This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Đại tá Peter V. Huynh (hình của bethesdaevents.afceachapters.org).
Đại tá Peter V. Huynh bắt đầu binh nghiệp trong Lục quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị tại Đại học Washington và tốt nghiệp năm 1996. Hiện nay, ông đang đảm nhận chức Trưởng phòng kỹ thuật số tại Phòng Tổng y sĩ giải phẩu (OTSG), Bộ Tư lệnh Quân y Lục quân Hoa Kỳ (MEDCOM), hỗ trợ cho 1,1 triệu quân nhân tại Hoa Kỳ và trên toàn cầu.
Trong hơn 20 năm quân ngũ, ông đảm nhận nhiều vị trí chỉ huy khác nhau, bắt đầu từ vị trí quản lý dự án tin học tại Trung tâm Y tế Lục Quân Walter Reed tử tháng 10 năm 1996 đến tháng 12 năm 1998. Những đơn vị và nhiệm vụ tiếp theo, Đại tá Peter Huynh được chỉ định và bổ nhiệm phục vụ như: Giám đốc CNTT tại Bộ Tư lệnh Quân y tế khu vực Bắc Đại Tây Dương; Quản lý, Chuyên gia tư vấn S-6 của Bệnh viện Quân đội Hoa Kỳ số 6250 tại JBLA, WA; Tham mưu phó Ban 6 (G-6) thông tin Lữ đoàn 30 Quân y tại Heidelberg, GE; Giám đốc Khu vực, hệ thống thông tin Y tế Lục quân đội Hoa Kỳ – Lực lượng đặc nhiệm Y tế miền Đông Afghanistan; Giám đốc thông tin Trung tâm y tế Lục quân Brooke ở JBSA, TX; Giám đốc công nghệ OTSG/MEDCOM tại Falls Church, VA; Tham mưu phó Phòng 6 (G-6), Bộ tư lệnh Quân y Lục quân số 18 tại Fort Shafter Annex; Quản lý hệ thống dịch vụ Y tế 70D, Cố vấn cho Phòng Tổng Y sĩ Lục quân Hoa Kỳ tại Falls Church, Virginia; Trưởng Phòng thông tin, kiêm Phụ tá Tham mưu trưởng, G-6, cho một Bộ Tư lệnh yểm trợ chiến trường, chịu trách nhiệm chỉ huy và kiểm soát y tế cũng như giám sát các năng lực y tế ở châu Âu và châu Phi. Và hiện nay, Trưởng phòng kỹ thuật số tại phòng Tổng y sĩ giải phẩu (OTSG), Bộ Tư lệnh Quân y Lục quân Hoa Kỳ (MEDCOM).
Đại tá Peter Huynh là thành viên của Học viện điều hành Y tế Hoa Kỳ (FACHE), thành viên chính thức của Hiệp hội hệ thống quản lý thông tin y tế (FHIMSS), Giám đốc thông tin y tế được chứng nhận (CHCIO) của Học viện điều hành quản lý thông tin y tế (CHIME), ông tốt nghiệp nhiều Văn bằng, Chứng chỉ chuyên môn danh giá khác. Ông đã hoàn thành chương trình Cử nhân quản trị kinh doanh tại Đại học Washington và chương trình hậu Đại học tại Đại học Baylor với Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh và quản trị y tế; Văn bằng Cao học khoa học quản trị tại Đại học Central Michigan. Đại tá Peter Huynh cũng được đào tạo như một Chuyên gia quản trị dự án (PMP), và là Chuyên gia quản lý kỹ thuật và công nghệ của Đại học mãi dịch quốc phòng. Ông cũng là Chủ tịch ban truyền thông trong Hội đồng quản trị khu vực Thủ đô Quốc gia của Hệ thống thông tin và quản lý chăm sóc sức khỏe (HIMSS) và tích cực tham gia Ủy ban đa dạng, công bằng và hòa nhập của Học viện điều hành quản lý thông tin y tế (CHIME).
Huy hiệu Bộ Tư lệnh Quân y Lục quân của en.wikipedia.org
Hơn 20 năm phục vụ Lục quân, Đại tá Peter Huynh được trao tặng các loại huy chương cao quý gồm có: Huy chương Bronze Star Medal; Huy chương Meritorious Service Medal (with oak leaf cluster); Huy chương Army Commendation Medal (with oak leaf cluster), Huy chương Army Achievement Medal, Huy chương Air Force Meritorious Unit Award, Huy chương Meritorious Unit Commendation; Huy chương Army Reserve Component Achievement Medal; Huy chương công trạng quân y. Ngoài ra, ông cũng được trao tăng huy hiệu chuyên viên y tế chiến trường và bằng nhảy dù. Đại tá Peter Huynh cũng là tác giả đã xuất bản sách và là diễn giả được công nhận trên toàn quốc. Ông là một người yêu thích hoạt động ngoài trời và thích du lịch, chơi golf, lặn dưới biển và trượt tuyết.
Đại tá Peter V. Huynh là 1 trong 39 Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm, 26 vị hồi hưu*: Danh sách 39 Đại tá Lục quân gốc Việt đang phục vụ các Binh chủng và các ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhận gồm có: Đại tá Huy Q. Luu; Đại tá Kien C N. Tran; Đại tá Minh Luan N Doan; Đại tá Tam Q. Nguyen; Đại tá Tinh K. Huyn; Đại tá John T. P. Nguyen; Đại tá De Q. Tran; Đại tá Dana R. Nguyen; Đại tá AnhTuan T. Nguyen; Đại tá Nguyen Loi Minh; Đại tá Nguyen Chi Kim; Đại tá Tien D. Bui; Đại tá Diep T. Khanh; Đại tá Ha H. Anh; Đại tá Mai R. Micheal; Đại tá Jennifer D. Nguyen; Đại tá Thang V Ly; Đại tá Duc D. Nguyen; Đại tá Tony D. Nguyen; Đại tá Phu T. Nguyen; Đại tá Vu Q. Nguyen; Đại tá Daniel Q Nguyen; Đại tá Dominic V. Dinh; Đại tá Binhminh T. Nguyen; Đại tá Nghia N. Ho; Đại tá Phuong H, Nguyen; ; Đại tá Micheal D. Do; Đại tá Qui T. Nguy; Đại tá Tung V. Le; Đại tá Charles T. Nguyen; Đại tá Phuoc T. Nguyen; Đại tá Vinh Q. Nguyen; Đại tá Hung M. Diep; Đại tá Darrell R. Tran; Đại tá Loan L. Vo; Đại tá Duc M. Vo; Đại tá Khai Q. Le; Đại tá Nam T. Vo và Đại tá Peter V. Huynh.
Chú thích: *Số Đại tá Lục quân gốc Việt hồi hưu có thể hơn 26.
Kỳ trước: “Thái Sơn” nhận được cú gọi trên máy truyền tin là Trung sĩ Phong, một đệ tử cũ lặn lội tới thăm. Người đệ tử này đã kiên nhẫn ở chờ cả tuần lễ để gặp cho bằng được “ông thầy” của mình. Trong quân đội (VNCH) tình “thầy trò” thường khi còn nặng hơn tình ruột thịt vì thật sự ngoài chiến trường sống chết có nhau.
Kỳ 2.
Ông thầy! Ông thầy ơi! Em chờ ông thầy gần chục ngày nay. Cứ tưởng sau khi nhảy toán ở Mang Giang xong thì ông thầy sẽ về, nào ngờ, tới hôm nay em vẫn chưa được gặp mặt ông.
Ðúng là chú Phong rồi! Vẫn cái giọng Bắc Kỳ khào khào, quê quê ngày xưa.
Tháng Hai năm 1966, vì lý do kỷ luật, Trung sĩ hiện dịch Nguyễn Hồng Phong bị giáng cấp xuống hạ sĩ, từ Quân Lao Mang Cá về trình diện Ðại Ðội 3/11 Biệt Ðộng Quân. Hôm đó tôi cũng vừa tới đơn vị này sau khi tốt nghiệp Khóa 20 Ðà Lạt và Khóa 23 Rừng Núi Sình Lầy.
Từ ấy Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong thành người nấu cơm cho Thiếu úy Vương Mộng Long.
Ðầu đời lính, tôi có ba anh đồ đệ: Hạ sĩ Nguyễn Hồng Phong, nấu cơm, Binh nhất Mai Ðăng Vinh truyền tin và Binh nhất Lý Thí mang đồ ngủ.
Mười hai ngày sau, Lý Thí và Mai Ðăng Vinh chết trong trận Tháp Bằng An, Quảng-Nam, còn lại một mình Nguyễn Hồng Phong. Chú Phong trở thành thuộc cấp thân thiết nhất của tôi.
Tới khi Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân bị lôi cuốn vào vụ Phật Giáo Miền Trung thì chú Nguyễn Hồng Phong đã theo sát bên tôi suốt thời kỳ binh biến này cho tới khi tôi và Phong chạy vào chùa, cạo đầu, xuống tóc, thành hai tỳ kheo Thích Như Tùng và Thích Như Sơn của Long Tuyền Tự, Hội-An.
Sau đó tôi bị tù, bị giáng cấp xuống trung sĩ còn Phong thì phiêu dạt phương trời nào, tôi không biết.
Thế rồi, tháng 7 năm 1967 hết hạn phạt giam, tôi về Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ chờ lấy sự vụ lệnh để lên Pleiku, thì bất ngờ thầy trò tôi gặp lại nhau.
Trưa hôm đó tôi đang la cà trong câu lạc bộ thì thình lình bị một người nhào vào ôm chặt,
-Thầy ơi! Thầy ơi!
Người ôm tôi là một tân binh, đầu trọc lóc! Mặt anh ta, thật dễ nhận, với đôi mắt xếch, và một vết sẹo dài trên má trái. Tôi giật mình,
– Phong! Phong đó ư?
Anh tân binh vừa khóc thút thít, vừa kể lể,
-Vâng! Em đây! Thầy ơi! Em nghe Bác (mẹ tôi) nói, sau khi ra khỏi Quân Lao Mang Cá, thầy đã bị đưa lên Pleiku, em liền mua một tờ khai sinh với cái tên mới rồi tình nguyện làm tân binh Biệt Ðộng Quân. Mãn khóa này em sẽ xin lên Pleiku gặp thầy! Tên em bây giờ là Lê Văn Ơn! Thầy cứ gọi em là Ơn! Ðừng gọi là Phong nữa!
Nghe vậy, tôi đoán chắc Phong đã ghé Hội An, và được nghe mẹ tôi kể cho biết chuyện tháng Mười năm 1966 tôi đã bị đưa lên Vùng 2 sau khi ra khỏi Quân Lao Mang Cá. Chắc chú ấy không hay những chuyện xảy ra sau này. Vì tôi giấu, nên chính mẹ tôi còn không hay chuyện tôi lận đận lao đao cả năm dài vì vụ Ðà- Nẵng 1966.
Chúng tôi không nói chuyện với nhau được lâu, vì thời gian ở câu lạc bộ của tân binh rất giới hạn, và hình như một tuần lễ, họ mới có dịp tới đó một lần.
Sau hôm ấy, cho tới khi lên đường về Pleiku, tôi không còn gặp lại Phong.
Ở Pleiku, mỗi khi có tân binh bổ sung, tôi đều nhờ ông Trung úy Trọng, sau là Trung úy Giáp, Sĩ quan Trưởng Ban 1 Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân tìm xem có ai là Lê Văn Ơn không, nhưng tuyệt nhiên chẳng có tân binh nào mang tên này.
Giữa năm 1968, tôi đọc được, trong thư mẹ tôi gửi vào, có câu:
“Thằng Phong đang làm trung sĩ ở ngoài Huế.”
Bà mẹ tôi biết chuyện này cũng vì nhân dịp vào Hội An thăm nhà tôi, Phong đã kể:
“Năm 1967, sở dĩ có chuyện Phong đổi họ, đổi tên, tình nguyện làm binh nhì Biệt Ðộng Quân cũng chỉ vì chú ấy hy vọng sau khi ra trường, sẽ được đưa lên Pleiku, ở gần ông thầy của chú. Nhưng tới khi mãn khóa tân binh Dục Mỹ, thấy tên Lê Văn Ơn nằm trong danh sách bổ sung quân số cho Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân ngoài Ðà Nẵng thì chú ấy lại đào ngũ lần nữa!”
Phong tiếp tục cuộc sống bất hợp pháp nơi quê vợ Quảng Trị cho tới sau biến cố Tết Mậu Thân. Sau Mậu Thân, chính phủ ban lệnh ân xá và miễn tố cho tất cả quân nhân đang tại đào. Cho phép họ phục hồi cấp bậc cũ và trở về phục vụ trong quân ngũ. Thế là chỉ nửa năm sau khi trình diện và cầm súng trở lại, Hạ sĩ tiểu đội trưởng Nguyễn Hồng Phong đã lên tới trung sĩ, được giao cho chức vụ trung đội phó bộ binh. Ðã mấy lần tôi về thăm Hội-An nhưng không có thì giờ ra Huế. Thầy trò tôi từ ngày nói chuyện được vài câu năm 1967, ở Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ, tới 1970 vẫn chưa nhìn lại mặt nhau.
Cư xá Trần Quý Cáp, Pleiku 1970. Từ trái: B2 Hoàng, Tài xế Thuộc, Tài xế Tiến, B2 Hà
Tôi thấy mắt mình nhòa đi, khi nghe đầu dây bên kia, người đàn em của tôi đang khóc,
– Thầy ơi! Thầy ráng giữ gìn sức khoẻ! Nếu trời không cho chúng mình gặp lại nhau kiếp này, kiếp sau em lại xin tình nguyện làm đồ đệ của thầy lần nữa!
Tôi vội hứa,
– Mai nếu không có gì thật quan trọng xảy ra, anh sẽ về gặp chú.
– Vâng! Em sẽ chờ ông thầy! Hai ngày nữa khóa truyền tin khai giảng. Nếu trình diện trễ, họ không nhận và đuổi về. Nói thế chứ, việc em cần là gặp mặt ông thầy, dù có trễ và bị đuổi về đơn vị em cũng chẳng ngán!
Sau khi trò truyện với Phong vài phút nữa, tôi gác máy rồi sang khu Cố Vấn Hoa Kỳ của Trung Ðoàn 42 gặp Goodell. Tôi nhờ anh ta ngày mai xin cho tôi một trực thăng để đi quan sát vùng hành quân, sau đó lấy cớ có việc cần phải về hậu cứ Pleiku, tôi có dịp nói đôi câu với Phong trước khi chú ấy đi Vũng Tàu.
