“Ăn theo”

Đoàn Xuân Thu

Nói nào ngày bà con mình chạy qua nước Úc nầy đây trước tui cả hằng chục năm, tui mới lò dò tới nhờ ‘ăn theo’.

Ăn theo là ké; là nhờ thằng em vọt trước nó lo; bằng không, còn kẹt lại trong nước tui đã chết mấy mươi đời vương vì buồn đời mà nhậu quá trời. Em yêu của tui phán như vậy đó!

Ngày đi, thằng Hải quan VC phi trường Tân Sơn Nhứt, còn kiếm chuyện biểu tui đi xin giấy nầy giấy nọ ngoài Bến Chương Dương; mà máy bay còn chừng tiếng nữa là bay. Biết cái tỏng láu cá, vòi tiền, xưa giờ cũng thế, tui bèn móc hết trong túi ra còn 100 ngàn đồng; thôi đành cúng cho thằng cô hồn các đảng nầy nó ăn, nó dộng.

Bị bóc lột rồi lủm tới tận xương tủy vào giờ phút chót, tui thề là một đi không trở lại… (Hổng thề thời thôi; thề là tui giữ hè vì sợ lỗi thề sẽ bị trời đánh… Đời còn đẹp nên tui sợ chết bất đắc kỳ tử lắm bà con ơi!).

Tui đi Úc vì trong bụng còn giận thằng đế quốc Mỹ vô thủy vô chung. Dẫu giận nhưng nói nào ngay Đế quốc Mỹ nó hay… chế ra cái ‘Facebook’ làm bà con mình ra đi mà mang theo được tiếng nói, hình ảnh quê hương bên nhà trong ngục tù bao la; còn kẹt vài thằng bạn học phía bên kia biển.

Tụi nó cứ kêu réo, níu kéo tui về hoài hà. “Thiên hạ về Việt Nam như đi chợ; còn chú mầy sợ vợ nên lặn mất tăm đã bao năm?”

“Thôi gặp nhau trên Facebook đỡ tốn tiền; chớ về gặp mấy cái mặt mẹt của mấy thằng đã từng đe nẹt, đày ải… là tao nổi điên lên, phải vô dưỡng trí viện Biên Hòa thì lại phiền mấy đứa bây lại phải thăm nuôi!”

Thuyết phục tui về thăm lại chốn quê không được, nó bèn chọc quê, hỏi xỏ làm tui cà lăm hỏng biết trả lời sao?

“Xứ người tới mới vài ba chục năm, có người mới chỉ năm hay bảy năm mà nay ai cũng là bác sĩ, kỹ sư, chủ hãng may, chủ siêu thị. Khèn khẹt tiếng Anh tiếng Mỹ  đến ‘khỉ’ còn kinh… Mà hình như không có ai làm thợ, làm cu li hết cả phải không mậy?”

“Ờ thì người Việt mình mà giỏi lắm. Đa phần là vậy hết; chỉ trừ tao với ông Cao Tần. Tao thì làm ‘gác dan’ bà con cô bác mình gọi là mấy chú ‘Bảo An’; Úc gọi là security; còn ổng: “Mai mốt anh về có thằng túm hỏi / Mầy qua bên Mỹ học được củ gì?/ Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi/ Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li…”

“À quên cũng có người làm nghề nông đó chớ. Giàu thôi hết biết. Giàu vì họ không trồng lúa ngoài ruộng mà họ trồng ‘cỏ’ trong nhà!”

Nghe tui nói vậy; nó gật gù là “Tuần tới vợ chồng tao sẽ bay qua thăm thằng con tao đang đi du học bên đó!” “Ủa thằng con mầy ở đâu mà tao không biết hè?”

“Nó đang ở trong hộp… vì nó trồng ‘cỏ’ như mầy nói đó! Nó chỉ làm tá điền chăm sóc ‘cỏ’ cho địa chủ đỏ đến từ thành phố Hoa Phượng đỏ, chuyên trồng cỏ từ Anh qua Úc sang tới Canada.

Nhưng thôi con dại cái mang. Núm ruột, mình bỏ đâu có được.

***

Tuần sau thấy nó vác cái mặt đưa đám, hãm tài tới nhà tui. “Ối đời ai cũng có cái số… Giày dép còn có… Mầy đừng buồn, thằng con mầy ở tù rồi cũng có ngày ra. Án ba năm, hạnh kiểm tốt là chừng hai năm Úc nó thả hè!”

“Con mầy ăn có người nấu; ngủ có người coi. Đi chơi có người theo bảo vệ; sợ con mầy bị ‘đầu gấu’ trong tù đánh bất tử!

Tốn một năm xỉu xỉu tới 5, 7 chục ngàn đô, nên chánh phủ Úc nó cho ra sớm thế thôi!”

Thôi chuyện đâu còn có đó nhậu trước cái đã… Tha hương ngộ cố tri mà! Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Làm xỉu xỉu vài ba lon là đời đã vui trở lại. Nó khen beer Úc ngon thiệt.

“Sao mầy đi quá lâu mà hổng về Việt Nam thăm lại quê hương mến yêu gì hết ráo vậy?”

“Về ăn chơi, gái gú chân dài đầu ngắn, thì tao hổng có tiền… Tao thuộc loại có đồng nào xào đồng nấy!”

“Phần năm chỉ 4 tuần phép thường niên thì thời gian đâu mà đi du hí ở nước ngoài chớ. Đâu cũng nhiêu đó, như đi Mỹ, ở thành phố thì cũng McDonald’s, KFC (Kentucky Fried Chicken) và Pizza Hut. Vô rừng, cũng suối, cũng sông, cũng biển. Úc có hết ráo thì đi Mỹ làm cái gì?”

“Còn về Việt Nam hả? Còn VC, tao về làm gì? Người ta vinh quy thì về bái tổ để khoe còn mình làm cu li thì có cái chi để khoe chớ?

Về hổng cho tiền thì sợ bà con nói: “Việt Kiều về quê mà Trùm Sò như thế thì về làm cái quái gì?!”.

Nếu tao giàu như tỉ phú ‘Barry Tèo’, bạn học cũ của mình bên Mỹ, thì cũng nên xênh xang áo gấm về làng để họ hàng… được thơm lây.”

“Ờ! Năm rồi vợ chồng Barry Tèo và thằng nhóc Tommy chừng 9, 10 tuổi từ Cali bay về có về ghé thăm tao. Vợ nó còn trẻ măng hè, mới lãnh từ Hốc Bà Tó qua được chừng 10 năm nay thôi! Tụi nó về thăm bà già vợ, nhỏ hơn nó một tuổi, bịnh dữ lắm; sắp đi bán muối!”

“Về quê vợ, Barry Tèo bị lối xóm đố kỵ: dè bỉu già mà khoái cỏ non, dân đẻ ở Trảng Bom, nên nổ.

Hồi xưa, nghèo không có đôi dép mà mang; giờ giày ‘Made in Italy’, đi đâu cũng đeo cái bao tử trước bụng, đựng giấy thông hành và tiền bạc; cứ nơm nớp sợ tụi hai ngón nó thó thì Việt Kiều sẽ thành móc bọc.

Bị cà nanh như vậy, nó chạy lên Sài Gòn ghé nhà tao ở đỡ, chờ con vợ nó trả hiếu xong xuôi, mồ yên mả đẹp cho bà già vợ nó, là cả nhà sẽ bay về Mỹ.”

“Ê nè! Thằng Barry Tèo coi đi Mỹ chỉ gần 40 năm mà nó thay đổi dữ lắm. Đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, không dám uống nước trà; nước giếng, nước mưa, thấy con lăng quăng nó nói ghê quá hè!”

“Nó đâu còn nhớ năm 78 vượt biên với tao bị bể, hai đứa bị nhốt ở Trại giam Cây Gừa tại Ấp 5, xã Thạnh Bình, huyện Giá Rai, Bạc Liêu!

Đi lao động khát phải dọng một họng nước phèn vàng sậm như nước trà quạu mà có đau bụng gì đâu hè!”
“Bây giờ là phải đi nhà hàng máy lạnh vì Sài Gòn nóng quá để ăn uống không sợ bị Tào Tháo rượt; chớ nó có biết đâu đồ ăn tẩm toàn là hóa chất!”

Cảm khái khi về núi

Thơ Lâm Hảo Dũng

Khi bỏ Đèo Nhông về với núi
Ta làm mây ở cuối trời xa

Ngắm đôi hàng tháp Chiêm gầy guộc
Thương mắt em buồn chuốc rượu ta


Là lúc ta mơ hồn Vỏ Tánh
Trên thành lửa đỏ đất Tây Sơn
Hay trong gió sớm mưa trên mộ
Một gái trung trinh Bùi Thị Xuân


Ta biết anh hùng xưa uẩn thác
Lăng Mai xuân Thưởng khói chưa tàn
Chiến tranh mang những người đi trước
Hồn lại đầu thai lộn xuống trần


Bỗng chốc say đời đi đánh trận
Bần nông một thuở Bắc Bình Vương
Ô hay tráng sĩ trên yên ngựa
Cũng chết mơ hồ bởi Ngọc Hân


Đây những buôn rừng thương ngọn suối
Thương cây làm được chiếc nhà cao
Thương con chim hót trên cành biếc
Thương cái gùi cong nước trĩu bầu


Ta muốn bỏ thành lên ở núi
Sống hoang vu như cỏ cây sầu
Bởi bao tham vọng trên trần thế
Sẽ úa tàn khi bạc mái đầu


Chiến sĩ không nên buồn rã rượi
Cười ngông nghênh nhé súng cầm tay
Muốn như muông thú xin đành hẹn
Một tối mơ màng cốc rượu cay

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

Posted 17 Jan 2020

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 3 Apr 2026

Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị

Kỳ 1

Qua hai chiến dịch trường kỳ và đẫm máu của những năm 1965 và 1974, địa danh Pleime đã trở thành huyền thoại. Tôi không có mặt trong trận Pleime năm 1965. Nhưng năm 1974 thì chính tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng là người đã cầm vận mệnh Pleime trong suốt 33 ngày đêm sinh tử.

Giờ đây tôi sẽ kể lại toàn bộ diễn tiến chiến dịch này để lớp trẻ hậu sinh biết ngày ấy những chiến binh của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến đấu như thế nào, và vì sao tên Pleime đã có thêm một lần được ghi vào chiến sử.

oOo

Pleime lên tiếng gọi…

Vào một đêm cuối tháng 11 năm 1965 nơi Vũ Ðình Trường Lê Lợi của Trường Võ Bị Quốc-Gia Việt-Nam trên Ðà-Lạt, lần đầu tôi nghe biết cái tên “Pleime”

Hôm đó chúng tôi đang tập quỳ gối gắn lon thiếu úy hiện dịch để chuẩn bị lên đường ra chiến trường.

Bỗng từ xa, bên kia núi, có tiếng âm vang của bom đạn dội về. Thiếu tá Nguyễn Bá Thịnh, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ quan lớn tiếng giải thích:

-Pleime đang đánh lớn. Tiếng ì ầm vừa rồi là tiếng B-52 đang “trải thảm” trên thung lũng Ia Drang đó!

Dù sau này đã dạn dày chinh chiến, đã biết rằng nếu đứng trên đồi 1515 Ðà-Lạt, dù có đôi tai thiên lý nhĩ, chúng tôi cũng không thể nào nghe được tiếng bom nổ trong thung lũng Ia Drang, Pleiku; nhưng từ đó, địa danh “Pleime” đã ghim sâu trong tâm trí tôi.

Cuối năm 1966 tôi từ Vùng 1 Chiến Thuật thuyên chuyển vào Pleiku. Sau đó tôi gắn bó với Cao Nguyên mưa bùn, nắng bụi gần mười năm trời, tôi đã thành một trong những Thổ Ðịa của vùng này.

Cao Nguyên Trung Phần là nơi có nhiều sắc dân thiểu số sinh sống. Mỗi sắc dân gọi nơi cư trú của họ với âm khác nhau; vì vậy làng của người Lào là “Bản”, làng của người Rhadé là “Buôn”; làng của người Jharai lại là “Plei” hay “Trà”.

Tên Pleime mà người ta thường gọi, chính thực là một danh từ ghép với hai chữ “Plei” và “Mé” theo tiếng Thượng Jharai. Vì vậy, “Pleime” hay “Plei Me” cũng chỉ là một. Pleime nằm cách Pleiku hơn 30 cây số về hướng Tây Nam.

Nhân một chuyến quá giang tàu bay chở thư của Mỹ, tôi đặt chân tới Trại Pleime lần đầu khi căn cứ này vừa được di chuyển từ chân núi Chư Hô về Ðồi 403 trên Tỉnh lộ 6C. Trại Pleime mới có hình lục giác với hệ thống tường đất cao hai thước bao quanh chỉ huy sở. Còn Trại Pleime cũ thời 1965 có hình tam giác; trại đó đã bị phá đi rồi.

Từ Noel năm 1973 tôi đã được lệnh vào Pleime thay thế Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, vậy mà cứ nhùng nhằng mãi, hai tháng sau tôi mới chính thức nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng dưới sự chứng kiến của Trung tá Chính, Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi trở thành người chỉ huy chính thức thứ bảy, và cũng là tiểu đoàn trưởng sau cùng của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Tôi đã biết, theo lịch trình “Việt-Nam Hóa” thì cuối năm 1970 những chiến binh Dân Sự Chiến Ðấu của trại Pleime đã được cải tuyển thành quân nhân chính quy trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Vậy mà hơn ba năm qua, với sáu lần thay đổi tiểu đoàn trưởng mà đơn vị này vẫn chưa thoát ra khỏi cái cốt CIDG của nó (Civilian Irregular Defense Group = Phòng Vệ Dân Sự = Dân Sự Chiến Ðấu)

Vị trí Trại Pleime 1974 trên bản đồ Tây Nam Pleiku

Chỉ nhìn vào hình thức thôi, nó chẳng có vẻ gì là một đơn vị chính quy, chứ đừng nói tới đó là một đơn vị trực thuộc lực lượng nòng cốt của Vùng 2.

Không biết quân trang quân dụng của tiểu đoàn này đã bị thất thoát đi đâu mà đội ngũ Biệt Ðộng Quân trước mắt tôi và Trung tá Chính lại ăn mặc như một đoàn người ô hợp. Trừ ra những sĩ quan có quần áo rằn ri, các quân nhân khác thì mang đủ thứ trang phục của Bộ Binh, Cảnh Sát Dã Chiến, Thủy Quân Lục Chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, áo 4 túi lẫn với áo 2 túi, có người còn mặc cả đồ kaki vàng, chân mang dép Nhựt!

Ngay sau ngày ký biên bản bàn giao, tôi bắt Thiếu úy Nghị, sĩ quan tiếp liệu của đơn vị làm một phúc trình xin ứng trước quân trang bổ sung vì lý do hành quân.

Ông Nghị là người rất giỏi ngoại giao, ông ta quen nhiều vị có quyền uy trong Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 5 dưới Qui Nhơn, nên chỉ một tuần lễ sau, bộ mã của tiểu đoàn tôi đã đổi khác ngay.

Khi kiểm tra quân số bàn giao hiện diện, tôi mới té ngửa: Theo giấy tờ thì ngày đó quân số thực hiện của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là trên 400 người, nhưng tới khi điểm danh đếm số thì lòi ra 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt!

Phải một tuần lễ sau tôi mới truy cứu ra, trong số 92 ông lính vắng mặt thì một nửa là lính kiểng, nửa kia là lính ma, có người đào ngũ đã nửa năm nhưng chưa ngưng lương, chưa có báo thị tầm nã; có người biệt phái tới tận Sài-Gòn để làm thợ mộc mà vẫn hưởng hàng tháng bốn nghìn đồng phụ cấp hành quân.

Từ ngày mới ra trường, nhận chức trung đội trưởng cho tới khi chỉ huy tiểu đoàn, tôi chưa từng đem một người lính nào về làm công việc trong nhà tôi.

Tôi quan niệm rằng, đem lính về làm việc nhà là một hành động ăn cắp công quỹ, lạm dụng chức quyền.

Tôi từ chối thẳng thừng mọi yêu cầu của thượng cấp khi các vị này muốn tôi cung ứng cho họ một vài người giúp việc trong nhà dù chỉ là trong thời gian một hay hai ngày thôi.

Tôi nhất định không ký chứng nhận hành quân cho những anh lính kiểng, nên chỉ một kỳ lãnh lương đi qua, không nhận được 4000 đồng phụ trội, những người này tự động quay về trình diện.

Những anh lính kiểng nào không về trình diện đều nhận được giấy báo cáo vắng mặt bất hợp pháp; sau đó họ sẽ bị báo cáo đào ngũ. Ông quan to nào còn lưu giữ những anh lính này sẽ đương nhiên can tội “tán trợ đào binh”

Một tháng sau khi tôi vào Pleime thì những vị quan nào đang giữ người của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân để giúp việc trong nhà đều phải ngậm đắng nuốt cay mà trả lại lính cho tôi.

Thế rồi, những anh “Biệt Dạng Quân” dần dần lộ diện, theo nhau trở về rừng, tiếp tục kiếp sống ngang tàng của Cọp, coi cái chết tựa lông hồng.

Tôi đã không tiếc công sức, không nản lòng để chấn chỉnh đơn vị này. Cuối cùng tôi đã thành công; chưa tới hai tháng sau, tất cả đã vào khuôn, vào phép.

Sau này, từ một đơn vị vô danh tiểu tốt, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã ngoi lên, nhanh chóng trở thành một tiểu đoàn lừng danh của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Cũng phải kể đến sự đóng góp công khó của các bạn trẻ, sĩ quan và hạ sĩ quan đầy nhiệt huyết của tiểu đoàn đã tiếp tay tôi xây dựng đơn vị mỗi ngày mỗi tiến bộ hơn. Nếu không có họ, tôi cũng đành thúc thủ.

Mỗi khi nhắc tới Pleime 1974, thì trong lòng tôi lại dấy lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào, cùng những hình ảnh thân yêu theo nhau hiện về trong trí nhớ: Phạm Ðại Việt, Nguyễn Công Minh, Phạm Văn Thủy, Nguyễn Văn Trâm, Trần Văn Phước, Nguyễn Hữu Phước, Huỳnh Kim Hoàng, Lý Ngọc Châu, Trần Dân Chủ, Trương Trọng Tài, Lê Ðình Khay, Phan Quốc Thiều, Lưu Ðức Hoàn, Phạm Hoa, Nguyễn Văn Năng, Nông Văn Út, vân vân.

Ðóng đồn tức là chấp nhận đối đầu với địch quân bất cứ lúc nào. Xung quanh đồn là rừng, xung quanh ta là địch. Tốt nhất là lúc nào ta cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng.

Với kinh nghiệm của một người cầm quân đã nhiều năm, tôi biết chắc chắn rằng:

“Tay nghề của người lính tiên phong mà không chuyên, thì sự thất bại của một đơn vị tác chiến coi như cầm chắc mỗi khi đối đầu với địch.”

Nói ra thì nhiều người sẽ không tin, nhưng thực tế, tôi đã chứng kiến cái cảnh xảy ra thường xuyên là, những tân binh mới ra trận lần đầu, nghe súng nổ, thường nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, nhắm mắt bóp cò, đạn nối đuôi nhau, chẳng biết bay về đâu. Có người khi đối diện địch quân thì đứng chết trân không phản ứng được gì cả. Có người thấy địch thì quýnh quáng quá, bắn cả vào chân của mình.

Muốn nâng cao tay nghề của những người lính dưới quyền mình thì người chỉ huy phải thường xuyên rèn luyện quân sự cho đàn em. Những quân nhân dưới quyền tôi hầu như đã quen với cái thông lệ tự huấn luyện sau khi hành quân, nên không có ai than van hay phiền muộn vì chuyện này.

Ngay khi nắm quyền chỉ huy Pleime, tôi liền cấp tốc lập chương trình huấn luyện tại chỗ cho các đại đội. Trong kho của tiểu đoàn, đạn thặng dư không có giấy tờ kiểm kê do Mỹ để lại còn cả đống. Số đạn tồn kho này đã cũ, nên thay vì đem ra thiêu hủy thì tôi lại sử dụng cho công tác huấn luyện.

