Tháng Ba – Lần trở về với biển…

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 23 Mar 2026

Phan Nhật Nam

Lời Người Viết: Sau đây là câu chuyện (bình thường rất thật, chẳng cần bày đặt, vẽ vời thêm) của hơn 60, 70 năm trước. Chuyện xẩy ra Tháng Ba, 1975 – Nay lập lại trong Tháng Ba, 2026 với cảnh bom đạn rung rinh địa cầu – Hóa ra Nỗi Đau/Cảnh Khổ không riêng của ai. Luôn lập lại – Nhưng cảnh Khổ của Người Việt/Người Việt Miền Nam lúc ấy (Tháng 3, 4 năm 1975) không ai muốn nói đến, viết lại (kể đến hôm nay). Hình như Con Người/Người Miền Nam VN xem Khổ Đau phải gánh chịu là một điều tất nhiên.   

Dẫn Nhập:

Khi đã ngồi yên chỗ ngồi trên Xe Đò Hoàng (chạy đường Nam-Bắc Tiểu Bang Cali), hai người đàn ông lớn tuổi bắt đầu câu chuyện.

– Xin lỗi, tôi trông ông có vẻ quen quen…

– Có lẻ ông thuộc giới đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều người, nên tôi với ông có thể đã một lần gặp nhau ở đâu đó, nơi Orange County nầy, người Việt đụng nhau liền liền. Và sau vài câu xã giao, thấy đã đủ độ gần gũi, một người lên tiếng thân mật theo cách “phe ta” với nhau…

– Kỳ “Bảy- lăm”, khoảng tháng Ba nầy ông ở đâu?

– Tôi ở Pleiku,

– Ông có phải lính tráng gì không mà lên tới Pleiku?

– Bộ phải đi lính mới ở Pleiku sao, tôi là dân Nha Trang tới Pleiku, Ban Mê Thuộc từ những năm còn nhỏ sau 1954… Ông cậu tôi có nhà máy nước đá đầu tiên vùng Nha Trang – Khánh Hòa nên đưa nước đá đến tận Đèo M’Track, ra Tu Bông, Vạn Giả… Xong theo Đường 19 mở thấu Peiku. Năm 1964, ra trường sư phạm là tôi “xin lên” Pleiku, ở miết tới tháng Ba, 1975. Pleiku thành quê hương thứ hai…

– Trời đất, tôi là lính tác chiến kẹt quá mới chịu đi Pleiku, Ban Mê Thuộc, Kontum. Ông dạy học mắc mớ gì phải xin đổi lên đó. Bất cứ anh nhà binh nào nghe sắp bị đẩy đi Pleiku là rét liền, Bộ Tổng Tham Mưu Sàigòn dùng Vùng II để dọa mấy cha ba-gai, phải cứng cựa lắm mới chịu được vùng nầy. Thường thường, nếu lỡ phải lọt vào Quân Khu II thì cố gắng xoay xở trụ dưới Quy Nhơn, Nha Trang, đường cùng đối đế lắm thì cũng phải nhận Bồng Sơn, Tam Quan. Đổi đi Pleiku, Kontum kể như thua.

– Nhưng tôi lại chịu xứ bụi mù trời, mưa xô núi đó. Vào mùa xuân, dọc Đường 14 lên Kontum, bông hướng dương nở vàng đẹp như tranh…

– Đấy là nói với ông cho có chuyện, chứ thật ra tôi cũng đầy duyên nợ với Vùng II, Pleiku, Kontum, Ban Mê Thuột suốt một đời tuổi trẻ, từ ngày ra Trường Thủ Đức,

– Ông lên trên đó năm nào?

– Đúng ngày vi-xi pháo kích Phi Trường Holloway, 2 Tháng 8, 1964.

Một.

1955 – Biển loáng sáng như mặt kính rộng lớn hắt ánh nắng buổi sớm lên vùng trời biên biếc không gợn mây. Trời, biển, đường phố với những dãy nhà lầu, biệt thự dài theo bãi tắm đồng thinh lặng nên có thể nghe rõ tiếng sóng nhỏ thiêm thiếp đùa vào, thấm lên bờ cát những vòng màu vàng sậm ẩm ướt, tiếp liền khô khi triều sâm sấp rút ra. Toàn khối không gian trong vắt vừa được lọc sạch qua đêm làm gã thiếu niên đang ngồi ở bờ có cảm giác những hòn núi ngoài khơi như gần lại và lớn hơn. Nó tưởng thấy rõ đến cả những gốc cây ở chân núi, gần bên hốc đất vỡ lớn, mà ngày mới đến đây, được Bác Hai đưa ca-nô ra đến. Biển hôm nay sớm quá, chưa ai tắm… Đứa bé không kìm giữ phản ứng, tự nhiên buột miệng nói ra lời về cảm giác trong lòng đang trào dâng rộn rã. Nó nhìn dọc theo những ô nhà hàng cửa đóng vắng vẻ, chỉ một quán nước trước Dòng Chúa Cứu Thế đã sẵn bày ra vài chiếc ghế nằm hóng mát, xếp ngổn ngang trên mặt cát. Biển buổi sáng sớm quá mà chưa ai tắm hết. Đứa nhỏ lập lại nhận xét, bởi muốn có người cùng chia sẻ cảnh tượng đất, trời, mặt biển mới mẻ tinh khôi. Gió đầu xuân hây hây gây ấm theo lượng nắng mỗi lúc mỗi thêm vàng tươi óng ả, nó ngước lên nhìn trời, xong đảo mắt vòng vịnh biển, bồi hồi xúc động do tìm thấy điều bí mật cho riêng mình.

Người thanh niên tuổi còn rất trẻ, khoảng hai mươi, da mặt trắng, hai má gầy lõm, ổ mắt sâu, tròng mắt đen ẩn dưới vòng chân mày đậm xanh. Khuôn mặt anh đầy bóng tối, nổi lộ tương phản dưới màu nắng sáng rỡ, lưng cúi xuống che dấu như đang phải chịu đựng cơn lạnh tiềm ẩn từ bên trong. Nghiêm trang, kín đáo từ dáng đi, cử động, anh đến dựng một chiếc ghế xếp, mở những càng chống bằng gỗ, rũ tấm nằm vải ny-lông, trãi dài thân ghế dưới gốc cây dừa, sau một lùm bụi rậm rạp, thân lá lớn bảng màu lục đậm, ngã bóng xuống mặt tấm nằm tạo thành những vùng lốm đốm sáng, tối xao động.

