Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Sau một giờ mặc niệm

Xin một phút bồi hồi

Cho triệu anh em mất còn trong cuộc chiến,

Cho người dại khờ và kẻ tính khôn

Xin cúi đầu thật thấp trước oan hồn

Ở hai phía quân thù và bè bạn.

Ngày dâng nến rưng rưng hàng mộ trắng

Chiều ngùi ngùi sương khói chiến trường xưa,

Mỗi nấm mồ xin phủ một lá cờ

Và khấn nguyện chung một lời vĩnh biệt:

“Thôi, lần cuối xin Người tha thứ hết

Tha thứ cho nhau – tha thứ cho đời»

Bởi, dù sao mình vẫn một giống nòi

Cùng kiêu hãnh và chưng tủi hồ

Chung một kiếp đọa đầy và khổn khổ

Sau hơn hai-mươi năm xâu xé tan hoang

Giữa triệu anh em cùng tên gọi Việt Nam

Kèn u uất lay ngọn cờ buồn rủ

Xin thắp lên nhang nến hai hàng,

Sau một giờ mặc niệm

Xin một phút bàng hoàng …

Miếng ăn

Cao Xuân Huy

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Hình minh họa

Tôi đã giữ được bao nhiêu năm, nhưng rồi cuối cùng, vẫn bị vướng vào một điều nhục nhã: miếng ăn. Tôi là một thằng vô sản chuyên chính, vì cả ba bốn năm nay tôi luôn luôn là con bà phước, không bao giờ tôi có quà cáp, đồ ăn thức uống gì được gửi đến hoặc được dem đến tiếp tế từ những người thân ở ngoài đời, Ngoài tiêu chuẩn ăn uống hằng ngày của trại cấp phát, tôi phải tự “mưu sinh” để được bồi dưỡng bằng những con cóc, con nhái, con rắn, con chuột ở ngoài ruộng, ngoài rừng trong những lúc di lao động, chi có những con vật nào không nhúc nhích hoặc nằm ngữa mới thoát khỏi cái mồm của tôi, huặc tôi đã tự “cải thiện” bằng rau má, rau tàu bay, cây và bắp chuối rừng … Tóm lại, vừa tiêu chuẩn của trại, vừa kiếm chác thêm, tôi đã cầm cự được với cái đói trong nhiều năm nay. Nhưng, nếu sự đói khổ, thiếu thốn dược chia sẻ, phân phối đồng đều cho mọi người trong cùng một hoàn cảnh, tức là mọi thằng tù đều vô sản như nhau, không có cách biệt nào của kè thiếu người thừa, thì sự thiếu thốn được cám thấy nhẹ hơn, ít hơn. Đằng này, tuy củng một hoàn cảnh tù tội như nhau nhưng có những thằng vô sản như tôi, mà cũng lại có những thằng tư bản, lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm luôn luôn đầy đủ, đầy đủ đến độ thửa thãi, thì sự thiếu thốn của những thằng vô sản không thể nào cảm thấy nhẹ nhàng, dễ khắc phục được. Hằng ngày nhìn người khác ăn uống thoải mải, mức dộ thèm thuồng của tôi được tăng lên theo cấp số nhân, quay quắt hơn, bất ổn hơn.

Vào những ngày cuối năm, trời lạnh, thưởng thì vào buối tối, sau khi học tập chính trị bằng cách nghe đọc báo, sau khi kiểm điểm công tác lao động trong ngày và sau khi điểm đanh tối là đến giờ ngũ, giờ sung sướng, thoải mái nhất trong sinh hoạt mỗi ngày của chúng tôi, giờ mả mọi người chờ đợi trong ngày để nghỉ ngơi, để dưỡng sức, thì chính lúc này mới lại là lúc tôi bị hành hạ nhiều nhất. Trước khi ngủ, những tay bạn tù nằm cạnh, nằm quanh ít ra cũng có miếng đường, thìa bột cho vào mồm làm ấm dạ dày, có điếu thuốc “thẳng”, có “bi” thuốc lào làm đê mê đầu óc trước khi sống lại những cảnh no đủ, ấm cúng và hạnh phúc trong giấc mơ. Còn tôi, vì là thảnh phần bần cố nông cốt cán nên thay vì có miếng gi đó nhét vào mồm giống như người ta, tôi chỉ có đủ khả năng “làm” luôn một lơn gô đầy nước lạnh để đánh lừa dạ dày. Vì đánh lừa dạ dày bằng nước, cộng với trời lạnh bên ngoài nên nước trong người tôi được thải ra thật nhanh qua ngã tiểu tiện. Vì phải ra ngoài trời lạnh đi đái nên nhiệt độ trong người giảm xuống cũng thật nhanh, đắp một cái chăn cũ không đủ ấm nên lạnh. Vì lạnh không ngủ được nên cái đói kéo đến hành hạ. Vì đói mà không có gi ăn nên lại phải uống nước để đánh lừa dạ dày. Vì làm đầy dạ dày bằng nước nên đi đái. Vì đi đái ngài trời nên lạnh. Vì lạnh nên ngủ không được. Vì ngủ không được nên đói. Vì đói nên phải uống nước … Cái vòng luẩn quẩn đói, uống, đái, lạnh, mất ngủ, đói, uống, đái, lanh, mất ngủ, đói … cứ như vậy quần tôi cho hết dêm. Cái đói và cái rét là một “đôi bạn chân tình”, vậy mà tôi còn bị cái đói hành hạ trong mùa rét nơi rừng núi miền Trung thì quả là đến nơi đến chốn. Để chống lại cái vòng luân hồi quái ác diễn ra hằng dêm như vậy, những thằng bạn tù bần cố nông như tôi đã tổ chức “đi bay”. Những chuyến “bay đêm” thật hấp dẫn, vừa kích thích lòng mạo hiểm, vừa có những chiến lợi phẩm có giá trị thiết thực cho dạ dày. Những củ khoai, củ sắn sống nhai nghe ròn tan trong những cái chăn trùm kín mít, những tiếng cười khúc khích hả hê cũng “ròn tan” thỏa mãn cho dạ dày cứ xoáy mãi, xoáy mãi vành tai tôi từng đêm, từng đêm. Trong hàng ngũ những kẻ “bay dêm”, có loại lương thiện và ít mạo hiểm là những người khoanh vùng mục tiêu ở những nơi “oanh kích tự do” là những vạt sắn, vồng khoai quanh trại. Tuy là vùng “oanh kích lự do” nhưng đôi khi những tay “phi công” loại này cũng có người “gãy cánh đại bằng”, bị đem ra “vặt lông” trước “tòa án nhân dân” hoặc “cắt tiết” ngay tại chỗ tùy theo mức độ buồn vui của cán bộ trại nằm phục kích. Có loại rất “sịn” là những tay chỉ chấm một vài mục tiêu cố dịnh nằm sâu trong lòng địch, những “cứ diểm trọng yếu”, những “căn cứ chiến lược” của địch là nhà kho, nhà bếp của cán bộ trại. Loại “phi công” này dễ bị “bắn rơi” hơn nhưng oai hùng hơn và được sự thán phục của đám bạn tù. Còn một loại hèn nhát và vô liêm sĩ, không cần biết một điều gi khác ngoài cải dạ dày của mình, chuyến “bay” loanh quanh những mục tiêu gần như an toàn tuyệt đối trong vùng đất của minh, là những ba lô, túi, sắc, của đám bạn tù tư bản nằm chung trong lán.

Theo nội quy và những diều quy định của trại là ai làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, không làm thì không ăn … Tôi có một quan niệm và thái độ rất đứng đắn và sòng phẳng với nội quy, tuy tôi có đổi vế của điều lệ, tôi chỉ lao động ở mức độ tương ứng với số lượng calories tôi nhận được hằng ngày theo tiêu chuẩn của trại cấp phát – dĩ nhiên không kể số lượng thực phẩm mà tôi đã “cải thiện linh tinh” được – cho nên tôi luôn luôn bị phê bình mỗi tối khi kiểm điểm công tác trong ngày,và luôn luôn dược “bêu dương” trong mọi lần bình bầu những người lao động tốt vào mỗi cuối tuần. Được “bêu dương” là một thành tích mả lôi vẫn ngầm hãnh điện vì nó thuộc vào tội “hộ” chứ không phải là tội “hình” như những chàng “phi công” bị gãy cảnh. Cho nên đói thì đái, tôi không gia nhập vào một “phi đoàn” nào, tức là tôi không thuộc vào một nhóm “phi công” nào hết.

“Miếng ăn là miếng nhục, dủ có thiếu thốn đến đâu đi chăng nữa, dù có thèm thuồng đến đâu đi chăng nữa, miếng ăn vẫn không thể nào làm nhục con người của mình được. Đừng bao giờ đễ cho người ta khinh mình, chửi mắng mình vì miếng ăn”. Tôi đã tự ra lệnh như vậy và tôi dã thi hành lệnh nảy một cách triệt để và nghiêm túc trong suốt mấy năm trời nay. Lệnh này được tôi đặt ra tử những ngày Sải Gòn chưa mất, những thằng tủ chúng tôi vẫn còn trong tư thế hiên ngang của những thẳng tù binh, tiêu chuẩn lương thực 7 lạng gạo mỗi ngày – của đồng đội, thời gian ở nhà binh, tiêu chuẩn 700 gram gạo mỗi ngày bị ăn xén ăn bớt chúng tôi ăn vẫn côn không hết, vậy mà 7 lạng gạo trong tù dù có bị cân thiếu, có bị mối mọt, chúng tôi cũng không thế nào bị đới đến độ … Trong một buổi sảng tập thể dục, cán bộ trại đã thông báo một chuyện vừa xày đêm hôm trước, “thau cơm của chó đã bị ăn cắp hết sạch”. Ai ăn cắp? Có thể là đám tù chúng tôi – dĩ nhiên là nếu thau cơm của chó bị đánh cắp chỉ còn ai ngoài đám tù – cũng có thể là thau cơm của chó đã không bị mất cắp. Ai mà biết chuyện này có thật hay không, ngoại trừ mấy người cán bộ đưa tin và người ăn cắp nếu có. Tuy nhiên, dù có hay không, dủ dúng hay sai, vấn dề miếng ăn phải được cảnh giác và bắt buộc phải được đặt vào vị trí đi song song với danh dự của con người, nhất là danh dự của những thằng vừa bị ngã ngựa như chúng tôi, tuy là tù binh nhưng lại nhìn bọn cai tù chỉ là một lũ người bị khinh miệt một cách đáng thương. Vật chất không phải là cứu cánh của đời người. Ít ra, lúc này, ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn. Nhưng, giữ không cho bị nhục vì miếng ăn không phải là một chuyện dễ làm trong một chế độ trại tù mà cán bộ luôn luôn bỏp chặt dạ dày, luôn luôn dùng miếng ăn để chi phối tinh thần, để bắt đám tủ lúc nào đầu óc cũng chỉ nghĩ đến làm cách nào để kiếm chác một thứ gì hầu nhét cho dầy đạ dày. Nếu bị đói một ngày, hai ngày, một tuần, hai tuần, người ta có thể cưỡng chống nối một cách dễ dảng sự cám dỗ của miếng ăn, nhưng nếu, cái dói, cải thèm đeo đẳng hành hạ con người hết ngày này tháng nọ, năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào cái đói cũng bám chặt lấy dạ dày, cái thèm lúc nào cũng bám chặt lấy đầu óc, đến nỗi một cục muối bỏ vào miệng ngậm cũng còn thấy ngọt, thì chuyện giữ nổi cho mình không bị nhục vi miếng ăn thì quả là một vấn đề lớn.

Lòng cương quyết của tôi về miếng ăn đã nhiều lần bị chao đảo. Tôi đã cố gắng tránh nó tất cả mọi bữa ăn “hàm thụ” của bạn tù trong những lúc rảnh rỗi. Tôi cũng đã cố gắng từ chối lời mời tham dự vào những “chuyến bay” của đám bạn bẻ “phi công”. Đôi khi tôi cũng được mời ăn “liên hoan” trong chăn, nhưmg vì quan niệm phải sòng phẳng, có làm mới có ăn, nên tôi đã không cho phép được tham dự những bữa “liên hoan” và thực tế cũng không ai muốn mời một thằng chỉ “liên hoan” mà không bao giờ chịu “đi bay”, nên cuối củng, những tiếng nhai, những tiếng cười “ròn tan” trong chăn lại cử xoáy mãi, xoáy mãi vào tai tôi từng đêm, từng đêm. Nhưng tất cả chỉ có vậy thôi thì tôi dã không có gì để kể. Ngày thăm nuôi vừa rồi là ngày giáp Tết. Ai cũng háo hức ra gặp thân nhân, rồi sau đó là gồng, là gánh, là ôm, là vác những túi, những xách,  những bao bố đựng đầy những thứ mà đã mấy năm rồi tôi chưa được một lần nếm lại, nào là bánh chưng, nào là bánh tét, nào là đường là đậu, nào là thịt là cá, nào là gà ram, nào là lạp xưởng, nào là thuốc lào, thuốc rê, thuốc thẳng, nào là kço, bánh, mứt – tình cảm gia đình dược đánh giá, được cân đo bằng sức nặng của những túi quà thăm nuôi mà – và vì là ngày Tết nên số lượng quà cáp không bị giới hạn, Ngày thăm nuôi giáp Tết này được coi như một ngày hội lớn, một ngày nhộn nhịp thật là nhộn nhịp, một ngày ăn uống ê hể thật là ê hề. Chỗ này ngong ngóng nghe loa gọi tên ra thăm nuôi, chỗ kia ơi ới gọi nhau mời mọc.

Tôi biết thân tôi, một thằng không bao giờ nhận được thư nhà chứ đừng nói là quà cáp hay thăm nuôi, nên tội đã phải trốn lên phòng đọc sách để ngồi chổ vắng, để tránh xa cái ê hề, cái nhộn nhịp của một ngày thăm nuôi gần Tết. Tội không ngong ngóng vì biết chắc chẳng có ai thăm nuội. Tôi không lượn qua lượn lại để người la thấy mặt người ta thương hại người ta bố thí cho một lời mời, vì không bao giờ tôi có gì để mời lại họ, có qua có lại mới toại lòng nhau chứ. Và chắc chắn cũng chẳng có ai thèm mời tôi vì tôi thường xuyên từ chối lời mời của họ, mất công mang ơn, mất công nghe kể lể. Nhưng nếu đàn nhà ai nấy sáng thì cái đói dã không quay quắt tôi bao nhiêu, đằng này, thể theo lời đề nghị của đa số trại viên – dĩ nhiên là những tay có thăm nuôi – tiêu chuẩn ăn của những ngày thăm nuôi giảm xuống còn một nữa, nữa còn lại để dành để thêm thắt cho những ngày sau, mà mỗi mâm ăn vẫn phải chia đều cho đủ phần sáu người. Với đủ tiêu chuẩn lương thực trong ngày đã không thể làm đầy dạ dày, vậy mà tôi chỉ có được một nữa tiêu chuẩn trong bụng ngồi bên cạnh những kệ sách thu hoạch năm tấn, mười tấn mỗi héc ta, chủ nghĩa bách chiến bách thắng, sỏi đá cũng thành cơm …để trốn cái thèm thuồng, cái đói khát. Tôi ngồi mặc đói, mặc lạnh để tránh phải nhìn cảnh những thằng bạn lù lăng xăng nấu nướng, phủ phê ăn uống. Tôi không muốn ai thương hại tôi, tôi không muốn phải thấy những cặp mắt “thương xót”, Tôi không muốn nhận của bố thí – nếu có – từ lòng thương hại của những kẻ đã thừa mứa. Tôi cử ngồi một mình chịu đói, chịu lạnh như vậy cho đến khi kiểng điểm danh đêm tôi mới trở về lán. Đêm này, dêm của ngày thăm nuôi nên chỉ có diểm danh mà không có kiểm điểm công tác, không có đọc báo để học tập, nên từ lúc điểm đanh đến lúc ngủ thời gian còn lại kể cũng khá dài. Mọi người lại quây quần ăn uống. Tôi không thể ra ngoài vì trời đã quá lạnh, đành phải về chỗ nằm. Cứ hai cái chiếu rộng một thước là ba người nằm. Khốn khổ cho tôi là tôi lại nằm giữa hai tay tư bản gộc. Hai tay tư bản này nấu một nồi chẻ lớn, mời bạn bè cùng giai cấp đến ăn. Tôi phải nằm co chân lên cho họ có chỗ ngồi. Chăn trùm kín đầu, mắt nhắm nghiền nhưng nào tôi có ngủ được, tất cả mọi tiếng động chui vào tai tôi rõ mồn một, kể cả những tiếng động nhỏ nhất. Tiếng khoắng môi múc chè, tiếng húp chè xùm xụp, tiếng kéo thuốc lào xòng xọc, tiếng nói cười tràn đầy thỏa mãn.

Tiệc tan, mọi người giải tán, hai tay tư bản cạnh tôi vừa dọn dẹp vừa nói với nhau:

“Còn một tô, mày ăn nốt đi,”

“No thấy mẹ rồi còn ăn gì nổi nữa. Mày ăn đi”

“Tao cũng ăn hết nổi rồi, mà đổ đi thì uổng, Hay mình chia đôi.”

“Đổ đi, Chiỉcần húp thêm một miếng nữa là tao ọc ra hết.”

Người tôi run lên bần bật, tôi mím mội, banh hàm, nghiến chặt răng, nuốt liên tục mà sao nước dãi cứ ứa ra, đầy mồm rồi trào ra mép. Với một sự cố gắng vượt bực, tôi vẫn không thể kềm giữ nổi nước dãi, nước mắt tôi cũng tự động ứa ra, không hiều tại sao. Đưa tay quẹt mồm và dụi mắt liên tục vẫn không ăn thua gi. Trời ơi, tôi bất lực rồi, tôi không còn kiểm soát được tôi nữa rồi. Tôi thua cuộc rồi. Tôi lẩm nhẩm, cầu xin trong đầu: “Mời tao đi, mời tao một tiếng, một tiếng thôi. Hãy mời tao một tiếng để cho tao từ chối. Có dược mời và tiếng tử chối dược phát ra thành tiếng, nước dãi tao mới hết chảy. Mời tao di, mời đi, một tiếng thôi”. Nhưng chẳng ai mời tôi tiếng nào. Hai người cứ chỉ mời qua mời lại, rồi cuối cùng đem đổ.

Tai tôi nóng bừng lên, đầu tôi như vỡ tung ra hàng trăm nghìn mành. Tôi hét to lên một tiếng và tôi không còn biết mình là ai, tội không còn biết mình đã làm những gì nữa. Cho đến tận bây giờ, mọi người có mặt trong lán, kể cả hai nạn nhân vẫn không biết lý do tại sao lại bị một trận đòn thù đến nỗi phải đi nằm trạm xá và tôi, bị cùm để được ăn một cái Tết trong xà lim.