Tôi đã đích thân dẫn từng trung đội ra bãi tập, rồi đứng giảng giải cho từng người lính biết cách “bóp cò” khẩu súng của anh ta làm sao vừa nhanh, vừa hiệu quả khi chạm trận; tôi bắt họ mở mắt cho to, nhìn về phía địch, rồi cầm tay họ, chỉ cho họ kỹ thuật ghìm súng để cho viên đạn bay cao tối đa là từ ngang cỡ đầu gối một người đứng thẳng.

Bằng cách đặt hai khẩu đại liên 30 trên giàn cao quá đầu người, quay nòng về hướng núi bóp cò; rồi cho quân lính luân phiên nhau tập bò, tập chạy, tập đi, tập nằm trước họng súng bắn ngược chiều. Ngày nào cũng nghe tiếng đạn thật bắn ngược như đang đánh nhau, thét rồi lính hết nhát, hết sợ.

Quê nhà – Quê người

baotreonline.com

Huy Phương

Post 21 Mar 2020

Post by Sơn râu 3 Apr 2026

Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ

Đang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe

Mà thượng, mạ vẫn thường hay tựa cửa

Bên mâm cơm chờ bóng đứa con về!

Huy Phương

Chúng ta thường có thành ngữ “trông như trông Mẹ đi chợ về!” Thời ấu thơ, tôi cũng như các bạn đều có thời gian trông Mẹ, không phải trông “như” trông Mẹ đi chợ về, mà trông Mẹ đi chợ về thật, để có chút đồ chơi, củ khoai hay chiếc bánh. Chúng ta chỉ trông Mẹ trong một thời gian quá ngắn ngủi, khoảng thời gian học ở trường sơ cấp hay tiểu học, rồi sau đó bắt đầu lớn xác, ham chơi, theo bạn bè và thú vui thời niên thiếu, chúng ta đâu còn trông gì ở Mẹ nữa. Nhưng ngay trong thời gian đó Mẹ đã trông chờ chúng ta mỗi ngày, mỗi bữa, chờ trông cho đến cuối cuộc đời của Mẹ.

Ngày Mẹ mang thai con, Mẹ tính từng ngày từng tháng, để chờ đợi đứa con khóc oe oe mấy tiếng chào đời. Khi bà mụ cho biết đứa con tay chân lành lặn, Mẹ sờ tay để biết chắc là mình có một thằng con trai, Mẹ vui sướng, mừng đến chảy nước mắt. Mẹ ơi, thằng con trai đó, lớn lên đã làm được gì để Mẹ vui, để đền ơn những giọt nước mắt ngày xưa của Mẹ. Lớn lên, thời gian con đến trường, Mẹ nghe chừng tiếng trống trường, chờ con bên ngưỡng cửa, dở nón hay cởi áo tơi mưa cho con. Biết con háu đói, Mẹ không đợi cha về, bát cơm nóng được xới ra chờ con, hạnh phúc nhìn cón cầm đôi đũa.

Rồi Mẹ nôn nóng chờ ngày con trưởng thành, ra đời bắt đầu kiếm được miếng ăn. Điều đó, Mẹ chẳng bao giờ là chờ từ nơi con món quà nhỏ, tấm vải hay món tiền đem về biếu Mẹ. Rồi một ngày kia con phải rời gia đình đi xa nhưng con chim rời tổ, hớn hở trước những phương trời rộng mở có bao giờ nhìn lại. Mẹ vẫn trông chờ một buổi chiều nào đó, bước chân con dẫm trên bậc cửa về thăm Mẹ, để Mẹ nhớ những ngày thơ ấu con có thói quen gì, thích những món ăn nào để Mẹ vội vàng ra chợ, nấu sẵn bữa cơm cho con ngày về.

Rồi Mẹ đã nhắc nhở, chờ đợi ngày con lập gia đình, đó là nguồn vui của một người Mẹ thấy con khôn lớn, thành gia thất, cho Mẹ yên lòng. Nhà có con dâu rồi, Mẹ lại trông con sớm có cháu cho Mẹ bồng. Một đứa còn quá ít, Mẹ lại trông chờ những đứa tiếp theo. Ngày con ra chiến trận, phải chăng hàng đêm Mẹ vẫn thường thức giấc, lo sợ nghe những tiếng súng từ xa vọng về, và mong một ngày nào đó đứa con trở về bình yên, lành lặn. Những ngày Lễ Tết, lẽ ra là thời gian sum họp, nhưng sự xa cách vẫn còn: “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con/ khi thấy mai đào nở vàng bên nương.” “Mẹ thương con ngồi cầu Ái Tử!”, câu ca dao ngày xưa muốn lập lại địa danh Ái Tử với lòng “thương con” của Mẹ, nhưng cầu phải chăng là nơi Mẹ đứng đợi con về. Nỗi buồn vọng phu chắc không cao bằng niềm đau chờ con. Chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cảnh “tre khóc măng”, “lá xanh rụng xuống, lá vàng trên cây” để thấy rằng nỗi đau mất Mẹ không cao bằng niềm đau xót của Mẹ mất con. Trong chiến tranh, đã có bao nhiêu chiếc quan tài phủ lá cờ tổ quốc trở về, thời gian đã làm cho người goá phụ nguôi ngoai vì có những đứa con lớn lên bên mình, nhưng khoảng trống vắng mất con trong lòng người Mẹ làm sao lấp nổi. Rồi lòng Mẹ xót xa khi con phải vào nhà tù, trong

những ngày vận nước điêu linh. Hình ảnh người Mẹ già tóc bạc, lưng còng đứng trước cổng trại tù chờ con ngày đó làm sao con quên được. Và mỗi đêm phải chăng Mẹ vẫn chờ, như nghe có tiếng còi tàu xa xa, hay tiếng xe đỗ trước cửa nhà, mơ hồ có tiếng ai gõ cửa, phải chăng con của Mẹ đã trở về để gọi hai tiếng “Mẹ ơi!”

Ở nơi xứ người, Mẹ vui vì đã nuôi đàn con khôn lớn, nhưng rồi mỗi ngày con mỗi xa, để lại cha mẹ trong ngôi nhà trống vắng. Mẹ biết con không về, Mẹ biết con giờ này đang có bao nhiêu điều bận rộn, không còn một khoảnh khắc nào nghĩ đến Mẹ. Nhưng người mẹ vẫn chờ, chờ người phát thư dừng lại trước cửa nhà, dù là với một tấm thiệp vô hồn mua trong một tiệm tạp hoa; chờ tiếng điện thoại reo, dù là một lời hỏi thăm vội vàng, vắn tắt. Nhưng không, tuyết trước nhà vẫn rơi lạnh lùng và ngôi nhà vắng lặng, nghe rõ cả nhịp chiếc đồng hồ treo trên vách. Trong phút lâm chung của Mẹ, con cái đã tề tựu bên giường, nhưng Mẹ vẫn còn những đứa con xa. Mẹ bịn rịn cuộc đời này chưa muốn ra đi vì đang chờ đợi những đứa con chưa về. Nghe lời thì thầm trên đôi môi của mẹ: “Thằng Hai, con Út đã về chưa?” Thôi, xin Mẹ hãy bình thản ra đi, những đứa con vô tình của Mẹ đang còn mải mê “mơ Khanh, mơ Tướng”, đang chạy theo những lôi cuốn của cuộc đời, để không bao giờ cầm được bàn tay khô héo của Mẹ, nói được tiếng “con đã về đây” cho Mẹ vui lòng.

Chúng ta chờ Mẹ được bao lâu, trong khi Mẹ chờ chúng ta suốt cả cuộc đời, từ khi đặt con vào dạ cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vẫn còn chờ con. Quả thật chúng ta là đứa con vô tâm, bạc bẽo, nếu đợi đến ngày Vu Lan mới nhắc đến Mẹ, mới nhớ đến bông hồng đỏ, hồng trắng! Mẹ ơi! Khi nuôi con, con cũng chưa thấm thía được tình yêu của cha mẹ, nhưng lúc về già mới thấy mình bất hiếu!

Hạnh phúc thay cho những đứa con còn Mẹ, nên con thường ao ước phải chi mình còn Mẹ, nhưng liệu còn Mẹ, con đã làm gì được cho Mẹ vui lòng. Phải chăng những gì khi đã mất đi mới thấy quý, và trong cuộc đời chúng ta, đã có bao nhiêu điều hối tiếc.

Lý Tống-Một thưở Kinh Kha

Sơn râu 2019

Post by Sơn râu 2026

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Hai câu trên được trích trong Bài thơ sông Dịch của Vũ Hoàng Chương nói về tráng sĩ Kinh Kha khi sang Tần với con dao Chuỷ thủ trong tay để hành thích bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng. Kinh Kha là ai và tại sao phải giết Tần Thuỷ Hoàng? xin đọc lại một chút điển tích xưa:

“Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về”, đây là một câu thơ bắt nguồn từ điển cố Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng. Đằng sau câu thơ này lại ẩn chứa một câu chuyện vô cùng bi tráng vào 2.000 năm trước.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong. (Nguồn: iFuun)

Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên là người nước Tề, khi di cư sang Vệ, người Vệ gọi là Khánh Kha. Sau đó sang nước Yên, người nước Yên gọi là Kinh Kha.

Kinh Kha thích đọc sách, đánh kiếm, bàn chuyện kiếm thuật. Không được Vệ vương trọng dụng, Kinh Kha buồn chán mới tìm đến Hàm Đan chơi. Ở đây, ông kết bạn với một người bán thịt chó và một người tinh thông đàn trúc tên Cao Tiệm Ly.

Ngày ngày, cùng nhau chơi đàn, hoạ thơ, hát vui, cười khóc với nhau ở giữa chợ, xem như bên cạnh không có người. Tính tình cảm khái, thích đi đó đây, đến nước chư hầu nào Kinh Kha cũng tìm kết bạn với những bậc hiền nhân, trưởng giả ở đó. Khi sang tới nước Yên, nhân sĩ nước Yên là Điền Quang tiên sinh cũng mến mộ đãi ngộ chu đáo.

Lúc bấy giờ, thái tử nước Yên là Đan đang làm con tin ở Tần quốc trốn về. Thái tử Đan đã có lần làm con tin ở Triệu, mà vua Tần Doanh Chính lại sinh ra tại đó nên ngày nhỏ vẫn thường làm bạn với nhau. Đến khi Tần Doanh Chính được làm vua, thái tử Đan lại trở thành con tin ở Tần, lúc này vua Tần đối đãi với bạn không tử tế nên thái tử Đan giận trốn về, tìm cách báo thù.

Cùng lúc, tướng Tần là Phàn Ô Kỳ có tội với vua, chạy trốn sang Yên. Cúc Võ vốn là thầy học của thái tử Đan mới can, e sợ việc dung nạp Ô Kỳ sẽ là hành động khiêu chiến với vua Tần nhưng thái tử Đan cương quyết gạt đi.

Thấy không lay chuyển được thái tử Đan, Cúc Võ mới bàn việc mời Điền Quang đến để bàn đại sự. Thế nhưng Điền Quang lại một mực chối từ, lấy lý do tuổi cao sức yếu, mới giới thiệu Kinh Kha cho thái tử Đan. Sau khi khích lệ Kinh Kha, Điền Quang liền tự sát để tỏ rõ nghĩa khí của mình.

Thái tử Đan đón tiếp Kinh Kha rất nhiệt thành, nhờ Kinh Kha vì bá tánh trăm họ giúp trừ khử Tần Thủy Hoàng. Kinh Kha từ chối: “Tôi hèn kém, e không làm nổi việc ấy”.

Thái tử Đan dập đầu cố xin rằng: “Vì trọng tấm lòng có nghĩa của ngài, Đan này xin uỷ sinh mệnh vào ngài đó, xin chớ chối từ”.

Kinh Kha ban đầu còn từ chối, nhưng nghe thái tử Đan bàn đến chuyện an nguy của bá tánh mấy nước chư hầu mới quyết định nhận lời.

Kinh Kha nói: “Theo lời Thái tử, thần nguyện đi yết kiến vua Tần. Chuyến đi lần này nếu không có vật làm tin, thì e rằng không thể đến gần vua Tần được. Nay vua Tần muốn mua thủ cấp của Phàn tướng quân với giá nghìn vàng, vạn hộ dân. Nếu có được thủ cấp của Phàn tướng quân và bản đồ Đốc Cương dâng lên vua Tần, vua Tần ắt sẽ phải gặp thần, vậy thần mới có thể giúp Thái tử được”.

Thái tử Đan nói rằng việc trao bản đồ Đốc Cương thì hoàn toàn không tiếc, nhưng chuyện lấy thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ e là không được.

(Ảnh: Novesoft.com)

Nghe thái tử Đan nói vậy, Kinh Kha bảo thái tử cứ chuẩn bị tấm bản đồ trước, còn mình sẽ lo việc thủ cấp của tướng quân Ô Kỳ. Nói rồi, Kinh Kha bèn đi một mạch tới bái kiến Phàn Ô Kỳ. Ông nói:

“Nước Tần đối đãi với tướng quân có thể gọi là thâm độc. Cha mẹ họ hàng đều bị giết, nay nghe nói họ mua cái đầu của tướng quân nghìn vàng, ấp vạn nhà. Nay tôi có một lời, có thể cứu nguy cho nước Yên, báo thù cho tướng quân. Chỉ có điều, muốn thực hiện được nhất thiết phải xin cái đầu của tướng quân để hiến vua Tần. Vua Tần thế nào cũng mừng rỡ tiếp kiến tôi. Nhân cơ hội đó tôi sẽ nhanh chóng hành thích ông ta”.

Phàn Ô Kỳ nghe vậy, mới ngửa cổ lên trời, vái lạy tổ tiên rồi tự sát. Thái tử Đan nghe vậy, đau xót ruổi ngựa đến, khóc rất thảm thương nhưng không làm khác được nên bỏ đầu Ô Kỳ vào hòm và niêm phong lại. Sau đó lại cho người đi tìm trong thiên hạ được cái chủy thủ sắc của Từ phu nhân nước Triệu, mua mất trăm lạng vàng, sai thợ tẩm thuốc độc, hễ đâm vào người, máu chảy ra như sợi tơ cũng đã đủ lấy mạng người đó.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại.

Nước Yên có một võ sĩ tên Tần Vũ Dương, năm 12 tuổi đã từng sát nhân, không ai dám xem thường anh ta. Thái tử Đan liền phong Tần Vũ Dương làm phó tướng. Đến sông Dịch Thủy, mọi người bày tiệc tiễn khách. Cao Tiệm Ly gảy đàn trúc, Kinh Kha hát theo, tiếng hát chưa dứt, quân sĩ đều chảy nước mắt. Lại hát tiếp rằng: “Gió thổi vi vu, Dịch thủy lạnh. Tráng sĩ một đi không trở về!” Sau đó ông lên xe đi, không hề nhìn ngoái lại.

Trong Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng có ghi chép rằng, Kinh Kha mang theo đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm bản đồ nước Yên, cùng với dũng sĩ Tần Vũ Dương đến gặp vua Tần.

Tần Vũ Dương mang theo tấm bản đồ có giấu sẵn dao găm bên trong, Kinh Kha bưng đầu của Phàn Ô Kỳ được đựng trong chiếc hộp. Tần Vũ Dương là dũng sĩ, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không khỏi khiếp sợ đến biến sắc mặt.

Rốt cuộc vụ ám sát không thành, Kinh Kha và Tần Vũ Dương đều bị giết chết. Để lại một câu chuyện lịch sử bi tráng, đặt định cơ sở văn hóa lịch sử của nhân loại, câu thành ngữ “Đồ cùng chủy hiện” (Ý đồ cuối cùng đã lộ ra) cũng ra đời từ câu chuyện này.

Kinh Kha chết, vua Tần bèn cả giận ra lệnh cho Vương Tiễn đem quân đánh Yên. 5 năm sau (năm 222 trước Công nguyên) nước Tần diệt gọn nước Yên.

Tinh Hoa tổng hợp

Trước 1975

Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1946 tại Thừa Thiên – Huế, Việt Nam và bắt đầu phục vụ trong Không lực Việt Nam Cộng hòa năm 1965.

Tháng 4 năm 1975, chiếc A-37 thuộc biên đội Ó Đen do ông lái bị bắn rơi; ông bị giam giữ cải tạo trong vòng 5 năm. Ông vượt ngục bằng đường bộ đến Thái Lan, đi qua Campuchia, rồi xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông đến Hoa Kỳ năm 1984. Sau đó theo học cao học tại Đại học New Orleans.

Những hoạt động sau năm 1975

  • Năm 1992, Lý Tống uy hiếp phi công chiếc A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua Thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn xuống kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy chống lại chính quyền. Lý Tống nhảy dù xuống một ao rau muống. Thấy một anh dân phòng mặc đồ dân sự đi ngang, Lý Tống nói mình là Việt kiều mới về nước, muốn thăm nhà bạn nhưng không nhớ đường và đưa địa chỉ nhờ chở đến. Anh dân phòng đồng ý rồi chở Tống lại công an; Lý Tống bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá.
  • Năm 1998, Lý Tống đã dùng máy bay, xâm nhập trái phép lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn.
  • Ngày 1 tháng 1 năm 2000, Lý Tống dùng một chiếc máy bay nhỏ bay từ Florida sang La Habana, Cuba thả truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy. Khi bay trở về, ông bị thẩm vấn bởi Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ nhưng được trắng án và tha bổng. Lý Tống bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay. Sau chuyến này, ông được những người Cuba chống Cộng coi như một “anh hùng”
  • Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Lý Tống lại cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Sài Gòn, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Lúc trở về Thái Lan, ông bị bắt giữ và bị tòa án Thái Lan kết án 7 năm tù. Tòa án Thái Lan từ chối dẫn độ Lý Tống về Việt Nam với lý do ông không gây hại cho an ninh Thái Lan.

Giam giữ

  • Lý Tống là phạm nhân nhiều năm từ năm 1992 đến 1998 tại Trại giam Nam Hà, V26 Bộ Công an (Trại Ba Sao).
  • Tháng 3 năm 2006, Lý Tống bắt đầu tuyệt thực tại nhà tù ở Rayong.
  • Ngày 4 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Lý Tống về Việt Nam. Quyết định này vấp phải sự phản đối của cộng đồng người Việt chống cộng tại Hoa Kỳ và Canada.
  • Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan chấp thuận kháng án từ Lý Tống. Quyết định cuối cùng sẽ được tòa án tối cao Thái Lan quyết định trong vòng 3 tháng.

Ra tù

Sau 7 năm ngồi tù ở Thái Lan, Lý Tống được ra tù. Tòa phúc thẩm tại Bangkok sáng ngày 3 tháng 4 năm 2007 đã tuyên bố hành động của Lý Tống mang tính chất chính trị chứ không phải là đe dọa an ninh, và dựa trên một điều luật của Thái Lan không cho dẫn độ những người đối diện cáo buộc chính trị, tòa phúc thẩm từ chối yêu cầu dẫn độ về Việt Nam của tòa sơ thẩm hồi tháng 9 năm 2006.

Chánh án Wisarut Sirisingh, người xét xử Lý Tống, đã viết trong phán quyết:

“Những gì ông Tống làm không gây ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan không dẫn độ những người đối diện các cáo buộc về chính trị.

Phần tiểu sử của Lý Tống còn nhiều tôi chỉ tóm lược một ít ở phần đầu bạn có muốn coi rõ hơn cứ vào bộ Bách Khoa Toàn Thư mở sẽ rõ. Việc làm đầu tiên của Lý Tống năm 1992 gây tiếng vang trên khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở các nơi có cộng đồng người Việt có mặt.

Theo thiển ý của tôi Lý Tống hành động có điểm tương đồng như Kinh Kha thuở xưa, có phần còn trội hơn một bậc. Kinh Kha sang Tần với sứ mạng hành thích Tần bạo chúa, việc làm quả là đội đá vá trời vì các quy luật nghiêm nhặt nơi cung điện vua Tần không dễ mà có thể đến gần Tần Thuỷ Hoàng với vũ khi trong tay để mong được chạm đến chéo áo nói chi đến việc mưu sát. Thứ nhì có phải là tay dũng sĩ biết trước việc nếu không thành mà phải táng mạng cũng không sờn chí lớn phải có gan mưu lược hơn người.

Tuy nhiên biết người biết ta, Kha tráng sĩ biết nếu đơn thân độc mã qua Tần làm việc lớn chắc chắn sẽ không đạt kết quả như mong muốn nên có đưa lời yêu cầu với Thái Tử Đan của nước Yên muốn sang Tần với một trang kiếm khách đồng chí hướng như Kinh Kha, đó là Cáp Nhiếp.