Người thanh niên cởi áo sơ-mi máng vào lưng ghế trước khi tụt xuống chiếc quần màu xanh đen. Đứa bé suýt kêu tiếng ngạc nhiên – Người thanh niên mặc quần lót dài vải trắng bó sát đùi như của phụ nữ. Và đứa bé tiếp suy đoán, tìm hiểu, tại sao người thanh niên có dáng vẻ nghiêm chỉnh, kín đáo, chọn nơi vắng người để thay áo quần trước khi tắm – Anh ta phải là con nhà giàu, đẹp trai, lớn đến hai mươi tuổi mới có bộ đồ lót trắng khác lạ như thế. Đứa nhỏ bỗng nhiên có nỗi thích thú do vô tình khám phá ra điều bí mật riêng tư của một người – Một người thanh niên không muốn kẻ khác thấy tình trạng trần trụi yếu đuối của mình tại thời khắc đơn lẽ trước biển, trời thăm thẳm bằng bặt. Anh ngần ngại nhìn quanh.. Bãi tắm vắng vẻ, trên mặt cát ướt hiện rõ những vệt lằn của lũ dã tràng im lìm, lầm lũi làm công việc vô hồi bất tận. Sóng ùa vào, cuốn phăng những dấu vết của dã tràng và đám còng gió cũng vụt biến mất liền theo sau với âm động rì rào khi nước triều kéo xuống, rút vào những hang ổ dày đặt của đám côn trùng. Anh trút chiếc quần lót dài, vươn vai, thân hình cao gầy bày ra mong manh giữa tầng tầng không gian bao la, đi dần xuống mé nước, bụng hơi thóp lại bởi chớm lạnh khi bàn chân bị bọt sóng trùm lấp. Người thanh niên bước lùi lại lên bờ, hơi mĩm cười như tự chế nhạo vì tình cảnh rụt rè của mình, nhìn quanh quất, ngó mông… Khi bắt gặp ánh mắt dò hỏi của đứa bé, anh quay mặt ra lại hướng biển, tự nhủ… Nó chỉ là đứa nhỏ để ý làm gì, cũng chẳng biết ở đâu đến, sao sáng sớm ra biển ngồi một mình. Và như để tránh xa gã thiếu niên mà anh biết đang theo dõi mình, người thanh niên đi dài theo bãi biển hướng Cầu Đá, nhìn xuống những dấu bàn chân lún sâu nền cát ướt. Trước khi buông thả ý nghĩ chập chờn duỗi theo lượn sóng xô đuổi, anh trở lại liên tưởng về đứa nhỏ để nhận ra điều ấm áp – Ít nhất mình cũng có một người bạn chung cảnh ngộ sáng nay.

Sau nầy, khi khôn lớn, gã thiếu niên rời thành phố với hồi ức rõ nét: “Ở Nha Trang, có người mặc quần lót dài đi tắm biển. Đấy là “người thanh niên đẹp trai, hai mươi tuổi ra đến biển kín đáo, một mình”- Sỡ dĩ trong trí não của gã có nhóm từ ngữ “người thanh niên hai mươi tuổi, đẹp trai…” vì do từ thuở nhỏ đã nghe ra đâu một lần: ”Người thanh niên hai mươi tuổi”, nên hắn giữ chắc ý nghĩ: “Thanh niên khi đến hai mươi tuổi thì đã tốt đẹp, hoàn hảo, trưởng thành”. Hắn cũng luôn nhớ cảm xúc rạo rực gợi nên từ buổi sáng xuân sớm, trước vùng trời, nước bừng bừng nắng sáng xôn xao mùi biển mới, so với vịnh biển bình an bốn bề núi bao bọc, nơi hắn đã sống qua kỳ thơ ấu ở Đà Nẵng. Ngày sống với mẹ và em.

Hai.

1964 – Chuyến xe đò chạy từ sáng sớm rời Nha Trang, đến Quy Nhơn dọc theo những xóm làng miền biển, nơi anh sinh sống, lớn lên qua nhiều năm dài, không gây nên phản ứng cụ thể. Bởi cảnh sắc, môi trường với hàng dừa cao ngọn vây quanh những khu làng nằm cạnh cửa sông, bên vịnh biển đẫm mùi muối đã kết cấu cùng anh nên một khối vật chất liền lạc, là phần biểu hiện chung về đời sống giác quan, tâm hồn anh với một không gian thân thuộc, tự nhiên như hơi thở, giọng nói, mùi người tự xác thân. Là chính anh. Nhưng khi chiếc xe hàng bỏ Quốc Lộ I, rẽ vào Đường 19, qua đèo An Khê, núi dựng trường thành lớp lớp xanh hướng phía Tây ngăn cách hẳn với đồng bằng báo hiệu cho anh lần khởi sự cách lìa, đổi thay thâm sâu toàn diện. Một đời sống, cảnh sống khác đang đợi anh nơi xa kia, trong vùng núi trầm trầm bí ẩn. Khi xe qua khoảng đường đèo cuối cùng trời đã sập tối, gió gây rét mang ẩm ướt của rừng thổi đùa trãng tranh trôi nổi cuồng cuộn, tăng thêm vẻ hung hản của đồng hoang dưới ánh đèn loang loáng dọi ra từ đầu xe. Và thành phố Pleiku lắt lay đóm sáng mờ đục dưới vũng sương mù gây trong anh mối xúc động đột ngột… Chốn của mình là đây? Nơi của mình là đây chăng? Quả thật, anh không hề nghĩ ra trên cùng một quê hương, chỉ sau một buổi di chuyển, sẽ tới một vùng đất lạ lùng, ẩn mật đến ngần nầy – Nơi cách miền biển một đoạn đường hai trăm cây số, qua những đỉnh đèo lẫn trong mây. Dẫu rằng trước đây anh cũng đã vài lần đi tới. Nhưng những lúc ấy anh đang trong độ tuổi thiếu niên, lòng chưa đủ hiểu hết nghĩa buồn phiền.