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương
Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi người tù “cải tạo” đầu tiên đặt chân đến Mỹ, và từ đó đến nay, ngay cả những đứa cháu nội ngoại của những người tù chính trị năm xưa cũng đã tốt nghiệp đại học, cái tên Bùi Đình Thi hầu như đã trôi vào quên lãng, không còn ai nhắc nhở đến. Nhưng vào những năm đầu của thập niên 90, cộng đồng Việt Nam, nhất là những cựu viên chức VNCH, những người đã trải qua những giai đoạn tù đày dưới chế độ CS với mỹ danh là trại cải tạo, đều lưu ý theo dõi bản án của người tù “thi đua’ trong trại tù Thanh Cẩm với tội hành hạ bạn tù, đã bị tòa án di trú San Pedro, California công bố lệnh trục xuất về Việt Nam vào cuối tháng 4-2004. Trong khi chờ thỏa hiệp của hai chính phủ Việt Nam và Hoa kỳ, ông Bùi Đình Thi bị đưa đến trại giam của cơ quan di trú tên đảo Quần Đảo Marshall (Republic of the Marshall Islands) và sống tại đây  ho đến khi ông qua đời. Tôi đồ chừng, Bùi Đình Thi mất vào khoảng năm 2006 hay 2007, vào thời điểm Hoa Kỳ và Việt Nam chưa có Thỏa Hiệp Trục Xuất, được hai bên ký kết vào ngày 22 tháng 1 năm 2008. Khoảng năm 2006 tình cờ có đến nhà sách Tú Quỳnh ở Bolsa, tôi thấy một gói sách sắp được gửi đi cho người đặt mua là Bùi Đình Thi, đó là thời gian ông được đưa ra đảo Marshalls. Bùi Đình Thi qua đời lúc nào không ai hay biết, có lẽ chỉ gia đình ông mới được thông báo mà thôi! Ngay cả ông Alan E. Fowler, Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ  Cộng Hòa Marshalls Islands cũng trả lời bà Hà Giang báo Người Việt một câu vô trách nhiệm: “Tôi không rõ ông qua đời lúc nào.”

Tin Bùi Đình Thi qua đời đã dấy lại một dư luận lên án LM Nguyễn hữu Lễ, một nạn nhân của sự tàn bạo mất hết tính người của Bùi đình Thi, người đã đánh chết hai người bạn tù thân thiết của ông ngay trước mắt ông. Khoảng năm 1993, LM Nguyễn Hữu Lễ từ New Zealand đã viết những loạt hồi ký đăng trên tuần báo Saigon Nhỏ kể lại những chuyện đã xẩy ra trong trại tù “cải tạo” Thanh Cẩm ở Bắc Việt, khi Bùi Đình Thi là tên “thi đua” cho trại, lạm dụng quyền hành hay được bọn cai tù làm lơ, để cho y tra tấn và đánh đến chết những người vượt trại, trong đó có cựu dân biểu Đặng Văn Tiếp, và một tù nhân khác tên là Lâm Thành Văn, và sau đó để cho ông Văn chết đói. LM. Nguyễn Hữu Lễ là một nạn nhân còn sống sót sau những trận đòn điên cuồng, khát máu của Bùi Đình Thi và ông thề “Tôi Phải Sống” như nhan đề tập hồi ký của ông, để trả món nợ máu này. Nhưng sau đó, khi sang Hoa Kỳ, LM. Nguyễn Hữu Lễ đã đến thăm gia đình Bùi Đình Thi, tỏ ý tha thứ cho Thi và chụp hình chung thân mật với gia đình Thi. Liệu chúng ta đã chịu cảnh ra tấn, đánh đập tàn nhẫn bởi một tên coi tù độc ác như vậy, chúng ta có làm được một hành động như LM Nguyễn Hữu Lễ không? Và còn những cái chết oan khuất của những người bạn tù khác, ai trả mạng sống cho họ? Trước khi chúng ta đòi hỏi sự bác ái, tha thứ, xã hội cần phải có sự công bằng. Bùi Đình Thi đã giết người dưới sự che chở của Cộng Sản, lại được lên một chuyến tàu với những nạn nhân khổ đau của Cộng Sản, thế gian này đâu còn lẽ công bằng!

Tại tòa án San Pedro, chúng ta cũng biết nguyên đơn là Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, một người chuyên tranh đấu cho nhân quyền, cũng là Giám đốc Boat People SOS có trụ sở tại Virgina, đã tố cáo các hành vi của ông Thi với Sở Di Trú Hoa Kỳ và LM. Nguyễn hữu Lễ chỉ là một trong những nhân chứng của vụ án. Liệu chúng ta có thể nói ngược lại những gì đã xẩy ra trong trại Thanh Cẩm để làm nhẹ tội cho một người có những hành động như Bùi Đình Thi hay không? Phải là một người tù trong trại tập trung của Việt Cộng, trải qua những ngày khốn khổ, đói rét và nhất là dưới sự đối xử tàn bạo của bọn cai tù và với sự tiếp tay hà khắc của bọn “thi đua”, “đội trưởng”, bọn “cáo mượn lốp hùm”, đánh đập, chèn ép khiến để những bạn tù của chúng ta phải tự tử, mới hiểu biết những gì chúng ta đã được nghe tường thuật lại từ địa ngục Thanh Cẩm.

Nhưng không có trại tù nào xẩy ra việc “thi đua” đánh bạn tù đến chết như trường hợp Bùi Đình Thi và cuối cùng nạn nhân cũng như thủ phạm cũng mang nhãn hiệu “tỵ nạn” đến Hoa Kỳ như nhau. Chúng ta không thể chê trách gì LM Nguyễn Hữu Lễ. Có những phiên tòa mà cha mẹ nạn nhân bị giết chết xin tòa giảm án cho thủ phạm, nhưng cũng có những phiên tòa gia đình nạn nhân đòi bản án tử hình. Gia đình chúng ta có hứng chịu nỗi đau khổ oan khuất như gia đình cựu dân biểu Đặng Văn Tiếp và giáo sư Lâm Thành Văn chưa? Sau khi ra tù, Bùi Đình Thi và chúng ta đều được định cư tại Mỹ, sống cuộc đời tự do no ấm, thì các nạn nhân chỉ còn là những nắm xương lạnh lẽo trong những nấm mồ xiêu lạc trên đất Bắc, vậy chúng ta đi đòi hỏi công bằng bác ái cho ai trên trái đất này? Trong hàng nghìn trại tù của CS trên đất nước, không phải chỉ riêng ở Thanh Cẩm mới có tù vượt trại. Tại Hoàng Liên Sơn, Đại úy Trần Văn Cả đã vượt trại ba lần, lần thứ ba với những người tù hào kiệt như Lê bá Tường (BK Dù), Đặng Quốc Trụ (K. 20 Đà Lạt), Vương Mộng Long (BĐQ Biên Phòng), dù bị bọn coi tù đánh đập tàn nhẫn họ đã trở về nguyên vẹn hình hài, vì may mắn trong những trại này không có ai là Bùi Đình Thi, người cùng chiến tuyến làm“trật tự-thi đua”.

Vậy thì chúng ta đừng lấy chuyện gói muối, sợi giây để “đổ tội” cho những người này hay người khác. Những ai chưa chịu cảnh tù đày, khốn khổ và sống trong tột cùng địa ngục, xin đừng rao giảng nhân nghĩa, bác ái và dạy người khác phải thương yêu, tha thứ. Khi nghe tin Bùi Đình Thi sẽ bị tống xuất về Việt Nam và gia đình không can dự, nhiều ý kiến cho rằng đáng lẽ gia đình Bùi Đình Thi cũng phải liên lụy vì chính chiếc vé nhập cảnh gian dối của Thi đã đưa toàn gia đình đến Mỹ bất hợp pháp, chính ở điểm này chúng ta mới thấy nước Mỹ nhân đạo dường nào. Mặt khác, trong khi chúng ta có bao nhiêu người tù “cải tạo” năm xưa hăm hở trở lại thăm Việt Nam, thì việc Bùi Đình Thi “bị” trả về Việt Nam với một “hậu cứ” tám đứa con ở Mỹ, đâu còn là một hình phạt.

Tuy vậy, mọi việc không xẩy ra như gia đình Bùi Đình Thi mong muốn và như chúng ta đã tưởng. Trong một “trại tập trung” của cơ quan di trú Mỹ, thì cũng là một trại tù, trên một hòn đảo xa xôi ở Thái Bình Dương, giữa đường từ Hawaii đến Úc Đại Lợi, trong một quốc gia xa lạ mà hầu hết chúng ta mới nghe tên lần đầu, Republic of the Marshall, Bùi Đình Thi đã không về tới được quê hương, đành chết ngậm ngùi, trong nỗi tuyệt vọng như người tù Papillon trên hoang đảo ngày nào.

Nhân vật phải gánh chịu nhiều nỗi đau nhất trong tấn thảm kịch này chính là chị Bùi Đình Thi, người vợ tù đã bao năm nuôi con, tiếp tế cho chồng, cuối cùng phải sống trong sự tủi nhục, khép kín, xa lánh cộng đồng vì búa rìu dư luận bởi những hành động của chồng. Cuối cùng rồi thì người tốt kẻ xấu, người ngay kẻ gian cũng phải ra đi, nhưng không phải cái chết nào cũng giống cái chết nào, thiên đàng, địa ngục không ở cùng một nơi.

Ngày ông Táo về trời

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 19 Jan 2023

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Kỳ 2

Ðây! Anh coi xem thật hay giả?

Phụ giơ tay giật mạnh, tờ giấy 20 đồng đẹp như tranh vẽ đã nằm trong tay.

Sau đó y đặt chai nước vối xuống đất, dùng hai tay căng đồng bạc ra, rồi đưa ngang mắt, soi qua ánh mặt trời.

Kiểm tra tờ bạc xong, Phụ tắc lưỡi, gật gù,

– Ðúng rồi! Không phải là bạc giả. Nhưng để anh cất cho. Lúc nào em cần mua gì thì đi với anh, anh trả tiền người ta mới tin, em là trẻ con, người ta sẽ lường gạt mất.

Thằng bé lắc đầu,

– Tiền mẹ cho hằng ngày em còn tiêu chưa hết. Em cần gì phải dùng tới tờ hai chục này. Ðây là tiền chú Tường cho em thì em phải cất. Em không đưa cho anh giữ đâu.

Anh Phụ bỏ tờ bạc vào túi quần rồi ra lệnh,

– Tao là anh, mày là em, anh nói thì em phải nghe! Mày mà cãi lời tao, tao đánh đòn đó!

Hăm he xong anh Phụ xách cặp đứng lên.

Thằng bé cũng đứng lên theo thằng anh.

Bất ngờ, Phụ giựt chai nước trên tay thằng em, tu một hơi cạn đáy rồi thẳng tay quật cái vỏ chai xuống thềm xi măng.

“Choảng!” cái chai vỡ tan! Mảnh thuỷ tinh văng tung tóe.

Thắng bé sợ quá, hai tay nó nắm chặt cái song sắt của cửa rạp hát.

Tuy vậy, nó vẫn nói cứng,

– Em nói rồi! Anh phải trả lại hai chục cho em! Nếu anh giữ nó, mẹ hỏi, em làm sao mà trả lời mẹ?

“Bốp!” một cái tát toé lửa xáng ngay trên mặt làm cho thằng bé tối tăm mặt mũi, chúi đầu xuống nền xi măng. Anh nó hét lên,

– Thì mày cứ nói mày tiêu hết rồi! Chú Tường cho phép mày muốn tiêu gì, mua gì cũng được mà!

Nó đưa tay quệt máu từ vết rách trên khóe miệng, rồi cố gắng ngồi dậy, nhưng nhìn thấy cặp mắt đỏ ngầu của ông anh cùng với hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt thì nó sợ quá, run lên như cầy sấy.

Chợt trong óc nó loé lên một ý nghĩ, nó giả đò thật thà, lắp bắp,

– Vậy thì… nếu mẹ hỏi, em nói… em còn bé quá, giữ nhiều tiền trong túi thì … nguy hiểm nên em… nhờ anh Phụ giữ hộ. Như thế… có được không?

Thấy dáng điệu khiếp sợ cùng với câu nói có vẻ an phận, buông xuôi của thằng em, Phụ liền dịu cơn thịnh nộ. Lập tức, miệng anh đã trở lại ngọt ngào ngay,

– Ðúng rồi! Làm anh thì phải thương yêu em, bảo vệ em. Làm em thì phải nghe lời anh. Vừa rồi em làm anh giận lắm đó! Bây giờ thì anh hết giận rồi. Chuyện cũ mình xí xóa! Chúng mình đi học thôi!  

Nói xong, anh Phụ ân cần nắm cánh tay nó, dắt nó xuống tam cấp. Hai anh em sóng vai bên nhau đi về hướng trường.

Chiều hôm đó, trước lúc chia tay ở cạnh rạp Kim Phụng, anh Phụ còn nhắc nhở nó,

– Tốt nhất là ở nhà, em đừng đả động tới chuyện đồng bạc hai chục, chắc mấy bữa sau mẹ em cũng quên đi thôi.

Nó gật đầu, biểu đồng tình,

– Mẹ bận lắm, chắc không có thì giờ mà hỏi gì đâu.

Tuy miệng nó nói thế, nhưng suốt dọc đường về, nó cứ thấy ngực nặng như đeo chì. Nó tức đến nỗi thở không được.

Nó chợt nhớ tới lời chú Tường nói rằng bố nó là “Ðại ca” của chú. Nó đã chứng kiến chú Tường dõng dạc nói với bốn người đàn em của bố,

– Người ở lại, nếu ai còn nhớ tới đại ca thì hãy bỏ công chăm sóc giọt máu còn lại của đại ca.

Về tới Ngã Sáu, nó ghé vào căn phố đầu đường dẫn vào Lao Xá, dự định sẽ kể chuyện nó bị thằng anh kết nghĩa ức hiếp cho mấy ông đàn em của bố nó nghe. Chắc chắn mấy ông này sẽ ra tay nghĩa hiệp diệt bạo, trừ gian, mà giúp đỡ nó đòi lại tờ giấy bạc hai chục đồng.

Nó chỉ gặp được một người ở nhà chiều hôm đó là ông Trần Phương Quế.

Ở Nam Ðịnh thì gia đình bà chị Cả của bà Sen là hàng xóm của gia đình ông Quế; ông Quế nhận bà Cả là chị nuôi.

Vì bà Sen lớn hơn ông Quế bảy tuổi, nên ông Quế cũng gọi bà Sen là chị.

Do đó, thằng con của bà Sen mới gọi ông Trần Phương Quế là cậu Quế.

Nhưng từ hôm biết tin bố nó bị người ta giết thì ông Quế bắt nó đổi cách xưng hô, gọi ông là chú, cũng giống như chú Yên, chú Lâm, chú Sử, chú Tường.

Nó chưa mở miệng thì chú Quế đã vồn vã,

-Cháu mới đi học về ghé thăm chú phải không? Con nhà tông, không giống lông cũng phải giống cánh. Cháu là con của đại ca, sau này lớn lên chắc chắn cháu sẽ trở thành một nhân tài.

Nghe ông Quế nói nó là con của một đại ca, sau này nó sẽ trở thành một nhân tài thì nó liền bỏ ngay ý nghĩ nhờ vả người khác giải quyết chuyện riêng.

Nó sẽ không nhờ vả ai. Nó thề rằng sẽ tự mình đòi lại tờ giấy hai chục mà tên côn đồ đã trắng trợn cướp trên tay nó. Thế là nó vui vẻ trả lời ông Quế,

– Hôm nay cháu được về sớm. Cháu ghé thăm sức khỏe của chú. Thôi! Cháu xin phép chú! Cháu về ăn cơm.

Ra khỏi nhà chú Quế, thằng bé chạy thẳng một mạch xuống chợ Tây.

Khu chợ rau, chợ cá đã dọn hàng, đóng nắp sạp. Nhưng dãy nhà bán tạp hóa còn mở tới 8 giờ tối.

Nó vào hiệu tạp hóa mua một cái kéo bằng Inox của thợ hớt tóc, đáng giá hai đồng rồi hí hửng ra về.

Thường ngày thì về tới nhà nó thay cái quần soọc xanh ra, mặc cái quần đùi vào cho gọn. Tối nay nó vẫn để nguyên cái quần soọc trên người. Cái quần này có túi.

Cái kéo nằm gọn trong túi quần, nó bước ra sân sau.

Trong suốt ba giờ đồng hồ, nó tập thật nhuần nhuyễn ba động tác:

1) Bước chân trái lên một bước cho sát địch thủ.

2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.

3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông kẻ thù.

Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … cho tới khi thằng ăn cướp móc túi trả lại tờ giấy bạc hai chục đồng Ðông Dương thì nó mới dừng tay.

Sáng hôm sau, 27 tháng Chạp Âm Lịch, thay vì đem theo hai chai nước vối, nó pha một chai nước chanh đường.

Tới rạp Kim Phụng, nó vừa cười hì hì vừa nịnh bợ người anh kết nghĩa.

– Em chưa kịp mua thêm một cái chai để đựng nước vối. Hôm nay em chỉ đem theo một chai nước chanh cho anh thôi. Em không khát.

Anh Phụ đỡ chai nước chanh giọng cảm động,

– Thằng em của tôi tốt bụng quá!

Vì nó đã dùng kìm để siết cái nắp chai, nên anh Phụ phải vận sức cả hai tay để mở chai. Nhân cơ hội này nó đã thực hành thật nhanh ba động tác:

1) Bước chân trái lên một bước cho sát ông anh kết nghĩa.

2) Rút cái kéo ra khỏi túi quần.

3) Vung tay đâm hết sức mạnh vào đùi và mông thằng ăn cướp.

Rồi rút kéo ra, đâm nhát thứ hai, nhát thứ ba, nhát thứ tư … miệng nó liên tiếp la:

“Trả lại tờ bạc hai chục cho tao! Trả lại tờ bạc hai chục cho tao!”

Cái kéo hớt tóc bằng Inox vừa sắc lại vừa cứng. Cú đâm nào cũng lút tới xương. Cái chai nước chanh rớt xuống lăn long lóc theo bực tam cấp nhưng không vỡ.

Thằng anh kết nghĩa lớn tiếng kêu,

– Bà con ơi! Cứu tôi! Cứu tôi!

Thằng em kết nghĩa bình tĩnh, lớn tiếng đáp lại,

– Nó là thằng ăn cướp! Nó cướp tiền của tôi! Bà con gọi Cảnh Sát bắt nó! Bắt nó!

Chợt tên Phụ quỵ xuống rồi thều thào,

– Anh sẽ trả lại tiền cho em! Ðừng đâm nữa! Ðừng đâm nữa!

Nó đứng chưa tới ngực tên Phụ nên chỉ có thể đâm vào đùi, vào hông của Phụ.

Giờ này thấy Phụ quỵ xuống, nó bèn ghim mũi kéo ngay yết hầu của Phụ.

Chỉ cần một cái hất tay, một linh hồn sẽ bay lên trời.

Phụ run rẩy móc túi lấy cái phong bì có chứa tờ giấy bạc đưa lên trước mặt,

– Tiền của Long đây! Anh lạy em! Tha cho anh!

Tay của Phụ đầy máu, cái bì thư cũng đẫm máu.

Thằng bé cúi xuống cầm cái bì thư rồi nhìn một vòng xung quanh phân bua với đám người đang đứng vây,

– Ðây là tiền của tôi! Nó là thằng ăn cướp! Bà con đã thấy chưa?

