vietmessenger.com
Erich Maria Rematque
Bản dịch Tâm Nguyễn
Post by Sơn râu 26 Mar 2026



Nghĩ cũng kỳ là ở nhà, trong ngăn kéo bàn giấy của tôi còn nằm khúc đầu của một vở kịch nhan đề là «Saul» và một tập thơ. Lắm đêm tôi ngồi viết – chúng ta ai mà không làm một thứ gì đại loại như thế nhưng đối với tôi chuyện đó đã thành như huyễn khiến tôi không còn làm sao hiểu nổi.
Thời niên thiếu của chúng tôi bị cắt ngang hẳn từ cái lúc chúng tôi đến đây, cắt mà chúng tôi không hề nhắc tay. Chúng tôi thường cố nhìn lại để tìm một giải thich, nhưng không hề tìm ra. Đối với chúng tôi những thằng thanh niên hai mươi tuổi cái gì cũng mơ hồ một cách kỳ lạ, thẳng Kropp, thẳng Muller, thằng Leer và thằng tôi, những thằng mà lão Kantorek mệnh danh là «Thanh Niên Sắt». Tất cả những người đứng tuổi đều có liên hệ với nếp sống trước kia của họ. Họ có vợ, có con, có công ăn việc làm, có quyền lợi này khác, họ cỏ một hậu cảnh mạnh mẽ mà chiến tranh cũng không xoá nồi. Còn chúng tôi những thẳng thanh niên hai-mươi tuổi, chúng tôi chỉ có cha có mẹ, và có thằng, có lẽ, có nàng – đâu có gì nhiều, vì vào cái tuổi chúng tỏi ảnh hưởng cha mẹ là đến thời suy nhược nhất và các nàng thì cũng chưa nắm vững được chúng tỏi. Ngoài ra chả còn gì khác – một chút hăng hái, một vài sở thích vặt và học đường. Đời sống chúng tỏi không đi xa hơn thế. Ấy thể mà chẳng còn lại gì. Kaptorek hắn nói rằng chúng tôi đứng trên ngường cửa đời sống. Và trông thi có vẻ như thế. Chúng tôi chưa hề bắt rể. Chiến tranh đánh giạt chúng tôi. Đối với họ, với những người có tuổi, chiến tranh là. một lũng đoạn. Họ còn có thể suy tư qua nó. Còn chúng tôi bị nó níu lấy và không biết chung cuộc ra sao. Chúng tôi chỉ biết rằng chúng tôi đã trở thành một mảnh đất hoang có phần kỳ dị có phần buồn buồn. Thì cũng vậy, chúng tôi cũng chẳng hay buồn.

Mặc đầu Muller hẳn sung sướng nếu lại được đôi bốt của Kemmerich thật ra nó cũng như ai vậy, cũng xúc cảm, cũng khỏng thể nghĩ đến một điều như thế mà không buồn bực. Nó chỉ có nhìn sự vật một cách sáng suốt. Nếu như Kemmerich lại sử dụng được đôi bốt, thì Muller hẳn thà là đi chân không dặm lên dây thép gai còn hơn là nghĩ mưu chiếm đoạt đôi bốt. Nhưng sự thế nó là thế, đôi bốt trở thành vô dụng dối với Kemmerich, nhưng với Muller thi lại rất hữu dụng. Kemmerich sẽ chết: ai được đôi bốt là điều không quan trọng. Thế thì tại sao Muller lại không được thừa kế? Nó có quyền hơn là một anh y tá. Khi Kemmerich chết thì muộn quá rồi. Nên Muller phải lo rình rập. Chúng tỏi không còn suy nghĩ gì đến cái gì khác, vì cái gì thì cũng là giả tạo. Chỉ có các sự kiện là thật và là quan trọng đối với chúng tòi. Mà bốt tốt thì rất hiếm.
