Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 Apr 2026

3. Mới đây việc đồng bào thôn An Dương thuộc  Quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 152 quân nhân VNCH bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3-1975, đã gây lên niềm đau xót mà tưởng chừng như 35 năm nay đã ngủ yên trong quên lãng, không còn ai nhớ đến.

Chiến tranh đã qua rồi, không chỉ một vài chục năm ngắn ngủi, mà đã một thời gian quá dài. Những đứa trẻ mới lớn lên không biết gì quá khứ, những ông già đã qua đời ở ngoài quê hương, ngậm ngùi vì những giấc mộng tàn phai. Ngày nay những hố bom đã được san bằng, đồn luỹ đã mất dấu dành cho những nương khoai, trận địa ngày trước máu xương đã đem màu mỡ cho ruộng đồng xanh ngát. Nhưng có những cánh rừng chỉ còn trơ gốc, có những con sông đã ngừng chảy, biển xưa phải chăng nay là nương dâu. Ngày nay, có những đô thị mới mọc lên, những chốn ăn chơi, giải trí mới mở ra, những khách sạn cao tầng vươn cao trong không gian như thách đố với nỗi nghèo khó vẫn còn tồn tại ở sát mặt đất. Những người ra đi đã trở về vui chơi, đi suốt chiều dài của đất nước, quên hết chiều dài khổ đau  của trận chiến mà cha ông họ đã đóng góp máu xương.

Quá khứ phải chăng đã bị chôn vùi, chiến tranh phải chăng đã không còn ai nhớ đến. Không, những nghĩa trang liệt sĩ bây giờ đã có mặt khắp nơi, bia mộ khang trang, gọi là để nhắc nhở những người đã hy sinh trong cuộc chiến tàn khốc trên quê hương kéo dài hơn ba mươi năm. Bây giờ,”khi đất nước tôi thanh bình, mẹ già lên núi tìm xương con mình” (TCS). Nhưng không còn gì cho những người thất trận và đồng bào trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu người đã bỏ mình trên quốc lộ 7B trên đường rút về duyên hải từ Pleiku, bao nhiêu người đã chết trên những bãi biển miền Trung trong cơn tuyệt vọng tìm con đường sống về Nam. Sau khi đất nước ngưng tiếng súng, người ta kêu gọi những người miền Nam đang chiến đấu buông súng, nhưng thực chất tại nhiều địa phương, nhiều cuộc trả thù đã xẩy ra, nhiều nhân viên đảng phái, ngành tình báo, cảnh sát đã bị đưa đi thủ tiêu. Ngay cả với nhiều toán chiến sĩ Biệt Cách Dù 81 ra đầu hàng cũng bị bắn và chôn vùi trong những giếng cạn tại đia phận Long thành. Bao nhiêu năm qua, tội ác được dấu nhẹm, trong nước không ai dám lên tiếng, không ai dám tiết lộ tin tức cho thân nhân.

Tất cả đều bị vùi dập với đất cát, cỏ cây, qua thời gian, nắng gió, xương tàn cốt mục tan nát theo bùn đất. Ai còn nhớ đến họ, phải chăng người mẹ trước khi qua đời, vẫn còn mang nỗi đau về tin tức một đứa con ba mươi lăm năm nay biệt mù, phải chăng chỉ còn là di ảnh đã ố vàng của một người chồng trên bàn thờ, để nói với đàn con đó là người cha thuở trước. Không bia mộ, không dấu vết, lặng lẽ, phai tàn và quên lãng.

Những người dân làng trên bãi biển Thuận An đã âm thầm chôn cất những người lính, người dân miền Nam nằm lại trên bãi biển, hay từ cơn sóng biển đưa vào, trong cơn vội vã, thương xót mà không hề bộc lộ.

Rồi cơn sóng biển dập vùi, bão lụt tràn bờ, kéo xương cốt những người này trả lại cho trùng dương. Tưởng chừng những linh hồn uổng tử, oan khuất theo cơn gió giật, réo gọi, rên siết trên những hàng dương oằn mình, run rẩy. Trên quê hương chúng ta có bao nhiêu nấm mồ tập thể như thế và vì tình người, có bao giờ những người thắng trận nghĩ đến việc khuyến khích dân chúng tại những nơi trận địa, cải táng những thi hài này để tìm ra những tin tức cho những gia đình đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến. Câu chuyện này, nếu làm trong thời gian vài ba năm sau khi cuộc chiến mới chấm dứt, khi thịt chưa nát, xương chưa tan, khi còn những dấu tích, chúng ta có thể tìm ra căn cước  của những người chết, để giao về cho những gia đình ly tán mất mát, thì đâu có lâm vào cảnh muộn màngnhư thế. Nhưng điều đó đã không xẩy ra. Những danh từ “bỏ qua quá khứ”, “hoà giải dân tộc”, “xoá bỏ hận thù” chỉ là những câu khẩu hiệu chỉ để nói mua vui. Ngay như chuyện Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, đã có bao nhiêu lời hứa hẹn, đã có bao nhiêu tổ chức ở hải ngoại về nước hy vọng sẽ góp công, góp của để giữ gìn lại những hài cốt của các chiến sĩ miền Nam ngày trước, nhưng cuối cùng chỉ nhận lấy sự hụt hẫng vì những lời hứa suông, giả dối. Ngày nay nghĩa trang này rơi vào cảnh điêu tàn, hoang phế, đất nghĩa trang được “dân sự hoá”, không còn được một tên gọi, không được tôn trọng như là một di tích của lịch sử, mặc cho gió dập mưa vùi.

Rồi thời gian sẽ xoá hết dấu vết. Chúng ta không có hy vọng gì về một đất nước văn minh, nhân ái để có một nghĩa trang chôn cất người lính của cả hai miền, dù là bên thắng bên thua, nhưng ít ra đối với người thắng trận phải có chút lòng nhân, không chỉ có thái độ trả thù đối với những ngưởi bại trận còn sống mà còn đối với những người đã chết. Chính quyền Cộng Sản ngày nay đã quay lưng đi với nỗi đau khổ của đại đa số dân chúng, nên chúng ta cũng hiểu rằng rất khó để kêu gọi tấm lòng nhân đối với những người đã chết. Khi chế độ mới có quyền lực trong tay, họ muốn làm những điều ác để bảo vệ chế độ hơn là lấy điều nhân nghĩa để lo cho dân. Qua các đợt cứu trợ cùng với các tổ chức đang hướng về quê hương, vì hải ngoại đã thương xót mủi lòng khi nghĩ đến cảnh khổ của đồng bào ruột thịt ở trong nước, mà ngày nay những người bỏ nước ra đi, còn có tấm lòng nghĩ đến những người đã nằm lại, qua các công cuộc đi tìm hài cốt hay tu sửa bia mộ cho những người chiến sĩ VNCH. Qua tin tức, phim ảnh chúng ta đã có dịp thấy cảnh đào xới truy tìm hài cốt của những người lính Mỹ chết tại Việt Nam, với sự yểm trợ tối đa của chính quyền, huy động nhân công đông đảo, phương tiện cơ giới để đào sâu, sàng sảy để tìm những mẩu xương cốt. Lại thấy cảnh bốc mộ của đồng bào đối với hài cốt của những người lính miền Nam được tiến hành với những phương tiện thô sơ, góp nhặt những đốt xương, những chiếc răng còn lại mà cảm thấy đau lòng, xót xa.

Ba mươi lăm năm, một thời gian quá dài. Những bậc sinh thành đã không còn sống để đợi chờ tin con. Những goá phụ đã mòn mỏi héo hon. Ký ức của những đứa con đã không còn chút dấu vết của người cha thời trận mạc. Tất cả đều đã mịt mờ trong quá khứ. Những người lính chiến không bao giờ trở về, thân xác theo cát bụi về với hư vô. Chiến tranh đã tàn khốc ác độc, mà giữa con người với con người cũng chẳng có lòng thương xót, ba mươi lăm năm rồi vẫn còn đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung. Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã bảo trì, giữ gìn, tu bổ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, theo ý nghĩa “không có người thắng, kẻ thua”. Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã có chính sách truy tìm, khuyến khích dân chúng phát giác, khai quật những mồ chôn tập thể, sau ngày tàn cuộc chiến để trả hài cốt về cho những người mẹ mất con, những người vợ goá chồng, những đứa con không cha. Báo chí trong nước không được phép loan tin những chuyện liên hệ đến chế độ cũ hay hình ảnh người lính VNCH, do đó việc thông tin bị hạn chế, gia đình không thể nào tìm ra những người mất tích trong cuộc chiến. Đó là chính sách bất nhân của những con tim vô cảm.

Chuồng Người

http://www.dutule.com

Lâm Chương

23 Tháng Chín 2019

Post by Sơn râu 31 Mar 2026

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức.
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Đổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh. Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó:

– Mày tên gì?

– Ný!

– Tên ngộ quá! Họ gì?

– Nê!

– Cái gì? Làm gì có họ Nê?

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný.
Tôi chợt hiểu, bật cười:

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý.

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný!

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný.

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn:

– Ný! Mày làm cái gì đó?

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi.

– Hôm nay sao chú được nghỉ?

– Tao bị bong gân chân. Còn mày?

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội!

– Mày tìm gì trong thùng phân?

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi!

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.

Đứng tần ngần một lúc, nó hỏi:

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi!

-Vô đây!

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói:

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi.
Tiếc thật!

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc?

– Thích chứ! Được xơi thịt!

– Cán bộ cho ăn hả?

– Không. Làm gì có người tốt thế!

– Vậy ăn bằng cách nào?

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Đến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát!

-Tụi mày tài thật!

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật.

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ?

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết.

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi:

– Chú cho cháu thêm bi thuốc!

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ.

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục:
– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày!

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết!

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo.

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi!

– Ăn thịt sống hả?

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao?

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử!

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu?

– Chẳng phải xứ nào cả! Đó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống.

– Đấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế!

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng?

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng.

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào?

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon.

Nói xong, thằng Ný đứng dậy:

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều.

Nó quay lưng, ra khỏi lán.

Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai của người bệnh ho lao, tôi gọi: -Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh!

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Đồi nương ẩm đục. Ngày hai mươi chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phải xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ cỏ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói:

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân!

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi.

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng!

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế!

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió.

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói:

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay!

Nhiều thằng khác lao nhao:

– Nôn? đi! Nôn đi!

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn:

– Hãy khoan!

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný:

– Hãy nôn vào đây!

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Đồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn.

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá!

Thằng bưng thau nói:
– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi!

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi:

– Mày khỏe hẳn chưa?

– Hôm sau nà khỏe ngay!

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không?

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi.

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ?

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ!

Tôi trợn mắt:

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi?
– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói.

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Ăn hiếp con nít!!!

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 31 Mar 2026

Ôi nhớ xưa! 42 năm trước, tui còn độc thân tại chỗ nhe! Trai tơ hơ hớ hè! Ðường công danh còn dang dở, vì học chưa có xong, nhưng đang rộng mở

Vận nước đang ngả nghiêng, chực đổ nhào… mà tui cứ nằm mơ, mộng công hầu … mới chết!

(Cũng xin phụ đề Việt ngữ ở đây chút xíu là: Thời phong kiến, có ba khoa thi: Hương, Hội, Ðình. Ðậu thi Hương là Cử nhân. Ðậu thi Hội là Tiến sĩ. Thi Ðình dành cho Tiến sĩ để chọn ba hạng đầu là: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa.

An hiep con nit 01Ðăng khoa, tức thi đậu xong, nếu còn cu ky, mà được Hoàng thượng, tức ông Vua, mến tài gả Công chúa… là vô mánh!

Ðó là đại đăng khoa, được làm Phò mã, tức rể của Vua, chớ không phải là thằng giữ ngựa, Bật Mã Ôn, chức của Tề Thiên Ðại Thánh ở Thiên đình!

Sau này bà con dân ngu khu đen mình gọi: tiểu đăng khoa là thi đậu,( sướng ít), đại đăng khoa tức là có vợ, (sướng nhiều)!

Do đó phận đàn ông là phải học hành siêng năng giỏi giắn, bét lắm cũng kiếm được cái bằng Cử nhân về treo giàn bếp, xong mới tính đến đường vợ con để ngựa anh đi trước võng nàng theo sau!

Dựa hơi chàng, nàng nhảy tót một bước lên làm bà … mà không cần học hành gì ráo, chỉ cần cái vốn tự có của mình đem đầu tư vào chỗ nào cho trúng khía mà thôi!

Nhưng vận nước nổi trôi, cái kế hoạch huy hoàng trong mơ đó đà trôi luôn ra biển…

Thằng bạn ní, được mấy ‘xì thẩu’ mướn lái thuyền vượt biên, hứa ghé rước, cho tui và em đi ké bằng cách canh me, từ taxi, xuồng nhỏ nhảy lên. Nhưng nó đầu môi chót lưỡi, nuốt lời, chạy một hơi 7 ngày, 7 đêm tới Palawan, Phi Luật Tân. Ðành đoạn bỏ bạn hiền lại cho VC nó hành hạ nè Trời!

(Cái thằng phản bội vong thề nầy đang ở Canada. Lúc nào trúng số, tui sẽ bay qua, la cho nó một trận: “Sao mầy dám đang tâm bẻ gãy chữ kim bằng?”)

An hiep con nit 02Tuyệt vọng, tui dắt em về, thì em yêu thỏ thẻ rằng: “Thôi anh làm đại đăng khoa với em đi, kẻo VC thấy em đẹp (?!) bắt ưng thương binh VC ‘xi cà que’ là em tự vận em chết liền!”

“Bậy nè! Ai mà chết lảng nhách vậy hè! Người bỏ ta sao đành hè!” Tui bèn đồng ý cái rụp!

Em yêu đang đi làm cho nhà thương Thủ Khoa Nghĩa hồi xưa, giờ tụi nó đổi tên là Bịnh viện Ða khoa Cần Thơ, tháng tháng được 20 kí lô gạo (đầy bông cỏ), nấu cháo vợ chồng son ăn cầm hơi chờ qua cơn thắt ngặt!

Mặn nồng hương lửa một năm thôi mà em đã tọt ra một thằng cu tí!

Mới ăn đầy tháng là sáng sáng em nê thằng cu tí theo, lúc đi làm, để gởi vào nhà trẻ ngay trong khuôn viên bịnh viện, dưới khẩu hiệu: “Ðẹp như công viên! Sạch như bịnh viện!”

Bịnh viện là chiến trường ác liệt, nơi thuốc kháng sinh đánh nhau quyết liệt với vi trùng để  bịnh nhân một sống, hai chết… mà sạch cái nỗi gì đây mấy cha nội?

Chính vì vậy mấy đứa nhỏ, sức đề kháng còn kém, đi nhà trẻ hằng ngày cũng là hằng ngày đi bịnh viện, ổ chứa vi trùng, nên bị nhức đầu, sổ mũi, viêm họng liên tu bất tận. Nhưng không gởi ở đây thì biết gởi thằng cu tí ở đâu hè?

Ôi thời gian như bóng câu qua cửa sổ! Tui ghi lại kỷ niệm nầy cho con nó đọc, để nhớ lại một thời nó làm ‘trùm quậy’ cho Tía nó thót lên cần cổ như thế nào?!

Một sáng, cô giữ trẻ hoảng kinh hồn vía chạy băng băng lên văn phòng, hào hễn hỏi em yêu: “Thằng nhỏ có bò lên kiếm mẹ để đòi bú tí không?” “Không? Trời đất ơi! Vậy nó biến đâu rồi?”

Chẳng qua đang ngồi bô để đi ‘xì trum và xì tẹt’, thấy cửa rào quên đóng, thằng cu bèn dế mèn phiêu lưu ký.

Cả bọn nháo nhào đi kiếm. Ông Cơ cụt tay, gác cổng cho biết: “Cách đây 10 phút, có thằng nhóc mới lẫm đẫm biết đi, ở truồng nhong nhỏng băng qua lộ nè!” Rượt theo, thấy cu cậu đang nhẩn nha ngồi trong quán cà phê của thằng cha Tư Khị.

Ðời mà! “Những người mẹ bận đi làm để kiếm tiền, buộc lòng ném con mình vào miệng núi lửa. Cái núi lửa đó có tên gọi là: Nhà trẻ!”

Con mình mình rứt ruột đẻ ra là mình lo, còn giao vào tay người khác là giao trứng cho ác! Vì Nhà trẻ giống như Trại mồ côi vậy!

***

Tuy nhiên có người lạc quan tếu: “Cái nghề nầy sướng thiệt. Tối ngày chỉ chơi với con nít không hà… mà còn được lãnh tiền!”

Nhưng thật ra giữ trẻ không phải dễ ăn như ăn cơm sườn. Xì trét (stress) lắm! Dễ bị bịnh nghề nghiệp như các cô mụ, thấy mấy em lâm bồn, đau quá xá cỡ nên ở vậy luôn, hổng dám có chồng!

Còn cô đi giữ trẻ thì: “Con của anh chị đã khiến cho em phải uống thuốc ngừa thai quá liều!”

Nước Úc còn đỡ nhưng ở Sài Gòn tiền công giữ trẻ còn còm cõi hơn nhiều.

Giữ một bé cho ăn, uống, tắm rửa suốt ngày, tháng chỉ 2 triệu đồng tức khoảng một trăm đô Úc.

Hổng biết có phải vì tiền ít mà mấy em giữ trẻ trong nước hay trút giận lên đầu trẻ thơ vô tội bằng cách ‘quánh’ tụi nhỏ tơi bời! Mà không sợ chiều về nó méc ba, méc má. Chưa biết nói thì làm sao mà méc?!

Báo chạy tin dữ rằng: Hai cô giữ trẻ, chừng 50 tuổi, lui cui pha sữa, nấu cháo, trong khi 9 đứa nhóc, từ vài tháng đến 2 tuổi đang lăn lóc dưới sàn.

Lần lượt từng trẻ vào góc nhà, ngồi há miệng để được đút ăn.

Một bé trai, khoảng một tuổi, bị đè ngửa, kẹp đầu vào nách người phụ nữ, liên tục vùng vẫy, khóc thét. Cháu bị sặc nhưng bà ta vẫn đổ thức ăn vào mồm cháu. Thức ăn trào ra ngoài, bà này gõ vào mũi đứa trẻ, bắt ăn lại.

Ðứa trẻ khác, khoảng 2 tuổi, run rẩy, liên tục bị ấn muỗng cháo vào mồm, bị ọc ra và bị “bảo mẫu” giáng tay vào đầu. Vừa ăn vừa bị tra tấn!

Khi xem những cái video clip nầy phát tán trên mạng, ai có con nhỏ gởi tại đây đều phải rụng rời. “Ê! Nhà trẻ chớ đâu phải đồn Công an hè?”

***

Nói nào ngay không phải riêng tại Sài Gòn hay Hà Nội, dân nhập cư vào kiếm sống phải gởi con đi nhà trẻ để bị đánh đập tưng bừng như vậy, mà ngay cả những nước văn minh như Úc, như Mỹ lai rai cũng có xảy ra đó chớ.

Mới đây, một cô giữ trẻ ở Pennsylvania bị mất ‘ job’, chờ vác chiếu ra tòa vì đã đẩy một bé gái, 4 tuổi, té lăn cù xuống cầu thang. Ðứa bé bị trặc đầu gối và sợ hãi chiếc cầu thang. Rõ ràng cháu bé tội nghiệp nầy đã bị chấn thương về tâm lý!