Nó tính mở cái bì thư lấy tiền ra thì nghe ai đó trong đám đông la to,

– Thằng ăn cướp bỏ chạy! Bắt nó! Bắt nó bà con ơi!

Phải nói rằng tên Phụ này rất khoẻ, bị đâm cả chục nhát kéo vào đùi, máu tuôn ra ào ào mà vừa nhỏm dậy nó đã biến mất sau hàng hiên dãy phố bên kia.

Thằng bé vội phóng theo tên tội phạm, nhưng qua đường nó cũng quẹo trái, len lỏi vào mấy con hẻm quen dẫn về phố Jean De Bouchet rồi thót vào nhà.

Không có ai ở nhà, nó chạy tới bên giếng, múc nước tắm cả quần, cả áo.

Máu kẻ thù còn tươi, chỉ cần chục gầu nước xối qua, là hết dấu vết.

Ðêm hôm đó nó cứ suy nghĩ mông lung, rồi cảm thấy hối hận vì đã lỡ lời thổ lộ chuyện nhà cho anh Phụ, khiến cho tình nghĩa anh em tổn thương, đang là bạn bỗng chốc hóa ra thù.

Nó tự trách mình đã quá nặng tay. Chắc giờ này anh Phụ đang đau đớn lắm? Chắc giờ này anh ấy oán hận nó lắm?

Càng nghĩ lại chuyện xảy ra sáng nay, nó càng thấy thương hại anh Phụ, nó càng thấy mình có lỗi với bạn.

Ðêm đã khuya mà mắt vẫn còn mở thao láo, nó bèn đưa hai bàn tay lên xoa mặt tìm giấc ngủ.

Nó giật mình vì thấy mặt nó đau ê ẩm khi bị bàn tay chạm vào. Ðồng thời đầu lưỡi của nó cảm thấy mùi vị của máu tươi vừa tuôn ra từ những vết thương trên môi, trên mép chưa lành. Mùi máu tanh tanh, vị máu mằn mặn, xót xa, xót xa…

Nhắm mắt lại vài giây, rồi mở mắt ra, nó lại đưa tay lên mặt lần nữa.

Nó tiếp tục xoa nhè nhẹ, nhè nhẹ. Hiện giờ má trái của nó đã sưng u lên như cái bánh bao! Hai môi nó cũng phồng lên như hai miếng bánh dầy.

Trước mắt nó chợt hiện ra đôi mắt đổ lửa của thằng anh.

Trước mắt nó chợt hiện ra hai cái nắm đấm to như hai quả cân của bà hàng thịt.

Ngay lập tức, lòng nó bỗng trở thành lạnh tanh.

Suốt đêm 27 tháng Chạp Âm Lịch, nó miên man suy nghĩ về chuyện bố nó bị người ta giết, chuyện tờ giấy bạc hai chục chú Tường cho, chuyện vô cớ bị thằng bạn cướp tiền, rồi còn bị tát sưng cả mặt mày…

Cuối cùng nó thở phào nhẹ nhõm, vì trong đầu nó vừa hiện ra con đường tương lai mà nó sẽ phải đi theo.

Thế là, chỉ sau một đêm, thằng bé sáu tuổi rưỡi đã biến thành một người trưởng thành.

Ngày 28 Âm Lịch là ngày ăn tiệc tất niên, nó không dám bỏ lớp, nên đánh liều ra khỏi nhà với cái kéo trong túi quần.

Theo đường Thống Nhất, nó đi thẳng tới Tòa Hành Chánh, vòng lên Ga, rồi mới đi xuống Trường Nam Tiểu Học Hải-Dương. Nó tránh xa rạp hát Kim Phụng, vì sợ anh Phụ mai phục đâu đó đón đường.

Tới trường, nó đứng núp sau lưng tụi bạn cùng lớp rồi len lén quan sát xem bên lớp Ba có bóng dáng cao lớn của người anh kết nghĩa không.

Nó thở ra khoan khoái khi không thấy anh học trò khổng lồ 18 tuổi thường đi đoạn hậu của lớp này.

Sau tiệc tất niên, học trò được nghỉ.

Mùng Mười Tết, quay lại trường, nó vẫn không thấy anh Phụ.

Nó hỏi dò thằng bạn tên là Ðoàn Ðình Ngữ ngồi bên cạnh là người hàng xóm của anh Phụ,

– Mày có biết vì sao anh Phụ nghỉ học không?

Thằng Ngữ nhanh nhảu đáp lời,

– Anh Phụ bị ngã gãy chân, đi cà nhót, cà nhót, chỉ quanh quẩn trong sân cả chục ngày rồi.

Rồi cả tháng sau thấy anh Phụ vẫn vắng bóng, nó lại hỏi thằng Ngữ,

– Lâu rồi mà chân của anh Phụ vẫn chưa lành sao?

Ngữ vỗ đùi,

–  Ông ấy tình nguyện đi lính pa đờ suýt rồi! Bố tao nói học lớp Ba mà vào lính thì chỉ lên tới ca pô ran là cùng. Tao sẽ học tới đíp lôm rồi mới đi lính. Tao sẽ đi lính sĩ quan. Làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran.

(Chú thích: Pa đờ suýt là lính Nhảy Dù của Tây- Ca pô ran là hạ sĩ lính Tây- Ðíp lôm là bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp của Tây)

Sau này thằng Ðoàn Ðình Ngữ học tới tú tài và tốt nghiệp Khóa 19 Sĩ Quan Ðà-Lạt.

Nghe thằng Ngữ nói làm sĩ quan oai hơn là làm ca pô ran, thằng bé cũng muốn khi lớn lên nó sẽ đi làm sĩ quan. Nó mà làm sĩ quan thì anh ca pô ran tên là Phụ sẽ không dám bắt nạt nó nữa.

Tuổi thần tiên của một đời người là thời gian vừa biết nói cho tới ngày vào lớp Năm, lớp Tư. Tuổi Mẫu Giáo và lớp Năm, em bé được nghe những truyện thần tiên do cha mẹ, ông bà kể.

Tuổi lớp Tư, em bé được đọc truyện thần tiên trên sách báo Thiếu Nhi.

Trong đầu em bé suốt ngày, suốt đêm, chứa chất đầy mộng đẹp.

Tới lớp Ba thì coi như tuổi thần tiên đã đi qua, vì em bé bắt đầu đọc những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư để trở thành một người công dân tốt sau này.

Thằng con bà Sen thực sự chưa từng được biết thế nào là tuổi thần tiên.

Không rõ trên thế gian này có một tuổi thơ nào giống như tuổi thơ của thằng bé sáu tuổi rưỡi này không?

Ba tuổi, 1945 nó sống sót sau nạn đói Ất Dậu.

Bốn tuổi, 1946 nó theo mẹ trốn chạy chiến tranh Việt Pháp, rồi trải qua những cơn sốt rét thập tử nhất sinh trên vùng rừng núi Ðông Triều đầy sơn lam chướng khí.

Sáu tuổi, 1948 nó hồi cư; nửa năm sau nó nghe tin bố chết; bỗng chốc, đứa học trò lớp Năm mang trên vai một mối đại thù.

Sau Tết ít lâu, chủ nhà hồi cư, đòi lại nhà, vợ chồng chú Sử và mẹ con nó phải dọn về số 24 Jean De Bouchet ở chung với gia đình anh ruột của mẹ nó và bà ngoại nó.

Giữa năm lớp Tư, nhà nó lại dọn nhà lần nữa, tới số 17 phố Hàng Lọng.

Ðầu năm 1952, vừa làm quen với những trang Quốc Văn Giáo Khoa Thư thì gia đình nó di chuyển lên làng Vẽ, tức là làng Ðông-Ngạc huyện Quảng-Bá, ngoại ô Hà-Nội.

Ngày 17 tháng 7 năm 1954 gia đình nó di chuyển vào Ðà-Nẵng.

Ba ngày sau, 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Geneve được ký kết, nước Việt-Nam bị cắt làm hai.

Chú Tường lưu lạc nơi nào không ai hay. Chú Phan Ngọc Yên ở lại Miền Bắc. Các chú Trần Văn Sử, Trần Văn Lâm và Trần Phương Quế đều theo học lớp sĩ quan Ðà-Lạt.

Chú Trần Văn Sử sau khi thuyên chuyển về Vùng 4 không biết còn sống hay đã chết.

Năm 1968 nó nghe tin chú Lâm đã là đại úy, giữ chức vụ gì đó trong khu Quang-Trung của Trường Võ Bị, gia đình chú thì cư ngụ trong trại gia binh ở gần hồ Saint Bénoit.

Nó đã bỏ công lái xe vòng vòng hai tiếng đồng hồ trong khu Mê Linh để tìm thăm chú.

Nhưng hai mươi năm sau, chú Lâm đã quên họ, quên tên người “Ðại ca” của chú ấy mất rồi!

Nó thấy người đàn em của bố nó có vẻ như không muốn nhắc lại cái thời dĩ vãng xa xôi ngày xưa. Vì thế, nó chỉ ghé thăm ông ấy một lần rồi không bao giờ quay lại.

Riêng chú Trần Phương Quế sau một thời gian gián đoạn đã liên lạc được gia đình nó. Chú Quế sau này trở thành một đại tá của Quân Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa.

Ðại tá Trần Phương Quế là vị Trung Ðoàn Trưởng sau cùng của Trung Ðoàn 9/ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.

Lẫn trong dòng đời, thằng bé đã lớn lên, trông già hơn những đứa bạn cùng trang lứa, cô đơn hơn những đứa bạn cùng trang lứa; kiến thức của nó khác hẳn kiến thức của những đứa học cùng lớp, và ước vọng của nó cũng khác hẳn ước vọng của những người cùng thời.

Ðể trả thù nhà, thằng bé đã chọn binh nghiệp.

Mười năm vào sinh ra tử, nó đã vươn lên như một cây thông, thẳng đứng, lừng lững giữa trời, không vịn vào ai, không dựa vào ai.

Thế rồi chiến tranh tàn, người thua trận cứ mãi mang trong lòng một nỗi buồn khôn nguôi vì nợ nước thù nhà không trả nổi.

Thời gian qua như tên bay, thằng bé ngày xưa đã thành một ông già…

VML

Dựa Lưng Nỗi Chết

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Chương 7

Thuấn ngừng xe trên cầu, nhìn xuống dòng sông Bồ loáng sáng, ánh sáng đầu tiên của một ngày. Trời lạnh, sương mù ở mặt nước bay lên đặc cứng nồng nàn. Dòng sông sâu mịt mờ dưới chân xa, hai bờ cát trắng váng vất lạnh lùng. Sáu giờ sáng đường chưa mở, mình có thể đứng ở cầu chơi… Thuấn nhủ thầm. 
“Đại uý đi đâu mà sớm rứa?” Người lính gác cầu hỏi thủ thỉ thân mật. 
“Tôi ở Huế về…” 
“Đại uý thật liều, đi chặng này nguy hiểm lắm, hay bị mìn, xe hàng cũng không dám đi”. 
“Chết có số, sợ gì, anh hút thuốc?” 
Người lính chia tay lấy điếu thuốc hân hoan… 
“Đại uý chắc có bồ ở Huế, con gái Huế gặp đàn ông Bắc là xứng…” 
“Xứng gì? Tôi đi ngủ đò bà Tôn…” 
“Đại uý sành hí, biết cả đò mệ Tôn”. Nụ cười hiền lành và chịu đựng chêm vào câu nói. 
“Anh gác ở đây lâu hay mau rồi?” 
“Dạ được sáu bảy tháng. Trước em ở Tiểu đoàn 3, Trung đoàn I, bị thương ở trận ngoài Cùa nên về Địa phương quân gác cầu này… Nhảy dù của Đại uý cực quá, em thấy ở đây cả năm, tụi em người vùng này, có gì còn có gia đình, chớ còn Đại uý ở tận “trung” Sài Gòn…”

 “Tiểu đoàn tôi có nhiều người Trung lắm, thằng cha đi theo tôi là người gì ở tận bên nhà ông Ngô Đình Cẩn đó…” 
“Phú Cam, rứa là hắn có đạo rồi…” 
“Không, hắn đạo Phật, chịu khó một cây… Người Huế anh giỏi chịu đựng nhất. Xứ này buồn và nghèo đến nỗi không ngờ được. Ra đây mới thấy cái nghèo của miền Trung kinh khiếp”. Thuấn nhìn quanh, núi sau lưng xanh mờ lớp lớp, trước mặt và đàng xa những thôn xóm nằm dọc bờ sông còm cõi hiu hắt tiếp giáp đến phá Tam Giang, dải cát xám biền biệt thứ cỏ tím mỏng manh ngút ngàn bất tận… “Xứ Anh nghèo đến độ sông cũng không có nước, Thuấn chỉ xuống dòng sôngg lững lờ mặt nước xanh thẫm quanh co giữa hai dải cát trắng… Ở Quảng Trị có con sông nghe đến lạnh người, sông Thạch Hãn, anh biết sông Thạch Hãn là gì không, là mồ hôi của đá… Trời ơi, đặt tên gì mà bi thảm đến quá vậy”. 
Người lính cười, cười hoài, như thứ sức mạnh luồn sâu dưới thịt… 
“Đại uý lầm rồi, bây giờ nó không có nước, cha, tới khi nó lụt thì khỏi chê. Đại uý thấy từ dưới mặt nước lên đây tới ba thước, buổi chiều nước còn xấp xấp dưới móng cầu, ban đêm trời tạnh mưa, gió thổi, nước nguồn đổ về đỏ chạch, mặt trăng viền đỏ viền cái vành vàng khè và nước dâng lên từ từ, người ta phải chồng bàn ghế lên giường để ở, chồng tới mô nước ngập tới đó, người ta đánh thùng thiếc kêu cứu… Mà ai cứu được ai, mấy cái làng từ đây đến Sịa, vô thấu trong Đồng Xuyên, xa tới phá Tam Giang, chỗ mô cũng ngập mênh mông, đứng ở cầu này nhìn từ đây ra biển chỉ thấy một mặt nước trắng xoá, tưởng như biển chảy ngược vô đây… Thảm lắm Đại uý ơi, đứng ở cầu mà thấy bà con trôi, đầu họ nổi lên, thụp xuống trong nước, lòng đau như cắt nhưng biết làm sao được. Không phải trôi vài người mà cả nhà, cả làng cùng trôi. Họ ngồi trên mái nhà, cái mái trôi và rã từ từ, cha con vợ chồng ôn bà dính lại một chùm rồi chìm luôn… Nước ở đây lại mạnh, Đại uý thấy núi gần đó, ào một cái là xuống biển, không làm răng mà chạy cho kịp…” 
“Nguy biến thế thì ở gần sông làm gì?” 
“Không ở đây thì biết ở mô Đại uý? Bên thì núi, bên thì biển, cái đất chi mà hắn hẹp không có chỗ thở, phải ở dọc mấy con sông mới kiếm đủ đồ ăn. Đại uý thấy đó, ngoài hai bên sông ra chỗ mô cũng toàn cát, cát xám xịt đen đúa chẳng làm được việc gì… Sông nó giết người nhưng nó cũng nuôi sống được người…” 
Thuấn im lặng nghe người lính nói, điếu thuốc lá phà khói mênh mang, chàng thấy cay ở mắt, một đêm thức trắng hay cảnh tượng biển nước màu xám đỏ tuôn tràn mênh mông trên đó thoi thóp dật dờ những đầu tóc rối… 
Có tiếng gọi ở đầu cầu. 
“Có ai kêu tui. Thôi Đại uý đứng chơi, chưa có ai đi vào giờ này, nếu có thì tôi xoay cái bảng đỏ cho Đại uý biết…” 
Thuấn gật đầu mời thêm một điếu thuốc… “Dạ, cám ơn Đại uý”, người lính đưa tay chào, những ngón tay cong queo, cái chào mềm oặt. Thuấn thấy trống trải một cách dễ chịu, những phiền muộn tưởng đeo chặt trong người phút chốc bay đi thênh thang. Đưa tay xoa mặt, dấu vết trận tình còn đâu đây, thấy được khởi đầu cũng như chấm dứt, chỉ là cơn mê. Chỉ là một cơn mê. Còn một ngày nữa là hết năm, tính tuổi ta là hai mươi bảy, tam thập nhi lập. Tiên sư, cái thân lo chưa xong, Thuấn leo lên xe rồ máy, xe chạy chậm chậm trong sương mù pha nắng. Vặn lưng, mệt thật. Thấp thoáng trong mù mờ hình ảnh Quỳnh Như oằn người dưới cơn tình ái. Thuấn mỉm cười vu vơ… 
7.
 
Đại đức Trí Không đặt cây súng trên mặt bàn đen xỉn, ẩm mùi nước tương, đậu phộng. Cây súng đen bóng lạnh lùng. Đại đức nắm cây súng lên, hướng nòng súng vào góc mái nhà… Khi muốn hắn cũng nhắm như thế này đây. Đại đức khẽ rùng mình như thấy tội giới sát đang khép vào. Phải bắn một người, quyết định khó khăn làm nhức mỏi thân thể như sau khi chặt hàng bó củi lớn. Không bao giờ. Người tu hành thầm nhủ. Phải, không bao giờ, dù bị ép sát đến cuối đường, sẽ giải thoát bản thân, hạnh vô uý của đạo Phật sẽ được noi theo trong giờ phút chót. Chết, Đại đức thấy lờ mờ trước mắt phút tương quan khoảnh khắc ngắn ngủi để qua đời sống khác. Nhưng không phải mình chết mà dự phần vào cái chết của người khác. Đại đức Trí Không run tay… Bàn tay run run mở chiếc khăn màu đỏ đậm như quết trầu, đặt cây súng vào, chêm thêm hai cuốn kinh, cho vào ngăn giữa chiếc cặp da cũ nát trong có cuốn sách Đạo Phật ngày nay của một vị thượng toạ vừa tốt nghiệp ngoại quốc về. Vị thượng toạ có tư tưởng cấp tiến muốn đặt vấn đề: Sinh hoạt Phật giáo trong hoàn cảnh hiện tại với những điều kiện cụ thể… Thượng toạ có bao giờ biết được va chạm tóe lửa giữa Phật pháp và thứ vũ khí lạnh băng ghê gớm này? Đại đức Trí Không cất chiếc cặp vào ngăn tủ cao nhất bước ra sân chùa. Chỉ còn buổi chiều này thì hết một năm. Một năm đã đi qua, nhà tu nghĩ đến số tuổi hai mươi tám. Hai mươi tám vừa sắp đến số tuổi hai mươi tám. Hai mươi tám vừa sắp đến ba mươi, ngày vào chùa cũng chỉ bằng tuổi hai điệu, đầu cạo trọc với một chùm tóc đằng trước bằng nửa bàn tay, cơm chay đạm bạc nhưng ăn hối hả mê man, cơm đỏ lạnh tanh cứng ngắc nấu từ buổi sáng để ăn qua trưa, chút chao mặn, lớp tương lõng bõng những hạt đậu phộng. Năm tháng ốm yếu đã trôi đi như gió chạy trên đồi luồn qua rừng thông non. Rồi ngày khôn lớn với những cơn xôn xao đột khởi, đột biến trong lòng… Không khí u tịch của ngôi chùa như bóng mây che hẳn bầu trời nắng gắt. 
Đại đức ghi tên học triết học để có thể so sánh những âm ba tinh tuý Phật giáo trong dòng âm thanh hỗn loạn của tư tưởng, dạy một vài giờ ở trường Bồ Đề tỉnh, làm việc nặng trong chùa giúp hai điệu, thay thế Hoà thượng trụ trì điều hành nhà chùa. Vị Hoà thượng đã đến tuổi già, giữa chiếc bóng đen lặng lẽ trên tường cùng khối hình hài bất động gầy guộc không còn biên giới. Hai hình tượng khác biệt đó có những thông cảm âm thầm soi vào nhau. Hoà thượng sống trên khoảng trống im lặng… Giữa im vắng của người và cảnh Đại đức vạch một tương lai ẩn khuất êm ả như tiếng ngân chót của hồi chuông trong sương chiều. 