Pleiku đang trong hồi báo động. Quân cộng sản pháo kích toàn vùng, khu quân sự lẫn thị xã. Tiếng nỗ ầm vang mọi hướng, lưỡi lửa loé rộ, chớp sáng, nháng đỏ đường phố, soi rọi, xô đẩy những thân cây cao chập chờn chuyển động giữa vũng đen nguy biến. Đám hàng khách dồn vào phòng đợi, ngồi chen chúc giữa những bao gói, thì thào than vãn… Tại răng… Tại răng, ông không… không để tui ở lại dưới Quy Nhơn cho yên thân, mà đem.. đem tui lên chi đây.. chịu súng đạn, khổ như ri hở trời? Người đàn bà trì siết đứt khoảng bởi sợ hãi làm tê liệt, rung rẩy âm nói. Giọng đàn ông (ý hẳn là người chồng) gầm gừ, bực tức lẫn cay đắng: Bà nói rứa nghe được không… Hữ nghe được không! Bà con, bà con… Cho tui xin, còn chi mà cãi nhau trong cảnh nầy! Tiếng xầm xì chìm xuống, lời cầu kinh, niệm Phật rầm rì. Bỗng tất cả đột nhiên im bặt khi tiếng rít trái phá bay ngang trên tầng trời, và nỗ bùng nơi khoảng sân đoàn xe đậu. Đám cháy tiếp liền tiếng nổ dâng cột lửa lên cao, dọi loáng thoáng xuống đám người ngồi hoá thân nên thành những hình khối loang lỗ.

Anh ngồi im lặng trên một chiếc xắc tay, chiếc thứ hai ôm sát ngực như một vật cản che chắn, nhìn lên vùng trời tối đen rúng động bởi tiếng nổ và lửa ngọn, lòng trống rỗng, không cảm giác. Mình rời Nha Trang mới được một ngày mà sao như đã quá lâu! Anh muốn kìm giữ sự so sánh nầy để có một ý niệm cụ thể trong đầu, nhưng cuối cùng, ý nghĩ nầy cũng như ngọn nến nhỏ bị gió bão thổi tắt đi. Khoảng gần nửa đêm, đợt pháo kích im dần, chỉ còn những tiếng đạn bắn đi xa, từ trời cao. Một người trong đám giải thích: Đó là tàu bay và súng của bên mình phản pháo Việt cộng đó. Có thể một số đông trong đám người không rõ “bên mình” và “Việt cộng” gồm những ai, khác nhau ra sao, nhưng tiếng đạn nổ nơi xa gây điều yên ổn, bắt đầu rầm rì trò chuyện, đợi tai họa đi qua.

Theo lời chỉ dẫn của người ở bến xe, anh lần theo con phố chính. Khi qua khỏi chiếc cầu, con đường trở nên dốc ngược và trên cao, trước mặt anh, thị xã Pleiku mở ra như một lời kêu than chịu đựng với những bóng người lướt thướt di động dưới những hàng hiên, thấp thoáng trên nền lửa đỏ nhừ nghi ngút khói từ những căn nhà vừa bị trúng đạn pháo. Anh đi theo cạnh một xe phở gánh, ngọn đèn khí đá treo đong đưa rọi sáng một phần khuôn mặt hốc hác, lấm chấm hàm râu thưa, người bán phở chống tay lên càng xe, cong lưng nặng nhọc đẩy, chốc chốc ngước nhìn khoảng tối bay mù tàn lửa. Bác cho tôi hỏi: Đường Hoàng Diệu nối dài có phải là đường nầy? Đường ni là Hoàng Diệu, đi hết mới tới Hoàng Diệu nối dài, cứ đi thẳng một mạch. Bao xa hở bác? Tui không rõ, hết dốc thì tới, nếu cậu muốn thì cứ theo tui, tui về trên Trần Khánh Dư, cũng đi ngã nầy, chết chóc như ri thì ai còn lòng dạ mô mà nuốt cho vô, cho vàng cũng khôn thiết đừng nói chi tới phở. Giọng người thôn quê miền Trung bình thản, chịu đựng, trống không. Anh đi theo người bán phở, nhìn vào khối lửa lò đỏ rực. Ở đây hay bị bắn như thế nầy sao bác. Mới bắt đầu đâu khoảng tháng ni, khi có Mỹ tới, nghe đồn Mỹ dội bom mô ngoài Bắc, thằng con tui đi lính về cũng nói rứa. Mà cậu ở mô tới chỗ chó ăn đá, gà ăn muối ni? Dạ tôi lên đây dạy học, tôi người dưới Nha Trang. Bộ hết chỗ rồi răng mà lên thấu đây, mưa thì thúi đất, mà nắng thì bụi đỏ cả tóc, đóng vô hai lỗ mũi. Ở trên bộ họ chỉ đâu thì đi đó, nhưng người khác sống được thì mình cũng sống được mà bác. Anh nói thật lòng vì vốn quen cảnh đơn độc, lẽ loi từ tuổi nhỏ với nơi u uẩn tịch mịch. Bây giờ cũng thế, Pleiku hoá thân thiết ngay từ buổi đầu, đang cùng anh chia sẻ nỗi se thắt nguy nan, như màn sương ẩm lạnh dầy bóng tối rung rẩy bởi loạt đạn pháo dội đâu từ núi sâu. Anh thấy như đã thật sự đứt lìa với vùng biển dưới bình nguyên.