Thế nhưng muốn gặp Cáp Nhiếp phải đợi 10 ngày nửa mà với Thái tử Đan đó là khoản thời gian không cho phép nên thay vào Cáp Nhiếp là tay giang hồ Tần Vũ Dương làm sao bì cho được Cáp Nhiếp liệu có đủ bản lĩnh và thần khí khi đứng trước Tần bạo chúa hay không?

  • Mọi chuyện như định mệnh đã an bài và sắp xếp các trình tự nơi câu chuyện xưa: đãi ngộ Kinh Kha trước khi lên đường Thái Tử Đan bày yến tiệc cho vời các cung nữ vào ca múa, có một ca nhi đẹp tuyệt và điệu múa tuyệt vời làm mê mẫn Kha tráng sĩ, để phải thốt lên một câu khen cho đôi bàn tay ngà đẹp mê hồn trong buổi múa hát cho Kinh Kha thưởng lãm. Chỉ nghe qua câu nói đó mà Thái tử Đan đã cho thủ hạ cắt phăng đôi bàn tay của Ngọc Tỷ bỏ vào hộp mà dâng cho Kinh Kha, để nàng phải thác oan uổng.

“Yên thái tử

Trọng đãi ta vào bậc ân nhân

Biết làm sao gở nỗi việc sang Tần!

Ca vũ đê mê linh đình yến ẩm

Suốt ngày đêm nay còn trao tặng phẩm

Giúp cho mình tửu hứng được cao bay..

Nào thử xem tặng phẩm gì đây

(mở nắp hộp) Trời hỡi, đôi cánh tay nào đó,

Mà băng tuyết ngọc ngà hoen máu đỏ?

Thôi rồi ta đã giết nàng đây;

Một ca nhi vô tội, não nùng thay!

…Yên Thái tử đãi mình tri kỷ thực.

Muốn vật chi củng lập tức dâng ngay!

Yêu đôi tay thì chặt hẳn đôi tay…

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Lão tướng Điền Quang của nước Yên cảm khái vì chuyện lên đường sang Tần của Kinh Kha mà tự kết liễu đời mình để mong hồn thác sẽ theo Kinh Kha sang Tần làm chuyện lớn.

“Thanh gươm cùn, tay yếu hỏi dùng chi?

Âu là dưới gót kẻ ra đi

Lão đem chút hơi tàn trao gởi..

Tần bạo chúa lòng tham như hổ đói

Cậy hùng binh toan nuốt sống Yên bang

May được tướng quân động chí ngang tang

Một mũi kiếm trỏ Hàm Dương hỏi tội

Hào khí ấy cùng trăng sao chói lọi

Bước bước đi sông tiễn, núi nghiêng đầu

Lão phu đây kỳ vọng bấy nhiêu lâu,

Nguyền một thác đưa chân người kiếm khách

Hồn thiêng sẽ theo người qua bến Dịch

Bên tai người, nhắc nhỡ chí nam nhi

Với đất trời kia phải có danh gì!..”

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

  • Phàn Ô Kỳ là tướng của Tần Thuỷ Hoàng đã bỏ về với Thái Tử Đan của nước Yên, việc này đã làm Tần Thuỷ Hoàng vô cùng tức giận, hãy nghe lời tự thuật của tướng quân họ Phàn với Kinh Kha

“… Tần bạo chúa

Cơn sấm sét vẫn không nguôi thịnh nộ

Kể từ khi mạt tướng bỏ Hàm Dương

Huống nghe tin mạt tướng đã quy hàng

Yên Thái tử. Lòng y như lửa cháy

Lại quạt thêm và tưới dầu thêm vậy!

Nên chuyến này y tận khởi hùng binh

Để chiếm đất đai việc ấy đã đành

Nhưng củng để nổi căm hờn được thoả

Phạt Yên sau, bắt Ô Kỳ trước đã!”

Hỡi kẻ sắp sang Tần!

Phải hiểu rõ lòng ta cho xứng đáng

Chiều nay đây ta dâng ngươi tính mạng

Có phải đâu là ta đã vì ngươi

Vì Kinh Kha lưu tiếng tốt muôn đời

Củng chẳng phải ta căm hờn bạo chúa,

Mượn tay ngươi để thù riêng được thoả

Củng chẳng vì ta muốn báo ơn sâu

Của Yên triều Thái tử bấy nhiêu lâu

Đã biệt đãi một hàng thần phiêu đãng

Không, không phải! ta dâng ngươi tính mạng

Không vì ngươi mà củng chẳng vì mình,

Củng chẳng vì Yên quốc! Ta hy sinh

Chiều nay đây chỉ vì thiên hạ đó

Vì thiên hạ, đầu này ta cắt bỏ.

(Tâm sự kẻ sang Tần-Vũ Hoàng Chương)

Qua các đoạn thơ trên bạn đã thấy Kinh Kha sang tần có rất nhiều lợi điểm:

_Bản đồ của nước Yên có dấu con dao chuỷ thủ trong đó

_Hộp gỗ đựng đầu của Phàn Ô Kỳ

_Cái chết của lão tướng Điền Quang và đôi tay ngà của ca nhi Ngọc Tỷ chỉ là một trong các yếu tố thúc đẩy việc Kinh Kha sang Tần ở thế không thể quay lui, cho dù không có một kiếm thủ song hành là Cáp Nhiếp (thay vào đó là gã giang hồ Tần Vũ Dương không đáng nói tới)

* Với Lý Tống bạn thấy gì, không có tất cả các thứ trên, không có đầu của Phàn Ô Kỳ, không bản đồ nước Yên, không dao chuỷ thủ, không Cáp Nhiếp, không Tần Vũ Dương, việc làm đầu tiên năm 1992 khi anh về VN trên chuyến bay thương mại anh chỉ có một tấm lòng, đúng vậy anh chỉ có một tấm lòng, anh có thể sống sót trong chuyện uy hiếp phi hành đoàn buộc họ phải mở cửa để anh rãi truyền đơn trên bầu trời thành phố Sài Gòn. Nhưng chưa chắc anh có thể sống còn khi tung người qua cửa máy bay để nhảy dù xuống đất.

_Các năm sau đó nào là việc xâm nhập không phận Cuba để rãi truyền đơn. Tháng 11 năm 2000 cướp chiếc máy bay nhỏ của Thái Lan bay sang Việt Nam để thả 50,000 tờ truyền đơn, trả giá cho việc làm đó là 7 năm tù trên đất Thái… và vân vân. Đó là các quốc gia của Cộng Sản hung bạo như đất Tần, Lý Tống đã bao lần qua sông Dịch vào Tần để diệt Tần bạo chúa?

Các việc của anh làm được kẻ khen người chê quả là không ít, nhưng riêng tôi vô cùng đồng ý với nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã viết

“Một nét dao bay ngàn thuở đẹp

Dù sai hay trúng củng là dư”

Những ai đã từng phê bình Lý Tống cho rằng những việc anh làm vì danh lợi hay không tưởng…. xin thưa rằng có mấy ai đã từng làm được như anh hãy xét đoán và phê bình vì rằng cái dũng khí Kinh Kha không có mà bàn luận chi hỡi bạn ta?!

Nay nghe tin anh hấp hối trên giường bịnh, bên bờ tử sinh, tôi chỉ biết mượn những câu cuối trong bài thơ Tâm sự kẻ sang Tần của Vũ Hoàng Chương để gởi cho anh:

“Ngày xưa khói sóng hận chơi vơi

Những kẻ thi gan với chữ Thời

Ngàn sau khói lửa tơi bời

Sông nào Dịch Thuỷ, ai người Kinh Kha.”

Để kết thúc cho bài viết này cá nhân tôi xin chúc cho anh được qua cơn nguy kịch trên giường bịnh dần lấy lại được sức khoẻ hầu làm được nhiều việc sau này cho thoả chí lớn trong công cuộc xoá bỏ chế độ CS theo ý nguyện chung của mọi người Việt trong và ngoài nước

Sơn râu 2019 (Bài viết khi hay tin LT đang hôn mê trên giường bệnh)

Bên đồi Chư Pao

Thơ Lâm Hảo Dũng

Post by Sơn râu 2 Apr 2026

N. Quế và Lâm Hảo Dũng

Súng dội trời trai thôi cũng nản

Chiến chinh không thấy một ngày mai

Những bông hoa dại buồn trong gió

Như khóc than thời chôn xác trai

Chư Pao ngỡ chết trong lòng địch

Vẫn có ngày vui dù mong manh

Những chiến binh ngồi nghe đạn réo

Pháo gầm bom nổ rát trời xanh

Chư Pao một dãy mồ chôn xác

Những chiến binh dầu đêm cuối thu

Ai muốn qua vùng Tân Phú ngắm

Những hầm than máu chảy về đâu?

Chư Pao ai oán hờn trong gió                                                 

Mỗi chiếc khăn tăng một tấc đường

Những mồ hôi đổ tan thành đá

Tan nát lòng ta khách viễn phương

Những anh hùng vô danh đồn Dak Seang

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Post by Sơn râu 2 Apr 2026


“Thành kính tưởng niệm các chiến sĩ Địa Phương Quân anh dũng đồn Dak Seang”
“Đường ra trận mùa này đẹp lắm” Đại úy Ngọc thòng một câu đùa trong chiếc Phi Cơ L19 ở cao độ 8 ngàn bộ, hôm chúng tôi cất cánh từ Nha Trang đi Kontum với hành trang cho 15 ngày biệt phái. Đồng ý đó là một câu đùa, nhưng tôi không cười được chút nào cả vì lòng tôi đang héo hon như cái vỏ xe bị xì lốp.
Đang vui vẻ với đám bạn bè từ Ban-Mê-Thuột về Nha Trang nghỉ mát, ngày nào cũng sáng tiểu yến với cà phê, phở, thuốc lá 3 số 5. Chiều đại yến với la de, nem nướng, sò huyết mà phải khăn gói qủa mướp ra đi như thế này thì thật là đau khổ vô cùng, lại mới bị Thủy giận, tôi chưa có dịp làm hòa. Tính vốn lo xa, tôi đâm ra hãi. Đi biền biệt 15 ngày mà không từ gĩa em được, em tưởng mình… rớt máy bay chết rồi bèn đi cặp * khác thì hết một đời trai. Cứ tưởng tượng cái cảnh Thủy cặp tay một * chết tiệt nào đó đi coi hát bóng, đi nhảy đầm vung vít là tôi cảm thấy… hết muốn bay bổng. Đời phi công sao khổ thế nầy, tôi than thở. có lẽ thấy được những cái vẻ đau khổ khó chịu trên khuôn mặt * Thiếu úy trẻ, anh Ngọc cười. Nhìn thấy cái bản mặt táo bón của chú mầy tao nhớ đến cái thuở huy hoàng của những ngày..chưa lấy vợ. Tôi phản đối “ở Phi Đoàn 114 mà không biết phản đối thì chẳng bao giờ lớn được”. Chưa lấy vợ thì khổ bỏ xừ đi chứ huy hoàng gì anh?. Bị đào hành lên hành xuống, quay vòng vòng như con mắm có gì mà huy hoàng,. Lại còn phải đi biệt phái lâu ngày như thế này, xát thân ở nơi tiền tuyến không sợ mất mà chỉ sợ… mất đào ở nhà. Đại úy Ngọc bật cười lên khoái chí. Hậu sinh…. chẳng biết mẹ gì cả. Mày lấy vợ đi rồi mới thấy cái gía trị của những ngày biệt phái. này nhé, ở nhà với vợ, có * chó nào dám ti teo, đi phải thưa về phải trình, tiền bạc phải “báo cáo”đầy đủ. Ấy là chưa nói đến chuyện ở gần mặt trời thì phải sống có qui củ, có nề nếp, gặp xếp từ xa là phải cung tay chào rốm rốp. * nào cũng muốn kiếm thêm tí điểm thì phải biết điếu đóm v..v.. Đi biệt phái, nói một cách văn chương, đó là “những ngày nghỉ mát” vì thứ nhất mình thoát khỏi vòng cương tỏa… bà tư lệnh , muốn làm gì thì làm, gặp bất kỳ cô thôn nữ yêu kiều nào cũng có quyền đấu tưới hột sen, muốn khoe mình chưa vợ hay vợ… mới chết thì đó là quyền của mình. Các cô thôn nữ vốn dễ dãi và cả tin, chẳng ai thèm khiểm chứng hay thắc mắt lôi thôi. Thứ hai, đi biệt phái, cuộc sống không gò bó như ở phi đoàn. Mình tự chỉ huy lấy, đời sống thoải mái hơn, chỉ làm sao đừng bê trể công việc, thứ ba, làm việc trực tiếp với bộ binh có nhiều cái thú. Mười tám tuổi bỏ nhà đăng lính đâu phải để suốt ngày dòm ba cái đồng hồ phi cơ rồi cứ hết cất cánh rồi hạ cánh. Phải có “Action” phải có đánh bomb, có ăn pháo kích v..v. Nghe anh Ngọc thuyết một lúc là tôi đã thấy xiêu lòng. Mẹ, tôi đâu biết là lấy vợ sẽ khổ như thế này. Sống bị kềm kẹp vậy chả trách gì ông nào cũng có vẻ chán đời. Anh Ngọc cảm thấy hình như tôi đã thấm ý, nên kết luận.
– Đó là những cái khác nhau giữa hai thế hệ, Thế hệ chưa vợ và thế hệ có vợ. Bây giờ nhìn lại mấy chú, anh thấy tiếc hùi hụi.
Rồi hứng tình, anh chơi thêm hai câu thơ, giọng vịt cồ nghe không có tính chất…văn học chút nào hết.
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề

Sau hai câu thơ là một chuỗi cười hì hì nghe rất ngứa lỗ tai. Men rượu của buổi tiệc gĩa từ tối hôm qua còn ngây ngất trong máu tôi, làm đầu óc cứ dật dờ. Tôi tắt radio, bảo anh Ngọc:

– Anh bay hộ, em buồn ngủ quá.
Anh Ngọc dễ dãi:
– Ngủ đi, tao bay cho. Ráng ngủ lấy sức, xuống đến Kontum chuyến này có nhiều chuyện lắm.
Tôi kéo tuột ghế ra sau, nhắm mắt làm một giấc ngon lành…. Biệt đội Kontum lần ấy, các phi hành đoàn ở trong cư xá vãng lai Sĩ Quan của Tiểu Khu. Cả thành phố Kontum như một trại lính khổng lồ, đi đâu cũng chỉ gặp toàn lính là lính. Từ lính không quân đến lính bộ binh, lính nhảy Dù, lính Lôi Hồ, lính Biệt Động Quân, lính Biệt Kích…..,ai nấy võ khí trang bị tới răng trông phát khiếp. Lâu lâu, phải chịu khó tìm tòi và chờ đúng giờ tan học mới nhìn thấy được vài tà áo dài phất phơ cuả các em nữ sinh, Những tà áo dài bé nhỏ xinh xinh coi có vẻ vừa lạc lõng vừa hiền lành làm sao trong cái thế giới đầy dẫy súng đạn của thành phố địa đầu này. Cũng như một con én không làm được mùa xuân, một chiếc áo dài tha thướt cũng không làm mất đi được cái vẻ chinh chiến của quê hương khốn khổ. Đứng nhìn ngắm những tà áo này, tôi thấy nhớ Thủy chi lạ, buổi chiều cơm nước xong về khu tạm trú thắp đèn cầy đánh bài cho hết giờ. Buổi tối, cái khổ nhất của chúng tôi là hai cây cà nông 175 ly to tổ bố của thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt cách dẫy nhà chúng tôi ở chừng 500 thước. Hai cây súng mắc dịch này, ban đêm, giữa lúc mọi người đang ngủ say, cứ thỉnh thoảng nổ một vài phát bắn quấy rối rồi nằm im. Đang mơ màng giấc diệp, tiếng súng đại bác ở sát bên bắn một phát làm chúng tôi nẩy tung muốn văng ra khỏi giường ” Đêm hôm khuya khoắc, bắn con C…gì mà bắn độc thế? Sao không về nhà mà bắn… bà xã cho được việc”, một giọng càu nhàu cất lên. Lại có giọng khác hăm dọa ” ngày mai tao phải “phản đấu”mới được. Đó là tiếng nói của Đại úy Bá, trưởng biệt đội. Ông đại úy này người dân xứ Quảng, lâu lâu phải để cho ông ấy “phản đấu” ai một lần thì ông ăn cơm mới ngon. Mất cả tiếng sau mới dỗ được giấc ngủ. Nhiều khi vừa mới chợp mắt thì lại “ầm” một tiếng như trời long đất lở tiếp theo, lỗ tai như bi ai tống vào một cây đinh. Đến lúc này thi đại úy Bá không nhịn được nữa, chửi thề um sùm “Đ..” mọa nó, bén chi mà bén miết..”. Thế là hết mẹ nó một tiếng đồng hồ nữa rồi… Tôi không hiểu các anh em bộ binh làm sao mà sống được như vậy không phải chỉ trong 15 ngày biệt phái như tôi mà tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.
Phải đi biệt phái những nơi như vầy mới hiểu được và thương các anh em bộ binh. Người lính bộ binh Việt Nam khổ qúa. Khổ đến độ sự khác biệt giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới. Cuộc đời là địa ngục thì chết chắc cũng chẳng có ai sợ. Và có lẽ, chết sẽ là một giải thoát. Tôi đã tận mắt nhìn thấy nhiều người sống suốt mấy tháng trong giao thông hào nước ngập tới háng. Đó là nơi mà anh em vừa ăn, ỡ ngủ v.v.. Các anh cũng là người với những cảm giác bình thường, biết lạnh, biết nóng, biết thèm ăn ngon, biết sợ đau khổ, sợ chết. Mãnh lực nào. sức lôi cuốn nào đã khiến anh em từ bỏ gia đình ôm cây M16 để trở thành người lính bộ binh. Trở thành người linh bộ binh để “chết thay dùm dân tộc” để chấp nhận mọi đắng cay, mọi hiểm nguy, Chắc chắn không phải để lãnh số lương mười mấy ngàn , chỉ đủ mua bao gạo. Cũng không phải vì sợ cảnh sát bắt đi quân dịch ở đầu ngõ. Cũng càng không phải vì mủi lòng bỡi vài cái bích chương kêu gọi rẻ tiền của chính phủ dán trong thành phố, hay vì câu hát của Hùng Cường , Mai Lệ Huyền. Tôi nghĩ, anh em đã ra đi chỉ vì lòng yêu nước. Vì, anh em nghĩ rằng cầm súng chiến đấu là bổn phận của ngững người trai thời ly loạn. Chỉ biết rằng đi để thể hiện chữ “Yêu” yêu Quê Hương yêu Tổ Quốc, không cần tính toán, không đo lường gía cả. Chỉ vài ngày đi bay mà anh em ai cũng bị hốc hác thấy rõ. Đêm mất ngủ, lên trời gió mát, chỉ muốn nhắm mắt. Cùng tắc biến, biến tất thông, mấy hôm sau chúng tôi biết cách trị.. Pháo Binh. Trước khi leo lên giường ngủ, chúng tôi lấy bông gòn nhét kín hai lỗ tai. Thế là mấy chú thiết giáp cứ mặc sức mà bắn. Có *… Thiếu úy tên On nằm gần giường tôi, mới được cho đi hành quân lần đầu nên lẩm cẩm không chịu được. Tên nghe đã lẩm cẩm mà người lại còn lẩm cẩm hơn. Đang đêm, tôi thấy nó thỉnh thoảng ngồi dậy, móc bông gòn ra khỏi hai lỗ tai, nghe ngóng một chút rồi lại nhét vào, nằm xuống. Mặt mày nó làm ra vẻ quan trọng lắm. Trằn trọc không ngủ được, tôi thắc mắc:
– Mày làm cái trò khỉ gì đó ông Thiếu úy On?
Nó đáp tỉnh queo:
– Tao phải thức dậy để nghe ngóng xem có pháo kích không.
Tôi suýt bật cười. Đúng là * lẩm cẩm, nó làm như Việt Cộng chờ nó tháo bông gòn ra khỏi hai lỗ tai rồi mới thèm pháo. Tôi phịa một câu:
– Tao có ý kiến này hay hơn. Mày chỉ cần rút bông gòn ra khỏi một lỗ tai thôi. Một tai bịt kín để khỏi nghe pháo binh mình, tai kia bỏ trống để nghe VC pháo kích.
Một thoáng êm lặng, rồi như biết được câu móc lò của tôi, * On chửi thề:
– Đ.. M.. * mất dạy. Mày mà đòi móc lò tao sao được. Tao đâu có ngu.
Thấm thoát mà 15 ngày biệt phái của tôi trôi qua mau. Con người qủa thật là dể thích ứng với hoàn cảnh mới. Tôi chỉ còn nhớ Thủy… sơ sơ thôi chứ không còn “nồng nàn da diết” như những ngày mới đến đây nữa. Cuộc đời biệt phái cũng có nhiều niềm vui khác như đi uống cà phê đêm, nhậu nhẹt, gặp lại bạn bè cũ, kết bạn bè mới. Với lại, chúng tôi vừa khám phá ra một quán cà phê mới khai trương. Cô Cashier coi xinh không chịu được. Thế là chiều chiều cơm nước xong, chúng tôi bảy tám người chất nhau lên chiếc xe Jeep ra quán cà phê ngồi… lì đến tới tối. Giữa khu rừng núi hoang dại này, dể gì kiếm được một cành hoa. Tôi để ý thấy Thiếu úy On yêu đời ra mặt. Không hiểu nó tính dợt le với ai mà đi biệt phái ở nơi rừng sâu núi thẩm này cũng mang theo được mấy cái khăn quàng cổ đủ các màu. Đi uống cà phê những lần sau này nó nhất định phải đóng thêm cái khăn quàng cổ màu tím vào cho ra cái điều như là… màu tím hoa sim, coi chán đời không chịu được. Vào quán cà phê, Thiếu úy On ăn nói chững chạc đàng hoàng, không láu cá nham nhở như tôi.. Có mấy lần tôi tính thò tay ra sờ mông em thì bị nó gạt phắt đi, điệu hung hãn làm như nó… chưa sờ đít ai bao giờ. Nó muốn mang khăn quàng màu gì hay tán tỉnh gì thì kệ nó, tôi không để ý tới. Cái làm tôi thích thú nhất là mỗi lần ra về, cu cậu nhất định dành trả tiền cho kỳ được. Di nhiên, tôi không bao giờ phản đối cái mục này. Tôi biết * khỉ này nó có bao giờ trả tiền cà phê cho ai đâu. Hóa ra là con người khi yêu ai cũng trở thành dễ thương hết. Chả trách gì nhà văn Shakespeare đã phán một cau “everybody loves the lover”. Cả thế giới đều yêu một kẻ si tình. Đúng thật. Tôi ước giá phi đoàn có chừng chục * như Thiếu úy On thì tôi khỏi sợ tốn tiền cà phê thuốc lá. Được trớn, tôi xúi dại nó, bảo hay là mầy xin ở lại Kontom luôn cho anh em nhờ. Nhưng nó quắc mắt lên, cười khỉnh ” Vừa phải thôi… tám. Tao tuy ngu nhưng đâu có ngu hơn mày.”
Lần biệt phái này, trái với lời anh Ngọc tiên đoán, sư đoàn 23 BB không có đụng trận nào ra hồn cả. Thỉnh thoảng một bọn ” giặc cỏ” đến quấy rối rồi lặn mau như chuột. Dường như cả hai bên đang nghỉ ngơi dưỡng sức. Dưới đất mà không thèm đánh nhau thì trên trời biết ăn thua với ai. Những phi vụ air cover nhàn rỗi, tôi hỏi đại úy Ngọc đi ” duy trì khả năng” bắn rocket. “duy trì khả năng” là một danh từ không quân dành cho những anh chàng phi công văn phòng, sợ lâu quá không bay thì lúc leo lên tàu, thì quên béng nó mất cái cần lái nằm chỗ nào nên phải bay “duy trì khả năng” cho khỏi quên. Tôi thì khoái tập bắn rocket sao cho nó đẹp như ‘Dăng gô” bắn súng. Chỉ đâu bắn trúng đó. Cái kiểu bắn rocket của tôi phi đoàn ai cũng chán vì lối bắn mất dạy. Bay trên mục tiêu, Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào nhiều khi gần như cắm đầu thẳng xuống. Cứ thế mà bóp cò. Bắn thì dể nhưng khi kéo tàu lên mới là cực hình. “G” đâu mà lắm thế , mặt mũi cứ dài ra cả thước. nhưng đại úy Ngọc chịu chơi, lần nào cũng cho tôi bắn. Nhiều khi anh còn nhìn “tác phẩm” của tôi phê bình “Số mày sinh ra để bay khu trục mà bị trời bắt lái .. L19. Đúng là con nhà vô phúc”. Ngày cuối cùng của cuộc biệt phái, chúng tôi cất cánh phi vụ thứ hai vào khoảng 3 giờ chiều. Lên trời, làm vài vòng, tôi hỏi đại úy Ngọc:
– Hay mình làm vài vòng, nếu không có gì thì đi kiếm cái chòi thượng nào đó “duy trì khả năng” rồi về đáp. Mai đổi biệt đội khác rồi.
Đại úy Ngọc tự nhiên phản đối:
– Thôi cứ để đó, mày bay dọc lên Dak Pek đi. Tao đi quan sát lần chót để bàn giao vùng trách nhiệm cho phi hành đoàn mới.
Có cái gì thắc trong đầu anh mà tôi không nghĩ ra. Lát sau anh nói:
– Mày để ý thấy chiến trường lần này, đặc biệt là cách mấy ngày hôm nay yên lặng một cách quá đáng không?

Tôi chả biết gì, trả lời:
– Yên thì có yên đó, nhưng mà có gì không anh?
– Thường thường mà yên quá như thế này là thế nào cũng có đánh lớn.
Tôi nói xuôi:
– Mai mình về rồi, nhằm nhò gì.
Khoảng 5 giờ chiều tôi đang lơ lửng gần một cái đồn nhỏ gọi là đồn Dakseang, phía Nam của Dakto. Đại úy Ngọc chợt giật cần lái, quẹo một vòng.
– Để tao coi. Đ.M. hình như đồn này đang bị pháo kích.
Chỉ một thoáng sau anh la lên:
– Đ.M. đúng rồi. Đ.M. nó đang pháo vô đồn.
Anh Ngọc gọi máy về Trung Tâm Hành Quân, báo cáo những gì mình thấy và xin tần số liên lạc ngay. Chỉ trong vài phút, Trung Tâm Hành Quân xác nhận với chúng tôi là đồn bị pháo kích, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đồn sẽ bị tấn công. Chúng tôi được chỉ thị ở lại làm việc với đồn. Bắt được liên lạc, trao đổi danh hiệu xong là chúng tôi giảm cao độ. Vừa tà tà bay vô thì bổng hàng chục cây phòng không nhắm vào chúng tôi nổ tới tấp. Chắc chắn phải có vài viên trúng tàu vì tôi nghe lên vài tiếng bụp bụp. Tôi càu nhàu: ” 15 ngày biệt phái không sao, ngày cuối cùng mà lãnh một viên vào.. đít là xui quảy..” vô không nổi, tôi quẹo ra. Đại úy Ngọc phê bình:
– Trên trời mà phòng không “kèm cứng một rừng” như vậy là dưới đất nó đã chuẩn bị trận địa pháo rồi. Lạng quạng thì đồn này chắc mất tối nay. Anh giở tấm bản đồ, ba cái FM trên phi cơ được sử dụng liên tục. Cái gọi pháo binh, cái trực với đồn Dakseang, cái nói thẳng với Bộ Tư Lệnh chiến trường. Cường độ pháo kích càng ngày càng trở nên khốc liệt, Tôi lên cao chút xíu rồi rình rình lại chui vào từ một hướng khác. Bố khỉ, tôi lúc ấy mới khám phá ra là khu vực làm việc bị mây “broken” từng cụm nhỏ bao phủ khoảng từ 5 đến gần 8 ngàn bộ trên trời. Đang quan sát, tàu chui vào mây là coi như mù. Ra khỏi mây thì phải mất một lúc mới trở lại được chổ quan sát cũ. Đại úy Ngọc chửi thề “Đ.M. mây mà cũng bị VC dụ dỗ đâm sau lưng chiến sĩ. Trời đất bao la sao không kiếm chỗ bay mà cứ lẩn quẩn làm con C.. ở đây.” Tôi đã cắt ga xuống dưới trần mây mấy lần nhưng vừa xuất hiện là bị hàng chục họng phòng không thổi rào rào vô mặt, đuổi trở lên “súng đâu mà chúng nó lắm thế” Tôi đành vật lộn với mấy cụm mây…VC này. Bi thảm hơn, giặc bắt đầu nả 130 ly vào đồn, Hai cây đại pháo, một cây đặt ở ven làng cách đó chừng 15 cây số, cây kia ở hướng đối diện cứ tà tà nã từng trái một vào đồn. Từ trên, tôi nhìn thấy rõ ràng những quả đạn rơi rất chính xác vào trong đồn. Cứ mỗi quả đại bác rơi xuống là có chừng mười mấy trái súng cối nổ kèm theo “phụ diễn”. Tôi và anh Ngọc lồng lộn trên tàu bay. Máy vô tuyến gọi đến gần nát cả họng, nhưng bất ngờ quá, chả thấy phi tuần xuất hiện, anh Ngọc gọi pháo từ căn cứ pháo binh gần đó nhất để yểm trợ. Vừa nhận được tọa độ, đã nghe ở dưới đất kêu trời:
– Vô ích bạn ơi. Xa quá, bắn tới… Têt cũng huề.
– Thì bạn quay nòng xuống thổi đại cho một chục tràng đi, bắn dọa nó cũng được.
– Xong rồi, để tôi cho yếu tố tác xạ
– Yếu tố mẹ gì, bắn đi bạn….
Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, người chỉ huy đồn Dakseang có vẻ bối rối:
– Bạch Ưng, đây Thanh Trị.
– Nghe 5 bạn
– Báo cho bạn biết đến giờ phút này con cái tôi đếm được là 500 trái rồi đó bạn. Hầm hố tôi 50% thiệt hại.
Tôi muốn nhảy nhổm trong tàu bay. 500 trái vừa cối vừa pháo xuông một diện tích tí teo như thế kia thì còn hầm còn hố nào.
Anh Ngọc bổng nẩy ra một kế…chết người.
– Nếu để nó pháo điệu này thì chừng tí nữa quân mình chẳng còn gì hết. Mình phải “chiến tranh chính trị” mới được.
– Có học trường chiến tranh chính trị ngày nào đâu mà đòi…chiến tranh chính trị anh?
Người phi công chiến tranh chính trị bất đắc dĩ lên mặt dạy dỗ.
– Từ từ để tao cắt nghĩa. Chiến tranh chính trị nghĩa là…có là không, không là có. Bây giờ chưa có phi tuần thì mình phải làm như có phi tuần. Mình phải xuống ngay trên đầu mấy cây pháo làm bộ như phi tuần sắp tới thì pháo nó mới câm được.
– Xong rồi.
Mặc dù vẫn còn ngán mấy chục họng phòng không nhưng trong hoàn cảnh này, đạn tránh người chứ người làm sao tránh đạn? Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào, cứ nhắm họng đại bác bay tới. Đạn nổ tùm lum chung quanh tàu. Anh Ngọc trấn an tôi:
– Mầy đừng lo, tao có bùa nanh heo rừng. Đạn nó né tao.
Nghe sao mà chán đời, Tàu bay chỉ có 2 người, đạn nó bay vào đây mà né anh Ngọc thì nhất định nó phải kiếm người khác để chui vào. Người đó còn ai khác hơn tôi. Bỗng nhớ ra điều gì, anh sờ tay vô ngực quờ quạng rồi rú lên:
– Bỏ mẹ rồi, nanh heo rừng đíu có đem theo. Đ.M. hôm qua đi tắm treo nó chỗ phuy nước quên đeo vô rồi. Nhưng anh nói ngay:
– Nhưng tử vi nói tạo sống thọ lắm, yên chí lớn đi * em.
Tôi nghiệm ra rằng con người, lúc ở trong những hoàn cảnh nguy hiểm đều kiếm ra một lý do gì đó để tự tin và hy vọng. Càng đi xa đồn thì phòng không càng bớt dần. Thấp thoáng con gà cồ của giặc đã nằm ngay dưới cánh, chúng tôi xuống thấp thêm tí nữa, lượn vòng chung quanh cây pháo. Đúng y như anh Ngọc đoán, pháo im bặt. Rồi như một cơn mưa rào đổ xuống mùa hạn hán, một hợp đoàn Cobra của Tây xuất hiện. Đại úy Ngọc qua được tần số của Tây xí xa xí xồ một chập, tôi nghe được mấy tiếng “everywhere”. Vừa vào vùng là mấy anh Cobra làm ăn liền. Tôi ngạc nhiên thấy họ thay phiên nhau bắn rào rào chung quanh đồn. Như vậy con cháu họ Hồ đang “tùng thiết” đi vô chăng? Dĩ nhiên phòng không giặc bây giờ đổi mục tiêu, nhắm mấy anh Cobra nhả đạn. Trận thư hùng coi rất đẹp mắt nhưng ngắn quá. Mấy ông Tây bắn chừng 5 phút là hết đạn, quay lui. Khốn nạn hơn cái món chiến tranh chính trị xem ra hết ép phe. Có lẽ giặc biết chúng tôi chỉ dọa giả nên cây pháo bắt đầu nổ trở lại. Đại úy Ngọc gầm lên:
– Đ.M. tụi mày, lát nữa khu trục lên tao cho nó…bỏ bomb thấy mẹ mày.
Tức quá mà không làm gì được thì…chửi cho đã tức. Chúng tôi chỉ có 4 quả Rocket khói, chẳng sơ múi gì được. Rồi Peacock gọi thông báo sẽ có phi tuần khu trục A-1 đang cất cánh khẩn cấp từ Pleiku lên làm việc với chúng tôi. Đại úy Ngọc hớn hở gọi máy:
– Thạnh Trị, đây Bạch Ưng
– Nghe 5 bạn, gần ngàn trái rồi. Tụi nó mới xung phong đợt đầu đó bạn.
– Có sao không bạn?
– Không, mấy * chuồn chuồn tới đúng lúc với lại con cái tôi đánh giặc còn “tới” lắm bạn ơi. Tụi nó rút hết rồi. Khoảng chùng 50 xác nằm dài dài. Mấy * Tây đánh đẹp lắm.
– Chúng tôi sẽ có 2 phi tuần lên liền bây giờ với bạn.
– Bạn ráng dùm, hầm hố gần nát hết rồi bạn.
– Tôi hiểu bạn.
Cây 130 ly quái ác vẫn đì dạch phọt ra từng cụm khói đen. Tôi bảo anh Ngọc.
– Anh để em lên làm đại một trái khói vô đó coi, may ra….
– Ờ, may ra….
Tôi làm vòng bắn, nghiêng cánh quẹo vào, nhắm và bóp cò. Oành cái Rocket nổ…gần cây đại pháo. L-19 mà bắn được vậy là nhất rồi, nhưng có chết * chó nào đâu? Không chết nhưng cây pháo lại im tiếng một lần nữa. Tốt! Tôi tính cứ lâu lâu nhào xuống xịt cho tụi nó một trái để mua thời gian chờ khu trục lên. Rồi tiếng rè rè thử vô tuyến của mấy ông khu trục A-1 nghe lên bên tai. Phải thú nhận, cái tiếng rè rè đực rựa lúc này nghe sao mà nó…đáng yêu thế. Đó là thứ tiếng nói của hy vọng, của niền tin, của sức mạnh, của tình chiến hữu. Anh Ngọc trao đổi vô tuyến với phi tuần khu trục rồi gọi máy cho quân bạn.
– Thạnh Trị, đây Bạch ưng
– Nghe bạn 5.
– Chim sắt của tôi lên rồi đó bạn. bạn muốn tôi đánh đâu?
– Bạn lo dùm mấy con gà cồ trước đi.
– OK! Roll
Phi tuần khu trục vừa xuất hiện thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Số lượng phòng không bây giờ không biết là bao nhiêu cây, nhưng dòm hướng nào cũng chỉ thấy lửa và lửa. Trời đã về chiều nên những viên đạn lửa bay vút lên cao càng được thấy rõ ràng hơn. Phi tuần đầu nhào lên nhào xuống mấy lần vẫn không làm câm họng được cây pháo phòng không vì trời quá xấu. Những đám mây…phản quốc, khốn nạn vẫn chình ình khắp nơi. Khó khăn lắm họ mới kiếm được cái lỗ chui xuống, bay giữa những loạt đạn phòng không trùng điệp, để tới mục tiêu, bấm rơi bomb, rồi kéo lên. Còn 2 trái cuối cùng, người phi công A-1 “để” vào ngay trên ổ súng chính xác như để bi vào lỗ. Ầm một tiếng vang lên rồi tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ. Cha con nó đang đền tội. Xong một cây. Anh Ngọc hướng dẫn phi tuần thừ hai đang làm ăn thì tôi nghe tiếng gọi:
– Bạch ưng, đây Thạnh Trị
– Nghe 5 bạn
– Báo bạn biết, hầm chỉ huy tôi xập rồi. Tôi ra giao thông hào với  mấy đứa con.
– Bạn nhớ giữ liên lạc với tôi.
– Bạn…
Không có tiếng trả lời. Tôi hoang mang. “ra giao thông hào với mấy đứa con” vậy là bi đát lắm rồi. Anh Ngọc bảo tôi:
– Anh đang bận hướng dẫn khu trục, em qua FM gọi thẳng TTHQ xin gấpcho anh ít nhất là 2 phi tuần nữa, lên liền lập tức, nếu không kịp làtụi nó sẽ “over run” Dakseang trong vòng nửa tiếng đồng hồ.Tôi đổi tần số FM, Anh Ngọc cẩn thận dặn dò thêm:
– Phải nhớ la ơi ới lên như là đang bị bóp…dái thì cha con nó mới chịu chạy dùm.Tôi phì cười, ông đại úy nầy lúc nào cũng đùa được. Khỏi cần bị ai bóp dái tôi cũng la được vì hò hét và tả oán là sở trường của tôi. Tôi gọi máy và có kết qủa ngay. Anh Ngọc mừng rú lên khi được thông báo có một phi tuần F4 của Hải Quân Mỹ sẽ cất cánh ngay từ hàng không mẫu hạm vào làm việc. Giọng nói từ dưới đất bây giờ nghe có vẻ hốt hoảng:
– Bạch ưng, đây Thạnh trị
– Nghe bạn 5
– Bạn cho mấy con chim sắt đánh sát quanh đồn gấp đi bạn. Tụi nó đang “à lát xô” lên.
Anh Ngọc la ùm lên trong tần số khu trục. Hai chiếc khu trục A-1 còn mấy trái bomb bỏ dở cây, hối hả trở về đồn nhào xuống đánh sát chung quanh rào. Một ông la to khi kéo tàu lên.
– Tụi nó đông như kiến bạn ơi.
– Còn phải hỏi.
Khu trục đánh hết bomb nhưng vẫn bay trên mục tiêu để bắn hết những tràng cà nông 20 ly. Tình hình lúc này đã bi đát lắm rồi. Giặc xung phong lên ào ào. Thạnh trị thông báo là một góc phòng tuyến đã bị vỡ và con cái anh đang xáp lá cà với giặc. Tôi nghe Trung tâm hành quân “TTHQ” thêm ba căn cứ khác cũng bị tấn công một lúc. Anh Ngọc bảo tôi: Tao còn lạ gì cái trò này, tụi nó đánh nghi binh để dứt điểm Dakseang đó. Phải cẩn thận. Trong vô tuyến, tiếng tàu bay gọi nhau tiếng trao đổi gã trên trời và dưới đất nghe loạn cào cào.. Bởi trong những tiếng ồn ào đó, có tiếng gọi của mấy ông F 4 Hoa Kỳ. Mấy ông Tây trang bị vũ khí tận răng. Hai chiếc F4 mỗi chiếc mang 18 trái 500 pouds đang làm vòng chờ ở khoảng 20 ngàn bộ. Anh Ngọc chỉ “briefing” một tí, mấy ông “Roger” và “Sir”lia lịa nhào xuống làm ăn liền. Khu trục Việt Nam đánh đã đẹp, mấy ông Tây đánh cũng không thua ai. Từ khoảng 15 ngàn, mấy ông nhào xuống dưới trần mây, để những trái bomb thật chính xác. Phòng không bắn dữ dội nhưng xem ra không ăn thua gì với mấy chiếc F4 này. Đang đánh ngon lành thì tôi nghe tiếng gọi từ dưói đất:
– Bạch ưng, đây Thạnh trị
Giọng nói lúc này không có vẻ hốt hoảng mà bình tĩnh lạ thường.
Anh Ngọc bấm máy:
– Nghe bạn 5, cho biết tình hình đi bạn.
– Tôi yêu cầu Bạch ưng cho đánh ngay vào trong đồn.
Cả hai chúng tôi giật nẩy mình, chỉ hy vọng là mình nghe…lộn. Chúng tôi sững sờ không trả lời được. Người chỉ huy phía dưới đất xác nhận lại:
– Bạch ưng, tôi xác nhận lại, tôi xin bạn đánh xuống đầu tôi.
– Bạn nói bạn xin đánh thẳng vào đồn?
– Đúng 5. Hết hy vọng rồi bạn ơi. Cứ đánh vào đây để tụi nó chết chùm luôn với chúng tôi.
– Bạn suy nghĩ kỹ chưa?
– Giọng nói dưới đất lúc này nghe có vẻ hết kiên nhẫn:
– Không còn lựa chọn nào khác bạn ơi. Bạn đánh lẹ giùm. Chúc bạn may mắn. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà bạn…
Đó là những tiếng nói cuối cùng tôi nghe được từ đồn Dakseang “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Anh Ngọc hốt hoảng gọi máy về xin chỉ thị quân đoàn. Quân đoàn trả lời phải xác nhận với đồn Dakseang một lần nữa rồi cho biết kết qủa. Chúng tôi gọi muốn đứt hơi nhưng không còn liên lạc được với Thạnh Trị nữa. Báo cáo trở lại, quân đoàn quyết định: cho đánh thẳng vào đồn nhưng phải… cẩn thận. “Cẩn thận con C… ông” anh Ngọc lẩm bẩm chửi thề rồi gọi máy thong báo cho mấy ông Tây, bảo đánh thẳng vào đồn. Người phi công hải quân Mỹ vừa kéo con tàu lên sau một loạt tấn công cũng bối rối không kém:
– Roger! Sir, Did you say…right on it? Over
– Yes sir, it’s all over. I said you salvo right on it. Over.
– Roger, sir, I understood, sir, Over.
Chỉ có vậy thôi, đồn Dakseang biến thành một biển lửa sau hai đợt bomb salvo của mấy chiếc Phantom. Tôi đang chứng kiến một hình ảnh mà có lẽ suốt đời sẽ không bao giờ quên được. Tôi biết nói gì lúc này đây cho những người chiến sĩ Địa Phương Quân QLVNCH? Tất cả những ngôn từ, những ý nghĩ đều trở thành vô nghĩa trước cảnh tượng bi thảm hào hung này. Bay cách đó chừng 5 cây số với cao độ 5 ngàn bộ mà con tàu tôi như rung lên dưới tiếng nổ và sức ép khủng khiếp của mấy chục trái bomb 500 cân Anh nổ một lần. Làm sao còn có ai sống sót sau cơn tàn phá khủng khiếp này?. Những thịt, những xương, những máu của các anh hùng Dakseang đã tung bay khắp nơi rồi rơi xuống lẫn lộn với bụi, với đá, với sắt, để rồi nằm im trên mặt đất. Cũng trên mặt đất nầy của quê hương, ở một nơi nào đó, những người vợ, những đứa con, những bà con thân bằng quyến thuộc của các anh đâu biết người thân của mình vừa anh dũng đền nợ nước, vừa ” Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” như lời trăn trối cuối cùng của người đồn trưởng, vừa chết để cho cả dân tộc được sống, được hít thở không khí Tự Do dù chỉ trong một khoảnh khắc… Ngày mai đây, những chiếc khăn tang trắng sẽ được chít vội vã lên đầu những người thiếu phụ nghèo nàn khổ sở kia, những khuôn mặt bầu bĩnh vô tội của trẻ thơ. Nước mắt nào khóc cho hết nỗi bi thương của người vợ lính VNCH đây hỡi ông trời xanh thẩm? hình ảnh nào có thể thay thế được hình ảnh ngọt ngào của Cha chúng nó, suốt khoản đời còn lại của những em bé hồn nhiên vô tội kia hỡi ông trời? Dân tộc tôi đã làm gì nên tội, “Tử biệt sinh ly” câu nói nghe được từ thuở học trò bầy giờ mới thấy trọn nghĩa ý đau thương. Máu nào chảy mà ruột không mềm, mắt tôi bỗng chan hòa nước mắt. Tôi tống ga bay trở lại đồn. Qua màn lệ nhạt nhòa, tôi chẳng còn thấy gì, ngoài những cụm khói đen bốc lên giữa đồn. Những cụm mây oan khiên vừa rồi vẫn còn vần vũ như những chiếc khăn tang trắng lồng lộng bao phủ cả bầu trời. Mây ơi là mây, còn sống chẳng chịu giúp nhau, bây giờ người đã chết, đồn đã mất sao còn lảng vảng để khóc thương.
Trời chiều cao nguyên vốn đã thê lương cô quạnh lại càng trở nên tang tóc sầu thảm hơn. Hai chiếc Phantom Hoa kỳ ráp thành một hợp đoàn tác chiến bay những vòng tròn thấp chung quanh đám đất đá điêu tàn không hiểu để quan sát hay để chào vĩnh biệt những chiến sĩ gan dạ anh hùng của Địa Phương Quân QLVNCH. Dưới trời chiều nắng tắt, trông hợp đoàn Phantom như hai con chim hải âu ủ rủ lượn từng vòng quanh xác chết của đồng loại. Sau khi nhận kết oanh kích của anh Ngọc, giọng nói xúc động của người phi tuần trưởng Phantom vang lên:
– Sir, may I reach out across the fires and destructions of today to tell you this: Those people down there have fought like men and have gone in honor.
Giọng anh Ngọc run run nghẹn ngào:
– Yes sir, they have gone in honor. That was an Alamo by all means, sir. An ever greater Alamo than ours, Over.
Tôi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên má anh Ngọc.
– Roger! We have thousand of Alamo like that every day in our country.
– Roger, I believe that, sir, God bless you all. Over.
Hai chiếc Phantom liếc cánh chào vĩnh biệt rồi bốc lên cao, mất hút giữa bầu trời ảm đạm. Alamo, cái tên nghe đã đi vào huyền sử của dân tộc Hoa Kỳ mà bất cứ công dân Mỹ nào nghe cũng phải hảnh diện. Alamo, làm tôi nhớ đến bài học Anh văn năm đệ ngũ. Alamo, đúng ra là một ngôi nhà thờ “Y pha nho” mà hai ngàn chiến sĩ kỵ binh Hoa Kỳ đã tử thủ khi chống cự lại với hàng chục ngàn quân Mễ Tây Cơ cho đến giây phút cuối cùng. Không ai đầu hàng và tất cả đã bị tàn sát. Người Mỹ chỉ có một thành Alamo trong suốt 200 năm lập quốc mà cả thế giới đều biết, đều mến phục. Đất nước tôi có bao nhiêu thành Alamo còn tàn khốc hơn, đẩm máu gấp ngàn lần hơn suốt bao nhiêu năm chinh chiến.
Sáng hôm sau tôi và anh Ngọc bay thêm một phi vụ sớm trước khi bàn giao biệt đội. Tối đêm qua một trận mưa bomb của B52 đã cày nát khu tập trung quân giặc. Dù biết là vô ích, chúng tôi vẫn mở lại tần số cũ để gọi cho Thạnh trị. Nhưng chả còn Thạnh trị nào để trả lời cho Bạch ưng nữa. Đồn Dakseang chỉ còn là đống đất vụn điêu tàn. Gió thổi lên từng cơn cuốn theo những lớp bụi đỏ mù. Tôi nhìn xuống đó, tưởng nhớ đến những cái chết oai hùng chiều qua. Trong một quê hương khói lửa, kiếp người quả thật mong manh như gió, như đám bụi mù kia. Mới nói nói cười cười mà giờ đây đã ngàn thu vĩnh biệt. Bay thêm vài vòng quanh đồn để tưởng nhớ ngậm ngùi cho các anh rồi cũng đến lúc phải từ giã để ra đi. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” Thôi thì xin thành kính nghiêm trang giơ tay chào vĩnh biệt các anh. Những người lính Địa Phương Quân âm thầm của một tiền đồn xó núi. Địa Phương Quân, cái tên nghe khiêm nhường và hiền lành như đất, như bộ đồ xanh bạc màu của các anh. Địa Phương Quân, thứ lính…âm thầm nhất trong các thứ lính của quân lực; không màu mè, không áo rằn ri, không có những huyền thoại khủng khiệp, không “truyền thống, binh chủng” không có đến những khẩu hiệu nẩy lửa chết người. Nhưng Địa Phương Quân Pleiku chiều hôm qua đã bình tỉnh xin “cho nó nổ trên đầu tôi”. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi bạn ơi” Xin vĩnh biệt và cảm tạ. Cảm tạ các anh đã đem cái qúi giá nhất của cuộc đời là mạng sống mình để đổi lấy cho quê hương dù đã rách nát tả tơi còn có được những ngày xanh hy vọng. Cho buổi hợp chợ ban mai, dù nghèo nàn thưa thớt vẫn còn được an bình. Cho ngôi trường quận lỵ thấp lè tè những mái tôn cháy nắng còn rộn tiếng trẻ thơ cười. Cho mái chùa cong cong nơi sườn núi còn được ngân lên những hồi chuông tín mộ. Và cho những người ở lại như tôi đây biết rằng mình sống tức còn nợ phải trả…. Các anh chính là những người được mô tả trong một bài học thuộc long tôi thuộc làu làu lúc còn là một đứa bé :
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho tổ quốc
Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Những kẻ sống lòng son không biến chuyển
Tuy tên họ không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khẩn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và linh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.