Đại đức Trí Không đi dọc theo khoảng sân để lên chánh điện. Hoà thượng trụ trì đang đứng nhìn bóng mây giữa sân, thân thể gầy gò với số tuổi chín mươi hai đứng vững chãi trông như một cây tre còn sót lại sau trận bão khi các thứ cổ thụ kềnh càng to lớn đã bị giật tung. Đại đức Trí Không nhìn chiếc hình hài mặc nhiên ấy lòng cảm thấy bình yên. 
“Lạy thầy”. Đại đức chắp tay cung kính. 
“Ừ, chiều ni là ba mươi Tết phải không con?” 
“Dạ, bốn giờ chiều rồi, không còn mấy giờ nữa là hết năm”. “Thầy biết, nhìn cái nắng vàng vàng với cái bóng núi là thầy biết mấy giờ… Con năm ni là hai mươi tám tuổi, con học cái chi dưới Huế?” 
“Dạ Cao học Triết… Nghĩa là hết cử nhân rồi sắp thi tiến sĩ”. Đại đức mỉm cười vui thích sau chữ tiến sĩ. 
“Tiến sĩ là ông Nghè. Thầy lúc trước có học chữ Hán, không bao lăm… À này con, thông vạn quyển kinh mà lòng chưa yên thì vô vị lắm, con gắng đừng để bị u tối với phiền toái ám trong đầu…” 
“Dạ”. Đại đức Trí Không chắp tay cúi người xuống đi vào chánh điện. Hai chú tiểu đang chơi trò bắn nhau quanh bàn thờ, những tiếng pằng pằng nổ liên hồi với khẩu súng là hai ngón tay trỏ và giữa khép vào nhau… 
“Pằng, chú chết trước!” 
“Không, chú chết trước tui…” 
“Ê mô được, tui bắn trước…” 
Đại đức Trí Không mỉm cười, chắp hai tay sau lưng khẽ hắng giọng. Hai chú tiểu im bặt chui tọt xuống gầm bàn thờ… “Chú chui chỗ tê, tui chỗ ni… Ừ để tui đi đổ chậu nước”. Nhà sư xem như không thấy trò chơi, chậm rãi đi đến bàn thờ Phật Thích Ca. 
“Các chú chùi cái này chưa?” 
“Dạ chưa, mới xong hai nhỏ, cái đó cao quá, để con đi tìm cái ghế!” 
“Ghế dưới bếp, lấy lên, thầy chùi giúp một tay”. 
“Dạ”. Chú tiểu chạy nhanh ra cửa. 
Căn phòng vắng tanh, khói hương xanh nhạt bay chậm rãi lượn từng vòng trong ánh sáng vàng tươi ấm áp phát từ những cây nến lớn. Nhà sư nhìn lên tượng Thích Ca. Đôi mắt nhắm xuống bình thản, chiếc mũi thẳng và nụ cười… Bao nhiêu lâu nhà sư đã nhìn nụ cười này, mười năm, mười tám năm, một năm bao nhiêu lần, bao nhiêu giờ phút đã qua trước mặt pho tượng. Từ lúc còn để chỏm, phòng chánh điện bát ngát mênh mông tưởng như không có giới hạn và bức tượng uy nghi cao lớn. Rồi tuổi lớn, lớn dần để thấy ngôi chánh điện hẹp nhỏ, bức tượng rụt lại còn một khối gỗ thếp vàng cao hai thước. Nhưng nhà sư ngày càng chìm ngập trong niềm mê man khác, một cơn lụt êm ả nhận chìm xuống hết phiền não khó khăn, bắt nguồn từ nụ cười lặng lẽ… Nụ cười. Nhà sư chợt rùng mình. Người nghệ sĩ chơn chất nào đã vẽ được nụ cười đấng Chí Tôn trong phút xuất thần ngắn ngủi tuyệt vời như thế. Đúng là một nghệ sĩ tràn đầy Phật tính hiểu theo nghĩa đơn giản và trong sáng nhất… Nụ cười tràn trề tính chất Việt Nam một cách kỳ lạ. Nụ cười của Phật ở tranh Ấn Độ quá gọn gàng sắc sảo, nụ cười đã đến cuối cùng của chặng đường dài suy nghiệm. Nụ cười ở tượng đá Chiêm Thành thì quá đơn giản, pha chút khô khan, cảm giác khô của chất liệu nhám cứng. Còn tượng Phật của Trung Hoa và Nhật Bản nữa… Lạ thật, cũng là đức Thích Ca, với dáng ngồi, những ngón tay từ bi… Nhưng tượng Phật Trung Hoa thì quá xa cách, nụ cười quá an lành tự tại bát ngát vững vàng của dải đất mênh mang và dòng giống Hán Nam. Nhà sư lại chợt rùng mình, cơn xúc động ào ạt nôn nao. Nhìn lên, lần thứ bao nhiêu, thấy lại nụ cười của thớ gỗ mộc mạc, lớp sơn nứt từng đường nhỏ, tà áo cong cong chừng mực dịu dàng, những ngón tay đằm thắm và đôi mắt nhìn xuống với nụ cười. Nụ cười hồn nhiên pha lẫn chút vô tư chịu đựng đơn giản như khi ông lão dựng thẳng người nhìn lại thửa ruộng còn tươi luống cày, trời trên cao xanh ngắt, cơn gió đầu xuân khẽ lay động chòm râu màu trắng thưa thớt, những nếp nhăn trên mặt chợt giãn dần ra, đột nhiên có nụ cười, một nụ cười bất chợt đầy ắp hạnh phúc mơ hồ chưa có hình khối, đối tượng… Hạnh phúc được sống trong lòng đời đầy đủ cả khổ đau lẫn sung sướng, sống hay là nghi lễ linh thiêng hân hoan mà thể chất diễn đạt cũng ngoài cơn cuồng nộ của cuộc mơ hồ cố gắng. Cười như sau khi vừa lợp xong được mái tranh, cơn gió mùa đông bắt đầu luồn qua khe núi, cười của lớp dân Nghệ Tĩnh khi vượt Trường Sơn đứng ở đỉnh Hải Vân nhìn đồng bằng hai xứ Quảng trải dài đến tận chân trời… Nụ cười của Phật Việt Nam còn có chút hạnh phúc cay đắng của người vợ Nam Xương khi thấy bóng chồng thấp thoáng trong bụi mờ trên nẻo đường về, sửa soạn vở bi kịch nhức nhối… Bao nhiêu năm nụ cười vẫn tràn đầy cơn gió thổi miệt mài trên con sông xanh thơm bóng rêu, chuyển động lăn tăn giữa hai bờ lau lách. 
Đằng trước chùa, bóng nắng bắt đầu nhạt và đêm đã đến dưới đáy thung lũng. Khí lạnh và khói lam bốc cao. Đoàn quân mặc áo quần nâu tiến vào thung lũng. Họ dắt lá trên nón, sau lưng, một hàng cây xanh rì đang chuyển động. Đoàn quân dừng lại, hàng cây xanh thấp xuống, tiếng loạt xoạt của gió thổi trên những thân cây nhân tạo, trong tiếng gió có hơi thở của người. Người thở dồn dập đứt khoảng vì mệt. Bằng có mặt trong đám người, chỉ tay về phía ngôi chùa nói với một thân cây um tùm lá… “Tôi đã làm áp lực với một nhà sư trong chùa này, ông ta có ảnh hưởng nhiều với lớp thanh thiếu niên của đoàn Quyết Tử, ông ta sẽ đóng vai trò đại diện cho lầm lẫn tôn giáo trong những quyết định cứng rắn…” Bóng cây gật đầu, ánh nắng cuối cùng rọi xuống thung lũng soi rõ một đôi mắt long lanh quyết chí nhưng le lói đường gân đỏ mệt mỏi. 
Lạc thắp nén hương vào chiếc ly đựng đầy gạo được dùng thay bát nhang, có tiếng khịt mũi của người vợ. Lạc xoay người lại. Vợ Lạc khoanh tay trước ngực cúi đầu lặng lẽ… 
“Tôi với mình lấy nhau như thế đã mười tám năm… kể từ ngày tôi đi lính”. Lạc bước tới, dựa lưng sát tường kéo vợ vào người… 
“Tóc mình khô quá sao chẳng gội gì hết?” 
“Nhà tắm không có nơi gội. Em có gội ở Sài Gòn trước ngày ra đây… Tóc em có mùi?” 
“Không”. Lạc im lặng ngửi mùi nắng bụi trên sợi tóc khô se của người vợ, bao lâu Lạc không làm cử chỉ thương yêu nhỏ bé này, mười bảy năm tình vợ chồng và đời lính… Mới ngày nào đó khăn đóng áo dài đi giữa hai lối tre in dấu chổi vừa quét, cô thôn nữ khép nép rụt rè bước theo trong thứ nóng có khói bay mịt mù từ cây đuốc của ông chú từ hàng đầu… Mười bảy năm, mới ngày nào mái tóc đen kịt đẫm ướt dầu dừa mát lạnh trong lòng tay, nay khô se xơ xác dưới ánh điện vàng vọt theo cơn gió đêm lạnh buốt… Mười mấy năm cũng bằng thời gian mang giày săng đá, giày botte de saut, bao nhiêu đôi giày đã qua trên đó đôi chân gồm những ngón thô cứng cong méo trắng nhợt, không phải màu trắng tự nhiên của loài da nhàn hạ nhưng vì bị để lâu bóp chặt trong một thể tích hầm hơi kín mít mùi bùn non và mồ hôi… Lạc nhúc nhích mấy ngón chân trên đôi dép Nhật, hít mùi tóc khô của vợ một hơi dài… Tội nghiệp, mười bảy năm rồi, tiếng nói không vượt khỏi hàm răng khép chặt nghe phều phào. 
“Mình nói gì em?” 
“Không”. 
“Vừa rồi mình bảo vợ chồng lấy nhau được mười tám năm, em nhớ mình chỉ ở với nhau năm giao thừa, kể cả tối nay, còn ngoài ra mình đi tận đâu đâu…” 
“Thì đi hành quân chứ đi đâu nữa”. Lạc đâm ra cáu kỉnh vì nghe âm thanh của vợ có những khó khăn trách móc…” 
“Không, em nói gì mình đâu, em… thương mình và thương thân, em năm nay ba mươi bốn tuổi rồi, còn một giờ nữa là ba mươi lăm, em già rồi, đợi mình từ một thuở xa xưa bây giờ đã quen, đợi thêm cũng được, hình như em sống cả đời để đợi mình về”. Lạc lắc đầu. “Không, tôi nói đùa”. Lạc kéo chặt vợ vào lòng, thấy lại trước mắt mười bảy đêm giao thừa dằng dặc, từ năm một ngàn chín trăm năm mươi đến năm một ngàn chín trăm sáu mươi bảy. Những giao thừa của những năm đầu đời lính, khẩu phần đặc biệt, rượu chát được uống thả cửa, sĩ quan Pháp bỏ hết kỷ luật thường ngày để vui cùng lính Việt Nam… Tết, Tết, chúc mày một bonne année! Bois un coup avec moi le petit caporal. Lạc đứng dậy trên thùng, nâng chiếc ca nhôm… Je bois un trait… ca… ca… c’est ca, c’est bon type, tiếng khen thưởng ồn ào, tiếng vỗ tay loạn xạ. Lạc uống một hơi không nghĩ, rượu chát chua ngọt ngọt, vị nồng nàn trầm ấm, ướt đẫm lưỡi, một đường đỏ theo mép chảy xuống ướt đẫm khoảng áo, da cổ đỏ cháy, Lạc lột chiếc nón đỏ trên đầu đắp lên phần da thịt thắm tươi… Versez le vin dans eci mon lieutenant. Lạc căng chiếc mũ bằng hai tay, viên sĩ quan Pháp hai tay nâng hai chai rượu nhảy lên chiếc thùng… Bon, très biens. Hai ca rượu đổ vào lòng mũ… Rượu sóng sánh màu đỏ sậm trong lòng mũ đen úa bẩn, Lạc ngụp đầu vào, mùi mồ hôi, mùi tóc cháy nắng, mùi đất đậm đà, trộn lẫn vào cùng chất lỏng sôi nổi. Lạc ngụp đầu vào… Bravo! Bravo! Hoan hô Hạ sĩ Lạc, Hạ sĩ Lạc ngụp hẳn mặt vào, rượu sóng sánh chuyển động, rượu ngập lụt giác quan, rượu mát lạnh chuyển qua mức độ nóng bức. Lạc mê man đẫm ướt, tưởng như toàn thân tan chảy thành luồng nước đỏ nồng thắm. Những đêm giao thừa tung hoành thật tự do ở xóm bà Mâu, Trung sĩ Lạc bước ra sau khi mở lưỡi con dao commando, cán dao bằng nhôm run rẩy khô cứng ép con hát đứng nép vào một góc… Mụ chủ quán ấp úng: “Vâng, vâng, thầy Đội cứ tự nhiên… Nhà cháu xin lỗi, xin lỗi”. Lạc bước tới cạnh ả đào hát. Bốp! Cái tát bắn ngã thân thể nhỏ bé vào thành giường… “Tiên sư, giao thừa hay không cũng mặc, ông còn ngồi đây là mày còn tiếp cho đúng tiền ông bỏ ra, muốn cả xóm này bị phá nát ra bây giờ hả…” “Dạ, dạ thưa thầy Đội sinh phúc để nhà cháu dạy dỗ em út, xin thầy Đội…” Lạc rút con dao ra khỏi bàn, bước ra khỏi ngưỡng cửa. Đầu con hẻm có bóng người thấp thoáng, Lạc chặt lưỡi, nâng chiếc xe đạp ghi đông course lên vai… tay trái thủ con dao chưa gấp lưỡi, gió đêm lạnh thổi phà lên mặt, cơn chếnh choáng bay hẳn đi, nhưng Lạc vẫn bước những bước ngã nghiêng, ánh đèn từ ngoài mặt lộ lập lòe vàng ửng. Lạc cất tiếng hát… Debout les paras… cip, cip, cip, giọng khò khè nặng nề nhập nhòe hơi rượu chêm vào những tiếng gừ gừ. Trong bóng tối Lạc cười những tiếng nhỏ thích thú với lối đóng trò giả say, ánh đèn đường chao động ngõ hẹp, ba bóng người nhào ra, có tiếng dây xích khua trong gió… “Ông giết mày!” Ba bóng đen cùng nhào tới. Lạc nhanh như con báo, “Ha ha, ĐM… chết với ông đây, cha chúng mày đâu có say”. Lạc tỉnh như trong giây phút bàn chân rời khỏi sàn máy bay và bốn sợi dây thượng thặng dù căng bật, chiếc xe đạp ném ngang về phía phải, Lạc nhảy về phía trái, cánh tay phải vòng lên che lấy đầu và mặt, tay trái nơi có lưỡi dao, đâm thẳng về phía trước. Lạc nghe tiếng “bực” ngọt sắc trên đầu tay, lớp thép của một chiếc xích sắt quấn theo cánh tay phải, phần da thịt vừa bị bóc đi, cơn đau quá nhanh lóe sáng như ánh chớp không làm Lạc đau đớn, cánh tay phải xoay một vòng, chiếc xích đã nằm trong bàn tay. Lạc giật mạnh và tay trái, cánh tay tự do và tàn bạo thọc thêm một lần phía đàng trước. Phập, lưới thép cứng ngắc lạnh buốt của con dao đi một vòng từ trái sang phải. Lạc cong tay, rút con dao ra khoảng một tấc. Phập, lưỡi dao ngập xuống lần thứ hai. Hà, đụng vào ông là chết! Chữ chết của Lạc hoà vào một tiếng thét lạnh lẽo: “Chết tôi rồi”. Lạc cười trong bóng tối. Chết là phải. Lạc bước vào nhà cùng với chiếc xe đạp trên vai, con dao đã nằm trong túi quần nhưng hai tay đẫm máu, máu của Lạc và máu của kẻ vô danh trong hẻm tối. Lạc không biết mặt người vừa bị chàng đâm. Không hiểu nó chết hay không? 
“Mình, sao mình đầy máu thế này?” Bà vợ chạy quanh Lạc, mười ngón tay run rẩy không dám đụng đến áo… 
“Không có gì”, chiếc xe đạp vất vào một xó, bàn tay trái, bàn tay khoẻ mạnh và đẫm nhiều máu, đẩy vợ đi… “Bà lo việc bà đi, tôi không có sao…” Lạc bước vào buồng… 
“Mình say thật rồi, ĐM… không lẽ mình say máu người”. Ngoài bàn thờ nơi vùng ánh sáng lung linh có tiếng khóc của người vợ. Lạc vớ phải một chiếc ly ném thật mạnh xuống sàn. ĐM… Im có được không!” Lạc ngã người xuống giường, nhắm mắt tỉnh rượu. Khoảng tay gối đầu có mùi máu tanh tanh… “Tiên sư, ba năm lấy vợ mới ở nhà ăn Tết với vợ một lần…” Lạc thấy mệt mỏi lạ lùng. 
Đêm nay, Lạc thấy lại cảm giác đó, mệt mỏi có hình khối đè xuống người rã rời, ngất ngây ngột ngạt… “Tôi sẽ gắng xin về làm tại Bộ Tư lệnh, thôi đây là giao thừa chót tôi đi lang bang… Tôi hứa với mình như thế”. Lạc thì thầm vào tai vợ, giọng ấm đặc chơn chất pha lẫn hối hận của một người kiệt lực, nhưng trong lòng vẫn thấy có điều gì ngang trái khó khăn. 
“Con đi với mẹ đến đằng nhà ông ngoại, lát nữa sau giao thừa đến không được, số mẹ năm nay không tốt, xông đất nhà ông không được, mình đến mừng ông trước”. 
“Mẹ đi một mình cũng được, nhà ông đâu bao xa, con thèm ngủ quá”. Minh lười lĩnh ngồi dậy khỏi giường, che miệng đáp lại sau một cái ngáp dài. 
“Đâu phải mẹ ngại đi một mình, bao nhiêu năm con đi lính cả nhà thăm hỏi, hai năm sau này con đi mất biệt, bây giờ nên đến thăm ông cho phải đạo”. 
“Vâng, vâng, con đi đây, con đùa vậy thôi…” Minh với tay lấy bộ áo quần để ở thành giường, bộ áo quần bẩn cũ xì hôi ngai ngái mùi bùn và đất ẩm. Minh đưa lên mũi ngửi. 
“Dơ lắm rồi, hồi nãy mẹ định giặt nhưng sợ con không chịu, mẹ thấy nó đã nhão xìu… đất dính ở cổ đen ngòm”. 

