This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Họ để hết tâm trí vào cuộc nói chuyện tay đôi ấy đến nỗi họ không còn nghe thấy những tiếng động trong phòng hoặc tiếng nhạc phát ra từ chiếc radio ở góc phòng đằng kia. Một lẫn nữa Nerzhin xoay cái ghế anh ngồi để quay lưng vào phòng nhìn ra cửa sổ. Rubin cũng ngồi nghiêng, tay khoác lên thành ghế, bộ râu đặt trên cánh tay anh. Nerzhin nói bằng một giọng nồng ấm, chân thành, như người nói ra những ý tưởng đã được suy nghĩ rất chín trong một thời gian rất lâu: “Khi tôi còn tự do, tôi thường đọc những quyển sách trong đó có những người hiểu biết viết về ý nghĩa của cuộc sống và bản thể của hạnh phúc. Khi đó tôi chẳng hiểu gì nhiều về những vấn đề được viết trong những quyển sách dày đó. Tôi nghĩ: những người hiểu biết phải suy nghĩ. Suy nghĩ là nghề của họ. Nhưng còn ý nghĩa của cuộc sống? Chúng ta sống – đó là ý nghĩa cuộc sống. Còn hạnh phúc? Hạnh phúc là khi nào mọi việc xảy ra như ý mình mong muốn, ai cũng hiểu như thế. Xin cảm tạ Thượng đế đã sinh ra nhà tù. Nhà tù giúp cho tôi cơ hội và điều kiện để suy nghĩ. Để có thể hiểu được bản thể của hạnh phúc, ta cần phải phân tích tình trạng no đủ, thừa thãi, chán mứa trước. Hãy nhớ lại Lubyanka. Hãy nhớ lại những tô súp loãng không có lấy được một giọt mỡ ở đó. Anh có thể nói được rằng anh ăn thứ súp đó được không? Không, anh hòa mình với nó. Anh đưa nó vào cơ thể như một thứ bánh thánh, như hạt mè của những vị tịch cốc tu tiên. Anh đưa nó vào miệng anh chậm chạp, từng tí một, anh thận trọng khi cho nó vào miệng, thành kính như anh đang làm một hoạt động có tính cách thiêng liêng, anh ăn và nghĩ đến ăn và nó thấm trong cơ thể anh như một thứ nước hồi sinh. Anh run rẩy vì mùi vị ngọt đậm của những hạt lúa mì trôi trong chất nước sền sệt đó. Thế rồi, gần như không được ăn uông gì cả, anh tiếp tục sống sáu tháng, mười hai tháng. Anh có thể so sánh việc ăn ngấu ăn nghiến, ăn mà không biết là đang ăn, không cảm thấy mùi vị, một miếng bít tết lớn với tô súp ấy?” Rubin không thể ngồi im để nghe người khác nói lâu được. Trong bất cứ cuộc nói chuyện nào, anh cũng là người hướng dẫn, đưa ra những đề tài mới, những nhận xét chưa được phát biểu. Giờ đây anh cũng nóng nảy tìm cách cắt ngang nhưng Nerzhin nắm lấy ngực áo anh và lắc mạnh bắt anh phải nghe: “Vì vậy, nhờ sống ở trong tù, nhờ những đồng chí khốn nạn của chúng ta, chúng ta được biết thế nào là no đủ. No đủ không được quyết định trên sự kiện ăn nhiều chừng nào mà là ở trên việc ta ăn như thế nào. Hạnh phúc cũng thế. Lev, hạnh phúc không căn cứ trên việc chúng ta được hưởng những gì ở cuộc đời, mà là nằm ở thái độ của chúng ta đối với việc hưởng thụ những tiện nghi đó. Kinh của Đạo lão có câu: “Kẻ nào biết đủ bao giờ cũng hài lòng” 1. Rubin nở nụ cười mỉa mai: “Anh trở thành chuyên viên chiết trung rồi đó. Anh nhổ những sợi lông bóng bẩy ở khắp nơi.” Nerzhin lắc đầu. Tóc anh xõa xuống trán. Anh đang say sưa nói. Trong lúc này, trông anh giống một thiếu niên mười tám tuổi. “Đừng lộn xộn trật tự, Lev. Tôi không phải là kẻ chuyên đi thu nhặt những tư tưởng rải rác ở khắp nơi để đúc kết lại thành của riêng tôi đâu. Tôi đi đến những kết luận không căn cứ trên những quyển sách triết học tôi đã đọc mà là căn cứ trên những chuyện về những người sống thực mà tôi gặp trong những nhà tù. Trong thế giới triết học, tất cả mọi địa hạt đều đã có người khai thác, khám phá. Tuy vậy, tôi vẫn có những phát kiến mới của riêng tôi. Đừng ngắt lời, nghe tôi nói đã. Tôi sắp cho anh một tỉ dụ. Nếu trong một nhà tù – như nhà tù đặc biệt này chẳng hạn – có một sự lạ xảy ra như là một ngày chủ nhật tự do, một ngày chủ nhật không phải làm việc. Trong ngày đó tâm hồn chúng ta sẽ không bị đông đặc như đá. Và dù rằng đời sống bên ngoài của tôi không có gì thay đổi nhiều, nghĩa là tôi vẫn bị quản thúc như mọi ngày, gông cùm ngục tù cũng nới lỏng được đôi chút trên cổ tôi, tôi có thể nói chuyện được thỏa thích với một người bạn nào đó, đọc một trang sách lương thiện, và tôi có thể thả hồn tôi trên làn sóng tư tưởng. Tôi đã không được sống thực sự là sống trong nhiều năm nhưng tôi đã quên mất tình trạng đó. Tôi ngằm ngửa trên giường, mắt nhìn lên trần. Trần phòng rất gần tôi, nó trơ trụi, nó long lở – và tôi run rẩy vì cuộc sống bên trong tôi. Tôi sẽ ngủ đi trong sung sướng, hoan lạc. Dám chắc không một ông Quốc trưởng, một Tổng trưởng nào có thể ngủ ngon và hài lòng như tôi trong ngày chủ nhật ấy của tôi.” Rubin lại cười. Nụ cười này không mỉa mai, chế nhạo nữa. Đó là nụ cười bao dung trong đó có ý chấp nhận của một người đàn ông đối với người bạn ít tuổi hơn mình: “Kinh Vệ đà nói gì về vấn đề này?” 2 Rubin hỏi, môi anh trề ra như người đang vui. “Tôi không biết gì về kinh Vệ đà” – Nerzhin trả lời bằng một giọng quả quyết – “Nhưng tôi biết có một triết thuyết Ấn Độ nói rằng: “Với những ai hiểu biết, hạnh phúc của nhân loại là đau khổ”. Rubin nói trong bộ râu: “Tôi chắc anh đã sắp sẵn tất cả những câu anh vừa nói. Phải anh nghe được câu đó từ Sologdin không?” “Có thể. Không tưởng? Duy tâm? Đúng? Sai? Anh còn đợi gì nữa mà không dán nhãn hiệu? Anh râu dê. Nghe cho kỹ này – hạnh phúc vì chiến thắng, hạnh phúc vì ước ao mà được, địa phương vì thành công và vì no đủ – tất cả đều là khổ não. Đó là sự tiêu diệt của linh hồn, một thứ đau khổ tinh thần không bao giờ ngừng. Đó không phải là những triết gia Ấn Độ cổ xưa đã nghĩ ra điều ấy, đó là do tôi, do chính tôi, Gleb Nerzhin, một tù nhân chịu gông cùm trong năm thứ năm, người mà tinh thần đã vượt lên đến tình trạng thấy rằng những cái gì xấu đã bắt đầu trở thành tốt. Và tôi nắm vững quan niệm là người đời không biết rõ họ muốn thích cái gì, không biết họ mong ước gì. Họ tiêu pha đời sống của họ trong việc tranh chiếm một số những của cải vô giá trị và họ chết mà hoàn toàn không hay biết gì về đời sống tinh thần phong phú của họ. Khi Lev Tolstoy mơ đến chuyện được ở tù, đó là lúc ông lý luận như một người thực sự hiểu biết và tinh thần ông đang mạnh mẽ vô kể.” Rubin cười thành tiếng. Anh vẫn cười thành tiếng mỗi khi anh không chấp nhận một quan niệm nào của đối tượng trong cuộc thảo luận. “Thôi đi, chú nhỏ” – Rubin nói – “đó là cái tinh thần còn non, chưa trưởng thành ở trong chú nói lên những câu đó. Chú cho những kinh nghiệm riêng của chú đúng hơn kinh nghiệm chung của cả nhân loại? Chú đã bị lệch lạc vì đời sống ở trong tù và chú nhìn xã hội qua cảnh tù đày. Đâu có phải chỉ vì cuộc đời của chúng ta tan nát, vì số mệnh của chúng ta không may mà loài người phải thay đổi quan niệm về cuộc sống?” “Anh mới là người kém trưởng thành. Đáng lẽ ra anh phải học được nhiều sự thật ở trong tù, trong lúc anh có thể nhìn thẳng vào đời sống và học thẳng được ở đó…” “Anh nói đời sống nào? Đây là tù, đây đâu phải là sống?” Nerzhin vẫn nồng nàn với ý nghĩ: “… anh đã tự tay buộc cái khăn bịt mắt lên che kín hai mắt anh, tự đút nút lỗ tai anh, anh chọn một thái độ và anh cho đó là thông minh? Theo anh, thông minh là việc không cần biết gì thêm, không cần học hỏi nữa?” “Thông minh là khách quan.” “Anh… – Anh mà khách quan à?” Rubin nghiêm giọng đáp: “Phải. Khách quan tuyệt đối.” “Chưa bao giờ tôi gặp một người nào thiếu khách quan như anh.” “Anh hãy nhấc đầu anh ra khỏi cát. Hãy nhìn sự kiện theo kiến trúc lịch sử của chúng. Đáng lẽ ra tôi không nên nói những lời của chính tôi như những bằng chứng, nhưng: Cuộc sống của con bọ nước chỉ có một ngày. Cuộc sống của cây từng dài một trăm năm. Luật thiên nhiên – anh có hiểu nghĩa danh từ đó không? Những điều luật thiên nhiên không sao có thể tránh được. Tất cả những gì có ở đời đều đi theo một con đường nhất định. Thật là vô ích khi chúng ta nghĩ rằng ta có thể ở lại được nếu ta hoài nghi.” “Lev… Đừng bao giờ anh nghĩ rằng hoài nghi là một việc dễ. Với tôi, hoài nghi có thể là một chiếc quán bên đường để tôi có thể vào nghỉ khi trời dông bão. Nhưng hoài nghi là một cách để giết tinh thần con người ra khỏi những ràng buộc của giáo điều. Chỉ cần làm việc đó, ta đã thấy nó có giá trị đáng kể rồi.” “Giáo điều? Anh thật là bậy. Tôi mà lại là người tin giáo điều hay sao?” Đôi mắt mở lớn của Rubin nặng những hờn trách: “Tôi cũng là một tù nhân cùng loại với anh. Tôi cũng bị bắt năm 1945: Tôi cũng sống bốn năm trên mặt trận, một mảnh đạn trọng pháo nằm ở mạng sườn và năm năm ở tù. Vì vậy tôi nhìn cuộc đời cũng giống hệt anh. Cái gì phải có là phải có. Quốc gia không thể tồn tại được nếu không có một hệ thống trừng phạt có tổ chức.” “Tôi không chịu. Tôi không chấp nhận điều ấy.” “Tất nhiên. Vì anh hoài nghi. Nhưng thái độ hoài nghi của anh cũng không đúng. Tại sao anh lại xúc động dữ vậy? Người hoài nghi đâu có bao giờ xúc động? Người hoài nghi không bao giờ đưa ra những quyết đoán. Người hoài nghi bất cứ trong trường hợp nào cũng thản nhiên.” “Anh nói đúng…” Nerzhin nói bằng một giọng buồn rầu, thê thảm như người tuyệt vọng: “Tôi muốn có những tư tưởng thoát tục, nhưng thực tế vẫn giữ tôi lại…” “Thoát tục? Vậy mà hồi ở Dzhezkagan, anh nổi điên lên vì nơi đó thiếu nước uống…” “Lẽ ra anh phải sống ở đấy suốt đời anh mới phải. Anh là người duy nhất trong cả bọn nghĩ rằng người cày làm đúng, rằng những việc hắn làm đều rất thường và cần thiết. Nếu anh sống ở Dzhezkazan, anh sẽ thay đổi ý kiến ngay lập tức…” “Anh phải nghe tôi…” Bây giờ đến lượt Rubin nắm lấy tay áo Nerzhin. “Ông ấy là người vĩ đại nhất. Rồi sẽ có ngày anh thấy, sẽ có ngày anh hiểu. Ông ấy là Robespierre và Napoleon nhập lại làm một của cuộc cách mạng của chúng ta. Ông ấy khôn ngoan, thực sự khôn ngoan. Ông ấy nhìn xa, thấy rộng hơn tầm mắt của chúng ta rất nhiều…” “Anh chỉ nên tin những gì mắt anh nhìn thấy được…” Nerzhin ngắt lời: “Anh cũng nghe tôi… Hồi tôi còn là một chú bé, tôi đọc những cuốn sách hắn viết khi tôi đọc Lenin. Tuy ham đọc lắm nhưng tôi không sao có thể đọc hết được những gì hắn viết. Sau bút pháp của Lenin: sáng sủa, rõ rệt, nồng nàn, đi thẳng vào trái tim người đọc, bút pháp của hắn như một đống bùn. Tư tưởng nào của hắn cũng thô tục và ngu ngốc – Hắn còn tỏ ra hắn không biết hắn cần nhấn mạnh những gì, phớt qua những gì, những gì là quan trọng và những gì là phụ thuộc…” Rubin tỏ vẻ nghi ngờ: “Anh biết được những điều ấy khi anh còn là một chú bé?” “Tôi biết như thế khi tôi đã học khá cao. Khi còn nhỏ, tôi mới chỉ hoang mang không hiểu. Anh không tin tôi ư? Những người thẩm vấn và làm bản tội trạng của tôi cũng không tin như anh. Thái độ kiêu căng phách lối, những luận điệu kẻ cả, bề trên trong những lời tuyên bố của hắn làm tôi điên lên vì khó chịu. Hắn có vẻ thực sự nghĩ rằng hắn thông minh hơn tất cả những người Nga khác.” “Và sự thật đúng như thế.” “… và hắn tin rằng hắn làm cho chúng ta sung sướng bằng cách cho chúng ta chiêm ngưỡng hắn, thán phục hắn.” Trong cơn nồng nhiệt của cuộc tranh luận, hai người bạn trở thành quên đề phòng. Những lời họ nói lúc này có thể lọt vào tai Simochka, người ngồi gần họ nhất và cũng là người đang lắng tai nghe họ nói gì với nhau. Thỉnh thoảng Simochka lại liếc nhìn Nerzhin, đôi mắt biểu lộ sự hờn trách. Nàng hờn dỗi vì nàng thấy rõ rằng không những là Nerzhin không tỏ vẻ gì là lợi dụng sự có mặt của nàng ở cạnh chàng đêm nay, chàng còn không cả nhìn nàng, chàng như không hề biết là đêm nay có nàng ở trong phòng này. Rubin nói bằng cái giong của người muốn kết thúc cuộc tranh luận: “Anh lầm – anh lầm vì anh mò mẫm trong những vấn đề mà anh hoàn toàn không biết rõ. Anh là một nhà toán học, anh không hiểu biết gì về lịch sử và triết học. Sao anh dám đưa ra những lời buộc tội nặng đến như thế?” “Nghe đây… Những huyền thoại về những người khám phá ra tiểu hòa tử và cân được Beta Sirius mặc dù chưa bao giờ nhìn thấy nó nhưng con nít đến nỗi không biết giải quyết những vấn đề thường ngày của cuộc sống đã trở thành những chuyện lẩm cẩm không làm cho ai tin. Chúng tôi không còn cách nào khác. Nếu sử gia các anh không chịu tự hạn chế trong phạm vi lịch sử, còn có gì sót lại để cho chúng tôi, những nhà toán học, những chuyên viên, làm nữa? Tôi thấy những người lãnh những giải thưởng, những người được hưởng quy chế lương bổng dành cho học giả… Những người đó không viết sử, họ chỉ quỳ gối, khom lưng ở một chỗ nào đó. Vì vậy chúng tôi, những nhà trí thức khoa học, chúng tôi bắt buộc phải nghiên cứu lịch sử.” “Ồ… Sao anh nói có vẻ thê thảm quá…” Trên mặt bàn không người ngồi của thiếu tá kỹ sư Roitman, máy điện thoại reo chuông. Simochka đứng dây đi tới nhấc máy trả lời. “Gleb Vikentich…” Simochka gọi về phía Nerzhin nhưng đang mải tranh luận với Rubin, chàng này không nghe tiếng. Simochka gọi lớn hơn: “Gleb Vikentich…!” “Có tôi…” Nerzhin quay lại nhìn. “Anh không nghe tiếng gì ư? Có điện thoại.” Simochka nghiêm khắc nói. Nàng đứng sau bàn của nàng, đôi lông mày nhíu lại, hai tay khoanh trước ngực, chiếc khăn choàng kéo sát xuống trên vai nàng: “Anton Nikolayevich cần gặp anh trong văn phòng của ổng.” “Vậy ạ?” Trên khuôn mặt Nerzhin những nét nồng nhiệt của cuộc tranh luận đã biến đi, những nếp nhăn đã trở lại: “Cám ơn Serafima Vitalyevna. Anh nghe gì không, Lev? Yakonov muốn gặp tôi. Không biết là chuyện gì đây.” Việc ông giám đốc Viện gọi một tù nhân lên văn phòng mình vào lúc mười giờ đêm thứ bảy là một sự kiện kỳ lạ. Mặc dù Simochka cố gắng giữ vẻ bình thản của một viên chức, ánh mắt nàng, ngay cả Nerzhin cũng nhận thấy, vẫn có vẻ lo âu. Thế rồi, như giữa họ chưa từng bao giờ xảy ra tranh luận và bất đồng ý kiến hết, Rubin nhìn bạn bằng đôi mắt đầy những quản ngại. Khi đôi mắt của Rubin không sáng lên vì tranh luận sôi nổi, chúng trở lại dịu hiền như mắt đàn bà. “Tôi không hào hứng khi thấy thiên hạ để ý đến mình” – Rubin nói – “Người xưa có câu: “Đừng dại dột mà làm nhà cạnh cung điện của ông Hoàng”. “Nhưng chúng mình có gì đáng được để ý đâu? Công việc của chúng mình chỉ là một việc phụ ở đây: nghiên cứu tiếng nói.” “Vậy mà Anton vẫn để ý đến mình… Rất có thể mình sẽ bị khiển trách về việc tập Hồi ký của Stanisvsky và quyển Diễn văn của luật sư…” Rubin cười và nói tiếp: “Cũng có thể là vì bản báo cáo anh vừa gửi lên không được rõ ràng…” Nerzhin lắc đầu: “Chắc không phải vì báo cáo đâu. Báo cáo mình gửi lên đã lâu rồi, êm ru không nghe thấy thiên hạ phàn nàn gì hết. Nếu không thấy tôi trở lại nữa, anh…” “Đừng có vớ vẩn…” “Vớ vẩn là thế nào? Đời là như thế. Chuyện thường xảy ra.” Nerzhin cúi xuống như để thu xếp lại những giấy tờ trên bàn, anh nổinh và nhanh với bạn: “… đốt hết những cái đó đi giùm tôi.” Nerzhin khóa ngăn kéo bàn và đưa chìa khóa cho Rubin. Rồi anh đi ra khỏi phòng với dáng điệu khoan thai của một người tù đã sống đến năm thứ năm trong tù, người tù không bao giờ vội vã vì luôn luôn chỉ chờ đợi những gì bất hạnh hơn xảy đến.
Trong đoạn này, tác giả nói đến đạo Lão của Trung Hoa. Xong các câu nói trên đây có vẻ là một cách ngông của Khổng giáo về vấn đề “tri túc” hơn là một câu trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử (Nd).