Ba

Viên chuẩn úy quá trẻ trong bộ đồ tác chiến nhàu nát khá rộng so với vóc người, nón sắt úp xuống sát mí mắt, và chiếc ba-lô xộc xệch trên vai với những giây quai quăn queo rủ xuống từ những nắp túi không gài kín – Tất cả còn nguyên nếp gảy góc do cất giữ lâu ngày nay mới được phát ra. Người lính cởi ba-lô xuống, máng lên một bên vai, gở nón sắt cầm tay, xong đội lên lại theo một vị thế thật ra cũng không khác với vị thế ban đầu. Anh ta thật sự bối rối với những vật dụng lần đầu tiên phải mang vác trên thân giữa đám đông và nơi chốn xa lạ; anh cố ý mĩm cười, gật đầu chào với bất cứ ai nhìn đến, như để chứng tỏ cũng đã quen người, quen cảnh nơi đường phố rối rắm xao động nầy với từng luồng bụi đỏ dậy nên từng chập mỗi khi cơn gió gây rét thổi qua. Không thấy ai trả lời cách chào hỏi của mình, người lính đi lần theo con dốc, nón sắc kẹp bên hông, lẫm bẩm những câu hỗn độn với chính mình. Đến nơi ngã ba, anh nhìn lên bảng tên đường, chăm chú đọc như muốn tìm kiếm một điều gì quan trọng… Đường Hoàng Diệu, ở đây cũng có đường Hoàng Diệu như ở Đà Nẵng, cùng tên trường mình học lúc nhỏ ở ngoài đó, trước khi vô Nha Trang. Anh nói nên lời và thật sự cười thành tiếng vì nhận ra được một đầu mối quen thuộc thân thiết. Ánh mắt thoáng chốc bừng lên sống động – Cách vui vẻ tự nhiên, dễ dàng của tuổi trẻ để giải quyết lúc khó khăn, mối phiền bực. Nhưng cách thức giải quyết tạm thời nầy không thể kéo dài.. Chéo góc nơi anh đứng, đối diện bên kia đường, căn nhà sụp mặt tiền với những cột gỗ cháy dỡ, nám đen do trận pháo kích từ đêm trước, hai chiếc quan tài gỗ tạp chưa kịp sơn đặt song song, chông chênh trên những chân đòn thấp. Trước hai bát nhang nghi ngút tỏa khói, người đàn ông ngồi ôm đứa bé, gục đầu xuống gối không rõ mặt, cả hai đồng quấn dối vành khăn tang lấm vết đất đỏ như dấu máu. Đám tang không tiếng khóc. Lạnh tanh. Trước hai quan tài, có tấm bảng giấy viết nguệch ngoạt hai chữ cách khoảng: “mẹ, vợ”, ý chừng để phân biệt hai người chết gồm những ai và nằm ở vị trí nào.

Viên chuẩn úy cau mặt, anh ta không lường trước cảnh tượng thảm thiết đột ngột nầy nên băng nhanh qua đường, đi vào ngã rẽ thẳng góc với đường Hoàng Diệu, cố ý tránh xa căn nhà có đám tang. Bây giờ đi đâu ta? Anh (tự) nói tiếng rõ như thể đang hỏi một người bạn đứng cạnh, và cuối cùng, đến trước một quán ăn bảng hiệu kẻ chữ Trung Hoa, mặt tiền giăng cửa lưới ám khói, trần thấp, nhìn vào đầy khoảng tối. Viên chuẩn úy bước vào, lẫm bẩm… Kệ, vô kiếm gì ăn, chứ biết đi đâu bây giờ đây. Thật sự anh không hề nghĩ đến chuyện ăn uống, chỉ cốt quên đi nơi đáng sợ vừa thấy qua.

Người thanh niên ngồi ở sâu góc quán, im lặng nhìn xuống phin cà-phê nhỏ giọt. Tròng mắt anh xanh đen long lanh sáng hơn màn bóng tối của căn phòng. Khi gã lính trẻ ngồi xuống, anh khẽ liếc qua… Hai tia nhìn chạm trợt. Anh liền lãng tránh, nhìn xuống lại phin cà-phê, nhưng lòng đột nhiên có niềm an ủi vui vui, bởi vừa thoáng nghĩ… Ít nhất cũng có kẻ chia với mình buổi trưa ủ dột nặng nề nầy. Vệt nắng vàng úa yếu ớt dọi chéo qua ngạch cửa. Trời bắt đầu vào chiều, gió thổi bụi mù hanh hanh lạnh.

Bốn.

1975- Căn phòng thấp, không điện, người chủ quán đốt hai ngọn đèn bát thắp dầu cặn, khói đen bốc cao từ những tim khêu to, bám dày vòng muội đèn đen xỉn. Cuộc rượu im lặng một cách bất thường. Những người lính ngồi quanh chiếc bàn gỗ, trên bàn vỏ chai bia để đứng, nằm ngỗn ngang, những bàn tay đưa ra nắm lấy cổ chai, dốc ngược miệng chai lên môi, xong chậm rãi bỏ xuống. Không ly, cốc và cũng không một dĩa thức ăn. Người ngồi giữa bàn, đối diện với bát đèn, đưa cao ngón tay làm hiệu. Viên chủ quán bước đến… Ông chủ còn bao nhiêu bia đem hết ra đây cho anh em tôi, và tính tiền trước để tôi trả. Hai két bia được kéo đến, người vừa gọi bia cho tay vào túi trong áo field jacket rút ra nắm giấy bạc màu xanh nhạt, đưa cho người ngồi cạnh… Cậu tính giùm, trả cho ông ấy. Tiếng giấy bạc đếm xào xạc. Còn hơn năm ngàn thiếu tá. Người ngồi cạnh đưa lại số tiền thừa cho viên chỉ huy. Giữ luôn đi. Người vừa gọi là “thiếu tá” nói nhỏ lơ đãng, anh đưa cao một chai bia mới vừa mở lên môi sau khi lau qua trên thân áo. Người ngồi chung quanh cùng làm một động tác tương tự, tiếng rời rạc khẽ động khi những đáy chai để xuống mặt bàn.

Viên thiếu tá gõ gõ ngón tay lên huy hiệu màu đỏ trên vai áo trái… Các ông biết dấu hiệu nầy có ý gì không? Thì như mọi người thường hay nói… Là núi, sông mà sư đoàn mình phải cày cho đủ!! Một người nào đấy nói nhỏ, giọng phẳng lỳ, miễn cưởng. Nếu vậy thì tôi hỏi làm gì. Viên thiếu tá cười ngắn, lạnh lẽo… Nó chỉ số “mười một“. Mười một gì thiếu tá? Người hỏi có vẻ để ý, theo dõi. Nghĩa là hai vạch màu trắng chỉ số ”11 năm”- Nó báo cho biết – Tôi phải ở đây “mười-một năm”. Tôi đến đây từ “Sáu-tư”, bằng tuổi mấy cậu trung đội trưởng của ông Minh bây giờ. Viên thiếu tá chỉ tay vào người đối diện, mặt lẫn khuất bóng tối vì chiếc mũ vải vành nhỏ đội sụp. Người nầy hỏi tiếp, chỉ nhích miệng chai khỏi môi: Thiếu tá biết từ lúc ấy, hay sau nầy mới suy ra? Tôi mới biết ngay bây giờ. Đêm nay. Mười–một năm sau. Thôi mình uống hết “tua” nầy thì về. Mai còn có việc. Người chỉ huy dốc ngược chai bia vào miệng. Những bóng người chập chờn, dãy dụa trên vách tường, ngọn khói đen cuộn bốc mùi khét đặc. 