“Chưa dơ lắm, không hôi, còn mặc được…” 
“Trời đất, áo quần như vậy con còn bảo là sạch?” 
Minh cười, căng chiếc áo cũ rũ rũ mấy cái, xong, có thể mặc thêm vài ngày, nếu đi hành quân thì thêm nửa tháng cũng được… 
“Thôi, Tết nhất ai lại mặc đồ lính trông cục mịch quá, con lấy áo quần thường mặc đi…” 
Minh ngần ngại, chiếc áo lính mỏng manh ẩm ướt lạnh cóng thật khó để mặc trong tiết trời giá buốt và cảnh nhà ông ngoại với đám đông hân hoan chuyện trò trong ánh nến sáng rực từ bàn thờ rọi xuống, và Minh lúng túng trong bộ đồ lính… “Ừ, thôi mặc tạm cái áo quần gì đó cho tiện”. Minh rũ chiếc áo xuống, vải popelin trắng sau nhiều lần giặt căng rạn mỏng, cổ áo lật, sờn mòn được mẹ mạng bằng loại chỉ quá trắng. Nhìn vào bảng huy hiệu của trường thêu chỉ xanh “QH”, Minh mỉm cười nhớ lại đâu đó hãnh diện ngày đỗ tú tài I và lên đệ nhất. Đệ nhất Quốc Học với nấc thang cuối cùng sẽ trở thành sinh viên, có thể mang cà vạt đi phố ngày Chủ nhật và tán nữ sinh trường Đồng Khánh không e ngại, đệ nhất Quốc Học với ba đường vạch xanh trên túi áo chứng tỏ đã có một trí thức vững vàng để đi nghe linh mục hoặc giáo sư diễn thuyết những đề tài “Nhìn mặt hiện sinh: Người đàn bà sinh vật lạ lùng ấy…”. Đệ nhất Quốc Học sẽ tự tin đi vào phòng hội, ưỡn ngực ra, ba đường xanh rõ ràng… Đệ nhất rồi đó có quyền chứ… Minh kéo ghế, gù cái lưng cau vầng trán khi diễn giả cao giọng tha thiết… “Như vậy, người đàn bà, cái thân phận bi đát rõ rệt nhất…”, Minh nhớ lại cô nữ sinh viên văn khoa của chứng chỉ dự bị đã khẳng định lời trên về thân phận người đàn bà trên giường giáo sư Văn mấy tháng sau buổi chiều diễn thuyết… Đúng thật, văn chương triết học đã khai phá những lối đi rạng rỡ cho đời sống. Nếu không có lời diễn thuyết đó, không có hình ảnh bi tráng sống động nói lên phản kháng của con người trước hoàn cảnh trong dáng điệu của giáo sư Văn. Đôi mắt long lanh sau cặp kính trắng, biết gầy gồm những ngón tay xinh đẹp tài hao bấu siết lại, gằn mạnh trên mặt bàn… với âm thanh réo gọi vũ bão vang lên… người đàn bà, thân phận, định mệnh… hiện sinh bi đát… Nếu không có những viên đá dò dẫm đầy tính cách mạo hiểm trong cuộc tìm kiếm con người đó làm sao một cô gái Huế bỏ chồng chưa cưới, cởi áo cởi quần lăn lộn miệt mài, giãy giụa chân tay trong cơn động tình ái với giáo sư Văn, thứ thầy tu xuất đầm đìa tình dục trên mỗi dòng trong toàn thể các tác phẩm đi tìm một chỗ đứng cho thân xác. Minh cười nhẹ nhớ lại sự bàn tán xôn xao của thành phố Huế sau tai nạn bi thảm do triết học gây nên, lũ học trò nhỏ xuýt xoa thán phục … “Hay thật, ông Văn chì thật, học đã giỏi mà còn dám sống đúng theo tâm hồn mình… Tao thì nghĩ bà kia oai hơn, dám bỏ chồng chưa cưới để theo ông Văn…” Đúng là định mệnh, thằng học trò chỉ thiếu chữ “con người” nữa là đúng ngôn ngữ của giáo sư Văn. Khối người bị ép kín bởi Ngự Bình và cửa Thuận An xuýt xoa thì thầm to nhỏ, tưởng như những nụ hôn, vòng tay siết, cơn ân ái giữa anh giáo sư thầy tu xuất và một chị sinh viên hai mươi tuổi học chứng chỉ dự bị là kết hợp vĩ đại giữa tư tưởng và tuổi trẻ biến thành hiện sinh dũng mãnh chống đối lại tảng đá luân lý đóng rêu để lại từ đời Đồng Khánh, Thiệu Trị. Thành phố xôn xao vì chuyển động của đôi mông giống cái học văn khoa đưa đẩy vồ vập của một giống đực trí thức làm rung rinh dãy trường thành rêu thâm, hòn bia đá Phú Văn Lâu, chín ngọn súng đồng đứng im lìm trước Ngọ môn vàng rực trong nắng. Minh cùng lũ bạn đã than van, thì thầm bàn tán bằng những ngôn ngữ quan trọng cái tai nạn quyến rũ kinh khủng đó và trong lòng nhen nhúm ao ước được sống chết hết mình với một mối tình trong tương lai, mối tình, phút hiện sinh làm sáng rực định mệnh bi thảm và dũng cảm của con người!!! Minh chúm miệng thổi phù hai tay đánh vào nhau, có tiếng cười nhỏ thoát ra từ cổ họng. 
“Gì đấy con?” 
“Không có gì hết mẹ, con nhớ đến chuyện mấy năm con đi học nên buồn cười”. 
“Mấy cậu bạn học của con đến đây chơi luôn, họ thường nhắc đến con và cứ trách con không viết thư về…” 
“Tụi nó trách sao nữa mẹ? Con viết thư cho tụi nó làm gì? Để kể chuyện chiến trường, để bày tỏ tâm trạng của tuổi trẻ trong thời chiến tranh… Hì hì… không lẽ con đi kể chuyện con có mấy cái huy chương cho tụi nó nghe nữa hay sao? Con về đây chẳng thấy mặt thằng nào cả, có gặp mấy đứa trên phố, nhưng con quên tên nên đành lơ luôn”. 
“Chỉ có con tệ vậy thôi, chứ như cậu gì đậu hai bằng cử nhân luật đó, đến đây là hỏi con luôn…” 

Minh không trả lời, im lặng mặc chiếc áo, cũng vì mình có con em với mấy đứa chị họ xinh đẹp tụi nó mới đến, dám chắc có ông nào đó học sau mình đến đây nhận vờ: “Dạ cháu học với Minh từ hồi còn con nít…” Tiên sư, ái tình cũng phải có kế hoạch. Minh hút gió lung tung, mặc thêm cái áo saut. 
“Đi mẹ, con xong rồi”. 
“Sao con ăn mặc gì lạ vậy, chân con lại đi dép Nhật nữa”. 
“Trời lạnh mà mẹ, nhưng con còn gì để mặc bây giờ, đây là đồ cũ bị trật mốt rồi, có gì mặc đó không ai để ý đâu… Con quên đường tới ông ngoại rồi, không phải quên, tối quá con nhìn đường không ra”. 
“Con thật vô vị”. Minh cười không nói, lầm lũi đi sau người mẹ. Tối ba mươi trời đen đường vắng, ngọn đèn đường chao động, khói hương từ các căn nhà bay ra tản mát vào sương mù. Minh nhớ những giờ thức dậy mặc đồ mới, lạnh cóng, ăn bát chè bông cau, cục xôi cứng ngậm trong nước chè vàng óng, chất ngọt lạnh tanh trôi dần vào người, nghe chừng như những giọt mùa xuân thấm dần vào máu, rồi pháo nổ từng tiếng vang lên… “Pháo nhà ông Tham, nhà ông Đốc… Ấy, ông gì làm bên công an có tràng pháo tốt nổ không dứt một tiếng…Minh, đốt pháo đi con”. Minh mang thêm đôi giày, chải tóc. Tóc chải rẽ, mẹ nâng một tay dưới cằm giữ thẳng đầu mới rẽ được đường ngôi. “Tóc gì cứng thế này, đằng sau không xong gì cả, chóng ngoan lên để mẹ thấm một chút nước lạnh cho tóc nằm xuống”. Minh chải tóc với nước lạnh, cho nổi hoa màu trắng… “Mẹ mua con đôi vớ rộng quá…” “Rộng gì thì mẹ mua bằng nắm tay mẹ hay con, nhưng đây là vớ nylon có thể co giãn được. Mẹ đo từ đâu đến đâu?” “Theo nắm tay…” “Ừ rộng thật”. Minh mặc áo mới, giày mới, đầu chải với nước lạnh, bước ra khỏi hiên nhà, không khí mát tinh khiết, hình như trời đất rung chuyển. Minh hít hơi lạ vào như xe lửa bắt đầu qua khỏi hầm đèo Ngoạn Mục, trời lạnh, không khí mới mẻ, cây thông toả mùi thơm, người làm vườn mặc veston, trẻ con má đỏ căng tròn trong áo ấm. Minh hít những hơi nhẹ, thổi cây hương trịnh trọng trước khi châm vào sợi bấc, sợi bấc khô queo cứng cáp sau mười tháng hong trên chái bếp. Sợi bấc bắt lửa cháy đến hân hoan, chiếc pháo đầu tiên nổ. “Pháo mình nổ to quá mẹ ơi, năm nay mẹ phát tài…” Pháo nổ từng chiếc chắc chắn, ngọn tim đã cháy hết, chiếc pháo im lìm gây một tiếng động khổ đau nhức nhối trong tim. Băng pháo hết, vỏ xác pháo bay bay rực rỡ dưới gió đêm, chúc mẹ mạnh khoẻ … Minh bóp tay trước bụng. Chợt thấy âm thanh của tràng pháo còn vang dội, thứ âm thanh của niềm vui ngắn hạn mỏng manh như phút giây vô hình qua biên giới của hai năm. Minh muốn ngủ, cởi áo vắt trên thành ghế, sáng mai mẹ nhớ thức con dậy… 
“Mẹ ạ!” 
“Gì con?” 
“Hết Tết theo con vào Sài Gòn không?” 
“Làm gì trong đó?” 
“Mẹ ở chơi đi chợ nấu ăn cho con, con thèm thức ăn Huế, mẹ nấu cho con canh hến, cá nục kho, cá nục kho cắm đôi đũa vào chỉ thấy một lỗ, con nói với gia đình tụi bạn ở miền Nam như thế nhưng họ không tin, Sài Gòn chỉ biết kho cá nục nước hoặc chiên, mất mùi cá, mẹ làm bánh bột lọc nữa…” 
“Nhưng ở đâu?” 
“Ở cư xá Sĩ quan Tiểu đoàn, nhà hai buồng có bếp, rồi con lấy vợ cho mẹ một đống cháu, mẹ tha hồ quấn tã nghiền cháo cho tụi nó”. 
“Con nói thật không, nếu con chịu thế mẹ vào với con liền”. 
“Chịu chứ, qua Tết này con được hai mươi lăm tuổi, hai mươi lăm tuổi đối với người Việt Nam là già, bạn con có đứa có vợ hồi hai mươi tuổi. Con đi với mẹ trong đêm nay vừa thấy mình nửa con nít nửa người lớn”. 
“Lớn rồi, con nít làm sao được… Nếu con chịu mẹ đóng cửa nhà vào với con lập tức, con cho mẹ một đứa cháu nội, mẹ giữ nó không một chút bụi…” 
“Xong rồi, hết Tết mẹ vào với con, con sẽ được ăn cá nục”. 
Bóng hai mẹ con đổ dài theo ánh đèn chao động, có mùi hoa từ hàng dậu thơm ngát… hoa dạ hương, Minh nghĩ thầm, hoa cũng sửa soạn đi qua một ngày mới. Có những thân cây sầu đông gầy guộc chập chùng hai bên đường, Minh có cảm giác thấy được những chồi lá non trong bóng đêm dày thẫm, lá cũng có mùa xuân riêng của nó. 
Nhà ông ngoại đầy người, cậu mợ và đám anh em bạn dì đứng ngồi đầy nhà trên và nhà ngang… “À, o Tám, dì Tám… À, cô mới đến”, mỗi người một câu họ ghìm lời nói trong cổ họng để tạo vẻ nghiêm trang, sự nghiêm trang làm nhòe âm thanh hững hờ đến một người thân. Họ ngoại mình là dòng Tôn Thất ở Huế lớn lắm, có phủ, có đình, có ruộng vườn, non bộ to lớn có đủ kích thước của một thế giới thần bí thu hẹp lại, kích thước của dòng Tôn Thất, dòng vương, ông ngoại làm Tham tri bộ Lại. Họ lớn ở bộ tam sự cao hơn năm tấc vàng chóe, sau bàn thờ Phật một dãy hình người chết bán nguyệt, người em ông ngoại mũ cánh chuồn ốm yếu dưới sức nặng của chiếc mũ, chòm râu đen mệt mỏi. Minh không hiểu sức mạnh nào trong lòng một ông quan cằn cỗi này để dẫn dắt dân chúng qua quãng đường ngặt nghèo, chống chỏi với cán bộ Cộng sản hớt tóc ngắn, hông đeo súng lục pạc-khoọc và cách mạng công nông. Việt Nam độc lập chắc hẳn đè bẹp đạo Thần tử, đức Khâm thượng… Thánh thượng hồi loan. Ông ngoại ngồi trong đi văng vàng rực ánh nến, đầu đội khăn, mắt đeo kính, áo dài sa tanh đen, áo ngoài đơm bông chữ thọ, quần xan… cậu mợ dì vây bọc xung quanh, có người từ Nha Trang, có người về từ Ban Mê Thuột… “Tôi phải vận động lắm, nhờ ông Trưởng ty trên đó lấy chỗ mới về được, vé cuối năm như ăn cướp, may là nhờ người quen, nhưng không có ông Ty thì tôi cũng nhờ bà Tỉnh, tôi với bà quen nhau lắm, bà là con của mụ dưới đầu cồn đó… Trời ơi, bà gặp tôi lần đầu thiếu đường ôm mà khóc, mới biết người Huế đi đâu cũng được vị nể mà thương lấy nhau”. Dì Tư nói thật nhiều, dì nói oang oang nhấn mạnh ở chỗ bà Tỉnh và nỗi khó khăn phải mua vé vào dịp Tết… “Nhưng được thấy thầy là mãn nguyện rồi, có tốn vạn bạc tôi cũng chịu huống gì mấy ngàn tiền vé”. Dì kết luận khoan khoái vì thấy không ai ngắt lời, xác định được sự hiếu thảo trên giá tiền chục vạn… Ông ngoại im lặng ngồi nghe, không hiểu mỉm cười hay vì ánh sáng lung linh làm chiếc miệng móm chuyển động. Ông ngồi hưởng hiện tại, một hiện tại hạnh phúc có thể định giá vào số lượng con cháu xung quanh. Cậu Năm cũng không kém, đi tàu bay thì hai tiếng là tới, giá tăng kinh khủng, tôi cũng muốn đổi xe Nhật, nhưng cái thứ đó không bền, tôi xài bao nhiêu đời xe rồi nên tôi biết, chỉ có cái dáng thanh thanh vậy thôi… Đường từ Nha Trang về đây nguy hiểm không tả được, gió biển chắc chắn làm thầy khoẻ ra liền… Thầy đi xe con như ngồi trên salon, cậu Năm bắt đầu nói lại bằng chuyện xe hơi, nhấn mạnh về vài nỗi nguy hiểm và hao phí khi đi đường. Dì Tư ngồi nghe ra dáng bực dọc, vì công lao đi máy bay chắc chắn thua xa nỗi khó nhọc của chiếc xe hơi đi năm trăm cây số. Ngoài ra chiếc xe bóng lộn màu đỏ nằm rõ ràng trước nhà như dấu tích của một phiêu lưu ngắn hạn của một lòng hiếu thảo cụ thể được thể hiện bởi giàu sang. Xe chị cũng uống nhiều xăng lắm, tuy đoạn Ban Mê Thuột xuống nguy hiểm nhưng chị cũng muốn về bằng xe hơi. 
“Đâu được, xe là xe Jeep làm sao mà về, về đến đây đã gãy xương sống à…” Cậu Năm hả hê chứng tỏ được sự hiếu đễ qua nhãn hiệu của chiếc xe. Dì Tư ngồi im bực dọc: “Cốt về được với thầy cho mau là quý, cà tịch cà tang biết bao giờ mới tới…” Ông ngoại ngồi im lặng nghe cậu và dì giành giựt nhau bằng chứng của tình thương, trí não người già chậm chạp làm phép tính giữa số tiền bị mất và sự hiện diện của các đứa con. 
“Ai sau con Tám đó?” 
“Dạ thằng Minh đó thầy, nó theo đơn vị ra ngoài này hành quân xin phép nghỉ đêm về thăm thầy, mấy năm nay nó chỉ ở trong Nam”. Mẹ nhấn mạnh chữ xin phép. 
“Thằng Minh à, ông ngoại hỏi với vẻ hững hờ, lâu quá thầy quên mất mặt nó, con xích tới đây on coi một chút”. Bàn tay nhăn nheo lạnh cóng rờ trên mặt Minh… “Nó lớn ghê, mấy năm trước con đến đây hái ổi, trần bì…” Bàn tay rờ đến áo saut, áo gì mà dị hợm thế này. 
Minh đứng im dưới cái rờ tìm kiếm, ông già tìm được trên vóc dáng đứa cháu không phải một vóc dáng thân yêu nhưng như tấm áo Nhảy dù thô cứng… 
“Cháu đi lính Biệt động quân đó à?” Có giọng nói tra hỏi từ một bà mợ đang dựa lưng vào chiếc cột. 
“Dạ thưa không phải, cháu đi Nhảy dù”. 
“Nhảy dù, như rứa anh ở đây hay Đà Nẵng năm 1966”. Một gã trẻ tuổi không giấu nóng nảy. 
Minh liếc qua, à thằng Trí con cậu Sáu, gã mặt tái, dài quắn, loại mặt thủ dâm và hiểm độc, thằng Trí, Minh chợt nhớ thời gian trước lúc bố mới mất nhà bắt đầu sa sút. Nhưng bà ngoại và mợ Sáu không nghĩ như vậy đem Trí đến nhà Minh, thằng bé nhởn nhơ sung sướng vì sắp được trả thù… Bà ngoại đã tấn công mẹ. 