Sau ngày quốc hận 30 Tháng Tư, 1975, có một số anh chị em Quân Dân Cán Chính và gia đình, tuy may mắn được di tản ra nước ngoài, nhưng không có dịp “may” ở lại để chứng kiến tận mắt được những hành động ngu xuẩn, tàn ác đến man rợ của của những người cộng sản Việt Nam từ miền Bắc vào, tự xưng là để “giải phóng cho đồng bào ruột thịt đói rách ở Miền Nam,” của những người cùng uống nước sông Cửu Long nhưng tự hào được cộng sản Bắc Việt cho “tạm mang dép râu, đội nón cối” (mà không biết!), và của những con “cọp 30,” những người Miền Nam hống hách được cộng sản cho mang băng đỏ trên tay áo, thuộc hệ thống nằm vùng, và nhất thời làm tay sai cho cộng sản!!! Có thể nói đây là một trang sử bi thảm nhất của người dân Miền Nam Việt Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Những đồng bào nào được may mắn rời khỏi Việt Nam trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, và những em cháu thuộc những gia đình này (tính đến nay cũng từ 21 tuổi trở lên, kể cả những con em của tất cả người Việt Nam được chào đời trên các nước phương Tây tự do) không bao giờ hình dung được cái ngày lịch sử đen tối này, vì cộng sản Việt Nam đã cố tình sửa lịch sử ngay từ đầu chiến dịch tiến chiếm Miền Nam để giành lấy chánh nghĩa “giải phóng dân tộc” cho đảng. Cho đến giờ này dù chúng tôi có nói lên những sự việc thật sự đã xảy ra từ trước và sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì bà con nào đã rời khỏi đất nước trước ngày lịch sử đó (nhất là thế hệ sau 75) cũng không ai muốn tin và chịu tin đó là sự thật, một phần vì có người còn cho chúng tôi thuộc thành phần chống cộng, thù ghét cộng sản nên chỉ nhằm tuyên truyền chống cộng mà thôi, một phần vì bà con không ai ngờ là “cùng là người Việt Nam với nhau ai lại có tâm địa vô nhân đạo, phi đạo đức và phi dân tộc đến như thế được. Do đó những gì chúng tôi kể lại đây không hẳn là những trang “hồi ký” của riêng cá nhân mình mà thật sự là những gì đã xảy ra tại Saigon và những vùng phụ cận trong những ngày trước và sau 30 Tháng Tư, 1975, kể lại trung thực những sự việc mà chính bản thân chúng tôi vừa là một nạn nhân, vừa là nhân chứng, những sự việc mà chính mắt chúng tôi đã thấy, chính tai chúng tôi đã nghe… để tạm gọi là “luận cổ” (nói về chuyện xưa). để những anh em bạn già sống tha phương cầu thực chúng ta có đầy đủ yếu tố mà trao đổi nhận định, và để các thế hệ con cháu chúng mình có thêm sự hiểu biết chính xác hơn về bản chất, về con người, về đường lối chủ trương và chánh sách của người cộng sản Việt Nam mà “suy kim” (suy biết được cái hiện tại). tức là để thấy được việc làm của người cộng sản trong hiện tại và trong tương lai… Người dân Miền Nam chúng ta gọi ngày 30 Tháng Tư là “Ngày Quốc Hận” vì Nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta bị xóa tên khỏi bản đồ của thế giới nói chung và của thế giới tự do nói riêng, từ ngày 30 Tháng Tư, 1975, vì cộng sản Bắc Việt đã xé bỏ Hiệp Định Ba Lê 1973 mà chúng đã vừa long trọng ký kết, vừa xua quân công khai tiến chiếm Miền Nam Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ngày mất nước, khách quan có, chủ quan có, xa, gần đều có v.v… chúng tôi không muốn bàn thêm ở đây, vì trong gần 30 năm qua đã có rất nhiều sách báo, hồi ký, Việt có, Mỹ có, Pháp có, tất cả đều có phân tách rất rõ ràng rồi. Chúng tôi chỉ muốn ghi lại một vài mẩu chuyện thật, vui buồn lẫn lộn của bản thân, có liên quan đến ngày quốc hận này, để gọi là đóng góp thêm một ít tài liệu vào trang lịch sử đau thương của đất nước. Ngày 1 Tháng Hai năm 1973 Tôi và một nhóm anh em sĩ quan cấp tướng tá thuộc Khóa 5 Cao Đẳng Quốc Phòng được thuyên chuyển về Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương vừa được thành lập theo điều khoản của Hiệp Định Ngừng Bắn Ba Lê, được ký kết giữa 4 Bên ngày 27 Tháng Giêng 1973 tại Ba Lê. Từ hơn một tháng qua, anh em học viên Cao Đẳng Quốc Phòng chúng tôi được lệnh chia nhau từng toán sửa lại từng điều khoản một, trong bản thảo của cái gọi là Hiệp Định Ngừng Bắn sắp được 4 Bên ký kết ở Ba Lê (Pháp), vì qua nghiên cứu chánh phủ không thấy có một câu nào, một đoạn văn nào trong bất cứ điều khoản nào mà không có lợi hoàn toàn cho phía Bắc Việt, ngược lại chỉ có hại hoàn toàn cho Miền Nam Việt Nam mà thôi. Cũng qua nghiên cứu anh em học viên chúng tôi đều thấy là: toàn bộ bản văn tiếng Việt của hiệp định này rõ ràng là tác phẩm của cộng sản Bắc Việt được Lê Đức Thọ trao cho Kissinger dịch ra tiếng Anh, một bản dịch “thật sát nghĩa” từ ý lẫn lời văn của tác giả Miền Bắc! Đúng vào ngày 27 Tháng Giêng 1973 sau khi ký kết hiệp định cả chánh phủ và chúng tôi đều hết sức thất vọng vì không thấy được một dấu vết sửa chữa nhỏ nào cuối cùng được thực hiện trước khi các bên ký kết. Tôi muốn ghi lại chi tiết này để chúng ta cùng thấy được là nước VNCH của chúng ta đã bị Đồng Minh của mình phản bội, bán đứng cho cộng sản Bắc Việt ngay từ khi họ dàn xếp được Hội Nghị Paris (có cả MTGPMN là một trong 4 Bên ở Bàn Hội Nghị) một ít lâu sau Tết Mậu Thân 1968, để rút chân ra khỏi cuộc chiến với một danh từ thật kêu là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh.” …. Ngày 28 Tháng Tư, 1975: 8 giờ sáng Đại Tá Nguyễn Hồng Đài từ tư dinh của Đại Tướng Dương văn Minh điện thoại ngay cho tôi nhờ đưa một phái đoàn đại diện cho tổng thống đến gặp phái đoàn cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng (MTGPMN) ở trại Davis. Phái đoàn gồm có Luật Sư Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống; Luật Sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, quyền tham mưu trưởng QLVNCH từ ngày 28 Tháng Tư, 1975. (một bộ hạ thân tín của Tướng Dương Văn Minh ở Bộ Tư Lệnh Hành Quân từ 1955, sau này mới được biết là đã làm tay sai cho CS từ đầu thập niên 70 và từ đó đã trở thành một Việt Cộng nằm vùng rất đắc lực của Bắc Việt.) Khối Ngoại Vụ chúng tôi cho biết là CSBV và Việt Cộng không tiếp phái đoàn, nhưng Đại Tá Đài cho tôi biết là “ông già nhấn mạnh là tôi nên cố gắng, vì cuộc gặp mặt này rất quan trọng.” Tôi đành phải đích thân gọi vào trại Davis, gặp Đại Tá Sĩ để điều đình và cuối cùng phái đoàn của Tổng Thống Minh “được đồng ý cho vào trại Davis gọi là để viếng thăm hai phái đoàn cộng sản Bắc Việt và CPLTMN” (nguyên văn lời Đại Tá Sĩ trực tiếp nói với tôi qua điện thoại). (Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói rõ về anh Đại Tá Sĩ này. Tôi biết được anh Nguyễn Văn Sĩ trước học ở trường Collège Cần Thơ, có biệt danh là “Sĩ Kiến, Theo bản trận liệt mà chúng ta biết được thì anh Sĩ là tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của MTGPMN. Chúng tôi hai đứa gặp nhau và nhìn lại nhau ở cương vị đối nghịch nhau tại bàn hội nghị Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên ở Tân Sơn Nhất. Nhờ đó mỗi khi gặp bế tắc trong bất cứ vấn đề gì ở bàn hội nghị, nhất là về trao trả tù binh thì anh Sĩ lại được Tướng Trần Văn Trà cho anh đại diện cho Cộng sản để “mật đàm với đại tá Nghĩa” nhằm tìm ra giải pháp. Đến năm 1989, sau khi ra khỏi trại tù cải tạo, nhân một dịp đi xuống Cần Thơ, tôi lại được gặp anh Sĩ vài lần ở ngay sân quần vợt Cần Thơ, và đươc biết là anh đã rời khỏi quân ngũ từ 1977, vì lý do đảng tịch, và là người Miền Nam nên anh phải “đi một xuồng” với Tướng Trà.) Phái đoàn của Luật Sư Huyền vào trại Davis lúc 9 giờ 30 và rời khỏi trại hồi 10 giờ hơn. Tôi tò mò muốn biết kết quả của cuộc gặp gỡ này, nhưng Đại Tá Đài không cho biết vì anh không được biết hay vì anh không muốn tiết lộ, hay vì một lý do nào khác? Qua Đại Tá Sĩ thì tôi cũng không được biết gì hơn ngoài câu “như đã thỏa thuận với anh hồi nãy,” tức phải được hiểu ngầm là “chỉ có viếng thăm xã giao mà không có bàn đến các vấn đề gì khác” Tò mò hơn, qua điện thoại với trung tá chánh văn phòng Trương Minh Đẩu, tôi được biết là Ông Dương Văn Minh đã “mò” lên tận vùng Long Khánh (không rõ chính xác ở đâu) với liên lạc viên Dương Văn Nhật để gặp Lê Đức Thọ từ mấy ngày trước, qua đường dây liên lạc đặc biệt nào đó mà anh không biết. (Dương Văn Nhật là em ruột của Tướng Minh, tập kết ra Bắc năm 1954, về Nam với quân hàm trung tá của MTGPMN, vào ở ngay Dinh Hoa Lan tại đường Trần Quý Cáp với gia đình Tướng Minh từ lâu, dĩ nhiên trong nhiệm vụ sĩ quan liên lạc của cộng sản.) Vẫn theo lời anh Đẩu thì sau khi phái đoàn của ông Nguyễn Văn Huyền về đến Dinh Hoa Lan, ông Minh họp Hội Đồng Chánh Phủ và cho biết là MTGPMN đã bác bỏ đề nghị của ông nhằm tìm một giải pháp chánh trị cho Miền Nam Việt Nam. Vì vậy ông đã quyết định là “chỉ còn một cách duy nhất là “đầu hàng vô điều kiện” mà thôi. 4 giờ chiều: Tôi muốn nhắc lại ở đây một đoạn đàm thoại ngắn giữa tôi và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ qua điện thoại mà ông gọi tôi lúc 4 giờ chiều ngày hôm nay từ tư dinh của ông ngay trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất. -Anh còn ở đây chưa đi đâu sao anh Nghĩa? -Thưa thiếu tướng chưa, vì tôi còn trách nhiệm phải lo cho gia đình các anh em quân nhân của Ban Liên Hợp đi cho xong rồi tôi mới đi. Dự trù chiều mai 29 thưa thiếu tướng. -Gia đình anh đi chưa? -Thưa thiếu tướng đã đi xong đêm 26 vừa rồi. Còn thiếu tướng sao giờ này còn ở đây? -Tôi và gia đình đang sắp sửa đi đây. Anh Tiên (Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên) cho phi cơ đưa chúng tôi đi nhưng anh Tiên thì còn ở lại, đi sau. Nói đến đây ông hơi ngập ngừng chừng một phút rồi mới nói tiếp: -Phải đi chớ ở lại đây sao được anh Nghĩa? Tôi vừa mới từ nhà ông Minh về đây. Theo lời ông Minh nói với tôi lúc nãy thì chúng ta coi như đã, mất hết rồi không còn quyền gì nữa hết, anh Nghĩa, kể cả quyền làm chánh trị!… Ông Minh đã nói thẳng cho tôi như thế, lúc này thì mình còn ở lại đây để làm gì nữa anh Nghĩa? Nói tới đây ông sụt sùi và tôi nghe có tiếng khóc nghẹn ngào của ông qua điện thoại. Tôi nghĩ có lẽ ông vừa bực tức ông Minh vừa bực tức vì một đời ngang dọc của ông coi như bị trói cả hai tay trong lãnh vực quân sự lẫn chánh trị… và xúc động thấy mình sắp phải rời khỏi quê hương. Không thấy tôi nói gì nữa ông nói tiếp: -Vậy tôi đi hôm nay nghe, anh cũng nên đi luôn đi, coi chừng đi không kịp nữa đó. Anh Tiên chắc cũng đi sau tôi. Còn sấp xếp cho anh em Không quân nữa, chắc phải đưa tất cả phi cơ đi cho hết. Thôi anh ở lại đi sau nghe, chúc anh may mắn. -Xin chúc thiếu tướng và gia đình thượng lộ bình an. -Cám ơn anh.
Một lúc sau đó anh Phan Nhật Nam về gặp tôi ở Ban Liên Hợp xác nhận là gia đình ông Kỳ vừa bay ra Hạm Đội 7 bằng trực thăng và anh cũng nhân đó hỏi tôi đã nói gì với ông Kỳ làm cho ông khóc vậy? Tôi đáp: -Có lẽ ông cảm động trước khi rời khỏi quê hương, và bực tức vì lời nói của ông Minh Dương chớ tôi thì không có nói gì cả? Từ sáng sớm hôm nay, căn cứ Không Quân Biên Hòa được lệnh dời hết về Tân Sơn Nhất tất cả phi cơ các loại, từ phi cơ chiến đấu, vận tải đến trực thăng các loại, tất cả nhân viên phi hành và không phi hành đều lục tục kéo nhau về hết ở đây cho đến gần 7 giờ chiều mà vẫn chưa hết. Người nào có gia đình hay thân nhân ở vùng Sài Gòn Chợ Lớn Gia định thì được phép về nhà nhưng toàn bộ vũ khí cá nhân đều phải gởi lại hết ờ Tân Sơn Nhất. Như thế là cả Vùng 3 và Biệt Khu Thủ Đô chỉ còn có mỗi căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất mà thôi.
6 giờ chiều: Chúng tôi vào D.A.O. đưa một toán 200 người thuộc gia đình sĩ quan và hạ sĩ quan /Ban Liên Hợp Quân sự ra phi cơ trong chương trình di tản (toán thứ 8). Chờ cho phi cơ cất cánh xong (9 giờ) chúng tôi mới trở về lại Ban Liên Hợp, vẫn phải trực như mọi người và mọi đơn vị.
10 giờ đêm: Từ 10 giờ đêm, Bắc Việt bắt đầu pháo kích và bắn hỏa tiễn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay ban chiều vào khoảng 7 giờ, họ đã cho một loạt tác xạ điều chỉnh vào khu vực sân bay rồi: tất cả 5, 6 quả và 2 hỏa tiễn đều rơi vào khu dân cư ở xóm Trương minh Giảng và Lăng Cha Cà ở bên ngoài khu vực sân bay. Nhưng từ 10 giờ đêm trở đi thì tất cả đạn pháo nặng nhẹ từ 130 ly đến bách kích pháo 82 ly và hỏa tiễn đều rơi vào các đường bay, các ụ chứa phi cơ và các kho bom đạn cũng như Bộ chỉ huy các Không đoàn, Riêng Ban Liên Hợp chúng tôi cũng được hưởng mấy trái hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly làm cho 3 dãy nhà bị cháy và gây tử thương vài binh sĩ, làm bị thương một số khác. Chúng tôi và Đại Tá Ba ra ngoài đường thoát nước lộ thiên bằng xi măng trước văn phòng nằm tránh đạn. Chiếc xe của tôi đậu cách chỗ nằm của chúng tôi chừng 15 thước bị một mảnh đạn và bốc cháy mà chúng tôi không dám chữa. Từ đó, Bắc Việt pháo kích từng chập từng chập cách nhau chừng 15 phút, đủ loại, không ngừng cho đến sáng hôm sau. Hầu như không có phi cơ quan sát hay tiềm kích nào cất cánh lên được suốt đêm nay, và cũng không nghe thấy có tiếng súng phản pháo nào. Riêng trại Davis của hai phái đoàn cộng sản, cách văn phòng chúng tôi chừng 100 thước, thì không bị một quả đạn nào, tất nhiên đây là vị trí của tiền sát viên Bắc Việt giúp điều chỉnh tác xạ suốt đêm nay thật chính xác, vì trong 2 năm ở đây họ đã nắm rõ từng vị trí trong sân bay này rồi!
Chiều nay người viết bài đang dùng cơm tối, trong bữa cơm có món cà pháo mắm tôm. Đang ngon bỗng nghe bản tin từ Việt Nam, nói cả nước lại đang phát động phong trào “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, bỗng phì cười làm mắm tôm văng cả vào mặt thằng cháu ngoại. Ông bèn xin lỗi cả nhà, nhất là đứa cháu ngoại, sau đó bữa cơm đang dang dở đành phải dẹp bỏ. Bây giờ cả nước, nhất là lớp thiếu niên đang bị đảng Cộng Sản phun mắm tôm vào mặt, mà chẳng ai chịu đi rửa cũng như người gây tội, chẳng ai chịu mở miệng ngõ một lời xin lỗi. Đạo đức được định nghĩa như thế nào? Sang Tàu thì lấy Tăng Tuyết Minh, sang Mạc Tư Khoa thì ôm vợ đồng chí Lê Hồng Phong. Ở hang Pắc Bó thì đã có Phá Thị Nùng, sinh được một con trai, Nông Thị Ngát mẹ đẻ của Nông Đức Mạnh, Về nước, hết Đỗ Thị Lạc, bí danh “Chị Thuần”, có một con gái, đến Nguyễn Thị Xuân. Đời bác không lúc nào thiếu đàn bà, con rơi của bác không làm sao đếm hết, tư cách của bác là thứ Sở Khanh trong chuyện Kiều. Nhìn cảnh cô phụ Tăng Tuyết Minh lúc về già, với ảnh chồng Lý Thụy treo trên tường mới thấy tư cách của Hồ. Khi có chức có quyền, lại vô trách nhiệm để vợ cho tên Trần Quốc Hoàn hiếp dâm rồi vất xác ra đường cho xe cán. Trong lịch sử văn học, những người viết thuê vẽ mướn để ca tụng người trả tiền cho mình, mà người đời coi rẻ gọi là “bồi bút” cũng còn khá hơn những kẻ dùng chữ nghĩa văn chương, nấp dưới một cái tên khác, để tự khen mình, trên thế giới chỉ có duy nhất “nhà báo vĩ đại” Hồ Chí Minh, nghìn lần vô liêm sỉ. Thế mà bác làm được, không biết ngượng, nói về chuyện này lỗ tai bác không thấy đỏ. Chúng ta hãy nghe những lới tán dương, đề cao bác: “… những phẩm chất cao đẹp của Người vang khắp năm Châu. Người là một nhà cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, một nhà báo vĩ đại.”
Bác hèn, làm ngơ cho cố vấn Tàu phát động phong trào cải cách ruộng đất giết 172,008 đồng bào miền Bắc, miễn là được làm chư hầu trung kiên của Trung Cộng, mà không thấy xót xa khi máu người Việt đổ ra. Đó là đạo đức của những tên đồ tể. Bác hèn để cho cánh Lê Đức Thọ thao túng chính trường, tàn sát đồng chí vì bí mật đời bác nằm trong hồ sơ của đảng, đó là đạo đức … Năm 1948, Hồ Chí Minh ngụy tạo ra ngày sinh 19 tháng 5 là ngày sinh nhật của mình để bắt dân Hà Nội treo cờ đón Đô Đốc Pháp d’ Argenlieu, lúc chết cũng còn đổi ngày kẻo sợ xui cho đảng. Đó là chưa nói đến một giả thuyết có nhiều luận cứ khả tín là thực sự xác thực là có một Hồ Chí Minh thật mà đến bốn Hồ giả, trong đó có ba người là Tàu. Các sử gia Halberstam va Douglas Pike đều công nhận rằng: “Hồ luôn luôn chứng tỏ là kẻ đại tài về xảo trá và tàn bạo.” Tác giả Minh Võ cũng đã viết: “Cộng Sản sẵn sàng hy sinh những tiêu chuẩn đạo lý đã được nhìn nhận một cách phổ quát để có thể nói dối ăn gian vì lợi ích cáchmạng!” Đặc biệt năm nay, cả nước đang “háo hức” kỷ niệm
“100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911-5-6-2011), với nhiều cuộc hội thảo được diễn ra, với 139 bài tham luận, dùng những chữ những câu dân chúng đã được nghe, được đọc năm sáu mươi năm về trước. Ban tuyên huấn đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng những đầu óc “siêu việt” nhất của đảng để soạn thảo bản đề cương tuyên truyền cũng với những câu những chữ xũ xì ca ngợi “con đường ra đi cứu nước của bác”. Nhưng có những sự thật đảng Cộng Sản rất khó phản bác, vì Hồ Chí Minh lên tàu Admiral Latouch-Tréville bỏ nước ra đi chỉ vì nghèo đói, thất cơ lỡ vận. Nếu tấm đơn của bác đề ngày 15-9-1911 gởi cho Tổng Thống và Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp, xin ân huệ đặc cách vào học Trường Thuộc Địa Paris, được chấp nhận, Hồ Chí Minh đã trở thành một thứ quan lại tay sai cho Pháp và nước Việt Nam đâu có chịu khổ đau, tai ương gần một thế kỷ như thế. (tài liệu trong văn khố Pháp của Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu)
Có phải thật tình đảng Cộng Sản không biết gì về cuộc đời Hồ Chí Minh ngập ngụa trong thối tha như vậy, nên luôn luôn ca tụng hết lời về chuyện “đạo đức” của bác, không chỉ trong những văn kiện của đảng Cộng Sản, mà phổ biến trong quần chúng, trong học đường về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” phát động mỗi năm trong cả nước. Đảng Cộng Sản thừa biết Hồ Chí Minh là ai, đạo đức cỡ nào, nhưng vẫn luôn luôn vực cái xác ướp dậy để làm cái dù che cho chế độ, mặc dầu họ biết cái dù ấy đã thủng trăm lỗ. Học tập đạo đức Bác Hồ như thế nào để vận dụng vào đời sống của cán bộ CS
hôm nay? Bác ở nhà, có ao cá thì dinh thự Nguyễn Tấn Dũng không thua lâu dài của các bậc Vua Chúa thời trung cổ Âu Châu. Noi gương đạo đức của bác nên từ Lê Duẫn đến Lê Đức Thọ, Trần Văn Trà, Hà Huy Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Hoan … phải có từ hai vợ trở lên và sống đời hoang dâm. Trong số hàng trăm tập thể, cá nhân, nhất là cán bộ cao cấp, được xem là điển hình của những năm “học tập và làm theo tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh”, có Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang hay Hồ Xuân Mãn, Bí thư tỉnh Thừa Thiên – Huế. Chủ tich Nguyễn Trường Tô thì mua dâm nữ sinh do Hiệu trưởng Sầm Đức Giang làm “ma cô”, bị chụp ảnh trần truồng khi vào động mãi dâm, Hồ Xuân Mãn đi ăn trưa, sàm sỡ ôm hôn tiếp viên, bị bạt tai, lại hung hăng đòi đuổi việc nạn nhân này. Những thứ ruồi nhặng đang nhởn nhơ này là biểu
tượng cho “đạo đức bác Hồ!” chăng? Cứ nhìn cung cách một ông cụ già Chủ Tịch Nước ôm hôn diễn viên điện ảnh Trà Giang một cách thô tục, tham lam, thì chúng ta không còn lạ gì bọn con cháu trong đảng của bác như Nguyễn Trường Tô hay Hồ Xuân Mãn!
Đã như thế, đảng Cộng Sản lại cố nhét thứ đạo đức này vào đầu óc bọn trẻ mới lớn lên, đã thấy rõ xã hội hiện nay như thế nào, một đề thi lịch sử trong kỳ thi vào đại học năm nay, khiến cho bác Hồ trở thành một trò cười nhân gian. Đó là câu hỏi: “Nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.” Thay vì “cóp” nguyên văn 139 bài tham luận, hay những gì đăng nhan nhãn trên báo chí chính phủ, nói ra rả trong đài phát thanh nhà nước, để lấy điểm ưu vào đại học thì các cô cậu mãi lo chơi game và coi phim sex, đã trả lời đề thi theo sự suy nghĩ riêng của mình, pha một chút ngu dốt như: “Nguyễn Tất Thành tìm đường cứunước vì người đã vứt bỏ tình yêu thương với một thiếu nữ cùng quê!” hay Ông Sơn Tùng đã biện minh cho “đạo đức” Hồ chí Minh bằng cách trích dẫn lời của triết gia J.J.Rousseau: “Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do”. Quả thật vì quá thấp kém chúng tôi không hiểu nổi hai chữ đạo đức mà đảng Cộng Sản Việt Nam dành cho Hồ chí Minh là thứ đạo đức nào.
Mặt khác, tuổi trẻ Việt Nam thật sự đang “nhe răng cười” khi nghe quý ông bà đang dạy dỗ chúng về cái gọi là “học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức của bác Hồ.”
Thiếu tá Chi L. Truong* được bổ nhiệm chức Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ (CBRNE) thuộc Sư đoàn 1 Thiết Kỵ** (1ST Cavalry Division) từ tháng 5 năm 2023. Nhiệm kỳ vừa qua, ông là Sĩ quan trưởng Phòng yểm trợ của Quân đoàn III Thiết kỵ tại Fort Hood, Texas từ tháng 6 năm 2022 đến tháng năm năm 2023. Năm 2024, Thiếu tá Chi L. Truong được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Lục quân chọn đề cử thăng cấp Trung tá và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn*** ngày 23 tháng 5 năm 2024.
Là một Sĩ quan ngành Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ (CBRNE) Lục quân, Thiếu tá Chi L. Truong được chỉ định lần lược phục vụ qua các đơn vị: Sĩ quan Phó Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ tại Fort Hood, Texas; Sĩ quan Phó Phòng CBRNE, kiêm Sĩ quan phòng vệ, Sư đoàn 1 Thiết Kỵ tại Châu Âu; Sĩ quan điều hành Tiểu đoàn Tổng hành dinh Bộ tư lệnh Sư đoàn 1 Thiết Kỵ tại Fort Hood, Texas; Sĩ quan trưởng Phòng yểm trợ của Quân đoàn III Thiết kỵ tại Fort Hood; Và hiện nay, Thiếu tá Trưởng Phòng Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ, thuộc Sư đoàn 1 Thiết Kỵ.
Huy hiệu Bộ Tư lênh Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử, Chất nổ thứ 20 của upload.wikimedia.org
Cần biết thêm về ngành Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ (CBRNE)**** của Lục quân Hoa Kỳ là một Bộ Tư lênh Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử, Chất nổ thứ 20, (20th Chemical, Biological, Radiological, Nuclear, Explosives (CBRNE) Command) do nữ Chuẩn tướng W Bochat làm Tư lệnh, là đơn vị duy nhất của Bộ Lục quân trực thuộc Bộ Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ. Bộ tư lệnh CBRNE bao gồm 75% các Đơn vị giải quyết các vật liệu chất nổ (EOD), Hóa học, Sinh học và Phóng xạ, Nguyên tử của Quân đội đang hoạt động. Bộ tư lệnh là một đội hình chuyên biệt, có kỹ thuật cao với khoảng 3.800 Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ và Nhân viên dân sự đồn trú tại 16 Tiểu bang và 19 cơ sở khác nhau và hoạt động thường xuyên để yểm trợ các tổ chức và đơn vị liên hợp, hoạt động đặc biệt, liên ngành và Quốc tế. Bộ tư lệnh duy trì phục vụ 24 giờ/7 ngày trong việc chống lại nhiều mối nguy hiểm từ Hóa học, Sinh học, Phóng xạ, Nguyên tử và Chất nổ trong nội địa và nước ngoài.
Thiếu tá Chi L. Truong tốt nghiệp các Văn bằng Cử nhân và Cao học: Văn bằng Cử nhân Tâm lý học – Trường Đại học University of Southern California năm 1999; Văn bằng Cử nhân Khoa học Sinh học tổng quát – Trường Đại học University of Southern California năm 1999; Văn bằng cao học Khoa học Môi trường – Trường Webster University năm 2012; Và tốt nghiệp Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) nằm 2019.
Sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá phục vụ trong các binh chủng và ngành của Quân chủng Lục quân có thể hơn 150 vị, không tính những vị Thiếu tá hồi hưu. Một số Thiếu tá Lục quân gốc Việt được ghi nhân sau đây: Thiếu Tá Truong Quoc Tran, Sĩ quan tình báo Lục quân; Thiếu tá Andrew Vu, Phi công trực thăng UH-60A/L Blackhawk, Lữ đoàn hàng không Vệ binh Quốc gia Pennsylvania; Nữ Thiếu tá Nhu Tran, Sĩ quan Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Vy Nguyen, Luật sư Quân pháp Lục quân; Nữ Thiếu tá Diep Thuy Ho, Quân y Lục quân và còn nhiều vị Thiếu tá khác chưa tiện cập nhật.
Chúc Tân Trung tá Chi L. Truong thăng tiến binh nghiệp.
Chú thích: *Ghi theo họ tên từ tài liệu; **Sư đoàn 1 Thiết Kỵ đã từng tham chiến tại Việt Nam, còn được gọi là Sư đoàn 1 Không kỵ hay Sư đoàn 1 Kỵ binh không vận; ***Sau khi dược Uỷ ban quân vụ Thượng viện bầu chọn, môt thời gian sau, vị Sĩ quan được đề cử sẽ chính thức thăng cấp; ****Gọi tắt là Binh chủng hoá học Lục quân.
