Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 25 Mar 2026

Chương 9

Ba Trung đội trưởng từ ba góc phi đạo đi đến, Thiếu uý Chí Trung đội trưởng Trung đội 3, tướng người vốn to lớn, thứ xương to, mập thịt nặng nề bề thế nhưng chỉ qua hai ngày không ngủ, Chí hốc hác trông thấy, râu mọc loạn xạ vàng úa trên khuôn mặt ố bẩn, Thuấn hỏi đùa Chí: 
“Sao ông to con mà yếu vậy?” 
“Đâu biết, tôi không ngủ là không đứng nổi”. 
Thuấn nhìn các Trung đội trưởng một vòng trước khi nói, sáu cặp mắt mệt mỏi cố chú ý vào lời Thuấn, những sợi gân máu ửng đỏ nổi bật trên tròng mắt màu trắng. 
“Đây, Tiểu đoàn bắt mình chiếm cái cửa An Hoà…” 
“C… Chiếm làm gì mấy cái cửa, giữ Bộ Tư lệnh và mấy chỗ trọng yếu đủ chết rồi, còn bày đặt tấn công”, Trung đội trưởng Trung đội 1 rú lên. 
“Biết vậy, nhưng không hiểu lệnh từ đâu xuống, Tiểu đoàn bắt phải thế”. 
“Đánh thì không ngán nhưng cho tôi ngủ một giấc rồi muốn gì cũng được”. Thiếu uý Chí nói sau cái ngáp. 
Thuấn nhún vai không nói, có một cái gì bất toàn trước khi ra lệnh. Thuấn phân vân. Chiếm cửa thành làm gì? Thuấn cũng muốn hỏi như thế, một đống súng lấy được hôm qua đã bị vất lại trên đường tiến quân, đánh giặc không lấy súng thì đánh làm gì? Thói quen quân đội dạy cho Thuấn: Muốn được gọi là thắng phải lấy được súng của địch, cây súng làm nên anh hùng, xác định khả năng chỉ huy, sự can đảm giúp người sĩ quan bước lên đầy đủ với lời khen, huy chương và cấp bậc. Bây giờ đánh giặc không để lấy súng, Thuấn lạ, lạ hơn nữa trước khi ra lệnh Thuấn vẫn thấy bên cạnh nỗi bâng khuâng có niềm nôn nao thúc giục… 
“Ông 1 (Trung đội 1) đi theo con đường này tiến trước, ông 2 và 3 rút ra sau theo hình nấc thang, có gì để mình rút về đây lại… Tụi nó không đông nhưng bị bắt buộc ở lại đó nên mình phải cẩn thận, con cháu cụ Hồ “tapi” chuyến này, phe ta còn đánh dài dài nên các ông phải giữ vốn”. 
“Có gì yểm trợ không?” 
“Không”. Thuấn xếp bản đồ cho vào túi quần. Thôi các ông đi, tôi theo thằng 3…” Trung đội 1 báo cáo đến cổng thành hai mươi thước, Thuấn ra lệnh bố trí lại xong dẫn hai gã hiệu thính viên len lỏi theo các khu vườn lên đến cuối Trung đội 1. Thuấn bảo viên Trung đội trưởng: 
“Bây giờ cho hai thằng khinh binh chạy lên thử, nhớ bảo tụi nó tránh xa cái cổng, lỡ có gì còn chạy về”. 
Hai gã khinh binh bỏ sắc xuống cúi mình đi ra khỏi khu vườn, sửa soạn chạy qua con đường để vào chân thành. Vừa đến được nửa đường thì súng nổ dài dài dọc trên thượng thành, AK, thượng liên, B40, đồng loạt như một bánh pháo được châm ngòi một lúc. Hai khinh binh thoáng khựng lại, xong lủi hẳn vào chân thành… Thuấn phóng người xuống sau một luống đất, hai gã hiệu thính viên chậm chạp theo sau. 
“ĐM… Nằm đâu cũng được, gì mà phải theo sát sau”. 
“Không theo Đại uý lỡ máy gọi làm răng…” Gã hiệu thính viên người Quảng cằn nhằn. 
“Đến nước này mà mày còn lý luận. Theo tao để chết … Tụi nó nổ dữ quá”. Gã mang máy cười, nụ cười trống rỗng lạ lùng làm Thuấn muốn cười theo. 
“Đưa máy tao nói chuyện với Tiểu đoàn”. 
Vẫn nằm yên sau luống đất, Thuấn báo cáo tình hình với Tiểu đoàn trưởng: 
“Trình Đích Thân (danh hiệu truyền tin) lên không được, tụi nó đầy ở trên đó, thành dày cả thước, M79 bắn vào chỉ trầy được mỗi viên đá. Tụi tôi thử cả trái phải nhưng vô hiệu”. 
“Thôi được, nằm đấy, nhớ nằm ra xa một chút để tôi hỏi lệnh Lima Delta (Lữ đoàn)”. 
Thuấn bỏ máy xuống, nói với một binh sĩ nằm gần nhất: 
“Mày bò lên kêu ông Thiếu uý xuống gặp tao”. 
Viên Thiếu uý lụp xụp chạy đến. 
“Gì Đại uý?” 
“De, lui phía sau khoảng hai cái vườn cho chắc, tụi nó trên cao thấy mình dưới này, nằm một lát nữa ăn súng cối bây giờ”. 
“Vâng, nhưng để tôi kéo hai thằng em về đã”. 
“Sao?” 
“Thằng Hồng với thằng Toàn “đi” rồi!!” 
“ĐM… Mới thấy nó tới được dưới chân thành có can gì đâu?” 
“Dạ, khi Đại uý ra sau này, tôi ra dấu tụi nó trở về, chưa kịp bắn che, thằng Hồng đã dọt lui, thằng Toàn nhảy ra đỡ bị luôn…” 
“Có chắc chết hay bị thương?” 
“Chết, thằng Trung đội phó chạy lên xem rồi…” 
“Sao ông cho nó chạy lên làm gì, thằng cha này gan lắm, chết đi nữa thì tức hộc máu ra đây, Trung sĩ Thái phải không?” 
“Dạ, Trung sĩ Thái”. 
Thuấn nhỏm người dậy chạy lại đầu khu vườn, bên kia đường sát chân thành Trung sĩ Thái đang đứng sát vách vào tường, mũi súng hướng lên cao, hàm râu quai nón lâu ngày không cạo làm mặt Thái trở nên xanh xao, xác hai khinh binh nằm cong trên mặt đường cách chân thành khoảng ngắn. 
“Bắn hết cỡ lên nóc thành”. Thuấn bảo với viên Trung đội trưởng. Súng nổ, vụn gạch và đất trên nóc thành bay mờ mịt. 
“Thái, Thái”. Thuấn đứng dậy hét lớn, vung tay ngoắc liên hồi. Trung sĩ Thái hiểu ý, rời khỏi bực thành, nhảy đến hai xác chết. Thái kéo hai cái xác về thật nhanh, chân của người chết nảy lên mặt đường từng nhịp. Trung sĩ Thái chạy hết con đường bỗng đảo người một vòng, hai xác chết ở hai tay rơi xuống. Thái gượng dậy chạy vào khu vườn Trung đội 1 đang bố trí. 
“Kêu thằng 2 lên”. Thuấn đá vào một người lính nằm kế. “Mày chạy xuống báo ông Trung đội trưởng Trung đội 2 đem cả Trung đội lên trên này, ông Chuẩn uý đến gặp tao. Máy, máy…” Không có tiếng trả lời. “Toản đâu?” Gã mang máy tên Toản lật đật từ dưới chạy lên. 
“Em đây Đại uý”. 
“Sao mày trốn mất tiêu vậy? Sợ chết hả?” 
“Đâu có, Đại uý bảo em nằm lại đừng đi theo”. 
“C… Lý luận nữa”. Thuấn cầm máy liên lạc với Tiểu đoàn xin cho lệnh tấn công. 
“Ông điên hả? Vừa rồi ông bảo đánh không được, giờ này ông xin đánh lên. Lima Delta bảo nằm đó tránh xa xa. Thằng Tiểu đoàn 9 có đến chỗ Thượng Tứ mà không được, cũng kẹt rồi…” Giọng Tiểu đoàn trưởng vang vang trong máy đầy ngạc nhiên và mệt mỏi… 
Thuấn trả chiếc ống nghe lại cho Toản, ngẩng đầu lên. 
“Đại uý gọi tôi?” Chuẩn uý Trung đội trưởng Trung đội 2 vừa đến, giọng thoáng chút lo lắng. 
“Thôi, không cần nữa, lui hết, về sân bay lại, ông dẫn đi trước”. Khi Đại đội về đến sân bay,Thuấn đi tưởng vào trạm hàng không… Trời vừa chiều sương dày, mưa phùn mù mịt, gió rét… Đưa tay lên xoa xoa ở mặt đất, theo nước mưa dính nhớp ở tay, Thuấn đi qua xác người phi công. “Như vậy ông chết được ba ngày rồi đó hả? Gia đình ông có ai biết không? Cha mẹ, vợ hay người yêu đang ở Sài Gòn, Nha Trang hay Đà Nẵng, họ có nhớ đến ông hay đang tìm đường sống dưới cơn mưa đạn trong một thành phố khác?” Thuấn đứng ở cửa phòng đợi nhìn xác người chết ngửa mặt lên trời lất phất mưa phùn. 

“Đại uý cho em mượn hộp quẹt nấu cơm”. Binh nhất Thiên rụt rè hỏi Thuấn. 
“Mày thì khi nào cũng chỉ lo nấu ăn”. Giọng Thuấn pha chút giễu cợt, Thiên không nói, bóp hai tay vào nhau, hai chân run run vì lạnh, nửa vì bối rối. Thuấn nhìn gã lính thân tín chợt thấy lòng trầm xuống, hai ngày hai đêm sát cận kề cái chết và tột cùng khốn khổ, đêm giao thừa chạy bộ từ cây số 17 về đến An Hoà, ngoại ô xứ Huế, gần 20 cây số dồn lên trên đôi chân không cảm giác, không phải chân người đang sai khiến bước tới nhưng chỉ có những bắp thịt chuyển động đẩy đưa thân thể về phía trước, trận đánh ác liệt ở làng Đốc sơ… Hai ngày Thuấn men dọc theo sợi dây vô hình giữa cái sống và cái chết, không thức ăn, nước uống ở trên sông đào, nước tanh mùi máu và hơi người chết. Thuấn nhai vội mấy trái chuối lấy từ bàn thờ bị trúng đạn, nải chuối đã bị cháy sém nám khói đen, người chủ nhà chết trong động tác sửa soạn cho thế quỳ trước bàn thờ… Thuấn sống trong cảnh chết, ăn thức ăn có mùi vị ma quái và thiêng liêng, thức ăn để dành cho tổ tiên trong những ngày Tết. Thuấn không để ý, tất cả năng lực dồn lại để luôn luôn tỉnh táo, để lắng nghe súng cối địch, dặn dò các Trung đội trưởng nhớ phân tán binh sĩ tránh B40, Thuấn nhắn nhủ mình phải sống để ra lệnh rõ ràng, nếu cần la hét chưởi bới các Trung đội trưởng, bảy mươi hai binh sĩ còn lại đang trông chờ Thuấn, họ chỉ có thể đứng và bắn thật chính xác vào một bóng đen đang di chuyển, khôn khéo tránh né một tràng đạn AK, nếu còn nghe giọng ra lệnh, hay chiếc bóng của Thuấn chạy len lỏi qua những thân cây phủ sương dày đặc. Hai ngày nay Thuấn đã sống quên bản thân mình, tất cả giác quan, sức mạnh và phản ứng dựng đứng trên độ căng tối đa của năng lực… Binh nhất Thiên luôn luôn theo Thuấn trong mọi giờ khắc của hai ngày qua. Thuấn ngồi, Thiên khép nép ngồi cách một khoảng, đang ở Trung đội 2 Thuấn chạy vọt lên Trung đội 1, bao giờ cũng vậy, sau hai gã mang truyền tin có bóng dáng lềnh khềnh chậm chạp của Thiên với chiếc ba lô căng cứng vật dụng. 
“Mấy hôm nay Đại uý không ăn cơm”. Thiên đánh hai tay vào nhau để giảm bớt vẻ ân cần của câu nói. 
Thuấn nhìn chiếc má hóp của Thiên nôn nao như trước một ân huệ không trả được. Binh nhất Thiên vốn người cao lớn, ăn khoẻ, có thể ăn không cần thức ăn một hơi mười chén cơm lớn… Mấy hôm nay Thuấn không ăn cơm, Thiên không dám nấu, Thiên sợ phải ăn một mình trong khi ông thầy bận la hét chỉ huy. Thiên nhịn ăn người hốc hác thấy rõ… “Đại uý ăn trái chuối, Đại uý ăn bánh tét”. Thiên lần mò tìm kiếm trong ngõ ngách của những nơi đi qua để tìm thức ăn cho Thuấn, quên hẳn nhu cầu cho chính thân mình, một cơ thể yên lành, khoẻ mạnh và bình thường. Thuấn thấy nét trũng trên má Thiên, vòng thâm quanh đôi mắt… ” ĐM…” mày ốm nhóm, Thiên ơi”. 
“Dạ”. Binh nhất Thiên cười, Thuấn cười theo. Hai thầy trò cười thật vô nghĩa, có một niềm hoan lạc thật ấm áp len lỏi trong hơi lạnh của buổi tối đang nặng nề vây bủa. 
“Mày định nấu cơm, nhưng có gì để nấu?” 

