như những người này. Chỉ người sống còn lại chịu đựng đủ thôi.

Đêm ấy, sau khi anh chị Doãn Quốc Sỹ, vợ chồng Giao – Thủy trở về Sài Gòn từ chiều tối, tôi ở lại ngồi cùng ông Ba cho đến khuya. Ông chụp cho tôi tấm ảnh với chó Ky. Con chó nhỏ run rấy vì cảm xúc khi được người bồng bế, vuốt ve, bày tỏ lòng vui mừng bằng cách nằm ngã ngửa, hai chân đạp loạn.

– Coi chừng hắn tè ra đấy, chỉ có cái tội là hay tè bậy chứ ngoan và khôn ra phết. Mỗi khi tôi đi Sài Gòn là hắn cứ ra nằm ngoài cầu đợi tiếng xe tôi về. Có nó cũng vui.

Ông đưa tay bế chó Ky từ dưới đất. Con vật kêu ư ử xa xót, cong kín người trong lòng chủ, lông gáy dựng đứng …

– Ky, ngoan nào, làm gì thế này … Ông Ba vỗ vỗ lưng chó.

– Ông Ba biết mình sống đây là giữa những người chết không?

Tôi thì thầm giải thích.

– Cậu nói gì tôi không rõ.

Ngọn đèn điện ở chái hiên loáng sáng mặt kính trắng. Tôi chỉ đám mía cuối căn vườn. Đầu năm 1968, tại đây, nơi góc vườn mía nầy, đơn vị tôi, Tiểu đoàn 2 Dù đụng nặng. Bạn tôi, Nguyễn Ngọc Khiêm chết tại đây. Mỗi sáng đưa quân đi là thế nào cũng có người chết. Con Ky nó vừa thấy ma đấy.

– Thì ma cũng là người thôi, cậu nói vớ vẩn bỏ xừ đi .. Thôi đi ngủ. Trước khi vào phòng ngủ, ông ngừng ở ngăn nhà ngang đốt nén hương. Động tác lặng lẽ, chậm rãi, thắm thiết, đơn độc.

Qua thế kỷ hai mươi

Bi kịch vẫn không có kết thúc

Cuối tháng 12, năm 2001. Như một điều xếp đặt cố ý, tin ông Ba mất không đến từ những người bạn ở Washington DC mà tôi đã dò hỏi suốt một tuần liền. Anh Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Vương Toại đồng đi vắng, Phạm Trần bị tai nạn không ra khỏi nhà được, Uyên Thao vào nhà thương. Cuối cùng, tin dữ lại đến từ Giao – Thủy bên kia nửa vòng trái đất với những chi tiết trước, sau cái chết. Ông Ba không muốn làm một điều gì về cái chết của mình. Tóm lại là Nothing. Thư email của vợ chồng bạn chấm dứt ngắn ngủi như bản văn vô hồn trên mặt máy computer. Vài ngày sau đọc những bài báo của Nguyễn Ngọc Linh, Trọng Kim trên tờ Ngày Nay, tôi vẫn không tìm được điều gì khác hơn từ những người vốn có liên hệ với ông thuở trước. Bởi, ông sống ngoài, khác cuộc sống thường hằng của mỗi chúng ta – Như Phong sống từ, với sự Không – Như cơn gió vô hồi ông chọn làm danh hiệu. Chỉ là cơn gió thổi qua. Đầu năm 1997, nhân lần lên DC thăm người quen cùng với C., cũng là dịp để chúng tôi cố gắng hòa giải những xung khắc kéo dài từ nhiều năm trước. Gặp

được Ông Ba lần đầu tiên kể từ ngày qua Mỹ. Ông cười vui, sống động và lần đầu tiên ngõ ý lấn sâu vào đời sống riêng tư của cá nhân tôi khi gặp nhân cách mực thước, nghiêm trang của C.

– Thằng cha này phải bị đánh đòn!

Ông phê bình tôi với Ngô Vương Toại nhân lúc C. đang chuyện vui cùng chị Trần Thị Thức, vợ anh Đoàn Viết Hoạt (hàm ý đố vỡ giữa hai chúng tôi là do phần lỗi của tôi đối với người ân nghĩa xứng đáng kia). Nhân lúc phía đàn bà đang bận chuyện, Toại thấp giọng:

– Ông nói cậu Nam có lỗi, nhưng anh ấy chỉ lỗi với một người. Còn ông lỗi nặng lắm.

– Anh nói tôi lỗi gì? Ông Ba hỏi gấp.

Toại cất ống tẩu, nói chắc từng tiếng:

– Ông là người có lòng, có lực, có mưu, mà mấy năm kia ở Sài Gòn mặc cho mấy ông tướng gây bao nhiêu điều đáng trách, để đến nay cơ sự như thế này, cả đám thân sơ thất sở. Ông Hoạt kia biết bao giờ mới được ra?

Toại chỉ về phía chị Thức. Ông Ba nói lảng, giọng đùa mỉa:

– Tôi chỉ cho chữ, còn các anh cầm quyền kia phải chịu trách nhiệm về quyết định của họ chứ. Tôi chỉ

ngang cán bộ xã thôi, quyền hành gì, anh nói quá! Và ông chuyển qua vấn đề văn bút hải ngoại với cách hài hước.

– Này, nay tôi giới thiệu cho các anh một tay làm Chủ tịch văn bút rất có hạng. Hắn ta có tác phẩm, có giải thưởng quốc tế, làm báo chuyên nghiệp, viết văn lâu năm, tiếng Tây, tiếng Mỹ nói như gió.

Tôi và Toại đồng hỏi dồn:

– Ai vậy ông Ba?

– Là tui!

Ông Ba thương kính,

Ông đã đi hết một đời người. Cuộc sống ngoại hạng, bão táp với thái độ thản nhiên của một đạo gia bản lĩnh. Và điều quý nhất – Ông không hề có cơ tâm, lời nói, hoặc hành vi mang tính ác độc – Ông sống cùng người (kể cả những đối phương đã gây cho ông bao điều bi lụy – chỉ trừ cái chết mà ông đã thoát được bao phen bởi một ơn che chở màu nhiệm rất cụ thể) với tâm chất một hiền nhân – quân tử. Và ông cũng là nạn nhân đầu tiên của tất cả mọi chế độ, những kẻ cầm quyền.

Bởi tất cả những kẻ cầm quyền Đông – Tây, Kim – Cổ xưa nay chỉ mua chuộc người bằng hai khuyến dụ: Lợi và danh chứ không có gì hơn. Cũng không có gì khác. Đặc biệt những “Kẻ Sĩ”, yếu tố “công danh” vượt trội quan trọng một cách đáng kể. Xong, kẻ cầm quyền kia sử dụng những “bầy tôi” để nên “công nghiệp”. Hitler sẽ chỉ là một anh thợ sơn lu loa vô hại nếu không có Heinrich Himmler, Rudolf Hess …thực hiện tối đa kỹ thuật vận động quần chúng để biến con người nhiều khuyết điểm, mồm miệng này nên người “cứu rỗi” của cả dân tộc – với kết quả cuối  cùng đẩy dân tộc kiên cường kia vào thảm họa vô lường sau 1954.

Ở Việt Nam, dân tộc phương Đông với thói quen đã nên thành một bản năng thứ hai “trọng đạo quân, sư” – Người thủ lãnh đã luôn đồng nghĩa với phẩm tính của Chân – Thiện – Mỹ. Thế nên, một gã thô lậu, ác hiểm như Lê Duẩn qua những “kẻ sĩ được cộng sản hóa của đất Bắc” đã biến thành một nhân vật “huyền thoại Anh Ba” suốt tập hồi ký Thời Dựng Đảng đăng dài hạn trên trang nhất báo Nhân Dân ở chỗ trang trọng nhất.

Chữ nghĩa của đám văn lại này đã vô cùng kiến hiệu đến nỗi Indira Gandhi phải trầm trồ khen ngợi ngày Duẩn đến thăm Ấn Độ – Nhân vật đã tạo nên chiến thắng thần kỳ 1975 ở Nam Việt Nam. Hoặc cái xác chết nằm ở ngôi mồ Ba Đình nơi Hà Nội luôn “sống mãi trong sự nghiệp chúng ta” do không phải chỉ chất hóa học bơm vào trong khối thịt da hư rữa kia, nhưng từ một hệ thống sách, chuyện, phim ảnh, bài hát, tài liệu giáo khoa, đồ chơi con trẻ được bày  ra suốt hơn nửa thế kỷ (từ thập niên 40) nên xác chết ấy đã trở thành hiển thánh tác động không riêng lên tâm lý, thân xác của người mà cả lá, hoa, con vật …

Đàn cá kia còn vui với ai? Thơm cho ai nữa hở hoa nhài!! Thơ tố hữu khóc than về cái chết hồ chí minh. (Người viết không viết hoa những danh tự vì chỉ là giả danh – không là tên riêng của con người).

Nhưng khi “Kẻ Sĩ” giữ đúng phẩm cách cao quý của mình – bứt thoát khỏi lợi – danh thì họ lập tức trở thành nạn nhân không thương tiếc – Nạn nhân đầu tiên của tất cả mọi chế độ. Những kẻ cầm quyền. Khái Hưng, Nhượng Tống, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm … trước 1945. Và sau năm tháng kể trên, suốt hai miền Nam – Bắc, của hai chế độ, cộng sản lẫn cộng hòa với Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán … ngoài Bắc; Tạ Chí Diệp, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Trần Điền, Phan Ngô … trong Nam.

Cái chết bi tráng của Nhất Linh (1963), lần chết lặng lẽ phẫn nộ của Tam Ích Lê Nguyên Tiệp (1972) là điển hình về bế tắc không cơ may giải quyết của những kẻ sĩ không thể tồn tại cùng với chế độ, xã hội mà các ông đã chọn lựa. Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường sau 1975 khi đi ra khỏi nước mới nói  được tiếng lời uất ức đắng cay đối với những người cầm quyền qua một chủ nghĩa mà các vị đã quyết định phục vụ từ thuở thanh xuân.

Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường phải nhận những cái chết bi thảm hờn oan nơi trại Z30D của công an cộng sản miền Nam. Bùi Giáng còn có thể làm gì hơn ngoài cách tự phá thân bằng những cơn điên tỉnh rực sáng thần trí. Nhưng Như Phong Lê Văn Tiến có cách vượt thoát của riêng ông. Ông Hóa Không tất cả. Ông đã qua được cơn bão táp năm 1963 với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa. Ông tháo gỡ được những mắc xích ràng buộc của chế độ quân nhân cầm quyền nơi miền Nam trong những năm 1965, 66, 67 … Chế độ mà ông đã thối vào đó một sức sống chính danh cho những người lãnh đạo mặc áo lính. Và cuối cùng, ông tự chọn mình một quyết định hiểm nghèo với vị thế “người tù nguy hiểm nhất của chế độ” – suốt giai đoạn hai đợt cầm tù sau 30 tháng 4, 1975 – Trong mười bốn năm Như Phong Lê Văn Tiến luôn ở biệt giam, chịu tình trạng kiên giam.

Trong tự khai lý lịch của bản thỉnh nguyện kể ở đoạn trên, Ông Ba khai “không có” về yếu tố gia cảnh. Ông vẫn là người đàn ông không gia đình cho đến ngày nhắm mắt vĩnh viễn. Bởi Ông Ba cũng, “Bụi chỉ có một niềm riêng với Nước – Như Nguyễn Trãi đã nói một lần tâm thức u uẩn ở Côn Sơn. Chỉ khác, Ức Trai chịu thêm phần đau thương di lụy vì án tội ba họ bị hành hình. Phải chăng, Như Phong đã hiểu nghĩa đoạn trường từ đau đớn của người xưa. Vĩnh biệt Ông Ba. Mong sẽ có một ngày tôi được đặt lên bàn thờ ông một hoa hồng để đền bù vườn hồng đã làm hư của Ông Ba.

Hai mươi ngày sau lần

Như Phong theo cơn gió miên viễn, vô hồi …

Phan Nhật Nam,

Minnesota, 8 tháng 1, 2002

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều
Post by Sơn râu 12 Feb 2026

6.Trái tim một người đàn bà

Serafima Vitalyevna nhỏ bé đến nỗi người ta không thể không gọi nàng là “Simochka”. Nàng bận bộ y phục bằng vải len dày, choàng chiếc khăn len ấm trên vai và nàng là một trung úy thuộc Bộ An ninh quốc gia. 
Tất cả những viên chức tự do làm việc trong Viện Nghiên cứu này đều là sĩ quan an ninh. 
Những viên chức tự do, theo những đạo luật do Staline ban hành áp dụng trên khắp lãnh thổ Liên ban Xô Viết có rất nhiều quyền lợi. Trong số này có cái quyền được làm việc. Tuy vậy, quyền này chỉ giới hạn trong có tám tiếng đồng hồ một ngày và sự làm việc của họ không có tính cách sáng tạo, họ chỉ có việc kiểm soát những tù nhân. Bọn tù, để bù lại tình trạng bị tước đoạt tất cả những quyền khác, được hưởng quyền làm việc rộng rãi hơn: quyền làm việc mười hai tiếng đồng hồ một ngày. Những viên chức tự do thay phiên nhau có mặt tuần tự ở khắp các phòng thí nghiệm và vì vậy, bọn tù bị kiểm soát liên tục không ngừng kể cả trong bữa ăn sáng, tức là từ 6 giờ sáng cho đến 11 giờ đêm. 
Đêm nay, Simochka đến phiên đi làm đêm. Trong Phòng Nghiên cứu âm thính, người thiếu nữ nhỏ bé như con chim này là nhân vật duy nhất đại diện cho chính quyền, cho hành pháp. 
Theo những điều luật, nàng có mặt để bắt bọn tù phải làm việc chứ không được ngồi chơi, nói chuyện láo, để họ không được dùng những dụng cụ trong phòng vào việc chế tạo vũ khí, đặt mìn phá hoại, đào đường hầm ra ngoài và nhất là để họ không thể dùng những bộ phận truyền thanh để chế máy thâu phát thanh liên lạc với Tòa Bạch ốc. Tới mười một giờ thiếu mười phút, nàng có bổn phận thâu lượm tất cả những tài liệu tối mật cất vào tủ sắt và sau cùng, đóng cửa và khóa cửa phòng. Trước khi về, nàng còn phải niêm phong cửa phòng để không một ai có thể lén vào phòng được. 
Simochka mới tốt nghiệp khóa kỹ sư truyền tin được nửa năm và nàng được phái ngay về Viện Nghiên cứu khoa học tối bí mật này để làm việc nhờ hồ sơ an ninh trong vắt của nàng. Viện Nghiên cứu này, vì những lý do an ninh, có một con số để gọi thay tên nhưng những tù nhân vẫn cứ gọi bậy là nhà tù. Những viên chức được nhận làm việc ở đây lập tức được hưởng quy chế đặc biệt, họ được lãnh lương cao hơn, nhiều phụ cấp hơn những công chức thường. Họ được hưởng phụ cấp về cấp bậc, phụ cấp quân phục và người ta chỉ đòi hỏi họ có sự trung thành và mẫn cán. 
Sự kiện ở đây người ta không ai hỏi gì đến những khả năng chuyên môn về khoa học của Simochka là một may mắn cho nàng. Không phải chỉ riêng nàng mà thôi, rất nhiều cô bạn cùng tốt nghiệp với nàng đều không hiểu biết gì hết về khoa học. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Những thiếu nữ như Simochka tuy có học hết chương trình trung học nhưng rất kém căn bản Toán và Vật lý. Khi vào đại học, các cô được biết rằng trong những phiên họp ông Viện trưởng thường bất mãn với các giáo sư cho sinh viên điểm kém, và các cô còn biết rằng sinh viên chẳng cần học gì hết vẫn được chứng chỉ tốt nghiệp như thường. Ở Viện Đại học, mỗi lần có thì giờ học về Toán và kỹ thuật vô tuyến truyền tin, các cô lạc lõng như những người mò mẫm trong rừng rậm. Những thì giò dành cho việc học chuyên môn này rất ít, ít đến gần như hoàn toàn không có. Cứ mỗi một mùa các sinh viên lại rời trường để về các nông trại tập thể sinh hoạt canh tác mất chừng một tháng. Ở những nông trại này các sinh viên đi lượm khoai tây, cà rốt. Vì những tháng sinh hoạt canh tác này, khi trở lại trường, họ phải ngồi nghe giảng liên tiếp từ tám giờ đến mười giờ một ngày trong suốt năm, họ không còn thì giờ để học bài và thực tập những gì họ học được. Ngoài ra họ phải dự những buổi học tập chính trị mỗi tối thứ hai trong tuần, mỗi tuần ít nhất họ cũng phải dự một cuộc thảo luận về một vấn đề chính trị nào đó. Rồi họ còn phải làm những công tác xã hội: phát truyền đơn, tổ chức hòa nhạc, diễn kịch. Họ còn phải làm nhiều việc riêng cho họ, tắm rửa, trang điểm, đi mua hàng, may y phục. Đó là chưa kể đến việc đi coi xi nê, đi coi hát, đi nhảy. Nếu một người con gái không được vui chơi trong những năm còn đi học, người con gái đó sẽ suốt đời không còn biết vui chơi là gì. Khi đi thi Simochka và những cô bạn cùng học của nàng viết những bài giải vào những mảnh giấy dấu vào những nơi mà đàn ông không có quyền khám và trong giờ thi, họ lấy ra những mảnh giấy nào mà họ cần, vuốt thẳng và đàng hoàng đặt lên bàn như tờ giấy nháp. Những vị giám khảo tất nhiên là có thể khám phá ra ngay sự ngu dốt của những nữ sinh viên, nhưng chính họ cũng tối tăm mặt mũi vì cả trăm phiên họp ủy ban, liên ủy ban, học ập chính sách giáo dục, kiểm thảo vì những chương trình kế hoạch, vì những báo cáo thành tích. Họ không thể có thì giờ để kiểm soát các nữ sinh viên nhiều hơn. Nhất là sau một cuộc thi, khi số nữ sinh viên bị đánh hỏng nhiều, không những chỉ những giáo sư bị chỉ trích mà thôi, cả những giám khảo cũng bị kết tội là… phá hoại. Không ai muốn nghe thấy hai tiếng phá hoại. Trong xã hội cộng sản, chỉ có thành công chứ không có thất bại, nhất là không thể có chuyện sinh viên dốt. Những vị giám khảo không tìm cách đánh hỏng thí sinh, ngược lại, họ tìm cách cho thí sinh đậu thật nhiều, càng đậu nhiều chừng nào càng tốt cho họ chừng ấy. 
Trong những ngày học cuối cùng. Simochka và nhiều cô bạn cùng học thấy rằng họ không yêu nghề chuyên môn này chút nào, họ thấy đó là một nghề đáng nản, không chút hào hứng, nhưng lúc này đã muộn quá rồi họ không còn có thể thay đổi được nữa. Nhiều lúc Simochka run sự khi nghĩ đến chuyện nàng sẽ phải làm cái nghề này suốt đời. 
Rồi nàng được phái về Mavrino. Nàng sung sướng khi thấy người ta không đặt nàng vào việc nghiên cứu, và nàng run sợ khi biết đây là một Viện Nghiên cứu khoa học đặc biệt gồm toàn những tù nhân bị bắt buộc phải làm việc. Cùng được biệt phái tới Mavrino với Simochka còn có chín cô bạn khác cùng tốt nghiệp một khóa với nàng. Các cô được người ta cho biết rằng công tác mà các cô sắp làm đầy quan trọng và nguy hiểm hơn là những công tác trong thời chiến, cá cô sẽ phải sống trong một ổ rắn độc trong đó mỗi lỡ lầm, mỗi sơ xuất đều có hậu quả tai hại vô cùng. Các cô được nói cho biết rằng các cô sắp tới phục vụ ở một nơi có những tên bất lương thuộc hạng hạ tiện nhất của xã hội, những tên không xứng đáng được nói tiếng Nga. Các cô được cảnh cáo rằng những tên phản quốc đó nguy hiểm vô cùng vì chúng không bao giờ để lộ bộ mặt thật đê tiện, bỉ ổi của chúng ra, trái lại, chúng giấu diếm mặt thật của chúng dưới mặt nạ lịch sự, hiền lành, học thức. Nếu có ai hỏi chúng về những tội lỗi mà chúng đã làm – việc này bị cấm chỉ, các nữ đồng chí tuyệt đối không được hỏi – chúng sẽ chối tội với những lời lẽ khéo léo và nghe chúng kể lể, người ta sẽ có thể lầm tưởng rằng chúng bị oan, chúng đóng vai nạn nhân rất giỏi. Tuy vậy, đối với những con rắn độc ấy, các cô không nên tỏ ra ác cảm với chúng, các cô không nên trút thù hận lên đầu chúng, thái độ đúng nhất của các cô là đối xử bình thản với chúng, không bao giờ nói với chúng bất cứ một chuyện gì ngoài chuyện công việc đang làm, không làm giùm chúng bất cứ một việc gì, nhất là việc nhắn tin ra ngoài hay đưa tin từ ngoài vào cho chúng – và mỗi khi thấy có sự vi phạm, hoặc ngờ có vi phạm, hoặc thấy có thể có sự vi phạm, các cô phải lập tực báo cáo ngay với sĩ quan an ninh, thiếu tá Shikin. 
Thiếu tá Shikin là một người đàn ông hơi thấp, vạm vỡ, tự coi mình là quan trọng và luôn luôn quan trọng hóa mọi việc. Ông có cái đầu lớn, mái tóc xám cắt ngắn và hai bàn chân nhỏ nằm trong đôi giầy như giầy học sinh. Trong khi giải thích cho những nữ viên chức mới đến trách vụ của họ và nhân cách hạ tiện của bọn tù nhân. Thiếu tá Shikin nói rằng với một người nhiều kinh nghiệm như ông, bọn tù nhân không thể lừa dối, che đậy được ông điều gì, ông nhìn thấu trái tim rắn độc của chúng nhưng trong số những nữ viên chức mới tới này rất c53 có người mủi lòng xót thương số phận của chúng, người đó sẽ có thể dại dột phạm lỗi vì lòng nhân từ như mượn giùm cho tên tù một quyển sách từ thư viện bên ngoài mang vào, gửi giùm một bức thư, và ông nhấn mạnh: bất kể thư gửi cho Maria hay Tania, tất cả những lá thư đó đều được chuyển đến cho bọn gián điệp ngoại quốc… Và bổn phận của các nữ đồng chí là… ngoài việc kiểm soát bọn tù nếu thấy chị em nào dại dột vi phạm như trên phải lập bức báo cáo ngay. Báo cáo như vậy tức là giúp cho đồng chí bạn khỏi sa vào lẫm lỗi nặng hơn. 
Tất nhiên là họ phải báo cáo với thiếu tá Shikin. 
Sau cùng, thiếu tá Shikin cũng không quên nói cho các nữ viên chức biết rằng phạm tội tư tình với tù nhân sẽ bị trừng phạt như một trọng tội, can phạm sẽ bị đưa ra Tòa án Quân sự và sẽ có thể bị phạt tù khổ sai hai mươi lăm năm. 
Những nữ sinh viên mới ra trường không cô nào không run khi nghĩ đến tương lai đen tối đang chờ đợi họ. Vài cô rơm rớm nước mắt. Nhưng sự nghi ngờ đã được gieo vào lòng họ. Sau buổi nghe giải thích ấy, không cô nào bàn tán về những chuyện họ được nghe nói để khỏi phải bày tỏ những ý nghĩ của mình. 
Buổi sáng đầu tiên Simochka theo thiếu tá kỹ sư Roitman bước vào Phòng Nghiên cứu âm thính, nàng có cảm giác như nàng đi vào chỗ chết, trong vài phút đàu nàng như người sắp ngã ngất, nàng ngẩn ngơ không ghi nhận được gì hết ở quanh nàng. 
Kể từ buổi sáng đó, sáu tháng trời đã trôi qua và có một sự kiện khủng khiếp đã xảy đến với Simochka. Không những niềm tin rằng chế độ Xô Viết luôn luôn bị bọn đế quốc phá hoại đã tan vỡ ở trong nàng, nàng còn không tin rằng tất cả những nhà khoa học bị cầm tù ở đây đều là những người đê tiện phản bội nhân dân, làm những âm mưu có hại cho tổ quốc. Thoạt đầu nàng cho rằng chỉ những tù nhân làm việc ở những phòng khác mới là bọ đê tiện, bọn phản bội. Mỗi ngày, nàng ở gần mười hai tù nhân trong Phòng Nghiên cứu âm thính và nàng thấy họ lạnh lùng, thản nhiên với tự do và tù đày, nhận chịu số mệnh của họ, bình tĩnh sống trước những hạn tù mười và hai mươi lăm năm, nàng tthấy họ đều là những khoa học gia, kỹ sư, chuyên viên, và họ chỉ chú tâm vào công việc – dù đó không phải là việc họ tự ý làm, việc không có nghĩa lý gì đối với họ, việc không đem lại cho họ một đồng thù lao hay một chút vinh quang nào – nàng cố gắng nhưng nàng vẫn không sao có thể nhìn họ như những tên phản bội đê hèn mà nàng từng thấy trong những tuồng hát, những phim ảnh, những tên sau cùng bao giờ cũng bị những nhân viên phản gián thông mình và can đảm lột mặt nạ. 
Sống giữa họ Simochka không thấy sợ hãi chút nào. Nàng cũng không sao có thể thù ghét được họ. Những người này chỉ làm cho nàng kính trọng họ, vì họ có tái, vì họ hiểu biết, vì họ can đảm thẳng thắn chịu đựng số mệnh không may của họ. Và mặc dù lương tâm trách nhiệm của nàng, tình yêu tổ quốc của nàng đòi hỏi nàng phải báo cáo tất cả những vi phạm dù nhỏ nhít, dù vô tình hay hữu ý, của những tù nhân này với sĩ quan an ninh, rất sớm Simochka đã thấy rằng trách nhiệm, cũng như bổn phận, là một cái gì đáng ghét và không nên làm tròn. 
Đặc biệt là nàng không sao làm tròn trách nhiệm dò xét và báo cáo những hành vi của Gleb Nerzhin, người ngồi gần nàng nhất. 
Simochka làm việc dưới sự chỉ dẫn chuyên môn của Nerzhin. Nàng thực hiện những cuộc nghiên cứu, thí nghiệm nhỏ về tiếng nói. Ở Mavrino người ta tìm mức độ trung thực của tiếng nói khi được truyền đi qua điện thoại với nhiều máy điện thoại khác nhau. 
Nerzhin nghiên cứu về tiếng nói trên bình diện toán học. Cuộc nghiên cứu và thí nghiệm chung của Nerzhin và Simochka đem lại kết quả tốt. Nerzhin đã viết được một báo cáo nhiều trang ghi lại kết quả này. Mỗi khi hai người bị du vào tình trạng có quá nhiều việc phải làm. Nerzhin quyết định thật nhanh chóng và sáng suốt những việc gì cần phải làm trước và những việc gì có thể hoãn lại. Trong những giây phút phải quyết định đó, khuôn mặt Nerzhin trở lại trẻ trung và Simochka tưởng tượng lại những cảnh chiến tranh mà nàng thấy trên màn bạc, nàng thấy hiện ra trước mắt hình ảnh Nerzhin trong bộ quân phục với cấp bậc đại úy trên cổ áo, mái tóc hung của chàng tung bay, chàng đứng hiên ngang giữa làn khói súng hô lớn lệnh khai hỏa. 
Nhưng Nerzhin chỉ muốn làm việc nhanh để sau khi làm hết phần việc được người ta trao cho chàng, chàng khỏi phải làm gì hết. Có lần chàng nói với Simochka: “Tôi chỉ hoạt động vì tôi ghét hoạt động”. Nàng e lệ hỏi chàng: “Vậy thì anh thích cái gì?” – “Tôi thích nhìn ngắm, thích suy tưởng…”, Nerzhin đáp. Và đúng như lời chàng nói sau khi đã làm đủ phần việc phải làm trong ngày chàng thường ngồi hàng giờ không thay đổi tư thế. Làn da mặt chàng những lúc ấy trở thành xanh xám, già đi và những nếp nhăn hiện rõ trên đó. Vẻ tự tin của chàng biến đi đâu mất hết. Chàng trở thành chậm chạp và do dự. Chàng suy nghĩ rất lâu trước khi hạ bút viết những hàng chữ nhỏ li ti trên tờ giấy chàng giấu giữa đống hồ sơ, báo cáo và báo chí lộn xộn, trên bàn chàng, cũng như đêm nay, nàng thấy chàng vừa mới viết. Nàng còn nhận thấy Nerzhin cất tờ giấy mới viết đó ở đâu đó trên bàn chứ không bỏ vào ngăn kéo. Nàng tò mò muốn biết chàng viết gì và viết cho ai. Nerzhin hoàn toàn không biết, không ngờ rằng chàng đã trở thành một người chiếm trọn cảm tình và thán phục của Simochka. 
Cuộc đời con gái của Simochka đã trôi qua không có một chút hạnh phúc. Nàng không xinh, không đẹp. Khuôn mặt nàng hư vì cái mũi quá dài, quá nhọn. Tóc nàng thưa và được búi lại thành một búi nhỏ sau ót. Nàng không chỉ bé nhỏ không mà thôi – nhiều người đàn bà thân thể bé nhỏ nhưng vẫn đẹp, vẫn quyến rũ được đàn ông – cái bé nhỏ của nàng còn có sự gày gò, khẳng khiu nữa. Nàng giống một cô học trò tiểu học hơn là một thiếu nữ sắp trở thành thiếu phụ về tuổi tác. Đã thế nàng lại ít nói, ít đùa cợt, nét mặt lúc nào cũng ủ ê. Và sự ít nói, ít đùa cười này làm cho những người thanh niên trẻ tuổi không ai muốn gần nàng. Và năm nay nàng đã hai mươi lăm tuổi, Simochka vẫn chưa được một người đàn ông nào tán tỉnh nàng, chưa người đàn ông nào ôm nàng, chưa người đàn ông nào hôn nàng. 
Nhưng cách đây không lâu, đúng ra là một tháng trước đây, chiếc micro trong phòng ghi âm bị hư và Nerzhin gọi Simochka vào để sửa. Nàng vào đó tay cầm cây dùi mở đanh vít và trong căn phòng hẹp không thể đủ chỗ cho hai người đứng, nàng cúi mặt nhìn xuống chiếc micro trong lúc Nerzhin cũng đang cúi nhìn và trước khi Simochka kịp biết, má nàng chạm vào má chàng. Cái chạm ấy làm cho Simochka tưởng nàng chết ngất ngay tại chỗ. Đáng lẽ ra nàng phải lùi lại nhưng lúc ấy toàn thân nàng như tê liệt, nàng cứ đứng chết trong tư thế ây, mắt mở lớn nhìn ngây vào chiếc micro. Giây phút đó là giây phút dài nhất, kinh dị nhất trong đời nàng – hai má họ nóng ra như bốc lửa, như dính liền vào làm một. Và Nerzhin cũng không nhích ra. Đột ngột, chàng đưa hai tay lên nâng hai bên đầu nàng và nhẹ hôn lên môi nàng. Toàn thân Simochka như chảy ra thành nước. Lúc ấy, nàng không nói gì về luật lệ, và vi phạm, nàng chỉ thiều thào: “Cửa không đóng!…” 
Một tấm màn nhung xanh đậm, lung lay, đu đưa, ngăn cách họ với cuộc hoạt động ồn ào bên ngoài, với những người đang đi lại, làm việc, cười nói bên ngoài, những người có thể vén tấm màn lên để nhìn vào bất cứ lúc nào. Tù nhân Nerzhin, nếu bị bắt gặp, chỉ bị phạt nhiều lắm là mười ngày nằm xà lim. Nữ viên chức Serafima Vitalyeyna, nếu bị bắt gặp, sẽ mất sự trong trắng của hồ sơ lý lịch, mất chức vụ và có thể mất cả tự do. Nhưng nàng không có đủ sức để gỡ nàng ra khỏi đôi bàn tay đang nâng đầu nàng. 
Đây là lần thứ nhất trong đời nàng một người đàn ông hôn nàng. 
Và như vậy là sợi dây xích tàn nhẫn, vô tình bị đứt một mắt xích. Mắt xích đó là mắt xích được làm bằng trái tim một người đàn bà.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 12 Feb 2026

Chương 22 – 30 tháng tư: Hoa Sen Cuối Cùng

Ở Ngũ Giác Đài, ở Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Lan, cũng như ở Bộ Tư Lệnh Lực lượng Đặc Nhiệm ngoài biển, người ta đang sốt ruột. Có bao nhiêu người phải di tản còn sót lại ở tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn? Đã có quá nhiều trò chơi cút bắt và có những con số đã hứa với ông Martin!

2 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Ông Đại sứ cho biết là có 726 người ở tòa đại sứ gồm có 500 người Việt Nam, 53 người Mỹ dân sự và 173 Thủy Quân Lục Chiến. Bên phía quân nhân, họ làm một bài toán. Chỉ cần có 9 chuyến bay loại CH.53 nữa là bốc sạch hết số người ở tòa đại sứ.

Sau đó, ông Martin gọi Nhà Trắng để nói lại con số chính xác hơn:

_ “Có con số gấp đôi người tỵ nạn Việt Nam đã được dự trù.

Trên thật tế, có 1100 người đang chờ, hầu hết là người Việt Nam, một linh mục người Đức, khoảng 12 nhân viên ngoại giao người Đại Hàn trong đó có tướng Lee Đai Yong, cựu Tư Lệnh Phó của 40.000 quân nhân Đại Hàn đã phục vụ ở Việt Nam. Tại Hoa Thạnh Đốn và ở Honolulu, người ta cáu lên:

_ “Ông Martin đã cho di tản quá trễ rồi và bây giờ ông còn không muốn chấm dứt nữa! Người ta đã chơi chúng tôi một vố ở phi trường rồi. Tại Tân Sơn Nhất, trước hết người ta nói có 500 người tỵ nạn, rồi 1000, rồi 2.000.

Đã có nhiều sự cân nhắc chánh trị được xen vào. Ở Hoa Thạnh Đốn , người ta muốn nói là tất cả những người Mỹ phải được di tản càng nhanh càng tốt. Ông Kissinger đã có hứa sẽ họp báo vào lúc 14 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn tức là 2 giờ, giờ Sài Gòn . Bây giờ ông ta phải dời cuộc họp báo lại 16 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn.

Nhất định phải chấm dứt. Lúc 3 giờ 15, giờ Sài Gòn một chiếc CH.46 đáp xuống sân thượng tòa đại sứ. Người phi công trao một công điện viết tay của vị Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương:

_ “Căn cứ trên một phúc trình di tản, tổng số còn phải di tản là 726 người, Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương đã cho phép gởi đi 9 trực thăng, nhưng không thể hơn nữa được. Các chữ “không thể hơn nữa được” được gạch đích 2 lần. Tổng Thống muốn thấy Đại sứ Martin phải có mặt trên chiếc trực thăng cuối cùng. Thân mến.”

Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao mong rằng chiếc trực thăng cuối cùng đó sẽ cất cánh vào lúc 3 gờ 45. Ông Martin được yêu cầu là phải “đáp nhận” bức điện tín này của Tổng Thống Ford.

Người ta cố gắng làm yên lòng những người tỵ nạn Việt Nam đang ở trong sân của tòa đại sứ . Ông Polgar dự trù là ông ta sẽ chấm dứt mọi liên lạc vào lúc 3 giờ 20. Lạ lùng là ngay lúc này và vào giờ này, người trưởng cơ quan CIA lại bị lôi cuốn vào những nhận xét tổng quát. Ông gởi bức điện tín:

_ “Kinh nghiệm duy nhất này trong lịch sử Hoa Kỳ không có nghĩa là Hoa Kỳ không còn là một cường quốc trên thế giới nữa. Tuy nhiên, với sự thất bại nghiêm trọng này và những điều kiện mà Hoa Kỳ đã vướng phải, bắt buộc Hoa Kỳ phải tái xét lại đường lối chánh trị của mình” Để đánh dấu thời điểm này, ông Polgar qui trách cho tánh bần tiện của Quốc Hội:

_ “Những người không chịu rút ra được từ những bài học lịch sử này bắt buộc phải xét lại. Hy vọng là chúng ta không còn một kinh nghiệm kiểu Việt Nam nào khác và chúng ta phải học được bài học này của chúng ta …. ”

  • giờ 30 phút:

Chiếc phi cơ được dùng như Bộ Chỉ Huy nhẹ trên Không phận Sài Gòn là một chiếc C.130, chiếc này đã truyền đi một điện tín được mã hóa. Kể từ giờ này, người ta chỉ có di tản người Mỹ mà thôi, ông đại sứ Martin phải lên chiếc trực thăng đầu tiên được xử dụng. Khi đã cất cánh rồi thì chiếc phi cơ này phải đánh đi một mật hiệu rất đơn giản: cọp, cọp, cọp (nguyên tác: tiger)

Ông Kissinger nói với ông Martin qua điện thoại:

_ “Ông và các vị anh hùng của ông bây giờ là phải trở về nhà.”

Ông Kissinger đã phải dời giờ họp báo của ông lại thêm một giờ nữa.

3 giờ 45

Sau khi nhìn qua một vòng đám đông người tỵ nạn trong sân của tòa đại sứ, Ông Martin mới nói:

_ “Kể từ giờ này các trực thăng trên sân thượng chỉ dành cho người Mỹ.”

Tất cả những người Việt Nam trong các dãy nhà của tòa đại sứ phải xuống sân hết. Ở đó, ông Martin tuyên bố là họ sẽ được các CH53 bốc đi.

Ở Nhà Trắng, tướng Brent Scowcroft nhận được một công điện tối khẩn của ông Martin.

_ “Chúng tôi đề nghị đóng cửa tòa đại sứ lúc 4 giờ 30 ngày 30 tháng 4, giờ địa phương. Vì có nhu cầu phải phá hủy hết máy móc truyền thông. Đây là công điện cuối cùng của tòa đại sứ Sài Gòn”

4 giờ 42 phút

Một chiếc CH.46 có tên là “Lady Ace 09” viết bằng sơn hai bên hông, đáp xuống sân thượng của tòa đại sứ. Phi công trình lệnh viết tay của Tổng Thống:

_ “Chỉ có những người Mỹ mới được lên trực thăng này với phi hành đoàn. Ông đại sứ phải lên chiếc Lady Ace 09 này”

Ông Martin bước lên trực thăng với tùy viên báo chí của mình, ông John Hogan, ông Polgar và đại tá Jacobson. Trên trực thăng, ông gặp lại các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến đến từ phi trường. Nếu đại sứ từ chối không chịu đi trong lúc này thì đã có một lịnh được dự trù: Đó là Lệnh bắt giữ ông Martin do Tổng Tư Lệnh Lực lượng Thái bình Dương, Đô Đốc Gayler ký tên. Ở tòa đại sứ vẫn còn nhiều người Mỹ trong số đó có ông Wolfgang Lehmann. Hai sĩ quan đang cãi nhau. Đại tá John Madison tưởng rằng tất cả người Việt Nam sẽ được di tản. Thiếu tá Jim Kean, trưởng toán Thủy Quân Lục Chiến trả lời là ông ta đã nhận được lệnh phải đi. Ông sẽ ra lệnh binh sĩ của ông phải rút lên sân thượng.

Ngoài bức tường của tòa đại sứ , người Việt Nam xô đẩy nhau, dẫm chân lên nhau la ó om sòm:

_ Làm ơn cho tôi đi.

_ Cho con tôi đi với tôi giùm

_ Tôi có vàng và mỹ kim …

_ Vợ con tôi đã đi rồi, Xin cho tôi đi luôn theo.

Họ kêu van, họ khóc lóc. Đối với một số người Mỹ sự chia ly này thật là não ruột. Nếu người ta cho những người Việt Nam đó vào tòa đại sứ thì những người còn ở lại đây không khi nào rời khỏi đây được đâu. Các anh Thủy Quân Lục Chiến dùng tới báng súng mà cũng khó khăn lắm mới giữ được một chu vi luôn bị thu hẹp, không xa bức tường được bao nhiêu. Có nhiều người leo qua tường. Có một số muốn dùng xe vận tải để ủi sập cửa tòa đại sứ. Đại tá Madison lấy làm rụng rời. Bây giờ vẫn còn khoảng bốn năm trăm người, nhất là người Việt Namvà phần đông là nhân viên của tòa đại sứ trong đó có nhân viên cứu hỏa, một linh mục người Đức và người Đại Hàn. Tất cả đều bỏ hết hành lý của họ, những nhân viên cứu hỏa đều là những người tình nguyện. Các người tỵ nạn được chia ra làm 6 nhóm, Hai sĩ quan là đại tá Madison và đại tá Harry Summers , thành viên của Ủy Ban quân sự 4 Bên và 2 Bên của Hiệp Định Ba Lê, đều cảm thấy bất lực. Những người Việt Nam biết là họ sẽ bị bỏ rơi. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến rút lên lầu của tòa đại sứ.