Hình như số trời không cho thầy trò tôi được gặp nhau lần nữa, nên mới mờ sáng hôm sau, qua đài tiếp vận, toán Cam Ranh của Trung sĩ Lê Sanh Ma báo cáo chạm địch. Một con chó săn (?) của du kích Thượng đã đánh hơi, phát giác ra trong ruộng ngô bên đường xe be có người. Toán này phải chạy bán sống bán chết. Hiện giờ chưa rõ vị trí chính xác của toán này đang ở đâu.
Vậy là thay vì xin trực thăng để về Pleiku, tôi lại dùng trực thăng để thả tôi và hai anh Mỹ cùng một toán viễn thám khác xuống đài tiếp vận. Ðỉnh Ngok Long cao 1075 mét nên từ đây tầm quan sát của tôi thật là mút mắt. Cách Ngok Long chừng hai cây số về hướng Tây Bắc là con đường xe be nhìn giống như một con trăn lớn, nằm ngoằn ngoèo theo hướng Ðông Nam, Tây Bắc vắt ngang một ngọn đồi tranh.
Trưa hôm đó tôi bắt liên lạc được toán Cam Ranh. Toán đang cố gắng tìm cách đánh lạc hướng địch.
Xế chiều, toán Cam Ranh mới bơi qua con suối Dak Sing. Toán không thể thoát chạy nhanh như mọi lần trước đây, chỉ vì có một người bị thương vì…chó cắn!
Tôi dẫn theo anh y tá và bốn viễn thám viên xuống núi đón ông Ma. Sáu người của tôi tới cái yên ngựa cách Ngok Long chừng một cây số thì nghe tiếng súng AK nổ rộ từ bờ Bắc của suối Dak Sing.
Thung lũng Dak Sing toàn là đầm lầy và đồng cỏ tranh rất trống trải. Có lẽ địch đã nhìn thấy quân ta bên bờ Nam, nên nổ súng bắn theo.
Chẳng đặng đừng, tôi phải gọi Trung Ðoàn 42 xin pháo binh Hoa-Kỳ từ Dak Mot bắn phủ vùng một đoạn đường từ Dak Long 1 tới bờ suối, hy vọng chặn được đoàn quân địch đang truy kích quân ta.
Ở Dak Mot có một pháo đội 16 khẩu 105 ly của Mỹ. Muốn yêu cầu bao nhiêu tràng họ cũng thỏa mãn ngay.
Hai tiếng đồng hồ sau, toán Cam Ranh mới về tới cái yên ngựa. Quần áo người nào cũng đỏ lòm vì bùn lầy. Bùn vùng này thật là đặc biệt, màu bùn đỏ như máu tươi, đi tới đâu, bùn từ quần áo giày vớ lại bám trên ngọn tranh, không có cách gì xóa dấu vết được.
Anh y tá vội dùng rượu cồn để rửa vết chó cắn trên đùi anh thương binh. Tôi cũng ngồi bên, giúp anh một tay. Người bị chó cắn là Binh nhì Lê Hóa. Vết thương trên đùi chưa được băng bó, lại bị ngâm nước bùn nhiều giờ, nay đã sưng tấy lên.
Bất ngờ, “Xoẹt!”
từ dưới dốc, một vật gì đó hình thù như một cái gối ôm đen thui phóng lên ngay bên hông tôi!
“Rẹt! Rẹt! Rẹt!”
Hạ sĩ Chạy đã nhanh tay “đẩy” một băng M16. Cái gối ôm màu đen văng sang bên lối mòn, thì ra đó là một con chó săn! Ðầu con chó bị đạn bắn vỡ toác. Máu chó văng tung toé.
Tôi hét lên,
“Tụi thằng Chạy ở lại cản đường! Tụi thằng Ma kéo thằng Hóa lên đài tiếp vận! Nhanh lên!”
Chúng tôi vác anh viễn thám bị chó cắn leo lên chưa được nửa đường tới đỉnh Ngok Long thì dưới chân núi toán của Hạ sĩ Chạy bắt đầu đánh nhau.
Nghe tiếng súng địch, tôi thấy không phải là tiếng súng hỗn tạp của du kích Thượng Cộng, mà rõ ràng là tiếng AK và RPD của quân chính quy. Súng của du kích thường là loại bắn từng phát một, không có súng bắn liên thanh từng tràng.
Lực lượng địch đang truy sát chúng tôi chắc chắn là trực thuộc một đơn vị chính quy Cộng-Sản.
Tới đài tiếp vận, tôi cho anh em bố trí một vòng cung hướng về con đường mòn đầu dốc.
Mặt trời lặn từ từ…
Dưới chân núi vọng lên năm sáu tiếng “Ùm! Ùm! Ùm!…” liên tiếp rồi im. Chắc quân ta đã cản địch bằng lựu đạn M26 trước khi rút.
Không lâu sau, toán bốn người của Hạ sĩ Chạy về tới chỗ quân bạn.
Toán của Hạ sĩ Chạy vừa lên tới đỉnh núi thì dưới chân dốc có tiếng mìn nổ và tiếng chó kêu “Ăng ẳng!”
Chắc chắn vài con chó săn và vài tên địch đã bị bẫy gài của chú Chạy đốn gãy cẳng rồi.
Nhớ lại, hồi sáng, vừa nghe toán của chú Ma báo cáo là bị chó cắn, tôi đã hơi nghi. Vì xưa nay tôi đã hành quân qua nhiều buôn làng của người Thượng, hiếm khi thấy chó sủa người, chứ đừng nói tới chuyện chó tấn công người. Chó của dân Thượng chỉ sủa và cắn thú rừng, tuyệt nhiên chúng không cắn người!
Tối đó chú Ma kể lại tường tận diễn tiến sự việc, tôi mới rõ nguyên nhân vì sao mà toán của chú bị địch đuổi phải chạy vắt giò lên cổ.
Số là, sau khi đặt chân xuống bìa làng Dak Long 1 đã bỏ hoang, Trung sĩ Ma cho quân tụt xuống suối ém quân suốt bốn ngày. Tới khi nghe các toán khác phát giác dấu vết địch, Ma mới cho quân leo lên đỉnh ngọn đồi tranh hướng Bắc để dễ liên lạc và dễ bắt tay với hai toán kia.
Tới đỉnh đồi, họ đụng phải một bãi ngô đang có cờ, anh em tưởng đây là nương rẫy của dân Thượng từ ngoài Dak Tô vào canh tác.
Gần nửa tháng ở trong rừng, từ Mang Giang qua Dak Tô không có cọng rau nào trong bụng, ai cũng thấy xót ruột. Sáu chàng viễn thám lủi vào ruộng ngô, mỗi người cạp vài bắp ngô non cho mát ruột.
Nào ngờ,
“Gâu! Gâu! Gâu!…”
bốn, năm con chó xông vào tấn công. Năm viễn thám viên vọt nhanh xuống suối. Riêng Binh nhì Lê Hóa vì luống cuống bởi chiếc ba lô chứa cái máy PRC 25 nên chậm chân.
Hai con chó săn bự xự nhào vào hai chân của Hóa. Hai hàm răng chó vừa nhọn, vừa sắc cắn tới tấp rồi nhay qua nhay lại.
Ðau quá, Hóa nhắm mắt quơ đại một băng hai chục viên M 16 rồi phóng xuống đồi.
Thì ra đỉnh ngọn đồi đó là vị trí một đơn vị tiền tiêu của địch.
Từ đỉnh đồi này chúng có thể kiểm soát hai trục lộ tiến sát từ Dak Tô và từ Tân Cảnh.
Chắc chắn đây là một đơn vị Trinh Sát hay Ðặc Công; các đơn vị cấp tiểu đoàn Ðặc Công hay Trinh Sát Việt-Cộng mới có chó săn để dò đường và dẫn đường.
Cũng may là mùa này gió theo hướng Ðông Tây, mấy ngày qua, toán Cam Ranh nằm cuối gió nên không bị chó đánh hơi, phát giác.
Tới khi nghe tiếng súng của viễn thám viên Lê Hóa nổ “Ðùng! Ðùng!” bọn Việt Cộng mới biết có địch xâm nhập. Tới khi chúng tập họp đủ quân số để truy kích thì kẻ địch của chúng đã chạy xa rồi.
Tôi thở ra nhẹ nhõm khi thấy quân ta không bị tổn thất gì đáng kể.
Hiện thời chúng tôi chỉ có hơn hai chục tay súng, kể cả anh Hóa thương binh và hai anh cố vấn Mỹ. Ðỉnh núi Ngok Long lại quá rộng và bằng phẳng, không có chỗ nào có thể cho chúng tôi dựa lưng để chống đỡ nếu địch mở ra những đợt tấn công liên tiếp.
Ðạn mang trên lưng chúng tôi cũng không nhiều, nếu phải đánh nhau suốt đêm thì chúng tôi sẽ nguy ngay.
Tôi nghĩ, nếu địch tiếp tục truy kích chúng tôi thì chắc chắn chúng sẽ theo con đường mà tôi đã dùng để đổ dốc sáng nay. Tôi bèn trải quân theo hình cánh cung đóng chốt đôi ngay đầu con đường mòn.
Ngoài hai quả Claymore sẵn sàng, chúng tôi còn chuẩn bị gần chục trái lựu đạn M26 để nghênh đón địch ngay đầu dốc.
Sợ địch sẽ lợi dụng bóng tối để leo lên tập kích, tôi nhờ Goodell xin không quân yểm trợ gần. Chỉ nửa giờ sau, hai trực thăng võ trang Cobra đã đảo một vòng trên đầu tôi. Tôi điều chỉnh Cobra đánh sát chân Ngok Long, rồi từ đó kéo dài vùng oanh kích xa dần về hướng Tây Bắc.
Khi Cobra rời vùng, tôi đã có sẵn một máy bay Hỏa Long AC 47 lên thay thế.
Chúng tôi được Hỏa Long bao vùng cho tới gần sáng.
Ðêm đó Binh nhì Hóa bị vết chó cắn làm độc, lên cơn sốt mê man.
Mặt trời chưa lên, mọi người đã ba lô, súng đạn gọn gàng.
Tôi cho người thay nhau cõng chú Hóa và theo chân nhau tụt xuống núi lánh nạn.
Tôi quyết định không đổ thêm quân vào vùng. Trừ bị của tôi chỉ còn một trung đội nằm ở Tân Cảnh. Nếu sử dụng nốt trung đội này, sẽ không còn ai tiếp cứu nữa. Sau đó lại phải đánh nhau với một lực lượng địch bốn năm lần mạnh hơn mình trong rừng rậm thì chết là cái chắc!
Rút lui khỏi đây càng nhanh càng tốt mới là thượng sách.
Tới trưa, bên một vách núi chênh vênh, chúng tôi an toàn leo lên trực thăng về Tân Cảnh.
Ngày sau nữa tôi triệt xuất hai toán còn lại không trở ngại.
Về tới Tân Cảnh, tôi tập họp các toán lại, để đúc kết tình hình.
Dịp này toán Bắc Bình báo cáo rằng trong những ngày vừa di chuyển vừa theo dõi địch, họ phát giác ra năm sáu vị trí khói bốc lên rải rác trong thung lũng Dak Sing, cặp theo con đường xe be chạy dài từ Dak Men vào tới chân núi Ngok Sie.
Ngày nào cũng thế, các lùm khói chỉ xuất hiện vào lúc mờ sáng khi sương mù chưa tan; tới khi nắng lên thì cảnh vật trở lại yên tĩnh, không có gì đáng nghi.
Thiếu úy Nhờ cho rằng những cuộn khói ban mai đã bốc lên từ các bếp nấu cơm hàng ngày của Việt-Cộng.
Từ những dữ kiện trên, tôi suy ra, đơn vị Việt-Cộng nằm dài theo thung lũng Dak Sing dưới kia chính là Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công của Mặt Trận B3 Cộng-Sản.
Chúng tôi có một ngày nghỉ ngơi rồi lên trực thăng rời Tân Cảnh.
Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn không tiếc lời khen ngợi chúng tôi đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ được giao phó.
Trung tướng Lữ Lan, Tư lệnh Quân Khu 2 cũng đã vui vẻ ra tận bãi đáp trực thăng của Thành Pleime để bắt tay và nói lời khích lệ tinh thần chúng tôi.
Tôi về tới Cư Xá Trần Quý Cáp, Pleiku thì chú Phong đã đi rồi.
Trung tá Bé kể lại,
– Thằng học trò của Long đúng là một tên “gàn” hết cỡ! Có mười con cua của bà má Long gửi vào, anh bảo nó luộc lên rồi cất đi chờ Long, nó không nghe. Mỗi ngày vài con cua chết; qua năm ngày thì chẳng còn con nào. Cả ngày nó cứ đi ra, đi vô, không yên. Ðêm nào anh cũng nghe tiếng nó khóc. Tội nghiệp quá!
Không lâu sau, mẹ tôi bất ngờ vào Pleiku báo cho tôi một tin thật là buồn,
– Vợ thằng Phong mới bế đứa con gái nhỏ vào Hội An báo cho mẹ biết rằng thằng Phong chết rồi! Vợ nó nói, thằng Phong được đi học truyền tin ở Vũng Tàu, nhưng cứ mải đi chơi, trình diện trễ, bị trả về nhiệm sở cũ. Ít lâu sau thì tử trận! Mẹ đã cho vợ nó một số tiền, và dặn, bất cứ lúc nào nó cần giúp đỡ thì cứ vào Hội An gặp mẹ.
Vừa kể chuyện này, mẹ tôi vừa lau nước mắt. Chú Phong mồ côi mẹ. Từ đầu năm 1966, khi nhà tôi còn cư ngụ tại Khu Hồ Sen chùa Âm Bổn, Hội-An, chú Phong tới thăm mẹ tôi lần đầu, chú ấy đã coi mẹ tôi như là mẹ chú ấy. Mỗi khi ghé nhà tôi, chú thường gọi mẹ tôi:
“Mẹ ơi! Mẹ ơi!…”
Chú Phong mất, mẹ tôi cũng đau lòng như vừa mất một người con mang nặng, đẻ đau.
Tin này đã khiến lòng tôi áy náy không yên một thời gian khá dài.