Xin thành kính viết lại một phần bài thơ của Đằng Phương để tặng các anh. Các anh chính là những “Anh Hùng Vô Danh”. Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam ngàn đời sẽ còn ghi ơn các anh. Xin vĩnh biệt và cảm tạ.


Trường Sơn LÊ XUÂN NHỊ

Đi Theo Xác Chồng

baovecovang2012.wordpress.com

Đồi Bắc, K19

Posted on April 25, 2024 by Lê Thy

Post by Sơn râu 2 Apr 2026

Google image

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình.

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.

★

Sau khúc nhạc Hồn Tử Sĩ dạo đầu, cô ca sĩ vừa cất tiếng hát: “Ngày mai đi nhận xác chồng”  thì người đàn ông ở tuổi 82 với 13 năm cầm súng bỗng rụng rời chân tay, mặc dù đã nghe nhiều lần khi còn là lính. Dù nghe ngoài chiến trường, nghe ở hậu phương, nghe khi còn trẻ, nghe khi đã về già, nghe ở mọi thời gian và không gian thì con tim nào mà không xúc động với lời thơ của thi sĩ Lý Thị Ý do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, xúc động cho nỗi đau mất chồng của người vợ lính, sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng.

Thi sĩ đã tâm sự với nhà báo Đinh Quang An Thái về hoàn cảnh sáng tác bài thơ:

– Lúc đó là năm 1970, tôi sống tại Pleiku, thành phố nhỏ bé này vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt, chỉ thấy lính, vợ lính, xe tăng, xe Jeep, hầu như không thấy gì khác nữa. Nhà tôi ở gần nhà xác của quân đội. Tôi chứng kiến cảnh biết bao các bà đi nhận xác chồng. Tôi thấy đàn bà, con nít đến lật cái poncho quấn xác để nhìn mặt người thân, cảnh đó khiến tôi đau đớn không chịu nổi. Rõ ràng nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của chính mình. Thành thật, tôi vô cùng xúc động và chính tôi sống bằng hình ảnh những người vợ lính, vợ sĩ quan khóc bên xác chồng. Nỗi buồn đau đó là nỗi buồn đau của mình.”

Không là vợ lính, chưa là vợ lính mà tác giả đã sống với hình ảnh người vợ lính khóc bên xác chồng thì còn nỗi đau nào hơn của người goá phụ đi nhận xác chồng.

Đi nhận xác chồng để đem về lo hậu sự thật là đau đớn, nhưng rồi thời gian sẽ xoa dịu vết thương lòng khi biết “anh” đã mồ yên mả đẹp, “em” còn biết anh ở nơi nào để đến thăm với bó hoa, nén nhang, còn được ngửi mùi hương mà nhớ tưởng hơi chồng.

Nhưng còn những bà mẹ, goá phụ không đi nhận mà phải đi tìm xác con, xác chồng thì không còn nỗi đau nào hơn. Trịnh Công Sơn rên xiết:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh.
Mẹ già lên núi tìm xương con mình!

Khi không còn chiến tranh, đồng đội đã về đoàn tụ với gia đình mà chẳng thấy bóng dáng các anh đâu, các anh đã nằm lại nơi rừng sâu, góc biển, không manh chiếu rách phủ xác, côn trùng, mối mọt đục khoét thân xác người lính mất tích nên nỗi đau người goá phụ càng thêm chồng chất ngày đêm nên phải đi tìm, nhưng biết anh nằm ở đâu mà tìm!

Khi không còn chiến tranh, đã có biết bao goá phụ TQLC đi tìm xác chồng, trong đó có các chị goá phụ HNH, chị ĐHT, chị NXP v.v… đã vượt trăm gian ngàn khổ, liều mình tìm đến chiến trường xưa, nhưng vật đổi, sao dời, biết ai mà hỏi, biết đâu mà tìm, đứng giữa chốn hoang vu, chiến trường xưa mà khóc, ngay cả đám đất, nơi anh nằm xuống cũng không biết để thắp nén nhang.

Mà dẫu có tìm đến nơi anh tử trận, biết anh nằm chung cùng đồng đội, nhưng làm sao phân biệt xương cốt để rước anh về.

Chị quả phụ Tô Thanh Chiêu cùng người anh là Tô Hạnh*, em Tô Giao đã tìm đến thôn An Dương để tìm xác chồng, xác em, xác anh, nhưng xương cốt Đại Uý Chiêu đã trộn lẫn cùng với 132 bộ hài cốt đồng đội, nên người goá phụ chỉ còn biết khóc than:

– Anh! Xưa anh chiến đấu cùng đồng đội, thì nay xin anh tiếp tục cùng đồng đội chung một nấm mồ: “Thập Loại Cô Hồn Hiển hách Chi Mộ”.

(* Từ Mỹ và Úc, Hạnh – Giao đã đôi lần về thôn An Dương thắp nhang cho Chiêu, tháng 2/2023, Hạnh chuẩn bị về thăm em Chiêu lần nữa thì bất ngờ Hạnh mất, Hạnh không về thăm em bằng máy bay mà bay theo gió!)

“Khi đất nước tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xương con mình!”

Mẹ già Tô Thị Tiếp lên núi Bá Hô tìm xương con mình là Kình Ngư Vũ Văn Tuấn.

Vũ Văn Tuấn được Tiểu Đoàn Trưởng Trần Xuân Quang TĐT/TĐ4 Kình Ngư cho làm tài xế theo lời đề nghị của mẹ Tuấn, vì em ruột là Vũ Văn Hùng, tuy chưa tới tuổi đi lính, nhưng đã dùng khai sinh của Tuấn để tình nguyên vào Cọp Biển rồi Hùng tử trận. Nhưng Tuấn nói với mẹ Tiếp: “Con không thể chết 2 lần”, thế là Tuấn xin ra tác chiến.

Năm 1972, trên đỉnh Bá Hô, VC tấn công vào cánh B TĐ4 của ông Phó Nguyễn Đăng Hoà, quân ta thiệt hại và Vũ Văn Tuấn được báo cáo là mất tích!

Khi hết chiến tranh “mẹ già lên Bá Hô tìm xương con mình” nhưng bà có biết Bá Hô là nơi mô. Núi đồi nhấp nhô trùng điệp, bà hốt nắm đất Quảng Trị, tin rằng có xương cốt con mình trong đó, rồi nhớ thương con, nắm đất con đã nằm trong quan tài mẹ!

Mẹ già Kình Ngư Hữu Dũng thở dài: “Biết tìm con nơi đâu!”

Kình Ngư Nguyễn Hữu Dũng Đại Đội Tiểu Đoàn 4 cùng đỗng đội tham dự hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Hỏa lực của địch tàn khốc quá. Dũng bị tử thương ngày 21/3/1971, mất xác ở một ngọn đồi, mà sau nầy không ai biết ngọn đồi nằm ở toạ độ nào.

Huyền Nga – em gái Dũng viết:

“Thằng Hèn” Tô Hải trong đoàn quân của phía bên kia, đã chứng kiến và khóc lặng trước cái chết của một tiểu đoàn, của một đoàn xe, hàng trăm thây người, xác người lính Quốc Gia, xác lính bộ đội nằm lẩn lộn, chất cao như ngọn đồi, mà chẳng bên nào kịp chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát. Chiến tranh thật là tàn nhẫn!

Mẹ già đã khóc rất nhiều vì thương con trai ra đi khi chưa được 22 tuổi đời. Mẹ già đã tìm đến rừng núi Hạ Lào, “Mẹ già lên núi tìm xương con minh” nhưng rừng núi mênh mông, mắt mờ vì mẹ giả khóc con thì còn biết tìm nơi đâu! Thôi thì đành nhờ vào thần linh, nhờ vào bói toán, nhờ nhà “ngoại cảm” v.v… nhưng không ai tìm ra được nơi nào là ngọn đồi vùi xác con nên mẹ già đành bốc nắm đất mang về.

Hoài Thanh -đồng đội Dũng, thay bạn báo mộng về cho Mẹ Già Bình Thạnh:

Hồn Gọi

Đây nắm xương tàn, đây nắm xương
Nằm trơ vất vưởng ở ven rừng
Qua bao niên tuế, vùi chôn mãi
U uất vong linh chốn tục trần

Bao nắm xương tàn, bao nắm xương
Hồn hoang đêm xuống khóc thảm thương!
Mẹ ở phương trời xa có thấu?
Hồn con thổn thức, bấy thu trường!

Sao mẹ không lên núi tìm con?
Máu xương con hòa đất tha hương
Nhưng hồn con mãi mong về mẹ
Sao mẹ không về núi tìm con?

Đồng đội Dũng khóc thay cho Mẹ Già Bình Thạnh.

Mẹ Ru Hồn

Mẹ đã bao lần lên núi non
Tìm con mù mịt, sức hao mòn,
Đôi chân rời rã, lòng tơi tả,
Nhưng mẹ không tìm đâu thấy con?

Mẹ ở chân trời, xa núi non,
Nhớ con tóc mẹ nhuốm u buồn!
Khóc con mắt mẹ khô dòng lệ!
Mẹ nhớ con nhiều, ôi hỡi con!

Thôi nhé con ngoan ngủ thật nồng
Dù trời giông bão nắng mưa chang
Lời đau mẹ vẫn ru hồn ngủ
Qua mấy Thu tàn, qua mấy Đông./.

☆

Nỗi đau đi nhận xác chồng!
Niềm sầu thương nhớ đi tìm xác chồng.

Chúng tôi xin kết thúc câu chuyện nỗi đau mất chồng của các chị goá phụ TQLC bằng câu chuyện bi thảm hơn, sau khi đã tìm được xác chồng thì người goá phụ lại “đi” theo chồng, để lại sầu thương cho đàn con dại.

“Đi” Theo Xác Chồng.

Tôi đã đọc nhiều lần bài viết
“Hoạ Vô Đơn Chí” của chị Trần Thị Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC nói về người goá phụ “đi” theo xác chồng. Câu chuyện quá bi thương đậm nét “tâm linh”, khó tin nhưng có thật nên tôi cố đi tìm hiểu, nhưng ít ai biết. Tưởng chuyện đã đi vào quên lãng thì bất ngờ tháng 2/2023, TQLC Nguyễn Kha Lạt từ Dallas chuyển cho tôi bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” và hỏi tôi có biết gì về chuyện này không, các em mong ước được nghe rõ đầu đuôi.

Lời yêu cầu của các đồng đội làm tôi suy nghĩ, chỉ có một người có thể biết đầu đuôi. Nhưng tôi hơi e ngại, vì từ ngày tị nạn CS tại Hoa Kỳ, ông và tôi chưa liên lạc với nhau bao giờ, nay có người thúc dục, giúp tôi thêm can đảm nên tìm cách kiên lạc với ông.