Sau đó khi đáp được xuống mẫu hạm Okinawa, đại tá Madison yêu cầu người ta gởi cho 6 chiếc trực thăng đến bốc giùm 6 toán tỵ nạn trong khuôn viên tòa đại sứ . Người ta từ chối. Những nhân viên ngoại giao đầu tiên đã đến mẫu hạm trước đó đã quên nói là vẫn còn 420 người tỵ nạn trong sân của tòa đại sứ trước khi nơi này bị đám đông người Việt Nam ở ngoài tràn vào.

5 giờ 10 phút:

Hai trăm người Mỹ, trong số này có 170 lính Thủy Quân Lục Chiến đang chờ ở tòa đại sứ . Thời gian sao mà quá dài! Các binh sĩ cuối cùng dưới quyền thiếu tá Kean, đã leo lên cầu thang. Họ đã không quên khóa hết các cửa sau lưng họ bằng các thanh thép.Trong các cầu thang và cả trong thang máy họ vất đầy hết nào là tủ, bàn ghế, và tất cả những gì họ túm được. Các binh sĩ này phải mất 2 tiếng đồng hồ mới đi được từ tầng trệt lên đến tầng chót. Họ ném lựu đạn cay. Và có một người còn ném một trái lựu đạn miểng nữa. Và người Việt Nam không còn cách nào để lên đến sân thượng được nữa.

Chung quanh tòa đại sứ là các binh sĩ Việt Nam đi lang thang với vũ khí của họ. Trên sân thượng có bố trí một khẩu đại liên để canh chừng chung quanh. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến tuân hành “lệnh D” tức là  cấm bắn bừa bải, chỉ được bắn theo lệnh của một sĩ quan hay một hạ sĩ quan thượng cấp nào đó mà thôi.

5 giờ 47 phút:

Trên chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 09, ông Martin quá mệt mỏi, có một cảm tưởng nhẹ nhõm. Sau cùng mọi việc cũng đều tốt…nếu không có thể là quá tốt…. Một số cộng sự viên của ông nghĩ là ông đã có nhiều quyết định hơi trể. Ông Martin ước tính là ông đã tránh được một sự hoãng loạn và rằng ông đã bịp được Bắc Việt. Tất cả những người Mỹ đều đã được di tản, các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến không cần phải đánh nhau. Ông Martin cũng có thể ở lại tại chỗ lâu hơn nữa được nhưng ông tỏ ra là một người có kỷ luật trong vòng 45 năm nay.

Đối với ông, lệnh của Tổng Thống rất là khắc nghiệt. Ông tự nghĩ là Tổng Thống đã bị Tổng Trưởng Quốc Phòng gạt. Ở các Bộ Tư Lệnh quân sự người ta đã nhận thấy là ông Martin đã tìm cách gạt gẩm tất cả những người đối thoại với ông. Còn ông Martin thì lại nhận thấy là người ta đã gạt ông ta.

Như vậy là cuộc chiến đã qua, và tất cả sự tan vỡ cũng đã qua!

Ông Martin nghĩ rằng ở Hoa Thạnh Đốn người ta không có chuẩn bị gì hết. Người ta chỉ sống với ý nghĩ của một sự di tản thành công ở Phnom Penh. Nhưng hãy xem lại coi. Ở đó người ta chỉ di tản có ba trăm người, hầu hết là người Mỹ. Còn tại Việt Nam, ở Sài Gòn với tất cả các chiến hạm, phi cơ, trực thăng, người ta đã di tản được 130 ngàn người Việt Nam, còn hơn thế nữa là khác, nhờ vào các chuyến bay không chánh thức.

Trên sân thượng của tòa đại sứ, hạ sĩ Stephen Bauer tự hỏi là ông ta và các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến khác có phải sẽ đến xin tỵ nạn ở tòa đại sứ Pháp hay không? Các tiếng nổ của đạn bách kích pháo càng ngày càng đến gần hơn. Trời đã bắt đầu sáng dần, và không có sương mù. Cuối cùng chiếc trực thăng rồi cũng đến. Nó đáp xuống, các cánh quạt vẫn chạy đều làm sạch phần nào không khí nhất là làm tan bớt khói của lựu đạn cay mà binh sĩ đã ném trong cầu thang đang làm họ không thấy đường và muốn nghẹt thở. Còn 10 binh sĩ nữa đang bước lên trực thăng. Người cuối cùng là trung sĩ nhất Juan Valdez đang đẩy binh sĩ của ông lên, với cảm tưởng là binh sĩ của mình chỉ muốn bước lên trực thăng sau ông để có thể nói “Tôi là người cuối cùng ” điều mà chính ông ta mới là người có thể làm được . .

7 giờ 53 phút:

Chiếc trực thăng cuối cùng này cất cánh, có mấy chiếc trực thăng võ trang Cobra hộ tống. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm nay, không còn người lính Mỹ nào ở Việt Nam. Có vài chú đào ngũ thì họ đã nằm kín trong vùng ngoại ô.

Khi đến được bờ biển, các Thủy Quân Lục Chiến trên trực thăng vỗ tay reo hò, và chụp một bức ảnh.

Trong sân của tòa đại sứ những người Việt Namvà ông tướng Đại Hàn chạy vòng tròn. Các bản báo cáo chánh thức của Mỹ nói là ” khoảng 420 người ”

Đám đông tràn vào tòa đại sứ la hét om sòm.

Những tay tuyên truyền cho cộng sản hô to những khẩu hiệu:

_ “Mỹ đã đi hết rồi, đất nước ta được tự do, độc lập, dân chủ rồi….

Người ta bắt đầu cướp bóc trong các tầng lầu. Thình lình đám đông lui ra hết, có người la lên:

-“Chạy ra chạy ra, tòa đại sứ sắp nổ rồi!

Khi ông Martin đã đến được trên soái hạm Blue Ridge rồi, thì ông đi qua thật nhanh phòng báo chí, nơi đó ông Polgar đang nói chuyện với các nhà báo. Ông Martin nói nhanh:

_ “Nếu chúng ta giữ được những cam kết của quốc gia Hoa Kỳ xứng đáng với danh xưng của nó, thì không có xảy ra chuyện ngày hôm nay.”

Câu nói này đã chạy khắp nơi trên các máy điện báo của các cơ quan báo chí quốc tế. Ông đại sứ nhận một công điện của ông Kussinger, cứng rắn khuyên ông nên giữ cảm nghĩ riêng của mình cho Tổng Thống Hoa Kỳ . Sau khi dùng một bữa điểm tâm nhẹ với trứng và xúc xích. Ông Martin đi khám sức khỏe. Qua chiếu điện, người ta khám phá ra nhiều sung huyết trong cả hai buồng phổi của ông. Khi ông nhìn lại kỹ cuộc di tản, đại sứ Graham Martin nói rằng:

_ “Tôi không thấy việc đó là một niềm danh dự của Hoa Kỳ”

Trên soái hạm Blue Ridge, người ta trao cho ông một lượt cả ba công điện. Những người gởi các công điện này đã nói với ông với một giọng điệu khác nhau hết:

(1)- của Tổng Thống Ford gởi cho ông Martin:

_ “Tôi bày tỏ một sự hài lòng sâu xa của tôi, đối với ông và đối với tất cả các cộng sự viên của ông,

về sự thành công trong cuộc di tản người Mỹ và người Việt Nam ở Sài Gòn . Sự tận tâm không mệt mỏi trong nhiệm vụ của ông và việc thực hiện trong những điều kiện cực kỳ khó khăn là tối cần thiết cho sự hoàn chỉnh của cuộc hành quân rất khó khăn và tế nhị này. Xin ông vui lòng nhận những lời khen thành thật và cá nhân của chính tôi. Lòng can đảm và sự bình tĩnh của ông trong thời điểm khó khăn này đã giúp di tản được chính những công dân của chúng ta và một số lớn người Việt Nam trong cơn nguy khổn. Tôi ước mong là ông sẽ chuyển đến tất cả các cộng sự viên của ông lòng biết ơn sâu xa của tôi và của dân chúng Hoa Kỳ về một công việc đã được hoàn tất tốt đẹp. Thành thực,”

(2)- của ông Tổng Trưởng Ngoại Giao, thân mật hơn:

– “Gởi ông Graham Martin, của Henry Kissinger,

Tôi chắc chắn là ông biết những cảm nghĩ sâu xa của tôi về thành tích của ông trong những điều kiện

thật không gì khó khăn hơn. Hãy nhận những lời cám ơn nồng nhiệt nhất của tôi. Nghĩ về ông.

Tái bút: Sẽ chấp nhận mọi tin tức về các dự tính du lịch tức thời của ông để chuyển cho gia đình ông”

(3)- của tướng Brent Scowcroft từ Nhà Trắng, một công điện rất giản dị:

_ “Graham, ông thật là tuyệt diệu.”

Các trực thăng, với những Thủy Quân Lục Chiến của thiếu tá Melton bị phân tán ra hết. Trực thăng của thiếu tá thì đáp ở mẫu hạm Midway, còn trực thăng của người phó của ông thì đáp trên chiếc Vancouver.

Các trực thăng Việt Nam, hết nửa còn trống hay chở đầy binh sĩ và dân sự gồm đàn bà, bô lão, trẻ con, thúng rổ đựng trái cây, đạn dược súng ống lẫn lộn bay đến. Thiếu tá Melton còn thấy cả những hành khách ra khỏi trực thăng với những con gà chân cột lại.

Thật là rất đúng, có thể là tượng trưng, là chiến tranh của người Mỹ, quá cơ giới hóa, đã kết thúc với những chiếc trực thăng. Từ năm 1965, đối với các Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ, trực thăng được xem như là một vũ khí tấn công quyết định. Bây giờ thì trực thăng là phương tiện triệt thoái.

Di động, dễ điều động, trực thăng được ghi nhận là đã tiến xa trên bốn điểm – mà cũng là bốn nhược điểm? về đặc tính của Hoa Kỳ: sự lạc quan, sự háo chiến, sự mất kiên nhẫn và lòng tin ở cơ giới tối tân. Ngày 30 tháng 4 này, trong lúc hình ảnh cuối cùng của các vũ điệu trên không đang diễn ra trên các chiến hạm thì người ta bỗng ghi nhận là trực thăng đã trở thành phương tiện tiêu biểu của một sự triệt thối.

Chiếc Midway đang di chuyển. Các sĩ quan đã cho ông thiếu tá Melton biết là chiếc mẫu hạm này sẽ đến bờ biển Thái Lan để chở các phi cơ tiềm kích của Miền Nam Việt Nam. Có một chiếc phi cơ nhỏ xuất hiện trên vùng trời và qua truyền tin gởi một công điện:

_ “Tôi là một thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa, tôi có chở theo vợ và mấy đứa con của tôi. Tôi xin phép được đáp xuống.

Trả lời:

_“Không thể được. Chúng tôi không có sẵn sàng. Chúng tôi không có lưới an toàn để chận phi cơ loại này của anh.

_“Tôi đáp xuống đây”

Chiếc phi cơ được phi công Việt Nam đặt trên trục tiến của mẫu hạm, đáp xuống, thắng lại, và thành công. Cà binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến và Hải Quân trên mẫu hạm đều nhiệt liệt hoan hô phi công, cả ông thiếu tá Melton cũng vậy.

Thiếu tá Melton rất bằng lòng. Không có một người nào của ông bị thương hay tử thương. Thủy Quân Lục Chiến được thành lập để tấn công, đổ bộ, và chiếm vị trí. Trong những ngày sau cùng này, họ đã bảo vệ cho một cuộc triệt thối. Thiếu tá Melton là một quân nhân hiện dịch, đã làm đúng theo lệnh. Đứng tựa vào lan can, ông ngắm nhìn các chiếc thuyền nhỏ chung quanh mẫu hạm, quan sát các binh sĩ Hải Quân dưa những người tỵ nạn lên mẫu hạm.

Tướng Richard Carey tổng kết 3 ngày làm việc của mình, ngày 28, 29 và 30 tháng 4. Kết quả tốt cho cuộc di tản bằng đường biển : 8 chiếc tàu đã chở được 29. 783 người tỵ nạn, hầu hết từ Vũng Tàu; 2500 người được bốc đi từ hai đảo Phú Quốc và Côn Sơn.. Chiếc Pionner Commander đã cứu được 4669 người ở vàm sông Sài Gòn.

Các phi công Hải Quân đã bay đổ đồng 13 giờ một ngày. Có nhiều anh đã bay trực thăng của mình suốt 18 giờ liên tục. Riêng cho những trực thăng di tản đã có 689 chuyến bay trong đó có 160 chuyến bay đêm . Có hai Thủy Quân Lục Chiến bị tử thương ở phi trường. Và hai phi công, một của chiếc CH46 cố đáp xuống mẫu hạm Hancock đã bị lật úp xuống biển, không có hành khách, hai phi công chánh và phụ bị chết chìm, người ta đã cứu được hai xạ thủ đại liên. Một chiếc AH.1J, trực thăng võ trang, bị khó khăn về nhiên liệu, đã bị phi công cho xuống biển cách chiếc Okinawa bốn dậm. Phi hành đoàn bình yên. Như vậy có tất cả là 4 quân nhân bị tử thương.

Từ các bãi đáp gần các dãy nhà của Phòng Tùy Viên quân sự ở phi trường Tân Sơn Nhất , Thủy Quân Lục Chiến đã bốc đi được 5.600 người . Không có một người nào nghĩ rằng mình đã di tản được 2206 người trong đó có 1375 công dân Hoa Kỳ, từ trong sân và trên sân thượng của tòa đại sứ.

Có đôi lúc trên tàu, binh sĩ Hải Quân nhất là trong lúc họ phát lương thực, đã bị chửi, đôi khi còn bị người tỵ nạn xô đẩy nữa. Những mầm nổi loạn? Không … Có vài người tỵ nạn bị đè bẹp. Trên một số chiến hạm, các binh sĩ Miền Nam mặc quân phục có, mặc thường phục có, có võ trang đã tạo ra tình hình căng thẳng, nhưng binh sĩ Hải Quân đã giải giới được họ và lập lại trật tự có qui củ bình thường.

Cũng có vấn đề khó khăn về vệ sinh . Đôi khi người ta thiếu nước. Dưới hầm tàu thì có mùi nôn mữa và phân người. Đúng ra đây là một vấn đề quá khó vì người Việt Nam được chở trên tàu quá đông.

Điều ngạc nhiên, là không phải không có điều gì xảy ra, mà đã không có có xảy ra nhiều.

Đại tá Lê vĩnh Hòa không muốn rời khỏi Sài Gòn . Vào lúc 6 giờ, ông ta còn ở trong văn phòng giám đốc đài truyền hình. Ông định lái xe đi ra. Cảnh sát đã ngăn ông lại:

_ “Ông bị bắt.

_ “Ai bắt tôi?

_Theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh.

Ra đi, là trốn chạy, là đào ngũ. Tổng Thống đã ngăn cấm các sĩ quan không được rời khỏi Sài Gòn.

Ở căn cứ Tân Sơn Nhất, nơi mà tất cả binh sĩ đều ôm chặt máy thu thanh, trung sĩ Thương, đang chờ đợi tin tức của Chánh Phủ mới.

Đang có một buổi họp ở văn phòng của Thủ Tướng, ở một ngôi nhà cổ của người Pháp trên đại lộ Thống Nhất. Chung quanh Tổng Thống có Thủ Tướng Vũ văn Mẫu, một vài quân nhân và công chức cao cấp.. Một cố vấn của Tổng Thống, ông Lý quý Chung, từ trại Davis trở về. Người của CPLTCHMN không chấp nhận thương thuyết với tân Tổng Thống . Họ không sẵn sàng cho bất cứ một sự nhượng bộ nào, quân sự cũng như chánh trị.

_“Họ đòi hỏi “phải giải tán Quân đội và cảnh sát bù nhìn” Họ sẵn sàng cung cấp giấy thông hành cho Tổng Thống và người của ông.

Các cố vấn của ông Minh chia thành phe phái. Có nên lấy một vị thế cứng rắn hay không ? Nhưng muốn vậy thì phải dựa vào ai? Các sư đoàn ở mặt trận, các sư đoàn 5, 18, 22 và 25 cũng như thành phần còn lại của các lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến hay Dù, theo tin tức quân sự giờ chót đều tan rã hết. Vài vị khuyên nên đầu hàng. Ông Minh còn lưỡng lự. Người ta gởi một đại diện mới nữa vào trại Davis. Người ta điện thoại. Các ông Phật Giáo, các vị Công Giáo, và các nhà ngoại giao Pháp họ đều thú thật là họ không biết cộng sản muốn gì nữa . Đùng một cái, tướng người Pháp, ông Francois Vanuxem xuất hiện, mặc thường phục.. Ông này là người chủ trương đánh tới cùng ở chiến trường Algérie thuộc Pháp, thạc sĩ triết học. Ông đã cho khá nhiều dự án. Ông đề nghị một đề án khác: mình phải yêu cầu Trung Quốc tấn chiếm Miền Bắc Việt Nam. Lúc bấy giờ nước Pháp sẽ làm trung gian hòa giải. Ta có thể nhờ đó giữ được một Miền Nam trung lập hay được trung lập hóa.

Ông Minh soạn một văn bản và trao cho Thủ Tướng của ông, sau đó ông trở về Phủ Tổng Thống để thu băng. Đài phát thanh sẽ cho phổ biến văn bản này vào lúc 10 giờ 24 phút.

Đường lối chánh trị của chúng tôi là hòa giải. Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào sự hòa giải của người Việt Nam để tránh khỏi đổ máu thêm một cách vô ích. Tôi yêu cầu binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa hãy chấm dứt chiến sự và nằm yên tại chỗ. Tôi yêu cầu binh sĩ anh em của CPLTCHMN cũng nên chấm dứt chiến sự. Chúng tôi đợi ở đây để gặp CPLTCHMN để cùng nhau bàn thảo về một buổi lễ bàn giao quyền bính và tránh đổ máu của dân chúng vô ích. ”

Trong bản tuyên bố này, tướng Minh không bao giờ nhắc tới quân đội Bắc Việt. Ông chấp nhận tổ chức hư cấu thường được gọi là CPLTCHMN , ông cũng cho thấy rõ ràng là ông không nghĩ tới chuyện nắm giữ lại một phần nào dù là bề ngoài của chánh quyền .Ông ta sẽ “chuyển giao”. Ngay sau đó, đài phát thanh cũng phát đi một thông cáo của Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa:

_ “Binh sĩ, trung đoàn trưởng, lực lượng bảo an, dân vệ..Tôi, tướng Nguyễn hữu Hạnh, Tổng Tham

Mưu Phó thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi yêu cầu các tướng lãnh và binh

sĩ các cấp, phải triệt để tuân lệnh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa liên quan đến chuyện ngừng bắn.

Bộ Chỉ Huy Quân sự của chúng ta đã sẵn sàng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Quân sự của CPLTCHMN để thực hiện một cuộc ngưng bắn mà không đổ máu”

Thủ Tướng cũng có một bản tuyên bố ngắn:

_ “Trong một tinh thần hòa giải và hòa hợp, tôi, giáo sư Vũ văn Mẫu, Thủ Tướng, xin kêu gọi tất cả các tầng lớp dân chúng hãy hân hoan chào mừng ngày hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Tôi kêu gọi tất cả công viên chức của Chánh Phủ hãy trở về nhiệm sở và hoạt động lại như cũ .”

Tại phi trường trung sĩ Thương khóc.

Ngay tại nhà mình, ông kỹ sư Văn kết luận là những cuộc thương thuyết của ông Minh đã không đi đến đâu hết. Ông nghĩ rằng người cộng sản không bao giờ chấp nhận một chế độ trung lập. Nhưng rồi ông nghĩ lại. Dù sao ông cũng muốn tin ở sự khoan hồng của kẻ thắng trận. Ông đi vào văn phòng của ông. Phần đông các bạn đồng nghiệp của ông đều nghe theo lời kêu gọi của Thủ Tướng, nhưng họ vẫn sợ.

Hầu hết các Phật Tử ở trong chùa của hòa thượng Thiện Hoa đều nói:

_ “Hết rồi, chúng ta có thể đi về nhà rồi.

Tại Hoa Thạnh Đốn Tổng Thống Gerald Ford vừa ăn tối xong với quốc vương Hussein của nước Jordanie. Người ta cho ông biết về tuyên bố của ông Dương Văn Minh. Không có người nào gợi lên chuyện đầu hàng này và cả nước Việt Nam nữa.

Bộ Tổng Tư Lệnh Quân đội Bắc Việt đã nghe lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh trên đài phát thanh. Tướng Dũng nói:

_“Làm gì có vấn đề tước đoạt chiến thắng của mình bằng “trò chơi cút bắt” này được?

Bộ Chánh trị cho lệnh:

_“Tiếp tục tấn công vào Sài Gòn theo kế hoạch đã dự trù” Tăng tốc độ và tăng cường tối đa sự tiến quân của chúng ta. Phải giải phóng cả thành phố, giải giới địch quân. Phá vỡ bộ máy hành chánh của địch trên tất cả mọi cấp. Đập tan hết mọi mưu toan kháng cự.”

Ngay tức khắc tướng Dũng phổ biến lệnh cho tất cả các đơn vị:

_ “Gởi tất cả các quân đoàn, các khu quân sự , tất cả các đơn vị: thứ nhất, tiếp tục tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đã được chỉ định ở trung tâm thành phố và ở các tỉnh. Thứ hai, kêu gọi địch quân phải đầu hàng và giao nộp tất cả vũ khí. Bắt giữ và tập trung tất cả các sĩ quan địch từ cấp tá trở lên. Thứ ba: Đập tan ngay tại chỗ tất cả mọi mầm móng kháng cự.”

Một vài nơi ở Sài Gòn nhất là trong các văn phòng và các biệt thư bỏ trống của người Mỹ, đã thấy người ta cướp bóc. Đàn ông, đàn bà, con nít gỡ và khiêng đi nào là đèn, máy thu thanh, vòi nước trong bồn rửa mặt, máy đánh chữ, bàn ghế đủ loại, đi văn, nệm, giường. Trong các sân và cầu thang của tòa đại sứ rải rác đầy những giấy tờ, sách báo, và hồ sơ báo cáo…. Trong các tầng lầu, người ta đua nhau gỡ các máy điều hòa không khí, các tủ lạnh được mở tung tóe. Có nhiều người cố thử mở các tủ sắt . Chỗ nào cũng có các ghế phô tơi bị tháo tung ra, các khuôn hình và các bức tranh bị đập nát. Có nhiều người Việt Nam còn trẻ, mặc sọt, ở trần trùng trục, đang di tản mấy chiếc ghế tràng kỷ dài. Từ 30 năm qua, người Việt Namvới tánh kiên nhẫn và khéo tay, đã thu nhặt và sửa chữa, đóng hay dán lại mọi loại vật dụng. Bây giờ thì họ lại tiếp tục. Các ông chủ củ đã ra đi, các ông chủ mới còn chưa thấy có mặt.

Tại dinh Tổng Thống , điện thoại reo tới tấp và liên tục. Ông Nguyễn văn Hảo, cựu Tổng Trưởng Kinh Tế nói to lên:

_ “Những người nào đã có một trách nhiệm nào đó đối với đất nước không thể ra đi được. Dù có gì xảy ra cũng phải ở lại. Bắc Việt biết rõ họ muốn gì. Họ đã tranh đấu từ ba chục năm rồi, họ xứng đáng để lãnh đạo Việt Nam… một đất nước thống nhất và độc lập, tương lai được bảo đảm. Miền Nam giàu về nông nghiệp và dầu hỏa, Miền Nam có thể giúp đỡ cho Miền Bắc.

Vị tân Thủ Tướng đã chỉ định ông Lý quý Chung trong chức vụ Tổng Trưởng Thông Tin, ông này tuyên bố:

_“Chúng ta không có một mặc cảm nào về sự đầu hàng… Đừng bao giờ nói tới lực lượng thứ ba nữa. Lực lượng này không có chỗ đứng chánh trị của nó. Nhất là nó chỉ đại diện cho một dân tộc thống nhất và không đánh nhau.

Ngoài thành phố, cờ xí treo rộp trời. Dân chúng treo cờ xanh và đỏ của CPLTCHMN ở cửa sổ. Trên các công sở thường thường người ta chỉ treo môt miếng vải trắng hay một tấm vải trải giường trắng. Có nhiều người treo cờ Pháp, nghĩ rằng để thay thế cho một loại đặc miển ngoại giao. Trời rất tốt.

Ông Patrick Hays đi một vòng Sài Gòn . Có nhiều đường vắng teo, có đường cũng đông nghẹt. Ông gặp những người lính Dù, có võ trang, rất có kỹ luật ở đường Công Lý và Pasteur. Ông đến bệnh viện Grall. Ờ đây chung quanh các dãy nhà có nhiều người dân sự và rất nhiều quân nhân mặc thường phục.

Đại úy Phạm Thình làm việc ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát. Thượng cấp của ông, trong đó có tướng Nguyễn khắc Bình Tư Lệnh cảnh sát và Giám Đốc Trung Ương Tình Báo, cùng với 3 tướng lãnh khác và 4 đại tá và một số sĩ quan khác đã ra đi. Phạm Thình ở lại với nhiệm vụ “giữ gìn trật tự và danh dự”. Hai ngày trước ông Thình đã gởi vợ con đi Pháp. Ông đã từng giúp hãng hàng không Air France ở văn phòng nên người ta đã giảm giá vé cho ông đến 50 %. Ông Thình đã yêu cầu người ta đốt hết tất cả hồ sơ. không một ai đả đụng tới. Ông quyết định đến tỵ nạn ở tòa đại sứ Anh, đang được người gát cổng. ông Sam, dân Ân độ, coi sóc. Nơi đây ông thấy có một đại tá và khoảng 12 sĩ quan cảnh sát . Họ lên xe đi đến bệnh viện Grall. Họ tin tưởng rằng ở đây có treo một lá quốc kỳ Pháp và họ sẽ được bảo vệ. Đại úy bỏ khẩu súng của ông. Ông nghĩ nhiều tới những hồ sơ vẫn còn ở Bộ Tư Lệnh, từ những tờ giấy đã ngả vàng và bụi bậm với những lời phê bằng mực tím, từ hồi còn người Pháp… cho đến những tờ giấy đánh máy, các bản sao của cơ quan CIA. Đại úy này thù ghét cộng sản nhưng ông tự nhủ là có thể họ sẽ tỏ ra hiểu biết. Họ sẽ nói về hòa hợp và hòa giải. Tất cả mọi chế độ đều cần cảnh sát Có thể người ta sẽ hạ cấp bậc ông xuống một ít. Và ông sẽ lấy lại cấp bậc cũ của ông trong tương lai.

Nhiều toán quân nhân Miền Nam Việt Nam đi lang thang trong thành phố. Có một số lớn đã vứt hết vũ khí và cả quân phục của họ. Trên lề đường vương vãi đầy quần áo trận, giày cao cổ đi rừng, nón sắt, mũ nhựa, băng đạn v.v.. Có những lời đồn đoán được loan đi một lần nữa. Một vài người dân Sài Gòn quả quyết là cộng sản sẽ trừng phạt thành phố bằng bom đạn. Người khác thì tin chắc và xác nhận là chiến xa Bắc Việt sẽ không vào thành phố. Sài Gòn sẽ là một thành phố tự do như Hong Kong vậy, vì Hà Nội cũng cần có một cửa mở ra cho vùng Á Đông.

Ở công trường Lam Sơn, dưới chân tượng đài “chiến sĩ Việt Nam” có một tử thi nằm dài giữa hai chậu bông. Một ông trung tá cảnh sát, sau khi nghe lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, đã đến đây. Ông đứng nghiêm chào tượng đài, đứng nguyên vị thế nghiêm một lúc lâu rồi ông ta tự bắn vào đầu một phát sùng lục. Có một số lớn sĩ quan đã tự tử trong ngày 30 tháng 4, trong đó có tướng Trần văn Phú, cựu Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật. Hồi xưa những người có trách nhiệm mà không làm tròn nhiệm vụ quan trọng thì phải tự sát.

Người ta ghi nhận có nhiều đơn vị Bắc Việt trong vùng ngoại ô. Có một số thành phần của quân đoàn 3 Bắc Việt đã tiến đến gần phi trường. Tướng Văn Tiến Dũng đã cho 150.000 người tiến sát vào Sài Gòn . Một vài đơn vị của Miền Nam Việt Nam vẫn còn kháng cự ở vùng cầu Tân Cảng trên sông Sài Gòn. Người ta thấy cả bộ binh và chiến xa Bắc Việt đi qua cầu. Bộ binh thì được xe Quân đội chở, theo sau là các khẩu đại bác của Pháo Binh có xe kéo, và các khẩu đại bác cao xạ phòng không . Các xa đoàn trên chiến xa thì khó thấy được. Đôi khi, họ hòi thăm đường giống như khách du lịch đi lạc vậy.

11 giờ :

Ở phi trường, trung sĩ Thương và hai chục binh sĩ nhận lệnh của cấp trên, ông Lê xuân Huyến:

_ “Hết rồi, các anh hãy bỏ súng xuống và về nhà hết đi, còn tôi, tôi phải ở lại để bàn giao… Không có một người nào chịu đi. Tại dinh Tổng Thống, ông Dương Văn Minh mệt mỏi, đang có mặt với Thủ Tướng của ông và một vài nhà báo. Ông nói:

_ “Tôi đợi anh em ở “phía bên kia”

Ông cũng tâm sự với anh Jean Louis, trưởng phòng của cơ quan truyền thông AFP:

_ “ Tôi không biết là phải đợi họ hôm nay hay ngày mai… Phải có người nào đó….

Khi các bộ đội Bắc Việt xuất hiện, các nhân viên người Việt đã bị CIA bỏ quên ở khách sạn Duc, bắn mấy tiếng súng lục và liên thanh. Mấy tràng liên thanh nặng và hỏa tiển đã làm cho họ im ngay. Phía sau lưng nhà thờ Chánh Tòa, một trung đội Dù cố ngăn các chiến xa địch. Tất cả đều bị thương hay tử thương.

Người dân Sài Gòn quan sát đoàn quân chiến thắng Bắc Việt với một sự nhẹ nhõm, sợ hãi và ngạc nhiên lẫn lộn. Hầu hết các bộ đội hình như còn quá trẻ hơn là có kỹ luật. Sĩ quan thì hình như đã quá tuổi 40. Các pháo tháp của chiến xa thường được mở toang, chiến xa thì được nghi trang bằng lá dừa nước .

11 giờ 45:

Trung sĩ Thương của Việt Nam thấy bộ đội Bắc Việt trang bị súng AK. Họ nói lớn tiếng và mạnh dạn, toàn nói tiếng Bắc:

  • “Ai chỉ huy ở đây ?

Thiếu tá Lê xuân Huyến tiến tới và nói:

  • “Tôi”

Bộ đội Bắc Việt ra lệnh cho tất cả đều phải cởi bỏ hết quân phục. Các binh sĩ nghe theo lệnh, và mặc quần cụt đứng chờ. Người ta nói là tất cả, người thắng trận cũng như người thua trận đều có vẻ sợ. Người thắng trận thì sợ mắc bẩy, người thua thì sợ bị hành quyết. Bộ đội Bắc Việt cho lệnh họ trở về nhà, trừ thiếu tá Huyến. Trung sĩ Thương cùng ra về với các đồng đội.

Có nhiều xe jeep chạy quanh trong thành phố, chở đầy sinh viên mang súng M.16 nhưng đeo băng đỏ.

Anh Tiên, một người trẻ thích xi nê, đã từ Hà Nội vào, đi trên 6 chiến xa Bắc Việt đến trước Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa. Chiến xa xếp thành hàng trong sân , súng chĩa thẳng vào Bộ Tổng Tham Mưu. Vào giờ chót toán chiến xa này được lệnh đến khám Chí Hòa, rồi lại được lệnh trở về Bộ Tổng Tham Mưu vì các tù nhân đã được thả hết rồi.

Anh Tiến này thấy bằng lòng, chiến tranh đã chấm dứt, anh ta sẽ về gặp mẹ anh và ông anh.

Chiến xa mang số 879, thuộc lữ đoàn 203, do Bùi đức Mai chỉ huy, đã vào đại lộ Thống Nhứt, qua khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ để tiến tới. Người trưởng xa nhận thấy mình đã đi quá xa, nên lui lại và hướng về Dinh Độc Lập tiến tới . Chiến xa này chạy tới trước hàng rào và những bồn cỏ. và với một hành động cố ý hay tượng trưng, vì không có một ai ngăn cản và lính gát đã chờ để mở cổng dễ dàng, chiến xa mang số 879 ủi sập hàng rào sắt và tiến tới tòa nhà lớn. Chi đoàn trưởng Bùi quang Thuận bước xuống chiến xa , bước lên cầu thang, lên đứng tại bao lơn. Một anh bộ đội đi lại lan can để hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa xuống và kéo cờ xanh đỏ của CPLTCHMN lên. Bây giờ là đúng 12 giờ 15 phút, giờ Sài Gòn, 11 giờ 15 phút giờ Hà Nội, lá cờ của CPLTCHMN đã phất phơ trên dinh Độc Lập. Các chiến xa khác cày nát bải cỏ vào bố trí thành hàng…Các bộ đội cũng chia ra nằm rải rác trên bãi cỏ. Xa xa, về hướng tòa đô chính, người ta nghe được một vài tiếng súng nỗ lẻ tẻ và cũng có một vài tiếng lựu đạn nỗ. Dân chúng, trong đó rất nhiều trẻ con và nhà báo bu quanh các chiến xa và các bộ đội Bắc Việt. Sĩ quan và bộ đội Bắc Việt phân tán ở tầng trệt nhưng sau đó tràn lên lầu một, và ở đó họ gặp Tổng Thống Dương Văn Minh và những người trong chính phủ của ông. Ông Tô văn Quang, một nhân viên Điện Lực hình như cũng có mặt để làm trung gian. Một anh Bắc Việt có lẽ quá sốt ruột đã hỏi xem có ai có vũ khí gì không:

_ “Nếu có vũ khí thì vất xuống đất hết đi.

Có hai người nói với ông Dương Văn Minh, với 2 cách đối xử hoàn toàn khác nhau. Một người thì có vẻ ôn hòa hơn, là đại tá Bùi Tín, một nhà báo, từng là sĩ quan báo chí thuộc phái đoàn quân sự Bắc Việt trong Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên Trung ương ở trại Davis, là sĩ quan cao cấp nhất lúc bấy giờ , đến để chấp nhận sự đầu hàng:

_ “Các ông không có gì để phải sợ sệt, Giữa người Việt Nam với nhau, không có người thắng không có người thua. Chỉ có người Mỹ mới là kẻ bại trận. Nếu các ông là những người yêu nước thì hãy xem đây là phút giây vui sướng. Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc rồi.

Ông Dương Văn Minh trả lời:

_ “Chúng tôi chờ các ông để giao quyền bính.

Một sĩ quan cấp úy khác có lẽ tên Tùng, thẳng thừng nạt lại:

_ “Các ông không có gì để mà giao nộp. Các ông chỉ có đầu hàng vô điều kiện thôi. Các ông hãy đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Ông Minh cúi mặt xuống, ríu ríu bước xuống cầu thang của dinh Độc Lập và đi đến đài phát thanh đọc một văn bản do một sĩ quan Bắc Việt thảo ra:

_ “Tôi tuyên bố là nền hành chánh của Sài Gòn hoàn toàn được giải tán từ trung ương đến địa phương. Từ cấp trung ương đến địa phương, đâu đâu cũng đều đầu hàng CPLTCHMN.

Ông Dương Văn Minh trở về dinh, nơi đây đã có gần 40 chiến xa Bắc Việt đại bác và liên thanh chỉa ra ngoài như để phòng thủ nơi này vậy. Một vài tù binh đang ngồi dưới đất, đứng dậy và được mấy bộ đội Bắc Việt dẫn đi gia nhập vào các hàng tù binh khác trong thành phố.

Còn bộ đội Bắc Việt thì lớp đứng, lớp ngồi chồm hổm, người thì đội nón cối người để đầu trần, đang ba hoa với dân chúng. Ông Minh và những người của ông ăn trưa. Bữa cơm của một Tổng Thống , cua biển chiên và mì ống đã sẳn sàng. Người ta cho Tổng Thống một khẩu phần của bộ đội gồm có cơm và thịt hộp.

Có nhiều thanh niên -được gọi là “cọp 30/4”, mới nhảy ra tham chiến vào giờ chót – một số có võ trang, chạy khắp thành phố trên những chiếc xe sung công.

Trung sĩ Thương, mặc thường phục, trở về nhà ở đường Lăng Cha Cả. Nhà anh trống vắng. Anh lấy một chiếc xe đạp và đạp đi. Trên đường Trương minh Giản, anh thấy một số binh sĩ Việt Nam Cộng Hòachết nằm dài dưới đất. Anh đi đến gần chợ, thấy toàn là chiến xa và xe vận tải Molotova. Các “cọp 30” mang băng đỏ, ồn ào cho lệnh đám đông:

_ Vỗ tay đi

Đàn bà và trẻ con chạy vào tiệm mang đi các băng ghi âm, đèn, máy thu thanh. Mấy ông “cọp 30” vội la lên:

_ “Đừng có cướp phá, đó là tài sản của nhân dân!”

Một vài anh Việt Cộng , mặc bà ba đen đội nón vải đi rừng, với khăn rằn choàng cổ mang súng AK.47 và súng phóng hỏa tiển, được thấy lẫn lộn trong đám bộ đội Bắc Việt.

Tại Bộ Tổng Tư Lệnh, tướng Dũng hớn hở:

_ “Trên bản đồ của chúng ta, 5 cánh quân của chúng ta vừa nở ra như những tai của một hoa sen. Quân đoàn 1 chiếm Bộ Tổng Tham Mưu và các Bộ Chỉ Huy của các binh chủng. Quân đoàn 3 chiếm phi trường Tân Sơn Nhất , ở đó họ bắt tay với phái đoàn quân sự của ta ở trại Davis. Nhiều pha gặp lại nhau cũng cảm động và nên thơ lắm. Quân đoàn 4 đã đóng quân ở bộ Quốc Phòng , bến Bạch Đằng và đài phát thanh. Toán đặc nhiệm 232 kiểm soát Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô và Bộ Tư Lệnh Cảnh sát.”

Nơi đây các đơn vị đặc biệt đã khám phá được hằng ngàn hồ sơ và các máy điện toán, làm cho họ phải suy nghĩ. Tướng Dũng tiếp tục:

_ “Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập, chỗ mà những người Mỹ làm đủ mọi trò để bán đấu giá nền độc

lập của chúng ta.”

Ở Bộ Tư Lệnh Bắc Việt, có cuộc họp của những người chỉ huy. Họ ôm nhau và khen lẫn nhau. Ông Lê đức Thọ, Phạm Hùng và tướng Văn Tiến Dũng đã ôm hôn nhau. Trong phút giây sung sướng đó, tướng Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đốt một điếu xi gà và kéo vài hơi thích thú.

_ “Một mùa xuân lạ thường vừa mới nở ra thình lình trong một khúc nhạc vui không thể tả được” tướng Dũng viết. Tướng Dũng này, một quân nhân có tuổi, luôn chiến đấu, 36 năm trước vốn đã có lúc phải tỵ nạn trong một ngôi chùa Phật Giáo , ám chỉ cho một công thức lạ lùng trong chu kỳ sanh và tái sanh trong Phật Giáo: “Giây phút này, người ta chỉ sống được có một lần trong cả cuộc đời , hay có thể trong nhiều cuộc đời. Dù sao thì cũng chắc chắn là không có hai lần như vầy trong một đời người.”

Một trong số sĩ quan của ông nói:

“Kể từ giờ này người ta có thể đưa vũ khí qua bên trái, lòng thấy đã thỏa mản.”

Tướng Dũng đã tìm thấy lại được hình ảnh cũ của hoa sen, cái hoa đầu tiên, mới xuất hiện lần đầu tiên của cuộc đời trên dòng nước đục, cái hoa đẹp và trong trắng. Tướng Dũng đã từ những dòng nước bẩn đó của chiến tranh đi ra, từ các chiến khu, từ những cuộc tấn công thất bại và sau đó thành công. Một trong những người cận vệ của ông ta, anh Võ xuân Sang đã chụp được những giây phút hoan hỷ này. Dĩ nhiên là các hệ thống dân sự và quân sự của người cộng sản đều tỏ vẻ hân hoan. Tướng Dũng trong hồi ký của mình, đã rơi nhanh vào giòng thơ trử tình lẫn lộn với các hình ảnh loại tình cảm chánh trị mà Hà Nội cho phép:

_ “Phải, chúng tôi đã khóc vì mừng trong ngày chiến thắng này… Ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi là dành cho Bác Hồ, sau giây phút loan báo chiến thắng hoàn toàn đó. Chúng tôi hình như nghe được tiếng chuông reo ở nhà sàn của Người , để báo cho Người chiến thắng mới. Chúng tôi hình dung được Người đang đứng sau các bức màng, đang viết một bài thơ để mầng chiến thắng..”