Anh và Huy đã rất thành thật khi tự xác nhận và nói với người khác: Chúng tôi không là “nhà văn” trong nguyên nghĩa tức là những người dụng văn chương như một cách thế chính thống. Chúng tôi đã nhiều lần nói như thếvì chữ nghĩa chỉ đến sau khi cây súng và bộ áo quần lính đã không giải quyết gì được, nếu không muốn nói một cách khác: Đấy chính là đầu mối của tất cả mọi vấn đề (bế tắc) và cũng là nguyên nhân gây nên tình huống không xuôi thuận giữa bản thân với hoàn cảnh trong quân ngũ. Nhưng cũng khó khăn thay, chúng tôi lại không có cuộc đời nào khác ngoài những tháng năm trong lửa đạn (khác chăng là người chịu dài ngày, người gánh ngắn hạn) với những nơi chốn buộc phải đi qua, sống cùng, chết với. Như con người không có, không còn một nơi nào khác ngoài mặt đất. Cũng bởi không thế ứng xử theo một chọn lựa nào khác nên khi nói đến chuyện chữ nghĩa, văn chương thì hình như động tới một mối đau với cách bỡn cợt, mỉa mai tệ hơn nữa là một sự vô ích. Nhân nhớ lần Huy ra đi anh kể lại những nơi chốn đã sống qua thêm một lần để chứng thực lời tiên quyết thành thực kể trên.
1. Cửa Việt, Quảng Trị
Mùa Đông năm 1967, hướng 6,400 ly giác trên địa bàn, Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù rời căn cứ Cửa Việt của Hải quân Mỹ theo trục chính Bắc lúc trời vừa qua sáng. Trăng lạnh soi lên mặt biển lóng lánh sáng dâng khói sóng mờ đục. Những đợt sóng nhỏ đập vào thành xe M’track của Thủy quân Lục chiến Mỹ chuyển đoàn quân đi lầm lũi trong ánh sáng của ngày chưa tới. Vượt khỏi làng Diêm Hà Nam vừa chạm tới bờ rừng dương liễu của làng Diêm Hà Trung kịp nhận xa xa sông Bến Hải vạch đường mờ nhạt giữa bãi bờ cát xám thì cùng lúc khám phá thấy những bóng người lê lết bò ra từ những khối đụn nâu đen rải rác dọc bãi biển … Đám sinh vật người đưa hai tay đưa lên trời đồng lên tiếng kêu rên thảm thiết “Bộ đội lính ơi … Bộ đội lính ơi … Đồng bào mền khôn cả …Lính Cộng hòa ơi … “.Tập trung tất cả lại, trời sáng dần giúp anh nhận rõ hầu hết là con trẻ, người già, hoàn toàn không có đàn ông thanh niên. Và trong số dẫu là những người nữ gầy gò trong độ tuổi trung niên hay trẻ hơn nhưng không ai mặc không áo lót mà chỉ với vạt áo dài phủ xuống thân hình luôn ở vị thế bò và quỳ bởi không có chiếc quần che hạ thể. Anh tự nói thầm câu vô nghĩa: “Có người dân nào cùng khốn và đau thương hơn thế này khi nhìn vào những ‘căn nhà’ mà những con người kia vừa chui ra”. Đấy là những mui thuyền úp trên bãi cát, trên mặt cát ẩm ướt trải những manh chiếu tơi tả rách nát. Mỗi gia đình gồm mấy con người ngồi bó gối trên manh chiếu nát như thế từ bao ngày qua. Nhưng sự bình yên khốn khổ cuối cùng cũng không còn khi pháo từ bên bờ Bắc sông Bến Hải bắt đầu dội xuống! Không phải pháo vài quả, vài tràng nhưng dồn dập ào ạt từ nhiều vị trí với đạn 130 ly đầu nổ công phá. Lính nhảy nhanh xuống những hầm hố đào vội. Dân chỉ biết chui vào lại những căn chòi mong manh. Có những mui thuyền bị đạn pháo bắn tung lên như rác vụn với những xác người bay bay. Bộ đội Cộng hòa ơi … Cứu đồng bào bộ đội Cộng hòa ơi. Ngồi dưới chiếc hố dã chiến anh úp nón sắt che kín mặt ủ vào hai gối, thầm nói như một lời thú tội: Ai cứu được ai trong đạn pháo bây giờ? Tháng 1, 1973, Tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến của Huy từ Hương Điền, Thừa Thiên được lệnh lên đường tiến chiếm Cửa Việt, Quảng Trị được đặt tên Mục tiêu T. Ngoài vũ khí đạn dược mỗi người lính phải mang thêm trong ba-lô năm lá cờ để sẵn sàng cắm lên vị trí sẽ chiếm được. Cuộc hành quân có tính cách thần tốc, thời gian được ấn định thật chi ly chỉ vỏn vẹn hai-mươi-bốn giờ từ 7 giờ sáng ngày 27 đến 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 – Ngày ký Hiệp định gọi là Tái lập hòa bình Việt Nam ở một nơi xa nửa vòng quả đất. Đúng 7 giờ 58 phút sáng ngày 28 tháng 1 nghĩa là trước Lệnh Ngưng Bắn có hiệu lực hai phút quân miền Nam làm chủ được chiến địa.
Ngưng bắn! Ngưng bằn!
Đ. má … không bắn nhau nữa … Bắn làm đ … gì giờ này nữa mấy bác !!…
Xông lên … Chạy lên …
Không vũ khí, chỉ có những lá cờ cầm tay và bao thuốc lá chìa trước mặt …
Hút đi mấy cha … Đánh đá cái chó gì mà đánh dữ vậy.
Hút đi … Đây là thuốc quân tiếp vụ đ … phải là thuốc của đế quốc Mỹ … Không có tẩm thuốc độc đâu … Tôi hút trước cho mấy cha yên tâm. Lính nói tiếng Nam, tiếng Trung, giọng Quảng chen lẫn âm sắc Hà Nội, Nam Định. Có người lính nước mắt chảy dài nói trong tiếng khóc ghìm xuống … Đ. má giờ trước mà bắn trúng nhau thì thật là khốn nạn. Chết vô duyên, lãng xẹt. Hiệp định Hoà Bình ký ngày 28 tháng 1 năm 1973 giúp người lính hai bên biết được điều vô nghĩa tàn nhẫn của chiến tranh. Chết khốn nạn. Chết vô ích.
Nhưng “hòa bình” chỉ kéo dài được đến chiều tối. Khoảng 9 giờ cùng ngày 28, lệnh Không Được Tiếp Xúc phải tuyệt đối thi hành và người lính tiếp tục đào xuống sâu hố cá nhân, giao thông hào để đề phòng bị tấn công sau hòa bình. Phía Bắc quân cũng im bặt, những người lính âm tiếng Bắc, mời thuốc lá ban sáng đã hoàn toàn vắng mặt. Nửa đêm ngày 28 rạng 29 chiến tranh lại bắt đầu. Người lính vừa bóp cò vừa chảy nước mắt ghìm tiếng thét căm phẫn … Đánh nhau làm gì nữa trời ơi?!Từ dưới hố cá nhân được đào sâu thêm trong những “giờ hòa bình”, Huy nhìn lên bầu trời tối đen với những ngôi sao lấp lánh trên cao. Anh cũng muốn gào lên lên câu hỏi tương tự và tuôn trào dòng nước mắt giận dữ. Cũng chẳng biết giận ai. Anh nói tiếng nhỏ qua máy truyền tin. Đ. má … không được bắn hoảng, kể từ giờ phút này chỉ còn tự túc cá nhân chiến đấu, không yểm trợ, không tiếp tế, không tải thương để khỏi mang tiếng vi phạm lệnh ngưng bằn, để bảo vệ hòa bình mà Hiệp định vừa mang lại. Trên toàn cầu nhiều giới người gồm những nguyên thủ quốc gia, chính khách, nhà tu, những kẻ vận động, yêu chuộng công lý hòa bình đồng nâng ly chúc mừng thắng lợi của Hiệp định trong tiếng chuông nhà thờ ngân vang mừng hòa bình đã đến với con người thế giới nói chung, ba nước Đông Dương, Việt Nam nói riêng! Từ 28 đến 31 tháng 3, Huy đại tiểu tiện một chỗ trong hố cá nhân bởi chiếc cần ăng-ten của máy truyền tin PC25 vừa nhú ra khỏi mặt đất đã bị cắt cụt bởi một tràng thượng liên vô cùng chính xác. Cuối cùng Đại đội của Huy rút lui về phía sau theo chiến xa của Thiết đoàn 20 mở đường máu giữa trùng vây của một Trung đoàn lính Bắc Việt mới được tăng cường thay thế đơn vị bộ đội đã hút chung điếu thuốc lá, khóc với lính Cộng hòa trong sáng ngày 28. Đại đội Huy phải bỏ lại trận địa nhiều xác chết và thương binh – Những đồng đội vừa chết trong trận đánh sau hòa bình. Có người lính chết trong túi còn nửa điếu thuốc lá hút dở. Điếu thuốc của một bộ đội miền Bắc mời ngày hôm kia chưa kịp hút hết thì đã vội nhảy xuống hầm.
2. Huế, Thừa Thiên
Mùa Hè 1972, từ Mang Cá, Thành nội Huế, bản doanh của Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1, cũng là tiền trạm của Lữ đoàn 2 Nhảy Dù, đơn vị tăng phái cho Mặt trận Trị Thiên đang trong hồi nguy ngập, anh đi bộ ra hồ Tịnh Tâm. Qua khỏi khu hồvuông vức anh rẽ phải hướng về đường Mã Khái. Những năm thơ ấu trước 1950, anh thường theo Mẹ đi trên lối nhỏ này về nhà Cậu Cả. Lối đi ngày ấy một bên được chắn bởi hàng rào lá chè đan dày và một bên là con rạch nhỏ lác đác những lá tre vàng khô lay lắt chuyển động, thân cây tre theo gió cạ vào nhau gây nên tiếng kĩu kịt rì rầm bí ẩn. Thuở ấy dẫu buổi trời đang nắng gắt, con đường luôn xanh um bóng mát làm đậm thêm mùi cây lá mục rã dưới rạch nước sẫm màu rêu. Ngày ấy đứa bé luôn có cảm giác nôn nóng khi đi đến căn nhà thoang thoảng mùi thơm của nhiều loại hoa chưa biết hết tên; vườn nhà cậu trồng nhiều cây nhưng đưa bé chỉ lưu tâm về cây trứng cá bên giếng nước sai trái chín đỏ lẫn với quả xanh mọng nứt mùi mật vo ve rì rào những con ong nhỏ và cây khế với chùm trái căng vàng lẫn trong tàng lá lấm chấm những cánh hoa trắng. Cây khế là nơi chị Ng. bế con mèo đứng chụp hình, tóc xõa xuống trán che dấu sẹo nhỏ, dáng điệu nhu mì hiền thục. Đứa bé rất thương yêu người chị vì chỉ có chị mới che chở cho nó khi bị cậu la rầy. Thằng R. còn nhỏ thầy đừng la em tội nghiệp, nó không cha mới vô đây ở với nhà mình.
Chiếc ảnh của chị treo nơi căn nhà ngang lợp tranh tường quét vôi trắng xôm xốp ẩm ẩm. Căn nhà trên đứa bé không được phép lên bởi là nơi thờ Phật, nó chỉ được nhìn vào từ chỗ đậu xe hơi đến chiếc ghế gỗ lót da nơi cậu ngồi hút thuốc trà dưới bức ảnh của anh D. Anh đi học bô-da bên Tây theo ý kiến từ mẹ nói với cậu mợ …
Chỉ mấy phút của chuyến đi ngắn anh sống hết, sống đủ với cảnh sắc, mùi vị, hương thơm của những ngày thơ ấu luôn cho anh nguồn vui, mối an ủi nụ cười bất chợt trong những cảnh huống khắc nghiệt nhọc nhằn …
Cậu ơi! Con đây … Nhà có ai không? Cánh cửa gỗ khóa chặt, sân đất ngồn ngang xác lá và những luống hoa tơi tả, tróc gốc, héo tàn. Anh nhìn quanh quất nghe ra âm âm gờn gợn điêu tàn của chốn không người, lần sụp vỡ không khả năng, cơ hội hồi phục. Anh nhảy qua khung cửa gỗ, đi lên lối nhỏ của hơn hai mươi năm trước, đến trước chiếc xe phủ bạt kín, nhìn vào căn hầm đất đắp nổi. Hình dạng người ngồi bó gối im lặng …
Cậu ơi … Cậu ơi … Con đây … Con R., con O Tám …Hình người chuyển động bò ra. Những ngón tay rờ rẫm trên chiếc áo lính. Con hả? Cả nhà đi hết rồi. Chỉ còn lại cậu …Chị Ng. và mợ đâu cậu?…
Mợ, chị và hai em đi vào Đà Nẵng, chung quanh ni ai cũng đi hết. Họ đi vì sợ như Mậu Thân, xóm ni nămđó có mấy người bị giết. Họ đem lấp dưới mương trước nhà mình. Mậu Thân con từ Quảng Trị vào Huếthì bị thương ở Cửa Thượng Tứ nên không về nhà thăm cậu, mợ và chị được …Cậu biết, có mấy ngườilính nhảy dù vô ở nhà mình, cậu có hỏi về con. Con biết chuyện đó, đó là lính của Tiểu đoàn con nhưng khác Đại đội. Vì Đại đội con kẹt ở Cửa Thượng Tứ nên con không về thăm cậu được, đứng trên thượng thành nhìn về phía nhà mình tưởng cảnh cậu mợ, chị và hai em không ai lo lắng, chăm sóc.
Anh nhắc lại trận đánh như muốn làm nhẹ phần hối hận về một bổn phận thiếu sót. Anh trở lại ý định sẵn có:
Con đưa cậu vô Đà Nẵng ở với chị H …
Ông cậu nói nhỏ nhưng dứt khoát:
Hôm nay giỗ bà, cậu làm giỗ bà với bát cơm và chút muối mè. Không hương đèn, cậu tụng kinh cho bà không cần lên bàn thờ Phật. Hôm nay chắc vong linh bà đưa con về nhà với cậu là để giỗ bà. Cậu không đi đâu nữa. Cậu ở lại với Huế.
Một trái hoa tiễn loại địa không 122 ly từ đâu rơi xuống nổ bùng ngay giữa sân. Anh ngã chụp lên người ông cậu nghe rõ cơn run rẩy của người già qua da thịt của mình. Anh xa Huế từ năm đó đến nay. Không rõ cậu, mợ anh đã chết lúc nào, ở đâu sau 1975. Chị Ng. và hai con cũng không biết có còn không sau lần di tản khỏi Huế tháng Ba, 1975.
3. Tháng Ba, 1975
Huy và những người lính Tiểu đoàn 4 Thủy quân Lục chiến từ căn cứ An Lỗ trên Quốc lộ 1 đường đi Quảng Trị rút về Huế dửng dưng. Qua ngã ba An Hòa, cửa ngõ dẫn về Huế đã gần 12 giờ khuya. Đến cầu Bạch Hổ, tại chòi gác ở gần cầu, Huy thấy một người lính Nghĩa Quân quần áo súng đạn rất chỉnh tề đang đứng gác. Huy ngạc nhiên hỏi với giọng đùa:
Giờ này còn đứng gác cái mẹ gì ở đó, cha nội?
Em không nhận được lệnh gì hết.
Lệnh cái con c … Tiểu đội Trưởng mày đâu?
Một người lính già tay xách khẩu súng chạy lại.
Dạ tôi.
Huy nói như gầm: Huế bị bỏ rồi, ông còn gác cái gì nữa. Tôi là Trung úy ra lệnh tan hàng, về lo mangvợ con đi gấp nghe không!
Dạ.
Huy gom lính đi tiếp thấy thêm cảnh tượng. Một bà già đứng ở cửa một túp lều bên vách tường thành
Phú Văn Lâu, một tay cầm đèn dầu, tay còn lại quẹt nước mắt liên hồi, nhìn đám lính khẩn thiết tang
thương. Huy hỏi bà cụ:
Mệ muốn đi theo tụi con không?
Mệ không có tiền!
Huy nói nhanh:
Tụi con cho mệ tiền, hay mệ đi chung với tụi con.
Bà già khóc nhỏ, buông xuôi:
Chừ hết kịp rồi con ơi!
Huế đang là một thành phố chết và đang là một thành phố bị bỏ ngỏ. Cả thành phố chỉ còn lại vài ba ngọn đèn đường, cái sáng cái tối. Đạn pháo Việt cộng nã đều vào cầu Trường Tiền (cũ) và khách sạn Hương Giang. Đó đây người ta đang đạp xe ba bánh, xe xích lô đi hôi của. Đi lối cầu mới thì được an toàn, nhưng Huy quyết định dẫn lính đi lên lối cầu Trường Tiền (cũ) mặc dù cầu đang bị pháo. Một chút lãng mạn trong người Huy nổi dậy, chẳng gì cũng chỉ còn là lần chót. Ngay đầu cầu, một chiếc M-48 nằm chình ình, máy vẫn còn nổ mà không có người. Lên đến giữa cầu, Huy nói với mấy người lính đệ tử:
Quay lại nhìn Huế lần chót bay, chắc chắn là mình sẽ không đánh ra tới đây để lấy lại đâu.
Một nỗi buồn dâng lên trong lòng, Huy không khóc ra tiếng nhưng nước mắt đanh tròng. Bao nhiêu gian truân, bao nhiêu xương máu, bao nhiêu xác người, bao nhiêu mồ hôi nước mắt của bạn bè, của anh em đồng đội đã đổ xuống cho vùng địa đầu nghiệt ngã này. Đồ tiếp liệu trong thành Mang Cá dư sức cung cấp cho Lữ đoàn Huy ít nhất là ba tháng, tại sao không cho lính Thủy quân Lục chiến vào Thành nội để tử thủ ở đấy?
Ờ mà tử thủ làm gì? Tội chó gì ai nghĩ đến chuyện ở lại đánh nhau để chết oan mạng!
Anh nghĩ lan man trên đường triệt thoái ra khỏi Huế. Qua hết cầu, Huy gặp Đại úy Chiêu, tay cầm chai rượu chát khổng lồ, túi đút chai rượu mạnh. Bao nhiêu tủi hờn, căm hận, buồn bực biến mất nhanh như viên đạn ra khỏi nòng súng. Huy và những người lính ngồi quây tròn giữa ngã tư đầu cầu Trường Tiền nhậu không mồi, không nước đá. Huy đập vỡ cổ chai bia rót từ đầu xuống. Thích thú vì từ bé đến lớn chưa bao giờ được tắm bằng bia. Đại đội Trưởng của Huy không biết từ đâu tới cho biết điểm hẹn đã thay đổi vì những kho đạn, kho xăng ở bến phà Thuận An đã bị cháy, không biết vì pháo kích hay vì đặc công. Điểm tập trung mới là bến phà Tân Mỹ. Đến bến phà Tân Mỹ khoảng 6 giờ sáng. Người đã tập trung ở đây rất đông nhưng phương tiện qua sông lại không có một cái. Bao nhiêu ghe, thuyền nằm hết ở bờ bên kia Phá Tam giang. Khoảng 11 giờ đại đội Huy vượt xong Phá Tam Giang. Hơn 12 giờ trưa đơn vị được lệnh di chuyển ra bờ biển. Vừa lên hết đụn cát cạnh làng Huy đã thấy ngay một chiếc tàu thật lớn mang số HQ-801 thừa sức chứa cả lữ đoàn đã đợi sẵn ở gần bờ không biết từ bao giờ. Nhưng Huy và những người lính thuộc đơn vị Thủy quân Lục chiến, nhiều người lính của những binh chủng, đơn vị khác không bao giờ lên được chiếc tàu hy vọng kia mà phải leo lên một chiếc xà lan khác để hứng chịu hoàn cảnh. Những cái xích sắt nghiến nát những đầu người. Tiếng máy nổ và tiếng nước vỗ đã át đi những tiếng thét, tiếng la và có thể, cả tiếng vỡ của những cái đầu, nhưng không có gì có thể che lấp được những mảnh quần áo và màu đỏ của máu cuộn theo chiều quay của xích sắt.
Màu đỏ của máu và những mảnh vải cuộn theo suốt lộ trình khoảng một trăm thước. Màu đỏ của máu và những mảnh quần áo chắc chắn còn dính cả thịt trồi thụt lên xuống xen lẫn với bọt nước … Cuối cùng Huy phải bỏ đường lên tàu thủy để trở lại đường bộ. Nhưng đường bộ phải chạy qua những chốt của lính cộng sản.