Shawayne Tavares, người quản lý trung tâm giữ trẻ Clifton Heights, ngoại ô Philadelphia, qua video của hệ thống camera an ninh vừa mới lắp đặt, thấy vẻ run sợ, đôi mắt cháu hình như muốn nói: “Hãy cứu giúp con đi”, cảm thấy đau nhói như chính cá nhân mình bị tổn thương.

Bà đến gặp tận mặt cô giữ trẻ Sarah Gable, 52 tuổi, chất vấn một cách gay gắt: “What are you doing? We don’t do this to children.”

“Bà đang làm cái quái gì vậy? Chúng ta không đối xử như thế với trẻ con!”

“Mùa xuân ai đi hái hoa/ Mà em đi nuôi dạy trẻ/ Sao em muốn đàn em mau khoẻ/ Sao em muốn đàn em mau ngoan/ Hay bởi vì em quá yêu thương/ Những đôi môi đỏ, những đôi má tròn/ Em yêu từng đôi mắt sáng/ Long lanh như những giọt sương.…Một mai khi em lớn lên/ Ðừng quên khi đi nhà trẻ/ Quên Cô giáo người nuôi em khoẻ / Quên Cô giáo người chăm em ngoan/ Quên những ngày Cô giáo yêu thương…”

Ðó là bản nhạc “Cô đi nuôi dạy trẻ” của Nguyễn Văn Tý, cũng là tác giả bài Dư Âm nổi tiếng, đã bị phê bình là ủy mị, bị đấu tố tơi bời ở miền Bắc trước 54.

Rút kinh nghiệm cái vụ lôi thôi phiền phức, nhém bị cấm viết nhạc… là mạt rệp luôn, nên từ đó, nhạc sĩ  Nguyễn Văn Tý sáng tác ‘ngành ca’, ca tụng chung chung, vô thưởng, vô phạt cho cái ‘ngành’ nào trả tiền tác quyền sộp cho chàng nhạc sĩ!

Ông nhạc sĩ nầy, lạc quan tếu… thấy mà ớn chè đậu luôn! Vì thực tế trần trắng trợn là nhà trẻ trong nước, nơi khỏ đầu trẻ, nơi ăn hiếp con nít thấy mà khiếp… phải không bà con?!

Thành ra đừng ‘ca từ’ dóc nữa! Ðược không nè, kính thưa ông?

Hoa Trang

vietmania.blogspot.com

Tuesday, April 18, 2023

Post by Sơn râu 31 Mar 2026

Với sự đồng ý của nhân vật nữ trong truyện “Nhớ Huế” (trước đây), người viết xin ghi lại đúng các chi tiết trong câu chuyện nầy

Tốt nghiệp trường Hành Chánh, hắn về Thừa Thiên, được tỉnh đưa về làm việc tại các quận thôn quê, lòng vòng hết quận nầy đến quận khác. Quận cuối cùng trước khi hắn lên cao nguyên là Nam Hòa, một quận, địa giới rất rộng, bao gồm một phần dãy Trường Sơn mà dân số chỉ độ sáu nghìn. Quận lỵ là chợ Tuần, quận đường là ngôi nhà nhỏ.

Ngoài tay quận trưởng trên chi khu thỉnh thoảng ghé vào, còn lại chỉ có hắn và vài ba nhân viên, mấy cái bàn ghế, một máy đánh chữ… chẳng khác gì một trụ sở ấp. Quận Nam Hòa cách Huế dăm bảy cây số, quận nghèo không có công xa. Tỉnh cấp cho hắn một chiếc xe gắn máy Honda. Quận Nam Hòa và một phần quận Hương Thủy tập trung hầu hết lăng tẩm, chùa chiền của Huế, cảnh trí u tịch, nên thơ. Lăng Tự Đức, lăng Minh Mạng, lăng Khải Định, lăng Thiệu Trị, chùa Từ Hiếu…

Về mùa hè, các cô cậu sinh viên, học sinh tụ tập, sinh hoạt, vui chơi nơi các lăng tẩm, chùa chiền. Đẹp nhất, nên thơ nhất là rừng thông mênh mông, bạt ngàn trên đồi Thiên An. Những buổi sáng cuối tuần hắn thường chạy xe lên các nơi đó, một mình lang thang ngắm cảnh, đến trưa, ghé một quán ăn bên đường cho bữa ăn đơn sơ rồi về Huế xem phim, mua sách báo về nhà trọ nằm đọc, thư giản… Thế rồi, một hôm, hắn lên chùa Từ Hiếu, dựng xe, ngồi khuất sau một gốc cổ thụ, nhìn vơ vẫn cảnh vật chung quanh. Tính hắn thích tĩnh mịch nên với buổi sáng êm ả, vắng vẻ như thế, hắn có thể ngồi hàng giờ, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng chuông chùa vang vọng, ngân nga để mặc cho tâm trí chìm đắm trong hạnh phúc của hư vô.

Trong lúc đang mơ màng thì hắn nghe tiếng xôn xao của những cô gái “Xe của ai mà bỏ ri hè?”

Tiếng một cô khác “Ai mà bỏ, người ta đi chùa lạy Phật”

“Tụi mình trong nớ ra, thấy ai lạ mô?”

“Hay là của các thầy để quên ngoài ni. Để tao dẫn ra sau chùa”

Biết các cô lầm nên hắn vội đứng dậy, kêu lên “Thưa các chị, xe của em!”

Các cô giật mình sợ hãi, nhưng khi thấy hắn, mặt mũi hiền lành ra người có học nên các cô yên tâm “Eng ni (anh nầy) làm chi ngồi đây, rình ăn trộm chuông chùa phải khôn?”

“Dạ không, em ngồi chơi”

“Chơi với ai?” “Dạ. Em chơi một mình”

Tuy cách đối đáp của hắn không được lương thiện, nhưng các cô ỷ đông nên bạo dạn. Các cô nhìn hắn, xì xầm điều gì có vẻ quan trọng, ngạc nhiên lắm

“Tao nhớ có thấy hắn ở mô đó?!”

“Tao cũng thấy quen quen” Con gái thường e lệ, rụt rè nhưng khi đi chơi chung với nhau, họ trở nên bạo dạn, gặp con trai đi một mình thì xúm nhau ăn hiếp, chọc ghẹo để vui cười với nhau.

Một cô, như là đầu đàn, đứng chống nạnh, làm oai với hắn “Eng tên chi?”

Hắn làm bộ sợ hãi “Dạ. Em tên Phó Nam Hòa”

“Eng ở mô tới đây?”

“Dạ. Em từ trong Nam ra đây”

Một cô nói “Đứa mô ưng anh chàng ni thì hỏi gốc gác mà về làm dâu. Làm dâu trong nam sướng lắm đó nghe. Mụ mẹ chồng tốt lắm!”

Cô vênh mặt “Nghe giọng nói thì biết rồi. Nhưng tôi muốn biết rõ, eng sinh ra từ nơi mô? Khôn phải nơi eng làm việc. Có hiểu khôn?”

Hắn nhe răng cười “Em trả lời, nhưng chị đừng đánh em”

“Chưa đánh mô. Nói đi!”

Hắn làm bộ gãi đầu “Dạ. Thật khó nói tên nơi em được sinh ra! Em được sinh ra từ cùng một chỗ với chị đó!”

Các cô ngớ ra rồi bỗng đỏ mặt, đập vai nhau cười rũ rượi. Một cô, trông có duyên, đôi má ửng hồng vì cười nhiều quá, nói với cô đầu đàn

“Đáng đời mi chưa, Tiểu Thu? Nghe giọng miền Nam, mi tưởng dễ ăn hiếp. Lù khù vác lu mà chạy đó mi nà!”

“Ơ! Cái con Khánh Trang ni! Chưa chi mà đã binh người ta! Mi ưng eng thì ta gả eng cho mi đó. Mi muốn hỏi chi thì hỏi đi, nhưng coi chừng. Miệng lưỡi eng ta không vừa đâu”

Cô nầy, trông hiền lành nhưng cũng làm bộ dữ dằn, hỏi hắn “Vợ con để mô mà đi một mình?”

Cô lúc nãy lại lên tiếng “Con ni vô duyên, tự nhiên hỏi vợ con người ta”

“Lại mi nữa! Tao hỏi cho mi đó mi nà. Nè, tôi cho eng biết, có vợ con rồi thì về ru con, đừng đi ve gái mà chết nghe eng! Có người yêu rồi cũng không được ve gái. Ủa. Ngó chi tui mà mặt mũi khờ đặc ra rứa hè?”

“Dạ, Mới thấy chị mà em đã mất hồn, mất vía. Chị đẹp thất kinh luôn!”

Cô cười, đôi mắt đen sáng lên, cảm động và hãnh diện, nhưng rồi làm nghiêm “Tôi hỏi răng eng không trả lời? Vợ con mô?”

“Dạ. Vợ ở đây”

“Eng nói răng? Vợ eng có mặt trong tụi tui hả?”

“Dạ. Đúng rồi. Vợ em là cô đẹp nhất trong các chị ở đây”

“Tụi ni đứa mô cũng đẹp. Eng chỉ coi. Đứa mô là vợ eng?”

Cô quay hỏi các bạn “Đứa mô là vợ eng ni thì ra mà dắt về. Lấy dây mà cột vô chân giường, đừng thả rong mà có ngày mất chồng”

Các cô đồng loạt giơ tay “Chồng của tui!”

Cô hỏi hắn “Răng (sao) eng nhiều vợ quá vậy? Mấy ông vua chết sớm vì nhiều vợ quá đó eng nà!”

Em chỉ có một vợ thôi. Các chị ưng em mà giơ tay lên chứ em chỉ có một vợ thôi”

“Vợ eng là đứa mô? Chỉ coi!” Các cô cười ngặt nghẽo, chỉ tay vào ngực mình, gật gật đầu “Em nè!”

Hắn cũng giả bộ nhìn từng cô để tìm vợ rồi bất ngờ chỉ vào cô Khánh Trang “Dạ. Vợ em đây!”

Cô la lên “A” lên rồi bước lùi “Ba mạ ơi! Mới gặp lần đầu bữa ni mà eng tỏ tình bất tử rứa hè?”

Hắn trả lời kiểu tiểu thuyết ba xu “Dạ. Gặp em từ muôn kiếp trước”

Các cô lại cười nói xôn xao, phá tan cảnh nghiêm trang, tĩnh mịch nơi cửa thiền. Cô đầu đàn, Tiểu Thu, hỏi “Eng có đi học không? Mặt mũi sáng sủa, đẹp trai mà ve gái kiểu rẻ tiền như rứa?”

“Dạ. Em có đi học. Thưa mấy chị”

“Học trường mô?”

“Dạ. Trường Hậu Bổ”

“Trường chi mà lạ rứa?”

“Mấy chị không biết trường đó đâu. Nhưng em nghỉ học rồi. Em làm công chức sống qua ngày”

“Công chức là chức gì?”

“Chức đồng tri huyện”

“Chức chi mà lạ rứa?”

“Là phụ tá cho quan tri huyện. Bây giờ gọi là ông phó quận”

Cô ta gật gù “Làm chi cũng được, miễn có tiền nuôi vợ con là tụi nầy gả Khánh Trang cho eng”

Rồi cô hỏi cô kia “Khánh Trang. Mi có ưng eng ni không mi? Không ưng thì nhường eng cho tao”

“Răng mi biết tao không ưng mà giành chồng của tao?”

 Các cô vỗ tay kêu lên “Làng trên xóm dưới ơi. Ra mà coi! Vợ lớn, vợ bé đánh nhau giành chồng nì!”

Đúng là một buổi sáng vui chơi ngoài trời lành mạnh, tươi trẻ, đầy tiếng cười.

Cô Tiểu Thu nói với hắn “Cám ơn eng đã đóng với tụi nầy một vở kịch vui. Kịch đã hạ màn rồi. Eng có thể đi chỗ khác cho tụi nầy được tự nhiên”

Hắn ngồi lên xe “Dạ, cám ơn mấy chị, cám ơn em Khánh Trang. Tuần sau mấy chị có đến đây không? Cho em gặp. Được không?”

“Chưa biết đi chỗ mô. Muốn gặp Khánh Trang thì nói, chơ gặp tụi ni mần chi. Lần sau, đến đây tụi ni tổ chức lễ cưới cho hai ôn mụ (ông bà), là cô dâu Khánh Trang và chú rể eng Phó si tình”.

Thời còn đi học, hắn cũng có bạn gái, cũng rủ nhau đi coi hát, ăn quà rong, vui đùa, chọc ghẹo nhau nhưng rồi quên đi. Không hiểu sao, khi gặp cô Khánh Trang hắn đâm nhớ cô ta đến ngẩn ngơ. Cô hồn nhiên, vô tư mà làm vẻ người lớn nên trông rất dễ thương. Khi cô cười, phô hàm răng trắng đều, môi hồng, đôi mắt đen nhánh, thông minh, nhìn hắn thân ái, dịu dàng. Hắn cảm nhận được tình cảm cô dành cho hắn.

Một buổi sáng thứ bảy, hắn dậy sớm, chạy xe vô chùa Từ Hiếu, không thấy ai, qua lăng Tự Đức cũng không! Hắn chạy vòng lên đồi Thiên An thì thấy các cô đang đuổi nhau, tiếng cười nói, náo nhiệt cả một góc rừng. Thấy hắn lò dò đến, các cô ngưng cười, tò mò đứng nhìn. Cô đầu đàn, Tiểu Thu, chặn hắn lại “Eng kia, đi mô rứa? Chỗ con gái, đến mần chi?”

“Bữa trước, chị có hứa cho em gặp Khánh Trang”

Cô kêu lên “Khánh Trang mô rồi. Ra mà gặp cái eng bị mi bắt mất hồn, mất vía đây nì”

Các cô đẩy Khánh Trang ra đứng trước hắn. Cô đứng yên nhìn hắn, không cười. Mái tóc đen, dài, rủ xuống đồi ngực nhỏ. Quần jean, áo trắng ôm lấy thân hình thon gọn, hài hòa, tinh khiết. Các bạn cô im lặng, như nín thở vì ngạc nhiên. Lần đầu trong đời, các cô được thấy đôi mắt si mê đến ngây dại cuả một anh con trai đang chiêm ngưỡng cô bạn Khánh Trang của họ.

Cô Tiểu Thu lên tiếng “Tụi ni làm mai cho hai ôn, mụ (ông, bà). Ôn, mụ nói đi! Anh yêu em, em yêu anh. Chú rể tương lai nói trước”

Hắn nói “Cả tuần nay anh mất ngủ”

Cô hỏi “Răng rứa? (vì sao?)”

“Nhớ em Khánh Trang”

“Mất ngủ mấy ngày thì chết?”

“Mất ngủ sinh bịnh mới chết”

Cô mím môi, nhìn hắn, mặt lạnh tanh “Em biết. Đó là bịnh tương tư. Khi mô anh chết, cho em biết. Em đến khóc đưa tiễn anh ra nghĩa trang buồn”

Cả bọn chưng hửng! Một cô kêu lên “Khánh Trang! Răng mi tàn nhẫn với người ta rứa mi?”

Không nói một lời, hắn quay lưng, xuống đồi. Có tiếng kêu “Anh Trương Chi ơi là anh Trương Chi!”.

Hắn tự ái. Giận các cô, giận lây qua Khánh Trang, tuy biết rằng các cô tưởng hắn cũng là sinh viên với nhau vì hắn mới ra trường, tuổi chưa đến ba mươi, nên chọc ghẹo cho vui. Thực ra là lỗi của hắn. Làm công chức mà ăn mặc xuề xòa, đi lang thang, lại tán tỉnh các cô gái, chẳng ra “thể thống chính quyền” gì cả! Hắn cứ tưởng mình còn tự do như thời sinh viên mà không biết rằng, khi đã là công bộc của dân, thay mặt cho chính quyền, dù trong quản hạt nhỏ, cũng phải chửng chạc, nghiêm trang, người dân sẽ nhìn hắn để đánh giá chính quyền. Từ đó, hắn mới để ý đến trang phục, tư cách của mình. Áo quần bỏ giặt ủi, thẳng nếp. Thái độ, cách giao tiếp như người lớn. Hắn không lang thang ngắm cảnh ở các nơi vắng vẻ vào ngày cuối tuần mà đi dạo phố, vào các tiệm sách, xem phim với các bạn.

Một buổi sáng chủ nhật, hắn cùng vài người bạn đứng trước rạp Tân Tân chờ xem phim. Hắn bỗng thấy từ cửa Thượng Tứ mấy cô gái, trong đó có cô Khánh Trang, đang đi đến. Vì giận họ, hắn làm như không thấy. Các cô cũng tỉnh bơ đi qua. Đi dược một quãng ngắn, bỗng nhiên cô Khánh Trang đi chậm lại, cô quay nhìn hắn, đưa bàn tay lên, vẫy nhẹ rồi đi nhanh theo các bạn. Cơn giận bỗng tiêu tan. Hắn lại thấy cô Khánh Trang đẹp và hiền lành như trước kia. Hắn đoán chừng, phải có nguyên nhân nào đó khiến cô, trước đây, phải đối xử như vậy.

Một lần khác, vào buổi chiều, đang tìm một quyển sách trong nhà sách Ưng Hạ thì cô Khánh Trang vào, đứng bên cạnh. Cô mặc áo dài trắng như nữ sinh trung học. Hắn quay nhìn, cô cười, hắn cũng cười. Cô thì thầm “Em xin lỗi nghe! Bữa đó…”

“Anh biết mà. Em đừng bận tâm. Em giả bộ ghét anh. Phải không?”

“Sợ tụi bạn. Tụi hắn mà mét ba mạ em thì em chết”

“Bữa nào cho anh gặp, được không?”

“Sáng thứ bảy, anh lên dòng Thiên An sớm, chờ em phía sau tu viện, không ai thấy, nếu tụi em có đi chơi ở đó thì em sẽ đến với anh, nhưng chỉ vài phút thôi. Tụi hắn nghi ngờ thì nguy cho em”

“Anh chỉ cần nhìn thấy em, dù một giây, cũng mừng rồi”

Cô ngập ngừng “Em cứ nghĩ đến anh hoài, đến mất ngủ…”

“Em mất ngủ từ bao giờ?”

“Từ buổi sáng, thấy anh ở chùa Từ Hiếu. Em thấy anh dễ thương. Lúc đó, điều em sợ nhất là anh đã có người yêu, nên em mới hỏi…”

Hắn lắc đầu “Anh chưa yêu ai. Cho đến khi gặp em”

Hắn cầm một quyển sách, mở ra như chăm chú đọc, nhưng thì thầm với cô “Em đứng cạnh anh. Anh mừng run cả người. Em có thấy tay anh run không?”

“Dạ có thấy. Em cũng đang run muốn chết! Thôi. Em về nghe!”

“Cho vai anh chạm vai em. Được không?”

“Dạ được!… Em về nghe!” Cô bước ra khỏi nhà sách, hắn cũng ra theo, cách cô một quãng ngắn. Thỉnh thoảng cô quay nhìn phía sau, thấy hắn nhưng không tỏ vẻ gì. Hắn như người mộng du, mắt đăm đăm nhìn tà áo dài tha thước, mái tóc dài phủ bờ vai, dáng đi dịu dàng của cô, chân hắn bước bừa tới trước, vấp vào mấy bà bán hàng rong, trán suýt đập vào trụ đèn. Đến cuối đường Trần Hưng Đạo, cô lắc đầu, tỏ ý không muốn hắn đi theo nữa. Rồi cô khuất dạng chỗ ngã rẽ vào đường Phan Bội Châu. Nhờ sáng kiến đó, hễ bọn con gái đi chơi ngoài trời trên đồi Thiên An thì cô Khánh Trang đến với hắn, dù chỉ năm, mười phút.