Bác Hồ đã nói rằng Người chờ 10, hai chục hay ba chục năm nếu cần. Quân đội là Đảng, và đảng như một hoa sen, với bốn, sáu, hai mươi và ngàn tai. Hoa sen với một ngàn tai, đó là cả một sự phát hiện và đảng là sự thật. Chỉ còn có việc làm cho người dân Miền Nam vốn thường hay lãnh đạm hay cười và hay bị mua chuộc, để cho họ hiểu và chấp nhận . Tướng Dũng nghĩ rằng Sài Gòn và Miền Nam cũng như Hà Nội và Miền Bắc xứng đáng được biết “cuối cùng là hòa bình và hạnh phúc “. Rất giản dị là họ không được biết loại hạnh phúc nào mà họ rất cần. Còn người dân ở Hà Nội thì họ đã biết rồi. Hạnh phúc rất xứng đáng phải được tổ chức. Trong thành phố loạn ly và đầy nghi ngờ này, có nhiều người dân và quân nhân cần phải đền tội trước hết. Ngoài một vài quyền lợi hay nhiều đau khổ cá nhân, mới có nẩy ra được hạnh phúc tập thể trên tất cả những khát vọng nhỏ nhoi cá nhân, ích kỷ và tư sản đáng khinh.

Tại Sài Gòn trên bãi cỏ có bóng mát trong dinh Độc Lập hiện có gần 2000 bộ đội Bắc Việt cười nói vui vẻ. Lúc họ tới họ không nhận thấy được những biểu hiện vui mừng ồ ạt như họ đã dự kiến . Có nhiều khẩu súng được cài hoa trên đó. Các bộ đội ăn cơm nếp với đồ hộp.

Bệnh viện Grall đầy ấp người dân tỵ nạn, trong đó có những người Đại Hàn, người Đài Loan, Cả đàn ông đàn bà và trẻ nít đã chiếm hết các bãi cỏ và họ cấm lều giữa các dãy nhà tiền chế. Có nhiều người thấy xa hơn nên đã xin nhập viện từ mấy tuần trước . Một ông già buôn bán đồ cổ, nghiện thuốc phiện, ông Thanh An, đã thuê một căn gác xép của bệnh viện, được gọi nôm na là “chuồng bồ câu” gồm có một phòng ở đầu dãy nhà có nhiều hành lang. Ở đây hồi xưa, các đô đốc toàn quyền Pháp đã từng được săn sóc ở “chuồng bồ câu ” này. Nằm dài trên chiếu rơm, ông lão thong dong đưa ống tẩu lên hút thuốc phiện …

Ông Patrick Hays không bao giờ dùng đến vũ khí của mình.Người phụ tá của ông , ông Hamieux, chở vũ khí của họ trên một chiếc xe Jeep mui trần để đến bệnh viện Grall xuyên qua thành phố đầy bộ đội Bắc Việt. Ở bệnh viện, các vũ khí này sẽ nhập vào với đống vũ khí mà những ai muốn vào tỵ nạn ở đây dưới lá quốc kỳ Pháp đều bắt buộc phải vứt bỏ hết. Ông Hays đã nghe được những tiêu lệnh đầu tiên đã được đài phát thanh Giải Phóng phổ biến. Kể từ giờ này thành phố Sài Gòn sẽ được gọi là hành phố Hồ chí Minh. Các bà các cô phải ăn mặc chỉnh tề, mặc quần áo khiêm tốn của người nông dân, màu đen hay màu nâu. Màu xám là màu hạnh phúc của người cộng sản . Đài phát thanh của thành phố Hồ chí Minh đã loan báo là đã có một cuộc nổi dậy của dân chúng để vui mừng chào đón đoàn quân giải phóng.

Sự thật là cũng có một vài người dân phần lớn là trẻ con ở Sài Gòn đã có vỗ tay, và những người khác thì im lặng. Các xe vận tải chạy khắp các đường phố phóng loa kêu gọi:

_ “Lực lượng của MTGPMN đã làm chủ Sài Gòn. Hãy yên tâm đừng có lo sợ. Bà con sẽ được đối xử đàng hoàng nếu biết tôn trọng trật tự và kỷ luật.”

Đài phát thanh Giải phóng được đài phát thanh Sài Gòn lập lại ngay sau đó, đã phổ biến 10 điểm trong chương trình của CPLTCHMN:

Lần lần, các bộ đội Bắc Việt điều hành sự lưu thông. Xa xa, các kho đạn vẫn tiếp tục nổ.

Có nhiều cột khói đen lên cao ngất trời ở về hướng Chợ Lớn.

Linh mục Jean Mais đã nghe được tin Sài Gòn bị thất thủ do những người giữ ông cho biết: Họ còn nói:

_ “Trường hợp của Anh nặng lắm, Anh là một gián điệp quốc tế. Anh sẽ bị giữ lâu lắm.

Linh mục mua một tập vở học trò, một cây bút máy và bao thuốc lá Bastos, loại thượng hạng. Ông giết thì giờ bằng cách soạn một bài mới cho lớp của ông về phép ẩn dụ hay chế ra cách nói lái.

_ “Tôi có tội gì? đôi khi ông thường hỏi

_ “Anh không biết thiệt sao?

_ Không biết.

_ Sao? Anh dám nói là anh không có tội gì, trong khi cách mạng đã bỏ tù ông?

Linh mục chờ đợi, chỗ nhốt ông bị dời đổi luôn, từ nhà này đến lều khác. Ở đây người ta trao cho ông áo choàng, ở chỗ khác người ta cùm chân ông lại. Một ngày kia, một người giữ ông đọc cho ông nghe một số điều lệ:

_ Anh, từ giờ này anh được gọi là “số 32”. Anh không được nói tên anh ra cho ai biết hết, Cấm không được nói anh là ai. Cấm không được nói về dĩ vãng của anh. Cấm không được nói gì về vấn đề chánh trị . Cấm không được nói chuyện về đạo giáo.

Hà Nội nhanh chóng đặt chánh quyền của họ lên Sài Gòn nhưng rất kín đáo, và chậm hơn ở các tỉnh của vùng đồng bằng vì ở đó có ít lực lượng cộng sản , chỉ có vài trung đoàn Việt Cộng và một ít bộ đội Bắc Việt về phía Nam của Vùng 4 Chiến Thuật. Cho đến đầu tháng 3, các lực lượng này bị phân tán nhỏ ra để mang “tên ma” cấp đại đội và trung đội. Tướng Trần Văn Trà đã cho lệnh tập trung lại thành “sư đoàn” của CPLTCHMN nhưng thật sự chỉ có tên trên giấy tờ. Phải “hù dọa”Chánh Phủ Sài Gòn, cho họ tin là  CPLTCHMN có nhiều quân.

Trong vùng Đồng Bằng, chiến trận thường chỉ là chiến tranh du kích, bên nào cũng có thiệt hại., có đổ máu. Tướng Trà gậm nhấm hạ tầng cơ sở của chính phủ Miền Nam Việt Nam. Việt Cộng đột kích vào các vụ mùa lúa gạo. Trong Vùng 4 này, chiến trận mạnh nhất thường diễn ra ở về phía Bắc, nơi đó Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt có thể tựa lưng vào hậu cứ ở Cam Bốt. Các tướng cộng sản Bắc Việt dự định chiếm Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 75. Nhưng với sư đoàn 21 bộ binh có Thiết Giáp yểm trợ, thành phố này khó mà chiếm được. Các nhánh sông Cửu Long lại còn có thể được xử dụng như tuyến phòng thủ thiên nhiên của Miền Nam.

Chánh quyền cách mạng vào Cần Thơ trưa ngày 30 tháng 4, vì sự tự tan hàng của bên hành chánh và của Quân đội Miền Nam hơn là sự tiến quân ồ ạt của Việt Cộng và Bắc Việt.

MTGPMN và CPLTCHMN không bao giờ đủ mạnh trong Vùng 4 này. Anh Wilfrid Burchett, một nhà báo người Úc, thân cộng sản, đã vô tình tiết lộ như thế. Bà Nguyễn thị Mười Bé, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân An Nghiệp, một trong 12 khu của thành phố, đã mô tả cho anh Burchett về sự gải phóng của Cần Thơ. Trong khu của bà có 19.000 dân , bà ngây thơ thú thật là vào ngày 28 tháng tư, “hạt nhân cách mạng” chỉ có khoảng 15 người yêu nước . Bà có thêm 4 người dân quân bí mật và 40 lính dân vệ của Miền Nam “sẳn sàng ngả về phe ta, khi có lệnh”. Người ta có thể suy diễn là ở Cần Thơ chỉ có nhiều lắm là vài trăm người cốt cán đã làm việc cho CPLTCHMN . Ngày 30 tháng 4 đến 9 giờ sáng rồi mà họ còn đi phát truyền đơn, còn đi dán biểu ngữ trên tường và trên các gốc cây. Sau đó một lúc, họ phát truyền đơn của họ cho binh sĩ Miền Nam Việt Nam ở nhà kho tiếp vận số 4, trong khu An Nghiệp. Hầu hết binh sĩ đều cởi bỏ quân phục của họ và mặc thường phục đi về nhà.

Cộng sản chiếm đài phát thanh. Lúc 15 giờ, tướng Nguyễn khoa Nam nhận thấy là binh sĩ của CPLTCHMN gần như không có võ trang, nên ông cho một số binh sĩ đến chiếm lại đài phát thanh. Ông xin thêm lực lượng tiếp viện nhưng không có. Sau đó ông với tướng Tư Lệnh Phó Nguyễn văn Hưng của ông mới tự tử.

Ông Nguyễn hà Văn, một thành viên của Ủy Ban cộng sản địa phương, một người tóc đã hoa râm và mặt nhăn nheo, đã giải thích cho ông Burchett như sau:

_“Về sau, trong đêm, lực lượng chánh quy của chúng tôi mới đến. Họ đến trễ vì bị đụng độ dài dài trên quốc lộ số 4.”

Chuyện chiếm giữ đài phát thanh là hành động quyết định. Trong các làng và các ấp ở chung quanh, người dân và binh sĩ nhận thấy là đài phát thanh đã ở trong tay cộng sản , nên họ cho rằng kháng cự nữa cũng vô ích. Từng toán hai ba chục người, cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của Miền Nam Việt Nam kéo nhau đi về phía Nam. Nhiều người hy vọng nhập vào các ổ kháng chiến. Nhiều người khác thì nghĩ rằng có thể đến được vùng sình lầy của mũi Cà Mau . Những người khác nữa thì tìm thuyền, tàu, ghe chài để ra khơi tìm hạm đội Mỹ hay của Việt Nam. Có một số toán này đi vòng qua các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long , Bến Tre hay Mỹ Tho để ra biển.

Tại Mỹ Tho, quân lính thuộc tiểu khu này buông súng xuống lúc 18 giờ.

Các đơn vị Hải Quân quốc gia bắn nhiều tràng súng rồi kéo nhau theo sông Cửu Long chạy ra biển. Binh sĩ Miền Nam kháng cự lại ở một số điểm tựa, ở Bộ Chỉ Huy Bình Định Nông Thôn. Ở đây một đại đội cán bộ bình định không chịu đầu hàng. Cửa ra vào được khóa chặt bằng 2 hàng rào kẽm gai. Theo ông Burchett thì lực lượng cách mạng phải dùng mẹo. Họ nghi trang với quân phục binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa để đến gần trại rồi hạ sát người lính gác để vào trại.

Cũng vào giờ này, trên đảo Côn Sơn, có 75 tù nhân nổi loạn. Từ thời Pháp, Côn Sơn và nhà tù ở đây đã là hiện thân của cả một lịch sử và một biểu tượng. Những phòng giam kiểu song sắt như chuồng cọp vẫn còn đó. Đại sứ Graham Martin đã nói rằng các phòng giam này cũng sạch sẽ. Các phòng giam được gọi là chuồng cọp này là những phòng ở dưới tầng hầm mà người kiểm soát đi lại ở trên. Không có nóc, chỉ có một tấm vỉ song sắt để người ta dở lên cho người tù xuống và để phát thức ăn nước uống cho tù nhân. Có rất nhiều người cộng sản đã đi qua Côn đảo. Hầu hết là tù chánh trị. Các cai tù đã bỏ đi hay đã được vô hiệu hóa. Chiều hôm đó, đài phát thanh Gải phóng loan báo là các tù nhân ở Côn đảo đã thành lập một Ủy Ban gồm 11 thành viên “dưới quyền lãnh đạo của đồng chí Lê Cầu”.

Đài phát thanh Gải phóng cũng tuyên bố là “27 tàu chiến của Hải Quân bù nhìn” đã bị khám xét ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Họ bị các đơn vị của Hải Quân Bắc Việt bao vây ở hải phận Đà Nẵng , nơi đây không còn có tàu chiến Hoa Kỳ nữa.

Sự thật là Hải Quân Bắc Việt không bao giờ có mặt trong vùng biển dù là hạm đội Hoa Kỳ đang có mặt hay không có mặt…..

Dọc theo tất cả bờ biển thuộc Miền Nam Việt Nam, có quá nhiều dân tỵ nạn đã dùng đủ loại tàu thuyền lớn nhỏ để “vượt biển”, đó là những người vượt biển đầu tiên! (nguyên tác: “boat people”)

Tại Sài Gòn, tòa đại sứ Pháp thảo một điện tín cho Chánh Phủ Pháp. Ông Mérillon giải thích là “buổi trưa ở đây rất nóng bức. Việt Cộng đã chế ngự hết các hệ thống phòng thủ cuối cùng”

Để mô tả cảnh các dơn vị Bắc Việt tảo thanh thành phố, đại sứ dùng danh từ “Việt Cộng” để xác nhận dù gì thì hành động tiến chiếm Sài Gòn cũng chỉ là một hư cấu về phía CPLTCHMN. Ông Mérillon viết tiếp:

_ “Bọn Việt Cộng vào Sài Gòn vào giữa trưa, nghĩa là đúng 2 giờ sau lời kêu gọi đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Thật là vô phước cho ông Dương Văn Minh vì tên ông cũng không được ghi chú như là một Tổng Thống ngay trong các công hàm chánh thức cũng vậy. Thật ra không thấy có đánh đấm một trận nào. Trở ngại duy nhất là những tay bắn tỉa lẻ loi, nhưng nhanh chóng bị triệt hạ…. Thường thường vì thiếu tin tức, các binh sĩ Dù và Biệt động Quân đang đánh nhau không chấp nhận tư cách của các công hàm ngoại giao… Về phía bên kia của khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ súng liên thanh vẫn không ngừng tác xạ.”

Có ít nhất một mục tiêu mà tòa đại sứ Pháp và Đại sứ Mérillon đã đạt được Ông Mérillon viết:

_ “người ta không có chứng kiến tại Sài Gòn những cảnh giết chóc não lòng như đã diễn ra ở Đà Nẵng. Trong vòng gần 48 tiếng đồng hồ, Sài Gòn đã biết được sự hỗn độn, một sự hỗn độn tương đối thôi, nếu người ta không muốn nói đến những pha cướp bóc…”.

Có trách nhiệm về an ninh, ông đại sứ lúc nào cũng phải nghĩ tới các công dân của mình:

_ “Tôi tin tưởng là có thể nói cộng đồng người Pháp của chúng ta không có bị thiệt hại gì….Hình như

họ còn nguyên vẹn.”

Ông Mérillon cầm điện thoại trực tiếp nối liền với tòa đại sứ Hoa Kỳ lên. Đường dây đã chết rồi.

Thượng úy Bắc Việt Trần bá Đoài đang ở Bộ Tư Lệnh Vùng 4 cộng sản , ở Quảng Bình khi ông nghe được ông Dương Văn Minh đã đầu hàng qua đài phát thanh. Thượng úy này thuộc thành phần tiểu đoàn 28 của đơn vị vận tải số 559. Ông chỉ huy một đoàn xe 70 chiếc chở đạn dược, cá khô và gạo. Như vậy là chiến tranh đã chấm dứt, sự thống nhất đã bắt đầu…

Cuộc chiến này đã quá dài.. .Ông Đoài đã vào bộ đội mười sáu năm nay. Ông từng mong muốn trở thành bác sĩ. Trước khi được chuyển sang ngành vận tải, ông thuộc lữ đoàn 305 Nhảy Dù và đã nhảy được 25 lần, do Trung quốc và Liên Xô huấn luyện. Lúc bấy giờ ông hết lòng phục vụ , để giải phóng và thống nhất đất nước . Đầu óc của ông bị nhét đầy biểu ngữ: “Việt Nam là đất nước của chúng ta”, “Người Việt Nam là một dân tộc thống nhất”, “Không có gì quí hơn Độc Lập, Tự Do”… Các khẩu hiệu này được gắn liền với ông ta như vết mực xâm trên tay ông ta vậy. Ông ta đã ngày đêm chạy trên đường số 1 , nối liền Hải Phòng đến Hà Nội , sau đó đi vào trong Nam. Ngồi trong buồng lái của chiếc Molotowa, ông dẫn đầu đoàn xe từ 50 đến 80 chiếc xe vận tải. Khi mà mọi việc đều tốt thì ông đi suốt 700 cây số trong hai ngày và một đêm. Nhiều khi một phần ba người của ông bị thương hay tử thương.

Đã từ lâu rồi, ông tự hỏi rồi chiến tranh sẽ đi về đâu? Vào tháng 12 năm 1974, cấp trên của ông đã nói là chiến tranh còn dài lắm, rằng người ta không thể giải phóng nhanh chóng cho cả nước Việt Nam được . Phải có những “viễn ảnh đúng đắn”, người ta không thể tấn công mạnh bạo vào Sài Gòn được , sẽ có nhiều tổn thất cho cả 2 bên. Sài Gòn là một hòn ngọc, Không thể phá hủy nó được bằng một cuộc tấn chiếm. Vào tháng giêng, thượng úy đã dự một buổi họp với 700 sĩ quan đủ mọi binh chủng. tại Hà Nội, gần Ba Đình. Anh ta đã sửng sờ. Người ta loan báo cho hội nghị là có một cơ may đã đến, cơ may này ngàn năm mới có một lần.

Cơ may đó đã nắm được. Chiến tranh đã chấm dứt….

Ở Hà Nội, dân chúng cũng như Lãnh đạo đảng đã nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng qua đài phát thanh. Có nhiều cơ quan của chính phủ đã điện thoại đến cho ông Jean Thoraval, phóng viên của cơ quan truyền thông AFP, để có được bản văn chính xác, đầy đủ về lời tuyên bố của ông Minh. Người ta đang sửa soạn ăn lễ 1 tháng 5 . Đối với công đoàn lao động, đề tài của buỗi lễ Lao Động sẽ phải là: “viễn ảnh vô địch và sáng chói của cách mạng Việt Nam”. Ngày lễ Lao Động 1 tháng 5 đã trở thành ngày của chiến thắng.

15 giờ chiều:

Đến khoảng 15 giờ , giờ địa phương, người ta được biết chánh thức là thủ đô Sài Gòn của Miền Nam Việt Nam đã thất thủ. Mọi việc làm được tiếp tục nhưng sau đó được ngưng lại. Tất cả đều ra đường. Buổi chiều hôm đó là cả một niềm vui được nổ bùng. Nhiều người ngoại quốc cũng ăn mừng sự kiện to lớn này với số đông dân chúng Bắc Việt. Các nhân viên hợp tác xã và nhân viên ngoại giao người Cuba đi dạo với một dàn kèn ở phố hàng Lụa, trong cổ thành Hà Nội. Đại sứ Thụy Điển mở một cuộc tiếp tân, ăn mừng ngày sinh nhật của Hoàng Đế Thụy Điển, cũng là một buổi lễ quốc gia của nước này. Tất cả các tòa đại sứ của các nước Đông Âu đều treo cờ ăn mừng. Một viên chức của Bộ Ngoại Giao Bắc Việt trách tòa đại sứ Pháp là tại sao không làm như các tòa đại sứ khác. Ông Philippe Richer trả lời:

_ “Đúng theo phong tục, tôi chỉ treo cờ cho các ngày lễ quốc gia của nước tôi mà thôi.”

Tại trại tù Phong Quang, các tù hình sự cũng như tù chánh trị đều ngưng làm việc. Trời quá nóng bức. Cũng như mọi người tù khác, anh Nguyễn Ky đinh ninh rằng một ngày nào đó quân lực Miền Nam Việt Nam sẽ đến giải phóng cho họ. Ông không bao giờ tin là Ban Mê Thuột, rồi Đà Nẵng, rồi Huế đã bị thất thủ. Các loa truyền thanh của trại tù đã loan báo Sài Gòn đã thất thủ. Toàn là chuyện tuyên truyền ! Láo khoét ! Toàn là tin thất thiệt ! Người ta muốn làm cho tù nhân mất tinh thần, đập tan hết mọi hy vọng của người tù. Một binh sĩ của Miền Nam Việt Nam, một anh Biệt động Quân không thua gì các anh tù khác, cũng không chấp nhận “tin tức” này.

Còn nhà thơ Nguyễn chí Thiện trong trại này có phản ứng gì ? Người ta chỉ biết là ông tiếp tục nghiền ngẩm lại bài thơ mà ông đã sáng tác:

ĐAU ĐỚN LẮM

(xin xem nguyên tác của tác giả Todd Olivier ở dưới)

Đau đớn lắm, cái lầm to của thế kỷ Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi! Mấy chục năm trời xương máu đổ đi Thử hỏi dân đen thu được những gì Ngoài một số từ lừa mị kẻ ngu si?Người “Công Nhân” trước gọi “Cu Li” “Người Lính” cũ, nay gọi là “Chiến Sĩ”

Song vẫn “Vác” vẫn “Khuân”, vẫn đói nghèo, vẫn bị Đẩy ra chiến trường, chết hoài, chết phí.

Cho một lũ Trung Ương lợn ĩ! Còn cuộc sống ngày xưa thì tắc tị Nay vạn lần thêm tắc tị, đen sì! Đau đớn lắm cái lầm to thế kỹ

Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi!

1970

(nguyên văn dịch giả trích từ tập thơ: Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” của nhà thơ Nguyễn chí Thiện)

(nguyên tác bằng tiếng Pháp của tác giả Olivier Todd)

Douloureuse, la grande erreur du siècle Dans mille ans

L’Histoire n’en finira pas d’en parler De multiple décennies de sang et de larmes

Qu’as obtenu le peuple?

– Rien qu’un vocabulaire leurre à idiots Douloureuse, la grande erreur du siècle Dans mille ans

L’Histoire n’en finira d’en parler “Coolie” promu “Travailleur” “Bidasse” promu “Combattant” Porteur ou débardeur

Ils restent sous la même faix À jamais famétiques

À jamais misérables

Toujours prêts aux sacrifices dur le champ de bataille

Tù binh Nguyễn Ky sáu tháng về sau mới công nhận là Sài Gòn đã trở thành “thành phố Hồ chí Minh”. Tin này được các tù binh Miền Nam xác nhận , trong đó có một trung tá, cùng làng với anh ta.

Tại Hoa Thạnh Đốn, các cơ quan trực thuộc đại sứ Bill Brouwn, người giám sát toán đặc nhiệm phụ trách về tất cả các vấn đề của những người tỵ nạn, đã cho gắn một tổng đài điện thoại để ai cũng có thể gọi được không mất tiền: số (800) 368- 1180 . Điện thoại reo liên tục không ngớt.

Tại Bộ Ngoại Giao, có một trung tâm đặc biệt được mở ra trong nhiều ngày qua. Các viên chức ngủ qua đêm trên các giường bố được cấp tốc dựng lên. Giống như các đồng nghiệp của mình, ông Douglas Pike rất bực mình, theo nghĩa hẹp của danh từ này. Tất cả việc này đã đi ra ngoài lý trí hết.

Tại Ngũ Giác Đài, các quân nhân hiện dịch đều im lặng hay đưa các nhà báo qua cho phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng tiếp, hay thường thì của Bộ Ngoại Giao. Hầu hết các sĩ quan nghĩ rằng những người có trách nhiệm quan trọng trong việc kết thúc chiến tranh là các nhà chánh trị , không phải các quân nhân . Các chánh trị gia thường thường hay gán trách nhiệm của sự đổ vỡ lại cho báo chí.

Sở báo chí của Nhà Trắng xác nhận là trong khi đợt trực thăng chót di tản những người Mỹ cuối cùng thì Tổng Thống Ford lại nói chuyện với các đại diện của những nhà nuôi trừu và gà lôi. Những con chó sói đã đặt cho họ rất nhiều vấn đề.

_“Đề tài này có vẻ như đã làm cho ông Tổng Thống được thư giãn rất nhiều”

các cộng sự viên của Tổng Thống đã nói như vậy khi thấy Tổng Thống đã trò chuyện với những nhà chăn nuôi đến gần 70 phút.

Tổng Thống Ford đã trao cho các nhà báo một bản văn vô thưởng vô phạt:

_ “Cuộc di tản đã chấm dứt, Hải Quân Hoa Kỳ và đại sứ Martin đã làm xong phận sự của họ, và rất hoàn hảo, trong những điền kiện thật khó khăn. “Tôi yêu cầu tất cả dân chúng Hoa Kỳ hãy siết chặt hàng ngũ, và tránh những lời đả kích về quá khứ….”

Qua đài truyền hình, ông Henry Kissinger họp báo trong văn phòng của tòa nhà Hành Pháp., ở cạnh Nhà Trắng. Trong 4 tháng sau cùng này và nhất là trong 48 giờ cuối cùng, bộ mặt chánh trị của ông về Việt Nam đã sụp đổ hoàn toàn. Ông nói:

_ “Cho tới chiều chúa nhật 27 tháng 4, tôi nghĩ là một giải pháp thương thuyết có khả năng cao. Nhưng đến một lúc nào đó, chiều chúa nhật, Bắc Việt rõ ràng đã thay đổi tín hiệu của họ. Lúc bấy giờ họ tìm một giải pháp quân sự nhanh chóng….Chúng ta đã thành công trong việc di tản 55.000 người Việt Nam”

Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao cho thấy là Bắc Việt đã liên tiếp thay đổi vị trí của họ trên địa bàn ngoại giao:

_ “Những sự đòi hỏi của cộng sản cứ mỗi ngày mỗi leo thang hoàn toàn.

Thoạt tiên, theo cộng sản thì người ta không thể thương thuyết nếu ông Thiệu chưa ra đi. Sau đó họ lại đòi hỏi ông Hương cũng phải ra đi. Về sau thì ông Dương Văn Minh có vẻ như được họ nhận, nhưng cuối cùng ông Minh cũng bị từ chối nốt….

“Chi bộ tấn công ngoại giao” của Hà Nội làm việc rất đắc lực.”

Một nhà báo nêu câu hỏi với ông Kissinger:

_ “Ông có chủ trương về một sự giúp đở của Hoa Kỳ trong vấn đề tái thiết nước Việt Nam hay không?

Ông Kissinger không thích câu hỏi này nên ông trả lời vòng vo.

_ Còn về Miền Nam Việt Nam?

_ Còn phải xem lại coi chính phủ mới đó thuộc loại nào? nếu thực tế sẽ có một quốc gia Việt Nam ở Miền Nam”.

Cũng trong ngày 30 tháng 4 này, ông Kissinger viết thư cho bà Lionnaes, thơ ký của Giải Nobel về Hòa Bình. Ông mong muốn được trả lại cả giải thưởng và số tiền. Nhưng Ủy Ban ở Na Uy từ khước. Những biến cố đã xảy ra “không làm giảm sự quý trọng của ông chút nào hết, về những cố gắng thành khẩn mà ông Kissinger đã dàn xếp để tái lập một cuộc ngừng bắn hồi năm1973”

Đối với ông Kissinger, với tư cách là con người, và một người của chánh quyền, sự kiện Sài Gòn bị thất thủ đã thể hiện một sự thất bại thật to lớn, thật rõ ràng và thật là nặng nề cho sự nghiệp của ông ta.

Từ tháng 5 năm 1968, CPLTCHMN đã có một biệt thự ở vùng Verrière-le-Buisson, gần Ba Lê. Nơi đây, bà Nguyễn thị Bình, trong cương vị của những người kháng chiến, đã gây được xúc cảm hay quyến rũ các nhà báo thuộc giới truyền thông quốc tế. Với tư cách là Bộ Trưởng Ngoại Giao của CPLTCHMN, bà thường tiếp báo chí. Một người Pháp đã nêu lên vấn đề thanh toán ở Miền Nam Việt Nam. Bà Bình đã trả lời:

_ “Không có chuyện đó. Chúng tôi biết là ở Pháp và trong các quốc gia Âu Châu khác, đã có những chuyện thanh toán các cộng sự viên của Đức Quốc xã . Đó là phản ứng tự nhiên, của con người . Kẻ địch của chúng tôi đã phạm nhiều tội ác đẫm máu. Họ đã tra tấn, giết chóc và đã cướp gia đình của các nạn nhân của họ. Những người có nợ máu cần thanh toán với họ sẽ là những người cách mạng . Chúng tôi đã dạy dân tộc chúng tôi là không nên trả thù..”

Đối với những người còn hoài nghi, bà nói tiếp:

_ “Trong 30 năm qua, chúng tôi đã chịu nhiều hy sinh hơn, nếu đem so sánh thì chuyện không trả thù chỉ là một chuyện nhỏ thôi, nhất là chuyên hòa hợp quốc gia mới là có giá trị. Chúng tôi gạch bỏ quá khứ.”

Anh Trần văn Bá, với các bạn trong Hội Sinh viên Việt Namở Ba Lê, đến tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa cũ ở đường Villiers

Đại sứ Nguyễn duy Quang sắp từ chúc ra đi. anh Bá nói:

_ Chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đấu với các bạn sinh viên. Ông hãy giúp chúng tôi.

Đại sứ trao cho anh một ngân phiếu- của một chương mục không còn được tiếp tế- Anh Bá biết là tòa đại sứ sớm muộn gì cũng phải được giao lại cho chánh quyền Hà Nội. Anh đi khắp nơi trong tòa đại sứ với các sinh viên, lấy hết hồ sơ lưu trữ ra đốt hết. Anh nói là phải tranh đấu, không chấp nhận sự thất trận.

Đó là cử chỉ đầu tiên của một người tranh đấu. Mẹ anh còn ở Sài Gòn, em của anh là Trần văn Tòng, khuyên anh em nên cẩn thận, ở Ba Lê này:

_ Bọn cộng sản sẽ hành hạ bà mẹ chúng ta.

Từ ngày đó trở đi, giữa căn phòng rách nát ở Bourg-la-Reine là nơi anh đang ở, và trụ sở của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở đường Monge tại Ba Lê, anh Bá bắt liên lạc, viết thư, hy vọng, suy nghĩ, rồi thất vọng…

Anh Bá muốn thúc đẩy người Việt Nam ở Pháp và tất cả các cộng đồng trên thế giới chống lại cộng sản . Một anh bạn học cũ của anh ở trường trung học Yersin đã mạnh mẽ khuyên anh:

_ “Làm sao anh có thể chống lại cả một bộ máy của một chế độ quân sự – công an đã có 50 năm kinh nghiệm?

Người anh em của Bá cải ráo nước miếng:

_ Có phải đây là thời điểm để chống như vậy hay sao? Coi như Anh sẽ lội qua cả một đại dương đó!

Bá cười:

_ “Đó không phải là con đường khó đi. Lúc Hồ, Giáp và Đồng bắt đầu tranh đấu, họ chỉ có bốn năm người. Lúc đó đảng cộng sản còn quá yếu. Dân tộc đã khuyến khích họ.

Anh Bá không chấp nhận mất Sài Gòn. Anh không muốn tương lai của anh bị tước đoạt. Nếu người Việt Nam không tự lo cho mình thì ai sẽ giúp cho họ đây  Ở hải ngoại trong hiện tại, cũng như ở Việt Nam trong quá khứ, người Việt Nam sống chia rẽ. Thường thì họ không chịu đoàn kết với nhau. Tranh đấu là một chuyện hay đó, nhưng làm sao đây? Phải cầm súng trở lại chăng? và bắt dân tộc Việt Nam phải chịu đau khổ nữa hay sao? anh Bá tự hỏi như vậy…..

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 12 Feb 2026

Ly Nước Đã Đầy

“Ly nước đã đầy chờ giọt cuối

Rừng khô đợi ngọn lửa bùng lên!”(HP)

Xin nhắc lại một vài chuyện cũ: Vào tháng 8-2010, hằng trăm người dân tại xã Tam Lãnh, Quảng Nam đã kéo nhau đến nhà máy vàng Bồng Miêu đập phá tài sản và cướp đi 5 tấn quặng vàng của nhà máy, trị giá hàng chục tỷ đồng vì một em bé vào bãi thải của nhà máy Bồng Miêu để mót quặng, đã bị công an bắt giữ và đánh bằng roi điện để lại nhiều vết thương trong người. Cuộc tấn công vào nhà máy, thoạt tiên là một cuộc trả thù khi con em của họ bị đánh đập, trở thành một vụ cướp phá cuồng nộ khi dân làng la hét, dùng gạch đá tấn công các cơ sở và cuối cùng cắt kẽm gai tràn vào khu vực chứa, cướp quặng vàng mang đi. Nổi loạn vì bị hà hiếp, bất công và đói khổ, nên người dân vừa đập phá cho hả lòng hả dạ, vừa bị sự nghèo đói thôi thúc trở thành cướp bóc.

Trưa ngày 25/7/2010 hàng chục nghìn người dân huyện Việt Yên – Bắc Giang đã đi theo đám tang, mang quan tài một thanh niên bị công an đánh chết, một số cơ phận của nạn nhân đã bị cắt bỏ, có kèn trống lên thành phố Bắc Giang biểu tình. Công an và người dân đã đối đầu nhau trên đường phố, xe công an đã bị dân chúng tấn công và đập phá. Lực lượng công an tỉnh đã huy động cảnh sát cơ động của thành phố và các huyện tiếp ứng, nổ lựu đạn cay, chặn đường tiến của đoàn biểu tình, bắt đi nhiều người dân. Ngày 21 tháng 12-2010, lực lượng công an quận Kiến An (Hải Phòng) đã phải huy động cả loại xe bọc sắt mới giải cứu được 5 công an bị hằng trăm người dân bao vây vì bất bình vì cách đối xử của công an với người dân quá tàn bạo. Một đôi thanh niên nam nữ đi xe máy, người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm đã bị một tên sĩ quan công an địa phương đuổi theo, dùng chân đạp vào xe hai người này khiến cho họ bị ngã và bị trọng thương. Sau khi 5 tên công an được giải cứu, những người dân sau đó còn tiếp tục kéo đến trụ sở Công an phường Quán Trữ bao vây phản đối, la ó dữ dội.

Ngày 14 tháng 5-2011, hằng trăm người dân đang di chuyển trên đường Hồng Bàng, Saigon, chặn bắt một công an đã vô cớ chặn xe và đánh một người dân bị thương, gây nên cảnh kẹt xe trên đường khoảng một tiếng đồng hồ. Lâu nay vẫn xảy ra những vụ người dân bị đánh chết tại trụ sở công an như trường hợp thanh niên Nguyễn Văn Nhương ở Bắc Giang, vụ ông Trịnh Xuân Tùng, ở Hà Nội, hay vụ anh Nguyễn Công Nhựt tử vong tại đồn công an Bình Dương …

Chỉ mới ngày 21 tháng 7-2011 gần đây, tại Ba Vì, Hà nội, 3,000 dân địa phương đã tập họp, đắp mô, dùng người già, trẻ em làm chiến lũy sống quyết bám trụ, chặn đường 200 công an cơ động cùng 1 xe ủi dự định cướp đất của dân cho các doanh nghiệp. Cuộc đương đầu kéo dài suốt ngày. Công an Cộng Sản càng ngày càng để rõ mặt là kẻ thù của quần chúng đang bị bóc lột, để bảo vệ cho giới cầm quyền và tư bản đang xâu xé, tàn phá đất nước. Hiện tượng dân chúng tụ tập, bao vây, chận đường công an, hay đập phá các cơ sở của chính quyền Cộng Sản, thậm chí còn tấn công cướp bóc tài sản của chính phủ, những năm gần đây không còn là một chuyện lạ ở Việt Nam nữa. Thái độ, ngang ngược hống hách của công an, một lực lượng tôi tớ bảo vệ chế độ, đứng đối lập với người dân trong nước càng ngày càng rõ nét. Công an là lực lượng tuyệt đối trung thành với những kẻ cầm quyền có thế lực, trên danh nghĩa là với đảng. Sau năm 1975, để trấn áp dân miền Nam, công an được tuyển mộ từ “đất thánh” Nghệ Tĩnh, về sau lực lượng công an càng ngày càng đông đảo, chọn lọc trong các thành phần trung kiên, ba đời mang ơn đảng. Để tăng cường sự hữu hiệu của lực lượng công an, trên tiêu chuẩn sắt máu, tàn bạo, chế độ này đã không từ nan việc tuyển chọn nhân viên công an từ phường du côn, tội phạm, lấy công chuộc tội và trung thành là tiêu chuẩn nồng cốt. Theo Vũ Thư Hiên, trong “Đêm Giữa Ban Ngày” thì Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công An quyền lực đầu tiên của Việt Công nguyên là dân móc túi, gật dọc, trộm cắp được Trường Chinh thu nạp. “Công an nhân dân” là lực lượng bị người dân căm ghét nhất trong chế độ Cộng Sản. Ở đất Bắc ngày xưa, trai tráng cầm súng vào Nam, để làng xóm, vợ con nghèo đói lại cho bọn công an, thôn xã nhũng lạm, “ngồi mát ăn bát vàng”, nên giữa công an và bộ đội đã có những mâu thuẫn về quyền lợi, thù ghét xung khắc với nhau. Cứ nhìn cảnh những “công an khu vực” hằng ngày “tác oai, tác quái” trong thành phố của chúng ta sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, mới thấy thế nào là “nghiệp vụ chuyên môn” của chúng. Chúng lùng sục vào mọi nhà, đi từ cửa chính ra nhà sau mà chẳng hề xin phép ai, chúng nhòm ngó đến từng bữa ăn, từng hành động, chuyện đi đứng của từng người. Từ những ngày đói khổ cơm không có ăn ở những vùng đất Bắc xa xôi, vào Nam thời đó, chúng đã tậu nhà cửa, mua xe cộ, phương tiện sống giàu có hơn hẳn bà con lối xóm, nhờ vào mọi thủ đoạn từ cứng rắn như dọa nạt, đòi hối lộ, đến mềm mỏng, “con con, cháu cháu”, xin xỏ một bữa nhậu, hay vòi tiền sửa xe, cha mẹ ốm, về Bắc thăm nhà. Mỗi “công an khu vực” là mỗi ông Vua con! Trong suốt những năm miền Nam dậy lên phong trào vượt biển, công an là những thành phần “béo bở” nhất, từ chuyện mua bến bãi, đến các nhà tạm giam, trại “cải tạo” với những chuyện thả người, chuộc người, chạy án. Trẻ em thời “xã hội chủ nghĩa” trong bài luận văn cũng như trong những giấc mơ đều có hình ảnh của “chú công an”: nhà cửa khang trang, ăn nhậu dàn trời, ai cũng nể nang.

Xin đừng quên những chuyện mới: Những năm gần đây, với các cuộc đình công khắp nước, các cuộc biểu tình chống cướp đất đuổi nhà, chống bá quyền Trung Cộng, công an càng ngày càng trở nên hung hãn, mất nhân tính. Chúng dùng vũ lực khóa tay, đạp vào đầu, đánh vào mặt người, kể cả dùng roi diện, dùi cui. Danh hiệu mị dân của chúng là “công an nhân dân”, cũng như chúng thường rêu rao công an là “con cái của nhân dân”, nhưng chúng gọi nhân dân bằng giọng khinh miệt “mày tao”! Cả thế giới đã thấy hình ảnh tên sĩ quan công an Hà Nội đứng trên cửa xe buýt đạp vào mặt một người yêu nước đang bị hai tên công an khác giữ chặt chân tay khiêng lên xe trong ngày biểu tình chống Tàu Cộng mới nhất tại Hà Nội, hay những cảnh công an khiêng, đẩy con người như những con vật. Trong xã hội Cộng Sản hiện nay, công an là tiêu biểu bộ mặt của chính quyền. Chúng đại diện cho bọn cai trị, được đặc quyền đặc lợi, (chỉ với chúc vụ Giám Đốc Công An Hà Nội đã mang cấp bậc Trung Tướng), chúng có quyền sinh sát, bắt bớ, giam cầm và giết chết những kẻ “phản động”, “chống đối”, “quá khích”, “bị kẻ xấu lôi kéo”, nhưng tiếc thay đó chính là toàn thể nhân dân, hiện nay là kẻ thù của chế độ Cộng Sản.