“Em còn giữ gạo và đồ nấu ăn”. 
“Tối hôm kia mày không ném đi?” 
“Không, có ăn cơm vẫn hơn Đại uý, hơn nữa cái soong này còn mới, em mua trong tháng rồi…” 
“Mày vác nguyên ba lô chạy từ ngoài Quảng Điền vào?!” 
“Dạ… Đại uý cho em mượn hộp quẹt”. 
“Tao không có, mày kiếm đâu đó, ra chỗ thằng người chết biết đâu kiếm được cái Zippo”. 
Thiên bước đến chỗ gã phi công, lưng người lính rộng phẳng, cong xuống di động chậm chạp, tưởng thấy được một khối nặng của chiếc sắc đựng quần áo, soong chảo và thức ăn… Hơn hai mươi cây số chạy bộ với khối nặng ba mươi ký trên lưng. Thuấn thấy cay ở mắt, trong nguy nan và cái chết, binh nhất Thiên vẫn không quên bổn phận, một bổn phận tầm thường để luôn luôn sửa soạn nồi nấu cơm. Thế giới của Thiên bề bộn với bốn hộp thiếc được dán nhãn: mỡ, đường, cà phê và tiêu ớt. Chung quanh dây lưng đạn có những túi nhỏ đựng kim chỉ, dăm hột nút, thuốc lọc nước. Thiên quanh quẩn đề phòng mỗi một động tác của Thuấn, nghĩa vụ và bổn phận của Thiên khép cứng chặt chẽ xung quanh người chỉ huy… Bao nhiêu lâu Thuấn chỉ cảm thấy lờ mờ công việc săn sóc chu đáo đó, giữa Thuấn và người lính không còn phân cách, Thuấn coi Thiên như một phần của thân thể, một cái bóng khít khao… “Hết cả thuốc rồi”, Thuấn lẩm bẩm trong miệng trong khi vò bao thuốc … “Dạ, thuốc đây Đại uý”. Thiên chìa một gói thuốc mới… “Chán quá Thiên ơi”. “Dạ”. “Thầy trò mình chuyến này cực quá”. “Dạ, dạ…” “Mày lên trước kéo tao lên sau”. “Dạ…” binh nhất Thiên dạ suốt ngày, trong rừng sâu, trong chái bếp, trên đoạn đường Tam Quan – Bồng Sơn. Quốc lộ số 1 bị đời xáo nát bấy, đường xe lửa lật sang một bên. Thuấn nhặt từng viên đá cuội ném hai bên vệ đường. “Thuở nhỏ tao hay đứng ở đường rầy xe lửa nhìn về phương Nam và tưởng đi miết sẽ đến Sài Gòn”. “Dạ”. “Mày đi xe lửa chưa?” “Dạ, chưa thấy xe lửa chạy, chỉ thấy nó ở nhà ga”. “Vậy thì làm sao mày biết cái thú vị của đi xe lửa được”. “Dạ…” 
Thiên sát Thuấn mỗi bước nhỏ, dưới lằn đạn trong mưa dày của xứ Huế, trong hơi nóng bốc lên hừng hực từ núi đá ở Pleiku. Bao nhiêu năm như thế đã trôi qua, tối nay Thuấn thấy chiếc lưng của người lạ ở ngoài mình, một người khác thật lạ, thật xa, một người không chút tương quan tinh thần hay thể xác, người đó bao nhiêu năm gần gũi đến độ nhập vào cùng Thuấn qua một thứ nghĩa vụ do nhà binh xác định… Không có nó chắc mình đói cả trăm lần, nó mắc nợ gì với mình rồi, hình như nó chỉ xa mình một lần khi đọc kinh vào buổi tối trong một ngày… Thuấn đưa tay lên xoa mặt, những sớ thịt rung động trước luồng nước mắt xúc động vô hình như đang đầm đìa trên má. “Có hộp quẹt không Thiên?” 
“Dạ có, cái bật lửa bằng vàng, mình có nên lấy cái ví của cha này không, Đại uý?” 
“Mai mình chôn nó, đem cái ví vào đây xem ở đâu báo cho nhà nó biết”. 
Bên bếp lửa đỏ, Thuấn ngồi lật từng tấm ảnh trong ví của viên sĩ quan phi công, tấm ảnh lớn nhất chụp ở Nha Trang, gã sĩ quan mang quần áo trắng của quân trường chụp chung với một cô gái mặc quần jean, áo pull, gió biển thổi tóc cô gái bay bồng bềnh che nửa mặt. Thuấn nghiêng bức ảnh vào lửa… À, ca sĩ Kiều Ly, cô ca sĩ nổi tiếng chịu chơi của hai tỉnh Đà Lạt và Nha Trang. Một vài người trong khoá Thuấn cũng đã lăng nhăng với cô này. “Chủ nhật vừa rồi con Kiều Ly đi chơi với tao suốt cả ngày, nó cho de tụi dưới Nha Trang để lên đây với tao”. Gã tên Thông oang oang khoe với bọn Thuấn trong phạn điếm, trong khi gã khoá đàn anh đang lườm lườm rình rập. “Nói nhỏ mày, tụi niên trưởng phạt chết cha. C… ĐM… đếch ngán, tụi nó ghen với tao…” Thông cười thật khoái trá. Thuấn đưa bức ảnh cho Thiên trong lúc gã lính mở nắp xem nồi cơm đang chín tới. 
“Mày thấy cô này đẹp không Thiên?” 
“Không, lùn với chân to dị hợm”. Thiên phê bình sau khi chớp chớp đôi mắt để quan sát. 
“Vậy chứ cô ta nổi tiếng lắm đấy. Ở Đà Lạt thằng nào cũng giành nhau để làm quen cô ta, không phải sinh viên sĩ quan mà mấy cha cấp lớn cũng vậy nữa”. 
“Đại uý có quen cô ta không?” 
“Không, chỉ biết thôi, cô này bồ thằng bạn tao… Ở Đà Lạt tao chỉ mê cỡi ngựa, cỡi ngựa khoái hơn cỡi đàn bà nhiều… cỡi lâu hơn, oai hơn, cỡi đàn bà cao lắm nửa giờ là ngất ngư, mày biết thượng mã phong không Thiên?” 
“Dạ không”. Thiên tắt bớt lửa, đứng dậy sau tiếng cười hì hì, che giấu sự không biết của mình về điều Thuấn hỏi. 
Thuấn nhìn lại vào tấm ảnh, cô gái choàng tay qua lưng gã tuổi trẻ, dựa đầu vào ngực, nụ cười say đắm và sung sướng. Em cười và chụp hình như thế này bao nhiêu lần rồi? Em nằm ngửa ngất ngư bao nhiêu đứa? Từ tên sinh viên sĩ quan mới lớn đến gã Trung uý, Đại uý sành sỏi, sành sỏi ở bộ râu mép lún phún, điếu thuốc cắn chặt giữa hai hàm răng, kể một lô vũ nữ hạng sang với những chi tiết về mông, vú, thói quen khi làm tình, em cũng đã nằm dưới bao anh Tá đầu hói, bụng bự, em chống hai chân, lắc lư chiếc mông, mông em lớn, chân em lớn, tựa vào thật chắc chắn, xoay xở vững chãi dễ dàng… Em bây giờ ở đâu? Sài Gòn, Đà Lạt hay Nha Trang? Em có nhớ đến gã phi công đã cùng em chụp chung một tấm ảnh hạnh phúc, em có nhớ nụ cười mãn nguyện và vòng tay âu yếm vòng quanh một thân thể chắc nịch mà giờ đây đang nám đen nằm ngửa trên chiếc Jeep bốc khói. Em có nhớ khuôn mặt gã trẻ tuổi đã cùng em qua một đoạn đời hoan lạc, khuôn mặt đó đã tím bầm, thủng lỗ, chảy máu tanh tao bốc mùi trong cơn mưa buốt cóng của xứ Huế. 
“Đại uý, ăn cơm, Đại uý?” 
“Ừ”. Thuấn ném tấm ảnh vào lửa. “Mày có biết đường Âm Hồn không Thiên?” 
“Dạ nó ở phía trên kia, gần hồ Tĩnh Tâm… Đại uý có ai quen ở đó?” 
“Không, tao quen làm gì!” Thuấn nghĩ đến Quỳnh Như như một kỷ niệm đã khuất. Chỉ mới hai ngày hai đêm. Thuấn gõ gõ chiếc đũa vào miệng chén… Hoả châu từ Mang Cá bắn lên váng đục trong sương mù. 
“Khi chiều sao Đại uý đòi tấn công lên cái thành làm gì?” 
“Thấy thương Hồng và thằng Toàn của Trung đội 1 chết tao nổi sùng, thêm Trung sĩ Thái ở đâu chạy lên lãnh một phát trúng luôn”. 
“Tiểu đoàn không cho Đại đội mình lên”. 
“Tao điên thôi chứ ông Tiểu đoàn trưởng điên nữa sao? Lên lúc ấy giờ này đâu ngồi đây được, lên là kẹt luôn, về hết nổi”. 
“May quá, Tiểu đoàn cho phép Đại uý thì giờ này khổ rồi, lần sau đời đời đừng xin như vậy nữa”. 
Lần sau, Thuấn mỉm cười, lần sau đâu có nữa. Đúng như thế, Thuấn cũng lạ với thái độ của mình lúc ban chiều. Hai người chết nằm cong queo, hàm râu đỏ úa bụi của Trung sĩ Thái, hai tay hai người chết, bước chân xiêu vẹo trống trải, loạt đạn cày trên mặt nhựa, người hạ sĩ quan lảo đảo. Tất cả sự kiện gợi nên cảm giác bị săn đuổi thua kém. Không phải vì hai binh sĩ chết, Thuấn đã mất thật nhiều thuộc hạ, Thuấn mất những người rực rỡ, thân ái hơn binh Toàn, binh Hồng như khi mất Thiếu uý Phương trên tay… Trái mìn nổ Phương ngã vào Thuấn áo quần bị xé nát, máu chảy ra từ những lỗ thủng đẫm ướt lồng ngực khoẻ mạnh phơn phớt lông tơ. Phương hai mươi tuổi vừa ra trường được sáu tháng, Phương gọi Thuấn bằng anh thay vì cấp bậc, Phương để râu để trở nên người lớn, Phương tập uống rượu đế ngâm nước đá… Phương sống hồn nhiên và chết tức tưởi. Thuấn mang Phương trên tay chạy bay xuống đồi, cỏ gai cắt đứt mặt, máu và nước mắt Thuấn đẫm ướt vành môi. “Anh Thuấn, Thuấn…” Phương thều thào chỉ vào ngực nơi dòng máu đang chảy, mặt thất sắc, mắt đứng tròng và Phương chết tội nghiệp. Nhưng lúc ấy chỉ có phẫn nộ bề mặt để hét lớn qua máy thúc giục Đại đội tiến lên, tên Việt Cộng bị bắt trói giật hai khuỷu tay được đẩy tới trước mặt chỉ gây cho Thuấn cảm giác chán ngán. Tên Việt Cộng khoảng 15 tuổi, xanh mét, run rẩy dưới cơn sợ không gợi cho Thuấn cảm giác về vóc dáng kẻ thù đúng cỡ. Nhưng chiều hôm nay, khi nhìn hàm răng của trung sĩ Thái trong cơn lao đao, bộ râu mệt mỏi ngang tàng của người hạ sĩ quan xoáy trước mặt Thuấn như tấm bia trụt khỏi tầm đạn đạo… Thuấn nổi giận vì mất hai người lính, nổi giận vì người hạ sĩ quan đã làm một hành động dũng cảm, nhưng tất cả thất bại chỉ vì Thuấn, tình cảm hỗn độn này thúc giục Thuấn nôn nao… Mình vẫn còn háo thắng. Thuấn có cảm giác như vừa trông thấy đàng sau lưng binh nhất Thiên, có những lạ lùng bỗng từ đâu hiển hiện như ánh sáng đột chiếu trong bóng đêm. 
“Bây giờ ông tính sao, mình kẹt ở đây đã hai ngày”. 
“Đợi, kiếm dịp trốn vào Mang Cá”. 
“Dân chúng đi hết”. 
“Họ đi ra ngã Thượng Tứ để qua phía bên kia sông, mình qua bên ấy làm gì? Đây cách Mang Cá chỉ khoảng vài trăm thước, mục tiêu của ông và tôi ở đó, mục tiêu độc nhất”. Minh đưa một ngón tay làm ra vẻ quan trọng như đang thuyết trình hành quân. 
“Đồng ý, tôi chỉ hỏi ông vậy thôi, ở đây chỉ ngán nỗi đánh nhau lớn đến lúc xài bom thì tụi mình hết đất, ngoài ra tôi cũng không có ý định gì khác, tôi còn ngại bà dì ông với cô con gái, vợ chồng tôi, hai đứa con làm phiền họ, đàn bà khó xử thật”. 
“Ôi, loạn mà ông, ông với tôi tới đây coi như giữ nhà cho bà ấy, phải cám ơn ông đàng khác”. 
“Nhưng tôi vẫn thấy không ổn tí nào”. 
Minh và Lạc cùng im lặng khi Quỳnh Như đi đến. Quỳnh Như không còn vẻ tươi mát của hai ngày trước. Quỳnh Như của cuộc tình mới nở đầy ắp thiết tha, làn tóc nay phải cột chặt, quần đen, áo len ngắn, chiếc manteau đỏm dáng thường ngày được nâng niu gìn giữ nay ố bẩn, Quỳnh Như khó khăn và bực bội. 
“Em định đi hở Minh?” 
“Ừ, ở đây có ngày Việt Cộng nhào tới là em mất chỗ đội nón, hơn nữa nhà cũng sắp hết gạo”. Minh giận dữ gằn mạnh từng chữ, sự ghét bỏ họ hàng bên ngoại, vẻ lúng túng tội nghiệp của Lạc làm Minh nổi giận nhanh chóng. Lạc vội vã đứng dậy: “Chào cô Như”. 
“Dạ vâng, có gì mà Minh giận với tôi thế?” 
“Vâng…” Lạc chùi chùi hai tay vào ống quần, gã Trung uý Nhảy dù của 18 năm chiến đấu dọc nước Việt Nam không tìm được câu trả lời. 
“Chẳng có gì hết, ông Lạc về đàng hầm chỗ ông, để tôi nói chuyện với bà chị tôi”. 
Lạc thở phào dễ chịu bước đi. “Chào cô Như”. Minh nhớ lại cảnh Lạc giả vờ say rượu ở Darkto đòi hiếp mụ chủ quán… Trung uý Lạc tay súng, tay cầm chai bia. 
“Thế nào, em út đâu hết?” 
“Dạ, dạ… Thưa ông Trung uý em nó chạy hết”. 
“Không có em thì phải thế người khác…” Lạc tu một hơi hết phần bia trong chai, choảng, vỏ bia được ném vào một góc nhà. Lạc đút súng vào lưng quẩn cởi nút áo… “ĐM… để lính commando biểu diễn xay cà phê cho anh em coi”. 
“Dạ… thế?”! Mụ chủ quán chắp hai tay trước ngực. 
“Bà…” Lạc tiến tới một bước. 
Mụ chủ quán kiêm luôn nghề tú bà co rúm người lại khi Lạc vừa chạm phải. Nét mặt trân tráo hỗn hào của mụ chứa biển hẳn, người đàn bà lùi lại lùi lại, hai tay che ngực…” Ông Trung uý, ông Trung uý, ở đây không được”. 
“OK, hà hà không được thì vào trong kia…” Lạc tiến tới, xoay thân hình ngắn ngủn phì nộn về lối hành lang giữa hai dãy phòng kín cửa… Chen trong tiếng đều đặn của chiếc giường Minh nghe tiếng xuýt xoa: “Trung uý, Trung uý…” Bây giờ gã Trung uý cựu cai commando lén lút đi từng bước thật nhẹ ra khỏi căn phòng, sau khi lí nhí … “Chào cô Như!!” 
“Bây giờ em nói chị hay, em và vợ chồng ông Lạc kẹt lắm mới vào đây, mai mốt hay chút nữa nếu thuận tiện thì tụi này chạy về Mang Cá, thế thì có gì để chị và mợ phải phiền nhiễu cau có, thời loạn giặc giã người ta chết mỗi giờ, mỗi phút, đây này chị nghe 105 nổ trên thượng thành đó, bây giờ chỉ cần ở đài tác xạ ra lệnh bắn qua trái thêm vài trăm ly giác thì cái nhà này sập, mợ và chị có cau có được nữa không?” 
“Minh, chị van em, người ta là bạn em, ở đây một vài bữa đến nỗi gì mà chị phải cau có, ngoài ra không có em và ông Lạc, chị và mợ dâu dám ở đây… Em hiểu giùm chị, chị không có bần tiện đến như thế, chị xin lỗi em, xin lỗi ông Lạc, chị không phải như em nghĩ”. 
“Thế thì sao?” Minh hầm hầm đứng dậy. “Mặc chị, em đi coi tình hình, có gì em về Mang Cá”. Minh vụt nhanh ra cửa, ngoài đường ở nơi xa có tiếng súng nổ chen nhau. 
“Đừng Minh! Minh!” Quỳnh Như chạy theo ra đến cửa ngõ. Một trái đạn rơi vào vườn bên cạnh, Quỳnh Như ngồi thụp xuống, chạy lại vào nhà, ngã người xuống chiếc nệm đặt dưới đất khóc tức tưởi. Sợ, lần đầu tiên nàng tiếp xúc với chiến tranh và tiếng nổ, một tiếp xúc gần và tàn bạo. Chiến tranh bao nhiêu lâu chỉ thấy được qua báo chí, radio, ở trái sáng lửng lơ thần bí đỏ màu máu hay vàng vọt trên nền đêm đen thẫm phía ngoại ô. Quả sáng lửng lơ chao động không gây ý niệm kinh hoàng đầy đủ, không vẽ đủ không khí tai ương khốn khó của bụi cây, rạch nước xôn xao bước chân người, không dọi đủ nòng súng đen lạnh giá. Quỳnh Như chỉ thấy ở xa một vùng trời đêm rực màu đỏ… Đẹp, có thể là như thế! Chiến tranh ở ngoại ô, ngoài thành phố, sau luỹ tre âm u xa cách với trang sách kín chữ. Chiến tranh, Quỳnh Như chỉ thấy được gần nhất ở chiếc quan tài phủ lá cờ vàng di chuyển trên lòng một chiếc GMC, chiếc xe vút qua vội vã, quan tài hơi chuyển động, mùi ngai ngái được đọng lại chốc lát trong không khí. Người chết được chuyển đi nhanh và lặng lẽ như một món hàng khó chịu. Người chết không nói được, nắp quan tài đóng, lá cờ vàng mệt mỏi, chút hơi thối phảng phất. Người sống nhìn chiến tranh qua một hình ảnh xám đặc phiền muộn. 
Nhưng bây giờ Quỳnh Như đã được thấy chiến tranh thật sự. Chiến tranh ở trái đạn, không biết đạn gì, súng cối hay đại bác nổ đốn sập một cây thông hai người ôm. Tiếng nổ không phải chỉ bùng tai, nhưng vang dội trong ngực, luồn theo mạch máu chảy gây thành dãy nổ dây chuyền trong thịt da. Tiếng nổ làm nẩy quả tim, làm ngu si hôn ám trí óc. Nổ ở chỗ này? Bên kia? Bây giờ hay giờ tới. Quỳnh Như nhìn ở đâu cũng thấy tiếng nổ, nàng tưởng toàn thể bầu trời đang nứt thành những mảnh nhức nhối đầy âm vang. Chiến tranh đến gần giúp Quỳnh Như nhìn được thêm người chết. Không phải chết yên lành, đẹp đẽ như ông ngoại, chết từ từ, chết đến từ tốn nhẹ nhàng từ chân, lên ngực, ông được tắm bằng nước có mùi thơm, ông được mang áo mới, đội mũ vàng, tay chân bóp rượu vuốt lại nghiêm chỉnh thẳng thắn. Ông chết trong sự lơ mơ thấy được một Niết Bàn hạnh phúc, vây bọc như tiếng tụng kinh của khuôn hội Phật tử… “Nam mô thiếp dẫn đạo sư… Nam mô thiếp dẫn đạo sư…” Ông chết từ từ, thiếp vào nơi yên ổn. Người chết ở đây thì khác, người chết khi chạy, đang há mồm như van xin, đang đưa tay lên trời tuyệt vọng. Như hai mẹ con người hàng xóm chiều hôm qua đang đứng trên bờ rào để xin phép Quỳnh Như qua gánh nước. Ngày thường người mẹ nổi tiếng là hung dữ hỗn hào, bao nhiêu lần Quỳnh Như nghe bà ta đay nghiến người con gái về một lỗi không đâu. Giọng người Huế the thé rả rích nhức nhối từng chữ. “Con ơi là con ơi, thằng cha mi lúc xưa đã làm tao khổ điêu khổ đứng, chừ đến phiên mi, mi mới nứt con mắt mà đòi rượng đực… Mả cha tiên sư, cái thứ máu lăng loàn của thằng cha mi đó…” Quỳnh Như đóng cửa sổ, máu lăng loàn, hình như có chút ám chỉ nào đó. Quỳnh Như tưởng như mụ ta thấy được cảnh nàng oằn người tha thiết dưới cơn chuyển động dục tình. Tiếng hét của người đàn bà len lỏi qua hai khu vườn, qua lớp cửa sổ chọc vào tai Quỳnh Như buốt nhức như khi siết lưỡi dao cạo trên mặt mụn bóng sáng. Nhưng chiều hôm qua người mẹ xuất hiện dưới một vóc dáng khác. 
“Thưa cô, cô cho mạ con tui qua xin mấy đôi nước, nước ngoài phông tên không còn nữa… Dạ, dạ cám ơn cô…” Bà tay xoay qua cô con gái. “Con vô lấy đôi thùng cho mạ đi gánh”. 
“Để con gánh, mạ gánh làm chi”. 
“Con đang có… Nghỉ đi…” Bà mẹ xây qua phía Quỳnh Như. “Hắn đang có mà đòi đi gánh, hắn làm như tui già lắm đó cô… Hắn sợ tui cực đó mà”. 
Và bà mẹ cười, nụ cười ngây ngô sung sướng đang được thương yêu. Ầm! Quả đạn nổ bên bờ dậu, hai mẹ con được nâng lên một khoảng xong ngã ra hai phía. Quỳnh Như chạy vào bếp chui xuống hầm. Cửa nhà bếp bỏ trống, nàng nhìn được phía bên kia vườn. Bà mẹ bò bằng hai tay và đầu gối, đầu tóc đen rũ xuống kín mặt. Bà ta bò đến nơi người con, cúi xuống như chó mẹ hít hơi chó con. Bà mẹ ngồi dậy, cởi chiếc áo đắp lên mặt cô con gái, xong run rẩy nằm xuống trên thân hình người con… Một thứ ánh sáng vàng vọt giá rét chiếu lên tấm lưng trần nhăn nhúm bất động. Quỳnh Như mở to mắt, nàng nghe được tiếng khóc im lặng của người mẹ trong hơi gió xào xạc thổi lớp lá chuối đưa đẩy phiền muộn. Cái chết bắt đầu và chấm dứt dưới mắt Quỳnh Như thản nhiên như chiếc lá vừa rơi. 
Hai ngày sống với chờ đợi trái nổ, Quỳnh Như thấy trong lòng những biến đổi lạ lùng. Trong bóng tối của căn hầm dưới bộ ván gõ, như một người ngồi trầm tư với chiếc bóng mình trên vách, nàng thấy rõ được hết quá khứ mộng ảo phù du. Tình yêu cay đắng, xót xa, lần khám phá ra mình qua mối tình say đắm nổ bùng như dòng điện luồn theo mạch máu, Quỳnh Như cảm được sự hững hờ khi nghĩ đến nỗi ham mê nồng nhiệt cuống quít cách đây hai ngày. Trong bước chân vội vã chạy vào hầm, Quỳnh Như chỉ thấy cơn thúc giục nồng nhiệt để tồn tại, bản thân thực sự thân yêu của mười ngón tay luôn được tỉa gọt cẩn thận. Bây giờ Quỳnh Như chợt nhớ, tại sao có giọt nước mắt thật chân thật khi nhìn đống tóc rụng trong buổi sáng ngã bệnh, khi móng tay dài trắng hồng bị gãy, Quỳnh Như đã khóc say sưa đau đớn trong những trường hợp như thế! Tiếng nổ làm Quỳnh Như chạy thật nhanh để không nghĩ đến được Bằng với căn phòng đầy bóng tối, mái tóc đau đớn dằn vặt và phút giây ngã xuống hầm hập mê mải. Quỳnh Như cũng hết sức để nghĩ được đến Thuấn, tình yêu vội vàng mà của ba ngày trước đã đốt cháy hết sinh lực của mỗi tế bào da thịt, trí não. Quỳnh Như tưởng mình có thể chết đi để mối tình tồn tại. Nhưng đến bây giờ, sau bốn mươi chín giờ gần gũi với cái chết trong căn hầm tối Quỳnh Như chỉ nhớ được có một người – Người thân yêu gần gũi độc nhất, xác thân có góc cạnh và hình khối – Chính nàng. 
Minh nép người vào hàng rào chè xanh lần lên đến ngã tư. Hướng về Mang Cá đường vắng, nhà kín cửa, vài con chó cụp đuôi chạy len lén qua mặt đường trống trải. Lũ thú vật chống chỏi tai ương bằng chiếc đuôi quặp vào che bộ phận quý giá, bí mật. Minh cho tay vào bụng sờ báng súng, cây súng quá nhỏ so với nguy biến đang bao quanh. Lạnh. Minh rùng mình. Nỗi sợ bốc hơi tăng thêm cường độ rét buốt của thời tiết. Có xác chết nằm cạnh một gốc cây, xác chết mặc veston mà xám, phần ở bụng căng cứng, tay người chết mở ra. Minh đứng nép vào gốc cây, liếc nhìn xuống cổ tay người chết, kim đồng hồ chỉ 10 giờ. Chắc giờ thằng cha này chết. Ít nhất nó cũng được mặc áo mới khi chết. Đột nhiên Minh cảm thấy vui trong lòng với ý nghĩ vừa đến. Nỗi vui vẻ bình yên thấy mình được bình an, lạc thú hơn kẻ khác. À ra mình chưa chết, chết nằm lăn như thằng cha này quả thật không sung sướng chút nào. Mặt trời hơi le lói, nắng ấm dọi xuống từng đường vàng sẫm trong sương mờ. Minh cảm thấy hăng hái và tự tin. Ít nhất mình cũng chưa chết, gắng qua thêm một ngã tư nữa, đến gần hồ Tịnh Tâm thì cách Mang Cá không bao xa, xong kiếm lại Đại đội kéo lên chỗ nhà bà mẹ, đem Lạc và gia đình về. Đại đội mấy hôm nay ai chỉ huy, lính có bao nhiêu người chết hay bị thương? Trong yên ổn bất chợt Minh nghĩ đến đơn vị, công việc như đang ở trong hoàn cảnh thông thường. Có gì đâu tai ương của hai ngày qua, súng bắn trước mặt hướng vào chính bản thân chưa sợ, huống gì thứ tai hoạ tổng quát này… Thật ra chỉ vì vụ nổ trong khách sạn làm mình hoảng hồn, bây giờ thoát xa nó rồi, có gì đâu phải xao động. Đây rồi, gắng đến cuối bờ thành kia sẽ thấy hồ Tĩnh Tâm; hồ Tĩnh Tâm – Mang Cá chỉ vài trăm thước, mình có Đại đội trong tay, chuyến này phải mang một cây M16, súng colt không đủ gì cả… Minh cúi người thấp ẩn dưới hàng rào chè tàu chạy như bay. Minh ngửi thấy trong không khí mùi trà ẩm và hương sen tàn bốc lên trên mặt hồ yên lặng. 
“Đứng lại! Đưa tay lên!” Một tiếng hét từ bụi rậm vang ra làm Minh hốt hoảng, bước chân bị giật ngược. Minh lăn xuống chiếc rãnh lớn bên vệ đường. “Đi lên! Làm gì chạy ghê vậy!” Một gã lính Bắc Việt mặt non choẹt đứng trên vệ đường hươi mũi súng ra dấu bảo Minh đứng dậy. Minh chống tay rướn người lên, bùn non ngập đến cổ tay, bùn dơ dáy và tanh mùi cống rãnh. Minh ngước mắt, tên lính chợt phì cười: “Sợ hả, lính nguỵ hay chi mà sợ? Lên đưa giấy coi”. Minh ấn chiếc gối xuống mặt bùn nặng nề đứng dậy, lấy sống cánh tay áo lau ngang mặt, mắt vẫn không rời khuôn mặt nhởn nhơ đùa cợt, cong người bò lên bờ rãnh, tay lần mò tìm đám cỏ gà trên mặt đường. Bực! Luống cỏ bị bật gốc, không đề phòng, Minh ngã lộn người xuống lại. Gã lính Bắc Việt vùng cười khan, người đã gập đôi, khuôn mặt tái xanh căng ra vì nụ cười quá khổ… “Ha! Ha! Răng mà yếu quá rứa, bị bệnh phải không, còn đi học hay làm việc cho nguỵ… Ha! Ha!” Giọng Quảng Bình nheo nhéo trêu chọc, lủng củng ngắt đoạn giữa tiếng cười khoái trá. 
“Nè, nắm chân tôi đây để leo lên, rồi cho coi giấy tờ”. Gã lính đứng sát vào vệ đường, chân phải đặt ngang bờ kênh, chắc nịch. 
“Nắm vào đây, leo lên!” Minh nằm dưới lòng cống nhìn lên. Đôi mắt vàng bệch lấp lánh ánh sáng rõ ràng dưới vành mũ quê mùa làm Minh muốn nghẹt thở. Bùn như nồng nặc và đặc cứng lại. Minh thấy mình lún xuống, chìm dần dưới những tảng bùn đen tối nhơ bẩn. “Leo lên, đợi chi nữa, nắm vào chân đây này”. Gã lính choàng súng ra trước ngực cúi thấp người trên mặt đường thòng chân xuống lòng rãnh. Trời tối sẫm, mưa nặng hạt, bùn sệt đặc, mùi tanh tưởi, giọng cười chế nhạo, đôi mắt khinh thường và nỗi bình yên tự tin của năm phút trước tan biến như tia chớp đắm chìm vào trong bầu trời ủ giông đen. Lòng tự tin biến đi nhường lại cho cảm giác sợ hãi đến tê liệt, sự sợ hãi có hình khối như bùn hôi đang đeo cứng và tiếng cười, đôi mắt của kẻ thắng thế ở mặt đường. Minh rút hai chân khỏi bùn tựa vào sườn đất cứng trên mặt rãnh, hai tay nắm cổ chân của gã lính, cổ chân gầy guộc khẽ rung rinh… “Leo lên đi!” Giọng nói trên mặt đường đầy uy quyền thúc giục Minh như bị đốt cháy bởi ngàn bó đuốc lớn, nỗi sợ hãi bất chợt bị khám phá cùng với toàn thể hèn mọn của thân thể chìm đắm dưới lớp bùn hôi. Minh giật mạnh! “A!” Người gã lính trụt xuống độ dốc. Minh bước lên một bước, xong quay mặt xuống, ngửa người trên sườn dốc, cong chân phải đạp mạnh vào vai gã lính Bắc Việt. Thân hình nhỏ thó lăn nhanh xuống lòng rãnh, chiếc mũ có ngôi sao vàng lăn qua một bên. Minh nhảy xuống. Đánh! Minh đánh bằng hai bàn tay dùng hết lực, Minh móc khẩu súng colt ở bụng ra, báng súng giáng xuống mặt gã lính chính xác tàn bạo… Gã lính quơ tay chống đỡ tuyệt vọng. Minh đè xuống bằng hai đầu gối, tay trái khép lấy chiếc cổ gầy gò, ngón cái lọt vào lỗ hổng dưới yết hầu như muốn đâm thủng lớp da nhăn nheo. Máu trong mắt gã lính chảy đầm đìa ngấm xuống bùn thành từng vũng nhỏ nâu sậm. Minh trút xuống gương mặt xấu xí nhăn nhó và thất thần hết cả nỗi lo sợ khiếp đảm cùng cảm giác tủi hổ khi từ dưới lòng cống nhìn lên đôi mắt khinh khi. Minh tháo khẩu AK ra khỏi người gã lính, kéo cơ bẩm nhìn vào buồng súng. Có đạn lên nòng rồi, tốt. Minh nhắm nòng súng vào mặt gã lính. Bóp cò. Cò cứng ngắc, không chuyển động. Minh quên mở an toàn. Minh đưa ngón trỏ lên đụng chốt an toàn, lòng không thoáng chút xao động… Xác tên lính nẩy lên trên mặt bùn nghe bành bạch như con lươn trăn trở. Cuối cùng, nhát dao đâm xuống… Minh chạy trở lại hướng nhà Quỳnh Như, nét mặt lạnh tanh dưới vẻ khôn ngoan cay độc. 
Bằng nói với Đại đức Trí Không: 
“Bây giờ thầy vào trong thành nội với tôi, sau khi mình họp với Uỷ ban Khu trong đó, tôi sẽ ghé thăm nhà Quỳnh Như, thầy biết Quỳnh Như?” 
Đại đức gật đầu không nói, đi lần đến chiếc xe gắn máy của Bằng đứng đợi, không chút phản kháng trong cử động. Người đi tu giấu hết phong ba của bốn ngày qua dưới nét mặt trầm lặng u buồn. Bốn ngày xảy ra như giấc mộng, giấc mộng dài đầy sự chết, máu và lửa đỏ. Địa ngục không phải là ý niệm siêu hình. Địa ngục cũng không phải là hình ảnh tưởng tượng có tác dụng luân lý để khơi động ý hướng tốt trong lòng người. Nhưng bốn ngày qua, sự kiện xảy đến chung quanh đã tạo dựng nên một địa ngục cụ thể âm vang tiếng khóc và sũng ướt bi ai. Đại đức được Uỷ ban Lâm thời của chính quyền cách mạng uỷ nhiệm vụ điều hành đoàn sinh viên học sinh Phật tử. Nhưng đoàn thể này đã vượt hẳn ra khỏi sự kiểm soát của người tu hành, những đoàn viên và huynh trưởng mới xuất hiện. Họ được phát súng AK và đeo băng đỏ. Ngôn ngữ hung bạo hiếu sát. Họ lý luận chặt chẽ và kết luận nhanh chóng, kết luận nhanh chóng trong công việc chấm dứt đời sống người khác. Biến cố mới xếp hạng và quyết định mạng người trong khoảng thời gian tối thiểu. Mỗi người biến thành kẻ thù của người khác mau chóng không ngờ tới. 
“Ông có thằng con đi lính Biệt động quân trong Đà Nẵng”. 
“Con tôi đi chứ đâu phải tôi”. 
“Ông phải chịu trách nhiệm việc làm của con ông”. 
“Nhưng con tôi đến tuổi phải vào Thủ Đức”. 
“Tại sao không trốn lính, tại sao không đi lính văn phòng lại đi Biệt động?” 
“Cái đó tôi không biết. Nhưng trốn lính thì ở đâu? Làm gì để ăn?” 
“Con ông ra trường chưa đầy ba năm đã lên Trung uý. Hắn đã giết người để lên lon. Hắn phụng sự bọn Mỹ xâm lược để lấy tiền”. 
“Giết người để lấy tiền Mỹ. Không phải vậy, tháng Tết ni tôi còn cho hắn thêm ba ngàn. Hắn không có đủ tiền tiêu…” 
“Nguỵ biện. Ông còn yểm trợ kinh tế cho bọn ác ôn côn đồ…” 
Người đàn ông bị trói tay sau lưng. Chiếc khăn đóng rơi xuống, những sợi tóc muối tiêu phủ tung trên trán. Dòng nước mắt chảy xuống gò má nhăn nheo, qua dòngg nước mắt người đàn ông hướng về phía Đại đức Trí Không… 
“Thầy nói giúp, thầy nói giúp giùm… Tôi không có tội gì hết. Tôi lên chùa của ôn luôn, thầy không nhớ tôi sao? Tôi là Khuôn trưởng ở đường Gia Hội đây. Tôi ăn chay mười mấy năm rồi, tôi có tội chi? Tôi có tội chi? Thầy nói giúp, tôi sống được, tôi cạo đầu lên chùa ở với ôn với thầy luôn…” 
Người đàn ông muốn đưa tay về trước, nhưng cánh tay đã bị trôi ngược, chỉ có đôi mắt sũng ướt, đỏ rực như đẫm máu hướng về phía người đi tu. Đại đức Trí Không niệm nhỏ câu kinh trong lòng, giọt nước mắt bi phẫn được nhét xuống cuối đáy linh hồn phong ba đang cuồn cuộn. 
Khi Bằng rồ máy, Đại đức khẽ giật mình như vừa tỉnh cơn mê. Yên lặng, người đi tu chậm rãi leo lên đằng sau. 
“Những hôm này thầy không được vui”. 
“Người tu hành như tôi không thích hợp với biến động”. 
“Nhưng cách mạng lại đòi hỏi những thay đổi căn bản trong giờ phút chuyển tiếp”. “Cách mạng phải dựa trên con người. Huỷ con người thì cách mạng làm gì và để cho ai”. Trong bình thản của giọng nói, nỗi bi phẫn cố giấu vẫn không tròn. 
“Phải huỷ diệt một số nhỏ phản động, thoái hoá và nguy hiểm cho cách mạng”. 
“Thiểu số vẫn là con người. Người tội nghiệp và đáng quý của một nhân phẩm. Và tiêu chuẩn nào kết án để không nhầm lẫn”. Đại đức đã đến cuối chịu đựng, nói không dè dặt. 
“Nếu cần thấy nên phát biểu ý kiến trước Uỷ ban”. Giọng Bằng thoáng chút đe doạ…” 
“Tôi không từ chối nếu có người chấp nhận phần đúng của tôi. Uỷ ban là ai? Tôi chỉ thấy một khối cá nhân quá khích, ngay cả anh, người bạn của tôi, anh có chấp nhận lời tôi không?” “Hiểu ý của thầy là một chuyện, nhưng biến đổi thành hành động thì quá khó. Ít ra cũng không thể chấp nhận trong hoàn cảnh này”. 
“Bây giờ chúng ta đi ngả nào”, Đại đức lái câu chuyện qua hướng khác. 
“Mình qua ngã cầu Đông Ba, quân giải phóng giữ an toàn lộ trình này”. 
Bằng chợt thấy lạ ở ngôn ngữ. Chỉ mới mấy ngày, toàn thể con người, ý nghĩ và ngôn ngữ của Bằng biến đổi hẳn. Bằng như mũi tên trên đường bay, khác hẳn với giờ khắc trước chỉ là thớ gỗ nằm yên trong túi lên ám khói. Con người mới hay con người thật, không có biên giới rõ rệt cho sự phân định. Bằng chỉ biết mình đang trong cơn ngây ngất như kẻ chán đời lần đầu tiên khám phá ra nỗi quên lãng hân hoan của men rượu. 
Bằng không thể ngờ được khuôn mặt sau cánh cửa là Quỳnh Như. Vẻ tươi trẻ của người thiếu nữ bốn ngày trước đã biến mất. Quỳnh Như tóc rối, da xanh xám, đôi môi khô se và hai trũng mắt sâu xuống mệt mỏi. Đôi mắt cố nhướng lên nhìn Bằng, tia nhìn không xúc động. 
“Em không mừng được thấy anh?” 
Quỳnh Như không nói, hơi hé cửa cho Bằng bước vào, Đại đức Trí Không bước theo sau thoáng tần ngần. Căn nhà đen ẩm và lạnh buốt. Quỳnh Như khêu to ngọn đèn dầu dẫn Bằng và nhà sư đi xuống nhà ngang, đứng lại cạnh chiếc hầm. 
“Đứng ở đây lỡ có pháo kích chạy vào kịp”. 
“Ai bắn?” Bằng hỏi dồn… 
“Không biết, hai bên bắn lẫn nhau”. Quỳnh Như nhìn nhà sư gật đầu chào. “Có nghe anh Bằng nói chuyện thầy hoài… Lần đầu tiên con biết thầy”, Quỳnh Như ngại ngùng rõ rệt trước chữ con…” 
“Đây là thầy Trí Không. Bây giờ là Uỷ viên của…” 
“Không, tôi không làm gì hết. Ở đây anh khỏi ép tôi mang những chức vụ mà quả tình tôi không muốn. Xin phép cho tôi ra nhà sau, hình như nhà sau có người”. 
“Dạ, có vợ chồng người bạn cậu em và mẹ tôi sau đó…” 
“Ai vậy?” Bằng hỏi dồn… 
“Minh và gia đình người bạn của nó…” 
“Sao Minh lại ở đây?” 
“Em không biết”. 
“Sao em lại không biết?” 
“Anh muốn em biết gì bây giờ?” 
“Em có vẻ giận anh?” 
“Không, chẳng có gì… em mệt”. Quỳnh Như dựa người vào cột nhà, mắt nhắm lại… “Mệt, đu ngôi sao vậy, em mệt thật sự”. 
“Thấy anh, em không mừng?” 
Quỳnh Như không trả lời, nàng hé mắt nhìn Bằng, xong khép mi lại. 
“Em có vẻ biến đổi…” 
Quỳnh Như gật đầu. “Em biến đổi, biến đổi hết”. 
“Em biến đổi vì anh, vì câu chuyện hôm 29 Tết?” Bằng nói qua hai hàm răng rít chặt, sự phẫn nộ cố gắng kìm lại… 
“Không”. Quỳnh Như ngồi xuống nóc hầm lưng dựa vào chiếc cột. 
“Em có can đảm không?” Bằng trở lại giọng bình tĩnh sau một hơi thở dài. 
“Có, em đủ can đảm để sống bình thản ít nhất cho đến ngày hôm nay…” 
“Tốt, vậy thì em nói thật với anh, em biến đổi vì người bạn của Minh?” 
Quỳnh Như khẽ cười và lắc đầu. Mi nàng mở ra, ánh mắt vụt sáng tinh quái. 
“Anh nghĩ sai, không phải vậy…” 
Bằng chồm người tới trước, giảm bớt chiều cao, dán sát mặt vào Quỳnh Như, tiếng nói đứt khúc tắc nghẹn của cơn giận bị ép xuống. 
“Anh không nghĩ lầm, chỉ có em gian dối và hèn nhát…” 
“Không phải, em chắc chắn như thế, trước thì em cũng không nghĩ thế nhưng bây giờ em rõ em hơn ai hết”. 
“Anh rõ em hơn cả, anh đã gần em từ tinh thần đến vật chất, tất cả biến động nào trong em dù mới phát hiện nên phản ứng mù mờ anh cũng đã nhận thấy. Hơn nữa đứa con trong em là của anh…” 
Quỳnh Như cười thành tiếng. Âm thanh rạn nứt như khối đá tan vỡ dưới vòi nước ấm. 
“Anh hiểu được em, nhưng chỉ được một phần, phần phía ngoài, và phần khác nơi sâu xa nhất chính em em cũng không hiểu… Em mang đời sống của anh trong người, nhưng tất cả đã tan vỡ…” 
“Em muốn nói gì?” 
“Không còn gì hết, hết thông cảm, hết thương yêu, hết anh, hết em, đứa con, bào thai, tất cả vỡ tan và trôi đi hết. Em có kinh nguyệt lại”. 
“Bao giờ và tại sao?” 
“Em không nói gì khác, vì mọi chuyện đã xong, em vẫn là vợ anh, vợ chính thức, vợ có đám hỏi, đám cưới. Em không chống đối gì điều này. Nhưng em bây giờ khác hẳn em trước Tết, em không còn của anh, của em nữa, em lạ với mình rồi… Mệt, em mệt”. 
Bằng ôm lấy người Quỳnh Như. Thân thể người con gái bạc nhược lạnh lẽo. Bằng không nghe được tiếng tim đập rộn rã của tình yêu. Tình yêu đã chết. Bằng muốn bóp nát Quỳnh Như trong vòng tay tuyệt vọng. 
Bằng và Đại đức Trí Không qua cầu lúc trời nhá nhem tối, trời lạnh, sương dày kín, nhịp cầu màu đen đậm nét trong sương mù. Xe lên dốc không nổi, Bằng phải bước xuống đẩy, Đại đức lầm lũi đi theo yên lặng, như màu nâu trầm tĩnh đậm nét nhạt nhoà trong bóng tối ẩm ướt. 
“Mấy năm trước những đêm mưa tôi thường hay đến đây, đứng trên cầu nhìn xuống dòng sông, mưa bay chập chờn trôi dạt theo cơn gió, ánh đèn từ chân cầu dội từng vòng ánh sáng xuống mặt nước xôn xao sóng nhỏ…” 
“Chắc thú vị lắm. Ở trên chùa khi trời mưa tôi đứng trên đồi cao nhìn về thành phố, chỉ thấy từng khối nâu đỏ trong màn mưa… Tôi cũng thích nhìn mưa bay, mưa ở núi ủ dột héo hắt…” 
“Nhìn hoài cây cầu trong màn mưa, dần dần tôi xem nơi này như chốn quen thuộc, đêm mưa gió thế nào tôi cũng đến đây. Khuya khoảng một, hai giờ sáng, thành phố yên lặng, chỉ còn mỗi hành động thê lương là tiếng mưa và màn mưa chuyển động trên ngọn sóng. Trong bóng đèn vàng, tôi thấy như vũ trụ vô tri có linh hồn đang đau đớn dằn vặt. Và tôi cứ đắm chìm hoài trong nỗi dằn vặt vô duyên cớ đó. Và sau một thời gian nỗi dằn vặt vô hình biến thành khổ đau nặng nề cụ thể đè mãi xuống. Tôi cứ có cảm giác bị bóp cổ, bị kìm kẹp, đè nén, nói không được, đi không được… Bao nhiêu ý chí phấn đấu tan rữa dần. Có những đêm mưa tôi đứng ở thành cầu nhìn xuống khoảng sông xao động tưởng như bị cuốn hút lập lòe, có lời mời mọc im lặng êm dịu mê đắm nào dưới lớp nước trôi nỗi vàng đục đó… Trời sáng, mưa hết hạt, ánh đèn nặng nề u ám hơn, trời trong vắt thênh thang, mưa bay đi, tôi tỉnh dần dần trong không khí mới mẻ của ngày vừa bắt đầu. Bao nhiêu lâu như thế tôi cứ tự hỏi mình có phải nghiêng quá độ về sự chết? Nhưng thật ra không phải thế, tôi yêu đời sống, yêu quá nữa là khác, nhưng đêm mưa và mặt nước sông sao cứ quyến rũ tôi tan biến vào đấy…” 
“Bây giờ chuyện ấy vẫn còn”. 
“Hết, hết từ hồi tôi bắt đầu đi dạy”. 
“Có tiền coi như một thành công”. Đại đức cười nhỏ sau câu nói. 
“Không phải vậy, đi dạy có tiền, có thêm những nhu cầu mới, mỗi ngày các nhu cầu vật chất càng chất đầy hơn, siết mạnh vào. Thế là hết băn khoăn vô duyên cớ, hết đau đớn siêu hình, chỉ còn lại những tính toán bẩn chật, ước muốn nhỏ nhặt… Tôi như cây bị khô lá dần dần, lá khô từ ngọn lần xuống gốc, khô khan gãy vụn từng phiến mỏng… Và thế là hết tiệt mưa gió, bão tố, mặt nước sông, sương mù, ánh đèn chao động, tất cả trôi dạt vào cuối ký ức. Mỗi khi qua cầu, tôi hững hờ xa lạ như qua nhà lạ, qua nơi không quen. Xúc động ba năm trước như một tình cảm giả hình”. 
“Như vậy là tốt. Thực tế làm chân thật với lòng hơn”. 
“Một thứ chân thật khốn nạn, chân thật hèn hạ hết thời”. 
“Tôi không nghĩ như thế, sự thật đâu phải tầm thường, sống trong đời thì phải chịu đựng nỗi tầm thường đó. Giữ tâm mình vững và trầm tĩnh không để bị lôi kéo ràng buộc quá nhiều…” 
“Tại vì thầy đi tu. Tôi thì khác, có những khó khăn người đi tu không có như người thường, hoặc nếu có thì cách giải quyết cũng khác… Như tình yêu chẳng hạn”. 
“Tình yêu?” 
“Tình yêu trai gái, giữa đàn ông và đàn bà, giống đực và giống cái… Các thầy đâu phải chịu hệ luỵ bởi vấn đề này…” 
“Tôi nghĩ đó đâu phải là khó khăn, đau đớn cho anh, nhất là anh toại nguyện với tình yêu, nghe nói anh đã có làm lễ hỏi với cô Như”. 
“Vâng”. Bằng lặng lẽ tiếp tục đẩy chiếc xe. Thành phố Huế chìm hẳn vào bóng tối. Đạn bay vạch từng đường đỏ dài trong nền trời. 
“Có điều gì làm anh không vừa ý?” 
“Thầy có gặp sau nhà Quỳnh Như mấy người lính Nhảy dù?” 
“Có anh Minh em cô Như và vợ chồng người sĩ quan bạn anh Minh. Anh có quen với Minh?” 
“Như vậy là hai người, họ mặc đồ lính?” 
“Không, áo quần dân sự, nhưng anh để ý làm gì?” 
“Tôi không thích lính”. 
Đại đức Trí Không dừng lại nhìn Bằng. Giọng nói lạnh lẽo khô cứng, rờn rợn như lưỡi dao chậm rãi xiết trên đá nhám. 
“Anh có ý định gì với những người lính đó? Những người lính không súng. Anh thấy người bạn của anh Minh gần bốn mươi tuổi, hai đứa con và người vợ vây chặt. Tôi gặp ông này vài lần ở trên chùa, đó là người đàn ông bị lôi kéo bởi cảnh sống, tôi chẳng thấy tàn bạo, thù hằn ở nơi người đàn ông cằn cỗi đó. Họ chỉ được gọi là lính qua bộ áo quần và khẩu súng, người của Mặt trận, người của Uỷ ban gọi họ là kẻ thù khi họ có những vật dụng kia trên người. Riêng anh và tôi lấy tiêu chuẩn gì để xem họ là kẻ thù … Tôi là người đi tu, bị kẹt vào hoạt động này trong khoảng thời gian trầm luân giới hạn. Tôi không có kẻ thù, tôi nhìn người đúng vị trí và giá trị của mỗi cá nhân, anh cũng thế… Anh chẳng có kẻ thù nào hết ngoài con người ngang ngược biến đổi trong anh…” 
“Thầy có lý của thầy. Riêng tôi nếu có làm một điều gì khác với tâm tính mình thì đó chỉ là thái độ bồi đắp cho tập thể đã nuôi dưỡng mình. Tôi được sung sướng và yên ổn trong đoàn thể, cái lý của tôi do đoàn thể tạo thành”. 
“Thế anh định làm gì? Anh đi tố cáo cho tiểu ban thanh trừng và hành động? Cái hố đằng sau trường học đã đầy rồi, người chết quá đủ, toàn người Huế, người của xóm anh ở… Có điều gì biến đổi anh thành tàn bạo?” 
Bằng im lặng đạp nổ máy. “Thôi thầy leo lên ngồi, thầy cẩn thận nghe tiếng départ của súng đại bác thì nhảy xuống hố. Uỷ ban Lâm thời tối nay họp lúc 8 giờ tại chùa D. Có thể có những quyết định liên quan đến tình hình quân sự, mặt trận ở khu hữu ngạn có vẻ bất lợi cho phe ta”. 
Phe ta. Đại đức Trí Không mỉm cười. Trên tấm áo nâu này, Đại đức đã mang thêm một nhãn hiệu. Xe chạy, gió lạnh nhưng tai Bằng nóng đỏ. Lý của đoàn thể, Bằng có thấy có điều gì bất toàn không thật trong luận lý vừa nói. Thân thể lạnh giá và tia nhìn trống rỗng của Quỳnh Như như luồng gió sắc buốt xuyên qua da thịt. Nỗi hờn giận mất máu ngùn ngụt cháy lên làm hoa mắt. Bằng phóng xe chạy như điên trong bóng tối, con đường nhỏ gập ghềnh. “Thầy giữ hộ tôi cây súng, xe chạy nhanh nó rơi mất”. Đại đức Trí Không vòng tay rút khẩu súng ở bụng Bằng. 
“Anh Bằng cho tôi xuống đây”. 
Xe chạy chậm. Bằng hỏi dứt tiếng. “Thầy xuống đây làm gì, mình về chùa gặp anh em, đúc kết ý kiến trước khi vào hội để khỏi có trở ngại…” 
“Anh cứ để tôi xuống, tôi có việc nói ngay bây giờ”. 
Xe ngừng, Bằng chống chân xuống đất. “Thầy muốn nói điều gì?” 
“Anh có ý định tố cáo anh Minh và vợ chồng người bạn với Tiểu ban Thanh trừng?” 
“Thầy có quyết định gì?” 
“Tôi không có quyết định gì hết, tất cả chỉ do anh”. 
“Nếu tôi tố cáo”. 
“Tôi… bắn anh”. 
Bằng cố nhìn đôi mắt của Đại đức, nhưng chỉ có đêm đen và mưa phùn trước mặt. Trong bóng đen mờ mịt nổi lên một bóng dáng đậm đà. 
Bằng chống càng xe: 
“Thầy không nói điều gì quá lòng thầy?” 
“Tôi đang tự hỏi. Tôi có can đảm bóp cò súng không?” 
“Thầy đã quyết định?” 
“Những người lính đó với anh không thù oán, anh nên trở lại với bản tính của tháng năm trước, có điều gì làm anh hung bạo?” 
“Có điều gì biến đổi tôi thành hung bạo?”. Đêm chung quanh như thắp sáng bởi ngàn cây đuốc, có tiếng reo hò chế nhạo, giọng cười ùn ùn như bão lớn, ba mươi năm sống, bao nhiêu ăn học, mối tình tuyệt vời cay đắng, tình yêu tinh thể quý giá của linh hồn… Còn gì nữa sau khi cơn bão đã thổi qua, cơn bão mặn đắng nước mắt và tanh nồng tủi hổ. Có gì lạ nữa trong Bằng ba mươi tuổi ngày ngày với viên phấn đứng trước mấy mươi tia nhìn soi mói và Quỳnh Như đôi mắt trống rỗng, xa vắng… “Đúng là hết”. Bằng cười nhỏ. Tiếng cười lớn dần, lớn dần. 
“Này thầy, thầy có đủ bình tĩnh để bắn tôi không?” 
“Anh nên giữ bình tĩnh để đừng phạm vào tội ác vô lý. Không có quyền lực nào bắt mình phải từ bỏ tâm linh sáng suốt của mình”. 
“Đúng, thầy nói đúng, chẳng có quyền lực nào hết, chỉ có tâm tư bềnh bồng, chỉ có tim ta lao đao biến đổi. Nhưng thầy là người đi tu, thầy đâu biết được những ô trọc phiền hà của đời sống, cây đời thầy vững vàng tươi tốt, còn cành lá tôi mục nát khô héo, không ai đốn tôi ngã, ruột tôi nung nóng, vỏ tôi khô và chết lần. Chính tôi làm tôi chết, không phải, phải nói tôi chết dần từ phần bên trong chết ra, chết chắc chắn, chết đến như cổ bị nghẹt từ từ. Chết vì mang con trùng độc trong người, con trùng đời sống. Thầy đi tu, con trùng của thầy được ăn chay, nghe kinh kệ chuông mõ nên nó sống tịch mịch, đứng ngồi êm ả, riêng con trùng của tôi cựa quậy, trăn trở, cào cấu cắn xé không ngừng. Con trùng thầy hiền lành, dễ bảo, sống không đòi hỏi, không nhu cầu. Trái lại con trùng của tôi có nhiều dục vọng, nó được dạy dỗ nuôi nấng bởi thói xấu, những thói xấu đẹp đẽ thiết tha, nó ăn thức ăn khát vọng và uống rượu tình yêu, thứ rượu mạnh hừng hực, nhưng men rượu cũng có khi tàn, khi tỉnh cơn thì buồn lắm thầy biết không … Khi tỉnh rượu lúc tàn canh… Cụ Nguyễn Du tuyệt tác thật, cả hệ thống buồn chán đầy cứng cụ chỉ viết lại vừa hai câu thơ đúng mười bốn chữ, mười bốn chữ giản dị lăn lóc đây đó được cụ ghép lại thành một trường sầu hận… Nhưng tôi giải thích với thầy làm gì? Tôi mệt. Em… mệt. Quỳnh Như dùng chữ thật hay, đúng ra có sống qua giây phút đó mới biết cách diễn tả sâu sắc cô đọng như thế. Đúng, tôi mệt lắm, tôi không có lý luận quanh co nữa. Tôi sống giản dị như mọi người. Tôi ghen ghét, ước mơ, mê đắm một cách tủn mủn nhỏ nhặt. Tôi như vậy đó, thầy muốn gì ở tôi. Tôi đi tố cáo. Tôi ghét lính. Lính làm tôi xấu hổ. Tôi đứng trong lớp học làm điệu làm bộ, giả vờ nghiêm trang, đóng kịch trí thức phản chiến, ghét bạo động, thấy sáng tỏ được nỗi phi lý của đời sống nhưng tựu trung tôi là thằng trốn lính, tôi sợ đi Thủ Đức. Khổ lắm, thầy đâu biết thế nào là lối sống của lính. Thầy ở góc núi, ăn cơm nhạt, nhưng như thế đâu đã khổ, thầy có an vui tự tại, thầy có tự do, thầy được sung sướng … Đi lính, mang cây súng, đội nón sắt, đi hoài, cả đời sống được đặt trên đôi chân, đôi chân được một lớp da giày che phủ, xong cứ bước bừa tới trước. Chân mang thân, thân sụp xuống dưới gánh nặng của súng đạn ba lô và thế là đi… đi hoài, vì “đi lính” mà thầy … Trong nguyên nghĩa đã có động từ đi, thầy thấy không? Đi lính, thế là đo cho hết chiều dài, chiều rộng của quê hương, đo cho hết nỗi điêu linh, đo cho cùng thống khổ… Tôi không có ước vọng cao đẹp khốn nạn đó, tôi sợ nó. Tôi kinh khiếp đến nổi da gà, đến lạnh sống lưng, tôi không chịu nổi cảnh khổ thê lương của người lính, tôi sợ nên tôi trốn, sợ nên tôi ghét, sợ nên tôi nói láo. Với chính tôi, tôi biện luận bào chữa để được yên ổn. Nhưng khi nhìn thấy một người lính tác chiến trong bộ áo quần nhàu nát tạt qua thành phố, đám tang quạnh quẽ với quan tài phủ quốc kỳ run rẩy trên sàn xe GMC, người thương binh vừa ở bệnh viện ra, da trắng xanh vì mất máu, máu khô của hôm bị thương còn đọng ở chân tóc, ở vành móng tay … Họ đã mê thiếp kiệt lực trong cô quạnh tủi cực từ lúc ngã xuống ở chiến trường cho đến ngày xuất viện. Chắc chắn không có sự săn sóc nào nên trong vành đôi mắt còn lớp bùn khô của cuộc hành quân lần cuối. Thầy thấy người lính cụt chân chống nạng đứng chờ xe lam chưa. Đó, tôi hổ thẹn và sợ hãi với hình ảnh đó, tôi từ chối cái vinh quang nhức buốt thê thảm được làm lính… Và như thế, tôi dối được tôi thật lâu, nhưng bây giờ thì hết. Tôi căm thù sợ hãi người lính một cách công khai. Họ làm tôi tủi nhục và sợ hãi. Họ làm tôi tủi nhục và đau đớn, họ làm tôi hết dối trá với tôi được. Tôi ghen ghét, rủa nát và kinh sợ những người lính… nên, tôi nói là tôi làm, tôi đi tố cáo. Họ không cho tôi yên ổn nên tôi báo thù. Thầy nghe rõ chưa, tôi đi báo thù, thầy nghe chưa, tôi đi tố cáo… hai thằng lính Nhảy dù đó…” 