Chưa bao giờ bọn người này được bắn sướng tay đến như vậy. Mỗi tràng đạn ít ra cũng phải trúng vài
ba người. Nhưng ai ngã mặc ai những người chạy vẫn cứ chạy. Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người của đơn vị Huy đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ. Một quả lựu đạn nổ bung ở giữa …
Phần trên đây anh viết theo trích dẫn trong Tháng Ba Gãy Súng của Huy. Anh có thể trích dẫn thêm nhiều chi tiết khác. Nhưng quả tình quá thấm mệt, thật sự kiệt sức. Trong bãi máu bờ biển Thuận An, Tư Hiền. Tháng 3 năm 1975 có nhiều người anh quen thân. Không phải chỉ ở đơn vị Thủy quân Lục chiến như các anh Phúc, anh Tùng, hay Nghiêm, Liễn, Tiền … mà rất đông, rất đông nhiều người khác nữa. Có người anh không gặp lại từ hơn ba mươi lăm năm nay. Nay lại là một tháng 3 để đủ ba mươi sáu năm mà vẫn không thể nào quên. Không thể quên được kể cả sau cái chết. Đau hơn cái chết. Anh viết những dòng cuối cùng này tại Phòng
Biên tập SBTN&SET trước bàn làm việc của ĐHN, bên cạnh ghế ngồi trước đây của Huy. Trên màn ảnh máy computer anh sử dụng vẫn còn Email Address và Icon riêng của người vắng mặt nhưng nguyên hiện diện với hôm nay, tháng 3 …
“Cái đầu hói của vị nào ở sau đầu tôi đây?” “Này bạn, tôi đang ở trong một trạng thái tinh thần thơ mộng. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau được lắm.” “Trên nguyên tắc, tôi đang làm việc.” “Bận việc – bậy nào. Để tôi kể lại với anh câu chuyện đáng kể này. Hồi nãy, tôi ngồi dưới cây Giáng sinh nghèo nàn của mấy người bạn Đức của tôi và trong lúc tôi đang nói với họ về một đêm Giáng sinh năm xưa tôi sống dưới một pháo đài ở chiến tuyến phía bắc Pulutsk, bỗng dưng tôi thấy rõ ràng là tôi đang sống ở mặt trận. Mặt trận trở lại bao quanh tôi, thật sống, thật thực. Phải chăng là cả chiến tranh rồi cũng trở thành một kỷ niệm đẹp của con người?” “Tôi nghĩ anh không nên để cho tình trạng ấy xảy ra. Đạo Đức Kinh của Lão Tử có câu: “Võ khí là dụng cụ của đau khổ, không phải là vật để con người tự hào. Người khôn chinh phục mà không cần tỏ ra muốn chinh phục”. “Chi vậy? Bộ anh đã chuyển ngữ từ chủ nghĩa hoài nghi sang đạo Lão rồi ư?” 1 “Có chuyển nhưng chưa chuyển xong.” “Trước hết, tôi nhớ lại chú lính Đức cộng tác hữu hiệu nhất thời ấy của tôi – tôi và chú ta cùng viết truyền đơn và ra ý cho họa sĩ vẽ tranh: bức tranh bà mẹ Đức ôm con và người thiếu phụ Đức đứng khóc trước cảnh căn nhà đổ nát còn nghi ngút khói là những tuyệt tác phẩm của hai chúng tôi. Hai bức tranh đó có cả bài thơ bằng tiếng Đức đi kèm.” “Tôi biết. Tôi có nhặt được một tờ.” “Tôi nhớ lại những buổi chiều êm, chúng tôi ngồi trong xe phóng thanh đi lên mặt trận.” “Và giữa những bản nhạc tango, những người bạn Đức của anh đọc những lời kêu gọi những người lính Đức chiến hữu của họ quay súng bắn lại Hitler. Nhiều lần chúng tôi cũng leo lên miệng hầm để nghe nhờ những bản nhạc. Vô tư mà nói, tôi thấy những lời kêu gọi của anh có hơi… ngớ ngẩn.” “Ngớ ngẩn? Xin lỗi… Anh nhớ cho rằng chỉ nhờ những lời kêu gọi ấy, chúng tôi đã chiếm được hai thị trấn Graudenz và Elbing không phải bắn một viên đạn nào.” “Đúng. Nhưng cũng xin anh nhớ cho rằng chuyện ấy xảy ra vào năm 1945. Vào thời gian đó, khỏi cần phải anh kêu gọi, nước Đức cũng sắp đầu hàng.” “Bậy nào. Những chiến thăng nhỏ họp thành chiến thắng lớn chứ. Nếu không mở đầu bằng những cuộc đầu hàng nhỏ làm sao có cuộc đầu hàng lớn? Không biết đã có lần nào tôi kể cho anh nghe chuyện nàng Milka chưa nhỉ? Nàng là một sinh viên Viện Ngoại ngữ, tốt nghiệp năm 1941. Vừa ra khỏi trường nàng được điều động ngay đến đại đội của tôi để làm thông dịch viên. Một thiếu nữ mũi hin, nhanh nhẹn…” “Chờ chút. Phải nàng là người cùng đi với anh đến tiếp thu một căn cứ quân Đức đầu hàng không?” “Phải đó. Nàng tự kiêu lắm. Nàng rất thích được người ta ca ngợi. Tôi không dám trách nàng nửa tiếng. Nàng thích được tuyên dương để được trao tặng huy chương. Anh có nhớ cảnh mặt trận Tây Bắc khúc ngay cạnh bò sông Lovat không? Đoạn ở giữa Rahklits và Novo-Svinukhovo, phía năm Podtsepchiya đó. Chỗ ấy có một khu rừng.” “Chỗ ấy nhiều rừng lắm. Chỗ ở xa hay ở gần sông Redya?” “Ở gần.” “Tôi biết.” “Nàng và tôi đi chơi lang thang suốt một ngày trong khu rừng ấy. Lúc đó đang là mùa xuân – chưa hẳn là mùa xuân, hãy còn là tháng Ba. Chúng tôi lội trong những vũng bùn ngập đến ngang đôi giày bốt cao cổ chúng tôi đi dưới chân, cổ áo và mũ lông của chúng tôi ướt đẫm mồ hôi. Mùi mùa xuân hồi sinh tràn đầy trong không khí. Anh biết không… chúng tôi dắt tay nhau đi như hai người yêu nhau, hai người yêu lần đầu, như một cặp vợ chồng mới cưới. Không biết tại sao với một người đàn bà mới, mình lại cảm thấy mới tinh như đây là lần đầu mình yêu, mình lại yêu lại từ đầu. Yêu như một đứa trẻ. Ôi… cánh rừng dài như vô tận. Đây đó bốc lên những đám khói từ những khẩu đại bác quân mình đặt ở bìa rừng… Chúng tôi tránh đến gần những ổ súng đó. Chúng tôi đi lang thang như thế cho đến sẩm tối, người ướt đẫm mồ hôi và chứa chan hạnh phúc. Nàng làm tôi điên lên suốt một ngày. Rồi đến lúc tối mịt, chúng tôi tìm thấy một pháo đài bên trong không có đại bác không có lính…” “Pháo đài nổi?” “Anh nhớ không? Chắc là anh phải nhớ. Có rất nhiều pháo đài như thế được dựng lên ở đấy trong năm đó. Như những hang thú rừng. Bên trong lát ván, trên sàn gỗ có những đống củi thông, và mùi nhựa thông tiết ra từ những thân cột, mùi khói bốc ra từ đống lửa. Trong đó không có bếp, chúng tôi đốt lửa ngay trên mặt đất để sưởi. Trên mái có một cái lỗ nhìn thấu lên nên trời. Không có ánh đèn, chỉ có ánh lửa bập bùng. Lửa chiếu bóng chúng tôi lên vách. Anh nghĩ sao, Gleb? Đó là những giây phút đáng sống chứ?” “Tôi nhận thấy rằng trong những câu chuyện kể ở trong tù, bao giờ cũng có một người con gái. Người con gái bao giờ ở đầu chuyện cũng hoàn toàn trinh trắng và đến cuối chuyện, bao giờ cũng hết còn trinh trắng. Hình như với những tù nhân, điểm đó là điểm chính, điểm quan trọng nhất trong câu chuyện của mình. Anh có nghĩ rằng như vậy là chúng mình đòi hỏi công lý với điểm đặc biệt ấy không? Một người không mù ngay từ khi lọt lòng mẹ, nghĩa là một người mắt đã nhìn thấy trời xanh, mây trắng, nắng vàng rồi bị mù luôn luôn cần được những người còn nhìn thấy xác nhận với họ rằng trời vẫn xanh, mây vẫn trắng, nắng vẫn vàng. Một tù nhân cần được biết chắc rằng cuộc đời này vẫn còn những người đàn bà đẹp, sống thực, quyến rũ, đáng yêu… tự nguyện cho những anh đàn ông may mắn yêu họ. Anh chỉ nhớ lại có cái đêm đó trong chiến tranh vì đêm đó có anh là người đàn ông may mắn được yêu một người con gái đẹp trong một ổ súng giữa rừng vắng, không có kẻ thù nào chĩa súng bắn vào anh. Nhưng đêm đó cũng là đêm mà vợ anh khổ sở đếm đi đếm lại mãi những ấm phiếu mua đường, bánh mì, lòng lo âu không biết phải làm sao để con anh có thể tạm no được trong suốt một tháng. Và đêm đó cũng là đêm ở khám đường Bytyrskaya, xà lim số 73…” “Ở từng thứ hai, cuối cùng của một lối đi hẹp…” “Đúng. Ông giáo sư trẻ tuổi chuyên về Sử ở Mạc Tư Khoa tên là Razvodovsky, người vừa bị bắt và chưa từng sống ở mặt trận ngày nào, đã thành công rỡ ràng trong việc chứng minh với những luận cứ xã hội, lịch sử một cách thông minh và hùng hồn rằng chiến tranh cũng có mặt tốt. Và ở xà lim đó có những tù nhân cũng còn trẻ như ông giáo sư nhưng đã từng chiến đấu ở khắp các mặt trận, trong tất cả những binh chủng… thiếu chút nữa đã ăn thịt sống ông ta. Những người này tức giận và họ nói rằng, không, chiến tranh không có gì tốt đẹp hết. Tôi ngồi ngậm miệng nghe họ nói. Razvodovsky cũng có những lý lẽ khá vẵng. Có lúc tôi cho rằng hắn đúng. Nhưng tôi không dám ra mặt cãi lại những người lính kia. Sự kiện làm tôi đồng ý với ông giáo sư thường dân cũng chính là sự kiện đã làm cho tôi khác với những người lính này. Đó là việc tôi là một sĩ quan pháo binh phục vụ trong một đơn vị pháo chuyên bảo vệ Bộ Tư lệnh. Lev, thực ra trong suốt thời gian ở mặt trận, tôi không làm gì ngoài việc ngồi yên trong những ổ súng thỉnh thoảng ra lênh bắn vài phát vu vơ thị oai. Tôi không phải dự một cuộc tấn công nào, tôi không phải đẩy binh sĩ dưới quyền tôi vào chỗ chết, tôi cũng không phải rút lui, không phải ra lệnh cho người khác ở lại để chết. Chiến tranh của tôi là như thế, và do đó tôi có thể thấy chiến tranh tốt, chiến tranh đẹp…” “Tôi không mốn nói đến chuyện ấy…” “Tất cả những gì đẹp, vui, êm đềm nổi cả lên trên. Chúng ta thường quên đi những gì làm cho chúng ta khó chịu. Những lần đoàn Junker nhào xuống thả bom làm thân xác tôi suýt nữa tan tành ở Orel, tôi thấy không có gì thú vị cả. Không, Lev… chiến tranh tối chỉ là trận chiến tranh đã qua, đã chấm dứt.” “Tôi không nói là chiến tranh tốt đẹp, tôi chỉ nói là những gì chúng ta nhớ lại đều tốt đẹp.” “Đúng. Và tôi hy vọng rồi sẽ có ngày chúng ta nhớ lại những ngày sống trong những trại tập trung là đẹp. Cả trong những trại tạm trú.” “Trại tạm trú? Như Gorky? Girov? Không? Không đời nào…” “Đó là bởi vì ở những nơi đó anh bị tước đoạt nhiều thứ quá nên anh không còn vô tư nữa. Xong anh cần nhớ rằng ngay ở những nơi đó cũng có những người sung sướng chứ? Ở đó vẫn có những tù nhân no đủ như là những người giữ nhà tắm, ở đó có những người có thể ăn nằm với những nữ tù nhân, những người đó có thể chân thành nói rằng ở trên trái đất này không có đâu sướng bằng ở trong những trại giam tạm trú. Hạnh phúc của con người ta là một cái gì tùy thuộc từng người, một giả tưởng.” “Tiếng “hạnh phúc” phát sinh từ một tiếng có nghĩa là giờ đây, lúc này…” “Xin lỗi giáo sư. Ông nên đọc Vladimir Dahl. “Hạnh phúc” phát xuất từ một tiếng có nghĩa là số phận của người ta, là những gì người ta muốn có ở đời…” “Ấy… lời giải thích của tôi cũng là của Dahl.” “Lạ vậy. Lời giải thích của tôi cũng thế.” “Mình phải tìm nguyên nghĩa tiếng hạnh phúc ở khắp các thứ tiếng nói trên thế giới mới được. Tôi sẽ thực hiện cuộc truy nguyên này.” “Anh thì cái gì cũng phải… Phải thế này, phải thế nọ…” “Anh có đọc phần thứ hai tác phẩm Faust chưa nhỉ?” “Anh nên hỏi tôi đã đọc phần thứ nhất chưa. Ai cũng nói rằng đó là một tuyệt phẩm, một sáng tạo của thiên tài, nhưng chẳng ai chịu đọc cả. Hoặc người ta chỉ biết nó nhờ Gounod.” 2 “Phần đầu không có gì khó hiểu hết. Phần đầu của Faust có những câu như: Tôi không có gì để nói về mặt trời và trái đất Tôi chỉ nhìn thấy sự đau khổ của con người. ” “Hai câu đó nghe được.” “Hoặc: Những gì chúng ta cần, chúng ta không biết. Chúng ta biết những gì chúng ta không cần.” “Hay.” “Phần thứ hai nặng hơn, tôi nhận là nặng. Nhưng dù vậy, tư tưởng chứa đựng ở đó cũng kỳ diệu biết là chừng nào. Anh biết về bản hợp đồng ký kết giữa Faust và Mephistopheles. Mephistopheles chỉ được nhận lãnh linh hồn của Faust khi nào Faust kêu lên: “Ồ… Thời gian, xin ngừng lại…”. Nhưng bất kể Mephistopheles đem lại cho Faust những gì – sự trở lại của tuổi trẻ, tình yêu của Marguerite, những cuộc chiến thắng rực rỡ của Faust trước những kẻ thù, sự giàu sang vô tận, sự hiểu biết những bí mật của cuộc sống – nhưng vẫn không có gì có thể làm cho Faust thốt lên câu nói ấy. Năm tháng qua. Chính Mephistopheles cũng mệt mỏi vì việc đuổi theo mãi con người không bao giờ chán sống ấy. Y thấy không cách nào có thể làm cho con người sung sướng hoàn toàn và y đã có ý định từ bỏ cuộc theo đuổi. Thế rồi Faust lại già đi một lần thứ hai, trở thành mù, ra lệnh cho Mephistopheles tụ họp cả trăm ngàn công nhân lại để đào sông và tháo nước từ những cánh đồng lầy. Trong bộ óc hai lần già của Faust, bộ óc mà Mephistopheles cho là đã trở thành điên khùng, nẩy ra một tư tưởng lớn: làm cho nhân loại sung sướng, hạnh phúc. Theo lệnh của Mephistopheles, bọn quỷ sứ dưới Địa ngục đem cuốc xẻng lên để đào huyệt chôn Faust. Mephistopheles lúc ấy chỉ muốn chôn Faust cho xong chuyện và không còn chờ đợi bắt linh hồn của Faust nữa. Faust nghe thấy tiếng động của những lưỡi cuốc trong lòng đất nên hỏi: “Chi đó?”. Mephistopheles, trung thành với bản tính đùa giỡn của y, trả lời Faust rằng những cánh đồng lầy đã hết nước đọng. Những nhà phê bình văn nghệ của chúng ta vẫn thường phân tích đoạn này theo quan niệm chủ quan, họ cho rằng lúc ấy Faust sung sướng vì nghĩ rằng mình đã đem lại được hạnh phúc cho mọi người nên hài lòng kêu lên: “Ồ… Thời gian… xin ngừng lại…” Nhưng nếu phân tích khách quan hơn, ta có thể thấy rất có thể chủ ý của Goethe là chế nhạo ảo ảnh hạnh phúc của con người. Bởi vì thật ra, Faust tuy sống lâu và nhiều quyền lực là như thế, vẫn chẳng làmd c chuyện gì đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Sau khi thốt lên câu nói đó, bọn quỷ sứ đẩy Faust xuống mồ ngay. Như vậy nghĩa là gì? Một bản nhạc ngợi ca hạnh phúc hay là chế nhạo ảo ảnh hạnh phúc?” “Ồ… Lev, bạn tôi. Tôi thích bạn trong những lúc thế này, khi bạn tranh luận với trái tim và diễn tả tư tưởng một cách thông mình, khi bạn không dán những nhãn hiệu lên những sự kiện.” “Tôi biết tôi chưa bao giờ làm anh hài lòng cả. Nhưng anh nghe chuyện này: Có một lần trước chiến tranh, tôi đứng trong một giảng đường đại học, giảng cho các sinh viên nghe về quan niệm hạnh phúc trong tác phẩm Faust. Tôi bỗng buồn rầu cảm thấy rằng cuộc đời này không có hạnh phúc, không có cái gì có thể gọi là sung sướng. Tôi nói như thế và có một sinh viên đưa lên cho tôi một mảnh giấy nhỏ xé từ một cuốn sổ. Mảnh giấy đó có hàng chữ: “Nhưng tôi đang yêu, và tôi đang sung sướng. Giáo sư trả lời sao?” “Và anh trả lời sao?” “Làm sao có thể trả lời được?”
Gounod là một nhà soạn nhạc người Pháp ở thế kỷ XIX, ông soạn vở nhạc kịch Faust theo tác phẩm văn chương Faust của Goethe, văn hào Đức. Người ta biết đến Faust nhiều nhờ vở nhạc kịch của Gounod hơn là coi chính bản.
Hai mươi lăm năm trước, vào đúng ngày 1 tháng 5 năm 1950, Tổng Thống Henry Truman của Hoa Kỳ đã ký những văn kiện chánh thức “cho phép” một viện trợ quân sự đầu tiên cho các quốc gia Đông Dương.
Năm tháng sau đó, vào tháng 9 năm 1950, một phái đoàn cố vấn quân sự Hoa Kỳ đến Sài Gòn.
Từ 4 giờ sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, đúng hai mươi lăm năm sau, người dân Sài Gòn tập họp, hay bị tập họp, ở trước dinh Độc Lập. Chánh quyền mới đã quyết định tổ chức “ngày chiến thắng của nhân dân Việt Nam”
Nhà văn Duyên Anh tản bộ đi dạo. Ở chỗ này các bộ đội Bắc Việt nói chuyện nhã nhặn với dân chúng. Ở xa xa, tại trụ sở của Hội Nhà Văn Việt Nam trên đường Đoàn thị Điểm, một tấm biểu ngữ được giăng ngang đường mang giòng chử: “Hội Các Nhà Văn Yêu Nước”. Tại nghiệp đoàn báo chí Việt Nam nằm trên đường Tự Do, một đại lộ Champ Élysée của Sài Gòn, lại có một biểu ngữ “Nghiệp Đoàn các Nhà Báo Yêu Nước” nữa. Ông Duyên Anh tự hỏi không biết có bao nhiêu nhà văn và bao nhiêu nhà báo sẽ đi qua phía bên kia? Còn có những ai sẽ thích chuyển nghề, để trở thành thợ hồ hay phu đạp xe xích lô, còn hơn là viết cho báo chí mới? Ở chỗ nọ, ông Duyên Anh thấy có trên một chục chiếc quan tài của bộ đội.
Chánh quyền mới không có mời giục các công chức đi dự lễ 1 tháng 5. Kỹ sư Văn đến văn phòng của mình. Có một sự thay đổi duy nhất được nhận thấy, với quá nhiều sự vắng mặt, có sự hiện diện của bộ đội mang súng AK.47 và nhất là cán bộ của Bắc Việt .Một anh cán bộ và nhiều bộ đội kèm hai bên mỗi anh trưởng nhiệm sở hay giám đốc trong Bộ Công Chánh.. Các anh cán bộ nói giọng Bắc, họ tự giới thiệu họ là kỹ sư hay tiến sĩ của một ngành chuyên môn. Có một số đã ra Hà Nội sau Hiệp Định Genève 1954.. Họ hỏi xem Bộ Công Chánh cũ hoạt động ra sao?
Người ta bắt đầu làm việc lại.
Kỹ sư Văn rất ngạc nhiên vì các anh cán bộ không có chút khả năng nào hết, nếu không muốn nói là quá dốt, vì ngay cả một vài công thức về toán học họ cũng không biết. Khi ông Văn nói về những kim loại của Miền Bắc , các cán bộ kể ra toàn là những mỏ chưa ai từng biết tới ở Việt Nam.
Có một số cán bộ đi đến chùa Quan thế Âm. Họ bảo với những người tỵ nạn đang ở đó:
_ “Các anh hãy về nhà đi.”
Hòa thượng Thích Thiện Huê ghi nhận được những nét đặc biệt giữa những người kháng chiến của CPLTCHMN và bộ đội chánh quy Bắc Việt . Những kháng chiến quân thì mặc đủ thứ quần áo, còn bộ đội thì ăn mặc khá hơn. Họ có vẻ lễ phép hơn. Đối với những người có tuổi, họ xưng con, còn các anh kháng chiến thì họ giữ khoảng cách, đôi khi còn hống hách nữa.
Trung sĩ Thưởng dùng xe đạp để đi đến Vũng Tàu. Trời nóng như thiêu đốt, anh gặp rất nhiều xe và chiến xa bị cháy, và cả những thi hài của người chết nữa. Đó đây la liệt đủ loại vũ khí, quân phục của binh sĩ Miền Nam. Anh Thưởng đèo phía sau xe đạp của anh một cô gái và một đứa trẻ, cả hai anh đều không quen biết. Cứ mỗi chặn đường 10 cây số là anh phải ngừng lại. Các “cọp 30” dựng lên rào cảng để kiểm soát người qua lại. Trung sĩ Thưởng tự hỏi mình khi đã rời khỏi Sài Gòn rồi thì mình sẽ làm gì đây? Uống một tách cà phê anh phải trả tới 500 đồng và cho em bé uống một tách sửa anh cũng phải trả 500 đồng. Trung sĩ đã được lãnh tháng lương cuối cùng của anh, 18.000 đồng. Một chiếc phà tạm đưa họ qua một cây cầu sập. Anh chia tay với cô gái và em bé, họ tiếp tục lên xe Lam đi nữa.
Đại tá Hòa trở lại đài truyền thanh và truyền hình ở Sài Gòn, ở đó đã tập trung lại một số nhân viên chừng 50 người. Nhiều người còn mặc đồng phục màu xanh dương. Ngoài cổng thì có người gác, mặc thường phục. Ngay trong văn phòng của mình, anh cựu giám đốc đài truyền hình gặp một người dân sự và ông cựu Tư lệnh phó Vùng 2 Chiến Thuật, tướng Phạm đình Thứ (tướng Lam Sơn). Ông này làm đại tá Hòa sửng sốt khi ông nói:
_ “Tôi ở trong Ủy Ban Cách mạng của Sài Gòn.
Có nhiều bộ đội Bắc Việt chạy khắp nơi trên lầu. Đại tá Hòa mặc thường phục tự trình diện với các sĩ quan Bắc Việt làm họ cũng thấy ngạc nhiên:
_ “Tôi là đại tá Hòa, Giám đốc đài truyền thanh truyền hình và kỹ thuật điện ảnh. Tôi đến đây để bàn giao trách vụ.
_ Tốt lắm, Có thể cho phát thanh được không? những người đối diện trả lời
_ “Tôi sẽ coi lại, tôi xem lại máy móc đã. Tất cả thiết bị đều còn tốt hết. Có đầy đủ nhân viên kỹ thuật, như vậy là chúng ta có thể cho phát thanh được.”
Đại tá Hòa đến đây để bảo vệ cho nhân viên của ông . Những người chiến thắng có thể cũng tỏ ra là người hiểu biết, tại sao không thử hợp tác với họ?
Ở Bộ Tổng Tư Lệnh Bắc Việt, tướng Dũng và Bộ Tham Mưu của ông cùng một lúc làm lễ mầng Giải Phóng Miền Nam và cả ngày lễ Quốc Tế Lao Động.. Người ta dọn lên một số thức ăn trên bàn tiệc, có cả bánh ngọt, mứt, kẹo rượu ngọt và sô đa… Phạm Hùng thấy có một chai rượu. Một cộng sự viên của viên Tổng Tư Lệnh giải thích:
_ Chúng tôi đồng thời cũng mừng sinh nhật của Tướng Văn tiến Dũng.
Ở góc rừng này thật là yên tĩnh, không có một tiếng súng nào. Phạm Hùng đề nghị nâng ly:
_ “Tôi xin nâng ly mầng cho tất cả những người đã mang lại chiến thắng ngày hôm nay cho chúng ta. Hồ chí Minh muôn năm, đảng cộng sản Việt Namanh hùng muôn năm, Bộ chánh trị đảng muôn năm.”
Viên Tổng Tư Lệnh lên xe đi xuống Sài Gòn. Ông ta thích thú vì biểu ngữ ở cổng các trại lính của Miền Nam: “Danh dự – Trách nhiệm – Tổ Quốc”. Ở Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Cảnh sát ông ghi nhận là: “chúng ta đã tìm thấy còn nguyên vẹn tất cả các hồ sơ tối mật” Máy điện toán vốn đã ghi lại tất cả căn cước, và sơ yếu lý lịch của trên một triệu quân nhân , vẫn còn chạy tốt. Đối diện với sự thông minh và năng lực của dân tộc Việt Nam ta, các máy điện toán không có lời nói cuối cùng”. Sau đó tướng Dũng đến trại Davis.. nơi đây, trong phòng họp báo, ông tập họp các cấp và các chánh trị viên của các quân đoàn lại.
Ở Bộ Chỉ Huy của mình, tướng Trần Văn Trà” tiếp tục điều khiển các cuộc hành quân tảo thanh các đơn vị cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, đang tập họp lại từng đại đội, có nhiều chỗ cả tiểu đoàn, trong vùng rừng bụi chung quanh Sài Gòn.
Tướng Trà nhận được mộc điện tín của “anh Ba”, đồng chí Lê Duẫn, báo tin tướng Trà sẽ là Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn- Gia Định và Trà phải đến ngay Thủ đô Sài Gòn.
Vừa đến thành phố Hồ chí Minh là tướng Trà đến ngay dinh Độc Lập. Nhưng trước khi làm việc ông đi một vòng trong thủ đô. Trở về dinh Độc Lập, tướng Trà theo lệnh của Bộ Chánh trị đã cho lệnh trả tự do cho các người có trách nhiệm trong chính phủ bù nhìn cuối cùng của Miền Nam Việt Nam gồm có Tổng Thống Dương Văn Minh, Phó Tổng Thống Nguyễn văn Huyền, Thủ Tướng Vũ văn Mẫu. Sau khi có vài lời giáo hóa với những người này về đường lối chánh trị “đúng đắn, ôn hòa và khoan hồng của cách mạng ” , và rằng “Cách mạng dùng công lý tranh đấu với bạo lực, dùng nhân đạo thay cho tàn bạo” …v.v.. Quá khứ là quá khứ. Theo tướng Trà thì những người đối thoại với ông có vẻ “cảm động” lắm! Ông Dương Văn Minh nói:
_ “Tôi rất sung sướng được là một công dân của một nước Việt Namđộc lập.
Và ông Nguyễn văn Huyền xác nhận:
_ “Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi rất hãnh diện về những thắng lợi oai hùng với chiến thắng của đất nước.”
Vân vân và vân vân……
Trong hồi ký của mình, tướng Trà còn thêm: Một người như ông Huyền, không bao giờ xử dụng được những danh từ như ” chiến thắng oai hùng”. Trong sự mong muốn bình thường hóa Lịch Sử, những người có trách nhiệm của Miền Bắc không quá chú trọng đến một chút thực tế nào. Trên thực tế, tướng Minh chỉ có nói:
_ “Mặt Trận rất xứng đáng với chiến thắng của mình. Chúng tôi tất cả đều có tranh đấu cho một lý tưởng, đó là sự hòa hợp và sự hòa giải của dân tộc Việt Nam và hòa bình cho Việt Nam.”
Chánh quyền mới không bao giờ tin ở những trạng thái vui vẻ tốt đẹp của vị cựu Tổng Thống. Ông này bị “quản thúc tại gia” ở nhà ông ta. Không một nhà báo nào được phép vào thăm ông ta. Các ông Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu cũng vậy, đều bị quản thúc tại gia.
Lúc 19 giờ, đài truyền hình phát hình lần đầu tiên: có một vài hình ảnh của những kháng chiến quân thuộc CPLTCHMN làm cảnh cho một bản quốc ca, và một vài mẫu tin tức. Người ta không nhận các xướng ngôn viên mà đại tá Hòa đã cố gắng xin giữ lại. Người ta tuyên bố:
_ Bây giờ anh là cố vấn kỹ thuật, mỗi ngày anh đến đây.