Chống công an, vây đánh công an chính là do sự bất mãn với chế độ, nhất là vì việc cường quyền dung túng cho bọn này đặc quyền sinh sát, đánh đập người dân một cách dã man, thù hận, khốn nạn gấp bội thái độ và hành động của những tên lính “Partisan”, “Marocain” rạch mặt thời Pháp thuộc. Trước những chuyện người dân trong nước bất bình, uất ức tụ tập, bao vây tấn công đồn, đánh công an trọng thương là chuyện sẽ phải xẩy ra. Tôi muốn mượn lời một người trong nước, giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội Việt Nam cho rằng phản ứng của người dân là “chuyện tức nước vỡ bờ cũng xưa như trái đất này thôi, tích tiểu thành đại, đến một lúc nào đó khi mà sức nước đã dồn, đê yếu thì nó bung ra.”

Cường quyền dùng công an là lực lượng bảo vệ cho mình và là công cụ trấn áp nhân dân, nhưng cuối cùng sẽ nhận những hậu quả do những thành phần này mang lại. Bất công, áp bức, tham nhũng, cướp đất … đã lan tràn. Một cuộc cách mạng trong ngày tới, không thể là một cuộc “cách mạng nhung”, vì thù oán đã chất chồng, oan khuất chưa được giải. Lúc bấy giờ bọn đầu sỏ, quyền lực đã có phương tiện cao bay xa chạy, nhưng chắc chắn những tên côn đồ đội lốt công an như tên Minh đạp vào mặt người dân yêu nước, phải trả món nợ này bằng máu! Giờ này một giọt nước cũng có thể làm tràn ly, một cánh đồng cỏ khô hạn chỉ cần một tia lửa.

Nhà văn Lâm Ngữ Đường đã nói rằng: “Bất bình nhỏ trong lòng, có thể dùng rượu để tiêu sầu; bất bình lớn trong đời, phải dùng gươm để giải quyết.”

Đại Tá Van Thai (gốc Việt), Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618, Không quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 10, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 11 Feb 2026

Đại Tá Van Thai Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618 (Ảnh của amc.af.mil).

Đại tá Van Thai* là Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618 (618 AOC/TACC) tại căn cứ Không quân Scott, Illinois, là Trung tâm kiểm soát không vận và tiếp nhiên liệu trên không lớn nhất của Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ, với quân số hơn 800 Quân nhân hiện dịch, trừ bị, Vệ binh Quốc gia, Nhân viên dân sự và nhà thầu, hỗ trợ các hoạt động không vận toàn cầu cho 11 Bộ tư lệnh tác chiến Hoa Kỳ (11 Combatant Commands). Trung tâm điều hành không vận 618 trực thuộc Bộ Tư lệnh không vận (AMC), giữ vai trò và nhiệm vụ chuyên gia của Bộ tư lệnh không vận trong việc lập kế hoạch, giao nhiệm vụ, thực hiện và đánh giá các phi vụ không vận, một nguồn lực vô giá khi duy trì tầm ảnh hưởng toàn cầu của Hoa Kỳ. Chỉ huy một đội phi cơ gần 1100 chiếc phi cơ vận tải, phi cơ tiếp nhiên liệu trên không, cung cấp cho các binh sĩ ở tiền tuyến sự yểm trợ không vận cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Trung tâm điều hành không vận 618 thực hiện từ 100 đến 150 phi vụ mỗi ngày, cung cấp khả năng chỉ huy và kiểm soát trên toàn bộ phạm vi hoạt động không vận, bao gồm vận chuyển hàng không, tiếp nhiên liệu trên không, sơ tán y tế hàng không và hệ thống yểm trợ vận tải toàn cầu. Trung tâm điều hành không vận 618 luôn hoạt động 24 giờ/ngày, 365 ngày/năm để chuyển đổi các yêu cầu thành các nhiệm vụ hiệu quả trên toàn thế giới. Đại tá Van Thai được bổ nhiệm làm Chỉ huy phó Trung tâm điều hành không vận 618 từ tháng 6 năm 2025, sau khi ông hoàn thành nhiệm kỳ Chỉ huy trưởng Không đoàn** 434 tiếp nhiên liệu trên không từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025.

Đại Tá Văn Thai sinh tại Sài Gòn, Việt Nam, ông tốt nghiệp Học viện Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force Academy), năm 1998. Ông được chỉ định chỉ huy các Phi đoàn tiếp nhiên liệu trên không trang bị phi cơ KC-135 và phi đoàn vận tải trang bi phi cơ C-12. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Phi đoàn** 340, tiếp nhiện liệu trên không là một Phi đoản chiến đấu lớn nhất của Không quân Hoa Kỳ hoạt động tại căn cứ Không quân tiền phương A Phú Hản với 300 nhân viên phi hành đoàn (2000 nhân viên luân phiên) với 55 phi cơ trị giá 3 tỷ Mỹ kim. Phi đoàn 340 đã bay 14000 phi vụ yểm trợ cho các Lưc lượng thuộc Bộ tư lệnh quân sự Hoa Kỳ tại Trung Đông (U.S. Central Command).

Huy hiệu Trung tâm điều hành Không vận 618 của en.wikipedia.org

Ngoài thòi gian phục vụ tại các đơn vị trên, Đại Tá Văn Thái đã từng đãm nhận những chức vụ chỉ huy quan trọng trong Không quân Hoa Kỳ như:

-Chỉ huy phó liên đoàn tác chiến** 18 Không quân Hoa Kỳ đóng tại căn cứ Không quân Kadena Nhật Bản. Liên đoàn 18 có quân số hơn 900 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ phục vụ trong 13 Phi đoàn với 92 chiến đấu cơ F-15C, F-16; Phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-135, Phi cơ tiền thám và báo động sớm E-3 AWACS, Phi cơ quan sát Radar tấn công mục tiêu E-8 JSTARS, Phi cơ không thám RC-135 và Trực thăng HH-60 trị giá hơn 4 tỷ Mỹ kim. Liên đoàn 18 thi hành nhiệm vụ thực hiện các phi vụ cấp cứu, không thám, chiến đấu và yểm trợ cho lợi ích của Hoa Kỳ và Đồng minh trong khu vực.

-Chỉ huy trưởng Liên đoàn tác chiến 100 Không quân Hoa Kỳ tại Mildenhall, Suffolk, Anh Quốc (100th Operations Group, Royal Air Force Mildenhall, United Kingdom) từ 6 năm 2020. Liên đoàn 100 chịu trách nhiệm kế hoạch thực hiện các phi vụ tiếp nhiên liệu trên không cho các lực lượng Không quân Hoa Kỳ tại Châu Âu. Liên đoàn điều động vả sử dụng 15 phi cơ KC-135R Stratotanker với quân số 245 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ phi hành đoàn cùng với các nhân viên dân sự sẵn sàng yểm trợ thi hành nhiệm vụ.

-Trưởng phòng hành quân và kế hoạch Đệ Ngũ không lực, trú đóng tại căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản từ tháng 6 năm 2022.

-Trưởng phòng hành quân và huấn luyện Đệ Ngũ không lực, trú đóng tại căn cứ Không quân Yokota, Nhật Bản từ tháng 4 năm 2023.

-Chỉ huy trưởng Không đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không, đồn trú tại phi trường Grissom, Indiana từ tháng 2 năm 2024.

-Chỉ huy trưởng Không đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không từ tháng 1 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025.

Đại tá Van Thai, Chỉ huy trưởng Không đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không phát biểu trước các Quân nhân trong đơn vị vào tháng 5 năm 2024 (hình của grissom.afrc.af.mil).

Là một Sĩ quan cao cấp Không quân ngành phi hành, Đại tá Văn Thái đã bay hơn 2700 giờ qua các loại phi cơ KC-135 R/T, tiếp nhiên liệu trên không; phi cơ C-12 F/J, vận tải nhẹ; phi cơ E-3 B/C, tiền thám và báo động sớm; phi cơ E-8 chỉ huy trên không; Trực thăng HH-60; Phi cơ huấn luyện T-1A và phi cơ huấn luyện T-37B. Đại tá Văn Thái cũng từng đảm nhận cương vị Sĩ quan giao tế Không quân (ngành ngoại giao quân sự), ông có nhiều kinh nghiệm phục vụ tại các khu vực đông bắc Á Châu; Thái Bình Dương-Án Độ Dương; Châu Âu và Phi Châu. Trong 27 năm kinh nghiệm phục vụ ngành phi hành Không quân Hoa Kỳ, Đại tá Van Thai đã tham dự các cuộc hành quân không vận: ATLAS GUARDIAN, ALLIES REFUGE & WELCOME, ATLANTIC RESOLVE, JUNIPER MICRON, INHERENT RESOLVE, FREEDOM SENTINEL, IRAQI FREEDOM, ENDURING FREEDOM (MIDDLE EAST & PHILIPPINES), NOBLE EAGLE.

Đại tá Van Thai tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cử nhân khoa học sinh học, Học viện Không quân Colorado Springs, năm 1998; Văn bằng Pháp văn tại Học viện kỹ thuật an ninh Quốc gia Không quân Hoa Kỳ, Đại học Colorado, Colorado Springs năm 1998; Văn bằng Cao học kinh tế, Đại học Oklahoma, Norman; Văn bằng cao học bang giao Quốc tế, Đại học Troy University, Montgomery, Ala; Văn bằng liên kết Cử nhân Nhật ngữ, Học viện ngôn ngữ quốc phòng Defense Language Monterey, Calif. Ngoài các Văn bằng tốt nghiệp trên, Đại tá Văn Thái đã tu nghiệp vá thụ huấn tại các Học viện quân sự Hoa Kỳ, Nhật Bản và Pháp. Ngoài ra, Đại tá Van Thai còn thụ huấn và tu nghiệp nhiều Văn bằng và Chứng chỉ chuyên môn của ngành Không quân.

Suốt thời gian phục vụ không quân, Đại tá Van Thai được ân thưởng nhiều loại huy chương cao quý gồm có: 2 huy chương Legion of Merit with oak leaf cluster; 1 huy chương Defense Meritorious Service Medal with oak leaf cluster; 5 huy chương Meritorious Service Medal with five oak leaf cluster; 1 huy chương Air Medal; 1 huy chương Aerial Achievement Medal; 1 huy chương Air Force Commendation Medal with oak leaf cluster; 1 huy chương Joint Service Achievement Medal và1 huy chương Air Force Achievement Medal with oak leaf cluster.

Đại Tá Van Thai là 1 trong 33 Đại tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt, 18 vị đương nhiệm, 14 vị đã hồi hưu và 1 vị đã qua đời. Ông được thăng cấp Thiếu úy năm 1998, Trung úy năm 2000, Đại úy năm 2002, Thiếu tá năm 2007, Trung tá năm 2013, Đại tá năm 2019. Sĩ quan cao cấp Không quân Hoa Kỳ gốc Việt ngành tác chiến (Line Officer). chỉ có 2 Đại tá duy nhất chỉ huy Không đoàn phi cơ tác chiến Không quân, đó là Đại tá John R. Edwards (nay là Thiếu tướng), nguyên Chỉ huy trưởng Không đoàn 28 (28th Bomb Wing), phi cơ oanh tạc B-1B Lancer tại căn cứ Không quân Ellsworth, South Dakota. Và Đại Tá Van Thai, Chỉ huy phó Trung tâm điều hành Không quân 618, nguyên là Chỉ huy trưởng Không Đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không

Chú thich: *Họ và tên Việt, Thái T Văn hay Vân; **Không đoàn=Wing; **Liên đoàn=Group; **Phi đoàn=Squadron.

Nguồn: amc.af.mil; grissom.afrc.af.mil; mildenhall.af.mil; kadena.af.mil; okinawa.stripes.com; Pacific Air Forces; Congress.gov; en.wikipedia.org; bienxua-Đại Tá không quân Van T. Thai, Chỉ huy trưởng Không Đoàn 434 tiếp nhiên liệu trên không.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Alexandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

5. Một cuộc sống êm đềm

Gleb Nerzhin cùng tuổi với Valentine Pryanchikov nhưng trông anh có vẻ già hơn nhiều. Mái tóc hung hung đỏ của anh không thưa và cũng chưa bạc, song trên khuôn mặt mệt mỏi của anh đã có nhiều vết nhăn đậm, những vết nhăn xúm xít ở hai đuôi mắt anh, ở hai bên mép anh và trên trán anh có nhiều đường nhăn dài. Nước da anh như phai màu vì cuộc sống thiếu ánh nắng và gió. Nhưng thực ra chính là vì vẻ hà tiện cử chỉ làm cho anh có vẻ già – tiết kiệm cử chỉ là một thái độ mà thiên nhiên đã dạy cho những người sống lâu năm trong tù để có thể có đủ sức chống chọi lại với chế độ tàn nhẫn của những trại tập trung. Thực ra, sống trong nhà tù đặc biệt này, tù nhân được tương đối tự do, được ăn thịt và năng lực không bị tiêu mất vì những công việc lao động chân tay nặng nhọc. Nerzhin không cần phải tiết kiệm cử chỉ nhưng anh biết rõ hơn ai hết tình trạng bấp bênh đầy bất ngờ của bạn tù của anh ở đây nên anh vẫn tiết kiệm để đề phòng, anh muốn thái độ đó trở thành một thói quen thường trực của anh. 
Từng chồng sách vở và hồ sơ dựng lên trên mặt bàn của anh, ngay cả phần mặt bàn dành để làm việc cũng bị hồ sơ xâm lấn, lẫn vào đó là những bản đánh máy, những tập san Nga và ngoại quốc – tất cả đều mở. Bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy trên cảnh hỗn độn, vô trật tự của mặ bà này dấu vết để lại của cơn bão lốc tư tưởng khoa học. 
Nhưng thực ra, cảnh đó chỉ là một bộ mặt che đậy. Nerzhin dàn cảnh đó mỗi ngày đề phòng những viên chức có quyền kiểm soát trong nhà tù này bất ngờ đến bàn anh xem anh đang làm gì. 
Ngay lúc này, anh không để mắt tới những gì được bày trên bàn anh. Anh đã kéo tấm màn che cửa sổ hở ra và anh nhìn qua đó ra vùng tối đen bên ngoài. Xa kia trong nền trời đêm âm u, ánh sáng của Mạc Tư Khoa lấp lánh, thành phố bị che khuất vì một ngọn đồi, sáng như một cột ánh sáng mờ khổng lồ làm cho nền trời trở thành có màu nâu sậm.
Chiếc ghế ngồi đặc biệt của Nerzhin, chiếc ghế có lò xo mắc vào thành để người ngồi có thể ngả người được một cách thoải mái, cái bàn bằng sắt có nhiều ô kéo không phải là kiểu bàn được chế tạo trong Liên bang Xô Viết cùng chỗ ngồi nhìn ngay ra cửa sổ phía nam của Nerzhin có thể là những bằng chứng cho những người quen thuộc với lịch sử biết rằng anh là một người lập nên nhà tù này, hoặc nói một cách khác, anh là tù nhân đầu tiên trong số những tù nhân đầu tiên được đưa tới làm việc ở đây.

Nhà tù đặc biệt này lấy tên làng Mavrino ở gần đây, làng này từ lâu đã bị sáp nhập vào vùng ngoại thành Mạc Tư Khoa. Những nhà tù đặc biệt kiểu này được lập lên vào một đêm tháng Bảy cách đây đã ba năm. Thoạt đầu, người ta lựa trong những trại tập trung từng toán khoảng mười lăm người đưa về sống trong một tòa nhà nào đó ở vùng Mạc Tư Khoa, chung quanh tòa nhà này đã được rào bằng dây thép gai. Những nhà tù đặc biệt thời ấy được gọi là nhà tù thời “Krylov” và được người ta nhớ lại như một thời dễ chịu hơn bây giờ nhiều. Thời đó ở đây buổi tối tù nhân có thể được tự do đi quanh quẩn ở khu vực bây giờ là “khu cấm”. Đó là khu bãi cỏ nằm giữa lối đi chung quanh nhà và hàng rào dây thép gai. Khu này có cỏ xanh, mặc dù luật bắt phải cắt hết cỏ chung quanh nhà tù đi vì bọn tù có thể ban đêm, bò trên cỏ đến hàng rào nhưng ở đây người ta vẫn để nguyên cỏ. Trong thời mới thành lập nhà tù đặc biệt Mavrino, ban đêm những tù nhân đi dạo thường trông thấy Zhvakun, một trung sĩ chuyên gác đêm, mồ hôi mồ kê vẫn những khúc gỗ do y lấy cắp được của đống gỗ trong nhà tù, luồn ra dưới hàng rào dây thép gai để đem về nhà làm củi đun. 
Trong thời gian đầu, không một ai, kể cả những cai ngục, trong nhà tù Mavrino biết rõ về mục đích khoa học của nhà tù, nghĩa là không ai biết những khoa học gia được đưa về đây sẽ làm gì, nghiên cứu gì? Suốt ngày tù nhân bận rộn với việc tháo, mở những thùng cây đóng kín được hai chuyến xe hỏa chở tới. Trong những thùng cây đó họ lấy ra những dụng cụ, máy móc về âm thanh, vô tuyến, điện thoại, những bộ máy siêu tần số đã lạc hậu và hư hỏng, nhiều máy thiếu mất những bộ phận quan trọng nhất. Về sau người ta được biế đó là những dàn máy những dụng cụ âm thính học do quân đội Nga tịch thu được của người Đức ở Bá Linh và gửi về, nhưng những dụng cụ điện tử tối tân nhất cùng những tài liệu về những dụng cụ này đã bị những tù binh Đức lo việc đóng thùng, vô thùng phá hủy, lấy đi mất trong khi gã Đại úy mật vụ được phái đến chỉ huy vụ này suốt ngày mò mẫm đi khắp vùng Bá Linh để tìm bàn ghế, giường tủ bằng gỗ quý gửi về cho các sĩ quan thượng cấp và cho chính nhà gã. Tất nhiên là những đồ đạc này cũng được coi là chiến lợi phẩm. Gã đại úy này biết rành về bàn ghế, giường tủ hơn là biết về dụng cụ âm thanh học. 
Trong khoảng một năm trở lại đây, cỏ trong vườn bao quanh nhà đã bị cắt. Khung cửa sắt từ nhà ra khu vường nơi những tù nhân tập thể dục luôn luôn đóng khóa và có lính gác. Nhà tù đặc biệt Mavrino được chuyển từ quyền tài phán của Béria sang quyền tài phán của Abokumov và mọi người trong nhà tù này được đặt vào việc nghiên cứu âm thanh để chế tạo những máy điện thoại riêng cho Stalin và dò xét những cuộc điện đàm bí mật. Việc nghiên cứu này được giới hạn trong vòng một năm nhưng đã kéo dài đến hai năm mà vẫn chưa có kết quả đáng kể. Cuộc nghiên cứu mỗi ngày một trở thành rộng hơn, phức tạp hơn kéo theo nhiều công tác phụ thuộc khác. Giờ đây trên bàn giấy Rubin và Nerzhin, cuộc nghiên cứu đa đi đến giai đoạn tìm cách nhận ra tiếng nói đặc biệt của một người qua máy điện thoại và khám phá ra có những gì làm cho tiếng nói của con người không thể lẫn lộn được với nhau. 
Trước họ, chưa có ai thực hiện cuộc nghiên cứu thí nghiệm này. Họ không tìm thấy một báo cáo, một tài liệu nhỏ nào có sẵn liên can đến việc họ tìm tòi. Họ được cho thời hạn sáu tháng để hoàn thành và sau đó được nới thêm sáu tháng nữa. Họ tiến triển chậm và giờ đây, thời gian còn lại của họ đã gần hết. 
Bị ám ảnh sự thúc bách này, Rubin than: 
“Không biết sao đêm nay tôi không muốn làm việc chút nào.” 
“Lạ nhỉ?” – Nerzhin nói – “Anh chỉ mới tham dự chiến tranh có bốn năm, mới ở tù có năm năm mà anh đã mệt mỏi rồi sao? Anh nên đi nghỉ vài tháng ở Crimea.” 1 
Họ yên lặng. “Phải anh đang bận làm việc riêng không?” Rubin thản nhiên hỏi. 
“Có thể.” Nerzhin trả lời mơ hồ. 
“Vậy thì ai sẽ là người làm cuộc nghiên cứu tiếng nói?” 
“Nói thật với anh tôi trông cậy ở anh.” 
“Kỳ cục thật, tôi cũng đang trông cậy ở anh.” 
“Anh là người không có lương tâm. Anh đã mượn được bao nhiêu sách ở thư viện Lenin nhờ công việc này? Theo tôi biết sơ thì quyển Diễn văn của những luật sư danh tiếng. Hồi ký của Koni, quyển Người nghệ sĩ chuẩn bị của Stanishlavky. Làm gì có người tù thứ hai nào trên khắp liên bang này được đọc một số sách như anh.” 
Rubin trề môi ra, cái trề môi này luôn luôn làm cho khuôn mặt anh trở thành khôi hài: 
“Kể cũng buồn cười. Tôi đọc tất cả những quyển sách mượn được đó cùng với một người nữa ở đây, nhiều khi người đó đọc sách ngay trong giờ làm việc. Hình như người đó là anh, phải không nhỉ?” 
“Đúng là tôi. Đáng lẽ phải làm việc thì tôi bắt chước anh ngồi lén đọc sách. Ngay cả đêm nay nữa, đáng lẽ ra tôi phải làm việc rất hăng, nhưng đêm nay tôi không làm việc được vì có hai việc ám ảnh tôi. Một việc thuộc về dĩ vãng. Tôi đang bận tâm vì một số những tấm ván lát nền một tòa nhà.” 
“Những tấm ván lát sàn tòa nhà nào?” 
Rubin có vẻ ngạc nhiên khi anh hỏi bạn câu trên. 
“Một tòa nhà ở cổng Kaluga” – Nerzhin âu sầu đáp – “một tòa nhà được xây dựng trên cho nhân viên chính phủ ở. Tôi nhớ rõ đó là tòa nhà hình tròn có cái tháp cũng tròn. Năm 1945, tôi ở trong số tù nhân được đưa đến xây tòa nhà đó. Năm đó tôi chỉ là một anh thợ tập việc. Tôi phụ trách việc lát những tấm ván làm sàn nhà. Mới hôm nay tôi được tin là Roitman đang ngụ trong tòa nhà đó. Tôi nhớ lại những sàn phòng do tôi dựng lên ở đó và tôi thắc mắc nhiều vì việc những sàn phòng đó bị hở, hoặc kêu khi chân người dẫm lên. Nếu sàn phòng hở hoặc kêu là do người thợ làm sàn không được rành nghề. Tôi thắc mắc nhưng không có cách nào được biết rõ, mà có được biết rõ, tôi càng khổ sở thêm, vì tôi không có cách nào sản xuất được khuyết điểm ấy.” 
“Anh thắc mắc là phải. Chuyện cả anh đúng là một cơn ác mộng. Còn việc thứ hai?” 
“Việc thứ hai là: chúng ta có thể làm việc được trong đêm thứ bảy không khi ta biết rằng chủ nhật là ngày chỉ có những người tự do mới được nghỉ làm việc?” 
Rubin thở dài: 
“Ngay cả lúc này, khi chúng ta ngồi đây, những viên chức tự do đang ở những chỗ giải trí vui vẻ. Tình trạng này quả là khó chịu.” 
“Nhưng họ có đến được những nơi xứng đáng hay không, họ có được hưởng gì ở cuộc đời này nhiều hơn chúng mình không? Đó mới là vấn đề.” 
Họ nói chuyện nồng nàn nhưng thói quen giữ bí mật của những tù nhân vẫn làm cho họ giữ được tình trạng nói chuyện với nhau mà người ngồi gần họ nhất là Serafima Vitalyevna, người thiếu nữ gày gò với khuôn mặt nghiêm trọng, một viên chức tự do, vẫn không nghe được tiếng họ nói. 
Bây giờ hai người bạn tù ngồi hơi nghiêng mặt về cùng một phía. Họ cùng nhìn ra cửa sổ về khu cấm bên ngoài nhà giam, họ không nhìn thấy nhưng cảm biết tháp canh đứng sừng sững trong vùng đêm tôi, họ nhìn thấy những ánh đèn trong sương mờ và cột sáng bốc lên nền trời đêm từ thành phố xa. 
Nerzhin, mặc dù là một nhà toán học, không xa lạ gì với địa hạt ngôn ngữ học. Kể từ ngày Viện Nghiên cứu khoa học Mavrino – một tên khác của chủ nhà tù đặc biệt này – bắt đầu mở cuộc nghiên cứu về âm thanh ngôn ngữ Nga, Nerzhin đã được xếp sắp làm việc chung với Rubin, nhà ngôn ngữ học duy nhất ở đây. Trong hai năm trời, họ đã ngồi gần nhau, dâu lưng vào nhau mười hai tiếng đồng hồ mỗi ngày. Và cũng ngay từ những ngày đầu gần nhau, họ đã khám phá ra họ có nhiều điểm giống nhau: cả hai cùng nhập ngũ và chiến đấu trên mặt trận, họ cùng ở mặt trận miền Tây Bắc và cả hai cùng có một số huy chương giống nhau, họ bị bắt ở trên mặt trận cùng trong một tháng và cùng do một trung đội mật vụ Smersh – những người đi bắt Rubin cũng là những người đến bắt Nerzhin – họ cùng bị bắt dưới tinh thần một sắc luật gồm mười điều – mười điều này có thể áp dụng trong tất cả mọi trường hợp, có thể dùng để kết tội và để bắt tất cả mọi người. Và cả hai người cùng bị xử tù mười năm. Thực ra, gần như tất cả mọi người bị bắt đều bị án tù mười năm. Sự khác biệt giữa họ chỉ là việc họ hơn kém nhau sáu tuổi – Nerzhin trẻ hơn Rubin – và Nerzhin là đại úy và Rubin là thiếu tá khi họ bị bắt. Họ nghĩ rằng rất có thể trước cuộc Thế chiến xảy ra Nerzhin từng đến nghe giáo sư Rubin giảng ít nhất là một lần trong trường đại học. 
Hai người im lặng nhìn ra trời đêm một lúc lâu. 
Rồi Rubin buồn rầu: 
“Anh không có điều kiện để trau dồi kiến thức. Đó là điều làm tôi lo nhất.” 
“Tôi không cần trau dồi kiến thức như ý anh, tôi không muốn hiểu ý nghĩa của cuộc sống, của vật chất. Ở đời này thiếu gì người hiểu biết nhưng có ích lợi gì đâu?” 
“Tôi có quyển sách này, anh nên đọc.” 
“Hemingway? Phải chăng đó lại là một quyển sách viết về đời sống của những con bò rừng bị người ta đẩy vào đấu trường ở Tây Ban Nha?” 
“Không.” 
“Về những con sư tử bị người ta tàn sát ở Phi châu?” 
“Cũng không nữa?” 
“Đến cả chuyện người tôi cũng còn không cần biết, tôi cần biết làm chi đến chuyện bò rừng, chuyện sư tử?” 
“Anh cần phải đọc quyển sách này.” 
Nerzhin gằn giọng: 
“Tôi không cần phải làm bất cứ việc gì hết. Anh cần nhớ như thế. Tôi đã trả hết nợ nần của tôi đối với xã hội, với cuộc đời, như anh bạn của bọn mình là Spiridon đã nói.” 
Rubin vẫn quả quyết: 
“Anh phải đọc. Đây là một quyển sách giá trị nhất trong những quyển sách giá trị nhất của thế kỷ hai mươi.” 
“Sách này liệu có thể đem lại cho tôi những gì tôi đích thực cần biết không? Tác giả nó có quả thật đã giải thích được sáng tỏ những gì đã làm cho loài người hoang mang, bối rối không?” 
“Hemingway là một nhà văn thông minh, tinh thần tốt và vô cùng lương thiện. Ngoài ra, ông ta còn là một chiến sĩ, một người đi săn, một người bắt cá giỏi, ông thích rượu và thích đàn bà, ông yêu nhiều và sống thực bất kể những giả dối của đời, một người đàn ông đơn giản, một nhà văn rất người, ông có cái ngây thơ của một thiên tài…” 
“Thôi đi bạn…” 
Nerzhin cười nhẹ: 
“Tôi đã sống qua ba mươi năm trời không có Hemingway và tôi còn cố sống được ít năm nữa. Trước đây anh đã thuyết phục tôi đọc Capek, rồi Fallada. Đời tôi đã tan nát đủ rồi, đừng làm cho nó tan nát thêm. Tôi cần tự mình tìm một hướng đi cho đời tôi mà không có sự chỉ bảo của bất cứ ai, nhất là của mấy ông văn sĩ.” 
Nerzhin quay lại để ngồi thẳng vào bàn. 
Rubin thở dài. Anh không nói nữa nhưng anh vẫn không cảm thấy hăng hái làm việc. 
Anh nhìn lên tấm bản đồ Trung Hoa lục địa đặt trên ngăn kệ sắt. Anh cắt tấm bản đồ này từ một tờ nhật báo và dán no lên mộtmiếng giấy dầy. Suốt năm ngoái anh dùng viết chỉ đỏ ghi lên đấy bước tiến của quân đội Trung Hoa cộng sản và giờ đấy, sau khi quân đội đó thắng lợi hoàn toàn, anh để tấm bản đồ trước mặt anh để trong những lúc thất vọng và mệt mỏi, nó làm cho anh phấn khởi. 
Nhưng đêm nay nỗi buồn rầu tràn đầy trong tâm hồn Rubin, khối chiến thắng lớn ở Trung Hoa cũng không làm cho anh vui lên được. 
Nerzhin, thỉnh thoảng lại đưa đoạn cuối của cây viết bằng plastic lên môi, ngồi yên suy nghĩ, rồi anh viết những hàng chữ nhỏ, thanh thanh lên một tờ giấy dấu trong đống giấy tờ bừa bộn trên bàn: 
Tôi nhớ lại một đoạn Marx nói (tôi khó tìm được đoạn này), rằng giai cấp vô sản chiến thắng có thể sống mà không cần tước đoạt hết tài sản tư hữu của giai cấp tiểu địa chủ. Điều này có nghĩa là Marx nhìn thấy một biện pháp kinh tế nào đó châp nhận sự có mặt của giai cấp nông dân trong chế độ xã hội mới. Tất nhiên là Người Cày đã không chịu tìm con đường mà Marx đã nói đến đó trong năm 1929. Nhưng tại sao ta lại hy vọng một người như hắn nghĩ ra một điều gì giá trị và tỏ ra thông minh? Khi một anh đồ tể đi làm thầy thuốc chữa bệnh… 2 
Phòng Thí nghiệm và nghiên cứu âm thính sống với nhịp sống thường đêm của nó. Có tiếng động cơ ngừng nổ và tiếng người ra lệnh: “Chạy máy kia… Tắt máy này!” Tiếng nhạc du dương phát ra từ những chiếc radio. Có người nào đó hỏi xin một ống điện 6K7. 
Nhân một lúc không có ai nhìn mình, Serafima Vitalyevna chăm chú nhìn Nerzhin, anh này vẫn cúi xuống viết những hàng chữ nhỏ xíu lên trang giấy. 
Thiếu tá an ninh Shikin đã ra lệnh cho nàng phải theo dõi từng cử chỉ của tù nhân này.

——————————–

1Crimea: nơi nghỉ mát của những lãnh tụ cộng sản Nga.
2Marx được nói tới đây là Karx Marx, người khai sinh ra lý thuyết chủ nghĩa cộng sản. Người Cày được nói tới đây là một tên hiệu trong nhiều tên hiệu của Staline.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 11 Feb 2026

Chương 21 – Ngày 29/4: Hãy Tắt Hết Đèn

Ngày 29 tháng 4 1975

Vào lúc 4 giờ chiều, pháo binh Bắc Việt càng bắn càng chính xác, tác xạ tập trung phần lớn vào các đường bay của phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam Việt Nam và Bộ Tư Lệnh Hải Quân . Ở phi trường thì các kho xăng kho đạn, xe vận tải, xe nhỏ quân sự hay dân sự bị trúng đạn đang bốc cháy khắp nơi. Bộ binh Bắc Việt không thể ở quá xa vì các quả đạn bách kích pháo và những hỏa tiễn phát nổ với ngọn lửa còn đỏ, và xanh lục. Có hai Thủy Quân Lục Chiến là Charlie McMahon và Darwin Judge bị tử thương ở vòng đai phòng thủ. Tướng Homer Smith và những sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị hất tung lên khỏi giường ngủ. Có một số người trong số 1500 người Việt tỵ nạn đang ở trong nhà thể thao, đã bị thương. Một chiếc vận tải cơ C.130 bị trúng đạn khi vừa đáp xuống sân bay.

Trời sáng dần… Các phi công của những phi cơ F.5 và A.37 cuối cùng cất cánh lên được và bay đi luôn không trở lại. Các phi công này giống như những phi công còn muốn chiến đấu đều không điều động được phi cơ vì vướng hằng trăm binh sĩ Miền Nam đang nằm rải rác khắp các đường bay. Nhân viên của trạm kiểm soát không lưu không thể làm việc được. Một phi công của chiếc AC.119 đặc biệt bướng bỉnh vì không đúng nhiệm vụ mà cứ cất cánh bay lên đánh vào các vị trí cộng sản mà anh thấy rõ chung quanh Sài Gòn, trở lại lấy thêm bom đạn, bay lên nữa, và đến 6 giờ 46 thì anh bị một hỏa tiễn SA.7 bắn rơi.

Đại tá Không Quân Hoa Kỳ John Madison, một trong những sĩ quan trong Ban Giám Sát Hiệp Định Ba Lê đã gởi một diện tín cho phái đoàn quân sự cộng sản ở trại Davis đang ẩn núp dưới hầm trú ẩn. Đại tá phản kháng về cuộc bắn phá phi trường, mà ông mô tả như là một vi phạm đến quyền miễn trừ ngoại giao của các thành viên Ủy Hội Quốc Tế và các phái đoàn quân sự 2 Bên và 4 Bên. Các đại diện của hai phái đoàn Bắc Việt và CPLTCHMN ở trại Davis đã trả lời mỉa mai và ngọt ngào rằng họ không biết chuyện gì đã xảy ra. Ngoài ra, họ đã thấy không cần phải báo trước cho hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi ở Tân Sơn Nhất nên những người này phải hỏi tin tức với người Mỹ. Những người Hung gia Lợi đã liên lạc với ông Polgar vốn đã đến phòng hành quân của tòa đại sứ trong đêm. Tại đây các thành viên của CIA rất lo sợ cho số phận của các cộng sự viên người Việt Nam của mình.

Tác xạ của đại pháo 30 ly được các quan sát viên Bắc Việt điều chỉnh, đều rơi vào khoảng 4 cây số ở hướng Bắc của phi trường. Đối với tướng Văn Tiến Dũng và ông Lê đức Thọ, tình hình rất là tế nhị. Một mặt, phải để cho người Mỹ ra đi, do đó không nên làm trở ngại cho các cuộc hành quân di tản. Mặt khác, cả hai người cộng sản có trách nhiệm , theo chỉ thị của Hà Nội, đều muốn giữ áp lực để người Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Hoa Thạnh Đốn đều phải hiểu rằng “không bao giờ có chuyện thương thuyết”. Bộ đội Bắc Việt nhận được lệnh không được đụng đến phi cơ và trực thăng của Hoa Kỳ, trừ trường hợp bị họ tấn công. Ngoại lệ có một vài trường hợp, còn thì bộ đội thi hành lệnh đúng đắn. Tướng Dũng có thể luôn luôn sợ một sự can thiệp của Không Lực Mỹ từ Thái Lan. Trong giai đoạn này, nếu có nhiều người Mỹ bị thương hay tử thương thì có thể bắt buộc Ngũ Giác Đài phải can thiệp ồ ạt. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt không ý thức được là quyền hành quân sự ở Hoa Kỳ phải tùy thuộc vào quyền uy dân sự đến mức độ nào. Song song đó, người Mỹ cứ mãi đi tìm hiểu những phe phái hay rạn nứt trong ban lãnh đạo Hà Nội mà vẫn không bao giờ thấy được sự đồng tâm nhất trí giữa hai cánh quân sự và chánh trị trong thủ đô Bắc Việt.

Tướng Nguyễn cao Kỳ lái chiếc trực thăng của ông ta lên, bay chung quanh Sài Gòn, ông thấy một pháo đội Bắc Việt đang tác xạ, mỗi phút một phát. Ông bắt liên lạc được với một đội Skyriders đang bay từ Cần Thơ về:

_ “Đây Nguyễn cao Kỳ đây, phải tiêu diệt các pháo đội địch này.

_ Nhận rõ, nhưng tôi chỉ còn có một quả bom, sĩ quan chỉ huy trả lời. Đúng là giờ đã điểm, đối với những chiến trận danh dự không đáng kể!

  • giờ 45 giờ Sài Gòn.

Ông Martin đến tòa đại sứ. Lệnh cuối cùng của Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam: Tất cả các phi cơ còn trong tình trạng khiển dụng đều phải rời khỏi lãnh thổ Miền Nam Việt Nam.

  • giờ, giờ Sài Gòn (5 giờ, giờ Hà Nội):

Tại Bộ Tư Lệnh ở Bến Cát, cách thủ đô Sài Gòn 40 cây số về hướng Bắc, tướng Dũng nhận được một công điện của Chánh trị Bộ, khen ngợi bộ đội của ông ta về sự tiến quân trong những ngày cuối cùng vừa qua. Chánh trị Bộ ra lệnh: tiến nhanh để “chiếm lấy sào huyệt cuối cùng của địch”

Có rất nhiều công điện và điện thoại tiếp nối nhau giữa Nhà Trắng, Bộ Ngoại Giao, Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng) ở Hoa Thạnh Đốn, Bộ Tư Lệnh Á Châu Thái bình Dương ở Honolulu, tòa đại sứ và các cơ quan trực thuộc của Phòng Tùy Viên Quân Lực ở Sài Gòn . Các sự việc còn đi nhanh hơn là công điện. Một bức điện tín của Bộ Ngoại Giao xác định rõ:

“Kiểm thính truyền tin được giữa các cấp chỉ huy Bắc Việt nói rõ tấn công ba mặt vào Sài Gòn, ngày giờ không rõ. Với khả năng chủ động của các đơn vị, nếu có cơ may xảy đến.”

Các tin tức này đã được Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ phối kiểm. Một xác định khác: Bắc Việt dự trù phải chiếm Sài Gòn cho ngày sinh nhật của Hồ chí Minh, 19 tháng 5 “với khả năng bắt đầu tấn công vào những ngày cuối của tháng 4.” Hôm qua, kiểm thính cũng xác định là sư đoàn 7 Bắc Việt có nhiệm vụ phải chiếm lấy đài truyền hình Sài Gòn.

  • giờ, giờ Sài Gòn (19 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn):

Hội đồng An Ninh Quốc gia Hoa Kỳ nhóm họp, dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Ford, với sự hiện diện của ông Henry Kissinger (Ngoại Giao), ông Janes Schlesinger (Quốc Phòng) và các phụ tá của họ, Chủ Tịch các Tham Mưu liên Quân, tướng George Browne, và ông William Colby, Giám đốc CIA. Ông Colby xác nhận là trong 3 ngày nay không có một hy vọng nào để quân bình lại tình hình quân sự. Cuối cùng giờ này mọi người đều đồng ý. Nhưng mà sẽ ra lệnh gì cho Sài Gòn đây? Ông Kissinger lưỡng lự. Theo ông ta thì trong giờ phút này là phải tiếp tục di tản người Mỹ và người Việt Nambằng phi cơ. Ông Schlesinger và tướng Browne ước tính là phải cấp bách di tản bằng trực thăng. Tướng Browne đề nghị dùng phi cơ săn giặc hộ tống các vận tải cơ C.130. Ông Kissinger chống lại việc này vì cho là Bắc Việt có thể hiểu lầm.

Và còn nhân viên của tòa đại sứ thì sao? Phải đưa họ đi với tốc độ 150 người trong ngày, trong đó có 1/3 nhân viên và viên chức của cơ quan CIA. Ông Frank Snepp biết rằng ông ta phải là người đi sau cùng.

Từ Honolulu, Đô Đốc Noel Gayler vốn biết rõ tính tự ái của ông Martin nên đã có điện tín như sau:

–“Tôi đề nghị là ông nên quyết định di tản bây giờ tất cả nhân viên người Mỹ, trừ các thành viên nào mà ông muốn giữ lại thường trực tại tòa đại sứ với ông …” .