Có dạo vấn đề từng khác hẳn. Khi chúng tòi đi đến tòa Tổng trấn để nhập ngũ, chúng tôi là một lớp hai mươi thanh niên trong số có nhiền thẳng hãnh diện là lần đầu tiên được cạo râu trước khi đến doanh trại. Chúng tôi không có ý định gì nhất định về tương lai của mình. Những ý nghĩ của chúng tôi về một sự nghiệp hay một nghề nghiệp còn mang nặng tinh chất viễn vông nên chưa thể bảo là một kế hoạch sinh hoạt. Đầu óc còn đầy đặc những quan niệm mơ hồ gán cho đời sống và cả chiến tranh nữa một tinh chất lý tưởng và gần như lãng mạn. Vào quân đôi chúng tôi được huấn luyện mười tuần lễ và trong thời gian ấy chúng tôi bị ảnh hưởng còn sâu hơn là mười năm ở trường. Chúng tôi học được rằng một chiếc khuy hỏng còn năng kí hơn là bốn pho Schopenbauer. Thoạt đầu bỡ ngỡ, rồi chua chát và sau cùng là thờ ơ, chúng tôi nhận thấy rằng điều quan trọng chẳng phải là tâm trí mà là bàn chải đánh giầy, chẳng phải là trí tuệ mà là chế độ, chẳng phải là tự do mà là tập tính. Chúng tôi đi lính với cả một lòng hăng say nhiệt thành nhưng họ đã làm đủ thứ để diệt trừ cái đó ra khỏi chúng tôi. Sau ba tuần chúng ta chẳng còn lạ gì rằng một anh phát thư đeo lon còn có quyền uy đối với chúng tôi hơn là cả cha mẹ mình, các thầy mình và cả toàn thể cái hệ thống văn hóa từ Plato đến Gorthe trước kia. Với đôi mắt thức tỉnh của tuổi trẻ chúng tôi thấy rằng cái quan niệm cổ điển về Tô quốc do các thầy chúng tôi giảng dạy ở đây được thu gọn lại thành một sự từ bỏ nhân cách đến mức mà ta chắc cũng không đòi hỏi ở kẻ tôi tớ hạ tiện nhất – nào chào, nào nghiêm, nào diễn hành, nào bồng súng chào, quay phải, quay trái, đánh gót, chửi rủa và hàng ngàn thứ lặt vặt vớ vẫn khác. Chúng tôi cứ ngỡ nhiệm vụ của chúng tôi khác thế, và rồi chỉ thấy mình được huấn luyện làm anh hùng giống như thể mình là những con ngựa xiếc. Nhưng rồi chả may lúc chúng tôi cũng quen? Chúng tôi học được rằng những cái này cũng có phần nào cần thiết, còn thì toàn là trò diễn xuất, Những nhận xét này lính chúng nó thính mũi lắm.
Lớp chúng tôi được chia ra từng nhóm ba hay bốn thằng tản mát sung vào các tiểu đội cùng với dân chài Frisian. Dân quê, cùng dân thợ mà chả mấy lúc chúng tôi kết bạn. Kropp, Muller, Kemmerich và tôi sung vào tiều đội 9 dưới quyền hạ sĩ Himmelstoss, Bác ta nồi tiếng là người kỷ luật khắc nghiệt nhất trong trại và lấy thế làm hãnh diện. Bác người nhỏ bé dưới mức trung bình, có bộ râu mép thoa sáp thẳng như râu chồn, có mười hai năm phục vụ và trong đời sống dân sự làm nghề phát thư. Bác đặc biệt thù ghét Kropp, Tjaden, Westhus và tôi, vì bác cảm thấy có sự âm thầm thách thức. Tôi đã phải làm giường cho bác mười bốn lần nội một buổi sáng. Mỗi lần bác lại bẻ hoẹ chê bai và giũ tung ra. Tôi đã phải nhào nặn một đôi bốt tiền sử cứng như sắt suốt hai mươi tiếng đồng hồ-dĩ nhiên cũng có nghỉ-cho đến khi nó mềm như bơ và đến cả Himmelstoss cũng không biết chê vào đâu được; theo lệnh bác tôi đã phải cọ cả Câu lạc bộ Hạ sĩ bằng một cái bàn chải đánh răng. Kropp và tôi được giao phó cái công tác quét sạch tuyết ngoài sân trại bằng một cái chổi với một thùng rác. Và chúng tôi chắc phải làm cho đến khi chết cóng nếu không được một ông trung úy bất ngờ xuất hiện cho chúng tôi bãi và nạo Himmelstoss một trận nên thân. Nhưng kết quả chỉ tổ làm cho Himmelstoss càng thù ghét chúng tôi thêm. Sáu tuần liền chủ nhật nào tôi cũng phải gát và làm dịch vụ lều cũng suốt một thời gian hồng ấy. Với đủ bộ lệ quân nhu súng ống trên vai tôi đã phải tập dượt trên một cánh đồng mới cày còn mềm, còn ướt, nào là Chuẩn bị tiến, tiến!» nào là «Nằm xuống đến khi tôi chỉ còn là một đống bùn và rốt cuộc nằm song soài. Bốn giờ sau tôi phải đến trinh diện Himmelstoss với binh phục gột rửa sạch sẽ, hai tay xây xát và rớm máu. Cùng với Kropp, Westhus và Tjaden tôi đã phải đứng nghiêm dưới trời sương