Hai người ngồi bên vách tường đan viện Thiên An, khuất sau những cây thông um tùm, ai có đi ngang cũng không thấy được. Cô thường ngồi tựa đầu vào vai hắn, tay bứt từng cánh lá, thì thầm “Em ước được ngồi mãi bên anh như ri, suốt đời”

Hắn nhìn cô, cười “Cứ ngồi mãi cho đến chết. Phải không?”

Cô lắc đầu “Chết răng được! (chết sao được) Em với anh thành tượng đá chứ! Tượng đá rêu phong nhưng không tan rã, không chia lìa. Cứ ngồi hoài như ri (như thế nầy)”

Hắn kéo cô sát vào lòng, hôn lên trán cô “Em dễ thương quá! Anh sẽ yêu thương, lo lắng cho em suốt đời. Anh có viết chút đỉnh. Anh sẽ viết về chuyện hai đứa mình, sau nầy về già, hai đứa đọc lại, có lẽ vui và cảm động lắm”

“Em cũng có làm thơ. Chẳng hay ho gì nên không đề tên thật”

“Nữ sĩ của anh bút hiệu gì?”

“Gì mà nữ sĩ! Tên Hoa Trang. Nhớ nghe! Chỉ riêng anh biết tên Hoa Trang thôi”

“Anh nhớ! Khi gặp riêng, anh gọi em là Hoa Trang. Hoa Trang của riêng anh”

Về sau, hình như các bạn biết chuyện hẹn hò của hai đứa nhưng làm lơ. Nhiều khi cô ngồi hàng giờ với hắn, cho đến trưa, nghe bạn kêu, cô mới vội chạy về.

Mùa hè đã đi qua, sinh viên, học sinh lại đến trường, không còn tụ tập đi chơi ngoài trời nữa. Hắn không còn được gặp cô Khánh Trang. Thế nên, mỗi cuối tuần hoặc buổi chiều, hắn lang thang trên các con đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, mong gặp được cô Khánh Trang cho đỡ nhớ. Thỉnh thoảng các cô, trong đó có cô Khánh Trang, đi trên đường Trần Hưng Đạo, nhưng hai bên vẫn tảng lờ, như không thấy gì. Nhưng hắn biết và chờ đợi, cô Khánh Trang sẽ đi chậm lại, quay nhìn hắn và tặng hắn một nụ cười. Kể ra như thế cũng đủ cho hắn vui hưởng cuộc đời, nhưng có một lần, gặp nhau, thay vì đi thẳng, các cô chận hắn giữa đường, cô Tiểu Thu nói “Chia buồn với anh nghe, Khánh Trang sắp lên xe hoa rồi. Đừng gặp Khánh Trang nữa nghe!”

“Thì trước giờ tôi cũng chỉ nhìn thôi!”

“Tụi ni không muốn làm khó, nhưng anh nói chuyện với Khánh Trang là tụi ni bị vạ lây”

Trong lúc đó, cô Khánh Trang xây lưng lại với hắn, yên lặng chờ các bạn rồi đi tiếp. Từ đó, hắn không còn thấy Khánh Trang đi ngoài phố với chúng bạn nữa. Các bạn cô cũng làm như không có hắn trên đời nầy.Hắn thấy chán nản và buồn. Càng nhớ cô Khánh Trang hắn càng quyết định rời Huế vì mọi nơi, đường phố, lăng tẫm, chùa chiền… nơi nào cũng hiển hiện hình bóng Khánh Trang.

Hắn làm đơn xin đổi lên Cao Nguyên và chờ được thuyên chuyển. Thừa Thiên, Huế năm nào cũng có bão lụt. Người ta thường bảo nhau “Ông (Trời) tha nhưng Bà (Thủy, lũ) không tha, làm cho một trận hăm ba tháng mười” Nghĩa là phải chờ cho đến hết ngày hăm ba tháng mười âm lịch mới biết chắc năm đó hết bão lụt. Vì đôi khi ở Huế trời tạnh ráo, nhưng trên Trường Sơn mưa lớn, vậy là nước lũ tràn xuống. Phần thượng nguồn của sông Hương, sông Bồ, nước chảy giữa những vách đá dựng đứng nên dồn xuống đồng bằng rất nhanh và mãnh liệt. Ở thôn quê, nửa đêm nghe nước réo ngoài sông, giật mình mở cửa, nước đã vào đến nhà! Năm đó bão lụt lớn, ngoài đường nhiều cây cổ thụ đổ ngổn ngang. Quận Nam Hòa, nơi hắn làm việc, thật là bi thảm. Nhà cửa bị gió giật, mái, vách bay tứ tán. Bà con bơ vơ, co ro trong mưa lạnh. Đa số đồng bào là người tỵ nạn Cộng Sản. Họ ở trong các mái tôn (tôle) do chính phủ cấp, ngày ngày đi làm mướn hoặc khai khẩn các rẻo đất mà dân địa phương bỏ hoang để trồng khoai, sắn, bắp sống qua ngày. Trước kia họ cũng có ruộng vườn ở các thung lũng phì nhiêu trong dãy Trường Sơn nhưng bị Việt Cộng về bắt đi bộ đội, dân công, đóng thuế, ủng hộ đủ thứ, lại thêm súng đạn hai bên bắn nhau, chịu không thấu, họ chạy về vùng Quốc Gia để đươc bảo vệ, giúp đỡ. Họ sống thật nghèo khổ, thiếu thốn.

Từ ngày về làm phó quận Nam Hòa, hắn thường đến các hội thiện để xin cứu trợ. Hội Thánh Tin Lành, cơ quan Caritas (Công giáo), Hội Hồng Thập Tự Huế, Tổng Hội Sinh Viên Huế… thường đến các ấp phân phát thực phẩm, khám bệnh, phát thuốc, đắp đường, sửa nhà cho đồng bào. Ngay cả khi không có bão lụt, hắn vẫn đi vận động các hội đoàn đến các ấp chữa bịnh, tặng quà cho đồng bào nghèo. Buổi chiều, sau một trận bão, đi làm về, hắn ghé hội Hồng Thập Tự. Anh Nghiên, chủ tịch hội đã chờ sẵn. Cả hai đồng ý sẽ đến các ấp bị nặng nhất trước tiên.

Theo chương trình ngày mai, hội sẽ lên làng Đình Môn. Đây là nơi xa nhất, hẻo lánh nhất, nằm cạnh lăng Gia Long. Sáng hôm đó, xe của hội Hồng Thập Tự đổ hội viên trước văn phòng quận, rồi đi đò máy ngược lên nguồn hữu sông Hương. Đến trưa thì mưa bắt đầu nặng hạt, nước dâng lên. Hắn vội thuê đò máy lên rước đoàn cứu trợ về, vì nếu còn nấn ná, nước chảy xiết, không có ghe đò nào dám lên đón cả. Vì xuôi giòng nên lúc về rất nhanh. Trời u ám, lất phất mưa và gió lạnh. Các hội viên co ro trong áo mưa, chỉ mong chóng về lại Huế nhưng xe của hội đã quay về rồi, đúng hẹn, chiều mới lên đón đoàn. Anh Nghiên, trưởng đoàn, đề nghị đi bộ lên lăng Khải Định tránh gió. Lăng xây tựa vào một ngọn đồi, kiến trúc toàn đá thanh và cẩm thạch, theo kiểu lai căng nửa Âu, nửa Á. Hắn ra chợ Tuần mua bánh mì và đường cho các bạn đỡ lòng. Một bạn khác lấy xe gắn máy của hắn chạy về Huế gọi xe lên đón đoàn. Tuổi trẻ thật hồn nhiên, các đoàn viên vừa ăn vừa ca hát. Hắn và anh Nghiên cùng vài bạn ngồi ở góc lăng chuyện trò.

Trong lúc các bạn đang ăn uống, cười đùa, hắn đứng lên xin được có mấy lời cùng đoàn cứu trợ.

“Nhân tiện đây tôi xin thưa với anh trưởng đoàn và các anh chị hội viên hội Hồng Thập Tự Thừa Thiên, Huế. Trong thời gian qua hội đã dành nhiều ưu tiên cho quận Nam Hòa. Chính quyền cũng như đồng bào không bao giờ quên tấm lòng vàng của các bạn. Mong các bạn tiếp tục giúp đỡ đồng bào Nam Hòa. Ít lâu nữa, ông phó quận mới đến thay, tôi sẽ giới thiệu ông ta với các bạn”

Mọi người ngạc nhiên “Ủa, chớ eng đi mô?”

“Tôi xin lên Cao Nguyên. Ở hoài một chỗ cũng chán…”

“Có phải vì thất tình người đẹp nên bỏ Huế mà đi chớ chi?”

“Cứ coi như vậy, cho có vẻ lãng mạn. Người đẹp lên xe hoa rồi! Nhắc lại thêm buồn”

Có người hỏi “Người yêu là em nào? Cho biết tên được không?”

“Tôi cũng định hỏi xem có ai biết gì về cô ta không. Cô tên Khánh Trang”

“Ở đây cũng có Khánh Trang. Khánh Trang mô rồi? Đứng lên cho ông phó coi có đúng là người đã bắt hồn, bắt vía ông ta không?”

Trong đám đông, một cô đứng lên. Hắn kinh ngạc khi thấy đó là cô Khánh Trang. Hóa ra những cô đi chơi trên đồi Thiên An đều có mặt trong đoàn cứu trợ. Hắn không biết cô Khánh Trang có mặt trong đoàn. Vì người nào cũng mặc áo mưa, trùm đầu, khó thấy rõ mặt, vả lại hắn chẳng quan tâm đến ai cả. Ngay buổi sáng, lúc đoàn cứu trợ đến quận, cô Khánh Trang đã thấy hắn, mừng rỡ nhưng không dám đến gặp, vì ba mạ cô đã cấm cô liên lạc với hắn. Khi cô Khánh Trang đứng lên, hắn sửng sờ “Em ở đây mà anh tìm khắp nơi!”

Hai người đứng nhìn nhau. Các bạn im lặng, mắt không rời ánh mắt si dại của đôi tình nhân. Hắn bước tới, cô Khánh Trang đưa hai tay ra, chờ đợi. Hắn ôm cô vào lòng, nhắm mắt lại. Cô tựa đầu trên vai hắn. Cô khóc. Lúc đầu, cô mím môi tự kìm chế nhưng rồi cô khóc oà, khóc nức nở. Hắn vỗ nhẹ lưng cô, thì thầm “Cám ơn em. Em Hoa Trang của anh. Lâu quá, không gặp em. Anh nhớ em quá mà không biết tìm em ở đâu?”

Cô nghẹn ngào “Anh ở đây, thỉnh thoảng em còn hi vọng được nhìn thấy anh. Bây giờ, anh bỏ em, anh đi. Nhớ anh, em biết tìm anh ở đâu!”

 Nhiều cô bạn ứa nước mắt khóc theo với cô.

Bỗng có tiếng kêu “Xe lên đón đoàn đến rồi!” Mọi người đứng lên, lặng lẽ đi ra cho đôi bạn được tự nhiên. Cô tựa đầu vào ngực hắn yên lặng. Hắn luồn bàn tay vào tóc cô, chải ra sau và hôn lên trán cô “Em lên xe. Các bạn đang chờ”

Cô lắc đầu “Em không đi đâu hết. Em muốn chết ở đây. Chết bên anh…”

Hắn vỗ về “Đi với anh một quãng đường ngắn nữa. Giỏi anh thương!”

Cô ngoan ngoãn vịn vai hắn bước xuống tam cấp trước lăng đến chiếc xe bên vệ đường. Ngồi trên xe, cô vẫn khóc thút thít. Cô bạn ngồi bên cạnh, ôm vai cô mà không biết nói thế nào để an ủi cô. Cô đưa tay ra, hắn đứng dưới đường, cầm lấy tay cô. Người lái xe chờ đến khi họ buông tay ra mới cho xe chạy. Cô vẫy tay “Nhớ viết thư cho em. Nghe anh!”

Cả đoàn vẫy tay từ biệt hắn. Hắn cũng vẫy tay. Nước mắt ứa ra, hắn đứng nhìn cho đến khi xe khuất sau rặng cây phía xa. Tối đó anh Nghiên, trưởng đoàn hội Hồng Thập Tự, đến rủ hắn đi uống cà phê. Anh nói là cả hội đều biết chuyện Khánh Trang và hắn. Nhưng ông bố Khánh Trang, là bác sĩ, thì ngăn cấm. Ông bảo Khánh Trang còn vài năm nữa sẽ tốt nghiệp bác sĩ, phải lo học… Hình như ông nhắm được một chàng rể tương lai cũng là bác sĩ. Không hiểu ông ta cấm đoán cách nào mà Khánh Trang đến hội ngồi khóc và nói “Ba mạ hỏi, em nói thật, ba mạ giận, cấm em không được gặp anh ấy nữa!”

Hắn rời Huế, lên Cao Nguyên làm việc mà hồn vía để cả ở Huế. Nghe cô, bà nào nói giọng Huế là hắn nhớ Khánh Trang đến thẩn thờ. Nhưng hắn không liên lạc với các bạn ở Huế để biết tin tức về Khánh Trang. Mỗi người đã có một định mệnh khác. Sợi dây đã bị cắt đứt. Hắn vĩnh viễn mất Khánh Trang.

Rồi mất nước, năm 1975. Sau bảy năm tù Cộng Sản, hắn không về quê mà ở nhờ nhà một người bạn ở Sài Gòn. Hắn mướn một chiếc xích lô đạp kiếm sống. Có hôm hắn ngủ luôn trên xe. Một thân một mình, hắn sống thảnh thơi, vô tư. Thế rồi có vụ HO đi Mỹ, lúc đó hắn lại nghĩ đến Huế, đến Khánh Trang. Hắn phải về thăm Huế một chuyến. Ngồi trên xe lửa gập ghềnh, huyên náo vì tiếng bánh sắt, tiếng người nói, hắn phân vân bây giờ Huế ra sao, cô Khánh Trang ra sao? Đến Huế, hắn vào thành nội thăm người chủ nhà trọ trước đây. Hắn mượn chủ nhà chiếc xe đạp, sáng hôm sau hắn đạp xe lên vùng Nam Hòa thăm lại cảnh cũ. Lăng tẩm, chùa chiền vẫn thế, nhưng hắn thì đã khác xưa. Mất nước, hắn thấy mình không còn chút liên hệ gì đến nơi nầy nữa. Hắn lên đồi Vọng Cảnh nhìn về các thôn xóm của quận Nam Hòa, nơi hắn từng sống với đồng bào, những người dân nghèo khổ trong những ngày chiến tranh khói lửa, tang thương. Hôm sau hắn dọ hỏi và được biết cô Khánh Trang có mở phòng mạch gần chợ An Cựu. Hắn quyết định đến thăm cô lần cuối

Chiều hôm đó, phòng mạch của cô đông khách. Hắn ghi tên vào danh sách khách chờ “Phó Nam Hòa” và lấy một số thứ tự cầm trên tay. Trong lúc chờ đợi, hắn phân vân, lát nữa vô gặp cô Khánh Trang, hắn sẽ làm gì, nói gì? Nếu cô không nhận ra hắn, không nhớ chuyện cũ thì sao? Có lẽ hắn sẽ khai một bịnh vớ vẩn nào đó cho xong. Ngồi suy nghĩ miên man cho đến khi nghe gọi đến số của hắn, hắn đứng lên bước vào phòng mạch. Một người đàn bà mặc áo choàng trắng, đeo kiếng trắng, hắn đoán là bác sĩ, đang chăm chú viết tên bệnh nhân (tên hắn) vào một mảnh giấy nhỏ, có lẽ là toa thuốc sẽ cấp cho hắn. Hắn vẫn đứng nhưng không dám nhìn mặt cô ta. Hắn mất bình tĩnh mà không hiểu mình đang sợ điều gì?!

“Mời ông ngồi!”

Hắn ngồi xuống ghế đối diện “Ông đau răng đây? (Bịnh sao đây?)”

Hắn nhìn thoáng cô ta, cố nhớ lại hình ảnh cô sinh viên ngày xưa để so sánh với cô bác sĩ hiện tại

“Tôi chỉ cảm sơ sài”

Cô đo áp huyết rồi móc ống nghe vào tai “Ông xây lưng lại”

Hắn xoay người, hướng mặt vào vách, nhìn vơ vẩn mấy tấm hình chụp cảnh lăng tẩm treo trên vách

“Ông nói tiếng Nam, lại họ Phó? Họ nầy hiếm lắm. Ông ra Huế bao lâu rồi? Ông đi công tác?”

“Tôi vừa đến Huế hôm kia. Tôi có họ khác, tên khác, nhưng trước đây, người ta thường gọi tôi như thế. Trước bảy lăm, Thừa Thiên, Huế có nhiều người họ Phó. Mỗi quận có một người họ Phó. Phó quận Nhứt, Phó Quảng Điền, Phó Nam Hòa…” Hắn nói giọng đều đều trong khi cô bác sĩ đè cái ống nghe lên lưng hắn

“Ông hít mạnh vào… Thở ra từ từ… Không có gì đáng lo. Như vậy ở Huế có nhiều người họ Phó? Nhưng tôi chưa gặp hay biết ai có họ đó bao giờ”

“Sau bảy lăm, mấy họ đó bị tru di tam tộc rồi, bác sĩ”

“Ông nói chi lạ rứa! Có ai bị tru di gì đâu?”

“Tru di từ từ”

“Bây giờ ông quay lại, để tôi nghe ngực ông. Ông có bị ho, bị nóng lạnh, bị tức ngực, đau bụng hay mất ngủ gì không?”

Hắn xoay người lại, đối diện với cô bác sĩ “Mấy hôm nay tôi bị mất ngủ”

Hắn vẫn không dám nhìn thẳng cô bác sĩ, nhưng hình ảnh cô sinh viên ngày xưa như hiện rõ trên gương mặt cô ta. Đôi mắt vẫn sáng lên, thông minh và đằm thắm như trước kia, nhưng làn da hồng mịn trên gương mặt hình trái xoan đã được tô lên một lớp phấn hồng và cuối mắt, ở khóe miệng đã có những nếp nhăn. Ngực cô ta, dưới chiếc áo choàng trắng, hình như lớn hơn. Ngực cô Khánh Trang, lúc trước, nhỏ như trái cam, tròn và căng cứng, da trắng hồng, thơm mùi con gái thanh tân.

“Ông há miệng ra!” Hắn há miệng. Cô bác sĩ nhìn hắn và bỗng nhiên cô buông ống nghe “

Anh! Anh đến thăm em sao không báo trước? Em có bao giờ nhìn kỹ bệnh nhân của em đâu! Anh thay đổi nhiều quá! Anh chờ em một phút”

Cô ra ngoài phòng khách. Hắn nghe tiếng cô nhỏ nhẹ “Tôi có người bịnh cần khám thật kỹ. Bác cảm phiền chờ hơi lâu một chút. Cám ơn nghe!”

Hắn rung động cả thần trí. Câu nói dịu dàng từ ngoài phòng khách khiến hắn bồi hồi, nhớ Hoa Trang đến mềm lòng. Đúng là giọng nói của người yêu ngày xưa. Hắn tưởng như nghe cả tiếng gió thổi qua rừng thông, vi vu trên đồi Thiên An, nghe cả tiếng xôn xao của các bạn cô cười nói dưới chân đồi. Nhưng em Hoa Trang đâu?