Tướng Homer Smith thì được phép của Đô Đốc Gayler đi theo các phi cơ của người Việt Namvà người Mỹ. Bằng mọi giá, ông không muốn các tướng lãnh hay sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị rơi vào tay của cộng sản . Ông ra lệnh cho họ phải rời ngay Sài Gòn. Ông nhấn mạnh là tình hình quân sự rất là nghiêm trọng. Ông đã đọc được các điện tín của ông Polgar liên quan đến khả năng của một cuộc dàn xếp chánh trị: “Các tin tức mà tôi đã có hoàn toàn không phù hợp với quan điểm sảng khoái của ông Polgar”

Về ông Polgar, Đô Đốc dùng một từ ngữ cũ kỹ và khinh khỉnh hết sức thanh lịch:“Tôi có cảm tưởng là ông ta không thực tế”, ông ta không thực sự ở trong sự kiện, hoàn toàn không phải là người trong cuộc. Theo tin tức của Đô Đốc thì các anh bộ đội Bắc Việt đã ở cách phi trường Tân Sơn Nhất không đến 2 cây số. Họ xử dụng hỏa tiễn của họ rất có hiệu quả. “Họ đã bắn hạ 3 chiếc phi cơ trong hai giờ sau cùng.”

Pháo binh Bắc Việt tiếp tục bắn vào vùng phi trường.

Một sứ giả của Tổng Thống Dương Văn Minh trao một bức thơ cho tòa đại sứ Hoa Kỳ:

_ “Thưa ông Đại sứ thân mến,

Tôi kính cẩn yêu cầu ông ra lệnh cho các nhân viên văn phòng của tướng Smith phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ ngày 29 tháng 4 1975 để cho vấn đề hòa bình ở Việt Nam có thể được giải quyết nhanh chóng.”

Ông Martin đang đau vì những dị chứng viêm phế quản. Với một giọng khàn khàn ông đọc cho thơ ký một bức công hàm trả lời:

_ “Thưa Tổng Thống thân mến,

Tôi đã nhận được thơ của Ngài và xin báo cho Ngài rõ là tôi đã cho lệnh theo đúng công hàm vừa qua của Ngài”

Các tin tức từ Tân Sơn Nhất cho biết là đâu đó đã có một vài quân nhân Miền Nam Việt Nambắn bừa bãi vào người Mỹ. Do đó ông Martin cho viết thêm:

_ “Tôi tin là Ngài đã cho lệnh quân lực của Chánh Phủ bằng mọi cách sẽ hợp tác để cho sự ra đi của nhân viên của phòng Tùy Viên quân sự được dễ dàng, và hoàn toàn được an ninh.

Tôi cũng hy vọng là Ngài sẽ can thiệp với “phía bên kia” để giúp cho vị Tùy Viên Quân sự và cho nhân viên của ông ta được ra đi trong trật tự và an toàn tuyệt đối.

Kính chúc Ngài,

Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ

Ngay sau khi được biết tin này, có nhiều người xác nhận là việc này là một cuộc dàn xếp lòng vòng giữa hai ông Dương Văn Minh và Martin: tức là do tòa đại sứ yêu cầu ông Minh.

Ông Marton ra lệnh cho tướng Homer Smith có những biện pháp để di tản tất cả nhân viên của ông ta. Đây là lần đầu tiên mà tướng Smith nhận một lệnh tương tự từ hai cấp chỉ huy thuộc hai hệ thống quân giai của mình, Đại sứ Martin và Đô Đốc Gayler. Như vậy là chỉ có Thủy Quân Lục Chiến còn ở phi trường với nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho cuộc hành quân di tản mà thôi. Ông Martin khẩn cầu ông Kissinger cho ông được ở lại Sài Gòn “ít nhất trong một hai ngày để cho sự ra đi của chúng ta có một phẩm cách nào đó. “Ông đại sứ giữ lại hai trực thăng của Hàng không Air América để có thể đi nhanh, khi cần thiết. Sau đó tòa đại sứ Pháp sẽ là người đại diện cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Ông Martin thích có được một sự “chuẩn y nhanh chóng”.

Trong yêu cầu của ông Dương Văn Minh, ông Martin đã thấy được một lợi thế chánh trị- ngoại giao: người ta loan báo sự triệt thoái của người Mỹ  “theo thỉnh cầu của dân chúng Miền Nam Việt Nam” Do vậy ông tin rằng, cuộc hành quân di tản sẽ không tạo ra một sự hoảng loạn.

Ông Kissinger nhờ phụ tá đặc biệt của Bộ Ngoại giao, ông Lawrence Eigleburger, nghiên cứu tình hình. Ông này thảo ra một báo cáo không có nhặp nhằng. Nếu người ta để nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở lại Sài Gòn thì dù muốn dù không cũng có vẻ như là chúng ta nhìn nhận Chánh Phủ tương lai ở đó. Và vì thế ông Kissinger quyết định ngay: đóng cửa tòa đại sứ.

  • giờ 30, giờ Sài Gòn:

Ông Martin họp tất cả các cộng sự viên chính lại, trong đó có ông Wolfgang Lehmann, Thomas Polgar, Alan Carter, và đại tá George Jacobson, một phụ tá của tòa đại sứ.

Ông Polgar nghĩ rằng trên kế hoạch chánh trị chưa có gì mất mát hết. Ông nói với ông Snepp là cuộc dội bom ở phi trường là một “chỉ dấu quan trọng” thuận lợi. Một vài viên chức của cơ quan CIA cũng như ông Snepp đều nghĩ rằng “một chỉ dấu vừa quan trọng vừa có ý nghĩa là một viên đạn bắn vào đầu”

Người ta xem xét tình hình nhất là trên phương diện quân sự . Hôm qua, người ta dư trù là ngày hôm nay phải di tản được 10 ngàn người với trên 50 chuyến bay của vận tải cơ C.130. Làm sao thực hiện đây?

Pháo binh Bắc Việt đã giảm tác xạ trên phi trường. Người ta thấy có thể tiếp tục các chuyến bay được. Các viên chức Hoa Kỳ đã khám phá ra là người ta còn khiển dụng được một số xà lan có máy đang đậu ở bến cảng Sài Gòn, nhất là ở Tân Cảng.

Từ Tân Sơn Nhất, ông Homer Smith cho biết là bắt đầu từ giờ này các phi đạo không còn xử dụng được nữa cho các loại phi cơ cánh quạt, hay phản lực. Do đó ông ta đã cho nhiều đoàn xe buýt và trực thăng đi gom người Mỹ đến phi trường và tập trung người tỵ nạn Việt Nam ở nhiều điểm khác nhau. Ông Martin không chấp nhận những lời giải thích của người Tùy viên quân sự của mình. Các anh quân nhân hiện dịch này lúc nào cũng bi quan! Đâu có phải đây là lần đầu tiên mà người ta đáp xuống hay cất cánh lên dưới lằng đạn của pháo binh hay của bách kích pháo? Do đó ông Martin quyết tâm đi xem lại các đường bay. Ông xin một chiếc trực thăng của CIA. Không có chiếc nào khiển dụng được cả, vì vào giờ này tất cả trực thăng của Air America đều bận chuyên chở nhân viên CIA từ Cần Thơ đến các chiến hạm đang bỏ neo ngoài biển. Tại Tân Sơn Nhất các trực thăng không dự vào cuộc di tản trong thành phố đều bị trúng đạn pháo của Bắc Việt. Ông Polgar thú thật:

_ Chúng tôi không còn chiếc trực thăng nào, thưa Đại sứ.

Ông Martin lạnh lùng nhìn ông Polgar:

_ “Vậy là tôi sẽ đi ra phi trường bằng đường bộ. Nó có thể cho tôi thở được một ít không khí của thành phố. Nhờ gọi giùm tài xế và chiếc xe của tôi.

Đại tá Jacobson can thiệp vào:

_ “Thưa Đại sứ, rất là nguy hiểm. Theo một vài nguồn tin thì có vài đơn vị cộng sản đã đột nhập được vào Sài Gòn.

Chiếc xe Chevrolet (có chắn đạn) màu đen của Đại sứ đã sẵn sàng. Ngay như những người không thích ông Martin, những người đã biết ông là người có trách nhiệm đối với những người trể nải trong di chuyển, cũng phải tự nhủ: ông già này ngon thật!”

Chiếc Chevrolet chạy đi, không có mang cờ hiệu, có 2 chiếc xe hộ tống chở đầy Thủy Quân Lục Chiến súng cầm tay sẵn sàng nhả đạn. Xe phải ngừng lại ở bên ngoài Tân Sơn Nhất . Một ông đại sứ Hoa Kỳ mà cũng phải chờ đợi!. Các sĩ quan và hạ sĩ quan của Miền Nam xin lệnh thượng cấp bằng máy truyền tin cầm tay… Đoàn xe chạy qua.

Tưóng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân và một bộ phận Tham Mưu Không Quân Miền Nam Việt Namđang ở trong một căn nhà gạch. Gần 30 sĩ quan chạy đến tướng Homer Smith, súng lục cầm tay, yêu cầu được di tản. Trung tá Richard Mitchell, phó trưởng phòng Tùy viên quân lực đã giải giới họ một cách dễ dàng vì họ đã biết trung tá này từ lâu. Ông ta đã cho di tản gia đình của họ trước đây cả mấy tuần rồi.

Ở Honolulu, Đô Đốc Gayler sốt ruột, điện thoại về Hoa Thạnh Đốn.

_ “Sao đây? các phản lực tiềm kích hộ tống đâu? Có gởi tới hay không? Tướng Browne Chủ Tịch các ban Tham Mưu trả lời ngay:

_ Không có.

  • giờ 30, giờ Sài Gòn:

Một nhóm sĩ quan thuộc cơ quan tình báo Việt Nam trong đó có đại tá William le Gro và đại tá Lê văn Hưởng, đã làm một bản tổng kết tình hình cho ông Martin. Phi trường ngổn ngang đầy xác phi cơ và xe tải. Một nhóm binh sĩ Miền Nam đang làm lộn xộn trên đó. Ông Martin nói với đại tá Hưởng:

_ “Ông hãy điện thoại về Bộ Tổng Tham Mưu. Họ phải có biện pháp cần thiết để vãn hồi trật tự cho phi trường.

Tại Bộ Tổng Tham Mưu lại không có ai trả lời. Ông Eric Von Marbod xuất hiện, mặc bộ đồ bay, súng liên thanh trên vai, một quân phục không bình thường cho một ông phụ tá của Tổng Trưởng Quốc Phòng . Ông Martin hỏi:

_ “Eric, anh có nhiều bạn bè ở Bộ Tư Lệnh Không Đoàn số 7 ở Thái Lan phải không? Anh có thể xin cho vợ tôi một chiếc phi cơ hay không?

Ông Eric nổi giận:

_ “Không còn có vấn đề phi cơ nữa đâu. Vã lại, nếu bây giờ mà phi cơ có đáp xuống được thì tất cả người Việt Nam trên phi trường sẽ ùa lại ngay.

Ông Martin đi vào văn phòng của tướng Smith. Dùng chiếc điện thoại đặc biệt, ông gọi Nhà Trắng, nói chuyện với ông Kissinger và với tướng Brent Scowcroft. Sau đó ông trở lại nói với tướng Smith:

_ “Hoa Thạnh Đốn đã đồng ý. Nếu chúng ta có thể vãn hồi trật tự ở phi trường và giải tỏa được các phi đạo, thì chúng ta tiếp tục cho di tản bằng phi cơ. Còn nếu không được thì cứ mặc kệ. Bây giờ, anh phải biết là mọi người ở Ngũ Giác Đài, ông Schlesinger, các Tham Mưu Trưởng và Bộ Tổng Tư Lệnh Lực lượng Á Châu Thái bình Dương đều sắp đòi hỏi chúng ta phải cho đi nhanh chóng những người Mỹ và bỏ lại những người Việt Nam. Chúng ta có nhiều người Việt Nam có độ nguy cơ khá cao, hằng ngàn ở đây, chúng ta phải di tản họ tối đa, càng nhiều càng tốt..

Ngoài thành phố, các cuộc “bốc đi” bằng trực thăng không được trôi chảy lắm vì trực thăng phải tìm các địa điểm tập trung ở Sài Gòn. Các trực thăng lại không hoàn toàn sẵn sàng. Có 4 chiếc được phái cho lực lượng Dù Việt Nam. Còn lại 16 chiếc để làm con thoi thì bị trở ngại, vì các bãi đáp trên phi trường bị trúng bom đạn. Các xe buýt cũng bị trở ngại. Có nhiều chiếc không có tài xế, phải nằm bất khiển dụng tại ga ra của tòa đại sứ. Các chiếc khác thì di chuyển chậm trong thành phố để tìm các điểm tập trung.

Trên sân bay rộng lớn, cảnh sát và quân nhân Việt Nam nhìn vào sự hoạt động lăng xăng của trực thăng và các xe buýt vì tính tò mò hơn là cà khịa. Có một toán quân nhân đang sắp sửa lo phòng thủ phi trường. Viên hạ sĩ quan Lê văn Thường, 24 tuổi, da ngâm đen, thợ sửa chữa truyền tin từ 3 năm nay, đã không rời khòi phi trường được từ ngày 1 tháng 4 đến bây giờ. Các sĩ quan của anh đã cho biết là anh ta sắp phải chiến đấu đến nơi. Người ta trao cho anh một khẩu súng lục 45 ly, và sau đó một súng trường M.16 và cuối cùng là một vũ khí chống chiến xa M.72. Các sĩ quan giải thích cho binh sĩ của họ là vòng đai phòng thủ đã được lực lượng Dù bố trí chung quanh phi trường. Hạ sĩ quan Thường chỉ canh gác thôi.

Ở tòa đại sứ Hoa Kỳ, các nhà ngoại giao và các nhân viên lo đốt hồ sơ sau khi đã cho vào máy nghiền, phá hủy các máy đánh chữ, các máy thu thanh,, các máy thu và phát thanh. Cơ quan CIA có những hồ sơ lưu trữ trong văn phòng của ông Snepp, trong phòng kiểm thính truyền tin, và trong một căn nhà tiền chế ở ngoài. Không có một người nào nghĩ tới phải có bản thứ hai cho những hồ sơ này, trong những nơi làm việc của sở tình báo Việt Nam, hay ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát Quốc gia.

Ông Snepp tiếp tục tìm kiếm tin tức mới đến và làm một bản phân tích. Một sự thật hiển nhiên: cộng sản có ý định phải chiếm Sài Gòn, và chiếm nhanh. Trong các sân của tòa đại sứ, có nhiều người Việt Nam đi lang thang quanh hồ tắm, thành từng nhóm. Trong số này có nhiều nhân vật có tiếng tăm, nhưng cũng có gia đình của họ, và một số gia nhân như tài xế, đầu bếp, vú em, và giữ trẻ…

Ông Martin đã ra lệnh cho tất cả các chủ nhiệm phòng sở phải trở về tòa đại sứ. Ông Alan Carter không muốn hay không dám trở lại sở Thông Tin Hoa Kỳ. Ở đó, các nhân viên người Việt của ông đang chờ đợi các danh sách di tản mà chúng vẫn không thấy tới. Bây giờ thì những người Việt đó không còn thì giờ để đi bộ xuống bến tàu, nơi có những chiếc xà-lan đang tách bến, mà còn nhiều chỗ trống. Một không khí vô trật tự và quá tự do lạ lùng, bất lực và hèn nhát bao trùm khu này. Đây là sự hoảng loạn mà tòa đại sứ từng quá lo sợ trong mấy tuần nay.

Ông Martin có đường dây điện thoại trực tiếp với đồng nghiệp người Pháp của mình hoặc qua bức tường ngăn cách giữa hai tòa đại sứ. Ông gặp ông Mérillon. Ông này đang tiếp chuyện với ông Dương Văn Minh. Ông Minh có đem tin gì tốt đến không đó?

_ “Không có gì mới cả, ông Mérillon nói. Ông Minh đã thăm dò CPLTCHMN nhưng họ chưa có trả lời.

Ông Martin hỏi ông Mérillon xem ông ta, trong cương vị đại sứ Hoa Kỳ , có thể đến gặp người của CPLTCHMN được không?

_ Để tôi xem lại coi.

Ông Martin định cho ông Mérillon hay gởi cho ông này một món quà: một ngôi miếu bằng sành của Tàu. nhưng hai người hình như không hiểu nhau lắm.

  1. giờ, giờ Sài Gòn:

Đồng mỹ kim lên giá từ 4500 đồng đến 5000 đồng trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Dân chúng ở thủ đô Sài Gòn đã nghe được ông Thủ Tướng Vũ văn Mẫu lên tiếng đòi hỏi tất cả những người Mỹ phải ra đi, như ông Dương Văn Minh đã yêu cầu.

Sự hiện diện của Đại sứ Hoa Kỳ ngoài phi trường đã được báo cáo . Người ta tưởng rằng ông đã ra đi. Đám đông người chung quanh tòa đại sứ càng ngày càng đông thêm lên.

10 giờ 40:

Từ phi trường tướng Homer Smith điện thoại cho Đô Đốc Gayler ở Honolulu:

_ “Phi cơ không còn xử dụng các phi đạo ở phi trường được nữa.

_ “Việc này tôi đã tin chắc như vậy từ lâu rồi, Tôi sẽ gọi các trưởng ban Tham Mưu ở Ngũ Giác Đài để nói cho họ biết là phải qua “khả năng 4” Đô Đốc Gayler trả lời.

Khả năng 4, đó là kế hoạch di tản bằng trực thăng.

Một cuộc bàn cãi sôi nổi, phi lý và quá nghi thức đã diễn ra trên đường dây điện thoại trong Sài Gòn cũng như ở Thái bình Dương và Bắc Mỹ. Rất lễ độ, tướng Homer Smith cho ông Martin biết là mình được khuyên nên áp dụng “khả năng 4”. Bây giờ ông đại sứ mới chịu tin là khó tránh được vì sự mất trật tự sẽ ngăn cản mọi công tác bốc người đúng phương pháp.

_ “Không phải Chủ Tịch các Ủy Ban Tham Mưu quyết định về “Khả năng 4”, ông Martin xác nhận.

10 giờ 48, giờ Sài Gòn: (22 giờ 51 , giờ Hoa Thạnh Đốn:

Lệnh phát ra từ ông Kissinger: “thi hành kế hoạch Frequent Wind lúc 11 giờ 51”

Ngoài khơi Việt Nam, trên chiến hạm Blue Ridge, đề đốc Donald Whitemire, chỉ huy trưởng “lực lượng đặc nhiệm 76” cũng có nhiều vấn đề. Người ta có cả thảy là 85 chiếc trực thăng. Người ta phải tiến hành các cuộc kiểm tra thường lệ và vì các trực thăng không cùng ở trên một chiến hạm, nên người ta phải đưa Thủy Quân Lục Chiến qua trực thăng hay đưa trực thăng qua cho Thủy Quân Lục Chiến. Rồi phải phối hợp giờ cất cánh cho trực thăng và giờ cất cánh của các phi cơ tiềm kích hộ tống từ Thái Lan cho được đồng bộ.

Lúc ông Tổng Trưởng Ngoại giao ra lệnh bước sang kế hoạch của “Khả Năng Bốn” vào hồi 11 giờ 51, thì ông nghĩ đó là giờ Sài Gòn. Các vị chỉ huy quân sự khác nhau, Bộ Tư Lệnh Thái bình Dương, Bộ Tư Lệnh của đô đốc Whitmire, của Không Lực ở Thái Lan, của Tùy viên Quân sự ở Tân Sơn Nhất , của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn ..v.v.. đều tự hỏi đó là giờ nào: giờ của Hoa Thạnh Đốn theo kinh tuyến Greenwich hay giờ Sài Gòn? Các câu hỏi, các lệnh, rồi phản lệnh, chạy suốt trên điện thoại, trên điện báo và trên hệ thống truyền tin các đài phát tin.

11 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Đài phát thanh Hoa Kỳ như đã dự trù, chơi liên tục bản nhạc “Tôi đang mơ về một Giáng Sinh trắng”

Giám đốc đài truyền hình Việt Nam, đại tá Hòa, thấy tất cả các nhân viên người Mỹ của mình ra đi cùng với các chỉ huy nhiệm sở người Việt. Đại tá thì quyết định ở lại tại chỗ. Có một đại đội Dù đóng chung quanh đài truyền hình.

11 giờ 30:

Ông Polgar không tin là có một giải pháp chánh trị. Ông đã nhận được nhiều cú điện thoại tất có ý nghĩa, trong đó có một là của Tổng Thống Dương Văn Minh:

_ “Tôi muốn yêu cầu Anh một ân huệ cuối cùng: di tản giùm một vài người thuộc gia đình

Tôi.

_ “Rất đồng ý”, Polgar trả lời.

Một cú điện thoại khác, của nhóm Hung gia Lợi thuộc Ủy Hội Kiểm soát Ngừng Bắn (CICS). Đã có rất nhiều tá người của họ bị kẹt ở phi trường Tân Sơn Nhất . Đạn pháo của Bắc Việt đã phá hỏng một số xe của họ. Một số xe khác đã bị binh sĩ Miền Nam đánh cắp. Còn lại một số thì lại không có xăng.

_ “Chúng tôi không có phương tiện chuyên chở. Chúng tôi muốn đi ra khách sạn ở Sài Gòn, họ nói.

Trong tòa đại sứ, người ta gặp nhan nhản các nhân vật người Việt. Cựu Cố vấn quân sự của Tổng Thống Thiệu, ông Đặng văn Quang, đang đi tới đi lui trên tầng thượng, trong chiếc áo mưa rộng thùng thình. Ông ngồi cách đại tá Toth của Hung gia Lợi chừng vài thước, vốn đến đây để yêu cầu di tản người của ông ta ở phi trường. Hoàng tử à?, ông Polgar áp dụng một nguyên tắ: Người nào yêu cầu tôi giúp đỡ thì đáng được giúp. Và sau đó, có qua có lại, người ta không bao giờ biết anh chàng Hung gia Lợi nào đó sẽ có gì hữu ích cho chúng tôi hay không trong một giờ, một tuần lễ hay một tháng nữa đây? Còn ông Lehmann thì có tâm hồn ít nhạy cảm hay thấy xa hơn ông trưởng cơ quan CIA. Nhân vật số 2 của tòa đại sứ từ chối không can thiệp có lợi cho những người Ba Lan cuối cùng vốn muốn được rời nhanh chóng khỏi Sài Gòn nên đến cầu cứu với ông. Ông Polgar tổ chức một đoàn 3 chiếc xe buýt đi bốc những người Ba Lan và Hung gia Lợi từ phi trường đưa họ về khách sạn Majestic ở thành phố.

Một phát súng ân huệ đối với ông Polgar: nhà báo Malcolm Browne, người chơi thân với các thành viên của CPLTCHMN ở trại Davis mà anh ta cứ điện thoại cách 2 hay 3 giờ một lần, đã cho ông chủ nhiệm cơ quan CIA biết là bọn Việt Cộng lần lần bớt đi sự “nhạy cảm”. Từ lịch sự, họ trở thành quạo quọ đến ủ ê. Đó cũng là ý nghĩ của 4 vị cố vấn do ông Dương Văn Minh gởi tới trại Davis. Các đại diện của ông Dương Văn Minh đề nghị với người của CPLTCHMN hai loại thương thảo. Một là vấn đề liên quan đến các bài toán quân sự, sẽ được giải quyết tại Sài Gòn . Hai là các bài toán về chánh trị nói chung sẽ được xem xét ở một cấp cao tại Ba Lê. Các đại diện của CPLTCHMN tránh né, tuyên bố một lần nữa là họ không có thẩm quyền để giải quyết các câu hỏi đó. Họ mời 4 vị khách uống trà và ăn chuối, còn nhấn mạnh là đây là chuối của họ đích thân trồng bên cạnh các dãy nhà.

Ông Snepp túc trực bên máy thu thanh, và kiểm thính được một lệnh của Bắc Việt mà hình như họ sẽ bắn vào dinh Độc Lập chiều nay, vào lúc 17 giờ, giờ Hà Nội , tức là 18 giờ giờ Sài Gòn . Hai trăm tràng ! Quá đủ để phá hủy tất cả ở trung tâm Sài Gòn, với các tòa đại sứ Hoa Kỳ và Pháp. Ông Snepp nhào tới ông Polgar:

_ “Đưa cái này ngay cho ông Martin.”

Ông đại sứ chuyển ngay điện tín đó cho tướng Timmes để ông này điện thoại cho ông Dương Văn Minh.. Liệu Tổng Thống có thể can thiệp với cộng sản để họ đừng có pháo vào Sài Gòn hay không?

Về chuyện này, ông Kissinger điện thoại ngay cho ông Martin:

_ “Ông phải di tản hết, hết tất cả. Đây là lệnh của đích thân Tổng Thống Ford, và phải di tản xong trước khi trời tối.”

Vị Tư lệnh phó của Hải Quân Việt Nam là đề đốc Diệp quang Thủy, đến gặp tướng Trần văn Minh Không Quân, không có điện ở các dãy nhà ở phi trường.

_ “Chúng ta đi thôi, tướng Homer quyết định như thế.

Ông ta đang chuẩn bị lên trực thăng thì có một toán người tỵ nạn cuối cùng xuất hiện. Họ lên chiếc trực thăng của tướng Smith và ông tướng này phải chờ đi chuyến khác.

Người ta rất cần được tăng cường ở tòa đại sứ. Sẽ lấy những người của thiếu tá Melton. Một trung đội của trung úy Jay Roach, được trực thăng vận đến tòa đại sứ.

12 giờ, giờ Sài Gòn:

Chưa thấy bóng dáng một trực thăng nào của cuộc hành quân di tản.

Xe buýt Mỹ cứ chạy khắp thành phố để bốc khách di tản. Muốn có được sự cộng tác của cảnh sát và công chức ở phi trường, người ta đã hứa là sẽ di tản họ luôn cả với gia đình.. Các xe buýt đầu tiên thuộc kế hoạch “đêm Giáng Sinh trắng” chở người tỵ nạn đến Tân Sơn Nhất hồi 12 giờ 10. Không khí ở phi trường còn quá căng thẳng hơn ở chung quanh các bến tàu vắng người. Có một vài vị thuyền trưởng Việt Nam bán vé lên tàu với giá từ 4 đến 12 ngàn mỹ kim một người.

12 giờ 15:

Tin tức quân sự hình như càng ngày càng xấu. Hai sĩ quan Bắc Việt, sư đoàn 70 và 968 đã đè bẹp sư đoàn 25 bộ binh ở gần Cũ Chi, chỉ cách Sài Gòn có 30 cây số về hướng Tây. Ba sư đoàn Bắc Việt , sư đoàn 3, 9 và 16 đã cô lập sư đoàn 22 bộ binh . Sư đoàn này giữ vững được vị trí nhưng không thể rút về thủ đô được . Chiến lược của tướng Dũng rất rõ ràng và linh động. Ông ta để các sư đoàn cầm chân bao quanh các đơn vị Miền Nam, nhưng dồn hết các sư đoàn khác tiến về Sài Gòn.

12 giờ 30

Ba mươi sáu (36) chiếc trực thăng vận tải loại lớn cất cánh từ chiến hạm Hancock, có trực thăng võ trang Cobra hộ tống.

Các trực thăng di tản này bay tới Sài Gòn làm 3 đợt, mỗi đợt 12 chiếc. Chúng bay ngang qua Biên Hòa ở hướng Đông Bắc. Mỗi đợt đều bay thành đội ngũ mỗi 3 chiếc hình chử V. Các phi công được lệnh trước tiên là làm con thoi giữa hạm đội và phi trường để chuyên chở Thủy Quân Lục Chiến thuộc toán an ninh bảo vệ. Tướng Richard Carey, chỉ huy trưởng Thủy Quân Lục Chiến đã đồng ý với tướng Homer Smith là phải tranh thủ thời gian, Tất cả các trực thăng đều bốc người tỵ nạn trên đường về hạm đội. Từ 3 căn cứ Không Quân ở Thái Lan, các phi cơ tiềm kích Phantom chuẩn bị để nhập vào các đợt trực thăng trong một hành lang giữa Sài Gòn và hạm đội. Tất cả các chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ đều nằm ở bên ngoài lãnh hải của Việt Nam, cách xa bờ biển 12 dậm. Cả một đại hạm đội được bố trí nằm thành vòng cung trên 160 cây số ngoài biển khơi.. Soái hạm neo ở cách bờ biển 17 dậm. Người ta chưa từng thấy một cuộc hành quân nào như thế từ sau trận triệt thoái khỏi Dunkerque vào năm 1940! 35 chiến hạm lớn có các tàu tiếp vận bao quanh với những tàu thám thính nhỏ. Có nhiều chiến hạm đã có mặt tại chỗ từ nhiều ngày trước, các tàu khác đến từ Okinawa (Nhật), từ Trân Châu cảng (Hawai), và các chiếc khác nữa từ cảng San Diego (California, Hoa Kỳ)

Từ Bộ Tư Lệnh này đến Bộ Tư Lệnh khác, từ chiến hạm này đến các phi cơ hay trực thăng… hệ thống truyền tin hết sức dày đặc, các điện thoại và điện báo hoạt động không ngừng nghỉ. Đô đốc Whitmire, Tư Lệnh lực lượng đặc nhiệm có một danh hiệu truyền tin được mã hóa rất bình dân là Jehovah.Tại Tân Sơn Nhất danh hiệu của tướng Homer Smith là Jacksonville Bravo. Danh hiệu của Thủy Quân Lục Chiến chung quanh tướng Smith là Baritone. Danh hiệu của Không lực số 7 ở Thái Lan là Blue Chip .Những nhân viên dân chính trong tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn có danh hiệu bình dị là Embassy.

Có nhiều tàu chiến của Miền Nam như tàu vớt mìn, tàu tuần, thuyền võ trang… theo dòng sông Cửu Long đi ra biển nên thường làm nhiễu các làn sóng điện truyền tin.

Một sự lộn xộn khác về giờ giấc: Các trực thăng do Thủy Quân Lục Chiến lái, muốn điều động họ thì phải dùng “giờ L” (giờ đáp). Đó là giờ mà chiếc trực thăng nào đó phải có mặt ở bãi đáp. Đối với Không Lực thì “giờ L” là giờ cất cánh. Công thức này đã được dùng trong cuộc di tản ở Phnom Penh. Người ta phải áp dụng một vài sự điều chỉnh cần thiết sau khi có một vài sự cãi vã.

Các phi công lái trực thăng gặp phải nhiều khó khăn bất ngờ. Người ta đã thông báo cho họ là thời tiết tốt, nhưng thời giờ làm hỏng hết. Từ 3 ngày qua, tầm nhìn xa bị thu ngắn lại. Người ta đã dự kiến di tản ban ngày, nhưng thực tế thì lại phải bay đêm, do đó đòi hỏi phải lanh lẹ, đối với chiến cụ.

Ít nhất có 2 hành lang trên không phận Sài Gòn: hành lang Michigan cho chuyến bay đi, với độ cao 6500 bộ Anh, và hành lang Ohio cho chuyến bay về với độ cao 5,500 bộ Anh. Hai hành lang này đều được đánh dấu bằng cọc tiêu. Người ta đã báo là có rất nhiều dơn vị Bắc Việt võ trang với súng liên thanh cao xạ cực mạnh và hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 được bố trí dưới hai hành lang này. Các phi cơ tiềm kích Hoa Kỳ phải bảo vệ hành lang. Vào giờ chót, người ta mới nhận thấy là các trái “bom 200 cân Anh có tia la-dze hướng dẫn” vốn được các phi cơ bảo vệ này mang theo, thì rất là hữu hiệu đối với các pháo đội 130 ly, nhưng không hữu hiệu đối với các súng liên thanh và hỏa tiễn. Các loại bom 500 cân Anh cũng vậy, chỉ để phá các lô cốt mà thôi. Do đó tốt hơn hết là nên dùng trực thăng chiến đấu AH-1J để xử dụng các hỏa tiễn và các khẩu đại bác 20 ly và để đánh dấu mục tiêu bằng đạn chiếu sáng cho phi cơ A.37. Rất may mắn là tất cả các phi công của trực thăng võ trang Cobra đều cũng là những kiểm soát viên Không lưu rất lành nghề, điều này giúp cho họ trong nhiệm vụ tuần tiểu, và giúp hướng dẫn các trực thăng vận tải.

Các phi công trực thăng đã được báo trước: từ đêm qua có nhiều trực thăng của Miền Nam chở đầy cứng gia đình để dư trù sẽ bay đến hạm đội ồ ạt một các vô trật tự.. Một chiếc trực thăng vận tải Chinook CH.47 đã đáp xuống bãi đáp phía sau của soái hạm Blue Ridge. Phi công trực thăng này là trung úy Trương mã Quới, đã tuyên bố với một phóng viên của tờ báo Newsweek là anh Ron Moreau:

_ “Các tướng lãnh, đại tá, thiếu tá, đại úy đã ra đi hết rồi. Tôi nghĩ là đến lượt các trung úy như chúng tôi cũng phải làm như vậy thôi.”

Các trực thăng lượn vòng chung quanh hạm đội. Đôi khi, mặc cho người ta cho lệnh phải chờ, các phi công Việt Nam vẫn cứ đáp để cho những người tỵ nạn xuống. Người ta yêu cầu họ bay ra bỏ trực thăng ngoài biển. Có nhiều người không chịu thi hành. Có một số khác đã trở thành chuyên viên cho loại hành quân này. Họ đáp trực thăng xuống mặt biển, nhanh chân nhảy ra và leo lên tàu cấp cứu. Các phi hành đoàn người Mỹ vỗ tay tán thưởng các phi công Việt Nam đã bất thần trở thành vô địch về môn thao diễn này. Có 2 chiếc đâm vào nhau trên soái hạm Blue Ridge, chiếc thứ ba đáp hụt, cấm đầu luôn xuống sàn tàu.

Theo dự tính của những nhà soạn thảo kế hoạch thì hầu hết các người tỵ nạn phải được bốc đi từ phi trường Tân Sơn Nhất. Lần lần tướng Carey mới hiểu ra là cần phải giải tỏa ngay số người đang ở tòa đại sứ từ 1000 đến 2000 người. Trước đó người ta bảo đảm là con số này không quá 200 người. Chỉ cần có 3 hay 4 chiếc trực thăng nhẹ, loại UH.1E thuộc Hàng Không Air America cũng đã là quá đủ cho con số này rồi. Bây giờ người ta phải xử dụng đến trực thăng nặng loại CH.53 ở tòa đại sứ như là ở phi trường vậy. Và tướng Carey cũng còn phải tăng cường thêm toán Thủy Quân Lục Chiến phụ trách về an ninh ở tòa đại sứ

13 giờ 12:

Tướng Không Quân Nguyễn cao Kỳ và trung tướng Lê Quang Trưởng, vốn đã về được Sài Gòn sau khi Đà Nẵng thất thủ, đã đáp trực thăng xuống chiến hạm Midway. Ông Martin sau đó cũng đáp xuống chiến hạm Denver.

14 giờ:

Điện tín của ông Kissinger gởi cho ông Martin xác nhận trao đổi cuối cùng giữa hai người qua điện thoại:

-“Chúng tôi đã nghiên cứu thỉnh cầu của ông nhằm giữ lại một toán nhỏ ở tòa đại sứ . Tổng Thống nhấn mạnh là phải di tản hết. Thân mến”

15 giờ:

Tại phi trường, Thủy Quân Lục Chiến bảo vệ cho 3 bãi đáp được chỉnh đốn rất hoàn chỉnh trên sân dã cầu, sân quần vợt và trên một bãi đậu xe trước dãy nhà phụ của Phòng Tùy viên Quân Lực. Có khoảng 3000 người dân tỵ nạn. Thủy Quân Lục Chiến đã chia họ ra từng toán rất có phương pháp, mỗi toán có từ 50 đến 70 người.

Thiếu tá William Melton đến phi trường với 3 trung đội của đại đội 3 tiểu đoàn 2 thuộc sư đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến và các trực thăng vận tải đầu tiên lúc 15 giờ 6 phút. Họ bay theo con sông Sài Gòn với cao độ 9000 bộ. Vì trên 10.000 bộ là người ta phải cần có dưỡng khí. Binh sĩ nhìn xuống dòng sông đều thấy có hằng trăm ghe , tàu, chiến thuyền… đang đổ về phía biển. Chiếc trực thăng đầu tiên bay đi với hành khách của mình. Các sự luân chuyển của trực thăng CH.46 và CH. 53 được tiến hành rất tốt. Người ta rất lo ngại về những tin tức từ tòa đại sứ. Để giữ an ninh cho tòa đại sứ, chỉ có một nhóm 44 Thủy Quân Lục Chiến mà thôi. Do đó tướng Carey mới quyết định rút ra ngay 130 binh sĩ từ nhân số 840 binh sĩ đang giữ an ninh tại phi trường.

Thiếu tá William Melton, sĩ quan lên từ hàng binh sĩ, 38 tuổi, 5 con, trên tay có xâm hình một con bướm với đầu lâu, ở tiểu bang California, 20 năm thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, là một trong những quân nhân Mỹ đầu tiên đã đổ bộ lên Đà Nẵng mười năm trước. Đối với ông,các chánh trị gia phải chịu trách nhiệm của cả “chuyện rối rắm này” Binh sĩ của ông nằm ở vị trí gần các dãy nhà thuộc văn phòng của tướng Homer Smith. Hầu hết họ là những người mới đặt chân lên Việt Nam lần đầu và cũng là lần chót. Họ là những người rất hoạt bát, rất có kỷ luật và dĩ nhiên cũng thông thường thôi là họ có vẻ sợ sệt. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng súng và tiếng nổ của đạn bách kích pháo. Lệnh rất là nghiêm: không được bắn trả lại, trừ trường hợp tối cần, bất khả kháng. Thiếu tá Melton nhìn những quân nhân và các người dân Việt Nam chạy đi chạy lại chung quanh châu vi thuộc vòng bố trí của binh sĩ. Ông Melton nghĩ:chúng ta đến đây chỉ với nhiệm vụ đóng hết cửa, tắt hết đèn, và trở về nhà. Và ông nói như vậy to lên cho các sĩ quan và binh sĩ của ông nghe. Ông nhìn lại hai lần ông đã đến Việt Nam năm 1965 và năm 1968 . Một đại tá Việt Nam đến gần ông, chào ông và trao cho ông khẩu súng lục 25 ly: và nói:

_ “Thiếu tá, đây là khẩu súng cá nhân của tôi…. Việc gì đã xảy ra? Không thể được, đây là chuyện có thật ư? Cách đây 20 năm, lúc còn là thiếu úy, tôi đã đánh nhau trong vùng ngoại ô Hà Nội .

Phải trả lời cho ông ra sao đây? ông đại tá này mặc đồ dân sự trước khi leo lên một chiếc trực thăng. Thiếu tá Melton nhìn cảnh binh sĩ của ông kiểm soát người tỵ nạn và hành lý của họ. Một nhóm các bà còn trẻ nói với ông:

_ Chúng tôi phải di hay sao?

_ Mấy chị có thân nhân ở Hoa Kỳ hay không?

_ Tôi có một “bạn trai” ở Chicago, một bà còn trẻ nói.

Ông Melton nghĩ không biết tại sao các bà lại đem chuyên đó ra hỏi ông? Không còn nghi ngờ gì nữa, ở đây có nhiều người muốn chạy trốn mà không thể ra đi như thế này được, nhưng trong số những người phải ở lại tại chỗ, có một số lớn phải đến với chúng tôi.

Việt Nam, Nước Việt Nam của ông, đã trở lại với ông với hằng tá kỷ niệm. Ông Melton không bao giờ có ý thù ghét những người Bắc Việt đang tràn đến Sài Gòn. Địch quân? bộ đội? Đối với ông, bọn Việt Cộng thì khác hẳn. Chung quanh Đà Nẵng các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cứ đạp vào lựu đạn do Việt Cộng gài bẫy. Người ta cứ đạp bẫy mà người ta không làm gì được hết vì người ta không thấy đâu là địch.. Còn bộ đội Bắc Việt, trên một nghĩa nào đó hay nói cho đủ nghĩa, họ là Quân đội chánh quy hơn. Cũng là binh sĩ như chúng ta. Cùng có những chuyện chung giống như chúng ta . Cả chúng ta và họ đều xa nhà. Còn Việt Cộng thì có đôi khi họ chỉ ở cách làng của họ chừng 100 thước thôi. Thủy Quân Lục Chiến cũng như các bộ đội Bắc Việt đã từng sống trong đất sình, các ruộng lầy lội vì nước mưa, với đàn kiến đen và đĩa. Ông Melton đã bắt được một tù binh là sĩ quan Bắc Việt bị thương, và ông đã bắt tay tù binh này. Chung quanh họ là binh sĩ Việt Nam đều tỏ ra công phẫn. Tại sao? người sĩ quan Bắc Việt này đã chiến đấu tốt, ông Melton không có gì tiếc rẻ về cái bắt tay của mình. Cũng như đã được đưa qua Việt Nam nhiều lần. Cũng như phải triệt thối về nước. Ông chỉ biết làm công việc của mình và chung quanh ông, các người lính trẻ đã xoay sở tốt lắm.