“Con coi lại thằng Minh, nó hỗn và nghịch ngợm quá, đây nè nó đánh thằng Trí đến bầm cả mặt”, bà ngoại bóp hai tay vào má Trí lắc qua lắc lại, chìa hai má nó cho mẹ Minh xem hai gò má không có vết bầm, chỉ có màu đỏ của làn da hóp quá mạnh… Mợ Sáu tiếp theo: “Cô phải dạy nó lại, cha nó chết đi thì còn cô, con hư là tại mẹ, cô cứ thả nó đi là thành du thủ du thực, à, mà nếu không coi được thì em đưa chị nuôi”. 
“Dạ thôi, để em đánh cháu liền”. Mẹ cúi xuống chịu đựng. 
“Mẹ vẫn thương nó lắm chứ, cháu nào mà chẳng thương, hơn nữa nó lại không cha, đáng lẽ mẹ phải thương hơn, nhưng khổ cái thằng nó nghịch ngợm”, bà ngoại đưa tay lên lau nước mắt, Minh nép ở nhà trong sau liếp cửa nhìn ngoại chùi những giọt nước mắt vô hình… Minh liếc qua thằng Trí, mặt nó thoả thuê sung sướng, đôi mắt đầy trắng láo liên tìm Minh… Minh thấy ở bà ngoại cái vẻ gì không thực, mấy tháng trước khi bố mất Minh là cái đinh của sự chiều chuộng mỗi khi về ngoại… “Chao ơi, cháu lớn quá, cháu tới đây bà coi… Hừ cái thằng có cái tai thật to, hắn giống ba hắn như đúc, bố là rể có chức phận lớn, hắn lại có cái cằm giống bên ngoại… Cằm này tha hồ mà đòi ăn”, ngoại bế Minh trên tay, dí cái mồm đầy quết trầu vào má Minh, các cậu dì lớn đón Minh về chơi nhà, cậu Út cõng Minh chạy khắp mấy con đường vắng, nhưng khi bố mất sao mà khác hẳn thế này, cậu Út bẹo má bẹo tai Minh thật đau, khi Minh lén với lên hái ổi các cậu các dì nhìn Minh lạnh lùng: “Cháu đi chỗ khác chơi, cháu đi đâu đó, sao không về nhà mẹ đợi…” Trường học Minh gần nhà bà ngoại. Minh sợ cái không khí vắng lặng của gia đình sau khi bố chết. Minh ngã về bên ngoại… “Cháu về nhà ăn cơm, ở đây không có ai rửa tay chân cho cháu trước khi ăn…” Minh lầm lũi xách cặp bước ra khỏi chiếc cổng bằng lá chè Tàu, nghe đằng sau có tiếng nói của ngoại: “Mẹ nó dặn đến đây xin cơm đó…” Minh không hiểu có gì khác giữa bữa cơm ở nhà vào ở ngoại, nhưng có một nỗi buồn rõ rệt làm lòng đứa bé nặng lắm. Minh liếc mắt nhìn thẳng vào các cậu, các bộ veston thẳng tấp, trịnh trọng với cà vạt, các dì áo dài mới, khoác áo ấm đắt tiền… Những ngày thơ ấu lạnh lùng bi thảm đắm chìm từ lâu bỗng ồn ào trở lại. 
“Vụ Phật giáo ở Đà Nẵng có Tiểu đoàn tôi tham dự, chắc hôm đó anh có vào trong đó biểu tình?” 
Minh cau có ra mặt. Minh biết họ ngoại vốn sùng đạo và cố chấp, Phật nhất định là bậc đại trí, Công giáo ngoại lai hời hợt, các cậu dì hãnh diện với bàn thờ Phật được lập ở mỗi nhà, tượng Phật lớn hơn nhau theo tỷ lệ nghèo giàu. “Kim thân Phật Thích Ca nhà con cao gần một thước”, cậu Hai hãnh diện khoe với ông ngoại, xem công việc thờ Phật như cách thức diễn tả sự hiếu đễ tiếp sức với cha già dựng lên bức tượng đồng mạ vàng, góp công lao để đẩy cha về Niết Bàn tương lai… Câu nói của Minh có ảnh hưởng ngay lập tức. 
“Như vậy cháu có dẹp bàn thờ ở Đà Nẵng?” 
“Không những dẹp cháu còn cho lính đánh thả cửa mấy anh sư”. 
“Chết, chết, A Di Đà Phật, nghiệp chướng đó khi nào rửa được, cháu nỡ lòng nào mà phạm đến các thầy…” Mợ cả xuýt xoa. 
“Cháu chẳng thấy có gì là khó hết, mấy thằng trốn lính cạo trọc đầu thành thầy tu, tụi nó ăn nói còn mất dạy hơn lính cháu… Mợ biết thằng Thứ học chung với cháu một lớp, thi hỏng tú tài là nó đi Thủ Đức, xong đi Biệt động quân, mất dạy cả thành phố Đà Nẵng phải khiếp… Thế rồi cũng cạo đầu làm thầy xách động biểu tình hợp với lính tráng con nít tranh đấu. Con không vơ đũa cả nắm, mợ vào Đà Nẵng mà xem mấy thằng du đãng cầm đầu biểu tình… Đạo Phật hư không phải do ông Diệm, ông Khánh, ông Kỳ gì hết, chính là do bọn lưu manh đó nó phá nát”. Minh nói hả hê, bao nhiêu uất ức phiền muộn cho nổ bùng không che giấu. Buổi chiều ấu thơ nào ôm chiếc cặp bước ra khỏi chiếc cổng, bụng đói, mâm cơm nhà ngoại vừa dọn, con tôm râu đỏ chạch thèm thuồng, chiếc lồng bàn đậy lại. “Con đi về kẻo mẹ con trông…” “Mẹ nó biểu nó qua xin cơm…” Minh nhớ như in, Minh nghe sấm nổ cuồng nộ bên tai. Minh thấy rõ cái đau nhói nhục nhã khi chân bước đi trong bóng tối chập choạng của trời bắt đầu tối. Minh liếc một vòng tròn, những cặp mắt mở to vì tức giận. Minh nhìn vào chỗ thằng Trí. 
“Chắc vụ Đà Nẵng anh có tham dự, anh có định tự thiêu không? Tiên sư, anh mà tự thiêu thì nhà mình có thánh tử đạo hạng nhì rồi đó…” Mẹ bấm vào tay Minh. Minh rút tay lại ra vẻ không biết, liếc về phía ông ngoại, người già chưa kịp có phản ứng về Minh. Ông ngoại im lặng, lòng Minh chùng xuống, nó bước tới khoanh tay lại… “Con kính chúc ông ngoại khoẻ mạnh”. 
“Ừ, con đi trận mạc gắng giữ mình”. 
“Dạ thưa ông con về”. Minh bước lui. “Thôi con về trước mẹ về sau”. Minh cúi đầu xung quanh thưa bà, thưa cậu, thưa dì. Minh bước lần ra cửa. Trời lạnh và đen thẫm. Minh bước vào khối đen im lặng mênh mông, thấy rõ lại những giao thừa thơ ấu cùng một khối lượng không khí đằm thắm thê thiết của tuổi thơ. 
Minh mang đôi giày nhà binh đến đứng trước gương. 
“Đồ Tết của sáu năm đi làm quan đây”.

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 22 Mar 2026

Sau chiến thắng cuối cùng

Xin mời mẹ qua sông

Về Gio Linh, Cửa Việt.

Ươm mầm sống trên đồng hoang đất chết

Dựng ngày mai trên tàn phế thương đau,

Mời mẹ trẩy về đường 9 xôn xao

Mừng hội lớn đẹp Khe Sanh, Lao Bão

Giặc tan rồi — quê mình thay sắc áo,

Ôi Trị thiên ngạo nghễ dưới mây trời

Ôi Trị Thiên thương mến của ta ơi!

Con đưa mẹ về Tam-Biên

Trường Sơn say hội gió

Gióng chiêng cao mời bè bạn trở về,

Chất củi thêm cho lửa cạn rừng khuya

Trai gái vui chơi mừng ngày tái ngô.

Hởi những người còn xin về ca múa

Quên thương đau và rũ sạch oán hờn.

Mai đốt rừng gieo lại lúa ba trăng,

Thả gỗ về xuôi, kéo nông cơ lên bản

Rừng ngọt mật ong, nấm thơm mầu nắng

Đem sức người hòa nhập sức Trường Sơn,

Đẩy núi lên cao, kéo suối lại gần

Thêu hy vọng xanh xanh tháng ngày vạm vỡ

Ôi, hy vọng rực hồng sau một thời thử lửa.

Theo đường máu 13 mẹ qua An Lộc

Trên đổ nát dù chưa im tiếng khóc

Những vành tang mờ khói mộ rưng rưng.

Ngày Lộc-Ninh giờ hẳn đã tưng bừrng

Rừng điệp điệp đã phai màu hận cũ,

Xin tưới mồ hôi cho phì nhiêu đất đỏ

Khơi lại muôn giòng sữa trắng cao su

Lấp hố bom, san phẳng ruộng vườn xưa

Đốn cành gãy cho mầm xanh khởi nhú

Rừng khoác trăm hoa xênh xang nhịp búa,

Thành phố hồi sinh ngạo nghề cờ bay

Ngọn cờ vươn cao nhìn suốt tượng lai, ..

Tường trình cho em

Thơ Phạm văn Bình

Post by Sơn râu 22 Mar 2026

Tháng giêng xuôi quân ra xứ Huế

cố đô tan hoang, gạch ngói điêu tàn

không còn thấy áo em bay chiều bãi học

tóc thề đã quấn khăn tang

Tháng hai về trấn giữ ven đô

chong mắt hỏa châu ghì súng giữ cầu

Gió thoảng ngạt ngào hơi rượu mạnh

qua màn sương lơi lả ánh đèn mầu

Ba lô lên vai đến miền Tây đô

quê hương em xanh ngát bóng dừa

đêm ngủ bìa rừng thèm làn môi ấm

ngọt trái sầu riêng những lúc sang mùa

Bây giờ đã tháng tư trời mây vào hạ

mẹ chắc đang sửa soạn đi lễ chùa

và em nguyện cầu cho anh mỗi tối

cho người miệt mài sớm nắng chiều mưa

Tháng năm diễm kiều những vì sao biếc

hoa phượng nở đầy sân trường

ngày xưa e ấp những tờ lưu bút

bây giờ cho nhau phong thư gửi tròn nhớ thương

Tháng sáu rồi anh vẫn miệt mài

bận hành quân nên chưa về thăm em

đừng khóc nghe em như ve sầu tháng hạ

xa thì rất nhưng làm sao quên!

Tháng bảy về mưa ngâu bay bay

ô hay lòng ta sao bỗng dưng sầu?

tráng sĩ đi hề thét roi cầu Vỵ

thiếp tại Tương giang vĩ

quân tại Tương giang đầu

Tháng tám bé thơ chơi đèn kéo quân

huyền thoại hằng nga cũng không còn

tất cả đã tàn như giấc mơ hiệp sĩ

thực tế làm trái tim chúng ta khô cằn

Tháng chín đổ quân bên bờ Cửu Long

trái vú sữa căng như mạch sống mẹ hiền

anh đi cho đồng thêm xanh, trái thêm ngọt

chiến công này xin gửi tặng em

Về Cà mau viết thư cho em

lời gió thương mây, chim nhớ thương rừng

xin đừng trách anh dù mỏi mòn chờ đợi

“Sao anh đi hoài thế anh?”

Mưa đã mịt mù từ vùng biển

nhớ đan áo mùa đông trời trở lạnh rồi em

thiên hạ rộn ràng may áo cưới

anh vẫn còn đi, hẹn năm tới nghe em!

Hoa mai nở đầy và em đang chờ

Mười hai tháng rồi dài những ước mơ

nhớ má cho hồng,  nhớ môi cho ngọt

anh về bên em cùng đón giao thừa.

Tầng đầu địa ngục

vietmessenger.com

Aleksandr Solzhenitsyn

Dịch giả: Hải Triều

Post by Sơn râu 22 Mar 2026

Khi những tù nhân được lệnh di chuyển vào tới Phòng An ninh, họ bị khám xét. Khi khám xét xong, họ được đưa vào một gian phòng chỉ có hai cái bàn và một cái ghế dài. Thiếu tá Myshin có mặt trong suốt cuộc khám xét. Y không thèm cúi xuống những túi hành lý của bọn tù nhân – việc làm này không xứng đáng với cấp bậc của y – nhưng y tin rằng sự có mặt của y thúc đẩy bọn Giám thị làm tròn bổn phận. Bọn giám thị dở xem từng cái quần áo rách của tù nhân, chúng đặc biệt để ý đến giấy tờ. Luật ghi rằng những tù nhân ra khỏi những Viện Khoa học tuyệt đối không được đem theo bất cứ một mảnh giấy có chữ viết, hay chữ in nào. Vì vậy, đa số tù nhân đã đốt những bức thư gia đình của họ trước khi chịu cuộc khám xét. 
Hai mươi người tù được đưa vào phòng chờ với những món đồ được phép mang theo. Cửa phòng này khóa lại, một người gác đứng gác ở cửa này chờ xe Maria Đen tới đưa tù nhân đi. Sự liên lạc như vậy là đứt đoạn giữa 20 ra đi và 261 người còn ở lại. 
Những người tù ra đi vẫn còn ở trong Viện, nhưng cũng như họ không còn ở đó nữa. Họ tìm chỗ ngồi nghỉ chân trong phòng. Thoạt đầu, tất cả đều im lặng. 
Mọi người kiểm soát lại xem họ còn mang theo được những gì, họ bị lấy mất những gì. Họ nghĩ đến cuộc sống vừa qua trong Viện, họ mất những gì khi phải đi khỏi Viện, họ đã sống được bao nhiêu năm tháng trong Viện và họ còn phải sống bao nhiêu năm tháng nữa mới hết hạn tù. Như tất cả những người tù trên cõi đời này, họ đếm đi đếm lại những năm tháng: những năm tháng họ đã mất và những năm tháng họ còn phải mất. 
Rồi họ nghĩ đến gia đình họ, đến những người thân họ phải xa cách, đến chuyện họ sẽ phải xin người thân viện trợ, giúp đỡ, vì ở nơi họ sắp tới, người đàn ông khoẻ mạnh làm việc mười hai tiếng một ngày vẫn không được ăn no đủ để sống. 
Họ nghĩ lại những việc làm vô ý thức hoặc cố tình mà họ đã làm, những việc đưa họ đến chuyến đi này. 
Họ nghĩ đến nơi họ có thể bị đưa tới, đến những gì chờ đợi họ ở đó, họ nghĩ trước đến những việc họ phải làm để có thể sống ở đó. 
Không ai thổ lộ tâm trạng của mình với ai, nhưng tất cả đều u buồn, lo âu. 
Mọi người đều muốn được trấn an và hy vọng. 
Vì vậy, khi họ bắt đầu nói chuyện với nhau, một người trong bọn nói rằng rất có thể họ sẽ không bị đưa đến trại tập trung, họ chỉ phải qua một Viện Khoa học khác, cả những người không tin cũng lắng nghe. 
Ngay cả Đấng Christ khi ở trong vườn Gethsemani, biết rõ số mệnh cay đắng của mình, vẫn còn cầu nguyện và hy vọng. 
… 
Bên ngoài bức tường, họ nghe thấy tiếng động cơ xe hơi. Rồi tiếng nói gắt gỏng của Trung tá Klimentiev. 
Họ được gọi ra khỏi phòng từng người một. 
Những người tù tay xách hành lý, cúi thấp đầu xuống khi bước lên xe để khỏi đụng đầu vào vách cửa xe. Mười tám người tù cúi đầu lên xe như thế, không một ai nhìn từ biệt hàng cây cổ thụ ủ rũ trong sương. 
Có hai người tù không cúi đầu khi đi lên xe. Hai người đó là Khorobrov và Nerzhin – nhưng hai người này cũng không nhìn về phía hàng cây. Họ tò mò nhìn chiếc xe chở họ đi. 
Lâu rồi người ta không còn dùng chiếc xe bít vùng sơn đen chở tù đi trong các đường phố nữa – loại xe này làm cho dân chúng sợ hãi – bây giờ họ chở tù trong những chiếc xe giống hệt xe chở hàng tạp hóa, chở thực phẩm. Thùng xe cũng sơn màu cam và màu trắng xanh vui mắt. Thành xe cũng kẻ những hàng chữ bằng bốn thứ tiếng: 
Khleb 
Pain 
Brot 
Bread 
Myaso 
Viande 
Fleish 
Meat 
Trước khi bước lên cửa xe Maria Đen, Nerzhin bước sang cạnh xe và chàng nhìn được một chữ kẻ trên thùng xe. Đó là chữ “Meat”. 
Trong lòng xe tối om, người ngồi và hành lý chật cứng. Sau khi đẩy người tù cuối cùng lên xe, người gác đóng cửa và khóa lại. 
Ở phía đầu xe, sát với thùng tài xế ngồi, có một ngăn nhỏ để nhốt tù nhân chống đối, làm dữ. Tiếng nói của Ruska trong ngăn đó vang ra: 
“Anh em… Tôi bị đưa đi Butyrskaya để thẩm vấn. Anh em nào đó? Những ai bị đưa đi?” 
Cả hai mươi người tù cùng trả lời một lúc. 
“Ruska… Ai tố cáo chú?” Nerzhin la lên. 
“Thẳng Siromakha”. 
Một người chửi trong bóng tối: 
“Thằng khốn nạn”. 
“Có bao nhiêu anh em phải đi?” Ruska hỏi lớn: 
“Hai mươi người”. 
“Đừng sợ, Ruska” – một người la lớn – “Mình sẽ gặp nhau ở Trại Tập trung”. 
Xe chạy, Nerzhin và Gerasimovich va mạnh vào nhau. Cả hai cùng giương mắt nhìn để nhận ra nhau trong bóng tối. Có một cái gì đó ngoài sự chật chội của thùng xe này làm cho họ gần nhau hơn. 
Ilya Khorobrov, tinh thần đã lên cao hơn được một chút, đột nhiên nói lớn và rõ: 
“Đừng sợ, anh em. Đừng sợ khi chúng mình phải đi. Anh em đừng thèm coi cuộc sống trong Viện này là cuộc sống đáng để cho ta luyến tiếc. Ở đó chúng ta phải sống chung với những thằng khốn nạn như thằng Siromakha. Ở đó cứ trong năm mươi tên lại có một thằng chỉ điểm. Mình đánh rắm trong cầu tiêu bọn quản đốc chúng nó cũng biết. Chúng nó không cho mình nghỉ ngày Chủ nhật trong suốt hai năm nay. Ở đó mình phải làm việc mười hai tiếng một ngày. Chúng nó còn cấm mình không được viết thư về cho gia đình. Còn công việc mình phải làm cho chúng ở đó nữa. Đó là địa ngục”. 
Khorobrov yên lặng. Anh như người nói không nổi vì hờn giận. 
Trong tiếng máy xe nổ êm và tiếng bánh xe lăn trên mặt nhựa xa lộ, giọng nói từ tốn của Nerzhin cất lên: 
“Không, Ilya Terentich… Đó không phải là địa ngục. Bây giờ chúng ta mới đi vào địa ngục. Chúng ta trở về địa ngục. Nơi chúng ta vừa rời bỏ là tầng cao nhất, tầng tốt nhất, tầng đầu tiên của địa ngục. So với những tầng địa ngục chúng ta sắp xuống, tầng đầu tiên ấy có thể coi là thiên đường”. 
Chàng không nói thêm nữa, vì thấy không cần phải nói. Mọi người đều biết rằng nơi họ đến cuộc sống sẽ khổ sở, ghê rợn hơn cuộc sống ở Viện Khoa học nhiều, ở những trại tập trung lạnh giá, họ nhớ lại Viện trong giấc mơ, như những giấc mơ vàng. Nhưng ngay lúc này, để khỏi mất can đảm, để có thể nghĩ là mình làm đúng, họ phải chê bỏ cuộc sống trong Viện, để đừng ai hối hận, đừng ai tự trách mình dại dột… 
Khorobrov nói bằng một giọng quả quyết: 
“Anh em nên nghe tôi… Thà mình ăn bánh hẩm với nước lã mà lương tâm vẫn yên ổn hơn là ăn thịt mà hèn hạ”. 
Những người trong xe yên lặng. 
Đúng thế, những cánh rừng hoang ở Tây Bá Lợi Á chờ đón họ, miền Oymyakon lạnh nhất trái đất và những mỏ đồng ở Dzhezkazan chờ đón họ, ở đó họ sẽ đói, sẽ chết. Nhưng trái tim họ được yên ổn. 
Trái tim họ tràn đầy cảm giác vô úy của những kẻ đã mất tất cả, sự vô úy này không tự nhiên mà có, người ta chỉ vô úy khi người ta chịu đựng. 
Chở đầy nhóc những người, chiếc xe sơn màu cam vui mắt chạy qua những đường phố đông trong thành phố. Xe chạy qua cửa một trạm xe hỏa và dừng lại ở ngã tư chờ đèn xanh. Một chiếc xe du lịch nhỏ cũng đậu chờ đèn xanh ở đây. Người lái chiếc xe du lịch nhỏ này là đặc phái viên của tờ nhật báo tiến bộ Libération của Pháp quốc. Chàng đặc phái viên này đang trên đường tiến tới Vận động trường Dynamo để coi trận đấu hockev. Chàng nhìn sang chiếc vận tải sơn màu cam đậu bên cạnh va những chữ viết trên thành xe cho chàng biết đó là xe chở thịt. 
Chàng nhớ rằng trong buổi sáng hôm nay, chàng đã nhìn thấy nhiều chiếc xe chở thịt như xe này chạy trong những đường phố của Mạc Tư Khoa, chàng lấy quyển sổ tay ra ghi vội vài dòng: 
“Trong đường phố Mạc Tư Khoa người ta thường thấy những chiếc xe chở thực phẩm rất sạch sẽ, vệ sinh được bảo đảm đến mức tối đa. Ta có thể kết luận rằng việc tiếp tế thực phẩm cho thủ đô này thật là hoàn hảo”. 