Từ đường Hai BàTrưng anh đi qua khu chợ, những dẫy nhà im lặng, đen sẫm hơn bóng tối nằm khuất lấp dưới tàng cây thấp, hiện hình những khối đen xao động mỗi khi có gió thổi qua rung cành lá. Anh thận trọng dò dẫm bước chân trên mặt nhựa phủ lớp đất đóng khô thành những mô, ụ nhỏ.. Chẳng lẽ ai cũng đi hết hay sao mà không có chút đèn đóm gì cả thế nầy… Hỏi vậy coi như không hỏi còn hơn, cứ trông thì biết thôi. Anh đặt câu hỏi, và trả lời để tự trấn an, nhưng chỉ sau khi đi một quảng ngắn, anh đã nhận ra việc rời nhà trong đêm giữa đường phố không người, không đèn là một điều nguy nan, thiếu tính toán. Việc làm vô nghĩa, vô ích. Thôi đã lỡ thì đi một vòng ngắn rồi về… Biết bao giờ mới trở lại. Anh thúc dục với mình khi chân tiếp tục lần về phiá trước. Khối trường học to lớn quen thuộc cùng ánh đèn dọi ra từ đồn Quân Cảnh nơi khúc quanh đầu đường Hoàng Diệu làm anh phấn khởi trở lại. Anh tự chế diễu: Chỉ bị thần hồn nhát thần tính, có gì đâu phải sợ, chắc vẫn còn nhiều người ở lại, nhưng do không ra khỏi nhà đấy thôi. Nhưng mối tự tin ngắn ngủi mong manh nầy phút chốc tan biến khi anh tới trước chiếc cổng khoá chặt của ngôi trường và nhìn dọc theo Đường Hoàng Diệu âm u không tiếng động quen thuộc của một khu phố chợ luôn sầm uất, sống động, dẫu trước đây luôn gánh chịu tình trạng chiến tranh nặng độ. Đường Hoàng Diệu đêm nay thăm thẳm lặng im với sự chết dần mòn tức tưởi. Tiếng chó tru thảm trước căn nhà kín cửa dài theo dẫy phố tối, gờn gợn bóng đen những thân cây thông sừng sững như những người khổng lồ bị xiềng đang cố chuyển động, xê dịch. Anh rung chiếc xích khoá cổng. Âm động cọc cạch, khẽ vang khô lạnh. Chẳng biết học trò và mấy anh, chị ấy ở đâu?! Anh không thể nghĩ tiếp như người kiệt lực gục ngã cuối một đoạn đường dài vừa chạy quá sức. Anh nhìn qua cánh cổng, tưởng như bóng tối có tầng lớp, lớp đen của khối nhà đậm hơn khoảng đen của khu sân. Họ ở đâu hết nhỉ… Trong một thoáng rất ngắn, anh thấy rõ lại khuôn mặt mỗi học sinh của tất cả các lớp, và cử chỉ, lời nói của từng thầy, cô giáo, buổi chào cờ khai trường đầu tiên – Tháng Chín, năm 1964 – Ngày anh đến đây, hai-mươi sáu tuổi. Cũng hôm ấy, anh mặc chiếc áo len cụt tay màu xanh, thắt cà-vạt đầu đời đồng màu với áo, có những hoa trắng nhỏ thêu chìm – Chiếc cà-vạt của M, mừng ngày anh ra trường sư phạm. Không thể chịu đựng thêm phần thấm đau của nhịp liên tưởng, anh rủ mạnh chiếc khoá cổng và bước đi. Theo thói quen, dẫu bóng tối dày, anh cũng đi đến cuối con dốc Đường Hoàng Diệu, rẽ trái, lên ngã rạp hát Diệp Kính, rạp chiếu bóng lôi thôi một cách thân mật, mà vào những đêm đi chơi khuya trước đây, anh luôn có ý định “vào xem trong đó có gì”. Ý định ấy đêm nay hóa thành niềm hối hận, như anh đã vô tình xem rẻ một cảnh trí nghèo nàn của nơi chốn trú ngụ thiết thân. Chẳng phải sau mỗi lần đi xa, anh đã luôn dùng cụm từ “về Pleiku” thay vì “lên Pleiku” một cách tự nhiên hay sao, cho dù anh về thăm nhà ở Nha Trang, nơi đã một lần với M.