Với một số Thủy Quân Lục Chiến ông Martin đi về tư thất của mình, lấy một vài hồ sơ ra từ tủ sắt. Thủy Quân Lục Chiến đốt các hồ sơ này bằng một trái lựu đạn lửa. Ông Martin trở lại tòa đại sứ , đi bộ qua tòa đại sứ Pháp. Ông Mérillon nói với ông ta là CPLTCHMN không muốn gặp ông.

Tướng Timmes đến gặp ông Dương Văn Minh và ông ta luôn có cảm tưởng là ông Tổng Thống tin là có thể bàn cãi, thương thảo với những người cộng sản . Tuy nhiên vào giờ này ông ta đã mất hết ảo tưởng đó rồi. Cho đến cuối cùng, lịch sử của chiến tranh thứ hai của Việt Nam tựu trung chỉ là một sự chất chứa toàn là những chuyện hiểu lầm và những chuyện đau đầu.

  1. giờ 30:

Để di tản những người Mỹ và những người Việt Nam còn trong vòng rào của tòa đại sứ , ông Martin quyết định người ta sẽ ra đi theo một nguyên tắc giản dị:

_Ai tới trước thì được đi trước.

Tướng Carey nhận thấy là phương tiện di tản cũng như an ninh không được đầy đủ. Ông hiện có một bãi đáp trên sân thượng, một bãi khác trên bãi đậu xe vốn đã được dọn trống. Nếu số người quá đông ở trước cổng tòa đại sứ mà vào được bên trong, thì công tác di tản sẽ bị lộn xộn ngay. Cũng như người ta đã nói một cách lễ độ trong báo cáo quân sự là  “các thông số đã thay đổi”. Các trực thăng sẽ tiếp tục làm con thoi trong đêm. Và đáp trên nóc của tòa đại sứ là có nhiều nguy hiểm. Có cả ba người , ông Wolfgang Lehmann, đại tá John Madison thuộc Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên, và một mục sư, ông Thomas Steddins, đang lọc và gom các người tỵ nạn lại gần bãi đậu xe và hồ bơi. Trong các dãy nhà thì các người tỵ nạn, các nhà ngoại giao, các nhà báo.. cũng không chịu ngồi yên.

Một vài viên chức uống rượu mạnh như wuýt-ky và cỏ nhác, có một số lấy ra từ tủ lạnh … y tế.. Các nhà ngoại giao Ba Tư thuộc Ủy Hội Giám Sát đến bắng cách đi băng qua tòa đại sứ Pháp. Họ không còn nhớ số mật mã của họ nữa.

Điện thoại reo khắp nơi trong các từng lầu. Lại có nhiều tin đồn được tung ra: các đoàn xe buýt đã bị tấn công trong thành phố; còn quá nhiều chỗ trống trong các xà-lan và các tàu trên bến cảng. Lúc 16 giờ, có từ năm đến sáu ngàn người tỵ nạn bao vây tòa đại sứ .Họ đứng dồn cứng khoảng 30 thước bề ngang, sát từ hàng rào với những bao bị, những va ly, và những gói hàng ít nhiều được cột lại cẩn thận . Trong đám quá đông này, nhà văn Duyên Anh và gia đình ông ta đến từ sở Thông Tin Hoa Kỳ . Ông ta nhìn đồng bào đang hốt hoãng của mình , nhận biết được các tướng lãnh, nghị sĩ và dân biểu, thấy các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ xô đẩy những người tỵ nạn đang muốn leo qua rào, có đôi khi họ phải đánh nữa. Người ta cũng thấy có cả những người Nhật và Đại Hàn.. Nếu là người da trắng thì họ có thể được người ta đưa cao để qua khỏi rào. Các cảnh sát viên Việt Namthuộc quận cảnh sát kế cận cũng leo rào vô khuôn viên. Đã nhiều ngày qua, người ta đã thỏa thuận với nhau rằng; các cảnh sát viên phải duy trì trật tự và rồi họ sẽ được di tản. Người Mỹ có mặt ở đây đều biết rằng dù thế nào thì họ cũng sẽ ra đi. Ngoài đường các bạn trẻ ngồi trên mô tô hay xe xì cút tơ nhìn cảnh trực thăng bay lượn (nhảy múa) trên không. Đôi khi cũng có một người Việt Namcũng tìm cách vào được trong tòa đại sứ . Thường thì cha mẹ vợ con của anh chàng này còn ở ngoài. Người này kêu, người kia khóc van xin các anh Thủy Quân Lục Chiến và các viên chức Mỹ để cho họ vào theo.

Khoảng vài chục ngàn người Việt đã được di tản. Nhiều người khác cũng sẽ tự nguyên ra đi nhưng họ không thể nghĩ tới chuyện đó. Họ còn phải lo chuyên chú vào việc làm. Trong nhiều khu, trẻ em vẫn tiếp tục chơi trên vĩa hè, ngoài đường, còn có mấy cụ già ngồi tán gẫu.

  1. giờ 30:

Những người có trách nhiệm trong cơ quan CIA chợt thấy là 250 nhân viên người Việt của họ bị bỏ quên trong một trung tâm tiếp vận ở xa, và khoảng 100 ở khách sạn Đức. Bảy chục thông dịch viên không thể nào tới tòa đại sứ được. Một số trực thăng của hãng Air América không thể bay lên được vì bình điện của trực thăng bị mất cắp, Người ta cũng không tìm được xe buýt nữa. Do đó, các thông dịch viên và gia đình họ không có phương tiện và cũng không còn có thì giờ để đến bến cảng được.

Ở về hướng Đông Bắc của Sài Gòn , bộ dội Bắc Việt bắn một số hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 lên các phi cơ Phantom của Hoa Kỳ. Các phi cơ này có bắn trả lại bằng hỏa tiễn.

Nói chung thì bộ đội Bắc Việt vẫn tiếp tục tuân lệnh của tướng Văn Tiến Dũng– không được đụng tới các phi cơ Hoa Kỳ.

  1. giờ 15

Lúc này trời đã bắt đầu tối. Tướng Homer Smith ở phi trường và tướng Carey ở Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến ngoài biển, cùng xem xét lại tình hình. Còn chừng 1300 người phải di tản từ Tân Sơn Nhất . Người ta cần phải có 3 tiếng đồng hồ để đưa ra hết số người này, kể cả các toán Thủy Quân Lục Chiến đang giữ an ninh. Trong vòng có một giờ, giá một mỹ kim từ 6000 đồng vọt lên đến 7.000 đồng.

Tại tòa đại sứ công việc quá lờ mờ. Ông Martin đã trả lời cho đề đốc Whitmire về con số chính xác như sau:

_ “Còn đến từ 1.500 tới 2000 người”

Tướng Timmes lại điện thoại cho Tổng Thống Dương Văn Minh:

_ “Cộng sản đã có trả lời gì cho Ngài chưa? Liệu họ có sẵn sàng ngưng không bắn vào dinh Độc Lập lúc 18 giờ hay không? Không có câu trả lời nào.

17 giờ 30:

Tổng Thống Dương Văn Minh lại gởi một phái đoàn đến trại Davis , luật sư Trần ngọc Liễng, giáo sư Châu tâm Luân và linh mục Chân Tín, một người tranh đấu cho trung lập, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế. Sau buổi gặp phái đoàn này, người của CPLTCHMN gởi một bức điện cho Bộ Tư Lệnh Bắc Việt:

– “Đồng chí Võ đông Giang đã tiếp những người này. Một lần nữa đại tá đã nói rõ những điểm trong bản tuyên bố của chúng tôi ngày 26 tháng 4, nghĩa là: xoá bỏ hoàn toàn chính phủ Sài Gòn . Sau cuộc nói chuyện họ đã xin phép rời trại Davis. Nhưng khi chúng tôi đã nói với họ là pháo binh chúng tôi bắn vào Tân Sơn Nhất thì họ lại muốn tốt hơn là sẽ ở lại đêm với chúng tôi, họ đồng ý như vậy.”

Chung quanh các dãy nhà của tướng Smith ở phi trường, một số binh sĩ Miền Nam bắn súng. Thủy Quân Lục Chiến bắn trả lại ngay. Có một số đột nhập vào phạm vi trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến đang giữ an ninh an ninh, làm cản trở sự di tản. Họ bị duổi ra ngay.

Cũng vào lúc đó ở trước tòa đại sứ Hoa Kỳ có các đám cháy bùng lên. Người ta tin là một trái đạn pháo binh đã rơi trên đường. Sự thật là có một người Việt Nam nào đó đã vất một cây diêm quẹt đang cháy vào bình xăng của một chiếc Wolkwagen làm cho xe phát nổ.

Cạnh văn phòng của tướng Smith ở phi trường, có những công chức Hoa Kỳ đang đốt hàng bó người triệu Mỹ kim.

Làn sóng người tỵ nạn tiếp tục tràn vào sát tường của tòa đại sứ . Có nhiều người Mỹ khóc, trong số đó ông Polgar . Ông không tìm thấy người Út, người tài xế của ông ở đâu. Các trực thăng của hãng Air America đã chở được hằng ngàn người trong ngày trong gần cả trăm chuyến bay. Các quân nhân Hoa Kỳ nhận thấy là càng ngày càng có nhiều người tỵ nạn phải bốc đi từ tòa đại sứ.

19 giờ:

Tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân trên bờ sông Sài Gòn, Đô Đốc Cang canh chừng cho các tàu chiến của mình tuần tự ra đi. Ông nhận được diện thoại từ Tổng Thống Phủ. Người ta muốn gặp đề đốc Than mưu trưởng Hải Quân ở nhà ông Dương Văn Minh. Ông Minh yêu cầu hộ tống đại tá Nguyễn hồng Đài, rể của ông, và tướng Mai hữu Xuân, người đã có công trong việc đảo chánh ông Diệm năm 1963.

– Phần tôi, tôi không thể đi được, ông Tổng Thống thở dài….

Tại Tổng Thống Phủ, ông Dương Văn Minh cứ ngồi chờ mãi tin tức của phái đoàn mà ông đã gởi sang để gặp CPLTCHMN. Các cố vấn của ông và nhất là Thủ Tướng của ông khuyên ông nên ra một bản tuyên bố đơn phương. Phải đầu hàng vô điều kiện mà thôi. Ông Minh từ chối. Chuyện đó sẽ không đi đến đâu cả, trên phương diện tinh thần, quân sự lẫn chánh trị. Đó là tự mình cho người ta thấy chỗ yếu của mình.

Rại tòa đại sứ Mỹ, các trực thăng được các đèn pha xe hơi rọi sáng, đã bốc đi mỗi chuyến khoảng từ 60 đến 80 người tỵ nạn. Trong công tác chuyển vận, người Việt Nam xếp thành hàng từ các cầu thang lên cho đến tận sân thượng. Máy điều hòa không khí không còn hoạt động nữa nên nóng nực kinh khủng và có một mùi hôi nước tiểu và giấy tờ bị đốt. Các Thủy Quân Lục Chiến đi tới đi lui, khá ngạc nhiên mà thấy là tất cả những người trẻ chỉ mặc sơ mi, thường có võ trang, đi dạo trong các hành lang, có vẻ thong dong và quyết tâm lắm, đó là các nhân viên tình báo của CIA , thường được gọi là nhóm “ma quỉ” (nguyên tác tiếng Anh: spooks).

Đoàn tàu chiến của Đô Đốc Cang xuôi theo Sông Sài Gòn . Đứng trên boong tàu các sĩ quan và binh sĩ đều thấy trực thăng Hoa Kỳ – hay của Việt Nam?- dùng hỏa tiễn đánh xuống các kho đạn.

19 giờ 15:

Tất cả dãy nhà trong phi trường đều không có điện: tai nạn hay bị phá hoại? – “Thôi chúng ta đi, tướng Smith quyết định.

Ông ta sửa soạn đi đến một trực thăng khi có một nhóm người tỵ nạn nữ vừa mới tới. Họ được phép lên trực thăng của thiếu tướng Smith, còn thiếu tướng thì ông ta đợi một chiếc khác.

Người ta cần tăng cường ở tòa đại sứ . Toán tăng cường được dự trù lấy ra từ những người của thiếu tá Melton. Một trung đội của trung úy Jay Roach đi đến tòa đại sứ bằng trực thăng. Thiếu tá Melton gọi người sĩ quan của ông:

_ “Jay, anh đến gặp đại tá, ông ấy sẽ hướng dẫn cho anh. Trong khi chờ đợi thì trung đội của anh hãy tập họp lại.”

Trung úy Jay đi tìm đại tá, khi anh trở lại thì trung đội của anh đã bay đi rồi.

_ “Vậy là tôi làm sao đi tới tòa đại sứ đây? trung úy la lên.

Không có một trực thăng nào hết, làm trung uy Roach cáu lên. Có nhiều sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến ấp u cơn nóng giận của mình một cách lạnh lùng, cố nén nó xuống ở phi trường, cũng như ở tòa đại sứ .. và trên 4 chiến hạm của hạm đội ở ngoài biển: lộn xộn như một nhà thổ. Những người dân chính không có một sự thận trọng nào. Mọi việc bắt đầu quá trể. Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Alan Broussard đã tham dự cuộc di tản ở Phnom Penh, có nhận xét là ở đó được tổ chức hoàn hảo hơn. Ở đó những người tỵ nạn được đeo thẻ màu khác nhau để phân biệt người nào đi trước người nào đi sau. Các sĩ quan đã quen những chuyện mất trật tự trong chiến tranh rồi, nhưng các cuộc hành quân loại này phải được chuẩn bị kỹ hơn.

_ “Vậy thì tôi phải làm gì bây giờ? trung úy Roach hỏi

_ “Làm sao anh có thể đi bộ lại tòa đại sứ được? Thiếu tá Melton nhún vai trả lời

Ngoài khơi Vũng Tàu, đại úy Cyril Moyer và 52 Thủy Quân Lục Chiến người của ông ta trong toán India đã bốc những người tỵ nạn đến chiếc Pionner Commander, một chiếc tàu vận tải dân sự thuê mướn. Các binh sĩ đã đặt các nhà vệ sinh và các thùng nước ngọt trên tàu. Trung úy đã cho tiêu lệnh cho binh sĩ của mình:

_ “Các anh sẽ giúp đỡ những người tỵ nạn, nhưng không có sự quá thân mật. Các anh phải kính trọng người lớn tuổi. Các anh phải giữ khoảng cách với họ. Các anh không được yêu thương tỏ tình với ai hết. Các anh là Thủy Quân Lục Chiến, là một loại kem hảo hạng đó.

Các anh Thủy Quân Lục Chiến được huấn luyện để phòng thủ cho chiếc Pionner Commander, trong trường hợp mà có các binh sĩ khác, bất cứ là của Bắc Việt hay Miền Nam mà có ý muốn chiếm chiếc tàu này. Dưới hầm tàu chất đầy gạo, bột sữa, cá mòi và cá ngừ đóng hộp.

Đứng ngay cầu thang, có 2 binh sĩ kiểm soát những người tỵ nạn bước lên tàu. Các Thủy Quân Lục Chiến này đều biết rõ các quân lệnh. Cái gì được cái gì không được . Để giữ trật tự cho những người tỵ nạn nên lúc nào cũng phải quan tâm đến vấn đề anh ninh. Phải báo cáo cho biết những ai nói được tiếng Anh và bất cứ người tình nghi nào. Không được sờ vào đầu người tỵ nạn, không được chấp nhận bất cứ một cử chỉ khiêu khích nào, không được để cho họ đánh nhau. Phải tịch thu hết tất cả vũ khí và chất nổ.

Những người tỵ nạn đã được khám xét rồi mà các Thủy Quân Lục Chiến còn khám phá ra những súng lục và dao găm. Hành khách được đưa đến các boong tàu. Có người thì đến từ Vũng Tàu, có người thì đến từ rds . Có người thì đã đi qua nhiều chặng nguy hiểm từ Đà Nẵng, hết tàu này đến tàu khác. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến thấy được trong đám đông tỵ nạn 3 bác sĩ, 7 người đầu bếp và một cấp tướng trong quân chủng Hải Quân, Và một nghị sĩ. Hai người này không muốn nhận bất cứ một trách vụ nào mặc dấu có yêu cầu của đại úy Moyer, người phải coi sóc nhiều ngàn người tỵ nạn.

Chung quanh chiếc Pionner Commander, có nhiều chiếc tàu, thuyền đang đến, có một số đang cháy.

Người Mỹ cũng đang di tản lãnh sự quán cuối cùng Hoa Kỳ ở Cần Thơ. Lãnh sự Francis McManara từ chối không nhận trực thăng . ông quyết định cho nhân viên của ông đi tàu. Cơ quan tình báo xác nhận là có nhiều toán Bắc Việt và Việt Cộng võ trang súng không giật đã có mặt ở dọc theo sông. Ông Mc Namara tập trung người của ông trên bến cảng. Ông đội một chiếc cát kết lớn có hàng chữ: “Hội Trưởng Hội Du Thuyền Cần Thơ”. Khi đến cảng ông không thấy tài công mà cũng không thấy nhân viên nào của CIA hết. Những người này đã được trực thăng của Air America bốc đi mặc dầu có bị một vài binh sĩ Miền Nam tấn công.

Khởi hành từ giữa trưa, đội chiến thuyền Mỹ bị một số tàu tuần Việt Namcập theo. Họ hỏi ông lãnh sự xem có thể chở giùm một số người Việt Nam đã đến tuổi quân dịch hay không ? Ông chấp thuận chở 298 người trong số đó có một số sĩ quan mặc thường phục.. Không đợi trả lời, sĩ quan chỉ huy đội tàu tuần cười nói:

_ “Tôi thấy là tất cả đều tốt hết rồi. Thôi hãy tiếp tục đi đi. Chúc ông thượng lộ bình an và may mắn.

Một vài ngày trước đó, ông Mc Namara đã có giúp di tản gia đình của đại úy tuần duyên này

Trong một phút cảm động, còn hình ảnh được lưu lại, một ông già đứng cạnh ông lãnh sự, đã nhận ra con trai của mình trong đội tuần duyên. Họ ôm nhau: một người đi một người ở lại.

  • giờ:

Từ sân thượng của tòa đại sứ được chiếu sáng rực, người ta thấy xa xa có những đường đạn chiếu sáng bắn thẳng lên trời, và những đám cháy trong cơn bão, và nghe được những tiếng súng đại bác. Các trực thăng lớn Cộng Hòa.53 đáp xuống sân, các trực thăng Cộng Hòa.46 nhỏ hơn thì đáp ở sân thượng. Mội hành khách được phép mang theo một va ly hành trang. Các phi công đội nón nhựa có dây nhợ lòng thòng giống như nhân vật của sao Hỏa trong tranh vẽ. Ông Allen Carter, vốn không di tản được nhân viên thuộc các cơ quan Thông Tin của mình, cùng cô thơ ký tòa đại sứ Eva Kim và nhà báo George Mc Arthur cả ba bước lên trực thăng. Bây giờ thì ở tòa đại sứ chỉ còn khoảng 12 nhân viên CIA. Họ đang còn phải phá hủy thiết bị truyền tin cuối cùng.

– “Người ta mất 4 triệu mỹ kim thiết bị, ông Polgar nói khẽ trong lúc ông đi tới đi lui, súng mang choàng ngang trên vai.

Ông FrankSnepp đi cùng với tướng Timmes trên một trực thăng khác. Và họ bay đi.. Lúc bay trên không phận Sài Gòn ông Snepp thấy một kho đạn đang nổ. Ông bàng hoàng khi thấy trên đường từ Xuân Lộc tới hàng ngàn đèn pha chiếu sáng: đó là đoàn xe vận tải quân sự và chiến xa chiến thắng của Bắc Việt.

  • giờ, giờ Sài Gòn, 10 giờ giờ Hoa Thạnh Đốn:

Tại Ngũ Giác Đài, người ta đang làm bản tổng kết về cuộc được tản. Ở Vũng Tàu, đã tiến triển khả quan, ở Cần Thơ cũng vậy. Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng tưởng là ở Sài Gòn người ta đi đến một thảm họa. Trước hết là người ta đã cho di tản quá nhiều người Việt Nam. Đối với ông Schlesinger thì cần nhất phải chấm dứt sự có mặt của người Mỹ, để ngừng di tản vào 12 giờ khuya giờ Sài Gòn , để ta vẫn có thể di tản tiếp người Việt Nam vào sáng ngày mai? Ông Schlesinger điện thoại Sài Gòn ra lệnh cuối cùng của ông ta. Ông yêu cầu Nhà Trắng và nhất là tướng Brent Sowcroft, vốn đã gởi cho ông Martin một bức điện tín trước đó 15 phút:

_ “Được biết là vẫn còn khoảng 400 người Mỹ trong tòa đại sứ. Ông phải bảo đảm là tất cả, tôi nhắc lại “là tất cả” những người Mỹ phải được di tản”

Ông Martin trả lời ngay tức khắc một cách giận dữ:

_ “Có thể nào ông nói cho tôi biết làm cách nào để tôi bắt buộc người Mỹ để họ bỏ những đứa con có nửa dòng máu Việt Nam? Hay Tổng Thống đã nghĩ gì khi ông cho lệnh tôi như thế?”

Ông Martin than phiền: Đã hơn 50 phút rồi, chúng tôi ở đây không có trực thăng CH.53. Chỉ có mỗi một chiếc CH.46.”

Khi nhận được công điện của Đô Đốc Whitemire, vốn muốn chấm dứt cuộc di tản vào lúc 23 giờ, giờ Sài Gòn và lại tiếp tục vào hồi 8 giờ sáng ngày hôm sau, ông Martin viết thêm:

_ “Tôi đã trả lời là tôi không muốn ở đây thêm một đêm nữa. Cách đây 4 giờ tôi đã cho Đô Dốc Gayler ở Honolulu biết là chúng tôi cần bao nhiêu chuyến trực thăng nữa. Bây giờ thì chỉ cần có 30 chuyến CH.53 nữa mà thôi.”.

Có nhiều công ty đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao hay Nhà Trắng can thiệp cho các nhân viên của họ ở Sài Gòn.

  • giờ:

Vẫn ông Martin báo là bên cạnh ông có một vị linh mục, người đứng đầu các cơ quan viện trợ công giáo Hoa Kỳ. Linh mục này không muốn đi nếu không có người Việt Nam của ông cùng đi với ông. Ông Martin tự hỏi về những sự liên hệ của Tổng Thống Ford với các Giám mục Hoa Kỳ , nếu ông ta bỏ linh mục này ở lại.

Ông Pierre Brochand đã yêu cầu ông Dương Văn Minh qua điện thoại để cho ngưng các cuộc chiến. Ông Minh trả lời là ông sẽ suy nghĩ lại.

Ông Bronchard nhớ lại là dự trử xăng cho máy điện được chất đống dưới bức tường của tòa đại sứ Mỹ. Ông đánh thức nhóm trẻ đang ở trong khuôn viên tòa đại sứ Pháp ( nơi các nhân viên đang tạm sống với con cái của họ cùng với một số gà vịt):

_ “Đi, đi lại chuyển hết các thùng dầu vào giữa vườn giùm và lấy tấm bạt ướt đậy lại. Ông giục to lên.

Thế là ông cùng nhóm trẻ lo dời các thùng dầu.

  • giờ 6 phút

Từ Nhà Trắng, ông Don Rumsfeld báo cho ông Martin biết là ông phải lo cho 150 nhân viên của hãng IBM đang ở đâu đó trong thành phố với gia đình họ.

_ “Mặc họ muốn đi đâu thì đi! ông Martin nói,

  • giờ 30 phút

Ở phi trường, Thủy Quân Lục Chiến đang phá hủy các dãy nhà và nhất là dụng cụ truyền tin, hai trăm máy truyền tin, 60 máy điện toán, một trữ lượng lớn dữ kiện, một đài dò tìm vệ tinh, một máy điện toán thật lớn của Quân đội Việt Nam được thiết trí ở trong dãy nhà thuộc trách nhiệm của Quân đội Mỹ . Người ta cũng đốt một số lớn hồ sơ. Tất cả đều diễn tiến đều rất tốt. Viên sĩ quan được chỉ định lo việc này đã đặt chất nổ từ sáu ngày trước. Và hôm nay là công việc cuối cùng. Người ta dùng ba thùng hỗn hợp nhiệt nhôm, một trăm trái lựu đạn và khoảng 20 dụng cụ dẫn hỏa. Người ta đã cho ngòi nỗ chậm, sau đó Thủy Quân Lục Chiến chạy ra sân quần vợt, ở đó trực thăng cuối cùng đang chờ họ..

Đây là nơi từ mười năm qua đã nổi lên một trung tâm, một trái tim, một bộ máy của quyền lực quân sự Hoa Kỳ tại Đông Dương. Nơi đây một Tổng Tư Lệnh Hoa Kỳ, tướng William Westmoreland, tiên liệu chiến thắng , đã công bố là “ánh sáng đã ló dạng ở cuối đường hầm”. Ánh sáng duy nhất ở cuối đường hầm của cuộc chiến quá dài này, là đám cháy lớn này, đám cháy của các dãy nhà đang đổ sụp xuống vì chất nổ, một đám cháy thật lâu với ngọn lửa trắng xanh của chất hóa học trộn lẫn với bột nhôm.

  • giờ 45:

Bức điện tín từ ông Martin gởi về Nhà Trắng:

_ “Từ sau điện tín sau cùng của tôi, mười chín, tôi nhắc lại 19 chiếc CH-46 đã đến và đi. Tôi đã nói là tôi cần một số tương đương với 30 chuyến CH.53. Tôi vẫn còn cần. Có thể cho tôi biết được không?”

Mười lăm phút sau, ông gởi cho tướng Gayler:

_ “… Không có gì trong vòng 20 phút qua.. Hình như là tôi phải bước qua một phần của ngày 30 tháng 4 ở đây rồi, tôi mong đây chỉ là một phần thật nhỏ. Chắc chắn là tôi không qua ngày 1 tháng 5 đâu.”

Ông Martin đã nói với ông Kissinger hơi khôi hài, là nếu tình hình trở nên xấu thì ông ta sẽ phóng xuyên qua tường đến tòa đại sứ Pháp để xin tá túc với ông Mérillon. Dĩ nhiên là ông sẽ không từ chối và ông Martin sẽ ngủ ở phòng bà Mérillon, “nếu bà còn ở đó chớ không phải ở Ba Lê”

Các Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng đã rời khỏi Tân Sơn Nhất vào khoảng gần nửa đêm. Khi họ phá hủy trung tâm truyền thông ở phi trường thì tòa đại sứ không còn có phương tiện truyền tin hết sức tối tân nữa

Bà Claudia Krich, một thành viên quắc-kơ, đã viết trong nhật ký vào buổi chiều ngày 29.

Vào trước nửa đêm, có hai người ở cạnh bên nhà đã đến thăm bà:

_ “Đó là 2 ông bà bác sĩ ở Đà Nẵng. Họ đã trốn khỏi Đà Nẵng, quá sửng sờ khi nghe được lịch sử liên quan đến những người cộng sản. Họ hỏi chúng tôi là chúng tôi có biết làm sao để họ có thể làm cho trực thăng chú ý đến họ được? Họ nghĩ cách vẽ 3 chữ SOS trên nóc nhà của họ. Chúng tôi đã bảo họ đừng nên làm gì cả, vì nếu có một trực thăng đáp xuống đường của chúng tôi thì có thể chúng tôi sẽ bị binh sĩ Việt Nam bắn chết ngay. Chúng tôi đã mời ông bác sĩ đến nhà nói chuyện chơi với chúng tôi một ít lâu. Chúng tôi đã an ủi ông, làm cho ông bình tĩnh trở lại và cuối cùng cũng giống như bao nhiêu người khách của chúng tôi trước đó, ông ta đã đi về với nhiều ý nghĩ mới trong đầu.”

Đại tá Hòa cho lệnh ngưng tất cả các chương trình truyền hình Việt Nam vào đúng nửa đêm. Các binh sĩ Dù giữ đài truyền hình cũng đi về luôn. Thủ Tướng đã nói với Giám đốc đài truyền thanh và truyền hình:

_ “Ngày mai là tướng Dương Văn Minh đầu hàng. Chúng tôi không muốn thấy binh sĩ Dù trong thành phố Sài Gòn nữa.

Bộ Tư Lệnh Bắc Việt cho lệnh tất cả các pháo đội của họ ngưng tác xạ. Tướng Dũng viết: “Vào nửa đêm ngày 29 tháng 4, tất cả lực lượng tấn công của chúng tôi đã sẵn sàng tiến vào Sài Gòn . “Không khí thật căng thẳng cũng như người ta đã đưa một lưỡi rìu thần diệu lên vậy.”

Thật là những ngày mệt nhọc cho các phi công trực thăng! Bộ máy quân sự tuyệt vời của Hoa Kỳ vốn tiên liệu hết tất cả, đã bỏ sót một điểm: mỗi chiếc trực thăng xử dụng đều có phi hành đoàn của nó. Không có một người nào nghĩ đến việc luân phiên cho họ hay ít nhất cho 3 trong 8 người của phi hành đoàn, nên các phi công và các xạ thủ súng máy đều làm việc suốt, không ngừng nghỉ.

Thiếu úy Richard Van de Geer thuộc “phi đoàn 217 hành quân đặc biệt”, ở căn cứ Nakhon Phanom tại Thái Lan. Anh ta đã tham gia vào cuộc di tản ở Phnom Penh. Anh viết cho Dick môt người của anh. Trước tiên thiếu úy đến căn cứ Utapao nằm về phía Nam 500 dậm. Ở đó người ta thuyết trình cho anh:

_ “Người ta nói là tôi phải đưa trực thăng của tôi… đến một hàng không mẫu hạm. Được rồi, đây không phải thật sự là một chuyện bất ngờ, và chúng tôi biết là ở đó hạm đội 7 làm nhiều chuyện kỳ lạ lắm. Nhưng tôi không biết là chiếc hàng không mẫu hạm quỉ đó nó neo ở 8oo cây số ngoài khơi bờ biển Miền Nam Việt Nam. Được rồi, dĩ nhiên là tôi đã tìm thấy được hàng không mẫu hạm Midway. Tôi bảo đảm với anh là các chiến hạm đó trên biển cả không quá lớn như lúc chúng đậu ở bến đâu. Tôi đã đáp xuống trên chiếc hàng không mẫu hạm và Thủy Quân Lục Chiến đã nhanh chóng tuyên truyền cho tôi. Tôi không thấy thích chuyện đó chút nào.”

Hằng ngày, trung úy đều có tham dự vào một buổi thuyết trình về tin tức:

_ “Chúng ta ở đây là để di tản các công dân Hoa Kỳ. Những người Việt Nam được chọn lọc rất kỹ và những người của các nước thứ ba khác, vào giờ chót, nếu tình hình tồi tệ đến độ người ta không còn xử dụng được phi trường Tân Sơn Nhất … Tôi đã bốn lần bay đến Sài Gòn . Tình hình với 150 ngàn quân Bắc Việt chung quanh thành phố, dĩ nhiên không được là những nơi sạch sẽ để bay một trực thăng to lớn cồng kềnh, và di tản những người chỉ có vũ khí để tự vệ… Tôi có thể nói với anh về nỗi lo sợ thật sự mà tôi cảm thấy, bởi vì sau khi chúng tôi đã đi qua vùng Đồng Bằng để đáp xuống Sài Gòn là chúng tôi đang ở trên đất địch. Súng cao xạ bắn lên chúng tôi . Những tên Việt Cộng đã lấy được các trực thăng Huey của hãng Air America để bay đi chỗ này chỗ nọ, họ bắt chúng tôi phải chơi một ván cờ thật là lý thú. Tôi muốn nói là chuyện đó thật sự không tốt đâu. Chúng tôi nghĩ là họ muốn phá hủy toàn bộ cuộc hành quân của chúng ta vào ban đêm, bởi vì chúng ta không thể đợi cho họ đưa chúng ta vào một tình hình được xem là quá xấu, ngay cả ban ngày. Nhưng như anh đã có thể thấy đó, nhiệm vụ đã được tiếp tục mãi cho đến 5 giờ sáng, Các chuyến bay về đêm thật là xấu bởi vì chúng tôi bay không đèn. Các lằn đạn chiếu sáng đã làm cho mọi người thêm kích động. Nhìn thấy một thành phố đang cháy đã cho mình một cảm giác lạ lắm về vấn đề không có an ninh. Phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo liên tục không ngừng. và khi nào tôi gặp anh tôi sẽ đưa ảnh cho anh xem. Bây giờ để tôi cho anh một vài sự kiện có thể mâu thuẩn với những gì mà anh đã đọc được qua báo chí. Tôi gọi đó là những sự kiện, bởi vì tôi đã thấy tất cả… Sáng ngàỳ.. một chiếc trực thăng Huey của Việt Nam đã bay là là trên biển, tìm thấy được một mẫu hạm. Anh ta gần như đã hết xăng rồi nên đáp đại xuống mẫu hạm . Bất cứ người nào biết lái biết bay đều tìm khắp nơi để lấy trục thăng, rồi họ chở gia đình con cái của họ… Trực thăng của anh ta đáp xuống cách trực thăng của tôi có 15 thước, và người bước xuống khỏi trực thăng đó đã nói trong tuần trước là người Việt Nam nào rời khỏi đất nước là hèn nhát, và tất cả mọi người đều phải ở lại Miền Nam để chiến đấu đến cùng. Người đó bây giờ lại là người đầu tiên đáp xuống mẫu hạm Midway, và theo tôi được biết , là người đầu tiên được hạm đội 7 cứu. Người đó là tướng Nguyễn cao Kỳ. Như vậy cá nhân tôi không có một cảm nghĩ gì về cuộc chiến ở đây hết. Còn ai đúng ai sai, đối với tôi sao cũng được, nghĩ làm chi cho mất thì giờ… Nhưng tôi tự nhủ thầm là muốn cho ông ta bị bắt Miền Nam rơi… Chúng tôi đã di tản ra khỏi Việt Nam được gần 2000 người. Và không thể di tản hơn được bởi vì như vậy là đã quá sức chịu đựng của một con người, nếu muốn bay đi nữa….” .

Những người thua trận.

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 11 Feb 2026

9. Khi người mù đòi ánh sáng

Người mù biết đòi hỏi ánh sáng,

Trong khi người sáng có mắt mà như mù.

Người mù đây, ai cũng biết, là Luật Sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng- sinh năm 1971), một trong những nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng nhất của Trung Quốc, cả thế giới đã biết đến ông trong tháng vừa qua, tháng mà tình hình ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên căng thẳng khi ông Trần Quang Thành trốn vào Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh. Người ta gọi ông là Luật Sư nhưng ông chưa hề học qua một trường luật nào, nhưng với kiến thức luật pháp tự học, ông đã thắng nhiều vụ kiện nổi tiếng. Trước hết, ông thắng kiện khi chống lại việc đánh thuế ông trong khi luật cho người mù miễn thuế. Ở địa phương, ông lãnh đạo dân chúng kiện một hãng công nghiệp thải chất bẩn xuống sông làm cho nông dân mất mùa.

Năm 2005, ông kiện chính quyền địa phương ép phụ nữ phá thai theo chính sách một con của Trung Quốc. Về vụ ép buộc phá thai này, nhóm “Libertarian Think Tank the Cato Institute,” cho biết trong năm 1999, từ 5 đến 10 triệu vụ phá thai đã được thực hiện theo chính sách, ép buộc phụ nữ phá thai ngay cả trong tháng thứ chín của thai kỳ, và thậm chí bắt buộc diệt sản. Rõ ràng vì mù ông không hề trông thấy, ông cũng không phải là nạn nhân trực tiếp của sự việc, nhưng ông nghe, ông biết. Vụ kiện phá thai này đã có tiếng vang quốc tế vì việc này ở Trung Quốc quá dã man.

Như phần lớn những người mù khác, ông được học nghề tẩm quất, là một nghề hèn mọn thường dành cho người khiếm thị. Nếu an phận, Trần Quang Thành sẽ là một người hành nghề tẩm quất suốt đời, vì nghề này có thể để nuôi sống ông và gia đình. Nhưng không, ông thích học luật và muốn có kiến thức về luật pháp để tranh đấu cho những người thấp cổ bé miệng. Vì mù, không thể vào trường luật, ông tự học và bắt đầu tranh đấu cho quần chúng yếu thế. Trong những vụ này, đương nhiên phải đương đầu với chính quyền.

Cũng như số phận những người tranh đấu cho nhân quyền, ở Việt Nam cũng như ở các nước độc tài, ông bị đánh đập, bỏ tù. Ra tù ông lại bị theo dõi, quản chế, hăm dọa. Nếu ông không đủ can đảm để trốn đi khỏi làng và không có nước Mỹ can thiệp, ông sẽ chết dần mòn ở một xó xỉnh nào đó. Điều quan trọng là một người tàn tật bất hạnh nhưông, ông lại tranh đấu kêu gọi cho quyền lợi không phải cho ông, mà cho những con người khốn khổ trong Câu chuyện của Trần Quang Thành làm cho chúng ta nhớ lại người nhạc sĩ mù trong “Chuyến Tàu Nổi Loạn” của nhà văn Ba Tây Alcantara Machado (1901-1935).

“Trong một buổi tối, một người nhạc sĩ mù cùng người dẫn đường lên một chuyến xe lửa chạy từ Magari đến Belem, nhưng vì mù, người này không hề hay biết là anh đang ngồi trong một chuyến tàu tối đen, không có đèn đuốc gì cả. Trong câu chuyện, khi tình cờ người mù biết rằng con tàu đang chạy trong đêm mà không hề có chút ánh sáng nào, anh đã ngạc nhiên lên tiếng:

– Trên toa tàu không có tí ánh sáng nào thật ư?

– Không!

– Con tàu chạy trong bóng tối à!

– Đúng! Người ngồi bên cạnh trả lời.

Một chuyện không thể hiểu được, một chuyến xe lửa chở hàng trăm người chạy trong đêm mà không có được một chút ánh sáng! Nỗi phẫn uất dâng lên, người mù nện mạnh chiếc gậy xuống sàn tàu và la lớn:

– Thật là nột sự nhục nhã đối với hành khách, một đất nước đầy bất công đối với con người. Con người không phải là thú vật. Sống trong bóng tối tức là phỉ nhổ lên sự tiến bộ của nhân loại. Hơn nữa, ánh sáng trên xe là một tiện nghi tối thiểu phải có và phải được duy trì luôn luôn tốt để phục vụ dân chúng. Ánh sáng được tính tiền trong tấm vé xe. Chính quyền đã không có biện pháp gì trong việc này ư? Quần chúng sẽ đòi hỏi những quyền lợi của họ. Người dân Ba Tây mong muốn hòa bình, yên ổn và được thỏa mãn nguyện vọng nhưng không vì thế mà cứ xem họ như là những con rối. Một ngày nào đó, họ sẽ vùng dậy!

Nghe lời hô hoán này, mọi người trên toa tàu bắt  đầu giận dữ, la ó và nổi loạn. Họ phẫn nộ, phá nát những chiếc ghế nhồi rơm, đập phá và vứt những đồ vật trên toa tàu xuống đất trong khi con tàu vẫn chạy băng băng trong đêm tối. Cuối cùng con tàu cũng đến ga cuối, nhưng những toa tàu chỉ còn trơ lại những sườn sắt.

Công an mở một cuộc điều tra rộng lớn, khẩn cấp,nhân viên công lực thẩm vấn tất cả mọi hành khách có mặt tối hôm ấy trên con tàu, để truy tìm nguyên nhân vụ nổi loạn và nhất tìm ra ai là kẻ “phản động” chủ mưu trong vụ này. Nguyên nhân chính là đoàn tàu không có đèn, không có tí ánh sáng nào trên toa xe. Và kẻ phát động cuộc nổi loạn? Không ai ngờ rằng, người phát động và lãnh đạo cuộc nổi loạn, đòi ánh sáng lại là một người mù!”

Người mù thì đâu có cần ánh sáng.

Một người mù còn biết đòi hỏi ánh sáng, trong khi người sáng có mắt mà như mù!