giá tay không đeo găng suốt mười lăm phút, trong khi Himmelstoss canh chừng từng cử động nhỏ của các ngón tay để trần của chúng tôi trên báng thép của súng. Tôi đã phải chạy tám lần từ lầu thượng trại xuống sân mặc độc sơ-mi và hai giờ sáng chỉ vì ngăn kéo tôi lòi ra bảy phân quá cạnh chiếc ghế đẩu trên đó người ta xếp đống tất cả những vật dụng của mình. Chạy cạnh tôi là hạ sĩ Himmelstoss cố tình dẫm lên ngón chân không tôi. Khi tập đâm lưỡi lê, khi nào tòi cũng phải đấu với Himmelstoss, tôi với một vũ khi bằng sắt nặng, còn bác với một vũ khí bằng gỗ dễ sử dụng dễ bề nện vào cánh tay tôi cho đến khi bầm tím. Thật vậy, một lần, tôi nổi khùng liều mạng xông vào hắn giáng cho hắn một quả móc thôi sơn vào bụng khiến hắn nằm dài. Khi hắn tường trình nội vụ lên ông đại đội trưởng, ông ta biết Himmelstoss quá mà và thấy hắn tiu nghỉu ông ta khóng phải là không khoái trá ra mặt. Tòi trở thành một tay thiện nghệ về món chơi barre đôi và còn cố vượt cả huấn luyện viên về nhào lộn; – mỗi lần chỉ nghe cái giọng hắu là chúng tôi đã run lên, nhưng tên phát thư trốn nghề nay có bao giờ thắng nổi chúng tôi. Một chủ nhật Kropp và tôi đang hì hục đặt một thùng nước lên đầu cột ngang sân trại, Himmelstoss di ngang, binh phục chỉnh tề bốt bóng nhoáng, ra phố chơi. Hắn oai vệ đứng trưởc chúng tỏi hỏi chứ mấy chú có khoải cái công tác này không. Vô tình chúng tôi trượt tay làm đổ cả thùng nước lên cẳng hắn. Hắn cáu phải biết, nhưng cũng chỉ đến thế là cùng.
«Thế là tù, » hắn hét lên. Nhưng Kropp cũng chịu hết nổi. «Tù thì cũng phải điều tra trước đã,» nó nói, «và rồi cũng kể như pha. »
«Liệu hồn ăn nói với một vị hạ sĩ quan! »
Himmelstoss gầm lên. «Bộ mày điên sao chứ? Đợi người ta hỏi mày cái đã. Tao hỏi, chứ mày định làm cái thá gì? »
«Lật tẩy Hạ sĩ. » Kropp nói, hai ngón tay cái thẳng hàng với đường lai quần. Himmelstoss hiểu ý chúng tôi nên bỏ ra đi một nước chẳng nói chẳng rằng. Nhưng trước khi biến dạng hắn còn gầm ghè: «Ông thì sẽ cho biết tay! » – nhưng đây cũng là sự cáo chung của uy quyền hắn. Một lần nữa hắn cố tái lập quyền uy ngoài cánh đồng cày với cái trò «Chuẩn bị tiến, tiến» và «Nằm xuống. » Lệnh nào chúng tôi cũng tuân vì lệnh là lệnh phải được tuân. Nhưng chúng tôi tuân một cách chậm rải khiến Himmelstoss lộn tiết muốn hộc máu. Rất ư cần thận, chúng tôi từ từ quì xuống, rồi chống tay xuống và cứ thế: đồng thời hùng hùng hổ hổ, hắn ra một lệnh khác. Nhưng trước khi chúng tôi đổ mồ hôi thì giọng hắn cũng đã khè khè. Sau buổi đó hắn để chúng tôi yên. Dĩ nhiên mỗi lần nói đến chúng tôi là hắn lại rủa đồ chó đẻ, tuy nhiên giọng đượm vẻ kiêng nể.
Hạ sĩ tham mưu thì thiếu gì, nhưng đa số biết điều hơn. Nhưng dù sao thì anh nào cũng muốn được ở lại hậu phương cho khỏe xác được lâu chừng nào hay chừng nấy và muốn thế chỉ có cách là phải khắc nghiệt với tân binh. Nói đúng ra thì hễ động đến chuyện lau bóng cho cả trại là y như chúng tôi lãnh đủ và lắm lúc chúng tôi cáu sườn hét ầm lên. Chúng tôi nhiều thẳng ốm vì thế: thẳng Wolf chết vì sưng phổi. Nhưng nếu mình giơ tay chịu hàng thì quả là nhục. Nên chúng tôi đâm ra cứng rắn, đa nghi, bất nhẫn, đểu giả, ba gai – và thế mà hay: vì trước kia chúng tôi làm gì có những đức tính này. Giá không có thời gian huấn luyện này mà lại nhảy ra chiến hào ngay, chúng tôi bẫn thằng nào cũng đã pbát điên rồi. Chúng tôi chỉ được chuẩn bị có thể đề đối phó với những gì chờ đợi chúng tôi, Chúng tôi không tuyệt vọng, nhưng chịu đựng, cái tuổi hai mươi của chúng tôi, từng lăm lăm cái khác thêm phiền toái, thì ở đây lại rất được việc cho chúng tôi. Điều quan trọng hơn hết, rất ư quan trọng là nó thức tỉnh ở chúng tôi một ý thức thực tế, mạnh mẽ về cải gọi là tinh thần tập thể, cái tinh thần ở ngoài chiến trường đã phát triển thành cái gì đẹp nhất được nảy nở do chiến tranh – là tình chiến hữu.