Tiếng chân cô bác sĩ đi vào khiến hắn mở mắt ra. Cô ngồi đối diện với hắn, gỡ mắt kiếng đặt lên bàn và nhìn hắn mỉm cười. Nụ cười thân thiện, vui mừng. Hắn bỗng nhận ra là cô bác sĩ nầy và người yêu của hắn khác nhau. Cũng gương mặt đó, nhưng không còn nét ngây thơ, trong sáng của ngày xưa mà thay bằng thái độ chửng chạc của người từng trải. Thời gian, bao nhiêu năm, đã tách rời hai người. Một cô sinh viên ngày xưa và một người đàn bà ngày nay. Hắn buồn quá.

Cô Khánh Trang nhìn hắn “Bây giờ anh kể em nghe. Sau khi rời Huế, anh đi đâu? Em có nghe anh lên Cao Nguyên, rồi sao nữa? Ủa! Sao anh buồn quá vậy?”

“Xin lỗi bác sĩ. Tôi có người thân vừa mới mất. Bác sĩ có cho phép tôi được khóc trong lúc nầy không?”

“Xin chia buồn với anh. Nhưng đời người, ai cũng phải đối diện với điều đó. Có lẽ đó là người thân nhất của anh?”

“Tôi chỉ có người thân duy nhất đó thôi. Người đó, có lẽ bác sĩ còn nhớ tên”

“Ôi! Cũng quen với tôi nữa? Anh có thể cho tôi biết tên được không? Vì sao người đó chết?”

“Em Hoa Trang. Đã chết rồi!”

Cô ngồi lặng người… Rồi cô thở dài, cô cầm lấy hai bàn tay hắn, thì thầm “Đừng anh! Tội nghiệp em! Anh nỡ nào giết chết em. Giết chết Hoa Trang của anh?”

Cả hai yên lặng. Không gian yên tĩnh lạ thường. Hắn cúi nhìn bàn tay ấm và dịu dàng của cô. Từ đôi bàn tay, hắn như thấy rõ Khánh Trang ngày xưa. Khánh Trang trong trắng và quyến rũ đã từng khiến hắn ước ao được mãi mãi nâng niu, ấp ủ.

Cô thì thầm “Em cám ơn anh vẫn còn nhớ đến Hoa Trang. Người đi xa bao giờ cũng mau quên hơn người ở lại. Thời thế đổi thay, ba me em mất rồi, bạn bè tan tác, chỉ mình em bơ vơ với những kỉ niệm cũ. Bao nhiêu năm rồi, em vẫn không quên được những ngày vô tư, đẹp đẽ của em với anh, với các bạn thân yêu. Nhiều khi cứ tưởng chuyện thời còn đi học chỉ là giấc mơ về một xứ thần tiên nào đó, vì hiện tại quá khắc nghiệt. Nước mất, nhà tan. Tan nát hết cả rồi! Em có về thành phố quê anh để tìm anh, nhưng chẳng ai biết. Em vẫn tự trách mình quá yếu đuối, để mất anh. Em hiểu được tình yêu nhưng không biết hạnh phúc là gì?”

Cô thở dài. Rồi bỗng nhiên cô nhoẻn miệng cười, mắt sáng lên như vừa tìm thấy niềm vui “Chỉ có anh. Nếu anh và em là vợ chồng thì dù khổ cực, dù xa anh, em nhớ anh, lo sợ cho anh cũng là hạnh phúc của em. Anh cười lên với em đi! Mừng với em được gặp lại anh”

Hắn cười thiểu não “Tôi mừng cho Hoa Trang. Trong hoàn cảnh bi thảm của miền Nam mà cô được như thế nầy là may mắn lắm rồi”

“Khó khăn lắm mới mở được phòng mạch chui nầy đó anh”

“Tôi đến thăm Hoa Trang lần cuối, tháng sau tôi đi Mỹ”

“Anh đi với cả gia đình?”

“Tôi chỉ còn bà mẹ. Tôi đi với bà cụ”

“Hôm nào anh rời Huế?”

“Vài hôm nữa. Huế buồn quá. Cũng may, có cô Hoa Trang vừa tặng cho nụ cười cũng an ủi”

“Nếu anh ở lại lâu hơn thì cô Hoa Trang của anh sẽ tặng anh nhiều nụ cười nữa!”

Bỗng nhiên hắn nhận ra. Cô Hoa Trang ngày xưa của hắn đã chết thật rồi. Cô Hoa Trang nầy chỉ là người bạn. Tại sao hắn không vui? Hắn vừa có một cô bạn mới. Cô Khánh Trang như cũng vừa nhận ra điều đó. Bao nhiêu năm xa cách. Tình yêu sôi nổi của thời sinh viên đã lắng xuống, chỉ còn tình thân ái đằm thắm và tín cẩn nhau của hai người bạn thân. Cả hai nhìn nhau cùng cười, lòng thanh thản. Hắn ôm cô Khánh Trang, hôn lên trán cô. Cô nói “Sáng mai, lúc tám giờ, em mời anh đi điểm tâm với em”

Hắn làm bộ e ngại “Ăn điểm tâm hay ăn đòn?”

Cô véo vai hắn “Không có đâu!”

Khi tiễn hắn ra, vì có bịnh nhân nên cô làm nghiêm “Sáng mai ông đến sớm, tôi mới có thì giờ khám kỹ hơn. Chào ông!”

Ra khỏi phòng mạch, đi được mấy bước, hắn bỗng khựng lại. Hóa ra hắn đã trắng tay. Quê hương, đất nước đã vào tay kẻ thù, sự nghiệp cũng không còn. Hắn ra Huế để tìm người yêu thì người yêu đã thành người bạn. Rồi đây, hắn sẽ lưu lạc đến một xứ sở xa lạ, nơi mà hắn chẳng thể hình dung được nó như thế nào? Nếu không mất nước, hắn không phải đi đâu cả. Trước đây, bao nhiêu sinh viên miền Nam du học, thành tài, đều về với quê hương.

Hắn đi ra phía bờ sông, tìm một thềm đá bên sông An Cựu, ngồi lặng nhìn giòng sông. Buổi chiều vắng vẻ, êm đềm. Hai bên bờ sông không một bóng người, chỉ có hàng cây đang nghiêng mình, soi bóng trên mặt nước. Hắn nghiệm ra, đời hắn và mối tình của hắn, cũng chỉ như giòng nước đang lặng lờ trôi, đã qua rồi thì không có cách nào trở lại được. Không còn gì. Hắn nhìn đăm đăm giòng sông và tưởng tượng. Nếu đi ngược lên thượng nguồn, sông An Cựu sẽ nhập vào sông Hương, đi qua những xóm làng yên tĩnh muôn đời. Kim Long, chùa Thiên Mụ, đồi Vọng Cảnh… rồi đến bến đò Tuần, đó là quận lỵ Nam Hòa, nơi trước đây hắn đã làm việc. Hắn nhớ đến những viên chức xã ấp thật thà, cần mẫn, nhớ đến đồng bào nghèo khổ vì chiến tranh. Hắn nhớ đến em Hoa Trang xinh tươi, đôi mắt đằm thắm, dịu dàng nhìn hắn, làn môi thanh xuân hé nở nụ cười. Cả hai, tay trong tay, đứng giữa rừng thông bạt ngàn trên đồi Thiên An…

Khám bịnh nhân cuối cùng xong, bác sĩ Khánh Trang dẫn xe gắn máy ra, khóa cửa. Cô bỗng thấy một chiếc xe đạp dựng ở vách phòng mạch. Có thể của bịnh nhân để quên. Cô chợt mỉm cười “Anh chàng nầy, cái gì cũng quên, chỉ nhớ mỗi một mình cô Hoa Trang! Buồn quá, ra bờ sông ngồi thở dài chứ gì?”

Cô lấy khóa còng, khóa hai xe vào nhau rồi đi bộ ra bờ sông. Cô đến sau lưng mà hắn không hay biết. Cô đứng chống nạnh, giả giọng miền Nam “Ê! Ông kia. Đừng thất tình mà nhảy xuống sông à nghe! Tui sẽ nhảy theo đó!.”

Hắn quay nhìn. Cô cười “Cho em ngồi chung với!”.

Phạm Thành Châu

Hải Vân

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 31 Mar 2026

Với một đời người

Lời Người Viết: Bởi đã qua Hải Vân từ 1952-1975-1988 như sau. Nên phải viết xuống. Bạn Đọc hiểu tôi không hề là loại người bày chuyện quá khứ bi lụy. Nên dẫu là một Người Lính, tôi (cũng) không thể chịu đựng hơn. 

Tôi qua Hải Vân năm lên mười

Trời biển lung linh nắng sáng mới

Hồn thơ xôn xao rung vời vợi

Tiếng quê hương chưa (biết) nói nên lời

Niên thiếu lớn khôn từ Vũng Hàn (1)

Trông lên đỉnh bay trắng tầng mây 

Người trước tay trần phá vỡ núi 

Thịt xương mùm ủ thấm vực sâu 

…

Tôi với Hải Vân buổi tàn cuộc

Đứng giữa đường đèo tim nhói buốt

Nhìn suốt quê hương ôi thảm thương

Quảng Đà-Trị Thiên hồi đổ sụp

Mẹ quê tóc rối môi khô quắp

Bế con im bặt không tiếng khóc

Trăm dặm đường xa rời Quảng Trị

Lên đèo nhỏ chết nghẹt đi khuất

…

Tôi về Hải Vân đọa đày tù

Mười bốn năm dài nhục thấm dư

Thấy lạ núi đồi, lạnh vịnh biển

Quê nhà còn đâu? Cơn mộng du

Một cuộc chiến tranh bao người chết

Vình quang thắng lợi nào dấu vết

Có chăng dằng dặt tận khốc âm

Mang mang biển trời thảm phận Việt

(1) Vũng Hàn: Phương danh cũ Đà Nẵng.

Phan Phi Danh,

Nhân ngày mất Đà Nẵng-Nha Trang,

29-30/1975-2026

Quê nhà – Quê người

baotreonline.com

Huy Phương

Post on October 9th, 2020

Post by Sơn râu 31 Mar 2026

“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,

Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”

(Kahlil Gibran)

Chuyện gì nhắc chúng ta biết rằng một ngày đã qua: tiếng đồng hồ báo thức mỗi buổi sáng hay khi chúng ta mở vòi nước để làm vệ sinh?

Chuyện gì nhắc chúng ta một tuần lễ đã qua: sáng thứ Bảy dậy trễ hay có hẹn đưa gia đình đi chơi cuối tuần?

Chuyện gì nhắc chúng ta hai tuần đã qua: đến kỳ lãnh check lương hay ngày rằm, mồng một ăn chay?

Chuyện gì nhắc chúng ta một tháng đã qua: trả các thứ bill nhà, bill điện, bill nước?

Chuyện gì nhắc chúng ta sáu tháng đã qua: vặn đồng hồ lui hay tới một giờ?

Chuyện gì nhắc một năm đã trôi qua: phải chăng là những khúc ca Giáng Sinh rộn ràng và các thương xá giăng đèn kết hoa, và với người Việt là hoa cúc, hoa mai, bánh chưng, bánh tét và những bài hát về mùa Xuân đã trở lại?

Trọn một năm rồi, hôm nay tôi trở lại văn phòng dịch vụ khai thuế mà cảm thấy như mới đến đây hôm qua, cũng anh chàng khai thuế vui tính, những chồng hồ sơ ngổn ngang, trên vách chiếc đồng hồ tròn chậm rãi đếm giây…

Một năm nữa đã qua. Ði khai thuế mỗi năm hẳn lòng ta chẳng có cảm xúc gì, nhưng bạn cứ tưởng tượng: nào, ngày con cháu chúng ta tốt nghiệp; nào, ngày tan trường, ngày tựu trường, mùa Thu lá rụng, rồi mùa Ðông tuyết rơi.

Không những một giờ, một ngày qua rất nhanh, mà một năm, mười năm cũng như phút chốc. Phương Ðông nói: “Thời gian như bóng câu qua cửa sổ” (câu quang quá khích). Ca dao Việt Nam: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa; Nó đi đi mãi chẳng chờ đợi ai!”.

Thời gian có những bước đi cố định của nó, nhưng qua chủ quan, nhanh chậm hay dài ngắn lại “tùy người đối diện”, dù Lamartine đã thốt nên lời: “Thời gian ơi, xin hãy ngừng cánh bay.” (O temps, suspends ton vol!).

Chúng ta vẫn thường than vãn “ngày vui qua mau!”. Trái lại,  Kim Trọng tương tư Thuý Kiều thì một ngày cũng dài bằng ba năm: “Sầu đong càng lắc càng đầy; Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!”. Người bị gông cùm, lao lý thì “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Phải chăng vì: “Người vui thì than đêm ngắn; Kẻ buồn lại hận canh dài”.

Những ngày ở trong tù bao năm về trước, hằng ngày phải lao động khổ sai vất vả, chúng tôi thấy ngày quá dài, chỉ mong đến lúc có tiếng kẻng “thu dụng cụ” để ra về, kiếm chén khoai lửng dạ và ngã tấm thân gầy guộc mệt nhoài trên chiếc chõng tre. Ðêm là lúc tự do, riêng rẽ một mình thì quá ngắn, vì người tù cảm thấy sợ hãi khi nghe tiếng kẻng đánh thức để bắt đầu một ngày nữa, vất vả và vô vọng.

Bây giờ tóc đã hoa râm, ngoảnh mặt nhìn lại: “Hồng Hồng! Tuyết Tuyết! Mới ngày nào còn chửa biết chi chi!” (Dương Khuê) nào còn bồng bế nay đã trưởng thành, đúng là “đời người như giấc mộng”.

Nghĩ lại, thời hoa niên, rồi chiến tranh, tù đày, lưu lạc quê người cũng qua nhanh. Bây giờ không còn nói chuyện một ngày, một tuần, một tháng qua, mà nói chuyện mười năm, ba mươi năm, sáu mươi năm qua. Nhìn lại quá khứ, hình như chúng ta đều mang trong lòng nỗi tiếc nuối hơn là vui mừng vì chúng ta chưa làm được điều gì đó trong những ngày tháng cũ.

Ai cũng nói được câu “dĩ vãng là lịch sử,” là những điều đã qua, nhưng văn thơ, âm nhạc đều khóc lóc, thương tiếc những ngày tháng cũ. Người thì xin đi lại từ đầu, người thì gọi ngày xưa là hoa bướm… Hiện tại là món quà Trời cho (present) nhưng ít ai biết giá trị mà nâng niu nó, để khi nó đã trở thành dĩ vãng mới buồn bã khóc than. Phật Pháp cũng có nói đến: “Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hãy sống tỉnh thức trong giờ phút hiện tại!”.

The Persistence of Memory – tranh Salvador Dali

Về giá trị của thời gian, phương Tây nói:

“Ðể biết giá trị của một năm, hãy hỏi một sinh viên vừa thi trượt năm cuối;

Ðể biết giá trị của một tháng hãy hỏi một người mẹ sanh non;

Ðể biết giá trị của một tuần hãy hỏi chủ bút của một tuần báo;

Ðể biết giá trị của một giờ, hãy hỏi những người yêu đang chờ đợi gặp nhau;

Ðể biết giá trị của một phút, hãy hỏi người vừa lỡ chuyến tàu;

Ðể biết giá trị của một giây, hãy hỏi người vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc;

Ðể biết giá trị của một phần nghìn giây hãy hỏi người vừa nhận huy chương bạc trong cuộc thi Olympic.”.

Thời gian đi những bước đều đặn, như tiếng đồng hồ “tic-toc” nhịp từng giây, nó chẳng bao giờ chạy nhanh theo ý ta, hay chậm lại để chờ đợi ai. Chuyện cổ tích của Ðông Âu, ông Tiên cho mỗi con người một “cuộn chỉ thời gian”, chiều dài của cuộn chỉ là chiều dài của mỗi đời người. Ai thấy đời khổ đau thì cứ kéo vội sợi chỉ đi nhanh, ai muốn hưởng hạnh phúc thì kéo cuộn chỉ chậm lại.

Này người bạn già của tôi ơi! Khổ đau hay hạnh phúc, bạn đã kéo “cuộn chỉ đời” bạn, nhanh hay chậm, thì chúng ta chỉ còn lại mươi vòng chỉ nữa thôi. Vì thời gian vẫn trôi đi, nên chúng ta không thể dừng lại, mà vẫn phải tiếp tục kéo sợi chỉ ra khỏi cái lõi của nó, cho đến lúc thở ra hơi thở… cuối cùng.

Liệu trong mươi vòng chỉ còn lại này, chúng ta có thể làm gì để bù đắp cho gần cả một “cuộn chỉ đời” dài dằng dặc của những ngày tháng đã qua từ bao lâu nay không?

HP

Một bữa cơm trên lưng

Thơ Phan Nhật Nam

Lời chuyển thể & kịch bản Vũ Đình Trọng

VDT OnlineMedia

Thơ Phan Nhật Nam

(*) Một bữa cơm trên lưng: Tiêu lệnh cho người lính

thuộc đơn vị tác chiến nhảy dù trong Lệnh Hoạt Động Ngày Mai.

Nay bão lửa vây quanh

Người lính già gục mặt

Tưởng lại thời khó nhọc

Quê nhà xa chiến tranh

Tuổi trẻ nguyện ở lính

Gian khổ nên thường tình 

Tháng, năm không lễ, tết

Ngày ngày không bữa ăn

Cơm không dọn lên mâm

Chẳng dùng chén, bát, đũa

Bóp nắm mang lên lưng

Dừng quân dần ăn vội

Ồ hạnh phúc biết bao

Nấu được nồi canh nóng

Rau rừng quơ mấy nhúm

Nón sắt sủi hơi bùn

Thôi cũng là mãn nguyện

Điếu thuốc lá thần tiên

Hôm nay không đụng trận

Qua được giờ bình yên

Sau một đêm ngủ đỗ

Đợi ngày mai xung phong

Lên mục tiêu tuyến lửa

Chuẩn bị cơm trên lưng   

…

Quân ào tới sóng nổi

Quên hẵn mối hiễm nghèo

Nghiệp lính đời nguy biến

Đâu nề lửa đạn reo

Trận chiến dần kết thúc

Xác kẻ chết rách bung

Cục cơm nắm cắn dỡ

Còn nóng ấm hơi người

Ôi tuổi trẻ khốn khổ

Nửa thế kỷ trôi qua

Chết cùng đành quá tội

Chưa nuốt xong miếng cơm.

Nhân ngày 26/3//2026

Nhớ lần kết thúc cuộc di tản Cao Nguyên (16/3-26/3/1975)

Phan Phi Danh

Nhớ Cao Nguyên

baotreonline.com

17 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 31 Mar 2026

Kỳ trước: Người sĩ quan Biệt Động Quân ấy bị thương, nhập viện, xuất viện… rồi xin đi phép về thăm nhà vài hôm. Trên chuyến trực thăng HU1 D mà ông “quá giang” sẽ xảy ra những sự kiện hồi hộp hơn trong phim sẽ được đăng tiếp dưới đây.

Bài nhiều kỳ – Kỳ 3

Phi cơ bốc lên lấy cao độ rồi lao nhanh trong không trung. Lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ trên chiếc quan tài cứ bật lên, bật xuống, từng cơn phần phật, như muốn thoát ly ra khỏi lòng con tàu để bay ra ngoài.