Phận người vận nước

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 10 Feb 2026

Phần 3 – Phân đoạn 2

Ba Cuốn Sách,

Không Đủ

Một Nửa Sự Thật

Truong Nhu Tang

JOURNAL OF A VIETCONG

Judith Radiguet

MAMAN LA GUERRE EST FINIE

Nguyen Khac Vien

VIETNAM UNE IONGUE HKIOTE

Dẫn nhập

Nay chúng tôi trở lại vấn đề sau rất nhiều đề cập, tranh luận mà vẫn chưa (và cũng chưa bao giờ) giải quyết một cách chung nhất, để có thể đạt được một kết luận thoả đáng, cuối cùng. Đấy là: Vấn đề đối với người cộng sản – Nói rõ hơn, về những người Việt Nam theo đuổi, tin tưởng chủ nghĩa, chế độ cộng sản; phục vụ, thực hiện một chế độ chuyên chế đã hình thành, đang củng cố trên đất nước Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ, cụ thể là từ 30 tháng 4, 1975. Thật hay giả, đúng hay sai là vấn đề của họ, không là của chúng tôi – Thành phần đã hoàn tất sự phân định, chọn lựa dứt khoát từ một thuở rất lâu – Ngày còn rất trẻ.

Đấy là câu chuyện về, của những người gọi là “Việt cộng”. Danh xưng này nay không do những “Người Việt Không Cộng Sản” tùy tiện đặt nên bởi mục đích chính trị, sử dụng trong tiến trình đấu tranh chống lại chủ nghĩa, chế độ kia, nhưng do chính tác giả của một trong ba cuốn sách sắp đề cập tự xác nhận. Phải, người viết cuốn sách có tiêu đề: “Nhật Ký của một Việt cộng”, tự xác nhận vị trí chính trị của mình – Một Việt cộng – với tất cả tận hiến vinh hiển lẫn thảm bại khắc nghiệt của thân phận con người qua tư thế ấy.

Chữ và Nghĩa của, từ những người cộng sản Việt Nam, những Việt cộng – đã lộ nguyên bản chất là những tiếng lời dối trá, ngụy danh, không nội dung, mất sức sống được chứng nghiệm qua hơn nửa thế kỷ (từ năm 1930, năm Đảng cộng sản Đông Dương thành lập) và ngay hôm nay nơi đất nước Việt với những người chuyên sử dụng chúng với ý, tình thiết tha, nhiệt thành nhất (trong nghĩa văn học, cũng như mục đích chính trị – Những Hoàng Minh Chính, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng phủ Ngọc Tường …) Cũng trên toàn bán đảo Đông Dương và cả thế giới nếu muốn nói rộng ra.

Và cũng chính họ – Những người gọi là “Cộng sản Việt Nam” – chứ không ai khác đã tìm ra “lời giải đáp” cuối cùng của hoài bão “ngây thơ một cách đáng thương hại và cũng đáng oán hận” kia. Bởi chính niềm mong ước ấy đã “là đầu mối” của chuỗi đau thương đọa đày không có dấu hiệu chấm dứt mà toàn thể các dân tộc sống trên vùng Đông Dương (Người Việt là nạn nhân đầu tiên, chính yếu) đồng gánh chịu từ ngày chế độ “bất nhân một cách tự nhiên kia” được thành lập ở Hà Nội, ngày 2 tháng 9, 1945. Cụ thể hơn là một trong số ba nhân sự sắp kể ra chính là “kẻ thụ nạn thê thảm” do hành vi tự hiến, hy sinh của chính bản thân và gia đình người ấy.

Ba cuốn sách đang đề cập do ba cá nhân khác nhau về giới tính, chủng tộc, địa phương sinh quán, môi trường sinh hoạt, vị trí xã hội viết nên. Nhưng tất cả đồng có chung một mẫu số – Đấy là những “trí thức thiên tả”, được đào tạo, sinh hoạt, hành nghề từ, trong môi trường văn hóa Pháp Ngữ, ở thủ đô Paris, nước Pháp. Nói như thế hắn đã đủ để chúng ta bắt đầu vào câu chuyện.  Cũng bởi hôm nay, qua thế kỷ 21, loại “nhà tù của Thiệu” mà tác giả Judit Radiguet mô tả trong cuốn sách thứ nhất sẽ không đáng bao nhiêu so với những nhà tù của cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (người viết không thể nào viết hoa danh xưng này vì phải giữ tự trọng của người cầm bút khi đề cập đến một đối tượng quá đỗi xấu xa, tệ hại) với những người tù rất trẻ, rất mới, những sản phẩm thuần thành của chế độ mà nhân sự gọi là “bác Hồ” đã xây dựng nên từ đầu thế kỷ 20.

Đấy là những Bùi Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiêm, Lê Thị Công Nhân, blogger Điếu Cày … Điển hình với Tạ Phong Tần, nhân vật được chính phủ Mỹ tuyên xưng là “Một Trong 10 Người Đàn Bà Can Đảm Nhất Thế Giới”, cũng là một cựu nữ Đại úy ngành Công an của nhà nước Hà Nội. Cũng nói thêm mà thiết nghĩ cũng không thừa: Rudit Radiguet nếu còn có đủ lương tri và lương năng của một con người bình thường nên tìm đọc Bên Thắng Cuộc của Huy Đức để biết rõ: Cộng sản là gì? Cộng sản Việt Nam là như thê nào ở Hà Nội?

1. Cuốn sách Thứ Nhất:

Judit Radiguet,

“Mẹ ơi, chiến tranh đã chấm dứt”

Nhà Xuất Bản Rocher, Paris,

France 1995

Tác giả là một người nữ, ký giả những bài viết  đoạt Giải thưởng Phóng Sự Ondas (của giới truyền thông quốc tế, phổ biến trên đài Vô Tuyến số 3 Pháp) về tình hình trẻ con, phụ nữ bị bức hại ở những nước thuộc Thế giới thứ Ba. Cô đã có mặt ở Việt Nam từ 1963, cùng một đứa con nhỏ và chồng, René, cũng là một ký giả do lời mời của luật sư Tân (?) (Trong sách ghi là Tan – “Một luật sư người Việt xuất sắc, tài năng và thông thái, chủ nhân một biệt thự tráng lệ với những bữa ăn thân mật, thịnh soạn” – Đánh giá của Judit).

Luật sư Tân đề nghị cùng cô nhiệm vụ xướng ngôn phần tiếng Pháp cho đài phát thanh. Cô ký giả trẻ (tính theo tuổi ở năm 1963) chấp thuận với ý định, qua việc làm, cô sẽ tìm hiểu về một xứ sở rối rắm đang trong tình trạng chiến tranh. Công việc của cô làm những giới chức chỉ huy quân sự trẻ (Là những ai? PNN) ở địa phương Đà Lạt không hài lòng vì cô “đã khám phá ra sự giả dối” ở những con số người chết, bị thương được ngụy tạo trong các bản tin. (1)

Cuộc đảo chính quân sự 1 tháng 11, 1963 chấm dứt chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng chấm dứt luôn công việc ở đài phát thanh của cô ký giả. Sau đó vài ngày, luật sư Tân bị ám sát nơi nhà để xe. Vợ chồng cô ký giả đến thăm, bà vợ viên luật sư gào ngất: “Bọn người mặc đồ lính giết chồng tôi! Tôi sợ chúng giết cả tôi nữa”. Từ sự kiện luật sư Tân, Judit có kết luận: “Chúng tôi không bao giờ biết được kẻ nào đã giết Giáo sư Tân, một luật sư xuất sắc và trung chính. Ông hẳn có thể trở nên một lãnh tụ chính trị của thành phần mà sau này gọi là “thành phần thứ ba” (2). Ông Tân là một trong muôn vàn những nạn nhân dân sự của chế độ quân nhân – Ông là một trong những nhân vật hàng đầu của nhóm người trung lập. (Radiguet, trg191-196).

Năm 1970, Judit trở lại Việt Nam lần thứ nhất với một tâm lý chín chắn, trưởng thành hơn. Cô quyết tìm hiểu “cuộc cách mạng nhất định phải có do (xã hội) bị áp bức. (Radiguet trg11) trong dòng sinh mệnh của một quốc gia có liên hệ với lịch sử Pháp, văn hóa Pháp – Mà cô là “đại diện cho giới nhà văn, nhà báo trung chính” của nền văn hóa cao cả này, cũng do “tinh thần (vô sản) chiến đấu” từ mẹ, cha cô truyền lại. Đêm đầu tiên lần trở lại Sài Gòn, cô chứng kiến  một vụ phá hoại nổ một rạp hát cải lương (Trong sách, “Nhà hát Tàu”); từ phòng khách sạn, cô băng mình chạy xuống diễn trường và bản thân tham dự, chứng kiến. “Người mẹ của một nạn nhân nắm tay cô đặt lên thi thể đẫm máu với lời nói thất thần đau đớn: “Bà bạn ơi, con tôi, chết rồi … (Không nói vì sao mà chết. Chết bởi vì ai? PNN) Con tôi là diễn viên đóng tuồng” (Radiguet, trg 9).

Những ngày sau, Judit đi thăm một trại mồ côi, thấy cảnh tượng xót xa của những em bé không cha mẹ, tàn tật nơi những căn nhà tan hoang, rách nát. Lòng cô cũng tương tự như cảnh vật, phận người phải chứng kiến giữa thành phố Sài Gòn ầm vang tiếng động, xe nhà binh, hàng quà, lính tráng và chuẩn bị hứng chịu hỏa tiễn “từ một phía người Việt” khác dội vào để trở nên một nơi chốn tràn đầy chết chóc. (Radiguet trg7-12).

Tính đến những dòng chữ vừa kể ra, chưa hề thấy xuất hiện danh tự “cộng sản; người cộng sản; Việt cộng”. Thế nên, nếu không phải là người Việt Nam (ở trong nước, mà dẫu cho ở tại Sài Gòn, có được mấy người hiểu thấu – PNN) người đọc bình thường (nếu là người ngoại quốc, ở Pháp, Mỹ …) ắt sẽ được dẫn đến kết luận: “Cái chết của luật sư Tân, vụ nổ rạp cải lương, cảnh sống tang thương tại trại mồ côi … Tất cả hẳn có chung một mẫu số nguyên nhân đấy là: Chế độ quân nhân của Sài Gòn chứ không đâu khác”.

Điều này được sẽ nói rõ ra ở những trang sau. Năm 1973, Judith trở lại Sài Gòn lần thứ hai, trước và sau Hiệp định Paris ký kết (27 tháng Giêng, 1973). Cô tìm đến một “bậc thầy”, Ni sư Huỳnh Liên. Và sau đây là những lời giảng dạy từ “người thầy”:

– Chúng tôi thành lập phong trào đòi quyền sống cho người thấp cổ bé miệng chung cho cả nước. Những phụ nữ bần hàn, những em bé mồ côi. Hiện tại chúng tôi đang chăm sóc, dạy dỗ cho khoảng 60 em, từ đứa bé đến đứa lớn. Khi chúng bị bệnh chúng tôi đưa tới bệnh viện, nhưng chẳng có bác sĩ nào trông nom, chữa chạy. Ở nước này người ta có chủ trương trồng rau cỏ mà đòi hái cây có trái!

Người (gọi là) Thầy dạy tiếp:

– Phong trào có các Tiểu ban khắp nơi, miền Trung cũng như miền Nam; năm 1970 chúng tôi tổ chức “Ủy ban đòi cải thiện chế độ lao tù”; mỗi ngày ủy ban đến thăm một nhà tù, cho tù nhân bánh kẹo, trái cây. Một ngày đến thăm trại Tân Hiệp (Biên Hòa, cách Tây – Bắc Sài Gòn 30 cây số. PNN); người ta xua đuổi chúng tôi bởi muốn che giấu vết tích tra tấn tù nhân. Tháng 3, chúng tôi phát động cuộc biểu tình phản đối, một phụ nữ bị bắn chết, xác quàng tại nhà thương Chợ Quán. Chúng tôi mang xác về chùa làm lễ cầu siêu và biểu tình trước Quốc hội; chính quyền ra lệnh thiết quân luật và các cuộc bắt bớ càng gia tăng.

Các cuộc xuống đường phản đối chính phủ được “thầy” mô tả sống động như sau:

– Trong những lần biểu tình, những người đàn bà lớn tuổi được xếp hàng đầu với khẩu hiệu dính sát trên ngực. Khi cảnh sát cố giật những tấm khẩu hiệu thì đám đàn bà la lớn với đám đông: “Này đồng bào nhìn đây, tôi già quá rồi nên không còn tóc, bọn cảnh sát còn đòi sờ vú tôi”. (Radiguet trg138-149). Cảnh sát bó tay và đành để yên cho đám người (đàn bà) biểu tình; hơn nữa những người này còn gọi cảnh sát là “con của mẹ ơi!!”.

Nếu mô tả như thế này thì quả thật không có một đội quân dẹp biểu tình, bạo loạn nào nhân ái và dễ thương như lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến của chế độ miền Nam. Cuối cùng, “ni sư” đề cập đến phạm vi chính trị, xã hội. Người “giáo dục” tiếp cho cô ký giả:

– Bọn nhà binh ăn cắp ở mức độ lớn, hằng ngày chúng lấy những xe bồn chở xăng khổng lồ; nhưng lại áp dụng biện pháp kiểm soát gắt gao đối với dân chúng, những người bán xăng lẻ ở dọc đường. Chưa hết, chúng lại bắt lính đóng mỗi tháng một trăm đồng vào cái gọi là Quỹ Tiết kiệm Quân đội” (Radiguet trg 150).

Lẽ tất nhiên, “người” không quên kết luận về tội ác của Mỹ Ngụy bằng một hoạt cảnh ở Gò Công:

– Chính quyền địa phương bày những cái xác Việt cộng bị chết trong một cuộc công đồn để thân nhân đến nhận về đem chôn. Còn một xác vô thừa nhận; viên chỉ huy đồn gắn một điếu thuốc lên xác người chết để tỏ ý khinh miệt, đùa cợt!

Câu chuyện kể trên của “ni sư Hỳnh Liên” tạm chấm dứt nơi đây với so sánh của chúng tôi:

– Vào cao điểm vượt biên trong thập niên 80-90, người miền Nam (chưa tính tới miền Bắc) ra đi bất cứ nơi đâu với những con thuyền nhỏ có thể cập bến (để đưa người ra thuyền lớn ngoài vùng biển). Điển hình tại bến Bình Đông (Chợ Lớn); cầu Rạch Chiếc (trên xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa); Phước Hải, Vũng Tàu, Bà Rịa …

Các cuộc vượt biên phần đông bị lộ vì tổ chức kém cẩn mật; công an thuộc đơn vị “biên phòng”được lệnh tàn sát không nương tay (Công an bắt vượt biên/Công an bán bãi vượt biên cũng là MỘT). Sau đó, xác các nạn nhân phần lớn là đàn bà, trẻ con (do đàn ông, người lớn hầu hết đã ở trong trại tập trung) kéo lên bờ phơi nắng, gió với tấm bảng viết hàng chữ: “Kẻ phản bội Tổ quốc, bỏ nước ra đi bị trừng trị”. Thân nhân muốn nhận về chôn phải “học tập nhận tội” trước toà án nhân dân địa phương sau khi đóng “tử phí: xác người lớn 1,000 Đồng; trẻ con 600 đồng”. Thời giá năm 80, “lệ phí xác chết” kia tương đương với 2-3 đô-la Mỹ.

Nhà nước cộng sản có quy định coi dịch vụ này như một “biện pháp kinh tế, tăng cường nền tài chánh của xã hội – xã hội chủ nghĩa”. Câu chuyện này được Trần Mạnh Hảo kể lại qua bài thơ: “Ngày giỗ Nguyên Hồng, thấy xác người vượt biên trên Bãi Trước, Vũng Tàu”.

Đi tiếp đoạn đường tìm hiểu sự thật, cô ký giả người Pháp tìm đến những nhân vật “lớn”. Và đây là “Cha” Chân Tín dịch cho cô một đoạn báo Điện Tín, số ngày11 tháng 4, 1970:

Ngày 9 tháng 4, Thẩm phán Tòa án Mặt trận ra lệnh bắt giữ đám sinh viên tranh đấu vào “Trung Tâm Cải Tạo”. Trong các buổi học tập (trong trại giam, giữa các sinh viên – PNN), sinh viên tố cáo những vụ hành hung khi hỏi cung, như bị đánh bằng gậy gỗ teck, roi điện, đổ nước xà phòng vào mũi, dùng xăng dầu đốt cháy bộ phận sinh dục và đầu vú. (Radiguet trg 158).

Buổi Hội thảo có một nhân chứng sống, mẹ của Huỳnh Tấn Mẫm, Chủ tịch sinh viên y khoa Sài Gòn; người mẹ tố cáo: “Con tôi bị bắt giữ từ ngày 20 tháng 3, 1970, nhưng hai tháng sau chính quyền mới xác nhận. Ngày 30 tháng 3, lúc 5 giờ sáng, Mẫm bị khảo cung bằng tra điện để bắt anh ký một tuyên bố giả mạo; anh từ chối “đòi phải có bằng chứng cụ thể” (Về việc cáo buộc anh có hoạt động cho phía cộng sản – PNN).

Người ta phải đưa anh ta vào nhà thương ba lần, chính thuốc tê liệt thần kinh nửa mê nửa tỉnh. Mẫm bị tra tấn bằng bóng đèn sáng đến 100 watts đặt trước mặt, nên hiện tại hai mắt như bị mù, da mặt bị đốt cháy, phải điều trị hằng hai mươi ngày mới lành … (Radiguet trg 157-158).

Câu chuyện về hành hạ tù nhân được kèm thêm một nhân chứng, vợ chồng Vũ Hạnh. “Nhà văn” tố cáo: “Ông bị bắt giam oan ức (nghĩa là không phải cán bộ cộng sản nằm vùng – PNN) vì chỉ viết những bản văn phê phán chế độ; chế độ Sài Gòn cũng đã bắt giam con trai, con gái ông vì những bài viết, bài hát ca ngợi ‘hòa bình’ của họ”.

Chúng tôi có thể kể thêm rất nhiều về “tội ác” của chế độ Sài Gòn mà người ký giả “trung thực” Judith Radiguet đã viết nên trong hơn 200 trang sách. Nhưng nghĩ rằng, cuốn sách cần thêm những chi tiết mà do từ “cơ duyên khổ nạn”, bản thân chúng tôi đã chứng kiến, tham dự, sống cùng. Ngày 23 tháng 7, 1973 người viết hướng dẫn một phái đoàn gồm hai chiếc trực thăng đưa một số “nhân vật thuộc thành phần thứ ba” đi Lộc Ninh để trao trả cho “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (số phận và trị giá của chính phủ này, phần bài viết thứ ba sẽ đề cập đến). Trong đám người trao trả có Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Long và Huỳnh Tấn Mẫm. Mẫm tươi cười, khoẻ mạnh, áo trắng, quần xanh tươm tất. Mẫm nói chuyện cùng chúng tôi và Phạm Đức Vượng (Bác sĩ Y khoa, hiện ở San José), do quen biết từ trước ở Đại học Xá Minh Mạng, trường Y khoa.

Cuối buổi trao trả, tôi đưa Mẫm về lại Sài Gòn vì anh nêu lý do: “Anh không là thành viên mặt trận, cán bộ cộng sản, anh chỉ là ‘sinh viên tranh đấu’ cho “hòa bình – độc lập dân tộc – hạnh phúc nhân dân”.

Nội dung và hình ảnh buổi nói gặp gỡ này được in và kể lại trong Tù Binh và Hòa Bình, (NXB Hiện Đại,

Sài Gòn 1974 trg133-159). Câu chuyện về Huỳnh Tấn Mẫm chưa chấm dứt. Trong giai đoạn đi tù ở Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, tiếp chuyển về trại 5 Lam Sơn, Thanh Hóa (25/8/1978), người viết ở cùng phòng giam với Nguyễn Văn Phấn, Đại úy truyền tin Sư đoàn 5 Bộ binh đóng tại An Lộc trong những năm 70. Phấn kể chuyện:

Anh suýt bị thủ tiêu bởi toán biệt động thuộc tỉnh đội Bình Long nếu không chịu trao những mã khóa truyền tin cho chúng. Âm mưu được thực hiện, điều động bởi Huỳnh Thị Bạch Yến, em gái Mẫm, con ông Huỳnh Tuấn, thầy xu (surveillant) đồn điền cao su Quản Lợi, An Lộc. Và “người bị chế độ Sài Gòn bắt oan” Vũ Hạnh, là một trong những người lập nên danh sách, quyết định vận mạng toàn bộ những người viết văn, làm thơ, văn nghệ sĩ trình diễn, giáo sư, trí thức Sài Gòn sau 30 tháng 4, 1975. Các huynh trưởng, văn hữu Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường … phải chịu những cái chết oan khốc; hằng mười, hai mươi năm tù của Doãn Quốc Sỹ, Như Phong, Đoàn Viết Hoạt, Hoàng Hải Thủy, Duy Trác … và hằng trăm, ngàn người cầm bút, sinh hoạt trong lãnh vực giáo dục, văn hóa bị lăng nhục, ngược đãi mà hậu quả đến hôm nay vẫn đang tiếp diễn với Hòa thượng Quãng Độ, Linh mục Nguyễn

Văn Lý, Thượng tọa Tuệ Sỹ, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo sư Nguyễn Đình Huy …

Những chi tiết trên Judith không thể biết được vì cô đã rời khỏi Việt Nam sau ngày 27 tháng 1, 1973 với “tấc lòng yên ổn” do đã “hoàn tất sứ mệnh trao gởi thông điệp tình thương lại cho những kẻ khốn cùng ở Việt Nam – Những người bị bách hại trong những nhà tù của Thiệu … “.

Uổng quá! Cô chỉ cần ở lại lâu hơn chút nữa, sau 30 tháng 4, 1975, cô sẽ thấy ra “Nhà tù của Thiệu không nghĩa lý gì so với Hỏa Lò của Hà Nội! Nhà tù của Thiệu có là bao so với hàng trăm, hàng ngàn trại tù khắp miền Nam, của cả Việt Nam” – Không đâu xa, ngay tại những nơi chốn mà “ni sư” Huỳnh Liên đã đề cập

– Cũng không xa ngôi chùa của “người thầy” này: Nhà tù Phan Đăng Lưu tức Toà Tỉnh Trưởng Gia Định cũ.

Và nếu muốn viết tiếp cuốn sách cho đầy đủ hơn, cô hãy đến hỏi những Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Hữu Luyện, Nguyễn Văn Lý, Tuệ Sĩ, Nguyễn Đình Huy … Và rất nhiều người nữa, con số sẽ lên đến vạn, triệu – Cả một Dân Tộc Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ chứ ít gì. Cụ thể và chính xác hơn, cô chỉ cần hỏi một người nữ bình thường: Chị Cả Bống – Người đàn bà hoa điên nơi bến đò Đuôi Cáo ở miền Bắc, nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (3) – Người Mẹ có đứa con bị mổ bụng lấy mật ngâm rượu thuốc cho “anh Sáu”, Ủy viên Trung ương Đảng cộng sản ở khu Ba Đình, Hà Nội.

Ghi chú:

(1) Đài Phát thanh Đà Lạt (Pháp Ngữ) giai đoạn 1960-1963 chỉ là một đài chuyển tiếp của Đài Pháp Á Sài Gòn (vào buổi trưa) chuyên về ca nhạc, tin tức xã hội địa phương (liên quan với dân cư sử dụng Pháp ngữ). Đài không là một đài Trung ương để có tiết mục bình luận chính trị, quân sự. Đà Lạt của thời điểm kia cũng không hề (không bao giờ) là bản doanh quân sự quan trọng với những nhân sự chỉ huy cao cấp như Judit Radiguet mô tả. (PNN)

(2) Thành phần thứ Ba: Tập hợp của những người “làm chính trị” ở miền Nam (1960-1975). Thành phần này được kể ra một lần trong văn bản Hiệp định Paris 1973. Bị vất bỏ sau 30 tháng 4, 1975 cùng lần với cái gọi là “Chánh phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” do chính nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. (Xem rõ chi tiết với cuốn thứ ba của Trương Như Tảng)

(3) Chị Cả Bống: Chuyện ngắn Phạm Lưu Vũ (Hà Nội), thế kỷ 21, CA, USA, số tháng 8, 2005.

2. Cuốn sách thứ Hai:

Nguyễn Khắc Viện,

“vietnam une Longue Histoire”

L’ Harmanttan, Paris, France 1999

Tại sao? Vì đâu cuốn sách đã hình thành? Trước khi nói về cuốn sách thứ hai – Sách do một người được đánh giá là “trí thức năng động nhiệt thành, tham dự một cách khách quan vào một giai đoạn lịch sử” viết nên và cuốn sách được trao giải thưởng cao nhất của Hàn Lâm viện Pháp dành cho Khối Pháp Thoại (Grand Prix de la Francophonie 1992). Ông cũng là người Việt độc nhất được Hàn Lâm viện Pháp phong tước – Chúng tôi thiết nghĩ nên nhắc lại vài sự kiện có liên quan đến nhân sự viết cuốn sách này.

Năm 1985, Tố Hữu, đệ nhất “văn lại” Hà Nội, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng cộng sản, Bí thư Ban văn hóa tư tưởng, được xung thêm chức vụ mới: Trưởng Ban cải cách công- nông-thương nghiệp. Bởi ngoài tài làm những câu “tụng ca” đại loại: “Hoan hô Sít-ta-lin! Vững bền cây đại thọ. Rợp bóng mát hòa bình. Ngọn hải đăng vô sản … “.

Tố Hữu, tiểu danh Lành còn có khả năng điều hành, tổ chức sản xuất, cách mạng công-nông nghiệp (cũng với, bằng … lời thơ) qua những câu: “Với sức người, sỏi đá cũng thành … cơm!”; hoặc liên quan ngành công chánh xây dựng với: “Đường ta rộng thênh thang … tám thước!”. Để vận động “thơ” của Tố Hữu thành “cơm ăn, đường đi, của cải cho xã hội”, toà soạn báo Nhân Dân (Cơ quan có chức năng chính trị như một Ban, lớn hơn một Bộ) được huy động để quảng bá tài làm thơ của quý thủ trưởng, chế biến thơ nên thành sản phẩm nông nghiệp, vật liệu sản xuất và xây dựng công nghiệp. Tòa báo bày ra cuộc thi thơ với hai câu của “người” làm chuẩn: Bốn cống, năm cầu, ba cửa ô. Cùng nhau ta xây dựng cơ đồ … Nghĩa là, sau, từ hai câu thơ “chuẩn” của Tố Hữu, thần dân toàn nước Việt có bổn phận phải tìm ra thêm hai câu thơ nữa có tính chất vừa hay, vừa thơm, vừa tốt (Chữ của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng khi ra “chỉ tiêu” cho Đề cương văn hóa Việt Nam, vận động vào năm 1948) để làm khẩu hiệu thi đua cho cả nước tiến công lên mặt trận công-nông  ghiệp, quyết tâm xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa tiên tiến, văn minh và giàu mạnh”.

Nhưng chỉ sau một năm, 1986 cuộc cách mạng (qua thơ ca, khẩu hiệu của do Tố Hữu chỉ đạo) biến thành trò thảm hại. Cả nước đứng sẵn bên bờ vực chết đói kiểu 1945; miền Nam sau ba trăm năm mở nước, lập quốc cũng rơi vào tình trạng ăn cơm độn … thực phẩm gia súc! Trước tình trạng “khẩn trương” của cả nước sau vận động “Văn hóa Công-Nông nghiệp” thất bại, người trí thức Nguyễn Khắc Viện từ Pháp được Đảng gọi về giúp nước. Viện được mời đi “tham quan” để sau đó viết bài động viên nhân dân làm cách mạng xã hội bằng phát triển nông nghiệp theo “mô hình hợp tác xã tiên tiến – hợp tác xã hội xã hội chủ nghĩa!”.

Nguyễn Khắc Viện viết một loạt bài “rất trí tuệ” gồm những “dữ kiện có tính cách thuyết phục” với nội dung như sau (xin lưu ý, những chữ trong ngoặt kép hoặc viết nghiêng thuần là của báo Nhân Dân; của Úy viên trung ương Tố Hữu; của trí thức vô sản Nguyễn Khắc Viện):

Nhân một buổi về tham quan hợp tác xã vùng đồng bằng sông Hồng, Viện được chứng kiến một hoạt cảnh sinh động, điển hình tiên tiến. Một chị đội trưởng hợp tác xã vừa thổi cơm bằng rơm, vừa thuyết minh “cơ cấu tố chức” hợp tác xã, chế độ vần công, cách thức điều hành xã viên, phân chia nông phẩm, phân phối phân bón, thuốc trừ sâu, thực hiện nghĩa vụ thuế nông nghiệp.

Chị vừa trình bày vấn đề trọng đại, vừa thổi mồi rơm; lửa hắt ánh hồng lên khuôn mặt tươi trẻ, hiện thực vẻ đẹp cao quý của người lao động trong chế độ ưu việt – chế độ xã hội chủ nghĩa – chế độ triệt tiêu “hiện tượng người-bóc lột-người” mà trí tuệ siêu việt Karl Marx, Engel hằng tiên tri, nay Bác Hồ hiện thực trên đất nước Việt Nam giàu đẹp, sau cuộc chiến thắng trời long đất lở, đánh bại hai tên đế quốc sừng sỏ, ghê gớm nhất của nhân loại, thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Ông đề nghị một cách khôn ngoan trong loạt bài báo (có tính khoa học cao): “Người Việt nên thay đổi “cơ cấu bữa ăn cổ truyền với thuần gạo tẻ” (và thay vì gọi là “cơm độn” mà nên gọi là “cơm trộn”) bằng:

“cơ cấu mới: gạo-ngô-khoai-sắn” – vì ngô-khoai-sắn có nhiều chất sắt hơn trong một hàm lượng so với gạo tẻ”.

Viện trích dẫn nghiên cứu của Tiến sĩ Nông học Phạm Hoàng Hộ: “Mười cân rau muống bổ dưỡng bằng một cân thịt bò”. Viện vạch rõ, cũng từ một nghiên cứu khoa học, “rau muống có nhiều chất sắt hơn thịt bò!”.

Đấy là câu chuyện của 20 năm trước. Nay, thành quả nghiên cứu nghiêm túc của Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện, điển hình “trí thức xã hội chủ nghĩa” được hệ thống hóa và nâng cấp qua cuốn sách: VietNam, Une Longue Histoire.  Lịch sử quả thật đang trên đà tiến tới nhưng hình như cũng luôn được lặp lại – Lặp lại nhiều lần với những sai lầm, hư hại bởi những con người ác độc, nhẫn tâm, hiện diện qua những chế độ cai trị độc hại. Sự độc hại của những chế độ ấy chỉ được thay thế, hoặc được hạn chế nếu nhà nước cầm quyền thực hiện được một căn bản pháp trị – Nói rõ hơn, khi Kẻ Sĩ, Người Lập Thuyết cho chế độ giữ đúng lương tri và hành xử đúng lương năng của mình. Với quan niệm tổng quát này, cuốn sách của Nguyễn Khắc Viện có thể kết luận trước tiên mà không sợ sai lầm: Là một tường trình ngang ngược biện minh cho chế độ làm hư, xấu con người đang tồn tại một cách dai dằng ở Hà Nội, Việt Nam. Bởi cuốn sách (lại là một sách về lịch sử) được viết trên một cơ sở lập luận không hợp lý: Chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam (1883-1945); chính quyền Quốc Trưởng Bảo Đại (1948-1954); hai kỳ Cộng hòa ở miền Nam (1954-1975) có rất nhiều khuyết điểm trong một giai đoạn lịch sử dài. Vậy nay (nếu) như chế độ chuyên chế Hà Nội có sai phạm thì cũng chỉ là (sản phẩm tất yếu) của lịch sử mà thôi.

Sự thật ở đâu?

Năm 1985, Nguyễn Khắc Viện về nước, viết loạt bài huy động cải cách nông nghiệp với mục tiêu:

“Tiến đến thực hiện chỉ tiêu xuất cảng ‘1 triệu tấn gạo’ do Đại Hội VI của Đảng đề ra”. Trong phần “Việt Nam Thời Kỳ Hiện Đại”, tiểu mục “Sự bóc lột kinh tế của thực dân (Pháp)” của cuốn sách, Viện trích dẫn phần tài liệu: “… Trước năm 1918 (năm chấm dứt  Thế Giới Chiến Tranh lần 1), hầu như toàn thể đất đai của Đông Dương bị thực dân Pháp trưng dụng đều được trồng lúa. Chỉ riêng Nam Kỳ, đã phải nhận một chỉ tiêu cung cấp vượt trội xuất khẩu gạo: Từ 800,000 tấn cho năm 1900, lên tới 1,200,000 tấn cho thập niên 1920 (Nguyễn Khắc Viện, trang 179)”.

Như thế là thế nào? Chẳng lẽ cố công thực hiện một cuộc chiến tranh tiêu hao với giá máu của cả một dân tộc, đầy ải hàng triệu sinh linh vào biển máu lửa với cuộc chiến kéo dài hơn ba thập kỷ (1945-1975); phóng tay mở đầu giai đoạn cách mạng toàn cầu; giải phóng lãnh thổ Đông Dương ra khỏi ách thực dân (cũ lẫn mới) chỉ cốt để tiến tới một “mục tiêu mà người Pháp thực dân đã thực hiện hơn sáu mươi năm trước hay sao?! “.

Nhưng mục tiêu chính của cuốn sách không phải chỉ để trình bày sự kiện bóc lột về kinh tế, mà hơn ba phần tư cốt nói về những hoạt động chính trị, quân sự, khởi loạn theo quan điểm duy vật lịch sử. Từ khởi nghĩa của Trương Quyền (con Trương Định) năm 1863, có sự tham dự của Lục Sãi người Miên Pokumbo được đánh giá nên thành “kết hợp giữa nhân dân hai nước chống chủ nghĩa Đế quốc Tây phương.” (NKV trang 158).

Lần thành lập Đạo Cao Đài được giải thích: “Tổ chức tôn giáo này đã bị “lũng đoạn do thành phần nhân sự lãnh đạo đã bị nhà cầm quyền thực dân ngấm ngầm điều hành” (NKV trang 212). Cuộc vũ trang nổi dậy tại Yên Bái (9, 10 tháng 4, 1930) do Quốc Dân Đảng lãnh đạo thất bại được quy ra, “khuyết điểm thiếu tính quần chúng”, dẫn đến hậu quả những thành phần yêu nước tích cực đồng tìm đến một tổ chức cách mạng hữu hiệu khác (tức là Đảng Cộng sản Đông Dương); đám còn lại trốn qua Tàu, gia nhập Quốc dân Đảng Trung Hoa “biến chất thành phản động, mất hẳn trên vũ trường chính trị”. (NKV trang 213-214) …

Tất cả cuối cùng nêu bật một điều: “Đảng cộng sản kiểu Lê-nin do Bác Hồ thành lập, huấn luyện, Tổng bí thư Trần Phú chỉ đạo là đáp số cuối cùng và chung nhất bởi đã tập trung được giai cấp công nhân làm thành phần chủ đạo chiến lược”. Tuy nhiên, Nguyễn Khắc Viện cũng có phần chân thật khi xác nhận rằng: “Lúc Đảng thành lập (3 tháng 2, 1930) theo thống kê năm 1929, tổng số công nhân toàn bộ Đông dương không quá 200,000 người, trong đó có 80,000 vừa bỏ đồng ruộng miền Bắc di cư vào Nam hành nghề cạo mủ cao su tại các đồn điền chủ Pháp” (NKV trang 201). Xuyên qua tất cả luận lý, dữ kiện nêu trên, chúng ta có thế đặt nên những câu hỏi với tổ chức Đảng kia: “Vậy tìm ở đâu ra một giai cấp công nhân tiên tiến’ theo định nghĩa của Karl Marx, Lénine để làm lực lượng nòng cốt sẵn sàng cho ‘đêm hôm trước cuộc cách mạng vô sản’ ở Việt Nam – Một nước với nông dân chiếm 90% dân số của vùng bán đảo Đông Dương, toàn cõi Châu Á, buổi đầu thế kỷ 20?! “.

Tuy nhiên, cuộc cách mạng vẫn được khởi dậy với khí thế dũng mãnh, bởi vì người dân được kích thích, hứa hẹn: “Từ đấy hồn tôi bừng nắng hạ. Mặt trời chân lý chiếu qua tim … “. Khi Tố Hữu đã viết như thế thì lịch sử tất yếu phải đi theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa vậy (NKV trang 240). Sự sa đọa của chữ nghĩa do những “trí thức cách mạng” thực hiện càng ngày càng tệ hại. Hãy nghe Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện của Viện Hàn lâm Pháp tố cáo thành tích tàn ác của thực dân Pháp đối với “đồng bào ta”: “Năm 1929: Bắt giữ 1,490 người; bắt nhốt 300; tuyên án tử hình 3. Năm 1930: Nhốt 2, 963; kết án tử hình, 83; chung thân khổ sai, 543 … ” (NKV trang 227). Màn hài hước nhân đạo ái quốc rởm bất cận nhân tình trên nỗi thống khổ của con người (lại là người chung huyết thống) phải ngưng tại đây nếu chúng ta được biết như sau:

“Khu nhà tù Hỏa Lò do người Pháp dựng nên sau khi bình định được nước Việt là trại giam Trung ương của Miền Bắc. Ngay sau khi bộ đội cộng sản vào Hà Nội 10 tháng 10, 1954, nhà tù nhận thêm nhiều đợt tù mới (nhiều gấp bội so với tù của thực dân Pháp) để từ đây chuyển đi các trại Trung ương từ biên giới Việt – Trung đến Nghệ An, Hà Tĩnh, các trại tập trung dọc vùng thung lũng sông Mã, Thanh Hóa, Hòa Bình, hậu thân của hệ thống trại Lý Bá Sơ, đã thành danh hiệu một Tây Bá Lợi Á của cộng sản Việt Nam.

Chiếc cùm chân cùm Trường Chinh ở phòng giam Hỏa Lò nay vẫn được giữ lại như một chứng tích lịch sử của ‘thời thực dân tàn ác’ thật không thấm vào đâu so với khối cùm hộp kẹp vỡ xương ống chân của những con người trong câu chuyện sắp kể ra dưới đây. Thế nên, phải nói một điều tưởng chừng như vô lý: Nhà tù Hỏa Lò thời thực dân Pháp đã là một thiên đường so với thời tập trung cải tạo xã hội chủ nghĩa theo lời dạy của Bác Hồ vô vàn kính yêu!”.

Chúng ta cần nêu một so sánh để khỏi bị cáo buộc đã nói điều vô bằng cớ. Khi xây khám, người Pháp dự trù chỉ để giam cứu cho vài ba trăm người với những dãy nhà dài rộng. Sau 1954, công an Hà Nội chia thành bốn khu chính với những phòng giam ngăn cách bởi những dãy tường đá, trên thả kẽm gai và mảnh chai vỡ. Một nhân vật của câu chuyện kể (vốn là Đại úy Quân đội Quốc Gia trước năm 1954) tháng 8, 1961 bị đưa vào tù theo “Nghị Quyết Tập Trung Cải Tạo” (Ban hành trước khi thành lập Mặt trận Giải phóng, quyết định thanh toán miền Nam bằng vũ lực sau Đại hội 3 của Đảng, tháng 5, 1960) có danh số tù là 4257. Điều này giúp cho chúng ta biết, chỉ mới đến tháng 8 lượng tù đã quá số 4,000, cuối năm, theo nhịp tập trung bắt giữ như đã xảy ra, ắt hắn sẽ có khoản 6,000 lượt người vào và chuyển dần đi. Hỏa Lò nhận một số tù gấp mười lần số lượng dự trù.  Trong khi ấy, diện tích phòng giam bị co rút lại, thế nên, các phòng giam dẫu treo khẩu hiệu, “Ăn sạch. Ở sạch. Nội vụ sạch”, sinh hoạt “điển hình tiên tiến” nơi phòng số 14 đã diễn ra như sau:

250 con người trong căn phòng (dự trù chỉ 20 người) kia có những nhu cầu cấp kíp trong đêm, họ phải đi tiểu, đại tiện. Kẻ đi vào phòng vệ sinh phải trở thành một diễn viên xiếc thượng thặng giữa đám người nằm nêm cứng. Vào được phòng vệ sinh, lại phải thêm một phen chen chúc. Một tên ngồi gục đầu trên hố xí, úp mặt xuống lỗ hố thối thủm, một tên khác ngồi ở bệ bước lên, nhưng dù sao đấy cũng là “hai chỗ ngủ tốt”. Có tên nằm co quắp trong bệ tiểu tiện, phải đánh thức tên này dậy mới đi tiểu được, vừa tiểu tiện xong, bệ tiểu đã có một tên nhảy vào ngồi trám chỗ. Từ cửa phòng vệ sinh, lão (người tù có danh số 4257) nhìn ra. Căn phòng im lặng lềnh đặc mùi tanh tưởi của máu, mủ, mồ hôi, mùi phân người bốc lên ngầy ngật. Mấy trăm bộ xương da khẳng khiu, lở loét ngập tràn, nằm ôm cứng la liệt như đống xác chết như một nấm mồ tập thể, lộ thiên chưa lấp đất. (Nguyễn Chí Thiện, Hỏa Lò, Nhà Xuất Bản Cành Nam, VA, USA, 2000 trg 48-88).