Mặc đầu Muller hẳn sung sướng nếu lại được đôi bốt của Kemmerich thật ra nó cũng như ai vậy, cũng xúc cảm, cũng khỏng thể nghĩ đến một điều như thế mà không buồn bực. Nó chỉ có nhìn sự vật một cách sáng suốt. Nếu như Kemmerich lại sử dụng được đôi bốt, thì Muller hẳn thà là đi chân không dặm lên dây thép gai còn hơn là nghĩ mưu chiếm đoạt đôi bốt. Nhưng sự thế nó là thế, đôi bốt trở thành vô dụng dối với Kemmerich, nhưng với Muller thi lại rất hữu dụng. Kemmerich sẽ chết: ai được đôi bốt là điều không quan trọng. Thế thì tại sao Muller lại không được thừa kế? Nó có quyền hơn là một anh y tá. Khi Kemmerich chết thì muộn quá rồi. Nên Muller phải lo rình rập. Chúng tỏi không còn suy nghĩ gì đến cái gì khác, vì cái gì thì cũng là giả tạo. Chỉ có các sự kiện là thật và là quan trọng đối với chúng tòi. Mà bốt tốt thì rất hiếm.
Có dạo vấn đề từng khác hẳn. Khi chúng tòi đi đến tòa Tổng trấn để nhập ngũ, chúng tôi là một lớp hai mươi thanh niên trong số có nhiền thẳng hãnh diện là lần đầu tiên được cạo râu trước khi đến doanh trại. Chúng tôi không có ý định gì nhất định về tương lai của mình. Những ý nghĩ của chúng tôi về một sự nghiệp hay một nghề nghiệp còn mang nặng tinh chất viễn vông nên chưa thể bảo là một kế hoạch sinh hoạt. Đầu óc còn đầy đặc những quan niệm mơ hồ gán cho đời sống và cả chiến tranh nữa một tinh chất lý tưởng và gần như lãng mạn. Vào quân đôi chúng tôi được huấn luyện mười tuần lễ và trong thời gian ấy chúng tôi bị ảnh hưởng còn sâu hơn là mười năm ở trường. Chúng tôi học được rằng một chiếc khuy hỏng còn năng kí hơn là bốn pho Schopenbauer. Thoạt đầu bỡ ngỡ, rồi chua chát và sau cùng là thờ ơ, chúng tôi nhận thấy rằng điều quan trọng chẳng phải là tâm trí mà là bàn chải đánh giầy, chẳng phải là trí tuệ mà là chế độ, chẳng phải là tự do mà là tập tính. Chúng tôi đi lính với cả một lòng hăng say nhiệt thành nhưng họ đã làm đủ thứ để diệt trừ cái đó ra khỏi chúng tôi. Sau ba tuần chúng ta chẳng còn lạ gì rằng một anh phát thư đeo lon còn có quyền uy đối với chúng tôi hơn là cả cha mẹ mình, các thầy mình và cả toàn thể cái hệ thống văn hóa từ Plato đến Gorthe trước kia. Với đôi mắt thức tỉnh của tuổi trẻ chúng tôi thấy rằng cái quan niệm cổ điển về Tô quốc do các thầy chúng tôi giảng dạy ở đây được thu gọn lại thành một sự từ bỏ nhân cách đến mức mà ta chắc cũng không đòi hỏi ở kẻ tôi tớ hạ tiện nhất – nào chào, nào nghiêm, nào diễn hành, nào bồng súng chào, quay phải, quay trái, đánh gót, chửi rủa và hàng ngàn thứ lặt vặt vớ vẫn khác. Chúng tôi cứ ngỡ nhiệm vụ của chúng tôi khác thế, và rồi chỉ thấy mình được huấn luyện làm anh hùng giống như thể mình là những con ngựa xiếc. Nhưng rồi chả may lúc chúng tôi cũng quen? Chúng tôi học được rằng những cái này cũng có phần nào cần thiết, còn thì toàn là trò diễn xuất, Những nhận xét này lính chúng nó thính mũi lắm.