1955 – 1964

Như hoa cỏ rụng

An Phú Vang

Post by Sơn râu 22 Mar 2026

Anh cho tôi mượn sáu ngàn dằn túi những ngày ứng chiến ở hậu cứ. Anh bảo ra nhà ăn cơm, có gì gởi tiền chị sau. Anh chơi bạo dầu mới quen biết. Tôi thằng không thân nhân cật ruột ở thành phố này, những ngày về Sài Gòn, đi ra đi vô với bạn bè ở trại Trần Trung Phương vì đơn vị ứng chiến mặt trận Đức Hòa – Đức Huệ tỉnh Hậu Nghĩa. Tôi chẳng biết Hậu Nghĩa nằm hướng nào. Mà ở đâu thì cũng đánh nhau thôi nếu phải vào vùng. Anh lấy vợ khi đi Nhảy Dù cũng chuyện trời thương. “Ba chị đâu có muốn gả con cho dân mặc đồ rằn ri! Chị đi theo anh, có con xong rồi về.” Vợ anh người miền Nam, vui miệng kể lại một lần. Chị biết tôi và cô em học lớp mười của chị có gì đây mà. Chị nói trước để tôi đừng ngại. Thế đó địa chỉ chị cho tôi vẫn nhớ nhưng chưa lần đến nhà ba má chị chơi “nếu đi hành quân ven đô”.

 Tháng tư 1975, đại đội có những ngày học tập chiến tranh chính trị. Gần trăm thằng ngồi trong doanh trại, nghe nói chuyện về quê hương đất nước rồi hát chiến đấu ca. “Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân Yêu” hát lên nghe thật xúc động. Cứ mở đầu cờ bay cờ bay, hay “Trên Đầu Súng” là cả bọn hát say mê. Lúc đã chạy mất tiêu rồi, tình cờ nghe lại ứa nước mắt.
Khi trực thăng vào vùng, Xuân Lộc ở dưới chân xanh ngút ngàn. Màu xanh của rừng cao su, của vườn cây ăn trái trong khu vực trù phú quê hương miền Nam. Nhưng khói bốc cao từ vài nơi đập vào tầm mắt. Khói nhắc nhở đây là vùng chiến trận sôi động nhất sau khi Bình Tuy thất thủ. Khói! Không phải là khói cơm của bếp lửa chiều mà khói và lửa hừng hực của chiến trận. Long Khánh – Xuân Lộc co mình chịu đựng từ hơn tuần qua. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, đơn vị trừ bị cuối cùng của quân lực nhảy trực thăng để giải tỏa áp lực địch đang đè nặng trên vai Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Long Khánh. Trực thăng đổ quân ở ngã ba Xuân Lộc sau làng Thương Phế Binh. Lính xuống chưa hết, dân hấp tấp chạy vào tàu để di tản. Người lớn dắt tay con nít, lom khom tránh gió cánh quạt trực thăng Chinook, hướng về phía cửa phi cơ. Mình còn giữ được mà dân đã thê thiết thế này nói gì những ngày miền Trung của tháng hai, tháng ba trước đó. Bài viết của ký giả Du Miên, bay theo trực thăng nhìn đoàn dân quân di tản miền Trung xuôi Nam về tường thuật lại đọc quá cảm động. Tôi còn nhớ hai câu thơ mở đầu loạt phóng sự: “Tôi bay trên biển cả. Nhìn đoàn người tất tả xuôi Nam…” rồi than thầm, sao dân tôi khổ thế hả Trời!
Pháo Bắc quân đổ xuống ầm ầm khi nhận ra tiếng trực thăng vào vùng. Lính chạy ra khỏi tàu, quen rồi với cảnh này nên nghe tiếng đạn đại bác trên đà rớt xuống mục tiêu là co mình cho nhỏ lại hay lủi vào bất cứ nơi nào để nấp. Đạn nổ xong, kiểm soát lại thân thể. Không bị gì là may lắm! Trung đội di chuyển, bố trí tạm ở bìa rừng cao su. Đã đánh hơi được chiến trường nóng bỏng nên trung đội trưởng dặn dò “con cái” cẩn thận. Thiếu Úy Trần Xuân Mỹ ít có chửi thề. Anh cầm trung đội “mát tay” nên thằng nào cũng thương. Khi đích thân “xổ nho” là đích thân bực lắm. Đích thân! Tôi từng bị một lần cái giọng Tuy Hòa cằn nhằn, đến cáu… bỏ mẹ. Giờ ngồi ghi lại những giòng về anh, tôi nhớ và nghĩ đến anh như nghĩ về một người anh cả trong gia đình. Nếu công danh không đi ngược, phú quí chẳng giật lùi anh dư sức nắm đại đội trưởng. Anh ngon hơn những ông lớn cả đời không biết mùi gạo sấy ăn lúc hành quân như thế nào. Chạy ra khỏi nước, mười hay hai mươi năm sau tiểu sử của vài ông được viết lại nghe long trời lở đất. Nói kiểu chúng tôi là nổ thí mẹ. Chẳng ông nào có tội cả. Chỉ toàn lỗi của lính dầu tập thể đó đã đánh giặc hết mình cho dân được sống những ngày đáng sống. Đạn pháo kích đã im. Người lấm tấm mồ hôi nhưng tôi thả tay áo xuống để đỡ bị cào vì gai rừng, đỡ bị vỏ đạn đụng vào cánh tay phải nóng bỏng nếu phải nổ súng khi đụng trận. Tôi là một thằng bắn M16 bằng tay trái như những thằng thuận tay trái khác trong đại đội. Quen tay trái nên bị người khác nhìn những khi cầm đũa ăn cơm, khi làm việc “thấy nó kỳ kỳ”. Lúc học mẫu giáo đã bị khẽ tay vì viết bằng tay trái. Vào đời, bắn súng bằng tay trái không ai nói gì nhưng chính mình coi bộ không khá! Tay phải sẽ phỏng trước bởi vỏ đạn nóng bỏng bay ra từ “cửa sổ tống vỏ đạn” của súng M16 trúng vào.

Đại Đội 92 TĐ 9 Dù ở Trảng Bom chuẩn bị vào Xuân Lộc tháng 4, 1975

Tiểu đoàn lấy quốc lộ 1 làm chuẩn tiến lên hướng xóm đạo Bảo Định. Thấp thoáng trong rừng cao su ven đường là đơn vị bạn. Mọi người đều mừng ra mặt khi thấy Nhảy Dù vào vùng. Hơn hai tuần trước đó, Bắc quân đã giáng tất cả nổ lực xuống vùng đất này nhưng quân ta đã đánh lại, gồng mình chịu đựng những màn pháo kích đêm ngày để giữ chân chúng. Chiến trận cứ thế dằn co. Giờ đến phiên Dù nhập cuộc. Đi húc! Đi tấp bi! Đại đội 92, 93, 90 bên trái con đường, 91 và 94 bên phải. Di chuyển chừng mười lăm phút có tiếng súng nổ bên cánh đại đội 91 và 94. Tiếng đại liên và M72 trong rừng cao su. Đụng rồi! Tiếng súng bỗng ngưng lại. Nghe nói đồn Nghĩa Quân xóm đạo Bảo Định phía trước còn thuộc quyền kiểm soát của ta. Có sự mâu thuẩn trong lệnh lạc hành quân! Trong đồn bắn cối ra. Trung tá tiểu đoàn trưởng bị thương vì cú lầm lẫn này. Đơn vị giao lại cho ông phó, cựu đại đội trưởng đại đội 92 khi còn đại úy.

Xuân Lộc – 1975

Trung đội chúng tôi khám phá ra hệ thống phòng phủ của địch trong vườn cây ăn trái phía trái quốc lộ. Dây điện thoại còn nguyên trong công sự chiến đấu với những trái xoài vừa hái cuống còn mủ trắng chưa kịp ăn. Chiến thuật “công đồn đả viện” cũ rích của Bắc quân bị lộ. Đêm xuống mau. Có lệnh lui về sau phòng thủ. Trung đội 2 (-) làm tiền đồn xa nhất cho đại đội về hướng bắc. Đại đội nằm với tiểu đoàn. Những ngày sau trung đội giữ hố nước và cũng là đường tiếp tế của tiểu đoàn 8 Dù sát quốc lộ 1. Đi lên chừng ba cây số là xóm đạo Bảo Định, nơi có ông linh mục tóc để dài như dân hippy. Cha chạy xe LaDalat xuống xin Lữ Đoàn yểm trợ pháo binh trong trường hợp đồn nghĩa quân Bảo Định bị tấn công. Đám lính chúng tôi trong trung đội nhìn cha ngạc nhiên. Sau hỏi ra mới biết tòa Thánh cho cha để tóc dài như vậy vì nếu cắt đi cha sẽ bị bịnh. Chúng tôi gọi vị linh mục này là ông cha hippy.
Đến lúc ấy là cả đại đội đều đói thuốc lá lắm rồi. Nhưng lên được đến ấp Bảo Định, có tiền, cũng không ai còn thuốc để bán. Vài đứa trong chúng tôi vấn trà lập bập đỡ ghiền. Phú móc trong túi đựng đạn ra được bao thuốc Capstan, hỏi tôi có hút không. Tôi xin một điếu thuốc, nhưng lại mang súng băng rừng cao su tìm trung đội súng nặng cho thằng bạn thời học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Ngày nằm dọc sông Nam Ô ở Quảng Nam nó đã ghi sổ, gởi theo toán tiếp tế xuống trung đội cho tôi lon sữa đặc có đường. Thằng này cũng đang bị hành vì thiếu thuốc lá như những đứa khác. Ngoắc nó ra chỗ cây cao su, đưa điếu thuốc vừa chĩa của Phú xong tôi dọt về chốt mình đứng nhìn C130 đánh giặc. Đạn lửa từ hỏa long kéo những vạch dài xuống tới đất!
Thời gian có chiến trận ở Xuân Lộc, chuông xóm đạo xứ Bảo Định vẫn sáng vẫn chiều vang vọng trong gió dầu Bắc quân có tăng cường độ pháo kích. Đầu óc căng thẳng những ngày vào vùng, nghe hồi chuông lễ tự nhiên lòng chùng xuống dẫu tôi chẳng có đạo. Chốt trung đội 2 (-) nằm sát hố nước và vườn cây ăn trái. Mảng cầu Xiêm, chôm chôm đầy cành nhưng chưa chín. Một đám rủ nhau đi xin mít. Bà mẹ bảo cô con gái dắt các anh ra vườn cây để lựa. Cô nhỏ cầm cái sào tre đánh nhẹ vào vài trái mít trên cao rồi nói: “Trái này chín. Có anh nào muốn lên hái không?”. Một thằng cười cười trả lời. “Tụi anh mang giày trèo cây sao được.” Cô nhỏ bèn đáp. “Thôi để em. Nhưng nếu có pháo kích mấy anh nhớ chờ em xuống.” Và cô trèo lên cây mít. Chưa kịp hái thì Bắc quân pháo vào Xuân Lộc. Nghe tiếng nổ cả đám thúc cô trèo lẹ xuống. Và, tình nghĩa chúng ta chỉ thế thôi! Không mít, không xoài, không mận mà chỉ nụ cười. Liệu, Chính, Bạch Lan Thanh chạy về tới chốt kể lại.
Anh Liệu:
“Con nhỏ nói ‘có gì các anh bắn yểm trợ cho em nếu có pháo kích!’, vậy mà mới nghe đạn nổ, thằng nào thằng nấy đã muốn chạy về vị trí. Quê thật.”
“Rủi đánh nhau đơn vị tìm không ra sao cha. Yêu thương để tính sau chứ!”
Cả lũ phì cười khi nghe thằng Lan Thanh trả lời. Thằng này họ Bạch, tên Lan Thanh. Bạch Lan Thanh! Nghe như tên cô đào hát nào đó! Tuy nhiên đào Bạch Lan Thanh thì bắn tên đánh kiếm trên sân khấu, còn Bạch Lan Thanh của trung đội 1, từ tiểu đoàn 6 Dù chuyển qua, từng tay M16, tay lựu đạn M67 xung phong đánh chốt ngày vào An Lộc Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Ba năm sau thằng Thanh làm khinh binh đại đội 92 tiểu đoàn 9 Nhảy Dù. Rồi gần mười mấy năm trôi qua ở Mỹ, tôi tình cờ gặp lại nó ở Denver tiểu bang Colorado. Thằng Bạch Lan Thanh giờ là software engineer cũng như Trung Hậu, thằng đêm nào đã bùi ngùi nói trên núi ở Túy Loan khi tôi và nó co ro đầu chốt của đại đội ngó đèn thành phố Đà Nẵng xa xa: “Tao hãnh diện được học trường Phan Châu Trinh và được đi Nhảy Dù!” Tôi muốn viết hoa chữ Sư Tử Nhảy Dù khi nhớ lại huy hiệu của tiểu đoàn. Màu của đại đội 92 là nền đỏ, phía trước có con sư tử chồm lên cánh hoa dù căng gió. Có đứa hỏi cô nhỏ trèo cây hái mít tên gì? Chính, Thanh, Liệu chẳng thằng nào biết. Tụi nó đều dở. Tại sao không dùng đại lời ca của bài hát hầu như ở Dù thằng nào cũng thuộc: “… Nhưng em yêu ơi Nhảy Dù là thế. Trông anh hung hăng nhưng rất đa tình…” [Dù Bung – nhạc và lời Khuyết Danh].
Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù tản thương ngang chốt chúng tôi để ra quốc lộ. Nhìn poncho quấn xác anh em mà bùi ngùi. Có đứa bạn tôi bên đại đội 83 “về với mẹ cha”. Thằng Hòa! Tôi nhớ nó mới nói với tôi hôm nào, “mày hỏng có gia đình ở Sài Gòn, hôm nào về nhà tao bà già nấu cơm cho ăn. Tao có ông anh bên tiểu đoàn mày. Mày biết Thiếu Úy Đ… không?” Mày vui như thế sao đi lẹ vậy Hòa? Giờ hình dung ra, tao vẫn còn nhớ nụ cười toe toét và giọng nói miền Nam xuề xòa của mày. Thằng danh số 21!
Tôi bắt đầu nhớ Sài Gòn. Nhớ con bé tóc ngắn cái môi cong cong thì đúng hơn. Anh trung đội phó trung đội 1 ghé ngang hố nước sẵn dịp thăm mấy thằng em trung đội 2 chúng tôi. Anh là dân đánh Hạ Lào. Từ đi Nhảy Dù, giấy phép anh nhận toàn ở quân y viện! Anh cao như tôi nhưng to con hơn nhiều. Nhìn anh trong bộ đồ hoa rừng thêm hàm râu ai cũng sợ. Nhưng anh thật hiền, trông mặt nhiều khi không thể đoán được. Khi nhìn thấy hố cá nhân nơi tuyến chúng tôi, anh đã đề nghị đào lại. Bảo hố này phải cách xa hố kia hơn nữa. “Nằm kiểu này, đặc công cọng sản vào đánh hai trái bộc phá là “đi” hết nửa trung đội.” Và thật cũng nhờ anh trung đội phó trung đội 1 này mà đại đội đỡ thương vong nhiều trong đêm rời Xuân Lộc.
Lệnh bảo “móc vào”. Trên nắp ba lô đặt ngang một bao gạo sấy để nhận bạn. Trời tối đại đội di chuyển. Đi một lát, kiểm soát phương hướng, trung đội dừng lại vì toán dẫn đầu đi lộn vào vùng địch. Ông anh đàn anh này đã hỏi thằng nào làm khinh binh hai. Hùng “đầu bò” sợ quá đổ thừa cho Thuận “khùng”. Đàn anh nổi sùng: “Thằng nào đi đầu? Đ. m. dẫn đại đội đi ẩu. Đi đâu không đi sao đi về hướng tụi nó! Đi một hồi kiểu này là đụng chết mẹ!” Thằng Thuận chưa kịp giải thích, đã bị ăn cú song phi của trung đội phó rớt nguyên con xuống giao thông hào.
Đường đi qua là khu vực bỏ hoang từ nhiều năm. Đồn điền cao su vẫn có ánh đèn trông như những con ma trơi. Đi trong đêm đoàn quân không ai lên tiếng. Cứ theo người đi trước, nhìn màu trắng của bao gạo sấy trên nắp ba lô mà nhận bạn. Đêm lại có trăng nhưng là trăng vàng vọt chết chóc soi mỏi mệt nơi chốn rừng hoang ma quái. Có tiếng người phụ nữ gọi ai thất thanh trong đêm. Có lẽ bị lạc đoàn đi tản. Chị gọi tên người quen nào đó. Tiếng kêu pha lẫn sự sợ hãi tột cùng trong cái im lặng ma quái của đêm rừng cao su vàng màu trăng chết. Không ai dám lên tiếng vì sự an nguy của đoàn người. Đến giờ ấy mà bị phục kích chắc chỉ có chết… Tiếng gọi sau đó xa dần. Tôi bỗng hy vọng chị tìm được hướng để về quận Đất Đỏ.
Chúng tôi bị phục kích khi về gần Bình Giả. Nhưng dầu sao lữ đoàn vẫn còn đội hình trong khi các đơn vị khác không kiểm soát được người của mình. Lúc súng nổ, tiểu đoàn phó Đường Tam Tạng thúc quân xuống khe nước, đẩy quân lên đồi khóa mõm cây súng cộng đồng của tổ kích địch. Chừng nửa giờ sau lũ khốn nạn thề sinh bắc tử nam… “đi về miền Bắc”. Vớt được cây thượng liên, “con cái” báo cáo và hỏi đích thân có mang chiến lợi phẩm về? Ông Đường Tam Tạng oang oang trên máy. “Phá hủy đi. Mang để về tế mả hả? Lính bị thương không biết sao di tản. Ở đó mà súng với ống tịch thu!”.
Tôi nhớ một anh bên tiểu đoàn 8 Dù. Râu quai nón, nói giọng Bắc. Khi địch khai hỏa trận phục kích vào quãng đường độc hại nhất, một bên là dốc núi, một bên chạy xuống vực; trèo lên núi là dơ lưng làm bia sống, xuống vực thì đến gần vùng chúng giữ, và thượng liên địch nổ chát chúa áp đảo tinh thần nhưng anh điều quân ra gì lắm! Anh ta hét lớn bảo nằm xuống bố trí, còn anh đứng thẳng, gọi tổ đại bác không giật 90 ly. Súng đâu? Súng đâu? Tay anh chỉ ngọn đồi xa bên kia hố nước, nơi phát ra tiếng súng cộng đồng của địch. Bắn về hướng đó! Mãi đến lúc ấy mới thấy kỹ luật là sức mạnh. Chúng tôi đã không cho người đơn vị khác trà trộn vào hàng ngũ mình vì sợ lộn xộn, nhưng thật ra cũng không khó mấy để làm vì nhìn áo rằn ri là biết không thuộc tiểu đoàn 1, thì cũng 8, 9 hoặc Trinh Sát Dù. Thấy anh râu la hét chỉ huy ngầu quá, nhiều người bên bộ binh nhìn sững. Nể anh sát đất. Khi nhìn kỹ, anh râu mang “cánh gà” trên vai, trung sĩ nhất thôi, mới phục thật!
Ngưng tiếng súng đơn vị kiểm soát lại quân số. Trung đội 1 có người mất tích. Liên. Người ta báo cáo dưới hố nước có người chết. Địch nham hiễm, khai hỏa khi một số quên để ý đề phòng vì tìm ra nước uống. Nước lúc đó là vàng. Dọc đường di tản những bông trang dại ven đường đã bị ngắt hết để nhai cho đỡ khát. Xác Liên đơn vị không mang theo được.
Đoàn người tiếp tục di chuyển. Tôi làm quen, hỏi xin anh Địa Phương Quân nắp nước uống cho đỡ khô môi. Anh ta thân mật cho, còn nói: “Tôi mà không kẹt gia đình thì cũng xin đi Nhảy Dù giống như mấy anh!” Anh làm tôi nhớ đến lời thằng bạn nào phun ra trong cơn bất mãn: “Cực thí mẹ! Tao có con mà nó đòi đi Nhảy Dù là tao uýnh liền.” Khổ thì than nhưng xung phong vẫn xung phong. Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù vừa về từ Phan Rang ra bắt tay quân bạn. Dù gặp Dù. Tụi nó xúm lại hỏi thăm tình hình rồi qua màn chĩa thuốc lá. Nghe tin Phan Rang thất thủ mà phát rầu. Cả miền Nam đến lúc ấy co lại còn bằng nắm tay.
Đêm đó lữ đoàn nằm lại bên ngoài quận Đất Đỏ. Vai còn mang ba lô, tôi ngủ gà ngủ gật trong tư thế tác chiến. Nửa đêm có tiếng nổ của M72 rồi lửa bùng lên một góc. Thằng nào thằng nấy tỉnh cả, nhào ra vị trí chiến đấu dã chiến. Ba lô còn mang trên vai mà tôi bay một cái nhẹ hều đến gò mối, mở to mắt nhìn và tai lắng nghe. Tiếng đạn M79 rời nòng. Vài phút sau đệm tiếng nổ. Không biết mình hay chúng đang bắn mà cứ rề rề theo lối vài ba phút một viên làm nhiều người đứng tim. Thời gian nghe tiếng đạn vút đi rồi rớt xuống như thần chết đang đến gần nên ai cũng co mình cho gọn. Tôi cầu trời M79 rớt đi đâu thì rớt. Hồi hộp quá những lần nghe tiếng đạn rời nòng. Tôi toát cả mồ hôi dầu lúc đó đang nửa đêm ngoài đồng hoang.
Cứ thế mọi người thức đến sáng. Nghe trung đội lao xao Motorola chở bắc quân theo truy kích đoàn di tản đâm ngay vào tuyến tiểu đoàn 1 Dù. Cả xe bị bắn trúng bằng M72. Chết hết. Nhảy Dù di tản chứ đâu phải đơn vị khác, về tới vùng bình an là tuông vào luôn. Lữ Đoàn bắt đầu di chuyển vào ranh giới quận Đất Đỏ. Mới đi chừng trăm thước, người khinh binh hai vướng mìn. Dừng lại bố trí. Dừng lại bố trí. Đứng đâu đứng yên tại chỗ! Tôi có cảm tưởng nơi chốn đồng hoang cỏ cháy này đâu cũng là mìn.
Những ngày nằm rừng cao su ở Đất Đỏ là những ngày dài. Lính tráng nhìn nhau không muốn mở miệng. Mệt mõi sau cú di tản chiến thuật đúng nghĩa và sau những ngày tấp bi ở Xuân Lộc, đứa nào đứa nấy trầm ngâm. Thật tình ai cũng mong đơn vị được về Sài Gòn dầu không biết về đó để làm gì. Khi ngang qua xóm nhà dân bên kia mé rừng cao su, chúng tôi ghé vào xin nước uống. Có mấy người nghĩa quân hiếu khách mời chúng tôi vào ăn cơm vì nhà đang có giỗ. Nhưng chúng tôi từ chối. Chỉ xin mấy bi đông nước lạnh rồi đi ra. Trên đường trở lại vị trí đóng quân, hai cô gái mang giày bố đạp xe đi tới, trong giỏ xe chứa vài loại trái cây. Hình như họ đi thăm rẫy về. Một thằng trong bọn đùa đùa mở miệng xin. Hai cô không trả lời mà cười khúc khích. Một lát sau hai cô đạp xe ngược trở lại, đưa mấy trái xoài nói muốn cho. Cả bọn, thật chẳng biết lúc ấy mặt mày ra sao!
Ở Sài Gòn, có người đi chùa với bạn để cầu nguyện khi nghe anh rể nói tiểu đoàn đụng nặng ở Xuân Lộc. Mới vào vùng, tiểu đoàn trưởng bị thương dầu nhầm lẫn thì cũng không khá. Anh rể con bé làm kế toán trưởng đại đội. Những chuyến tiếp tế hành quân, thư từ của lính tráng anh mang ra, người ấy viết xong thư không dám nhờ anh chuyển mà ra đến tận bưu điện Sài Gòn để gởi vì mắc cở. Nhưng trước sau gì thì thư cũng chạy về bộ chỉ huy đại đội, đến tay ông anh. Và anh sẽ mang ra vùng hành quân.
Tôi nhận được thư con bé tóc ngắn những ngày đóng quân chờ ở quận Đất Đỏ. Thư học trò nhưng làm tôi cảm động. Ít ra trong “thao thức Sài Gòn nhớ gì xa” em đã nhớ, viết, và cầu xin ơn trên cho anh bình an. Anh kế toán trưởng đưa thư rồi cười: “Em có cái này quí lắm!” Anh móc trong túi áo, nhá cạnh cái bì thư. Tôi thấy tên người gởi, cám ơn anh rối rít rồi chạy về chỗ trung đội mình ngồi đọc.
Anh buồn như lá mồng tơi
Như hoa cỏ rụng bên trời Gio Linh (*)
Anh đã như như hoa cỏ rụng vào cuối tháng tư buổi chiều đi dọc đoàn xe di tản ở quốc lộ 15, cùng thằng bạn học Phan Châu Trinh để tìm người thân. Chẳng tìm ra ai. Và cũng vẫn chưa về tới Sàigòn sau những ngày Xuân Lộc không lộc xuân, anh tự hỏi, biết có còn ai của “đường ta về ngày mưa khô, đạn dập xác hơn lần, dìu dắt tạm bợ nương...”