Cảnh tượng trên chỉ là một phòng giam số 14 của Hỏa Lò, đã vượt xa, xa hơn hẳn nhà tù thực dân Pháp của gần một thế kỷ trước. Và nếu Nguyễn Khắc Viện, theo chúng tôi, chỉ cần qua 14 trại của vùng Hoàng Liên Sơn thuộc quyền quản lý của Đoàn 776 đã cũng đếm đủ gần ba chục ngàn tù của tổng số 130,000 (một trăm ba chục ngàn) người Nam bị lùa vào trại cải tạo đem ra Bắc sau năm 1975 – Con số được đọc lên do Lê Hữu Qua, Cục trưởng Cục trại giam ở trại Phong Quang, khi Qua chủ toạ buổi thả tù do chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng (năm 1976) – Để có chỗ đủ chỗ nhốt tù từ miền Nam đưa ra trong mùa Hè cùng năm.

Nguyễn Khắc Viện sống lâu năm ở Pháp, hắn đã có cơ hội để gặp và biết về Người Chết Bất Tử trước nòng súng kẻ nghịch – Trần Văn Bá.

Bá không chết một mình, ngày 8 tháng 1, 1985, anh linh hiển về trời với Lê Quốc Quân và Hồ Thái Bạch – Tổng số ba người chết vì chế độ cộng sản Việt Nam bách hại trong một vụ việc bằng số lượng người bị thực dân Pháp đưa ra pháp trường trong toàn năm 1929 xưa kia. Số lượng mà Nguyễn Khắc Viện nại dẫn để tố cáo chính sách giam giữ, toà án xét xử bất công của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam. Có hai điều khả thể xảy ra qua vụ án năm 1929 kia: Hoặc là chế độ thực dân Pháp đầu thế kỷ quá khoan hồng nhân đạo so với chế độ xã hội chủ nghĩa sau này của Hà Nội; Hoặc ba kẻ bị kết án tử hình năm 1929 kia là bọn sát nhân can tội giết người đoạt của. Và bênh vực chúng tức mặc nhiên về hùa với hành động của bọn vô lại, lưu manh. Chúng tôi muốn nói nhiều hơn nữa về cuốn sách và người viết cuốn sách, nhưng cuối cùng biết ra: Cuốn sách là bản in lại từ bản gốc của Nhà Xuất Bản Thế Giới, Hà Nội, Việt Nam 1993. Và Nguyễn Khắc Viện thì đã chết từ 1997. Hóa ra, cuốn sách chỉ là phó bản sao chép về một nội dung tuyên truyền của Trung ương Đảng cộng sản nơi Hà Nội. Và tác giả của nó đã là một thây ma. Chúng ta còn có thể nói gì hơn!

3, Cuốn sách Thứ Ba:

Trương Như Tảng,

Journal of A vietcong

(CO Translators: Chanoff David & Đoàn văn Toại)

Johnathan Cape, London,

England 1986

Đây không là một cuốn sách thông thường, với nội dung là một tác phẩm văn học, hoặc hồi ký hoạt động của một nhân vật chính trị nào đó. Nhưng qua đấy, chúng ta sẽ nhận thấy ra sự tai hại chính trị – đúng ra là thảm họa chính trị (không phải xảy ra riêng đối với mỗi cá nhân đã gây nên sự kiện, hoặc trách nhiệm thuộc về một tập thể đặc biệt nào) mà là BI KỊCH CHUNG CHO TOÀN DÂN TỘC VIỆT – THỰC HIỆN BỞI THÀNH PHẦN GỌI LÀ “TRÍ THỨC ƯU TÚ” – NHỮNG NGƯỜI HIẾN DÂNG HẾT CUỘC ĐỜI (với hậu quả không chỉ tác động giới hạn trên cá nhân bản thân họ, mà liên hệ trực tiếp đến gia đình, những người chung huyết thống, giới thân cận, bạn bè, người cộng tác) VỚI MỤC TIÊU CAO THƯỢNG: ĐỘC LẬP DÂN TỘC – HẠNH PHÚC TOÀN DÂN.

Chúng ta hãy cùng xem lại một hành trình thảm hại và tai họa trong sáu-mươi năm dài từ 1945-2005, mà mỗi người chúng ta hẳn cũng đã chia phần trách  nhiệm gánh vác, hoặc chịu đựng sự khốn cùng gâynên từ bộ máy bạo lực gọi là chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Lập lại thêm một lần cũng không thừa – Trường hợp Trương Như Tảng là một điển hình sắc nét, cụ thể nhất – Đến hôm nay, thế kỷ 21 vẫn còn giá trị của một lời cảnh cáo nghiêm trọng nhất đối với cái gọi là “thành phần trí thức khoa bảng trẻ tuổi yêu nước”. Biết đến bao giờ mới đủ cho một tấm gương phản tỉnh cho những người gọi là “trí thức thiên tả”? Hở biết đến bao giờ?

Màn Một.

Trương Như Tảng đến với chủ nghĩa cộng sản, chiến đấu cho phía chế độ chuyên chế sau một quá trình tham gia lâu dài, với căn bản hiểu biết, kinh nghiệm kết tập của một trí thức khoa bảng miền Nam. Với tình yêu nước sâu sắc, thêm tìm hiểu, phân tích, đánh giá thời cuộc theo cùng chuỗi biến chuyển của vận mệnh quê hương suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, nơi địa bàn Quốc nội, cũng như tại một trung tâm chính trị thế giới, Paris, nước Pháp. Trương Như Tảng tiến tới “chủ nghĩa yêu nước” từ vị thế một đại gia họ Trương (người Việt gốc Hoa), sở hữu một căn lầu ba tầng đường Lê Thánh Tôn, con đường và vị trí cơ sở có giá trị thương mại số một của Sài Gòn ở thời điểm trước kia cũng như hiện nay. Tài sản họ Trương không chỉ có thế, họ còn có đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một (Bình Dương), nhà in tại Sài Gòn, nhà nghỉ mát Đà Lạt cho mùa Hè, biệt thự Vũng Tàu cho mùa Đông. Vị thế nhà giáo của  người cha nơi Trường Chasseloup Laubat (Sài Gòn,trước 1954) chỉ cốt tăng thêm phần “trí thức” chứ không phải là nguồn lợi kinh tế để sinh sống, vì gia đình bên ngoại hằng tặng biếu cho tổ chức Đạo Cao Đài ba trăm mẫu đất để xây Toà Thánh Tây Ninh. Từ dòng dõi giàu sang, phú quý như kia, sáu anh em trai (không con gái) nhà họ Trương đồng được theo học các trường dành cho trẻ con Pháp tại Sài Gòn, đại học Hà Nội và tiếp theo các đại học tại Thủ Đô Paris, hoặc các nước Tây Âu để thành bác sĩ, kỹ sư. Nhưng dẫu có đời sống vật chất đầy đủ thế kia, (mỗi cậu nhà họ Trương có một có một á mẫu người Hoa chăm sóc đời sống vật chất; có có gia sư chuyên dạy học, đờn, ca…), cậu ấm Tảng vẫn mang nặng mặc cảm “ghét Tây” – Mặc cảm thời niên thiếu nảy sinh do bị các trẻ con phương Tây cùng trường gọi một cách khinh miệt là bọn “nhaque – nhà quê”, hoặc là lũ mọi rợ “Annamite – An-nam mít”.

Mặc cảm ngày nhỏ này là động cơ đầu tiên thúc đẩy cậu dấn thân vào đường cách mạng một cách sớm sủa vì cậu xem đấy là một xúc phạm trầm trọng (TNT trg 5). Người thanh niên 22 tuổi lên đường cách mạng thật sự vào tháng, ngày lịch sử, 2 tháng 9, 1945 khi nghe lời kêu gọi từ Công trường Ba Đình, Hà Nội: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng … Họ được đấng tạo hoa trao gởi cho những quyền hạn không thể phủ nhận … “. Người nói lời hàm xúc cao quý này ngừng lại để hỏi câu thắm thiết: “Đồng bào có nghe tôi rõ không?“(TNTg trg 6). Từ thúc giục hứng khởi này, Tảng có mặt ngay tại đội ngũ đầu tiên của đoàn Thanh Niên Tiền Phong với khẩu súng săn của người anh để lại (không hề có lắp đạn), nhận lãnh nhiệm vụ (được chỉ định) người chỉ huy, vì sức học cao của cậu so với đám thanh niên cùng lứa. Một thanh niên của đoàn Tiền Phong bị bằn hạ khởi động làn sóng phẫn nộ khắp thành phố, đoàn người tràn vào các khu vực Pháp kiều trú ngụ để trả thù.

Anh thanh niên Tảng chứng kiến cảnh tượng đoàn biểu tình hành hung một Pháp kiều cô thế – Anh có nghi vấn:“Cách mạng đâu phải là bạo lực, ‘vinh quang’ giải phóng dân tộc đâu phải cần đến máu người vô tội?! “. Anh giao khẩu súng lại cho người bạn thân Albert, để người này tiếp tục làm cách mạng và đáp tàu tới Paris, kinh đô nước Pháp – Nơi đây anh gặp một người gây nên ảnh hưởng quyết định đối với sinh mệnh chính trị bản thân – Bác Hồ, Hồ Chí Minh. Cũng cần nói thêm chi tiết, người bạn thân tên Albert kia là Phạm Ngọc Thảo, em Phạm Ngọc Thuần, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam Bộ. Toàn là những người trẻ tuổi trí thức, cách mạng yêu nước (TNTg trg 7).

“Bác” dạy cho cậu thanh niên Trương Như Tảng nhiều điều quý giá, kỳ lạ với cung cách cha dạy con (Bác gọi Tảng: “Này, con ạ ..”) về văn học, ngôn ngữ, lịch sử và cuối cùng (lẽ tất nhiên), chính trị. Trước tiên, bác chỉ cho Tảng việc tên của anh có điều nhầm lẫn:

“Tên anh phải là ‘Toản’ chứ không là ‘Tảng’. Vì tên ấy viết theo chữ Hán thuộc bộ “Ngọc”, chỉ loài ngọc quý, chứ nếu là ‘Tảng’ chỉ là một cục đá tầm thường”. Bác hình như không biết, hoặc cố ý không biết để tránh rơi vào việc xúi cậu thanh niên làm một việc vô lễ: Lấy tên một bậc cha, chú làm tên mình. Vì đại tộc Trương (gốc Minh Hương) đã có một người tên Toản, Trương Duy Toản, viết báo Lục Tỉnh Tân Văn (1907), liên lạc viên của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Bác dạy tiếp cho Tảng về chiến công giữ nước của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Quang Trung; bác chỉ cho Tảng sự kết hợp giữa thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam trong quá trình bóc lột nhân dân; bác giải thích về “Cách Mạng Tháng Tám” và cuộc chiến đấu không những chỉ chống xâm lược, nhưng còn chống dốt nát, nghèo đói … Cuối cùng, bác kết luận: “Không có gì quý hơn độc lập – tự do”.

Lần đầu tiên cậu thanh niên Trương Như Tảng nghe được lời quý giá này, đời cậu đã có hướng đi quyết định: Vì độc lập, tự do chứ không còn gì khác. (TNTg trg 14-15). Trước ngày rời đất Pháp, bác gọi Tảng và một nữ sinh viên người Việt (cô Lý) đến nhà riêng vùng Montmorency, cho Tảng tấm ảnh với lời:

“Tặng cháu ‘Toản’ với tất cả lòng thương mến”. Qua hai lần gặp gỡ, Tảng (nay đúng ra là Toản như tên bác sửa lại) đánh giá: “Bác là tổng hợp của nhiều tính chất tương phản. Quốc gia, Nhân chủ, Mác-xít, Lê-nin-nít, Mác-chi-ven-li-an và cả Khổng Tử! Bác quả thật hơn hằn nhiều lãnh đạo thế giới khác!” (TNTg trg 16-17).

Tất cả sự việc kể trên có một nghi vấn về thời điểm: Hồ Chí Minh (thật ra đang là Nguyễn Tất Thành) đã rời Paris từ 1923 với tư cách là Đảng viên cộng sản Pháp đi Mạc-Tư-Khoa để dự Hội nghị Nông Dân Quốc tế dự trù khai mạc ngày 10/10/1923. Sau một thời gian dài được huấn luyện ở Nga, ông về hoạt động ở Đông – Nam Á. Có chăng, là “Bác gặp cháu Toản” trong thời đoạn ngắn ngủi khi qua dự Hội nghị Fontainbleau (7-9/1946). Một hội nghị bế tắc toàn diện vì không ai tương nhượng ai. Hồ Chí Minh phải ký Tạm Ước Sống Chung với Bộ Trưởng Thuộc Địa Marius Moutet để mua thời gian. 19/9 ông Hồ Về nước. 19/12, chiến tranh Pháp – Việt Minh bùng nổ. Vậy trong thời hạn ngắn ngủi, giữa tình thế căng thẳng của hội nghị, và thời cuộc, chắc chắn “Bác không thể dạy cho cháu Toản” điều gì nhiều hơn ngoài đôi ba câu chuyện giữa hai người mới lần đầu gặp mặt. Từ căn bản chính trị, hướng dẫn chỉ đạo nhận trực tiếp từ bác, Trương Như Tảng là thành viên năng động nhất trong phong trào chống “Chiến tranh bẩn thỉu – La sale guerre” ở Đông Dương trong giai đoạn sau 19 tháng 12, 1946 – Ngày chiến tranh Pháp – Việt Minh bùng nổ. Anh cùng những đồng bạn trong cộng đồng người Việt tiếp xúc, vận động những “trí thức tiến bộ” tại Pháp, Tây Âu ủng hộ cuộc chiến đấu cao cả kia, đối tượng (vận động) chủ yếu là tập thể người cộng sản Pháp.

Nhưng Tảng không thể không nhận ra tính “không thực của những người bạn chiến đấu này”, điển hình qua lời tuyên bố (mang tính thực dân phản động) của Maurice Thorez, Tổng thư ký Đảng cộng sản Pháp: “Nếu chúng ta không đạt được nhượng bộ, thoả thuận với họ (những người Việt có tinh thần dân tộc – Ở đây chỉ người cộng sản Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo), thì chúng ta buộc phải nói chuyện với họ bằng nòng súng.” (TNT trg 23).

Cho dẫu Tảng đã một lần sử dụng ngay đến người vợ mới cưới của mình tự thân trao tặng bó hoa cho Bà Jeannette Versmersch (vợ Thorez) trong một đại hội để thắt chặt thêm tình chiến đấu của hai đảng, giữa những người (cộng sản) tiến bộ đấu tranh cho Tự Do – Bình Đẳng – Huynh Đệ! Sự kiện cô vợ của Tảng tặng hoa cho vợ Thorez gây phẫn nộ đối với hai người cha ở Việt Nam; ông thân sinh Tảng (cùng ông sui gia) quyết định: Tảng và vợ phải trở về nước. Cuối cùng hai vợ chồng trẻ phải chọn một biện pháp đầy tính bi kịch: Chỉ cô vợ trở về (đang mang thai đứa con đầu lòng), Tảng ở lại tiếp tục việc học và nhất là đi đến cùng con đường cách mạng cứu nước (theo hướng cộng sản). Hai người cha quyết liệt hơn:

Cắt yểm trợ tiền bạc, hiện thực dứt bỏ tình phụ tử, buộc người vợ trẻ phải ký giấy ly dị. Không nao núng, sờn lòng, Tảng đi rửa chén, lột khoai ở nhà hàng, quyết định sống tự lập, thực hiện hoài bão chính trị “cứu nước dành độc lập” của mình. Anh đã bỏ ngành Dược để theo học Đại học Quốc gia về Khoa học Chính trị. Cao thượng thay và cũng bi thảm thay. Bi kịch của cá nhân người có tên Trương Như Tảng mới trình diễn màn đầu. (TNT trg 20- 24).

Màn Hai.

Năm 1951, Trương Như Tảng tốt nghiệp cao học chính trị, ghi danh học luật và có những vấn đề được đặt ra bởi trong nước xảy ra những biến chuyển quan trọng: Chiến trận quân sự bùng vỡ lớn với sự tăng cường của hai phía, phía người Pháp nhận thêm nguồn quân viện của chính phủ Mỹ; phía Việt Minh được yểm trợ trực tiếp do biên giới Hoa – Việt thông thương sau khi quân đội Mao Trạch Đông thâu tóm Hoa Lục, 1949. Về mặt chính trị, chính phủ Bảo Đại được tăng cường củng cố qua hiện diện của chế độ Quốc Gia Việt Nam được cộng đồng thế giới công nhận (Tháng 2, 1950); chính phủ Hồ Chí Minh cũng được Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu thừa nhận sau chuyến công du của Hồ qua ngã Tàu (tháng 3, 1950).

Tảng có những chọn lựa: Về chiến khu dưới quyền lãnh đạo của Việt Minh để chiến đấu trực tiếp kháng Pháp – Nhưng ý niệm, dự định này bị gạt bỏ ngay, vì người trong Hội Người Việt (tố chức ngoại vi của cộng sản Việt Nam nhằm vận động Việt kiều ở Pháp) có nhận định: Tảng sẽ gây gánh nặng cho kháng chiến hơn là góp phần vào cuộc chiến đấu. Tảng cũng tự đánh giá: “Mình chỉ là người có khả năng tổ chức cho cuộc đấu tranh chính trị nơi hậu trường, ở đất Pháp, chứ không là một chiến sĩ nơi rừng rậm”. Nhưng cuối cùng, Tảng về Sài Gòn để giúp cha gầy dựng lại các cơ sở kinh doanh bi hư hại, suy thoái qua chiến tranh, cũng để cho các anh, em được tiếp tục việc học (ở những đại học Tây Âu) (TNT trg 25-27).

Về đến Sài Gòn, để tránh lệnh động viên của chính phủ Bảo Đại, Tảng xuống Châu Đốc (vùng châu thổ sông Cửa Long, nơi có nhiều người gốc Hoa sinh sống) lập trường dạy học. Nhưng tiếng gọi cách mạng không hề tắt: Thầy giáo Trương Như Tảng bắt liên lạc với tổ chức cộng sản địa phương để đưa anh vào chiến khu.

Và thêm một lần, Tảng được trông thấy tận mắt cảnh tượng tàn sát của lực lượng cộng sản phục kích đoàn tàu người Pháp trên kênh Châu Văn Tiếp và anh lại hiểu rõ thêm một lần: Chỗ đứng của anh không phải nơi tuyến chiến đấu với những du kích. Anh đã có liên hệ chặt chẽ với trường học, môi trường giáo dục, các học sinh, và nhất là cơ sở thương mãi, hệ thống kinh tài của gia đình ở Sài Gòn mà nay anh đã thay mặt cha quán xuyến tất cả, bởi các anh, em vẫn còn ở ngoại quốc chưa về. Mối lợi lớn do cơ sở giáo dục ở Châu Đốc, hệ thống kinh tài đồn điền ở Sài Gòn, miền Đông Nam bộ hồi phục, giúp phát triển lại tình trạng tài chánh của tộc họ Trương. Để tránh tình trạng chiến tranh đang mở rộng, lệnh trưng binh khẩn cấp, một lần nữa, Trương Như Tảng trở lại đất Pháp với vị thế sinh viên sĩ quan trường Hàng Hải Toulon. Tháng 7, 1955 Tảng trở về Sài Gòn, các anh, em đồng tốt nghiệp sau nhiều năm du học ở Anh, Đức, Pháp … Trương Như Tảng trở về lại quê hương với hãnh diện do chiến thắng của lực lượng cộng sản ở mặt trận Điện Biên Phủ và sự khinh miệt giới cầm quyền Việt Nam hiện tại. Tảng đánh giá: “Vua Bảo Đại chỉ là một tay chơi được biết tên ở những sân golf, sòng bài, bởi những tay pha rượu; Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thì hoàn toàn không có một khả năng nào cả” (TNT trg 27-32). Quả thật, chế độ Thực dân Pháp “gian ác bóc lột”, và những chế độ “bù nhìn, hư hại” của Miền Nam trong các thời kỳ từ 1945 đến 1975 đã rất rộng lượng, hào hiệp đối với rất nhiều người, nhiều giới người – Gia đình và bản thân “người cách mạng Trương Như Tảng” là kẻ thụ hưởng nhiều nhất, đủ nhất và lâu dài nhất. Chẳng cần đợi đến phần cuối của cuốn sách, đến đây chúng ta đã có thể xác định như thế mà không sợ nhầm lẫn. Giai đoạn về nước lần thứ hai sau 1955, người thanh niên Trương Như Tảng đã hoàn toàn trưởng thành về mọi mặt. Ông đã có một tư thế chính trị, sở học, và bằng cấp chuyên môn – Trên cơ sở này thái độ chống đối chính quyền của Thủ Tướng, hoặc sau đó của Tổng Thống Ngô Đình Diệm càng thêm dứt khoát, mãnh liệt.

Chế độ mới với nền cộng hòa đối với ông là bất khả dung hợp do phạm những lỗi: Không kết hợp được “thành phần thân Pháp – Điển hình là giai cấp quan lại, đại điền chủ, tư sản miền Nam như gia  đình ông”; người quốc gia kháng chiến chống Pháp (những thành phần giáo phái, Cao Đài (bên ngoại ông là những chức sắc cao cấp), Hòa Hảo …); nhất là thành phần theo Việt Minh (mà theo kinh nghiệm bản thân là toàn thế nhân dân có mặt trong kháng chiến chống Pháp vừa qua). Ông chủ trương không nên khơi động hận thù Bắc – Nam mà nên mở rộng dân chủ như theo chiều hướng của cộng hòa Pháp. Tóm lại, chỉ còn Hồ Chí Minh với chủ trương nhận viện trợ của Nga và Tàu nhưng vẫn giữ nguyên tính chất của một người quốc  gia là giải pháp cuối cùng cho vấn đề Việt Nam. Một ngày tháng Giêng năm 1956, sau mười năm xa cách Trương Như Tảng gặp lại người bạn thiết từ thuở thiếu niên, Albert Phạm Ngọc Thảo. Lần gặp gỡ và những câu chuyện sau sau đó có tác động như đặt xuống viên đá tảng bắt đầu cho một sự nghiệp lớn:

LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN MIÊN NAM – Tuy cả hai không nói ra (sẽ nói thành lời vào một thời điểm thuận tiện sau này) nhưng ngầm ý với nhau rằng: Chúng ta luôn là bạn thiết của thời thơ ấu, và bây giờ cùng đi một đường, tuy hai phương tiện, và vị thế khác nhau. Ngay từ lần đầu tiếp xúc này Phạm Ngọc Thảo đã tiết lộ với Trương Như Tảng về “âm mưu nằm vùng trong Dinh Độc Lập qua việc chiếm lòng tin của Tống Giám Mục Ngô Đình Thục, Tổng Thống Diệm, Cố Vấn Nhu, kể cả của Bác sĩ Tuyến, Giám đốc sở Nghiên Cứu Chính Trị” (TNT trg 42-50). Gần hết một đời người, thật tình chúng tôi chưa hề nghe, biết được một cán bộ cộng sản (loại chiến lược) nào mau mắn, cả tin, và thẳng thắn như hai người bạn này – Ngay buổi gặp mặt đầu tiên đã nói cho nhau nghe về những dự mưu chết người (không phải chỉ một vài người mà cả miền Nam, toàn dân tộc). Chúng ta có thể tạm chấm dứt phần liên hệ giữa Trương Như Tảng và Phạm Ngọc Thảo ở nơi đây qua sự kiện Tảng bị bắt vào khám Chí Hòa (tháng 1, 1965) do có liên hệ mật thiết với người bạn, “Chuyên viên tình báo số 1″ đánh giá của Tảng đối với Thảo, người bạn thân. Riêng phần những hoạt động lật đổ, đảo chánh, chống đảo chánh của Phạm Ngọc Thảo trong suốt năm 1965 – Hành động mà ông ta đã thực hiện từ bước đầu dự mưu đảo chánh của biến cố 1 tháng 11, 1963 – Tất cả được Trương Như Tảng nhận định nằm trong mục đích mà hai người đã một lần cùng nhau bàn định:

“ .. Điều tốt nhất là làm sao mà thống nhất đất nước bằng lối hoà bình và nếu ai có thể làm công việc ấy thì tôi sẽ cộng tác … “ (TNT trg 44). Ý niệm này được nói lại rõ ràng hơn qua trao đổi thân mật, kín đáo, ngắn gọn giữa hai người:

– “Ba!”, Thảo gọi tôi bằng tên tộc với giọng nói có chủ ý. “Tôi nhận thấy bồ vừa có ý gì? Bồ có với trong bưng phải không?”.

– “Albert”, Tôi đáp: “Tôi cũng thấy cái điệu ấy nơi bạn” (TNT trg 55).

Trương Như Tảng nghe tin về cái chết của Phạm Ngọc Thảo khi đang còn bị giam ở Chí Hòa (tháng 7, 1965) và ông có kết luận: Thất bại lớn nhất của Thảo – Cũng như của Mặt trận Giải phóng vào những năm đầu

60 – là không lường được quyết định tham chiến của Mỹ. Cũng không thể trách ông ta (PNThảo) đã không

vạch rõ ra đủ sự bất lực trầm trọng của hệ thống chính trị Nam Việt Nam – Để từ đó, chính phủ Mỹ áp dụng

toàn bộ chiến lược mới mẻ của họ. (TNT trg 62) Chúng tôi có nhận định hoàn toàn khác hẳn quan điểm trên. Phạm Ngọc Thảo bị bức tử do không phải đã đánh giá không đủ về người Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa – Những nhân sự và sự việc ông ta hằng coi thường bởi đã biết tường tận. Ông đã từng gọi Nguyễn Khánh là “thằng chó đẻ” qua lần nói chuyện với Nguyễn Cao Kỳ (có mặt của Trương Như Tảng) từ một phòng điện thoại công cộng ở đường Hàm Nghi dẫu đang ở thời kỳ lẩn trốn truy lùng của Nguyễn Khánh. (TNT trg 60).

Nhưng Phạm Ngọc Thảo quả đã chết vì KHÔNG LƯỜNG ĐƯỢC SỰ ÁC ĐỘC TÀN NHẪN CỦA NHỮNG

NGƯỜI ĐỒNG CHÍ CỦA ÔNG – GIỚI LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN TRIỆT ĐƯỜNG TRỞ VỀ KHI MỘT CÁN BỘ TÌNH BÁO ĐÃ HOÀN TOÀN BỊ LỘ.

Sinh mệnh của Mặt trận Giải phóng miền Nam, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng thành phần nhân sự lãnh đạo (gồm bản thân Trương Như Tảng) cũng sẽ được quyết định theo một cách thế tương tự. Và chương kế tiếp sẽ là câu trả lời chính xác cho vấn nạn vừa nêu.

Màn Ba.

Cao điểm bi kịch của Trương Như Tảng là buổi chiều ngày 16 tháng 6, 1967 khi ông trở về từ văn phòng bị một chiếc xe của mật vụ văn phòng Tướng Nguyễn Ngọc Loan chận lại. Ông bị đưa về trung tâm thẩm vấn đặc biệt của Tổng Nha Cảnh Sát ở Chợ Lớn để đối mặt cùng Ba Trà, liên lạc viên mà Mặt trận Giải phóng bố trí để làm việc với ông trong buổi họp của Phong Trào Tự Quyết ở Thủ Đức từ tuần trước. Trong giai đoạn này Trương Như Tảng đang là Chủ tịch của Liên Hiệp Thanh Niên, một tổ chức ngoại vi của Mặt trận. Ba Trà là em rể của Bác sĩ Phùng Văn Cung, thành viên trong Chủ tịch đoàn của tổ chức này. Nhân viên thẩm vấn (có sự hiện diện của Ba Trà), buộc Tảng phải thú nhận: “Ông là Đảng viên Đảng cộng sản”. Lời thú nhận thừa thãi và vô nghĩa lý này không được xác nhận. Toán thẩm vấn ra tay như nghề nghiệp cho phép. Tảng vẫn giữ nguyên ý chí: “Ông là người của Mặt trận, không phải là Đảng viên cộng sản!”.

Cuộc hỏi cung không kéo dài, một hôm vợ ông vào thăm và được phép nói chuyện riêng. Người vợ nói:

“Ông cứ nhận là Đảng viên đi có khác gì nhau (!); bà đã có những đường dây để lo riêng (theo ngã hối lộ). Làm sao phải ra khỏi phòng giam đặc biệt này để được trả về giam chính thức bên Tổng nha, vì nơi đây có thể bị thủ tiêu bởi là chỗ hỏi cung, thẩm vấn đặc biệt”. Ông theo lời người vợ, phần cũng biết có dàn xếp giữa Trần Bạch Đằng (Bí thư thành ủy Sài Gòn ở giai đoạn 1967-68) và Toà Đại sứ Mỹ để trao đổi mật những nhân sự (tình báo) cao cấp. Phía cộng cộng sản có Tảng và vợ của Trần Bạch Đằng. Cũng trong những ngày này, mật vụ Tướng Loan đã ra tay thủ tiêu Trần Văn Kiều, Bí thư công đoàn thành phố và Lê Thị Riêng, Hội Trưởng hội phụ nữ. Trước một nguy hiểm như thế, nhận hay không nhận (một vấn đề hiển nhiên) thì nào có nghĩa lý gì!

Một ngày cuối tháng 2, 1968, Tảng cùng hai người khác, Sáu Nổ, Duy Liên ra khỏi nhà giam Tổng nha, được chở lên Tân Sơn Nhất, nằm đợi trong một căn phòng đẹp như khách sạn bốn sao, hai ngày sau được trực thăng Mỹ chở đến một sân bay ở Trảng Bàng, Hậu Nghĩa. Ớ đây, có một viên Đại úy quân đội miền Nam đợi sẵn với một chiếc xe Lambretta ba bánh. Xe chạy đến quán cà phê có một chiếc khác đợi sẵn, viên Đại úy trở lại. Cuộc trao trả hoàn tất. Tảng và hai người kia được đưa về Cục R (Trung ương Cục miền Nam) gặp Trần Nam Trung, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Mai Chí Thọ …

Để làm báo cáo cuộc trao đổi và hoạt động vừa qua – Thuần là cán bộ Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam – Không có một chức sắc nào của Mặt trận Giải phóng có mặt trong buổi “hỏi cung” ngụy danh này. Ngày 8 tháng 6, 1969, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam được thành lập để “hợp thức hóa” sự có mặt tại Hòa hội Paris (khai diễn chính thức vào tháng 10, 1968), Trương Như Tảng nhậm chức Bộ Trưởng tư Pháp – Bộ trưởng của một chính phủ không có hệ thống toà án, hành chánh, tài chánh, bởi không thể kiểm tra dân chúng, không đất đai quản trị, kể cả không có một địa vực gọi là thành phố, thủ đô. Chúng ta không hề thắc mắc về tính cách và khả năng của chính phủ cách mạng này, nhưng những người đặt vấn đề đối với ông và các thành viên trong chính phủ lâm thời lại là những “giảng viên” của đợt học tập chính trị theo lệnh của Lê Duẩn tiến hành trong ba tháng của mùa Thu 1971.

Đợt chính huấn để tẩy rửa tính chất phản động của lớp tiểu tư sản thành thị được nuôi dưỡng từ chế độ thực dân cũ và mới ở miền Nam. Đứng trước cao trào cách mạng mạnh mẽ. Thành phần trí thức thuộc giai cấp tư sản dân tộc phải có những tiến bộ, biết tách rời khỏi giai cấp của mình và thúc đẩy con em mình cũng phải chấp hành như thế. “Lê Duẩn răn đe dạy dỗ không che dấu.” (TNT trg 197) Không chỉ một mình Lê Duẩn lên mặt dạy dỗ mà ngay cả đám cán bộ trường Đảng Nguyễn Ái Quốc thực chất chỉ là những “lý thuyết gia” hạng thứ yếu, chỉ biết lặp đi lặp lại những từ ngữ sáo rỗng vô nội dung của Đảng cộng sản Liên Xô viết từ đầu thế kỷ: “Tiến bộ nhất định; triệt để tầy rửa tính giai cấp phản động; nhiệt liệt thành tâm tin tưởng vào giai cấp vô sản … “ (TNT trg 197). Hành vi thô bạo trắng trợn của “giới cầm quyền Hà Nội” không chỉ giới hạn trong buổi học tập, về những lý thuyết, chúng được “chuyển biến thực tế” bằng cách cắt cử một người miền Bắc thuần gốc, Ba Cấp (không rõ tên thật) thay thế Chín Chiến (người Nam) làm Ủy viên điều hành Liên minh Dân tộc Dân chủ Tranh Thủ Hòa Bình – Một cơ quan lập nên do ý đồ của Hà Nội muốn cột chặt Mặt trận Giải phóng vào sự chi phối trực tiếp của họ. Trịnh Đình Thảo được chỉ định giữ chức chủ tịch tổ chức này nhưng quyền hành thực sự nằm ở tay Ba Cấp, nhận lệnh trực tiếp từ Lê Duẩn. Người có khí tiết trong mặt trận như Huỳnh Văn Nghi (chồng Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bộ Trưởng Y tế của chính phủ lâm thời) phải nói lên lời cay đắng, phẫn uất: “Nếu chúng tôi nhận sự chỉ đạo chính trị của đảng Lao Động là bởi đến nay đảng đã theo đúng con đường độc lập dân tộc. Chúng tôi tham gia kháng chiến là do trái tim, lý trí, lòng yêu nước thúc giục đáp ứng lời kêu gọi của Tổ quốc – Không là lời kêu gọi của cách mạng vô sản” (TNT trg 197)

Lời phẫn uất của Huỳnh Văn Nghi không được hưởng ứng, bởi Bùi thị Nga (vợ Huỳnh Tấn Phát) đã lu loa kể khổ: “Chúng tôi đội ơn Đảng một món nợ không trả được” (TNT trg 198) Nga thuộc về một gia đình quan lại phong kiến miền Bắc trước 1945.

Màn Cuối

Sáng 15 tháng 5, 1975, Lần trả lời trọn vẹn đối với màn kịch dài của Mặt trận Giải phóng miền Nam, của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, của Liên minh Dân chủ Tranh thủ Hòa Bình, lẽ tất nhiên cũng đối với chính cá nhân Trương Như Tảng …Và hằng ngàn (có thể là vạn, triệu) người đã từ một thuở thanh xuân đi theo tiếng gọi “cứu nước”, những người “vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng … “, kể cả những kẻ “đi B – xẻ dọc Trường Sơn chống Mỹ, diệt Ngụy” – Tất cả những người chiến đấu dưới ngọn cờ hai màu “Đỏ – Xanh với Ngôi Sao Vàng” của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Trên lễ đài được thiết lập trước Dinh Độc Lập (nay đổi tên là Thống Nhất) với Lê Đức Thọ chiếm giữ vị trí trung tâm đoàn chủ tịch nhìn xuống những đơn vị quân đội duyệt binh. Đạo quân vừa “thâu giang sơn về một mối”, lực lượng vừa “giải phóng miền Nam” theo như câu hát hàm súc hứng khởi của mặt trận. Các đơn vị lần lượt đi qua. Bộ binh, chiến xa, thiết giáp, tên lửa, pháo binh, hải, lục, không quân của bộ đội miền Bắc hiện diện đủ. Nhưng, dần đến tàn cuộc lễ, những viên chức lãnh đạo của “mặt trận, của chính phủ lâm thời” đưa mắt hỏi thầm nhau …

Những “đơn vị của mình”, những “công trường của chúng ta”, những Sư đoàn 5, 7, 9 … của miền Đông Nam Bộ, của đồng bằng sông Cửu Long, tất cả bây giờ ở đâu? Ở đâu?

Cuối cùng, không thể chịu đựng thêm, Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Tư pháp Chính phủ Lâm thời nghiêng vai hỏi Văn Tiến Dũng, đứng cạnh ông: “Những Sư đoàn của chúng tôi đâu rồi, những Sư đoàn 1, 3, 5, 7 và 9?” Dũng đưa mắt nhìn Tảng như nhìn một thứ, vật quái dị: “Hả, mấy thứ đó hả … Bộ đội đã biên chế thống nhất rồi!”. Xong Dũng quay đầu nhìn xuống đường khoé miệng trề xuống khinh miệt. (TNT sđd trg 264-265)

Sự cay đắng lập lại lần thứ hai, tàn nhẫn và lạnh lùng hơn. Tháng 6, 1976 Trương Như Tảng trở lại Hà Nội để dự lễ phê chuẩn Văn kiện Hội nghị Hiệp thương “Thống nhất Nước Nhà về mặt Nhà Nước” (Kể ra cách chơi chữ sống sượng tàn nhẫn đến thế này là tối đa). Trong buổi tiếp tân, có một người vỗ vai Tảng. Ông quay lại. Trường Chinh. Chinh nhìn Tảng với cách nhìn của Văn Tiến Dũng hôm tháng 5 năm trước trên lễ đài ở Sài Gòn: “Tôi trông đồng chi có vẻ quen quen?! “. Đồng chí “Bộ Trưởng Tư pháp Chính phủ Cộng hòa miền Nam” ngớ người … Mới năm ngoái, trước khi trở lại miền Nam (sau ngày 30 tháng 4), toàn bộ viên chức “Chính phủ Lâm thời miền Nam” đã được chiêu đãi, chào mừng cũng ở căn phòng này, với những con người này, những “đồng chí lãnh đạo”, Trường Chinh, Lê Đức Thọ. Trương Như Tảng ấp úng: “Tôi là Bộ Trưởng Tư pháp của miền Nam!”. Mắt Trường Chinh sáng lên khoái trá: “Thế à … Thế tên là gì? Bây giờ đồng chí làm cái gì?” (TNT sđd trg 286). Viết hồi ký mà thực đến thế quả là “đạt tiêu chuẩn”.

Chúng ta có thể chấm dứt câu chuyện không mấy vui trên bằng cách nhắc lại vài điều phấn khởi. Cuối cùng, chịu không nổi cách “xách mé đểu cáng cộng với kỹ thuật ăn cướp công khai xã hội chủ nghĩa” của những “đồng chí” đến từ Hà Nội, Trương Như Tảng với Tôn, một người bên vợ đường quyết định vượt biên từ Long Xuyên. Trong lòng chiếc ghe dơ bẩn, chật chội, Tảng có ý nghĩ: “Nếu bị bắt lại thì nhảy xuống biển trầm mình thà chết chứ không để bị bắt”.

Ông nhớ lại chặng đường cách mạng mấy mươi năm đi qua từ thuở còn trai trẻ. Hồi ức dừng lại nơi lần gặp gỡ với cha ông ở Tổng Nha Cảnh Sát Sài Gòn (1967, năm ông bị bắt vì hoạt động trong phong trào Liên Hiệp Thanh Niên). Cha ông đã nói: “Con ơi, cha không thể nào hiểu được. Con đã bỏ tất cả: Gia đình êm ấm, hạnh phúc, giàu sang để theo bọn cộng sản. Rồi đây, chúng sẽ không trả lại cho con một chút gì so với những gì con đã hiến dâng. Rồi con sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con và con sẽ đau khổ suốt đời … “.

Trương Như Tảng nhói đau trong hầm chiếc ghe khi nhớ lại “lời tiên tri” của người cha. Chỉ có điều an ủi khi ông nghĩ đến Loan, cô con gái đầu lòng hiện nay (năm 1978) đang ở Mỹ. Cô Loan đi Mỹ trước 1975 do bà Nguyễn Văn Thiệu bảo lãnh vì Loan học cùng lớp với con gái bà ở Đà Lạt từ tấm bé. Năm 1967, khi Trương Như Tảng vào tù, Ông Thiệu, Tổng Thống “chế độ phản động Mỹ -Ngụy” có nói riêng với Loan: “Cháu yên tâm, ba cháu với tonton là kẻ đối nghịch. Nhưng, cháu luôn luôn được coi như là con cháu trong nhà này, chuyện kia không ăn nhằm gì cả … ” (TNT sđd trg 260-261). À, hóa ra chế độ và con người (ở miền Nam) bị cả thế giới chê trách, bêu xấu lại tốt đẹp gấp vạn lần so với người và chế độ ở Hà Nội. Sự việc đơn giản này mấy người nào hay?

Sau Mười hai năm ở Mỹ

Cũng để hiểu đôi điều của Việt Nam.

Santa Ana, 11/ 2005

Phan Nhật Nam