Người đó là Trung Tá Hồ Quang Lịch, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ5/TQLC, đặc lệnh truyền tin của ông là Quang Dũng. Quang Dũng là tên con trai đầu lòng của ông, Quang Dũng luôn quấn quýt bên chú Trần Ba. Trần Ba là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó TĐ.5/TQLC- người Quang Dũng coi như em ruột. Trần Ba mất tích trong trận đánh tháng 4/1972.

Hiện nay (3/2023) Quang Dũng
(Tr/Tá Hồ Quang Lịch) đã 87 hiện định cư tại North Carolina, tôi liên lạc với ông bằng cell-phôn mà cứ tưởng như đang dùng máy truyền tin C25

* * *

– Cần Thơ gọi Quang Dũng nghe không trả lời?

– Quang Dũng nghe Cần Thơ 5/5, có gì nói đi.

Giọng một ông đã 87 mà nghe sang-sảng như lão Ngoan Đồng?

– Anh khoẻ không?

– Khoẻ, nhưng đang chạy chơi với thằng cháu nội – con Quang Dũng nên hơi mệt.

– Ông mà còn được chạy vui chơi với cháu nội, ngoại là một điều hạnh phúc nhất trần đời. Tôi đọc bài viết “Hoạ Vô Đơn Chí” của bà Huy Lễ, xin Quang Dũng cho biết một số tin tức về Thiếu Tá Trần Ba.

– Th/Tá Trần Ba tốt nhiệp Khoá 3 Nha Trang (Đồng Đế), cùng với Th/Tá Đoàn Đức Nghi, nay thì cả hai đã tử trận rồi! Nghi tử trận khi là TĐP/TĐ1, Ba tử trận khi là TĐP/TĐ5 của tôi. Có chuyện gì mà Cần Thơ lại đi cào vào vết thương của tôi?

– Bà Huy Lễ, Trưởng Phòng Xã Hội đã viết bài “Hoạ Vô Đơn Chí”, nội dung bi thảm quá, nhưng nhiều TQLC chưa biết về Th/Tá Trần Ba, xin anh cho biết thêm chi tiết.

Hồi lâu mới nghe Quang Dũng nói:

– Quang Dũng đã đọc bài viết này rồi, nội dung đúng, ngoại trừ một vài chi tiết về thời gian ngày tháng liên quan. Đây là sự thật quá đau lòng nên Quang Dũng giữ im lặng từ đó đến nay, không muốn nói với ai cả, vì mỗi khi nhắc đến, anh đều bị nghẹn họng không nói được, anh cũng không viết ra được, nay Cần Thơ hỏi thì Quang Dũng sẽ nói rõ, có những chi tiết thuộc về tâm linh, tùy lòng tin của mỗi người. Trần Ba không chỉ là cánh tay mặt, mà còn hơn thế nữa, một nửa đời người của Quang Dũng, “niềm đau nhớ đời” nên những gì xảy ra với Trần Ba nó hằn sâu trong đầu anh, nhớ từng chi tiết cho tới chết.

Thì ra Quang Dũng biết là sẽ khó nói, vì suốt trong câu chuyện, Quang Dũng cứ nghẹn lời, có những lúc anh ngừng lại hơi lâu khiến tôi phải “a-lô” thì mới nghe tiếng xụt-xịt. Quang Dũng tiếp tục:

– Trần Ba là một trong những sĩ quan giỏi và can đảm nhất mà anh từng chỉ huy. Trước ngày TĐ.5/TQLC đi hành quân Quảng Trị, sáng 4/4/1972, anh dẫn mấy sĩ quan ra ngã ba Cái Lơn (Dĩ An, Biên Hoà) ăn sáng, gồm có Tiểu Đoàn Phó Trần Ba, các Đại Đội Trưởng Ngô Thành Hữu, Dương Công Phó, Nguyễn Văn Quang v.v.., Ngô Thành Hữu nói nhỏ với anh: “Em có bạn là cảnh sát đi theo, xin Quang Dũng cho nhập tiệc nhá”. Anh nói với Ngô Thành Hữu cứ tự nhiên, “tứ hải giai huynh đệ” mà…

– Alo! Alo! Quang Dũng, stop, stop cho Cần Thơ hỏi.

– Hỏi đi!”

– Thời gian tháng 4/72 cả Sư Đoàn TQLC đang ở tuyến đầu, Huế Quảng Trị, sao ngày 4/4/72 anh vẫn còn ở ngã ba Cái Lơn, Biên Hoà?

– Không phải cả Sư Đoàn, mà chỉ có Lữ Đoàn 147/TQLC và 258/TQLC đang ở tuyến đầu, ngày 2/4/72 Bộ Tỗng Tham Mưu mới điều động Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn và Lữ Đoàn 369 từ Sài Gòn ra Huế. Lữ Đoàn 369 của Đại Tá Phạm Văn Chung gồm có TĐ2 của anh Nguyễn Xuân Phúc, TĐ9 của Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ và TĐ5 của Quang Dũng lần lượt được không vận ra Huế. Quang Dũng đi chót nên ngày 5/4 mới đi.

Quang Dũng nói tiếp về bữa ăn sáng:

– Ăn được chừng 10 phút thì anh bạn Cảnh Sát của Hữu xin phép nói đôi lời. Chuyện hơi lạ, hiếm khi trong bàn ăn của đàn Cọp Biển mà có người ngoài dám xen vào lên tiếng trước, Quang Dũng tò mò nên đồng ý ngay.

Anh Cảnh Sát ấp úng thưa:

– Thưa quý anh, vì quá thương mến và kính phục các anh TQLC nên em xin đi theo anh Hữu để được làm quen, không ngờ tới đây, em thấy có chuyện cần thưa, có thể điều em nói làm các anh không vui, nhưng vì em là bạn thân của anh Ngô Thành Hữu.

Thấy anh Cảnh Sát có vẻ lo âu rào đón, Quang Dũng phất tay:

– Bạn cứ nói đại đi.

Anh Cảnh Sát ngó thẳng vào Trần Ba nói:

– Thưa anh, (tức Trần Ba) “thiên cơ bất khả lậu”, nhưng vì em vô cùng quý trọng anh, nên em nghĩ rằng phải nói ra, dù sau này em gặp điều không may. Anh (tức Trần Ba) phải hết sức thận trọng, đề phòng bất trắc, nếu không thì trong vòng 10 ngày tới anh sẽ gặp đại nạn, có thể mất mạng, em báo cho anh biết trước để đề phòng.

Quang Dũng thở dài rồi nói tiếp:

– Sau khi nghe anh Cảnh Sát nói thế, không khí bữa ăn sáng không còn ồn ào, nhưng ai đã là lính đánh giặc thì cũng đôi lần gặp những lời “tiên tri” như thế này rồi, đôi khi sai, đôi khi đúng. Dù sai hay đúng, đã là lính cầm súng ra trận thì không có quyền đề phòng gì cả, mà chỉ việc tuân lệnh cấp chỉ huy, dù nhìn thấy cái chết trước mắt. Chúng ta đã từng chứng kiến trong chiến trận như: Binh Nhất A xung phong vào mục tiêu, chưa tới nơi đã gục ngã, tức thì Hã Sĩ B tiến lên, nhưng vẫn gục ngã giữa đường, trung đội trưởng ngó vào Trung Sĩ C ngoắc tay, thế là C phóng tới, không có đề phòng con mẹ gì cả. Tuy vậy để trấn an thằng em, buổi chiều hôm ấy (4/4/72), vợ chồng Quang Dũng mời vợ chồng Trần Ba qua ăn cơm, nhà hai thằng cùng trong trại gia binh TĐ5/TQLC (cạnh suối Lồ Ồ, Dĩ An), 4 con gái của Trần Ba và thằng Quang Dũng con của anh vẫn vui đùa. Sau một hớp rượu cay, Trần Ba ghé tai anh nói nhỏ:

– Đại Bàng! Em thương vợ em quá, nếu có chuyện gì thì em sẽ đem vợ em theo.

Tôi tưởng nghe lầm, nghe không rõ lời Quang Dũng nên vội ngắt lời:

– Anh Lịch, anh còn nhớ rõ không mà nói thế…

– Mày* không tin lời tao nói phải không? Tao là thằng Hồ Quang Lịch, đã 87 tuổi rồi, mày cũng đã 82, chúng ta có thế quên chuyên hôm qua, nhưng chuyện sống chết mấy chục năm về trước thì nó hằn sâu trong đầu, trong tim, vì đó là những nỗi đau vô cùng tận. Hơn nữa Trần Ba nó đang ở trên cao, đang nghe tao nhắc lại chuyện xưa, chuyện 51 năm về trước, làm sao tao dám phịa chuyện?

* Hình như Quang Dũng phật lòng về câu hỏi của tôi nên anh “mày tao”, điều này chứng tỏ anh nói là thật lòng nên tôi vội vàng xin lỗi:

– Xin lỗi anh, vì lời tâm sự của Trần Ba làm tôi phát hoảng, xin anh nói tiếp.

– Chiều ngày 5/4/72 Tiểu Đoàn tao đáp xuống Phú Bài, GMC chở tiểu đoàn tao về chỗ Cao Bằng LĐ 369 của Đại Tá Chung để hoạt động trong khu vực Mỹ Chánh.

Ngày 6/4/72 một đơn vị Địa Phương Quân bị VC tấn công, ông Cao Bằng lệnh cho tao bảo đưa cánh B đi tiếp viện. Nhớ lời của người cảnh sát, thay vì đưa cánh B của Trần Ba đi tiếp viện theo lệnh Cao Bằng, tao dẫn 3 đại đội đi tiếp viện còn Trần Ba với 1 đại đội ở lại để làm trừ bị. Chuyện tiếp viện chẳng có gì khó, VC bỏ chạy để lại 10 xác. Chắc mày hiểu quyết định của tao đề Trần Ba ở lại làm trừ bị.

Nghe giọng Quang Dũng sôi nổi như đang điều quân rồi muốn chửi thề nên tôi cần giảm “nhiệt độ” của anh xuống bằng cách nhắc lại chuyện của tôi:

– Quang Dũng, tôi hiểu quyết định của anh đầy lý và tình, tôi cũng đã có lần làm như anh. Đại Đội Phó của tôi mới cưới vợ trước khi đi hành quân, Chính than buồn, nên khi nhảy trực thăng vào kinh Cái Thia, tôi sắp xếp cho Chính nhảy sau cùng với trung đội súng nặng, nhưng Chính vẫn lên tuyến đầu và rồi tử trận, để lại mẹ già và..

Quang Dũng ngắt lời khi tôi chưa nói hết câu, anh bảo:

– Sao giống trường hợp của tao: Ngày 7/4/72, tiểu đoàn tao nhận năm ngày tiếp tế để hành quân lục soát. Mờ sáng ngày 8/4/72 xuất phát, cánh A tao tiến chiếm những mục tiêu chính, nặng, còn cánh B của Trần Ba có đại đội của Dương Công Phó và Đỗ Trung Giao tao cho tiến theo các mục tiêu phụ (nhẹ). Nhưng tao luôn nhắc Trần Ba là phải đi thật chậm, nếu cần thì dừng quân lại ngay, không cần ngang hàng với tao.

Khoảng 8 giờ 30, cánh A tao chạm địch, cùng lúc nghe súng nổ bên cánh B, tao luôn nhớ lời anh cảnh sát nói lúc ăn sáng tại ngã ba Cái Lơn nên tao thét Trần Ba dừng lại, kiếm vị trí cố thủ để tao lo điều động cánh A sang giúp nó.

Vài phút sau, tao nghe Trần Ba báo cáo tịch thu được súng cối và đại liên, tao biết tính Trần Ba khi đụng trận nên tao thét bạch văn luôn:

– Trần Ba, tao ra lệnh cho mày dừng quân lại ngay, nghe chưa Ba?

Nhưng rồi tao không nghe Trần Ba trả lời, tao gọi cho Phó, Giao cũng không nghe, mất liên lạc với cánh B! Tao liếc nhìn đồng hồ lúc đó là 8.45 sáng ngày 8/4/1972! Mất liên lạc với cánh B, mất liên lạc với Trần Ba, người tao lạnh toát, cứng đơ, tao kêu trời:

– Chưa tới 10 ngày, mới chỉ có 4 ngày thôi mà! Trần Ba ơi!

Im lặng hồi lâu, Quang Dũng nghẹn lời, tôi biết, tôi thấy anh đang khóc! Tôi cũng đã thét lên khi nghe Th/Uý Quang báo Tr/Uý Chính chết! Tiểu Đoàn Trưởng Đồ Sơn hỏi, tôi khóc không trả lời được nên ông mắng:

– Cậu đừng làm người khác mất tinh thần”. (Hiện nay Đồ Sơn đang ở San Jose, ông còn nhớ chuyện này)

Tôi cần tôn trọng những giọt nước mắt của Quang Dũng đối với Trần Ba, không được phép hỏi thêm bất cứ điều gì lúc này, nên tôi (nói dối) xin phép tạm ngưng “vì còn phải đi đón cháu ngoại”. Nghe tôi phải đi đón cháu ngoại thì anh cũng nói:

– Ừ đi đi, tao cũng đi chơi với cháu nội, nó đang ngó tao khóc, mai gọi lại.

Thiếu Tá Trần Ba “mất tích” lúc 8 giờ 45 phút sáng ngày 8/4/1972 cùng với trung đội đi đầu! Nếu có gọi lại, tôi sẽ không hỏi Quang Dũng bất cứ chi tiết nào liên quan tới trận chiến Th/Tá Trần Ba mất tích, vì anh có giải thích thế nào tôi cũng không hiểu, đơn giản là tôi không ở trong cuộc, và không muốn cào thêm vết thương đau cũ của anh.

Từ tháng 4, tháng 5/1972, và những tháng sau đó, trận chiến khốc liệt liên tiếp xảy ra ở vùng địa đầu giới tuyến Huế, Quảng Trị. Ngoài Sư Đoàn 1 và Sư Đoàn 3BB, thượng cấp còn đưa luôn toàn bộ 2 Sư Đoàn Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và TQLC tham dự, cho tới khi tái chiếm được Quảng Trị ngày 16/9/1 972, xương máu đổ ra, có biết bao quân tử trận, mất tích, bị thương. Trận chiến tiếp diễn ngay cả sau khi có đình chiến ngày 28/1/1973.

Cho nên ngày hôm sau tôi gọi lại Quang Dũng, tôi chỉ cần nghe anh nói về việc tìm ra hài cốt của Th/Tá Trần Ba.

– A-lô, Cần Thơ gọi Quang Dũng!

– Quang Dũng nghe đây, tao chờ chú mày.

– Anh kể vắn tắt cho nghe việc tìm thấy hài cốt anh Trần Ba.

– Mày biết là sau cái ngày gọi là “đình chiến”, TQLC vẫn hành quân “giữ đất”, trong một lần hành quân vào vùng nơi Trấn Ba mất tích, tao nhận được lệnh từ cấp trên cho tạm dừng quân. Tao không thắc mắc dừng quân để làm gì, nhưng tao sực nhớ ra đây là toạ độ, là vùng Trần Ba mất tích nên tao vội cho Thượng Sĩ Thường Vụ tên Đông cùng anh em Đại Đội Chỉ Huy đi lùng sục trong phạm vi dừng quân. Khu vực này đã bị bom đạn cày nát, chỉ còn những bụi cây nhỏ và những bãi cỏ may. Lục tìm bụi cây, bới đất, tới chiều toán của Thượng Sĩ Đông báo cáo tìm được 12 bộ hài cốt, không còn ai nữa. Tao cho lệnh Thượng Sĩ Đông dẫn anh em về vị trí đóng quân. Một lúc sau Đông gọi máy báo cáo không hiểu tại sao Đông cứ bị vấp té hoài, không đứng dậy được, kêu tao lên cứu.

Linh tính cho tao biết có chuyện., tao gọi thầm tên Trần Ba và nói Thượng Sĩ Đông khấn vái xem sao. Thượng Sĩ Đông bèn quỳ gối vái lạy:

– Lạy Đại Bàng Trần Trần Ba, xin Đại Bàng hướng dẫn cho chúng tôi tìm được..

Thượng Sĩ Đông đứng dậy được, đi tới như có lực đẩy sau lưng, đi quanh co một hồi thì Đông trông thấy một vạt cỏ xanh, xanh hơn những chỗ khác, Đông vẹt đám cỏ xanh ra và trông thấy bộ quân phục rằn ri đã mục nát, rồi Đông hốt hoảng báo cho tao: “Tìm thấy rồi, thấy rồi Quang Dũng ơi”.

Toàn thân tao nổi gai ốc, không biết nói thế nào về cảm xúc của tao trong lúc đó. Nhớ thương thằng em cả năm nay rồi, nay tìm thấy hài cốt thì lại đau lòng, em tao chết thật rồi, không còn tia hy vọng mất tích rồi có ngày sẽ trở về!

Dưới vạt cỏ, Đông tìm thấy bộ quân phục TQLC đã mục nát, nhưng trên nắp túi áo có thêu chữ: TRAN BA. Tìm thêm được thẻ bài mang tên TRÂN BA và bộ xương.

Trần Ba đã về với đồng đội và gia đình vào tháng 4/1973 sau 1 năm “mất tích”.

Tối hôm đó, Quang Dũng cho rửa sạch hài cốt, cho binh sĩ thay nhau đứng gác bên hài cốt suốt đêm, sáng hôm sau tao xin phương tiện đưa hài cốt Trần Ba về Saigon, đồng thời lệnh hậu cứ biệt phái 1 xe Jeep cho chị Trần Ba dùng tới khi nào không cần nữa.

☆

Hoạ Vô Đơn Chí

Hậu cứ TĐ 5 báo cáo cho tao tin tức hằng ngày, và đúng như bà Huy Lễ đã viết. Hậu cứ sắp xếp quàn hài cốt Trần Ba tại chùa thì chị Trần Ba xin quàn tại nhà và chôn tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà, thay vì nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Đại Tá LĐQ, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn đã đến tư gia viếng hài cốt, truy thăng Cố Trung Tá và gắn Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc cho Thiếu Tá Trần Ba.

Tài xế hậu cứ lái xe Jeep đưa chị Trần Ba, bố và em trai Trần Ba là Trần Lành đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà để lo việc xây kim tĩnh cho Cố Trung Tá Trần Ba.

Khi gần đến nghĩa trang, một xe GMC của Mỹ đi từ Biên Hoà về hướng Saigon, bất ngờ lạc tay lái, bay qua đường ngăn đôi xa lộ, đâm trực diện vào xe Jeep!

Hậu quả là Bố và chị Trần Ba tử nạn tại chỗ, tài xế và Trần Lành bị thương nặng. Quang Dũng nghẹn lời, dù anh biết như thế nhưng vẫn tự đặt câu hỏi:

– Có phải Trần Ba đã về đón vợ đi theo như đã nói trong bữa cơm chiều tại nhà Quang Dũng ngày 4/4/1972 không?

Im lặng.

Dù độc giả cũng như tôi còn muốn biết thêm nhiều chi tiết khác liên quan tới trận chiến cuối cùng của “Người Hùng Trần Ba”, nhưng sau khi nghe Quang Dũng tự đặt câu hỏi như trên thì độc giả và tôi không nên hỏi thêm bất cứ chi tiết nào khác nữa, ngoài những chi tiết mà Quang Dũng đã bộc lộ sau hơn 50 năm chôn chặt trong long.

Tôi hỏi câu chót:

– Hiện nay anh có liên lạc được với các con của Cố Trung Tá Trần Ba không?

– Hiện nay tao còn liên lạc được với một trong bốn cháu gái con Trần Ba, cháu này ở Maryland, ba cháu kia vẫn còn ở Việt Nam./.

Đồi Bắc, K19/TVBQGVN
CA 29/11/2023
(nguồn: Đa Hiệu số 127/tháng 1-2024

Chuyến xe tang về quê chồng

Giao Chỉ – San Jose
(Lời kể lại của Lệ Hà)

Post by Sơn râu 2 Apr 2026

Cố Trung Úy Dù QUÁCH VĂN SỞ
Khóa 24 Trường VBQGVN
San Jose ngày 29 tháng 04 năm 2009.