An Phú Vang [n.n.a]

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 Mar 2026

Photo by Sơn râu (Japan)

Trước tháng 4-1975, tiếng tăm và sau 4-1975, sống tai tiếng, đến lúc qua đời, ông Nguyễn Cao Kỳ cũng không được yên thân. Ít nhất có năm ngôi chùa đã từ chối nhận tổ chức lễ thất trai tuần cho ông và tiệc chay cho người tham dự. Không lẽ cả năm ngôi chùa đều có Phật tử hay một thế lực nào đó trong bóng tối làm áp lực nên đến phút cuối nhà chùa phải hủy bỏ một buổi lễ hoàn toàn có tính cách tôn giáo?

Sự sợ hãi đối với những áp lực này đã đưa đến những lời biện bác quẩn quanh, không hề chính đáng từ phía nhà chùa khi phải giải thích với gia đình ông Nguyễn Cao Kỳ lý do từ chối việc tổ chức lễ thất tuần. Phải chăng hành động này đã phạm giới vọng ngữ, một trong ngũ giới căn bản của nhà Phật? Sợ hãi là vì còn chấp ngã, chấp trước vào việc sở hữu một số tín đồ, tăng chúng, tài sản, danh tiếng. Sợ mất “chùa của thầy” và “tên tuổi của thầy.”

Dù không nói thẳng ra, nỗi ám ảnh sợ một cuộc biểu tình phản đối có thể xẩy ra trước cổng chùa đã nói lên sự đánh giá thấp cộng đồng người Việt tỵ nạn yêu tự do và dân chủ. Những người yêu dân chủ và tự do có thể biểu tình để chống những điều có hại cho đất nước và làm tổn thương đến cộng đồng, nhưng chắc hẳn sẽ không áp lực, biểu tình hay hăm dọa buộc nhà chùa phải từ chối lễ cầu siêu cho một người đã chết. Hành động và ngôn ngữ của ông Nguyễn Cao Kỳ lúc cuối đời đã phản bội lại lý tưởng tự do và dân chủ, lý tưởng của một người từng là lãnh đạo của một phần đất tự do và dân chủ, nhưng như vậy không có nghĩa là ông đáng bị truy đuổi tận cùng cho đến một lễ cầu siêu đơn giản dành cho ông. Nếu chúng ta nhân danh tự do dân chủ mà làm việc áp lực trong bóng tối với nhà chùa thì phải chăng chúng ta tự hạ thấp mình xuống hàng đảng cướp mafia đang cai trị đất nước?

Khi một người được đưa đến phòng cấp cứu của một bệnh viện, bổn phận của các nhân viên y tế là phải cứu chữa kịp thời, không ai hỏi họ theo đạo nào, Phật Giáo, Hồi Giáo hay Thiên Chúa Giáo. Đối với các cơ sở tôn giáo, là nơi lo phần hồn cho con người, có lẽ cũng không nên căn cứ vào sự giàu nghèo, thân, sơ để phân biệt đối xử, dù là với ông đại gia đóng mươi lạng bạc hay là dân đen chỉ có mười quan tiền. Nói về việc không phân biệt này, tâm từ trong tinh thần Phật pháp mang tính chất, “bao trùm tất cả mọi chúng sanh và tự mình đồng hóa với tất cả, không phân biệt giai cấp, chủng tộc, màu da, nam hay nữ. Chính tâm từ trong Phật Giáo phá tan mọi chấp mê, chướng ngại giữa người và người. Đối với một vị Bồ Tát không có người thân, kẻ sơ, không có kẻ thù người lạ, không có hạng người bị ruồng bỏ, cũng không có hạng người cao sang quyền quý phải sợ sệt không dám động đến.”

Có lẽ hành động những năm cuối đời của ông Nguyễn Cao Kỳ đã làm nhiều người căm phẫn và oán hận. Nỗi căm phẫn và oán hận này cần phải được hiểu và thông cảm vì đó là phản ứng tâm lý bình thường nhất là khi họa mất nước đang chực chờ mà nhà cầm quyền và lũ Việt gian vẫn lo mua quan bán chức cũng như ký kết các hợp đồng bán nước để hưởng lợi. Nhưng, như trong kinh Phật có kể, Anguilimala một tướng cướp theo tà giáo giết 108 người lấy ngón tay xâu làm chuỗi đeo cổ để hy vọng đắc đạo quả thậm chí muốn giết cả mẹ mình mà vẫn được Phật tha thứ.

Chúng ta không phải Chúa hay Phật nhưng đều là tín  đồ ngày ngày cố gắng thực hành theo lời dạy của các vị này. Lên án hành động xấu ác nhưng vẫn từ bi bác áivới con người đã phạm lỗi, làm hành động xấu ác. Nếu trong Tân Ước có câu, “Nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy”(Colossians 3:13) hay trong Kinh Lạy Cha cũng có câu “Xin tha thứ những lỗi phạm của chúng con, như chúng con tha thứ những người lỗi phạm tới chúng con” thì Phật Giáo đặt hành động tha thứ trong tương quan hai chiều giữa kẻ cho và người nhận và nhấn mạnh tới khía cạnh bất tịnh của tâm  chấp thủ không biết tha thứ.Theo Phật giáo, tha thứ được xem không chỉ là một hành động làm cho người tạo ác mà quan trọng nhất là làm cho chính mình, người tha thứ, vì những tâm bất tịnh như căm tức và hận thù đều sinh ra phiền não cho tâm và tạo ra ác nghiệp. Tỳ kheo Ajahn Sumedho hiện đang tu tập tại tu viện Phật giáo Vô Úy (Abhayagiri) tại thành phố Redwood Valley miền bắc California có giảng, “Khi suy nghĩ về nghiệp báo, chúng ta ngộ rằng vấn đề không phải là phục thù mà thực hành tâm từ và xả, bởi vì kẻ gây ra tội ác là kẻ bất hạnh nhất. Đời sống vốn có công lý, nếu chúng ta làm lỗi có thể xã hội sẽ không biết và không trừng phạt, nhưng chúng ta thật ra không trốn thoát được nghiệp quả, Chúng ta sẽ phải đầu thai mãi mãi cho tới khi giải thoát được các nghiệp quả của mình.” Một tỳ kheo khác, Ajahn Pasanno, cũng đang tu tập tại tại tu viện Vô Úy đã giảng, “Nếu chúng ta không tha thứ, chúng ta tiệp tục tạo tác một bản ngã quanh nỗi khổ của chúng ta, và cái bản ngã đó tiếp tục luân hồi. Và đó là khổ.”

Phải chăng việc áp lực các chùa không làm lễ cầu siêu cho ông Nguyễn Cao Kỳ và việc nhượng bộ của nhà chùa trước những áp lực này đã phạm ít nhất 5 trong 10 món tiểu tùy phiền não: Phẫn là tánh thường tức giận khi gặp điều không vừa ý hoặc khi có ai làm trái ý mình. Hận là sự kéo dài của sự giận dữ khiến không quên được những việc không làm vừa ý mình. Phú là tánh thường che dấu những điều xấu hay ác đã làm của mình vì sợ mất quyền lợi hay danh dự và thể diện. Não nghĩa là dễ nổi cơn nóng giận, thịnh nộ khiến có những lời nói thô bạo và hành động tàn ác. Cuống nghĩa là dối trá, là tánh hay dối gạt, lừa dối để bảo vệ hay được lợi dưỡng về danh lẫn tài. Tứ vô lượng tâm của Nhà Phật là từ bi hỉ xả. Tâm xả là đầu mối vì đó không chỉ là điều kiện để thực hành tâm từ, bi và hỉ thuần thục mà đó còn là sự thực chúng tự do tâm linh. Có không chấp vào cái bản ngã, vào “cái chùa của tôi” mới xả được. Trong tinh thần của Phật Giáo, có tâm xả mới được sự vô úy, không sợ áp lực. Đã không có cái ngã thì làm gì có cái để sở hữu để mà sợ mất. Và tha thứ cũng là một cách hành tâm xả. Đạo Phật Việt Nam còn nhấn mạnh đến Bi, Trí, Dũng. Chúng ta có lẽ nên cùng tu tập đức Bi để thấy rõ các nghiệp quả của người đã chết và tha thứ cho ông ta, đức Trí để thấy rõ sự vô minh đã khiến cho ông ta lầm đường lạc lối và sự sân hận của chúng ta chỉ tạo tác đau khổ cho chính chúng ta, và đức Dũng để vượt qua nỗi sợ hãi trước những áp lực trong bóng tối để đi cho trọn vẹn theo lời dạy của đức Phật. Nhà chùa luôn đứng về dân tộc, tự do và dân chủ vì những điều đó khế hợp với Phật Pháp nhưng có lẽ không cần phải làm hành động bày tỏ lập trường chính trị bằng cách “tẩy chay” lễ cầu siêu cho ông Nguyễn Cao Kỳ.

Nhìn một cách đơn giản hơn thì việc cầu siêu cho ông Nguyễn Cao Kỳ cũng là phương tiện giúp cho vong linh ông ta sám hối những tham chấp trong cuộc đời. Người sống trong gia đình được nghe giảng pháp cũng bớt được chấp thủ về danh tiếng và hành động của người quá vãng. Người ngoài gia đình nghe cũng bớt được tâm phẫn hận đối với sự phản bội của kẻ qua đời. Từ chối làm lễ thất tuần, phải chăng quý chùa đã mất một cơ hội mang đến lợi lạc cho tất cả mọi người. Ôi thôi, cổng chùa đã đóng! Năm ngôi chùa trong cộng đồng chúng ta đã cùng đóng kín cửa. Thậm chí ba trong năm còn dùng những lời lẽ không thật để thoái thác với một gia đình Phật tử một lễ cầu siêu đơn giản cho một người đã chết. Thà nhà chùa nói thẳng vì nỗi sợ hãi, sợ phải mất tín đồ và cúng dường. Thế nhưng, đã thực hành vô ngã mà còn có cái để giữ và có cái để sợ mất ư? Người viết bài này thú thực tham sân si quá chừng nên thậm chí không dám tự nhận mình là Phật tử hay cư sĩ, nên chắc chắn là không thực hành được các hạnh rất khó nói trên. Thế nhưng một số vị trong tăng già, một trong tam bảo, lại là “viện chủ” ba ngôi chùa lớn trong cộng đồng này mà không có được tâm vô úy, thực hành hạnh từ bi hỉ xả, thì Phật tử biết nương tựa về ai? Lo lắm thay.