Chúng tôi đáp xuống Châu Sơn không khó khăn. Dưới sân nhà thờ đã có nhiều người đứng chờ, trong đó có trung đội chung sự của Tiểu Khu Daklac. Tôi bàn giao chiếc quan tài của người đồng đội cho những người phụ trách công tác tiễn đưa tiếp theo, rồi lên tàu tiếp tục cuộc hành trình.

Rời Châu Sơn, chúng tôi nhắm hướng Ðức Lập. Có một công văn khẩn phải trao cho đơn vị Công Binh đang xây dựng căn cứ Bu Prang. Sau việc này máy bay mới trở về Ban Mê Thuột, đi Nha Trang, ra Qui Nhơn, cuối cùng sẽ quay lại Pleiku. Tôi sẽ chấm dứt chuyến quá giang này khi phi cơ xuống Ban Mê Thuột đổ xăng.

Chúng tôi chỉ ghé phi trường của Trại Ðức Lập một phút, trao tay cho ông Ðại úy Tỵ cái bì thư rồi đi ngay.

Trực thăng vừa rời Ðức Lập thì trời chuyển cơn giông, trần mây quá thấp, lại đen kịt đầy chớp giật ngay trên đầu. Ông phi công vội vàng cho con tàu vọt lên cao tránh sét đánh. Gần tới cao độ bảy nghìn bộ tôi mới thấy trời quang đãng. Phi cơ tiếp tục lên cao hơn, càng lên cao, nhiệt độ càng giảm. Dù hai anh cơ phi xạ thủ đã đóng kín hai cửa hông của máy bay rồi mà hai hàm răng của tôi còn đánh vào nhau “Cộp! Cộp!…”

Bay được khoảng nửa giờ thì trực thăng giảm độ cao. Tôi ước tính nếu đi đúng đường thì dưới kia phải là thành phố Ban Mê Thuột. Nhưng ông phi công cứ bay vòng vòng hoài mà không tìm ra cái lỗ hổng nào để chui xuống. Dưới bụng con tàu là một biển mây trắng xóa.

Tranh Bảo Huân

Không ai biết độ dày của cái nệm mây dưới kia là bao nhiêu. Nếu mạo hiểm chui xuống, không may mà cánh quạt chặt phải cây cối hay cột đèn thì chết ngay.

Tôi thấy ông phi công chợt kéo cần cho con tàu đổi hướng sau một hồi đàm thoại với đài kiểm soát không lưu ở dưới đất.

Tôi đoán mò, chắc ông ta được lệnh bay tới một phi trường khác để hạ cánh chăng?

Thế là, chiếc trực thăng cứ “Bạch! Bạch! Bạch!…” vút đi, dưới bụng con tàu vẫn là mây trắng xóa.

Tôi bắt đầu chột bụng khi nhìn thấy, qua vai người lái, cái kim đồng hồ xăng đang tiến gần chữ “E” (E=Empty=Trống rỗng= Hết nhiên liệu).

Bên cạnh đồng hồ xăng là cái quả cầu đo thăng bằng của phi cơ. Phi cơ vẫn trong tình trạng bình phi, nghĩa là bay bình thường, nhưng không hiểu vì sao mà quả cầu của phi cơ lại liên tục lộn mèo, chao đảo, không yên. Cái kim la bàn dạ quang trên đồng hồ chỉ hướng của phi cơ cũng quay lung tung, chẳng biết máy bay đang đi theo hướng nào!

Tôi mở cái địa bàn ra, để trên đùi gióng hướng thì toát mồ hôi, trực thăng đang vùn vụt bay theo hướng Tây Bắc! Chẳng lẽ ông phi công này bay đi Tiêu Atar? Tiêu Atar ở giữa rừng, làm gì có xăng!

Tôi nhỏm người vỗ vai ông Mỹ,

-Where’re you going? Were you lost? (Anh đi đâu vậy? Anh lạc đường rồi à?)

Ông đại úy quay mặt, trợn mắt,

-Sit down! Shut your mouth! (Ngồi xuống! Câm miệng lại!)

Nghe ông phi công nẹt, tôi cũng chột dạ, nín thinh; tôi chỉ là hành khách, ông ta mới là người cầm vận mạng cái trực thăng này.

Anh cơ phi xạ thủ rời vị trí, leo lên chỗ tôi ngồi, ghé tai tôi nói nhỏ,

-Do not make a mess! Let him go with the instrument! (Ðừng quấy rối! Ðể cho ông ta bay theo phi cụ!)

Dứt lời, anh ta thân thiện vỗ vai tôi một cái rồi trở về vị trí cũ của anh.

Hình như ông đại úy này rất có uy, từ khi lên máy bay tới giờ, tôi thấy thuộc hạ của ông cứ răm rắp thi hành khẩu lệnh của ông mà chẳng dám có ý kiến gì.

Tôi là sĩ quan bộ binh, xía vào chuyện bay bổng, bị ông ta nẹt cũng là đáng đời.

Nhưng tôi vẫn cứ phập phồng lo. Nếu tiếp tục thế này thì chỉ vài chục phút nữa là trực thăng hết bay nổi, bình xăng trống rỗng thì làm sao mà bay?

Trong khi đó thì ông trưởng phi cơ tiếp tục công việc một cách rất tự tin. Ông ngồi với tư thế của một kỵ mã, tay phải nắm cần lái như nắm dây cương, lưng ông hơi chồm về đằng trước như đang ở trên yên ngựa. Tay trái ông liên tục vặn vặn, nhấn nhấn, hết nút này tới nút kia.

Qua khe hở của cánh cửa phi cơ khép chưa kín, tiếng nổ của ống phản lực trên nóc con tàu cứ đều đều, “Bùng! Bùng! Bùng! …

Thế rồi, khoảng chừng mười phút sau tôi thấy ông đại úy đột ngột giơ hai tay lên cao, vỗ mạnh mấy cái vào chiếc nón bay trên đầu mình, miệng lớn tiếng chửi thề,

“ F!…you! F! …you!…” (Mẹ kiếp! Mẹ kiếp!…)

Chắc ông ta đổ quạu sau khi thấy hệ thống phi cụ (flying instrument) của con tàu đã rối loạn, không thể điều chỉnh hay sửa chữa được nữa.

Rồi, bất thình lình, tôi cảm thấy như rớt cả tim, gan, phèo, phổi, vì con tàu đột ngột lao xuống, xuyên thẳng vào cái nệm mây trắng dày đặc dưới bụng. Qua lớp mây dày là trần mây thấp. Tiếp đó, bên hông con tàu đã có những cụm mây màu xám đục bay ngang. Rồi máy bay bồng bềnh trên biển sương trắng loãng; dưới bụng con tàu là một dải rừng bằng phẳng màu nâu trùng điệp. Phi cơ từ từ giảm tốc độ, khi trước mắt tôi hiện ra, không xa lắm, một khoảng đất trống, giống như một mặt hồ cạn nước mùa khô.

Viên phi công ghìm cần lái; con tàu sà xuống; một cú đáp thật lành nghề!

Máy bay vừa chạm đất, cánh quạt còn vèo vèo cuốn gió, bốn ông Mỹ đã vọt lẹ.

Trên tàu còn lại mình tôi. Tôi sợ rằng nếu mình nhảy ra, lỡ con tàu nghiêng đổ làm cho cánh quạt chặt lung tung, có khi bị đứt đầu, đứt cổ.

Tôi cứ hai tay giữ chặt chân cái ghế ngồi, dựa lưng vào vách máy bay, mặc cho thân mình lắc lư theo con tàu.

Một lúc sau thì ông phi công chính cũng quay trở lại. Ông leo lên đưa tay vặn vặn, bấm bấm, mấy cái nút, vài giây sau thì động cơ ngừng quay.

Chui ra khỏi trực thăng, tôi leo lên một ụ đất quan sát địa hình mà chẳng biết mình đang ở tọa độ nào.

Hiện thời chúng tôi đang ở giữa một cánh đồng, cỏ cao ngập đầu người, xung quanh là rừng cây trống chân. Rừng thì bạt ngàn nhưng chỉ có một loại cây dầu rái lá đỏ. Loại cây này chỉ cao tối đa là hơn mười mét, thường mọc trên vùng đất pha đá tổ ong, thân và cành sần sùi, lá lốm đốm xanh, vàng, nâu, đỏ. Nhựa của loại cây này dùng pha sơn, hoặc quết lên phên làm vách nhà, hay trét cho ghe thuyền không bị nước tràn vào.

Theo tôi biết thì rừng loại này chỉ có ở khu vực Cheo Reo và vùng hướng Ðông tỉnh Lomphat của Cao Miên. Vùng Cheo Reo toàn đồi núi, nơi đây thì bằng phẳng hơn.

Trước khi hạ cánh, chúng tôi đã bay rất lâu theo hướng Tây Bắc, như vậy chắc chắn giờ phút này tôi đang đứng trên đất Cao Miên!

Tôi xách chiếc PRC 25 ra giữa bãi tranh, mở máy gọi đài tiếp vận Hàm Rồng. Không nghe tiếng trả lời.

Tôi chợt nghĩ tới toán tuần tra biên giới của Phòng 2 Quân Ðoàn. Nếu gọi được họ, chắc họ sẽ có cách cứu mình.

Khổ một nỗi, chiếc PRC 25 của tôi chỉ có ăngten lá lúa, chúng tôi lại đang ở vùng đất thấp, không thể liên lạc được những đài ở xa.

Trong lúc tôi loay hoay với cái máy PRC 25 thì ông đại úy cũng bận rộn với chiếc máy phát tín hiệu cầu cứu Beacon của ông. Hình như ông không gọi được đài nào, mặt ông ướt đẫm mồ hôi.

Chợt trong trí tôi loé lên một ý mới. Tôi tiến tới bên ông đại úy Mỹ, đề nghị với ông ta rằng, ông ta thử cố gắng bay lên cao, giữ lơ lửng trên không một vài phút phát tín hiệu cho đài Peacok hoặc cho chiếc máy bay OV 10 đang bay tuần tra biên giới để cầu cứu xem sao.

Chẳng biết kế sách của tôi có đúng sách vở hay không, mà vừa nghe xong, mắt ông ta sáng lên ngay. Ông ra dấu cho ba người còn lại tản ra xa, ôm súng canh gác rồi kéo tay tôi leo lên tàu. Ông vặn nút cho máy chạy. Cái cánh quạt chuyển động từ từ chầm chậm, rồi nhanh dần, nhanh dần…

Con tàu bốc lên cao. Lên tới độ cao khoảng hai trăm thước thì hết lên nổi.

Trong khi ông phi công Mỹ nói lia lịa, tôi cũng lớn tiếng phát thanh bổng, hy vọng có ai đó ở đài Hàm Rồng nghe được tiếng kêu cứu của mình,

– Cấp cứu! Trực thăng của tôi rơi trong vùng biên giới Miên! Yêu cầu tuần tra biên giới bay theo biên giới Miên và Pleiku tìm chúng tôi!

Tôi mới gào lên được một câu thì trực thăng hoàn toàn hết xăng. Con tàu rơi tự do.

“Ầm!”

Bụng trực thăng chạm đất gây nên một tiếng động điếc tai. Bụi bay mù cả một vùng rộng lớn.

Tôi cứ lì lợm ôm chặt hai chân cái ghế ngồi. Cho tới lúc con tàu chao qua một bên, cánh quạt quật “Choảng! Choảng! Choảng!…”  vài nhát toé lửa trên mặt đá tổ ong, rồi nằm im, tôi mới buông tay ra. Con tàu không phát hỏa, hết xăng rồi, làm sao mà cháy được?

Vào lúc tôi vừa chui ra khỏi tàu thì vọng lại từ xa, hướng Tây có tiếng súng bắn “Bóc! Bóc! Bóc!…”

Hướng Tây thì làm gì có quân bạn? Chắc là Việt-Cộng rồi!

Bốn ông Mỹ này kể ra cũng là những tay có bản lãnh, vừa nghe tiếng súng, họ liền chạy ào lên chiếm lĩnh một mô đất cao, vào đội hình, hai phi công thủ súng ngắn, P38, hai cơ phi xạ thủ ôm súng dài, M16, dựa lưng vào nhau, chia hai hướng, sẵn sàng chiến đấu. Tôi cũng vội vàng chạy theo chân họ.

Tôi không mang theo súng ngắn, lại cũng chẳng có súng dài, chỉ có con dao găm giắt bên ống quần. Nếu phải đánh nhau thì không tử trận, cũng thành tù binh!

Nhìn quanh, thấy chỉ có cỏ tranh và cây khọt, không có hang động nào có thể chui vào để trốn lánh, không có gốc cổ thụ nào để ẩn núp, năm người ngồi chụm vào nhau giữa đồng trống thì không khác gì đang ngồi làm năm cái bia cố định cho những tên địch núp trong rừng nhắm bắn.

Sau vài giây do dự, tôi cắm đầu chạy về phía chiếc trực thăng, hy vọng trong lòng tàu có vật gì dùng làm vũ khí được không. Chiếc trực thăng giờ này trông sống động lạ kỳ!  Cái đuôi máy bay bị gãy một khúc dài chừng một thước. Phía sau hai càng thì cắm xuống đất, phía trước hổng lên cao, nhìn như một con cá voi đang vượt cạn. Dưới bụng con cá voi là một vùng bầy hầy nhớt nhát dầu mỡ đen thui. Chiếc trực thăng đã đứt hết kinh mạch rồi, máu huyết của nó là dầu mỡ tuôn ra tung toé, ngập lụt một khu rộng lớn dưới bụng và xung quanh nó.

Tôi hét lên vui mừng khi nhìn thấy hai khẩu M 60 còn nguyên không hư hại,

– Có súng rồi! Tôi có súng rồi!

Leo lên tàu, một tay kéo cơ bẩm khẩu M 60, tay kia giơ lên vẫy bốn anh lính Mỹ, tôi la lớn,

-Come here! Come here! Hurry up! Hurry up! (Lại đây! Lại đây! Mau lên! Mau lên!)

Bốn ông lính Mỹ tỉnh ngộ ngay, liền chạy ào lên tàu. Ngay tức khắc, đạn lên nòng, hai khẩu đại liên trong tình trạng sẵn sàng.

Chúng tôi chờ đợi khá lâu mới nghe trên trời có tiếng động cơ “O!…O!… ! O!…” của máy bay trinh sát. Trong máy PRC 25 của tôi có người gọi:

“Ðây là alpha! Có ai nghe không?”

Tôi cầm máy lên,

– Tôi là người kêu cứu, alpha có nghe được tôi không?

Người trên tàu ra lệnh,

– Giới chức đưa máy cho ông “mũi lõ” ngay đi! (Ông mũi lõ: có ý nói là người Mỹ)

Tôi biết, hàng ngày quân đoàn đều biệt phái một sĩ quan Việt-Nam theo phi hành đoàn Mỹ bay trên trinh sát cơ OV10 nhiều giờ để theo dõi hoạt động địch trên biên giới Lào, Miên và Việt Nam.

Trong một lần ghé Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II, tôi có gặp một Trung úy tên là Anh. Ông Anh là dân không ảnh và không thám của Phòng 2. Không biết người xưng danh là alpha trong chiếc OV10 trên kia có phải là ông Trung úy Anh không?

Tôi chuyền cái ống nghe cho ông đại úy Mỹ. Lập tức ông và người sĩ quan Hoa-Kỳ đang lái chiếc OV 10 trên kia hối hả lớn tiếng trao đổi với nhau những câu, tôi nghe mà không hiểu gì cả, có thể là họ dùng mật khẩu để xác nhận xem người đang nói chuyện có phải là bạn không?

Rồi ông đại úy rút khẩu súng phóng hỏa châu trong túi áo bay dệt bằng lưới của ông ra. Khẩu súng bắn hỏa châu có hình thù một điếu xì gà, nhỏ và gọn như đồ chơi trẻ con. Ông phóng một viên hỏa châu lên trời.

Sau khi nổ một tiếng “Bóc!” trái hỏa châu toả sáng như ngọn pháo bông trong khoảng thời gian chừng nửa phút.

Anh trung úy phi công phụ cũng bắn tiếp một hỏa châu nữa ngay sau khi viên hỏa châu đầu vừa tắt.

Tôi là “tay tổ” viễn thám, nào có lạ gì những dụng cụ thoát hiểm này. Trừ cái máy Beacon ra, tôi cũng được trang bị đầy đủ, nào là, một địa bàn, một gương chiếu, một súng hoả châu, một tấm banner sơn màu da cam óng ánh để chỉ điểm cho phi cơ, cùng với băng cầm máu, thuốc lọc nước, thuốc chống muỗi…vân vân.

Có điều, tôi chỉ mang những thứ này khi đi hành quân hay khi đi nhảy toán.

Lần này tôi quá giang trực thăng là để về thăm “bồ”, nên tôi không hề nghĩ tới chuyện vác theo mấy thứ đồ nghề lỉnh kỉnh này.

Trong khi hai ông phi công bận bịu liên lạc với quân bạn thì tôi và hai anh xạ thủ vẫn không dời mắt quan sát khu rừng hướng Tây.

Bất chợt, tôi giật nẩy mình khi thấy trong rừng tranh cao cỡ đầu người thấp thoáng có hai cái nón cối di động từ từ về hướng chúng tôi.

Tôi định giơ tay chỉ cho anh cơ phi xạ thủ biết vị trí hai tên địch đang đi tới, thì khẩu M60 đã nổ, “Ðùng!… Ðùng!…Ðùng!…”

Chớp mắt, mấy trăm viên đạn đại liên đã cày nát một khoảng đất rộng. Cỏ te tua rạp xuống, lộ rõ hai cái xác bộ đội chính quy Bắc Việt đẫm máu, nằm sõng soài trên nền đá tổ ong, bên cạnh là hai khẩu AK.

Lúc này trời đã quang đãng trở lại. Chiếc OV 10 tiếp tục bay vòng vòng trên cao.

Chừng nửa giờ sau, tôi nghe vọng lại, từ hướng Ðông, những tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!…” của trực thăng. Có lẽ cũng vài ba chiếc đang trên đường bay tới.

Khi thấy trên trời có hai chiếc Cobra vừa lộ diện, tôi và anh phi công phụ vội tụt xuống đất nắm tay nhau, nhảy cẫng lên reo mừng.

Ông phi công chính cũng ra khỏi tàu, đứng bên tôi. Ông ta rút chốt và ném một quả lựu đạn khói tím ngay trước mặt.

Khói chưa lên tới đọt cây, Cobra đã bay vòng vòng trên bãi tranh.

Trên trời, hai anh phi công Mỹ đưa tay vẫy chào. Chúng tôi cũng quơ tay vẫy lại.

Khi vạt rừng lá đỏ hướng Tây bắt đầu hứng một trận mưa đạn đại liên và 40 ly của hai chiếc Cobra, thì một HU 1D ào xuống.

Chiếc máy bay cứu cấp không đáp trên đất mà chỉ lơ lửng chờ.

Gió của cánh quạt máy bay làm cho cỏ tranh rạp sát đất, lá đỏ thì bay tung lên như bươm bướm trong khói tím.

Chiếc tàu ở ngay trên đầu tôi, cao cỡ một đầu, một với.

Tôi nhún chân, lấy đà nhảy lên. Hai tay tôi níu được cái càng trực thăng.