Google image

Em là Trần Thị Lệ Hà, quê Cần Thơ, hiện cư ngụ tại San Jose, xin kể lại cho bác Lộc và các bác niên trưởng trong quân đội câu chuyện năm 1975. Nếu miền Nam và Saigon gọi ngày 30 tháng Tư 75 là ngày tang của đất nước thì ngày tang của Trần Thị Lệ Hà đến sớm hơn một ngày.

Đó là ngày 29 tháng 4 năm 1975. Đêm 28 tháng 4 cách đây 34 năm trung úy Quách Văn Sở, võ bị Đà Lạt khóa 24, từ giã vợ con vào trại Hoàng Hoa Thám sinh hoạt với tân binh nhảy dù. Trung úy mũ đỏ Quách Văn Sở rất có tinh thần trách nhiệm, đã có giấy lên đại úy nhưng còn chờ lễ đeo lon. Quá nửa đêm 28 qua sáng 29 thì Việt cộng pháo kích vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám. Sáng sớm 29 tháng 4 lính dù chạy về báo tin anh Sở, chồng của Lệ Hà đã chết. Cùng một lúc khu trại gia binh nhảy dù phải di tản. Em lúc đó 25 tuổi, con trai đầu lòng được 7 tháng. Chẳng có ai thân thuộc. Mẹ con ôm nhau chạy qua nhà ông cậu bên thành Lê Văn Duyệt. Chồng chết ra sao cũng không biết. Đường xá kẹt hết. Chuyện chiến tranh, trận mạc nhà binh từ khi lấy nhau tất cả đều do anh Sở quyết định. Nay bỗng nhiên trời xập, ôm đứa con dại, em ngồi khóc một mình. Không biết xác chồng nằm ở nơi đâu. Chung quanh Sài Gòn náo loạn, ai mà lưu tâm đến người vợ trẻ mất chồng vào cuối tháng 4. Phải mà anh Sở chết sớm hơn một tháng thì truyền thống lính dù đã đưa xác về tận nhà. Tang lễ uy nghi, có đơn vị trưởng chứng kiến lễ gấp cờ, như em đã thấy tại sân Hoàng Hoa Thám. Nhưng sao anh Sở lại chết vào cuối tháng tư, giờ thứ 25 của cuộc chiến.
Trải qua một đêm dài thảm kịch. Thằng bé Quách Vĩnh Hưng ôm mẹ nằm trên đất lạ. Cả mẹ con đều không thấy tương lai
.
Xác anh, giờ ở phương nào?
Sáng hôm sau, nhờ cậu em họ dẫn đường vào trại Hoàng Hoa Thám để tìm xác anh Quách Văn Sở. Doanh trại đã di tản. Ở một vài nơi quân ta còn kháng cự và quân địch chưa tiến vào. Khu bị pháo kích chỉ còn di tích đổ nát, thương binh tử sĩ nhảy dù chẳng còn thấy nữa. Nghe nói các chiến binh mũ đỏ đã tản thương anh em vào đêm 29 và đưa xác tử sĩ lên nghĩa trang Biên Hòa.
Trên trời máy bay trực thăng ồn ào chở người di tản suốt ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sáng 1 tháng 5 năm 1975, Saigon đổi chủ, em chẳng hề quan tâm. Nhờ người gởi con một nơi, lấy xe máy lên tìm chồng tại nghĩa trang Biên Hòa. Đây là lần đầu tiên em tìm về nơi chôn cất tử sĩ miền Nam. Khu đơn vị chung sự Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đầy xác chết và quan tài đủ loại. Có người phe ta còn làm việc nhưng mặc đồ dân sự. Lính cộng sản xuất hiện nhưng xem chừng còn ngại ngùng không kiểm soát. Phe ta mạnh ai nấy tìm xác người thân và than khóc. Tử sĩ miền Nam vẫn còn đầy đủ quân phục, danh tính cấp bậc. Trên quan tài vẫn còn đèn nến và vàng hương. Thân nhân ngồi khóc bên các tử sĩ từ các nơi chở về. Sau cùng em tìm được xác anh Quách Văn Sở, đã được tẩm liệm và cho vào quan tài. Một bác mặc đồ dân sự nói rằng chị yên tâm, tôi sẽ ghi dấu quan tài của ông Trung úy nhảy dù. Tôi cũng là lính Việt Nam Cộng Hòa. Đã hơn 30 năm rồi, em vẫn còn nhớ hình dáng của người lính bên ta lo việc mai táng vào lúc mà toàn quân cùng với quốc gia không còn nữa. Sau khi thấy rõ tên tuổi di tích của anh Sở nằm đó, em trở về Saigon bắt đầu tìm xe thuê chở xác chồng về quê. Năm xưa, vợ chồng từ Hậu Giang lên Sài Gòn, bây giờ anh đã vĩnh viễn nằm xuống, em nhất định phải chở anh về với gia đình, về nơi anh đã ra đời.
Quê em ở Cần Thơ, quê chồng ở Rạch Giá. Giờ này mẹ và các anh em họ hàng bên anh Sở vẫn chưa biết là anh đã hy sinh. Suốt mấy ngày đầu tháng 5, em tìm mọi cách để thuê xe chở quan tài. Trong những ngày giờ đó, chẳng quen biết ai, làm sao mà thuyết phục được chủ xe chở xác sĩ quan dù về tận Rạch Giá. Sau cùng khi tìm được lại phải cùng với chủ xe đi mua xăng. Tiền bạc không đủ, phải trả cả bằng nữ trang và nhẫn cưới đầy kỷ niệm.

Chuyến xe tang về quê chồng
Đưa xe tải về nhà, dọn những gì có thể đem đi được, từ giã cư xá gia binh, chấm dứt đời vợ lính. Mẹ ôm con lên xe trở lại nghĩa trang. Đó là ngày 3 tháng 5 năm 1975. Nghĩa trang đã thay đổi. Tất cả các xác chết đã bị Việt cộng bắt chôn tập thể. Nhưng may thay những quan tài có người nhận từ hôm trước vẫn còn. Vàng hương và tên tuổi cấp bậc thì vứt đống dưới đất. Người lính chung sự Việt Nam Cộng Hòa mặc đồ dân sự vẫn còn đó. Ông nói rằng quan tài này của trung úy dù tôi vẫn ghi dấu là đã có thân nhân đến nhận. Xin thưa với bác là em cũng chẳng biết tên ông lính đó là ai, nhưng ơn nghĩa tử sinh thì em ghi nhớ suốt đời. Nếu không có ông này, chắc xác anh Sở cũng phải nằm chung trong mồ tập thể. Rồi nhờ mỗi người một tay, quan tài anh Quách Văn Sở được khiêng lên xe hàng. Mẹ con ôm nhau ngồi bên xác anh suốt quãng đường dài. Đó là chuyến xe tang về quê chồng tháng 5 năm 1975.
Bác hỏi em quang cảnh bên đường ra sao. Bác ơi, vợ lính 25 tuổi, ôm thằng bé chưa được một tuổi. Lòng dạ nào mà nhìn thấy hai bên đường. Mắt em mở nhưng chỉ thấy toàn kỷ niệm quá khứ. Em là nữ sinh Đoàn Thị Điểm, Cần Thơ.
Anh Sở là sinh viên đại học Cần Thơ. Gặp nhau, hẹn hò, yêu đương. Từ đại học Cần Thơ anh vào võ bị khóa 24 học suốt 4 năm. Em ra trường làm công chức, đổi từ Cần Thơ lên Saigon. Bốn năm Đà Lạt, Sài Gòn tình yêu thơ mộng biết chừng nào. Ra trường anh đi lính nhảy dù đóng tại trại mũ đỏ Hoàng Hoa Thám, em làm công chức tại văn phòng phủ thủ tướng. Đâu có quen biết ông lớn nào đâu. Sở công vụ cho đi đâu thì làm đó. Chiến tranh ở đâu thì không biết nhưng Saigon, Cần Thơ và Rạch Giá là những miền đất đầy hạnh phúc của một gia đình trẻ với đứa con trai.
Từ đầu tháng tư mẹ em ở Cần Thơ rất lo sợ cho con rể, con gái và cháu ngoại. Mẹ anh Sở ở Rạch Giá cũng đang cầu nguyện cho con trai, con dâu và cháu nội.
Chuyến xe đau thương của em ghé Cần Thơ. Mẹ thấy con gái về bèn ôm cháu ngoại hỏi rằng còn thằng Sở đâu. Con gái mẹ kêu khóc mà nói rằng: anh Sở chết rồi. Con đưa xác về đây. Mẹ đi với con qua Rạch Giá. Mẹ già tất tả vừa khóc vừa gói quần áo theo con gái lên xe. Cả xóm tuôn ra nhìn theo, chiếc xe tang về quê chồng lại lên đường. Xe tải chở theo bà xui Cần Thơ đi theo con gái. Nước mắt góa phụ trẻ bây giờ thêm nước mắt mẹ già. Thằng rể quí của bà đi lính nhảy dù mấy năm không chết mà đến ngày cuối cùng lại tử trận.

Người lính mũ đỏ đất Kiên Giang
Năm 1971 có anh sĩ quan nhảy dù xuất thân võ bị làm đám cưới ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ, tiệc bên nhà gái xong là rước dâu về Rạch Giá. Đoàn xe hoa cũng đi theo con đường này. Qua đến năm 1975, xe hàng chở quan tài người lính chiến về lại quê xưa, cũng có bà xui đại diện cho nhà gái trong chuyến đi cuối cùng. Xe về đến Rạch Giá, cả nhà họ Quách ra đón mừng, thấy quan tài con trai út bà mẹ té dài ngay trên bậc cửa.
Mẹ của anh lính dù có hai người con trai. Mấy năm trước người anh tên là Quách Hải đã tử trận. Còn cậu út nhất định đi võ bị rồi theo nhảy dù, bà tưởng rằng gởi gấm được ông tướng Dư Quốc Đống vốn là thân quyến thì cũng đỡ nạn binh đao. Ai ngờ anh sỹ quan nhảy dù chết ngay tại trại Hoàng Hoa Thám vào giờ phút sau cùng của cuộc chiến.
Mặc dù lúc đó cộng sản 30 tháng 4 tại Kiên Giang đã làm khó dễ nhưng người góa phụ trẻ hoàn toàn không có kinh nghiệm trong cuộc sống đã một mình đơn độc đem xác chồng về chôn tại quê nhà. Câu chuyện làm xúc động bà con lối xóm nên đám tang rất đông người dự để tiễn đưa người lính dù cuối cùng của đất Kiên Giang trở về quê mẹ.

Nước non ngàn dặm ra đi
Sau đó em trốn tránh quanh quẩn tại Hậu Giang vì muốn giấu lý lịch vợ lính dù, lại làm công chức phủ thủ tướng. Qua năm 1979 trở về Cần Thơ vượt biên với má và thằng con trai. Nhờ anh Sở phù hộ, tàu qua Mã Lai bị kéo ra biển nhưng rồi cố lết qua được Indo. Ở bên Nam Dương một năm thì vào Mỹ, đến ngay San Jose. Mấy năm sau, em gặp ông xã sau này, hai bên lập gia đình và có thêm hai cháu.
Thưa với bác Lộc rõ, em có duyên số với Võ bị và Rạch Giá. Ông xã hiên nay của em cũng là người quê Rạch Giá, cùng vượt biên năm 1979 trong một chuyến khác. Qua đây mới gặp nhau. Ông ấy ngày xưa cũng dạy trường võ bị Đà Lạt. Con cái của gia đình em, nói để các bác mừng cho, tất cả đều thành đạt và hạnh phúc. Các cháu cũng đã lập gia đình và có thêm các cháu nội ngoại.
Ông xã em bây giờ hết sức tế nhị và thông cảm. Chính ông đã làm một bàn thờ tại gia để ghi nhớ hình ảnh của trung úy nhảy dù Quách Văn Sở ba của cháu Quách Vĩnh Hưng. Năm nay cháu 35 tuổi.                                                       

Chút di sản muộn màng, gửi tương lai vĩnh cửu
Đã 34 năm qua, em còn lưu giữ hồ sơ của anh Sở. Một tờ khai gia đình của khu gia binh sư đoàn nhảy dù, căn cứ Hoàng Hòa Thám. Có chữ ký của thượng sỹ Trần Văn Linh, trưởng trại gia binh. Kiến thị bởi trung tá Nguyễn Văn Tư chỉ huy trưởng căn cứ và chữ ký của gia trưởng trung úy Quách Văn Sở. Ngoài ra còn giấy chứng nhận bằng nhảy dù, thẻ căn cước dân sự, thẻ căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ. Trên các thẻ căn cước, chỗ nào cũng có tên mẹ của anh Sở là Dư Thị Kim Thoa, bà là vai cô của tướng Dư Quốc Đống. Trung úy Sở còn tờ giấy nghỉ phép 5 ngày từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4 năm 1975. Cầm giấy phép, nhưng anh Sở không đi phép. Vì lo tân binh Nhẩy dù mất tinh thần nên tối 28 tháng 4 năm 1975 anh vào trại. Trận pháo kích sau cùng đã làm thay đổi vận mệnh của cả gia đình. Người thanh niên Kiên Giang, trải qua 4 năm sinh viên võ bị Đà Lạt, 5 năm sỹ quan nhẩy dù, từ giã cuộc đời năm 30 tuổi. Anh để lại tấm thẻ bài hai mảnh. Gia đình còn giữ suốt 34 năm qua. Nay đã đến lúc chia tay đôi ngả. Một tấm đi theo quân bạ vào viện bảo tàng. Còn một mảnh xin giữ làm kỷ niệm cho con cháu họ Quách đời sau. Với đầy đủ tên họ, số quân và loại máu.

Tâm nguyện cho tương lai
Thưa bác, kể xong chuyện ma chay cho người chồng chiến binh 34 năm về trước, trao được các di vật cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose, em rất yên tâm. Xin cảm ơn nhà em ngày nay, nguyên là giáo sư võ bị ngày xưa đã thông cảm, sẽ thông cảm thêm. Con trai của anh Sở nay đã 35 tuổi, sẽ hiểu biết thêm chuyện gia đình và chiến tranh. Những đứa con sau này ra đời tại San Jose bây giờ mới biết ngày xưa mẹ sống trong trại lính Dù có tên là Hoàng Hoa Thám. Anh em Đà Lạt khóa 24 biết thêm về người con gái miền Tây làm dâu võ bị hai lần. Người Rạch Giá cũng biết thêm về cô gái Cần Thơ hai lần lấy chồng xứ Kiên Giang.
Và em tạ ơn trời đất còn có ngày nay. Trước sau em cũng chỉ là người vợ lính đã từng sống trong trại gia binh.
Em cám ơn các bác đã nghe hết câu chuyện 29 tháng 4 của em 34 năm về trước.

Nhớ Cao Nguyên

baotreonline.com

24 Aug 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 2 Apr 2026

Kỳ trước: Cuối cùng chiếc trực thăng bay lạc, hết xăng bị rớt nhưng nhờ sáng kiến của Trung úy Vương Mộng Long nên đã liên lạc được với hậu cứ và được cứu thoát.

 Kỳ cuối

Ðáp lại, tôi thấy cô Ba lúc nào cũng tươi cười, vui vẻ với chú Ma. Ði làm về cô lại xuống bếp nấu ăn, chăm sóc cho chú ấy. Cô giặt giũ áo quần, thay chiếu trải giường cho chú hàng ngày. Tháng Chín năm 1970 chú Ma giải ngũ, về quê. Sau đó tôi cũng không thấy cô Ba trong nhà chú Thuộc. Hai năm sau, tôi gặp lại cô Ba. Cô trở về nhà Thuộc để thăm bà con. Cô đem theo đứa con trai đầu lòng vừa tròn một tuổi.

Cô kể chuyện rằng:

“Ngày đó, sau khi bị thương cụt hai giò, anh Ma tuyệt vọng vô cùng, muốn tự tử.  Anh sợ cô Ba dính líu vào một người tàn tật như anh thì sẽ chuốc khổ một đời. Vì thế anh đã đóng kịch thành một người tính tình hung dữ để xua đuổi cô Ba. Nào ngờ, anh càng chạy trốn, cô càng đeo theo. Thấy anh về quê, cô Ba cũng bỏ công ăn việc làm, về quê theo anh. Cô nói với anh rằng, bây giờ cô không còn lo mất anh nữa. Anh gãy chân rồi, không còn phải đi nhảy toán, phải đi đánh nhau. Anh sẽ không bị chết trận, sẽ sống đời với cô. Cô hết lo! Cuối cùng cha mẹ đôi bên đã tác thành cho họ. Họ đang làm chủ một quán cơm có tên là “Quán Biên Thùy” nơi bến xe Qui Nhơn. Họ đã có với nhau một cháu trai thật là kháu khỉnh.”

Thời chiến tranh, tôi biết có rất nhiều chuyện tình dang dở, đầy nước mắt đã xảy ra. Nhưng trong thâm tâm, lúc nào tôi cũng mong được chứng kiến những mối tình “có hậu” như mối tình của cô Ba và một thuộc cấp của tôi, Trung sĩ phế binh Lê Sanh Ma.

Vương Mộng Long ở Biển Hồ, Pleiku-1970

Kể ra thì chuyện tình này không thơ mộng gì, nhưng với tôi đó là một cái gương tuyệt vời biểu hiện cho lòng chung thủy.

Nhìn hạnh phúc gia đình của những thuộc cấp dưới quyền mình, lòng tôi cũng thấy vui.

Khí hậu tháng Năm thật là ấm áp. Vết mổ nơi sườn trái của tôi cũng vừa lành. Ðại đội 2 Trinh sát Biệt Ðộng Quân có một tuần học bổ túc kỹ thuật xâm nhập ở Camp Enarie của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ nên tôi thật là rảnh rang.

Tôi cảm như đang hồi sung sức nhất. Thấy tôi ngày nào cũng vác cái xuồng làm bằng cái vỏ xốp trắng dùng để bọc bom Napalm ra Biển Hồ bơi chèo hàng giờ, anh bạn Goodell bèn vào Camp Holloway xin cho tôi một cái phao cấp cứu của phi hành đoàn C 130. Chiếc phao cao su màu da cam này tuyệt đẹp. Khi no hơi thì nó dài cỡ hai mét, rộng một mét. Có lẽ cái phao này dư sức vận tải hai người có trọng lượng như tôi thời bấy giờ. Sau chiến dịch Dak Séang, trên đặc lệnh truyền tin của liên đoàn thì vô tình tôi được gọi với danh hiệu là “Loan Vương”

Tôi thấy hai chữ “Loan Vương” nửa đầu là chữ “Loan”, tên người tôi yêu, nửa sau là chữ “Vương” họ của tôi, nên tôi dùng luôn cái danh hiệu này để đặt tên cho cái phao cấp cứu của mình.

Tôi dùng bút sơn màu tím, viết lên thành cái phao hai chữ “Loan Vương” thật to.

Nghe tôi giải thích ý nghĩa tên cái phao, anh bạn Goodell cứ gật gù phục lăn. Anh chàng nói, người Việt Nam thật là thâm thúy, khác hẳn giống nòi da trắng của anh.

Tháng 7 năm 1970, tôi lên đại úy. Tháng 9 năm 1970 tôi được đề cử theo học khóa “Tình Báo Tác Chiến” tại Bộ Tư Lệnh Viễn Ðông của Quân Ðội Hoàng-Gia Anh ở Singapore.

Trở về Việt-Nam được vài ngày thì tôi nhận được tờ giấy cho phép kết hôn của Bộ Tổng Tham Mưu, cùng lúc với cái sự vụ lệnh thuyên chuyển vào trại Lê-Minh thay thế Ðại úy Khánh, giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 80 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng đang trên lịch trình cải tuyển.

Tôi đem theo Trung sĩ Châu Minh Ðạt vào Lệ Minh. Anh này nguyên là tài xế kiêm nhiệm vụ hộ vệ của tôi sau khi hai chú Phạm Công Cường và Nguyễn Phượng Hoàng được tôi gửi gắm về đảm trách công tác bán tác chiến ở Bộ chỉ huy liên đoàn.

Thầy trò tôi ở Lệ Minh được một tuần thì Loan báo cho tôi một tin sét đánh:

“Ba không chịu cho em lấy anh nữa! Ba nói gả con gái cho mấy thằng lính tác chiến, thì lúc nào cũng lo, chỉ sợ con mình sẽ thành góa phụ!” 