Từ rạp Diệp Kính, anh đi tiếp đến hang đá Đức Mẹ với bước chân hối hả nôn nao. Cửa sắt rào trước hang hé mở, dãy đèn nến luôn thường trực thắp sáng đêm nay hình như nhiều và sáng hơn giữa vũng tối thoi thóp của Pleiku. Anh quỳ xuống bệ đá, nhìn lên pho tượng với đường nét tà áo, dáng đứng uy nghi, ánh sáng từ dãy nến hắt lên, soi rọi thấp thoáng khuôn mặt đau buồn muôn thuở. Lạy Mẹ! Anh kêu lên tiếng rõ, thấy hiện thật – Người Mẹ hằng xót thương – Hiện hữu với anh nơi giờ phút không chuyễn dịch, giữa vô hồi cùng tận thời – không. Khi vòng qua con đường nhỏ đổ xuống lại đường Hoàng Diệu, anh đi ngang quán ăn người Tàu mà đến bây giờ anh vẫn chưa hiểu nghĩa những chữ Hán viết trên tấm bảng hiệu, anh nhìn vào… Đám lính đang lục tục đứng dậy, ánh đèn dầu sau lưng họ làm cho căn phòng trở nên đông đúc. Anh bước vào với nỗi hân hoan vớt vát… Đấy, còn bao nhiêu là người. Vẫn còn nhiều người ở lại. Còn người. Còn người mà… Anh lớn tiếng chào những người lính… Chào các anh. Chào các bạn. Anh nói lớn, nhấn mạnh nồng nhiệt chữ “bạn” một cách cố ý. Mời các bạn ngồi lại thêm một lát, tôi xin được mời các bạn uống với tôi một chai bia. Người đứng trước đám lính trả lời khi đội chiếc mũ lưỡi trai lên đầu… Cám ơn ông, cám ơn, chúng tôi vừa uống xong, mà cũng hết ráo cả bia, bọt, và…Xin lỗi, ông làm gì mà giờ nầy còn đây?! Người chủ quán ý chừng muốn nhanh chóng đóng cửa, vội chen vào: Ông thầy giáo đó mà, ông thầy dạy học ở trường con trai, con gái. Trời đất, giờ phút nầy còn dạy ai nữa đây hỡ ông giáo, ông ở đâu, chúng tôi đưa về, rồi lo chuẫn bị mà đi đi. Người lính kêu lên, vỗ vai anh ái ngại, thúc dục. Cơn vui vẻ sống động chợt mất hẳn. Đường thở anh nghẹn thắt. Và như để chấm dứt níu kéo vô vọng trong lòng anh… Toàn thị xã bỗng dưng đỗ dồn cơn thác lũ ầm vang tiếng nỗ, và hồi còi báo động rên siết luồng sâu, chập choạng với bóng tối bắt đầu biến dạng nên thành vũng lửa đỏ hồng hừng hực. Dọt! Ông thầy giáo ở đâu chúng tôi đưa về! Anh được người lính đẩy lên xe mau chóng.

Năm.

Viên Tướng Tư Lệnh vùng, nét mặt khắc khổ, nói cùng người chỉ huy đoàn quân với giọng xúc động: Toàn bộ lực lượng trong vùng chỉ còn một mình tiểu đoàn anh. Tôi biết, một tiểu đoàn khó xoay chuyển gì được với tình hình nầy, nhưng chúng ta không còn chọn lựa nào khác. Trong Ban Mê Thuột, họ trông mình từng phút, ở đó cũng là gia đình của các anh. Anh có thể cho tôi phần hy vọng nào không? Viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng thật sự tuổi chỉ khoảng vừa quá ba mươi, nhưng bởi lo toan chiến trận và trách nhiệm chỉ huy nên đã biến dạng thành cằn cỗi, khô khan. Anh trả lời rung động, nhưng không kém phần quyết tâm: Trại gia binh tiểu đoàn tôi đang bị Việt cộng chiếm đóng, nếu thiếu tướng không ra lệnh, chính binh sĩ, họ sẽ yêu cầu cho nhảy vào trong đó. Riêng tôi, tuy không phải là người ở đây, nhưng cũng đã cùng sống, chết hơn mười năm với đơn vị, nên Pleiku, Ban Mê Thuộc, Komtum nầy đã là “nhà” chung của chúng tôi, vậy chỉ xin thiếu tướng nói vài lời với anh em.. Riêng cá nhân tôi, xin hứa tuân lệnh tuyệt đối của một người chỉ huy.

Viên thiếu tá hô lớn: Chào tay.. Chào!! Toàn bộ ban tham mưu, và sĩ quan Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 45, Sư Đoàn 22 Bộ Binh đồng đứng thế nghiêm, chào tay chạm vành nón sắt. Gió buổi sớm vùng Tây Nguyên se sắc lạnh làm sớ thịt ở hàm họ siết cứng lại, tăng thêm vẻ chịu đựng bi tráng quả quyết của những người biết chắc sau những giờ phút ngắn ngủi nầy, phần thãm họa ắt sẽ đến mà chính họ, và những người lính dưới quyền phải hứng chịu toàn diện.

Viên thiếu tướng đứng lên trên chiếc xe jeep mui trần của tiểu đội quân cảnh hộ tống, gỡ nón sắt cầm tay, như để tựa vào một điều chắc chắn trong giây phút nguy nan, cảm khích. Các anh em… Tiếng nói khàn đục chợt tắt.. Các anh em, trong đó, trong Ban Mê Thuột, Việt cộng đang tấn công, chiếm giữ trại gia binh. Các anh em phải về lại trong đó, tôi có mặt với binh sĩ, tôi có mặt với anh em ở bãi đỗ quân quận Phước An, tôi cũng sẽ có mặt với anh em nơi Ban Mê Thuộc, ngày mình chiếm lại. Anh em hãy quyết chí với tôi…

Quyết chiến! Quyết chiến! Hàng quân đồng đưa cao vũ khí, nhưng có những người lính khác thường, không nón sắt, không súng đạn, đưa lên những vật phẩm kỳ lạ – Những đứa bé còn ẵm bế trên tay. Đấy là những người vợ lính theo chồng ra nơi tiền trạm hành quân, nay cùng chuyến đổ quân trở về trại gia binh. Lời thề quyết chiến của những người đàn bà nầy được nghe rõ do thanh sắc trong trẻo, nhỏ bé, theo gió bay lan xa trên sân bay trực thăng núi Hàm Rồng trước giờ trực thăng cất cánh đỗ quân giải tỏa Ban Mê Thuột. Khi bay trên không phận bãi đáp Phước An, từ trực thăng chỉ huy, viên thiếu tá tiểu đoàn trưởng nhận được lệnh mới: Thay vì từ bãi đáp Phước An, theo như lệnh hành quân đã phổ biến, đơn vị tiến theo hướng Tây-Tây-Bắc, cố gắng liên lạc với Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân đang cố thủ những vị trí còn lại trong thị xã, nay tiểu đoàn chuyển hướng hành quân, băng rừng về Đèo Khánh Dương, giữ đường xuống Nha Trang. Viên thiếu tá gào to uất hận: Xin cho biết giới chức nào ở đầu máy? Tôi là thẫm quyền mới của anh, dứt. Dưới tàu của viên tiểu đoàn trưởng, từ đuôi một trực thăng đỗ quân bốc đường khói đen dài, thân chiếc tàu bị nạn xoay tròn như con vụ, những thân người rơi ra vương vãi… Những chấm đen tơi tả, phần phật cháy như đốm lửa pháo bông.