Trên máy bay, anh xạ thủ làm như không nhìn thấy tôi, mắt anh ta cứ chăm chú nhìn về hướng bìa rừng, hai tay anh ta ghìm chắc khẩu đại liên M60 trong tư thế sẵn sàng siết cò.

Tôi chưa kịp đu mình đưa tay chụp cái chân ghế của xạ thủ đại liên thì đã bị rớt xuống trở lại.

Tôi vừa rớt xuống đất, thì ông đại úy và anh cơ phi đã nhanh nhẹn kê vai, xốc nách, nâng tôi lên cao, đẩy tôi vào lòng tàu. Rồi chỉ chớp mắt sau, họ đã leo lên ngồi bên cạnh tôi. Bên cái cửa đối diện, hai anh Mỹ kia cũng đã có mặt lúc nào tôi không hay.

Sau này, nhớ lại tình trạng nguy khốn ngày ấy, tôi vẫn còn sởn tóc gáy! Vì vào giây phút mười chết, một sống đó thì mạnh ai, nấy chạy, nếu hai anh bạn Ðồng Minh chỉ lo mạng sống của chính họ, nhắm mắt phóng lên tàu, bỏ mặc tôi dưới đất, thì cũng chẳng ai kết tội họ cả.

Chúng tôi đã an toàn ngồi trên tàu, nhưng cái máy PRC 25 của tôi và súng ống của phi hành đoàn đều bị bỏ lại.

Chiếc máy bay cứu cấp cất cánh gần như thẳng đứng. Hai khẩu đại liên M 60 bắt đầu “Cành! Cành! Cành!…” nhả đạn.

Lúc này thì từ rừng lá đỏ dưới chân tôi, đủ loại súng của Việt-Cộng bắt đầu đua nhau bắn lên trời.

Nhiều tiếng súng “Choang choác! “xen lẫn nhau của RPK, AK.

Có vài viên B 40, B 41 đã nổ “Ùng! Oàng!…”  trên bãi cỏ tranh, chỗ chiếc trực thăng nằm bất động.

Ngay khi đó từ hướng Ðông đã hiện ra hai chiếc phản lực cơ F 5 của Hoa Kỳ. Anh trung úy phi công phụ nói rằng hai chiếc F 5 này sẽ làm nhiệm vụ phá hủy cái trực thăng xấu số.

Trên đường về Pleiku, ông đại úy trưởng phi cơ đã nắm chặt tay tôi rồi nghẹn ngào:

“I’m so sorry!” (Tôi rất ân hận!)

Tôi cũng dang hai tay, ôm ông ta,

– You are a real brave warrior! (Ông thực sự là một chiến binh can đảm!)

Anh cơ phi xạ thủ cũng cho tôi biết, ông đại úy vốn là dân “Kỵ Binh Bay” kỳ cựu. Ông ta từng một thời bay trực thăng “Cán gáo” OH 6, gan dạ có một không hai của Ðại đội Trực Thăng Thám Sát trực thuộc Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.

Ðầu năm 1969 tôi đã có dịp làm việc cả tháng trời với đại đội trực thăng thám sát này ở căn cứ Oasis, Thanh An, Pleiku.

Ðơn vị này được tổ chức từng hợp đoàn gồm một trực thăng “Cán gáo” loại OH 6 hai chỗ ngồi, hai trực thăng võ trang Cobra, một trực thăng HU 1D để tìm cứu và một trực thăng chỉ huy C&C.

Họ hành động nhịp nhàng và ăn khớp với nhau như những bộ phận của một cỗ máy.

Chiếc OH 6 cứ bay là là sát “da đầu” mục tiêu, gió từ cánh quạt trực thăng thổi tung từng tàn lá, mái tranh, lùm tre. Khi phát giác địch thì phi công phụ nhanh tay thả một quả lựu đạn khói trên mục tiêu, phi công chính lập tức kéo cần cho máy bay vút chạy ra xa, tránh đường cho Cobra chúc đầu xuống bắn phá.

Hai Cobra đánh phá vừa xong thì một hợp đoàn khác cũng có hai Cobra hộ tống, cõng một đại đội Biệt Ðộng Quân vào vùng để khai thác mục tiêu.

Qua một thời gian tiếp xúc, tôi biết rằng, đơn vị này quy tụ những tay phi công lỳ lợm nhứt của Lục Quân Hoa-Kỳ.

Những ông phi công này nốc Whiskey như uống nước lạnh. Nhứt là những tay lái “Cán gáo” thực sự là dân “gan cùng mình” và lỳ đòn, bạt mạng. Mỗi lần họ leo lên OH 6, ví như một lần Kinh Kha ôm kiếm qua sông.

Như vậy, chắc chắn năm ngoái, tôi và ông đại úy này đã có lần cùng nhau tham chiến đâu đó trong vùng Plei De Chi, Lệ Thanh, Ðức Cơ, Ia Drang và Chu Prong.

Chúng tôi chia tay nhau ở sân bay Holloway. Bốn ông Mỹ lên xe cứu thương để đi khám sức khoẻ, còn tôi thì lên xe đưa đón nhân viên của Camp Holloway để về Biển Hồ.

Chuyến đi này của tôi đã không tới được Ban Mê Thuột mà còn bị “vượt biên” bất đắc dĩ, suýt chết.

o O o

Tình yêu thời chiến

Tôi và Thiếu úy Duyên tá túc trong nhà Trung tá Bé, nhưng lại ăn cơm tháng tại nhà tài xế Thuộc. Nhà Hạ sĩ Thuộc nằm bên kia đường, đối diện với cư xá Trần Quý Cáp. Trong nhà Thuộc, ngoài vợ chồng Thuộc và hai đứa con nhỏ ra, còn một người em họ của Thuộc là cô Ba. Cô Ba mặt mày hiền hậu, dễ thương. Cô Ba và vợ Thuộc đi làm sở Mỹ. Trung sĩ Lê Sanh Ma trưởng toán viễn thám dưới quyền tôi lại là người cùng xứ Bình Ðịnh của gia đình chú Thuộc. Thuộc và Ma thân nhau như anh em. Những ngày không hành quân, không trực gác, Ma đều về ở chơi trong nhà Thuộc.

Dự trù giữa năm 1970 thì Trung sĩ Ma và cô Ba sẽ về quê Qui Nhơn làm đám cưới. Tháng Tư năm 1970 Trưởng toán viễn thám Lê Sanh Ma vướng mìn khi nhảy xuống Căn cứ Hỏa lực Tango. Sau ba tháng nằm Quân Y Viện, Lê Sanh Ma thành một phế binh, hai chân bị cưa quá đầu gối. Anh phải đi trên đôi nạng và hai chân giả. Xuất viện trở về, anh Ma bỗng đổi tánh, hung dữ lạ kỳ, suốt ngày càm ràm, oán trời, trách đất.

Anh thường la mắng cô Ba rất nặng lời, dù cô chẳng làm điều gì phật ý anh.

Ăn chả! Ăn nem!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Mar 2026

Tục ngữ có câu: “Ông ăn chả; bà ăn nem!”

Chả và nem đều ngon hết ráo nên ông hoặc bà đều khoái ăn vụng là chuyện đương nhiên. Nhưng nghĩa bóng của câu nầy là anh ‘tù ti tú tí’ với ai kia… Thì để trả thù em sẽ biến anh thành một con bò, có hai cái sừng to to, do em cắm ở trên đầu anh!

Bấy lâu nay bà con mình cứ ngỡ là khi không hạnh phúc với vợ, mấy anh mình mới lừa dối vợ, mới ngoại tình! Nhưng sự thật phũ phàng duyên kiếp ba sinh có thể không phải là như vậy.

Theo thống kê, 56% đàn ông ngoại tình là để được hạnh phúc hơn trong đời sống hôn nhân (?!). Nghe tréo lỗ tai quá hè!

Vì khi trốn vợ nhà đi ăn chả, mấy anh mình không hề có ý định ‘xây dựng phòng nhì’. Không phải hết yêu em anh mới lên giường với ai kia. Mà vì nó cứ bẹo bẹo trước mắt hoài làm con lợn lòng của anh kêu ột ột thì làm sao mà chối từ cho nó đặng?

Ngoại tình thường xảy ra khi các cặp vợ chồng bắt đầu có của ăn, của để, có con, có cái nhưng trớ trêu thay tình ta lại khô như ngói, cứng nhắc, đâm ra nhàm chán! Lãng mạn của tình ta cứ mòn dần theo năm tháng…rồi trôi lặng lẽ vào nơi quá vãng hoàng hôn!

Thế là ông ăn chả; nhưng chả đâu mà có sẵn để ông ăn? Thì cũng quẩn quanh đâu đó thôi hè. Có thể là người bạn gái ngày xưa của thời thơ ấu; thời khi xưa ta bé ta ngu ta lấy giây thun ta bắn con… con gì hè? “Tình đầu hồ dễ ai quên!”

Rồi cũng theo thống kê, (thống kê hoài hè), có 60% cuộc ngoại tình xảy ra nơi mấy anh mình đang làm việc.

Chuyện nầy cũng dễ hiểu, dễ cắt nghĩa! Đi vô đi ra, ngày 8 tiếng, tuần 5 ngày, 40 tiếng, (gặp mặt em nhiều hơn gặp mặt vợ) liếc mắt đưa tình, rồi cọ qua quẹt lại… lửa nẹt gần rơm khô nẻ tất bùng cháy thế thôi!

Rồi hỏng chóng thì chầy bụng em sẽ sình chương như ăn quá nhiều hột mít lùi tro!

Chữ rằng “Trai tài gái sắc” mà. Quan anh có ‘tài’ lòn cúi, đút lót, nịnh bợ, kết bè tạo cánh như Bí thơ tỉnh Thanh Hóa mới ‘quằm’ được em gái một con trông mòn con mắt, trẻ hơn 30 tuổi hè, (có sắc, đẹp gấp ngàn lần con vợ già khú đế), mà cứ bẹo hình bẹo dạng hoài thì quan anh làm sao nhịn them cho được hè?

Quan anh ăn chả vì chả thơm nức mũi thì phải lủi đầu vô! Nhưng cảm giác tội lỗi đè nặng lên tâm khảm khiến thân thể bất an, luôn phập phồng, mặt mày dáo dác như thằng ăn trộm chó!

Tối ngủ giựt mình tỉnh giấc, còn say ke, mơ mơ màng màng không rõ người nằm bên cạnh chàng là ải; là ai? Là bồ hay là vợ? Buột miệng ra kêu trật một tiếng ‘Hồng, Lan, Đào, Cúc’ gì gì đó? Là cha mầy cũng chết!

Vì vậy mới có chuyện rằng: “Chàng ra nhà thờ làm lễ hôn phối chỉ lẩm bẩm lầm bầm vài câu là được vợ. Rồi cũng hai mươi năm sau, cũng lẩm bẩm lầm bầm vài câu, lúc đang ngủ; là không còn vợ nữa!”

Chính vì vậy mà: Anh xin cúi đầu chờ ân huệ em rộng lòng tha thứ cho anh!

“Jake đang hấp hối. Vợ Jake ngồi bên giường bệnh. Jake thều thào giọng yếu ớt! “Anh phải thú thật vài điều!” “Không cần đâu anh!”

“Không anh phải nói ra để khi chết lương tâm của anh sẽ cực kỳ thanh thản về bên kia thế giới!” “Anh đã tù ti tú tí với chị em, với em gái của em và với những người bạn thân nhất của em!”

Con vợ nói: “Em biết em biết rồi! Anh cứ nằm im đi để độc dược nó phát huy tác dụng nhe anh!”

Vợ Tây thấy chồng Tây bội phản là ra tay tàn độc giết hại kẻ ngoại tình. Nhưng vợ Việt thì cư xử khác hơn nhiều: “Tại sao mầy lấy chồng tao?” Rồi xúm lại xé quần, xé áo con nhỏ, tô hô ra cho người xem một chút.

Nên sáng nay em đi học trễ. Cô hỏi lý do? Trên đường em thấy hai cô đang đánh ghen. Cô nầy đòi lột quần cô kia nên em đi học trễ ạ!

Thấy Thúc Sinh hông? Khi Hoạn Thư làm quá, sợ Kiều bị y vậy chàng chỉ còn biết khóc hu hu, móc mớ tiền lộ phí ra, khuyên Kiều “Thôi ái ân chỉ có dường nầy… Dông cho lẹ Kiều ơi!”

Do vụ ăn chả này lúc ăn thì ngon thiệt nhưng ăn rồi là vướng vào vòng oan nghiệt nói thiệt hỏng có đường ra.

Quý anh mình không thấy Ngài Tổng thống Mỹ Donald Trump bị em diễn viên chuyên đóng vai khiêu dâm, phim người lớn, làm cho một lần là tởn, không còn dám đi nước mặn cho hà ăn chân!

Dù đã có 130 ngàn đô Mỹ để em im đi cái mõm. Giờ cơ hội kiếm tiền nhiều hơn gấp cả chục lần ngu sao mà em lại chịu im mà không phun ra tá lả.

***

an cha an nem 03Ông ăn chả như vậy còn bà ăn nem gây ra nhiều di lụy gấp cả ngàn lần nữa kìa. Vì đời mà phụ nữ cũng lừa dối như đàn ông, và sự ngoại tình của họ thường nguy hiểm hơn!

Người phụ nữ khi đã ăn nem rồi thì về tới nhà rửa miệng đàng hoàng xong, tô son trét phấn nên ông chồng dẫu có hai cái sừng trên đầu, đi ngờ ngờ ai cũng biết chỉ có một người (là thằng chả) không biết!

Nên có chuyện rằng: Một đôi vợ chồng trung niên có hai đứa con gái cực kỳ xinh xắn nhưng cứ bàn nhau là tụi mình sẽ có thêm một đứa con trai.

Họ cố gắng lần chót để có con trai. May mắn thay em có bầu và sanh ra một thằng cu khỏe mạnh.

Ông bố chạy vội đến nhà bảo sanh để nhìn mặt thằng cu. Nhưng kinh hoàng khi thấy thằng bé mặt mày xấu đau, xấu đớn.

“Anh không thể là tác giả, làm bố của thằng nầy đâu. Em thấy hai đứa con gái của anh cực kỳ xinh đẹp như thế nào. Chắc em đã lặng lẽ cắm sừng anh phải không?” Người vợ cười ngọt ngào nói: “Lần nầy thì đâu có nè!”

Bị cắm sừng nếu có máu giang hồ là vác súng ra bắn cho chết cha tụi mầy hết ráo! Nhưng có người trả thù kiểu đánh vào túi tiền của nó hơn là ghen tức điên lên xài dao búa chi cho vô tù để chúng nó khi là thằng ngốc!

Một ông bước vào quán rượu gọi một chai beer. “Thưa ông được! Xin ông cho một xu!” “Chỉ một xu thôi sao?”

Sau đó ông nhìn thực đơn, hỏi giá: “Còn một miếng thịt bò bít tết với nước sốt hảo hạng và một chai rượu giá bao nhiêu?” “Mười xu thưa ông!”

“Chỉ 10 xu!” “Ai là chủ quán rượu nầy vậy?” “Dạ ổng ở trên lầu với vợ tui.”

“Vậy ổng ở trên lầu với vợ ông đề làm cái gì?” “Cũng mua bán giống hịt như tui đang làm dưới nầy đó thôi!” He he!

Tụi mầy ở trên lầu càng lâu là cái tiệm rượu nầy sẽ không còn một giọt.

***

Đời mà chuyện ông ăn chả bà ăn nem. Ăn là phải trả giá ngay cả tới cái mạng của mình thì rán chịu chớ đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Nhưng có ông không ăn chả gì ráo; chỉ vì xui rủi bị lan can phải giã từ trần thế!

Nên có chuyện rằng: “Một hôm thiên đường trở nên thặng dư quân số, nạn nhân mãn, ông Trời quyết định phải có hành động gấp để giải quyết vấn đề nhân mãn nầy mới được.

Thế là Ngọc Hoàng Thượng Đế bèn cử ra một viên quan giữ cửa và phỏng vấn mấy đứa đang sắp hàng là đã chết như thế nào để lựa bỏ bớt ra.

Nếu chết vì tha nhân thì Thiên đường sẽ rộng cửa đón chào kẻ anh hùng hi sinh vì đại nghĩa. Bằng ngược lại, chúng phải sa vào hỏa ngục.

“Nè nhà ngươi thấy đó, Thiên đường bữa nay chật cứng hè nên bổn chức sẽ phỏng vấn những oan hồn chết tức tưởi như thế nào. Nếu hay tốt sẽ được vào bằng ngược lại sẽ ‘one way ticket’ xuống địa ngục trình diện Diêm vương nhe.”

“Tui nghi ngờ con vợ tui cắm sừng tui. Một hôm trốn sở làm, tui về về sớm để mong bắt được tại trận đôi gian phu, dâm phụ!

Quả nhiên thấy con vợ tui nằm chồng ngồng ở trên giường, tui bèn lùng sục khắp cả phòng nhưng không tìm thấy được tên gian phu, trộm tình lúc tui đi cày kiếm cơm cho vợ.

Rồi sực nhớ căn apartment của mình ở lầu thứ 25 trong tòa nhà chúng cư và mình có cái ban công. Vậy là tui chạy ra ban công kiếm!

Quả nhiên ngay chóc! Có một thằng ở trần, mặc quần đùi đeo tòn teng, lủng lẳng phía ngoài chấn song.

Giận quá, tui giẫm lên mấy ngón tay của nó nhưng nó rán đau không chịu buông tay. Tui chạy vô nhà lấy ra cái búa rồi tui búa. Búa liên tu bất tận nên nó chịu đau không nổi, buông tay rớt xuống ngọn cây ở dưới.

Thấy nó vẫn còn sống, tui dời cái tủ lạnh trong nhà ra, rồi xô xuống rớt ngay chóc trên đầu của nó.

Vì dùng sức quá nhiều nên tui bị lên cơn nhồi máu cơ tim. Thở khò khè rồi đứt bóng.”

“Wow! Tội nghiệp cho ông quá! Thôi ta cho phép ông được vào chốn thiên đường!”

Người đàn ông kế tiếp: “Tui ở tầng 26 trong tòa nhà đó. Đánh đu vào ban công tập thể dục, chẳng may sút tay ngã nhào xuống tầng 25 nhưng vẫn rán bám vào được vào gờ ban công!

Bỗng nhiên có một thằng khùng trong nhà chạy ra giẫm mạnh vào tay tui. Rán chịu đau tui vẫn bám.

Rồi nó chạy vô nhà tui tưởng mình sẽ an toàn, tìm cách leo vô! Ai dè nó vác ra cái búa đóng đinh. Trời ơi! Cái bàn tay búp măng xinh đẹp của tui như vậy mà nó đè xuống đóng, đóng và đóng.

Đau quá, tui buông tay rơi cái vèo xuống may mắn dính vào một ngọn cây phía dưới. Nhưng thằng khùng đó hình như chưa hả giận, nó vào nhà khệ nệ kéo ra cái tủ lạnh xô xuống. Cái tủ lạnh rơi trúng đầu tui và tui chết ngắc.

“Wow Tội nghiệp quá! Thiên đường xin chào đón ông!”

OK! Người đàn ông thứ ba nói: “Tui không biết chuyện gì đã xảy ra bên ngoài vì lúc đó tui đang trần truồng như nhộng núp trong cái tủ lạnh!

Để kết luận: Chả và nem nhứt là chả Phượng, nem Công là những món cực kỳ ngon nên quý anh mình khoái ăn chả và quý chị mình cũng khoái ăn nem.

Riêng tui hỏng tốt lành gì đâu! Thấy chả Phương cũng thèm nhễu nước miếng đi chớ bộ nhưng vốn là dân ngu khu đen thì làm gì có tiêu chuẩn cấp cao cỡ Donald Trump cho được.

Vậy là tui về nhà ăn cơm nguội. Vì ca dao cũng có câu rằng: Chàng ơi phụ thiếp mà chi! Thiếp là cơm nguội phòng khi đói lòng!

Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 30 Mar 2026

Chương 4

Chúng tối phải đi làm công tác đặt dây kẽm gai. Tối rồi các xe mới đến. Chúng tôi leo lên. Đêm ấy trời ấm áp và ánh hoàng hôn nhi7 một vòm trời mà chúng tôi cảm thấy muốn kéo nhan đến ẩn náu. Đến như thằng cứt sắt Tjaden cũng cho tỏi một điếu thuốc và còn bật diêm cho nữa.

Chúng tôi đứng chen chúc nhan, vai kề vai, không có chỗ đặt đít. Nhưng chúng tôi đâu có dè, Lần đầu tiên thằng Maller hớn hở, nó đi đôi bốt mới. Các máy rù rì, xe nảy lên nảy xuống và lạch cạch. Đường sá đã hư hỏng và toàn ổ gà. Chúng tôi không dám bật đèn nên cứ phải chạy mò và lắm lúc gần văng ra khỏi xe. Tuy nhiên, điều này không làm chúng tôi lo, một cánh tay gãy còn hơn là thủng ruột và lắm thẳng còn mong được một cải may mắn như thế để tìm đường về hậu phương với gia đình. Cạnh chúng tòi là đoàn xe tiếp tế đạn dược dài dằng dặc. Họ vội vã hơn nên vượt lên trước, Chúng tôi bông đùa với họ và họ cũng bông đùa lại. Một bức tường hiện ra, bức tường của một ngôi nhà nằm bèn vệ đường. Tôi bỗng vễnh tai nghe. Phải chăng tôi lầm? Tôi nghe rõ ràng tiếng ngỗng cục tác. Tôi liếc nhìn Katczinsky – anh liếc lại: chúng tôi thông cảm nhau.

«Kat, tôi nghe đẳng kia có tiếng đôi kẻ muốn ngồi vào quánh thì phải.

Bác gật. «Hôm nào trở lại mình sẽ tính. Tôi biết chúng có mấy tên rồi, »

Dĩ nhiên là Kat biết chúng có bao nhiêu. Bác biết rõ có bao nhiêu cẳng ngỗng trong một phạm vi mười lăm đặm. Xe đến các tuyến trọng pháo. Các địa điềm đặt đại bác được ngụy trang bằng các bụi cây để tránh các phi cơ thám sát, trông chẵng khác nào một đảm hội căng lều nhà binh. Cành lá trông vui vẻ phởn phơ chỉ phải cái có đại bác nằm dưới. Không khi sặc mùi kbỏi súng và sương mù. Kbói thuốc súng làm cay lưỡi. Đại bác nã àm ầm làm xe chúng tôi lảo đảo, tiếng rền thịnh nộ kéo dài ra sau mọi vật rung chuyển. Nét mặt chúng tôi thay đồi lúc nào khòug hay. Thật ra chúng tôi chưa ở tiền tuyến, mới ở hàng trừ bị, thế mà trên bộ mặt nào cũng như nói ra: Đây là Mặt trận, giờ đây mình nằm trong lòng nó. Chẳng phải vì sợ. Những thằng xông pha như chúng tôi thì đã dày dạn. Chỉ có tụi tân binh non choẹt là xao xuyến. Kat giảng giải cho chúng: «Đây là ba-mươi ly. Nghe tiếng nổ trước rồi mới đến tiếng súng. »

Những tiếng nổ rống của hỏa lực không kịp đến chúng tôi. Nó bị nuốt vào cái tiếng ì ầm toàn diện của mặt trận. Kat nghe ngóng:

«Đêm nay thế nào cũng có dội bom.»

Chúng tôi đều nghe ngóng. Mặt trận không yên tiếng súng. «Tụi Ăng-lẻ đã bắn rồi, »

Kropp nói.

Tiếng đại bác nghẹ rõ mồn một. Tiếng súng của bọn Anh ở bên phải khu vực chúng tôi. Chúng bắn sớm đến một tiếng đồng hồ. Theo chúng tôi kinh nghiệm, chúng thường lệ bắn đúng vào mười giờ. «Chúng giở chứng gì đây? » Muller nói, «dễ thường đồng hồ chúng chạy mau. »

«Thế nào cũng có dội bom, tao đã bảo mà, cái gì chứ cái đó tao nhậy cảm lắm, »

Kat nhún vai. Ba quả đạn đại bác rơi cạnh chúng tôi.

Lữa tóe lên trong sương mủ, các mảnh đạn rú lên và vù vù. Chúng tôi rùng mình mong sao sáng sớm được trở về lều. Mặt chúng tôi cũng chẵng xanh hơn chẳng đỏ hơn thường lệ, cũng chẳng căng hơn chẳng xỉn hơn – ấy thế mà có thay đổi. Chúng tôi cảm thấy trong máu minh đã có sự tiếp xúc. Đây chẳng phải là lối nói văn vẻ; mà là sự thực. Chính cái mặt trận, cái ý thức mặt trận, nó gây nèn sự tiếp xúc này. Ngay cái lúc mà các viên đạn đầu tiên rít trên đầu và không khí rền tiếng nổ, thì bỗng các mạch máu, tay, mắt, đều căng thẳng chờ đợi, rinh rập, các giác quan sâu thêm rộng ra và sắc bén lạ kỳ. Cả cái thân hình đột nhiên chuẩn bị sẵn sàng.

Tôi thường có cái cảm giác như thể chính cái không khí rung động run rẩy chồm lên chúng tôi cứ êm như không, hoặc như thể chỉnh cái mặt trận đã phóng ra một luồng điện làm thức tỉnh những trung tâm thần kinh thầm kín. Lần nào cũng y như lần nào. Khi khởi hành ra mặt trận, chúng tôi là những thằng lính được vui hoặc buồn; nhưng vừa thấy các địa điềm đại bác đầu tiên là từng lời nói một của chúng tôi nghe đã khác.

Khi Kat đứng trước lều bảo: «Sẽ có dội bom», đó chỉ là ý kiến của bác ta; nhưng khi nói tại đây thì câu nói nghe sắc bén như lưỡi lê dưới ánh trăng, nó cắt đứt phăng ý nghĩ, nó thọc gần hơn và nói với cái gì không rõ nó thức tỉnh ở nơi ta, một ý nghĩa đen tối. «Sẽ có dội bom. » Phải chăng đó là đời sống thâm hậu nhất thầm kín nhất của ta nó rùng mình thủ thế.

Đối với tôi mặt trận là một vũng nước xoáy bí mật. Mặc dầu đứng ở chỗ nước yên và lòng nước xoáy, tôi vẫn cảm thấy cái sức xoáy của cái vũng kia từ từ cuốn lấy tôi, không sao cưỡng nổi, không sao tránh khỏi vào lòng nó. Từ mặt đất, từ không trung, các sức mạnh bổ dưỡng rót vào chúng tôi – nhất là lừ mặt đất. Không với ai bằng với người lính mặt đất lại thiết tha đến thế. Khi hắn nằm áp mình trên nó, dài người bám chắc, khi hắn vùi mặt mình chân tay mình sâu vào nó vì sợ chết vì bom đạn, lúc đó nó là bạn duy nhất của hắn, là anh hắn, là mẹ hắn, hắn vui sự khiếp đảm của mình các tiếng kêu của mình vào sự câm lặng của nó vào sự an toàn của nó, nó che ẩn hắn cho hắn tạm thuê thêm mười giây sống, rồi lại tiếp nhận hắn, nhận đi nhận lại, đời đời.

Đất! – Đất! – Đất!

Đất hỡi vởi các nếp của mày, các hố các hốc của mày, trong đó thằng người bất thần ném mình xuống nằm dài! Trong cái rung mình khiếp đảm, dưới tiếng kêu gọi của tận diệt, trong tiếng nổ rống lên giọng tử thần, ôi Đất hỡi, mày cho chúng tao cái xung lực kháng cự mạnh mẽ của một cái sống được chiếm lại. Bản thân chúng tao, gần như bị cái cuồng nộ của giông tố cuốn đi, lại trao lại vào tay mình cũng nhờ mày và chúng tao, những thằng mày chuộc lại, vùi mình trong mày và trong những giây phút chết dở câm lặng dài dằng dặc của hy  vọng, đôi môi chúng tao cắn chặt vào mày!

Vừa nghe tiếng vù đầu tiên của đạn đại bác, chúng tôi thut lai vào một phần nào của con người mình hàng ngàn năm. Dìu dắt bao bọc cho chúng tôi là cái bản năng thú tính thức tỉnh ở mình. Nó không ý thức, nó nhanh hơn, chắc hơn, ít lầm lẫn hơn là ý thức nhiều. Người ta không thể giải thích được. Con người chân bước đâu có nghĩ đâu có chủ ý; – bỗng hắn ném mình xuống đất và các mảnh đan rào rào như bão bay bên trên hắn và hắn thoát nạn;- tuy nhiên hắn không sao nhớ được là đã nghe tiếng đạn bay đến hay đã nghĩ phải lao mình nằm xuống. Nhưng nếu hắn không buông mình xuống theo cái xung lực kia thì giờ đây hắn chỉ còn là một đống thịt nát. Chính cái kia, cái thị giác thứ hai ở ta nó đã ném ta xuống đất và cứu ta, mà ta cũng chẳng biết ra sao. Bằng không thì từ Flanders đến rừng Vosges đã không còn ai sống sót. Chúng tôi tiến bước, mấy thằng lính, hoặc buồn hoặc vui, -chúng tôi đến cái khu vực nơi mặt trận bắt đầu và tức thì trở thành những con người thú.

Một đám rừng trông xơ xác tiếp đón chúng tôi. Chúng tôi đi qua đoàn hỏa đầu* Nhờ rừng bọc chúng tôi xuống xe. Các xe quay trở lại. Sáng, trước bình minh, họ sẽ trở lại đón chúng tôi.

Sương mù và khói súng nằm trên đồng cao đến ngực. Trăng còn soi. Trên đường, lính đi hàng dọc. Mũ sắt óng ánh dịu dưới ánh trăng. Đầu người, họng súng nhô trẻn sương mù trắng, đầu lắc lư, đu đưa vác súng. Xa xa sương đã tan. Đầu đã trở thành người, áo, quần, bốt hiện ra khỏi sương mủ như khỏi ao sữa. Họ trở thành một hàng dài. Hàng tiến bước, thẳng tới, các hình dáng trở thành một khối, các cá nhân không còn được nhận ra, mũi dùi đen thọc tới, toàn đầu và vũ khí bập bềnh trôi trong ao sữa trông thật dị kỳ. Một đội quân – đâu phải là người. Đại bác và xe cộ tải đạn dược trẩy qua một ngã tư. Lưng ngựa bóng dưới ánh trăng, cử động uyền chuyển trông đẹp mắt, đầu ngúc ngác, mắt long lanh. Đại bác và xe ngựa bập bềnh trước cái nền mờ ảo của cảnh vật dưới ánh trăng, những người cỡi ngựa với chiếc mũ sắt trông như những hiệp sĩ thời xa xưa; đẹp lạ kỷ, trông không chán mắt. Chúng tôi tiến tới kho đạn tiền phong. Chúng tôi thằng thì đặt lên vai những cây sắt nhọn ngoằn ngoèo, thằng thì những thanh sắt trơn qua các cuộn dây thép rồi tiếp tục đi. Các thứ vừa nặng vừa kềnh càng. Mặt đất trở nên gập ghềnh hơn. Từ đằng trước có tiếng báo: «Coi chừng, lỗ đạn sâu bên trái » – « Để ý, hào ».

Mắt nhìn chăm chú, chân mò gậy lần trước mặt trước khi lê sức nặng của thân xác. Bỗng hàng đứng lại, tôi đập mặt vào cuộn dây thép của thẳng đi trước tôi và chưởi thề. Trên đường có vài chiếc xe trúng đan. Một lệnh khác: «Bỏ thuốc, bỏ píp. » Chúng tôi tiến gần chiến tuyến. Đồng thời trời tối đen như mực. Chúng tôi đến viền một khu rừng nhỏ và chiến tnvến nằm ngay trước mặt chúng tôi. Một ánh lửa đỏ mập mờ trải di dọc theo chân trời, từ đầu này đến đầu kia. Ánh lửa luôn luôn lập lòc, điểm bằng những ngọn lửa phát ra từ miệng các đại bác. Những quả bóng ánh sáng tung lên cao, những quả cầu bac và đỏ nổ tung và rơi xuống như mưa rào đầy sao đỏ, trắng, xanh. Hỏa tiển Pháp phóng lên tỏa thành một dù bạc trên không và từ từ lượn xuống. Chúng soi sáng cảnh vật như ban ngày, ánh sáng soi lên chúng tôi và chúng tôi thấy các bóng mình hằn lên mặt đất. Chúng lượn chừng một phút rồi tắt ngúm, Tức thì những cái khác lại phóng lên, lại tỏa thành các vì sao xanh, đỏ, lơ.

«Oanh kích. » Kat nói.

Tiếng sấm đại bác dồn lên thành một tiếng ầm ầm duy nhất và rồi tản mát ra thành những tiếng nổ riêng. Tiếng súng máy lạch tạch ròn rã. Trên đầu chúng tôi không trung đầy đặc sự chuyển động nhanh nhẹn vô hình, tiếng rít, tiếng nổ như bắp rang, cùng tiếng vì vèo. Đó là những đạn nhỏ và giữa chúng, đì đùng suốt đêm như một đản phong cầm, là các đại bác cỡ bự. Tiếng chúng rống lên, khàn khàn, xa xa, như tiếng hươu đực đang động cỡn, bay trên cao, trên các tiếng rên hú và vèo vèo của các đạn nhỏ. Nghe chúng, tôi lại nhớ đến đàn ngỗng rừng. Thu năm ngoái, đàn ngỗng rừng bay hết ngày này qua ngày khác giữa lằn đạn đại bác.

Các tia rọi bắt đầu quét sạch bầu trời đen tối. Chúng lướt trên không như những dây đo không lồ. Một tia dừng lại và hơi rung rung. Tức thì một tia nữa dừng lại bên nó, một con côn trùng đen bị kẹt giữa hai tia và cố lần tránh – chiếc máy bay. Nó ngập ngừng, quáng mắt và rơi xuống.

Cứ cách quãng đều chúng tôi lại thọc các cây sắt vào. Hai thẳng giữa một cuộn còn mấy thẳng kia kéo dây kẽm gai ra. Dây với dợ toàn những đinh nhọn dại dày đặc. Tôi không quen tháo dây nên bị rách tay.

Vài giờ sau xong công tác. Nhưng còn phải đợi xe đến. Phần đông nằm xuống làm một giấc. Tôi cũng cố chợp mắt, nhưng trời đã đổ lạnh. Gần biển nên lúc cũng bị lạnh phá giấc. Có lần tôi ngủ say như chết. Bỗng chợt tỉnh không còn biết mình nằm đâu. Thấy các sao, thấy các hỏa châu, trong một lúc tôi có cảm tưởng là mình ngủ giữa đám hội. Tôi không rõ là sáng hay tối, tôi nằm trong cái nôi lờ mờ của tranh tối tranh sáng và lắng nghe những tiếng dịu dàng đưa đến, dịu và gần – phải chăng tôi khỏc? Tôi đưa tay lên mặt. thật là kỳ quái, phải chăng tôi còn bé? da mịn; – chỉ thoáng trong mỏt giây và rồi tôi nhận ra bóng dáng Katczinsky. Vốn lính cựu, bác ngồi thong dong hút píp. dĩ nhiên píp cũng phải che. Khi thấy tôi tỉnh giấc, bác nói:

«Chả là cái đầu đạn, nó rơi xuống cái bụi đẳng kia? »

Tôi ngồi dậy, tôi cảm thấy cô đơn kỷ lạ. Có Kat đấy thật là phúc đức. Bác đăm đăm nhìn mặt trận và nói:

«Pháo bông đẹp tuyệt phải chi đừng nguy hiểm. »

Một quả rơi ngay sau chúng tôi. Hai anh tân binh nhảy lên hoảng hốt. Hai phút sau một quả nữa rơi còn gần hơn. Kat gõ điếu. «Nó sáng rực. »

Rồi là rơi đều đều, Chúng tôi bỏ đi cho lẹ. Một quá rơi ngay giữa chúng tôi. Hai tên hét lên. Hỏa châu xanh phóng lên ở chân trời. Họ bắn rào. Bùn tung toẻ lên cao, các mảnh đạn bay vèo vèo. Các tiếng nổ gầm lên mãi rồi mới nghe tiếng cắc của súng. Cạnh chúng tôi một chú tân binh tóc vàng sợ thất đảm. Hai tay ôm mặt, mũ văng đâu không biết. Tôi nhặt được cố đội lại vào đầu cho hắn. Hắn ngước nhìn, hất mũ ra và như một đứa bé bò vào nách tôi đầu áp vào ngực tôi. Đôi vai nhỏ bé rung rung. Cũng như đôi vai Kemmerich. Tôi mặc hắn. Chiếc mũ còn có lúc hữu dụng, tôi buộc vào sau đít hắn; – chẵng là phải là đùa, nhưng mà là vì cẩn thận, vì lúc đó cả người hắn chỉ có cái đít là cao hơn cả. Và mặc đầu lắm thịt, đạn mà bắn trúng cũng đau phải biết. Đã thế, có về bệnh viện gọi là cứ nằm sấp hàng tháng và sau đó có khỏi thế nào cũng đi khập khiễng.

Hình như có kẻ không may hơn. Giữa các tiếng nổ, nghe có tiếng kêu la. Thét rồi cũng yên tĩnh lại. Hỏa lực giờ bỏ qua chúng tôi và rơi xuống hàng trừ bị. Chúng tôi hé nhìn thử. Hỏa châu đỏ phóng đầy lên trời. Rõ ràng là địch sắp tấn công. Chỗ chúng tôi còn yên. Tòi ngồi lên, nắm vai tân binh lay. «Xong rồi, nhỏ! Lần này không sao đâu. »

Hắn nhìn quanh ngơ ngác. « Rồi chả mấy lúc quen, tôi bảo hắn. Hắn thấy mũ lấy đội lên đầu. Dần dần hắn hồi lại. Bỗng hắn đỏ bừng mặt và ngượng ngùng. Hắn từ từ đưa tay sờ đít và nhìn tôi thiểu não. Tôi hiểu ngay: sợ súng. Không phải vì thế mà tôi lại buộc mũ lên đít hắn. «Chả có gì phải thẹn,» tôi an ủi hắn: «Trước chú thiếu gì thằng nghe bom dội lần đầu bĩnh đầy quần. Ra sau bụi kia kia vứt mẹ nó xà lỏn đi, Đi đi.»

Hắn đi. Tiếng súng đã lắng, nhưng tiếng kêu vẫn chưa dứt, «Gì thế, Albert? » tôi hỏi. «Ilai toán trên trúng ngay giữa. » Tiếng kêu tiếp tục. Đâu phải người, người nào mà kêu kinh khủng thế.

«Ngựa bị thương, » Kat nói.