Về sau trong tuần, ông Hòa thấy có một người đến, với nhiều anh cận vệ, một người mà người ta gọi là “anh chín”. Đó là nhà thơ Tố Hữu, một thành viên trong Bộ Chánh trị Trung Ương cộng sản . Ông nói chuyện chơi với ông cựu giám đốc đài truyền hình, đi một vòng xem các phòng thâu hình , và hỏi đại tá Hòa:
_ “Anh nghĩ gì về các bản nhạc mà đài Hà Nội đã cho phát thanh?
_ Nhạc của quý vị giống nhạc Tàu quá!
Một người phó của ông Tố Hữu nhảy dựng lên; một người khác đến chiếc đàn dương cầm và chơi một bản:
_ Đây có phải là Tàu không?
_ Vâng đúng là Tàu
Anh kia lại đàn môt bản khác:
_ Còn bản này không, bản này thì không.
Tố Hữu bỏ đi…
Các anh bộ đội đi khắp thành phố, họ mua viết Bic, đồng hồ, máy thu thanh và khám phá ra đây là một xã hội tiêu thụ. Dân chúng Sài Gòn cũng hơi yên tâm, các bộ đội cũng dễ thương và chất phác đấy chứ ?. Các viên chức từ Hà Nội vào thì ghi các công ty vào danh mục và xếp loại họ, Các vườn trồng cây thì được xếp vào loại K1, các nhà máy thì loại K9. v.v…
Một sĩ quan Bắc Việt đến gặp đại tá bác sĩ Fourré ở bệnh viện Grall.
_ Tôi là thiếu tướng Hùng. Ông có nhận săn sóc các bệnh binh của tôi không?
_ Dĩ nhiên rồi.
_ Vỉệc đó chúng tôi phải trả bao nhiêu?
_ Đối với các ông thì miển phí.
Rất bằng lòng, tướng Hùng yêu cầu là các bệnh binh của ông phải được nằm riêng, trong một dãy nhà đặc biệt. Người ta sẽ biệt phái đến một bác sĩ để săn sóc họ. Trong nhà xác của bệnh viện hiện đang còn xác của tướng Phạm văn Phú.
Có rất nhiều người dân Miền Nam không có bệnh hay bị thương gì hết, và cả một số không ít cảnh sát đều bám cứng vườn của bệnh viện Grall.
Hai ông Lê Duẫn và Võ nguyên Giáp đáp xuống Tân Sơn Nhất. Họ ôm chặt ông Lê đức Thọ, người chiến thắng vế chánh trị và tướng Dũng, người chiến thắng về quân sự.
Đài phát thanh loan báo là thành phố “phải là một thành phố cách mạng , văn minh, sạch sẽ, vui tươi và mát mẻ. Theo nguyên tắc tình nguyện bắt buộc, thì các sinh viên sẽ làm việc đó, họ được trang bị xẻng, thùng và chổi. Các biểu ngữ cũ được thay thế bằng các biểu ngữ mới: “Sài Gòn giải phóng muôn năm”, “Hòa bình, Độc Lập, Dân Chủ, Phú Cường” “Nhân Dân và Quân đội đoàn kết để xây dựng xã hội chủ nghĩa muôn năm”.
Trong niềm hân hoan quân sự của cuộc giải phóng này, rất khó mà tính được con số dân chúng Sài Gòn đã coi đây chỉ là một sự chiếm đóng; còn đối với chuyện người Miền Bắc đến dây, những người Bắc Kỳ (nguyên văn của tác giả: “Tonkinois”), thì người ta chưa thấy được một triệu chứng đầu tiên nào của những ai có trách nhiệm nào cả. Do đó mà có một số lớn thành viên của lực lượng thứ ba bị gạt ra ngoài, như linh mục Chân Tín, người đã gởi cho cơ quan Ân Xá Quốc Tế các hồ sơ về những nhà tù ở Miền Nam Việt Nam. Một nhà báo người Ý, ông Tiziano Terzani, đã tìm thấy được một nữ sinh viên 22 tuổi, Nguyễn thị Mẫn, vốn đã bị đày ra Côn Sơn. Cô đang theo các “lớp huấn luyện”. Thật ra những người được trả tự do thuộc lực lượng thứ ba, đều không được tự do như họ tưởng.
Lần hồi, một cách chậm chạp, tỉ mỉ và quan liêu, các quận của Sài Gòn được chia ra xuống thành nhiều khu vực, nhiều khu phố, nhiều khóm, phường, và tổ (gia đình). Ở mỗi một cấp như vậy người ta đều có chỉ định một người trách nhiệm. Một anh công an có nhiệm vụ theo dõi, coi chừng. Dân chúng được phân chia ra thành nhiều loại, từ 9 đến 12 tuổi, từ 13 đến 17 tuổi, từ 17 đến 33, từ 34 đến 60, từ 61 đến 88. Tất cả những ai đến thành phố Hồ chí Minh đều phải được khai báo. Nếu họ ở qua đêm thì họ phải có giấy phép. Sự thanh lọc của chế độ công an trị được đặt trên thành phố cũng giống như một cái khuôn được đặt trên một cái bánh vậy.
Các “gia đình của giải phóng” đến nhập vào với cán bộ, từ Hà Nội vào, họ chiếm các khách sạn, các biệt thự, treo quần áo đầy chung quanh các hồ bơi của Câu lạc bộ Thể Thao. Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời (CPLTCHMN) đã xóa đi hai chữ “lâm thời”, nhưng hình như họ không phải là thành phần cai trị . Ở khắp mọi nơi, từ nhà đèn cho tới bưu điện, các anh đại diện của CPLTCHMN đều có một hoặc có nơi hai người Bắc Việt chánh thức kèm một bên. Dân chúng đang thiếu tiền. Không một người nào được quyền rút trên 10.000 đồng ở ngân hàng của mình. Giá của một kí lô đường lên đến 2.000 đồng .. Những người Bắc Việt khám phá ra 4 kho vàng: xe đạp, máy truyền hình, quạt máy, và tủ lạnh. Những chiếc tàu đậu ở bến cảng Sài Gòn chở đầy bàn ghế, máy móc, xe xích lô máy, mô tô, máy điều hòa không khí….
Một cô đào hát nổi danh, cô Kim Cương, xuất hiện với cấp bậc thượng tá. Ông Trần xuân Ẩn, một nhà báo của tờ Time, rất tự nhiên, đã đứng vào hàng ngũ của những người đáng kính trong Ban Quân Quản của thành phố.
Những người ngoại quốc, các nhà ngoại giao, nhà báo, các thành viên cơ quan cứu trợ… đã tìm kiếm nhưng không gặp được người nào trong CPLTCHMN , một chính phủ cách mạng ma. Chánh quyền quân sự đóng ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát cũ, có những nhân viên an ninh mặc quân phục màu hường canh gát. Trên căn bản các anh này thì không dễ thương bằng các anh bộ đội. Tư thất của đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin được đổi thành Bộ Chỉ Huy của Ủy Ban Cách mạng quận nhứt và khách sạn Star được chuyển thành nhà thổ cho quân nhân, mặc dầu có lời kêu gọi về đạo đức ra rã suốt ngày trên các loa phóng thanh.
Một vài người dân Sài Gòn kiên nhẫn chờ đợi. Dù sao thì những người mới có trách nhiệm cũng đang có nhiều bài toán phải giải quyết. Đồng bạc của Bắc Việt đã bắt đầu xuống giá., sau nhiều ngày cao giá hơn đồng bạc của Miền Nam và đồng Mỹ kim. Đồng Mỹ kim đứng giá, chánh thức 1 Mỹ kim đổi được 18,5 đồng Bắc Việt nhưng giá chợ đen là 20 đồng Bắc Việt.
Nhiều người dân Sài Gòn khác thì phát hiện được nhiều dấu hiệu cho thấy sắp có một cuộc chuyển đổi qua chánh thể cộng sản. Người ta loan báo nhiều cuộc quốc hữu hóa, và người ta ban bố nhiều quy định nghiêm khắc liên quan tới chuyện để tóc dài.. Không một ai cưỡng lại được những chuyện quốc hữu hóa, nhưng người dân Sài Gòn nhanh chóng từ chối áp dụng những quy định về tóc của họ.
Rõ ràng là Miền Bắc đã chiếm Miền Nam. Miền Nam đã chống lại và một cách êm thấm sẽ làm cho Miền Bắc ô nhiễm….
Ngày 7 tháng 5, vào buổi sáng, chiếc tàu Pionner Commander đến hải cảng của đảo Guam. Trên đường đi, đã có 3 trẻ em chết và có 3 đứa bé chào đời. Trên tàu có một cô bé tên là Vũ Lệ Thu, 11 tuổi là gái mồ côi và bị tật nguyền được Thủy Quân Lục Chiến nhận làm con nuôi.
Đứng nhìn 4.670 người tỵ nạn đang bước lên bờ, đại úy Moyer kiểm điểm lại tình hình. Chỉ có những cái chết của 3 trẻ nhỏ, ngoài ra không có gì tệ hại đã xảy ra trên tàu. Chiếc tàu bị một luồng bệnh nhặm mắt làm cho cả nhiều người lính Thủy Quân Lục Chiến cũng bị lây theo.
Các người tỵ nạn đã trao cho biệt đội “India” một số đĩa sơn mài kèm theo một bức thơ:
_ “Ngày 7 tháng 5, năm 1975,
Kính gởi Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến,
Của những người dân Miền Nam Việt Namtỵ nạn trên tàu Pionner Commander,
Đây là một món quà tượng trưng rất khiêm nhường để nói lên lòng biết ơn sâu xa về hành động anh hùng mã thượng của tiểu đoàn này khi có cơ hội được nghe một tiếng kêu gọi khẩn cấp. Không có một lời nào để chúng tôi có thể nói lên sự cám ơn của chúng tôi ….. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến luôn luôn có mặt để bồng bế trẻ con giúp cho cha mẹ chúng nó lên tàu… Họ luôn luôn có mặt khi cómột người nào đó ngã bệnh, và cần có được sự chăm sóc của bác sĩ… Và trên hết tất cả, họ vẫn có nét mặt tươi cười dù là họ đã mệt nhọc làm việc suốt 24 giờ liền. Không bao giờ có một vấn đề gì gọi là kỳ thị giống dân hay tự tôn mặc cảm…. Chúng tôi rất thích thú được xem họ là bạn… Xin hãy nhận lấy món quà nhỏ mọn này như là một vật kỷ niệm của những người bạn của các anh trong một thời điểm chủyếu nhất của tình bằng hữu….”
Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến lên xe buýt. Họ sẽ đi về Okinawa ba ngày sau.
Trong một cuộc phỏng vấn được thâu băng trước của chương trình “Ngày hôm nay” thuộc đài NBC ngày 8 tháng 5, ông Henry Kissinger tuyên bố là ông không có từ chức.
_ “Trong những điều kiện hiện tại, ra đi vào một thời điểm lo âu trong lúc ai cũng tìm một lối xử sự cho mình, tôi nghĩ rằng đó không phải là một công tác cho đất nước nếu tôi ra đi khi mà Tổng Thống đang tín nhiệm tôi và yêu cầu tôi ở lại nhiệm sở của mình …. Nếu chúng ta nhìn lại những gì đã được thực hiện trong những năm sau cùng này với Trung Quốc, với Liên Xô, trong lãnh vực năng lượng… vừa rút được các đơn vị của chúng ta về từ Việt Nam, vừa đưa được các tù binh của chúng ta về nước và vừa đưa ra một công thức có thể dẫn đến hòa bình ở Trung Đông…, tôi không nghĩ là phải nói một cách công bằng là đường lối chánh trị quốc ngoại của chúng ta đã thất bại…. Có một số thất bại, nhưng hầu hết những thất bại của chúng ta đều do những vấn đề chánh trị nội bộ….”
Dù cho có những thất bại nào đi nữa thì các cường quốc tiên tiến cũng vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục đứng vững với những thất bại đó. Ngày mai này ông Philip Habib sẽ thảo ra cho ông Tổng Trưởng Ngoại Giao một giác thư “Hành Động”. Hoa Kỳ đã yêu cầu nước Pháp đại diện cho chúng ta ở Việt Nam. Người Pháp đã chấp thuận nhưng còn đợi sự đồng ý của chánh quyền Sài Gòn trước khi có quyết định chánh thức. Chánh quyền của thành phố Hồ chí Minh đã nhờ quốc gia Algérie coi giùm tài sản của Miền Nam Việt Nam ở Hoa Kỳ.
Ông Habib đã phân định được 3 loại vấn đề trong hiện tại:
1)- Chín trăm quân nhân được coi là mất tích và 1.400 người Mỹ chết trận chưa tìm được hài cốt.
2)- Có khoảng 50 người Mỹ đã ở lại Miền Nam Việt Nam: 9 thường dân Mỹ bị bắt ở Ban Mê Thuột và Phan Rang; và có những người đi giảng đạo, nhà báo, các bác sĩ và y tá đã tình nguyện ở lại Việt Nam.
3)- Chánh Phủ Hoa Kỳ và các Hiệp Hội của Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam đã có một số tài sản ước lượng chừng 100 triệu Mỹ kim.
Ngoài ra còn có từ 50 đến 100 triệu Mỹ kim đã được ký thác vào các ngân hàng Hoa Kỳ qua các ngân hàng Việt Nam. Có những ký thác khác của Miền Nam Việt Nam ở các ngân hàng ngoại quốc, khoảng chừng 40 triệu Mỹ kim. Tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thạnh Đốn và các lãnh sự quán ở Nhiêu Do và Cựu kim Sơn, kể cả chương mục của họ trong ngân hàng, được trị giá khoảng 3 triệu Mỹ kim.
Liệu có nên cho Algérie nhận trách nhiệm quản trị những tài sản của Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Kỳ hay không? Một trong các lý do bênh vực cho cuộc dàn xếp này: Người Mỹ còn giữ một phương tiện liên lạc với cựu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Người Algérie sẽ được thỏa mản, Người Mỹ giữ tất cả những sự chọn lựa cho mình “nhằm vào sự tổ chức giao tế trong tương lai”
Đi ngược lại với sự dàn xếp này: Hoa Kỳ sẽ công nhận ngầm chánh quyền cũ của Việt Nam Cộng Hòalà đại diện chánh thức cho Miền Nam Việt Nam. Ở Hoa Kỳ cũng như ở ngoại quốc, điều này có thể là một quyết định quá hấp tấp và không đúng.
Dù muốn dù không, từ ngày 9 tháng 5, Bộ Ngoại Giao, qua ông Philip Habib, không loại trừ một sự bình thường hóa giao dịch với một nước Việt Nam mới bất kỳ trong kỳ hạn nào. Trong số các nước tiên tiến, các quốc gia khổng lồ và lạnh nhạt, thì Hoa Kỳ là quốc gia ít có hận thù nhất.
Ngày 15 tháng 5 là ngày sinh nhật thứ 85 của Hồ chí Minh. Đã bắt đầu có những buổi lễ mầng thành phố Hồ chí Minh được giải phóng. Các buổi lễ này được tổ chức trong nhiều ngày. Một khán đài danh dự được dựng lên ngay trước dinh Độc Lập, có cờ xí và cây kiểng chung quanh.
Trong một ngày nắng tốt, từ 8 giờ sáng, người ta nhận thấy đã có mặt ở khán đài ông già Tôn đức Thắng, có dù che, chủ tịch danh dự của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một kẻ nổi loạn hồi xưa ở Biển Đen (Nga la Tư). Ngồi hai bên cạnh ông ta là Thủ Tướng CPLTCHMN Huỳnh tấn Phát, tóc ngắn màu xám tro, ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng, và bà Nguyễn thị Bình, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao. Ông Lê đức Thọ tươi cười như tướng Trần Văn Trà ngồi bên cạnh các sĩ quan mặc quân phục dạo phố màu xám nhạt, đội mũ cát kết có băng đỏ, ngực đeo đầy huy chương theo kiểu Liên Xô. Đức Giám Mục Sài Gòn được thấy bên cạnh vài nhà sư Phật Giáo. Ông Pierre Brochand ngồi hàng dưới cùng của khán đài. Lúc ông dùng xe đạp đi dạo, ông ta đã thấy chủ tịch Mặt Trận Nguyễn hữu Thọ đi một vòng thành phố như một khách du lịch nhưng trong một xe du lịch của chánh quyền.
Trước giờ diễn hành, ông Huỳnh tấn Phát, Chủ tịch CPLTCHMN, đọc một bài diễn văn, trong đó ông cho biết là Chánh Phủ mới của Miền Nam sẽ là Chánh Phủ Dân Chủ, rằng ông đã thắt chặt giao hữu với tất cả các quốc gia , và rằng mọi ý kiến và tín ngưỡng sẽ được tôn trọng.
Sau đó là một cuộc diễn hành quân sự rất đẹp mắt. Có một vài đơn vị du kích quân đi đầu với vũ khí hổn tạp. Họ không được nhiều. Trên khán đài, ông Trương như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp của CPLTCHMN ngạc nhiên:
_ Ủa, các sư đoàn của chúng ta đâu hết không thấy?
Chung quanh tướng Trà người ta cười rộ lên:
_ Đã thống nhất rồi, binh sĩ của Mặt Trận đã được chánh quy hoá hết rồi.
Các chiến xa T.54 và T.56 , các chiến xa lội nước PT.76, các hỏa tiển Sam, có xe kéo rất bóng láng, và các binh sĩ và lính Hải Quân đều mang găng tay trắng.
Có vài người còn tiếp tục nói:
_ “Mấy người Việt Namtừ Hà Nội và hơn nữa những người của CPLTCHMN cũng đều là đồng bào của chúng ta, rồi thì chúng ta cũng đi đến chỗ hiểu nhau thôi!
_ Họ sẽ có lợi nhiều hơn khi họ chấp nhận một Miền Nam đa nguyên và trung lập.
Có những người khác thì cẩn thận hơn:
_ “Phải chờ xem đã. Phải thấy mới được. Không ai rán trứng mà không đập trứng ra đâu?.
Cũng có người nói:
_ “Xã hội chủ nghĩa hả? đó là con dường cộng sản hóa bắt đầu đó!
Vì có nhiều lý do mà chánh quyền không giải thích, buổi lễ mầng giải phóng được thu ngắn gọn lại.
Có nhiều người dù không thích hay ghét ông Thiệu, cũng đã nhớ lại câu nói của ông
_ “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”
Có rất nhiều người dân Miền Nam nhất là dân Sài Gòn cảm thấy ” nỗi đau của một người mẹ khi thình lình đứa con của họ chết vì tai nạn”
Một vài anh bộ đội bị ám sát ở vùng ngoại ô, thường thì bị đâm bằng dao. Các toán tuần tiểu Bắc Việt đã tăng cường hoạt động. Các nhân viên kiểm soát an ninh và trật tự đi cùng khắp nơi với máy bộ đàm , các máy 500 và máy truyền tin lấy được của Miền Nam. Đôi khi họ bắt được kẻ trộm, họ hành quyết ngay và để tử thi tại chỗ cho người ta thấy để làm gương.
Sách báo Tây Phương thường được bày bán ngoài dường hay trong các tiệm sách, đều biến mất hết. Người ta tìm đốt hết. Lần lần xuất hiện các cuốn sách của Mác, của Các Mác, của Ăn Ghen, của Lê Nin và của Sít ta Lin nữa. Và các tác phẩm của các nhà tư tưởng ở Hà Nội, mà của Lê Duẫn là hàng đầu. Các trường học được mở cửa lại. Trong mỗi lớp học đều có dán năm điều răn của “Bác Hồ cho trẻ con: “yêu Tổ Quốc, yêu Dân Tộc,”Học giỏi. Lao động giỏi”, “Đoàn kết và kỷ luật”. “Biết giữ vệ sinh”.“Khiêm nhường, Thành thật, và Cảnh giác”
Cảnh Giác là thường phải tố giác cha mẹ, người hàng xóm và bạn bè.
Các công chức thuộc chế độ cũ, cảnh sát , quân nhân bị gọi đến trình diện. Họ phải đi “học tập” ở các trại cải tạo. Người ta thông báo chánh thức là binh sĩ đi học tập 3 ngày, hạ sĩ quan thì hai tuần, sĩ quan cấp úy hay cấp tá là 3 tháng; các nhân viên thuộc cơ quan an ninh, những người thường tra khảo người ta, và một vài sĩ quan cấp tướng, có thể phải học tập lâu hơn, người ta nói là có thể đến 3 năm.
Đối với những người tỵ nạn đã đi ra ngoại quốc, chánh quyền của thành phố Hồ chí Minh vừa thấy thích thú vì đã đương nhiên loại được một số lớn người tiềm tàng chống đối, lại vừa có ý muốn cho gọi về Việt Nam“dân chủ và đa nguyên” những người công dân đã coi như đi lạc đường. Người ta cố gắng thu hồi một số người tỵ nạn về Việt Nam. Ngày 25 tháng 5, ông Huỳnh công Tâm giám đốc liên lạc của CPLTCHMN bên cạnh Liên Hiệp Quốc ở Genève, đã viết thơ cho Cao Uy Tỵ Nạn Subraddin Aga Khan:
“Thưa Ngài Cao Ủy,
Chắc Ngài cũng biết sự kiện là có hằng chục ngàn người Việt Namđã rời khỏi Miền Nam Việt Namvào thời gian trước ngày giải phóng hoàn toàn ở nước tôi.
Trong số những người Việt Namđó, đã có rất nhiều người bị di tản trái với ý muốn của họ, hoặc đã bị tuyên truyền láo khoét nhằm cho họ phải bỏ đất nước của họ . Mặt khác có hằng trăm trẻ con Việt Namđã bị bốc đi khỏi quê hương của chúng và điều này vi phạm những luật lệ quốc tế hiện hành….”
Trong một số trung tâm như ở đảo Guam, có một vài trăm người tỵ nạn, yêu cầu được trở về nước . Hoa Kỳ đã sẳn sàng cho họ hồi hương. Nhưng thình lình chánh quyền thành phố Hồ chí Minh từ chối không nhận họ. Những người của Hà Nội có lẽ đã mất một dịp may lịch sử để bình tường hóa lại quan hệ với Hoa Kỳ.
Điều này không cấm được ông Phạm văn Đồng ngày 3 tháng 6 đã kêu gọi việc bình thường hóa này, với những điều kiện mà ông đã đưa ra: Hoa Kỳ phải viện trợ kinh tế cho cả hai miền Nam Bắc Việt Nam. Với một thái độ vô liêm sĩ quá hài hước, ông Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hống hách tuyên bố là Hoa Kỳ phải hoàn toàn tôn trọng Hiệp Định Ba Lê về ngừng bắn năm 1973.
Lịch sử đã nuốt trửng hay đã phân tán hết những kẻ chiến bại. Tại Việt Nam, kẻ chiến thắng biết đánh giặc nhưng không đạt được phương thức tổ chức cho hòa bình. Chế độ được gọi là dân chủ ở Việt Nam được rập khuôn theo kiểu Liên Xô, và được Liên Xô ủng hộ. Bây giờ Việt Nam là một trong ba quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới và là một trong những nước có chế độ công an trị nhất ở Á Châu.
Sống trong một không khí phân tán chia rẽ nhau, những người trẻ nghi kỵ các người lớn tuổi, và những người lớn tuổi thay vì hợp tác như thường lệ thì lại lên án mạnh mẽ, cho “nó là người của cộng sản”, “cô ta làm việc cho Thiệu”, “bọn này là Phật Giáo cánh tả”, “bọn kia bênh vực cho công giáo chính thống”, “nó là bộ trưởng của CPLTCHMN”. v.v..
Cũng giống như các cộng đồng lưu vong khác, người Việt Nam phải biết làm lại từ đầu, hay là ít ra phải biết thực hiện đoàn kết quốc gia và thực hiện dân chủ…
Ông Nguyễn văn Thiệu sống một cách đế vương ở Luân Đôn, mà vẫn có một thẻ cư trú ở Mỹ từ năm 1985. Người Mỹ nói ông giữ một “lối sống có vẻ bình dân” . Lúc ông mới đến Anh quốc, một nhân viên người Anh thuộc cơ quan đặc biệt chuyên về điều tra tài sản của ông Thiệu, đã thấy được khoảng 200.000 Mỹ kim và nhiều nữ trang của bà Thiệu.. Ông Thiệu đi du lịch, qua Mỹ, Pháp và theo dõi tiến trình chia rẽ chánh trị của Việt Nam. Ông đặc biệt quan sát chiến dịch khá không thực tế của một nhóm luật gia Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Vũ quốc Thúc ” để đặt lại vấn đề Hiệp Định Ba Lê 1973″. Nếu “rủi ro” mà người ta lại nói đến nhiều về Hiệp Định thì ông Thiệu đương nhiên sẽ trở lại thành vị Tổng Thống của một nửa nước Việt Nam, dĩ nhiên hoàn toàn trên phương diện lý thuyết mà thôi. Có một số người đã quên đi một cách dễ dàng là ông Thiệu đã từ chức rồi. Sự chia rẽ của những người Việt Nam, vốn còn chưa chế ngự được các sư đoàn của mình, đôi lúc họ lại bàn tính đến các dự án có hơi phi lý, nhưng cũng có dự án nghiêm túc hơn.