Sáu.

Anh cột hai chiếc bình ny-lông đựng xăng và nước uống vòng qua nắp xăng chiếc honda, bỏ những gói mì ăn liền vào chiếc túi xắc cột túm miệng, xong đeo vòng sau lưng như một bịch tượng gạo, đội chiếc nón lưỡi trai, đeo chiếc kính dâm to bảng, quấn chiếc khăn lớn quanh cổ. Anh nhất nhất làm theo lời nhắc nhở như ra lệnh của ông chủ nhà chỗ ở trọ… Thầy nhớ mang theo chai dầu gió, cái áo bờ-lu-dông lỡ trời mưa, phần để ngủ đêm khỏi lạnh. Nhưng làm sao tôi trả được chiếc xe nầy cho bác, nếu tôi không về lại đây? Thầy không về đây thì thầy đi đâu, trường ni là của thầy mà, thầy đã không nói với tui như rứa à, thôi, thầy cứ đi đi, đừng thắc mắc. Ông lão chắc giọng. Nhưng nếu tôi không trở lại được? Anh vẫn chưa muốn rời bỏ căn nhà đã hơn mười năm cùng chung sống với những con người trung hậu, tốt lành như một điều tự nhiên. Tiếng nổ đầu đường Hai Bà Trưng, nơi con dốc đỗ xuống Ty An Ninh Quân Đội chấm dứt nhanh câu chuyện, ông lão chạy vào nhà sau khi chỉ kịp hối thúc, khẩn cầu lần cuối. Trời đất ơi là trời.. Tui xin thầy, chạy đi thầy ơi! Anh lên xe, thân hình hơi chao đão vì gói đồ lệch về một bên, hít hơi dài trước khi rồ máy. Anh nhận thấy trong không khí có mùi khét lạ nhưng không kịp tìm hiểu, vì gió thổi thốc đám khói dày nhầy đục mùi dầu cặn từ khu canh nông bị đốt cháy đang bừng bừng cuồng cuộn bốc cao. Anh có ý định ghé qua hang đá, nhưng khoảng dốc bị chắn lối bởi dãy cây thông lề đường gãy đổ do đợt pháo kích từ đầu đêm, và hai xác chết nằm kẹt dưới những cành lá. Họ là ai, và chết từ lúc nào… Chẳng lẽ là mấy người lính hoặc là ông Tàu chủ quán?! Nhưng mối băn khoăn nầy đồng tan mất, khi anh nhập vào đoàn người, xe nhốn nháo, đông đúc dồn ứ nơi ngã ba Thanh An, theo Quốc Lộ 14, xuôi xuống quận Phú Bổn. Những người nầy tối hôm qua họ ở đâu?! Anh chợt nhói cơn đau vì ý nghĩ: Hóa ra học trò mình và bao nhiêu người đã chịu khổ nạn từ rất lâu – Tai họa gắn chặt với từng ngày họ cố vượt sống – Khoảng đường dài bất tận mà giờ đây, anh mới chạm bước đầu.

Anh không biết mình đang đi đến đâu, với những phương tiện gì, hôm nay là ngày thứ mấy? Chiếc xe honda đã bị bỏ lại từ ngã Ba Mỹ Thạch, chỗ Quốc Lộ 7 và Đường 14 do mắc lầy dưới một vũng ruộng cạnh đường, và bị đoàn xe thiết giáp chạy đè lên, anh chỉ kịp tháo bình nước uống và chạy vụt đi với túi đựng thức ăn. Kính đeo mắt, khăn choàng cổ lần lượt bị rơi mất khi anh cố trèo lên chiếc xe hàng, chỉ với một chân gác được vào bục lên xuống, chân kia phải thòng ra ngoài hứng chịu cành cây đập dập liên hồi trong suốt chặng đường di tản vào ngày thứ nhất – Chỉ một ngày kể từ từ khi rời Pleiku. Nhưng chiếc xe hàng không chạy được bao xa, bởi khi đang qua một đồi thấp, thân xe bỗng nhiên bị xô hẳn về phía vực sau một loạt tiếng nổ bên cạnh sườn phải, và chiếc xe chao đão nghiêng dần xuống vực bên trái đường đi. Anh bị ném lên bãi đất cỏ, và ngất đi trong một khoảng khắc ngắn, trước khi đầu máy xe cắm ngược xuống gềnh đá. Khi gượng đứng dậy được, anh nghe trong xe âm âm lời kêu gào tắt nghẹn của những người bị ngộp thở do bụi mù và cột khói bốc lên từ đầu máy, anh bật chạy xuống đáy vực với một nhanh nhẹn không lường trước. Cứu giùm, cứu giùm họ, bà con ơi, bà con ơi… Anh cố sức kéo búi cỏ, bụi lùm bịt kín cửa sổ bị lèn chặt giữa khối nặng của thân xe và sườn đá núi nhưng không thành, cuối cùng, anh nắm một bàn tay thâm tím đang thò với ra, những ngón tay rẩy rẩy, day day. Anh tuyệt vọng nhìn chung quanh để tìm cách cứu người bị nạn đang kẹt trong xe. Từ vực đá lên đường đi, thây người nằm vươn vãi, lầy lềnh, bê bết máu.