* 

Tháng Tư, năm một ngàn chín trăm sáu mươi tám, hai tháng sau biến cố Mậu Thân tại Sài Gòn trong một căn phòng hai giường của bệnh viện, Thuấn ngồi vắt vẻo trên giường dưới chân Minh nhìn qua giường Lạc, vài người sĩ quan khác ngồi đứng đối diện với hai người bệnh. 
“Em trai xui rồi, tụi tao đánh như điên lòng vòng hết cả thành phố Huế không sao, đến lúc mày với ông Lạc tìm về được Tiểu đoàn thì ăn ngay một trái B.40, chắc phải xin thuyên chuyển mày về với Việt Cộng”. Thuấn nhìn nhìn chiếc giường khi nói, đầu gật gù. Ấy ông nhún thế mảnh B.40 trong người nó chạm vào nhau nghe lạo xạo kinh quá”. Lạc đứng lên chêm thêm câu pha trò, cả bọn khúc khích cười. Minh cố gắng nhếch mép để nói nhưng không nổi… 
“Đau quá, đừng chọc tôi nữa, cười không được, cười đau bụng, bụng mới mổ lắc lư quá chịu không nổi”. 
“Tụi tôi cũng muốn đến thăm hai Trung uý …” Một anh Thiếu uý nhỏ nhẹ nói… “Ấy mà hình như Trung uý có giấy lên Đại uý rồi”. 
“Khi nào có thì gọi, gọi trước chỉ lúc vừa chết mới đúng, đằng này nó chưa chết được thì gấp gì”. Thuấn cắt ngang câu nói của viên sĩ quan. 
“Dạ vâng, nhưng vì vừa về đến Sài Gòn Tiểu đoàn mình phải đi ngay về Hốc Môn, đến bữa nay chúng tôi mới rảnh nên đi theo Đại uý Thuấn và đến đây thăm hai Trung uý”. 
“Xong rồi, nói vậy là đủ, bây giờ đến phiên tôi hỏi các ông mấy chuyện, vì lúc các ông về lại Tiểu đoàn thì tôi đang kẹt ở trong sân bay thành nội Huế, không gặp ông với ông Lạc được, tiếp theo là ông bị thương, ông Lạc ngã bệnh, đau gan đau phổi gì đó nó hành… Tiên sư lính Nhảy dù Tây để lại, vì sợ quá mà gan ruột teo vào nên phát ốm…” 
“Ấy không phải, lúc ấy hoạ may có chó mới đi khai bệnh, tôi đâu có hèn như thế, nhưng quả tình tôi không kiểm soát nổi. Mười mấy năm lính tôi đâu có ngán thứ gì, cú rút lui khỏi Cao Bằng vừa đánh vừa chạy suốt mấy trăm cây số tôi còn chịu nỗi, rồi ở Điện Biên Phủ nội cái cứ điểm Béatrice mà phải đánh lui đánh tới mấy lần, tôi thuộc về 6 ème BPC, Tiểu đoàn trừ bị, sau khi cha Tiểu đoàn trưởng năn nỉ bộ chỉ huy mới cho lệnh đánh Béatrice. Chính Đại đội tôi là nỗ lực chính, tôi là Thượng sĩ làm Trung đội trưởng đi đầu. Tiên sư tôi đá đít Tây chạy có cờ… Nhưng cú ở Huế, kẹt có vợ con bên cạnh tôi lúng túng như bị cột hết tay chân và cứ có cảm giác đạn lúc nào cũng bay về phía mình, 105 của mình bắn cách chỗ trốn cả trăm thước mà tôi cứ nghĩ nó nổ bên cạnh… Suốt từ khi trốn ra khỏi khách sạn, ông Minh bảo gì tôi làm theo đó, tôi không tự chủ, quyết định một việc gì, khi về đến Tiểu đoàn là tôi sụm luôn, chẳng biết trong người có cái gì, nhưng tôi đứng không được, thở không nổi… Hình như sau những ngày quá căng thẳng, thần kinh tôi không co lại được về vị trí cũ, vì trước đó cứ nhắm mắt là tôi tưởng đến cảnh hai ông con bị đạn banh ngực chết, liên tiếp một tuần tôi không ngủ, người khô khan như nướng chín… Về đến Tiểu đoàn tôi ngã xuống không gượng nổi”. 
“Được rồi, như vậy chuyện ông đã xong, còn ông Minh…” 
“Tôi có gì?” 
“Cây súng?” 
“Cây súng nào?” 
“Khẩu colt Trung Cộng. Ông bị thương thì ngất ngư liền, thằng lạc đà của ông nó đem qua gởi tôi, ông lấy được bao giờ? Vì tôi nhớ khi ông về đến Tiểu đoàn là 4 giờ chiều, 5 giờ ông bị thương ngay, gần hồ… hồ Tĩnh Tâm. Tĩnh Tâm là gì mà nổ như sấm… “Tĩnh Tâm, mặt hồ yên lặng, bùn non và hương sen, nụ hôn người con gái Huế. Thuấn chợt chùng lòng, tưởng như đang nhớ lại một quãng đời đã xa khuất từ lâu. “Tôi nhớ rồi, hồ Tĩnh Tâm, ông bị thương lúc ấy thì cây súng ở đâu ra?” 
“Của ông thầy chùa!” 
“Ông thầy nào?” 
“Các ông nhớ cái chùa sau núi Ngự Bình dưới lăng ông Ngô Đình Cẩn?” 
Những tiếng lao xao: “Nhớ… Nhớ…” 
“Ông thầy chùa cho tôi”. 
“Cho ông từ lúc Tiểu đoàn mình đóng ở đấy hả?” 
Thuấn chăm chú hỏi. 
“Không, sau này, lúc tôi và ông Lạc trốn ở nhà bà chị tôi. Ông ta đến một lần với cha anh rể, có nói chuyện với tôi và ông Lạc một chút, rất vui vẻ và dễ chịu, mặc dù trong đạn lửa chết chóc ông vẫn bình thản hoà nhã, khuyến khích tôi với ông Lạc sớm về đến Tiểu đoàn. Nhớ đến chuyện ngày đó tôi cứ ngượng đến chóng mặt, ai đời mình là lính lại được một ông thầy chùa khuyên bảo giữ bình tĩnh khi nghe 105 nổ. Phần ông Lạc thì hiểu được, vì chuyện vợ con nên ông ta tê liệt phản ứng, riêng tôi chẳng bị ràng buộc vào chuyện gì mà cũng cứng ngắc người vì lo sợ, hèn thật…” 
“Rồi ông ta cho ông khẩu súng trong buổi nói chuyện đó?” 
“Không, lúc ấy là buổi chiều, đến tối ông ta trở lại”. 
“Sao lại buổi tối?” 
“Tôi không rõ, chỉ biết khi ông ta và anh chàng lấy chị Như ra khỏi nhà lúc 5 giờ chiều, khoảng 8 giờ tối chúng tôi nghe tiếng gõ cửa. Cả nhà lạnh cứng vì sợ, ai cũng tưởng Việt Cộng đến bắt chúng tôi. Ông Lạc chạy quanh hai con như gà mắc đẻ, tôi lên đạn khẩu AK”. 
“Khẩu AK nào nữa?” 
“Chuyện ấy để sau kể, sau cùng là chị tôi đánh bạo ra mở, vì tiếng gõ cửa không hấp tấp đe doạ…” 
“Rồi ông ấy nói với ông những gì?” 
“Không, ông chỉ nói mấy câu nhỏ: Tôi đưa anh và vợ chồng anh Lạc qua khỏi hàng rào bố quân của lính bên kia, và ông đưa tôi cây súng để làm kỷ vật”. 
“Ông không hỏi xuất xứ của cây súng?” 
“Lúc đó nửa mừng nửa lo, tôi không để ý, ông ta đưa thì nhận. Bây giờ tôi cũng không rõ tại sao ông ta làm vậy, và cây súng ở đâu ra? Cây súng có gì lạ không?” 
“Không, như những cây súng khác, nhưng hình như vừa bị bắn xong, kẹp đạn bị mất đi 3 viên, ông có bắn viên nào không?” 
“Làm gì có thời giờ, tối đó trốn theo ông thầy, cả ngày sau ngồi đợi Tiểu đoàn, sáu giờ chiều bị thương, tôi chưa nhìn kỹ nó một lần”. 
“Ông thấy ông thầy chùa có gì lạ không?” 
“Làm sao thấy được gì, lo sống không nổi làm gì để ý đến người khác, nhưng tôi nhớ một điều: tối hôm đó ông ta có vẻ buồn nản dằn vặt kinh khiếp lắm, khác vẻ bình lặng trầm mặc của ngày thường…” 
Khi bước xuống cầu thang bệnh viện, Thuấn nhớ hình ảnh người tu hành ngồi yên lặng nhìn khói thuốc bay lãng đãng trong nắng chiều vàng đục của một ngày cuối năm. Hình ảnh lặng lẽ bình yên này phút chốc như cơn giông lớn bùng lên ngùn ngụt che khuất một thoáng nhớ nhung mơ hồ về người con gái đã yêu Thuấn trong một chớp ngắn ngủi giữa nỗi triền miên dằng dặc của cuộc đời. Hình ảnh lặng lẽ bão bùng phảng phất nỗi đau đớn không nói được cùng người.

Người Muôn Năm Cũ

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Photo by Sơn râu 18/5/2014

Năm nay đào lại nở

Cô Hiền,

Tất cả vẫn cứ lập lại như mỗi năm vào mùa Xuân hoa mai, hoa đào nở.

Vẫn lại những náo nức đợi chờ. Vẫn lại những xôn xao nhộn nhịp. Vẫn lại những chợ Tết. Vẫn lại những tiệc tùng. Vẫn lại những đón tiếp bạn bè, họ hàng phương xa, vẫn phố Bolsa mấy năm trước ngăn đường làm chợ Tết, bị dân bán xử phản đổi. Năm nay làm thụt sâu vào bãi đậu xe của khu thương mại. Cũng vẫn những hàng thịt mướng, cũng vẫn những trò chơi, những nơi cờ bạc. Có lẽ mỗi năm một lớn hơn, ngày càng to lớn, đông đúc vui vẻ như Disneyland, Knott Berry Farm. Năm nay chợ Tết của cộng đồng có lẽ lời to. Trường Golden Wedt vẫn là khu làm chợ Tết của sinh viên. Tổ chức xuất sắc hơn, mang ý nghĩa Tết dân tộc hơn, cũng vẫn những gian hàng trưng bày hình ảnh sinh hoạt ngày xưa, cũng vẫn những trò chơi cổ truyền. Mọi người đến thường “bị” nhắc nhở về những ngày Tết cũ trên quê hương. Nhưng chắc không lời bao nhiêu vì đám trẻ không có khả năng làm thương mại. Cũng vẫn lại lời, lỗ. Đêm mùng hai Tết hộp mặt tại nhà một ông bạn, ông “nhả thơ vạm võ”. Vẫn lại những mớn ăn quen thuộc của bất cứ một cuộc họp mặt nảo: vẫn lại bò, vẫn lại heo, vẫn lại gà, vẫn lại rượu, vẫn lại chè … có khác chăng là thêm mứt, hạt dưa, cành đào cho có vẻ Tết.

Vẫn lại có các bạn từ phương xa từ DC, tử San Jose, từ San Dicgo tụ tập ăn uống, văn nghệ văn gừng. Tất cà cũng vẫn đều lập lại, chỉ khác nhau chút đỉnh tùy theo tình trạng từng năm.

Cô Hiền,

“Cũng vẫn” trong cái không khi “vẫn lại” ấm cúng quẹn thuộc này, khi Quỳnh Giao vừa đàn vừa hát, tôi chợt nhớ đến những chương trình nhạc những năm trước 1975. Nghe Quỳnh Giao hát, hình ảnh những buổi tối nằm trong hầm ở căn cứ Barbara những đêm mưa thối đất của miền Trung, hoặc những đêm trăng sáng vằng vặc của bãi cát vùng bờ biển Mỹ Thúy chợt đến, chợt đi. Những ngày tháng chiến tranh, những giây phút thư thả … Nhưng kỷ niệm sau cùng là một buổi cũng vào những ngày có hoa đào nở. Quỳnh Giao dã gợi lại cho tôi một câu chuyện có liên quan đến chương trình của cô.

Cô Hiền,

Đại đội tôi nằm dài theo hàng rào phân chia ranh giới giữa Thủy Quân Lục Chiến và Việt Cộng suốt bề ngang đông tây của làng Phù Liêu và thôn Bích La khoảng hơn một cây số, kéo dài ra bờ ruộng về phía biển cho dến sảt chợ Cạn. Liệt kê những địa danh này chắc cô cũng chẳng biết mô tê ất giáp gì. Tôi xin tóm gọn là những nơi tôi vừa kể thuộc tỉnh Quảng Trị, nơi mà chiến tranh đã để lại mỗi thước đất là một xác người. Khoảng cách giữa hai người linh gác của hai bên đối nghịch có thể đo được bằng gang tay. Ngồi đối diện nhau qua hàng dây kêm gai, mổi bên chỉ cách hàng rào chừng độ một thước. Vui thì chia nhau điếu thuốc cái bánh, mà không vui thì vác súng … bắn nhau. Đã có nhiều chuyện vui và nhiều chuyện không vui. Người anh em bên kia chơi rất bạo, cứ cách khoảng hơn một trăm thước đặt một cải loa điện đường kính có đến hơn nữa thước chõ sang phía chúng tôi. Những cái loa nùy cứ ra rã, ông ổng suốt ngày từ sáng đến tối những điều tuyên truyền ngô nghê nhàm chán, những điều tưởng tượng ấu trỉ và nực cười. Mấy cải loa đã làm chúng tôi điên đầu. Và để đối lại với nguyên một hệ thống cả chục cái loa vĩ đại đó, đại đội tôi cũng có một cái loa, to không hơn một gang tay đưởng kính, chạy bằng pin, một thứ pin mà tôi chưa bao giờ được trông thấy, vì có bao giờ được cấp phát đâu. Những trận đấu võ mồm mà cán cân lệch hẳn về phía người anh em. Từ tài năng cho đến phương tiện. Nói như Vẹm, lúc này tôi mới hiểu rõ nghĩa của câu này. Trái bẻ cong thành phải, phải bẻ quặt thành trái. Còn tôi, vì là đại đội phó, tự động theo cấp số, kiêm luôn cái chức sĩ quan chiến tranh chính trị của đại đội. Một thằng chỉ biết đánh giặc, chưa qua một khóa chiến tranh chính trị nào, kể cả những buổi học chính trị trong quân trường chi là những “giờ ngũ”, chẳng biết huấn luyện viên nói những gì, vậy mà bây giờ phải hành sử một việc không phải chuyên môn của mình – một công việc tôi rất ghét và đối đầu với cả một hệ thống tuyên truyền có bài bản, có phương tiện. Không có chó nên lôi đành phải ăn, tôi bỗng dưng trở thành sĩ quan chiến tranh chính trị một cách ngon ơ. Tôi có biểt gì đâu dể mà đấu khẩu, đấu lý với cái đám người anh em ấy. Hở một tí là diều này, chương nọ của hiệp định Ba-lê, mà nói cho cùng, tôi nào có biết cái hiệp định khỉ gió ấy có bao nhiêu điều, bao nhiêu chương, bao nhiêu khoản đâu. Nội dung của nó tôi chỉ biết một điều là thôi không đánh nhau nữa, ai ở đâu ở yên đấy. Mà cho dù có biết, có thuộc nội dung của hiệp định, tôi cũng không đủ mồm loa mép giải dể mà cãi nhau, bằng cái loa to hơn lỗ mũi ấy được. Vì mọi tiếng nói đều “nghe ngoài rõ hơn trong”. Hai bên muốn giải quyết với nhau những xung đột, những bất đồng về bất cứ điều gì, hoặc muốn nói chuyện trên trời đưới biển gì, cũng dều hẹn nhau ra cái “nhà” nằm ngay giữa hàng rào, gọi là “nhà hòa hợp”, nhà này do phía người anh em dựng lên. Bên ta có lệnh là không cho bất cứ một người nào vì bất cứ lý do gì được tiếp xúc với phe bên kia, sợ bị tuyên truyền. Lính tráng phe ta rất ư là ngây thơ về chính trị – có một người lính rất ngạc nhiên nói với tôi “Ông Thầy, tụi đó dám tự nhận là Việt Cộng” – nên dù người anh em có mời mọc thế nào đi nữa, tôi cũng không cho bất cứ người lính nào ra nhà hòa hợp để gặp họ, nếu không có gì thật cần thiết theo tình hình từng lúc. Cho nên mỗi lần phe ta thông báo sẽ ra tiếp xúc là người anh em đón tiếp một cách rất ư là long trọng. Nào kẹo bánh, nào thuốc lá, thuốc lào, trà … và một vài cán bộ, dĩ nhiên là thứ “dữ” từ tận xa đằng sau đến tiếp xúc và cũng dĩ nhiên là ra trước giờ hẹn rất lâu đế … chờ đợi. Tôi đã ra nhà hòa hợp mấy lần để yêu cầu người anh em  ngưng phát thanh qua hướng bên mình, bằng ngọt có, bằng nhạt có, bằng cáu kỉnh, nhưng những lần đi “sứ” đó đều chẳng ăn thua gì.

Đấu mồm thì tôi thua, nhưng đấu súng thì tôi chấp. Găng nhau với người anh em đến độ phải choảng nhau bằng súng tôi đâu có chịu thua. Nhưng người anh em biết rõ mười mươi là người anh em chiếm thế thượng phong ở mặt trận võ mồm. Người anh em triệt để khai thác cái ưu thế này. Hệ thống loa của người anh em mở thật lớn vả thật lâu, từ mờ sảng đến cận chiều tối. Người anh em bắt chúng tôi nghe hết chuyện này đến chuyện nọ, nghe đến nỗi không còn thế nào chịu nổi. Đã nhiều lần tôi yêu cầu người anh em ngưng ngay hành động gây hấn bằng mồm này, nhưng người anh em cười vào mũi tôi mà bảo: “Chúng tôi không có quyền vì loa này là của nhân dân, chúng tôi chỉ làm theo lệnh của nhân dân. Các anh muốn chúng tôi ngưng phát thanh thì qua đây, tìm nhân dân mà yêu cầu.”

Loa của người anh em cứ thế ché suốt ngày. Lời lẽ tuyên truyền ngớ ngấn nhưng sắt máu, Nhạc eo éo kiểu Tầu phù chọc vào tai. Tin tức địa phương lại càng không ngữi nỗi. Lại còn thêm trực tiếp truyền thanh phiên tòa án nhân dẫn xử khiếm diện một thiếu úy – dù chàng thiếu úy này vẫn đứng ngờ ngờ ra đó – bên tiếu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, nằm sát với đại dội tôi, về tội đã dám bắt một con trâu của người anh em để xẻ thịt. Vậy mà không lẽ chúng tôi cứ phải nghe. Báo cho đại đội đề xin yếm trợ phương tiện của tiểu đoàn, chỉ nghe toàn những câu “ráng chịu”, ban 5 tâm lý chiến tiểu đoàn nào có hơn gì đại đội phó chiến tranh chỉnh trị về cái khoản “chiến tranh chính trị” dị hợm như thế này đâu.

Suy nghĩ nắt óc mà tõi không thể tìm nổi một đòn trả hận. Bàn tính liên miên với mấy trung đội trưởng. Vô ích, không thể vô cớ mà chơi súng đạn được, mà cũng không thể chơi bằng võ lực vì chắc chắn tiểu đoàn sẽ không chấp thuận, mà cho dù tiểu đoàn có đồng ý thì mấy anh cao hơn cũng chẳng anh nào dám nói ừ.

Nhưng cuối củng, một buổi tối khi đang nghe chương trình nhạc Quỳnh Giao, người anh em thò mồm sang đề nghị mở âm thanh lớn hơn để dược nghe ké.

Cô Hiền,

Tỏi đã bắt dược đầu mối để trả đòn từ chỗ này rồi. Ngày hôm sau, tôi mượn của lính một cải radio để nghiên cứu. Đài phát thanh Sài Gòn không được, đài phát thanh Quân Đội cũng không xong, đài phát thanh Huế lại càng không được. Giọng điệu, lời lẽ hiền quá, không thể chửi nhau kiểu hàng tôm hàng cá với người anh em được, “nhạc vàng” kiểu Quỳnh Giao tối hôm trước lại cảng không thể cho mấy người anh em nghe “cọp” được. Đây rồi, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, giọng điệu cũng hàng tôm hàng cả, tin tức cũng ba xạo y như của người anh em, Nhưng cũng không được, chẳng lẽ mình bỏ tiền tửi ra mua pin để phố biển, để phát thanh không công cho cái đài phát thanh chuyên môn chống Mỹ Ngụy y hệt như mấy người anh em mà lại chẳng có gì hay hơn mấy người anh em, chí là một trò trí trá mà đứa con nít nào cũng biết, hơn nữa, giờ phát thanh lại khó nhớ, khó bắt đài. Nhưng còn một đải nữa, đó là đài mả cô làm xướng ngôn viên, đài Mẹ Việt Nam, cũng tin những tin thuộc loại cà chớn chẳng khác gì đài của người anh cm. Cũng giọng điệu giễu dỡ của ông Thầy Bói, giọng nũng nịu của cô. Nhưng có một cái khác hẳn, đó là chương trình “Sinh Bắc Tử Nam”.

Cô Hiển,

Đêm đêm, khi những cải loa to tổ bố của người anh em ngưng ông ổng, bắt buộc cải đám khỉ gió đó phải nghĩ ngơi vào ban đêm, vì chẳng có nhân đân nào yêu cầu mở loa suốt đêm dược. Đêm miền quê, nhất là nơi đã xảy ra những trận đánh kinh hồn, vào những đêm trăng nhờ nhợ, mưa lất phất, lạnh gai người, tiếng côn trùng kêu nghe thê lương sầu thảm, nếu tôi mà có cái giọng mùi một chút, chắc chắn là tôi đã đi một dường “tứ đại oán” theo kiểu Ngũ Viên Thiệu khóc vợ hay bắt chước ông Sáu Lầu ngồi trong chòi coi ruộng, đêm hỏm khuya khoắt, sương sa gió lạnh bốn bề, kéo đờn cò mà ca một hài “Dạ Cổ Hoài Lang” não nuột để cho bớt nỗi cô quạnh suốt đêm trường năm canh thao thức “xa quê hương nhớ … chị dâu” liền. Nhưng tôi không có cái giợng Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường trời cho, nên tôi đành phải cho mấy người anh em nghe cái giọng nũng nịu của cô trong đài Mẹ Việt Nam vậy.

Tôi buộc micro vào cái radio rồi quay loa qua phía người anh cm. Loa tuy nhỏ, pin yếu, nhưng chỉ có mỗi cải loa của tôi dự thi tuyển lựa ca sĩ cùng cóc nhái ễnh ương thì chắc chắn cái loa phải to mồm hơn. Bảo đảm cái chương trình Sinh Bắc Tử Nam có giá trị không thua kém gì tiếng sáo dã làm “rã ngũ từng mảng” những người lính của Hạng Võ ngày xưa bên Tàu. Lính gát ca đêm, cứ mỗi đầu giờ, khi chương trình của cộ bắt đầu là mở radio.

Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi có những đứa con Sinh inh inh … Bắc ắc ắc … Tử ử ử … Nam am am …

Anh Nguyễn Văn Trổi, sinh tại Ba Ra Đô Lương Nghệ Tĩnh, con ông Nguyễn Văn Sướng và bà Nguyễn Thị Hát, cấp bậc hạ sĩ, thuộc sư đoàn Ba Lẽ Tư bảng Đỏ đã chết tại chiến trường Trung Tâm Tiếp Huyết ngày 23 tháng Giêng năm Mậu Thân …

Anh Trần Văn …

Cứ hết chương trình của cô buồn nẫu người như vậy là đển chương trỉnh của ông Thầy Bói ma quái, những tiếng mõ tiểng chuông lóc cóc lúc cóc kính coong kinh coong, như kêu gọi bao nhiên hồn ma vất vường trên bụi cỏ lùm cây, nghc đến rợn người.

Cô Hiền,

Cô cứ tường tượng, đêm âm u, mưa lất phất gai gai lành lạnh như vậy, hồn ma đồng đội còn lãng vãng chung quanh, những xác người, những kinh hoàng còn chưa thôi ám ảnh mà phải nghe cái trò quải ác đó, đến chúng tôi còn thấy rờn rợn, nổi gai ốc, huống gì mấy người anh em. Trời nhập nhoạng tổi là chương trình bắt dầu và kéo cho đến khi trởi hừng sảng mới chấm dứt. Đêm đầu tiên hình như chẳng ép phê gì cả, vì tôi không thấy phản ứng của người anh cm vào sáng hôm sau. Hy vọng đêm thứ hai, nhưng sáng ra vẫn chẳng thấy phản ứng gì. Chờ đợi vào dêm thứ ba, sáng ra vẫn vô ích, không thấy bóng dáng một “con chuột” nào xuất hiện. Cố gắng vào đêm thứ tư, Cố gắng tuyệt vọng vào dêm thứ năm, qua hết đêm thứ sáu, sắp chấm dứt “hãy ngày đợi mong”, thì vỡ lẽ. Hóa ra không phải chỉ có mình cổ gắng, mà người anh em còn cố gắng bạo hơn. Suốt sáu đêm liền như vậy, người anh em đã cổ gắng một cách phi thường. “Khó khăn nào cũng vượt qua” mả, nhưng khó khăn này coi bộ vượt qua không nổi, sức của người anh em cũng chỉ có giới hạn. Người anh em không thể chịu dựng hơn được nữa, mấy cải giọng cà chớn ma quái ấy cứ xoáy vào tai mấy người anh em, bất kể là người anh cm có “bông Bạch Tuyết” để nhét vào tai hay không, bất kể người anh em có “mũ ni” để che tai hay không. Phải vậy chứ, cái chương trình tạp lục này chính chúng tôi còn rợn người, nếu còn kéo dài thêm nữa, chưa chắc chúng tôi đã có đủ can đảm nghe tiếp. Người anh em nếu chịu được thêm vài ngày nữa thì chính chúng tôi là kẻ thua cuộc. Nhưng, người anh em thua trước. Và người anh em phản ứng. Và tội nghiệp người anh em, phản ứng duy nhất về cái chương trình tạp lục mà không vui này của cô, người anh em chỉ có mỗi một cách là mời tôi ra nhà hòa hợp để thương lượng. Á à, bảy giờ thì thằng thượng phong là chúng ông chứ không phải là chúng mày đâu nhá. Nghĩa là từ bây giờ, trên mặt trận võ mồm, chúng ông đang thắng thế và chúng ông “khai thác triệt để” để trả thủ chúng mày dã bắt chúng ông nghe những cải loa ông ổng của chúng mày bao lâu nay. Sau thêm cả tuần lễ để người anh em nghe cho nó “đã”, tôi mới chịu ra nhà hòa hợp nói chuyện, Tôi cười ởm ờ lập lại nguyên văn lời của người anh em lúc trước; “Chúng tôi không có quyền vì loa này là của nhân dân, chúng tôi chỉ làm theo lệnh của nhân dân. Các anh muốn chúng tôi ngưng phát thanh thì qua đây, tìm nhân dân mà yêu cầu.”

Người anh em biết rõ chẳng có nhân dân ma nào ở đây cả. Nhưng ăn nói làm sao bây giờ trong khi chính người anh em đã lôi nhân dân ra lâm bình phong trước. Nói lý không xong, mà choảng nhau bằng súng bằng đạn thi mấy người anh em không dám đụng đến đám lính “con bà phước” này.

Cô Hiền,

Từ hôm đỏ về sau, ban ngày người ta chỉ còn nghe văng vẳng những âm thanh thật nhỏ phát ra từ những cải loa thật to. Và ban đêm, vẫn có những lời nũng nịu của cô, vẫn những lời rờn rợn, vẫn những tiếng chuông tiếng mõ kính coong lóc cóc của ông Thầy Bói, nhưng thỉnh thoảng điểm thêm vào đó là âm điệu của những bản nhạc vàng.

Cô Hiền,

Bây giở cô ở đâu. Ông Thầy Bói ở dâu. Còn trong một trại “cài tạo” hay ở một “vùng kinh tế mới” nào đó trên đất nước đầy ngập những người anh em Sinh Bắc Tử Nam. Đang lang thang ở một vùng đất tự do nào đó đầy ngập những đồng nghiệp cũ hày đang âm thầm thiết lập một đài Mẹ Việt Nam khác. Chung quanh tôi trong đệm mùng hai Tết này, tại nhà ông “nhà thơ vạm vữ”, có thừa lực lượng cho một chương trình tương tự mà chỉ thiếu có mỗi cái giọng nũng nịu của cô. Chúng ta có nên làm lại một đài Mẹ Việt Nam mà giọng nũng nịu của cô chỉ cần thay đổi thành giọng “nghiêm và buồn, đượm một chút xa vắng” như những hoạt cảnh “cũng vẫn”, “vẫn lại” thường xuyên ở đây chăng?

Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi có những người con Sinh inh inh … Việt iệt iệt … Tử tử … Mỹ ỹ ỹ…

Lâm Chương

Thơ Luân Hoán

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Google photo edit by Sơn râu

thời niên thiếu ông trội

hơn tôi nhiều bực rồi

cả gan rời mái ngói

đi gom bụi vào đời

tuyệt vời những vốn sống

từ bến xe sân ga

nơi bờ sông bãi biển…

nuôi mạch máu đậm đà

khoái chơi vẫn ham học

mê luôn cỏ lá hoa

sớm hành nghề kèm trẻ

bén hương phấn lụa là

khởi từ một ánh mắt

của cô bé mê thơ

ông thả chữ tán gái

lên báo lớn, bất ngờ

chẳng có chi là lạ

nhờ khá sớm thành nhân

ông thành danh gọn nhẹ

như ơn đời trả công

địa linh Cồn Dầu Hạ

Tây Ninh hẳn thơm lòng

sinh gã không nhân kiệt

nhưng giàu có tang bồng

hách nhất là tên lính

rất ngon lành Việt Nam

dám sống bên cái chết

giữ màu xanh xóm làng

tôi thật tình hãnh diện

được quen, làm bạn ông

tuy rằng mỏng thân thiết

vẫn như máu trong gân

thời Bộ Binh, hâm bốn

tôi lười, ông lè phè

cùng “sinh viên báo chí”

chẳng mấy khi màu mè

gặp nhau đôi ba bận

mỉm cười thay bắt tay

không mày tao cởi mở

cứ như trời với mây

một lần ban báo chí

đấu rượu khóa hâm ba

ông đi đâu, tôi gánh

thắng, tái cả màu da

từ “gia binh Thiết Giáp”

chuí về phòng còn nghe

tên Lâm Chương được nhắc

một tay rượu mấy ghè

ra trường, tôi chung thủy

với phương danh Bộ Binh

Biệt Động Quân, ông chọn

rốt cuộc lành thân mình

và vẫn giữ được đủ

ba cái thú Vị Xuyên (1)

tôi cu cu giữ một

cái hạng chót… lỡ ghiền!

chừ mỗi lần gặp mặt

nhìn ông uống mà thèm

không phải là thèm rượu

thèm phong cách thần tiên

ông sống thật thoải mái

rong chơi cùng tháng ngày

thành ra những con chữ

giống cha nó lượn bay

giảm gần hết thơ thẩn

dồn hơi thơm trang văn

những mảnh đời sống thật

lấp lánh nắng cùng trăng

xa Loài Cây Nhớ Gió (2)

Truyện Và Những Đoản Văn

rũ ông đi tới đích

của sứ mệnh nhà văn

Đoạn Đường Hốt Tất Liệt

đầy gai thơm ngát hương

Đi Giữa Bầy Thú Dữ

lòng ngậm ngùi xót thương

chúng ta đã là bạn

khen nhau khó vô cùng

cần chi phải làm vậy

cho người đời sửa lưng

vẽ ông muốn đủ bộ

đâm ra thành lung tung

ngừng tay, đọc ông viết

rõ từng nét chân dung

gần đây ông đi biệt

theo rượu hay theo tình

chắc ngoài hai bạn ấy

đâu còn gì hiển linh

hôm qua ông xẹt lại

hộp thư tôi vài dòng

trong khoảnh khắc tôi sống

chập chùng chuỗi thăng trầm

tháng năm cùng năm tháng

đi về đâu hỡi Chương?

vứt gần hết gánh nặng

lưng vẫn oằn đau buồn

Luân Hoán

1/ “…ba cái lăng nhăng nó quấy ta…” (TTX)

2/ chữ nghiêng tên một số tác phẩm cua LC đã xuất bản

Photo edit by Sơn râu

tiểu sử Lâm Chương

Lâm Chương

Nhà văn. Tên  thật Lâm Chương, sinh  năm 1942 (khai sinh ghi ngày 28 tháng 10 năm 1945) tại Gò Dầu Hạ Tây Ninh. Ði  học  muộn. Sau trung học, một mình ra miền Trung, vừa học vừa làm nhiều nghề. Nhập  ngủ  khóa 24 Thủ Ðức. Ra  trường, phục vụ trong binh chủng Biệt Ðộng Quân.

Sau 1975 tiêu phí 10 năm trong các trại ‘cải tạo’. Vượt biển năm 1987. Hiện định cư tại Boston, Massachusetts Hoa Kỳ. Khởi viết trong những năm cuối bậc trung học vì một chuyện ngẫu nhiên quen một cô bạn sính thơ. Bài  thơ  tán  gái  đầu  tay được ‘đi’ trên số Xuân báo Văn tại Sài Gòn, đã  trải ra một cuộc chơi dài trên các tạp chí ở miền Nam Việt Nam, và nối  tiếp  với những Văn,Văn Học,Thế Kỷ 21, Sóng Văn, Họp Lưu, Phố Văn tại hải ngoại

 Tác phẩm đã xuất bản:

Loài Cây Nhớ Gíó (thơ,Khai Phá 1971), Ðoạn Ðường Hốt Tất Liệt (tập truyện Văn Mới 1998), Lò Cừ (tập truyện, Văn Học, 1999), Ði Giữa Bầy Thú Dữ (Văn Mới 2001), Truyện Và Những Ðoản Văn (Văn Mới, 2004)

Có bài trên các tuyển tập:

Thơ Thái Tú Hạp (Sông Thu-1999), Thơ Văn Hải Ngoại Năm 2000 (Việt Thường Montréal -nxb Văn Mới 2000), Luân Hoán – Một Ðời Thơ (nhiều tác giả Lê Hân thực hiện, Sông Thu 2005)

(Tác Giả Việt Nam- Lê Bảo Hoàng)

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục 
Là một dân tộc tương đối nhỏ yếu, tuy chúng ta vẫn giữ được một nền văn hóa riêng, giữ được độc lập và những bản chất đặc biệt của dòng giống, nhưng trong lịch sử, dân tộc chúng ta đã quá nhiều lần phải chịu đựng nạn ngoại xâm. Vì vậy, chúng ta quen thuộc nhiều với nền văn chương ngoại quốc. 
Trước đây, chúng ta quen thuộc văn chương Trung Hoa, ông cha chúng ta học chữ Hán, viết chữ Hán, làm thơ Đường luật. Sử sách của chúng ta ngày xưa cũng được ghi bằng chữ Hán. Rồi trước đây năm mươi năm, chúng ta học chữ Pháp, kiếm ăn bằng tiếng Pháp, dân tộc ta đã sản xuất ra được vài nhà văn viết tiểu thuyết hoặc khảo luận bằng tiếng Pháp. 
Gần đây, chúng ta quen biết, gần gụi với văn chương Hoa Kỳ, qua sách báo, phim ảnh, Tivi, nhất là trong những năm nửa triệu người lính Mỹ lên đất ta giúp chúng ta đánh lại Cộng sản. 
Ngoài văn chương Pháp và Hoa Kỳ, chúng ta cũng được biết khá nhiều về văn chương Anh. 
Chúng ta chỉ được biết rất ít về văn chương Nga. 
Sự kiện này không có gì khó hiểu. Nước Nga, từ một nửa thế kỷ này, nói rõ hơn, từ ngày chế độ Cộng sản được thiết lập trên nước Nga, đã trở thành một quốc gia thù hằn với tất cả những quốc gia không Cộng sản trên thế giới. Những người Cộng sản cầm quyền ở Nga thực hiện một chính sách bất thân thiện với toàn thể thế giới. Họ chỉ gây hận thù và chỉ nghĩ đến chuyện phá hoại để rồi nhuộm đỏ cả thế giới. Họ bao vây đất nước họ, đồng bào họ trong một bức màn sắt. Người thế giới tất nhiên là không thể liên lạc được với người dân Nga trong khi người dân Nga sống như những tù nhân trong lãnh thổ bị bưng bít của họ. 
Văn chương Nga, từ trước thời Cộng sản vẫn là một thứ văn chương đứng hàng đầu ở Âu châu. Những văn hào Nga như Tolstoy, Dostoyevsky, Gogol, Tchekov nổi tiếng khắp thế giới. Tác phẩm của họ được kể là những sản phẩm tinh thần quý báu của toàn thể nhất là. 
Nhưng từ khi chế độ Cộng sản được thiết lập trên đất Nga, nửa thế kỷ qua, văn chương Nga Cộng sản không còn đóng góp được gì đáng kể cho nhân loại. Số nhà văn Nga được thế giới biết đến có thể được đếm trên một ngón tay. Đó là những Ilya Ehrenbourg, Vladimir Dutdinsev… Và mới đây Boris Pasternak, Cholokov, rồi nhà văn Nga mới nhất: Aleksandr I. Solzhenitsyn. 
Đáng kể nhất là điều mỉa mai nhất là Boris Pasternak và Aleksandr I. Solzhenitsyn, cả hai cùng đoạt giải Văn chương Nobel, lại nổi tiếng ở ngoại quốc hơn là nổi tiếng ở trong nước Nga, tác phẩm của cả hai nhà văn này đều được ấn hành, xuất bản ở Âu châu và Mỹ châu trước khi được ấn hành, xuất bản ở ngay trong nước Nga cho người Nga đọc. Tại sao có sự lạ lùng như vậy? Hai nhà văn lớn này có muốn thấy những đứa con tinh thần của họ có cuộc sống trái ngược với tự nhiên như vậy không: sách của văn sĩ Nga hiện sống trong đất Nga được đưa từ ngoại quốc vào đất Nga cho người Nga đọc lén? Họ có lén gửi tác phẩm của họ ra ngoại quốc để được dịch và xuất bản ở ngoại quốc hay không? Và nếu có, vì sao họ phải làm như thế? 
Trường hợp đặc biệt của Aleksandr I. Solzhenitsyn và tác phẩm Tầng đầu địa ngục của ông đặt trước mặt nhân loại một vấn đề lớn – ta có thể gọi đây là vấn đề nan giải nhất của thế kỷ XX – đó là vấn đề tự do của con người bị giới hạn vì những quyền lợi chủ nghĩa, quốc gia, con người bị tan vỡ, bị tiêu diệt khi con người đụng chạm với những quyền lực lớn ở ngay trong đất nước của mình. Aleksandr I. Solzhenitsyn, với tác phẩm Tầng đầu địa ngục, kêu lên tiếng kêu xé trời của những người bị áp bức, tù đày trong Liên bang Xô Viết, nơi từng được tất cả những đảng viên Cộng sản trên khắp thế giới thành kính hướng về như những tín đồ hướng về đất thánh. Aleksandr I. Solzhenitsyn cũng là nhà văn Nga duy nhất hiện còn sống được ví cùng một lúc với Tolstoy và Dostoyevsky. Ông được coi giống với Tolstoy về văn pháp, về cách sử dụng văn Nga tài tình và phong phú, ông được coi giống với Dostoyevsky về tư tưởng, về sự đề cao giá trị con người trước những bất công của xã hội, những đè nén của bạo lực, và nhất là vì việc đưa tiểu thuyết những kinh nghiệm tù đày của chính bản thân. Cũng như Dostoyevsky từng bị tù đày nhiều năm ở Tây Bá Lợi Á, bị kết án tử hình, Aleksandr I. Solzhenitsyn đã phải ở tù mười một năm trong các trại tập trung và cưỡng bách lao động của chế độ Nga Xô Viết. Và cũng như Dostoyevsky, tù đày và những hành hạ về thể xác không thể làm mất được ý chí tinh thần của Aleksandr I. Solzhenitsyn, con người trong ông vẫn đứng thẳng và người văn sĩ trong ông vẫn tiếp tục ghi nhận sự thật, vẫn can đảm viết ra những sự thật ấy. 
Chúng ta không thể hiểu được Aleksandr I. Solzhenitsyn và Tầng đầu địa ngục nếu chúng ta không được hiểu biết khá đủ về tình trạng “chế độ cai trị bằng công an, mật vụ ở các nước Cộng sản, điển hình nhất là ở Nga Xô Viết. Nhân viên mật vụ là bọn nắm quyền và được tả kỹ nhất trong những trang Tầng đầu địa ngục. Bọn Yakanov, Klimentiev, rồi cao hơn là Oskolupov, Sevastyanov, Abakumov chiếm nhiều trang ngang với những tù nhân vai chính như Gleb Nerzhin, Lev Rubin, Pryanchikov. Vì vậy, trước khi đi sâu vào đời tư nhà văn và tác phẩm, chúng tôi thấy sự cần thiết phải trình bày với bạn đọc về lịch sử những cơ quan Mật vụ của Nga Xô kể từ ngày chế độ Cộng sản được thiết lập ở đó.°

Trước hết, chúng ta thấy rằng trong Tầng đầu địa ngục, nhà tù như Viện Khoa học Mavrino không phải là một nhà tù thường. Trên khắp trái đất này, có lẽ chỉ có ở Nga Xô mới có loại nhà tù đặc biệt ấy. Tiếng lóng của tù nhân Nga gọi nhà tù này là “Sharaska”, theo tiếng Nga, sharaska có nghĩa là “một nơi bịp bợm và giả dối”. Người tù trong những sharaska này được gọi bằng tiếng lóng là Zek. Những tiếng này không thể dịch đúng sang được các thứ tiếng khác tiếng Nga. Trong bản dịch The First Circle của Thomas P. Whitney (bản tiếng Mỹ này được bạn Hải Triều dùng để chuyển ngữ tiếng Việt) – chúng tôi thấy hai danh từ sharaska và zek được giữ nguyên. 
Năm 1917, trước năm Aleksandr I. Solzhenitsyn ra đời được một năm, Cơ quan Mật vụ Nga Cộng được thành hình. Kể từ ngày đó, cơ quan này đã nhiều lần đổi tên, nhưng dù nó có mang bất cứ tên gì, công việc chính của nó là việc tìm tòi, bắt bớ, tra tấn và thủ tiêu những người mà những đảng viên Cộng sản coi là có hại, bất lợi cho họ, bất kể những người này có làm hại nhân dân hay không. Trong số những nạn nhân của Mật vụ Nga có cả những đảng viên Cộng sản Nga, như trường hợp anh chàng Lev Rubin chẳng hạn. 
Từ tháng 12 năm 1917 cho tới năm 1922, Cơ quan Mật vụ Nga Cộng được gọi là Cheka, bọn nhân viên của Cheka được gọi là Chekist. Cái tên Chekist này cho tới bây giờ vẫn còn được dùng mặc dù cái tên Cheka đã bị đổi. Từ năm 1922, Cheka trở thành GPU – đọc là GuéPéOu – cũng trong năm 1922, GPU được đổi lại là OGPU. Hai cái tên GPU và OGPU được dùng lẫn lộn mãi cho đến năm 1934. 
Tới năm 1934, OGPU được sáp nhập vào Cơ quan NKVD: Ủy ban Nội vụ Nhân dân, Ủy ban này này dưới quyền chỉ huy của Tổng Ủy viên Yezhov. Trong khoảng ba năm trời từ 1935 cho tới 1939, theo lệnh của Stalin, Tổng ủy Yezhov, với Cơ quan NKVD đã phát động một chiến dịch thanh trừng nội bộ lớn lao, khủng khiếp, đẫm máu. Hàng triệu người Nga bị giết trong chiến dịch này, hàng trăm ngàn đảng viên Cộng sản Nga, trong số đó cả những đảng viên cao cấp, kỳ cựu trung kiên nhưng chỉ vì không tán thành chủ trương của Stalin, không chịu phục Stalin, đã bị đưa ra tòa, bôi lọ, bắt nhận tội phản quốc, bị xử tử hoặc bị giết chết trong ngục tù. 
Để rồi sau đó, đến 1939, ít ngày trước khi trận Thế chiến thứ hai bùng nổ, Tổng Ủy viên Yezhov bị Stalin ra lệnh tước quyền, bắt giam, đổ cho tội đã làm bậy, đã giết oan nhiều người, đi sai đường lối của đảng (?) và bị… xử tử. Stalin cho Lavrenty Beria nắm quyền chỉ huy Mật vụ Nga. Qua suốt thời kỳ chiến tranh, mãi tới năm 1946, Mật vụ Nga mới có cái tên mới là MGB, thuộc quyền Bộ Nội vụ Nga. Cũng năm 1946, Victor S. Abakumov được trao quyền Tổng Bộ trưởng Bộ An ninh và chỉ huy Cơ quan MGB. Như vậy là chúng ta thấy Tổng trưởng Abakumov được Aleksandr I. Solzhenitsyn tả trong Tầng đầu địa ngục là người thật, là Tổng trưởng thật. Abakumov tuy rất trung thành với Stalin nhưng vẫn không được Ông chúa đỏ tin dùng lâu. Vào khoảng giữa hai năm 1951-1952, Abakumov bị Stalin cất chức và bỏ tù vì tội… làm bậy. Stalin đã quyết định giết Abakumov nhưng chưa kịp ra lệnh thì Stalin chết. Vào tháng 12 năm 1954, khoảng một năm rưỡi sau ngày Stalin chết, tên tù Abakumov bị Kruschev, người hạ bệ Stalin, lôi từ nhà tù ra tòa vì tội đã vu cáo một số lãnh tụ Xô Viết và thủ tiêu những ông này trong vụ án bôi lọ gọi là “Vụ Leningrad” năm 1950. Abakumov bị tòa xử bắn. 
Do đó, ta có quyền tin rằng Viện Khoa học Mavrino tả trong Tầng đầu địa ngục là có thật, tất cả những nhân vật trong Tầng đầu địa ngục cũng đều có thật. Toàn truyện Tầng đầu địa ngục là có thật. Vì là sự thật, nên ngoài giá trị văn chương Tầng đầu địa ngục còn có giá trị như một bản cáo trạng kết án nặng nề cuộc đời phi nhân của những người Cộng sản.°

Trong Tầng đầu địa ngục, nhân vật Gleb Vikentyevich Nerzhin chính là hình ảnh của Aleksandr I. Solzhenitsyn. 
Gleb Nerzhin là một giáo sư toán học, gia nhập quân đội trong những năm đầu của trận Thế chiến thứ hai, sau khi quân Đức Quốc Xã ồ ạt tiến vào đất Nga như vào chỗ không người. Chàng trở thành một sĩ quan pháo binh, mang cấp bậc Đại úy, chỉ huy một pháo đội ở mặt trận biên giới. Chàng bị bọn Mật vụ bắt khi còn đang ở trên mặt trận. 
Aleksandr I. Solzhenitsyn cũng là giáo sư toán học, ông cũng gia nhập quân đội với chức vụ sĩ quan pháo binh. Và ông cũng bị bọn Mật vụ bắt khi còn đang ở trên mặt trận. 
Theo chính lời kể chuyện của Solzhenitsyn, ông gia nhập quân đội với đơn tình nguyện nhập ngũ ghi rõ ông có khiếu viết văn – trước đó ông đã hoàn thành vài cuốn tiểu thuyết nhưng chưa được xuất bản – và xin làm phóng viên báo chí chiến trường. Nhưng người ta không xét đơn ông, họ cho ông vào ngành Yểm trợ Tiếp vận và ông phải phục vụ trong một đơn vị dùng toàn xe ba bánh đẩy đồ tiếp tế ra chiến trường. Trong những năm đầu của cuộc chiến, vì Stalin ngu xuẩn tin chắc là Hitler sẽ không xua quân đánh Nga nên không cho chuẩn bị gì cả, khi bị tấn công, quân Nga thiếu thốn đủ thứ. Nhập ngũ từ 1940 mãi 1942, Solzhenitsyn mới được đưa vào học ở Trường Huấn luyện Sĩ quan Pháo binh. Tới năm 1945, khi trận chiến sắp kết liễu, quân Đức Quốc Xã đã thua và đang rút về Đức, Solzhenitsyn mang cấp bậc Đại úy Pháo binh. Ông dự trận đánh dữ dội ở vùng Orel Kursk. Thắng trận này, Hồng quân Nga vượt qua được Ba Lan để đi vào biên giới Đức Quốc, trực chỉ Bá Linh đổ nát, chấm dứt chiến tranh ở Âu Châu. 
Tháng Giêng năm 1945, Đại úy Solzhenitsyn nhận được lệnh của Tướng Travkine, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Pháo của ông, gọi về ngay Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Đại úy Solzhenitsyn về trình diện Tướng Travkine và được ông này, với một vẻ bất đắc dĩ, khổ sở khó hiểu, yêu cầu cởi khẩu súng lục võ khí tùy thân. Đại úy Solzhenitsyn vừa cởi bao súng đặt lên bàn theo lệnh vị chỉ huy của mình thì hai tên Mật vụ áp vào còng tay lột ngay cấp hiệu cùng những huy chương tưởng thưởng trên ngực ông. 
Tướng Travkine đứng lặng im nhìn cuộc bắt bớ này. Nhưng khi Đại úy Solzhenitsyn, bây giờ đã thành một tù nhân của Mật vụ Nga, sắp bị đưa ra khỏi phòng, Tướng Travkine đi tới lặng lẽ xiết chặt tay ông trước cái nhìn của hai tên Mật vụ. Nhiều năm sau, khi viết lại chuyện này, văn sĩ Solzhenitsyn cho rằng hành động bắt tay tù nhân của Tướng Travkine là hành động dũng cảm hào hùng nhất ông được chứng kiến ở cấp tướng lãnh trong suốt 5 năm trời đánh nhau với Đức. 
Ngay cả khi chưa chiến thắng hẳn, chưa đánh quỵ hẳn Đức Quốc Xã, Stalin đã nghĩ đến chuyện cho mật vụ đi bắt các sĩ quan, tướng lãnh nào mà y biết là không phục y. Stalin sợ rằng khi những chiến sĩ anh hùng này trở về, họ sẽ hạch tội những tên cầm quyền ngu ngốc làm cho chiến hữu của họ phải chết quá nhiều và vô ích. Trong số tội phạm này, tội của Stalin là lớn nhất. Về sau, Kruchev, trong chiến dịch hạ bệ Thần tượng Stalin, đã công bố hết những tội ngu đần, tàn ác, mù quáng của Stalin, trong số này có những tội Stalin ngu ngốc không chuẩn bị chiến tranh với Đức Quốc Xã vì tin rằng Hitler sẽ không bao giờ xua quân đánh Nga, ra những mệnh lệnh xuẩn ngốc làm chết oan không biết bao nhiêu binh sĩ Nga v.v. 
Đại úy Pháo binh Solzhenitsyn đã phạm tội gì để bị bắt? Chính Solzhenitsyn đã nói ra nguyên do: chỉ vì ông đã dám viết thư cho một người bạn chỉ trích những sai lầm của Stalin, ông quên rằng những thư từ gửi từ mặt trận về đều bị kiểm duyệt kỹ, thư của ông rơi vào tay bọn mật vụ và ông bị bắt chỉ vì thế. 
Từ mặt trận, Solzhenitsyn bị đưa về khám đường Lubyanka, khám đường lớn nhất Mạc Tư Khoa, nơi ông tả tỉ mỉ trong Tầng đầu địa ngục đoạn nhân vật Innokenty Volodin bị bắt. Khi ấy ông ta có vợ nhưng chưa có con – tình trạng y hệt tình trạng của Gleb Vikentich Nerzhin trong truyện – vợ ông đột nhiên mất tin tức của ông. Không cho tù nhân gửi thư về nhà, bọn Mật vụ Nga còn tàn ác hơn nữa ở điểm không nhận là chúng đã bắt người đó với thân nhân của người bị bắt. Người vợ thứ nhất của Solzhenitsyn không trung thành với chồng bằng nàng Nadya, vợ của Nerzhin trong truyện: chừng vài năm sau Solzhenitsyn bị tù, bà vợ này của ông bỏ đi lấy chồng khác. 
Đúng ra, Aleksandr I. Solzhenitsyn bị tù 8 năm và 3 năm biệt xứ. Ông ở tù không ra tòa, không có án, ở tù vì một lệnh đặc biệt do bọn Abakumov quyết định. Số tù của ông là số 232. 
Sau hai năm tù ở Khám đường Lubyanka, Solzhenitsyn được đưa về một Sharaska gần Mạc Tư Khoa vì người ta biết ông là toán học gia. Sống ở đây bốn năm, Solzhenitsyn thâu thập tài liệu để viết cuốn Tầng đầu địa ngục. Đúng như lời nhân vật Gleb Nerzhin nói ở đoạn cuối của tác phẩm, so với những nhà tù khác, đời sống trong Sharaska Mavrino là sung sướng nhất, ở đó người tù đỡ khổ nhất, tuy cũng vẫn là bị tù. 
Sau bốn năm sống tương đối đỡ khổ ở Sharaska, Solzhenitsyn bị đổi đến những trại tập trung ở miền hoang vu Krasnoyarsk. Nơi đây tù nhân phải làm việc trong một mỏ đồng, sự ăn uống khổ cực và khí hậu rét lạnh khủng khiếp làm cho tù nhân chết dễ như ruồi. 
Việc tù chết quá nhiều không làm cho bọn Mật vụ Nga xúc động mảy may, bởi vì chúng nó quá nhiều tù. Người ta ước lượng rằng diện tích những nhà tù, trại tập trung đủ thứ, đủ kiểu trong lãnh thổ Liên bang Xô Viết còn lớn rộng hơn cả toàn thể diện tích lãnh thổ một quốc gia hạng trung ở Âu châu, như Thụy Sĩ chẳng hạn, và số tù nhân trên đất Nga còn đông hơn cả tổng số dân Thụy Sĩ. Tháng 2 năm 1953, Solzhenitsyn được trả tự do. Lúc này Stalin đã chết và Kruschev, người kế vị Stalin, vì chủ trương hạ bệ Stalin nên ra lệnh tha một số người chỉ vì chống Stalin mà bị tù. Tuy vậy, Solzhenitsyn cũng vẫn phải đi lưu đày ở vùng hoang vu tuyết trắng mênh mông xứ Balkan. Tới đây ông sống trong một làng quê, làng Koh-Teren của người Tartare, một giống dân thiểu số sống trong lãnh thổ của họ nhưng bị sáp nhập vào Liên bang Nga Xô Viết. 
Đây là thời gian Solzhenitsyn bị án biệt xứ. Ông sống ở Koh-Teren ba năm. Ở đây nhờ không có ai giỏi Toán, ông xin được chân giáo viên dạy Toán, và nhờ vậy đời ông đỡ khổ vì số tiền lương giáo viên này. 
Nhưng cũng ở đây, ông phát giác ông bị đau ung thư. Thực ra, trong thời gian bị tù 8 năm, ông đã bị ung thư rồi và đã được giải phẫu một lần, nhưng các y sĩ giấu không cho biết ông đau ung thư. 
Tù biệt xứ, không tiền, ở một nơi hoang vắng, lạc hậu, không bệnh viện, không thuốc men điều trị, nhà văn nắm chắc cái chết. Sau nhiều ngày nằm liệt giường, ông gắng lần ra Tashkent xin điều trị ở bệnh viện công. Tuy vẫn không có thuốc nhưng có lẽ vì số chưa đến ngày tận, Solzhenitsyn vẫn không chết. Những ngày sống vất vưởng ở bệnh viện với bệnh ung thư thập tử nhất sinh ấy cho nhà văn tài liệu sống để viết thành tiểu thuyết Viện ung thư (Cancer Ward) sau này.

°Năm 1955, trong khi còn ở Koh-Teren, Aleksandr I. Solzhenitsyn đã bắt đầu viết tác phẩm tiểu thuyết dài và giá trị nhất của ông: Tầng đầu địa ngục. 
Tác phẩm lớn này được ông hoàn thành vào 9 năm sau – năm 1964 – ở Mạc Tư Khoa. 
Tình yêu đến với ông. Một nữ kỹ sư hóa học trẻ đẹp yêu ông và chung sống với ông mặc dù nàng biết rằng ông chỉ là một nhà văn bị chế độ ghét bỏ, bị tù đày và có thể lại bị tù đày bất cứ lúc nào. 
Cho đến năm 1964, chỉ có mới có một cuốn tiểu thuyết của Aleksandr I. Solzhenitsyn được xuất bản ở Nga. Đó là quyển Một ngày trong đời Ivan Denisovich. Các truyện khác của ông, trong số có nhiều truyện ngắn, kịch bản, đều bị Sở Kiểm duyệt ngầm ra lệnh cho các báo không được đăng. Khi biết chắc rằng ông nhất định không chịu khuất phục chế độ, những người cầm quyền lại mở chiến dịch khủng bố, vu cáo, bôi lọ ông. Nhân viên Mật vụ đến xét nhà ông ban đêm, tịch thu những bản thảo của ông, xét hỏi, làm khó những người bạn đến thăm vợ chồng ông. Những tờ báo của Đảng Cộng sản Nga đăng những bài mạ lỵ Aleksandr I. Solzhenitsyn: Họ vu cho ông bị tù vì tội phản quốc, tư thông với địch quân, những bài báo họ viết về ông có những đoạn nửa kín, nửa hở cố ý làm cho người đọc nghĩ rằng ông chỉ là một tên bất lương, một phần tử lưu manh của xã hội không đáng được để ý đến. Họ còn ngụy tạo cả những bằng chứng kết tội ông bị tù vì tội phản quốc. 
Mật vụ Nga và những người Cộng sản cầm quyền ở Nga có cả ngàn thủ đoạn ác độc để hãm hại những người họ muốn hãm hại. Ngoài việc vu khống Aleksandr I. Solzhenitsyn, họ cô lập vợ chồng ông. Nhà văn không kiếm được tiền vì những truyện ông viết không được đăng báo, không sao có thể xuất bản, ông phải sống nhờ vợ ông, nhưng vợ ông bỗng dưng vô cớ bị sở cho nghỉ việc, rồi đi xin việc ở đâu cũng không được. Nhà văn lại còn bị pháp luật làm khó vì một chuyện cũ: bà vợ thứ nhất của ông bỏ đi lấy chồng khác trong lúc ông bị tù nhưng vẫn chưa ly dị chính thức với ông – có lẽ bà này chưa ly dị vì thời ấy, bà không sao liên lạc được với chồng để làm việc này – thành ra bây giờ nhà văn sống với bà vợ thứ hai này trong tình trạng … bất hợp pháp, phạm luật v.v. 
Boris Pasternak đã gửi tác phẩm Doctor Zivago sang Ý quốc để dịch và xuất bản khi thấy bọn “đồ tể văn chương” ở Nga không chịu cho xuất bản, trường hợp của Aleksandr I. Solzhenitsyn hoàn toàn khác. Solzhenitsyn cũng muốn thấy tác phẩm của ông được xuất bản, tất nhiên, nhưng ông muốn tác phẩm của ông được xuất bản ở Nga trước ở ngoại quốc. Từ năm 1967, Solzhenitsyn đã nhiều lần viết thư cho Hiệp hội Những nhà văn Nga Xô yêu cầu can thiệp để tác phẩm của ông có thể được xuất bản trên đất Nga, trong những bức thư này, ông có đề cập đến tình trạng tác phẩm của ông có thể bị lọt ra ngoại quốc và xuất bản trước ở ngoại quốc. Ông nói rõ đó là tình trạng ông không muốn. 
Nhưng nếu nhà văn không gửi tác phẩm đi, làm sao tác phẩm của nhà văn lại có thể lọt ra ngoại quốc? Solzhenitsyn giải thích sự kiện này như sau: có những người bạn mượn bản thảo tác phẩm của ông về đọc, những người này đánh máy tác phẩm đó để giữ lại hoặc truyền cho người khác, dưới hình thức bản đánh máy, tác phẩm cứ thế phổ biến, để rồi sau cùng, một bản đánh máy đó được mang ra ngoại quốc mà chính tác giả không hề hay biết. 
Chính phủ Nga Xô lại không gia nhập Tổ chức Bảo vệ Quyền tác giả Quốc tế nên các nhà văn Nga không thể thưa kiện gì được khi tác phẩm của họ bị những nhà xuất bản Âu Mỹ xuất bản không có sự đồng ý của họ. 
Năm 1970, Viện Hàn Lâm Nobel đã mặc nhiên trở thành giải thưởng quan trọng nhất, giá trị nhất thế giới. Được giải này là sự vinh hạnh nhất cho những người làm văn học, nghệ thuật, khoa học. 
Chính quyền và Đảng Cộng sản Nga không muốn thấy Aleksandr I. Solzhenitsyn được giải Nobel vì lẽ dễ hiểu là tác phẩm của nhà văn này tố cáo chế độ cai trị bằng mật vụ, nhà tù tàn ác trên đất Nga. Nhưng nhà văn đã được giải Nobel văn chương, cả thế giới đã biết, giá trị và tài năng của nhà văn đã được quốc tế công nhận. Như vậy cũng có nghĩa là quốc tế công nhận những gì Aleksandr I. Solzhenitsyn viết trong tiểu thuyết là đúng. Đó là điều đau đớn thâm gan, tím ruột cho những người Cộng sản Nga. Họ mất mặt nhưng họ chẳng thể làm gì được. 
Họ phản ứng bằng cách trả thù tẹp nhẹp là cấm không cho Aleksandr I. Solzhenitsyn sang Thụy Điển để lãnh giải Nobel. Họ sợ sang đó, nhà văn đã trở thành nhà văn quốc tế, sẽ tuyên bố sự thật về họ và những lời này sẽ được công bố cho toàn thế giới biết, họ sẽ còn tai hại nhiều nữa. 
Không mời được Aleksandr I. Solzhenitsyn sang Stockholm, Viện Hàn Lâm Nobel đề nghị mời nhà văn tới Tòa Đại sứ Thụy Điển ở Mạc Tư Khoa để trao giải – một đại diện của Viện sẽ tới Mạc Tư Khoa để thực hiện việc này – nhưng chính phủ Nga cũng không chịu. Họ đòi đưa giải đó cho họ để họ trao lại cho người được giải. Viện Hàn Lâm Nobel không chịu, vì việc đó trái với tinh thần của Viện, Viện không nhờ đến bất cứ một thứ chính quyền nào trong việc chọn lựa trao giải. Vì vậy được giải Nobel văn chương từ năm 1970 cho tới nay – 1973 – nhà văn Aleksandr I. Solzhenitsyn vẫn chưa được chính thức lãnh giải. 
Tất nhiên là các báo xuất bản ở nước Nga – tất cả đều là báo Đảng, do Đảng chỉ huy – đều không loan tin Aleksandr I. Solzhenitsyn được giải Nobel văn chương cho dân Nga biết. 
Thực ra, theo sự tiết lộ của chính Solzhenitsyn với những nhà báo Tây phương đã lén gặp được ông và phỏng vấn ông ở Mạc Tư Khoa, chính quyền Cộng sản Nga không phản đối việc ông đi ra ngoại quốc, nhưng họ muốn ông… đi luôn không trở về nữa. Nếu ông chịu đi luôn, họ sẽ để mặc cho ông đi cùng vợ con. Ông đi luôn không về nữa, họ sẽ nhổ được cái gai trước mắt họ, và họ sẽ có lý do để tuyên truyền với dân Nga: tên văn sĩ bất lương sa đọa đó đã bỏ nước trốn sang Tây phương, tên đó chỉ là tên thèm khát bơ sữa Tây phương, một tên lưu manh trốn tránh trách nhiệm với tổ quốc. Và rồi dân Nga sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn được nghe nói đến cái tên Aleksandr I. Solzhenitsyn nữa. 
Và mặc dù bị chính quyền bạc đãi, bị tù đày, bị cô lập, bị đói khổ và rất có thể là lại bị tù bất cứ lúc nào, Aleksandr I. Solzhenitsyn vẫn nhất định ở lại trên quê hương ông. Ông coi việc bỏ nước đi sống ở ngoại quốc để được yên thân, được no ấm là việc làm hèn nhát. Ông ở lại để tiếp tục tranh đấu chống những bất công, đàn áp ở Nga Xô – không phải ông ở lại vì yêu mến chế độ Cộng sản – và ông chấp nhận tất cả những hậu quả của việc ông làm. 
Trong một bức thư gửi cho Hiệp hội Những nhà văn Liên Xô, Aleksandr I. Solzhenitsyn viết: 
“… Hiện nay, việc sáng tác của tôi bị bóp chết cứng, cá nhân tôi bị bao vây, cô lập và bôi lọ đủ điều… 
Nhưng tôi hoàn toàn yên tâm, vì tôi biết tôi đã và sẽ làm trọn sứ mạng nhà văn trong mọi hoàn cảnh … 
Không ai có thể ngăn cản được sự thực xuất hiện. Riêng tôi, tôi sẵn sàng chấp nhận cái chết để cho sự thực được sống và cho sự tiến bộ của nhân loại..”°

Viết về Aleksandr I. Solzhenitsyn và The First Circle khi tác phẩm này được ấn hành ở Hoa Kỳ, phê bình gia Harrison E. Salisbury đã viết trên tờ The New York Times Book Review: 
“Đây là tác phẩm tiếp tục tập Hồi ký của Dostoyevsky. Trong thời kỳ Xô Viết cầm quyền ở Nga, người ta đã có rất nhiều những tiểu thuyết viết về đời sống trong lao tù trên đất Nga. Và giờ đây, vóc dáng to lớn của Aleksandr I. Solzhenitsyn nổi bật lên. Cũng như Dostoyevsky, Solzhenitsyn là một kẻ sống sót. Ông cũng đã sống nhiều năm trời trong lao tù và lưu đày”. 
Những nhân vật đàn ông, đàn bà trong tác phẩm của ông đều là những người bằng xương bằng thịt, họ yêu, họ ghét, họ cười, họ khóc, họ trò chuyện, họ ước mơ và đột nhiên ta hiểu rằng thúc đẩy, khủng bố, sa đọa và tàn ác chỉ làm trong sạch thêm tinh thần con người. Cuối cùng, không phải tù nhân là những kẻ bị tiêu diệt dù rằng họ có thể bị mất đời sống. Bọn bị tiêu diệt chính là bọn cai ngục. Bọn đàn áp chính là bọn thất bại
Harrison E. Salisbury là người hiểu biết tận tường về đời sống ở Nga Xô Viết, ông đã từng sống nhiều năm trên đất Nga và chính ông tiên đoán từ năm 1956 rằng Nga Xô và Trung Cộng thế nào cũng đi đến tranh chấp, trở thành tử thù và vì việc này, cả Nga Xô lẫn Trung Cộng đều bắt buộc phải hòa hoãn với Hoa Kỳ. 
Đọc Tầng đầu địa ngục, ta thấy tình trạng xảy ra đúng như Harrison E. Salisbury nhận xét: những tù nhân như Gleb Nerzhin, Pryanchikov, Khorobrov, những người tù vì không chịu khuất phục nên bị bọn mật vụ đẩy ra khỏi Sharashka vẫn là những con người còn nguyên vẹn những đức tính của con người, tình yêu thương và họ vẫn có thể ngẩng đầu cao nhìn trời. Chúng ta chỉ có thể kính phục họ chứ không thể khinh họ. Trong lúc bọn cai ngục như Abakumov, Yakanov chỉ là những tên hèn nhát, quỵ lụy, nịnh bợ, chúng còn chết sớm và chết nhục nhã hơn ai hết. 
Aleksandr I. Solzhenitsyn bị tù dưới thời Tổng trưởng Abakumov, ông ra khỏi tù và trở thành nhà văn lớn trong khi Abakumov bị thất sủng và bị bắt nhốt, bị giết như một con quái vật. Theo tôi, những chương tả cuộc gặp gỡ ban đêm giữa hai tù nhân Pryanchikov và Bobyer với Tổng trưởng Abakumov, những chương viết về Stalin trong Tầng đầu địa ngục là những chương hay nhất, những chương tả cảnh Innokenty Volodin bị bắt vào khám đường Lubyanka là những chương rùng rợn nhất. 
Và lời tù nhân Bobyer nói với Tổng trưởng An ninh Abakumov là một bài học giá trị cho những kẻ cầm quyền ở cõi đời này: 
“Công dân Tổng trưởng… Ông có thể quát tháo dọa nạt bọn tướng tá dưới quyền ông. Họ có quá nhiều thứ ở đời nên họ sợ ông vì họ sợ mất những cái đó. 
Còn tôi, tôi không có gì cả, tôi không còn gì cả. Ông không thể hại vợ con tôi, vì một trái bom đã hại vợ con tôi từ lâu rồi. Cha mẹ tôi đều đã chết. Những gì tôi có trên thế gian này chỉ là cái khăn tay này, bộ quần áo mất nút tôi đang bận đây. Tất cả đều là của chính phủ phát. Ông đã lấy mất tự do của tôi từ lâu rồi, và ông không có khả năng trả lại tự do cho tôi bởi vì chính ông, ông cũng không có tự do. Năm nay tôi đã bốn mươi hai tuổi và ông bắt tôi tù hai mươi nhăm năm. Tôi đã sống ở trại khổ sai, bị còng tay, bị chó săn canh gác, tôi đã chết đi sống lại nhiều lần. Ông còn có gì để có thể đe dọa tôi nữa? Ông còn có thể làm tôi mất những gì nữa? Ông không cho tôi làm công việc kỹ sư của tôi ư? Cấm tôi làm việc, ông sẽ thiệt nhiều hơn là tôi thiệt. 
Ông nên hiểu một điều và ông nên chuyển lại điều này cho những kẻ có quyền như ông hoặc cao hơn ông, những kẻ không biết rằng các ông chỉ có thể mạnh khi nào các ông không làm cho người ta mất hết tất cả mọi thứ. Một người bị các ông tước đoạt hết tất cả mọi thứ sẽ không còn nằm trong quyền hạn của các ông nữa. Người đó lại hoàn toàn tự do”.°

Vì sao người tù Gleb Nerzhin thản nhiên đi khỏi Viện Mavrino mặc dù chàng biết rằng đi là khổ hơn, đi là có thể chết, mặc dù chàng có thể xin ở lại? Bởi vì Nerzhin đã mất tất cả và chàng đã chấp nhận mất hết để được sống thảnh thơi như một con người còn có lương tâm, còn cá tính, còn tự trọng. 
Câu nói trên đây của Bobyer có thể coi là chủ đề của Tầng đầu địa ngục. 

1.6.1973 
Hoàng Hải Thủy

Đừng chụp hình chung với lá cờ vàng!

Gioan Lê Quang Vinh

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Biểu tình chống giàn khoan Trung Quốc – Melbourne photo by Sơn râu 24/5/2014

Lời người post bài: Nhân bài viết của Huy Phương vừa post qua có liên quan đến chuyện lá cờ, râu tôi xin post bài tiếp theo cũng có lá cờ trong đó, xin mời bạn đọc theo dõi.

Đức cha Hoàng Đức Oanh, Giám Mục Kontum, có việc đi nước ngoài. Khi đến cơ quan nhà nước nhận hộ chiếu. Cán bộ Cộng sản nói với ngài:

“Ông đi nước ngoài nhớ đừng chụp hình với lá cờ vàng ba sọc đỏ, nếu không là toi đời ông!”

Ngài đáp ngay: “Vậy tôi trả hộ chiếu lại cho các ông, tôi không đi nữa”.

Họ ngạc nhiên hỏi ngài: “Sao vậy?”

Ngài cười: “Chứ nếu đi nước ngoài mà toi đời thì đi làm gì?”.

Rồi ngài nói với các ông ấy: “Này nhé, tôi vào nhà ông, thấy ông để tượng Hồ chí Minh với lá cờ đỏ, tôi có bảo ông đem đặt chỗ khác không? Đến nhà người ta ai mà làm thế. Ở nước ngoài, nơi tôi đến có lá cờ vàng, chẳng lẽ tôi bảo họ đem đi chỗ khác cho tôi ngồi và chụp hình à?”

Ngài nói tiếp, lý luận sắc bén: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, vậy các ông có ghét Tàu và Tây lắm không? Tôi thấy mấy ông lãnh đạo vẫn đứng chào cờ Trung quốc, chào cờ Pháp, Mỹ đó thôi. Vậy tại sao lá cờ vàng của anh em người Việt mình mà các ông căm ghét đến thế?”

“Còn nữa, hàng năm chúng ta đón bao nhiêu Việt kiều, nhận bao nhiêu tiền họ gửi về, sao lại phải lúc nào cũng căm ghét cờ của họ?”

Ngài nói thêm, như lời tâm sự, nghe rất xúc động: “Năm 1954 gia đình tôi di cư vào Nam. Gia đình tôi sống được và tôi lớn lên, ăn học là dưới lá cờ vàng. Nếu các ông di cư năm ấy thì các ông cũng thế thôi.”

Nghe những lời vô cùng hợp lý như thế, chắc họ bất ngờ và ngượng ngùng lắm nên cuối cùng họ bảo: “Thôi ông cứ đi…”

(Trích từ bài viết “Chuyện kể của một Đức Giám Mục” của Gioan Lê Quang Vinh.)

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Một nhóm nữ tu từ Việt Nam sang Little Saigon tổ  chức gây quỹ giúp người nghèo ở Little Saigon, cho đến giờ khai mạc, những người tham dự thấy trên sân khấu vẫn không có lá cờ VNCH và quốc kỳ Mỹ. Một vài cựu quân nhân trong đó có nhiều người vợ lính đã đặt mua một bàn ăn để giúp đỡ cho hội này, đặt vấn đề với ban tổ chức thì ban tổ chức trả lời không biết. Nhiều người đã lên tiếng rằng, nếu buổi gây quỹ này không treo quốc kỳ VNCH hay làm lễ chào cờ thì họ sẽ ra về. Cuối cùng chính những người phản đối đã đi mượn quốc kỳ luôn luôn có sẵn tại nhà hàng mang lên sân khấu để cho ban tổ chức làm lễ chào cờ.

Nhớ lại câu chuyện năm năm trước, trong thời gian từ 2007-2008, Tim Aline Rebeau, một cô gái Thụy Điển, người sáng lập “Nhà May Mắn” ở Saigon đã đến Mỹ để gây quỹ trong cộng đồng người tị nạn Việt Nam. Cô đã đến Washington DC, Philadelphia, Houston, Orange County, San Fernando, San Jose và Seattle. Ở những nơi khác, chúng tôi không rõ sự việc, nhưng tại Cộng đồng Việt Nam ở San Fernando Valley, dư luận đã lên án ban tổ chức, vì đã theo lời yêu cầu của cô Tim, cất bỏ lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà đã được bày trí sẵn trên sân khấu, cạnh bục thuyết trình.

Cô Tim đã bỏ ra ngoài khi lễ chào Quốc Kỳ bắt đầu, sau đó cô công khai tuyên bố, theo tường thuật của một đài phát thanh, là: “Tôi không muốn những vấn đề chính trị ảnh hưởng đến công việc từ thiện của tôi. Nếu Ban Tổ Chức muốn treo cờ hay làm gì đó tùy ý, nhưng trong chương trình của tôi không thể có cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Điều nầy qúy vị biết hơn ai hết, tôi không thể đứng dưới bất kỳ một lá cờ nào cả.” Phải chăng trừ cờ đỏ sao vàng?

Nhiều chức sắc tôn giáo từ Việt Nam ra nước ngoài, lẽ cố nhiên là cậy nhờ các cộng đồng ty nạn ở đây để xin tiền về xây nhà thờ, chùa, hay giúp người nghèo khó, nhưng không chịu đứng dưới lá cờ vàng hay nghe hát quốc ca VNCH. Chúng ta cũng thấu hiểu sự khó khăn những vị này khi trở về nước chính quyền thấy những bức ảnh hay đoạn phim có liên quan đến màu sắc VNCH. Nhưng chắc chắn là khi ký giấy xuất cảnh cho quý vị ra đi, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã biết quý vị đi đâu? – đến những cộng đồng người Việt tị nạn tại Mỹ, Úc, Canada hay Pháp; và với mục đích gì? -xin tiền đem về Việt Nam. Không lẽ những nhà từ thiện, những người lãnh đạo tôn giáo này đến một hang động không có sinh hoạt của con người và quý vị chỉ mang về nước những đất, đá hay sỏi, hay củi mục, mà quý vị đến một nhân quần, nơi con người có ý thức chính trị, và quý vị mang về toàn những đồng đô la quý giá, những đồng đô la do sự lao động vất vả, dè xẻn và do tấm lòng rộng lượng của những người tha phương mà trong nước đã mỉa mai là bọn “tha phương cầu thực.”

Chào quốc kỳ và cử hành một phút mặc niệm từ lâu đã thành một phong tục, một nghi thức khai mạc của cộng đồng tị nạn người Việt trên khắp thế giới trong những sinh hoạt dù là chính trị hay xã hội, văn hóa vì người Việt tại hải ngoại luôn luôn muốn khẳng định căn cước của mình, “tôi là ai, tôi từ đâu đến đây và vì sao tôi có mặt ở đây?” Người khách đến nhà thăm viếng xã giao không phê phán cách bài trí trong nhà của chủ nhân, không chê lối tiếp đón của gia chủ, thậm chí theo giáo dục đông phương, người khách còn đến nghiêng mình hay thắp nén nhang trước bàn thờ tổ tiên trong ngôi nhà mình đến nữa. Khổ nỗi, ai cũng biết rõ, mục đích của quý vị khi bước vào căn nhà này, không phải với tư cách một người ban ơn, mà là để ngửa tay xin tiền, dù với danh nghĩa “từ thiện”, “lá lành đùm lá rách”, “máu chảy ruột mềm” hay “bố thí” gì gì đi nữa!

Đây không phải là chuyện “bầu phải thương bí vì chung một giàn,” đây là chuyện bầu phải thương bầu, tuy khác giàn với nhau, nhưng mà, chúng lại cùng một giống!

Chuyện trong nước ra hải ngoại xin tiền quá nhiều, nhưng cũng không ít người đem tiền về cho trong nước. Không những cho tiền để nuôi trẻ, nuôi người tàn tật, xây cầu, cho dụng cụ cùng sự săn sóc y tế mà hải ngoại còn cho họ kiến thức về khoa học, kỹ thuật, giáo dục … Một số nhỏ kiếm danh để tìm nơi trú ẩn cuối đời, nhưng hầu hết người hải ngoại vì lòng nhân đạo, thương yêu, muốn cải tạo xã hội, xây dựng đất nước. Những người trong nước ra ngoài xin bố thí thì không biết điều, không tôn trọng tập quán, phong tục của những ân nhân đã giúp mình, trái lại trong nước được giúp thì lại có thái độ trịch thượng, khó thương chỉ vì bất nhân và sợ hãi. Họ sợ vì những  người làm thiện nguyện này sẽ mang những thôngđiệp dân chủ, nhân quyền về trong nước.

Mới đây thôi, hội từ thiện Măng Non (Association Avenir) thành lập tại Pháp hoạt động từ năm 1994 với mục đích giúp đỡ các sinh viên và học sinh nghèo trong nước có phương tiện đến trường, một cách đều đặn từ 18 năm qua cứ hai năm một lần hội tổ chức những chuyến du lịch Việt Nam để tặng quà cho các trường học, đã bị đối xử thô bạo. Có lẽ chỉ vì bà Chủ tịch hội từ thiện này lại là vợ ông Nguyễn Gia Kiểng nên hội đã bị sách nhiễu và bà Hồ Quỳ đã bị buộc rời Việt Nam ngay, nếu không công an sẽ “không bảo đảm an ninh” cho bà, như một lời hăm dọa của bọn  côn đồ đối với người đã đem công sức, tiền bạc và thiện chí về giúp đồng bào trong nước. Nhà phê bình Nguyễn Hưng quốc đã hai lần bị đuổi ra khỏi Việt Nam lúc mới đặt chân đến phi trường Tân Sơn Nhất trong khi ông về Việt Nam để tham dự một cuộc hội nghị quốc tế do hai trường đại học ở Úc và ở Việt Nam đồng tổ chức tại Hà Nội. Ông cũng như những người khác đã trả giá khá đắt khi muốn “đem ánh sáng vào nơi tăm tối”, “chở lòng người trở về quê hường, chở hồn người vào dòng suối mát, chở thật thà vào lòng dối trá … “, phải chăng vì Cộng Sản không bằng lòng với những bài viết của ông về thực trạng Việt Nam và sợ hết thảy những gì mà chúng nghi ngờ là “diễn tiến hòa bình.” Chúng cần “hồng” hơn cần “chuyên.”

Về cứu trợ Việt Nam thì phải có thái độ Ngoan ngoãn như bầy cừu, tiêu biểu là những khuôn mặt có tên trong bảng phong thần “Việt Kiều Yêu Nước” hí hửng, mỗi năm được tuyên dương tại hội trường Mỹ Đình, Hà Nội. Ra hải ngoại quyên tiền, xin ăn thì phải dẹp hết cờ vàng, không hát quốc ca mặc dầu chúng “hồ hởi” nhặt về những đồng đô la của những người tị nạn còn nghe mùi mồ hôi và cả mùi muối mặn chát trong những chuyến vượt biển.

Hiện tình ở trong nước hiện nay, Việt Cộng giàu có gấp bội Việt Kiều, vẫn còn vơ vét của cải cho gia đình bản thân, cứ nhìn vào gia cảnh của Bộ Chính trị Cộng Sản Việt Nam thì rõ. Trong khi đó các hội đoàn, tổ chức và cả cá nhân trong nước vẫn ào ạt ra nước ngoài để quyên góp từng đồng bạc lẻ, và chúng ta thì lại tự nguyện vắt sữa từ cái vú, tưởng chừng đã khốn đốn, nợ nần, khô cạn của nước Mỹ để làm việc từ thiện, nuôi dân thay cho bọn cầm quyền.

Rút cuộc, chỉ có “khúc ruột nghìn dặm” ở đây là “dại dài dài,” chỉ vì chút hư danh, được xướng tên, “hùn phước” hay bác ái mà ngây thơ dẹp bỏ bàn thờ, cũng như làm thiện nguyện trong nước, bị dối trá, lừa bịp, ăn chặn mà vẫn bị đuổi ra khỏi nước như  những kẻ tội đồ, mà vẫn chưa thấm nỗi nhục của bầy cừu giao du với lũ sài lang.

Ngày Xuân ở Biển Hồ-Pleiku

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 9 Jan 2020

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Kỳ 1

Năm 1968 Ðại đội 1 Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có hai người tên là Sanh đó là Hạ sĩ Lưu Sanh và Binh nhứt Ngô Sanh. Lưu Sanh, vốn người xứ Sịa, Thừa -Thiên, là xạ thủ đại liên xuất sắc số một của tiểu đoàn. Lưu Sanh có dáng dấp một tay anh chị, đô con, tháo vát, nhanh nhẹn, liến thoắng. Anh vác khẩu đại liên 30 trông nhẹ nhàng như người ta vác khẩu carbine M2. Lưu Sanh rất kỷ luật, nhưng cũng rất cứng đầu. Anh này còn có biệt danh là “Sanh Bi Ðông” vì lúc nào bên hông anh cũng kè kè một bi đông rượu đế.

Người tải đạn cho Hạ sĩ Lưu Sanh là Binh nhứt Ngô Sanh. Ngô Sanh quê quán Vĩnh-Ðiện, Quảng Nam. Ngô Sanh nhỏ con, mặt chuột, răng hô. Thêm vào đó, miệng anh có ba bốn cái răng bịt vàng sáng chóa. Khi cười, miệng anh như có lửa. Anh em trong đại đội gọi đùa anh là “Kim-Thành Công Tử” ý nói anh là công tử con chủ tiệm vàng Kim-Thành nổi tiếng khắp nước Việt-Nam. Ngô Sanh cũng đoạt danh hiệu “Người Nhẹ Cân Nhứt” của Tiểu đoàn 11 Biệt Ðộng Quân thời bấy giờ.

Lạ một điều, trọng lượng của “Kim-Thành Công Tử” cân chưa tới bốn chục ký lô, vậy mà “Công Tử” có thể mang theo trên mình đầy đủ, súng đạn cá nhân, đồ ngủ, mười ngày gạo, cùng với hai thùng đạn đại liên, lội rừng hết ngày này qua ngày khác, không than mỏi.

Mặc dù rất xấu trai, nhưng ai cũng thương mến Ngô Sanh. Nếu ai đã sống chung với anh ít lâu, sẽ cảm ra rằng, có lẽ trên đời này, không ai lại hiền lành, tốt bụng như anh.

Chàng “Công Tử” này hiền như cục đất. Trong doanh trại, ngoài hành quân, hai anh Sanh lúc nào cũng như bóng với hình, sát cánh bên nhau. Tôi và Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên đại đội phó sẽ mãi mãi không thể quên một kỷ niệm khôi hài giữa hai ông Sanh này. Một đêm, bên đống lửa, trong rừng Núi Voi, Liên-Khương, Ðà-Lạt, cạnh hố đại liên, Lưu Sanh nói với Ngô Sanh,

– Này Sanh ơi! Tau mắc cỡ vì trùng tên với mi. Mi đần độn quá mi ơi! Tau dạy hoài, mi chẳng khá. Ông già mi đẻ ra mi thiệt uổng công. Nếu ổng ỉa ra một cục cứt, cho chó nó “lủm” chắc còn có ích hơn!

Ngô Sanh ngây thơ nhìn Lưu Sanh,

– Anh nói chi lạ rứa? Nếu tui là cục cứt thì ai tải đạn cho anh? Lấy mô ra đạn cho anh bắn? Anh không cám ơn tui phụ giúp anh, anh còn chê bai này nọ. Ngày nào anh cũng la mắng, chửi bới tui. Tui chịu hết nổi rồi! 

Sau đó, Ngô Sanh quay mặt đi, đưa tay quệt nước mắt, nghẹn ngào,

– Thôi! Sáng mai tui trình với Thái Sơn cho tui ra trung đội. Tui không phụ tải đạn cho anh nữa! Anh kiếm người khác tải đạn cho anh đi…Hu! Hu! Hu!…

Ngô Sanh bật khóc. Tiếng thổn thức càng lúc càng lớn. Tiếng khóc não nuột rừng đêm.

Tôi thấy Lưu Sanh cuống quýt, vứt vội ca cà phê đang uống xuống đất,

– Ấy! Tau xin lỗi mi! Tau giỡn mi đó thôi! Vì hai đứa mình là anh em, tau mới dám giỡn. Nín đi! Ðừng khóc nữa! Mi ở lại tải đạn cho tau, giúp tau tiếp đạn lúc đánh nhau. Mi mà không tải đạn cho tau, tau cũng bỏ cây đại liên này cho đứa khác giữ. Chúng nó sẽ không bắn hay như hai đứa mình. Nếu gặp lúc Việt Cộng xung phong, đại liên không cản được Việt Cộng, Việt Cộng sẽ xông vào vị trí. Tụi nó sẽ bắt Thái Sơn, bắt tau, bắt mi!

Trung Úy Vương Mộng Long và Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân – 1968

Rồi vừa vuốt lưng Ngô Sanh, Lưu Sanh vừa nhẹ giọng dỗ dành,

– Tau xin lỗi mi! Thôi! Nín đi nhé! Cười lên đi! Cười lên … cho ánh …răng vàng…sáng chói…

Ngô Sanh đang thút thít cũng phải phì cười khi bạn nó xuống giọng pha trò.

Nó nhìn bạn, ánh mắt đầy tình mến thương, nó nhoẻn miệng cười (răng vàng sáng chói)

– Ừ! Thì thôi! Nhưng anh phải hứa, từ nay không gọi em là cục cứt nữa nhé!

– Tau hứa mà! Tau hứa từ nay sẽ không gọi mi là cục cứt nữa. Tau sẽ gọi mi là “Cưng của Liên” Chịu chưa?

Ngô Sanh gục gục đầu, tay nó cầm một khúc củi dài, cời cời những cục than hồng trong bếp, than hồng bắn ra những tia sáng “tí tách!”

Trong ánh lửa bập bùng, tôi nhìn thấy đôi mắt nó long lanh, đôi mắt nó đang cười long lanh…

“Cưng của Liên” là tên anh em trong đại đội đặt cho Ngô Sanh.

Trong khu gia binh đại đội, khi đi ngang nhà vợ chồng Ngô Sanh, người ta thường nghe vợ anh gọi anh,

– Cưng của Liên ơi! Cưng của Liên đâu rồi? Cưng của Liên xách dùm em thau nước…Cưng của Liên nhóm bếp dùm em chút coi…Cưng của Liên…

Người ta gọi căn gia binh của vợ chồng Ngô Sanh là “Lâu Ðài Tình Ái”

Chị Liên là cư dân Biển Hồ từ lâu. Chị là con gái của ông Thượng sĩ Thường Vụ Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân.

Chị Liên còn có tên là “Liên Mắt Biếc” vì đôi mắt của chị ta lúc nào cũng xanh và lóng lánh sắc như dao cau.

Mười lăm tuổi, chị đã lấy chồng và chị đã hai lần lãnh tiền tử tuất của chồng.

Người chồng đầu tiên của chị là lính ở Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân và tử trận từ thời Thiếu tá Sách làm tiểu đoàn trưởng. Vài tháng sau, chị tái giá.

Người chồng thứ nhì của chị là anh lính nấu cơm của Ðại úy Ðoàn Ngân Bài, Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân. Anh này cũng đền nợ nước trong trận Phù-Củ năm 1965.

Biến cố Phật Giáo Miền Trung năm 1966 đã đưa Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân ra Ðà-Nẵng. Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân từ Ðà-Nẵng chuyển vào Biển Hồ, và Ngô Sanh khù khờ đã tới Pleiku.

Như có duyên có nợ, nhân một ngày dưỡng quân, trong chợ Biển Hồ, “Kim-Thành Công Tử” và “Liên Mắt Biếc” gặp nhau. Người góa phụ trẻ, chưa tiêu hết tiền tử của người chồng thứ nhì, thấy anh tân binh này hiền như cục bột, bèn thương.

Ngày tôi tới Ðại đội 1/11 thì cặp vợ chồng này đã dọn về ở khu gia binh Biển Hồ từ lâu.

Trong thời gian làm đại đội trưởng Ðại đội 1/11, tôi hay ghé trại gia binh, thăm viếng thân nhân binh sĩ dưới quyền, vào những ngày lễ Tết, hay sau những chuyến hành quân có tổn thất.

Tôi cũng nhiều lần tham dự những đám cưới nhà binh. Những đám cưới mà cô dâu chỉ có một bộ bà ba mới, không dây chuyền, không bông tai, không nhẫn vàng. Chú rể gọn gàng trong bộ rằn ri, không nơ, không cà vạt.

Tiệc cưới là một mâm hoa quả, một mâm xôi gấc, xôi đậu xanh, một rổ bún tươi, một chậu rau sống, một mâm thịt heo xắt lát, một đầu heo, một chồng bánh tráng sống, một chồng bánh tráng nướng, một tô mắm nêm rắc mè, một can nhựa hai mươi lít rượu đế, và một tô ớt tươi đỏ ối…

Ờ Biển Hồ, có những đám cưới giản dị nhứt trần gian…

Thuở đó, tôi còn độc thân, vậy mà cũng dám hai lần, đứng ra làm chủ hôn cho hai đứa đàn em, là chú Hạ sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và chú Binh 1 Phạm Công Cường.

Có lẽ tôi cũng mát tay. Nhờ có tôi làm chủ hôn, mà hai gia đình này cứ “đầu năm sinh con giai, cuối năm sinh con gái” đều đều … chạy gạo bắt khờ luôn!

Năm tháng trôi qua, khẩu đại liên của hai ông Sanh luôn luôn là linh hồn của đại đội qua các cuộc hành quân.

Sau Tết Mậu-Thân ít lâu, khẩu đại liên 30 bị thu hồi. Hai ông Sanh được trang bị một khẩu M60 nhẹ nhàng hơn. “Con gà cồ” này lúc nào cũng đi bên tôi, để tôi có thể dễ dàng ban khẩu lệnh cho nó.

Trong lần đại đội tôi dừng quân ở Ðức-Trọng, khẩu đội đại liên này được mang cái tên “Thu Bình 1”, Thu Bình là tên cô cháu gái của ông chủ một xưởng cưa, nơi chúng tôi tá túc trong thời gian dài hành quân tăng phái cho Task Force South.

o O o

Cuối năm Mậu Thân, tháng 2 năm 1969, Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên thuyên chuyển về giữ chức Trưởng Ban 4 của liên đoàn, Thiếu úy Trần Dân Chủ được đề cử làm tân đại đội phó.

Sau chiến dịch Chư Pa, nhân dịp đơn vị ghé hậu cứ dưỡng quân, tôi xin Trung tá liên đoàn trưởng cho tôi năm ngày phép bằng Sự Vụ Lệnh để về Hội-An thăm mẹ.

Tôi mãn phép, trở về thì đại đội tôi đã hụt mất hai người vì Trung sĩ nhứt Tánh, Hạ sĩ quan thường vụ đại đội, đã bị Hạ sĩ Lưu Sanh bắn chết, sau một vụ cãi lộn. Lưu Sanh lãnh án, đi tù.

Không còn Lưu Sanh, Ngô Sanh trở nên u sầu ủ dột. Anh xin tôi cho anh về làm khinh binh dưới quyền Thiếu úy Vy Trung đội 1.

Trong trận Chư Pa, người mang đồ ngủ, lều võng cho tôi là Binh nhứt Trung đã bị thương nặng phải giải ngũ, tôi bèn giữ Ngô Sanh ở ban chỉ huy đại đội làm công việc của Binh nhứt Trung.

Từ khi về ban chỉ huy đại đội, nhận việc lều võng cho tôi, hình như Ngô Sanh không được vui. Nó thường luẩn quẩn, loanh quanh bên khẩu súng đại liên M60 của Hạ sĩ Trần Ðợi. Trần Ðợi là người thay thế Lưu Sanh, chỉ huy một trong hai khẩu súng chủ lực của đơn vị.

Khi rảnh rỗi, Ngô Sanh hay rã khẩu M60 ra thành nhiều mảnh, ngâm các bộ phận trong một thau dầu, rồi chùi khô, thoa nhớt, khẩu súng bóng loáng như vừa xuất kho.

Có một lần Ngô Sanh trình diện tôi; nó gãi đầu, gãi tai, lí nhí câu gì đó tôi nghe không rõ. Tôi bực mình nên to tiếng,

– Nói lí nhí trong miệng! Nghe không được thì ai biết mi muốn cái gì! Muốn chi thì gặp Thượng sĩ Thống thường vụ, nói với ông ấy, ông ấy giải quyết cho!

Thấy tôi có vẻ bực mình, Ngô Sanh bỗng cuống quýt, vừa run, vừa lắp bắp,

– Dạ! Không có chi! Không có chi Thái Sơn!

Sau đó, nó gãi đầu rồi lủi đi.

Mấy giờ sau Thượng sĩ Thống vừa cười, vừa nói với tôi,

-Thằng Sanh muốn xin Trung úy cho nó ra tải đạn cho thằng Ðợi. Nó sợ Trung úy la nên cứ ấp a ấp úng không dám nói. Nó nhờ tôi giúp nó, xin với Trung úy cho nó đi!

– Ừ! Hôm nào ông kiếm coi có đứa nào thay nó, rồi cho nó ra với thằng Ðợi.

Rồi ông Thống cười tủm tỉm,

– Trung úy có biết tại sao thằng Sanh mê khẩu súng đại liên không?

– Ai mà biết?

– Nó mê súng đại liên chỉ vì tên con vợ nó là “Ðại Liên” đó Trung úy ơi!

– ?????

Tiếp đó ông Thống giải thích,

– Bố vợ nó cùng thời với tôi. Ông ấy có ba đứa con gái đặt tên là Hoàng Thị Ðại Liên, Hoàng Thị Trung Liên và Hoàng Thị Tiểu Liên. Vợ nó là chị lớn trong nhà, tên Ðại Liên. Sau khi bố vợ nó bị thương và giải ngũ thì đưa gia đình về Qui Nhơn, đem theo hai con Trung Liên và Tiểu Liên. Nay chỉ còn mình con Ðại Liên ở Biển Hồ.

Nghe hết chuyện, tôi cũng bật cười,

– À ra thế!

o O o

Sáng Mồng Năm Tết năm Kỷ Dậu,1969, Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân làm lễ xuất quân.

Nghe đâu người vẽ phóng đồ hành quân của Phòng 3 Quân đoàn đã vẽ cho chúng tôi đi về hướng Tây Pleiku vì lịch chỉ hướng chính Tây là hướng Cát Thần.

Mục tiêu của Ðại đội 1/11 là một buôn Thượng tên là Plei Blo O’dung 3 bỏ hoang, cách Ðồi 37 Pháo Binh, Pleiku chừng bốn cây số.

Tôi đã dùng con lộ chính để làm trục tiến quân. Mười giờ sáng, chúng tôi tới mục tiêu, vô sự.

Tới trưa, cơm nước xong, có lệnh cho chúng tôi thu quân rút ra làng Plei Blang 3 để lên xe về hậu cứ.

Khi đi hành quân, tôi là một người rất cẩn trọng. Sợ bị địch phục kích, tôi cho đơn vị rút ra điểm tập trung bằng con đường khác.
Từ làng Plei Blo O’dung 3 tới làng Plei Blang 3 đường dài gần năm cây số. Vùng này là rừng cây thưa với những đường xe be đan nhau. Chúng tôi đi theo đội hình hàng dọc hai bên đường. Chỉ nửa giờ sau tôi đã nhìn thấy làng Plei Blang 3 bên kia một thung lũng đầy cỏ dại, chạy dọc theo Tỉnh lộ 509. Nơi đây chỉ còn cách làng Plei Blang 3 chừng hai cây số.

Bất thình lình“Choác! Choác!” súng nổ ran! Súng bắn từ hướng trước mặt, từ bụi cây ở giữa lòng đường!  Nơi này con đường chẻ làm hai, ở giữa đường có một cụm rừng như hòn đảo nhỏ. Vì địch nằm ở giữa, nên quân đi bên phải sợ bắn nhầm quân đi bên trái, quân đi bên trái lại sợ bắn nhầm quân đi bên phải, chúng tôi lâm vào thế vô cùng lúng túng!

Ðã có vài người đi trước mặt tôi bị trúng đạn rồi. Trong số này hình như Trung sĩ 1 Nguyễn Khôi, trung đội phó Trung đội 2 bị địch bắn vỡ đầu. Tôi cùng hai cố vấn Hoa Kỳ đi với hai anh lính truyền tin và một anh lính hộ tống bị kẹt giữa hai lằn đạn phải vội vàng nằm sát mặt lộ tránh đạn.

Tôi la to:

“Một nằm xuống! Hai bắn về bên phải! Xung phong bên phải!”

Lập tức mọi người hô theo:

“Một nằm xuống! Hai xung phong bên phải!”

Cũng may vì đã có nhiều lần quen tập luyện “Phản ứng cấp thời” nên vừa nghe tiếng la của tôi, các trung đội đã phản ứng rất nhanh và ăn khớp.

Ông Chuẩn úy Ðàm Quang Hạ Long, Khóa 27 Thủ Ðức, trung đội trưởng Trung đội 2, là một tân sĩ quan của đơn vị này nhưng cũng tỏ ra là một tay “Can trường khí phách”

Chuẩn úy Hạ Long một tay ôm khẩu M 16, tay kia giơ cao khoát lia lịa, miệng la oang oang:

“Xung phong! Xung phong bên này!’’

Sáu tên Việt-Cộng nằm trong bụi thì bốn tên bị giết, còn lại hai tên đã nhanh chân thoát chạy về bên kia đường rồi biến mất trong bụi rậm. Bên kia bãi đất trống là rừng cỏ tranh cây thấp. Bãi đất trống này là một nương rẫy cũ, nằm song song với con đường xe be. Cái nương này có chiều dài cỡ hai trăm mét, chiều ngang chừng một trăm mét.

Tôi lồm cồm ngồi dậy, anh Trung úy Mỹ cũng lồm cồm ngồi dậy. Anh ta là một Trung úy Pháo Binh Hoa-Kỳ, có nhiệm vụ làm tiền sát viên yểm trợ hỏa lực cho đại đội tôi. Tôi được thông báo rằng, đơn vị Pháo Binh Hoa-Kỳ yểm trợ hỏa lực cho tôi hôm đó là một pháo đội 105 ly dã chiến, nhưng tôi không rõ súng đặt ở đâu. Anh sĩ quan Mỹ đánh rơi cặp kính cận, hai tay anh ta đang quờ quạng trên mặt đường để tìm cặp kính. Trung đội 1 nằm bên phải con đường lúc này vừa chuyển thành đội ngũ hàng ngang. Họ cố bắn với theo hướng hai thằng địch vừa thoát chạy. Bất ngờ từ bên kia trảng trống, những tràng súng liên thanh tới tấp bắn sang. Chúng tôi lại vội nằm sát mặt lộ để tránh.

Vì xe be chạy qua chạy lại nhiều năm, nên mặt con lộ bị lún xuống thấp hơn lề đường chừng ba tấc, do đó mà bìa đường trở thành bờ đất ngăn đạn, giúp đơn vị tôi không bị thiệt hại. Thấy hỏa lực địch quá dữ dội, tôi không dám cho quân xung phong. Vì xung phong qua vạt ruộng trống trải này dưới những làn đạn đại liên thì chẳng khác gì tự sát. Kỳ lạ một điều là, hỏa lực súng cộng đồng của Việt-Cộng rất hùng hậu, nhưng hình như địch không có ý nghênh chiến. Chúng chỉ bắn thị uy chừng mười phút rồi im. Lợi dụng thời gian tiếng súng vừa ngừng, tôi chuyển toàn quân về bố trí nơi hướng Ðông trảng trống.

Ở vị trí này, nếu thấy địch mạnh quá, không đương cự nổi, tôi còn đường chạy thẳng ra làng Plei Blang 3.

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 24 Mar 2026

Chương 8

Giang hai tay, áo saut trông rộng thùng thình che hết nửa người khép tay lại, Minh nhảy nhảy, chai rượu trong túi chuyển động lục cục… Cái áo rộng thế này hèn gì hồi xưa lính Tây không bắt gà cũng uổng. Minh nhét cây súng vào thắt lưng, đi xuống bếp lấy hai mươi chiếc nem lá bỏ vào túi dưới của chiếc áo còn rộng chỗ. Kiếm cái gì nữa bây giờ. Minh cắt một khoanh giò thật lớn gói vào túi nylon, mình như một ụ thức ăn di động. Ra khỏi nhà Minh hướng về phía khách sạn, lạnh, hai tay đút vào túi áo, lạnh không kém gì Đà Lạt. Tết này như vậy là mình đi lính được sáu năm. Minh nhớ đến Tết đầu tiên ở trường, doanh trại vắng hoe, các khoá đàn anh đi phép, nắng đầu xuân vàng rực gây gây lạnh. Minh vừa được gắn alfa, đầu húi cao trắng xoá, mặt loang lổ từng mảnh da bị tróc vì rám nắng… Những người cùng phòng đi vắng, Minh trùm chăn ngủ bù sau hai tháng tân khoá sinh, chiếc máy do sinh viên khoá đàn anh cho mượn chạy hoài bản nhạc độc nhất… “Greenfield… You never know what make you run away… How can I keep searching when the cloud hide the day…” bài hát của một người bị tình phụ, thê thiết khắc khoải vang vang trong căn phòng lạnh vắng. Minh chưa có một mối tình nào, Minh chỉ có một cuộc đời mới khởi đầu, nhưng Minh linh cảm được có một điều gì bất toàn, ngón tay dò kẽ nứt đầu tiên bắt đầu có dạng trên mặt da trắng bóng trơn láng. Dĩa hát chạy hết được đặt lại…” home… to the greenfield that we are once again…” Home, nhà, chốn hạnh phúc của những người yêu dấu, nhà, chốn Minh vừa xa rời chắc lâu lắm mới có ngày trở lại… Khóc, giọt nước mắt vô tình nào đã làm ướt mắt gã trai mười tám tuổi, Minh đứng dậy nhìn qua cửa kính, khu sân cỏ trước doanh trại lác đác vài người, trời đột nhiên âm u, phía rừng ùn ùn sương phủ, Minh khóc cho một duyên cớ vô hình… 
Thối thật, Minh đá một cái vào khoảng không gian trống. Tiên sư, tự nhiên lại khóc… Minh nhìn quanh xem thử có người nào trông thấy, ừ lúc đó mình con nít thật, Minh rút ra một cái nem, lột lá, bỏ tọt vào mồm, kéo chai rượu Johny Walker. Nhãn đó là sang rồi đòi gì nữa… Minh đứng dưới cột đèn, rót rượu ra nắp nhôm… Ực, không đá uống cũng được, trời lạnh rượu thêm ngon. Minh rót thêm một lần nữa… Có bóng người đi qua mặt, khẽ liếc Minh. 
“Uống không?” 
Người kia lắc đầu, bước chân tránh đi xa xa… 
“Không thì thôi, sĩ quan Nhảy dù mới nhận chức… à”. Minh bỏ chai rượu trong túi, bước đi thật vui vẻ và nhanh nhẹn, Minh chợt nghe một thoáng u buồn phiền muộn nào nằm sẵn trong tim. 
Cửa phòng Lạc hé mở sau tiếng gõ cửa đầu tiên. Minh cho chai rượu vào trước lắc mấy cái. Có tiếng hét lớn: “Vô đây! Vô đây! Tôi chưa đợi ai bằng đợi ông tối nay”. Lạc chạy ào ra cửa, cuống quít kéo Minh vào. 
“Thủng thẳng bể bố chai rượu ra bây giờ…” 
“Tiên sư, ngồi đợi ông muốn dài cả cổ, tôi mua mấy chai bia uống tạm, đêm giao thừa lạnh như cắt, ngồi uống bia một mình chi bằng uống thuốc độc chết sướng hơn”. 
“Thôi đừng than van nữa ông già, chị với hai con đâu?” 
“Phòng bên cạnh, tội nghiệp Tết nhất lại phải mò đi xa kiếm chồng, chồng lại cỡ tôi nữa thật là xứng đáng tuyên dương công trạng, mươi tám năm lấy chồng chỉ được thấy mặt chồng năm cái Tết, tiên sư đúng là bà ấy trúng số độc đắc hạng bét… Thôi mở rượu, ấy, sao ai uống trước rồi, ông thổi ở đâu?” 
“Đừng nói bậy, tôi xin ông già tôi đấy, đi dọc đường tôi nhậu trước hai nắp”. 

“À, vậy thì được, lần sau bảo ông già cho chai tốt hơn cỡ Courvoisier Martell…” 
“Ừ, cái này phải nói qua bà già vì ông già về ở với Chúa rồi…” 
“C… ông lúc này lại nhiễm tính ông Thuấn rồi…” 
“Tính tốt thì phải học, học thầy không tày học bạn, ông Thuấn là bạn tốt, không học cũng phí. Bà chị tôi mới thấy Thuấn xạo mê ngay…” 
“Chết, chị ông điên rồi, chị gì mới được chứ”. 
“Chị họ, muốn gì cứ nói, chết quái gì mà rào đón…” 
“Vậy khỏi giữ, sợ chị ruột ông thì không được… Từ trước đến nay tôi vẫn nghĩ bà nào điên mới mê ông Thuấn, nhớ vụ ở Dakto có con đĩ nhất định theo nó về Sài Gòn, vui thật, nghe ông Thuấn ba hoa một hồi thế là con bé nghệt mặt ra… Tiên sư, mình nghe nó láo đến sốt cả ruột, thế mà vẫn có kẻ tin đến ngẩn người”. 
“Ừ, cũng như mấy thằng nhà báo, toàn là những tay nói dóc thượng thặng thế mà khi nghe ông Thuấn nói chuyện tượng đồng ngồi ở nghĩa trang hoá thành ma đón xe xin quá giang, xin thuốc lá, một tụi ngồi đực mặt ra ghi chép phỏng vấn. ĐM… Tôi ngồi bên cạnh cười đến vãi đái… Ông thấy cảnh ông Thuấn diễn tả cảnh thằng tượng đồng đối thoại với ông ấy chắc ông cười đến chết, thế mà không hiểu sao mấy cha nhà báo tin được, cứ một điều Đại uý ghi rõ cảnh bức tượng đón xe… Đại uý cho biết cảm giác khi nghe bức tượng nói… Hà… hà… Ông có nghĩ cảnh ông Thuấn phịa không? Ông ta nói như thế này: Bức tượng đó tạc theo mẫu của hạ sĩ Côn đại đội tôi, nên khi nghe tiếng nói Quảng Trị của nó tôi lạnh người, tôi hỏi “Có phải em là Côn không?”. “Dạ thưa Đại uý, em là Côn đây, thấy Đại uý lái xe qua nên em đón xe thăm Đại uý…”. 
“ĐM… Láo thế là nhất rồi. Thuấn ơi là Thuấn ơi, vong linh ông ở đâu về uống với tôi chén rượu…” Lạc hớp ly rượu cười rung cả người… “Ấy thế mà ông Thuấn lại nói với tôi khác…” 
“Khác làm sao?” 
“Khác là thằng tượng đồng ngồi trên bệ đá tay ngoắt ngoắt. ĐM… cả sếp mình là Đại tá Lữ đoàn trưởng cũng tin luôn”.
“Rồi bây giờ đi qua chỗ bức tượng ông ấy có chào không?” 
“Có, thì hôm đó ông Thuấn lái xe, sếp ngồi một bên, tôi ngồi sau, gần đến chỗ bức tượng là ông bắt đầu gỡ mũ, tháo kính, lái chậm và chào thật nghiêm… Bây giờ mới biết Thuấn xạo…” 
“Cái trò chào bức tượng cả Sư đoàn này đều bị lây ông Thuấn hết đấy”. 
“Thuấn xạo thực, nhất ông ấy rồi…” “Uống tiếp, chuyện Thuấn xạo biết đến bao giờ cho hết, uổng thật tối hôm nay nếu có ông Thuấn sẽ vui biết mấy, cũng như hôm ở Bồng Sơn ông Trung tá Khoa, chiến đoàn 3 sắp sửa lên trực thăng cũng phải nán lại để nghe ông Thuấn luận về gà Bình Định và vợ Quảng Ngãi. Tôi không hiểu thằng cha ấy nhặt những chuyện khỉ gió kia ở đâu, chuyện gì hắn cũng luận đều đều dài dài… Thiên hạ lần đầu tiên nghe Thuấn nói cứ tưởng thằng cha thông kim bác cổ…” 
“Thì cũng phải có tài chứ, tài dựng chuyện và tưởng tượng rồi ráp những sự kiện rời rạc nhưng có thực xung quanh một cái trục bịa đặt, thế là thiên hạ tin như chết. Không kể người lạ, ngay cả ông với tôi khi nghe ông Thuấn nếu không được báo trước cũng vẫn tin, như hôm ông ấy ngồi phịa chuyện tướng ông Diệm và bà Nhu, cả bộ chỉ huy Tiên tri nghệt mặt ra nghe xong cứ chặc lưỡi khen ông Thuấn giỏi cho đến khi nó bị ông Ba phó vặn lại, cả làng mới biết bị xạo…” 
“Chuyện thế nào?” Minh nhai một miếng nem, chất thịt vừa chín được ngấm thêm men rượu nồng tan trong cổ, nhắm mắt lại, một chút nước mắt ướt rèm mi… Rượu uống sao ngon nhưng mạnh quá, lúc đi ngoài trời lạnh uống thấy ngon hơn ở trong phòng. 
“Uống đi, để tôi kể chuyện ông Thuấn luận ông Diệm. Ông ấy bảo: ông Diệm là tướng đại quý vì ông ấy thuộc loại ngũ đoản bát đại, cho nên mới bị cái chết bất đắc kỳ tử, nửa đường đi toong… Ôi chao, ông ta dẫn chứng cả cổ kim để làm bằng cớ, nào là ông Chu Văn An là tướng hầu, ông Án anh Án em gì đó ở bên Tàu… rồi ông ta luận luôn chuyện ông Nguyễn Khánh… ĐM… nói sướng cái miệng nhưng ông ta kể vung vít quá mới bị ông phó kê, hắn ta cứng họng nên mới thú nhận đang nói xạo…” 
“Vậy là mấy ông thua rồi, tôi chỉ bị một lần là biết ngay…” Minh hớp thêm ngụm rượu. “Sao đắng quá, tôi phải đi kiếm cục nước đá”. 
“Để tôi”. 
“Đâu được, tôi sẵn áo quần tiện hơn ông. Minh đứng dậy bước ra khỏi phòng. Đợi tôi năm phút thôi…” 
Lạc gật đầu, nhìn thẳng vào chai rượu màu vàng lóng lánh ánh đèn, Lạc cười nhẹ, đưa tay lên sờ cằm, những chiếc râu ngắn nhám nhám ở tay, Lạc liếc về phía cửa phòng vợ, có tiếng thở dài rất nhẹ, Lạc lắc đầu. 
Thuấn dặn tên lính thân tín: 
“Tao đi chơi loanh quanh đây, có gì mày chạy đi gọi”. 
“Dạ”. Binh nhất Thiên nhỏ nhẹ trả lời. Ra khỏi chỗ đóng quân, bước lên mặt đường, đường số 1 đêm ba mươi Tết vắng lặng như một thỏi đá màu đen đắm chìm trong sóng trắng đục. 
“9 giờ, còn ba tiếng nữa giao thừa”, Thuấn cho tay vào trong túi áo, bước theo bề ngang của con đường… 
Một hai ba, hai mươi bốn bước, xương sống mẹ Việt Nam rộng hai mươi bốn bước, đi ra phía này là tới Hà Nội, đi vô phía này tới Sài Gòn. Thuấn xoay mặt về hướng Nam, xung quanh sương trắng lớp lớp. Những ánh đèn le lói hai bên đường trông ốm yếu như sắp tắt. Mình đâu có nghĩ cảnh giao thừa đứng trên quốc lộ như thế này… Buồn thật… Làm cái gì bây giờ… Điên à? Ông nói với ai hở ông? Thuấn ép tay vào người cúi đầu đi về phía Nam. 
“Ai đó? Đứng lại”. 
“Lính Nhảy dù đi du xuân”. 
“Đi mô tối rứa?” “Giao thừa đi chơi”. Trong bóng tối xám đặc lập lòe ánh lửa, Thuấn biết mình đã gần tới cầu, sương dày quá không thấy được thành cầu, dòng sông ở dưới xa chìm hẳn trong khói sương lạnh giá. Thuấn bước tới, đốt điếu thuốc. 
“Có dây kẽm gai không?” 
“Có, ép về phía trái… Coi chừng, thôi để tui mở cho mà đi”. 
Thuấn đứng lại, lạnh quá, gió dưới sông thổi lên mang theo hơi nước ẩm ướt, sợi dây kẽm chắn ngang lối đi, ánh đèn bấm di dần về phía Thuấn. “A, Đại uý đi mô mà khuya khoắt ri? Mới chín giờ đã đi du xuân…” Thuấn tự nhiên thấy lòng vui vẻ. Người lính gặp hồi sáng không giấu vẻ mừng rỡ trong khi luống cuống mở dây kẽm gai. 
“Đại uý thiệt là lạ, trời lạnh như cắt mà lại đi chơi, mà chơi chi ở đây… Tôi đứng chờ giờ đổi gác để chui vào mền làm một giấc đã… Bây giờ Đại uý định đi đâu?” 
“Chẳng biết… Đi mỗi vòng rồi về, lạnh quá hả?” Thuấn chìa cho người lính điếu thuốc. “Trời lạnh hút thuốc ngon thiệt”, người lính xuýt xoa. Thuấn nhớ điếu thuốc đầu đời, một góc rừng Đà Lạt lạnh buốt, trời tối đen Thuấn với tên bạn cùng phiên gác chia nhau điếu thuốc có mùi bạc hà. Khu rừng đen thẫm trống trải, điếu thuốc lòe lên thấy rõ đường chỉ tay hồng. 
“Thuốc này là thuốc gì?” 
“Oakland menthe, một bao hai chục đồng”. 
“Mày hút một ngày mấy gói?” 
“Hai, tao người Đà Lạt mà mày, ở đây không có thuốc chịu không nổi, tao hút Bastos nhưng mấy hôm nay ho nên xài tạm thứ này”. 
“Bastos là thuốc lá đen”. 
“Ừ”, tên bạn trầm giọng nghiêm trọng. 
Thuấn cảm thấy thua sút, hít một hơi thật mạnh, khói bay đầy mồm muốn sặc… 
“Thuốc này nhẹ quá”, Thuấn phê bình ra vẻ thành thạo. 
“Nhẹ đối với tao, nhưng mày mới tập hút nên hút nó”. 
Thuấn muốn cãi lại, thấy khó khăn, trong bóng đêm Thuấn có cảm giác như thằng bạn đang đưa mắt nhìn bàn tay vụng về của mình cầm điếu thuốc. Ngày hôm sau Thuấn bắt đầu hút thuốc, thuốc Mélia vàng… Vậy là bảy năm rồi, mau thật, mình chỉ có nước giỏi bắt chước. Thuấn tì tay vào thành cầu, thanh sắt đẫm sương lạnh cóng. Mặt sông dưới xa lóng lánh theo ánh đèn dưới chân cầu toả ra một ánh sáng vàng rực xôn xao, người lính đi đến gần Thuấn, gót giày nhà binh gõ từng tiếng động lạnh buốt trên sàn cầu. Chiếc bóng lầm lì nín lặng. 
“Ông gác đến mấy giờ?” 
“Dạ mười một giờ”. 
“Có buồn không?” 
Người lính không trả lời, cười tiếng nhỏ, đốm lửa từ điếu thuốc và đèn ở thành cầu chiếu rõ một chiếc cằm lởm chởm râu… 
“Hết gác về cạo râu ăn Tết nghe ông…” 
“Dạ, mà tui không có dao cạo, già rồi làm đẹp chi nữa Đại uý?” Già, Thuấn chợt hỏi, mình đã già chưa nhỉ? Thuấn miết cái cằm lên mu bàn tay, những sợi râu cứng, ngắn, chuyển động gây nên một cảm giác thú vị… “Ấy, nhột em!” Quỳnh Như ưỡn người lên vùng vẫy dưới nụ hôn trên phần ngực. Thuấn luồn tay dưới nách Quỳnh Như kéo hai vai nàng xuống, chiếc cằm miết nhẹ từ cổ theo luống thủng giữa đôi vú… Tiếng thở ngắt khoảng mê đắm, có giọng cười nhỏ dưới nụ hôn. Thuấn đứng thẳng người, nhìn mãi xuống dòng sông bốc khói tưởng như thấy rõ được chiếc bóng mình nở rộng theo cùng mênh mang của lớp sương mù. “Quỳnh Như”, Thuấn gọi một tiếng nhỏ, đột nhiên nỗi nhớ thương như quả đạn bùng nổ trong cơ thể… Tại sao mình rung động? Tại sao mình đứng ngồi phiền muộn, sao hơi thuốc hít vào miệng nặng nề hiu hắt, trong giá rét trống vắng của một đêm trừ tịch trên quốc lộ tối đen, Thuấn thấy nỗi thê lương có hình khối nặng nề hơn bóng đêm, lạnh lẽo hơn gió chạy xôn xao trên mặt sông, luồn qua khối sương mù xoay chuyển ánh đèn vàng giá lạnh. 
“Anh có xe gì không?” 
“Dạ, tui có cái xe gắn máy”. 
“Lát nữa hết gác anh về đâu?” 
“Nhà tui ở dưới trường học, tui về đó…” 
“Anh cho tôi mượn cái xe, mười một giờ trả lại, nếu không kịp thì tôi mang đến nhà trả cho anh”. 
“Đại uý định đi mô?” 
“Đi dọc dọc theo đây… Tự nhiên tôi muốn chạy một vòng”. 
“Dạ, Đại uý lấy, nếu chút nữa không có tui Đại uý đem xuống chỗ trường học, nhà tui bên trái”. 
“Xong, cám ơn anh trước, lát nữa tôi đem trả xông đất nhà anh luôn, số tôi hên ghê lắm, anh sẽ lên hạ sĩ nhất trong năm nay”. 
Người lính cười không nói đứng nhìn Thuấn đang nổ máy xe. 
Thuấn rú hết gaz, chiếc xe lồng lên, xốc mạnh trên đoạn đường lồi lõm, ánh sáng không đủ rọi xa. Thuấn ghì chặt tay lái, không bớt tốc độ… Gió thổi lạnh hai bên tai, răng nghiến chặt… Thuấn thấy thấp thoáng dưới ánh đèn khối không khí mù mờ chuyển động, xoắn lượn… Trước mặt Thuấn rừng cây thông chập chờn, con đường đỏ ướt sương, những ngọn đồi cỏ chuyển động ào ạt. Chỉ mới năm năm qua. Đêm một giờ sáng từ tỉnh B Thuấn theo xe đò lên Sài Gòn, chiếc xe bật đèn chạy qua Dĩ An, Thủ Đức, Bình Lợi, Bình Hoà… Cô bác cho tiền, cô bác cho tiền… Thuấn xuống xe ở Đakao đi bộ về Tân Định, đồng hồ chỉ hai giờ mười lăm, thành phố Sài Gòn ngủ kỹ, lũ chó hoang chạy vật vờ trên những đống rác, thành phố mệt mỏi như giấc ngủ trưa của con điếm miệt mài. Nhưng Thuấn thì không vậy, Thuấn nhảy chân chim trên lề đường loang nước, Thuấn chạy hân hoan trên Sài Gòn tàn tạ úa bẩn, Thuấn chạy vào đường Trần Quang Khải, rẽ tay mặt, chạy nhanh hơn nữa… Đây rồi, căn nhà Bích Trân kín cửa im lặng. Thuấn nhìn lên, một, hai, ba… Cửa sổ thứ hai là phòng khách, sau phòng khách là phòng ngủ của Bích Trân, có thể nàng ngủ ở phòng khách, trên canapé hay dưới sàn nhà, cuốn truyện úp trên mặt… Bích Trân khi lặng lẽ đau đớn như tuổi già, Bích Trân khi nói em, kể chuyện, khi coi sách, ngây thơ mãi mãi như trẻ con… Thuấn đứng trong bóng tối nhìn lên khung cửa im lặng, nghe đâu từ căn phòng tiếng thở nhẹ nhàng của người thiếu nữ mê thiếp, Bích Trân chuyển mạnh cánh tay ép sát vào ngực, thế nằm co quắp tội nghiệp, thế nằm sửa soạn chống đỡ cơn phong ba. Một giờ, hai giờ, Sài Gòn tỉnh giấc, động cơ xích lô máy vang động từng nhịp rồi tản dần trong không khí ấm mát của đêm còn vướng vất, ngọn đèn vọng úa nhợt nhạt, bầu trời chuyển thành màu xanh thẫm. Cánh cửa cuối cùng chợt mở, người u già bước ra… 
“Kìa cậu Thuấn, làm gì sớm thế?” 
“U kêu cô Trân hộ tôi…” 
“Cậu lên từ bao giờ?” 
Thuấn mỉm cười không nói vò vò bao thuốc trong tay… Bích Trân chạy xuống, bước chân cuống quít nhảy vội, làn tóc rối, đôi mắt hốt hoảng… 
“Có gì vậy Thuấn? Có gì xảy đến cho anh?” 
“Không, anh nhớ em…” 
“Anh đến lúc nào?” 
“Lâu lắm. Cho anh hôn em, trời chưa sáng, không ai thấy”. 
“Coi chừng u già”. 
“U già đã vào nhà… Ôm anh…” 
Cửa đóng, mái hiên rộng bóng tối đầy khoảng sâu. Thuấn khép chặt hai tay, đầu người thiếu nữ ép vào vai… “Anh đến từ lúc hai giờ, ngồi ở ngưỡng cửa này…” 
“Anh kỳ quá!” 
“Không, chỉ vì yêu em…” 
Bao nhiêu lần như thế, bao nhiêu đêm trong cơn say, Thuấn sờ vào lớp tường đá lạnh tưởng như vuốt ve một bóng hình thân yêu. Năm năm, gã trẻ tuổi nồng nàn ngày xưa đã mất. Tối nay, Thuấn đang sống lại, chiếc xe chạy như một nỗi hân hoan tìm kiếm được hạnh phúc sau thời gian chết cứng. Quỳnh Như, giọng Huế thánh thót trong vắt, tiếng cá đớp mồi dưới bờ sen, cánh sen tàn trên mặt hồ đặc bèo, chiếc giường nệm nồng mùi thiếu nữ, Thuấn duỗi thẳng hai chân, hai ngón chân cái đan chặt vào trong cơn bão ngầm cảm giác thổi lướt qua. Quỳnh Như, giờ tỉnh giấc sau cơn mê phiền muộn. Anh đến cùng em… Thuấn qua một khúc quẹo, đèn lướt một đường vàng trên luỹ tre vệ đường. Sắp đến cầu An Hoà, Thuấn nghĩ, tăng thêm một chút tốc độ để đi được lượng khoảng cách tối đa… Có bóng người chạy thấp thoáng trước mặt… Thuấn thắng thật mạnh, chiếc xe chao bên trái lạng thêm một đường bên phải, bánh xe xiết trên đường ngã nghiêng. Thuấn nhảy vào vệ đường, kéo khẩu súng nhanh ra khỏi thắt lưng, lăn xuống đất nằm lên đống lá tre, họng súng hướng về phía hai bóng người đang đứng trong vùng ánh sáng. 
“Ai? Đứng lại, nhúc nhích tôi bắn”. Thuấn hét thật lớn, át hẳn tiếng gió và động cơ chiếc xe đang giòn giã nổ… 
“Dạ, tui tui…” 
“Tiến tới, đưa tay lên khỏi đầu”. 
Hai bóng người tiến tới lần lần, Thuấn kéo cơ bẩm khẩu súng, tiếng động lạnh vang như tiếng nổ, hai người giật nẩy, co rút lại… 
“Hai anh ở đâu?” 
“Dạ tụi em gác cầu, Việt Cộng về, tụi em chạy thoát”. 
“Việt Cộng?” 
“Dạ tụi nó lấy cầu và đóng đầy trong làng Dốc Sơ, chắc ở Huế cũng có tụi nó… Em còn nghe súng nổ thiệt loạn ở chỗ cửa Chánh Tây…” 
“Chắc không?” 
“Dạ có, tụi đánh vô cầu nói toàn tiếng Quảng Bình”. 
Thuấn nhảy vội lên chiếc xe, gài khẩu súng vào thắt lưng. 
“Hai anh chạy về cây số mười bảy đi, ở đó có nhiều lính mình”. 
“Dạ, tụi em cũng tính thế”. 
Thuấn quay xe về hướng An Lỗ, nhìn lại thành phố Huế, hình như có tiếng nổ khô của lựu đạn chen lẫn trong tiếng pháo… Quỳnh Như, Thuấn rú hết gaz, chiếc xe lao vút đi… 


* 

Minh đạp cửa ào vào như cơn lốc… 
“Gì vậy?” Lạc nhổm dậy, tay còn cầm hộp bia. 
“Xong rồi, Việt Cộng đứng đầy đường. Phải kêu bà chị với mấy ông nhỏ dậy…” 
“Chạy đi đâu?” 
“Vào trong tiền trạm của mình”. 
“Ông biết đường?” 
“Kêu bà chị dậy đi, nhớ mang theo thức ăn”. Minh nói như ra lệnh, rút khẩu súng colt, lên đạn đặt khoá an toàn dắt vào thắt lưng ở vị thế dễ kéo ra nhất. Minh mở cửa bước ra hành lang, cong người trên lan can nhìn xuống đường, bên kia vườn hoa Nguyễn Hoàng leo lét ánh đèn thấp thoáng đầy những bóng người sau các gốc cây, phố chính người đi vội, hình như họ đang dồn thành từng nhóm. Minh liếc về phía phải, từng tổ tam tam di chuyển yểm trợ nhau dọc theo bờ tường. Minh chạy vào, vợ chồng Lạc và hai đứa con đã sẵn sàng, vợ Lạc tay xách chiếc valy nhỏ… 
“Chị bỏ valy lại, mặc thêm áo vào mang chút thức ăn thôi, dưới đường đi không được nữa…” 
“Tụi nó?” Lạc hỏi nhỏ. Minh gật đầu, tầng dưới vang tiếng nổ, đạn AK từng nhịp ba viên gọn gàng, tiếng nổ vang dội dọc theo hành lang, có tiếng người van lạy và bước chạy lên cầu thang. 
“Chết, làm gì bây giờ mình?” Vợ Lạc bấu chặt tay chồng. 
Lạc rút khẩu súng ra khỏi lưng, mũi súng hướng về cửa phòng, đưa mắt nhìn Minh dò hỏi, Minh lắc đầu bước đến khoá cửa phòng… 
“Ông kéo cái bàn đến đây cho tôi, chận cứng lại, nhớ khoá chặt hơn”. Lạc làm như cái máy, sự sáng suốt bình thản thường ngày mất hẳn, người vợ cùng hai đứa con như sợi dây trói chặt tay chân cùng phản ứng. Lạc nghe lời Minh không chút phản ứng ngần ngại. 
“Ông đứng sát tường, giúp tôi trèo lên cái lỗ này”. 
Lạc đứng dạng chân, hai bàn tay bám vào thành cửa sổ. Minh trèo lên hai vai, lần tay theo thành tường. 
“Ông nâng tôi lên chút nữa”. 
Lạc nhón chân lên, Minh bám được khung cửa trần nhà trổ lên mái, rán đu ngược người lên. 
“Bây giờ ông đưa hai cháu lên”. Hai thằng nhỏ được kéo lên trước, xong đến vợ Lạc, khi tất cả ở trong buồng tối, Lạc lấy lại bình tĩnh. 
“Bây giờ mình phá mái nhà?” 
“Phá nhẹ tay, đừng để ngói rơi xuống, để tôi lên trước định hướng, ông coi chừng cửa phòng mình, đừng để nó biết mình núp trên này”. Lạc gật đầu tỏ vẻ hiểu, khi Minh bắt đầu gỡ từng tấm ngói Lạc thở nhẹ liếc mắt nhìn xuống lỗ hổng, căn phòng vắng, ngọn đèn mờ, chai rượu lăn lóc trên sàn nhà, ngoài hành lang có tiếng chân người chạy, những giọng hét ra lệnh chêm vào những âm thanh của cổ họng bị chặn lại. Tiếng nổ từng phát một gọn ghẽ, khô khan, khi viên đạn đi từ nòng súng xuyên qua mục tiêu, mục tiêu bằng xương bằng thịt ép sát vòng kim loại lạnh băng. Cửa phòng bị tống mạnh, chiếc ghế lung lay, chìa khoá rơi xuống. “Mở cửa, mở cửa”, giọng miền Trung nặng tai, Quảng Bình hay Đồng Hới, tấm cửa bị rung dưới sức ép, một loạt đạn nổ giòn, ống khoá bị bắn tung từng mảnh nhỏ. Lạc nhắm vào bóng đèn, đoàng, bóng tối dày đặc, vừa lúc cửa phòng bị xô tung, chiếc bàn lật ngược đổ sầm trên nền nhà. Loạt đạn từ ngưỡng cửa sáng từng chập, Lạc bắn vào ngưỡng cửa hai viên. “Lùi, lùi, tui bị rồi đồng chí…” Căn phòng tối thâm. Lạc ngửng đầu lên, một luồng gió lạnh băng theo lỗ hổng thổi vào nhà, bầu trời lóng lánh sao. Trèo lên, Minh thò đầu vào lỗ hổng. Minh bò trước, hai đứa bé, Lạc bò sau cùng, thành phố Huế rộn rã tiếng pháo nổ, nhưng tai Lạc nghe rõ tiếng súng, không có viên nào rít trong không khí, viên đạn đã nằm trong một mục tiêu xương thịt nào đó. Trái với sự dự đoán, Lạc bình tĩnh trở lại, cảm giác như sắp sửa xua quân vào khi nghe mục tiêu đã bị phi pháo cày nát. Minh khôn ngoan thận trọng như đang dự trò chơi trốn bắt trong tuổi nhỏ. Chàng nhấn bàn tay trên mỗi khoảng gạch ngói trước khi trườn tới, dãy trường thành trước mặt đen thẫm bề thế gần tới từng tấc một. 
“Bây giờ mình phải tìm cách vượt cái hào này”. 
“Lội qua?” Lạc hỏi với giọng e dè. 
“Chuyện đó thì dễ cho ông với tôi, chỉ lo bà chị với hai thằng nhỏ”. 
“Ừ nhỉ”. Lạc đưa tay lên gãi gãi trên mặt. 
“Em biết lội, mình và anh Minh đừng ngại”. Vợ Lạc e dè cất tiếng, sự sợ hãi trên đoạn đường mái nhà đầy tiếng súng đã làm người đàn bà cứng lưỡi, bây giờ hạt đất dưới chân làm tĩnh trí. Có luôn mấy đứa nhỏ kia ở đây thì chắc dạ biết mấy, người đàn bà muốn nói với chồng câu nói cùng ý nghĩ. 
“Ở Sài Gòn có đánh nhau không mình?” Không ai trả lời câu hỏi. 
“Không cần, để tôi đi tìm chiếc xuồng, mấy người hái sen thường hay cột chùm ở đây, hơn nữa trời lạnh lắm”. 
“Vậy thì tốt, ông có cần tôi đi cùng không?” 
“Không, ông coi chừng đừng động đậy, tránh hết mọi thứ”. 
Lạc gật đầu, kéo vợ con thụp xuống, hơi bùn và nước xông lên ẩm ướt. Minh rón rén dò từng bước chân, hào nước mắm nằm sau đám nhà dân chúng, những cột sàn nhà chông chênh đóng rêu trơn, mùi bùn non cống rãnh rác rưởi bốc lên nôn nao. Minh kéo cao cổ áo saut, rút khẩu súng cầm tay, bước chân hẳn xuống bờ hào. Đi thế này tránh người ta trông thấy, nếu bị bắt gặp? Minh nhủ thầm, phải áp đảo ngay, Việt cộng chắc tràn khắp thành phố chắc không thoát được, nhưng mình là người Huế, cởi áo saut này thì ai biết mình là ai? Minh yên dạ, bước tới vững vàng trong bóng đêm…”Đây nhá, cái thành này chạy quanh khu nội thành, bên trái kia là cửa Thượng Tứ”. Minh chỉ tay về hướng một khối đen nhô cao ở đàng trước xa xa… 
“Tôi biết, chắc tụi nó ở đó rồi, ông tính đường nào về tiền trạm mình”. 
“Tiền trạm mình ở trong Mang Cá”. 
“Mang Cá là gì?” 
“Nơi Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1, bây giờ nếu chạy thẳng đường từ cổng thành này là đến, nhưng chắc không nổi… Tụi nó thế nào cũng giữ con đường này”. 
“Có thể tụi nó muốn nhào vô Sư đoàn 1”. 
“Suya, nên mình phải tìm con đường xa con đường này, cứ men theo mấy con đường nhỏ nhỏ là lọt, ông đi sau có gì thì dọt, chạy mẹ vào nhà dân chúng, thằng dân nào láng cháng là phơ”. 
“Sao kinh vậy ông? Toàn người Huế của ông cả đấy”. 
“Khỏi bàn, ông thấy tụi trong khách sạn không là người Huế sao?… Chuyện đó tính sau, bây giờ cốt yếu là vào trong tiền trạm, có ăn, có sống, leo tàu bay về Sài Gòn là tốt”. 
“Còn gia đình ông nữa”. 
Minh không nói. Có một cái gì tàn bạo lạnh cứng trong lòng, trong cơn nguy biến Minh đã khôn khéo phát triển đến tối đa phản ứng tìm sống. Minh đã ích kỷ một cách thản nhiên cứng ngắc. Gia đình? Minh nghĩ đến mẹ và gia đình bên ngoại trong một thoáng hối hận, mẹ và gia đình bên ngoại không có gì với Việt Cộng, họ đứng ngoài cuộc biến động nguy hiểm này, cả nhà ngoại sẽ nấu những nồi cơm thật lớn và các dì mợ trổ tài chế biến những món ăn khô dè xẻn cho đám đông, thịt khô, cá chấy, muối sả, họ sẽ ăn những thức ăn khó khăn đó để đợi chờ biến cố đi qua trong bình yên. Trong khi Minh vượt từng thước đất trên sự sống chết đi về Tiểu đoàn, theo sau một người bạn, bạn lớn tuổi, bạn lính, bạn uống rượu… Minh cùng họ cố về tiền trạm nơi có những người lính thuộc Ban 4 Tiểu đoàn, những người lính không mang súng để vác gạo, bắp su, xách nước mắm từ trực thăng xuống vùng hành quân. Cơn nguy biến ném Minh vào trong một cuộc đấu tranh lạ lùng, cuộc chiến đấu không chiến hữu và không vinh quang. Nhưng Minh phải tới được tiền trạm, Minh phải thắng vì cả cuộc đời cụ thể của Thân Trọng Minh đặt trên cuộc đấu tranh này, nếu Minh thua, một nòng súng AK sẽ dí trước trán. “Lính Dù nguỵ hả?” Việt Cộng sẽ hỏi Minh bằng giọng Quảng Bình, Quảng Trị và có thể là giọng Huế… “ĐM, lính Dù nguỵ mà… hì hì…” Ngón tay của tên Việt Cộng sẽ co lại, cò súng sẽ co lại, Minh nghe được tiếng chuyển động của lò so hoàn lực chuyển để kéo cho búa đập vào chậu cơ bẩm, bốp, kim hoả sẽ đâm vào hạt nổ và đoành… Thân Trọng Minh giải thể thao của học sinh miền Trung niên khoá 1957-1958, cây toán học của Trường Võ Bị sẽ bị bắn ngược người ra đàng sau, một phần chất óc phọt ra ngoài, Minh ngã xuống, chân tay giãy giãy, sự sống cuối cùng giãy giụa vùng vẫy trước khi tắt ngúm. Chết, một sự chết toàn thể có kích thước ở tay chân lạnh giá cứng đơ, dòng máu chảy ra đẫm ướt thấm sâu trong đất, chết có mùi hôi ngai ngái… Chết thụ động và vĩnh viễn… Phải sống, phải về tiền trạm. Minh dự phần vào cuộc chiến không huy chương với hết sức mạnh con người. 
“Này Minh, tụi mình phải kiếm cái áo quần gì để thay mới nói chuyện thoát”. 
“Tôi cũng nghĩ vậy, hơn nữa cái quần tôi ướt nhẹp lạnh không chịu nổi… Mặc cái áo saut này chi bằng kêu Việt Cộng đến túm còn hơn”. 
“Lấy áo quần civil ở đâu bây giờ?” 
“Vào đại nhà nào vắng người, để tôi đi kiếm”. Minh len lỏi trong khu vườn chuối ở trên mặt thành nên thấy được khu phố chính mờ mờ ánh đèn trong sương. Dưới kia chắc bắt đầu loạn, đã có những anh chết trong khi đang xỏ tay vào áo veston để đợi giao thừa xuất hành… Không hiểu đã giao thừa chưa. Minh thoáng cười với ý nghĩ rời rạc của mình. Khu vườn hết, Minh bắt đầu vào một khoảng sân đất nện cứng, có người đàn bà đang cúi đầu lạy trước mặt một bàn thờ nhỏ. 
“Này, bà ngừng cho tôi hỏi một chút”. 
Người đàn bà nhìn lên hốt hoảng, những cây hương đang cầm ở tay lã chã rơi xuống. Có nhánh hương rơi trên chân nhưng người đàn bà không để ý, một động tác thật thuần thục, hai bàn tay xòe rông chắp vào nhau, người đàn bà xá hai ba cái liên tiếp, đôi môi nhăn nheo kéo xuống sửa soạn cho tiếng khóc… Ầm, ầm, tiếng nổ ở xa, miệt Gia Hội hay Đông Ba, không biết 105 của ta hay Việt Cộng vừa giật sập mất cái gì? Minh liếc thấy ngọn lửa lóe lên sáng rực trước tiếng nổ. Người đàn bà giật nẩy mình không kìm hãm nổi tiếng khóc đang ứ. “Lạy cậu tha cho tôi”, bà xá thêm mấy cái, đôi mắt không rời khẩu súng. Giữa tiếng nổ và khẩu súng của Minh có liên hệ với nhau… Những căn nhà bên cạnh xôn xao, người ta chạy vội ra sân đứng hướng mặt về phía có tiếng nổ. Minh đẩy người đàn bà vào trong nhà. “Bà vào trong này tôi có chuyện nói”. Bà ta bước líu díu, những cây hương còn hững hờ trên tay xoay từng vòng sáng đỏ theo mỗi bước đi. 
“Bà không phải sợ gì hết, ở nhà còn người đàn ông nào không?” 
“Dạ có, thằng con trai tôi đi lính ngoài Quảng Trị, cậu thương tình tôi không làm gì nên tội”. 
“Nói hoài, tôi bảo bà đừng sợ, bà cho tôi hai bộ đồ civil, áo quần thế nào cũng được, có áo len thì tốt, còn bà cũng nên gói sẵn một gói đi, có gì chạy cho lẹ…” 
“Chạy đi mô, vì cái chi mà chạy?” 
“Đạn, súng, đánh nhau lớn, ở đây không yên mô”. 
“Nhưng có lính tráng đồn trại chi ở đây?” Người đàn bà nhìn lên bàn thờ, ánh nến chiếu vào giấy vàng mã trở nên lóng lánh, rực rỡ khói cây nhang bay là đà quyện vào nhành mai trước khi tan, người đàn bà quay lại nhìn Minh, đôi mắt bớt vẻ sợ hãi phảng phất buồn. 
“Tui không đi, ông Việt Minh hay Quốc gia tui không biết, bàn thờ tui dọn rồi, đầu năm không ai bỏ nhà mà đi”. 
“Cậu định trốn đi mô?” Người đàn bà run run hỏi Minh. 
“Đi trốn?” Minh khó chịu. Minh không muốn mang tâm trạng này. Minh thấy mình đang làm một công việc to lớn và quan trọng dù trong bóng tối. 
“Tôi không trốn đâu hết, tôi đi Mang Cá”. Minh hơi bối rối trước câu nói của mình, ôm bộ áo quần, nương theo bóng tối đi về cuối khu vườn. 
Người đàn bà ngồi lại nhìn lên bàn thờ, khói hương bình thản lặng lẽ bay, ánh nến chập chờn ấm áp. Thế giới của người đàn bà trong tối giao thừa là đây… Ngồi im trên chiếc ghế nhìn tàn hương rũ xuống dính vào đốm lửa một cách mong manh, chờ cơn gió yên lặng rơi xuống. Tàn hương lay động yếu ớt như thời gian vô hình chuyển đi giữa hai năm. Người đàn bà đợi hết tàn hương sẽ cúng đến phần đồ ngọt, chè đậu ngự nước trong vắt, hạt đậu vàng xanh nở một đường sung mãn như cành lộc mới… Giặc giã ở đâu cũng mặc, ba bốn lần chạy loạn rồi, loạn lần nào cũng quá lâu, trận Cùa, trận Nam Đông năm 63, 64 gì đó, thằng con thứ nhì bị gãy chân bó bột. Năm nay là Mậu Thân, hai thằng con lại đi biệt mặt không về? Giặc đã phá nhà nhiều lần, giặc đã vào trong nhà, đã làm mẹ con cách xa, đã đẩy tình thương về những chỗ tối tăm vô ích, thương con biết để trong lòng, người đàn bà ngồi như đã ngồi suốt hai mươi năm. Giặc kia chờ chồng, giặc này chờ con, còn tai ương nào để xảy ra? Người đàn bà ngồi chờ tàn nén hương. 
“Xong rồi, bây giờ mình cứ tà tà mà đi, dân chúng hình như cũng vừa biết được có biến động, mình kiếm nơi nào đông nhập vào. Ông và bà chị đừng nói gì cả, xứ Huế ít người Bắc, có gì cứ để tôi. Bây giờ mình xuống đường”. Minh chỉ tay xuống con đường nhựa nằm dưới chân thành, ánh đèn vàng ấm soi rõ những lá cây khẽ rung động. Năm người bước chân xuống mặt nhựa. 
“Đi ngã nào?” Lạc khẽ hỏi, liếc nhìn những con đường chằng chịt trước mặt. 
“Phía này, cứ đi như người thường chạy loạn, đừng trốn tránh gì cả”. Minh cho tay vào trong túi, cúi đầu rảo bước đi trước. 
Một loạt đạn vang lên từ đầu đường, những ngọn đèn bị bắn vỡ nổ nghe gọn ghẽ, bóng tối đè lên một phần đường. Minh kéo hai đứa bé, Lạc kéo người vợ nhảy vào vệ đường, ẩn sau một gốc cây. Ba bóng người tiến đến … 
“Ai, đi ra”. 
“Đi ra”. Minh khẽ nói. Ném mấy gói áo quần dưới cống. 
Minh đứng dậy tự nhiên, dẫn hai đứa bé bước ra. 
“Các anh là ai? Làm gì?” Giọng Quảng Bình chát chúa, tên Việt Cộng thủ cây AK trước ngực ở thế sẵn sàng, hai tên kia bố trí về hướng chúng vừa đi đến. 
“Dạ anh em tôi dạy học, mới đi chùa về”. 
“Dạy học lớp mấy?” Tên Việt Cộng nhíu mày ra vẻ suy nghĩ. 
“Dạy nhiều lớp, tôi dạy vẽ, tôi là giáo sư hội hoạ của trường”. Minh chọn thật nhanh một môn học vô thưởng vô phạt, anh tôi là thợ sửa đồng hồ… 
Tên Việt Cộng im lặng, mắt vẫn nhìn vào Minh… 
“Anh là lính gì mà có súng, súng này lạ quá, lần đầu tiên tôi thấy”. Minh hỏi, giọng hoà hoãn vô tư. Tên Việt Cộng khẽ cười: 
“Anh không biết gì cả, bây giờ mấy người tới đằng chỗ trường học để sinh hoạt”. Y chỉ tay về hướng trường Bồ Đề… 
“Anh biết đường đi không?” 
“Dạ biết”. Minh lễ phép. 
“Biết thì đi tới đó liền”. Gã đưa nòng súng lên trời bắn ngọn đèn đường kế tiếp. 
Minh giả vờ kêu “Trời ơi!” sau tiếng nổ. 
“Dạ thưa ông chúng tôi đi”. Minh dẫn hai đứa con, Lạc rẽ vào con đường trước Pháp đình. Hai tên Việt Cộng tiếp tục đi dọc đường dưới chân thành, họ đi đâu bóng tối đầy đến đó. 
“Mình tới trường học đó sao?” Lạc hỏi. 
“Đâu được, nhưng như vậy không những tụi nó đóng dọc từ đây đến Mang Cá, tụi nó còn bố trí cả chiều ngang thành nội rồi…” 
“Để tôi kiếm xem có đường nào lọt được, thôi mình đi theo đường này thử”. Minh dẫn bốn người đi vào con đường dọc theo hông toà án. 
Một tràng tiếng nổ khô vang lên đều đặn. Minh và Lạc cùng nhìn lên trời, những khối lửa bay song song về phía Mang Cá. 
“Tụi nó pháo kích, ít nhất cũng có 4 cây 82”. 
“Tao nghe cả hoả tiễn 122 ly nữa, có thấy khối lửa đỏ rực bay cao nhất không?” 
Minh gật đầu đưa mắt nhìn Lạc hỏi ý kiến. 
“Như vậy là hơn tiểu đoàn rồi, pháo bốn cây là phải tiểu đoàn trở lên”. 
“Có thể là bộ chỉ huy Trung đoàn của tụi nó”. 
Một tràng tiếng nổ khác, vợ Lạc xoắn xuýt ngồi bẹp xuống ôm lấy hai đứa con. “Mình! Mình! Làm sao bây giờ?” 
“Không gì chị, đó là súng của Việt Cộng ở đây bắn đi”. Minh chợt mỉm cười vì câu nói của mình. Ở đây bắn đi, Minh cùng một phía với Việt Cộng. Một phía, Minh thấy lạ, một chút yên ổn ở vị trí sau súng địch, phân chia bạn thù hoá ra chỉ một giai đoạn, một giai đoạn ngắn và trống, qua khỏi khoảng trống vô hình đó con người được biến dạng như cây gậy lệch đi khi được nhìn qua màn nước. Súng cối và hoả tiễn Việt Cộng bắn đi tất nhiên có súng cối hoặc 105 của ta phản pháo lại, Minh mong muốn cuộc phản pháo chậm để tìm đường trốn. 
“Không xong rồi Minh, tìm phía nào ra khỏi mấy cái ống nhổ này đã, ở gần không được”. 
Minh gật đầu, rẽ về phía tay mặt. Ổ súng cối địch chắc đặt ở đường Hàm Nghi phía tay trái. 
Người chạy hỗn loạn, người chạy ra khỏi nhà mang những vật dụng thật vô ích trong cơn hốt hoảng. Áo quần tạp nhạp được gói vào trong chăn cũ: ôm trước ngực bằng hai tay chéo lại, một chiếc ly được mang theo. Chiếc ly vô dụng, khôi hài lúng túng chuyển từ tay trái sang tay phải, cuối cùng được ném đi trong la hét thúc giục. “Trời ơi là trời. Súng của ai? Súng của ai? Chạy ngả mô đây?” Người nhào ra từ đường, đường trống trải lạnh cóng, nhìn lên trời đạn bay đỏ lưới. Tiếng nổ nghe thật gần do đạn súng cối départ hay hoả tiễn được phóng đi. Tiếng nổ, khối dân co rúm người như dưới một dịch động kinh. Dân chúng không phân biệt được tiếng nổ của kích hoả đập vào hạt nổ để đẩy viên đạn đi xa hay tiếng nổ của đầu nổ khi chạm phải mục tiêu. Người dân sợ bất cứ mọi tiếng nổ và ánh sáng, sợ mảnh gang nứt ra từ quả đạn, sợ viên đạn nhỏ bằng đồng bay vút trong không khí. Tai ương có hình dáng màu đỏ vạch trong trời đêm, tai ương có khoảng cách và tiếng nổ. Dân chúng chạy vào trong nhà, cảm thấy nhà mênh mông và mỏng manh họ nhìn hết vật dụng thân yêu… Chiếc giường vậy cũng được ba mươi năm khi ông nội còn làm Biện ở ngoài Hà Tĩnh, cái đồng hồ quả lắc vàng chóe úa màu đen chậm chạp đưa đẩy trong khối vỏ màu nâu khắc hình trái nho, đồng hồ mua từ năm 1949 sau khi lính rappel đầu tiên kể từ lúc hồi cư cuối năm 1946. Người gia chủ treo lên định mang xuống. 
“Ba con Uyên muốn mang cái đồng hồ phải không?” 
Người chồng nhìn vợ dò hỏi không trả lời. 
“Trời ơi! Cái đồng hồ! Khai sinh giá thú giấy tờ đất cát mình không mang đi định mang gì của nợ đó”. 
Người vợ chạy xuống bếp xếp chén dĩa kiểu vào tay nải… “Uyên, Uyên, giúp mẹ mang cái này”. Người mẹ lắc lắc tay nải. Nặng quá không mang nổi. Cô gái chạy quanh chiếc bàn học, cuốn album, nhật ký, tập lưu niệm. Biết mang cái gì, Uyên xé vụn đống thư cột bởi sợi cao su, những lá thư của tình yêu thần thoại, khởi đầu tuổi thanh xuân, bị xé nát, vứt bỏ, nhoà tan trên sàn nhà. Lá thư tình cách đây hai ngày đã làm Uyên bấn loạn, Uyên đã đọc từng chữ, đã cắt từng câu, nghiến ngấu, ve vuốt từng dấu chấm tân kỳ hình ông sao, Uyên nhớ vạch chéo ngang tàng dũng mãnh. “Người ấy” như vậy đã yêu mình lâu lắm? Người ấy theo dõi mình với mối tình cay đắng trong bao ngày tháng qua… Uyên vung tay ném mạnh những cuốn sách ra khỏi chiếc valy con, xếp tấm áo len trắng vừa đan xong để mặc trong Tết này… Cả gia đình náo loạn một cách khó khăn, họ xoay quanh các đồ vật, nằm bẹp xuống sàn nhà sau mỗi tiếng nổ và nhổm dậy tiếp tục cào cấu la hét trên đống vật dụng bỗng chốc trở thành quá thân yêu và cần thiết… 
“Chạy không nổi về Mang Cá được, trước mặt bên trái toàn người anh em, tay phải mình lại đụng cái thành, thôi chạy vào nhà bà chị tôi rồi tính sau”. Vợ chồng Lạc cùng gật đầu một lượt theo Minh không ý kiến. 
Ngày mồng Hai Tết, Thuấn dẫn đại đội chạy băng qua phi trường Tây Lộc, sắt PSP nhún nhún dưới chân, xóm nhà dân ở xa bốc khói, phòng đợi khách bị trúng đạn B.40 xám đen, cánh cửa bị thổi tung, đại đội bố trí trông về cửa An Hoà đợi lịnh, Thuấn đi vào phòng, có chiếc xe Jeep cháy ở ngưỡng cửa, hai người chết gục ở tay lái, Thuấn đi đến. À pilot L 19, Thuấn đứng sát gần xác chết để nhìn rõ mặt. Có thể là mấy cha pilot hay bay với red marker(), mình có thể biết nó, Thuấn đưa báng súng lật gã phi công chết trên tay lái. 
“Thằng cha này lạ, mình không biết”. 
Gã phi công bị bốn năm viên đạn ở ngực, một viên vào đầu, hai con mắt mở cứng ngắc, màu từ vết thương trên đầu chảy xuống dính một bên mặt, đóng khô những sợi râu mép. 
“Người anh em có bao giờ nghĩ rằng mình chết trên tay lái ô tô không nhỉ?” Thuấn mỉm cười với ý nghĩ mình. Ai làm sao biết được mình chết lúc nào và ở đâu như gã phi công đã ngồi chết trên tay lái. Một anh chàng người Huế cuối năm về quê hương? Không phải, mũi xe hướng về phi cơ chắc anh ta nghe súng nổ nên lái xe Jeep vào đây định vọt đi bằng máy bay, anh ta chết khi còn mặc đồ bay màu xám, huy hiệu con rồng bị một vết cháy, có thể thằng Việt Cộng dí súng thật sát để bắn… Thuấn muốn nghĩ tiếp thêm vài chi tiết về người chết, nhưng trí óc làm việc chỉ đến chừng đó. Thuấn bước vào phòng đợi, gạt máy điện thoại xuống đất. Giờ nay còn có ai gọi, chỉ gọi được Nước Chúa. Thuấn leo lên chiếc bàn gối đầu vào mũ sắt, nhắm mắt lại. 
“Khi nào Tiểu đoàn gọi mày đưa máy tao, còn đụng hay không ở đâu cũng mặc, tao ngủ”. Gã lính truyền tin gật đầu không nói, ngồi dựa lưng vào tường sát dưới chân Thuấn. Gã không cởi chiếc máy trước khi nhắm mắt. “Tôi cũng buồn ngủ quá Đại uý…” Thuấn nghe từng tiếng động lịch kịch của chiếc nón sắt mỗi khi gã lính cong chân chạm phải cùng tiếng máy chạy sè sè. Thuấn không ngủ được, nhưng hai mí mắt sưng mọng chụp xuống mở không ra, cảm giác như đôi mắt khô cứng không thuộc về phần điều kiện của mình nữa. Bên trong mí mắt đã dậy, đôi mắt vẫn còn thức, nghe ngóng chờ đợi. Thuấn muốn ngủ, hai đêm, hai ngày căng thẳng và di chuyển tác chiến liên tiếp làm vỡ nát những khóm xương, trùng hết mọi đường gân nhưng đôi mắt vẫn tỉnh táo một cách khó chịu. Trong bóng tối của văn phòng, sau rèm mi Thuấn nghe đôi mắt mình chuyển động ngang dọc. Thuấn xoay người ra phía cửa, ánh nắng làm Thuấn mở mắt, sân bay vắng ngắt rải rác toán lính nằm dài bên kia phi đạo… Gã phi công chết vẫn mở mắt nhìn bầu trời xám đục. Thuấn ngồi nhỏm dậy. “Tốt, sống đến bữa này là tốt”. Hình như Thuấn nói như thế. 
“Dậy mày”. Thuấn đá vào chân gã lính truyền tin. Dậy để xin lệnh kéo vào trong kia bố trí, ở đây trống quá, tao lại đói nữa, suốt giao thừa đến bây giờ không có một bữa ăn. Thuấn cầm máy truyền tin liên lạc với Tiểu đoàn trưởng. Gã lính truyền tin vẫn gục đầu ngủ kỹ, Thuấn ném ông liên hợp xuống đất sau tiếng chửi thề… 
“Gì Đại uý?” Gã lính giật mình lồm cồm bò dậy. 
“Trên Tiểu đoàn bắt mình chiếm cửa An Hoà! 
“Lệnh đâu kỳ vậy? Cửa đó tụi Tiểu đoàn hơn 2 giữ rồi mà”. 
“Mất lại rồi, mày kêu mấy ông Trung đội trưởng lại đây”.

Tháng Ba – Lần trở về với biển…

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Phan Nhật Nam

Lời Người Viết: Sau đây là câu chuyện (bình thường rất thật, chẳng cần bày đặt, vẽ vời thêm) của hơn 60, 70 năm trước. Chuyện xẩy ra Tháng Ba, 1975 – Nay lập lại trong Tháng Ba, 2026 với cảnh bom đạn rung rinh địa cầu – Hóa ra Nỗi Đau/Cảnh Khổ không riêng của ai. Luôn lập lại – Nhưng cảnh Khổ của Người Việt/Người Việt Miền Nam lúc ấy (Tháng 3, 4 năm 1975) không ai muốn nói đến, viết lại (kể đến hôm nay). Hình như Con Người/Người Miền Nam VN xem Khổ Đau phải gánh chịu là một điều tất nhiên.   

Dẫn Nhập:

Khi đã ngồi yên chỗ ngồi trên Xe Đò Hoàng (chạy đường Nam-Bắc Tiểu Bang Cali), hai người đàn ông lớn tuổi bắt đầu câu chuyện.

– Xin lỗi, tôi trông ông có vẻ quen quen…

– Có lẻ ông thuộc giới đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều người, nên tôi với ông có thể đã một lần gặp nhau ở đâu đó, nơi Orange County nầy, người Việt đụng nhau liền liền. Và sau vài câu xã giao, thấy đã đủ độ gần gũi, một người lên tiếng thân mật theo cách “phe ta” với nhau…

– Kỳ “Bảy- lăm”, khoảng tháng Ba nầy ông ở đâu?

– Tôi ở Pleiku,

– Ông có phải lính tráng gì không mà lên tới Pleiku?

– Bộ phải đi lính mới ở Pleiku sao, tôi là dân Nha Trang tới Pleiku, Ban Mê Thuộc từ những năm còn nhỏ sau 1954… Ông cậu tôi có nhà máy nước đá đầu tiên vùng Nha Trang – Khánh Hòa nên đưa nước đá đến tận Đèo M’Track, ra Tu Bông, Vạn Giả… Xong theo Đường 19 mở thấu Peiku. Năm 1964, ra trường sư phạm là tôi “xin lên” Pleiku, ở miết tới tháng Ba, 1975. Pleiku thành quê hương thứ hai…

– Trời đất, tôi là lính tác chiến kẹt quá mới chịu đi Pleiku, Ban Mê Thuộc, Kontum. Ông dạy học mắc mớ gì phải xin đổi lên đó. Bất cứ anh nhà binh nào nghe sắp bị đẩy đi Pleiku là rét liền, Bộ Tổng Tham Mưu Sàigòn dùng Vùng II để dọa mấy cha ba-gai, phải cứng cựa lắm mới chịu được vùng nầy. Thường thường, nếu lỡ phải lọt vào Quân Khu II thì cố gắng xoay xở trụ dưới Quy Nhơn, Nha Trang, đường cùng đối đế lắm thì cũng phải nhận Bồng Sơn, Tam Quan. Đổi đi Pleiku, Kontum kể như thua.

– Nhưng tôi lại chịu xứ bụi mù trời, mưa xô núi đó. Vào mùa xuân, dọc Đường 14 lên Kontum, bông hướng dương nở vàng đẹp như tranh…

– Đấy là nói với ông cho có chuyện, chứ thật ra tôi cũng đầy duyên nợ với Vùng II, Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột suốt một đời tuổi trẻ, từ ngày ra Trường Thủ Đức,

– Ông lên trên đó năm nào?

– Đúng ngày vi-xi pháo kích Phi Trường Holloway, 2 Tháng 8, 1964.

Một.

1955 – Biển loáng sáng như mặt kính rộng lớn hắt ánh nắng buổi sớm lên vùng trời biên biếc không gợn mây. Trời, biển, đường phố với những dãy nhà lầu, biệt thự dài theo bãi tắm đồng thinh lặng nên có thể nghe rõ tiếng sóng nhỏ thiêm thiếp đùa vào, thấm lên bờ cát những vòng màu vàng sậm ẩm ướt, tiếp liền khô khi triều sâm sấp rút ra. Toàn khối không gian trong vắt vừa được lọc sạch qua đêm làm gã thiếu niên đang ngồi ở bờ có cảm giác những hòn núi ngoài khơi như gần lại và lớn hơn. Nó tưởng thấy rõ đến cả những gốc cây ở chân núi, gần bên hốc đất vỡ lớn, mà ngày mới đến đây, được Bác Hai đưa ca-nô ra đến. Biển hôm nay sớm quá, chưa ai tắm… Đứa bé không kìm giữ phản ứng, tự nhiên buột miệng nói ra lời về cảm giác trong lòng đang trào dâng rộn rã. Nó nhìn dọc theo những ô nhà hàng cửa đóng vắng vẻ, chỉ một quán nước trước Dòng Chúa Cứu Thế đã sẵn bày ra vài chiếc ghế nằm hóng mát, xếp ngổn ngang trên mặt cát. Biển buổi sáng sớm quá mà chưa ai tắm hết. Đứa nhỏ lập lại nhận xét, bởi muốn có người cùng chia sẻ cảnh tượng đất, trời, mặt biển mới mẻ tinh khôi. Gió đầu xuân hây hây gây ấm theo lượng nắng mỗi lúc mỗi thêm vàng tươi óng ả, nó ngước lên nhìn trời, xong đảo mắt vòng vịnh biển, bồi hồi xúc động do tìm thấy điều bí mật cho riêng mình.

Người thanh niên tuổi còn rất trẻ, khoảng hai mươi, da mặt trắng, hai má gầy lõm, ổ mắt sâu, tròng mắt đen ẩn dưới vòng chân mày đậm xanh. Khuôn mặt anh đầy bóng tối, nổi lộ tương phản dưới màu nắng sáng rỡ, lưng cúi xuống che dấu như đang phải chịu đựng cơn lạnh tiềm ẩn từ bên trong. Nghiêm trang, kín đáo từ dáng đi, cử động, anh đến dựng một chiếc ghế xếp, mở những càng chống bằng gỗ, rũ tấm nằm vải ny-lông, trãi dài thân ghế dưới gốc cây dừa, sau một lùm bụi rậm rạp, thân lá lớn bảng màu lục đậm, ngã bóng xuống mặt tấm nằm tạo thành những vùng lốm đốm sáng, tối xao động.

Người thanh niên cởi áo sơ-mi máng vào lưng ghế trước khi tụt xuống chiếc quần màu xanh đen. Đứa bé suýt kêu tiếng ngạc nhiên – Người thanh niên mặc quần lót dài vải trắng bó sát đùi như của phụ nữ. Và đứa bé tiếp suy đoán, tìm hiểu, tại sao người thanh niên có dáng vẻ nghiêm chỉnh, kín đáo, chọn nơi vắng người để thay áo quần trước khi tắm – Anh ta phải là con nhà giàu, đẹp trai, lớn đến hai mươi tuổi mới có bộ đồ lót trắng khác lạ như thế. Đứa nhỏ bỗng nhiên có nỗi thích thú do vô tình khám phá ra điều bí mật riêng tư của một người – Một người thanh niên không muốn kẻ khác thấy tình trạng trần trụi yếu đuối của mình tại thời khắc đơn lẽ trước biển, trời thăm thẳm bằng bặt. Anh ngần ngại nhìn quanh.. Bãi tắm vắng vẻ, trên mặt cát ướt hiện rõ những vệt lằn của lũ dã tràng im lìm, lầm lũi làm công việc vô hồi bất tận. Sóng ùa vào, cuốn phăng những dấu vết của dã tràng và đám còng gió cũng vụt biến mất liền theo sau với âm động rì rào khi nước triều kéo xuống, rút vào những hang ổ dày đặt của đám côn trùng. Anh trút chiếc quần lót dài, vươn vai, thân hình cao gầy bày ra mong manh giữa tầng tầng không gian bao la, đi dần xuống mé nước, bụng hơi thóp lại bởi chớm lạnh khi bàn chân bị bọt sóng trùm lấp. Người thanh niên bước lùi lại lên bờ, hơi mĩm cười như tự chế nhạo vì tình cảnh rụt rè của mình, nhìn quanh quất, ngó mông… Khi bắt gặp ánh mắt dò hỏi của đứa bé, anh quay mặt ra lại hướng biển, tự nhủ… Nó chỉ là đứa nhỏ để ý làm gì, cũng chẳng biết ở đâu đến, sao sáng sớm ra biển ngồi một mình. Và như để tránh xa gã thiếu niên mà anh biết đang theo dõi mình, người thanh niên đi dài theo bãi biển hướng Cầu Đá, nhìn xuống những dấu bàn chân lún sâu nền cát ướt. Trước khi buông thả ý nghĩ chập chờn duỗi theo lượn sóng xô đuổi, anh trở lại liên tưởng về đứa nhỏ để nhận ra điều ấm áp – Ít nhất mình cũng có một người bạn chung cảnh ngộ sáng nay.

Sau nầy, khi khôn lớn, gã thiếu niên rời thành phố với hồi ức rõ nét: “Ở Nha Trang, có người mặc quần lót dài đi tắm biển. Đấy là “người thanh niên đẹp trai, hai mươi tuổi ra đến biển kín đáo, một mình”- Sỡ dĩ trong trí não của gã có nhóm từ ngữ “người thanh niên hai mươi tuổi, đẹp trai…” vì do từ thuở nhỏ đã nghe ra đâu một lần: ”Người thanh niên hai mươi tuổi”, nên hắn giữ chắc ý nghĩ: “Thanh niên khi đến hai mươi tuổi thì đã tốt đẹp, hoàn hảo, trưởng thành”. Hắn cũng luôn nhớ cảm xúc rạo rực gợi nên từ buổi sáng xuân sớm, trước vùng trời, nước bừng bừng nắng sáng xôn xao mùi biển mới, so với vịnh biển bình an bốn bề núi bao bọc, nơi hắn đã sống qua kỳ thơ ấu ở Đà Nẵng. Ngày sống với mẹ và em.

Hai.

1964 – Chuyến xe đò chạy từ sáng sớm rời Nha Trang, đến Quy Nhơn dọc theo những xóm làng miền biển, nơi anh sinh sống, lớn lên qua nhiều năm dài, không gây nên phản ứng cụ thể. Bởi cảnh sắc, môi trường với hàng dừa cao ngọn vây quanh những khu làng nằm cạnh cửa sông, bên vịnh biển đẫm mùi muối đã kết cấu cùng anh nên một khối vật chất liền lạc, là phần biểu hiện chung về đời sống giác quan, tâm hồn anh với một không gian thân thuộc, tự nhiên như hơi thở, giọng nói, mùi người tự xác thân. Là chính anh. Nhưng khi chiếc xe hàng bỏ Quốc Lộ I, rẽ vào Đường 19, qua đèo An Khê, núi dựng trường thành lớp lớp xanh hướng phía Tây ngăn cách hẳn với đồng bằng báo hiệu cho anh lần khởi sự cách lìa, đổi thay thâm sâu toàn diện. Một đời sống, cảnh sống khác đang đợi anh nơi xa kia, trong vùng núi trầm trầm bí ẩn. Khi xe qua khoảng đường đèo cuối cùng trời đã sập tối, gió gây rét mang ẩm ướt của rừng thổi đùa trãng tranh trôi nổi cuồng cuộn, tăng thêm vẻ hung hản của đồng hoang dưới ánh đèn loang loáng dọi ra từ đầu xe. Và thành phố Pleiku lắt lay đóm sáng mờ đục dưới vũng sương mù gây trong anh mối xúc động đột ngột… Chốn của mình là đây? Nơi của mình là đây chăng? Quả thật, anh không hề nghĩ ra trên cùng một quê hương, chỉ sau một buổi di chuyển, sẽ tới một vùng đất lạ lùng, ẩn mật đến ngần nầy – Nơi cách miền biển một đoạn đường hai trăm cây số, qua những đỉnh đèo lẫn trong mây. Dẫu rằng trước đây anh cũng đã vài lần đi tới. Nhưng những lúc ấy anh đang trong độ tuổi thiếu niên, lòng chưa đủ hiểu hết nghĩa buồn phiền.

Pleiku đang trong hồi báo động. Quân cộng sản pháo kích toàn vùng, khu quân sự lẫn thị xã. Tiếng nỗ ầm vang mọi hướng, lưỡi lửa loé rộ, chớp sáng, nháng đỏ đường phố, soi rọi, xô đẩy những thân cây cao chập chờn chuyển động giữa vũng đen nguy biến. Đám hàng khách dồn vào phòng đợi, ngồi chen chúc giữa những bao gói, thì thào than vãn… Tại răng… Tại răng, ông không… không để tui ở lại dưới Quy Nhơn cho yên thân, mà đem.. đem tui lên chi đây.. chịu súng đạn, khổ như ri hở trời? Người đàn bà trì siết đứt khoảng bởi sợ hãi làm tê liệt, rung rẩy âm nói. Giọng đàn ông (ý hẳn là người chồng) gầm gừ, bực tức lẫn cay đắng: Bà nói rứa nghe được không… Hữ nghe được không! Bà con, bà con… Cho tui xin, còn chi mà cãi nhau trong cảnh nầy! Tiếng xầm xì chìm xuống, lời cầu kinh, niệm Phật rầm rì. Bỗng tất cả đột nhiên im bặt khi tiếng rít trái phá bay ngang trên tầng trời, và nỗ bùng nơi khoảng sân đoàn xe đậu. Đám cháy tiếp liền tiếng nổ dâng cột lửa lên cao, dọi loáng thoáng xuống đám người ngồi hoá thân nên thành những hình khối loang lỗ.

Anh ngồi im lặng trên một chiếc xắc tay, chiếc thứ hai ôm sát ngực như một vật cản che chắn, nhìn lên vùng trời tối đen rúng động bởi tiếng nổ và lửa ngọn, lòng trống rỗng, không cảm giác. Mình rời Nha Trang mới được một ngày mà sao như đã quá lâu! Anh muốn kìm giữ sự so sánh nầy để có một ý niệm cụ thể trong đầu, nhưng cuối cùng, ý nghĩ nầy cũng như ngọn nến nhỏ bị gió bão thổi tắt đi. Khoảng gần nửa đêm, đợt pháo kích im dần, chỉ còn những tiếng đạn bắn đi xa, từ trời cao. Một người trong đám giải thích: Đó là tàu bay và súng của bên mình phản pháo Việt cộng đó. Có thể một số đông trong đám người không rõ “bên mình” và “Việt cộng” gồm những ai, khác nhau ra sao, nhưng tiếng đạn nổ nơi xa gây điều yên ổn, bắt đầu rầm rì trò chuyện, đợi tai họa đi qua.

Theo lời chỉ dẫn của người ở bến xe, anh lần theo con phố chính. Khi qua khỏi chiếc cầu, con đường trở nên dốc ngược và trên cao, trước mặt anh, thị xã Pleiku mở ra như một lời kêu than chịu đựng với những bóng người lướt thướt di động dưới những hàng hiên, thấp thoáng trên nền lửa đỏ nhừ nghi ngút khói từ những căn nhà vừa bị trúng đạn pháo. Anh đi theo cạnh một xe phở gánh, ngọn đèn khí đá treo đong đưa rọi sáng một phần khuôn mặt hốc hác, lấm chấm hàm râu thưa, người bán phở chống tay lên càng xe, cong lưng nặng nhọc đẩy, chốc chốc ngước nhìn khoảng tối bay mù tàn lửa. Bác cho tôi hỏi: Đường Hoàng Diệu nối dài có phải là đường nầy? Đường ni là Hoàng Diệu, đi hết mới tới Hoàng Diệu nối dài, cứ đi thẳng một mạch. Bao xa hở bác? Tui không rõ, hết dốc thì tới, nếu cậu muốn thì cứ theo tui, tui về trên Trần Khánh Dư, cũng đi ngã nầy, chết chóc như ri thì ai còn lòng dạ mô mà nuốt cho vô, cho vàng cũng khôn thiết đừng nói chi tới phở. Giọng người thôn quê miền Trung bình thản, chịu đựng, trống không. Anh đi theo người bán phở, nhìn vào khối lửa lò đỏ rực. Ở đây hay bị bắn như thế nầy sao bác. Mới bắt đầu đâu khoảng tháng ni, khi có Mỹ tới, nghe đồn Mỹ dội bom mô ngoài Bắc, thằng con tui đi lính về cũng nói rứa. Mà cậu ở mô tới chỗ chó ăn đá, gà ăn muối ni? Dạ tôi lên đây dạy học, tôi người dưới Nha Trang. Bộ hết chỗ rồi răng mà lên thấu đây, mưa thì thúi đất, mà nắng thì bụi đỏ cả tóc, đóng vô hai lỗ mũi. Ở trên bộ họ chỉ đâu thì đi đó, nhưng người khác sống được thì mình cũng sống được mà bác. Anh nói thật lòng vì vốn quen cảnh đơn độc, lẽ loi từ tuổi nhỏ với nơi u uẩn tịch mịch. Bây giờ cũng thế, Pleiku hoá thân thiết ngay từ buổi đầu, đang cùng anh chia sẻ nỗi se thắt nguy nan, như màn sương ẩm lạnh dầy bóng tối rung rẩy bởi loạt đạn pháo dội đâu từ núi sâu. Anh thấy như đã thật sự đứt lìa với vùng biển dưới bình nguyên.

Ba

Viên chuẩn úy quá trẻ trong bộ đồ tác chiến nhàu nát khá rộng so với vóc người, nón sắt úp xuống sát mí mắt, và chiếc ba-lô xộc xệch trên vai với những giây quai quăn queo rủ xuống từ những nắp túi không gài kín – Tất cả còn nguyên nếp gảy góc do cất giữ lâu ngày nay mới được phát ra. Người lính cởi ba-lô xuống, máng lên một bên vai, gở nón sắt cầm tay, xong đội lên lại theo một vị thế thật ra cũng không khác với vị thế ban đầu. Anh ta thật sự bối rối với những vật dụng lần đầu tiên phải mang vác trên thân giữa đám đông và nơi chốn xa lạ; anh cố ý mĩm cười, gật đầu chào với bất cứ ai nhìn đến, như để chứng tỏ cũng đã quen người, quen cảnh nơi đường phố rối rắm xao động nầy với từng luồng bụi đỏ dậy nên từng chập mỗi khi cơn gió gây rét thổi qua. Không thấy ai trả lời cách chào hỏi của mình, người lính đi lần theo con dốc, nón sắc kẹp bên hông, lẫm bẩm những câu hỗn độn với chính mình. Đến nơi ngã ba, anh nhìn lên bảng tên đường, chăm chú đọc như muốn tìm kiếm một điều gì quan trọng… Đường Hoàng Diệu, ở đây cũng có đường Hoàng Diệu như ở Đà Nẵng, cùng tên trường mình học lúc nhỏ ở ngoài đó, trước khi vô Nha Trang. Anh nói nên lời và thật sự cười thành tiếng vì nhận ra được một đầu mối quen thuộc thân thiết. Ánh mắt thoáng chốc bừng lên sống động – Cách vui vẻ tự nhiên, dễ dàng của tuổi trẻ để giải quyết lúc khó khăn, mối phiền bực. Nhưng cách thức giải quyết tạm thời nầy không thể kéo dài.. Chéo góc nơi anh đứng, đối diện bên kia đường, căn nhà sụp mặt tiền với những cột gỗ cháy dỡ, nám đen do trận pháo kích từ đêm trước, hai chiếc quan tài gỗ tạp chưa kịp sơn đặt song song, chông chênh trên những chân đòn thấp. Trước hai bát nhang nghi ngút tỏa khói, người đàn ông ngồi ôm đứa bé, gục đầu xuống gối không rõ mặt, cả hai đồng quấn dối vành khăn tang lấm vết đất đỏ như dấu máu. Đám tang không tiếng khóc. Lạnh tanh. Trước hai quan tài, có tấm bảng giấy viết nguệch ngoạt hai chữ cách khoảng: “mẹ, vợ”, ý chừng để phân biệt hai người chết gồm những ai và nằm ở vị trí nào.

Viên chuẩn úy cau mặt, anh ta không lường trước cảnh tượng thảm thiết đột ngột nầy nên băng nhanh qua đường, đi vào ngã rẽ thẳng góc với đường Hoàng Diệu, cố ý tránh xa căn nhà có đám tang. Bây giờ đi đâu ta? Anh (tự) nói tiếng rõ như thể đang hỏi một người bạn đứng cạnh, và cuối cùng, đến trước một quán ăn bảng hiệu kẻ chữ Trung Hoa, mặt tiền giăng cửa lưới ám khói, trần thấp, nhìn vào đầy khoảng tối. Viên chuẩn úy bước vào, lẫm bẩm… Kệ, vô kiếm gì ăn, chứ biết đi đâu bây giờ đây. Thật sự anh không hề nghĩ đến chuyện ăn uống, chỉ cốt quên đi nơi đáng sợ vừa thấy qua.

Người thanh niên ngồi ở sâu góc quán, im lặng nhìn xuống phin cà-phê nhỏ giọt. Tròng mắt anh xanh đen long lanh sáng hơn màn bóng tối của căn phòng. Khi gã lính trẻ ngồi xuống, anh khẽ liếc qua… Hai tia nhìn chạm trợt. Anh liền lãng tránh, nhìn xuống lại phin cà-phê, nhưng lòng đột nhiên có niềm an ủi vui vui, bởi vừa thoáng nghĩ… Ít nhất cũng có kẻ chia với mình buổi trưa ủ dột nặng nề nầy. Vệt nắng vàng úa yếu ớt dọi chéo qua ngạch cửa. Trời bắt đầu vào chiều, gió thổi bụi mù hanh hanh lạnh.

Bốn.

1975- Căn phòng thấp, không điện, người chủ quán đốt hai ngọn đèn bát thắp dầu cặn, khói đen bốc cao từ những tim khêu to, bám dày vòng muội đèn đen xỉn. Cuộc rượu im lặng một cách bất thường. Những người lính ngồi quanh chiếc bàn gỗ, trên bàn vỏ chai bia để đứng, nằm ngỗn ngang, những bàn tay đưa ra nắm lấy cổ chai, dốc ngược miệng chai lên môi, xong chậm rãi bỏ xuống. Không ly, cốc và cũng không một dĩa thức ăn. Người ngồi giữa bàn, đối diện với bát đèn, đưa cao ngón tay làm hiệu. Viên chủ quán bước đến… Ông chủ còn bao nhiêu bia đem hết ra đây cho anh em tôi, và tính tiền trước để tôi trả. Hai két bia được kéo đến, người vừa gọi bia cho tay vào túi trong áo field jacket rút ra nắm giấy bạc màu xanh nhạt, đưa cho người ngồi cạnh… Cậu tính giùm, trả cho ông ấy. Tiếng giấy bạc đếm xào xạc. Còn hơn năm ngàn thiếu tá. Người ngồi cạnh đưa lại số tiền thừa cho viên chỉ huy. Giữ luôn đi. Người vừa gọi là “thiếu tá” nói nhỏ lơ đãng, anh đưa cao một chai bia mới vừa mở lên môi sau khi lau qua trên thân áo. Người ngồi chung quanh cùng làm một động tác tương tự, tiếng rời rạc khẽ động khi những đáy chai để xuống mặt bàn.

Viên thiếu tá gõ gõ ngón tay lên huy hiệu màu đỏ trên vai áo trái… Các ông biết dấu hiệu nầy có ý gì không? Thì như mọi người thường hay nói… Là núi, sông mà sư đoàn mình phải cày cho đủ!! Một người nào đấy nói nhỏ, giọng phẳng lỳ, miễn cưởng. Nếu vậy thì tôi hỏi làm gì. Viên thiếu tá cười ngắn, lạnh lẽo… Nó chỉ số “mười một“. Mười một gì thiếu tá? Người hỏi có vẻ để ý, theo dõi. Nghĩa là hai vạch màu trắng chỉ số ”11 năm”- Nó báo cho biết – Tôi phải ở đây “mười-một năm”. Tôi đến đây từ “Sáu-tư”, bằng tuổi mấy cậu trung đội trưởng của ông Minh bây giờ. Viên thiếu tá chỉ tay vào người đối diện, mặt lẫn khuất bóng tối vì chiếc mũ vải vành nhỏ đội sụp. Người nầy hỏi tiếp, chỉ nhích miệng chai khỏi môi: Thiếu tá biết từ lúc ấy, hay sau nầy mới suy ra? Tôi mới biết ngay bây giờ. Đêm nay. Mười–một năm sau. Thôi mình uống hết “tua” nầy thì về. Mai còn có việc. Người chỉ huy dốc ngược chai bia vào miệng. Những bóng người chập chờn, dãy dụa trên vách tường, ngọn khói đen cuộn bốc mùi khét đặc. 

Từ đường Hai BàTrưng anh đi qua khu chợ, những dẫy nhà im lặng, đen sẫm hơn bóng tối nằm khuất lấp dưới tàng cây thấp, hiện hình những khối đen xao động mỗi khi có gió thổi qua rung cành lá. Anh thận trọng dò dẫm bước chân trên mặt nhựa phủ lớp đất đóng khô thành những mô, ụ nhỏ.. Chẳng lẽ ai cũng đi hết hay sao mà không có chút đèn đóm gì cả thế nầy… Hỏi vậy coi như không hỏi còn hơn, cứ trông thì biết thôi. Anh đặt câu hỏi, và trả lời để tự trấn an, nhưng chỉ sau khi đi một quảng ngắn, anh đã nhận ra việc rời nhà trong đêm giữa đường phố không người, không đèn là một điều nguy nan, thiếu tính toán. Việc làm vô nghĩa, vô ích. Thôi đã lỡ thì đi một vòng ngắn rồi về… Biết bao giờ mới trở lại. Anh thúc dục với mình khi chân tiếp tục lần về phiá trước. Khối trường học to lớn quen thuộc cùng ánh đèn dọi ra từ đồn Quân Cảnh nơi khúc quanh đầu đường Hoàng Diệu làm anh phấn khởi trở lại. Anh tự chế diễu: Chỉ bị thần hồn nhát thần tính, có gì đâu phải sợ, chắc vẫn còn nhiều người ở lại, nhưng do không ra khỏi nhà đấy thôi. Nhưng mối tự tin ngắn ngủi mong manh nầy phút chốc tan biến khi anh tới trước chiếc cổng khoá chặt của ngôi trường và nhìn dọc theo Đường Hoàng Diệu âm u không tiếng động quen thuộc của một khu phố chợ luôn sầm uất, sống động, dẫu trước đây luôn gánh chịu tình trạng chiến tranh nặng độ. Đường Hoàng Diệu đêm nay thăm thẳm lặng im với sự chết dần mòn tức tưởi. Tiếng chó tru thảm trước căn nhà kín cửa dài theo dẫy phố tối, gờn gợn bóng đen những thân cây thông sừng sững như những người khổng lồ bị xiềng đang cố chuyển động, xê dịch. Anh rung chiếc xích khoá cổng. Âm động cọc cạch, khẽ vang khô lạnh. Chẳng biết học trò và mấy anh, chị ấy ở đâu?! Anh không thể nghĩ tiếp như người kiệt lực gục ngã cuối một đoạn đường dài vừa chạy quá sức. Anh nhìn qua cánh cổng, tưởng như bóng tối có tầng lớp, lớp đen của khối nhà đậm hơn khoảng đen của khu sân. Họ ở đâu hết nhỉ… Trong một thoáng rất ngắn, anh thấy rõ lại khuôn mặt mỗi học sinh của tất cả các lớp, và cử chỉ, lời nói của từng thầy, cô giáo, buổi chào cờ khai trường đầu tiên – Tháng Chín, năm 1964 – Ngày anh đến đây, hai-mươi sáu tuổi. Cũng hôm ấy, anh mặc chiếc áo len cụt tay màu xanh, thắt cà-vạt đầu đời đồng màu với áo, có những hoa trắng nhỏ thêu chìm – Chiếc cà-vạt của M, mừng ngày anh ra trường sư phạm. Không thể chịu đựng thêm phần thấm đau của nhịp liên tưởng, anh rủ mạnh chiếc khoá cổng và bước đi. Theo thói quen, dẫu bóng tối dày, anh cũng đi đến cuối con dốc Đường Hoàng Diệu, rẽ trái, lên ngã rạp hát Diệp Kính, rạp chiếu bóng lôi thôi một cách thân mật, mà vào những đêm đi chơi khuya trước đây, anh luôn có ý định “vào xem trong đó có gì”. Ý định ấy đêm nay hóa thành niềm hối hận, như anh đã vô tình xem rẻ một cảnh trí nghèo nàn của nơi chốn trú ngụ thiết thân. Chẳng phải sau mỗi lần đi xa, anh đã luôn dùng cụm từ “về Pleiku” thay vì “lên Pleiku” một cách tự nhiên hay sao, cho dù anh về thăm nhà ở Nha Trang, nơi đã một lần với M.

Từ rạp Diệp Kính, anh đi tiếp đến hang đá Đức Mẹ với bước chân hối hả nôn nao. Cửa sắt rào trước hang hé mở, dãy đèn nến luôn thường trực thắp sáng đêm nay hình như nhiều và sáng hơn giữa vũng tối thoi thóp của Pleiku. Anh quỳ xuống bệ đá, nhìn lên pho tượng với đường nét tà áo, dáng đứng uy nghi, ánh sáng từ dãy nến hắt lên, soi rọi thấp thoáng khuôn mặt đau buồn muôn thuở. Lạy Mẹ! Anh kêu lên tiếng rõ, thấy hiện thật – Người Mẹ hằng xót thương – Hiện hữu với anh nơi giờ phút không chuyễn dịch, giữa vô hồi cùng tận thời – không. Khi vòng qua con đường nhỏ đổ xuống lại đường Hoàng Diệu, anh đi ngang quán ăn người Tàu mà đến bây giờ anh vẫn chưa hiểu nghĩa những chữ Hán viết trên tấm bảng hiệu, anh nhìn vào… Đám lính đang lục tục đứng dậy, ánh đèn dầu sau lưng họ làm cho căn phòng trở nên đông đúc. Anh bước vào với nỗi hân hoan vớt vát… Đấy, còn bao nhiêu là người. Vẫn còn nhiều người ở lại. Còn người. Còn người mà… Anh lớn tiếng chào những người lính… Chào các anh. Chào các bạn. Anh nói lớn, nhấn mạnh nồng nhiệt chữ “bạn” một cách cố ý. Mời các bạn ngồi lại thêm một lát, tôi xin được mời các bạn uống với tôi một chai bia. Người đứng trước đám lính trả lời khi đội chiếc mũ lưỡi trai lên đầu… Cám ơn ông, cám ơn, chúng tôi vừa uống xong, mà cũng hết ráo cả bia, bọt, và…Xin lỗi, ông làm gì mà giờ nầy còn đây?! Người chủ quán ý chừng muốn nhanh chóng đóng cửa, vội chen vào: Ông thầy giáo đó mà, ông thầy dạy học ở trường con trai, con gái. Trời đất, giờ phút nầy còn dạy ai nữa đây hỡ ông giáo, ông ở đâu, chúng tôi đưa về, rồi lo chuẫn bị mà đi đi. Người lính kêu lên, vỗ vai anh ái ngại, thúc dục. Cơn vui vẻ sống động chợt mất hẳn. Đường thở anh nghẹn thắt. Và như để chấm dứt níu kéo vô vọng trong lòng anh… Toàn thị xã bỗng dưng đỗ dồn cơn thác lũ ầm vang tiếng nỗ, và hồi còi báo động rên siết luồng sâu, chập choạng với bóng tối bắt đầu biến dạng nên thành vũng lửa đỏ hồng hừng hực. Dọt! Ông thầy giáo ở đâu chúng tôi đưa về! Anh được người lính đẩy lên xe mau chóng.

Năm.

Viên Tướng Tư Lệnh vùng, nét mặt khắc khổ, nói cùng người chỉ huy đoàn quân với giọng xúc động: Toàn bộ lực lượng trong vùng chỉ còn một mình tiểu đoàn anh. Tôi biết, một tiểu đoàn khó xoay chuyển gì được với tình hình nầy, nhưng chúng ta không còn chọn lựa nào khác. Trong Ban Mê Thuột, họ trông mình từng phút, ở đó cũng là gia đình của các anh. Anh có thể cho tôi phần hy vọng nào không? Viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng thật sự tuổi chỉ khoảng vừa quá ba mươi, nhưng bởi lo toan chiến trận và trách nhiệm chỉ huy nên đã biến dạng thành cằn cỗi, khô khan. Anh trả lời rung động, nhưng không kém phần quyết tâm: Trại gia binh tiểu đoàn tôi đang bị Việt cộng chiếm đóng, nếu thiếu tướng không ra lệnh, chính binh sĩ, họ sẽ yêu cầu cho nhảy vào trong đó. Riêng tôi, tuy không phải là người ở đây, nhưng cũng đã cùng sống, chết hơn mười năm với đơn vị, nên Pleiku, Ban Mê Thuộc, Komtum nầy đã là “nhà” chung của chúng tôi, vậy chỉ xin thiếu tướng nói vài lời với anh em.. Riêng cá nhân tôi, xin hứa tuân lệnh tuyệt đối của một người chỉ huy.

Viên thiếu tá hô lớn: Chào tay.. Chào!! Toàn bộ ban tham mưu, và sĩ quan Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 45, Sư Đoàn 22 Bộ Binh đồng đứng thế nghiêm, chào tay chạm vành nón sắt. Gió buổi sớm vùng Tây Nguyên se sắc lạnh làm sớ thịt ở hàm họ siết cứng lại, tăng thêm vẻ chịu đựng bi tráng quả quyết của những người biết chắc sau những giờ phút ngắn ngủi nầy, phần thãm họa ắt sẽ đến mà chính họ, và những người lính dưới quyền phải hứng chịu toàn diện.

Viên thiếu tướng đứng lên trên chiếc xe jeep mui trần của tiểu đội quân cảnh hộ tống, gỡ nón sắt cầm tay, như để tựa vào một điều chắc chắn trong giây phút nguy nan, cảm khích. Các anh em… Tiếng nói khàn đục chợt tắt.. Các anh em, trong đó, trong Ban Mê Thuột, Việt cộng đang tấn công, chiếm giữ trại gia binh. Các anh em phải về lại trong đó, tôi có mặt với binh sĩ, tôi có mặt với anh em ở bãi đỗ quân quận Phước An, tôi cũng sẽ có mặt với anh em nơi Ban Mê Thuộc, ngày mình chiếm lại. Anh em hãy quyết chí với tôi…

Quyết chiến! Quyết chiến! Hàng quân đồng đưa cao vũ khí, nhưng có những người lính khác thường, không nón sắt, không súng đạn, đưa lên những vật phẩm kỳ lạ – Những đứa bé còn ẵm bế trên tay. Đấy là những người vợ lính theo chồng ra nơi tiền trạm hành quân, nay cùng chuyến đổ quân trở về trại gia binh. Lời thề quyết chiến của những người đàn bà nầy được nghe rõ do thanh sắc trong trẻo, nhỏ bé, theo gió bay lan xa trên sân bay trực thăng núi Hàm Rồng trước giờ trực thăng cất cánh đỗ quân giải tỏa Ban Mê Thuột. Khi bay trên không phận bãi đáp Phước An, từ trực thăng chỉ huy, viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh mới: Thay vì từ bãi đáp Phước An, theo như lệnh hành quân đã phổ biến, đơn vị tiến theo hướng Tây-Tây-Bắc, cố gắng liên lạc với Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân đang cố thủ những vị trí còn lại trong thị xã, nay tiểu đoàn chuyển hướng hành quân, băng rừng về Đèo Khánh Dương, giữ đường xuống Nha Trang. Viên thiếu tá gào to uất hận: Xin cho biết giới chức nào ở đầu máy? Tôi là thẫm quyền mới của anh, dứt. Dưới tàu của viên tiểu đoàn trưởng, từ đuôi một trực thăng đỗ quân bốc đường khói đen dài, thân chiếc tàu bị nạn xoay tròn như con vụ, những thân người rơi ra vương vãi… Những chấm đen tơi tả, phần phật cháy như đốm lửa pháo bông.

Sáu.

Anh cột hai chiếc bình ny-lông đựng xăng và nước uống vòng qua nắp xăng chiếc honda, bỏ những gói mì ăn liền vào chiếc túi xắc cột túm miệng, xong đeo vòng sau lưng như một bịch tượng gạo, đội chiếc nón lưỡi trai, đeo chiếc kính dâm to bảng, quấn chiếc khăn lớn quanh cổ. Anh nhất nhất làm theo lời nhắc nhở như ra lệnh của ông chủ nhà chỗ ở trọ… Thầy nhớ mang theo chai dầu gió, cái áo bờ-lu-dông lỡ trời mưa, phần để ngủ đêm khỏi lạnh. Nhưng làm sao tôi trả được chiếc xe nầy cho bác, nếu tôi không về lại đây? Thầy không về đây thì thầy đi đâu, trường ni là của thầy mà, thầy đã không nói với tui như rứa à, thôi, thầy cứ đi đi, đừng thắc mắc. Ông lão chắc giọng. Nhưng nếu tôi không trở lại được? Anh vẫn chưa muốn rời bỏ căn nhà đã hơn mười năm cùng chung sống với những con người trung hậu, tốt lành như một điều tự nhiên. Tiếng nổ đầu đường Hai Bà Trưng, nơi con dốc đỗ xuống Ty An Ninh Quân Đội chấm dứt nhanh câu chuyện, ông lão chạy vào nhà sau khi chỉ kịp hối thúc, khẩn cầu lần cuối. Trời đất ơi là trời.. Tui xin thầy, chạy đi thầy ơi! Anh lên xe, thân hình hơi chao đão vì gói đồ lệch về một bên, hít hơi dài trước khi rồ máy. Anh nhận thấy trong không khí có mùi khét lạ nhưng không kịp tìm hiểu, vì gió thổi thốc đám khói dày nhầy đục mùi dầu cặn từ khu canh nông bị đốt cháy đang bừng bừng cuồng cuộn bốc cao. Anh có ý định ghé qua hang đá, nhưng khoảng dốc bị chắn lối bởi dãy cây thông lề đường gãy đổ do đợt pháo kích từ đầu đêm, và hai xác chết nằm kẹt dưới những cành lá. Họ là ai, và chết từ lúc nào… Chẳng lẽ là mấy người lính hoặc là ông Tàu chủ quán?! Nhưng mối băn khoăn nầy đồng tan mất, khi anh nhập vào đoàn người, xe nhốn nháo, đông đúc dồn ứ nơi ngã ba Thanh An, theo Quốc Lộ 14, xuôi xuống quận Phú Bổn. Những người nầy tối hôm qua họ ở đâu?! Anh chợt nhói cơn đau vì ý nghĩ: Hóa ra học trò mình và bao nhiêu người đã chịu khổ nạn từ rất lâu – Tai họa gắn chặt với từng ngày họ cố vượt sống – Khoảng đường dài bất tận mà giờ đây, anh mới chạm bước đầu.

Anh không biết mình đang đi đến đâu, với những phương tiện gì, hôm nay là ngày thứ mấy? Chiếc xe honda đã bị bỏ lại từ ngã Ba Mỹ Thạch, chỗ Quốc Lộ 7 và Đường 14 do mắc lầy dưới một vũng ruộng cạnh đường, và bị đoàn xe thiết giáp chạy đè lên, anh chỉ kịp tháo bình nước uống và chạy vụt đi với túi đựng thức ăn. Kính đeo mắt, khăn choàng cổ lần lượt bị rơi mất khi anh cố trèo lên chiếc xe hàng, chỉ với một chân gác được vào bục lên xuống, chân kia phải thòng ra ngoài hứng chịu cành cây đập dập liên hồi trong suốt chặng đường di tản vào ngày thứ nhất – Chỉ một ngày kể từ từ khi rời Pleiku. Nhưng chiếc xe hàng không chạy được bao xa, bởi khi đang qua một đồi thấp, thân xe bỗng nhiên bị xô hẳn về phía vực sau một loạt tiếng nổ bên cạnh sườn phải, và chiếc xe chao đão nghiêng dần xuống vực bên trái đường đi. Anh bị ném lên bãi đất cỏ, và ngất đi trong một khoảng khắc ngắn, trước khi đầu máy xe cắm ngược xuống gềnh đá. Khi gượng đứng dậy được, anh nghe trong xe âm âm lời kêu gào tắt nghẹn của những người bị ngộp thở do bụi mù và cột khói bốc lên từ đầu máy, anh bật chạy xuống đáy vực với một nhanh nhẹn không lường trước. Cứu giùm, cứu giùm họ, bà con ơi, bà con ơi… Anh cố sức kéo búi cỏ, bụi lùm bịt kín cửa sổ bị lèn chặt giữa khối nặng của thân xe và sườn đá núi nhưng không thành, cuối cùng, anh nắm một bàn tay thâm tím đang thò với ra, những ngón tay rẩy rẩy, day day. Anh tuyệt vọng nhìn chung quanh để tìm cách cứu người bị nạn đang kẹt trong xe. Từ vực đá lên đường đi, thây người nằm vươn vãi, lầy lềnh, bê bết máu.

Những sự kiện đau thương trên diễn ra suốt từng phút giây của mỗi ngày, trên mỗi thước đường anh đi qua. Và khi đêm đến… Đêm anh vào đến một phố chợ, hay một quân lỵ nào đó với hai dãy nhà gạch nằm theo con đường chính mà phần mặt phẳng bị lấp đầy, dồn ứ bởi xác tất cả các loại xe, các loại súng và chồng chồng thây người bầm dập chen chúc giữa đống vật chất tan nát. Tất cả đang nghi ngút bốc cháy. Lửa chập choạng, rùng rùng, ngập ngập. Và đêm được nối dài tiếp chiều tối bởi ngọn lửa nhân tạo nầy, thế nên, anh chỉ biết được trời đang vào đêm khi vô tình nhìn lên khoảng không, lúc màn khói bị gió tạt loãng, và bất chợt nhận ra mầu trăng lưỡi liềm mỏng vàng đục đã xuống chênh chếch trên đầu rặng núi. Trăng xuống thấp như kia chắc mới vào đêm, vậy mà mình cứ tưởng mới vừa hết buổi chiều. Cũng là lần cuối cùng anh nhìn lên bầu trời trong suốt chặng đường chạy loạn. Thật sự, anh không còn khả năng suy xét, phân tích, phân biệt giữa xác thân còn sống của chính mình và sự chết tầng tầng, vây quanh theo từng thước đường anh đi qua, dầy đặc lượng khí trời anh hít thở. Và tiếp lần anh qua dòng sông. Câu chuyện những tầng điạ ngục từ các chuyện hoang đường là đây – Trên chiếc cầu gồm những tấm vĩ sắt ghép vội – Những tấm vĩ sắt được đặt trên những phao cao su lớn, cột chặt bởi những giây cáp bằng thép để tránh dòng nước xô đẩy. Thoạt đầu, thân cầu hơi bị lệch lạc, chồng chềnh khi giây xích chiếc chiến xa hạng nặng đầu tiên chạm vào đầu mé cầu phao, nhưng một quả đạn pháo đã nổ bùng chính xác trên bờ sông bắn tung đám người đang chờ đợi qua cầu, đồng thời hất nghiêng chiếc xe xuống dòng nước. Những người lính vùng vẫy, cố thoát khỏi lòng xe, nhưng khối nặng chìm nhanh hơn, kéo theo những cánh tay cố vẫy vùng trên thành pháo tháp chiến xa. Chiếc xe bị nạn vô tình biến thành điểm tựa cho những người lính công binh thay thế chiếc phao cao su bị phá vỡ, và những xác người trong chiến xa đồng thời cũng biến thành vật cản ngăn dòng chảy. Qua thêm một giờ, qua thêm một buổi, có thêm nhiều xe và người bị nạn, dòng nước trở nên trì chậm và người sống sót tìm đường vượt chết trên thây xác đồng bào mình. Không ai còn có thể nghĩ  dưới đáy nước đỏ nhừ máu có lớp lớp người chết dập.

Hậu Từ.

Anh có tâm trạng sống – trong- cảnh- chết nầy khi về đến Đèo Rù Rì vào một ngày cuối tháng Ba, với tiếng biển biền biệt mà anh nghe rõ tận sâu trong từng âm sóng hờn oan. Lần đầu tiên từ rất lâu, anh mong một lần được bật lên tiếng khóc. Từ đèo Khánh Dương, tuyến phòng thủ của đơn vị nhảy dù, viên Thiếu Tá Tiểu Đoàn Bộ Binh Sư Đoàn 22 giải tỏa Phước An được trực thăng đưa về tổng hành dinh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, nay đặt tại Đại Khách Sạn Nha Trang, để trình diện viên tư lệnh. Anh không thể nghĩ rằng người ngồi gục trước mặt anh là vị tư lệnh cơ trí, can trường mà anh đã từng tiếp xúc, nghe tiếng đồn ngợi khen từ bao năm nay, vị tướng lãnh độc nhất của quân đội miền Nam, các cấp bậc từ thiếu úy đến thiếu tướng chỉ được thăng cấp tại mặt trận. Người chỉ huy toàn chiến trường vùng duyên hải, cao nguyên, nay đã là hiện thân của suy sụp và tuyệt vọng. Ông im lặng bắt tay viên tiểu đoàn trưởng và thều thào tiếng nhỏ, ngắn, hụt hơi… Cám ơn, cám ơn. Và ra hiệu anh đi ra. Viên thiếu tá ra bãi biển bởi anh không biết mình phải đến trình diện ai, làm những gì?! Đơn vị còn lại đúng ba người, anh và hai người lính mang máy truyền tin, nay đang ngồi dựa vào thân cây dừa ngủ mê mệt. Anh đến sát mé biển, đặt bàn tay xuống nước, nhìn ra khơi xa. Trên khoảng tối xao động, sóng biển long lanh sáng hơn màn đêm đen có những chấm vàng rơi rớt. Anh nhìn lên trời, trăng qua đêm rằm méo mó, vàng đục, lệch lạc như trái bưởi khô héo treo trên cành cây nám cháy. Gió thổi có hơi nóng của khí trời đang ủ giông. Anh nhìn dài theo bãi biển, những nhóm người ngồi, nằm ngỗn ngang im lặng bên cạnh những khối lớn xiêu vẹo – Đoàn chạy loạn sống sót từ vùng cao, đêm nay, dừng lại với lều trại tạm trú cột vội bên cạnh thân những chiếc xe đã đưa họ về đến bãi biển nầy. Có người đứng nơi mé nước, thân hình như thể xao động, muốn ngã xô vào lớp sóng, bởi khối đen nhập nhòe pha lẫn mầu trăng và thủy triều thiêm thiếp vào ra, nhưng thật ra người chỉ đứng yên nhìn xuống nước. Đột nhiên anh nhói sắc cảm giác nôn nao của sớm xuân mới, Tháng Ba hai-mươi năm trước, một mình ngồi trên bãi biển nầy, nhìn sóng nhỏ rì rào xô dạt trên bãi cát tươi ướt, và câu nói bất chợt nhưng luôn được nhớ lại hằng bao năm qua, mỗi khi anh có liên tưởng về biển: “Ở Nha Trang, biển hôm nay sớm quá chưa ai tắm” Và hình ảnh người thanh niên lẻ loi trước biển trong buổi sáng lắng im. Đêm nay, trên bãi biển tuy có nhiều người nhưng chập chùng nỗi hoang vắng thê lương của cảnh tận diệt. Không còn người mà chỉ là hình hài mờ nhạt, tan vỡ của họ sau lần căng thân hứng chịu tận sâu nỗi chết – Con người đã hoàn toàn hũy hoại, chỉ còn lại âm vọng thương tâm trên triều sóng nước với tiếng biển gào động thăm thẳm nỗi đau.

Một mình. Người với biển.

Tháng Ba,

Viết lại, Nha Trang-Pleiku/ VN- Cali/Nước Mỹ Sau 71 năm (1955-1975-2026)         

Câu gì em nói nhỏ

Thơ Lâm Chương

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Em hẹn tôi về thăm quê cũ
Sau mấy năm lây lất xứ người
Tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ)
Về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.

Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua
Tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ
Trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ
Em lí nhí nói câu gì rất nhỏ
Như nói thầm với cái rét se da
Của một chiều cuối đông năm ấy.

Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại
Dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn
Bông mía trắng cả một vùng thương nhớ
Gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình
Nhà em ở cheo leo cuối xóm
Hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn
Che bóng mát cho em ngày nắng.

Tôi ở đây những mùa đông trắng
Lấy gì che đời vắng em xa
Em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi
Ngày chia tay em nói nhỏ câu gì
Trong cái rét một chiều đông năm ấy?