Cuộc “tắm máu” được loan truyền trước khi Sài Gòn bị thất thủ thì không có trong khi cộng sản lên nắm chánh quyền nhưng sau đó thì có tắm máu thật. Hai nhà sưu tầm là ông Jacqueline Desbarats và Karl Jackson đã chứng minh là đã có tối thiểu 65.000 người bị hành quyết. Chưa nói đến những người đàn ông và cả đàn bà coi như đương nhiên bị lên án tử hình khi người ta đẩy họ vào những vùng “rừng thiêng nước độc” kinh khủng, hoặc đưa họ đi gở mìn mà không có máy dò mìn…
Các cộng sự viên của ông Thiệu được phân tán ra ở khắp năm châu khi họ còn sống được hay không bị chết trong những trại lao động tập trung kiểu Goulag của Liên Xô.
Ông Hoàng Đức Nhã làm việc cho một công ty Mỹ ở thành phố Chicago. Ông có nhiệm vụ trao đổi mậu dịch hiện đại trên một quy mô rộng lớn, một hoạt động thường giúp ông được dịp đi Trung Quốc. Hầu hết các cựu tướng lãnh của Miền Nam Việt Nam đều cư trú ở Hoa Kỳ. Cựu Thủ Tướng Trần thiện Khiêm và cựu Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao văn Viên không có ưu tư về vấn đề vật chất. Trái lại, trường hợp của phần lớn các tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp thì lại thật sự không phải như vậy. Chẳng hạn như Đô Đốc Chung tần Cang vị Tư Lệnh sau cùng của Hải Quân và tướng Lê quang Lưỡng, vị chỉ huy xuất sắc của Lực lượng Nhảy Dù, đều sống rất khiêm nhường ở thành phố Bakersfiel, California. Họ làm việc 8 tiếng một ngày trong nhiệm vụ đốc công trong kỹ nghệ dầu hỏa. Ông Nguyễn cao Kỳ nóng tính thì giờ đây lại yên lặng hơn trước , tuy không thành công trong công việc làm ăn nhưng lại có được một vài người bạn á rạp châm chỉ.. Vị chủ tịch cuối cùng của Thượng Viện, ông Trần văn Lắm có một nhà hàng ở Úc Châu. Ông Bùi Diễm, cựu đại sứ lưu động, vừa mới cho xuất bản tập Hồi Ký của ông. Ở tiểu bang Virginia, vị toàn quyền quân sự cuối cùng của Thủ Đô Sài Gòn, sau 7 năm ở trại cải tạo, đang nghiền ngẫm lại chuyện hợp tác của ông ta với đại tá Phạm ngọc Thảo, người được Hà Nội truy tặng “anh hùng giải phóng”, vì đã thường có những cố gắng làm cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa mất thăng bằng….
Dù là quân nhân hay là dân thường, có chút tên tuổi hay vô danh, tất cả nam hay nữ đều chấp nhận số phận của mình với đầy đủ phẩm cách như một ông đại tá quan trọng nào đó là người gác cổng ban đêm . Đã có những vấn đề riêng tư, thường rất là đau khổ vô tình hay cố ý được trói buộc vào với vấn đề chánh trị : Rất nhiều người của Miền Nam Việt Nam được trả tự do sau mười năm đi tù cải tạo lúc trở về lại thấy vợ mình đã đơn phương và chánh thức ly dị với mình!
Sau khi đầu hàng cộng sản, tướng Dương Văn Minh không bị đưa đi “học tập cải tạo ” Chánh quyền cộng sản đã cho phép ông di cư năm1981. Ông thường được cáo buộc là đã có nhiều Mỹ kim kín đáo để ờ Pháp, ông Dương Văn Minh sống rất kín đáo ở một khu ngoại ô của Ba Lê, Đúng là một sự công bằng nên thơ, không biết có phải vì ngại ngùng, hay có thể là đắn đo, mà ông tướng Minh hay do dự này đã chọn “con đường của Người Liều Lĩnh” để ở (nguyên tác: rue du Téméraire”, một tên đường có thật ở Ba Lê)
Cho tới tháng 7 năm 1975, kỹ sư Văn đi ngược với trào lưu sì ta li nít, và các lượng sóng mac xít, vẫn ước mong là những người trung lập sẽ nắm chánh quyền ở thành phố Hồ chí Minh. Người ta đưa ông vào trại tù lao động cải tạo, như tất cả các công chức khác. Năm 1977, ông sang Paris.
Nhà văn Duyên Anh, bi cộng sản coi như ” một trong mười tác giả nguy hiểm nhất” nên bị cấm mọi chuyện xuất bản, sau đó bị bắt và vào tù, dĩ nhiên là không có án lệnh. Với số tù là 239 D. TH 6, TCT CTXM. Ông được thả ra vào năm 1981, nhờ hội nhà văn Pen Club và Hội Ân Xá Quốc tế mạnh mẽ can thiệp. Đến được bên Pháp rồi ông Duyên Anh cho xuất bản năm 1986 cuốn sách: “Một người Nga ở Sài Gòn”, cuốn sách đầu tiên này được Tây Phương dịch. Một áng văn Việt Nam tuyệt tác – trong bao nhiêu năm?- sẽ trở thành một áng văn lưu đày. Sách của ông được linh mục Mais chuyển ngữ. Vị linh mục này bị cầm tù 9 tháng với lý do: “đi trên đường mà không có giấy phép”. Sau đó rồi cũng như tất cả các vị tu sĩ ngoại quốc khác, ông bị người ta trục xuất ra khỏi Việt Nam.
Vào giờ này, đã có hơn 1 triệu người Việt Nam đã chọn con đường “vượt biển” hết sức là gian truân. Đã có một thời, Hà Nội khẳng định đó là những người trưởng giả, những kẻ tham nhũng, ăn hối lộ…thuộc giai cấp tư sản mại bản. Thật ra, ở Miền Nam cũng như ở Miền Bắc có những người nông dân, những người buôn bán nhỏ, các thợ thầy … ai cũng chạy trốn, thật là một cuộc di cư không tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam, một đất nước mà ở đó ai cũng muốn sống bám vào mảnh đất, vào làng xã, vào “lũy tre xanh” của mình như là một tài sản căn bản của gia đình…. Trung sĩ Thưởng cũng là một “người vượt biển” (nguyên tác: tác giả dùng danh từ của thế kỷ “boat people”). Ông đến Vũng Tàu học nghề đánh cá, rồi cưới vợ, xuống tàu ra đi một cách bất hợp pháp năm1976, gia đình bị lạc ngoài biển khơi, nhưng sau cùng được gặp lại bên Thụy Sĩ. Còn ông Phạm Thìn, đại úy cảnh sát, mang thông hành số 112517 THI , từ 65 kí lô xuống còn có 49 kí khi ông được thả ra từ trại lao động cải tạo, hiện là quản lý hay là đầu bếp trong một quán ăn nhỏ ở Pierrefitte , bên Pháp.
Hai trong số 3 người ngự lâm pháo thủ, ông Cao Giao, tỵ nạn ở Bỉ sau khi đi tù, và ông Vượng thì ở Mỹ, tất cả đều đã chết. Người thứ ba, ông Trần xuân Ẩn, không có hành động gì cả khi cộng sản đến bắt ông Cao Giao. Ông Trần xuân Ẩn này, là một trong “ba người ngự lâm pháo thủ”, từng làm việc rất đắc lực cho tờ báo Time của Mỹ, đã lộ diện là một đại tá tình báo Bắc Việt được rất nhiều người xác nhận (chú thích của dịch giả: vào thập niên 80 được Hà Nội phong hàm thiếu tướng trong Quân đội Bắc Việt)
Tuy vậy ông Cao Giao vẫn giữ tình bạn với ông Ẩn, ông chỉ thấy Ẩn là “một người bị lừa về ý thức hệ và bị vỡ mộng”. Mặc dầu bị phản bội và bị tổn thương, nhưng tình bạn hữu thường vượt qua sự chia rẽ về chánh trị: “Chúng tôi đều là người Việt Nam”, ông Cao Giao vừa vuốt râu vừa nói….
Tờ báo Time lại cho bà Trần thị Nga vào làm việc lại ở Nhiêu Do. Vào năm 1986 bà cùng với Wendy Winder Laesen cùng xuất bản một tập thơ với hai giòng đời, rất rõ ràng và ngao ngán, làm cho tất cả những người cũ của Việt Nam từ những người chủ hòa cũng như người chủ chiến ai cũng cảm động. Bà Ngà thuật lại hai cuộc đời của bà, một ở Việt Nam và một ở Hoa Kỳ:
Chúng tôi không nệ hà, có việc là nhận làm nga. Con rể tôi, tốt ngiệp trường Luật, cũng hay
Phải đi bán Élextrolux là một loại máy hút bụi Phải đi quảng cáo từ nhà này sang nhà khác Người Mỹ lại sợ dân Á Đông ta. Nên họ không cho vô nhà, thật quái ác!
Bà Nga viết thư về cho Mẹ:
– “Mẹ vẫn thích mùa thu ở Hà Nội. Mẹ thích không khí lạnh ở đó, nhưng chúng con thì không . Chúng con vừa qua một trong những mùa đông khắc nghiệt nhất trong cả trăm năm gần đây… Cháu ngoại của Mẹ đã được 3 tuổi. Nó nói rất giỏi tiếng Anh làm cho chúng con buồn . Chúng con có một lệ là chúng con phải nói tiếng Việt ở trong nhà để các cháu đừng quên tiếng mẹ đẻ.
Chúng con đã có một bàn thờ cho Cha con. Chúng con cố giữ các truyền thống của quê hương mình…
Ở đây chúng con rất thoải mái, nhưng về tinh thần thì chúng con đói lắm. Chúng con thiếu nước Việt Namcủa chúng con. Và nhất là Mẹ, hơn tất cả mọi thứ, chúng con thiếu Mẹ. Nếu Đức Phật hiện hữu thì chúng con sẽ cầu nguyện, cầu nguyện cho chúng ta được đoàn tụ với nhau…”
Hầu hết những người Việt Nam sống lưu vong đều được ổn định, hơn hẳn người Cam Bốt hay người Lào. Họ hội nhập được với mọi nghề nghiệp, nhưng không hội nhập với xã hội .Cũng như bà Nga, tất cả đều bị ngày về với đất mẹ ám ảnh.
Vào tháng 6 năm 1987, ông Phạm văn Đồng, 81 tuổi, từ bỏ chức Thủ Tướng. Ông ta đã đảm nhiệm chức vụ này trong suốt 31 năm. Ông Lê đức Thọ cũng rời khỏi Bộ Chánh trị như ông Đồng vào năm 1986, lúc ông được 75 tuổi. Hai người đều trở thành cố vấn cho Ủy Ban Trung Ương Đảng. Khi ông Lê Duẫn chết, Lê đức Thọ không có lên thay ông này trong chức vụ Tổng bí thư đảng. Nhưng em ông là Mai chí Thọ, sau một thời gian “trị vì” ở Sài Gòn ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, bây giờ đã trở thành một thành viên trong Chánh trị Bộ. Cộng sản Việt Nam đã có nhiều nét bại hoại vay mượn từ cộng sản quốc tế. Vừa gia đình trị, họ vừa bám chặt chánh quyền cho đến già giống như các đảng cộng sản Albany, Lỗ ma Ni, hay Bắc Hàn. Ở Hà Nội người ta có thể tìm thấy nhiều đại gia đình ôm cứng chánh quyền dưới nhiều tên và nhiều bí danh khác nhau. Các nhà lãnh đạo đảng theo mác xít nguyên thủy, tự cô lập với thế giới bên ngoài, và phủ nhận hết sự kiện. Ông Youri Jivago hay đúng hơn là ông Boris Pasternak đã viết.
“Thuyết mác xít rất là không tự chủ để trở thành một khoa học. Thuyết Mác xít và tính khách quan ? Tôi không thấy thuyết nào hay tự thu mình lại và rời xa thực tế hơn thuyết Mác xít .”Những người như Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ, Lê Duẫn sống thu mình lại với chính họ, với những lược đồ của họ và hãnh diện trên sự ngu dốt của họ. Anh bộ đội dốt nhất trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn đã nhanh chóng khám phá ra là Tây Phương và hệ thống tự do kinh doanh của tư bản đã giúp ích rất nhiều cho những người kém may mắm hơn là xã hội chủ nghĩa cứng ngắt của Miền Bắc. Và các anh bộ đội trở về gia đình ở Miền Bắc, đã thấy mình bị lừa gạt, đồng thời du nhập vào Miền Bắc một sự nghi ngờ đến tận các cơ quan của đảng. Người ta không còn có thể thuyết phục “khối quần chúng” được nữa rằng tất cả những sự khổ đau của đất nước giờ này đều do sự “thối nát” của “chủ nghĩa đế quốc”. Sau cái ngày mà cộng sản gọi là “giải phóng” có một sự vô tổ chức trong xã hội Việt Nam đến mức độ mà ở ngay tại Sài Gòn đôi khi không có một cọng rau nào (nguyên tác: liseron d’eau: bông súng hay rau muống nước, hay rau mát) hay một con cá nào để mà ăn.. Rau thì có khối gì ờ nông thôn, còn cá thì dẫy đầy khắp các ao, những thứ mà trong thời kỳ chiến tranh không bao giờ thiếu.. Chế độ xã hội chủ nghĩa, theo công thức của Lê Nin, không phải là “điện khí hóa cộng với những người Sô Viết”, nhưng là sự sản xuất và sự phân phối bị ngưng trệ vì thuyết tập trung quyền hành ngu xuẩn và chế độ quan liêu không hữu hiệu. Đâu có cần phải ra nghị định quốc hữu hóa hay hợp tác hóa nông nghiệp một ngày nào đó để vài năm sau lại phải bãi bỏ mới đi đến thành công?
Đến giờ này, nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia ăn mày, lệ thuộc hoàn toàn vào một người bảo trợ duy nhất là Liên Xô và mọi công trình của họ.
Ở nước Việt Nam thống nhất, “có một sự thiếu thốn trầm trọng về vật chất loại tối cần thiết, và thuốc men….. Sư thiếu khả năng để giải quyết một số mục tiêu hàng đầu trong chương trình 5 năm sau cùng đã ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của mọi hoạt động kinh tế. Thông thường thì họ không xử dụng đến năm chục phần trăm khả năng của các công ty. Tài nguyên thiên nhiên bị lãng phí….Môi trường đang trên đường bị phá hủy. Có nhiều triệu công nhân bị thất nghiệp hay bị thừa nhân công…..
Những nhận xét này không phải do những người dân của Miền Nam Việt Nam ở xa quê hương nhớ nhà hay do những nhà báo “tư bản”. Mà được Trường Chinh, cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam chánh thức đưa ra, và cũng đã được các dân biểu Quốc Hội báo cáo vào tháng 12 năm 1986. Những sự cải cách kinh tế bị thất bại được quy trách trên hết cho “Ủy Ban Trung Ương Đảng, cho Chánh trị Bộ, và cho Chánh Phủ”
Những lãnh đạo đảng đã có chủ trương thống nhất, chủ trương xăm lăng và cả dân chúng Việt Namđều là những nạn nhân đương nhiên của chủ nghĩa giáo điều. Chương trình của đảng cộng sản Đông Dương trong thập niên 30 đã dự kiến một sự thống nhất của cả ba nước ở Đông Dương . Và họ đã thực hiện. Đối với tất cả các Chánh Phủ vùng Đông Nam Á Châu, lãnh đạo Hà Nội đã trở thành những người Phổ trong vùng. Chiến xa cộng sản vẫn luôn luôn biết gây ra chiến tranh. Các chiến xa sô viết đã hoạt động ở Ba Linh (Đức), ở Prague (Tiệp Khắc) và Budapest (Hung gia Lợi). Người ta dự đoán đây là những cuộc hành quân cảnh sát để đàn áp với một quy mô rộng lớn. Không còn có thể chối cãi gì được nữa, đảng cộng sản Việt Nam là một đảng cộng sản nguyên thủy cộng thêm với một sức chịu đựng dẻo dai đến điên cuồng, họ là những người cộng sản đầu tiên với lực lượng bộ binh , thiết giáp và pháo binh nặng của họ, có cả phi cơ và trực thăng dùng võ lực quân sự xăm lăng những đảng cộng sản khác: ở Cam Bốt dùng gậy ông đập lưng ông, các đơn vị chánh quy Việt Nam giờ đây chạm trán với lực lượng du kích Khmer Đỏ, với lực lượng thân binh của Sihanouk và lực lượng của Son Sann.
Ở Hà Nội có nhiều người xác nhận là tướng Võ nguyên Giáp đã chống đối với chuyện phiêu lưu trong vũng lầy Cam Bốt. Đó là một trong những lý do để cộng sản cho ông ra rìa. Lúc đầu thì tướng Giáp đau nặng. Người kế vị ông là tướng Văn tiến Dũng, người hùng của chiến dịch Hồ chí Minh, leo lên trong hệ thống, sau đó thì ông tự rút lui – hay bị đẩy xuống theo lối Việt Nam nhẹ nhàng không có tiếng động – sau khi cho xuất bản quyển hồi ký nên thơ của mình về sự tiến chiếm Sài Gòn. Người phụ tá của ông, tướng Trần Văn Trà cũng về hưu sớm. Ông này cũng cho xuất bản một quyển hồi ký – quyển 5 trước những quyển khác, đến 10 ngàn quyển vào năm 1982, nhưng không bao giờ được tái bản ở Sài Gòn bởi vì, với một tinh thần tương đối độc lập, tướng Trà là thành viên của CPLTCHMN và ông đặt nhiều câu hỏi về một vài lý thuyết của tướng Dũng, đến cả hình ảnh hoa sen nở của ông này. Tướng Trà sống trong một chung cư với cán bộ gần Sài Gòn. Người ta còn thấy ông trong những buổi lễ kỷ niệm năm thứ mười của “chiến thắng” vào năm 1985 và ông không “có thì giờ” để cho người ta phỏng vấn ông.
Ông Phạm Hùng một chánh trị gia đã từng làm việc với tướng Trà ở Miền Nam Việt Nam trong những tháng cuối cùng trước ngày Sài Gòn bị thất thủ, bây giờ là nhân vật số 2 trong Chánh trị Bộ và là Thủ Tướng. Người số 1 là vị tân tổng bí thư Nguyễn văn Linh mà những người thân của ông gọi ông ta là Mười Cúc.
Sau 17 năm ở trại cải tạo, Nguyễn Ky về Sài Gòn và cũng như mọi người ông vượt biển. Là một người thợ sắp chữ, ông sống rất chật vật tại Westminster thuộc thành phố Orange County, tiểu bang Caligfornia. Ông ta còn mơ một “xã hội chủ nghĩa với một bộ mặt của con người”. Anh Tiến, con người trẻ thích cinê, đã trở thành cận vệ của anh mình, một cực cán bộ của CPLTCHMN. Từ năm 1977, anh bạn trẻ này cũng sống ở Westmimster. Như vậy là trong sự tan rã của người Việt Nam, có một số người quốc gia cũng như những người cựu cộng sản và những người phi chánh trị . Có một số thân nhân của những người có máu mặt trong chế độ cộng sản đã rời khỏi nước Việt Nam như: các cháu gái của Trường Chinh đã tỵ nạn ở bên Pháp, con gái của Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch MTGPMN thì ở Gia nã Đại…Có quá nhiều người chối bỏ ….
21 năm trong 29 năm sau cùng, nhà thơ Nguyễn chí Thiện đã sống trong ngục tù hay trong các trại cải tạo. Đến tháng 6 năm 1978, ông được ân xá. Ông gom hết các tác phẩm của ông đem gởi cho tòa đại sứ Anh quốc ở Hà Nội và vì chuyện đó ông lại bị bắt và bị giam vào “Hỏa Lò” ở Hà Nội , từng được mang danh là khách sạn “Hilton Hà Nội” nơi đã từng giam giữ và tra tấn các tù binh chiến tranh Mỹ.
Thượng tá Trần bá Đoài, sau khi sửa chữa các xe vận tải để hoàn trả cho Liên Xô và Tiệp Khắc, đã bị hạ tầng công tác, vì tội “thiếu thiện chí”, bị xuống cấp thiếu úy và bị cho ra khỏi đảng. Ông trở về Trung Quốc. Ở đây ông từ khước không chịu vào Quân đội cách mạng Việt Nam, một tổ chức cách mạng Việt Nam mới do Trung Quốc dựng lên. Và từ năm 1981 ông đến được Hong Kong sau đó qua Anh Quốc.
Trong tất cả các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới, cộng đồng người Việt ở Anh quốc hình như là một trong những cộng đồng – nói sao đây?- buồn nhất. Người ta khó mà quên được cái nhìn say đắm của những người nông dân hai dòng máu Việt Hoa ngồi uống trà trong những căn phòng thiếu cả bàn ghế, mắt nhìn chăm chăm lên màn ảnh truyền hình mà không hiểu họ nói gì. Các nhà xã hội học đều công nhận là tất cả những người Việt Nam nhiều hay ít đều hội nhập được với dời sống mới. Hình như ở Anh quốc người ta nghĩ tới nắng ấm của mặt trời ở California và cả đến ánh mặt trời leo lét của mùa đông ở Vịnh Hạ Long!
Bây giờ thì ông Gerald Ford ít xum xoe hơn ông Richard Nixon. Một người thì nhìn thấy Sài Gòn bị thất thủ, đau khổ mà bước ra khỏi lịch sử, một người thì bám chặt lấy nhiệm vụ của một chánh trị gia quá tuổi. Lịch sử không có trả lợi tức tinh thần cho các nguyên thủ quốc gia.
Khi người ta gặp ông Kissinger ở hội quán của ông ở đường Park , thì ông Kissinger có vẻ hình như chưa được hoàn toàn trở về lại với ánh hào quang của một Bộ mà đối với ông nhìệm vụ không bao giờ có chút Ngoại Giao nào. Có một lần ông đã nói rằng “chánh quyền là viên thuốc kích thích dục vọng ghê gớm lắm.” Ông Kissinger đã được phỏng vấn, đăng báo, tham khảo và được cả ông Gorbachev tiếp đón nồng hậu ở Mạc tư Khoa; Ông đã nói về Việt Nam một cách trịnh trọng nhưng đôi khi trong thâm tâm cũng thấy bối rối.
Ông Graham Martin thì dường như còn cay đắng. Người ta không có cho ông một nhiệm sở nào sau khi ông rời khỏi Việt Nam. Dĩ nhiên là ông đã đến tuổi về hưu, nhưng, để có thể nhận một tòa đại sứ khác thì ông phải qua một phiên điều trần ở Thượng Viện. Người ta muốn tránh việc đó với bất cứ giá nào vì còn quá sớm.. Ở Winston-Salem, ông Martin ôm ấp những kỷ niệm của mình, lúc nào cũng vẫn đinh ninh rằng mình có lý. Sau vụ việc ở Sài Gòn ông chỉ gặp ông Kissinger có mỗi một lần, được nửa giờ. Và ông nói với một giọng khôi hài gần như chua cay: “trong 30 phút đó Henry đã nói chuyện điện thoại với nhà xuất bản James Reston hết 25 phút!”
Vào ngày lễ Giáng Sinh năm 1983, điện thoại reo ở nhà ông Martin : Ông Nguyễn văn Thiệu chúc mầng Giáng Sinh, và cam kết luôn giữ tình bạn của ông.
Ông Martin không có giao du tốt với Thomas Polgar. Ông này làm việc ở La Mã (Ý), Bonn (Tây Đức), Mễ tây Cơ và Hoa Thạnh Đốn, nơi đây ông kết thúc 38 năm trong nghề tình báo của mình ở CIA với chức vụ Giám đốc nha Nhân Viên. Ông Polgar không bao giờ đánh giá cao cách làm việc của ông William Casey, người được ông Ronald Regan ưa thích và trở thành Trưởng Cơ quan Tình Báo CIA. Ông Polgar chọn nghề tham vấn ở Hoa Thạnh Đốn . Năm 1987 ông được chọn để điều tra vụ “nghe lén Iran (nguyên tác tiếng Mỹ:”Irangate”). Còn ông Lehmann thì đã trở thành Lãnh Sự ở Tây Đức.
Trung Ương Tình Báo CIA lên án ông Frank Snepp khi ông cho xuất bản cuốn sách“Decent Interval”
Ông Frank Snepp đã vi phạm bổn phận của người trừ bị và đưa ra nhiều cáo buộc chống lại chánh quyền Hoa Kỳ. Với một hành động bủn xỉn gương mẩu và qua những vận động pháp lý, Trung Ương Tình Báo CIA đã sắp xếp để Snepp không lãnh được tiền nhuận bút của một tác giả.. Ông là giáo sư trong một trường đại học nhỏ ở California. Ông đã từng đối đầu đôi khi, rất lịch sự, với ông William Colby, trưởng cơ quan Tình Báo CIA vào năm 1975, trong những phiên điều trần mâu thuẩn nhau.