Nếu ngày đó mẹ tôi không gửi mười con cua Cửa Ðại vào Pleiku cho tôi, chắc chú Phong đã đi thẳng một lèo từ Hội-An vào Vũng Tàu rồi. Nếu ngày đó chú Phong tới Pleiku, tôi vắng nhà, chú không chịu chờ, chắc chắn chú ấy đã không bị trình diện trễ.
Nghĩ xa hơn, nếu năm 1967 anh tân binh có tên Lê Văn Ơn được bổ sung cho Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Pleiku, thì biết đâu anh ta vẫn còn sống!
Cuối cùng tôi đành tự an ủi:
“Con người sống chết có số. Cái số của chú ấy đã như vậy rồi, thì có cưỡng cũng chẳng được!”
Ðầu tháng Bảy năm 2013, một người đàn ông, giọng trọ trẹ, từ Phong Ðiền, Quảng Trị, Việt-Nam gọi điện thoại cho tôi ở Seattle,
– Trung úy ơi! Cái bật lửa Zippo có khắc giòng chữ “TA LÀ VUA” của Trung úy có còn đó không? Nếu còn, ông cho em mượn để mồi một điếu Lucky!
Vừa nghe câu này, tôi biết ngay rằng người ở đầu dây bên kia phải là người đã từng cùng tôi chia ngọt sẻ bùi trong suốt thời gian dài ở Ðại đội 1/11 Biệt Ðộng Quân từ 1967 tới 1969. Họ biết ngày đó tôi có cái Zippo khắc giòng chữ “TA LÀ VUA” vừa khinh mạn, vừa ngổ ngáo, cũng như họ biết trong túi tôi lúc nào cũng có một bao thuốc lá hiệu Lucky không đầu lọc.
Sau này, dù tôi đã đeo lon đại úy, thiếu tá lâu rồi, những thuộc cấp cũ của tôi và cả vợ con họ, mỗi khi gặp lại, đều kêu tôi là “Trung úy”.
Tôi không giấu nổi nỗi vui mừng nên la lớn,
– Ai đó?
– Lụa đây trung úy! Trung úy có nhớ tên em không?
– Okay! Nhớ rồi! Trung sĩ nhất Ðoàn Văn Lụa ở Ðại đội 1! Lụa đang ở đâu vậy? Có khoẻ không? Gia đình bình yên chứ?
-Dạ, em đang ở quê Quảng Trị, em mới tìm được số điện thoại của Thái Sơn, em gọi Thái Sơn, trước là để thăm Thái Sơn và gia đình, sau là báo cho Thái Sơn biết rằng vợ thằng Nguyễn Hồng Phong đã mất cách nay mấy tháng rồi!
Trung sĩ nhất Ðoàn Văn Lụa là một tiểu đội trưởng ở Ðại đội 1/ 11 giải ngũ sau khi bị thương ở Ðà-Lạt trong trận Tết Mậu Thân.
Tình huynh đệ chi binh vẫn còn đó, bốn mươi lăm năm qua đi, mà ông trung sĩ nhất tiểu đội trưởng vẫn chưa quên ông trung úy đại đội truởng của mình.
Tôi thắc mắc,
– Ủa! Lụa quen nhà thằng Phong à? Ðứa con gái của thằng Phong bây giờ đâu?
– Trình Thái Sơn, vợ thằng Phong là em ruột của Lụa. Sau khi thằng Phong chết, cô ấy đem con về quê Quảng Trị ở nhà em. Cách nay vài tháng cô ấy qua đời vì bệnh. Còn đứa con cô ấy thì bỏ xứ, đi làm xa, lâu lắm rồi không có tin tức gì.
Vì từ năm 1974 mẹ tôi đã di chuyển vào Sài-Gòn định cư, nên gia đình tôi không còn biết thêm tin tức gì của vợ con chú Phong.
Mẹ tôi cứ áy náy rằng vợ chú Phong còn quá trẻ, năm chú Phong tử trận vợ chú mới trên hai mươi tuổi mà đã thành góa phụ, thật là tội nghiệp.
Tôi không hỏi thêm, nhưng qua cung cách nói chuyện của chú Lụa, tôi tin rằng người em gái của chú ấy một đời chỉ có một mối tình.
o O o
Lá đỏ trong rừng lạ
Ðầu tháng Năm năm 1970 có một anh lính của Tiểu Ðoàn 23 vừa chết trận. Quê quán anh ở xã Châu Sơn, Ban Mê Thuột, thân nhân của anh đã áo tang, khăn trắng túc trực ở Quân Y Viện Pleiku. Trung tá Sâm muốn nhờ tôi bay theo trực thăng, đưa quan tài của người lính đó về thẳng Châu Sơn, đáp giữa sân nhà thờ.
Tôi vừa xuất viện sau khi mổ lấy một mảnh cối 82 ly bên sườn, còn rảnh rang, nên cũng muốn nhân dịp này ghé nhà thăm Loan vài hôm nên nhận lời làm công tác này ngay.
Thói quen, cứ lên trực thăng thì thế nào tôi cũng đem theo một cái PRC 25 có tần số của đài tiếp vận Hàm Rồng. Nếu đi đâu bằng máy bay cánh thẳng thì tôi không mang máy.
Chiếc trực thăng có nhiệm vụ bay con thoi cho Quân Khu 2 ngày hôm đó đã trình diện rất đúng giờ. Họ tới từ Camp Holloway, Pleiku. Phi hành đoàn gồm bốn quân nhân Mỹ trắng. Ông đại úy trưởng phi cơ hơi lớn tuổi, ăn nói có vẻ cộc lốc, thô lỗ nhưng dứt khoát. Ba người còn lại, gồm một trung úy phi công phụ và hai cơ phi xạ thủ thì còn trẻ măng.
Chiếc HU1 D phải dựng ghế lên thành tàu mới đủ chỗ cho tôi và bốn thân nhân tử sĩ ngồi bệt hai bên chiếc quan tài. Mặc dù quan tài đã được hàn thiếc xung quanh, nhưng mùi tử thi vẫn khiến hành khách không chịu nổi. Hai cánh cửa trực thăng đã được mở rộng tối đa mà tôi vẫn còn cảm thấy khó thở.
“Anh hùng có sá chi thua được, Tiết nghĩa nào phai với đất trời.” (Thủ Khoa Huân)
Chúng ta đã biết một nước Nhật anh hùng, người Nhật có trách nhiệm với quần chúng và Tổ quốc. Trong chính quyền, các viên chức gây ra sự tổn thất hay tai nạn trong phần trách nhiệm của mình đều tự xử bằng cách nhận lỗi và từ chức. Những Sĩ quan Nhật lúc sa cơ thất trận biết chọn cái chết cho mình để tròn khí tiết. Trận Okinawa với Quân đội Mỹ kéo dài 82 ngày, kết thúc vào tháng 6, 1945, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của Tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động lớn, Đại Tá Kanayama, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27 BB tập hợp 102 người còn lại của Trung đoàn. Ông ta làm lễ đốt Quân kỳ Trung đoàn và nói: – “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể Trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết Quân đội Nhật Bản đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.” Đoạn Đại Tá Kanayama rút gươm mổ bụng. Đại Úy Sato chặt đầu người chỉ huy theo đúng nghi thức rồi hô to TennMheika banzai! (Thiên Hoàng vạn tuế), dứt tiếng hô, ông chĩa súng lục vào đầu bóp cò tự sát. Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong Chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo. Thư được điện về Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Hoàng Gia tại Tokyo. Cuối cùng, ông nói với Đại Tá Yahara: – “Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng Tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.” Yahara do đó là Sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.” Chiều ngày 22 tháng 6, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối hướng về phía Bắc (hướng Hoàng Cung) vái ba vái và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu. Tướng Ushi-jima lấy gươm tự mổ bụng, tiếp theo đó bảy Sĩ quan tham mưu cùng tự sát. Ngày 2 tháng 7, trận Okinawa chính thức chấm dứt. Hai tháng sau trận Okinawa, trong giai đoạn cuối cùng của Đệ II Thế Chiến, Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima and Nagasaki của Nhật Bản, sáu ngày sau, 15 tháng 8, 1945, Nhật Hoàng mới dứt khoát chấp nhận Tuyên ngôn Potsdam, đồng ý đầu hàng. Biết tin này, một số Sĩ quan trẻ trong Quân đội Nhật định làm đảo chính, định tiêu diệt phái chủ hàng và buộc nhà vua chấp nhận quyết chiến đến cùng. Nhưng cuộc đảo chính đã không xẩy ra, khi lệnh đầu hàng ban ra, nhiều Tướng lĩnh và Sĩ quan đã tự sát, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka… Vào tháng 4 năm 1975, khi Quân đội Cộng Sản đang trên đường tiến vào Nam Vang, người Mỹ đã mời Thủ Tướng Sirik Matak và toàn bộ Chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ Tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “Sinh vi tướng, Tử vi thần,” nhưng cũng đầy cay đắng như sau: Tôi chân thành cám ơn lá thư của quý ông, và ngỏ lời đưa tôi đến bến bờ tự do. Tôi thì không thể rời bỏ nơi này một cách hèn nhát đến thế. Đối với quý ông và nhất là đối với đất nước nhân hậu này, tôi chưa hề tin rằng quý ông có ý nghĩ từ bỏ một dân tộc muốn tìm chọn tự do. Quý ông đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi đành bó tay. Quý ông đã rời bỏ chúng tôi, chúng tôi thật lòng ao ước quý ông và quý quốc sẽ tìm thấy hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng hãy nhớ rõ điều này, nếu tôi có chết ngay bây giờ, trên mảnh đất mà tôi yêu mến, thì cũng chỉ vì mọi người sinh ra rồi sẽ có ngày trở về cát bụi. Tôi chỉ có một lỗi lầm là đã tin vào người Mỹ các ông. Xin ngài, người bạn quý, nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi.” (Hoàng Tử Sirik Matak) Khi Khờ Me Đỏ vào toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết, riêng gia đình ông Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại. Trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống Cộng sản, Đại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời Tổng thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào, cũng như hứa sẽ bảo đảm cho tổng thống một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng thống cho đến ngày trăm tuổi. Tổng Thống Trần Văn Hương đã trả lời: “Thưa ông Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi bỏ nước ra đi, tôi rất cám ơn ông. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.” Ngày 30 tháng 4, 1975, Saigon thất thủ sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân Bắc Việt, Quân Đội Việt Nam chúng ta không thiếu anh hùng: bốn Tướng lãnh VNCH đã tự sát, đó là Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh SĐ 21 BB, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh SĐ5BB. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã dùng độc dược, và ba Tướng lãnh sau dùng súng ngay tại Bộ Chỉ Huy của mình. Đại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Đại Tá Cẩn đã bị quân Cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Cũng như Đại Tá Kana-yama, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27 BB của trận Okinawa, Tướng Vỹ của Bình Dương đã triệu tập một phiên họp bất thường, thật ngắn ngủi, để giải thích cho mọi người rõ lệnh đầu hàng. Ông nói : “Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao cho địch, nói thẳng ra là đầu hàng… Vì tôi là một Tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ thân làm Tướng là phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc Gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi.” Cảm thấy nỗi nhục thất trận, không phải chỉ hàng Tướng lãnh, cấp Tá như Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long, đã tự bắn vào đầu, chết dưới chân tượng TQLC trước Quốc Hội, Trung Tá Trần Đình Chi, An Ninh Quân Đội đã tự sát tại văn phòng ông ở Biên Hòa. Một Hạ sĩ quan Quân Cảnh đã kết liễu đời binh nghiệp của mình tại Biệt Khu Thủ Đô, và nhiều binh sĩ Nhảy Dù đã choàng vai vây vòng tròn với nhau trên đường lui ở Ngã Ba Ông Tạ, cũng như những toán TQLC trên bãi biển Tư Hiền, với những quả lựu đạn mở chốt để cùng chết với nhau. Quyết định chọn cái chết là khó, nhưng cái chết diễn ra rất nhanh, chọn sự sống là dễ, nhưng sự sống kéo dài làm người ta tủi nhục. Trong khi đó ngày 7 tháng 5, 1954, Điện Biên Phủ thất thủ, Tướng chỉ huy De Castries đã ra đầu hàng, bị bắt làm tù binh và được trao trả sau Hiệp Định Genève. Ông rời Quân ngũ năm 1959 và qua đời năm 1991 tại Paris, Pháp. Ông có trở lại thăm chiến trường xưa nhưng không hề ca tụng kẻ thù. Trái lại Đại Tá Bigeard, bị bắt tại Điện Biên Phủ, sau 50 năm đã ca tụng kẻ thù và chê Quân đội Pháp. Tương tự như vậy, bên cạnh những hào kiệt đã tuẫn tiết, Quân đội chúng ta cũng có những mạt Tướng không chịu chết cho đời thương tiếc, mà sống để lại ô danh và tủi nhục cho đồng đội đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp, chạy về quị lụy ôm chân kẻ thù xưa. Bên cạnh những anh hùng, cũng có những kẻ phản bội. Chúng ta liên tưởng đến hai câu thơ của Cụ Phan Bội Châu: Dù lịch sử, cha ông thây kệ. Nhục hay vinh họ kể gì đâu! Người xưa đã nói: “Không lấy thành bại mà luận anh hùng.” Nếu hôm nay chúng ta mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 còn ngẩng mặt nhìn đời được là nhờ hào quang của những người đã chết, rửa mặt cho miền Nam. Còn chúng ta sống, kéo dài cuộc sống làm sao để cho khỏi hổ thẹn.
Viện binh đã đến. Các chân trống đã được bổ sung vào các ổ rơm đã được trải ra trong các lều. Có vài tên là tay cựu còn thì hăm-lăm tên mới gọi nhập ngũ từ căn cứ đến. Họ kém chúng tôi chừng hai tuổi. Kropp thích tôi: «Thấy tụi nhóc chưa? »
Tôi gật. Chúng tôi cởi trần, cạo râu ngoài trời, thọc tay vào túi, dạo qua các tân binh và cảm thấy mình là kỳ cựu. Katczinsky cùng đi với chúng tôi Chúng tôi phất phơ qua chuồng ngựa lại toán viện binh vừa được phân phát mặt nạ phòng hơi ngat và cà-phẻ.
«Lâu lắm mới lai được ăn ra bữa nhỉ? »
Kat hỏi một nhóc.
Nhóc nhăn mặt: Ăn sáng, củ cải bánh mì – ăn trưa củ cải hầm – ăn tối củ cải sườn và củ cải sả lách.» Kat huýt sáo ra chiều thành thạo.