Nghe không chịu nổi. Chẳng khác tiếng rên la của cả trần gian, cả sinh linh đang bị hành hạ, điên lên vì đau đớn, vì kinh hoàng, và rồi rên rỉ. Chúng tôi tái mặt. Detering đứng lên.

«Trời ơi! Trời đất quỉ thần ơi! Sao không bắn chúng đi»

Hắn vốn là nông dân rất qui ngựa. Hắn không chịu nổi. Rồi bỗng như có chủ ý tiếng súng lại im bặt. Tiếng la hét của mấy con vật nghe to thêm. Người ta không còn biết trong cái cảnh vật bàng bạc giờ đây yên tĩnh này nó từ đầu đến; ma quái, vô hình, nó có khắp, giữa trời và đất, nó rền lên không biết đường nào mà lường. Detering điên tiết la hét: «Bắn chúng đi! Bắn chúng đi có được không? rõ đồ chết tiệt! »

«Họ phải lo cho người trước đã, » Kat nói bình thản. Chúng tôi đứng lên cố nhìn xem ở dâu. Phải như chỉ thấy mấy con vật thôi chúng tôi cũng đỡ bực minh hơn. Muller có chiếc ống nhòm. Chúng tôi thấy một nhóm đen, phu với cáng và những cụm đen to hơn lăng xăng lít xít. Đó là những con ngựa bị thương. Nhưng chưa phải hết. Có con phi thật xa, ngã quị, rồi lại chạy xa nữa. Một con lủng bụng, ruột lòng thòng. Vướng ruột, nó ngã lăn cù, rồi lại đứng lên. Detering giơ súng nhắm. Kat hất súng lên trời. «Bộ mày điên? »

Detering run rẩy quăng súng xuống đất. Chúng tôi ngồi xuống bịt tai. Nhưng cái tiếng ồn ma quái này, các tiếng la thét rền rĩ như đâm sâu vào, chúng đâm sâu vào khắp. Chúng tôi có thể chịu đựng hầu hết mọi cái. Nhưng giờ đây chúng tôi mồ hôi đổ ra như tắm. Chúng tôi phải đứng lên chạy, không biết là chạy đâu, miễn là đừng nghe thấy những tiếng kêu ấy nữa. Và đấy không phải là người, mới chỉ là ngựa.

Từ cải nhóm đen lại thấy các khiêng đi. Rồi nghe có tiếng súng lẻ tẻ đì đạch. Cái khối đen nhốn nháo và tan dần. Có thế chứ! Nhưng nào dã hết. Người ta không thể đuổi bắt những con vật bị thương đau đớn quá chạy cuống cuồng, miệng há hốc. Một người quì xuống, một tiếng súng – một con ngựa quị – một con khác. Con cuối cùng chống lên cẳng trước rồi quay tròn như bàn ngựa gỗ; rồi ngồi bệt xuống nó lại quay vòng trên đôi cẳng trước cứng đơ, rõ ràng là nó gãy lưng. Anh lính chạy đến bắn nó. Chầm chậm, kính cẩn, nó phủ phục xuống đất. Chúng tôi bỏ tay xuống. Các tiếng kêu đã im bặt. Chỉ còn một tiếng thở hắt thật dài còn phảng phất trên không. Rồi lại chỉ còn hỏa châu, còn tiếng hát của đạn và các sao – và chúng sáng rực trông đẹp dị kỳ. Detering đi đi lại lại rủa: «Muốn biết những tai hại chúng gây ra sao.» Hắn lại giở lại vấn đề. Giọng bồn chồn, nghe có vẻ đường bệ khi bắn nói: «Theo tôi không gì đê tiện bằng là dùng ngựa vào chiến tranh.»

Chúng tôi trở lại. Đã đến giờ trở lại các xe. Trời đã hơi sáng hơn. Ba giờ sáng. Gió mát lạnh, còn sởm, mặt chúng tôi trông xám lại. Chúng tôi lết bước theo hàng một qua các chiến hào, các hố bom và lại đến khu sương mù. Katczinsky bồn chòồn, đó là điềm bất tường.

«Gi thế Kat? » Kropp hỏi.

«Tao mong về đến nhà. » Nhà – ý bác nói là lều.

«Thì còn lâu la gì, Kat. »

Bác nóng ruột. «Biết thế nào được, biết thế nào được …»

Chúng tôi đến các hảo giao thông rồi ra cánh đồng trống. Khóm rừng nhỏ lại xuất hiện; chúng tôi thuộc từng tấc đất một ở đây. Còn có bãi tha ma với các nấm mồ cùng cây thập tự đen. Lúc ấy đàng sau chúng tôi bỏng vùng lên tiếng gầm, tiếng rú, tiếng sấm. Chúng tôi vội nằm xuống – một đám mây lửa bùng lên trước chúng tôi chừng trăm thước. Phút sau đó, một tiếng nổ thứ hai, một góc rừng từ từ tung lên không trung, ba bốn cái cây văng lên rời vụn ra từng mảnh. Đạn bắt đầu rít như sú bắp xả hơi – hỏa lực trọng pháo.

«Tìm chỗ ẩn! » có người hét lên – Tìm chổ ẩn! »

Đồng thì bằng, rừng thi quá xa và nguy biềm – chổ ẩn duy nhất là bãi tha ma với các nấm mồ. Chúng tôi lảo đảo băng đường trong tối và dù thần trí đâu đâu thằng nào thằng nấy đã nắm dán mình sau các nấm đất.

Rồi chả mấy chốc. Đêm tối phát điên. Nó khạc, nó nhỗ, nó gầm, nó ghè. Đêm tối như bưng sải bước xông đến chúng tôi, dẫm lên chúng tôi rồi biến. Các ánh lửa của các tiếng nỗ soi sáng bãi tha ma. Hết đường trốn tránh. Tôi cố nhận diện cánh đồng qua ánh sáng của đạn. Cả một biến động, đạn nổ, các ngọn lửa chồm lên như các suối nước. Không tài nào vượt qua nổi. Khóm rừng tan biến, bị dồi dập, cào nghiến, xé vụn. Chúng tôi chỉ còn cách nằm lại bãi tha ma. Đất nổ tung trước chúng tôi. Đất rơi xuống như mưa. Một cục rơi lên tôi. Một mảnh miểng làm toạc ống tay áo tôi. Tôi nắm tay lại. Không thấy đau. Tuy nhiên tôi cũng chưa an tâm, các vết thương mãi sau mới đau. Tỏi nắn khắp cảnh tay. Bị sượt nhưng không gãy. Rồi một tiếng đánh chat trên sọ, tôi bắt đầu muốn ngất. Thoáng dến với tôi cái ý nghĩ: Đừng ngất, chìm xuống chảo đen rồi trồi lên ngay. Một mảnh miểng văng vào mũ tôi, nhưng từ xa đến nên không thủng. Tôi quẹt bùn văng vào mắt. Một cái lỗ được đào ngay trước tòi. Đạn ít khi lại rơi hai lần vào cùng một lỗ, tôi nhảy ngay vào đó. Tôi phóng người nằm bẹp xuống như con cá; đạn lại rít, tôi vội co rúm người, cào đất để ẩn, sờ thấy cái gì bên trái, rúc vào cạnh nó, nó gẫy, tôi rên, đất nhầy lên tiếng nổ như sấm ngay tai tôi, tôi bò dưới cái vật gẫy, vớ nó đắp lên người đề ẩn, gỗ vải, ẩn, ẩn, cái ẩn khốn nạn chống lại các mảnh miễng bay vèo vèo. Tôi mở mắt – mấy ngón tay sờ nắn một ống tay, một cánh tay. Một người bị thương chăng? Tôi hỏi hắn – không tiếng đáp – một người chết. Bàn tay tôi lần đi xa hơn, các mảnh gỗ – giờ tôi mới nhớ lại mình đang nằm ở bãi tha ma. Nhưng bom đạn mạnh hơn gì hết. Nó quét sạnh các mẫn cảm, tôi chỉ lo bò sâu hơn, sâu hơn nữa trong cỗ quan tài, đề nó bảo vệ tôi và nhất là chính Tử thần cũng nằm trong ấy.

Trước mặt tôi chành bành cái hố đạn. Tôi  níu lấy nó cả bằng mắt lẫn bằng tay. Chỉ nhảy một cái là tôi lọt vào đó. Nhưng, tôi bị một cái vả vào mặt, một bàn tay bấu lấy vai tôi, tôi quay đầu lại, trong một giây sáng tôi nhìn vào tận mặt Katczinsky, bác há hốc miệng đang gào. Tôi chẵng nghe thấy gì cả, bác cào tôi, sát lại gần, thoáng một lúc bặt tiếng súng giọng bác bảo tôi: «Hơi độc – Hơơơi độôc – Hơơơi đôôộc – Đeo nó vào.»

Tôi lần mặt nạ. Cách tôi một quãng có người nằm. Tôi chả nghĩ khác ngoài điều này: thẳng cha kia chắc phải biết: «Hơơi độc – Hơơi đôôộc.» Tôi gọi, tôi nghiêng mình về hắn, Tôi vung cái bao da quật người nó, nó không thấy – lại quật, quật nữa – nó chỉ rúc đầu  xuống – lại một anh tân binh – tôi nìn Kat tuyệt vọng, bác đã đeo mặt nạ – tôi cũng lôi của tôi ra, mũ tôi rơi sang bên, trượt lên mặt tôi, tôi với đến tên kia, bao da hắn nắm gần tôi nhất, tôi túm lấy chiếc mặt nạ, choàng lên đầu hắn, hắn hiểu, tôi buông tay nhảy lại về lỗ đạn.

Tiếng đạn hơi độc rơi lụi đụi hòa với đổ ầm ầm của đạn nổ mạnh. Tiếng chuông leng keng giữa các tiếng nổ, tiếng cồng, tiếng kim khí lách cách báo cho mọi người hay – «Hơi độc- hơơi độộc – hơơơi độôộc. »

Có người ném mình đánh phịch sau tôi, lại một thắng nữa. Tôi chùi cặp mắt kính của mặt nạ bị mờ vì hơi thở. Thì ra là Kat, Kropp hồi hôp chờ đợi nặng nề và thở hết sức nhẹ. Mấy phút đầu tiên này với chiếc mặt nạ quyết định sống hay chết: mặt nạ có chặt không? Tôi nhớ lại các cảnh tượng hãi hung ở bệnh viện: những người bị hơi độc nghẹt thở suốt ngày bị cháy phổi ho ra từng cục máu.

Thận trọng, miệng áp vào van, tôi thở. Hơi độc vẫn bò trên mặt đất và chìm vào mọi hang hốc. Như một con sứa lởn mềm nhũn nó bồng bềnh lướt vào hốc đạn chúng tôi và lẩn quẩn mãi một cách trơ trẽn. Tôi thích Kat, tốt hơn là bò ra nằm trên miệng hố hơn là nằm đây nơi khí tụ lại nhiều nhất. Nhưng đâu dễ thế: một trận pháo kích thứ hai bắt đầu. Nghe như thể không còn là đạn hú nữa: mà là chính trái đất đang nổi cơn thịnh nộ. Có cái gì đen đen rơi xuống chúng tôi cái rầm. Rơi sát bên chúng tôi; ra là một cổ quan tài bị hất tung lên. Tôi thấy Kat cử động và tôi bò qua. Cỗ quan tài rơi ngay lên cánh tay thò ra của anh chàng thứ tư trong lỗ. Với tay kia hắn cố gỡ mặt nạ. Kropp kịp thời giữ tay hắn, bẻ quặt ra sau và siết chặt. Kat và tôi lai gỡ cánh tay bị thương. Nắp quan tài lỏng và bật ra, chúng tôi kéo ra dễ dàng, chúng tôi lôi cái xác ra, nó trườn xuống đáy hốc đạn, rồi chúng tôi cố nâng phía dưới. Cũng may mà anh chàng ngất lịm nên Kropp rảnh tay giúp chúng tôi. Chúng tôi không còn phải cần thận nữa, mà hì hụt cho đến khi cỗ quan tài trườn đi trước cái sẻng mà chúng tôi thọc bên dưới.

Nó nhẹ hơn. Kat lấy một mảnh gỗ nắp, đặt dưới cánh tay bị dập, rồi chúng tôi lấy hết cả băng ra quấn lại. Lúc này chúng tôi không thể làm hơn. Bên trong chiếc mặt nạ đầu tôi bùng bùng ầm ầm-hầu như muốn vỡ toang. Phổi tôi thắt lại, vì lúc nào cũng cứ thở cái không khí dùng đi dùng lại nóng hổi, gân thái dương sưng lên, tôi cảm thấy muốn nghẹt thở. Một ánh sáng xám lọc qua đến chúng tôi. Tôi leo lên bờ hố đạn. Trong cái tranh tối tranh sáng đục ngầu, một cái cẳng năm trơ trơ; chiếc bốt còn nguyên vẹn, liếc mắt qua tôi thoáng thấy. Cách tôi vài thước có người đứng. Tôi chùi mắt kính, tôi mừng quá, mắt kính lại mờ đục ngay, tôi nheo mắt nhìn qua chúng, người kia không còn đeo mặt nạ. Tôi đợi vài giây-thấy anh ta không xỉu- anh nhìn quanh, bước đi vài bước-khò khè trong họng tôi cũng giật phăng mặt nạ ra và ngã xuống, không khi trào vào trong tôi như nước lạnh, mắt tay ngứa rát, làn sóng trào lên tôi và dập tắt tôi.

Phảo kích đã ngừng. Tôi lết đến miệng hố bảo mấy người kia. Ai nấy bỏ mặt nạ ra. Chúng tôi lôi anh chàng bị thương lên, một người giữ cánh tay dập của anh. Và cứ thế chúng tôi thất thểu vội vã. Bãi tha ma là một đống điêu tàn. Quan tài và thây ma nằm rải rác. Họ lại bị giết thêm một lần nữa; nhưng mỗi cái bị tung lên lại cứu một người chúng tôi. Bờ dậu bị phá tan, đường rầy của con đường xe lửa nhẹ bị quăn và dựng đứng lên thành những vòng cung lớn. Có người nằm trước chúng tòi. Chúng tôi dừng lai; một mình Kropp dìu anh chàng bị thương đi. Anh nằm dưới đất là một anh tân binh. Hông đẫm máu; hắn mệt lử, tôi lần lấy chai nước có đựng rum và trà. Kat giữ tay tôi lai cúi xuống hắn. «Trúng đâu, chiến hữu? »

Mắt hắn cử động. Hắn yếu quá không đủ sức trả lời. Chúng tôi thận trọng cắt quần hắn. Hắn rên rỉ. «Không sao, không sao, thế đã khá hơn .»

Nếu phải như lủng dạ dày thì không được uống gì cả. Không thấy mửa, thế là triệu chứng khá. Chúng tôi lột trần hông ra. Cả một đống thịt bầy nhầy và xương vụn. Gân bị đứt. Hắn không bao giờ còn đi được nữa.

Tôi nhúng ướt ngón tay thấm hai bên thái dương hắn và cho hắn uống một bụm. Mắt hắn lại cử động. Giờ chúng tôi mới thấy cánh tay mặt cũng chảy máu. Kat trải rộng hai lấm bông thật rộng ra để bọc đủ vết thương. Tôi tìm một cái gì để buộc cho hơi lỏng. Chúng tôi không có gì khác nên tòi rọc ống quần anh chàng bị thương lên cao nữa để cắt một miếng quần lót của hắn làm băng. Nhưng hắn lại không mặc quần lót. Tôi mới nhìn kỹ hắn. Thì ra bằn là thẳng nhóc tỏc vàng mới gặp mặt lúc trước đây.

Đồng thời Kat đã tịch thu được một cuộn băng ở túi áo một anh chết và chúng tôi nhẹ nhàng bó vết thương. Tôi bảo chú nhỏ đang nhìn chúug tôi không chớp mắt «Giờ thì lo tìm cáng -»

Hắn mở miệng thì thào: «Anh ở lại đây -»

«Chúng tao trở lại ngay, » Kat nói. «Chúng tao chỉ có đi tìm cáng cho mày. »

Chúng tôi chả rõ nó có hiểu không. Hắn rên rỉ như một đứa bẻ và giật giật chúng tôi; Kat nhìn quanh và thì thầm: « Ta có nên lấy súng kết liễu cho rồi không “

Có khiêng đi thắng nhóc cũng khó lòng sống nổi và cùng lắm cũng chỉ kéo dài được vài ngày. Những gi hắn đã phải chịu đến nay không thấm đâu với những gì hắn sẽ phải chịu cho đến lúc nó chết. Giờ nó đang còn tê chưa cảm thấy gì. Chỉ một giờ nữa nó sẽ chỉ còn là một bó đau đớn quá sức người chịu đựng và kêu la nbư bọng. Sống thêm ngày nào là ngày đó chỉ là cực hình la hét. Nó đau, hay không ai là người quan tâm.

Tôi gật. «Phải đấy. Kat, ta hãy giúp nó hết đau khổ. »

Bác dứng lặng một lát. Bác đã nhất định. Chúng tôi nhìn quanh – nhưng chúng tôi không còn một mình nữa. Một nhóm người đang tụ lại, từ các hốc đạn từ các chiến hào, các đầu thấy ló lên. Chúng tôi đi tìm cáng.

Kát lắc đầu «Còn nhỏ quá mà- Bác lặp lại: «Còn ngây thơ quá mà -»

Sự tồn thất của chúng tôi ít hơn là người ta tưởng. – Chết và tám bị thương. Đúng ra thì cuộc pháo kích cũng ngắn ngủi. Có hai tên chết nằm ngay trong các ngôi mộ bị quật. Chúng tôi chỉ việc lấp đất. Chúng tôi trở về. Chúng tôi lẳng lặng bước thẳng hàng dọc, kẻ trước người sau. Những tên bị thương được đưa lại trạm cứu cấp. Buổi sáng có mây. Các phu cáng còn làm khó dễ về số với thẻ, các người bị thương rên rỉ. Trời bắt đầu đổ mưa. Một giờ sau chúng tôi đến xe và leo lên. Giờ thì rộng chỗ hơn trước. Mưa nặng hạt hơn. Chúng tôi lấy vải dầu ra chùm lên đầu. Mưa lộp độp rơi và chảy xuống hai bên đường như suối. Xe xóc dữ vì các ổ gà, và chúng tôi bị lắc qua lắc lại trong cơn nửa thức nửa ngủ.

Hai người ngồi trước xe mang sào dài đầu có chĩa. Họ coi chừng dây điện thoại vắt ngang đường chẳng chịt đến có thể giằng đứt đầu lìa khỏi cổ. Họ dùng chĩa nâng dây hất qua đầu chúng tôi đúng lúc. Chúng tôi nghe tiếng họ «Coi chừng-dây», chùn gối xuống rồi lại đứng thẳng lên. Buồn tẻ xe rì rì chạy, buồn tẻ, tiếng nhắc nhở đều đều, buồn tẻ mưa rớt ray rứt. Rơi trên đầu chúng tôi, trên đầu những kẻ chết ngoài chiến tuyển, lên người thẳng nhóc tân binb với vết thương toang hoác bên hông, rơi trên mả Kemmerich; rơi trong lòng chúng tôi. Một tiếng nổ vang đâu đấy. Chúng tôi giật mình đánh thót, mắt trố lên, tay sẵn sàng vịn thành xe lao xuống hố bên đường.

Nhưng không nổ tiếp – chỉ còn tiếng nbắc nhở buồn tẻ: «Coi chừng – dây», -chúng tôi chùn gối – chúng tôi lại nửa thức nửa tỉnh.