Những cựu nhân viên của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn kéo dài một sự tranh cãi lớn.
Tất cả những người Mỹ dính dấp vào sự thất thủ của Sài Gòn đều có quyền được thêm 2 tuần lễ nghỉ phép. Hầu hết đều tiếp tục nghề nghiệp ngoại giao của họ. Có một số đã được bổ nhiệm đại sứ. Rất nhiều người đã có những liên lạc với người Việt Namở ngoại quốc.. Có nhiều người vẫn còn cố gắng giúp bạn bè hay người quen biết được chánh thức đi ra khỏi nước Việt Nam cộng sản.
Ông Philippe Richer ở lại Hà Nội cho đến năm 1976. Ông không được ông Valéry Giscard d’Estaing ưa thích, vị Tổng Thống hay hỏi:“Anh chàng đó là ai vậy? cái anh mà lúc nào cũng nói đi nói lại mãi có một chuyện?” Cánh hữu đã để ông Richer vào tủ rồi. Ông qua Ủy Ban Quốc Gia và cho xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng liên quan đến Á Châu. Đồng nghiệp của ông ở Sài Gòn, ông Jean-Marie Mérillon, rời khỏi Việt Nam vào tháng 5 năm 1975, mơ tưởng sẽ gặp lại ông Pierre Brochand vốn đã trở thành cố vấn Bộ Ngoại Giao, đại diện và hoạt động rất hăng say trong phái đoàn Pháp bên cạnh Liên Hiệp Quốc.
Từ Tân gia Ba, ông Patrick Hays bây giờ đang đảm nhận việc tiếp liệu cao su cho nhóm Michelin. Ông đã về chơi Sài Gòn vào năm 1987 và viếng Hà Nội lần đầu tiên.
Tất cả các nhân vật này đều nghe nói về nhau hết, hay ít nhiều đều biết nhau hay đã gặp lại nhau. Có một số đã lâu lắm rồi, đã có gặp lại anh kháng chiến quân Trần văn Bá.
Ông Anatol Dobrynine đã về Mạc tư Khoa từ tháng 4 năm 1986, hiện là thơ ký của Ủy Ban Trung Ương, đặc trách về giao dịch với Tây Phương. Các nhà quan sát đã khám phá ra bàn tay của ông trong đường lối chánh trị của ông Gorbatchev, và trước tiên là sự trình bày của Đổi Mới (nguyên tác: “Glasnot”) . Là người biết tin tức rất đầy đủ, ông Dobrtnine vẫn là bậc thầy trong nghệ thuật “phản tin tức”
Ai là người có trách nhiệm trong sự thất thủ Sài Gòn? trách nhiệm trong chuyện sụp đổ quá nhanh chóng chỉ trong có 4 tháng đầu năm 1975? trách nhiệm của một sự thảm bại còn nặng hơn sự thảm bại ở Diện Biên Phủ nữa?, bởi vì lần này, cả nước Việt Nam bị nằm gọn trong tay của những người cộng sản, hậu duệ của Hồ chí Minh. Những biến cố lịch sử quan trọng thường là sản phẩm của nhiều quyền lực, của vô số nguyên nhân hợp lại. Từ 45 năm qua, cộng sản Việt Nam đã có một mục tiêu, và một mục tiêu duy nhất . Đó là: Kiểm soát toàn bộ Đông Dương cũ. Trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước Việt Nam, họ đã dùng tấm bình phong chánh trị của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng, kế đó là của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (CPLTCHMN). Tấm bình phong này đã thường giúp họ tự che giấu bộ mặt thật của chính mình: chống đế quốc. Họ được Liên Xô và Trung Quốc võ trang và võ trang thật hùng hậu. Mặc dầu có những sự bất đồng, đôi lúc thật căng thẳng, giữa Mạc tư Khoa Bắc Kinh và Hà Nội , nhưng mục tiêu vẫn không thay đổi: cộng sản hóa tất cả nước Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Đó là ý đồ to lớn mà Hồ đã rấp tâm theo duổi từ năm 1930.
Lạc lõng trong vòng tranh chấp nội bộ, bị chia rẽ vì tham vọng cá nhân, lại thường bị các cố vấn Hoa Kỳ dẫn dắt, nên cấp lãnh đạo Miền Nam Việt Nam không thực hiện được sự đoàn kết giữa dân chúng và Quân đội nhắm vào chính nghĩa quốc gia dân chủ.
Người Mỹ đã thúc đẩy Miền Nam thành lập một Quân đội chánh quy cổ truyền khi cần thiết, từ 1954 đến 1960 để chống lại du kích chiến. Trái lại, sau đó, cũng những quân nhân đó chạy theo cuộc chiến, lại đi thành lập những đơn vị chống du kích trong khi càng ngày họ càng phải đối đầu với những sư đoàn chánh quy Bắc Việt. Hơn nữa, Quân đội Miền Nam không bao giờ được độc lập. Ngay khi Quân đội chiến đấu anh dũng, họ cũng chưa được tự chủ. Họ không tin tưởng ở chính mình. Và thường thì họ không có đủ tinh thần.
Ông Clausewitz đã có nói: Chúng ta cần nhấn mạnh rõ ràng khi nói tới sức mạnh trong chiến đấu với địch, không có gì bắt buộc ta phải hạn chế sức mạnh vật chất. Trái lại rất cần phải có sức mạnh tinh thần, vì trên thực tế hai sức mạnh đó phải được kết chặt lại với nhau, không được rời nhau cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt cũng vậy.”
Để trở lại lời phát biểu quá nổi tiếng này, ngay trong những năm 1973 và 1975 các đơn vị Miền Nam Việt Nam bị cột chặt với những cơ quan của Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ nên không bao giờ thấy mình thật sự được “Việt Nam hóa”
Về phần mình, các Bộ chỉ huy quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, ở Thái Lan, ở Honolulu, hay ở Ngũ Giác Đài dương nhiên bị các nhà chánh trị ở Hoa Thạnh Đốn kềm chế và giữ chặt trong việc xử dụng vũ khí cổ truyền của mình. Quyền lực quân sự không thoát ra được sự chỉ huy của quyền lực chánh trị. Đó là một điều không thể chối cãi được. Nhưng có thể nào quyền lực chánh trị đòi hỏi quân lực thực hiện những chuyện không thể làm được hay không? Có thể nào người ta đòi hỏi phải đạt được chiến thắng với những phương tiện bị hạn chế, mà hoàn toàn không được mang chiến tranh đến tận đất địch hay không? Lại cũng ông Clausewitz đã nói: “Người ta không biết đem một nguyên tắc dung hòa vào triết lý của chính chiến tranh mà không phạm phải một điều phi lý nào”
Ở Hoa Thạnh Đốn, một Quốc Hội hay tránh né, làm tê liệt hay làm hư Hành Pháp. Mạng lưới truyền thông mô tả sai bét những gì họ nhận thấy từ cuộc chiến… đã làm chán nản dư luận quần chúng Hoa Kỳ vốn rất thuận lợi lúc ban đầu cho sự can thiệp vào cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam. Tự cho mình như một anh David bé nhỏ mà phải đối đầu một anh khổng lồ Goliath, Hà Nội vận dụng hết sức ngoạn mục dư luận quốc tế và thường xuyên chiến đấu trên 3 mặt trận chánh trị, quân sự và ngoại giao. Cộng sản Việt Nam có quá nhiều nhân viên, tình nguyện hay vô ý thức, điều mà Sài Gòn không bao giờ có được. Hà Nội biết cách gieo rắc sự bất hòa trong hàng ngũ địch. Trái lại bên phía những người dân chủ không được trang bị để thực hiện và theo đuổi loại chiến tranh này. Các chánh thể độc tài lúc nào cũng sẳn sàng trong công tác này, dù có bị thiệt hại về nhân mạng. Ở đất nước cộng sản, không có một dư luận của dân chúng nào bắt buộc được những nhà lãnh đạo phải có sự cân nhắc vấn đề nhân ái, nhân quyền gì cả trong tiến trình lấy quyết định của họ.
Lại cũng vẫn của Clausewitz :”tai nạn và cơ may ….với sự ngẫu nhiên, đều có một vai trò quan trọng trong chiến tranh “Vào năm 1974, tai nạn là vụ tai tiếng Watergate (nghe lén) đã truất hết quyền hành của Tổng Thống Hoa Kỳ, và đánh sập công trình của Kissinger ở Đông Nam Á. Sự kiện Wategate là lổ mũi của bà Cléopâtre. Nếu ông Nixon, vốn là một nhân vật ít hấp dẫn nhưng là một nguyên thủ có tầm cở, còn ở lại chánh quyền, thì Liên Xô đương nhiên phải theo chủ trương hòa hoãn, trái hẳn với quyền lợi hiện hữu của Bắc Việt, dù không làm cho Bắc Việt phải từ bỏ mục tiêu tối hậu của họ , nhưng ít nhất Sài Gòn cũng không thể bị thất thủ năm 1975. Đến bây giờ người ta mới thấy rõ là cả Mạc tư Khoa và Bắc Kinh đều chưa sẳn sàng để vì Hà Nội mà phải mạo hiểm nhảy vào cuộc thế chiến thứ ba!
Về phía dân chủ, cuộc chiến Việt Nam không được phân tách kỹ lưỡng trên bình diện địa phương cũng như trong những viễn cảnh về chánh trị và địa dư, để bây giờ cả Lào, Cam Bốt và Việt Nam đều là cộng sản.
Liêu Hoa Kỳ có nên thay thế người Pháp ở Việt Nam sau 1954 hay không? Hẳn nhiên là không rồi, và chắc chắn không phải một mình Hoa Kỳ. Các quốc gia dân chủ khác không có gì giúp Hoa Kỳ hết. Trước khi Sài Gòn bị thất thủ vào năm 1975, các nước dân chủ như Pháp vá Anh quốc, vốn đã ký tên để bảo đảm cho Hiệp Định Ba Lê năm 1973, vẫn không yểm trợ gì cho Hoa Kỳ và cho đất nước dân chủ nửa vời là Việt Nam Cộng Hòa.
Hoa Kỳ đã phải tiếp tục cuộc chiến của họ một cách riêng lẽ. Tự không cho ném bom Hà Nội, từ chối không chịu đổ bộ ngoài Bắc, tuyên bố đơn phương ngưng chiến, chấm dứt xử dụng phi cơ ném bom, chính Hoa Kỳ đã tự cột mình vào sự thất bại. Từ năm 1965 đến 1968, Tổng Thống Lyndon Johnson đã 9 lần ra lệnh đơn phương ngưng bắn, và 10 lần ngưng ném bom.
Lãnh đạo cộng sản Hà Nội đã tuyên bố là họ đã đánh bại Hoa Kỳ. Trong một ý nghĩa nào đó, Hoa Kỳ đã tự mình làm cho mình thất trận. Không có vấn đề để đề nghị là họ phải dùng đến bom nguyên tử chiến thuật. Tuy nhiên người ta phải ghi nhận là Hoa Kỳ không bao giờ đã xử dụng toàn bộ vũ khí thông thường của họ trong một cuộc chiến không có tuyên bố, một cuộc chiến dài nhất, một cuộc chiến khó hiểu trong lịch sử Hoa Kỳ, và một cuộc chiến được giới truyền thông quá “bao che” – ở phía Nam -.
Đường lối chánh trị quân sự hạn chế của Hoa Thạnh Đốn một phần được thiết lập trên những sự phân tách sai lầm về chánh trị. Trước hết các nhà chánh trị Hoa Kỳ tin rằng Hà Nội chỉ là một thứ Bắc Kinh nối dài. Sau đó, họ đinh ninh rằng nếu quân lực Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng Hòa can thiệp vào Bắc Việt thì Trung Quốc và Liên Xô sẽ có phản ứng mạnh. Do đó không nên mạo hiểm vì Việt Nam mà phải nhảy vào thế chiến thứ ba.
Đã từ lâu rồi, có một số phân tích gia Hoa Kỳ xác nhận là Hồ chí Minh và những hậu duệ của ông ta trước tiên là những người quốc gia. Thiếu tá Archimedes Patti, đại diện cho OSS, tiền thân của CIA, đã võ trang cho một vài người trong số 300 du kích quân đầu tiên của Hồ chí Minh. Một nhóm người Mỹ mặc quân phục, thành viên của OSS, đã vào Hà Nội ngày 25 tháng 8 năm 1945, bên cạnh của các binh sĩ Việt Minh. Trong các bản phúc trình của mình, ông Patti xác nhận rằng thân binh của Hồ chí Minh “trước tiên là người quốc gia, sau đó mới trở thành cộng sản”. Vào thời điểm đó, người Mỹ xem Hồ chí Minh như một người liên lạc khả kính để tổ chức OSS liên lạc, có tên được mã hóa là “Lucius”.
Trong suốt 19 năm chiến cuộc Việt Nam lần thứ hai, người ta trình bày kẻ địch của Sài Gòn như là một tập họp của quân du kích.. Không phải những du kích quân chân đất hay mang dép râu Hồ chí Minh đã vào chiếm Sài Gòn, mà là những sư đoàn chánh quy Bắc Việt võ trang hùng hậu và hàng trăm chiến xa.
Người ta nói Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cứ thường bỏ đất vì thiếu sự can đảm. Nhưng trận chiến ở Xuân Lộc đã chứng minh cho đến phút chót là thật sự không phải như vậy.
Người ta xác nhận là đối đầu với Miền Bắc quá đạo đức, Miền Nam cứ mãi lội trong sự tham nhũng. Dĩ nhiên cũng có trong giới Quân đội cũng như trong giới dân sự, nhưng nó không nằm trong sự giáo dục hay trong cấu trúc căn bản như ở Miền Bắc.
Người ta lập đi lập lại là Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ độc tài. Nhưng nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam ở Miền Bắc mới là một chế độ độc tài. Ở Miền Nam chỉ 4 tháng đầu năm 1975 cũng đã đủ để chứng minh như một bức tranh là vẫn có báo chí, có Quốc Hội, có Tối cao Pháp Viện, một hệ thống Pháp lý tuy chưa hoàn hảo lắm nhưng không còn ai nghi ngờ gì là nó trên hẳn những gì người ta có thể tìm thấy được ở Bắc Việt . Những chánh trị gia ở Sài Gòn, như ông Trần văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, đã từng tuyên bố là Việt Nam Cộng Hòa còn có khả năng và cơ hội phát triển các cơ chế dân chủ. Dân chủ nửa vời hay độc tài nửa vời? chắc là chế độ chuyên quyền thì phải hơn, nhưng chế độ Miền Nam Việt Nam này vừa không có thì giờ, vừa cũng ít có thiện chí để chứng minh khả năng của mình.. Lịch sử hiện tại và lịch sử của một nước Việt Nam thống nhất, trước hết đã cho thấy là không có một chế độ cộng sản nào không tiếp tục tồn tại, không bao giờ dân chủ hóa, trừ khi tạm thời từng đoạn ngắn, có “đổi mới” hay không cũng vậy. Trái lại các chế độ chuyên quyền cánh hữu không bị mất phẩm chất. Như các nước Bồ đào Nha của ông Salaxar, Tây ban Nha của ông Franco, Hy Lạp của các tướng lãnh, và gần đây nhất gần hết các quốc gia thuộc châu Mỹ La tinh đã chuyển hay đang chuyển từ Chuyên Quyền sang Dân Chủ Tự Do. Và sự trị vì của Tổng Thống Pinochet cũng được tính từng ngày.. Đó là một trong những khác biệt căn bản giữa chế độ độc tài cộng sản và chế độ chuyên quyền “cánh hữu”. Trong biến cố sụp đổ của Sài Gòn, ông Soljenitsyne đã chạm nặng cánh tả khi ông tuyên bố là người ta sẽ được tự do hơn dưới chế độ của ông Franco (Tây ban Nha) hơn là ở Liên Bang Sô Viết. Thế nhưng đó là sự thật. Một trong những sự thật mà cánh tả không cộng sản chưa chấp nhận hay không chịu đưa vào các bản phân tích của họ. Trong số cánh tả đó có cả những người Mỹ với tính hào phóng và thiện ý của họ đã chống đến ngày 30tháng 4 1975 giùm cho Bộ Chánh trị Hà Nội, mà lúc nào cũng tưởng rằng họ bênh vực cho CPLTCHMN vốn đòi hỏi một chế độ đa nguyên. Cũng có nhiều người Việt Nam nữa, những nhà chánh trị sa lông, vốn mê say vì tiếng đờn của cộng sản (nguyên tác: sirènes communistes) và những ý định thường được CPLTCHMN phô trương, như giáo sư Trần văn Dĩnh đã khéo trình bày.(giáo sư này dạy học rất lâu ở Hoa Kỳ, bỏ về Việt Namtheo CPLTCHM , nhưng sau 30/4/75 mới vỡ mộng vì hai chữ “giải phóng”, nên rời bỏ hẳn đảng cộng sản Việt Nam.)
Lịch sử bắt buộc phải xét lại, nhìn thẳng vào cuộc chiến ở Việt Nam và nhìn thẳng vào giai đoạn cuối cùng về sự thất thủ của Sài Gòn .Không phải chỉ có việc chọn lựa giữa độc tài và chuyên quyền, cả hai đều không được chấp nhận. Cũng không được phủ nhận các lỗi lầm, kể cả những tội ác .. của Hoa Kỳ hay những chính phủ nối tiếp nhau ở Sài Gòn, nhưng phải bóc trần ra hết sự kiện thiếu thông tin đã khiến cho lịch sử Đông Nam Á bị bưng bít trong suốt cả hậu bán thế kỷ thứ 20.
Sự chống trả của người dân Miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30 tháng 4 1975 đã không đến nỗi vô ích.. Không có nó, nhiều quốc gia ở Đông Nam Á trong đó có Thái Lan, Mã lai Á, Tân Gia Ba… sẽ không có thì giờ để cất cánh trên phương diện kinh tế, và do đó hạn chế được những cơ may bị cộng sản cướp chánh quyền. Bây giờ thì ở Đông Nam Á Châu, không có một người dân nào dù là ở thành thị hay ở thôn quê xa xôi hẻo lánh nhất… ai ai cũng biết là chế độ cầm quyền ở Việt Nam là một chế độ công an trị, với một nền kinh tế không hữu hiệu, nhất là đối những người không được ưu đãi.
Người ta có thể biện hộ, người ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi mà sẽ không có ai trả lời được. Điều gì sẽ xảy ra nếu Tổng Thống Woodrow Wilson tiếp ở Versailles vào năm 1919 một người dân Đông Dương mặc áo dắc-kết đến đòi độc lập cho nước Việt Nam? Đó chính là ông Hồ chí Minh, lúc bấy giờ ông ta có thể là một người quốc gia trước khi ông ngửi được mùi cộng sản. Trên một chục năm sau, được thuyết lê- nin-nít nhào nặn, dĩ nhiên Hồ luôn luôn và trước nhất hành động như một người cộng sản. Lương tâm của những dân tộc dân chủ hình như thay đổi theo hình học. Người ta đã phải mất 40 năm mới thấy được “ốc đảo” (nguyên tác: Goulac) ở Liên Xô, và người ta phải mất 30 năm mới nhận ra được “ốc đảo” ở Trung Cộng. Nhưng chỉ có 3 năm thôi cũng đủ để nhận ra được hiện tượng ‘tập trung cải tạo” (ốc đảo) trên toàn cõi nước Việt Nam.
Xuyên qua cuộc chiến thứ hai này ở Việt Nam, cả hai dân tộc Hoa Kỳ và Việt Nam đã gặp nhau trong những hoàn cảnh bi đát nhất của lịch sử. Mặc dầu họ có thiện chí, dù ngây thơ hay hung bạo, người Mỹ cũng không hiểu biết gì nhiều về Việt Nam và nền văn hóa của quốc gia này. Về phần mình , người dân Miền Nam Việt Nam cũng không biết tý gì về văn hóa và thể chế của Hoa Kỳ . Trước tiên người Mỹ xuất hiện như một đạo quân chống cộng. Nhưng xuyên qua những bài diễn văn kiểu dân chủ tự do, họ đã không được dân chúng hiểu nổi. Tổng Thống John Kennedy đã có những quyết tâm quá lý tưởng và bao che cho cái chết của Tổng Thống Ngô đình Diệm. Dưới nhãn quan của nhiều người dân Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ trước hết là đại diện cho bổng lộc của Trời, một loại viện trợ theo kế hoạch Marshall vô tận, về Mỹ kim, về coca cola, về quần jeans, về học bổng,……
Rồi cũng phải kể đến những sự kinh hoàng của chiến tranh, một cuộc chiến được tiến hành trước hết với một niềm vui, sau đó với một sự hoài nghi ngày càng tăng cao, đôi khi với một sự vô liêm sỉ khi đối diện với những sự đau khổ và những sự tàn ác. Có rất nhiều người Việt Nam đã nhớ tới những phương thức truyền thống của chiến tranh, từ những lời khoa trương hay hùng biện của một sĩ quan sau một trận đánh, hay từ lời nói đùa đến ra nước mắt và những biểu ngữ của lực lượng đặc biệt Mỹ như: “Nếu anh giết địch để kiếm tiền thì anh là một người lính đánh thuê, nếu anh giết địch để lấy đó làm vui thì anh là một người lính tàn ác, nếu anh giết địch vì cả hai mục đích thì anh là một người lính mũ xanh của lực lượng đặc biệt”
Tổng Thống Richard Nixon đã viết là: “Việt Nam là một thảm kịch đối với người Mỹ”. Dĩ nhiên rồi, những trước hết đó là một thảm kịch và mãi mãi là một thảm kịch của người Việt Nam. Vào lúc mà Sài Gòn sắp bị cộng sản chiếm, đại sứ Graham Martin đã có nói là: “không có dễ gì để được là một người Mỹ ở Sài Gòn” Nhưng nhất là không dễ gì được là một người dân Miền Nam Việt Nam. Đối với dân tộc Việt Nam tuyệt vời này, chiến tranh vẫn còn là một vết thương nhức nhối, một chất thuốc độc còn âm ỉ mãi mãi còn có hiệu lực ….
Đối với những người còn sống và được sống sót, cuộc chiến này là những kỷ niệm, là những chuyện lừa dối, là cay đắng. Người ta không thể nào quên những lời khoác lác của những người làm chánh trị , cũng không bao giờ quên sự can đảm của những chiến sĩ vô danh. Đã có quá nhiều người Việt Nam không có sống được trọn vẹn thời ấu thơ và thời niên thiếu của mình. Về nền văn minh của Hoa Kỳ, có rất nhiều người Việt còn ở Việt Nam nhất là ở vùng nông thôn, chỉ còn ghi nhớ được một vài dấu hiệu của các chiến binh Mỹ, một cây súng M.16, chất nỗ C.4, hay một vài tiếng Mỹ bình dân như mama papa v.v.. mà thôi. Đầy hối hận và thất vọng, các quân nhân Mỹ hiện dịch hay trừ bị đều rất ít khi muốn nói tới vấn đề “chiến tranh nhân dân” của kẻ thù cộng sản .Có nhiều người bị giết , đôi khi bị tàn sát, kể cả đàn bà, trẻ con và người già. Đối với cộng sản thì tất cả những người này đều là tiềm năng chiến đấu của họ hết. Đã có nhiều người lính Mỹ vì gan lì hay vì tức giận đã hạ sát thường dân. Họ thường tự vấn lương tâm của họ: anh bắn chết họ, điều đó sẽ làm anh bực mình. Nhưng anh sẽ càng bị bực mình gấp bội nếu anh không bắn chết họ, khi mà quả lựu đạn để trong rổ của một chị đàn bà phát nổ vào mặt anh, hay khi người bạn thân của anh giẫm lên phải một trái mìn!
Ở phương Tây, chiến tranh của cộng sản được anh hùng hóa. Người ta ít khi nói tới những cuộc tàn sát của cộng sản nhất là những cuộc tàn sát hằng loạt dân thường ở Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, hay những cuộc tra tấn và các cuộc hành quyết trong làng, mà dĩ nhiên không có một nhân chứng Tây Phương nào; trong lúc các nhà báo Mỹ, Pháp, Anh, Ý, Đức với máy quay phim chụp ảnh sẵn sàng, bất chấp hiểm nguy nghề nghiệp lại làm chứng cho những chuyện sai trái của binh sĩ Miền Nam Việt Nam và của Hoa Kỳ .Cộng sản Bắc Việt thường khoe khoang về sự “khoan hồng” của họ. Nhưng phải đợi đến lúc các tù binh Mỹ được trở về rồi người ta mới biết được họ đã bị tra tấn về vật chất lẫn tinh thần đến như thế nào. thế những lời chứng của họ lại không được báo chí Âu Châu đăng tải. Và phải đợi đến khi cuốn phim “Trung Đội” (nguyên tác: “Platoon”) được trình chiếu năm 1987 thì người ta mới cho thấy được hình ảnh của người lính chiến Hoa Kỳ đã bị các bộ đội cộng sản đóng đinh lên thập tự giá, với đúng nghĩa của nó, như thế nào.
Ngay ở trung tâm thủ đô Hoa Thạnh Đốn, cách dòng sông Patomac không bao xa, bằng khoảng cách từ Bộ Ngoại Giao đến đài kỷ niệm của Tổng Thống Lincoln, là một trong những đài chiến sĩ trận vong gây nhiều xúc động nhất. Đài này không cao lắm, không hiên ngang , hùng vĩ, gần phân nửa được chôn xuống một bải cỏ xanh rộng lớn. Vào mùa xuân thì chung quanh toàn hoa tu líp, lại thêm có hoa thủy tiên và anh đào Nhật Bản. Trên 70 miếng cẩm thạch đen, có khắc 58.022 tên người Mỹ bị tử trận hay bị mất tích ở Việt Nam. Rất giản dị, gần như kín đáo, “bức tường cẩm thạch đen” này không vinh danh chiến tranh.. Nó nhắc nhở người ta về “chiến tranh”, trước tiên là nó nhấn mạnh rằng chiến tranh giết người. Xa xa hơn kiệt tác rất tân thời và giản dị này một chút, chánh quyền đã cho dựng lên một tác phẩm điêu khắc cổ điển hơn, thể hiện ba người lính mà một người là da màu, mặc áo giáp chắn đạn và mang súng liên thanh.
Khi người ta đi dạo trước “bức tường cẩm thạch đen” này, người ta nghe liên tục tiếng phi cơ bay lên hay đáp xuống. Phi trường quốc gia của Hoa Thạnh Đốn ở gần đây , ngay trung tâm thủ đô Hoa Kỳ, và người ta không thể không liên tưởng tới hình ảnh của vũ điệu trên không trung của các phi cơ và trực thăng ở Tân Sơn Nhất, nơi mà giờ này đang chờ đón các phi cơ Bear, những phi cơ ném bom chiến lược của Liên Xô.
Người ta hãy còn tiếp tục khắc vào “bức tường đen” các tên mới. Trên tấm cẩm thạch số 11 W người ta thấy tên của thiếu úy Richard Van de Geer. Chiếc trực thăng của anh bị Khmer Đỏ bắn rơi ngày 15 tháng 5 năm 1975, khi họ tấn công chiếc tàu Mataguez của Hoa Kỳ.
Tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ chí Minh) tượng đài “chiến sĩ Việt Nam”, nằm gần Quốc Hội đã bị cộng sản phá sập. Chánh quyền cộng sản đã thiết lập các đài chiến sĩ trận vong của họ ở chỗ khác.
Không còn một tượng đài nào của người lính chiến Miền Nam Việt Nam và dĩ nhiên cũng không có tượng đài nào nhắc nhở sự có mặt của người kháng chiến mới……
Sau một thời gian 5 năm suy nghĩ và chuẩn bị, anh Trần văn Bá, cựu chủ tịch Hội Sinh Viên Việt Nam ở Ba Lê, quá chán vì những cuộc bàn cãi suông của cộng đồng người Việt ở Ba Lê, ở Hoa Thạnh Đốn hay ở những nơi khác, anh quyết định dấn thân xa hơn, tức là về ngay Việt Nam để kháng chiến.
Ngày 6 tháng 6 năm 1980, anh bay sang Thái Lan. Từ Băng Cốc, anh đi sâu vào hoạt động bí mật,
vào Cam Bốt và sau đó vào Việt Nam. Anh Trần văn Bá không phải là một nhà trí thức, nhưng anh đã soạn ra một triết lý chánh trị. Triết lý này nói lên được khát vọng của hầu hết người Việt Nam lúc này. Anh tự nhủ thầm rằng anh là một thành viên của chủ nghĩa “xã hội tự do kiểu Thụy Điển”. Thơ mộng và quá tự tin và liều lĩnh, anh gởi về Ba Lê một bức thơ từ thành phố Hồ chí Minh ngày 6 tháng 6 năm 1982, trong đó anh viết:
_ “Tôi vẫn mạnh khỏe, cũng cực lắm. Thật tình là quá cực, quá khổ và đói..”
Đối với anh Trần văn Bá, tương lai của người Việt Nam “sẽ phải do kháng chiến từ trong nước… chớ không phải từ những người chánh trị lưu vong.” Trong một bức thư khác , anh yêu cầu người ta gởi cho anh một quyển sách của ông Gérard Chaliand, nói về “chiến lược du kích chiến”… Anh không nhớ rõ tên quyển sách, nhưng bìa quyển sách có in hình của một anh Goya, “có một người bị xử bắn”.
Anh Bá đánh cuộc vào sự tan rã trong dài hạn của đảng cộng sản Việt Nam và danh xưng của đảng này. Anh tỏ ra lo lắng về sự chệch hướng có thể xảy ra của mọi cuộc kháng chiến, những nguy cơ về khủng bố, dù có hay không có đổ máu. Làm sao tay không dính máu được? Anh thường nói với những người bạn đường của anh, một nhóm gọi là du kích rất nhỏ:
_ “Kháng chiến không cho phép ta giải quyết được hết mọi chuyện. Nó giúp mình dối diện chớ không phải quỳ gối xuống. Mình phải cố chơi trò đốt pháo bông mà chỉ với những cây nến nhỏ bé mà thôi.
Anh đã nói với Tòng, người anh của mình khi Tòng đến gặp anh tại biên giới Thái Lan nửa cười nửa sầu muộn:
_ “Tôi đang đập các hòn sỏi ra để vá Trời….
Mặc dầu có một cái bớt màu rượu chát đỏ trên màng tang làm cho người ta dễ nhận ra mình, nhưng anh vẫn cứ đi khắp Miền Nam Việt Nam đang bị cộng sản chiếm đóng, có đôi khi anh còn quá giang trên xe Jeep của Quân đội cộng sản nữa.
Không biết vì khinh suất hay vì bị phản bội, anh bị bắt với những đồng đội của mình vào tháng 9 năm 1984, có thể là vào ngày 11.
Ra tòa, Trần văn Bá bị ghép vào tội phản bội tổ quốc, cùng với anh Mai văn Hạnh, người cựu phi công, một trong hai người đã đến Sài Gòn vào những ngày sau cùng trước khi Sài Gòn bị thất thủ, để cố thuyết phục Tổng Thống Dương Văn Minh nên trao quyền lại cho cựu Thủ Tướng Trần văn Hữu.
Chánh quyền cộng sản muốn có một tiếng vang lớn nên mời các nhà báo ngoại quốc đến dự phiên tòa . Phiên tòa được xử ở nhà hát Tây, trước khách sạn Continental, ngay trung tâm thành phố. Biên bản được đọc lên ngày 18 tháng 12, gồm có 29 mục hơi rời rạc, nhất là phần cáo giác chánh quyền, nêu lên những khó khăn ở Miền Nam Việt Nam đầy rẩy công an khắp nơi, nhồi nhét ý thức hệ, tra tấn và hành hạ người ở các trại tù lao động khổ sai nhưng không cải tạo được ai. Các lãnh đạo đảng cộng sản đã rập khuôn theo các phiên xử kiểu sít ta lin nít, tức là không cho các bị cáo có quyền lên tiếng, các cuộc tranh cãi không có chút gì mâu thuẩn với nhau và cả 21 bị cáo đều có luật sư do chánh quyền chỉ định, rất lạ lùng, vì họ xác nhận là tội trạng đã quá rõ ràng với những bằng chứng không thể chối cải được. Các luật sư cũng có giải thích là các bị cáo không biết chính xác tình hình ở nước Việt Nam cách mạng và yêu cầu Tòa hảy có một bản án khoan hồng. Có một đoạn nào đó của phiên tòa được đưa lên truyền hình.
Bị cáo Mai văn Hạnh, hốc hác và kiệt sức, khai rằng:
_ “Tôi hiểu những hoạt động của tôi là tiêu cực …. Tôi là một đồng lõa với Trung Quốc và Thái Lan….Tôi thành thật hối lỗi…Tất cả những sự thú tội bị cưỡng ép, được đọc đi đọc lại cho bị cáo viết, được cái lưỡi gỗ phát ầm lên lại từ đầu đến cuối. Mạc tư Khoa (Liên Xô), Prague (Tiệp Khắc), BudaPest (Hung gia Lợi), Tirana, Sài Gòn: sai trái, giết người, công lý, khủng bố đều giống nhau hết, người ta còn ở quá xa đối với chuyện hòa hợp và hòa giải đã được mồ ma CPLTCHMN từng hô hào.
Anh Trần văn Bá là một bị cáo thứ hai trong vở kịch được dàn dựng quá dở này, một vở kịch chánh trị hơn là một màn pháp lý. Các bị cáo bị buộc tội là đã “chuẩn bị bắt cóc các nhân viên lãnh sự quán và những kỹ thuật gia người Pháp”, một việc quá đỗi phi lý, vị tất sẽ xảy ra vì không thế nào họ thực hiện được.
Tòa đã khoan hồng theo lời yêu cầu của các luật sư, với 5 án tử hình, trong đó có anh Trần văn Bá. Anh đã từ chối không ký tên vào đơn xin ân xá.
Hào phóng một cách rất tự nhiên, anh Bá đã nói với quan tòa:
_ “Tôi rất tiếc là đã gặp ông trong những hoàn cảnh quá khó khăn này!
Và đây là lời nói cuối cùng rất nặng của anh Bá trước phiên tòa:
_ “Một người bạn ngoại quốc đã có nói: Khi người ta mất niềm tin rồi, thì người ta sẽ mất tất cả..”
Một chiến dịch của thế giới xuất phát từ Ba Lê có lợi cho các bị can, đã làm cho Hà Nội cáu lên trong bối rối. Tánh cách lố lăng về pháp lý của phiên tòa được chiếu trên truyền hình và phổ biến khắp Tây Phương cũng như Đông Phương… đã làm rơi bộ mặt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất. Xuyên qua phiên tòa, đã có một hậu quả tai hại không lường được; có những người cộng sản Việt Nam đã tung ra một ý kiến:
_ “Ở Việt Namđã có một cuộc kháng chiến đầu tiên, chống Pháp, sau đó là một cuộc kháng chiến thứ
hai, chống Mỹ, bây giờ hơn 10 năm sau khi Sài Gòn bị thất thủ, lại có một cuộc kháng chiến thứ ba
nổi lên, – khó mà phân tích và định lượng được – lần thứ ba này thì chống cộng sản”.
Bản án chắc chắn là sẽ làm cho những người Việt Nam chỗ khiếp đảm. Nhất là nó cũng báo động cho dư luận quốc tế vốn đang cố quên Việt Nam. Cuộc kháng chiến thứ ba này không thể ghép vào với những hoạt động ba hoa và hỗn độn của các nhóm người tỵ nạn trong các cộng đồng Việt Nam ở Pháp hay ở Hoa Kỳ.
Ở phía trước cửa nhà hát – tòa án thành phố Hồ chí Minh (nguyên tác: “théâtre-tribunal”), chánh quyền chất đống một số vũ khí đã tịch thu được, để cáo buộc một sự phản bội cao độ của các bị cáo.. Do đó có một câu hỏi được nêu lên: “Nếu Trần văn Bá và những bị cáo khác chuyên chở xuyên qua Miền Nam Việt Namquá nhiều súng trường, súng lục, súng liên thanh và lựu đạn .. như thế này, thì tất nhiên họ phải có nhiều sự ủng hộ, và nhiều hệ thống.”
Bà mẹ của anh Trần văn Bá đến nước Pháp, yêu cầu được tòa đại sứ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp. Đại sứ là đại tá Hà văn Lâu, một trong những nhân vật đầu não của phái đoàn Bắc Việt ở Ba Lê tháng 5 năm 1968 và của “chi bộ tấn công ngoại giao” ở Hà Nội năm 1975, đã từ chối không chịu tiếp người đàn bà già nua này.
Chánh Phủ Pháp xin ân xá được ông Mai văn Hạnh, vốn là người đã có một giấy thông hành Pháp, điều mà anh Trần văn Bá không có.
Ngày 8 tháng 1 năm 1985, dựa trên một bài báo xuất bản ở Sài Gòn , một điện tín đã loan báo là anh Trần văn Bá đã bị hành quyết. Tuyệt đối không thấy có một bằng chứng cụ thể nào của sự hành quyết này. Chánh quyền cộng sản không chấp nhận hoàn trả lại thi hài. Các nhân chứng đã tham dự vào cuộc hành quyết ngày 9 tháng giêng ở nghĩa trang Quân đội Thủ Đức, cách thành phố Hồ chí Minh 15 cây số. Các nạn nhân bị trùm kín mặt bằng một mũ trùm đầu. Theo một số người thì anh Trần văn Bá đã chết vì bị tra tấn. Với những người khác, thì anh Bá có thể sẽ không đến đỗi phải bị xử bắn.
Do đó, cộng sản Bắc Việt đã đưa Trần văn Bá đi vào một truyền thuyết gần như luôn luôn đơn giản và có tính phi nhân. Có một số người Việt Nam còn trẻ thuộc thế hệ mới, xuyên qua nước Việt Nam và xuyên qua sự ly tán của dân tộc, đã biết ơn anh Trần văn Bá. Có những bài báo Việt Nam ở ngoại quốc đã cho anh Bá đứng bên cạnh ông Kinh Kha của nước Tàu. Hai ngàn năm về trước, ông tráng sĩ này đã đi trừ khử một bạo chúa, người đã cho dựng lên Vạn Lý Trường Thành, người đã đốt sách, người đã giết hết trí thức và các quan lại. Người ta cũng đã ví anh Trần văn Bá với một chiến sĩ chống thực dân, đã bị người Pháp xử tử hình mà nhất quyết đòi cho anh được nằm ngửa, khi anh tuyên bố: “Tôi muốn được nhìn Trời.” nhưng thực ra là để có thể nhìn thấy máy chém rơi xuống cổ mình. Điều càng gây thêm bực tức cho những người lãnh đạo ở Hà Nội là có nhiều bình luận gia người Việt Nam đã không ngần ngại xem anh Trần văn Bá như “một ông Hồ chí Minh mới, một ông Hồ chống cộng.”
Anh Trần văn Bá, cũng như một số kháng chiến vô danh khác, có phải là một người theo chủ nghĩa thực tế, hay theo một lý tưởng chủ nghĩa? Có phải anh là một vị anh hùng, hay một người đã chịu hy sinh vì lý tưởng một cách vô ích? Anh rất tin tưởng ở giá trị của dân chủ Tây Phương. Các sự tự do mà những người mác xít lê ni nít, sít ta li nít của Hà Nội đã cho đó chỉ là hình thức, nhưng anh Trần văn Bá đã tin tưởng chính đó mới là thực tế nhất. Cuộc tranh đấu mà anh đã dấn thân vào và những người khác đang tiếp tục, liệu có phải là một ảo ảnh vô vọng hay la một sự đánh cuộc đáng kính, đáng lĩnh hội và đáng được giúp đỡ?
Khi người ta lưu ý những nhà tranh đấu người Việt Nam rằng cho tới giờ này khi đã trở thành cộng sản rồi không một quốc gia nào chịu buông bỏ con đường cộng sản của mình, thì những người này trả lời ngay rằng:
_ “Chúng tôi cũng biết. Nhưng về địa dư thì nước Việt Nam bây giờ ở quá xa với Liên Xô. Về phía Bắc thì Việt Nam phải đối đầu với một kẻ thù truyền kiếp là Trung Quốc. Cánh dân sự và cánh quân sự đều chán nản, bại hoại, bi quan. Đối với chúng tôi , không phải chỉ bằng chiến đấu quân sự. Nhất là chúng tôi tranh đấu về chánh trị. Sớm hay muộn gì dân tộc Việt Nam cũng sẽ nổi dậy. Năm năm, mười năm, có lâu gì đâu trong lịch sử Việt Nam. Không có gì không thể lật ngược lại được hết, kể cả chủ nghĩa cộng sản.
Trước cũng như sau ngày Sài Gòn bị thất thủ, trong suốt tháng tư nghiệt ngã năm 1975, và ngay bây giờ đây, hy vọng của người Việt Nam, dù là cộng sản hay quốc gia, dù theo cánh tả hay cánh hữu … đều tìm cách dấu kín số phận của mình, nhưng không bao giờ thiếu kiên trì và tự tin, đầy hy vọng và anh hùng tính.
Trong tất cả các chế độ cộng sản, liệu chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ là chế độ đầu tiên cầu xin được tha thứ ??
Cả thế giới vừa được mục kích một câu chuyện thương tâm xẩy ra vào ngày 13/10/11 tại thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông, Trung Cộng. Theo hình
ảnh được camera ở góc đường ghi lại, một bé gái đang đi trên một con đường nhỏ trong một khu chợ vào lúc trời sẫm tối, bị một chiếc xe tải nhỏ đâm phải, em bé té xuống đường và bị xe cán qua bánh trước. Chúng ta thấy xe ngừng lại mấy giây, có vẻ ngần ngừ rồi lái xe đi tiếp, cán qua người đứa trẻ lần thứ hai bằng bánh sau mà không dừng lại. Mấy phút sau, một xe tải khác chạy đến, tiếp tục cán lên phần chân của em bé làm máu chảy loang ra thành vũng.
Sau đó có ít nhất 17 người trong khu chợ qua lại bằng xe gắn máy hay đi bộ chứng kiến bé nằm trên vũng máu mà không một ai chạy đến gần hay có phản ứng gì. Nhiều chiếc xe gắn máy chạy qua, tránh chỗ em bé nằm rồi đi thẳng. Một phụ nữ dọn dẹp vệ sinh trong khu chợ là người đầu tiên chạy lại bồng em bé lên và gọi bà mẹ em đến, đưa vào bệnh viện. Vì thương tích quá nặng, bé gái Duyệt Duyệt đã qua đời. Sau khi bị bắt, người tài xế đã giải thích:”Nếu nó chết, tôi chỉ phải trả khoảng 20,000 quan, nhưng nếu nó bị thương tật, tôi sẽ phải bỏ ra hàng trăm ngàn quan”. Trong một hoàn cảnh xã hội như vậy, hành động của người phụ nữ quét rác bồng em bé lên được coi như hành động của một kẻ “khác người”, muốn nổi tiếng, một hành động “quân tử Tàu.”
Cũng với sự tính toán “chết rẻ hơn bị thương“, tám ngày sau cũng tại Trung Cộng, ở Lô Châu, tỉnh Tứ Xuyên, một xe vận tải nặng đã cán phải một em bé trai đang trên đường tới trường. Một nhân chứng kể lại chính ông đã trông thấy chiếc xe lùi một chút rồi lại lao lên, cán lên thân hình đứa bé và tiếp tục chạy thêm khoảng 10m nữa. Sau đó, tài xế nhảy ra khỏi xe tải và câu hỏi đầu tiên y bật ra cửa miệng là: “Tôi sẽ phải trả bao nhiêu đây?” Trong trường hợp trên người tài xế đã suy nghĩ rằng trả tiền bồi thường cho một nạn nhân chết sẽ rẻ hơn chi tiền bệnh viện nếu nạn nhân chỉ bị thương.
Chuyện xẩy ra trên đây không khác gì những chuyện “vô cảm” thường xẩy ra trên đất nước Việt Nam hôm nay. Cái cảnh cán người chưa chết nên phải lùi xe lại để cán qua lần nữa. Cảnh một công an giao thông bị cán qua bụng chết nửa người, phần trên đang ngắc ngoải cố nhấc mình dậy, không ai đến đỡ hay gọi xe cấp cứu nhưng có người bình thản đứng quay phim suốt mấy phút để đưa lên “mạng.” Chuyện nhỏ trong xóm làng như dân làng gậy gộc giết và thiêu sống người trộm chó, chuyện công an đánh, đạp, giết người. Chuyện lớn như công nhân bị bỏ rơi, đi ăn xin ở nước ngoài mà đại diện chính quyền Việt cộng sở tại quay mặt trốn trách nhiệm hay hằng trăm dân oan nằm đường khiếu kiện mà bọn cường quyền vô trách nhiệm làm lơ. Hiện tượng vô cảm của đa số dân chúng Việt Nam trong nước đã được đề cập, mô tả và phê phán trong nhiều bài viết. Chưa kể đến thái độ bàng quan đối với những chuyện thương tâm xảy ra trước mắt mà việc can thiệp không nhất thiết sẽ gây những kết quả tổn hại nào đến cho họ, đối với những vấn đề lớn của đất nước, đại bộ phận dân chúng Việt Nam được mô tả trong các bài viết này còn dửng dưng xem như không liên quan gì đến bản thân mình.
Phân tích tâm lý, chúng ta thấy con người thường sợ bị liên lụy, khi can thiệp vào những chuyện không phải của mình, “ách giữa đàng chớ mang vào cổ”, nhất là khi người ta không tin vào một thứ luật pháp công chính, sợ rắc rối với chính quyền, khi phải khai báo, tường trình hay làm nhân chứng cho một vụ án. Trong một xã hội lừa lọc giả dối người ta còn sợ cả sự đóng kịch để lừa người, dần dần tình cảm con người chai đá không biết xót thương.
Thuở thiếu niên, ngày mới vào Saigon lần đầu tiên, có thể thấy cái mặt “tỉnh lẻ” tôi còn ngơ ngơ ngáo ngáo, một ông tiến lại gần: “Cậu cho xin một đồng mua ổ bánh mì.” Sau khi nhận một đồng khá dễ dàng, ông ta lại dở nón ra:”Cậu cho thêm một đồng mua tờ báo để lót ngủ tối nay!” Tôi ngần ngừ làm người nhân ái, sắp móc túi lần thứ hai thì thằng bạn Saigon đi bên cạnh, kéo mạnh tay tôi: “Đồ ngu! Đi lẹ lên mày!” Gần đây một đứa cháu của tôi về Việt Nam, một chiều mưa, đi chơi với bạn, nhìn thấy hai đứa trẻ rách rưới đang ngồi co ro bên gốc cây tội nghiệp, muốn thăm hỏi, giúp đỡ, nó bảo bạn dừng xe lại, nhưng thằng bạn đã gắt:
“Chúng giả vờ đấy! Đừng bị lừa! Mày hơi bị ngu!” Vậy thì còn biết trải lòng thương xót ai.
Trong xã hội Việt Nam bây giờ không thiếu nhữnglời than thở giả tạo: “mất cắp không tiền về xứ”,“nhànghèo, đông anh em, cha mẹ mất sớm” ... cũng nhiều cảnh những trẻ mồ côi bị bẻ chân tay cho thành tàn tật để đi ăn xin, những ông sư giả đi quyên tiền giữa chợ. Vậy thì còn biết tin ai và lòng trắc ẩn để đâu cho đúng chỗ.
Đối với hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, những chuyện “vô cảm” kiểu trên không phải ngày một ngày hai mà có, nó tích lũy từ ngày “giải phóng” khi văn hóa tốt đẹp của một đất nước bị tàn phá, sách vở bị đốt, thầy giáo bị đi tù, một nền giáo dục “tiên học căm thù,hậu học văn” được phổ biến. Khẩu hiệu “mình sống vìmọi người” được giương cao nhưng thực chất là chúng đạp lên nhau mà sống. Con người trở thành chai đá trước nỗi khổ của đồng loại, vì nỗi khổ của mình cũng không ai thèm để ý đến.
Cái chết, niềm đau, nỗi khổ của đồng loại đôi khi trở thành trò giải trí cho người khác, vì chủ đích tuyên truyền. Ở miền Bắc trước năm 1975, đấu tố địa chủ thì bắc loa buộc cả làng tham dự: “Giết, giết nữa, bàn taykhông phút nghỉ, cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,” hay “Thắp đuốc cho sáng khắp đường/Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay/Lôi cổ bọn nó ra đây/ Bắt quỳ gục xuống đọa đày chết thôi!” Sau 1975, xử tử những người yêu nước thì tổ chức tại sân vận động, lùa dân phố, phường khóm đi xem. Con người dần dần bớt xúc cảm, không hề thương xót và chai lì với những cảnh chặt đầu bêu giữa chợ, hay cảnh những xác chết bị thả trôi sông. Cũng trong thái độ “vô cảm”, nhằm mục đích đào tạo cho đất nước những vận động viên “siêu việt” trong các bộ môn cá nhân, bọn huấn luyện viên Trung Cộng đã hành hạ nhiều thiếu nhi bằng cách uốn ép xương sống các em, treo các em lên xà ngang hay ngồi lên mình các em không hề thương tiếc. Cứu cánh là cần thiết, mọi phương tiện đều không đáng kể.
Câu chuyện của em bé Duyệt Duyệt đã được cả thế giới bày tỏ sự xúc động và căm phẫn về thái độ “vô cảm” trong chế độ Cộng Sản Tàu mà Việt Nam hiện nay là một phiên bản. Người ta cảm thấy ghê tởm bởi thái độ dửng dưng, lạnh lùng của con người trước cái chết đau đớn quằn quại của một con người, lại là một em bé yếu đuối, còn thua cả một con chó, con mèo trước cái chết của đồng loại. Liệu rồi đây khi chế độ Cộng sản đã bị quét sách khỏi trái đất, phải bao nhiêu năm để xây dựng, đào tạo lại con người.
Nghĩ mà thương nhớ đến trang luân lý giáo khoa thư của những ngày xưa thân ái.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.