Thế là tôi leo lên trực thăng bay ngay về Pleiku, năn nỉ Ðại tá Nguyễn Văn Can, Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2, cho tôi được tá túc đâu đó ở văn phòng để tôi cưới vợ.

Ðại tá Can cũng thông cảm tình cảnh nguy kịch của tôi, nên cho tôi lên Kontum tạm thời giữ chức Trưởng Ban 2 của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Biệt Ðộng Quân Kontum đang thành lập.

Tôi rời Lệ Minh thì anh chàng Khánh bị ông Can bắt quay trở lại nhiệm sở cũ.

Ðại úy Khánh thấy chú Ðạt là một người can đảm và trung thành nên đề nghị giữ Ðạt ở lại với anh ta một thời gian, khi nào tôi có công việc nhất định thì anh ta sẽ trả lại.

Nhưng qua một tuần lễ thì anh Khánh đích thân chở chú Ðạt lên Kontum tìm gặp tôi rồi nói, anh ta “kết” chú Ðạt lắm, xin tôi cho anh ta giữ Ðạt ở với anh ta luôn, không trả lại cho tôi nữa. Chú Ðạt cũng thích anh Khánh, vì anh này và Ðạt cùng sở thích, nhậu như hũ chìm. Tôi thấy hai thầy trò họ có vẻ thương mến nhau nên cũng đồng ý.

Nào ngờ, sau đó không lâu, trong một trận pháo kích của Việt-Cộng nhắm vào Lệ Minh, có một viên DKZ 57 ly chui vào hầm chỉ huy, Ðại úy Khánh và Trung sĩ Ðạt bị tử thương. Anh Khánh đã vĩnh viễn ra đi khỏi cõi đời này, mang theo một trong những đứa em mà tôi thương mến nhứt.

Ngay khi nhận sự vụ lệnh đi Kontum, tôi liền chạy về Biển Hồ báo tin cho Trung tá Sâm biết. Trung tá Sâm bèn điện thoại lên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh kể chuyện tôi được về làm việc ở văn phòng cho Trung tá Võ thân sinh của Loan. Ông Sâm còn hứa sẽ đem hai chiếc trực thăng chở toàn bộ ban cố vấn Mỹ của liên đoàn về Ban Mê Thuột dự đám cưới con gái của Trung tá Võ.

Hôm sau, tôi lên Kontum, vào doanh trại cũ của B12 Lực Lượng Ðặc Biệt để trình diện người chỉ huy mới của tôi là Thiếu tá Bùi Văn Baul.

Tên “Baul” của ông thiếu tá này quả là có một không hai trong danh sách gần một triệu quân của Quân- Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Chắc chắn trăm phần trăm là không tìm ra người thứ hai trùng tên với ông.

Gần hai chục nhân mạng của bộ chỉ huy này, kể cả quan lẫn lính, chỉ có mình tôi đội nón nâu, những người còn lại thì mang nón xanh Lực Lượng Ðặc Biệt. Trong số này có vài người đang chờ sự vụ lệnh về trình diện Bộ Tổng Tham Mưu để đáo nhậm đơn vị mới.

Bộ chỉ huy của ông Baul thời gian này cũng chưa có con dấu, chưa có Khu Bưu Chính (KBC) để gửi và nhận công văn hay thư từ.

Thời gian này, bốn trại Dân Sự Chiến Ðấu ở biên giới Lào, Miên và Kontum là Dak Pek, Dak Seang, Ben Het và Pơlei Kleng còn do Mỹ chỉ huy. Tin tức báo cáo hành quân hàng ngày của các trại này đều gửi thẳng về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Pleiku.

Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Biệt Ðộng Quân Kontum chỉ nhận các điện văn có tính cách thông báo.

Mỗi ngày chúng tôi có một buổi họp tham mưu kéo dài chừng nửa giờ, chỉ là để đọc lại bản tin của các trại gửi cho Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân ở Pleiku.

Sau đó là họp bàn chuyện số đề.

Ông Thiếu tá Baul và nhiều vị làm việc dưới quyền ông mê số đề lắm. Họ hăng say bàn đề suốt ngày, không chán. Chiếc xe Jeep của ông thiếu tá phải túc trực trước cửa văn phòng để anh tài xế có thể chạy đi ghi đề bất cứ lúc nào trước giờ đài phát thanh Sài-Gòn truyền đi bài hát vượt thời gian của nghệ sĩ Trần Văn Trạch với câu mở đầu là:

“Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người 

Được nên cửa nhà” (TVT)

Riêng tôi và một người nữa là Ðại úy Nguyễn Thái Bình, Trưởng ban 4 là không bao giờ có mặt trong các buổi họp mặt bàn số đề.

Anh Bình là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt nên được ông Baul châm chước, còn tôi là cái nón nâu lẻ loi ở đây, nên bị ông ta ghét cay, ghét đắng.

Ông Baul không ưa thích tôi, nếu tôi có vắng mặt vài ngày, ông ta cũng chẳng thèm hỏi tới.

Tôi nhờ Ðại úy Nguyễn Ðình Hùng, sĩ quan phụ tá cùa Thiếu tá Baul ký cho tôi cái giấy phép đặc biệt 5 ngày thăm gia đình ở Ban Mê Thuột rồi chuồn êm.

Tờ giấy phép không có con dấu, tôi phải ghé Pleiku xin Phòng 1 của Bộ Chỉ Huy chứng thực. Người mang giấy phép hay sự vụ lệnh có con dấu đỏ mới được Mỹ cho lên máy bay.

Về tới Ban Mê Thuột, tôi yên chí lớn vào thẳng văn phòng ông Trung tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh khoe,

– Ba ơi! Con được về văn phòng rồi! Ba cho phép tụi con làm đám cưới nhé Ba!

Biết rằng mình đã bị đưa vào thế bí, ông trung tá đành cười,

– Thì Ba có ngăn cản không cho hai con lấy nhau đâu?

Nói câu này xong, ông cụ móc túi dúi cho tôi tờ giấy bạc năm trăm có in hình con cọp,

– Con cầm lấy mà dẫn mấy đứa em đi ăn kem!

Cầm tờ giấy bạc của ông, tôi chợt nghĩ:

“Sao Ba hào phóng quá vậy? Trong nhà, ai mà không biết Ba nghèo rớt mùng tơi. Lãnh lương ra, được bao nhiêu, Ba đưa cho Me gần hết. Chắc là Ba vừa đánh chắn thắng nên mới có tiền cho mình.” (Đánh chắn là trò chơi đánh bài của người Miền Bắc trước năm 1975)

Hôm đó, trong khi chờ Loan tan học, tôi vào quán Mây Hồng.

Quán Mây Hồng buổi chiều vắng khách, khách nhà binh chỉ có mình tôi.

Lác đác vài vị khách học trò con trai, ngồi hút thuốc lá bên tách cà phê đen.

Một chàng học trò, có lẽ là lớp cuối trung học, sà xuống bàn tôi, cười làm quen,

– Chào Ðại úy! Ðại úy mới hành quân về?

– Vâng! Tôi về từ Kontum.

– Ðại úy là dân Võ Bị hay Trừ Bị.

– Tôi là Võ Bị khóa 20.

– Theo ý Ðại úy nếu đi lính thì nên chọn binh chủng nào?

Tôi cười,

– Tôi đi lính Biệt Ðộng Quân từ ngày ra trường, đâu có biết gì về các binh chủng khác mà có ý kiến.

Rồi hình như đã tới giờ đổi lớp, các chàng thư sinh vội vàng dời gót.

Nhìn thấy họ, tôi hồi tưởng lại những ngày vừa đậu Tú Tài 2, tôi cũng nhiều lần vào quán ngồi hàng giờ suy nghĩ vẩn vơ.

Cứ y như ngày xưa, tôi cũng từng đặt những câu hỏi vớ vẩn như thế với các ông thiếu úy, trung úy trẻ mà tôi bất ngờ gặp gỡ trong các quán cà phê ở Hội-An.

Ngồi một mình, tôi mới nghiệm ra, không có người yêu bên cạnh, thì quán này cũng mất đi cái không khí ấm cúng thường nhật của nó!

Thời chiến tranh, hạnh phúc của chúng tôi là niềm vui đếm từng ngày. Hôm nay còn ngồi bên, cầm tay nhau, ngày mai không biết có còn nhìn thấy nhau nữa không? Mấy chục năm sau, nhớ lại, lòng tôi không khỏi bồi hồi. Bài thơ dưới đây được tôi viết và đăng trên “Người Việt Tây Bắc” ở Seattle tháng 1 năm 1996:

Truyện ngày xưa

Áo trắng tung bay, sân trường lộng gió

Chiều Xuân, tan học, đón em về,

Trong nắng vàng, bướm bay đầy phố,

Chuyện chiến trường, anh kể, em nghe…

***

Có tiếng lá thì thầm trong gió,

Vạn vật vươn mình sau giấc ngủ Đông

Lối cỏ thẹn thùng thương gót nhỏ

Cánh chim nào gọi bạn giữa thinh không…

***

Gió Xuân ấp ủ nghìn thương nhớ

Mây trắng, lưng trời, bay lang thang

Lá đỏ phủ đầy đường đất đỏ

Áo trận, song đôi áo trắng, dưới hoa vàng…

***

Năm ngày phép đi qua thật nhanh

Đường về nhà em ngắn lại vô tình

Vừa cầm tay nhau một phút,

Vừa hôn môi nhau một lần,

Đèn nhà ai cuối phố đã lên…

***

Chiến tranh héo mòn tuổi Xuân

Vun xới tình yêu bên cạnh Tử Thần

Một đời yêu nhau đắm đuối

Một đời yêu nhau ngắn ngủi

Nụ hôn chưa nguội trên môi…

Một người đã mất một người,

***

Chiến tranh cướp đi ngày xanh

Chiến tranh mang đi người tình

Mỗi lần phải tiễn đưa nhau

Tưởng chừng như đã mất nhau…

***

Nhớ lại một thời

Ngày ấy chiến tranh

Ấp ủ trong trái tim mình

Mỗi người có một chuyện tình…

(Vương Mộng Long-1995)

Cuối năm 1970, vào một ngày không có lớp, Loan cùng vài cô bạn lên chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột xin một quẻ xăm.

Số 6

Quẻ Giá Sắc

(Bình Bình)

Quân tử tùy duyên phận

Chớ dùng thói tiểu nhơn

Mỗi việc tua dè dặt

Phước làm giữ tánh chơn

Ra đi xứ lạ nhiều lầm lạc

Tính việc chi rồi cũng bất thành

Thưa kiện rốt sau e chẳng lợi

Bịnh nhơn trở chứng khó bình an

Cầu tài vô ích sanh hao tốn

Ứng thi, rồng mây hội lỡ làng

Gã cưới kết hôn duyên chăng hiệp

Nói năng chưa được toại lòng toan

Phật bảo an phận thủ thường

Nhẫn tâm theo dõi con đường trượng phu

Chơn thành, phước đức cần tu

Như người gieo cấy, tới mùa gặt thâu

Ðược lá xăm, Loan đã âm thầm cất giấu nó, không cho ai xem trong một thời gian khá dài. Chỉ vì, trừ bốn câu sau cùng ra thì hầu như trọn quẻ xăm chỉ chứa những điều không hay. Mãi tới ngày tôi được tha ra khỏi trại tù cải tạo, năm 1988, tôi mới được đọc những câu thơ trên quẻ xăm này.

Trên lá xăm, có những giòng, nếu đọc được chắc mẹ tôi, Bác Võ trai, Bác Võ gái sẽ không chấp thuận cho chúng tôi lấy nhau. Theo quẻ xăm, thì người gieo quẻ cầu gì cũng thất bại: Thưa kiện thì thua, có bệnh thì khó qua khỏi, cầu tài chỉ uổng công, đi thi thì bị rớt, lấy chồng thì duyên phận bẽ bàng.

Dưới đây là 8 câu trích từ quẻ Số 6, “Quẻ Giá Sắc” mà Loan đã xin được từ chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột:

Ra đi xứ lạ nhiều lầm lạc

Tính việc chi rồi cũng bất thành

Thưa kiện rốt sau e chẳng lợi

Bịnh nhơn trở chứng khó bình an

Cầu tài vô ích, sanh hao tốn,

Ứng thí rồng mây hội lỡ làng

Gả cưới kết hôn duyên chẳng hiệp,

Nói năng chưa được toại lòng toan.

Loan là người lúc nào cũng lạc quan và hy vọng, vì thế nàng chỉ nhìn vào bốn câu thơ sau cùng:

Phật bảo an phận thủ thường,

Nhẫn tâm theo dõi con đường trượng phu.

Chơn thành, phước đức cần tu,

Như người gieo cấy, tới mùa gặt thâu…

Vài ngày trước đám cưới, có một người con gái đã khấn thầm rằng:

“Yêu anh, em chỉ cầu xin Trời Phật phù hộ cho chúng mình lấy được nhau, thành vợ, thành chồng, dù chỉ được sống cùng nhau trọn vẹn một ngày thôi!”

Người con gái ấy là một nữ sinh mười bảy tuổi rưỡi ở Ban Mê Thuột. Người yêu của cô ấy là một Ðại úy Biệt Ðộng Quân đồn trú ở Kontum. Hai ngày sau lễ Giáng Sinh năm 1970 đám cưới của tôi và Loan diễn ra. Thiếu úy Ðinh Quang Biện, anh ruột của Loan bận hành quân trong rừng Tiều Teo không về được.

Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đang chạm địch trong vùng Bắc Kontum, nên hai chiếc trực thăng dự trù để chở ông Liên đoàn trưởng và ban cố vấn Mỹ bay về Ban Mê Thuột dự đám cưới của tôi đã bị trưng dụng để chuyển quân.

Ông Trung tá Sâm và ông Trung tá cố vấn trưởng của liên đoàn chỉ còn cách gọi điện thoại về nhà nhạc gia của tôi để chúc mừng. Khách dự đám cưới của hai đứa tôi thì một nửa là nữ sinh Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột, nửa kia là quân nhân trực thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Không có ai là lính Biệt Ðộng Quân có mặt ngày hôm ấy. Ðám cưới vừa xong, đầu năm 1971 tôi được lệnh dời bỏ văn phòng, ra tác chiến.

Tôi từ giã cái bộ chỉ huy chưa có con dấu, chưa có Khu Bưu Chính (KBC) của ông Thiếu tá Bùi Văn Baul để nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 4 Mike Force do Mỹ vừa chuyển giao. Thời gian này Thiếu tướng Ngô Du đã thay thế Trung tướng Lữ Lan đảm nhận chức Tư lệnh Quân Ðoàn II và Vùng 2 Chiến Thuật. Tướng Ngô Du ra lệnh sát nhập Tiểu đoàn 4 Mike Force vào Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Bùi Văn Sâm, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Hai mươi bốn giờ sau khi nhận bàn giao, tôi được lệnh đem quân đi Cheo Reo tăng phái cho Tiểu Khu Phú Bổn. Tiểu đoàn tôi là đơn vị mới thành lập chưa có trại gia binh, nên tôi cho vợ con binh sĩ đi theo hành quân luôn. Bốn chiếc xe GMC được gắn mui vải dùng để chở đàn bà và con nít. Tôi mới cưới vợ, nếu để vợ ở Pleiku thì biết gửi cho ai? Tôi cũng đành phải đem vợ đi Phú Bổn chuyến này.

Trung tá Sâm thấy 4 chiếc xe Jeep của tiểu đoàn tôi đều là xe mui trần, nên thương tình, cho tôi mượn chiếc Jeep chỉ huy của ông để vợ tôi làm phương tiện di chuyển.

Chiếc Jeep của vợ tôi là chiếc xe “tráng lệ” nhất trong đoàn quân xa.

Xe này gắn cánh gà bít bùng, có hai cần angten cao nghều nghệu cùng một dàn loa của máy truyền tin, một VRC 47 và một PRC 25. Xe còn được ba anh lính trang bị súng M16 hộ tống.

Ông Trung tá Nghiêm tỉnh trưởng Phú Bổn thấy bầu đoàn thê tử chúng tôi, đầu tóc, mặt mũi, áo quần, lem luốc, đầy bụi đỏ, ào xuống sân Tòa hành chánh tỉnh, thì ra lệnh cho ông quận trưởng quận Thuần Mẫn đem toàn bộ nhân viên của ông ta về làm việc trong Tòa tỉnh, nhường lại doanh trại quận đường cho chúng tôi tá túc.

Văn phòng của ông quận trưởng trở thành căn nhà tạm trú của vợ chồng ông Tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân.

Văn phòng của ông phó quận trở thành chỗ tạm trú cho ban cố vấn Mỹ của tiểu đoàn. Sĩ quan cố vấn của tôi là anh Trung úy Hick, sau đó là anh Ðại úy Jim. Hạ sĩ quan cố vấn vẫn là anh bạn Woodell, người đã làm việc với tôi hơn một năm dài trước đây.

Goodell nghe tin tôi trở lại Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân để làm tiểu đoàn trưởng thì đăng ký thêm một nhiệm kỳ thứ 2 phục vụ tại Việt-Nam.

Cho tới ngày Tiểu đoàn 4 Mike Force giải tán thì Goodell mới giã từ tôi để về Hoa Kỳ, không trở lại nữa.

Chúng tôi mới hoàn tất hai cuộc hành quân cấp tiểu đoàn nhằm tảo thanh vùng giáp ranh hai quận Thuần Mẫn (Phú Bổn) và quận Buôn Hô (Daklac) thì có lệnh gom quân.

Sáng 28 tháng Chạp Âm Lịch tôi nhận lệnh để lại một đại đội tăng phái cho Chi Khu Phú Túc, thành phần còn lại thì kéo nhau về Pleiku.

Dĩ nhiên bà vợ ông tiểu đoàn trưởng và một số đàn bà con nít gia đình binh sĩ cũng về theo.

Sáng Mùng Hai Tết năm Tân Hợi, ông Trung tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh từ Ban Mê Thuột gọi điện thoại cho ông Trung tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Pleiku, không phải để chúc Tết, mà là để mắng vốn,

– Vậy là thầy trò ông đã gạt tôi! Ông cam đoan với tôi rằng thằng Long sẽ về làm việc ở văn phòng, nên tôi mới chịu gả con gái cho nó. Ai ngờ, vừa cưới vợ xong nó lại ra tác chiến. Nó còn đem cả con gái tôi ra trận! Tôi bực mình ông lắm rồi đó, ông có biết không?

Ông Trung tá Biệt Ðộng Quân cười hì hì,

–  Thì ngày xưa, tôi với ông đều là dân tác chiến. Tụi mình đã nhiều lần chở vợ theo hành quân. Chẳng lẽ ông quên chuyện này rồi sao?

Nghe ông Sâm trả lời, ông bố vợ tôi chán quá, đành chép miệng, thở dài, cúp máy.

o O o

Nhớ cao nguyên…

Ngày xưa, cứ lái xe hoặc ngồi trên trực thăng, qua hết con dốc của ngọn đèo ranh giới hai tỉnh Pleiku, Daklac, nhìn thấy phi trường Buôn Blech thì tim tôi lại rộn ràng. Tôi chắc chắn rằng không bao lâu sau tôi sẽ gặp mặt người mình yêu dấu.

Mỗi lần trò chuyện cùng ai mà có nhắc tới tên Pleiku, Kontum hay Ban Mê Thuột thì những kỷ niệm êm đềm ngày nào ở cao nguyên lại hiện về trong trí nhớ của tôi.

Tôi lại hình dung ra rõ ràng trước mắt mình là cả một khung trời bao la, cảnh vật vừa hùng vĩ, oai nghiêm, lại vừa chen lẫn chút thê lương.

Một dải đất trải dài từ Bắc xuống Nam 300 cây số dọc Trường Sơn đã trở thành không thể nào quên.

Thời chiến tranh, nơi ấy mang tên “Cao Nguyên Trung Phần” của nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Vùng này chỉ có núi và rừng trùng điệp nối tiếp nhau.

Ở cao nguyên đâu đâu cũng có lính; họ đến từ mọi miền đất nước; họ sống chết bên nhau và thương yêu nhau như huynh đệ.

Nơi đây năm nào cũng xảy ra những trận đánh long trời lở đất. Tôi đã trải qua mười năm chinh chiến ở xứ này.

Ðây cũng là nơi mà Thượng Ðế đã ban cho tôi một người tình trọn đời chung thủy.

VML

Seattle, July 2019