Lớp chúng tôi được chia ra từng nhóm ba hay bốn thằng tản mát sung vào các tiểu đội cùng với dân chài Frisian. Dân quê, cùng dân thợ mà chả mấy lúc chúng tôi kết bạn. Kropp, Muller, Kemmerich và tôi sung vào tiều đội 9 dưới quyền hạ sĩ Himmelstoss, Bác ta nồi tiếng là người kỷ luật khắc nghiệt nhất trong trại và lấy thế làm hãnh diện. Bác người nhỏ bé dưới mức trung bình, có bộ râu mép thoa sáp thẳng như râu chồn, có mười hai năm phục vụ và trong đời sống dân sự làm nghề phát thư. Bác đặc biệt thù ghét Kropp, Tjaden, Westhus và tôi, vì bác cảm thấy có sự âm thầm thách thức. Tôi đã phải làm giường cho bác mười bốn lần nội một buổi sáng. Mỗi lần bác lại bẻ hoẹ chê bai và giũ tung ra. Tôi đã phải nhào nặn một đôi bốt tiền sử cứng như sắt suốt hai mươi tiếng đồng hồ-dĩ nhiên cũng có nghỉ-cho đến khi nó mềm như bơ và đến cả Himmelstoss cũng không biết chê vào đâu được; theo lệnh bác tôi đã phải cọ cả Câu lạc bộ Hạ sĩ bằng một cái bàn chải đánh răng. Kropp và tôi được giao phó cái công tác quét sạch tuyết ngoài sân trại bằng một cái chổi với một thùng rác. Và chúng tôi chắc phải làm cho đến khi chết cóng nếu không được một ông trung úy bất ngờ xuất hiện cho chúng tôi bãi và nạo Himmelstoss một trận nên thân. Nhưng kết quả chỉ tổ làm cho Himmelstoss càng thù ghét chúng tôi thêm. Sáu tuần liền chủ nhật nào tôi cũng phải gát và làm dịch vụ lều cũng suốt một thời gian hồng ấy. Với đủ bộ lệ quân nhu súng ống trên vai tôi đã phải tập dượt trên một cánh đồng mới cày còn mềm, còn ướt, nào là Chuẩn bị tiến, tiến!» nào là «Nằm xuống đến khi tôi chỉ còn là một đống bùn và rốt cuộc nằm song soài. Bốn giờ sau tôi phải đến trinh diện Himmelstoss với binh phục gột rửa sạch sẽ, hai tay xây xát và rớm máu. Cùng với Kropp, Westhus và Tjaden tôi đã phải đứng nghiêm dưới trời sương giá tay không đeo găng suốt mười lăm phút, trong khi Himmelstoss canh chừng từng cử động nhỏ của các ngón tay để trần của chúng tôi trên báng thép của súng. Tôi đã phải chạy tám lần từ lầu thượng trại xuống sân mặc độc sơ-mi và hai giờ sáng chỉ vì ngăn kéo tôi lòi ra bảy phân quá cạnh chiếc ghế đẩu trên đó người ta xếp đống tất cả những vật dụng của mình. Chạy cạnh tôi là hạ sĩ Himmelstoss cố tình dẫm lên ngón chân không tôi. Khi tập đâm lưỡi lê, khi nào tòi cũng phải đấu với Himmelstoss, tôi với một vũ khi bằng sắt nặng, còn bác với một vũ khí bằng gỗ dễ sử dụng dễ bề nện vào cánh tay tôi cho đến khi bầm tím. Thật vậy, một lần, tôi nổi khùng liều mạng xông vào hắn giáng cho hắn một quả móc thôi sơn vào bụng khiến hắn nằm dài. Khi hắn tường trình nội vụ lên ông đại đội trưởng, ông ta biết Himmelstoss quá mà và thấy hắn tiu nghỉu ông ta khóng phải là không khoái trá ra mặt. Tòi trở thành một tay thiện nghệ về món chơi barre đôi và còn cố vượt cả huấn luyện viên về nhào lộn; – mỗi lần chỉ nghe cái giọng hắu là chúng tôi đã run lên, nhưng tên phát thư trốn nghề nay có bao giờ thắng nổi chúng tôi. Một chủ nhật Kropp và tôi đang hì hục đặt một thùng nước lên đầu cột ngang sân trại, Himmelstoss di ngang, binh phục chỉnh tề bốt bóng nhoáng, ra phố chơi. Hắn oai vệ đứng trưởc chúng tỏi hỏi chứ mấy chú có khoải cái công tác này không. Vô tình chúng tôi trượt tay làm đổ cả thùng nước lên cẳng hắn. Hắn cáu phải biết, nhưng cũng chỉ đến thế là cùng.
«Thế là tù, » hắn hét lên. Nhưng Kropp cũng chịu hết nổi. «Tù thì cũng phải điều tra trước đã,» nó nói, «và rồi cũng kể như pha. »
«Liệu hồn ăn nói với một vị hạ sĩ quan! »
Himmelstoss gầm lên. «Bộ mày điên sao chứ? Đợi người ta hỏi mày cái đã. Tao hỏi, chứ mày định làm cái thá gì? »
«Lật tẩy Hạ sĩ. » Kropp nói, hai ngón tay cái thẳng hàng với đường lai quần. Himmelstoss hiểu ý chúng tôi nên bỏ ra đi một nước chẳng nói chẳng rằng. Nhưng trước khi biến dạng hắn còn gầm ghè: «Ông thì sẽ cho biết tay! » – nhưng đây cũng là sự cáo chung của uy quyền hắn. Một lần nữa hắn cố tái lập quyền uy ngoài cánh đồng cày với cái trò «Chuẩn bị tiến, tiến» và «Nằm xuống. » Lệnh nào chúng tôi cũng tuân vì lệnh là lệnh phải được tuân. Nhưng chúng tôi tuân một cách chậm rải khiến Himmelstoss lộn tiết muốn hộc máu. Rất ư cần thận, chúng tôi từ từ quì xuống, rồi chống tay xuống và cứ thế: đồng thời hùng hùng hổ hổ, hắn ra một lệnh khác. Nhưng trước khi chúng tôi đổ mồ hôi thì giọng hắn cũng đã khè khè. Sau buổi đó hắn để chúng tôi yên. Dĩ nhiên mỗi lần nói đến chúng tôi là hắn lại rủa đồ chó đẻ, tuy nhiên giọng đượm vẻ kiêng nể.
Hạ sĩ tham mưu thì thiếu gì, nhưng đa số biết điều hơn. Nhưng dù sao thì anh nào cũng muốn được ở lại hậu phương cho khỏe xác được lâu chừng nào hay chừng nấy và muốn thế chỉ có cách là phải khắc nghiệt với tân binh. Nói đúng ra thì hễ động đến chuyện lau bóng cho cả trại là y như chúng tôi lãnh đủ và lắm lúc chúng tôi cáu sườn hét ầm lên. Chúng tôi nhiều thẳng ốm vì thế: thẳng Wolf chết vì sưng phổi. Nhưng nếu mình giơ tay chịu hàng thì quả là nhục. Nên chúng tôi đâm ra cứng rắn, đa nghi, bất nhẫn, đểu giả, ba gai – và thế mà hay: vì trước kia chúng tôi làm gì có những đức tính này. Giá không có thời gian huấn luyện này mà lại nhảy ra chiến hào ngay, chúng tôi bẫn thằng nào cũng đã pbát điên rồi. Chúng tôi chỉ được chuẩn bị có thể đề đối phó với những gì chờ đợi chúng tôi, Chúng tôi không tuyệt vọng, nhưng chịu đựng, cái tuổi hai mươi của chúng tôi, từng lăm lăm cái khác thêm phiền toái, thì ở đây lại rất được việc cho chúng tôi. Điều quan trọng hơn hết, rất ư quan trọng là nó thức tỉnh ở chúng tôi một ý thức thực tế, mạnh mẽ về cải gọi là tinh thần tập thể, cái tinh thần ở ngoài chiến trường đã phát triển thành cái gì đẹp nhất được nảy nở do chiến tranh – là tình chiến hữu.

Tôi ngồi cạnh giường Kemmerich. Nó là dân. Chung quanh chúng tôi người ta nhốn nháo. Một chuyến tàu bệnh viện vừa tới và người ta đang đi xem những thương bình nào cần được tải đi. Bác sĩ thường đi qua giường Kemuerich mà không buồn nhìn.
« Lần sau, Franz» tôi nói.
Nó chống khuỷu tay cố nâng mình trên gối,
«-Họ cưa chân rồi. »
Thì ra nó cũng biết. Tôi gật dầu đáp:
«Thoát chết là may lắm rồi. »
Nó nín lặng.
Tôi nói tiếp: «Không mất cả hai là còn may, Franz a. Thằng Wegeler mất cánh tay phải. Thế còn tệ hơn. Vả lại, cậu cũng sắp được về rồi,» Nó nhìn tôi. «Chắc vậy không? »
«Dĩ nhiên. »
«Chắc vậy không? » nó hỏi lại.
«Chắc chứ. Khi lành vết thương. »
Nó ra hiệu cho tôi cúi xuống. Tôi cúi xuống nó và nó thì thầm: «Tôi không chắc thế »
«Đừng nói gở, Franz, hai ngày nữa thì bồ biết. Cưa một chân? Đã thấm gì, ở đây họ còn chắp nối những cái tệ hơn thể nhiều, »
Nó giơ một tay. «Nhìn xem, mấy ngón tay này. »
«Đỏ là vì mổ. Ăn uống tẩm bổ thì chú mầy lúc lại khỏe ra. Họ trông nom có chu đáo không? »
Nó chỉ vào một cái đĩa còn đầy nửa. Tôi hân hoan. «Franz, phải ăn đi. Ăn là cần. Trông cũng ngon đấy chứ. »
Nó quay đi. Một lúc sau nó nói chầm chậm: «Có lần tôi muốn trở thành chánh kiểm lâm. »
«Thì rồi cũng có lúc, » tôi an ủi nó. «Giờ chân tay giả họ làm thần tình lắm, chả ai biết là mình thiếu gì. Bắt vào các bắp thịt. Mình có thề chuyền động các ngón, có thể làm việc, ngay cả viết bằng một bàn tay giả. Thêm nữa, họ vẫn tiếp tục cải thiện mỗi ngày mỗi tinh vi. »
Nó nằm yên một lúc. Đoạn nói: « Anh nhớ lấy đôi bốt buộc dây của tôi về cho Muller. »
Tôi gật và không biết phải nói năng gì đề phấn khởi nó. Môi nó đã lả, miệng nó rộng ra, răng nó chìa ra và trông như thể bằng phấn. Thịt tan đi, trán dô ra, lưỡng quyền lộ hẳn. Xương xẩu đang lòi dần. Mắt đã lõm hẳn. Trong hai tiếng đồng hồ là xong hết. Nó chẳng phải là thằng đầu tiên tôi thấy chết, nhưng chúng tôi lớn lên với nhau và thế đủ khác. Tôi từng cóp các bài luận của nó. Đi học nó thường mặc chiếc áo nâu có đai, ống tay bỏng. Hắn là thẳng duy nhất trong bọn chúng tôi quay được vòng khổng lồ trên thanh đôi. Tóc nó phất phơ như tơ trên mặt nó mỗi khi nó quay. Kantorek hãnh diện về nó. Nhưng nó không chịu được khói thuốc. Da nó trắng bạch; nó như con gái. Tôi nhìn đôi bốt tôi. Vừa to vừa thô, quai nhét vào trong, sỏ đôi ống cống to tướng này vào mà đứng lên thì trông có vẽ to con vạm vỡ lắm. Nhưng khi đi tắm hay đi dạo thì bỗng chúng tôi lại thấy cẳng mình khẳng khiu và đôi vai mình mỏng mảnh. Chả còn có vẻ gì là lính tráng mà chỉ là mấy thẳng nhóc; không ai lại tin rằng chúng tôi mà lại mang nổi ba lô. Khi đứng trần truồng thỗn thễn là cả một lúc kỳ lạ; lúc đó chúng tôi lại trở lại là dân sự và gần cảm thay mình là dân sự. Khi tắm trông thằng Kemmerich co lả như một đứa bé. Giờ đây hắn nằm đó, nhưng tại sao kìa? Cả thế giới lẽ ra phải đi qua chiếc giường này và nói; « Đây là thằng Franz Kemmerich, mười chín tuổi rưỡi nó không muốn chết. Đừng để nó chết! »
Đầu óc tôi hoang mang. Bầu không khi thạch thán toan và hôi thối này làm nghẹt phổi, nó như cháo đặc, nó làm nghẹt thở. Trời đổ tối. Mặt Kemmerich đổi sắc, nó dâng lên mặt gối và trắng bệch đến nổi nó sáng ra. Cái miệng mấp máy. Tôi ghé lại gần nó. Nó phều phào: «Nếu tìm ra đồng hồ, anh gửi về nhà -»
Tói không đáp. Đáp có ích gì. Ai mà an ủi nổi nó. Tôi đau khổ vì bất lực. Cái trán này với hai màng tang sâu hóm, cái miệng này giờ đây chỉ là một kẽ, cái mũi nhọn này! Và người đần bà mập ú, khóc than ở nhà mà tôi phải viết thư. Phải chi thư đã gửi rồi! Các y tá đi đi lại lại với chai với sô. Một anh đến, liếc nhìn Kemmerich rồi bỏ đi, Thấy ngay là anh ta đang đợi, anh ta ngóng chiếc giường.
Tôi cúi xuống Franz nói với nó như thể là cứu được nó không bằng: «Không chừng còn về dưỡng đường Klosterberg, giữa các hiệt thự, Franz à. Lúc đó có thể từ cửa số nhìn qua đồng sang hai cái cây ở chân trời.
Mùa này là mùa đẹp nhất trong năm, lúa đang chín; chiều đến dưới ánh nắng đồng trông như xà cừ. Lại còn con đường bạch dương cạnh giòng Klosterbach, nơi mình hay đến bắt cá ngạnh! Cậu lại xây hồ nuôi cá, đi chơi chả cần phải xin phép ai và tha hồ dạo dương cầm nữa».
Tôi cúi nhìn mặt nó nằm trong bóng tối. Nó còn thở rất nhẹ. Mặt nó ướt, ra nó dạng khóc. Rõ thật tôi ngu quá nói vở nói vẫn chỉ tổ buồn thêm:
«Này Franzo – tôi quàng cánh tay dưới vai nó áp mặt tôi vào mặt nó. «Giờ thì ngủ đi chứ? »
Nó không đáp. Nước mắt lăn trên má nó. Tôi muốn lau nhưng khăn mình lại bẩn quá. Một giờ qua. Tôi ngồi cứng đờ nhìn từng cử động của nó ngóng xem nó có nói gì chăng. Lỡ nó mở miệng khóc oà lên chăng! Nhưng nó chỉ khóc thầm, đầu ngả sang bên. Nó không nhắc đến mẹ, đến anh em chị em. Nó không nói gì cả, tất cả đều nằm san nó, giờ đây nó hoàn toàn cô độc với cái kiếp sống nhỏ nhoi mười chín tuổi đầu của nó, khóc vì kiếp sống này đang rời hỏ nó. Thật là một cuộc từ biệt đau đớn nhất và ray rứt nhất tôi chưa từng thấy, mặc dầu lúc từ biệt thằng Tiedien cũng đã là đau khổ, nó đòi mẹ nó một thẳng to như vâm với đôi mắt trợn trừng khiếp đảm, cầm con dao chĩa ra không cho bác sĩ lại gần cho đến khi nó chết. Bỗng Kemmerich rên rỉ và bắt đầu khò khè.
Tôi đứng phắt dậy, lảo đảo ra ngoài hỏi:
«Bác sĩ đâu? Bác sĩ đâu? »
Vừa thấy bóng một cái yếm trắng tôi túm ngay lấy: «Đến mau lên Franz Kemmerich đang hấp hối.».
Ông gỡ tay tôi và hỏi người y tá đứng bên: «Giường số mấy? »
Anh ta nói: «Giường 26, cưa đùi. »
Ông hít mạnh: «Làm sao tôi biết được, riêng hôm nay tôi đã cưa năm chân: » ông gạt tôi ra, bảo người y tá «Anh liệu xem, » rồi rảo bước đến phòng mỗ.
Tôi tức giận tràn hông đi theo anh y tá. Anh ta nhìn tôi nói: «Hết mổ lại mổ từ năm giờ sáng nay. Auh biết không, riêng ngày hôm nay đã có mười sáu mạng chết – bạn anh là thứ mười hảy. Chắc chắn là phải hai chục»
Tôi nghe muốn xỉu, tức thì tôi chả biết làm gì hơn. Tôi không còn càu nhàu nữa, thật là vô lý, tôi có thể té xuống và không còn bao giờ dậy. Chúng tôi đứng bên cạnh giường Kemmerich. Nó đã chết, Mặt còn ướt lệ. Đôi mắt hé mở vàng như đôi khuy sừng cũ. Anh y tá thọc vào sườn tôi. «Anh lấy các đồ của anh ấy đi hẳn? » Tôi gật. Anh nói tiếp. «Chúng tôi phải đưa anh ta đi ngay, chúng tôi cần giường. Ngoài kia họ nằm dưới đất. »
Tôi thu xếp các thứ, cởi thẻ căn cước của Kemmerich cất đi: Anh y tá hỏi sổ lương. Tôi nói chắc ở Phòng Y tá, rồi đi. Sau tôi họ đang khiêng Franz đặt lên một tấm vải không thấm nước.
Ra ngoài cửa tôi mới biết là đã tối và gió thổi như một luồng giải thoát. Tôi hít mạnh, cảm thấy gió thổi vào mặt, ấm áp dịu dàng như chưa bao giờ cảm thấy. Bổng đầu óc tôi liên tưởng đến gái, đến đồng cỏ hoa tươi, đến mây trắng. Chân tôi bước tới trong đôi bốt, tôi rảo bước, tôi chạy. Lính tráng đi ngang, tôi nghe tiếng họ mà chả hiểu họ nói gì. Mặt đất tràn ngập những xung lực rót vào người tôi qua gan bàn chân. Đêm tối lốm đốm đèn điện, tiền tuyến nổ rền như trống đánh tiên hồi. Chân tay tôi cử động mềm dẻo, tôi cảm thấy gân cốt rắn mạnh, tôi hít mạnh không khi, Đêm tối sống, tôi sống. Tôi cảm thấy đói, đói chẳng riêng gì trong bụng.
Muller đứng trước lều chờ tôi. Tôi đưa đôi bốt cho nó. Chúng tôi chui vào lều và nó đi thứ, Vui quá đi mất. Nó lôi trong bao thực phẩm của nó ra một chiếc xúc xích thật ngon lành. Ăn với trà nóng và rum.

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.