Những sự kiện đau thương trên diễn ra suốt từng phút giây của mỗi ngày, trên mỗi thước đường anh đi qua. Và khi đêm đến… Đêm anh vào đến một phố chợ, hay một quân lỵ nào đó với hai dãy nhà gạch nằm theo con đường chính mà phần mặt phẳng bị lấp đầy, dồn ứ bởi xác tất cả các loại xe, các loại súng và chồng chồng thây người bầm dập chen chúc giữa đống vật chất tan nát. Tất cả đang nghi ngút bốc cháy. Lửa chập choạng, rùng rùng, ngập ngập. Và đêm được nối dài tiếp chiều tối bởi ngọn lửa nhân tạo nầy, thế nên, anh chỉ biết được trời đang vào đêm khi vô tình nhìn lên khoảng không, lúc màn khói bị gió tạt loãng, và bất chợt nhận ra mầu trăng lưỡi liềm mỏng vàng đục đã xuống chênh chếch trên đầu rặng núi. Trăng xuống thấp như kia chắc mới vào đêm, vậy mà mình cứ tưởng mới vừa hết buổi chiều. Cũng là lần cuối cùng anh nhìn lên bầu trời trong suốt chặng đường chạy loạn. Thật sự, anh không còn khả năng suy xét, phân tích, phân biệt giữa xác thân còn sống của chính mình và sự chết tầng tầng, vây quanh theo từng thước đường anh đi qua, dầy đặc lượng khí trời anh hít thở. Và tiếp lần anh qua dòng sông. Câu chuyện những tầng điạ ngục từ các chuyện hoang đường là đây – Trên chiếc cầu gồm những tấm vĩ sắt ghép vội – Những tấm vĩ sắt được đặt trên những phao cao su lớn, cột chặt bởi những giây cáp bằng thép để tránh dòng nước xô đẩy. Thoạt đầu, thân cầu hơi bị lệch lạc, chồng chềnh khi giây xích chiếc chiến xa hạng nặng đầu tiên chạm vào đầu mé cầu phao, nhưng một quả đạn pháo đã nổ bùng chính xác trên bờ sông bắn tung đám người đang chờ đợi qua cầu, đồng thời hất nghiêng chiếc xe xuống dòng nước. Những người lính vùng vẫy, cố thoát khỏi lòng xe, nhưng khối nặng chìm nhanh hơn, kéo theo những cánh tay cố vẫy vùng trên thành pháo tháp chiến xa. Chiếc xe bị nạn vô tình biến thành điểm tựa cho những người lính công binh thay thế chiếc phao cao su bị phá vỡ, và những xác người trong chiến xa đồng thời cũng biến thành vật cản ngăn dòng chảy. Qua thêm một giờ, qua thêm một buổi, có thêm nhiều xe và người bị nạn, dòng nước trở nên trì chậm và người sống sót tìm đường vượt chết trên thây xác đồng bào mình. Không ai còn có thể nghĩ  dưới đáy nước đỏ nhừ máu có lớp lớp người chết dập.

Hậu Từ.

Anh có tâm trạng sống – trong- cảnh- chết nầy khi về đến Đèo Rù Rì vào một ngày cuối tháng Ba, với tiếng biển biền biệt mà anh nghe rõ tận sâu trong từng âm sóng hờn oan. Lần đầu tiên từ rất lâu, anh mong một lần được bật lên tiếng khóc. Từ đèo Khánh Dương, tuyến phòng thủ của đơn vị nhảy dù, viên Thiếu Tá Tiểu Đoàn Bộ Binh Sư Đoàn 22 giải tỏa Phước An được trực thăng đưa về tổng hành dinh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, nay đặt tại Đại Khách Sạn Nha Trang, để trình diện viên tư lệnh. Anh không thể nghĩ rằng người ngồi gục trước mặt anh là vị tư lệnh cơ trí, can trường mà anh đã từng tiếp xúc, nghe tiếng đồn ngợi khen từ bao năm nay, vị tướng lãnh độc nhất của quân đội miền Nam, các cấp bậc từ thiếu úy đến thiếu tướng chỉ được thăng cấp tại mặt trận. Người chỉ huy toàn chiến trường vùng duyên hải, cao nguyên, nay đã là hiện thân của suy sụp và tuyệt vọng. Ông im lặng bắt tay viên tiểu đoàn trưởng và thều thào tiếng nhỏ, ngắn, hụt hơi… Cám ơn, cám ơn. Và ra hiệu anh đi ra. Viên thiếu tá ra bãi biển bởi anh không biết mình phải đến trình diện ai, làm những gì?! Đơn vị còn lại đúng ba người, anh và hai người lính mang máy truyền tin, nay đang ngồi dựa vào thân cây dừa ngủ mê mệt. Anh đến sát mé biển, đặt bàn tay xuống nước, nhìn ra khơi xa. Trên khoảng tối xao động, sóng biển long lanh sáng hơn màn đêm đen có những chấm vàng rơi rớt. Anh nhìn lên trời, trăng qua đêm rằm méo mó, vàng đục, lệch lạc như trái bưởi khô héo treo trên cành cây nám cháy. Gió thổi có hơi nóng của khí trời đang ủ giông. Anh nhìn dài theo bãi biển, những nhóm người ngồi, nằm ngỗn ngang im lặng bên cạnh những khối lớn xiêu vẹo – Đoàn chạy loạn sống sót từ vùng cao, đêm nay, dừng lại với lều trại tạm trú cột vội bên cạnh thân những chiếc xe đã đưa họ về đến bãi biển nầy. Có người đứng nơi mé nước, thân hình như thể xao động, muốn ngã xô vào lớp sóng, bởi khối đen nhập nhòe pha lẫn mầu trăng và thủy triều thiêm thiếp vào ra, nhưng thật ra người chỉ đứng yên nhìn xuống nước. Đột nhiên anh nhói sắc cảm giác nôn nao của sớm xuân mới, Tháng Ba hai-mươi năm trước, một mình ngồi trên bãi biển nầy, nhìn sóng nhỏ rì rào xô dạt trên bãi cát tươi ướt, và câu nói bất chợt nhưng luôn được nhớ lại hằng bao năm qua, mỗi khi anh có liên tưởng về biển: “Ở Nha Trang, biển hôm nay sớm quá chưa ai tắm” Và hình ảnh người thanh niên lẻ loi trước biển trong buổi sáng lắng im. Đêm nay, trên bãi biển tuy có nhiều người nhưng chập chùng nỗi hoang vắng thê lương của cảnh tận diệt. Không còn người mà chỉ là hình hài mờ nhạt, tan vỡ của họ sau lần căng thân hứng chịu tận sâu nỗi chết – Con người đã hoàn toàn hũy hoại, chỉ còn lại âm vọng thương tâm trên triều sóng nước với tiếng biển gào động thăm thẳm nỗi đau.

Một mình. Người với biển.

Tháng Ba,

Viết lại, Nha Trang-Pleiku/ VN- Cali/Nước Mỹ Sau 71 năm (1955-1975-2026)         


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment