Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 27 Mar 2026

Chương 3

Viện binh đã đến. Các chân trống đã được bổ sung vào các ổ rơm đã được trải ra trong các lều. Có vài tên là tay cựu còn thì hăm-lăm tên mới gọi nhập ngũ từ căn cứ đến. Họ kém chúng tôi chừng hai tuổi. Kropp thích tôi: «Thấy tụi nhóc chưa? »

Tôi gật. Chúng tôi cởi trần, cạo râu ngoài trời, thọc tay vào túi, dạo qua các tân binh và cảm thấy mình là kỳ cựu. Katczinsky cùng đi với chúng tôi Chúng

tôi phất phơ qua chuồng ngựa lại toán viện binh vừa được phân phát mặt nạ phòng hơi ngat và cà-phẻ.

«Lâu lắm mới lai được ăn ra bữa nhỉ? »

Kat hỏi một nhóc.

Nhóc nhăn mặt: Ăn sáng, củ cải bánh mì – ăn trưa củ cải hầm – ăn tối củ cải sườn và củ cải sả lách.» Kat huýt sáo ra chiều thành thạo.

«Bánh mì làm bằng củ cải? Thế còn là may, có làm bằng mạt cưa cũng chẳng có gì lạ. Nhưng còn đận? Nếm chưa? »

Nhóc đỏ mặt. «Khéo giỡn hoài. »

Katczinsky thản nhiên nói: «Mang cà mèn lại đây. »

Chúng tôi tò mò theo dõi. Bác đưa tôi lại cái chậu cạnh ổ rơm bác, Chậu gần đầy nửa thịt hầm đâu.  Kateziasky dõng dạc đứng trước chậu như một ông tướng và nói:

«Mắt cho tinh tay cho lẹ! Dân Phổ đã bảo thế! »

Chúng tôi ngạc nhiên. «Chu choa, hác Kat, xoay đâu ra thế này? » tôi hỏi.

«Tao lấy đi Ginger mừng rơn. Tao cho hắn ba miếng lụa dù cơ đấy. Đậu lạnh ăn cũng ngon chứ nhỉ? »

Bác cho thầng nhỏc một phần và hậm hực nói:

«Lần sau có mang cá mên lại thì tay kia nhớ cầm theo một điểu xi-gà không thì cũng một mời thuốc nhai, Hiều chưa? » Đoạn bác quay lại chúng tôi. «Còn chúng mày dĩ nhiên miễn phí.»

Katezinsky không bao giờ lại bí,  bác ta có một giác quan thử sáu, Bất cứ ở đâu cũng có những người như thế nhưng thoạt đầu người ta không nhận ra cái giá tri của họ. Đai đội nào cũng có một hay vài người. Katczinsky là người tài tình nhất mà tôi được biết. Xuất thân làm nghề vá giầy thì phải, nhưng cái đó chả ăn nhậu gì, nghề gì bác cũng thạo. Làm thân với bác là một điều lợi, như thằng Kropp và tôi và thằng Haie Westhus nữa, không nhiều thì ít. Nhưng thằng Haie có thể nói là cánh tay thừa hành dưới lệnh của Kat mỗi khi cần đến đấm đá. Gì chứ chuyện này thì hắn nghề lắm. Chẳng hạn, có đêm chúng tôi đổ bộ xuống một địa điểm hoàn toàn mù tịt, đến một cái ổ thật là thiên não, tường tiếc gì là đổ nát cả. Chúng tôi đóng tại một cái xưởng máy nhỏ tối mò tam dùng làm doanh trại. Có giường, hay đúng hơn là kệ -hai cái đà gỗ trên giăng lưới thép. Lưới thép thì cứng. Lai không có gì lót trên. Các tấm vải sơn của chúng tôi lại mỏng quá. Chăn thì còn dùng để khoác.

Kat ngắm nghía địa điểm đọan bảo Haie Westhus: «Đi theo tao. » Hai người đi xem xét khắp. Nửa giờ sau thấy về hai tay ôm đầy rơm. Kat tìm ra một chuồng ngựa có rơm. Giờ thì hắn ngủ ngon nhưng phải cái đói cào ruột. Kropp hỏi một tay pháo thủ trước kia từng ở vùng này: «Gần đây có quán ăn quán iếc gi không? »

«Có cái gì? » hắn cười ồ. «Ở đây mà có cái mẹ rượt gì. Đến một mẩu bánh cũng đừng hòng tìm ra, »

«Bộ không có người ở sao chớ? » Hắn nhồ đánh phẹt. «Có, một cặp. Nhưng chỉ biết la cà quanh nhà bếp xin ăn. »

« Thế thi chán thật! Chỉ còn việc siết chặt dây lưng chờ sáng ra khẩu phần đến. »

Nhưng tôi thấy Kat đã đội mũ lên.

«Đâu đó, Kat? » tôi hỏi.

«Ử thì cũng đi xem chừng coi. » Bác đi khỏi. Tên pháo thủ khề khề có vẻ miệt thị.

«Cứ đi mà xem chừng! Nhưng đừng quá hy vọng mà mệt đa. »

Chán phè chúng tôi nằm xuống và đã bảo nhau thử liều xài khẩu phần dự trữ xem sao. Nhưng làm vậy nguy hiềm quá, nên cố nhắm mắt ngủ cho qua. Kropp chia đôi điếu thuốc đưa tôi một nửa. Tjaden chỉ cách nấu món ăn quốc hồn quốc túy của mình – đậu ván với thịt ba chỉ. Hắn ghét ăn món này mà lại không có tiêu

làm nồi vị và, «trời ơi, lại bỏ vào một lúc nấu đều, chứ đừng nấu khoai riêng và thịt ba chỉ riêng. » Có giọng hằn học bảo thằng Tjaden hãy câm cái họng không thì ông nện nhừ ra tiêu bây giờ. Thế là trong căn phòng lớn lại im phăng phác – chỉ còn hai ngọn nến chập chờn trên hai cái cổ chai và tên pháo thủ chốc chốc lại nhổ đánh phẹt. Chúng tôi sẽ cựa mình thì cửa mở và Kat xuất hiện. Tôi ngỡ minh chiêm bao, nách bác kẹp hai ổ bình mì tay xách một bao dựng cát đầy thịt ngựa còn rớm máu. Chiếc pip rơi khỏi mồm tên pháo thủ.

Hắn hít mùi bánh. «Đúng là bánh, mẹ kiếp! mà lai còn nóng nửa chớ. »

Kat chả nói gi lôi thôi. Có bánh là rồi, còn thì không đáng kể. Tôi dám chắc có vứt bác ta ra giữa sa mạc, nửa giờ sau là bác xoay ra bữa ăn có đủ thịt quay, chà là, và rượu. «Chặt ít củi, bác buông thỏng, Haie. »

Đoạn bác moi dưới áo ra một cái quánh, và một nắm muối lại cả một miếng mỡ trong túi. Bác chu đáo thật. Haie nhóm lửa dưới đất. Lửa soi sáng căn phòng trống rỗng của nhà máy. Chúng tôi tụt xuống giường.

Tên pháo thủ còn do dự. Hắn phân vân không biết có nên ca tụng Kat để may ra còn được một miếng. Nhưng Kat không buồn nhìn hắn như thể có nó cũng như không. Hắn bỏ đi chửi thề.

Kat biết phải ráng thịt ngựa sao cho mềm. Cứ thế bỏ ngay vào quánh là thịt phải dai. Phải đun tí nước sôi nhúng thịt trước cái đã. Chúng tôi ngời quây quần cầm dao xẻo ăn đầy bụng. Kat là thế. Nếu trong một năm chỉ có một giờ mới có một cái gì ăn và chỉ ở một nơi nào đó thôi, thì trong cải giờ ấy, như có thần nhỡn mách bảo, bác sẽ đội mũ, ra đi thẳng đến nơi ấy như theo địa bàn, và tìm ra cái ấy để ăn. Không gì bác không tìm ra – nếu trời lạnh, thì tìm ra một cải lò nhỏ, ra củi, ra rạ ra rơm, ra bàn ra ghế – nhưng nhất là ra thức ăn. Thật là thần tình; người ta ngỡ đâu bác làm phép lấy ở không trung ra vậy. Đặc biệt nhất là có lần bác xoay ra bốn hộp tôm hùm. Thú thật chúng tôi ước gì được một miếng bí tết bò thật ngon.

Chúng tôi ngồi cả ở bên phía lều có ánh nắng. Thoang thoảng mùi dầu hắc, mùi hè và mùi mồ hôi chân. Kat ngồi bên tôi. Bác có điều muốn nói. Hôm nay chúng tôi đã phải tập chào chỉ vì thằng Tjaden đã quên không chào một ông thiếu tá. Kat cứ thắc mắc mãi chuyện này.

«Mày thấy không, sở dĩ chúng mình thua trận là vì chúng mình chào giỏi quá,» bác nói. Kropp đứng lên, dây quần cuộn lại và đi chân không. Nó trải đôi tất vừa giặt lên cỏ để phơi. Hai tay bắt đầu lý sự. Đồng thời bỏ một chai bia ra cá kết quả của một trận không chiến đang diễn ra trên đầu chúng tôi, Katczinsky khăng khăng với cái lập trường mà vốn là một anh lính tác chiến kỷ cựu nên bác đặt thành vè là:

Cho chúng ăn uống đồng đều lương lậu đồng đều.

Chỉ trong một ngày là chiến tranh chấm dứt.

Trải lại Kropp là một nhà tư tưởng. Nó đề nghị rằng một cuộc tuyên chiến phải là một thứ hội hè bình dân có bán vé vào cửa có giàn nhạc, như thể đấu bò. Rồi trong, võ trường các bộ trưởng cùng các tướng tá của hai nước, mặc đồ tắm tay cầm gậy, liệu mà khện nhau. Anh nào mà sống sót thì nước anh ấy thắng. Như thể giản dị hơn công bằng hơn là cách sử dụng hiện giờ, trong đó những thằng không muốn đánh lại phải đánh.

Vấn để được bỏ ngang. Và giờ xoay sang chuyện tập luyện. Một hình ảnh đến trước mắt tôi. Trưa nắng chan chan trong sân trại. Nắng lơ lửng trên sân. Trại vắng tanh. Mọi vật ngủ vùi. Chỉ còn nghe tiếng mấy tên đang tập trống, chúng ở đâu đó và tập rồi nghỉ rồi tập, buồn tẻ chán như cơm nếp nát, Thật là hòa hợp dữ! Nắng trưa, sản trại, và linh trống gõ! Các cửa số trại đều rỗng đen. Ở vài cái thấy phơi quần. Các phòng mát mẻ và thằng nào cũng mong được về phòng. Ôi các lều tiểu đội tối tăm, ẩm mốc, với giường sắt, vải giường ô  vuông, tủ khóa và ghế đẩu! Dù sao chúng mày cũng trở thành vật đáng thèm ở đây chúng mày phảng phất giống như ở nhà: phòng chúng mày, đầy mùi thức ăn thiu thối, mùi ngủ, mùi khói và mùi quần áo!

Kalczinsky đã mô tả mọi cái bằng những màu sắc sống động. Chúng tôi sẵn sàng cho hết để được trở về đó! Nhưng mình chả nên theo đuổi mãi luồng tư tưởng này. Các giờ học tập sáng sớm ấy – «Các thành phần của súng trường 98 là gì? » – các giờ trưa thể dục – Anh dương cầm, bước! Quay phải, bước mau. Lại nhà bếp gọt khoai. »

Chúng lôi ngồi ôn lại. Kropp bỗng bật cười nói «Đến Lohne thì đổi! » Đó là cái trò ruột của ông hạ sĩ chúng tôi. Lohne là một giao điểm thiết lộ. Để các chú tân binh đi phép đến đây đừng lạc, Himmelstoss cho thực tập sự đổi tàu tại phòng trại. Chúng tôi phải học rằng đến Lohne, muốn sang đường nhánh, phải đi qua một đường hầm. Các giường được coi là đường hầm và thằng nào thằng nấy đứng nghiêm phía bên trái giường. Đoạn khi nghe hô: «Đến Lohne thì đổi! » là như chớp thẳng nào thằng nấy chui qua giường sang phía bên kia. Chúng tôi tập có thế mà suốt cả một tiếng. Trong lúc đó chiếc máy bay Đức bị bắn hạ. Như một sao chổi nó thành một dải khói đâm đầu xuống. Thế là thằng Kropp mất chai bia. Càu nhàu càu nhàu nó móc ví đếm tiền ra trả.

«Khi còn đi phát thư chắc chắn Himmelstoss là một thằng cha khác hẳn, tôi nói, sau khi Albert đã nguôi thất vọng. «Không hiểu tại sao khi là một trung sĩ huấn luyện hắn ta lại hách xì xằng đến thế? »

Câu hỏi làm sống lại Kropp, nhất là khi nghe nói ở quán hết bia rồi. «Đâu riêng gì Himmelstoss, mà còn hàng đống thằng khác. Đã đeo lon đeo sao vào là ngươi ta khác hẳn, khác gì như thể được nuốt bê tông.»

«Đó là tại bộ binh phục,» tôi đưa ý.

«Đại khái thì là thế, » Kat nói, và rồi tràng giang đại hải; «nhưng cải góc rễ của vấn đề thì nằm ở chổ khác. Chẳng hạn, khi ta tập cho một con chó ăn khoai và rồi sau đó lại chìa cho nó miếng thịt, bảo sao nỏ không đớp, vì đó là bản tính của nó. Thì gắn cho một thằng người nào đó chút uy quyền thì hắn cũng hành động như thế, hắn cũng đớp lấy. Hai cái giống nhau như đúc. Con người ở ngay nó chính yếu vẫn là một con thú, có điều hắn phết lên mình chút ít lịch sự như phết bơ lên bánh khác gì. Quân đội là được căn cứ trên điều này, người này là phải có quyền đối với người kia. Sở dĩ rắc rối chỉ là người nàn cũng có nhiều quyền quá. Anh hạ sĩ hành hạ thằng binh nhì, ông trung úy hành anh hạ sĩ, ông đại úy hành ông trung úv, cứ thế đến phát điên. Và chính vì họ biết họ được hành, nên chả mấy lúc anh nào cũng quen thói không nhiều thì -ít. Chẳng hạn chỉ một cái chuyện này nhé: mình đi tập diễn hành về mệt lử cò bơ. Thế rồi có lệnh đến phải hát. Được lê súng đã đủ sướng nhưng mình còn thú vị cái mẹ rượt gì mà hát vởi hỏng. Thế là cả đội phải quay lại bị phạt tâp thêm một giờ nữa, Khi đi trở về lai có lệnh hát, thế là mình hát. Thử hỏi làm thế có ích lợi gì cơ chứ? Chỉ vì cái đầu ông đai đội trưởng đang say sưa vì có quá nhiều quyền hành. Và chả ai trách ông ta. Trái lại, ông ta còn được khen là nghiêm khắc. Dĩ nhiên dây chỉ là một trường hợp vặt, nhưng những vụ nào khác đến đâu đi nữa thì cũng thế cả. Giờ tao hỏi chúng mày một thằng cha dù là gì chăng nữa vào thời bình, thử hỏi có cái địa vị nào cho phép hắn được hành động như thế mà không bị một quả đấm xep mũi? Chỉ trong quân đội hắn mới làm thế được. Thấy chưa, anh nào cũng say quyền say thế cả mà. Và ở đời sống dân sự càng chả ra cái thả gì người ta lại càng hăng tiết vịt. »

«Dĩ nhiên, họ nói là cần phải có kỷ luật, »

Kropp nói vẻ suy tư.

«Đúng, » Kat gầm ghè, «khi nào cũng giở giọng ấy. Có thể là thế; nhưng đừng để trở thành lạm dụng chứ. Nhưng thử đi nói thế với anh phó rèn, anh làm thuế hay anh làm thợ xem, thử giải thích cho thẳng binh nhì xem – và vì kỹ luật mà phần lớn họ có mặt tại đây. Họ chỉ biết có độc một điều là họ được tập luyện kỹ càng để ra trận biết rõ mình phải làm gì và đừng làm gì trong mọi trường hợp. Thật là kỳ lạ, tao thấy không hiểu sao thằng lính thường lại sống dai đến thế ở ngoài tiền tuyến. Kỳ lạ thật!

Chả ai cãi. Ai ai cũng hiết rằng ra đến chiến tuyến là hết tập tành và cứ cách sau đó năm dặm là Lủ tập tành, với đủ trò vớ vẫn nào là chào thôi, nào là diễn hành thôi.  Một qui luật sắt là thằng lính phải được tận dụng trong mọi trường hợp. Đến đây thấy thắng Tjaden đi tới mặt đỏ gay. Nó hứng chí gì không biết mà lắp bắp nói không ra. Mặt hớn hở hắn lắp bắp: «Himmelstoss sắp đến. Hắn ta cũng ra mặt trận! »

Tjaden có hận riêng với Himmelstoss, cũng vi thời gian giáo hóa ở trại. Tjaden đái dầm, đái về đêm trong giấc ngủ. Himmelstoss cho đó chỉ vì lười và sáng chế ra một cách mà chỉ có hắn mới nghĩ ra để chữa Tjaden.

Hần đảo ra được một tên đái đầm nữa, là Kindervater, ở lều bên và sắp cho nằm chung với Tjaden. Trong lều thường có giường kệ, từng đôi một, cái trên cái dưới, nệm thì bằng lưới thép. Himmelstoss sắp hai thằng một thằng ngủ trên một thằng ngủ dưới. Thằng nằm đưới dĩ nhiên ghê tởm. Đêm sau hai thằng thay chỗ, thằng dưới lên trên để được trả đũa. Đó là phương pháp tự huấn kiểu Himmelstoss. Kể ra cũng đê tiện nhưng không phải không khéo. Khốn nỗi cái đó chẵng đi đến đâu vì giả thuyết đặt ra từ đầu đã là sai: cả hai thằng đái dầm đâu phải vì lười. Bất cứ ai chỉ nhìn nước da xanh xao vàng vọt của chúng là thấv liền. Kết cuộc là cứ có một thằng phải ngủ dưới đất và vì thế hay bị cảm lạnh.

Lúc ấy có thẳng Haie ngồi canh chúng  tôi. Hắn nháy tôi xoa hai nắm đấm hộ pháp với cả một hậu ý. Chúng tôi một lần được sống một ngày đẹp nhất với nhau trong đời sống quân ngũ – ngày hôm trước khi ra mặt trận. Chúng tôi được bổ vào một trong số các liên đoàn mới thành lập, nhưng được trở về trại để được võ trang trưóc đã, không phải về trại viện binh, dĩ nhiên, mà về một trại khác. Sáng hôm sau phải khởi hành sớm.

Tối đến chúng tôi chuẩn bị thanh toán ân oán giang hồ với Himmelstoss. Hàng bao tuần qua chúng tôi thề rửa hận. Kronp còn tính xa hơn nữa là thời bình đến vào làm sở bưu điện để làm xếp thẳng cha Himmelstoss khi hắn trở lai làm anh đưa thư. Nó khoái trả nghĩ đến cách hành hạ lão ta. Chính điều này khiến hắn không thể đánh bẹp chúng tôi – lúc nào chúng tôi cũng tính rằng sau nàv, khi mà chiến tranh chấm dứt, chúng tôi thế nào cũng phải trả thù hắn mới nghe.

Đồng thời chúng tôi quyết định cho hắn một trận đòn để đời. Hắn làm gì được chúng tôi khi không nhận diện được chúng tôi và chúng tỏi sảng hôm sau đã đi rồi? Chúng tôi biết tối đến hắn thường lại quán nào. Trở về trại, hắn phải đi theo một con đường tối mò không có người ở. Chúng tôi nấp sau đống đá rình hắn. Tôi có mang theo một tấm vải giường. Chúng tôi run lên vì hồi hôp, hy vọng rằng hắn đi một mình. Mãi rồi chúng tôi nghe tiếng chân hắn, mà chúng tôi nhận ra một cách dễ dàng vì quá quen nghe vào các buổi sáng khi cửa mở tung và hắn rống: « Dậy! »

«Một mình chứ? » Kropp hỏi sẽ.

«Một mình. »

Tôi lủi vòng đống đá với Tjaden.

Himmelstoss hình như hơi hứng chí; hắn lại còn hát nữa chứ. Khuy thắt lưng hắn sáng ngời. Hắn đi đến đâu có ngờ gì. Chúng tòi cầm tấm khăn trải giường, phóng ra, trùm lên đầu hắn từ sau lưng và quấn quanh hắn khiến hắn đứng đấy như trong một cai bao trắng hai cánh tay hết cựa. Tiếng hát ngừng bặt. Rồi là

Haie westhus nhảy ra, giang hai tay ra hiệu cho chúng tôi lui đề hắn mở đầu. Nó lấy thế khoái trá ra mặt, giơ cánh tay như cột buồm hiệu và bàn tay như sẽng xúc than giáng xuống cái bao trắng một quả đến một con bò cũng phải đổ. Himmelstosa ngã lăn cù văng đi năm thước và bắt đầu la. Nhưng chúng tôi cũng đã chuần bị cả điều này nên mang theo một chiếc gối nệm. Haie ngồi xổm, đặt chiếc gối lên đần gối, sờ xem đầu  Himmelstoss ở đâu đoạn ấn lên gối. Tức thì giọng hắn im bặt. Thỉnh thoảng Haic lại nhắc lên cho hắn thở

và hễ vừa la lên là tiếng la bị dìm liền. Tjaden cổi cúc dây quần của Himmelstoss và tụt quần lão ra, chiếc roi cắn răng. Đoạn nó đứng lên ra tay quất. Thật là một cảnh tượng ngoạn mục: Himmelstoss nằm dưới đất, Haie cúi xuống lão nhe răng cười tinh quái miệng há như khát máu ghì chặt đầu Himmelstoss trên đầu gối; rồi là chiếc quần xả lỏn sọc quằn quại như đĩa phải vôi, hai cẳng bắt chéo, cứ mỗi ngọn roi giáng xuống lại có những cử động hết sức độc đáo và sừng sững trên chúng như một anh đốn củi là Tjađen đánh không biết mỏi. Cuối cùng chúng tòi phải lôi hắn ra để còn đến phần mình.

Sau hết Haie lại dựng Himmelstoss đứng lên và giáng một đòn cuối để hả hận riêng. Khi vung cánh tay phải đề bợp lão trông nó như thể sắp với một vì sao xuống. Himmelstoss lảo đảo. Haie lại dựng lão lại, lại chuẩn bị lại dùng tay trái bợp lão một bợp nữa thật là đích đáng Himmelstoss la lên và ngã xuống quì hai gối chống hai tay rủa không ngớt miệng. Đít quần xà lỏn sọc của lão lắp lánh dưới ánh trăng. Chúng tôi tẩu như phi.

Haie nhìn quanh một lần nữa và nói giọng hằn học, thỏa mãn và có phần bí mật:

«Trả thủ là rồi. »

Himmelstoss lẽ ra phải hài lòng mới đúng; lão thường nói rằng chúng ta phải tự giáo huấn lẫn nhau đã đưa lại kết quả cho lão. Chúng tôi đã trở thành những môn đồ lỗi lạc về phương pháp của lão. Lão không bao giờ tìm ra người lão phải cám ơn về vụ này. Dù sao lão cũng được lợi một tấm khăn trải giường; vì vài giờ sau đó chúng tôi trở lại để tìm khăn thì không thấy nữa.

Cái công tác tối hôm ấy làm chúng tôi sáng hôm sau lên đường cũng được hả dạ một phần nào. Và một anh bạn già khoải trá mệnh danh chúng tôi là những «chàng trai anh hùng».

Nữ Thiếu tá Anh Ison (gốc Việt), Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân y, Không đoàn 28 Không quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on March 25, 2026 by dongsongcu
Post by Sơn râu 27 Mar 2026

Thiếu tá Anh Ison (ảnh của Hạ sĩ I Brittany Kenney, Không quân Hoa Kỳ)

Nữ Thiếu tá Anh Ison hiện đang giữ chức Dược sĩ trưởng Liên đoàn 28 Quân y, Không đoàn 28 phi cơ oanh tạc (28th Bomb Wing). Không đoàn 28 gồm có các đơn vị cơ hữu với bốn Liên đoàn trực thuộc: Liên đoàn 28 tác chiến; Liên đoàn 28 bảo trì phi cơ; Liên đoàn 28 yểm trợ và Liên đoàn 28 quân y trú đóng tại căn cứ Không quân Ellsworth Air Force Base, South Dakota. Không đoàn 28 là một trong 2 Không đoàn oanh tạc cơ chiến lược B-1 Lancer của Không quân Hoa Kỳ. Liên đoàn 28 quân y, có 2 đơn vị quân y cơ hữu đó là Phi đoàn* 28 Quân y và Phi đoàn* 28 yểm trợ Quân y chăm sóc sức khoẻ cho 4000 Quân nhân, Nhân viên dân sự và thân nhân phục vụ trong Không đoàn 28.

Thiếu tá Anh Ison sinh tại Sài Gòn Việt Nam, gia đình cô cư ngụ tại Oklahoma, cô theo học tại Trường Dược Oklahoma, là nơi đã tạo cho cô có được cơ hội gia nhập Không quân, khi cô nhận được điện thư từ một nhân viên tuyển mộ địa phương đã mở ra cho cô một sự nghiệp thành công trong Không quân và cho phép cô sử dụng kỹ năng ngôn ngữ quan trọng ở ngoại quốc.

Sau khi cô gia nhập Không quân, đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của cô là Căn cứ Không quân Vance, cũng ở Oklahoma. Thiếu tá Anh Ison cho biết: “Đó không phải là điều tôi cân nhắc, cho đến khi tôi cư ngụ tại Hoa Kỳ, vì gia đình tôi không có người phục vụ trong quân đội. Tôi làm việc tại một hiệu thuốc địa phương, bên ngoài căn cứ Không quân Tinker, nơi chúng tôi phục vụ nhiều người đã nghỉ hưu và nhiều người đang tại ngũ. Điều đó khiến tôi tò mò hơn về quân đội. Sau đó, trong năm thứ hai học tại trường dược, một sĩ quan tuyển mô quân y, Không quân đã gửi email cho các sinh viên về việc gia nhập. Tôi đã liên lạc với cô ấy và gia nhập ngành quân y Không quân”.

Thiếu tá Anh Ison (ảnh của Hạ sĩ I Brittany Kenney, Không quân Hoa Kỳ).

Trước khi gia nhập Không quân, cô có nghe người ta nói về việc có thể được tăng lương nếu nói được một ngôn ngữ thứ hai. Sau đó, khi đến nơi nhận nhiệm vụ đầu tiên, cô đã làm bài kiểm tra ngôn ngữ, nhưng vẫn không chắc chắn phải làm gì với ngôn ngữ tiếng Việt. Một trung úy Không quân đã nói với cô về chương trình Không quân hỗ trợ ngôn ngữ (LEAP), vì vậy cô đã làm lại bài kiểm tra và áp dụng vào phần của mình. Cô đã được chấp nhận vào chương trình đó vào khoảng thời gian năm 2023, và đó là cách tên cô được đưa vào danh sách của Cơ quan liên hợp tìm kiếm tù binh/quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong khi chiến đấu (Joint Prisoners of War, Missing in Action Accounting Command) của Bộ Quốc phòng hay Defense POW/MIA Accounting Agency (DPAA). Sau đó, vào tháng 4 năm 2024, họ đã gửi văn thư yêu cầu cô tình nguyện cho một nhiệm vụ tại Việt Nam.

Khi Thiếu tá Anh Ison nhận nhiệm vụ phục vụ tại Việt Nam, mỗi ngày nhân viên chính phủ Việt Nam lái xe đưa cô và đồng đội lên một ngọn núi gần địa điểm phi cơ trực thăng bị rơi trong cuộc chiên Việt Nam, sau đó cô và những nhân viên trong nhóm phải đi bộ trên con đường dài khoảng 30 phút trong rừng xuống một khe núi. Nhóm của cô có một nhà khảo cổ học, người sẽ xác định nơi cần đào, sau đó cô và các nhân viên trong nhóm bắt đầu đào và đổ đất vào xô và chúng sẽ được chuyển qua một hàng với 100 công nhân địa phương xuống một trạm rửa. Tại trạm rửa, nước áp suất cao được sử dụng để rửa sạch đất để tìm xương. Điều này diễn ra trong khoảng sáu tuần liên tục. Mọi người sẽ phải đào như một phần của nhóm. Trên hết, với tư cách là nhân viên nói và nghe được tiếng Việt, cô chịu trách nhiệm giao tiếp giữa trưởng nhóm, nhà khảo cổ học và các quan chức chính phủ Việt Nam. Điều này cũng bao gồm giao tiếp với những công nhân địa phương, vì họ sẽ cần biết phải làm gì và đi đâu.

Thiếu tá Anh Ison và một tình nguyện viên khác chụp hình lưu niệm trong lúc thi hành nhiệm vụ tại Việt Nam vào tháng 7 năm 2024 (hình của war.gov/News).

Sau chuyến công tác tại Việt nam Thiếu tá Anh Ison trở về Mỹ và được chỉ định phục vụ tại Liên đoàn 28 Quân y thuộc Không đoàn 28 phi cơ oanh tạc tại căn cứ Không quân Ellsworth Air Force Base, South Dakota.

Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp Thiếu tá đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân ngoài Nữ Thiếu tá Anh Ison còn có hơn 150 vị (không tính những vị đã hồi hưu), một số vị được ghi nhận sau đây: Thiếu tá Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit; Thiếu tá Allan Pham, Phi công phi cơ C-130J; Thiếu tá Khiem Nguyen, Nha sĩ phi hành; Thiếu tá Chau Tran, Chi huy trưởng Phi đoàn 97 an ninh phòng thủ căn cứ không quân Altus Air Force Base; Thiếu tá Vu Q. Nguyen, Trưởng ban nhạc Không quân Vệ binh Quốc gia vùng bờ biến Tây, Quần đảo Channel, Port Hueneme, California; Thiếu tá Dalton Nguyen, Trưởng Phòng truyền thông Đệ Nhất Không Lực Hoa Kỳ (1st Air Force); Nữ Thiếu tá Linh Dan Trinh, Sĩ quan phi hành; Nũ Thiếu tá Ashleigh Nguyen, Luật sư Quân pháp Không quân; Nữ Thiếu tá Lynn Nguyen, Điều dưởng phi hành, Phi đoàn 18 Quân y; Thiếu Tina Nguyen, Bác sĩ phi hành Không đoàn 104; Nự Thiếu tá Thoa Phạm, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 49 chẩn đoán và trị liệu; Nữ Thiếu tá Jessica Pham; Nữ Thiếu tá Fiona M. Pham; Nữ Thiếu tá Linda Kim Nguyen; nữ Thiếu tá Caroline H. Nguyen; Nữ Thiếu tá Cecilia T. Nguyen; Nữ Thiếu tá Thuy Trang Thu Lam; Nữ Thiếu ta Diana P. T. Le; Nữ Thiếu tá BaoHan Huynh; Nữ Thiếu tá Augustine D. Tran; Nữ Thiếu tá Lyndney U. Vu và còn rất nhiều nam, nữ Thiếu tá Không quân gốc Việt chưa cập nhật hết được.

Chú thích: *Phi đoàn 28 quân y không quân tương đương với Tiểu đoàn quân y Lục quân.

Nguồn: ellsworth.af.mil; dpaa.mil/News-Stories; Defense POW MIA Accounting Agency’s Post.

Từ vượn lên người, từ người xuống vượn.

Thơ Nguyễn Chí Thiện

Nhạc Phạm Duy

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm

Chứ mà ai ơi, chứ mà ai ơi

Ở khắp năm châu tôi đố câu này, tôi đố câu này

Từ người xuống vượn sẽ mất bao năm?

À a á a a á a a.

Xin mời thế giới tới thăm, Việt Nam có rừng sâu thẳm

Có trại tập trung tù nhân ở chuồng từng bầy đứng tắm

Ở chuồng từng bầy đứng tắm

Rệp muỗi ăn nằm hôi hám tối tăm

Khoai sắn tranh dành cùm bắn chém bóc

Đánh đập tha hồ chết quăng chuột gặm

Cái loài vượn này không nhanh mà chậm

Khác vượn tiền sử xa xăm, khác vượn tiền sử xa xăm

Đói gầy như những cái tăm

Xin mời thế giới tới thăm

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm

Thế mà ai ơi, thế mà ai ơi

Ở nước Nam tôi chính sách siêu quần

Từ người xuống vượn mất có ba năm

Từ người xuống vượn mất có ba năm

À à a á a a

Xin mời thế giới tới thăm

Việt Nam có rừng sâu thẳm

Có trại tập trung tù nhân ở chuồng từng bầy đứng tắm

Ở chuồng từng bầy đứng tắm

Rệp muỗi ăn nằm hôi hám tối tăm

Khoai sắn tranh dành cùm bắn chém bóc

Đánh đập tha hồ chết quăng chuột gặm

Cái loài vượn này không nhanh mà chậm

Khác vượn tiền sử xa xăm, khác vượn tiền sử xa xăm

Đói gầy như những cái tăm

Xin mời thế giới tới thăm

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm

Thế mà ai ơi, thế mà ai ơi

Ở nước Nam tôi chính sách siêu quần

Chính sách siêu quần

Từ người xuống vượn mất có ba năm

Từ người xuống vượn mất có ba hôm

Từ người xuống vượn mất có ba hôm

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Mar 2026

Nguyễn chí Thiện, một người làm thơ và đã trải qua một đoạn đường cay đắng, chông gai, không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu và ngay cả những ngày cuối cuộc đời khi ông được đến Mỹ, xứ sở của tự do, Nguyễn Chí Thiện cũng phải chịu nhiều cơn sóng gió, vùi dập ông như một cánh bèo trôi giạt trên sông những ngày mưa bão.

Tòa nhà màu hồng góc đường First và Flower, Santa Ana, nơi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cư ngụ.

Ông già cô độc: 27 năm tù, 15 năm xa xứ.

Toà nhà màu hồng 11 tầng mang số 901 nằm ở góc đường First- Flower, thành phố Santa Ana, như những bao diêm xếp đều đặn, trông có vẻ thiếu sinh khí, buồnnản. Cũng như những chung cư dành cho người cao niên khác, trong những tòa nhà này, vì sống đơn lẻ một mình, nhiều người đã qua đời mà không ai hay biết. Hầu hết chủ nhân những căn phòng trong cư xá là người Việt Nam, một ông hay bà đơn độc hơn là có đũa có đôi. Đây là loại “nhà già” cho những người cao niên còn đủ sức khoẻ, không cần người hổ trợ hay chăm sóc về y tế hằng ngày. Qua phòng khách, tôi thấy có bốn bà đều là dân Nam Mỹ, đang ngồi móc hoặc đan len với nhau. Chúng ta ít thấy người Việt tụ tập trò chuyện hay ngồi với nhau trong phòng khách, hình như người mình thích sống một mình và có những sinh hoạt riêng tư, thường đi ra ngoài hay ở trong phòng một mình. Trên đường lên thang máy, tôi gặp một bà cụ đi walker chậm rãi, yên lặng trên dẫy hành lang đèn sáng. Hành lang dẫn đến những căn phòng trải thảm sạch sẽ, không kém gì những khách sạn hạng sang ở Las Vegas, đèn đuốc sáng trưng, nhưng im lìm, vắng lặng.

Ở chung cư Flower Park Plaza này có một ông già người Việt đơn độc, sống ở đây đã hơn 5 năm ở tầng lầu thứ mười. Ông không có gia đình, con cái hay thân thích ở quanh đây, tuổi già đau yếu, lại sống một mình trên đất khách, ông mang nỗi buồn tha hương, dù là sống giữa một cộng đồng người Việt đông đúc nhất nước Mỹ.

Tôi muốn nhắc tên một người mà độc giả có lẽ ai cũng biết hay đã từng gặp ông, đó là ông Nguyễn chí Thiện, một người làm thơ và đã trải qua một đoạn đường cay đắng, chông gai, không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu và ngay cả những ngày cuối cuộc đời khi ông được đến Mỹ, xứ sở của tự do, Nguyễn Chí Thiện cũng phải chịu nhiều  cơn sóng gió, vùi dập ông như một cánh bèo trôi giạt trên sông những ngày mưa bão.

Ông chưa bao giờ lập gia đình như những người bình thường khác, vì năm 22 tuổi đã vào tù lần đầu 2 năm rưỡi, lần thứ hai 11 năm rưỡi, lần thứ ba khi Trung Cộng đánh vào biên giới Việt Bắc, chính sách tập trung những người nguy hiểm đã đưa ông vào lại nhà tù thêm 14 năm nữa, tổng cộng 27 năm. Thuộc thành phần phản động, chống chế độ, lại bệnh tật thường xuyên, cuộc đời của ông không hề có chỗ cho một cuộc hôn nhân, có quyền được một mái gia đình riêng êm ấm. Ông Nguyễn Chí Thiện thổ lộ, ông chẳng còn thời gian để yêu ai, mà trên đời này cũng chẳng có ai đem lòng yêu ông. Tấm thân ông, cuối đời lại lang bạt quê người, liệu còn ai cô đơn hơn ông nữa.

Trong những thời gian cách khoảng khi ông không ở trong nhà tù là những ngày đói khổ phải lo miếng ăn, mơ ước chuyện vượt biên vào Nam, nhưng phương tiện không có, nghìn người ra đi thì may ra chỉ có một người bơi được qua sông trót lọt. Ý nghĩ của ông Nguyễn Chí Thiện ngày đó là một người đang sống mất tự do không khác gì hơn là một người đang bị chôn sống. Ra tù năm 1991, bốn năm sau ông được người anh ruột là cựu Trung Tá ngành tình báo Nguyễn Công Giân, bị tù “cải tạo” 13 năm, đi Mỹ theo chương trình H.O. bảo lãnh cho ông đến Virginia. Năm 1998, cùng với nhà văn Vũ Thư Hiên, ông được cơ quan Nghị Viện Quốc Tế Các Nhà Văn (International Parliamentary Writers) đài thọ sang “bồi dưỡng” để lấy lại sức khoẻ ba năm tại Paris. Cuốn hồi ký Hoả Lò được viết trong thời gian này. Năm 2001, ông Nguyễn Chí Thiện trở về Virginia với gia đình ông Gián, nhưng khí hậu ở đây không thích hợp với bệnh tật kinh niên của ông là bệnh phổi, nên ông quyết định về sinh sống tại Nam Cali, nói rõ hơn la tại vùng Little Saigon. Ông trôi nổi đời ở trọ từ căn nhà nhỏ của Nhạc sĩ Hồ Văn Sinh, rồi tới căn Mobilhome với nhà văn Phan Nhật Nam, rồi trở lại với Hồ văn Sinh, ở đâu cũng có một chiếc giường nhỏ, cái TV và cái bàn viết. Ông tự giặt giũ và thổi cơm lấy cho hai bữa ăn của mình, lẽ cố nhiên là đơn giản đến mức như một người chay tịnh. Cuối năm 2009, ông Nguyễn Chí Thiện được về trú ngụ trong căn chung cư này trên đường First, một căn studio, sở hữu một cái tủ lạnh và tiện nghi bếp núc, phòng tắm riêng cho mình.

Một ngày của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện:

6 giờ sáng đã thức giấc, nhưng  đến 9 giờ mới rakhỏi giường, vì đêm nào cũng phải phải ba giờ sáng ông mới ngủ được. Làm vệ sinh cá nhân xong, pha cho mình một bình trà, ông ngồi vào máy computer đọc báo và nhận gởi thư tín cho đến trưa. Khoảng 1:00 chiều ông mới vo gạo nấu nồi cơm điện rồi hâm thức ăn đã làm sẵn để trong tủ lạnh. Tí bắp cải, tí cà chua, chút cá, chút trứng cho qua bữa, nhiều khi mệt mỏi, buồn bã ông không muốn gượng dậy vào bếp để nấu và ăn cho xong bữa cơm. Tôi đến thăm ông lúc 3:00 giờ chiều, vào căn bếp để quan sát ông ăn uống ra sao, cho bài phóng sự, chứ không phải tò mò nhìn vào nếp sống riêng tư của ông. Bên bếp chỉ có một nồi cơm nhão khoảng một “cup”, chưa có dấu cơm được bới ra, trên bếp là một chiếc “soong” nhôm để không, còn sạch sẽ. Như vậy là hôm nay, từ sáng ông chưa ăn gì, chỉ mới gượng gạo vò cúp gạo, nấu nồi cơm, rồi … để đó. Nhà báo chưa đám mở tủ lạnh ra để xem chiều nay ông có gì để ăn không.

Ông cho rằng bây giờ ăn chỉ còn là “nghĩa vụ”, không còn thấy thích, vì vậy mỗi ngày phải thường uống thêm nhiều thứ thuốc bổ và ăn bột protein. Ăn trưa xong thì ông đọc sách hay mặc áo quần thật ấm, xuống đường đi bộ loanh quanh vài vòng cho giãn gân cốt. Ông có nhiều bạn bè trong giới văn chương còn nhớ đến ông, thinh thoảng ghé qua chở ông đi dự một hai sinh hoạt cộng đồng cần thiết hay ra ngoài ăn bát phở để thay đổi không khí tù túng của một căn phòng chật hẹp. Những lúc cần đi mua ít thức ăn, ông xuống đường, lấy chuyến xe bus trên đường First đi về hướng West xuống chợ ABC mua ít thức ăn rồi trở về. Ông cũng chọn bác sĩ gia đình và nhà thuốc ngay trên tuyến đường này. Từ xưa đến nay, ông chưa bao giờ lái hay sở hữu một chiếc xe hơi vì mắt ông rất kém. Mười lăm năm nay, ông chỉ đi nhờ xe bạn bè, dùng xe bus hay cuốc bộ.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tại nơi ở lúc sinh thời.

Tôi hỏi ông, là một nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người hâm mộ, có ai ưu ái, thấy ông sống một mình, không vợ không con, đem thức ăn đến nuôi ông không. Ông Thiện cho biết có vài vợ chồng đến thăm, cũng như một cô cháu xa, thấy ông vụng chuyện nấu nướng nên thỉnh thoảng mang lại cho một món ăn, chứ không có “bà già” nào thuộc “diện tình cảm” cả. Buổi chiều, mệt mỏi, ông Nguyễn Chí Thiện lên giường khoảng 10, 11 giờ nhưng không ngủ được trước ba giờ đêm. Trong câu chuyện không lúc nào tôi không thấy ông cười. Ông có vẻ mệt mỏi, gầy yếu, da xanh mướt và hình như ông đang có một nỗi buồn lớn lao nào đó chế ngự tâm hồn ông.

Tuổi già đất khách: “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn!”

Ông Nguyễn Chí Thiện không có bệnh tật gì trầm trọng, cũng cao máu, cao mỡ như những vị cao niên khác, nhưng cuộc đời ông đã phải 27 năm nằm trong nhà tù, mà lại nhà tù Cộng Sản, 15 năm ra hải ngoại sống một mình, ăn uống thất thường, tình cảm lại cô đơn, lúc nào ông cũng cảm thấy mệt mỏi, buồn bã. Về mùa Đông, ông lại hay bị cảm, chóng mặt, nhưng có lẽ tinh thần làm ông xuống sức. Đó là nỗi buồn dai đẳng theo ông.

Không những thấy buồn, ông Nguyễn Chí Thiện tâm sự lúc nào lòng cũng thấy bồn chồn lo lắng, phải chăng đó là dấu hiệu của bệnh trầm uất, nhất là của một người sống một mình, không có ai bên cạnh để chia xẻ nỗi vui buồn, và càng ngày càng đắm chìm trong nỗi buồn riêng tư ấy. Có khi người ta buồn những cái buồn vô cớ, nhưng cũng có những nỗi buồn có tên đeo đẳng chúng ta suốt cuộc đời. Đối với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ông canh cánh bên lòng nỗi buồn về quê hương.

Năm 1991 khi Liên Bang Xô Viết tan rã, Ông Thiện tiên đoán “chậm lắm là năm 2001, nghĩa là 10 năm sau, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đi vào bóng tối và Việt Nam sẽ được dân chủ hoa. “Bây giờ đã năm 2011, chưa có dấu hiệu gì đất nước thoát khỏi sự cai trị của đảng Cộng Sản, mà thân nhân, bà con, bạn bè lần lượt ra đi. Việc  hy vọng có một ngày nào được trở lại để thăm làng quê, mồ mả, thân quyến họ hàng càng ngày càng xa, trong lúc đó, tuổi càng ngày càng cao, sức khoẻ mỗi ngày một yếu. Cả một thời tù đày, vất vả, ngay cả miền Bắc ông cũng không biết nhiều, cả cố đô Huế cũng chưa được đến. Nhưng lẽ cố nhiên, nhà thơ chống Cộng này sẽ trở lại Việt Nam khi đất nước có được dân chủ tự do, nhưng với tuổi đời và bệnh tật của ông, hy vọng này càng ngày càng mong manh, vì vậy mà nỗi buồn lớn vẫn còn. Nhận định về tình hình tranh đấu dân chủ trong nước, ông Nguyễn Chí Thiện cho rằng, cá nhân thì có, nhưng tạo được một phong trào quần chúng thì chưa. Nói về những công việc trước mắt và những chuyện chưa làm dược, cá nhân nhà thơ Nguyễn Chí Thiện mong sẽ hoàn thành cuốn hồi ký, nhưng chỉ cô đọng trong vòng 300 trang. Trở ngại là khi ông ngồi trước máy computer lâu để đọc hay viết, mắt đau nhức và ông có cảm tưởng như mắt bị lồi ra.

Đời sống của một người già ở Mỹ được săn sóc thuốc men, trợ cấp, nhà cửa, thực phẩm đầy đủ, nói chung là không còn phải lo đến cái ăn, cái mặc, nhưng về mặt tinh thần, một người gìa sống xa quê hương, không gia đình, bà con, thân thích như ông, phải nói là đơn độc, buồn nản. Đêm nào khó ngủ, ông cũng buồn như nỗi buồn thế sự của nhà thơ Trần Tế Xương: “Đêm não đêm nao tớ cũng buồn!”

Cũng chịu cảnh tù đầy 27 năm, Nelson Mandela của Nam Phi ra tù, ông có đủ gia đình, vợ con và danh vọng của một Tổng Thống. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng ở tù vì tranh đấu chống cường quyền, ra tù, ông chịu cảnh lưu vong, ốm đau và cô đơn trên xứ người.

(Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10-2012 tại thành phố Santa Ana, California, hưởng thọ 73 tuổi.)

Ngày Xuân ở Biển Hồ Pleiku

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 17 Jan 2020

Post by Sơn râu 27 Mar 2026

Kỳ cuối

Tôi ra lệnh cho Binh 1 Nguyễn Thiên gắn cái ăng ten 7 đoạn vào máy truyền tin để liên lạc với Núi Chư Xang. Vừa nghe tiếng tôi, anh Ðàm đã không giấu nổi nỗi vui mừng,

– Cám ơn Trời Ðất đã che chở cho chú! Tối qua anh mới nhận được lệnh “Stop” chú lại, đừng đi về hướng Tây nữa. Bên trái trục dọc ZA… là vùng hành quân của Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ ở trại Plei Djereng. Anh gọi khan cả cổ mà không nghe được tiếng chú trả lời!

Tôi cười,

– Không sao! Không sao!

Ít phút sau tôi được lệnh gom quân sẵn sàng để trực thăng Hoa-Kỳ tới đón.

Trưa Mùng Mười tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1969 Ðại Ðội 1/11 về tới bãi trực thăng bên hông Chợ Biển Hồ.

Cư dân Biển Hồ còn đang ăn Tết muộn.

Trong sân nhà thờ, lũ con nít chen vai nhau xem cái đầu lân múa may.

Trên sân chợ, nhiều người, lính và vợ lính, xúm quanh những cái chiếu xóc dĩa và bầu cua, cá cọp.

Không có ai đón chúng tôi về.

Sau khi cho anh em lau chùi vũ khí, chia phiên canh gác và xuất trại, năm sĩ quan của đại đội tôi gồm có Trung úy Vương Mộng Long, Thiếu úy Trần Dân Chủ, Thiếu úy Nguyễn Hữu Vy, Thiếu úy Ðinh Quang Biện và Chuẩn úy Ðàm Quang Hạ Long theo chân nhau leo lên chiếc Jeep của đơn vị rồi rồ máy, nhắm hướng Pleiku.

Nơi chúng tôi ghé đầu tiên sẽ là Quán Kim Liên trên đường Hoàng Diệu.

Tôi quen nhà Kim Liên này từ cuối năm 1966, khi mới chân ướt, chân ráo từ Ðà Nẵng thuyên chuyển vào đây.

Ông cụ, bà cụ thân sinh ra chị chủ quán có tám người con, hai trai, sáu gái.

Chị Liên, chủ quán Kim Liên là người con thứ ba. Chồng chị làm nghề Thông dịch viên cho Mỹ.

Vừa thấy mặt tôi, chị Liên đã vội quay mặt vào trong nhà lớn tiếng gọi,

– Bà ngoại ơi! Cậu Long về rồi!

Một cụ bà Bắc Kỳ, đầu quấn khăn vành dây chạy ra nắm tay tôi,

-Thằng này đi đâu mà mất tăm mất tích mấy ngày Tết? Mẹ để dành cho mày hai cái bánh chưng và một cái giò lụa mà mãi không thấy mày về, mẹ lo quá!

Tiếp đó là bé Lân, con gái út của bà cụ bưng ra một mâm bánh chưng, chả lụa, dưa hành.

Lân lí nhí,

– Phần của anh đây!

Ðang lúc đói lòng, không khách sáo, năm anh em chúng tôi cầm đũa mà chẳng chút ngại ngùng.

Khách của quán kem Kim Liên đa phần là lính và công chức. Nhiều người thường xuyên ghé đây nên quen nhau. Một anh bạn giáo viên sà xuống bàn tôi gợi chuyện,

– Nghe nói mấy ngày nay Tiểu Ðoàn 11 chạm nặng trong Plei Blang 3. Yên chưa mà các anh đã về ngồi đây rồi?

Tôi lừ mắt để bốn ông sĩ quan dưới quyền tịnh khẩu, rồi cười,

– Không có chi! Ðánh nhau chưa tới một ngày là tụi Việt-Cộng đã bỏ chạy mất tiêu rồi!

Mùng Một Tết Mậu Thân năm ngoái, chính tôi là người đã chỉ huy đơn vị Biệt Ðộng Quân xuất phát từ mái hiên của Quán Kim Liên này để tái chiếm cái doanh trại Ðịa Phương Quân bị Việt-Cộng chiếm trên đầu con dốc cách Kim Liên chưa đầy hai trăm thước.

Và sau đó, máu từ vết thương trên ngực tôi đã đọng thành vũng trên đường Hoàng Diệu này.

Mới trải qua một cái Tết Mậu Thân thôi, người dân Pleiku đã sợ lắm rồi! Tôi không muốn đồng bào tôi sợ hãi thêm.

Vì thế, tôi không muốn nói cho người dân Pleiku biết Pleiku vừa thoát một đại họa giống như Tết Mậu Thân vừa rồi.

Vì thế, tôi không muốn kể cho người dân Pleiku biết chuyện một trung đoàn Cộng Sản đã nằm sát nách Pleiku và sẵn sàng ào vào thành phố.

Nếu ngày Mùng Năm Tết năm Kỷ Dậu (1969) mà tôi không tình cờ chạm trán với chúng, khiến cho chúng bị bại lộ tung tích, phải vội vàng tháo chạy, thì có lẽ giờ này Pleiku đã lâm vào cảnh đổ nát điêu tàn, nhà cháy, đạn bay.

Pleiku sẽ lại tái diễn cảnh xác người phơi đầy đầu đường, cuối phố.

Ít bữa sau, nhân dịp đi họp để nhận lệnh tăng phái cho Không Kỵ Hoa-Kỳ, tôi được gặp mặt ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II và được biết rằng, sở dĩ quân đoàn ra lệnh cho đại đội tôi đeo theo dấu vết Trung Ðoàn E 24 Cộng-Sản là vì thượng cấp tin tưởng khả năng của đại đội tôi, dù phải đương cự với một trung đoàn Việt-Cộng thì chúng tôi vẫn có thể cầm chân địch ít nhất vài giờ.

Tuy đơn vị tôi đi đơn độc, nhưng lúc nào cũng có một toán tiền sát pháo binh, hai tiểu đoàn bộ chiến và một phi đoàn trực thăng của Sư Ðoàn 4 Mỹ sẵn sàng nhảy xuống nếu tôi chạm địch.

Tới lúc này tôi mới biết, bộ chỉ huy hành quân đã dùng đại đội tôi như một con mồi nhử cho Trung Ðoàn E 24 của Mặt Trận B3 Cộng-Sản lộ diện để quân Mỹ nhảy xuống bao vây và tiêu diệt.

Có điều ngoài dự trù của bộ tham mưu là chúng tôi không đem theo nồi niêu, không khói lửa, không lều võng, mọi người lại bấm bụng nhịn thuốc lá suốt thời gian di hành, nên chúng tôi cứ đeo sát sau lưng mà địch không hay. Ðịch đã không lộ diện, quân Ðồng Minh không cần nhảy xuống đánh nhau, nhưng nhờ có những tin tức chính xác do tôi báo cáo mà Sư Ðoàn 4 Hoa-Kỳ đã có những Box bom B52 đánh chận đầu địch thật là hiệu quả.

Sau này tôi được biết trong chiến dịch Xuân Kỷ Dậu 1969, Trung Ðoàn E 24 của Mặt Trận B3 Cộng-Sản đã bị pháo đài bay B52 Hoa-Kỳ đánh bom trúng đội hình, bị xóa tên và giải thể.

Hai tuần lễ sau ngày Ðại Ðội 1/11 chạm địch tại Plei Blang 3 tôi ghé Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân thăm Thiếu úy Duyên.

Tại Ban Tài-Chánh của liên đoàn, tôi chứng kiến cảnh ông Thượng sĩ Ðăng phát hướng viên, vừa đếm tiền, vừa hằn học với một chị quả phụ,

– Thôi nhé! Tôi mong rằng đây là lần sau cùng, chị Hoàng Thị Ðại Liên gặp tôi để lãnh tiền tử đấy nhé! Tôi làm nghề phát lương từ khi Vùng 2 bắt đầu có Biệt Ðộng Quân tới giờ. Chị lãnh tử tuất lần này là lần thứ ba. Từ nay chị đi đâu thì đi! Chị lấy lính gì thì lấy! Ðừng lấy lính Biệt Ðộng Quân nữa!

Người đàn bà mặc đồ tang, nức nở khóc,

– Tội nghiệp em lắm Thượng sĩ ơi! Em đâu có ngờ. Nếu biết cớ sự này, em đâu dám lấy chồng? Em chỉ thương lính Biệt Ðộng Quân thôi! Em không thương lính gì khác cả! Nếu không cho em thương lính Biệt Ðộng Quân thì em biết thương ai đây?

VML

(Seattle, Xuân 2020)

Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 26 Mar 2026

Nghĩ cũng kỳ là ở nhà, trong ngăn kéo bàn giấy của tôi còn nằm khúc đầu của một vở kịch nhan đề là «Saul» và một tập thơ. Lắm đêm tôi ngồi viết – chúng ta ai mà không làm một thứ gì đại loại như thế nhưng đối với tôi chuyện đó đã thành như huyễn khiến tôi không còn làm sao hiểu nổi.

Thời niên thiếu của chúng tôi bị cắt ngang hẳn từ cái lúc chúng tôi đến đây, cắt mà chúng tôi không hề nhắc tay. Chúng tôi thường cố nhìn lại để tìm một giải thich, nhưng không hề tìm ra. Đối với chúng tôi những thằng thanh niên hai mươi tuổi cái gì cũng mơ hồ một cách kỳ lạ, thẳng Kropp, thẳng Muller, thằng Leer và thằng tôi, những thằng mà lão Kantorek mệnh danh là «Thanh Niên Sắt». Tất cả những người đứng tuổi đều có liên hệ với nếp sống trước kia của họ. Họ có vợ, có con, có công ăn việc làm, có quyền lợi này khác, họ cỏ một hậu cảnh mạnh mẽ mà chiến tranh cũng không xoá nồi. Còn chúng tôi những thẳng thanh niên hai-mươi tuổi, chúng tôi chỉ có cha có mẹ, và có thằng, có lẽ, có nàng – đâu có gì nhiều, vì vào cái tuổi chúng tỏi ảnh hưởng cha mẹ là đến thời suy nhược nhất và các nàng thì cũng chưa nắm vững được chúng tỏi. Ngoài ra chả còn gì khác – một chút hăng hái, một vài sở thích vặt và học đường. Đời sống chúng tỏi không đi xa hơn thế. Ấy thể mà chẳng còn lại gì. Kaptorek hắn nói rằng chúng tôi đứng trên ngường cửa đời sống. Và trông thi có vẻ như thế. Chúng tôi chưa hề bắt rể. Chiến tranh đánh giạt chúng tôi. Đối với họ, với những người có tuổi, chiến tranh là. một lũng đoạn. Họ còn có thể suy tư qua nó. Còn chúng tôi bị nó níu lấy và không biết chung cuộc ra sao. Chúng tôi chỉ biết rằng chúng tôi đã trở thành một mảnh đất hoang có phần kỳ dị có phần buồn buồn. Thì cũng vậy, chúng tôi cũng chẳng hay buồn.

Mặc đầu Muller hẳn sung sướng nếu lại được đôi bốt của Kemmerich thật ra nó cũng như ai vậy, cũng xúc cảm, cũng khỏng thể nghĩ đến một điều như thế mà không buồn bực. Nó chỉ có nhìn sự vật một cách sáng suốt. Nếu như Kemmerich lại sử dụng được đôi bốt, thì Muller hẳn thà là đi chân không dặm lên dây thép gai còn hơn là nghĩ mưu chiếm đoạt đôi bốt. Nhưng sự thế nó là thế, đôi bốt trở thành vô dụng dối với Kemmerich, nhưng với Muller thi lại rất hữu dụng. Kemmerich sẽ chết: ai được đôi bốt là điều không quan trọng. Thế thì tại sao Muller lại không được thừa kế? Nó có quyền hơn là một anh y tá. Khi Kemmerich chết thì muộn quá rồi. Nên Muller phải lo rình rập. Chúng tỏi không còn suy nghĩ gì đến cái gì khác, vì cái gì thì cũng là giả tạo. Chỉ có các sự kiện là thật và là quan trọng đối với chúng tòi. Mà bốt tốt thì rất hiếm.

Có dạo vấn đề từng khác hẳn. Khi chúng tòi đi đến tòa Tổng trấn để nhập ngũ, chúng tôi là một lớp hai mươi thanh niên trong số có nhiền thẳng hãnh diện là lần đầu tiên được cạo râu trước khi đến doanh trại. Chúng tôi không có ý định gì nhất định về tương lai của mình. Những ý nghĩ của chúng tôi về một sự nghiệp hay một nghề nghiệp còn mang nặng tinh chất viễn vông nên chưa thể bảo là một kế hoạch sinh hoạt. Đầu óc còn đầy đặc những quan niệm mơ hồ gán cho đời sống và cả chiến tranh nữa một tinh chất lý tưởng và gần như lãng mạn. Vào quân đôi chúng tôi được huấn luyện mười tuần lễ và trong thời gian ấy chúng tôi bị ảnh hưởng còn sâu hơn  là mười năm ở trường. Chúng tôi học được rằng một chiếc khuy hỏng còn năng kí hơn là bốn pho Schopenbauer. Thoạt đầu bỡ ngỡ, rồi chua chát và sau cùng là thờ ơ, chúng tôi nhận thấy rằng điều quan trọng chẳng phải là tâm trí mà là bàn chải đánh giầy, chẳng phải là trí tuệ mà là chế độ, chẳng phải là tự do mà là tập tính. Chúng tôi đi lính với cả một lòng hăng say nhiệt thành nhưng họ đã làm đủ thứ để diệt trừ cái đó ra khỏi chúng tôi. Sau ba tuần chúng ta chẳng còn lạ gì rằng một anh phát thư đeo lon còn có quyền uy đối với chúng tôi hơn là cả cha mẹ mình, các thầy mình và cả toàn thể cái hệ thống văn hóa từ Plato đến Gorthe trước kia. Với đôi mắt thức tỉnh của tuổi trẻ chúng tôi thấy rằng cái quan niệm cổ điển về Tô quốc do các thầy  chúng tôi giảng dạy ở đây được thu gọn lại thành một sự từ bỏ nhân cách đến mức mà ta chắc cũng không đòi hỏi ở kẻ tôi tớ hạ tiện nhất – nào chào, nào nghiêm, nào diễn hành, nào bồng súng chào, quay phải, quay trái, đánh gót, chửi rủa và hàng ngàn thứ lặt vặt vớ vẫn khác. Chúng tôi cứ ngỡ nhiệm vụ của chúng tôi khác thế, và rồi chỉ thấy mình được huấn luyện làm anh hùng giống như thể mình là những con ngựa xiếc. Nhưng rồi chả may lúc chúng tôi cũng quen? Chúng tôi học được rằng những cái này cũng có phần nào cần thiết, còn thì toàn là trò diễn xuất, Những nhận xét này lính chúng nó thính mũi lắm.

Lớp chúng tôi được chia ra từng nhóm ba hay bốn thằng tản mát sung vào các tiểu đội cùng với dân chài Frisian. Dân quê, cùng dân thợ mà chả mấy lúc chúng tôi kết bạn. Kropp, Muller, Kemmerich và tôi sung vào tiều đội 9 dưới quyền hạ sĩ Himmelstoss, Bác ta nồi tiếng là người kỷ luật khắc nghiệt nhất trong trại và lấy thế làm hãnh diện. Bác người nhỏ bé dưới mức trung bình, có bộ râu mép thoa sáp thẳng như râu chồn, có mười hai năm phục vụ và trong đời sống dân sự làm nghề phát thư. Bác đặc biệt thù ghét Kropp, Tjaden, Westhus và tôi, vì bác cảm thấy có sự âm thầm thách thức. Tôi đã phải làm giường cho bác mười bốn lần nội một buổi sáng. Mỗi lần bác lại bẻ hoẹ chê bai và giũ tung ra. Tôi đã phải nhào nặn một đôi bốt tiền sử cứng như sắt suốt hai mươi tiếng đồng hồ-dĩ nhiên cũng có nghỉ-cho đến khi nó mềm như bơ và đến cả Himmelstoss cũng không biết chê vào đâu được; theo lệnh bác tôi đã phải cọ cả Câu lạc bộ Hạ sĩ bằng một cái bàn chải đánh răng. Kropp và tôi được giao phó cái công tác quét sạch tuyết ngoài sân trại bằng một cái chổi với một thùng rác. Và chúng tôi chắc phải làm cho đến khi chết cóng nếu không được một ông trung úy bất ngờ xuất hiện cho chúng tôi bãi và nạo Himmelstoss một trận nên thân. Nhưng kết quả chỉ tổ làm cho Himmelstoss càng thù ghét chúng tôi thêm. Sáu tuần liền chủ nhật nào tôi cũng phải gát và làm dịch vụ lều cũng suốt một thời gian hồng ấy. Với đủ bộ lệ quân nhu súng ống trên vai tôi đã phải tập dượt trên một cánh đồng mới cày còn mềm, còn ướt, nào là Chuẩn bị tiến, tiến!» nào là «Nằm xuống đến khi tôi chỉ còn là một đống bùn và rốt cuộc nằm song soài. Bốn giờ sau tôi phải đến trinh diện Himmelstoss với binh phục gột rửa sạch sẽ, hai tay xây xát và rớm máu. Cùng với Kropp, Westhus và Tjaden tôi đã phải đứng nghiêm dưới trời sương giá tay không đeo găng suốt mười lăm phút, trong khi Himmelstoss canh chừng từng cử động nhỏ của các ngón tay để trần của chúng tôi trên báng thép của súng. Tôi đã phải chạy tám lần từ lầu thượng trại xuống sân mặc độc sơ-mi và hai giờ sáng chỉ vì ngăn kéo tôi lòi ra bảy phân quá cạnh chiếc ghế đẩu trên đó người ta xếp đống tất cả những vật dụng của mình. Chạy cạnh tôi là hạ sĩ Himmelstoss cố tình dẫm lên ngón chân không tôi. Khi tập đâm lưỡi lê, khi nào tòi cũng phải đấu với Himmelstoss, tôi với một vũ khi bằng sắt nặng, còn bác với một vũ khí bằng gỗ dễ sử dụng dễ bề nện vào cánh tay tôi cho đến khi bầm tím. Thật vậy, một lần, tôi nổi khùng liều mạng xông vào hắn giáng cho hắn một quả móc thôi sơn vào bụng khiến hắn nằm dài. Khi hắn tường trình nội vụ lên ông đại đội trưởng, ông ta biết Himmelstoss quá mà và thấy hắn tiu nghỉu ông ta khóng phải là không khoái trá ra mặt. Tòi trở thành một tay thiện nghệ về món chơi barre đôi và còn cố vượt cả huấn luyện viên về nhào lộn; – mỗi lần chỉ nghe cái giọng hắu là chúng tôi đã run lên, nhưng tên phát thư trốn nghề nay có bao giờ thắng nổi chúng tôi. Một chủ nhật Kropp và tôi đang hì hục đặt một thùng nước lên đầu cột ngang sân trại, Himmelstoss di ngang, binh phục chỉnh tề bốt bóng nhoáng, ra phố chơi. Hắn oai vệ đứng trưởc chúng tỏi hỏi chứ mấy chú có khoải cái công tác này không. Vô tình chúng tôi trượt tay làm đổ cả thùng nước lên cẳng hắn. Hắn cáu phải biết, nhưng cũng chỉ đến thế là cùng.

«Thế là tù, » hắn hét lên. Nhưng Kropp cũng chịu hết nổi. «Tù thì cũng phải điều tra trước đã,» nó nói, «và rồi cũng kể như pha. »

«Liệu hồn ăn nói với một vị hạ sĩ quan! »

Himmelstoss gầm lên. «Bộ mày điên sao chứ? Đợi người ta hỏi mày cái đã. Tao hỏi, chứ mày định làm cái thá gì? »

«Lật tẩy Hạ sĩ. » Kropp nói, hai ngón tay cái thẳng hàng với đường lai quần. Himmelstoss hiểu ý chúng tôi nên bỏ ra đi một nước chẳng nói chẳng rằng. Nhưng trước khi biến dạng hắn còn gầm ghè: «Ông thì sẽ cho biết tay! » – nhưng đây cũng là sự cáo chung của uy quyền hắn. Một lần nữa hắn cố tái lập quyền uy ngoài cánh đồng cày với cái trò «Chuẩn bị tiến, tiến» và «Nằm xuống. » Lệnh nào chúng tôi cũng tuân vì lệnh là lệnh phải được tuân. Nhưng chúng tôi tuân một cách chậm rải khiến Himmelstoss lộn tiết muốn hộc máu. Rất ư cần thận, chúng tôi từ từ quì xuống, rồi chống tay xuống và cứ thế: đồng thời hùng hùng hổ hổ, hắn ra một lệnh khác. Nhưng trước khi chúng tôi đổ mồ hôi thì giọng hắn cũng đã khè khè. Sau buổi đó hắn để chúng tôi yên. Dĩ nhiên mỗi lần nói đến chúng tôi là hắn lại rủa đồ chó đẻ, tuy nhiên giọng đượm vẻ kiêng nể.

Hạ sĩ tham mưu thì thiếu gì, nhưng đa số biết điều hơn. Nhưng dù sao thì anh nào cũng muốn được ở lại hậu phương cho khỏe xác được lâu chừng nào hay chừng nấy và muốn thế chỉ có cách là phải khắc nghiệt với tân binh. Nói đúng ra thì hễ động đến chuyện lau bóng cho cả trại là y như chúng tôi lãnh đủ và lắm lúc chúng tôi cáu sườn hét ầm lên. Chúng tôi nhiều thẳng ốm vì thế: thẳng Wolf chết vì sưng phổi. Nhưng nếu mình giơ tay chịu hàng thì quả là nhục. Nên chúng tôi đâm ra cứng rắn, đa nghi, bất nhẫn, đểu giả, ba gai – và thế mà hay: vì trước kia chúng tôi làm gì có những đức tính này. Giá không có thời gian huấn luyện này mà lại nhảy ra chiến hào ngay, chúng tôi bẫn thằng nào cũng đã pbát điên rồi. Chúng tôi chỉ được chuẩn bị có thể đề đối phó với những gì chờ đợi chúng tôi, Chúng tôi không tuyệt vọng, nhưng chịu đựng, cái tuổi hai mươi của chúng tôi, từng lăm lăm cái khác thêm phiền toái, thì ở đây lại rất được việc cho chúng tôi. Điều quan trọng hơn hết, rất ư quan trọng là nó thức tỉnh ở chúng tôi một ý thức thực tế, mạnh mẽ về cải gọi là tinh thần tập thể, cái tinh thần ở ngoài chiến trường đã phát triển thành cái gì đẹp nhất được nảy nở do chiến tranh – là tình chiến hữu.

Mặc đầu Muller hẳn sung sướng nếu lại được đôi bốt của Kemmerich thật ra nó cũng như ai vậy, cũng xúc cảm, cũng khỏng thể nghĩ đến một điều như thế mà không buồn bực. Nó chỉ có nhìn sự vật một cách sáng suốt. Nếu như Kemmerich lại sử dụng được đôi bốt, thì Muller hẳn thà là đi chân không dặm lên dây thép gai còn hơn là nghĩ mưu chiếm đoạt đôi bốt. Nhưng sự thế nó là thế, đôi bốt trở thành vô dụng dối với Kemmerich, nhưng với Muller thi lại rất hữu dụng. Kemmerich sẽ chết: ai được đôi bốt là điều không quan trọng. Thế thì tại sao Muller lại không được thừa kế? Nó có quyền hơn là một anh y tá. Khi Kemmerich chết thì muộn quá rồi. Nên Muller phải lo rình rập. Chúng tỏi không còn suy nghĩ gì đến cái gì khác, vì cái gì thì cũng là giả tạo. Chỉ có các sự kiện là thật và là quan trọng đối với chúng tòi. Mà bốt tốt thì rất hiếm.

Có dạo vấn đề từng khác hẳn. Khi chúng tòi đi đến tòa Tổng trấn để nhập ngũ, chúng tôi là một lớp hai mươi thanh niên trong số có nhiền thẳng hãnh diện là lần đầu tiên được cạo râu trước khi đến doanh trại. Chúng tôi không có ý định gì nhất định về tương lai của mình. Những ý nghĩ của chúng tôi về một sự nghiệp hay một nghề nghiệp còn mang nặng tinh chất viễn vông nên chưa thể bảo là một kế hoạch sinh hoạt. Đầu óc còn đầy đặc những quan niệm mơ hồ gán cho đời sống và cả chiến tranh nữa một tinh chất lý tưởng và gần như lãng mạn. Vào quân đôi chúng tôi được huấn luyện mười tuần lễ và trong thời gian ấy chúng tôi bị ảnh hưởng còn sâu hơn  là mười năm ở trường. Chúng tôi học được rằng một chiếc khuy hỏng còn năng kí hơn là bốn pho Schopenbauer. Thoạt đầu bỡ ngỡ, rồi chua chát và sau cùng là thờ ơ, chúng tôi nhận thấy rằng điều quan trọng chẳng phải là tâm trí mà là bàn chải đánh giầy, chẳng phải là trí tuệ mà là chế độ, chẳng phải là tự do mà là tập tính. Chúng tôi đi lính với cả một lòng hăng say nhiệt thành nhưng họ đã làm đủ thứ để diệt trừ cái đó ra khỏi chúng tôi. Sau ba tuần chúng ta chẳng còn lạ gì rằng một anh phát thư đeo lon còn có quyền uy đối với chúng tôi hơn là cả cha mẹ mình, các thầy mình và cả toàn thể cái hệ thống văn hóa từ Plato đến Gorthe trước kia. Với đôi mắt thức tỉnh của tuổi trẻ chúng tôi thấy rằng cái quan niệm cổ điển về Tô quốc do các thầy  chúng tôi giảng dạy ở đây được thu gọn lại thành một sự từ bỏ nhân cách đến mức mà ta chắc cũng không đòi hỏi ở kẻ tôi tớ hạ tiện nhất – nào chào, nào nghiêm, nào diễn hành, nào bồng súng chào, quay phải, quay trái, đánh gót, chửi rủa và hàng ngàn thứ lặt vặt vớ vẫn khác. Chúng tôi cứ ngỡ nhiệm vụ của chúng tôi khác thế, và rồi chỉ thấy mình được huấn luyện làm anh hùng giống như thể mình là những con ngựa xiếc. Nhưng rồi chả may lúc chúng tôi cũng quen? Chúng tôi học được rằng những cái này cũng có phần nào cần thiết, còn thì toàn là trò diễn xuất, Những nhận xét này lính chúng nó thính mũi lắm.

Lớp chúng tôi được chia ra từng nhóm ba hay bốn thằng tản mát sung vào các tiểu đội cùng với dân chài Frisian. Dân quê, cùng dân thợ mà chả mấy lúc chúng tôi kết bạn. Kropp, Muller, Kemmerich và tôi sung vào tiều đội 9 dưới quyền hạ sĩ Himmelstoss, Bác ta nồi tiếng là người kỷ luật khắc nghiệt nhất trong trại và lấy thế làm hãnh diện. Bác người nhỏ bé dưới mức trung bình, có bộ râu mép thoa sáp thẳng như râu chồn, có mười hai năm phục vụ và trong đời sống dân sự làm nghề phát thư. Bác đặc biệt thù ghét Kropp, Tjaden, Westhus và tôi, vì bác cảm thấy có sự âm thầm thách thức. Tôi đã phải làm giường cho bác mười bốn lần nội một buổi sáng. Mỗi lần bác lại bẻ hoẹ chê bai và giũ tung ra. Tôi đã phải nhào nặn một đôi bốt tiền sử cứng như sắt suốt hai mươi tiếng đồng hồ-dĩ nhiên cũng có nghỉ-cho đến khi nó mềm như bơ và đến cả Himmelstoss cũng không biết chê vào đâu được; theo lệnh bác tôi đã phải cọ cả Câu lạc bộ Hạ sĩ bằng một cái bàn chải đánh răng. Kropp và tôi được giao phó cái công tác quét sạch tuyết ngoài sân trại bằng một cái chổi với một thùng rác. Và chúng tôi chắc phải làm cho đến khi chết cóng nếu không được một ông trung úy bất ngờ xuất hiện cho chúng tôi bãi và nạo Himmelstoss một trận nên thân. Nhưng kết quả chỉ tổ làm cho Himmelstoss càng thù ghét chúng tôi thêm. Sáu tuần liền chủ nhật nào tôi cũng phải gát và làm dịch vụ lều cũng suốt một thời gian hồng ấy. Với đủ bộ lệ quân nhu súng ống trên vai tôi đã phải tập dượt trên một cánh đồng mới cày còn mềm, còn ướt, nào là Chuẩn bị tiến, tiến!» nào là «Nằm xuống đến khi tôi chỉ còn là một đống bùn và rốt cuộc nằm song soài. Bốn giờ sau tôi phải đến trinh diện Himmelstoss với binh phục gột rửa sạch sẽ, hai tay xây xát và rớm máu. Cùng với Kropp, Westhus và Tjaden tôi đã phải đứng nghiêm dưới trời sương giá tay không đeo găng suốt mười lăm phút, trong khi Himmelstoss canh chừng từng cử động nhỏ của các ngón tay để trần của chúng tôi trên báng thép của súng. Tôi đã phải chạy tám lần từ lầu thượng trại xuống sân mặc độc sơ-mi và hai giờ sáng chỉ vì ngăn kéo tôi lòi ra bảy phân quá cạnh chiếc ghế đẩu trên đó người ta xếp đống tất cả những vật dụng của mình. Chạy cạnh tôi là hạ sĩ Himmelstoss cố tình dẫm lên ngón chân không tôi. Khi tập đâm lưỡi lê, khi nào tòi cũng phải đấu với Himmelstoss, tôi với một vũ khi bằng sắt nặng, còn bác với một vũ khí bằng gỗ dễ sử dụng dễ bề nện vào cánh tay tôi cho đến khi bầm tím. Thật vậy, một lần, tôi nổi khùng liều mạng xông vào hắn giáng cho hắn một quả móc thôi sơn vào bụng khiến hắn nằm dài. Khi hắn tường trình nội vụ lên ông đại đội trưởng, ông ta biết Himmelstoss quá mà và thấy hắn tiu nghỉu ông ta khóng phải là không khoái trá ra mặt. Tòi trở thành một tay thiện nghệ về món chơi barre đôi và còn cố vượt cả huấn luyện viên về nhào lộn; – mỗi lần chỉ nghe cái giọng hắu là chúng tôi đã run lên, nhưng tên phát thư trốn nghề nay có bao giờ thắng nổi chúng tôi. Một chủ nhật Kropp và tôi đang hì hục đặt một thùng nước lên đầu cột ngang sân trại, Himmelstoss di ngang, binh phục chỉnh tề bốt bóng nhoáng, ra phố chơi. Hắn oai vệ đứng trưởc chúng tỏi hỏi chứ mấy chú có khoải cái công tác này không. Vô tình chúng tôi trượt tay làm đổ cả thùng nước lên cẳng hắn. Hắn cáu phải biết, nhưng cũng chỉ đến thế là cùng.

«Thế là tù, » hắn hét lên. Nhưng Kropp cũng chịu hết nổi. «Tù thì cũng phải điều tra trước đã,» nó nói, «và rồi cũng kể như pha. »

«Liệu hồn ăn nói với một vị hạ sĩ quan! »

Himmelstoss gầm lên. «Bộ mày điên sao chứ? Đợi người ta hỏi mày cái đã. Tao hỏi, chứ mày định làm cái thá gì? »

«Lật tẩy Hạ sĩ. » Kropp nói, hai ngón tay cái thẳng hàng với đường lai quần. Himmelstoss hiểu ý chúng tôi nên bỏ ra đi một nước chẳng nói chẳng rằng. Nhưng trước khi biến dạng hắn còn gầm ghè: «Ông thì sẽ cho biết tay! » – nhưng đây cũng là sự cáo chung của uy quyền hắn. Một lần nữa hắn cố tái lập quyền uy ngoài cánh đồng cày với cái trò «Chuẩn bị tiến, tiến» và «Nằm xuống. » Lệnh nào chúng tôi cũng tuân vì lệnh là lệnh phải được tuân. Nhưng chúng tôi tuân một cách chậm rải khiến Himmelstoss lộn tiết muốn hộc máu. Rất ư cần thận, chúng tôi từ từ quì xuống, rồi chống tay xuống và cứ thế: đồng thời hùng hùng hổ hổ, hắn ra một lệnh khác. Nhưng trước khi chúng tôi đổ mồ hôi thì giọng hắn cũng đã khè khè. Sau buổi đó hắn để chúng tôi yên. Dĩ nhiên mỗi lần nói đến chúng tôi là hắn lại rủa đồ chó đẻ, tuy nhiên giọng đượm vẻ kiêng nể.

Hạ sĩ tham mưu thì thiếu gì, nhưng đa số biết điều hơn. Nhưng dù sao thì anh nào cũng muốn được ở lại hậu phương cho khỏe xác được lâu chừng nào hay chừng nấy và muốn thế chỉ có cách là phải khắc nghiệt với tân binh. Nói đúng ra thì hễ động đến chuyện lau bóng cho cả trại là y như chúng tôi lãnh đủ và lắm lúc chúng tôi cáu sườn hét ầm lên. Chúng tôi nhiều thẳng ốm vì thế: thẳng Wolf chết vì sưng phổi. Nhưng nếu mình giơ tay chịu hàng thì quả là nhục. Nên chúng tôi đâm ra cứng rắn, đa nghi, bất nhẫn, đểu giả, ba gai – và thế mà hay: vì trước kia chúng tôi làm gì có những đức tính này. Giá không có thời gian huấn luyện này mà lại nhảy ra chiến hào ngay, chúng tôi bẫn thằng nào cũng đã pbát điên rồi. Chúng tôi chỉ được chuẩn bị có thể đề đối phó với những gì chờ đợi chúng tôi, Chúng tôi không tuyệt vọng, nhưng chịu đựng, cái tuổi hai mươi của chúng tôi, từng lăm lăm cái khác thêm phiền toái, thì ở đây lại rất được việc cho chúng tôi. Điều quan trọng hơn hết, rất ư quan trọng là nó thức tỉnh ở chúng tôi một ý thức thực tế, mạnh mẽ về cải gọi là tinh thần tập thể, cái tinh thần ở ngoài chiến trường đã phát triển thành cái gì đẹp nhất được nảy nở do chiến tranh – là tình chiến hữu.

Tôi ngồi cạnh giường Kemmerich. Nó là dân. Chung quanh chúng tôi người ta nhốn nháo. Một chuyến tàu bệnh viện vừa tới và người ta đang đi xem những thương bình nào cần được tải đi. Bác sĩ thường đi qua giường Kemuerich mà không buồn nhìn.

« Lần sau, Franz» tôi nói.

Nó chống khuỷu tay cố nâng mình trên gối,

«-Họ cưa chân rồi. »

Thì ra nó cũng biết. Tôi gật dầu đáp:

«Thoát chết là may lắm rồi. »

Nó nín lặng.

Tôi nói tiếp: «Không mất cả hai là còn may, Franz a. Thằng Wegeler mất cánh tay phải. Thế còn tệ hơn. Vả lại, cậu cũng sắp được về rồi,» Nó nhìn tôi. «Chắc vậy không? »

«Dĩ nhiên. »

«Chắc vậy không? » nó hỏi lại.

«Chắc chứ. Khi lành vết thương. »

Nó ra hiệu cho tôi cúi xuống. Tôi cúi xuống nó và nó thì thầm: «Tôi không chắc thế »

«Đừng nói gở, Franz, hai ngày nữa thì bồ biết. Cưa một chân? Đã thấm gì, ở đây họ còn chắp nối những cái tệ hơn thể nhiều, »

Nó giơ một tay. «Nhìn xem, mấy ngón tay này. »

«Đỏ là vì mổ. Ăn uống tẩm bổ thì chú mầy lúc lại khỏe ra. Họ trông nom có chu đáo không? »

Nó chỉ vào một cái đĩa còn đầy nửa. Tôi hân hoan. «Franz, phải ăn đi. Ăn là cần. Trông cũng ngon đấy chứ. »

Nó quay đi. Một lúc sau nó nói chầm chậm: «Có lần tôi muốn trở thành chánh kiểm lâm. »

«Thì rồi cũng có lúc, » tôi an ủi nó. «Giờ chân tay giả họ làm thần tình lắm, chả ai biết là mình thiếu gì. Bắt vào các bắp thịt. Mình có thề chuyền động các ngón, có thể làm việc, ngay cả viết bằng một bàn tay giả. Thêm nữa, họ vẫn tiếp tục cải thiện mỗi ngày mỗi tinh vi. »

Nó nằm yên một lúc. Đoạn nói: « Anh nhớ lấy đôi bốt buộc dây của tôi về cho Muller. »

Tôi gật và không biết phải nói năng gì đề phấn khởi nó. Môi nó đã lả, miệng nó rộng ra, răng nó chìa ra và trông như thể bằng phấn. Thịt tan đi, trán dô ra, lưỡng quyền lộ hẳn. Xương xẩu đang lòi dần. Mắt đã lõm hẳn. Trong hai tiếng đồng hồ là xong hết. Nó chẳng phải là thằng đầu tiên tôi thấy chết, nhưng chúng tôi lớn lên với nhau và thế đủ khác. Tôi từng cóp các bài luận của nó. Đi học nó thường mặc chiếc áo nâu có đai, ống tay bỏng. Hắn là thẳng duy nhất trong bọn chúng tôi quay được vòng khổng lồ trên thanh đôi. Tóc nó phất phơ như tơ trên mặt nó mỗi khi nó quay. Kantorek hãnh diện về nó. Nhưng nó không chịu được khói thuốc. Da nó trắng bạch; nó như con gái. Tôi nhìn đôi bốt tôi. Vừa to vừa thô, quai nhét vào trong, sỏ đôi ống cống to tướng này vào mà đứng lên thì trông có vẽ to con vạm vỡ lắm. Nhưng khi đi tắm hay đi dạo thì bỗng chúng tôi lại thấy cẳng mình khẳng khiu và đôi vai mình mỏng mảnh. Chả còn có vẻ gì là lính tráng mà chỉ là mấy thẳng nhóc; không ai lại tin rằng chúng tôi mà lại mang nổi ba lô. Khi đứng trần truồng thỗn thễn là cả một lúc kỳ lạ; lúc đó chúng tôi lại trở lại là dân sự và gần cảm thay mình là dân sự. Khi tắm trông thằng Kemmerich co lả như một đứa bé. Giờ đây hắn nằm đó, nhưng tại sao kìa? Cả thế giới lẽ ra phải đi qua chiếc giường này và nói; « Đây là thằng Franz Kemmerich, mười chín tuổi rưỡi nó không muốn chết. Đừng để nó chết! »

Đầu óc tôi hoang mang. Bầu không khi thạch thán toan và hôi thối này làm nghẹt phổi, nó như cháo đặc, nó làm nghẹt thở. Trời đổ tối. Mặt Kemmerich đổi sắc, nó dâng lên mặt gối và trắng bệch đến nổi nó sáng ra. Cái miệng mấp máy. Tôi ghé lại gần nó. Nó phều phào: «Nếu tìm ra đồng hồ, anh gửi về nhà -»

Tói không đáp. Đáp có ích gì. Ai mà an ủi nổi nó. Tôi đau khổ vì bất lực. Cái trán này với hai màng tang sâu hóm, cái miệng này giờ đây chỉ là một kẽ, cái mũi nhọn này! Và người đần bà mập ú, khóc than ở nhà mà tôi phải viết thư. Phải chi thư đã gửi rồi! Các y tá đi đi lại lại với chai với sô. Một anh đến, liếc nhìn Kemmerich rồi bỏ đi, Thấy ngay là anh ta đang đợi, anh ta ngóng chiếc giường.

Tôi cúi xuống Franz nói với nó như thể là cứu được nó không bằng: «Không chừng còn về dưỡng đường Klosterberg, giữa các hiệt thự, Franz à. Lúc đó có thể từ cửa số nhìn qua đồng sang hai cái cây ở chân trời.

Mùa này là mùa đẹp nhất trong năm, lúa đang chín; chiều đến dưới ánh nắng đồng trông như xà cừ. Lại còn con đường bạch dương cạnh giòng Klosterbach, nơi mình hay đến bắt cá ngạnh! Cậu lại xây hồ nuôi cá, đi chơi chả cần phải xin phép ai và tha hồ dạo dương cầm nữa».

Tôi cúi nhìn mặt nó nằm trong bóng tối. Nó còn thở rất nhẹ. Mặt nó ướt, ra nó dạng khóc. Rõ thật tôi ngu quá nói vở nói vẫn chỉ tổ buồn thêm:

«Này Franzo – tôi quàng cánh tay dưới vai nó áp mặt tôi vào mặt nó. «Giờ thì ngủ đi chứ? »

Nó không đáp. Nước mắt lăn trên má nó. Tôi muốn lau nhưng khăn mình lại bẩn quá. Một giờ qua. Tôi ngồi cứng đờ nhìn từng cử động của nó ngóng xem nó có nói gì chăng. Lỡ nó mở miệng khóc oà lên chăng! Nhưng nó chỉ khóc thầm, đầu ngả sang bên. Nó không nhắc đến mẹ, đến anh em chị em. Nó không nói gì cả,  tất cả đều nằm san nó, giờ đây nó hoàn toàn cô độc với cái kiếp sống nhỏ nhoi mười chín tuổi đầu của nó, khóc vì kiếp sống này đang rời hỏ nó. Thật là một cuộc từ biệt đau đớn nhất và ray rứt nhất tôi chưa từng thấy, mặc dầu lúc từ biệt thằng Tiedien cũng đã là đau khổ, nó đòi mẹ nó một thẳng to như vâm với đôi mắt trợn trừng khiếp đảm, cầm con dao chĩa ra không cho bác sĩ lại gần cho đến khi nó chết. Bỗng Kemmerich rên rỉ và bắt đầu khò khè.

Tôi đứng phắt dậy, lảo đảo ra ngoài hỏi:

«Bác sĩ đâu? Bác sĩ đâu? »

Vừa thấy bóng một cái yếm trắng tôi túm ngay lấy: «Đến mau lên Franz Kemmerich đang hấp hối.».

Ông gỡ tay tôi và hỏi người y tá đứng bên: «Giường số mấy? »

Anh ta nói: «Giường 26, cưa đùi. »

Ông hít mạnh: «Làm sao tôi biết được, riêng hôm nay tôi đã cưa năm chân: » ông gạt tôi ra, bảo người y tá «Anh liệu xem, » rồi rảo bước đến phòng mỗ.

Tôi tức giận tràn hông đi theo anh y tá. Anh ta nhìn tôi nói: «Hết mổ lại mổ từ năm giờ sáng nay. Auh biết không, riêng ngày hôm nay đã có mười sáu mạng chết – bạn anh là thứ mười hảy. Chắc chắn là phải hai chục»

Tôi nghe muốn xỉu, tức thì tôi chả biết làm gì hơn. Tôi không còn càu nhàu nữa, thật là vô lý, tôi có thể té xuống và không còn bao giờ dậy. Chúng tôi đứng bên cạnh giường Kemmerich. Nó đã chết, Mặt còn ướt lệ. Đôi mắt hé mở vàng như đôi khuy sừng cũ. Anh y tá thọc vào sườn tôi. «Anh lấy các đồ của anh ấy đi hẳn? » Tôi gật. Anh nói tiếp. «Chúng tôi phải đưa anh ta đi ngay, chúng tôi cần giường. Ngoài kia họ nằm dưới đất. »

Tôi thu xếp các thứ, cởi thẻ căn cước của Kemmerich cất đi: Anh y tá hỏi sổ lương. Tôi nói chắc ở Phòng Y tá, rồi đi. Sau tôi họ đang khiêng Franz đặt lên một tấm vải không thấm nước.

Ra ngoài cửa tôi mới biết là đã tối và gió thổi như một luồng giải thoát. Tôi hít mạnh, cảm thấy gió thổi vào mặt, ấm áp dịu dàng như chưa bao giờ cảm thấy. Bổng đầu óc tôi liên tưởng đến gái, đến đồng cỏ hoa tươi, đến mây trắng. Chân tôi bước tới trong đôi bốt, tôi rảo bước, tôi chạy. Lính tráng đi ngang, tôi nghe tiếng họ mà chả hiểu họ nói gì. Mặt đất tràn ngập những xung lực rót vào người tôi qua gan bàn chân. Đêm tối lốm đốm đèn điện, tiền tuyến nổ rền như trống đánh tiên hồi. Chân tay tôi cử động mềm dẻo, tôi cảm thấy gân cốt rắn mạnh, tôi hít mạnh không khi, Đêm tối sống, tôi sống. Tôi cảm thấy đói, đói chẳng riêng gì trong bụng.

Muller đứng trước lều chờ tôi. Tôi đưa đôi bốt cho nó. Chúng tôi chui vào lều và nó đi thứ, Vui quá đi mất. Nó lôi trong bao thực phẩm của nó ra một chiếc xúc xích thật ngon lành. Ăn với trà nóng và rum.

Anh hùng hay phản bội?

Anne Khánh Vân

Post by Sơn râu 26 Mar 2026

Sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp, Anne Khánh Vân hiện sống tại miền Đông và làm việc cho AECOM, một công ty quốc tế. Cô là tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2007. Bài mới lần này của cô kể về buổi ra mắt sách của tác giả Andrew Wiest, cuốn “Vietnam’s Forgotten Army- Heroism and Betrayal in the ARVN” ở Virginia. “Ông Wiest thuộc lớp tuổi không can dự gì tới chiến tranh Việt Nam. Khánh-Vân cũng vậy. Nhưng giống mà cũng khác. Ông Wiest là người Mỹ. Việt Nam dù chiến tranh hay hoà bình, bất quá với ông chỉ là một đề tài… nghiên cứu.” Khánh Vân viết và biến tựa đề cuốn sách thành… câu hỏi.

Một tình cờ đặc biệt, nhân vật chính trong sách của Andrew West được kể trong bài này, ông Trần Ngọc Huế, là một trong ba diễn giả tại cuộc thuyết trình hội thảo về “Sự Thật Tết Mậu Thân 68” khai diễn tại Việt Báo Gallery trưa Thứ Bẩy tuần này.

*

Tựa đề “Vietnam’s Forgotten Army – Heroism and Betrayal in the ARVN” của tác giả Andrew Wiest khiến Khánh-Vân tò mò… Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Khánh-Vân chỉ mới vào đời có… 8 tháng, chưa đạt mức “9 tháng dò dò biết đi.” Làm sao hình dung nổi một quân lực bị bỏ quên của Việt Nam Cộng Hòa ra sao, rồi người anh hùng và kẻ phản bội trong cái quân lực ấy là thế nào.

Ra mắt sách “Vietnam’s Forgotten Army”:

Giáo sư sử học Andrew West và nhân vật chính trong sách,

Trung tá Trần Ngọc Huế cùng các đồng đội Việt Mỹ của ông.

Xem thêm về tác giả: Ông ta sinh năm 1961. Vậy là chiến tranh Việt Nam đã có từ trước khi ông ta vào đời. Lúc nó kết thúc, ông ta chỉ mới 14 tuổi, còn lâu mới đến tuổi nhập ngũ. Tuy hơn nhau cả chục tuổi, nhưng cái ông Wiest này và Khánh-Vân vẫn cùng lứa tuổi không thể dự phần vào cuộc chiến. A, thì ra ông ta thuộc một thế hệ mới của người Mỹ muốn nhìn lại chiến tranh Việt Nam. Để xem ông ta nhìn ra sao.

Chính điều này đã khiến Khánh-Vân quyết định đến dự buổi ra mắt sách của ông tại thành phố Falls Church, VA, Chủ Nhật, 17 tháng Hai, 2008 vừa qua.

*

Ngồi ở những hàng ghế đầu trong buổi ra mắt sách là các nhân vật quan trọng: Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, ông Thiếu Tướng hồi hưu Creighton Abrams –con trai cố Đại Ttướng Abrams, tư lệnh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam -ông Trung Tướng hồi hưu William J. Bolt – nguyên cố vấn đơn vị Hắc Báo tại Huế hồi Tết Mậu Thân, tác giả, các nhân vật chính trong sách, các đồng đội Việt – Mỹ của họ và giới truyền thông. Về phía người Việt, có giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, chị Dương Nguyệt Ánh… Phần đông khách đến tham dự ở độ tuổi chú bác của Khánh-Vân. Số ít người trẻ trang lứa Khánh-Vân, có thể đoán là con cháu của khách có mặt.

Cái đinh của buổi ra mắt sách dĩ nhiên phải chính là tác giả. Ông Andrew Wiest là một giáo sư tiến sĩ sử học có tiếng, đồng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Tranh và Xã Hội tại đại học Southern Mississippi. Tại đại học, ông dạy về chiến tranh Việt nam và đã đích thân đưa các sinh viên của ông viếng thăm Việt Nam để tìm hiểu chiến trường của hơn 30 năm trước. Ông Wiest kể lại rằng tại Việt Nam, ông đã tình cờ gặp bác Phạm Văn Đính, một người từng là Trung Tá Trung Đoàn Trưởng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã đầu hàng cộng quân trong trận “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 tại Quảng Trị. Trước khi phải đầu hàng, bác Đính từng được đại tướng Abrams -tư lệnh Mỹ tại VN- trao tặng nhiều huy chương cao quý của quân lực Mỹ. Đơn vị của bác Đính từng lập chiến công lớn tại nhiều chiến trường, từ trận đánh nổi tiếng Hambuger Hill (Đồi Thịt Băm, đã được dựng thành phim) tới trận Mậu Thân tại Huế.

“Tôi thấy ông ta đúng là một bí ẩn phải tìm hiểu,” tác giả Andrew West kể rằng ông đã vận động mời được bác Đính từ Việt Nam sang Hoa Kỳ để trả lời phỏng vấn và chuyện trò đầy đủ hơn; đồng thời ông cũng đi hỏi rất nhiều người về bác Đính. “Tất cả đều bảo tôi nếu muốn hiểu rõ hơn về câu chuyện của Đính thì phải tìm cho ra một người tên Trần Ngọc Huế.” Họ là đồng đội của nhau, từng chiến đấu bên nhau, nhưng kết thúc cuộc đời binh nghiệp khác nhau.

Tác giả Anne Khánh Vân và khoa học gia Dương Nguyệt Ánh.

Tác giả Andrew Wiest đã tìm bằng được bác Huế, phỏng vấn thêm hàng chục nhân chứng liên hệ, và bỏ ra 7 năm dài để hoàn tất tác phẩm “Vietnam’s Forgotten Army”. Bìa cuốn sách có hình hai sĩ quan VNCH đứng bên nhau cùng nhận huân chương Mỹ do Tướng Abrams gắn thêm trên ngực áo đã mang đầy huân chương chiến công. Hai người ấy là bác Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Đính, một người là anh hùng, một người là phản bội. Bác Huế đang sống tại Virginia; còn bác Đính thì sau khi thăm Hoa Kỳ, trở về Việt Nam và qua đời.

Buổi ra mắt sách và chuyện trò qua thứ tự nhiều mục, nhưng Khánh-Vân nhớ nhất khi người đồng đội Mỹ của bác Trần Ngọc Huế, cựu trung tá David Wiseman, kể lại những kỷ niệm cũ.

Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, Hạ Lào, 1971, sau khi Trung Đoàn trưởng Trần Ngọc Huế bị trọng thương, trung đoàn biệt kích Hắc Báo của bác đã bị bao vây. Để không gây cản trở cho đồng đội trên đường rút lui, bác Huế đã ra lệnh đồng đội hãy để bác lại một mình ở trận địa. Bác Huế bị bắt làm tù binh và mất tích. D. Wiseman sau đó đã về Mỹ và làm việc trong Tổng Hành Dinh Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Mọi người cứ nghĩ bác Huế đã chết nhưng người đồng đội D.Wiseman này thì không tin như vậy. Vì luôn nhớ lời đã hứa với bác Huế sẽ giúp đỡ gia đình bác Huế nếu bác có mệnh hệ gì nên ông đã miệt mài dò tìm tung tích bác Huế, kể cả sau khi Saigon thất thủ 1975. Ông cứ mang hình bác Huế đến hỏi khắp các gia đình thuyền nhân và cựu quân nhân Việt Nam trong nước Mỹ, nhất là vùng Virginia…

Ròng rã gần 20 năm… giờ “linh” cuối cùng đã đến. Tháng 7, 1990, ông Wiseman dự một dạ tiệc dành cho Gia Đình Tù Nhân Chính Trị. Trong buổi tiệc, khi tấm ảnh bác Huế được chuyền đi từng bàn thì một cựu tù nhân, ông Ngô Đức Ấm -anh họ của bác Huế gái- đã nhận ra bác Huế và xác nhận với ông Wiseman rằng bác Huế bị tù 13 năm và đã được thả; hiện đang cư ngụ tại Saigon.

Bác Huế vô cùng xúc động khi nhận được thư của người đồng đội Mỹ. Ông Wiseman vẫn nhớ những thói quen cũ của bạn; ông hỏi trong thư viết cho bác Huế, “Ông còn hút thuốc Salem như trước không? Ông cần gì?” – Bác Huế trả lời: “Tôi chỉ cần tự do!”

Cựu trung tá Wiseman, sau đó đã huy động nhiều bạn bè, tiến hành làm thủ tục HO giúp mang bác Huế cùng gia đình sang Mỹ. Trong suốt thời gian chờ đợi được sang Mỹ, hàng tháng ông Wiseman đã lén lút gửi về cho bác Huế 100 đô để giúp bác sinh sống và làm giấy tờ. Hơn một năm sau, gia đình bác Huế lên máy bay sang Hoa Thịnh Đốn. Ông Wiseman đến thăm, một tay xách bao gạo, tay kia bao nước mắm…

Bác Huế đã mượn của State Department $4,000 đô để mua vé máy bay cho gia đình sang Hoa Kỳ. Không đầy một năm sau, gia đình bác Huế đã đi làm và hoàn lại $4,000 cho State Department. Năm 1992, bác Huế và gia đình đã được người Chỉ Huy Trưởng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ mời đến trong buổi lễ phục hồi 2 huy chương US Bronze và US Silver Star – Silver Star là huy chương cao quý nhất mà chính phủ Hoa Kỳ có thể trao tặng cho một người ngoại quốc.

Khánh-Vân nhìn bác Huế và người đồng đội Mỹ đứng bên nhau kể chuyện cũ mà lòng không khỏi xúc động. Những người đồng đội khác màu da, khác tiếng nói này thương quý và tương trợ nhau như anh em vì họ có cùng một lý tưởng và đã anh dũng chiến đấu, sống chết cho lý tưởng ấy.

Cầm cuốn sách trong tay, Khánh-Vân đọc lời tựa sách do Thượng Nghị Sĩ Jim Webb viết, “Câu chuyện của Trần Ngọc Huế và Phạm Văn Đính không là những câu chuyện dễ cảm nhận. Một người đã trả giá đắt cho lòng trung thành nhưng lòng luôn thanh thản về danh dự; người kia, ngược lại đã chọn con đường ít đau đớn hơn, nhưng lại phải đối diện với hồi cuối phức tạp.”

Từng là một Thuỷ Quân Lục Chiến trong chiến tranh Việt Nam, Thượng nghị sĩ Jim Webb có nhiều bạn chiến đấu người Việt. Năm 1991, sau khi từ Việt Nam trở về, ông đã viết cho The New York Times “Our Saigon Friends Still Need Help” (By James Webb; Published: April 29, 1991, Kỷ niệm 30 tháng Tư 1991) và là một trong những ân nhân của chương trình HO. Tôi nhớ anh Lê Q. Tùy, người bạn thân gần với Thượng nghị sĩ, đã có lần kể với tôi như vậy.

TNS Jim Webb cũng là người đã ký thư can thiệp với Toà Lãnh Sự Mỹ ở Saigon, giúp Khánh-Vân trong 10 ngày có thể làm xong thủ tục đưa được ba má từ Saigon sang Hoa Kỳ để kịp dự họp mặt Viết Về Nước Mỹ tháng 8 năm 2007. Trong buổi ra mắt sách, Khánh-Vân đã có dịp được cám ơn ông khi trò chuyện. Thật bất ngờ khi thấy vị Thượng Nghị Sĩ nguyên Bộ Trưởng Hải Quân, nhà văn, đạo diễn danh tiếng của nước Mỹ, không chỉ nói giỏi tiếng Việt mà còn biết… xem tướng. Ngay khi thấy Khánh-Vân tới chào, ông hỏi:

“Gia đình cô có phải gốc bắc 54 không… vì khuôn mặt cô có nét người bắc?” TNS Jim Webb vừa nói bằng tiếng Việt, vừa đưa tay lên diễn tả khuôn mặt.

Khánh-Vân thưa với ông rằng mình có mẹ là bắc kỳ 54 và ba là nam kỳ.

Nếu “nửa Nam nửa Bắc” như Khánh-Vân mà khuôn mặt lộ nhiều nét bắc kỳ hơn thì rõ ràng “gen” bắc kỳ hơi… trội. Chuyện này mà kể lại cho cho ông ngoại… bắc kỳ di cư của mình nghe, chắc ông ngạc nhiên lắm. Khánh-Vân nghĩ, và nhớ ông ngoại…

*

Sau khi đã rời khỏi buổi ra mắt sách, hình ảnh ông ngoại, khuôn mặt ông, vóc dáng ông, cùng mấy chữ “Anh hùng và phản bội” trong tựa đề cuốn sách, không hiểu sao vẫn theo Khánh-Vân mãi.

Trước hết, xin sơ lược về ông ngoại bắc kỳ di cư của Khánh-Vân.

Bỏ cả nhà cửa quê hương, di cư vào tận miền nam để lánh nạn mà lánh cũng không nổi. Đó là lời than của ông ngoại mà Khánh-Vân thường nghe từ nhỏ. Cái nạn mà ông ngoại muốn lánh là nạn cộng sản đang độc quyền cai trị cả nước theo kiểu của họ. Khi khôn lớn hơn, Khánh-Vân hiểu thêm vậy.

Trong số con cháu ông bà ngoại, có 4 người chết vì Cộng sản; những người còn sống sót thì đều đã ít nhiều ngồi tù. Có lần Khánh-Vân hỏi mẹ, “Tại sao ông ngoại chửi Cộng sản hoài vậy? Con có cảm tưởng ông ngoại đau cái gì dữ lắm…” Nghe mẹ kể lại những chuyện từ đời xửa đời xưa, Khánh-Vân mới phần nào hiểu thêm về ông ngoại của mình. Trước khi căm thù cộng sản, chính ông từng hoạt động với họ.

Đó là chuyện từ cái thời của “ba ngày lễ lớn”, mà như bọn học trò cùng trang lứa tại Saigon sau 1975, Khánh-Vân từng phải học thuộc lòng. Đại khái, theo sử sách cộng sản, đó là ngày cách mạng tháng Tám, 19-8, ngày Việt Minh dành được chính quyền; tiếp theo là mùng 2 tháng 9 năm 1945, ngày “Bác Hồ” tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà; rồi tới ngày toàn quốc kháng chiến, ngày bùng nổ cuộc chiến tranh Pháp-Việt.

Vào cái thời xa xưa kể trên, vì thiết tha với viễn ảnh một nước Việt Nam Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc, ông ngoại đã hoạt động rất gắn bó với phía Việt Minh. Công việc của ông lúc ấy là trông coi thuốc men trong ngành quân y Pháp. Nhờ vị trí này, ông đã tìm mọi cách gom “thuốc tây” –thuốc men của Pháp- để chuyển ra chiến khu tiếp tế cho Việt Minh. Thuốc men trong bệnh viện thường xuyên được thay thế mỗi khi gần hết “đát”. Vì trong nghề, ông biết số thuốc này vẫn còn hiệu nghiệm cả một năm sau ngày hạn. Thay vì phải huỷ thuốc, ông kín đáo gom lại. Số thuốc này được gửi giúp các anh em Việt minh đau bệnh trong rừng núi.

Trong vài năm cuối cuộc chiến, chính phủ kháng chiến của Việt Minh dần lộ diện là cộng sản, thi hành nhiều biện pháp tàn bạo. Hàng loạt sự việc không ngờ đã xảy ra và gia đình người thân của ông ngoại Khánh-Vân bị Việt Minh đối xử tồi tệ: đốt nhà, bắt người và chôn sống… Ông ngoại bắt đầu hiểu bộ mặt thật của Cộng Sản và căm thù từ đó.

Là dân miền Nam từng phải qua thời trung học dưới chế độ cộng sản, Khánh-Vân vốn dị ứng với hai tiếng “anh hùng.” Nào “chủ nghĩa anh hùng cách mạng,” nào “bộ đội anh hùng,” “nhân dân anh hùng,” nào “ra ngõ gặp anh hùng, vào nhà gặp dũng sĩ…” Mọi loa đài sách báo cứ thế mà ra rả suốt ngày, nghe tới phát ớn. Vậy mà không hiểu sao khi dự buổi ra mắt sách “Vietnam’s Forgotten Army – Heroism and Betrayal in ARVN”, mấy tiếng “anh hùng và phản bội” tự nhiên thấy sống động trở lại. Và khi nhớ ông ngoại, Khánh-Vân bỗng thấy mình muốn hỏi: Ông ngoại thân yêu của con, ông là anh hùng hay là kẻ phản bội?

Ông ngoại đã làm việc trong quân y viện Pháp để thu gom thuốc tây tiếp tế cho Việt Minh. Nhìn từ phía người Pháp, việc làm của ông là phản bội. Nhìn từ phía Việt Minh, việc làm của ông là anh hùng. Vậy là cùng một người, một việc, có thể vừa là anh hùng, vừa là kẻ bội phản, tuỳ theo cách nhìn từ hai phía khác nhau.

Ông đã từng cùng hoạt động với Việt Minh, từng là anh hùng theo cách nhìn của họ, nhưng rồi chính ông cũng đã rời bỏ họ. Khi Việt Minh chiếm miền Bắc, ông phải bỏ quê hương, mang cả gia đình di cư vào Nam và đã lên án “bọn Cộng Sản chỉ vắt chanh bỏ vỏ, không từ một thủ đoạn tàn ác nào để đạt được mục đích.” Như vậy thì với cả hai phía, ông ngoại Khánh-Vân đều có thể vừa là anh hùng, vừa là kẻ bội phản.

Nhưng nếu câu hỏi “anh hùng hay phản bội” có thể đặt ra với ông ngoại bắc kỳ di cư của Khánh-Vân, tại sao lại không thể đặt ra cho Việt Minh Cộng Sản?

Hãy đối chiếu danh nghĩa, lời nói và việc làm. Từ 1945, họ gọi tên nước là “Việt Nam dân chủ cộng hòa” thêm cái đuôi dài thoòng “Độc lập tự do hạnh phúc.” Từ 1975, họ đổi tên nước là “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.” Thực tế trước cũng như sau, chỉ thấy một chế độ độc đảng, bầu cử kiểu đảng cử dân bầu, quốc hội dơ tay theo lệnh Đảng, toà án tuyên án theo lệnh Đảng. Quan chức bố uan chức con đều thành tư bản đỏ. Dân Saigon đang bàn tán vụ “cậu ấm đỏ” của một vị lãnh đạo mua trọn khu thương mại lớn với giá nửa tỷ đô la Mỹ. Cả guồng máy kinh tế chạy kiểu tư bản thời kỳ còn hỗn mang. Vậy là đối với những danh xưng mà chính họ tự nhận, họ là anh hùng hay phản bội?

Đảng cộng sản luôn tự xưng là Đảng của giai cấp công nhân, nông dân.

Công nhân trong nước đang bị những chủ hãng Đại Hàn, Đài Loan đối xử tàn bạo, đánh đập, mắng chửi. Khi phải đình công, kêu gọi sự can thiệp… họ không những không được nhận bất kỳ sự bênh vực nào mà còn bị nhà nước cho công an đàn áp những người công nhân biểu tình này.

Với nhà nước cộng sản, công nhân thực tế chỉ là một món hàng rẻ mạt để chiêu dụ đầu tư ngoài quốc, hoặc để “xuất khẩu lao động.” Cả trăm ngàn công nhân nam nữ đã được xuất khẩu bừa bãi, sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi. Đâu rồi, cái đảng của công nhân?

Công nhân đã vậy, nông dân ra sao? Trong thời gian qua, bà con cô bác từ nhiều tỉnh thành như Bến Tre, Long An, Đồng Tháp, Bình Thuận, Bình Phuớc, Tiền Giang, An Giang… và ngay chính các quận trong Saigon, thường xuyên vô Saigon, ra Hà Nội khiếu kiện đất đai. Họ dựng các mái che nắng, giăng cao các biểu ngữ tỏ rõ sự phẫn nộ do bị áp bức, cưỡng chế, chiếm đoạt đất đai, nhà cửa… Tiếng kêu của họ, kêu hoài… không thấu… Hình ảnh những kỳ biểu tình này được phổ biến rộng rãi trên nhiều trang web.

“Đất đai ruộng vườn của chúng tôi bị ‘ép mua’ với giá không đủ làm lại chuồng bò…” – Nhiều bà con nông dân nằm lê lết ở góc đường Hoàng Văn Thụ và Hồ Văn Huê, đường đi từ phía sân bay Tân Sơn Nhất ra huớng Phú Nhuận, đã than thở như thế trong kỳ biểu tình hồi tháng 7 năm 2007 vừa qua. Nhiều người cho biết họ thuộc gia đình cách mạng, thương binh liệt sĩ; trong thời chiến họ từng là những bà mẹ lội núi băng rừng mang thức ăn cho chính những cấp lãnh đạo bây giờ. Vậy mà “các ông ấy đành lòng đối xử với chúng tôi như thế.”

Các ông mà những người nông dân này nhắc đến, có bao giờ tự hỏi họ là anh hùng hay phản bội?

Sách vở cộng sản thường ca là Đảng ta dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc. Đánh Tây, đánh Mỹ, hai triệu người chết cũng chỉ vì hai tiếng độc lập. Lần đầu tiên trong lịch sử đất nước, Ải Nam Quan, Bản Giốc đã thành đất Trung Quốc, vùng biển Trường Sa đã bị Trung Quốc công khai sát nhập vào quận Nam Sa. Thanh niên sinh viên biểu tình phản đối thì bị công an dẹp. Tệ đến mức có ông làm quan truyền thông tới chức Tổng Biên Tập mà chỉ vì đăng bài viết bảo vệ chủ quyền Trường Sa mà mất chức luôn.

Ngọn cờ độc lập của Đảng nay ở đâu? Anh hùng hay phản bội?

*

Tác giả sách “Vietnam’s Fogotten Army”, ông Adrew Wiest thuộc lớp tuổi không can dự gì tới chiến tranh Việt Nam. Khánh-Vân cũng vậy. Nhưng giống mà cũng khác. Ông Wiest là người Mỹ, Việt Nam dù chiến tranh hay hoà bình, bất quá với ông chỉ là một đề tài… nghiên cứu. Là người Việt, dù sống bên Tây hay bên Mỹ, Việt Nam đối với Khánh-Vân vĩnh viễn là quê hương. Khánh-Vân không thể bình tâm “nghiên cứu” nó như một đề tài, mà luôn hướng về nó, với biết bao thương nhớ, lo âu.

Sau buổi ra mắt sách của ông Wiest, tôi đã có dịp chuyện trò với chị Dương Nguyệt Ánh, nhà khoa học của lục quân Hoa Kỳ mà tôi rất ngưỡng mộ. Hai chị em ngồi trước những hàng ghế trống trong hội trường, chị nói, “Cái quan trọng là mình đừng lệ thuộc vào ai.” Câu nói của chị, cũng như cái tựa đề sách “Anh hùng và phản bội”, lại lập tức làm Khánh-Vân nghĩ tới Việt Nam.

Ôi, cái đất nước thân thương trong tay một chế độ lừa bịp. Hơn nửa thế kỷ rồi, từ thời ông ngoại bắc kỳ di cư của tôi, nhiều thế hệ đã bị đánh thuốc độc bởi thứ chủ nghĩa kì dị tự xưng là khoa học. Biết đến bao giờ Việt Nam mới thật sự mạnh giỏi? Biết đến bao giờ người Việt mới có thể thật sự tự hào về đất nước của mình?

Biết đến bao giờ?

Anne Khánh Vân

Chuyện 30 Tháng Tư: Chôn Súng

 Đào Như

Post by Sơn râu 26 Mar 2026


Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể, tác giả đã nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, với các bài “Tự Khúc”, “Dấu Chân Người Lính.” Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Bài sau đây là những đoạn ký ức về Tháng Tư 1975, được kể lại trong một sinh hoạt của “nhóm điều trị” tại Oak park, Illinois,USA năm 1966.
                                                             
***
                                                                          
Với giọng nói đều đều, độ phát âm vừa phải, anh trông có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới  thiệu mình và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày 30 tháng Tư /75:
– Tôi là lính Địa phương quân, đóng ở Bến tre trước 75. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng liên sơn rồi Lào kai. Đầu năm 80 họ chuyển chúng tôi về Nghệ tỉnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm 80 tôi được lệnh tha thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc, nghề chính của tôi là xẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái… Anh đưa tay phải cao lên và chòang vai người bạn ngồi bên cạnh, anh bảo:
– Cũng là nhờ đi tù cải tạo tận ngòai Bắc mà tôi được biết anh Phùng này đây! Chúng tôi ở cùng chung một trại từ Hoàng liên sơn… Nói đến đây, anh và anh Phùng, hai người ôm nhau cùng cười. Anh Phùng cảm động, cố nuốt nước bọt, giọng anh ngậm ngùi:
– Nguyên tôi là Đại úy, Lực Lượng Đặc Biệt, đóng ở Vùng Ba Biên Giới. Tiếp liệu và liên lạc với bên ngoài hoàn toàn bằng trực thăng. Việt Cộng dùng đặc công đánh úp đồn. Tôi bị bắt. Gia đình được khai báo là tôi bị mất tích, xem như đã chết! Vợ tôi lãnh tiền tử! Khi bị bắt, tôi thuộc diện tù binh, nhưng đến 75 cộng sản chuyển tôi sang chế độ học tập cải tạo! Năm 76 họ chuyển tôi ra tận ngoài Bắc, nên mới được ở chung với ông Thiếu tá Lý Thiên Nhân này đây. Khi cấp cứu anh Nhân bị gẫy kín xương đùi tại Lào kai, có tôi! Chính ở Lào-kai tôi và anh Nhân hái được trái “mắt cọp”, trái cây quí của người Bắc! Xin lỗi anh em tên nó không thơm lắm, nhưng khi ăn không đến nỗi nào!
Câu chuyện trái “mắt cọp” vì cái tên vô duyên của nó làm cho anh em tòan nhóm điều trị cười một trận! Sau đó Thiếu tá Nhân tiếp nối câu chuyện về anh:
– Sự thật thì cho tới năm 75 tôi vẫn còn là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 52 Địa phương quân, tỉnh Bến tre! Bộ chỉ huy của Tiểu đoàn đóng ở rừng Rạch Rợp, dựa lưng vào sông Ba-lai. Địa bàn hoạt động của Tiểu đòan là 16 xã thuộc quận Ba Tri. Sau khi Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết vào đêm 30/4/75, cũng như các sĩ quan của các đơn vị quân đội “Vùng 4”, chúng tôi buông súng và đi trình diện tại quận Ba Tri. Đến trình diện, thoạt tiên thấy Cộng sản họ cũng tử tế. Họ đội nón tai bèo có, nón cối có, đến ân cần nói chuyện với các sĩ quan trình diện. Tất cả đều nói một câu mà hình như có ai dạy cho họ và họ thuộc lòng sẵn trong bụng. Họ bảo anh em chúng tôi: “Các anh phải thật thà, thành khẩn mà khai báo, đừng có khai man tên họ, lý lịch và chức năng của mình! Cách mạng có cái nhìn thấu suốt tam đại, tứ đại của các anh”. Một anh chiến binh cộng sản coi còn trẻ, chừng 17, 18, đội mũ tai bèo, nói giọng Bắc, đến nhẹ nhàng hỏi tôi và ghi tên họ cùng chức năng Tiểu đoàn trưởng của tôi. Một ông sĩ quan của họ, đội nón cối và cũng người miệt ngoài đó, đến cúi xuống trên tờ kê khai lý lịch của tôi, đóng khung bằng mực đỏ chức năng Tiểu đoàn trưởng của tôi. Đoạn ông ta ngước ngược tròng con mắt lên nhìn tôi, cái nhìn sắc lạnh xuyên suốt cột sống tôi! Cái nhìn ghê rợn ấy có sức ám ảnh tôi! Mãi đến bây giờ đôi khi tôi vẫn nhìn thấy lại trong những cơn ác mộng! Nói thật với các anh em, lúc đó tôi thấy rồi, tôi thấy cái gì bất ổn cho riêng tôi… Làm xong mọi thủ tục, họ bảo: “các anh ai về nhà nấy, và chờ lệnh gọi tập trung sau”!
Trên đường về nhà, tôi suy nghĩ thật mông lung. Tôi có cảm tưởng mình là con cá nằm trên thớt đang dảy dụa! Tôi gặp thượng sĩ Long đang chạy xe Honda. Ông là thượng sĩ già, kinh nghiệm, từng trải, trước sau như một, trung hậu với tôi. Tôi đem chuyện kể cho nó nghe. Nó có vẻ sợ cho tôi, nó bảo:
– Hay ông thầy về trình diện ở thị xã Kiến hòa cũng không muộn. Ở đó có người có ta, chớ ở quận Ba Tri này, chỉ có ông thầy là lớn! Ngại lắm!
Tôi còn mãi cân nhắc, thượng sĩ Long vụt nói:
– Giờ này không còn ai dám chạy xe lôi xe lam rước khách cả! Được! Tôi chở ông thầy đi Kiến hòa bằng xe Honda của tôi!
Chỉ vỏn vẹn có 5 phút, ông ta ghé nhà cho vợ hay. Ông ta bảo tôi ngồi sau lưngù, ôm lưng thật chặt rồi chở tôi một mạch về Kiến hòa! Trên đường vào thị xã Kiến hòa tôi gặp Trung tá Bành Tấn Bửu mới hôm qua ông còn là Tham mưu trưởng Tiểu khu Kiến Hòa, bây giờ ông mặc đồ thường phục, dân sự, mang dép Nhật, đang đi lẹt xẹt trên vỉa hè đường phố! Tôi liền đến trình bày với ông ta về sự thể của tôi tại Ba Tri. Ông ta hơi ngại cho tôi. Ông ta bảo:
– Ở quận Ba Tri không ai mà không biết anh! Thì cũng đành vậy thôi!
Lúc ấy trông mặt ông ta có vẻ căng ra. Mồ hôi rịn trên trán ông thấy rõ! Ông Bảo vụt hỏi tôi:
– Quê anh ở Sa-đéc” Còn sớm chán, về ngay quê quán mình mà trình diện cho có bà con và cũng có vẻ thật thà hơn, chớ ở Bến Tre này anh cũng biết ngại lắm, chính tôi cũng không biết thân phận của tôi ngày mai ra sao!     
Ông Thượng sĩ già của tôi cũng chụp nói vào:
– Đúng rồi đó ông thầy! Tôi đưa ông Thầy xuống phà, xong tôi bốc ông thầy lên Ngã ba Trung Lương để ông thầy đón xe đò về bến phà Mỹ thuận rồi thẳng về Sa-dec nội trong ngày, trước hai hay ba giờ chiều nay! Tôi bắt tay Trung Tá Bành Tấn Bửu. Chúng tôi chưa hề bắt tay nhau ngỡ ngàng như vậy, không phải là lời chào vĩnh biệt, cũng không phải lời hẹn tái ngộ! Có gì bẻ bàng cho thân phận chúng tôi!
Ngã ba Trung Lương, một ngã ba sầm uất, nhộn nhịp của các tỉnh phía Nam Saigòn! Nó nằm bên này sông Tiền trên trục giao thông của các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu long. Nó nối liền đường về các tỉnh miền Tây, đường đi Mỹ tho,Vĩnh long, bến phà Mỹ thuận, về Sa-đéc và Đồng tháp v.v…Cách nó không xa là căn cứ Đồng tâm, Trung tâm Hậu cần Quân khu 4; và cũng cách nó không xa là Bộ Tham Mưu của Sư đòan 7. Hôm nay, tại ngã ba Trung lương, người qua kẻ lại có vẻ bối rối khác thường. Ai cũng có bộ mặt thảng thốt, ngỡ ngàng! Những anh em binh sĩ quân đội Việt nam Cộng Hòa mới hôm qua, hôm nay mặc đồ dân sự, mang dép Nhật, đứng nhìn sửng sờ các chú lính giải phóng, đội nón tai bèo, lái xe jeep chạy tứ tung, vô kỷ luật. Họ không biết lái, họ húc phải người, tung cả quán hàng. Có xe bị lật bên đường! Có xe hết xăng bỏ ngay giữa con lộ!
Nhìn lại, đó là những chiếc xe nhà binh mà các bộ đội giải phóng lấy tại căn cứ Đồng tâm và Bộ Tham Mưu Sư đòan 7. Có người lính giải phóng đội nón tai bèo, đứng trên xe jeep la lớn bằng giọng Bắc kỳ: “Đó là qui luật của chiến tranh”, và anh ta chỉa súng AK lên trời bắn đùng đùng! Tôi thấy buồn lắm! Buồn lắm các anh em! Mới hôm qua cả Quân Đòan 4 đều nắm vững tay súng, chủ động trên khắp chiến trường, làm chủ trong mọi tình thế. Đêm qua Tướng Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết tại Cần thơ, cả Quân Đòan 4 sụp đổ! Cộng sản chiếm cả Vùng 4 không tốn một viên đạn. Tôi cảm thấy mất mát quá nhiều. Tôi vô cùng xấu hổ khi thấy mình cải trang trong bộ đồ dân sự, chân mang dép. Tôi thấy thương mình vô hạn! Tôi còn trẻ! Tôi mới 32 tuổi, Tiểu đoàn trưởng! Cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt sớm và thê thảm như vậy sao! Tôi nghĩ đến Tú, vợ tôi. Tôi yêu Tú vô hạn! Tôi nhớ các con tôi. Có lẽ giờ này tất cả mẹ con đang ngóng mong tôi tại Sa đéc. Cầm lòng không được, nứơc mắt dâng tràn!
Anh Nhân nói đến đây mặt mũi đỏ hoe và giọng anh nghe như khàn đi, thấy vậy anh Quang tiếp lời anh. Trung tá Lâm Quang nguyên là một trong những sĩ quan tham mưu của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Anh là sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị. Trung tá Lâm Quang nói:
 – Tình hình chiến sự thuộc lãnh thổ quân khu 4 vào những ngày cuối tháng Tư 75 nói chung và thành phố Cần thơ nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân đòan 4, Quân khu 4, Vùng 4, nói riêng, tương đối yên tỉnh so với tình hình các tỉnh miền Đông thuộc Quân khu 3, và Biệt Khu Thủ Đô, bản doanh của chính phủ trung ương Sàigòn. Nhất là sau vụ Tướng Nguyễn Khoa Nam đích thân chỉ huy các đơn vị thống thuộc đánh bại và vô hiệu hóa hòan tòan hỏa lực của Trung Đòan Chủ Lực Miền “Hậu giang” của Cộng sản, khi Trung đòan này xâm nhập và tiến sát vào vòng đai phòng thủ của phi trường Trà nóc (Cần thơ).
Sáng ngày 29/4/75 Bộ Tư Lệnh Quân Đòan 4 có triệu tập một cuộc họp quan trọng để duyệt xét lại tình hình và đề ra phương án phản công mới dưới quyền chủ tọa của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân Đòan 4, Quân khu 4. Thành phần tham dự cuộc họp gồm có: Tư Lệnh, Tư Lệnh phó, Tham mưu trưởng, các Tham mưu phó và các sĩ quan trưởng phòng trong bộ tham mưu của Quân đòan 4, ngọai trừ hai sĩ quan cao cấp của Quân đoàn, một cấp Chuẩn Tướng, Tham Mưu trưởng, và một cấp Đại tá, Trưởng phòng 2/QĐ, đã tẩu thoát ra nước ngòai là không tham dự phiên họp này. Cuộc họp tuy ngắn nhưng trang nghiêm và hết sức quan trọng. Các đơn vị trong Quân đòan 4 thề: ” kiên quyết và đòan kết sau lưng vị tư lệnh và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tử thủ Vùng 4″.
Sáng ngày 30/4/75 vào lúc 10:25, Tổng Thống Dương Văn Minh lên đài phát thanh Sàigòn kêu gọi toàn thể quân đội và các tướng lãnh chỉ huy Sư đòan, Quân đòan trên toàn vùng lãnh thổ miền Nam, phải buông vũ khí, ngưng chiến đấu và chờ bàn giao cho Chính quyền Cách mạng!… Thế là một quân đòan hùng mạnh như Quân Đòan 4, tới giờ phút này vẫn nắm vững tay súng, chủ động trên mọi tư thế chiến đấu và phản công, đang giữ vững miền châu thổ sông Cưủ long sắp phải tan rã!
Tướng Nguyễn Khoa Nam, một  quân nhân chuyên nghiệp, ông phải tuân thủ mệnh lệnh thượng cấp, nhất là vị thượng cấp này là Tổng Thống Dưong Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa vị Chỉ huy trực tiếp của Ông!
Một số sĩ quan phục vụ trong bộ tham mưu của Quân Đòan 4, kể cả tôi, quá chán nản rời bỏ đơn vị, về sum họp với gia đình chờ ngày vào tù. Một số khác thì tìm đường tẩu thoát ra nước ngoài vì họ sợ Cộng sản trả thù! Trong bối cảnh này, chỉ còn lại một mình Thiếu Tướng Nam, Tư lệnh, Thiếu Tướng Lê văn Hưng, Tư lệnh phó, và một số sĩ quan thân cận ở lại doanh trại Bộ Tư Lệnh của Quân đoàn. Tướng Nguyễn Khoa Nam, một Tướng lãnh ưu tú, sống độc thân, ăn trường chay, thanh bạch, suốt đời ông cống hiến cho binh nghiệp, tận tụy với quân đội.
Chiều ngày 30/4/75 Cộng sản đưa người của họ vào là Tám Thạch, mang quân hàm Thiếu tá Trung đòan trưởng, qua trung gian của Nguyễn Khoa Lai, em thúc bá của Tướng Nam, thiếu tá bác sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, và Đại úy bác sĩ Đòan Văn Tựu, y sĩ Trưởng Tiểu đòan 40 Chiến tranh chính trị, hiện trú đóng tại Bình Thủy, Cần thơ, vào tiếp xúc với tướng Nam tại Bộ Tư Lệnh Quân Đòan 4, đồn trú trên đại lộ Hòa Bình thành phố Cần thơ.  Nội dung cuộc tiếp xúc này, cấp nhỏ như chúng tôi không ai được biết, ngọai trừ Tướng Hưng, Tư lệnh phó, được Tướng Tư lệnh bàn bạc và thông báo riêng. Thiếu Tướng Hưng, trở về tư dinh và tự sát sau đó!
Sau khi suy nghĩ và cân nhắc mọi hậu quả có thể xảy đến cho đồng bào và chiến sĩ trong lãnh thổ, Tướng Hưng và Tướng Nguyễn Khoa Nam, tuần tự đi đến quyết định tuẫn tiết!
Sự tuẫn tiết của 2 vị Tướng lãnh, Tư lệnh và Tư lệnh phó của chúng ta, Tướng Nguyễn Khoa Nam và Tướng Lê Văn Hưng, là những quyết định kiên cường và dũng cảm, mãi mãi được tuyên dương và ghi công, đời đời được lịch sử soi sáng! 
Những điều tường thuật của Trung tá Lâm Quang tuy sơ lược lịch sử nhưng rất súc tích, gây nhiều cảm kích anh em. Không ngờ sau gần hai mươi năm mà ấn tượng của các anh em về Tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn còn sâu sắc, không một phai mờ! Nhớ lại Tướng Nguyễn Khoa Nam, anh em nhớ lại một thời vinh dự được cầm súng bảo vệ tổ quốc! Có một vài anh em cúi mái đầu bạc, hai tay bưng mặt khóc rưng rưng! Có một thời anh em là lính, là sĩ quan tham mưu của Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Không muốn để tâm tình xúc động của các anh em kéo dài, Trung tá Lâm Quang yêu cầu anh Nhân tiếp tục con đường từ ngã ba Trung lương về Sađéc.
Anh Nhân bậm môi, cố gắng lấy hết can đảm mới đủ bình tỉnh tiếp nối câu chuyện của mình:
– Như các anh biết, lúc đó xe chạy rất ít. Tôi có ý sợ không có xe về sớm để kịp giờ trình diện!  May quá lúc đó một chiếc xe nhà binh GMC cũng đang chạy trờ tới. Trên xe có mấy anh em bộ đội giải phóng đội nón cối, cũng có những người đàn ông đàn bà mặc đồ dân sự. Tôi liền đưa tay đón chiếc xe lại. Khi đến gần, họ ngừng xe lại, tôi thấy người tài xế lại là chú lính Việt Nam Cộng hòa! Tôi mạnh dạn hỏi lớn:
– Cho quá giang về phà Mỹ Thuận có được không”
Một anh bộ đội giải phóng, nói giọng Bắc la lớn:
– Nào! Lên đi nào! Khẩn trương lên! Trưa cả rồi!
Một cánh tay đưa xuống kéo tay tôi lên.  Khi bàn tay tôi chạm phải bàn tay anh, tôi thấy tay áo anh làm bằng vải kaki xanh Nam định! Tim tôi se lại! Dưới màu kaki xanh Nam định này, tôi đã nhiều lần nhìn thấy trên chiến trường những xác chết trẻ trung dưới hai mươi tuổi, trên ngực họ, trên tay họ hay trên lưng họ xâm hàng chữ “Sanh Bắc, Tử Nam”!
Xe chạy…và chạy xa ngã ba Trung lương. Mọi người ngồi trong xe đều im lặng. Hình như mỗi người đang theo đuổi những ý nghĩ riêng tư của mình! Ai cũng có vẻ ngỡ ngàng khi chạm phải mắt nhau! Xe chạy qua những thôn xóm quen thuộc tôi đã từng qua lại nhiều lần từ thuở thiếu thời, cắp sách đến trường gặp thầy, gặp bạn. Hôm nay nay trông quạnh vắng lạ thường! Trường học đóng cửa không một bóng dáng học trò, chợ búa tiêu điều không ai nhóm, nền gạch trơ, phất phơ mấy miếng lá chuối khô bay!
Có lúc trên xe im phăng phắc. Hình như ai cũng đang chờ đợi cái gì! Sau những năm chiến đấu ồn ào với súng đạn, bây giờ tôi mới hiểu im lặng là cái đáng sợ! Nhất là cái im lặng sau cuôc chiến, cái im lặng chứa đầy tử khí, ngạo nghễ và phản kháng! Các anh Bộ đội miền Bắc, có lúc cố gắng pha trò để đỡ buồn đỡ căng thẳng. Có anh nhái lại giọng Nam-bộ, hỏi người trên xe: “Mần sao” Bà con làm một chuyến du lịch từ Rạch Miễu đến phà Mỹ thuận trên chuyến xe đò Cách mạng kỳ này chắc giui lắm hả”!  Câu pha trò của anh rơi vào khỏang không! Tôi gượng gạo, nhìn bâng quơ ra ngòai. Làng mạc ruộng vườn bao la một màu xanh rờn vắng bóng người nông phu, chỉ có những cánh cò bay lặng lẽ!
Chợt anh tài xế la lớn;
– Đến bến phà rồi bà con ơi!
Tôi vội vàng cám ơn mọi người và nhảy xuống xe trước nhất. Một cánh tay cầm khẩu AK của anh bộ đội giăng ra chận tôi lại. Tôi hốt hoảng không biết xử trí như thế nào; nhưng với phản xạ tự nhiên của người lính, bàn tay phải của tôi đã sẳn trong túi quần, lúc ấy ngón tay cái của tôi đã nằm sẳn trên khóa an toàn, và ngón tay trỏ của tôi lúc đó cũng đã sẳn sàng nằm trên cò của khẩu Colt 12 mà tôi lận rất kỹ trong người và nó sẳn sàng nổ! Anh chàng bộ đội, nhấm nghiền đôi mắt lại, ngước cổ cao lên và la lớn:
– Ối Giời! Chúng tôi đèo anh từ ngã ba Trung Lương, đến tận đây thì anh phải trả tiền chứ, sao lại cám ơn không được!
Nói thật, lúc đó tôi mới lấy lại bình tĩnh. Tôi từ từ rút bàn tay phải ra khỏi túi quần có dính theo tờ giấy bạc 500 đồng đưa cho anh bộ đội và nói cám ơn anh ấy!
Trên đường tôi ngồi tiếp xe lôi về nhà, tôi nhớ lại câu nói của anh bộ đội:”Tôi đèo anh”, tôi cười một mình. Mãi sau này đi tù cải tạo tại miền Bắc tôi mới hiểu được nghĩa của chữ “đèo”! Chiến thắng Miền Nam, đối với các anh nhanh quá! Các anh ngỡ ngàng như còn trong mơ. Các anh chở chúng tôi trên chiếc xe hơi nhà binh GMC mà các cứ tưởng là các anh đang đèo chúng tôi trên chiếc trên chiếc xe đạp thồ trên con đường quê nào đó tại Miền-Bắc-Xã- Hội-Chủ-Nghĩa!
Về đến Sa đéc, trước khi đến nhà, đi ngang qua một công đất bỏ hoang, cây cối um tùm, có con lạch nhỏ, nước sâu đến gối và nhiều bùn, tôi dừng lại, suy nghĩ một hồi… Tôi bước xuống đứng dưới con lạch. Bỏ tay vào túi quần, tôi từ từ tháo gỡ cây súng. Tôi kiểm soát khóa an toàn, cho nó rơi xuống trong ống quần, rơi thật sâu xuống con lạch nước. Tôi nghe cây súng rơi xuống đến mắt cá chân tôi. Tôi dí bàn chân sâu vào trong bùn và rút lên từ từ. Cây súng, ngang mắt cá chân tôi rơi theo đúng vào lỗ bùn sâu.
Bước lên khỏi con lạch, mang lại đôi dép, tôi đi hướng về nhà không ngoảnh mặt lại. Có một chút gì chua xót trong tôi. Hình như tôi vừa từ giã ai” Một người bạn” Một chiến hữu” Một thoáng buâng khuâng mơ hồ, tôi vừa bước qua ngưỡng cửa cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp../.
Đào Như
Bác sĩ Đào Trong Thể

Những người thua trận

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 26 Mar 2026

“Mả cha cuộc đời quá vô hậu … “

(Trần Vàng Sao)

Trước hết phải nói “chửi” vũ khí của kẻ yếu mất hết lòng tin vào công lý và xã hội. Xã, Ấp nào phân xử chuyện mất một con gà, nên nạn nhân dành quyền phán xét bằng cách chửi đứa ăn trộm gà, dù mười mươi biết rằng có chửi, thì con gà cũng đã được vặt lông, cho vào nồi lâu rồi, không còn hy vọng tìm lại được. Nhưng vẫn phải chửi, trước là cho hả giận, sau là để nguyền rủa năm mười đời thằng ăn trộm gà cho nó xót gan bào ruột.

Chửi cũng phải có nghệ thuật. Không phải cứ thấy mất  gà là đã đong đỏng lên mà chửi, ai nghe? Thường thì người mất gà phát giác ra con gà “một đi không trở lại” trong thời điểm trời nhá nhem tối, nghĩa là giờ “gà lên chuồng”. Nhưng chửi vào giờ ấy, trong khi mọi gia đình, người đi làm chưa về, bữa cơm chưa dọn, kẻ còn cho trâu vào chuồng, người còn cho lợn ăn, thì ai nghe? Vậy nghệ thuật chửi là phải chọn đúng thời điểm khi hàng xóm, làng giềng đã yên lặng, có thể bắt đầu lên giường, như thời đại bây giờ người ta bắt đầu bật cái TV để nghe tin tức, cũng như bà vừa xong bữa cơm, nhai hết miếng trầu. Bốn bề vắng lặng, cuộc chửi rủa bắt đầu khi bà bước ra sân, mở đầu bài diễn văn hùng hồn, kiểu thưa gửi của một chính trị gia: “Kính thưa đồng bào … “

“- Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, tôi có con gà mái xám.”

Trước hết người chửi phải mở hết công suất của cái mồm, thứ đến phải hướng loa về căn nhà lối xóm bị tình nghi ăn trộm. Chửi không phải dễ, như thường ngày chúng ta vì bực tức buột miệng ra bằng một tiếng chửi thề, mà chửi đây phải có văn bản, nói theo lối thời thượng là phải có “biên tập”. Nội dung một bài “chửi” phải có “bới” và “rủa” như ta thường nói “chửi bới” hay “chửi rủa.”

Có người cho rằng người miền Nam có “chửi” chứ không hề “bới”, trong khi người miền Bắc nếu chửi nhau là đào bới cả tông ti họ hàng lên, đó là cái lối bới mả, đào mồ ông cha, tổ tiên mười đời lên mà chửi:” … bà đào mã thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên … ” Còn “rủa” là trù yếm: “Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau, chết mau, chết sớm, chết trẻ, đẻ ngang!”

Để câu chửi được nhịp nhàng, người ta dùng thể văn “biền ngẫu”, từng câu từng chữ đối nhau chan chát:

“Bố thằng chết đâm, cha con chết xỉa … chết một đời cha, chết ba đời con … ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột … bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng … “

Bài chửi muốn hay lại có vần điệu, chửi lên nghe âm thanh trầm bổng, thì người chửi phải chửi cao hơn một bậc nữa, là chửi bằng … thơ:

“Hôm nay bà chửi một bài

Ngày mai bà sẽ chửi hai lần liền

Bà chửi cho mày hóa điên

Bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng

Bây giờ bà mệt quá chừng

Bà về cơm nước, nhớ đừng quên a …

Muốn sống thì thả gà ra

Lạy bà hai lạy, bà tha cho mày …. ày ày ày … “(*)

Chửi không phải chỉ xử dụng cái mồm mà còn xử dụng tay chân, miệng chửi nhưng phải hoa tay múa chân, lâu lâu lại phải nhảy lên “đong đỏng” tay vỗ phành phạch vào hạ bộ để tỏ ra khinh miệt kẻ địch thủ chưa rõ mặt, là kẻ tình nghi ăn trộm gà. Có điều chắc chắn là người “chửi gà” không thể là đàn ông mà phải là đàn bà. Đàn bà có nhiều năng khiếu văn chương, nhiều lời, biết “trình diễn” hơn đàn ông và cũng lại còn có cái để mà … vỗ.

Chống cường quyền ngày nay, con người bất lực không thể dùng dao, dùng búa, dùng gươm, dùng súng, dân đen chỉ biết dùng miệng lưỡi Trời cho để … chửi, như bài “Vũ khí chửi” trên tờ Quân Đội Nhân Dân của CS hồi tháng 8-12 cũng đã viết: “đành rằng, chửi “đã mồm” cũng chẳng mấy khi tìm lại được gà, nhưng cái “chửi” để hả giận, để đánh thức lương tâm, nuôi dưỡng công lý. Lương tâm và công lý sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những “con gà vàng” thấm đẫm mồ hôi, nước mắt người lao động. Chửi là vũ khí của người nghèo.” Rõ ràng cơ quan ngôn luận này của “bộ đội CS” không thấy nhột nhạt khi đăng một bài “luận về chửi,’ trong khi cả nước đang chửi chế độ vì bất mãn.

Chửi mất gà trong xóm làng Việt Nam là chuyện chửi nhỏ. Ngày nay trong xã hội có nhiều loại không những căn cắp vặt mà ăn cướp công khai vì có quyền lực trong tay, dân đã mất người, mất nhà, mất đất, có khi mất cả giang san, thì thấp cổ, bé miệng, không có gươm có súng để làm cách mạng, thì còn có cái mồm chửi, cho đỡ uất.

Trên internet chúng ta đã xem người phụ nữ bị cướp đất, đến một đồn công an ở Hà Nội, tụt quần chửi cho đã giận. Người ta tập họp nhau ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, chửi đảng, chửi nhà nước. Mẹ con cởi truồng chống cưỡng chế đất đai, chửi bới bọn tham quan, ô lại. Nhưng phải là người “ở trong chăn,” lớn lên từ chế độ đó, mất hết vì chế độ đó thì câu chửi mới hay, lời chửi mới sâu sắc. Một nhà thơ của chế độ Cộng Sản đã chửi bằng thơ. Tác giả thuộc loại “sinh viên tranh đấu” ở miền Nam, mê Cộng sản đến đỗi bỏ tên họ cha mẹ đặt, sửa lại thành Trần Vàng Sao. Ông nướng hết tuổi trẻ cho Cộng Sản, về già bất mãn, ngồi làm thơ chửi đổng cho sướng miệng. Bài thơ “Tau Chửi” không một chữ một lời chỉ đích danh thằng nọ con kia, nhưng đọc lên ai cũng hiểu là một bài thơ chửi đảng, chửi cha chế độ. Bài thơ chửi dài 156 câu, mà chúng tôi chỉ trích ra vài đoạn ngắn sau đây, trước tiên cũng là những lời “bới” và “rủa”:

“mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước

giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây

đặng nghe tau chưởi

tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời

cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì

con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi

tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống

hết nối dõi tông đường

tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp

tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu

tam giáo đạo sư bây

cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây … “

“Bây” ở đây là ai? Trần Vàng Sao nói rõ:

“bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra

bây mang bí danh

anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường

lúc bây thật lúc bây giả

khi bây ẩn khi bây hiện

lúc người lúc ma

lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét

lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm.”

Và đánh thẳng vào những tên cầm quyền đầu sỏ:

“bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương

khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng

để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho

cha mẹ cố tổ bây … “(**)

Nhưng nói cho cùng phản ứng “chửi” vì mất mát, bất

công, bị chèn ép là phản ứng tiêu cực của kẻ yếu, người

nghèo. Những kẻ nghe chửi không phải ai cũng biết

đau biết nhục, vì ca dao Viêt Nam đã có câu:

“Quân tử ư hử cũng đau,

Tiểu nhân vác đá ném đầu chẳng sao!”

cho nên đối với bọn “cố đấm ăn xôi” này, nghe chửi đã quen, đứa nào cũng mang bí danh, tên giả, biết đâu bố mẹ mà sợ người ta nói đụng chạm đến cha ông, dòng tộc, động đến tổ tiên, mồ mả.

Người xưa nói “bất bình nhỏ thì dùng rượu, bất bình lớn thì dùng gươm.” Uống rượu là để nén bất bình xuống đáy lòng, không nén được thì văng tục hay lên tiếng chửi cho hả dạ. Bọn vô cảm không hề sợ chửi, chúng chỉ sợ con người dùng gươm để giải quyết khi không còn chịu được với nỗi bất bình lớn.

(*) Không biết tác giả

(**) “Tau Chửi” của Trần Vàng Sao.

Ngày Xuân ở biển hồ Pleiku

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 29 Jan 2020

Post by Sơn râu 26 Mar 2026

Kỳ 3

Trong số những đồ đạc địch còn bỏ lại có một bàn tiếp hậu súng cối 82 ly, một chân ba càng súng 12.7 ly, gần chục quả đạn cối 82 ly chưa gỡ chốt an toàn, vài cái nón cối vỡ nát, vài cái ba lô rách bươm.

Tôi đọc được trong một quyển nhật ký những tin tức liên quan tới xuất xứ địch: Thì ra đây là vị trí phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn E 24 /Mặt Trận B3 Cộng-Sản.

Tháng trước chúng tôi đã đánh nhau với E 24 một trận rất dữ dội ở Chư Pa. Ngày đó Trung Ðoàn E 24 đã bị tổn thất nặng; nhưng tôi không ngờ họ đã được bổ sung và phục hồi nhanh quá!

Tài liệu cho tôi biết Bộ Chỉ Huy E 24 nằm ở đây cùng các đơn vị bảo vệ, nhưng không rõ những tiểu đoàn tác chiến của E 24 nằm chỗ nào?

Chắc chắn Trung Ðoàn E 24 này đã về bí mật ém quân cả tuần lễ trong khu rừng này.  Nơi đây chỉ cách làng Plei Blang 3 một cánh đồng cỏ và một thung lũng cạn. Phi cơ trinh sát của quân Ðồng Minh đâu ngờ địch dám cả gan về nằm sát nách đồn Dân Vệ Plei Blang 3 chưa tới hai cây số, và chỉ cách Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 4 Hoa-Kỳ không đầy một tầm hỏa tiễn 122 ly và 107 ly!

Tôi báo cáo tường tận những gì chứng kiến cho tiểu đoàn trưởng rồi đề nghị với ông ta cho tôi rút quân ra Plei Blang 3.

Ðại úy tiểu đoàn trưởng chấp thụận lời tôi ngay, nên chỉ một giờ sau hai đại đội của tôi đã có mặt trên Tỉnh lộ 509 chờ xe về Biển Hồ.

Chúng tôi ra tới mặt Tỉnh lộ 509 thì anh Trung úy Mỹ tiến tới chìa tay ra nói lời tạm biệt.

Anh ta chào tôi để trở về nhiệm sở, vì toán đề lô của anh ấy chỉ có nhiệm vụ đi theo tôi một ngày thôi.

Vài phút sau, một chiếc trực thăng đáp xuống, đón hai người lính Mỹ.

Ðúng mười giờ sáng Mùng Sáu Tết, từ hướng Pleiku, một đoàn xe Quân Vận chạy tới. Tôi cho hai đại đội chuẩn bị sẵn sàng.

Thấy chỉ có bốn chiếc xe GMC, nên tôi nhường cho Ðại Ðội 3/11 về trước, cùng những thương binh và tử sĩ. Ðại đội tôi sẽ di chuyển sau.

Nào ngờ ngay lúc đó, có tiếng trực thăng “Bạch! Bạch! Bạch!”

– Thái Sơn! Ðây Hoàng Mai!

– Hoàng Mai! Thái Sơn nghe!

– Thái Sơn cho thằng 3 về đi! Còn đơn vị của Thái Sơn có nhiệm vụ mới.

Trực thăng đáp, Ðại úy Ðàm chạy vội lại ôm tôi một cái rồi thấp giọng,

– Long chịu khó! Anh không muốn Long vất vả thêm. Nhưng đây là lệnh của quân đoàn!

Trong thời gian này, quân đội Ðồng Minh đang thực hành chiến thuật “Seek and Destroy” (Seek and Destroy= Lùng và diệt địch) nên thượng cấp đã chỉ định đích danh tôi, Trung úy Vương Mộng Long và Ðại Ðội 1/11 Biệt Ðộng Quân tiếp tay với Sư Ðoàn 4 Hoa-Kỳ cấp tốc truy lùng và tiêu diệt Trung Ðoàn E 24 Cộng-Sản.

Chúng tôi được lệnh khởi hành ngay sau khi nhận tiếp tế hai cấp số đạn và năm ngày lương khô loại C của Hoa-Kỳ.

Biết rằng, “Quân lệnh như sơn” tôi không có quyền cãi lại.

Chuyến đi này trang bị càng nhẹ càng tốt.

Tôi đành gửi khẩu cối 60 ly cùng hai anh xạ thủ khẩu súng này theo máy bay của anh Ðàm về hậu cứ.

Tôi báo cho anh Ðàm biết hiện thời tôi không còn tiền sát viên pháo binh đi theo. Lúc đó anh Ðàm mới ớ ra.

Anh hứa liều,

– Ðể mình về trình lại. Long cứ đi trước, mình sẽ thả đề lô xuống sau!

Nhận lệnh, mà trong lòng tôi cứ băn khoăn.

Tôi chẳng hiểu vì ý gì mà cấp trên lại bắt đại đội tôi làm công tác “lùng và diệt địch” này.

Muốn “lùng địch” thì cứ tung ra vài ba toán Trinh Sát hay Viễn Thám làm công tác này chắc chắn sẽ có kết quả ngay.

Còn đem một đoàn quân hơn tám chục người kéo nhau “Rồng rắn lên mây” đi tìm dấu địch thì chẳng thích hợp chút nào!

Còn bảo rằng nhiệm vụ của tôi là “diệt địch” thì thật là vô lý! Một đại đội Biệt Ðộng Quân đơn độc giữa rừng thì làm sao mà “diệt” được một trung đoàn Việt-Cộng?

Cuộc săn lùng địch của tôi bắt đầu từ nơi bốn cái chảo gang địch còn bỏ lại.

Tình trạng của đơn vị tôi lúc này thật là nguy hiểm vì không có ai theo giữ hông, giữ lưng. Nếu bất ngờ bị địch phát giác, chúng tôi có thể bị bao vây ngay.

Chiến thuật của tôi là dò đường theo kỹ thuật “sâu đo”. Trung đội đi đầu sẽ cử ba khinh binh một đi giữa, một bên trái, một bên phải theo đường địch rút. Số người còn lại đi theo đội hình hàng dọc.

Ban chỉ huy đại đội với khẩu đại liên của Hạ sĩ Bổng cùng một trung đội sẽ đi cách trung đội đầu một khoảng cách chừng vài chục thước.

Trung đội đoạn hậu lúc nào cũng có một toán phục kích chống theo dõi.

Khi có lệnh của tôi thì đơn vị đoạn hậu này sẽ chuyển lên thay thế trung đội tiên phong, và trung đội đang đi với tôi sẽ làm công tác đoạn hậu. Cứ như thế chúng tôi theo dấu địch mà tiến.

Chúng tôi tiến vào một khu rừng cách đấy không xa và phát hiện một vị trí hầm hào chằng chịt. Quân trú đóng ở đây cũng cỡ một tiểu đoàn trang bị nhẹ. Ngoài những cái bếp cá nhân còn nghi ngút khói, không có dấu tích gì để lại. Nơi này coi như hậu quân của đơn vị phía trước, như vậy đây là tiểu đoàn trừ bị của Trung Ðoàn E 24.

Chiều Mùng Sáu Tết chúng tôi đổ xuống một cái dốc đứng nơi đầu nguồn một con suối lớn.

Tôi thấy đem cả đại đội chui xuống cái khe này thì chết như chơi! Nếu địch phát giác ta đang ở dưới khe, chúng sẽ bố quân hai bên bờ bắn xuống là ta tiêu đời!

Với địa thế này, bắt buộc tôi phải thay đổi đội hình.

Tôi cho Trung đội 3 tiếp tục đi theo dấu địch nhưng tự lo liệu an ninh đằng sau.

Tôi cùng hai trung đội còn lại dàn hàng ngang chiếm lĩnh đỉnh đồi hướng Nam con suối.

Ðỉnh ngọn đồi này là một khu đất rộng như một bình nguyên đầy cỏ hôi và cây thấp.

Tin tưởng rằng bây giờ đang còn là cuối mùa khô Cao Nguyên, chắc chắn đêm sẽ không mưa, và dấu địch sẽ còn đó, nên tôi cho anh em hạ trại đóng quân, sáng ngày sau sẽ tiếp tục lên đường.

Sáng sớm ngày Mùng Bảy Tết Kỷ Dậu tôi tới chân thác Ia Kha.

Trung đội 3 của Thiếu úy Biện đi dưới khe theo chân địch, đã báo cáo rằng, cách Thác Ia Kha hai trăm thước là nơi tụ hội của những con đường xe be đầy dấu giày vải đi rừng và dấu dép râu Trường Sơn do địch vừa để lại.

Tôi báo cáo chi tiết tin tức thu lượm được cho tiểu đoàn, đồng thời đề nghị hai hỏa tập tiên liệu phòng khi tôi chạm địch.

Tôi không có tiền sát viên pháo binh đi theo, muốn xin pháo yểm, tôi phải gọi qua tiểu đoàn, tiền sát viên của tiểu đoàn sẽ chuyển tiếp. Nếu phải đánh nhau, cần yểm trợ mà phải đi qua hai chặng đường liên lạc thì quả là rắc rối quá, tâm trí đâu mà lo điều quân, chỉnh pháo?

Tới trưa, Ðại úy tiểu đoàn trưởng thông báo cho tôi, “Quân đoàn ra lệnh cho Thái Sơn cấp tốc bám sát vết chân địch quân!”

Tôi bỏ ngoài tai cái lệnh thúc quân của quân đoàn, rồi án binh bên bờ Ðông của Ia Kha chờ đợi.

Sương chiều phủ kín, tôi cho quân lặng lẽ vượt thác Ia Kha tiến về hướng Tây. Ði được chừng một cây số, tôi dừng quân hạ trại.

Sáng Mùng Tám Tết Kỷ Dậu chúng tôi tiếp tục theo dấu địch. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã vào vùng của dân khai thác lâm sản.

Hiện thời tôi đã ở một nơi xa làng Plei Blang 3 gần mười cây số. Tôi cũng đã cách xa bộ chỉ huy tiểu đoàn bảy, tám cây số rồi.

Mặc dù bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân trên núi Chư Xang có cao độ 812 mét, nhưng liên lạc vô tuyến của tôi và bộ chỉ huy tiểu đoàn đã yếu dần, bởi vì máy truyền tin của tôi chỉ có ăng ten lá lúa, xung quanh tôi lại là rừng già, núi đá âm u.

Ðứng trên đỉnh đồi mà tôi nghe tiếng quân bạn còn rất khó khăn, nếu tôi tụt xuống lòng suối hay đi trong thung lũng sâu thì coi như vô phương.

Thế rồi sau khi đi lẩn quẩn, loanh quanh một hồi, chúng tôi đặt chân lên một con đường voi thồ nằm dưới tàn lá cao ngút, rừng núi hoang vu. Con đường thồ này theo hướng Tây Nam, dẫn tới một buôn làng cũ.

Ngay giữa ngôi làng này xuất hiện một đường chuyển quân nữa từ hướng Nam đi lên.

Nơi hai cánh quân gặp nhau, cỏ bị rạp xuống như một sân đá bóng, bao thuốc lá, bao bọc lương khô Trung Cộng vứt đầy. Chắc địch đã tập họp tại nơi này trước khi di chuyển tiếp.

Căn cứ vào những vết giày dép in trên mặt đất còn rất mới, tôi đoán rằng địch vừa rời khỏi chỗ này chừng một giờ thôi.

Tôi cho quân ngừng lại, chui vào bụi, rồi báo cáo sự việc cho tiểu đoàn. Sau đó chúng tôi tiếp tục theo dấu địch.

Ra khỏi vị trí tập trung chừng nửa cây số thì địch chia làm hai. Cánh quân phụ, ít dấu chân, thì rẽ về Bắc, cánh quân chính nhiều dấu chân hơn, tiếp tục đi về Tây Nam.

Tôi báo cáo tọa độ phân tán của địch cho tiểu đoàn rồi ngồi chờ lệnh.

Không lâu sau, tiểu đoàn cho tôi hay, vùng hướng Bắc của tôi hiện thời có một đơn vị Mỹ đang hành quân diều hâu, nhiệm vụ của tôi là cứ tiếp tục bám sát cánh quân chính của Việt-Cộng.

Ði được chừng vài trăm mét nữa thì trời tối, tôi cho dừng quân nghỉ đêm.

Nửa đêm chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng bom chùm theo nhau nổ “Bùng! Bùng! Bùng! …”

Pháo đài bay B 52 vừa đánh một Box cách tôi chừng năm hay sáu cây số về hướng chính Bắc.

Mờ sáng B 52 lại đánh thêm một Box nữa cách tôi chừng năm hay sáu cây số về hướng chính Tây.

Sáng Mùng Chín Tết chúng tôi tiếp tục lên đường, dấu vết địch cho thấy chúng rút về hướng núi Chư Prong.

Tôi đoán chừng, đoàn quân này có nhiều thương binh đi theo, vì lâu lâu lại có những mẩu bông băng dính máu còn vương vãi. Có lẽ vì lý do này mà chúng đã di chuyển hơi chậm.

Chiều Mùng Chín Tết lại có thêm hai Box bom B52 đánh ngay chân núi Chư Prong và triền Tây của núi Chư Grêti.

Tối Mùng Chín Tết đại đội tôi đến bờ Ðông của suối Ia Brông. Lúc này quân của tôi đã cách Chư Prong chừng sáu cây số.

Chúng tôi vượt suối trong đêm, tiến thẳng về hướng Tây chừng nửa cây số.

Tôi giấu quân bằng cách cho anh em hàng một chui vào rừng cỏ hôi và gai mắc cỡ. Cả đại đội yên tâm ngủ, chỉ có một vọng gác đôi đặt ngay chỗ chúng tôi chui vào rừng.

Nửa đêm tôi lại nghe B 52 đánh hai đợt nữa, một ở hướng Tây Bắc, một ở hướng chính Bắc. Tôi có cảm tưởng rằng B 52 đang mở đường cho đơn vị tôi đi theo?

Ðầu tháng Giêng Âm Lịch, khí hậu Cao Nguyên đang còn trong thời gian lạnh nhứt.

Chúng tôi đi trong rừng, rừng âm u, giá buốt thấu xương, thèm thuốc lá lắm.

Trong túi tôi lúc nào cũng có cái bật lửa Zippo có khắc giòng chữ “Ta Là Vua”. Trong ba lô của Binh 1 Phạm Công Cường lúc nào cũng sẵn một cây thuốc lá Lucky không đầu lọc.

Vả lại, ngày Mùng Sáu Tết chúng tôi đã được tiếp tế năm ngày lương khô loại C của Mỹ. Mỗi khẩu phần loại C đều có một bao thuốc lá năm điếu Pall Mall.

Vậy mà từ trưa Mùng Sáu Tết cho tới bây giờ tôi vẫn nhịn thèm, không dám đụng tới cái Zippo và bao Lucky.

Thuộc cấp của tôi cũng vậy, từ ông Thiếu úy Trần Dân Chủ, đại đội phó, tới anh chàng nấu cơm cho tôi là Hạ sĩ Nguyễn Phượng Hoàng chỉ chờ tôi vẩy cái nắp bật lửa Zippo cho nó kêu một tiếng “Teng!” rồi thấy tôi bắt đầu đốt thuốc, là họ “nhào” theo ngay!

Nhưng tôi biết rõ, mùa này gió thổi từ Ðông sang Tây, một trung đoàn Việt-Cộng đang ở hướng Tây.

Nếu chúng tôi đốt thuốc lên, chắc chắn chỉ vài phút sau địch quân đã biết chúng tôi đang ở chỗ nào. Và chắc chắn không lâu sau, Thần Chết sẽ xuất hiện.

Tôi cứ tự nhắc nhủ rằng “Mình đang đi trong vùng địch. Bên trái, bên phải mình không có ai giữ hông, đằng sau mình không có ai đoạn hậu.”

Chi bằng “Thủ thân vi đại!”  cứ tự mình giữ lấy cái thân cho mình! Vì thế chúng tôi đành bấm bụng nhịn thèm.

Mờ sáng, tôi thức dậy khi nghe không xa về hướng Tây có tiếng máy thu thanh! Tôi lấy làm ngạc nhiên, tưởng mình đang còn ngủ, đang nằm mơ?

Nhưng rõ ràng tai tôi đang nghe ban nhạc The Animals trình bày bài “House of The Rising Sun”

Tôi thấy anh em đại đội đều đã thức và đang ngơ ngác như tôi, đang nghe nhạc giữa rừng già!

Tôi ngoắc tay cho Hạ sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và Binh 1 Phạm Công Cường vạch rừng để ba người chui ra tìm nơi phát ra tiếng nhạc.

Ba thầy trò tôi chui ra một cánh đồng cỏ tranh rộng chừng hai trăm mét mỗi chiều. Bên kia bãi cỏ là một vạt rừng cây gai. Ðằng sau vạt cây gai có thêm một rừng cỏ tranh nữa. Quanh bãi tranh này có bờ đất đỏ đã được cơ giới ủi cao. Sau bờ đất là những khẩu súng đại bác 105 ly của Hoa-Kỳ!

Các ông lính pháo binh Mỹ đặt chân tới đâu thì nơi đó thành một cái chợ. Tôi đã nhiều lần đi hành quân chung với pháo binh Hoa-Kỳ nên không lạ gì cảnh này.

Cũng may! Nếu đêm qua tôi mà đi thêm vài trăm mét nữa là đâm đầu vào nơi trú quân của pháo đội Mỹ này rồi!

Ðêm tối không nhận ra nhau, chắc chắn thế nào cũng có người chết!

Không kịp báo cáo sự việc cho thượng cấp, tôi vội vàng, hối hả đem quân rời xa nơi đây càng nhanh càng tốt.

Cứ đội hình hàng một, chúng tôi đi như chạy về hướng Nam, bất kể, lên đồi, xuống dốc, qua suối qua khe!

Chừng hơn một giờ đồng hồ sau, nhìn thấy Tỉnh lộ 509 dưới chân ngọn đồi trước mặt, tôi cho anh em ngừng lại quây thành một vòng tròn, kiểm điểm quân số. May quá! Không có tổn thất!

Trong khi Binh 1 Nguyễn Thiên loay hoay thay cục điện trì mới cho cái máy truyền tin thì tôi lo gióng hướng tìm tọa độ chính xác nơi mình đang đứng.

Thì ra lúc này tôi đang ở một nơi cách Plei Blang 3 mười hai cây số về hướng Tây, và cách Chư Prong hơn bảy cây số về hướng Ðông Nam.

Thấy giờ này đang là ban ngày ban mặt, chắc chắn không có gì đáng sợ, nên tôi cho quân ngồi nghỉ để ăn cơm trưa.

Ðứng trên đỉnh đồi lộng gió, tôi thọc tay vào túi quần, lôi cái bật lửa Zippo ra. Ngón tay cái của tôi ép sát cái nắp Zippo, tay tôi vẩy nhẹ một phát thật điệu nghệ,

“Teng!”

Tôi vừa “Khai hỏa” thì lập tức đàn em của tôi cũng “Ðốt đuốc” theo. Ðỉnh đồi phút chốc nghi ngút khói trắng. Gió Ðông thổi ào ào! Khói thuốc tan nhanh theo gió…

Chúng tôi gân cổ rít khói cho đầy buồng phổi.

Sau khi nghỉ một hồi cho lại sức, tôi gửi một toán tiền sát xuống thăm thú con đường 509, thành phần còn lại chia nhau canh gác và nằm nghỉ ngơi cho khoẻ.

Hôm nay đã là Mùng Mười Tết rồi, ngày mai chúng tôi hết lương khô.

Nếu không được về Pleiku, chắc chúng tôi phải chờ tiếp tế.

Mấy ngày nay bận quá, tôi không có thì giờ rửa mặt, cạo râu, mặt tôi giờ này chắc là xồm xoàm râu tóc rất khó coi.

Chú Hoàng vừa xuống suối xách về một nón sắt nước cho tôi rửa mặt.

Nào ngờ, chưa kịp vục mặt vào nón nước mát, thì bên tai tôi có tiếng, “Xèo! Xèo! Oành! Oành! …”

Ðạn đại bác réo, đạn rơi ngay trên đồi!

Không ai bảo ai, mọi người vội nằm bẹp xuống đất để khỏi mất đầu.

Tôi với cái máy PRC 25 gọi cho tiểu đoàn. Trong máy chỉ nghe tiếng “Ẹc! Ẹc! Ẹc! …”

Ở nơi quá xa, máy của tôi lại không có ăng ten cao, nên không ai nghe được tiếng tôi kêu cứu.

Tôi nằm ngửa, nên thấy một chiếc trinh sát cơ L 19 đang bay vòng vòng trên trời.

Tôi chợt vỡ lẽ, chắc chắn chiếc L 19 kia chính là thủ phạm đang muốn giết tôi!

Tôi vặn cần máy PRC 25 qua tần số không lục rồi la lớn,

– Check Fire! Check Fire! We’re Rangers! (Ngưng pháo! Ngưng pháo! Chúng tôi là Biệt Ðộng Quân!”

Có lẽ người đang bay trên L19 đã thấy chúng tôi không phải là Việt-Cộng nên cho lệnh ngưng bắn.

Anh phi công đảo cánh một vòng sát trên đầu tôi, đưa tay vẫy vẫy chúng tôi vài cái trước khi bay về hướng Bắc.