«Bánh mì làm bằng củ cải? Thế còn là may, có làm bằng mạt cưa cũng chẳng có gì lạ. Nhưng còn đận? Nếm chưa? »
Nhóc đỏ mặt. «Khéo giỡn hoài. »
Katczinsky thản nhiên nói: «Mang cà mèn lại đây. »
Chúng tôi tò mò theo dõi. Bác đưa tôi lại cái chậu cạnh ổ rơm bác, Chậu gần đầy nửa thịt hầm đâu. Kateziasky dõng dạc đứng trước chậu như một ông tướng và nói:
«Mắt cho tinh tay cho lẹ! Dân Phổ đã bảo thế! »
Chúng tôi ngạc nhiên. «Chu choa, hác Kat, xoay đâu ra thế này? » tôi hỏi.
«Tao lấy đi Ginger mừng rơn. Tao cho hắn ba miếng lụa dù cơ đấy. Đậu lạnh ăn cũng ngon chứ nhỉ? »
Bác cho thầng nhỏc một phần và hậm hực nói:
«Lần sau có mang cá mên lại thì tay kia nhớ cầm theo một điểu xi-gà không thì cũng một mời thuốc nhai, Hiều chưa? » Đoạn bác quay lại chúng tôi. «Còn chúng mày dĩ nhiên miễn phí.»
Katezinsky không bao giờ lại bí, bác ta có một giác quan thử sáu, Bất cứ ở đâu cũng có những người như thế nhưng thoạt đầu người ta không nhận ra cái giá tri của họ. Đai đội nào cũng có một hay vài người. Katczinsky là người tài tình nhất mà tôi được biết. Xuất thân làm nghề vá giầy thì phải, nhưng cái đó chả ăn nhậu gì, nghề gì bác cũng thạo. Làm thân với bác là một điều lợi, như thằng Kropp và tôi và thằng Haie Westhus nữa, không nhiều thì ít. Nhưng thằng Haie có thể nói là cánh tay thừa hành dưới lệnh của Kat mỗi khi cần đến đấm đá. Gì chứ chuyện này thì hắn nghề lắm. Chẳng hạn, có đêm chúng tôi đổ bộ xuống một địa điểm hoàn toàn mù tịt, đến một cái ổ thật là thiên não, tường tiếc gì là đổ nát cả. Chúng tôi đóng tại một cái xưởng máy nhỏ tối mò tam dùng làm doanh trại. Có giường, hay đúng hơn là kệ -hai cái đà gỗ trên giăng lưới thép. Lưới thép thì cứng. Lai không có gì lót trên. Các tấm vải sơn của chúng tôi lại mỏng quá. Chăn thì còn dùng để khoác.
Kat ngắm nghía địa điểm đọan bảo Haie Westhus: «Đi theo tao. » Hai người đi xem xét khắp. Nửa giờ sau thấy về hai tay ôm đầy rơm. Kat tìm ra một chuồng ngựa có rơm. Giờ thì hắn ngủ ngon nhưng phải cái đói cào ruột. Kropp hỏi một tay pháo thủ trước kia từng ở vùng này: «Gần đây có quán ăn quán iếc gi không?»
«Có cái gì? » hắn cười ồ. «Ở đây mà có cái mẹ rượt gì. Đến một mẩu bánh cũng đừng hòng tìm ra, »
«Bộ không có người ở sao chớ? » Hắn nhồ đánh phẹt. «Có, một cặp. Nhưng chỉ biết la cà quanh nhà bếp xin ăn. »
« Thế thi chán thật! Chỉ còn việc siết chặt dây lưng chờ sáng ra khẩu phần đến. »
Nhưng tôi thấy Kat đã đội mũ lên.
«Đâu đó, Kat? » tôi hỏi.
«Ử thì cũng đi xem chừng coi. » Bác đi khỏi. Tên pháo thủ khề khề có vẻ miệt thị.
«Cứ đi mà xem chừng! Nhưng đừng quá hy vọng mà mệt đa. »
Chán phè chúng tôi nằm xuống và đã bảo nhau thử liều xài khẩu phần dự trữ xem sao. Nhưng làm vậy nguy hiềm quá, nên cố nhắm mắt ngủ cho qua. Kropp chia đôi điếu thuốc đưa tôi một nửa. Tjaden chỉ cách nấu món ăn quốc hồn quốc túy của mình – đậu ván với thịt ba chỉ. Hắn ghét ăn món này mà lại không có tiêu làm nồi vị và, «trời ơi, lại bỏ vào một lúc nấu đều, chứ đừng nấu khoai riêng và thịt ba chỉ riêng. » Có giọng hằn học bảo thằng Tjaden hãy câm cái họng không thì ông nện nhừ ra tiêu bây giờ. Thế là trong căn phòng lớn lại im phăng phác – chỉ còn hai ngọn nến chập chờn trên hai cái cổ chai và tên pháo thủ chốc chốc lại nhổ đánh phẹt. Chúng tôi sẽ cựa mình thì cửa mở và Kat xuất hiện. Tôi ngỡ minh chiêm bao, nách bác kẹp hai ổ bình mì tay xách một bao dựng cát đầy thịt ngựa còn rớm máu. Chiếc pip rơi khỏi mồm tên pháo thủ.
Hắn hít mùi bánh. «Đúng là bánh, mẹ kiếp! mà lai còn nóng nửa chớ. »
Kat chả nói gi lôi thôi. Có bánh là rồi, còn thì không đáng kể. Tôi dám chắc có vứt bác ta ra giữa sa mạc, nửa giờ sau là bác xoay ra bữa ăn có đủ thịt quay, chà là, và rượu. «Chặt ít củi, bác buông thỏng, Haie. »
Đoạn bác moi dưới áo ra một cái quánh, và một nắm muối lại cả một miếng mỡ trong túi. Bác chu đáo thật. Haie nhóm lửa dưới đất. Lửa soi sáng căn phòng trống rỗng của nhà máy. Chúng tôi tụt xuống giường.
Tên pháo thủ còn do dự. Hắn phân vân không biết có nên ca tụng Kat để may ra còn được một miếng. Nhưng Kat không buồn nhìn hắn như thể có nó cũng như không. Hắn bỏ đi chửi thề.
Kat biết phải ráng thịt ngựa sao cho mềm. Cứ thế bỏ ngay vào quánh là thịt phải dai. Phải đun tí nước sôi nhúng thịt trước cái đã. Chúng tôi ngời quây quần cầm dao xẻo ăn đầy bụng. Kat là thế. Nếu trong một năm chỉ có một giờ mới có một cái gì ăn và chỉ ở một nơi nào đó thôi, thì trong cải giờ ấy, như có thần nhỡn mách bảo, bác sẽ đội mũ, ra đi thẳng đến nơi ấy như theo địa bàn, và tìm ra cái ấy để ăn. Không gì bác không tìm ra – nếu trời lạnh, thì tìm ra một cải lò nhỏ, ra củi, ra rạ ra rơm, ra bàn ra ghế – nhưng nhất là ra thức ăn. Thật là thần tình; người ta ngỡ đâu bác làm phép lấy ở không trung ra vậy. Đặc biệt nhất là có lần bác xoay ra bốn hộp tôm hùm. Thú thật chúng tôi ước gì được một miếng bí tết bò thật ngon.
Chúng tôi ngồi cả ở bên phía lều có ánh nắng. Thoang thoảng mùi dầu hắc, mùi hè và mùi mồ hôi chân. Kat ngồi bên tôi. Bác có điều muốn nói. Hôm nay chúng tôi đã phải tập chào chỉ vì thằng Tjaden đã quên không chào một ông thiếu tá. Kat cứ thắc mắc mãi chuyện này.
«Mày thấy không, sở dĩ chúng mình thua trận là vì chúng mình chào giỏi quá,» bác nói. Kropp đứng lên, dây quần cuộn lại và đi chân không. Nó trải đôi tất vừa giặt lên cỏ để phơi. Hai tay bắt đầu lý sự. Đồng thời bỏ một chai bia ra cá kết quả của một trận không chiến đang diễn ra trên đầu chúng tôi, Katczinsky khăng khăng với cái lập trường mà vốn là một anh lính tác chiến kỷ cựu nên bác đặt thành vè là:
Cho chúng ăn uống đồng đều lương lậu đồng đều.
Chỉ trong một ngày là chiến tranh chấm dứt.
Trải lại Kropp là một nhà tư tưởng. Nó đề nghị rằng một cuộc tuyên chiến phải là một thứ hội hè bình dân có bán vé vào cửa có giàn nhạc, như thể đấu bò. Rồi trong, võ trường các bộ trưởng cùng các tướng tá của hai nước, mặc đồ tắm tay cầm gậy, liệu mà khện nhau. Anh nào mà sống sót thì nước anh ấy thắng. Như thể giản dị hơn công bằng hơn là cách sử dụng hiện giờ, trong đó những thằng không muốn đánh lại phải đánh.
Vấn để được bỏ ngang. Và giờ xoay sang chuyện tập luyện. Một hình ảnh đến trước mắt tôi. Trưa nắng chan chan trong sân trại. Nắng lơ lửng trên sân. Trại vắng tanh. Mọi vật ngủ vùi. Chỉ còn nghe tiếng mấy tên đang tập trống, chúng ở đâu đó và tập rồi nghỉ rồi tập, buồn tẻ chán như cơm nếp nát, Thật là hòa hợp dữ! Nắng trưa, sản trại, và linh trống gõ! Các cửa số trại đều rỗng đen. Ở vài cái thấy phơi quần. Các phòng mát mẻ và thằng nào cũng mong được về phòng. Ôi các lều tiểu đội tối tăm, ẩm mốc, với giường sắt, vải giường ô vuông, tủ khóa và ghế đẩu! Dù sao chúng mày cũng trở thành vật đáng thèm ở đây chúng mày phảng phất giống như ở nhà: phòng chúng mày, đầy mùi thức ăn thiu thối, mùi ngủ, mùi khói và mùi quần áo!
Kalczinsky đã mô tả mọi cái bằng những màu sắc sống động. Chúng tôi sẵn sàng cho hết để được trở về đó! Nhưng mình chả nên theo đuổi mãi luồng tư tưởng này. Các giờ học tập sáng sớm ấy – «Các thành phần của súng trường 98 là gì? » – các giờ trưa thể dục – Anh dương cầm, bước! Quay phải, bước mau. Lại nhà bếp gọt khoai. »
Chúng lôi ngồi ôn lại. Kropp bỗng bật cười nói «Đến Lohne thì đổi! » Đó là cái trò ruột của ông hạ sĩ chúng tôi. Lohne là một giao điểm thiết lộ. Để các chú tân binh đi phép đến đây đừng lạc, Himmelstoss cho thực tập sự đổi tàu tại phòng trại. Chúng tôi phải học rằng đến Lohne, muốn sang đường nhánh, phải đi qua một đường hầm. Các giường được coi là đường hầm và thằng nào thằng nấy đứng nghiêm phía bên trái giường. Đoạn khi nghe hô: «Đến Lohne thì đổi! » là như chớp thẳng nào thằng nấy chui qua giường sang phía bên kia. Chúng tôi tập có thế mà suốt cả một tiếng. Trong lúc đó chiếc máy bay Đức bị bắn hạ. Như một sao chổi nó thành một dải khói đâm đầu xuống. Thế là thằng Kropp mất chai bia. Càu nhàu càu nhàu nó móc ví đếm tiền ra trả.
«Khi còn đi phát thư chắc chắn Himmelstoss là một thằng cha khác hẳn, tôi nói, sau khi Albert đã nguôi thất vọng. «Không hiểu tại sao khi là một trung sĩ huấn luyện hắn ta lại hách xì xằng đến thế? »
Câu hỏi làm sống lại Kropp, nhất là khi nghe nói ở quán hết bia rồi. «Đâu riêng gì Himmelstoss, mà còn hàng đống thằng khác. Đã đeo lon đeo sao vào là ngươi ta khác hẳn, khác gì như thể được nuốt bê tông.»
«Đó là tại bộ binh phục,» tôi đưa ý.
«Đại khái thì là thế, » Kat nói, và rồi tràng giang đại hải; «nhưng cải góc rễ của vấn đề thì nằm ở chổ khác. Chẳng hạn, khi ta tập cho một con chó ăn khoai và rồi sau đó lại chìa cho nó miếng thịt, bảo sao nỏ khôngđớp, vì đó là bản tính của nó. Thì gắn cho một thằng người nào đó chút uy quyền thì hắn cũng hành động như thế, hắn cũng đớp lấy. Hai cái giống nhau như đúc. Con người ở ngay nó chính yếu vẫn là một con thú, có điều hắn phết lên mình chút ít lịch sự như phết bơ lên bánh khác gì. Quân đội là được căn cứ trên điều này, người này là phải có quyền đối với người kia. Sở dĩ rắc rối chỉ là người nàn cũng có nhiều quyền quá. Anh hạsĩ hành hạ thằng binh nhì, ông trung úy hành anh hạ sĩ, ông đại úy hành ông trung úv, cứ thế đến phát điên. Và chính vì họ biết họ được hành, nên chả mấy lúc anh nào cũng quen thói không nhiều thì -ít. Chẳng hạn chỉ một cái chuyện này nhé: mình đi tập diễn hành về mệt lử cò bơ. Thế rồi có lệnh đến phải hát. Được lê súng đã đủ sướng nhưng mình còn thú vị cái mẹ rượt gì mà hát vởi hỏng. Thế là cả đội phải quay lại bị phạt tâp thêm một giờ nữa, Khi đi trở về lai có lệnh hát, thế là mình hát. Thử hỏi làm thế có ích lợi gì cơ chứ? Chỉ vì cái đầu ông đai đội trưởng đang say sưa vì có quá nhiều quyền hành. Và chả ai trách ông ta. Trái lại, ông ta còn được khen là nghiêm khắc. Dĩ nhiên dây chỉ là một trường hợp vặt, nhưng những vụ nào khác đến đâu đi nữa thì cũng thế cả. Giờ tao hỏi chúng mày một thằng cha dù là gì chăng nữa vào thời bình, thử hỏi có cái địa vị nào cho phép hắn được hành động như thế mà không bị một quả đấm xep mũi? Chỉ trong quân đội hắn mới làm thế được. Thấy chưa, anh nào cũng say quyền say thế cả mà. Và ở đời sống dân sự càng chả ra cái thả gì người ta lại càng hăng tiết vịt. »
«Dĩ nhiên, họ nói là cần phải có kỷ luật, »
Kropp nói vẻ suy tư.
«Đúng, » Kat gầm ghè, «khi nào cũng giở giọng ấy. Có thể là thế; nhưng đừng để trở thành lạm dụng chứ. Nhưng thử đi nói thế với anh phó rèn, anh làm thuế hay anh làm thợ xem, thử giải thích cho thẳng binh nhì xem – và vì kỹ luật mà phần lớn họ có mặt tại đây. Họ chỉ biết có độc một điều là họ được tập luyện kỹ càng để ra trận biết rõ mình phải làm gì và đừng làm gì trong mọi trường hợp. Thật là kỳ lạ, tao thấy không hiểu sao thằng lính thường lại sống dai đến thế ở ngoài tiền tuyến. Kỳ lạ thật!
Chả ai cãi. Ai ai cũng hiết rằng ra đến chiến tuyến là hết tập tành và cứ cách sau đó năm dặm là Lủ tập tành, với đủ trò vớ vẫn nào là chào thôi, nào là diễn hành thôi. Một qui luật sắt là thằng lính phải được tận dụng trong mọi trường hợp. Đến đây thấy thắng Tjaden đi tới mặt đỏ gay. Nó hứng chí gì không biết mà lắp bắp nói không ra. Mặt hớn hở hắn lắp bắp: «Himmelstoss sắp đến. Hắn ta cũng ra mặt trận! »
Tjaden có hận riêng với Himmelstoss, cũng vi thời gian giáo hóa ở trại. Tjaden đái dầm, đái về đêm trong giấc ngủ. Himmelstoss cho đó chỉ vì lười và sáng chế ra một cách mà chỉ có hắn mới nghĩ ra để chữa Tjaden.
Hần đảo ra được một tên đái đầm nữa, là Kindervater, ở lều bên và sắp cho nằm chung với Tjaden. Trong lều thường có giường kệ, từng đôi một, cái trên cái dưới, nệm thì bằng lưới thép. Himmelstoss sắp hai thẳng một thẳng ngủ trên một thẳng ngủ dưới. Thằng nấm đưới dĩ nhiên ghê tởm. Đêm sau hai thằng thay chỗ, thẳng dưới lên trên để được trả đũa. Đó là phương pháp tự huấn kiểu Himmelstoss. Kể ra cũng đê tiện nhưng không phải không khéo. Khốn nỗi cái đó chẵng đi đến đâu vì giả thuyết đặt ra từ đầu đã là sai: cả hai thằng đái dầm đâu phải vì lười. Bất cứ ai chỉ nhìn nước da xanh xao vàng vọt của chúng là thấv liền. Kết cuộc là cứ có một thẳng phải ngủ dưới đất và vì thế hay bị cảm lạnh.
Lúc ấy có thẳng Haie ngồi canh chúng tôi. Hắn nháy tôi xoa hai nắm đấm hộ pháp với cả một hậu ý. Chúng tôi một lần được sống một ngày đẹp nhất với nhau trong đời sống quân ngũ – ngày hôm trước khi ra mặt trận. Chúng tôi được bổ vào một trong số các liên đoàn mới thành lập, nhưng được trở về trại để được võ trang trưóc đã, không phải về trại viện binh, dĩ nhiên, mà về một trại khác. Sáng hôm sau phải khởi hành sớm.
Tối đến chúng tôi chuẩn bị thanh toán ân oán giang hồ với Himmelstoss. Hàng bao tuần qua chúng tôi thề rửa hận. Kronp còn tính xa hơn nữa là thời bình đến vào làm sở bưu điện để làm xếp thẳng cha Himmelstoss khi hắn trở lai làm anh đưa thư. Nó khoái trả nghĩ đến cách hành hạ lão ta. Chính điều này khiến hắn không thể đánh bẹp chúng tôi – lúc nào chúng tôi cũng tính rằng sau nàv, khi mà chiến tranh chấm dứt, chúng tôi thế nào cũng phải trả thù hắn mới nghe.
Đồng thời chúng tôi quyết định cho hắn một trận đòn để đời. Hắn làm gì được chúng tôi khi không nhận diện được chúng tôi và chúng tỏi sảng hôm sau đã đi rồi? Chúng tôi biết tối đến hắn thường lại quán nào. Trở về trại, hắn phải đi theo một con đường tối mò không có người ở. Chúng tôi nấp sau đống đá rình hắn. Tôi có mang theo một tấm vải giường. Chúng tôi run lên vì hồi hôp, hy vọng rằng hắn đi một mình. Mãi rồi chúng tôi nghe tiếng chân hắn, mà chúng tôi nhận ra một cách dễ dàng vì quá quen nghe vào các buổi sáng khi cửa mở tung và hắn rống: « Dậy! »
«Một mình chứ? » Kropp hỏi sẽ.
«Một mình. »
Tôi lủi vòng đống đá với Tjaden.
Himmelstoss hình như hơi hứng chí; hắn lại còn hát nữa chứ. Khuy thắt lưng hắn sáng ngời. Hắn đi đến đâu có ngờ gì. Chúng tòi cầm tấm khăn trải giường, phóng ra, trùm lên đầu hắn từ sau lưng và quấn quanh hắn khiến hắn đứng đấy như trong một cai bao trắng hai cánh tay hết cựa. Tiếng hát ngừng bặt. Rồi là Haie westhus nhảy ra, giang hai tay ra hiệu cho chúng tôi lui đề hắn mở đầu. Nó lấy thế khoái trá ra mặt, giơ cánh tay như cột buồm hiệu và bàn tay như sẽng xúc than giáng xuống cái bao trắng một quả đến một con bò cũng phải đổ. Himmelstosa ngã lăn cù văng đi năm thước và bắt đầu la. Nhưng chúng tôi cũng đã chuần bị cả điều này nên mang theo một chiếc gối nệm. Haie ngồi xổm, đặt chiếc gối lên đần gối, sờ xem đầu Himmelstoss ở đâu đoạn ấn lên gối. Tức thì giọng hắn im bặt. Thỉnh thoảng Haic lại nhắc lên cho hắn thở và hễ vừa la lên là tiếng la bị dìm liền. Tjaden cổi cúc dây quần của Himmelstoss và tụt quần lão ra, chiếc roi cắn răng. Đoạn nó đứng lên ra tay quất. Thật là một cảnh tượng ngoạn mục: Himmelstoss nằm dưới đất, Haie cúi xuống lão nhe răng cười tinh quái miệng há như khát máu ghì chặt đầu Himmelstoss trên đầu gối; rồi là chiếc quần xả lỏn sọc quằn quại như đĩa phải vôi, hai cẳng bắt chéo, cứ mỗi ngọn roi giáng xuống lại có những cử động hết sức độc đáo và sừng sững trên chúng như một anh đốn củi là Tjađen đánh không biết mỏi. Cuối cùng chúng tòi phải lôi hắn ra để còn đến phần mình.
Sau hết Haie lại dựng Himmelstoss đứng lên và giáng một đòn cuối để hả hận riêng. Khi vung cánh tay phải đề bợp lão trông nó như thể sắp với một vì sao xuống. Himmelstoss lảo đảo. Haie lại dựng lão lại, lại chuẩn bị lại dùng tay trái bợp lão một bợp nữa thật là đích đáng Himmelstoss la lên và ngã xuống quì hai gối chống hai tay rủa không ngớt miệng. Đít quần xà lỏn sọc của lão lắp lánh dưới ánh trăng. Chúng tôi tẩu như phi.
Haie nhìn quanh một lần nữa và nói giọng hằn học, thỏa mãn và có phần bí mật:
«Trả thủ là rồi. »
Himmelstoss lẽ ra phải hài lòng mới đúng; lão thường nói rằng chúng ta phải tự giáo huấn lẫn nhau đã đưa lại kết quả cho lão. Chúng tôi đã trở thành những môn đồ lỗi lạc về phương pháp của lão. Lão không bao giờ tìm ra người lão phải cám ơn về vụ này. Dù sao lão cũng được lợi một tấm khăn trải giường; vì vài giờ sau đó chúng tôi trở lại để tìm khăn thì không thấy nữa.
Cái công tác tối hôm ấy làm chúng tôi sáng hôm sau lên đường cũng được hả dạ một phần nào. Và một anh bạn già khoải trá mệnh danh chúng tôi là những «chàng trai anh hùng».
Hạ tuần tháng Giêng năm 1970, Ðại Ðội Trinh Sát Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân có nhiệm vụ hành quân thám sát vùng Tây của Ðèo Mang-Giang (Mang Yang), Pleiku, để yểm trợ tin tức tình báo chiến thuật cho Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân tiến vào Căn Cứ Ðịa 203 của Việt-Cộng.
Ba toán Viễn-Thám đã được tôi thả xuống thung lũng Plei Bon. Tôi cùng hai cố vấn Mỹ và ba nhân viên truyền tin đóng quân trên đỉnh núi Ngô-Sơn.
Chúng tôi được một trung đội trinh sát bảo vệ. Cuộc hành quân kéo dài một tuần lễ, hôm ấy đã được sáu ngày, chỉ một bữa nữa thôi, nhiệm vụ của chúng tôi sẽ chấm dứt. Thời gian này đã là mùa khô Cao Nguyên, nên bầu trời trong vắt. Trong gió, lan rừng ngát hương. Cỏ cây thay lá. Tiếng côn trùng rên rỉ lớn hơn. Tiếng chim muông cũng rộn rã hơn. Dưới nắng, tôi cũng chợt nhìn thấy những cánh hoa quen, mà tôi thường gọi là “hoa vấn vương”. Những cánh hoa mỏng như sương, đang vờn bay chập chờn trong không trung.
Tôi hay góp nhặt những bông hoa này bỏ vào bao nylon; để lâu lâu, lại lựa vài chùm, kèm với những dòng thư viết vội từ chiến địa, gửi về Ban-Mê-Thuột cho người tôi thương. Cái tên “hoa vấn vương” là tôi đặt cho loài hoa ấy. Thực ra, hoa vấn vương, giản dị chỉ là những chùm bông gòn bay lênh đênh trong gió.
Do tình cờ, có lần vào cuối mùa mưa, tôi nhìn thấy những quả bông gòn thấm nước, nổ tung. Những chùm bông trắng như tuyết vỡ, tan tác bay, rồi rơi rụng dần. Cứ thế, hoa theo gió phiêu du, cho tới khi chỉ còn là một chùm tơ trắng với cái cuống màu nâu nhỏ như đuôi kim, bay dật dờ, lãng đãng trong rừng.
Tôi đã yêu loài hoa này, vì tôi thấy loài hoa này rất chung tình. Khi cánh hoa đã ghim vào áo trận của tôi rồi, thì hoa sẽ dính trên áo tôi cho đến hết một cuộc hành quân. Những sợi tơ trắng mềm mại của chùm hoa cứ dính cứng trên vải áo rằn ri, gỡ hoài, gỡ mãi không ra. Ngày này qua tháng khác, vào sinh, ra tử, chết chóc, gian lao, niềm vui của những người lính bạt mạng như tôi thật là giản dị: Chỉ mong lâu lâu được về hậu cứ Pleiku, có vài giờ quây quần bên nhau; ôm cây guitar nghêu ngao đôi khúc nhạc tình; rồi vào một quán quen, ngâm thơ, uống rượu. Qua một đêm vui là chúng tôi quên hết sự đời, hôm sau lại lên đường ra trận.
Ở hoài trong rừng, suốt tháng, quanh năm, mùa nào chúng tôi cũng thấy lạnh, mùa nào cũng thấy nhớ nhà.
Có lần đóng quân bên dòng Pơ-Kô, đang buồn, vừa mở radio lên, nghe Thái Thanh hát, lòng tôi càng buồn thêm:
“Tôi xa đô thành một đêm trăng mông mênh
Tuy ra đi rồi, mà vẫn nhớ vẫn thương.
Hình bóng ấy, người em thơ đang từng giờ đợi chờ…”
(Hoàng Thi Thơ)
Ða phần quân nhân Cao-Nguyên Vùng 2 đến từ nơi khác.
Nghe “Nhớ Thành Ðô” mỗi người tơ tưởng tới một thành phố yêu thương của riêng mình. Nhiều bạn tôi than:
“Lâu không về qua Sài-Gòn, nhớ Gia Long, Trưng Vương quá!” Trước đây, đi hành quân, tôi thường nhớ Hội-An và Pleiku. Hội-An có mẹ tôi, Pleiku có hậu cứ đơn vị tôi. Trước đây, dù đã có hai lần ghé Ban Mê Thuột, nhưng tôi chẳng mảy may để ý gì tới thành phố này. Tôi đã từng nghe nhiều người than rằng xứ Thượng Ban Mê Thuột là nơi buồn quanh năm, chẳng thế mà mấy anh bạn cùng Khóa 20 Võ Bị của tôi đang phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh cứ gọi thành phố ấy bằng cái tên “Buồn Muôn Thuở”. Nhưng từ sau lần đi họp Hội-Ðồng Kỷ-Luật tại Bộ Tư Lệnh Sư-Ðoàn 23 Bộ Binh hồi đầu tháng 5 năm 1969, tôi có dịp ghé nhà một người bạn, được gặp mặt em gái anh ta, thì Ban-Mê-Thuột đã trở thành một nơi, đi đâu tôi cũng nhớ, ở đâu tôi cũng muốn về. Từ đó tôi cũng ít khi về Hội-An. Vì mẹ tôi cũng đã thương cô ấy, và thương cái gia đình “cũng là người Bắc Di Cư như nhà mình ấy mà!”
Những lần mẹ tôi vào thăm vợ chồng Bác Võ, thân sinh của Loan, thế nào tôi cũng nài nỉ Trung Tá Sâm cho tôi rời đơn vị vài ngày để gặp mẹ tôi và gặp Loan. Bất cứ lần nghỉ dưỡng quân nào, dù chỉ hai, ba hôm, ông Thượng Sĩ Woodell, cố vấn của tôi, cũng phải tìm cho tôi một chỗ ngồi trên những chuyến bay con thoi đưa thư hàng ngày của Mỹ, nối liền Pleiku, Ban-Mê-Thuột, Quảng-Ðức, Ðà-Lạt, Nha-Trang, Qui-Nhơn. Cứ về Ban-Mê-Thuột thì tôi đương nhiên trở thành người lái xe đưa đón Loan và các em cô ấy từ nhà tới trường. Vì thế con đường rợp bóng phượng vĩ từ khu Cư-Xá Ðộc-Lập, qua Bưu-Ðiện, tới nhà thờ Vinh-Sơn, rồi rẽ sang trường Trung Học Tổng Hợp Ban-Mê-Thuột đã trở thành quen. Tôi cũng không còn thấy xa lạ với những cái tên Y Jut, Ama Trang Long, Ciné Lodo, Chùa Dược-Sư, Kem Chi-Cao, Lâm-Tuyền Cốc, …
Tôi rất thích cái không khí ấm cúng của quán cà phê học trò Mây Hồng gần trường. Những lần lái xe tới sớm, tôi thường vào đây ngồi nhâm nhi ly cà phê đen chờ giờ tan học. Nói cho cùng, tôi thương nhớ Ban-Mê-Thuột cũng chỉ vì nơi đó có nàng. Ba toán Viễn-Thám đã được thu hồi bằng phương tiện bộ chiều hôm qua. Hôm nay tôi có trọn một ngày bình yên, không lo lắng. Tôi có thói quen viết miên man, mỗi khi ngồi buồn một mình. Có bài thơ ghi vội vàng trên chiến địa, rồi bỏ lại trên chiến địa. Có bài thơ ướt đẫm máu hồng từ những vết thương, bạn bè tôi tiếc rẻ, nên chép lại, gửi về Sài-Gòn cho người ta đăng báo.
Trước ngày tôi gặp người nữ sinh Trung Học Ban-Mê-Thuột đó thì thơ tôi viết chẳng để tặng cho riêng ai. Nhưng từ khi tôi quen cô ấy, rồi yêu thương cô ấy, thì những bài tôi viết đều có ghi thêm câu “Gửi người tình nhỏ ở Ban-Mê-Thuột”. Sáng hôm đó, trên núi cao, sau một giờ bình yên, tôi đã có sẵn một bài thơ ngắn để gửi về cho người mình yêu dấu. Ít lâu sau, ông Hàng Vĩnh Xuân cũng đưa bài thơ này lên trang thơ của “Nguyệt San Biệt Ðộng Quân”. Ông Xuân và tôi vốn có chút giao tình; Ðại úy Hàng Vĩnh Xuân là Chủ Bút Nguyệt San Biệt Ðộng Quân Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Trong sớm mai
Buổi sáng thức dậy
Thấy mình nằm trong rừng
Núi rừng từ nghìn xưa đã buồn…
Buổi sáng thức dậy
Thấy lòng nhớ thành phố
Thành phố bây giờ xa vô cùng…
Buổi sáng thức dậy
Lật tìm manh bản đồ
Những dấu mực xanh, những đường gạch đỏ
Mục tiêu nào gần, mục tiêu nào xa?
Một ngày trong đời rồi cũng đi qua.
Và một đời người rồi sẽ trôi qua…
Sáng nay thức dậy
con chim nhỏ trên cành ngái ngủ
nhìn mái poncho đôi mắt thờ ơ
Người lính vừa thay phiên gác
trở về lều xếp gọn chiếc ba lô
Bếp lửa ngại ngùng, đợi chờ những viên trái phá
Tôi ngồi một mình, đợi chờ giờ lên đường
Nhớ nhung hoài, cũng thành thói quen!
Em biết không?
Giờ này tôi đang nghĩ về em…
Và sáng nay thức dậy
Chợt thấy mặt trời hồng
Nhớ người Ban-Mê-Thuột vô cùng…
(Vương Mộng Long- 1970)
(Gửi người tình nhỏ ở Ban-Mê-Thuột)
o O o
Xế trưa, một chiếc trực thăng đáp xuống đài tiếp vận để trao cho tôi cái phóng đồ vùng hành quân mới. Hậu cứ cũng chuyển cho tôi một bì thư của Loan gửi từ Ban-Mê-Thuột. Phong thư hơi dày, trong đó chứa một lá thư viết bằng giấy học trò và ba cái bảng tên mới thêu. Tôi đã biết cô ấy là người vẽ rất đẹp. Nay mới thấy cái tài thêu thùa của cô ấy. Những đường chỉ ngụy trang vắt chéo nhau một cách tỉ mỉ và khéo léo, vừa chắc chắn, lại vừa mịn màng. Trên nền vải rằn ri, chữ “LONG” thoáng nhìn, thấy sắc nét như vẽ bằng bút lông trên tranh. Cầm trên tay ba cái bảng tên mới, tôi nhủ thầm:
“Thêu kỹ thế này thì năm, sáu năm sau chưa chắc đã sút chỉ!” Trước đây ít năm, tôi đã có vài cái bảng tên do các cô nữ sinh Trung Học Pleiku thêu giùm. Tiếc rằng chỉ sau đôi lần đưa áo cho thợ giặt, thì những cái bảng tên ấy đã rách bươm.
Thượng sĩ Goodell mời tôi một điếu xì gà vừa tiếp tế. Anh đưa cho tôi xem cái ảnh vợ con anh vừa từ Mỹ gửi qua. Trong ảnh, thằng bé trai cười toét miệng. Miệng nó sún mất hai cái răng cửa. Hóa ra nó đang thay răng! Nhìn cái ảnh, tôi không thể nhịn cười. Vì thằng Goodell con trông giống thằng Goodell bố như in. Thằng Goodell bố cũng vừa bị gãy hai cái răng cửa hôm tuần trước. Hôm đó, sau chầu rượu đón chào anh Thiếu úy Ðinh Quang Biện từ Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân vừa đáo nhậm đơn vị, nhận chức Ðại Ðội Trưởng, Ðại Ðội Trinh-Sát Liên Ðoàn 2 thì ông Trung sĩ Triêm lái xe đâm xuống ruộng. Thiếu úy Biện lọi giò, Thượng sĩ Goodell gãy hai cái răng. Goodell chưa kịp làm răng mới, chúng tôi đã có lệnh vào vùng.
Thấy hình ảnh gia đình anh cố vấn Mỹ, tôi mơ ước thầm:
“Biết tới bao giờ tôi và Loan mới có thằng Long con dễ thương như thằng con anh bạn?”
Nhớ có lần tôi đưa Loan đi chợ. Thấy cửa hàng bán sách vở và đồ chơi trẻ con, tôi nói,
-Anh muốn mua một quyển sách “Tập Ðánh Vần” để dành cho con chúng mình. Em nghĩ sao?
Chiều nắng xế, hoa bay chập chờn trong núi, tôi ngồi dựa lưng vách đá, thả hồn về phương Nam. Có lẽ bây giờ ở Ban-Mê-Thuột đang là giờ tan học. Tôi hình dung ra cảnh người tôi yêu đang vén vạt áo dài xanh, rụt rè bước ngang qua sợi dây xích nối giữa hai cột trụ xi măng cổng trường để ra đường chờ xe. Ước gì lúc này tôi có mặt nơi đó nhỉ? Trưa nay tôi đã nhận cái phóng đồ hành quân mới. Ngày mai sẽ có tiếp tế trước khi chuyển vùng. Có lẽ còn lâu chúng tôi mới được về nghỉ dưỡng quân. Có lẽ còn lâu tôi mới được thấy lại Ban-Mê-Thuột. Bên cạnh tôi, người bạn Mỹ cũng đang ngồi dựa lưng vào một gốc cây. Mắt Goodell mang kiếng đen. Tôi không biết anh ta đang ngủ gật hay đang nhớ nhung một cái trang trại nhỏ nơi miền quê Texas, bên kia đại dương. Trời chiều không có mây. Một cặp chim hồng hoàng vừa sóng đôi bay qua đỉnh núi. Bốn cánh chim khổng lồ nhịp nhàng quạt gió. Vài phút sau, hai bóng chim chập vào nhau thành một chấm đen cuối trời…
o O o
Nghĩa, tình, và nhiệm vụ…Chúng tôi được tiếp tế mười ngày lương khô rồi chuyển vùng. Hơn nửa năm sau trận Dak Tô 1969 tôi mới quay lại Bắc Kontum. Trực thăng vừa bay qua cầu Diên Bình, trước mắt tôi đã thấp thoáng những mái tôn chói nắng từ Tân Cảnh. Bên trái tôi, xa xa là Phi trường Phượng Hoàng, rồi tới Ngok Ring Rua, và Ben Het. Cảnh cũ vẫn chưa thay đổi, nhưng người anh cả của chiến trường đã không còn nữa. Vào vùng, tôi chạnh lòng nhớ tới “Thẩm Quyền 5”. “Thẩm Quyền 5” là danh xưng truyền tin của Ðại tá Nguyễn Bá Liên, Tư lệnh Biệt Khu 24. Thẩm Quyền 5 đã không ngừng theo dõi bước chân đại đội tôi suốt một tuần lễ dài của trận đánh đẫm máu nhất năm 1969 của Vùng 2.
Ngày đó bất cứ lúc nào tôi lên máy cũng nghe tiếng Thẩm Quyền 5:
“Thái Sơn! Ðây là Thẩm Quyền 5! Cố gắng lên em! Em giỏi lắm! Cố gắng lên em!”
Ngay khi chiến dịch kết thúc, dù đang bận rộn, Thẩm Quyền 5 cũng cố gắng bay về Quân Y Viện Pleiku thăm hỏi tôi một lần. Trận này tôi bị thương nặng, vỡ xương vai. Ðầu tháng 12 năm 1969 trực thăng của Thẩm Quyền 5 đã bị địch bắn cháy ngay khi vừa cất cánh rời Căn cứ Hỏa Lực số 6 Ngok Ring Rua. Tôi được tin đau lòng này trong khi đang tham dự chiến dịch giải vây cho Trại Lực Lượng Ðặc Biệt Bu Prang, Quảng Ðức. Nay tôi đem quân trở lại chiến trường xưa, thì người chỉ huy vừa can trường vừa đức độ của tôi đã không còn! Thêm vào đó, vùng hành quân này cũng đã mất tên, danh hiệu quân sự “Biệt Khu 24” chỉ còn trong dĩ vãng. Chúng tôi vỏn vẹn chỉ có trên dưới sáu chục mạng, chứa không đầy tám chiếc HU1D (thường được gọi là UH1D) nên việc đổ quân xuống sân của hậu cứ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh cũng thật là dễ dàng.
Tôi để lại trên đỉnh Ngok Long một anh y tá, một toán sáu trinh sát viên, ba anh truyền tin cùng với hai máy PRC 25 và cây angten 292, rồi bay về Tân Cảnh ở với Ðại đội 2 Trinh Sát của Thiếu úy Ðinh Quang Biện.
Chúng tôi tá túc trong căn nhà tôn sát nách câu lạc bộ. Còn hai anh cố vấn Mỹ của tôi thì ngủ nhờ trong căn nhà vòm chứa ban Cố Vấn Hoa Kỳ của trung đoàn. Tôi vào Trung Tâm Hành Quân để họp bàn với ông trung tá trung đoàn trưởng. Ông trung đoàn trưởng là một sĩ quan đã luống tuổi, phong cách rất từ tốn và hiền hòa.
Thấy tôi có vẻ băn khoăn trước bức tường sừng sững, ghép bằng những tấm bản đồ tỷ lệ 1/100,000 trước mặt, trên đó, nơi tôi dự trù sẽ đổ quân lại nằm trong vùng oanh kích tự do, ông vội nói:
– Trung úy yên tâm! Quân đoàn đã thông báo rằng, ranh giới oanh kích tự do sẽ bị đẩy xa về hướng Ðông thêm 6 cây số nữa trong suốt thời gian Biệt Ðộng Quân hiện diện.
Ông tỏ ra rất vui khi biết tôi xuất thân Khóa 20 Võ Bị. Ông cho tôi hay đại đội phòng vệ hậu cứ của ông hiện giờ cũng do Trung úy Tuân, bạn cùng khóa của tôi chỉ huy. Ông cho chúng tôi mượn một chiếc xe Dodge 4×4 để sử dụng cho việc chợ búa và tiếp tế nước dùng hàng ngày. Lần hành quân này tôi được chỉ thị rõ ràng là chỉ làm công tác trinh sát thuần túy. Do đó, tôi không dự trù bất cứ hành động nào nhằm sử dụng pháo yểm hay không yểm cho các cánh quân.
Tiêu lệnh đề ra cho ba toán Viễn Thám bắt buộc phải tuân theo:
“Nếu bị bại lộ thì tự vệ, rồi chạy!”
Trước khi bay lên Tân Cảnh, tôi có ghé Phòng 2 Quân Ðoàn vài phút, tôi đã trực tiếp nghe Trung tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Khu 2 nhắc nhở:
– Trung tướng (Lữ Lan) muốn cậu vào vùng là để tìm mục tiêu cho Ðại úy Ngọc! Tránh giao tranh, càng ít càng tốt!
Ðại úy Ngọc là Trung Tâm Trưởng, Trung Tâm Mục Tiêu của Phòng 2 Quân Khu 2. Trung tâm này là nơi tổng kết tin tức địch toàn Vùng 2 Chiến Thuật rồi thiết lập các sơ đồ oanh kích B 52 để Tư lệnh Quân Khu chuyển giao cho Mỹ thi hành. Nhiệm vụ của tôi là theo dấu Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công của Mặt Trận B3 Cộng-Sản. Ðơn vị Việt-Cộng này lâu nay thường quấy rối, đánh mìn, phục kích đoạn Quốc lộ 14 gần Tân Cảnh và quận lỵ Dak Tô. Trung tá Tiếu cho tôi hay, trước đây, Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công hoạt động trong vùng Bắc Dak Mot tức là hướng chính Bắc của Phi Trường Phượng Hoàng. Nhưng gần đây, các đơn vị Dân Sự Chiến Ðấu của hai trại Dak Séang và Ben Het liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân liên ranh hướng Tây Quốc lộ 14, nên đơn vị này phải chạy về ẩn náu trong khu vực núi non hướng Ðông thị trấn Tân Cảnh.
Theo tôi suy đoán thì khu vực rừng rậm quanh chân hai ngọn núi Ngok Wan và Ngok Sie là vùng đáng nghi ngờ nhứt để Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công Cộng-Sản trú ẩn. Hôm sau, ba toán Viễn Thám được thả; toán An Giang xuống làng Bon Du bốn cây số Ðông Bắc Quận lỵ Dak Tô; toán Bắc Bình xuống làng Dak Men cách Tân Cảnh năm cây số về hướng Ðông Bắc; còn toán Cam Ranh thì nhảy xuống ngọn đồi tranh chỉ cách đài tiếp vận Ngok Long chừng hai cây số về hướng Tây; toán này vừa giữ nhiệm vụ tiếp cứu hai toán đầu, vừa kiểm soát con đường xe be từ làng Dak Long 1 tới Quận lỵ Dak Tô.
Hai ngày trôi qua bình yên. Ngày thứ ba toán An Giang của Thiếu úy Minh báo cáo rằng, trên bờ suối Dak Rơnu có nhiều dấu chân voi thồ vượt cạn theo hướng Ðông, Tây. Ước tính đoàn voi vận chuyển này cũng cỡ năm, bảy con voi thồ, cùng hàng chục người đi theo bảo vệ. Tôi ra lệnh cho toán này men theo con đường thồ leo lên đỉnh ngọn núi nằm giữa Dak Rơnu và Dak Sing, rồi kiếm một vị trí thuận lợi giăng mìn phục kích địch để kiếm tài liệu. Qua ngày thứ tư, Thiếu úy Nhờ trưởng toán Bắc Bình cũng báo, toán của anh vừa phát giác một khu doanh trại bằng tre nứa có nhiều hầm hào phòng thủ trong khu rừng già, bên cạnh một bãi ngô. Nơi này nằm trên con đường xe be cũ cách Dak Men khoảng một cây số về hướng Bắc. Lực lượng địch ở đây ước chừng một đại đội chính quy, người Bắc.
Tôi thấy con đường từ Dak Men vào tới khu trú quân của địch là độc đạo, bên trái là đồng cỏ tranh, bên phải là vách núi, nếu bị địch phát giác chặn nút hai đầu thì toán của ông Nhờ khó thoát. Tôi bèn ra lệnh cho Bắc Bình leo ngay lên đỉnh ngọn núi hướng chính Ðông con lộ. Sau đó toán sẽ men theo triền núi tiến về hướng Ngok Sie. Từ trên cao họ có thể nhìn thấy những ngọn khói bốc lên trong thung lũng dưới chân núi. Những cụm khói này cho ta biết khái quát vị trí nghi ngờ có địch. Xế chiều, khi bản tin trong ngày của tôi vừa được mã hóa chuyển đi thì ông hạ sĩ quan trực hành quân của bộ binh tìm gặp tôi và báo rằng Trung tá Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân cần gặp tôi gấp trên hệ thống máy PRC 74. Trên hệ thống truyền tin này chúng tôi có thể đàm thoại với nhau bằng bạch văn.
Ðầu dây bên kia, Trung tá Trịnh Văn Bé, Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân nói:
– Này Long! Có thằng đồ đệ của cậu từ Hội An vào. Nó ở nhà mình cả tuần lễ rồi. Nó đang chờ gặp Long! Có về được không thì cho nó hay? Nghe nói nó còn phải đi Vũng Tàu học truyền tin. Nếu phải chờ lâu, chắc nó bị lỡ ngày khai giảng.
Nghe hỏi, tôi ngớ người ra,
– Tôi không có thằng đồ đệ nào đang ở Hội An cả! Chắc là ai đó lầm người!
– Nó xưng tên là Nguyễn Hồng Phong, lính của Long từ ngày Long mới ra trường, khi Tiểu Ðoàn 11 còn ở ngoài Ðà- Nẵng.
Thế là tôi nhớ ra ngay,
– Nếu nó xưng tên là Nguyễn Hồng Phong thì nó là thằng đồ đệ ruột của tôi ngày xưa đó! Bình Minh cho nó tá túc ít ngày, chờ tôi về!
“Bình Minh” là danh hiệu truyền tin của Trung tá Trịnh Văn Bé. Ông Bé có căn nhà trong cư xá Trần Quý Cáp, vợ con ông còn ở Sài-Gòn, nên ông cho tôi và Thiếu úy Ðặng Hữu Duyên, sĩ quan tiếp liệu của liên đoàn ở nhờ một phòng. Trong nhà còn có hai người đàn em của tôi là Trung sĩ Nguyễn Lác và Hạ sĩ Nguyễn Tiến, tài xế. Có lẽ chú Phong đang tá túc trong nhà Trung tá Bé, nên ông Bé mới nói:
“Nó ở nhà mình cả tuần lễ rồi.”
Ngay lúc ấy, Trung sĩ Nguyễn Lác cũng xen vào,
– Trình Thái Sơn, năm 1966 em là binh nhì, tân binh ở Ðại đội 1, anh Phong đã là hạ sĩ ở Ðại đội 3. Anh Phong là người nấu cơm cho Thái Sơn. Anh Phong bây giờ là trung sĩ đang ở Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, nhân chuyến đi học truyền tin, anh ấy ghé thăm Thái Sơn. Ảnh có đem theo mười con cua Cửa Ðại. Cua là do má của Thái Sơn gửi vào, nhưng chờ lâu quá, cua chết hết rồi! Ðể em đưa máy cho anh Phong nói chuyện với Thái Sơn nhé!
Hình như chỉ chờ có thế, đầu dây bên kia đã có tiếng người nghẹn ngào:
“Không có gì để nói hết nỗi xúc động, sự căm phẫn và hơi thở nhẹ nhàng khi đọc những Tác phẩm Tạp ghi của Nhà văn Huy Phương. Ông là người có con mắt tinh đời, có một tâm hồn nhạy cảm và một khối óc sắc bén khi nhìn sự việc và con người.Mỗi tác phẩm, mỗi câu chuyện kể của Huy Phương có thể làm cho người đọc khó chịu, bức xúc và căm ghét nhưng mỗi chữ, mỗi câu văn của ông đều có chứa hơi thở và lòng nhân hậu của một Nhà văn. Ông rất yêu đời, rất bình yên và nhũn nhặn dễ thương nhưng cũng có khi ông bực dọc, phiền muồn và ghét cay ghét đắng với những gì ông nhìn thấy hay cảm nhận được ở xung quanh một con người hay một sự vật.
Huy Phương viết nhẹ nhàng, viết táo bạo và đôi khi cũng rất cay nghiệt và gay gắt như muốn bung ra khỏi chiếc cũi sắt của tâm hồn, nhưng cuối cùng ông lại nhũn nhặn, khôi hài và rất dễ thương. Ông biết nhiều, viết nhiều chuyện khác nhau của cuộc đời, đưa ra nhiều tấm gương, phản ảnh lên nhiều bài học làm người, cả những mảng tối trong đáy sâu của trái tim cũng khó mà thoát khỏi ngòi bút sâu sắc của Huy Phương.
Nhưng trên tất cả, người lính VNCH và thảm cảnh của cuộc chia lìa đứt ruột 30 tháng 04 năm 1975 của người Việt miền Nam Việt Nam vẫn là hình ảnh vĩ đại nhưng bi thảm nhất trong tất cả dòng văn cuồn cuộn rất đáng trân qúy của Huy Phương.
Ông đã để lại cho người Việt lưu vong một kỷ niệm nhớ mãi không phải bây giờ mà mãi mãi về sau.”
Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo Orange County. California.
Huy Phương, một nhà văn có tài, có tâm.
– Tôi nhận ra một tấm lòng yêu mến quê hương, dân tộc Việt Nam của Huy Phương và tôi đồng cảm với Huy Phương ở điểm đó.
Năm 2005 tôi sang Cali này, bước vào một nhà sách,tôi cầm lên cuốn tạp ghi của Huy Phương, cuốn tạp ghi đầu tiên này là cuốn “Nước Mỹ Lạnh Lùng,” xuất bản vào năm 2001. Sau khi tôi đọc “Nước Mỹ Lạnh Lùng,” tôi lại ra nhà sách và thấy cuốn thứ hai là cuốn “Đi Lấy Chồng Xa” xuất bản vào năm 2006. Và cứ từ đó tôi theo dõi gót chân của Huy Phương, từng cuốn xuất bản và tôi đều đi mua về đọc, rất kỹ, từng trang, từng trang. Những lần tôi phải ra phi trường, chờ đợi máy bay, tôi cũng lật từng trang sách của Huy Phương để đọc, tôi tìm lấy ở đó những suy tư, những trăn trở, những thao thức, những chiều sâu tâm linh, và không hiểu làm sao từ đó, tôi lại kết thân với với bộ sách của Huy Phương.
“Nhìn Xuống Cuộc Đời” 2009
“Hạnh Phúc Xót Xa” 2010
và hôm nay: “Quê Nhà Quê Người” 2011.
Tôi đếm được tất cả được tất cả 323 bài của tác giả, những bài có tính cách suy tư, qua những việc xẩy ra trong cuộc đời này mà một tác giả đã nhận định:
“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!” Tôi thấy những điều Huy Phương nhìn thấy đã xẩy ra trong cuộc đời làm cho tác giả rất đau đớn, và trong nỗi đau đớn đó, trong lòng Huy Phương, nó trào dâng, thao thức cho quê hương, cho dân tộc và lúc gần đây ta thấy tác phẩm của Huy Phương càng ngày càng nhiều.
“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” đó, nó như những mũi khoan, nó khoan vào những cái ….. hay giống như những mũi kim đâm vào lòng Huy Phương và từ đó các bài tạp ghi nó cứ cuồn cuộn trào dâng,
giống như những biến cố đau thương của quê hương, đất nước ở quê nhà, cũng như những việc thời sự đã xẩy ra ở hải ngoại, quê người này và đồng thời cộng thêm với sự đón tiếp của độc giả, Huy Phương ngày hôm nay đã ra mắt độc giả đến tác phẩm thứ 6.
Tôi là một linh mục thích đọc Huy Phương, không những thích đọc Huy Phương, mà hôm nay tác giả lại còn liều mạng mời tôi đến đây để giới thiệu cuốn tạp ghi của Huy Phương, tôi gọi là ông ấy liều. Tôi và ông ấy chưa bao giờ gặp nhau, chỉ mới gặp khi bước chân vào đây và tôi cũng mới nghe giới thiệu Huy Phương là một Phật Tử, trong khi tôi là một ông Linh Mục Công Giáo, thế có liều không chứ?
Tôi nhận ra một tấm lòng yêu mến quê hương, dân tộc Việt Nam của Huy Phương và tôi đồng cảm với Huy Phương ở điểm đó, và đồng thời là một linh mục nên luôn luôn tôi có cái tâm hướng thiện và tôi cũng đọc nơi Huy Phương, như ông Nguyễn Xuân Nghĩa đã giới thiệu hồi nãy, là một nhà văn có tài và có tâm.
Tôi cũng gặp được cái tâm của Huy Phương, cho nên ở một góc độ một linh mục, đứng trên tòa giảng nhiều lần, tay cầm cuốn Phúc Âm, nhưng một tay kia, tôi lật mở những trang sách của Huy Phương để nẫy ra những câu chuyện đời, minh họa cho những lời của Giê Su nói ở trong Phúc Âm.
Mà những câu chuyện của Huy Phương viết ra rất sống, rất thực trong cộng đồng của chúng ta, cho nên ngày hôm nay, Huy Phương mời tôi đến đây, tôi xin chia xẻ với quý vị những điều gì tôi đã lấy được ở nơi Huy Phương, khi tôi đứng trên tòa giảng, tôi trình bày ở góc độ đó.
(Trích phát biểu trong buổi giới thiệu cuốn “Tạp Ghi” của Huy Phương, chiều 19 Tháng 11, 2011, tại Hội quán Người Việt, California.)
– Ông viết như người gánh vác nỗi trầm luân của người khác.
Từ sự chủ quan của mình, chúng tôi xin lần lượt nêu hai câu hỏi:
Vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi?
Huy Phương viết như thế nào?
***
Tôi tự hỏi vì sao Huy Phương viết Tạp Ghi, rồi trả lời rằng yếu tố tôn giáo. Và xin nói trước là sẽ không giảng đạo. Tôi nghĩ đến cây Thánh giá. không là người Công giáo, tôi vẫn tin rằng ai ai trong chúng ta cũng có cây thánh giá trên mình. Người thì đeo trước ngực, đôi khi bằng quý kim có nạm kim cương nặng tới mấy carat. Người khác thì oằn mình với cây thánh giá bằng gỗ, bằng sắt, đôi khi còn có kẽm gai trên lưng.
Là một Phật tử, Huy Phương đã nhận cây thánh giá nặng nề, như phần nhiệm vụ của mình trong thời chiến khi nhập ngũ. Khi chiến tranh kết thúc thì vác thêm cây thánh giá còn nặng gấp bội, qua bảy năm bị tập trung cải tạo. Ra khỏi vùng đất u tối hãi hùng của quê hương và đặt chân lên nước Mỹ, ông tiếp tục bưng cây thánh giá, nay đã thành cây bút ngàn cân, để hàng tuần viết tiếp ….
Nhưng khác với ngày xưa, Huy Phương không viết văn và làm thơ nữa, mà trở thành cây bút sâu sắc, bền bĩ và xuất sắc với thể loại tạp ghi. Ông viết như người gánh vác nỗi trầm luân của người khác. Không phải là đứa con trai duy nhất của Đức Hùng Vương, mà có lẽ cũng chẳng bị Tổ Quốc đòi nợ, ông viết trong tinh thần làm tròn bổn phận của con dân và để duy trì được cái Việt tính cao quý mà thật ra rất mơ hồ của dân tộc.
Chúng ta có thể gọi đấy là cái nghiệp. Chúng tôi xin gọi đây là cái duyên, cho chúng ta. Chỉ vì giữa trăm ngàn câu hỏi lớn nhỏ hàng ngày về cách sống và suy nghĩ trong một môi trường hết còn là Việt Nam, Huy Phương vẫn điềm đạm, bền bỉ và duyên dáng nói về cách hành xử ông cho là thích hợp nhất, suy từ chuyện xưa qua chuyện nay, chuyện quê nhà và quê người.
Cho nên, theo thiển ý, Huy Phương viết mà không để làm văn và để có chỗ đứng trên văn đàn. Ông viết vì sự thôi thúc vô hình của một quan niệm về đạo lý. Ông tiếp tục kê vai vào cây Thánh giá chung của cả dân tộc dù chẳng ai bắt, không ai đòi và dù nhiều người trau chuốt một cây thánh giá lấp lánh trên ngực. Động lực có thể là tình bằng hữu với các chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, hay lòng yêu nước, hoặc sự ái ngại về quê hương, xã tắc, đồng hương, đồng bào ….
Cũng có thể là một trí nhớ không hề nguôi ngoai về một Việt Nam lý tưởng chưa có mà đã mất. Trí nhớ ấy mới là mảnh kim cương vằng vặc trong tim của tác giả. Cho nên, nếu ra khỏi nỗi ám ảnh về cây Thánh giá mà nói theo người Phật tử, tôi xin liều lĩnh phát biểu rằng Huy Phương viết để “giải nghiệp”, không phải cái nghiệp của bản thân mà cả cái “cộng nghiệp” của dân tộc.
***
Tôi xin bước qua câu hỏi thứ hai, tác giả viết như thế nào?
Mỗi người cầm bút lại có một động lực và hoàn cảnh sáng tác riêng. Với Huy Phương, và có lẽ từ trong vô thức, ông cầm bút như một nhà luân lý. Không phải vì ông từng là một nhà giáo mà có lẽ vì ông thấy bất bình về quá nhiều chuyện chung quanh nên viết là để phân định đúng sai. Như đã tự ôm lấy một cây thánh giá, ông còn tự chọn lấy một chặng đường khổ ải.
Vì, như các cụ mình thường nói, “biết ai dại, biết ai khôn”? Và trong cái lẽ “thị phi biện biệt” của Phật giáo thì làm sao xác định cái đúng trong đời sống, nhất là đời sống bên Mỹ này, là môi trường hàng ngày của tác giả? Một thí dụ là nước Mỹ có vô tình hay không? Thí dụ khác là ta nên sống theo hoàn cảnh mới, ở bên Mỹ này, hay vẫn cứ phải ngoái về những giá trị của quá khứ? Khi ăn cưới thì nên tránh thói tật gì, mà để làm chi, nếu không phải là tìm ra một luân lý hợp lý khác trong lối sống, trong hoàn cảnh mới?
Nói thì có vẻ lớn lao, chứ thật ra, Huy Phương có ý chí làm thay đổi cách sống và suy nghĩ của chúng ta để khỏi cúi đầu phản ứng mà chủ động hành xử sao cho tử tế hơn. Từ cái nhân đó trong tâm, ta mới hy vọng gieo mầm cho kết quả tốt đẹp hơn cho gia đình, cộng đồng và đời sống. Nhưng khi là nhà luân lý như vậy thì người ta rất dễ gây động chạm. Thay vì cùng đám đông ồn ào kêu gọi “xin quý vị cho một tràng pháo tay” để mọi người tâng bốc nhau trong tinh thần tự mê, Huy Phương viết thẳng ra những điều ông cho là sai. Cũng với tinh thần luân lý đó, tác giả phê phán chế độ đang cai trị Việt Nam hiện nay, không từ góc cạnh tư tưởng ý thức hệ như nhiều nhà lý luận về chính trị, mà từ giác độ của đạo lý con người. Và quả nhiên là ông làm nhiều người phật ý vì đi ngược với đám đông. Khi nhiều người muốn sống theo lối “đừng lay tôi nhé cuộc đời”, Huy Phương lại là người lay động. Và chấp nhận trả giá cho việc đó. Ông không chỉ có cái bi mà còn có cái dũng, là không sợ. Cầm bút viết tạp ghi, mà lại viết đều đặn hàng tuần từ cả chục năm nay, chưa kể nhiều tiết mục khác phải hoàn tất trong ngày, trong tuần, người viết nào cũng gặp vấn đề là chọn đề tài. Viết gì đây cho tuần này, nhất là trong những ngày không có thời sự hay tập quán lễ lạc làm cái đinh cái mốc để treo bài viết? Tôi thiển nghĩ rằng Huy Phương không gặp vấn nạn đó.
Lý do là lòng ông thường trực mở ra 360 độ, như một con cầu gai, để thấy bất cứ gì ở chung quanh cũng có thể là đề tài. Từ chuyện thi hoa hậu đến chuyện mấy ông sư ca hát trong chùa, từ chuyện tử tế của vợ chồng người Mỹ gốc Mễ ở ven bờ xa lộ đến cách người ta không thèm giữ cửa tự động cứ để bật vào mặt kẻ đi sau, v.v … chuyện gì ông cũng quy vào đạo lý Việt Nam và cách hành xử cho văn minh, nhân bản.
**
Đấy là vài đặc tính của Tạp Ghi Huy Phương mà bản thân chúng tôi nhìn ra từ sự chủ quan của mình. Kết luận ở đây là “kết quả ra sao”?
Ra ngoài chợ, chứ không ở trong chùa hay trong nhà thờ, đôi khi ta có gặp nhiều người đứng đường giảng đạo, hoặc cảnh báo về ngày tận thế, hoặc kêu gọi loài người chấn hưng đạo đức …. Chúng ta phải kính trọng những người đó. Nhưng thường thì bước qua chỗ khác. Tò mò lắm thì đứng xa xa để nghe. Hào phóng lắm thì lấy ra vài đồng quyên góp hay úy lạo và tự nhủ rằng hôm nay ta đã làm một việc thiện. Nhưng như mọi người đều biết và đã nói, về một hiện tượng gọi là sự mệt mỏi của từ tâm. Chán rồi cũng chẳng ai muốn nghe muốn hiểu thêm về sự hoạn nạn hay khổ ải của người khác. Hoặc tại sao chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và hành xử? Số phận của các nhà luân lý thường là sự hẩm hiu, sự cô đơn giữa đám đông.
Huy Phương không gặp số phận đó. Ngoài một tác phẩm văn chương, ông đã xuất bản sáu cuốn Tạp Ghi và sở dĩ còn xuất bản là vì còn có người đọc. Huy Phương không thuộc loại người ăn nên làm ra nên làm thơ, in lấy thơ mình để giúi vào tay người khác như một hình phạt. Ông có độc giả của ông.
Lý do là nhà luân lý này viết truyện rất hay, dẫn chuyện rất khéo, với nghệ thuật rất thâm thúy. Mà trong lời phê phán thì vẫn có thái độ ái ngại, ân cần, một chủ đích hướng thiện. Cái tâm và cái tài của ông giải thích sự thành công đó. Độc giả không giận mà còn cám ơn ông về những nhắc nhở dí dỏm, những giai thoại mà mình nên biết và không thể quên. Chúng ta rất mừng là trong cõi đời vật chất vàng thau lẫn lộn, trắng đen nhập nhòa này, cộng đồng chúng ta vẫn còn những cây bút như vậy. Đó cũng là một biểu hiện khác của văn minh.
Xin kính mừng tác giả, cảm tạ quý vị đã chịu khó theo dõi lời phát biểu này và mong rằng mỗi người nên có một cuốn Tạp Ghi cho gia đình. Và vài cuốn khác cho những bằng hữu họ hàng mà mình quý trọng.
(Bài phát biểu hôm ra mắt cuốn “Tạp Ghi” của Huy Phương, chiều 19 Tháng 11, 2011, tại Hội quán Người Việt, miền Nam California.)
Hồi tôi mới chân ướt chân ráo đến Mỹ, biết tôi cũng nòi thơ văn vớ vẩn, một ông anh lớn tuổi đã chặn đầu, “giáo dục” tôi bằng những lời lẽ khá nặng nề: “Nước Mỹ rất thực tế, sang đây rồi thì ráng mà chăm chỉ kéo cày, đừng có mơ mơ mộng mộng, mà có ngày vào nhà thương điên!”
Tôi chưa có dịp tìm hiểu người Mỹ trên đất nước này có biết buồn hay không, hay cuộc đời họ chỉ có chán nản, thất vọng, thất tình, thất nghiệp và sạt nghiệp … mà những thứ này, tôi tin có thể giải quyết bằng rượu, rong chơi, vùi đầu vào cờ bạc hay nhảy từ cầu Golden Gate xuống vịnh San rancisco. Tình yêu nam nữ có thơ mộng không, họ hẹn hò ở đâu? Tiệm ăn, sòng bài, party hay trên giường ngủ, vì vậy mà thời nay khó có một “Le Lac” của Lamartine hay một “Chiều Vàng” của Nguyễn Văn Khánh. Bây giờ mà hẹn hò nhau bên bờ hồ hay trên một ngọn “đồi xanh” thì quả là phải coi lại vấn đề tâm thần.
Giờ đây, người ta có bao giờ nghĩ đến một tà áo, một mái tóc hay một quãng đường đi, bây giờ âm nhạc cho tình yêu chỉ còn lại trần trụi, “yêu em thật sâu, yêu em thật lâu!” Cũng đã hết một thời với những tờ thư ép vào tập sách hay khó khăn để nói được một lời, hay là … không nói gì hết. Mọi thứ đều đã thay đổi.
Chúng tôi đến đây khi đã quá nửa đời người, khi bước vào tuổi già đã không theo kịp và cùng chung sự suy nghĩ như tuổi trẻ, trở nên lạc lõng như người còn rơi rớt lại từ những quãng đời đã xa. Bây giờ đã nhiều năm trôi qua, chất chồng vì năm tháng, tôi thấy tôi vẫn còn mơ mơ mộng mộng và càng lúc càng buồn, nhưng chưa phải vào nhà thương điên lần nào! Nói như ông anh, thì có lẽ ở xứ sở này, con người không biết yêu và cũng chẳng biết buồn, nhưng thật ra, là hơn hai mươi năm ở Mỹ, nỗi buồn tôi cộng lại nhiều hơn cả năm mươi năm ở quê nhà. Phải chăng vì vậy mà ở đây có nhiều người rụng tóc vì buồn (rầu rụng tóc,) hay tóc bạc sớm vì lòng không thấy vui (tâm sầu, bạch phát!)
Không biết buồn làm mất ngủ hay những đêm mất ngủ làm cho người ta buồn. Có người nhắc lại “những tiếng động ban đêm” của Quốc Văn Giáo Khoa Thư ở nhà quê, với tiếng mọt nghiến gỗ, tiếng con thằn lằn bắt muỗi trong nhà hay cả ngoài kia tiếng dế kêu ri rỉ, ếch nhái kêu vang, xa xa còn tiếng chó sủa trăng. Còn đêm ở Saigon, dù đã nửa khuya vẫn còn nghe tiếng xích lô máy nổ phành phạch, tiếng còi xe ai qua đường vội vã, tiếng mì gõ nghe xa dần trong con hẽm vắng, tiếng chó sủa hay tiếng động cơ máy bay lên xuống vẳng lại từ phi trường. Những ngày chiến tranh, còn nghe tiếng đại bác ầm ì vẳng lại, tiếng pháo hỏa châu mới nổ lụp bụp đâu đó. Khi trời chưa sáng tỏ, Saigon đã thức dậy cùng với tiếng xe cộ trên đường gần xa, và ồn ào, hùng hổ, rõ nhất vẫn là tiếng xe xích lô máy, át hẳn tiếng xe ngựa thồ, gõ nhịp trên đường nhựa, đưa những món hàng từ ngoại ô vào thành phố. Có dạo tôi lưu lạc về Xóm Cỏ ở đầu đường Phan Thanh Giản, gần xa lộ, nhà ở trong con hẻm nhỏ, mỗi đêm vẫn nghe tiếng chuyện trò ồn ào của những người khách ngồi khuya ở quán cà phê đầu ngõ, tiếng trẻ con khóc, tiếng cải vã, chửi nhau của đôi vợ chồng nào đó. Nửa khuya, nếu chưa ngủ được, như thường lệ, còn nghe tiếng gót giày của cô vũ nữ ở cuối xóm trở về nhà.
Bây giờ ở Mỹ, những đêm mất ngủ mới thấy nước Mỹ yên tĩnh lạ thường. Trong những thành phố lớn, phức tạp đôi khi còn nghe tiếng còi hụ của xe cảnh sát vẳng lại trong đêm, nhưng ở những vùng ngoại ô, đêm gần như hoàn toàn yên tĩnh. Có chăng là nghe tiếng nước tưới tự động trong vườn làm cho chúng ta nhớ đến những cơn mưa. Sự yên tĩnh làm cho con người già mất ngủ cảm thấy buồn thêm. Người ta buồn vì tất cả đều đã thay đổi. Người ta buồn vì đã bước đến tuổi già, bỏ thanh xuân, thơ ấu lại đàng sau. Người ta buồn vì gốc cây già đã bứt xa gốc rễ, cội nguồn. Người Việt lưu vong, xa xứ quả buồn thật. Tôi đã nhìn thấy buổi sáng trong công viên, những người Việt đi bộ, mặt cúi gầm xuống đất, chẳng hề nở một nụ cười hay mở lời chào hỏi ai. Tôi đã nhìn thấy những vị cao niên ngồi đợi ở trạm xe bus, mặt mũi đăm chiêu, rười rượi nỗi buồn.
Có phải họ đã ra đi, gửi tấm thân lưu lạc ở quê người. Có phải mỗi đêm thức giấc nhớ lại bản tin từ quê nhà, lòng không khỏi đau xót, vì chúng ta không còn ở với quê hương nhưng quê hương vẫn còn trong lòng chúng ta. Sỏi đá, cỏ cây có nỗi buồn riêng nào đó hay không? Có phải đến lúc sức tàn lực kiệt, lực bất tòng tâm, giáo gươm hoen rỉ mà tâm sự để đời không biết gửi về đâu! Giấc mơ chưa thành mà “mối sầu như tóc bạc, càng cắt càng dài ra!” Mỗi ngày, mỗi ngày lại nghe bạn bè ra đi. Lâu lâu lại nghe tin một người lính năm xưa nằm xuống. Có ai còn thắp lên ngọn lửa cho ai? Liệu ngày về có còn xa hay không?
Bây giờ vừa mới đổi giờ, trời bắt đầu lạnh và sụp tối sớm hơn. Buổi chiều, ai cũng có vẻ vội vã trở về nhà.
Trong gian nhà ấy, không phải ai cũng được gặp những khuôn mặt thân yêu, quây quần trong bữa cơm ấm cúng, có khi là vợ, là con cái, cháu chắt và những câu chuyện pha lẫn tiếng cười. Trên cao ốc vô hồn vắng lặng, trong dãy nhà lạnh lẽo kia, có những người đang sống một mình, nén nỗi buồn xuống tận đáy lòng, cố dìu mình vào giấc ngủ, có khi sợ cả một buổi sáng mai phải thức giấc, không phải để có được thêm một ngày yêu thương, mà thêm một ngày để thất vọng.
Bây giờ những ngày lễ lớn không còn đem lại niềm vui háo hức như những ngày thơ ấu cũ, nó là những cột mốc đánh dấu cho chặng đường cuối cùng. Đêm lại đến, đem về sự yên tĩnh, nỗi buồn như cơn sóng xô mãi vào bờ:
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.