Mùa Hè đỏ lữa

vietmessenger.com

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 5 Apr 2026

Chương 1

Mùa Hè, những cơn mưa bất chợt ùn ùn kéo đến, ào ạt chụp xuống núi rừng Kontum, Pleiku… Trời thoắt trở lại xanh, cao khi mưa dứt, nắng hanh vàng ấm trong không khí gây gây lạnh, những đồi cỏ xanh dọc Quốc Lộ 14 bắt đầu óng mượt, cánh cỏ non lớn dài phơi phới dưới sau trận mưa đầu mùa và thung lũng xa vàng rực hoa hướng dương. Không khí, gió, trời mây và cỏ cây thay đổi hẳn, mới mẻ toàn khối, toàn sắc, vùng cao nguyên lộng lẫy, triền miên với từng hạt nắng vàng ối tan vỡ trên đồng cỏ xôn xao gió thổi…

Mùa Hè, gió Lào miền Quảng Trị, Thừa Thiên thổi từng luồng, từng chập, đưa “con trốt” chạy lừng lững trên cánh đồng cát chói chang, những đồi hoa sim, hoa dủ dẻ rung rinh bốc khói dưới mặt trời hạ chí. Giòng nước sông Hương, sông Đào, sông Bồ, Mỹ Chánh, Thạch Hãn đục hơn, thẫm màu hơn, lăn tăn từng sợi sóng nhỏ len lỏi khó khăn qua kẽ đá, bãi cát, chầm chậm chảy về phía Tam Giang, cuốn trôi theo đám lá tre già khô úa.

Mùa Hè, những con đường thành nội Huế lốm đốm ánh trăng xuyên qua cành lá, cô gái chuyển tấm lưng sau lớp tóc dài dày kín, nâng khối tóc xôn xao lên khỏi chiếc gáy để cơn gió ngắn len qua hàng rào chè xanh thổi khô đi lớp mồ hôi rịn trên những lông tơ nõn.

Mùa Hè, mưa rào tăm tắp đổ xuống kín trời An Lộc, chập chùng ẩn hiện những thân cây cao su nhoà vào nền trời xám tối, khu rừng biến thành khối đêm đen trong khoảng khắc, khối đen chuyển dịch, vẫy vùng ào ạt theo từng cơn lốc gió… Mưa tan, trời tạnh, ánh trăng lạnh nhô lên từ phương tây, cuối bình nguyên lồng lộng, núi Bà Đen ấn một nét đen thẫm thần bí trên nền trời xanh ánh trăng. Và đàn nai bắt đầu tung tăng từ đầu nguồn, cuối lạch… Đàn nai chạy vun vút qua rừng cây, trên đồng cỏ mượt sóng, chạy và ngừng lại, “bép” mấy tiếng âm u cùng ánh trăng chập chờn trên sóng cỏ.

Mùa Hè, mùa đẹp đẻ, tươi gắt căng sức sống, ngày ngày nỗ lực trên mặt nước loáng ánh nắng hay đồng lúa nặng hạt. Hạt ngọc của trời, và người dân cất cao tiếng hò…

Được mùa chớ phụ môn khoai,

Đến năm Thân, Dậu lấy ai bạn cùng…

Tiếng hò chạy dài trên lúa, theo cơn gió đưa ra đến đầu ghềnh, cuối cửa sông, tan biến vào cùng sóng nhỏ… Trên mặt nước, con đò xuôi về Thế Chí, Đại Lộc dọc Phá Tam Giang 1, lại vang dội một giọng hò khác phảng phất nét tàn tạ bi thảm của hơi Nam Ai thê thiết… Hò… ơ… ai…về…ạ… ạ… Đại…Lộc…ạ… ạ… ai vượt… ạ..ơ..Kế Môn…

Đã từ lâu…Lâu lắm, người dân của ba miền đã qua những mùa hè trong cạn đáy khắc khoải để hy vọng tiếp tục đời sống với mơ ước chỉ đầy chén cơm. Nhưng mùa Hè năm nay, 1972 tất cả hy vọng và mơ ước nhỏ nhoi tội nghiệp kia tan vỡ trong tận cùng kinh ngạc. Bao năm qua, chiến tranh đã quá nặng độ, chiến tranh quá dài, dài thê thảm, dài đau đớn tràn ngập. Người dân Việt mong mỏi đi qua thêm một mùa, một năm, chiến tranh lắng dịu và được sống sót. Nhưng, 30 tháng 3 ở Đông Hà, 24 tháng 4 ở Tân Cảnh, 7 tháng 4 ở An Lộc, 1 tháng 5 cho Huế và Quảng Trị… Hoài Ân, Tam Quan, Bồng Sơn, Bình Giả, Đất Đỏ… Toàn thể những địa danh nơi hốc núi, đầu rừng, cuối khe suối, tận con đường, tất cả đều bốc cháy, cháy hừng hực, cháy cực độ…Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt. Lửa ngùn ngụt. Lửa bừng bừng. Lửa kêu tiếng lớn đại pháo. Lửa lép bép nức nở thịt da người nung chín. Lửa kéo dài qua đêm. Lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng. Lửa gào chêm tiếng khóc của người. Lửa hốt hoảng khi cái chết chạm mặt. Lửa dậy mùi thây ma. Lửa tử khí trùng trùng giăng kín quê hương thê thảm khốn cùng.

Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân 2, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy.Mùa Hè năm 1972- Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện. Mùa Hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày!

Ba sư đoàn bộ binh 304, 308, 324B, cùng sáu trung đoàn địa phương của Khu 5, ba trung đoàn chiến xa, hai trung đoàn đặc công và một sư đoàn pháo nặng 130 ly, cho mặt trận Trị-Thiên. Ba sư đoàn 5, 7, 9, tăng cường sư đoàn Bình Long, hai trung đoàn 202 và 203 chiến xa, được yểm trợ bởi một sư đoàn pháo nặng tại mặt trận An Lộc. Hai sư đoàn 320 (Thép) và Sao Vàng, một trung đoàn chiến xa tấn công vào Tân Cảnh, Kontum; hướng tiến được dọn đường bởi một trung đoàn pháo đặt từ rặng Big Mama Mountain, vùng Ba biên giới Việt-Miên-Lào. Cộng quân chơi trò chơi máu, mở đầu những “ngày hè đỏ lửa”, trận cuối cùng để tìm kiếm kết thúc cho mười năm chiến tranh “giải phóng” cạn lực, sau “tổng-công-kích thất bại Mậu Thân 1968”.

Quân ta phải chống lại.Chống giữ để tự vệ. Chống trả nơi biên giới cuối cùng: Tự Do hay Nô Lệ. Sống hoặc Chết. Trận đấu quyết tử và trận chiến cực điểm. Ba tháng hay 100 ngày chiến trận, những kỷ lục chiến trường thay đổi từng nấc, từng bậc lớn, từ 2,000 quả đạn cho cứ điểm Charlie, Kontum đến 8,000 quả cho An Lộc.Bắc quân đi bước tàn nhẫn không nương tay và quân dân Miền Nam đồng đương cựvới nổ lực cao nhất tại “Điểm đứt hơi – Điểm vỡ của chiến trận”. Chúng ta đã chiến đấu giữ vững và kiêu hùng chiến thắng.

Hôm nay, ngày đầu tháng 8, cuộc đại chiến đã bước qua tháng thứ tư, và có cơ kéo dài thêm một thời gian nữa, nhưng quân dân ta cắn răng, ngậm chặt, hứng hết tai họa, đựng đầy khổ nạn… Chịu thêm nữa cũng thế, đánh thêm nữa cũng được. Trong nguy nan, Dân tộc biến thành “Thánh chịu nạn”. Dân tộc kiêu dũng, quật cường, vượt qua, bất chấp tất cả để tồn tại. Ngọn lửa Mùa Hè 1972 nung độ nóng cao nhất trui rèn chúng ta – Người Việt Nam muốn sống đời đáng sống của Người – Người Tự Do.

Được đi, chứng kiến và dự phần vào ba mặt trận, ba vùng đất quê hương, người viết không mong gì hơn ghi lại một vài khía cạnh của cuộc chiến – Cuộc chiến vĩ đại vượt mọi chiến tranh – Mà phải một ủy ban quân sử, trong thời gian dài mới có khả năng, điều kiện thâu tập và đúc kết toàn thể. Vì chỉ ghi được biến cố qua một vài khía cạnh, với những người, đơn vị lâm chiến quen thuộc; người viết xin tạ lỗi do những thiếu sót mà một cá nhân không thể nào tránh khỏi, và đã phải viết lại từ một khoảng ngày tháng quá gấp rút.

Viết lại,

Ngày Quân LựcVNCH,

Tháng 6, 1998.

Mùa Hè, Đất Mỹ.

° ° °

CHARLIE,

Tên nghe quá lạ

Quả tình nếu không có trận chiến mùa Hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie, “Cải Cách” hay “C,” đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Pô-kơ và Đường 14, đông-bắc là Tân Cảnh với mười hai cây số đường chim bay, đông-nam là Kontum, thị trấn cực bắc vùng Tây Nguyên. Charlie bị bao vây bởi Căn Cứ 5, Căn Cứ 6 ở phía bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngõ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa mưa rào, báo chí hằng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống vùng núi non, cạnh sườn cực tây địa giới nước Nam.

Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa 1971 qua đầu xuân 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua được cửa ngõ hai căn cứ số 5, số 6, thế nên cộng quân đổi hướng tiến, lòn sâu xuống phía nam hai căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp “giải phóng” với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt Đường 14.

Vòng đai Lữ Đoàn II Nhẩy Dù nằm về phía trái quốc lộ có hình cánh cung bắt đầu bởi căn cứ Anh Dũng ở cực bắc đến Yankee hay Yên Thế, ngã lần xuống nam với Charlie, Delta, Hotel, Metro và chót hết là Bắc Ninh, phía đông Võ Định, nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn. Vòng đai này có nhiệm vụ che chở phía trái đường 14, phát hiện sự di chuyển từ đông sang tây của địch xong dùng phi pháo để tiêu diệt. Đây là lý thuyết chiến thuật,quan niệm hành quân của phía cộng hoà đối với mục tiêu và hướng tiến của phía cộng sản hằng bao nhiêu năm. Nay địch thay đổi đường đi và quân ta lập vòng đai nhẩy dù… Yankee, Charlie, Delta bắt đầu được đặt tên để tiếp nhận định mệnh tàn khốc trong cuộc chiến trùng trùng. Đoạn sau kể về trận đánh ở Charlie, trận đánh nhỏ của một tiểu đoàn nhẩy dù, nhưng điển hình cho toàn thể bi hùng cực độ về người Lính Chiến Việt Nam.

Đến đây,

Người gặp Người

Đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào khi chạy đến vùng Ba Biên Giới phía đông cao nguyên Boloven chia ra hai nhánh; nhánh thứ nhất từ Chavane đâm thẳng biên giới Lào-Việt xuyên qua dãy Chu Mon Ray để nhắm vào Darkto; nhánh thứ hai từ Bản Tasseng qua trại Lệ Khánh, và Kontum là mục tiêu cuối cùng của quan niệm chiến thuật Bắc quân: Phải chiếm giữ thị trấn cực bắc nầy để làm bàn đạp lần tấn công Pleiku, rồi từ đây tiến về phiùa đông, xuống bình nguyên tỉnh Bình Định. Gọi nhánh thứ nhất là nhánh Bắc và nhánh thứ nhì là nhánh Nam. Trong chiến dịch Xuân-Hè 72 của Mặt Trận B3 (chiến trường Tây Nguyên), đường rẽ phía Bắc được sử dụng, từ đỉnh 1773 của núi Chu Mon Ray, con đường không thể gọi là một nhánh nhỏ của “đường mòn Hồ Chí Minh” nữa, nhưng phải gọi đó là một “Bypass” của một cải lộ tuyến phẳng phiu trơn láng, chạy ngoằng ngoèo qua các cao độ, đổ xuống những thung lũng hun hút của dãy Big Mama Mountain rồi bò theo hướng đông đến đỉnh Kngok Kon Kring. Đỉnh núi này cao quá, con đường phải quẹo qua trái, đi lên cao độ 960 và tạm dừng lại. Dừng lại, vì phía đông, hướng trước mặt chỉ cách mười cây số, con sông Pô-Kơ dậy sóng… Con sông ầm đổ qua ghè đá, ào ào đi giữa rừng xanh núi đỏ. Bên kia sông, Quốc Lộ 14 chỉ khoảng trên dưới sáu cây số và đầu con đường là Tân Cảnh, mục tiêu của bao chiến dịch.Từ ngày chiến tranh “giải phóng” bùng nổ.

Đây rồi, “…nồi cơm điện National” đây!! Tân Cảnh hấp dẫn ngon lành như cô gái yếu đuối hớ hênh thụ động nằm dưới thung lũng bát ngát ở đằng kia. Bộ đội ta tiến lên! Nhưng không được nữa, con đường đã bị dừng lại, và bộ đội ta dù được “tùng thiết”, dù được đại pháo “dọn đường” cũng phải dừng lại, vì đỉnh 960 chính là bãi đáp C, là cứ điểm Charlie và Tiểu Đoàn 11 Nhẩy Dù đã xuống LZ này từ ngày 2-4. Con cháu Bác và Đảng phải ngừng lại bố trí trận địa.Nỗ lực kinh khiếp kéo dài trên năm mươi cây số đường núi, từ ngả rẽ đất Lào phải dừng lại vì chạm phải “sức người”.Ở đây – Người đã gặp nhau.

Vực thấp, đỉnh cao, bạt núi, xẻ đèo, những con người cuồng tín và tội nghiệp của miền Bắc đã làm được tất cả. Con đường núi của Tướng Stiwelle từ Miến Điện đến Trùng Khánh, Trung Quốc năm 1945 đã là một sự khủng khiếp – Đường xuyên sơn vạn dậm, dài thật dài, quanh co khúc khuỷu lớp lớp giữa núi rừng nhiệt đới, con đường nổi tiếng đúng như tầm vóc và giá trị của nó – Cả nước Tầu sống bám vào cái ống cứu nguy thậm thượt hun hút này. Vào thời điểm đầu thế chiến, nước Tầu, đồng minh “tuyệt vời cần thiết” của người Mỹ dễ thương cần phải sống để chống đỡ trục Bá Linh – Đông Kinh. Con đường quả đáng tiền và đáng sợ. Nhưng đường này làm bằng máy, dưới sự yểm trợ và che chở của các “Ong Biển” hảo hạng, những người lính công binh chiến đấu hãnh diện của Mỹ Quốc giàu sang hùng mạnh. Năm mươi cây số đường xuyên sơn của “bộ đội ta” thì khác hẳn. Bộ đội đào bằng tay trong đêm tối. Bộ đội lấp hố dưới tấm lưới lửa thép của B52, trên những giải thảm tử thần dầy lềnh bom bi CBU. Sức người và lòng cuồng tín ghê gớm đã vượt qua giới hạn. Đấy không còn là người với thịt da biết mệt mỏi đau đớn, cũng không là người với trí óc biết nguy biến và sợ hãi. Bắc quân, khối người vô tri tội nghiệp chìm đắm trong ảo tưởng và gian nguy triền miên. Con đường sạn đạo vào đất Ba Thục tân thời được hoàn thành từng phân từng thước… Bắc quân theo đó đi về Đông.

Nhưng đến đây, ở cao độ 960, người lính Bắc Việt không tiến được nữa vì đã gặp “người”- Người rất bình thường và giản dị. Người biết lo âu, sợ nguy biến. Người có ước mơ và ham muốn vụn vặt. Những người không thần thánh hóa lãnh tụ và tin tưởng Thiên Chúa cũng chỉ là bạn tâm tình. Nhưng đó cũng là những người lính đánh giặc “tới” nhất của Quân Lực Miền Nam, chỉ huy bởi những sĩ quan miệt mài trên dưới mười năm trận địa. Những sĩ quan biết đánh hơi rất chính xác khả năng và ý định của đối phương. Bắc quân dừng lại giữa đường, ảo tưởng bị công phá và tan vỡ- Họ gặp lính Nhẩy Dù Việt Nam.

Trận đánh trên cao điểm

Anh Năm (Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng 11 Dù) bố trí quân “hết sẩy”. Cứ điểm C hay Charlie chính thống, cao độ 960 giao cho “thằng 1”, đại đội 1 do Thinh, trung uý khoá 25 Thủ Đức chỉ huy. Thinh trẻ tuổi đời lẫn tuổi lính. Thinh có vẻ yếu trước mắt mọi người vì Thinh…đẹp trai! Đã đẹp trai, tốt mã thì đánh giặc hơi yếu. Chẳng hiểu sao phần đông là như thế?! Những anh có vẻ tài tử, ăn nói ngon lành, rỗn rãng thường hay lạnh cẳng… Nhưng nghĩ cho kỹ thì cũngcông bằng thôi, con người mà, được cái nầy thì mất cái kia. Nhưng anh Năm dưới cái nhìn sắc sảo của con ó, kèm theo “suy tư “ của phó Mễ đã chọn Thinh để giữ Charlie vì cả hai người chỉ huy đều chắc một điều: Đây là một tay “dur”, loại liều, thứ “kép trẻ đang lên” của trận địa. Thinh được lãnh hãnh diện “Nhất kiếm trấn ãi” và những ngày sau Thinh đã chứng tỏ, người chỉ huy mình đã không nhầm lẫn. Phía bắc của C giao cho đại đội 3, do Hùng “mập” làm đại đội trưởng. Hùng chỉ là đại uý thôi, nhưng “người” có đủ tác phong và khả năng để “tiến” xa hơn. Vì “người” cũng là tay văn nghệ, “lãnh tụ” sinh viên, có kích thước cơ thể và tính chất của tướng Thắng, ông “tướng sạch nhất “ của quân đội và cũng là ông tướng học giỏi nhất!! Nhưng giờ nầy Hùng chỉ là “simple captain” nên cam phận dẫn quân lên trấn giữa phía bắc Charlie, căng mìn bẩy, đào hầm chờ con cháu Bác, những chiến sĩ Điện Biên… Điện Biên cái con bà nhà nó, lúc xưa bố nó đánh Điện Biên chứ đâu phải nó hôm nay, trong họ tôi có ông chú làm tiểu đoàn trưởng đánh cái Điện Biên khỉ gió kia… Bây giờ tụi nó là cái chó gì..Chẳng nhẻ tôi là lính Tây cà-lồ sao?!! . Phần còn lại tiểu đoàn lên cao điểm 1020 hay C2. Anh Năm bảo Mễ:

– Mình giữ hột lạc (cao độ bản đồ thường tượng hình hột lạc) này vì phiá nam tao chắc toàn tụi nó, lệnh hành quân bắt buộc mình phải giữ cửa thằng Charlie. Kẹt lắm, trước sau gì tụi nó cũng phải chiếm thằng Charlie nầy, và mình thì chỉ việc “thủ”?! Bố khỉ, thôi đã xuống đây thì phải giữ chứ biết làm sao, hôm đi họp hành quân được nhận tin tình báo từ quân đoàn, sư đoàn 320 (Sư đoàn Điện Biên cộng sản) đã rút về tây, vào đất Lào!!

– Anh Năm yên chí, mình “hơn tiền “tụi nó!! Mễ chắc giọng.

Nhưng thật ra tất cả chỉ là những câu nói bề mặt, phần trong, đằng sau lý luận và phân tích, do những kinh nghiệm và nhạy cảm riêng về chiến trường, mọi người đều có chung ý nghĩ: Xong rồi, mình đã lọt bẫy!! Bởi, chiến tranh miền núi là chiến trường giữa những cao điểm; đành rằng C và C2 cũng là những cao độ, nhưng 960 và 1020 làm sao chế ngự được những đỉnh 1773, 1274, 1512 của rặng Big Mama Mountain và tiếp theo một dãy đường đỉnh nam rặng Chu To Sang… Và pháo binh của tụi nó. Pháo và kèm theo một “rừng cối”, gồm một hệ thốngsúng cối có đường kính từ 80 ly trở lên hoặc sơn pháo bắn thẳng… Sự thông minh và tinh tế về chiến trường của toàn bộ sĩ quan tiểu đoàn ngừng lại ở đây. Họ không dám nghĩ thêm. Phần lệnh hành quân đã giao cho họ một đỉnh núi trơ trọi để sửa soạn vinh quang cùng cái chết. Họ chỉ có một đỉnh Charlie đang hừng hực bốc hơi dưới nắng hè hạ chí trời Tây Nguyên. Định mệnh, sức mạnh khắc nghiệt khốn kiếp đã bắt phải như thế. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù không còn khả năng chọn lựa. Như cuối cùng cái chết thế nào rồi cũng phải tới cho dù người lính hằng chiến đấu quyết liệt bao nhiêu.

Ngày 6, cứ điểm Delta ở phía Nam bị đánh. Đúng chiến thuật, lính ông Giáp tưới xuống một trận mưa pháo, cối và hoả tiễn. Đêm thật dài, người ở Charlie chờ đợi và theo dõi…Tiên sư, tụi thằng Mạnh (Tiểu đoàn 2 Dù giữ Delta) bị rồi.. Xem thử tụi nó đánh đấm ra sao? Bộ chỉ huy tiều đoàn 11 Dù chong mắt vào loa khuếch đại máy truyền tin để nghe kết quả… Trời sáng dần, Delta lấy lại được, quân ta thắng. Anh Năm nhìn Mễ:

– Mầy thấy đấy, chúng sẽ chơi với mình cũng với cách nầy, chúng sẽ lấy kinh nghiệm ở Delta để “dứt điểm” mình. Toàn thể bộ chỉ huy im lặng. Mọi người đều có ý nghĩ chung. Bao giờ đến lượt mình? Bao giờ?

Nhưng anh Năm không thụ động, con hổ dù bị nhốt trong chuồng vẫn còn nguyên phong độ, uy lực riêng. Không cần phải luận lý lâu lắc. Đây, quyết định của anh:

– Mễ, mầy đem hai thằng 2 và 4 (Đại đội 2 và 4) lên chiếm cho tao cái nầy. Anh chỉ vào một cao điểm ở nam C2. Nếu chiếm được mình sẽ cho một thằng lên giữ nó, mình đã bị phân tán mỏng thì cho mỏng luôn, càng mỏng càng tốt, tránh được pháo, đỡ bị tụi nó vây… Mầy nghe chưa?

Mễ gật đầu, anh năm thấy, nó cũng chung ý nghĩ. Đã vào bẩy thì tìm cách thoát ra, một đỉnh núi không thể là vị trí cố thủ. Tôi nghe anh rõ. Mễ trả lời. Trời vừa sáng, Mễ quay bảo Hải, sĩ quan trưởng ban 3( Ban hành quân),

– Ông cho hai thằng 2, 4 chuẩn bị, mình đi làm ăn. Không thể ngồi đợi tụi nó tới đây rúc rỉa, cấu xé được…

Ba đợt xung phong không thành, Bắc quân quả không dại dột bỏ vị trí rất nhiều ưu điểm; cũng bởi sườn quá dốc, quân ta dù can trường, dùng tay lẫn chân cũng không thể nào “chạy” qua được hàng lưới lửa của 12ly7 (đại liên phòng không hoặc chống chiến xa) hoặc sơn pháo 75 ly bắn thẳng!!

– Cho thằng Mễ lui! Anh Năm bảo Hải. Trán cau lại, anh nhìn xuống đất, gỡ kính, chớp mắt, nói nhỏ sau tiếng chặc lưỡi: Mình bị một con dao đâm lút cán vào lưng!!

Những ngày sau tương đối bình yên, hằng ngày các đại đội tung các đứa con ra xa lục soát, chỉ trừ đườngvề phía nam, nơi tụi “khốn nạn” đang chui trong núi. Làm sao”móc” chúng ra được? Bom thả xuống hằng ngày, nhưng chỉ là bom miểng… Mẹ…hầm tụi nó đào theo chữ U hoặc con c… gì gì thì làm sao bom “lách“ vào được?! Anh Năm đi lại trên đỉnh đồi nhìn bốn hướng trùng trùng và xa xa trong ánh nắng về phiá Tây, cuối con đường trong vùng núi Lớn có lớp bụi mù…

…Xe chúng nó! Xe chúng nó! Tăng hay GMC của tụi nó…Bom!! Bom… Gọi lữ đoàn Hải,

– Để em gọi, nhưng Molotova chứ đâu phải GMC, anh Năm!

– Thì đấy là GMC của Nga, mầy biết mẹ gì!!

Đàn em thì bao giờ cũng ‘chẳng biết mẹ” gì. Anh Năm vốn hay phủ đầu như vậy. Nhưng đấy chỉ là một cách nói, bởi anh rõ ưu điểm của từng người như một máy ghi âm cực tốt. Máy bay ta ào tới, con đĩ “Lan 19” lượn một vòng trên vùng chỉ định, cho “ra” một trái khói… Khu trục nhào xuống tiếp theo, bom nổ dâng cột khói lên cao.

– Tiên sư, bom ném thì hay nhưng sợ tụi nó trốn rồi, nó lại không trốn luôn mà quay trở lui về phía mình thì bỏ mẹ…

Sau cơn bom, khói bay lên không trung, qua bóng nắng đằng xa thung lũng lại có lớp bụi mới bồi từng chập…

…Tăng! Tăng…tăng nữa, đông quá, tụi nó chưa bị… Tiên sư, nó trốn ở đâu nhỉ? Trên đồi cao, anh Năm đứng im như con báo nhìn lũ sài lang tiến tới hằng hằng lớp lớp. Làm gì được bây giờ… Không lẽ xin thêm phi tuần khu trục?

Ngày 11, trận địa pháo bắt đầu. Pháo thật sự của 122 và 130 ly ào ào trútxuống C1, C 2, C3…Không phải từng trái, nhưng từng chùm, từng loạt… Một, hai, ba….Hải cố gắng đếm,

– Mầy làm gì thế, điên sao em?! Anh Năm vừa hỏi vừa cười,

– Mình gắng đếm để báo cáo cho chính xác!!

– Thế thì mầy phải đếm hàng chục một, một chục, hai chục… Tụi nó đâu “đi tiền” lẽ!!

– Tụi nó “chơi” tôi!Thinh ở Charlie báo cáo qua máy.

– Mầy giữ nỗi không? Anh Năm cướp ống liên hợp máy truyền tin trên tay Hải.

-Trình “đích thân”, suya là tôi giữ được, xin cho pháo mình nổ gần tôi thêm chút nữa…

Pháo căn cứ hoả lực Võ Định (Nơi đặt bộ chỉ huy lữ đoàn) bắn tới tới trước, rơi xuống sườn phía đông Charlie… Đạn 105 và 155 nổ từng trái một, khói bụi tung lên trông rõ.

… Mẹ, bắn gì “quí phái” vậy, nó tấn công chính diện ở phía tây, mầy xin pháo căn cứ 5 bắn xuống dễ ăn hơn!!

Hải bốc ba, bốn cái máy truyền tin một lúc, năm ngón tay chuyên “xoa”, “nặn” di chuyển trên giàn ống liên hợp lẹ như chớp… Thằng nầy gọi là “Hải khều” cũng phải, nó khều cái gì đúng cái đó!! Anh Năm phịa câu khôi hài đúng lúc, Hải nheo mắt cười thích chí. Pháo căn cứ 5, và hai căn cứ Sơn Tây, Mạnh Mẽ cùng ào xuống, vây quanh Charlie vòng đai lửa. Đấy! Đấy…phải như thế mới được. Anh Năm gật gù tán dương, đồng lúc tiếng Thinh vang vang qua loa khuyếch đại.

– Trình đích thân cứ cho gà nó “đá” như thế, em đánh tụi nó de ra như đuổi con nít… Tốt! tốt…cho gần hơn năm mươi thước nửa thì tốt hơn, ngay trên tuyến em cũng được!!

Bốn mươi lăm phút sau, pháo im bặt, cả ta lẫn của địch. Anh Năm lên hầm chong ống nhòm xem đại đội 1 bên đồi C lục soát chiến trường. Súng và xác bộ đội cộng sản nằm lềnh kênh chật kín đồi đất đỏ.

– Nó đánh thằng 1 là để dợt chơi, cú dứt sẽ với mình,

– Trung tá, trên họ không tin nó pháo mình bằng 130 ly?! Hải báo cáo, giọng mỉa mai.

– Gì? Anh Năm chỉ gắt được một tiếng. Như thế là người đang nổi cáu. Trường hợp nầy vốn rất ít, vì anh vốn trầm tỉnh, sự giận chỉ đến sau chót, khi dã cuối cùng chịu đựng.

– “Họ” bảo mầy sao? Chữ “họ” được gằn xuống khinh thị!!

– “Họ” bảo mình kiếm mảnh 130 để gởi về!! Chữ “họ” thứ hai qua cách nói của Hảicũng đắng cay không kém.

– Đến đây mà kiếm, muốn thấy súng của chúng thì cũng đến đây, tao như thế nầy không lẻ la hoảng, báo cáo láo sao?! Anh đá một hòn đất bay tung… Mẹ, nó xài toàn đạn delay 3 mới thế nầy đây! Câu nói ngắn đau đớn của niềm phẫn nộ tuyệt vọng.

– Cho sửa sang hầm hố, ngày mai gì tụi nó cũng “chơi “ lại. Trước khi bước đi, anh quay sang Hải, dặn thêm: Mầy trình với lữđoàn, để nói với quân đoàn, đây là đạn 130 ly thật. 130 ly xuyên phá. Mầy bảo tao nói thế.

Đêm xuống thật mau, đêm của núi rừng thẩm màu và đầy bóng tối đe doạ. Sao trên cao lấp lánh, sương mù đùn lớp… Đêm như có hình khối chuyển dịch. đêm chất chứa che dấu hàng ngàn sinh vật đang bò dần vào cứ điểm. Đêm cũng vô cùng im lặng, nhưng nỗi im lặng kinh dị như khoảng cách từ khi viên đạn ra khỏi nòng súng và sắp sửa “chui” xuống mái hầm, hố phòng thủ. Trong bóng tối, mấy trăm con người trên ba cứ điểm dựng đứng đôi mắt xuyên thủng qua bóng tối. Và chờ. Ngủ chỉ là khoảng cách ngắn để đối mắt khép lại, đầu gục xuống, xong giật mình tỉnh giấc với nỗi “lo lắng” như vừa qua cơn mê thiếp dài, và trong khoảng khắc “dài thăm thẳm chóng vánh” nầy, hình như quân địch đã tiến sát gần hơn!! Tiểu đoàn 11 Dù qua đêm trong chập chờn sắc buốt với cảm giác viên đạn vô hình đang bay thẳng vào mặt. Có ráng hồng bên kia núi… Ngày đã tới. Ánh sáng đẹp âm vang hân hoan, như ân huệ nồng nàn vừa được sống sót qua thêm một đêm.

Ngày cuối của một người

Ngày 12 bắt đầu. Lính cong lưng xuống trên đất để đào thêm độ sâu… Càng sâu càng tốt. Tỷ lệ được sống sót là độ sâu của lớp đất đá vô tri nầy. Đất được đổ lên mái. Con người chui lọt vào giữa đất đá, tội nghiệp và thụ động như con sâu ẩn mình trong tổ. Pháo sẽ đến lúc nào? Nổ ở đâu? Câu hỏi âm thầm vang vang trong đầu hàng trăm con người. Trên ba cứ điểm im lặng chỉ loáng thoáng bay những sợi khói mỏng manh. Khói của cơn pháo cuối cùng chưa dứt độ nóngtrong đất. Chỉ tiếng cuốc đục đều đều vào đất đá như hơi thở bị ngắt khoảng.

Trong hầm chỉ huy, anh Năm chỉ những điểm ước tính Bắc quân đặt súng,

– Chắc chắn chúng chôn súng ở đây… Anh chỉ ngón tay trên các đỉnh Kngok Toim, Kngok Im Derong. Toàn là cao độ trên 1500 thước, ở đấy, tụi nó thấy mình rõ như ở đây mình thấy thằng 1 dưới Charlie. Ngày hôm qua nó bắn mình không trật một phát ra ngoài. Mầy xin mấy phi tuần để sẵn, có gì mình dội xuống liền. Dội ngay trên tuyến mình cũng được. Xong, ông Mễ và Bác sĩ Liệu về hầm đi, đừng tụ vào một chỗ.

Mễ và Liệu đứng dậy,

– Chào trung tá. Anh Năm gật đầu. Hình như anh gượng cười. Có điều gì khó khăn sắp xẩy ra? Không ai biết, nhưng âm tiếng mọi người có điều gì khang khác, buồn buồn… Tai ương nguy biến chực sẵn đâu đây đã làm người hoá nên tê liệt, rã rời. Cũng thật do chờ đợi quá căng thẳng giữa vũng tối, dầy bóng đêm.

– Thôi, tôi về, có gì tôi chạy qua với anh. Hải không để ý tiếng “anh” bất bình thường nói trong hơi thở hụt. Người chỉ huy đứng dậy, Hải tiển anh ra cửa hầm. Anh bước lên nặng nề, chậm chậm, lưng cong xuống. Anh đi trên đất đá đào xới với dáng dấp của con hổ bị thương khi trở lại, rừng xưa nay đã hoang tàn.

11 giờ 5 phút, pháo lại bắt đầu… C2 bị nặng hơn C và C1. Theo thói quen, Hải nhẫm tính tính từng chục trái một; hắn hét lớn báo cáo với lữ đoàn.

– Tôi và hai đứa con củng bị một lượt, toạ độ đặt súng ở yếu tố cũ… Không ước lượng được, hai trăm trái rồi… tụi nó đang tấn công C!!

Bắc quân từ Tây và Tây-Nam đồng nhào lên C, những người ở C2 nhìnxuống sườn đồi lúc nhúc những bóng áo vàng đục di chuyển chậm chạp, lui tới…

-Nó đánh giặc gì kỳ vậy? Người hạ sĩ quan hành quân hỏi Hải.

-Tụi nó “điên”, chẳng phải “điện biên” mẹ gì cả,đéo thấy ai ngu bằng tụi nó.

Lính đại đội Thinh nhỏm dậy khỏi giao thông hào, súng bắn không cần nhắm, lựu đạn ném không cần lấy đà. Ta và địch cách nhau không đầy một tầm lựu đạn. C2 vẫn im lìm dưới trận mưa đạn và lửa… Tám trăm trái rồi… Chưa đầy một tiếng, nó đã nổ hơn tám bớp!! Hải ngồi bẹp trên đất, nón sắc chụp xuống, lẫm bẩm những câu vô nghĩa với chính mình. Qua máy truyền tin nội bộ (giữa các đại đội và ban hành quân tiểu đoàn), tiếng chuyển lệnh của Thinh nghe chững chạc, tự tin, ”… đợi tụi nó đến gần rồi hẳn bắn, nó chỉ là lính con nít, bây là nhẩy dù mà để thua là yếu lắm đó…”. Hải cố mỉm cười nhưng nụ cười không thành dạng. Pháo vẫn nổ như cơn địa chấn như xoay chiếc hầm nghiêng ngã… Tụi nó đòi dứt đứa con của mình… Ờ mà sao chẳng nghe anh Năm gọi qua gì hết… Có chuyện gì không nhỉ. Trí não Hải đã cứng trơ. Hắn không nghĩ được điều gì hơn.

Mễ không buồn nghĩ đến số vũ khí của hai đại đội 1 và 3 tịch thu được. Anh Năm chết, là tiểu đoàn phó, Mễ tự động lên thay thế. Trách nhiệm quá nặng với tình thế kẹt cứng. Và anh Năm, người đàn anh thân mến từ bao nhiêu năm, gian nguy, khổ nhọc bao ngày dài cùng chia sớt. Vĩnh biệt anh, hầm bị ba trái cực mạnh, chịu làm sao thấu… Sao cuộc đời chỉ dành cho anh toàn hoạn nạn. Hoạn nạn của ba mươi năm ở đời chưa đủ sao?

Mễ, Hải, Liệu nhìn nhau… Trời chiều cao nguyên sẫm bóng nắng. Đêm sắp đến. Đêm với chiếc bẫy sập xuống từ từ, lũ người tuyệt vọng nhìn thấy những tia gân máu đỏ đục loáng ánh sáng phẫn nộ hấp hối trong mắt nhau.

Liệu cho lệnh những người lính y tá đào đất lên, mang anh ra ánh sáng. ngoài vết thương ở tim, người anh tím bầm từng chỗ, chiếc kính vỡ, mắt nhắm, miệng hơi mở để lộ ra những răng cửa. Hải ngồi xuống, rờ vào xác anh còn ấm, đập mấy cái lên áo. Lớp bụi mờ đục bay bay…

– Để tôi rửa cho ông ấy,

Liệu ngồi xuống với bông và cồn. Thi thể anh trầm trầm dưới nắng Tây Nguyên đẫm màu vàng rực. Hết. Mười hai năm chiến trận chấm dứt phút nầy đây trên cao độ 1020. Trông về bốn hướng chập chùng đồi cao tiếp núi thẩm.

Trường Sơn ác độc nhận thêm một hình hài.

——————————–

1          Phá lớn giữa hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên, do ba sông Thạch Hãn, sông Bồ và Sông Hương đổ vào.

2          1945; 1968.

3          Đạn đầu nổ chậm, dùng xuyên phá công sự.

Đại tá Duc Nguyen, Chỉ huy trưởng Liên đoàn sáng kiến, Bộ Tư lệnh đổi mới 75 Lục quân trừ bị Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on April 3, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 5 Apr 2026

Đại tá Duc Nguyen (hình của Maj. Charles An, 75th USARIC, dvidshub.net).

Đại tá Duc Nguyen* hiện đang giữ chức Chỉ huy trưởng Liên đoàn sáng kiến thuộc Bộ Tư lệnh đổi mới 75 Lục quân trừ bị Hoa Kỳ (75th USARIC), ông phục vụ tại đây từ tháng 9 năm 2020. Bộ Tư lệnh đổi mới 75 Lục quân trừ bị nguyên là Bộ Tư lệnh huấn luyện 75, Lục quân trừ bị, đươc đổi tên vào tháng 1 năm 2018. Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh đổi mới 75 là tăng cường năng lực và sẵn sàng chiến đấu của Lực lượng Lục quân trừ bị thông qua đổi mới và hiện đại hóa bằng cách hợp tác với các đối tác Dân sự, Quân sự và Công nghiệp. Bộ Tư lệnh đổi mới 75 đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng ứng phó hiệu quả với những thách thức hiện đại của Lực lượng Lục quân trừ bị, tập trung vào các lãnh vực trọng tâm: Binh sĩ sẵn sàng và được trang bị để chuẩn bị cho những thách thức trong tương lai. Bộ Tư lệnh đổi mới 75 đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính linh hoạt hoạt động của Lực lượng Lục quân trừ bị và bảo đảm hiệu quả lâu dài của Lực lượng này. Bộ Tư lệnh đổi mới 75, Lục quân trừ bị hiện nay do nữ Thiếu tướng Michelle Link chỉ huy.

Đại tá Duc Nguyen, là một chuyên gia cao cấp tin học và an ninh mạng với thành tích trong việc xây dựng các đội ngũ, tiêu chuẩn và công nghệ giúp các hệ thống chăm sóc sức khỏe, các tổ chức giáo dục Đại học và Quân đội Hoa Kỳ đạt được các mục tiêu tăng trưởng chiến lược, tổ chức và kinh doanh ngày càng cao. Các chứng chỉ an ninh mạng của ông bao gồm: quản lý an ninh thông tin được chứng nhận bởi ISACA (CISM), Chuyên gia đạo đức tin tặc được chứng nhận bởi Hội đồng bảo mật Mạng EC-Council (CEH). Kiến trúc sư phòng thủ mạng được chứng nhận bởi Hội đồng bảo mật Mạng EC-Council (CNDA) và CompTIA Security+ ce. Kinh nghiệm của ông bao gồm các vai trò lãnh đạo chỉ huy tin học và an ninh mạng (CNTT) trong Quân đội Hoa Kỳ, Trường Đại học Kendall, Cơ quản lý chăm sóc sức khoẻ, Bộ Cựu chiến binh.

Đại tá Duc Nguyen, nguyên là Thuỷ thủ Hải quân trừ bị Hoa Kỳ, ông gia nhập và phục vụ từ tháng 12 năm 1989 đến tháng 5 năm 1993. Sau đó ông thụ huấn Chương trình huấn luyện sĩ quan Lục quân trừ bị Hoa Kỳ (US Army ROTC) thuộc Đại học University of Illinois Chicago năm 1989 và tốt nghiệp năm 1995 với Văn bằng Cử nhân Khoa học quản lý kinh doanh.

Sau khi tốt nghiệp Chương trình huấn luyện sĩ quan Lục quân trừ bị Hoa Kỳ mang cấp bậc Thiếu uý, ông được chỉ định và bổ nhiệm phục vụ các đơn vị Lục quân trừ bị như: Trưởng phòng, Đội kiểm tra và tuân thủ an ninh mạng, thuộc chi nhánh bảo đảm nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh An ninh mạng Lục quân Hoa Kỳ (ARCYBER) tại FT Belvoir, VA; Sĩ quan tình báo quân sự Lực lượng Lục quân trừ bị Hoa Kỳ tại Ft Belvoir, VA; Giám đốc, Trung tâm tích hợp và điều hành an ninh mạng Liên hợp (JCOIC), Văn phòng tích hợp hiện đại hóa hồ sơ Y tế điện tử, Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ, tại Washington, DC; Và hiện nay, Đại tá Chỉ huy trưởng Liên đoàn sáng kiến thuộc Bộ Tư lệnh đổi mới 75 Lục quân trừ bị Hoa Kỳ. Trong thời gian phục vụ Lục quân trừ bị, Đại tá Duc Nguyen còn phục vụ tại các Cơ quan và Công ty: Giám đốc điều hành công nghệ thông tin/Chuyên viên an ninh thông tin, Trường Đại học Kendall College; Phó Giám đốc tin học và an ninh mạng tại Bệnh viện Hines VA; Giám đốc thông tin (CIO), Hệ thống chăm sóc sức khỏe VA San Diego, Bộ Cựu chiến binh Hoa Kỳ; Phó giám đốc công nghệ thông tin/chuyên viên an ninh thông tin, Seasons Hospice & Palliative Care.

Đại tá Duc Nguyen hoàn tất các Văn bằng: Cử nhân Khoa học quản lý kinh doanh, Đại học University of Illinois Chicago năm 1995; Văn bằng Sĩ quan Chỉ huy và Tham mưu, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) năm 2014; Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh, Trường Đại học Sam Houston State University, năm 2018; Văn bằng tác chiến cao cấp, Trường Đại học Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (U.S. Army Command and General Staff College) năm 2018 và các Văn bằng, Chứng chỉ chuyên môn về an ninh mạng. Ông được trao tặng nhiều huy chương cao quý và bằng khen của Lục quân trừ bị Hoa Kỳ.

Đại tá Duc Nguyen là 1 trong 39 Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm, 26 vị hồi hưu**: Danh sách 39 Đại tá Lục quân gốc Việt đang phục vụ các Binh chủng và các ngành trong Quân chủng Lục quân được ghi nhận gồm có: Đại tá Huy Q. Luu; Đại tá Kien C N. Tran; Đại tá Minh Luan N Doan; Đại tá Tam Q. Nguyen; Đại tá Tinh K. Huyn; Đại tá John T. P. Nguyen; Đại tá De Q. Tran; Đại tá Dana R. Nguyen; Đại tá AnhTuan T. Nguyen; Đại tá Nguyen Loi Minh; Đại tá Nguyen Chi Kim; Đại tá Tien D. Bui; Đại tá Diep T. Khanh; Đại tá Ha H. Anh; Đại tá Mai R. Micheal; Đại tá Jennifer D. Nguyen; Đại tá Thang V Ly; Đại tá Tony D. Nguyen; Đại tá Phu T. Nguyen; Đại tá Vu Q. Nguyen; Đại tá Daniel Q Nguyen; Đại tá Dominic V. Dinh; Đại tá Binhminh T. Nguyen; Đại tá Nghia N. Ho; Đại tá Phuong H, Nguyen; Đại tá Micheal D. Do; Đại tá Qui T. Nguy; Đại tá Tung V. Le; Đại tá Charles T. Nguyen; Đại tá Phuoc T. Nguyen; Đại tá Vinh Q. Nguyen; Đại tá Hung M. Diep; Đại tá Darrell R. Tran; Đại tá Loan L. Vo; Đại tá Duc M. Vo; Đại tá Khai Q. Le; Đại tá Nam T. Vo; Đại tá Peter V. Huynh và Đại tá Duc Nguyen.

Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu Duc D. Nguyen, họ và tên Việt, Nguyễn Đức; **Số Đại tá Lục quân gốc Việt hồi hưu có thể hơn 26.

Nguồn:linkedin.com; dvidshub.net; usar.army.mil; 75th U.S. Army Reserve Innovation Command.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 9 Nov 2019

Post by Sơn râu 5 Apr 2026

Kỳ 3

Muốn không bị đánh úp thì phải biết động tĩnh của địch. Muốn biết động tĩnh của địch thì phải tận dụng viễn thám và trinh sát. Chuyện này đối với tôi không phải là điều khó giải quyết vì chỉ huy viễn thám và trinh sát vốn là nghề của tôi. Tôi có 6 toán viễn thám rất tinh nhuệ, trong đó 2 toán là do tôi đem theo từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ngày tôi đáo nhậm đơn vị này.

Vấn đề kế tiếp là: làm sao trì hoãn chiến?

Muốn trì hoãn chiến cần thực hiện hai điều:

Một là, nếu ở trong đồn thì phải phòng thủ thật chắc. 

Hai là, nếu phải đánh nhau dã ngoại thì phải cố sức bám địch, cầm chân địch bằng mọi giá.

Trong đồn thì tôi không lo, vì với mạng lưới kẽm gai chằng chịt và hệ thống giao thông hào đặc biệt mà tôi mới thiết trí có thể giúp cho người lính vững tâm hơn khi chiến đấu.

Nhưng nếu phải đánh nhau dã ngoại thì điều quan trọng nhất lại là tình hình địch.

Phải biết địch cỡ nào thì ta đánh, địch cỡ nào thì ta phải tránh.

Cho dù thời tiết đã sang mùa mưa, mưa tầm tã hết ngày này qua ngày khác, sáu toán viễn thám vẫn phải liên tục thay nhau xâm nhập vào Ia Drang để canh chừng mọi chỉ dấu mới của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.

Làm trái độn cho viễn thám là một lực lượng tiếp cứu nằm cách Pleime 6 cây số về hướng Tây Bắc. Nơi đây là vị trí trú quân của một đại đội ưu tiên nghênh cản. Nhiệm vụ của đại đội nghênh cản là cố gắng đánh cầm chân quân địch nếu trận chiến xảy ra.

Các đại đội trực thuộc tiểu đoàn phải thay phiên nhau giữ vai trò nghênh cản. Ðại đội này sẽ không đem theo nồi niêu, trên lưng mỗi người chỉ có ba ngày cơm vắt cùng hai cấp số đạn. Sau phiên trực kéo dài ba ngày, ba đêm thì có người thay.

Ðầu tháng 7 tôi được bổ sung một sĩ quan tiểu đoàn phó là Ðại úy Nguyễn Hữu Tài khóa 10 Thủ Ðức. Ðại úy Tài là một đệ tử của Ðại tá Tất hồi ông Tất còn ở trong Vùng 4.

Tuần sau, để cho Ðại úy Tài quen với địa thế vùng rừng núi, tôi cho ông ta điều khiển một cuộc đổi quân của hai đại đội nghênh cản.

Theo đúng chương trình thì Ðại úy tiểu đoàn phó sẽ dẫn đơn vị thượng phiên tới vùng 6 cây số Tây Bắc Pleime, kiểm soát hệ thống phòng ngự của đơn vị, chấm các tọa độ pháo binh dự phòng trên các đường nghi ngờ địch sẽ xâm nhập. Ngày hôm sau ông ta sẽ theo đơn vị hạ phiên trở về trại, giao nộp phóng đồ hỏa yểm dự trù cho tôi.

Nhưng vừa ra khỏi cổng, Ðại úy Tài đã cùng vài người lính tùy tùng, leo lên tiền đồn Bắc nằm chờ hai đơn vị dưới quyền tự làm công tác hoán chuyển nhiệm vụ. Hôm sau đại đội hạ phiên về tới căn cứ cả giờ rồi, thầy trò Ðại úy tiểu đoàn phó mới lò dò xuống đồi.

Tôi đã nghiêm khắc nhắc nhở Ðại úy Tài rằng, từ nay về sau không được làm việc tắc trách như vậy nữa. Ông Tài đã tỏ ra hối lỗi, và hứa sẽ không tái phạm.

Nào ngờ, vài hôm sau, tôi lệnh cho Ðại úy Tài cùng Ðại đội 1/82 đi thám sát vùng 5 cây số Tây Nam Pleime thì ông ta lại phạm lỗi lần nữa.

Chiều ngày ra quân, Ðại úy Tài báo cáo với tôi rằng đơn vị của ông ta đã lục soát xong khu vực trách nhiệm.

Tới đêm, Thiếu úy Lê Ðình Khay, đại đội trưởng 1/82 lại cho tôi biết anh ta cùng với hai trung đội sẽ ngủ qua đêm trên mục tiêu, còn ông Ðại úy tiểu đoàn phó thì vừa ra khỏi trại đã cùng một trung đội chui vào đóng quân trong khu rừng thưa cuối phi đạo Pleime!

Từ đó, tôi không dám cho ông Tài chỉ huy các cánh quân hoạt động dã ngoại nữa.

Vì biết rõ khả năng và tính nết của người phụ tá của mình rồi, nên tôi chỉ giao cho ông Tài những công việc lặt vặt như mai táng, tải thương và rào giậu.

Tôi phải đích thân điều hành những công việc liên quan tới tác chiến, phòng thủ và yểm trợ.

Tôi có một Chuẩn úy pháo binh tiền sát viên rất trẻ, chú này tên là Khánh. Hình như chú Khánh là dân Chợ Lớn, danh hiệu của chú ấy là Sầm Mi. Có lần tôi thắc mắc với Khánh,

– Có phải Sầm Mi là cô sẩm mà chú đang thương yêu chăng? (xẩm=sẩm= cô gái Trung Hoa)

Trả lời câu hỏi của tôi, chú Khánh chỉ đỏ mặt nhoẻn miệng cười.

Giữa sân bộ chỉ huy có cái chòi cao bằng tre, với mái rơm. Hàng ngày Sầm Mi ngồi thu mình trên chòi từ mờ sáng tới chiều tối. Bất cứ tiếng “depart” pháo cối nào của địch vừa dội tới, trung tâm hành quân của tôi đã có ngay hai yếu tố được Sầm Mi báo cáo thật gọn gàng:

“Hướng X ly giác, tầm xa Y mét…”

Cho đến một hôm, địch bắn tới tấp hàng trăm trái, với đủ loại đạn và từ chục hướng khác nhau, Sầm Mi phải tụt xuống đất chui vào hầm hàm ếch dưới giao thông hào. Từ ngày đó, tôi cho Sầm Mi cùng với người lính nấu cơm của chú ấy vào làm việc với Ban 3 tiểu đoàn nơi hầm trú của trung tâm hành quân. Yểm trợ gần cho Pleime hoàn toàn phụ thuộc vào hai khẩu 105 ly cơ hữu.

Yểm trợ xa chỉ có hai trung đội 155 ly đặt ngoài Chi khu Phú Nhơn và Căn cứ 711. Bốn khẩu pháo binh này bắn mút tầm cũng còn cách Trại Pleime gần 5 cây số. Khi pháo binh bắn mút tầm thì rất dễ gây ra tai nạn tản đạn. Do đó, tôi lưu ý Chuẩn úy Khánh và Trung úy Chủ mỗi khi chạm trận cần đánh những mục tiêu hướng Ðông và Tây, ta phải gọi Căn cứ 711, nếu cần đánh những mục tiêu hướng Bắc và Nam, thì phải nhờ Chi khu Phú Nhơn.

Cứ theo đó, trên tường của trung tâm hành quân đã có một bảng ghi đầy đủ tên từng hỏa tập, kèm với danh hiệu truyền tin của đơn vị yểm trợ. Từ giữa tháng Bảy, hầu như ngày nào địch cũng bắn vào trại Pleime từ 10 tới 15 viên trái phá mỗi loại. Có lẽ chúng đang điều chỉnh để lấy yếu tố tác xạ tiên liệu, khi cần sẽ bắn tập trung. Như thế là hai bên đều trong thời kỳ chuẩn bị, kỳ này “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!” 

Trong số gần hai chục quả 130 ly đại bác nòng dài của Việt-Cộng nhắm vào Pleime thì chỉ có một viên rơi trong rào, số còn lại đều bay qua đầu, xuống suối. Trái 130 ly nổ chậm (delay) rơi sát vị trí hai khẩu 105 ly, đào một hố sâu cỡ đầu người với đường kính chừng sáu thước. Chỉ cần hai viên 130 ly rơi đúng mục tiêu thì toàn bộ trung đội pháo binh biên phòng này sẽ bị tiêu diệt!

Từ khi lập trại, vị trí hai khẩu 105 ly chỉ trực xạ cận phòng được nửa vòng tròn từ Ðông, tới Nam qua Tây. Còn các hướng Bắc, Ðông Bắc, Tây Bắc đều nằm trong tử giác, không trực xạ được.

Trường hợp bị địch tấn công từ hướng chính Bắc, Ðông Bắc, và Tây Bắc thì hướng bắn của hai khẩu súng này bị nhà cửa, pháo đài và thành lũy che khuất, đành thúc thủ.

Rút kinh nghiệm mà tôi đã tận mắt chứng kiến ngày Căn cứ Biên phòng Lệ Minh bị tràn ngập. Hôm đó tôi bay trên trời, tôi thấy cái cổng trại mở toang, pháo địch nổ rền, toàn doanh trại bao trùm một màn bụi khói.

Khói súng chưa tan, Cộng Quân đã ào ào chạy vào cổng, chia nhau chiếm giữ các lô cốt, theo sau là lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam xanh, đỏ, sao vàng. Từ trên trực thăng nhìn xuống, thấy cảnh xảy ra cứ như đang xem phim! Tôi nghĩ, nếu tấn công Pleime, chắc Việt Cộng cũng áp dụng chiến thuật tiền pháo, hậu xung như thế.

Muốn chống lại chiến thuật này việc ưu tiên phải làm là đóng chặt cổng ngoài, rồi cố gắng cầm chân địch từ xa bằng những hàng rào kẽm gai concertina cách nhau vài chục thước. Sau đó dùng hỏa lực đốn ngã toán quân xung phong đầu tiên của địch. Vũ khí chống biển người hữu hiệu nhứt là những viên đạn pháo binh bắn tên sắt.

Tôi ra lệnh cho Trung úy Như tách ra một khẩu 105 ly đem lên cổng Bắc. Chuyện tách rời 2 khẩu 105 ly là điều hoàn toàn sái nguyên tắc; nhưng trong tình huống này thì sự tồn vong của Pleime là ưu tiên hàng đầu, Trung úy Như đã vui vẻ thi hành lệnh mà không tỏ vẻ muộn phiền gì.Trong ụ súng cổng Bắc, tôi chuẩn bị gần hai chục đạn Beehive chống biển người, mỗi viên Beehive khi ra khỏi nòng súng sẽ phóng đi 8000 mũi tên sắt. Chỉ cần 2 trái Beehive bắn đúng lúc địch xung phong, chúng sẽ chết như rạ!

Ngày phát lương tháng Bảy, trời nắng ráo, Trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó theo trực thăng chở phát hướng viên xuống thăm Pleime.

Anh Thanh báo cho tôi biết, từ hôm đó, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân được quân đoàn chỉ định thay thế Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn để chỉ huy Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân ít ra cũng trong thời gian của chiến dịch này, vì so với ông Mẫn thì ông Lân thông thuộc địa thế Pleime hơn ông Mẫn.

Anh Thanh không quên mang tặng tôi một két bia cổ cao. Rồi năm anh em, Hoàng Kim Thanh, Vương Mộng Long, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Công Minh, và Trần Văn Phước quây quần quanh chiếc bàn tròn.

Kịp khi năm chai bia mới mở nắp, ba con khô mực nướng vừa xong thì bất ngờ:

“Oành! Oành! Oành!” ba viên không giựt 57 ly theo nhau xé gió bay tới, nổ tung giữa sân cờ!

Tôi quơ vội chiếc PRC 25 nhảy xuống giao thông hào.

Tay bóp ống liên hợp, tôi la lớn,

– 821! Ra chận đường lấy cho được khẩu 57 ly!

Thay vì ra lệnh cho pháo binh phản pháo, tôi lại gọi toán viễn thám 821 của Hạ sĩ Mom Sol.

Toán của Mom Sol đã ra đi từ mờ sáng, ém trong rừng, cách Pleime hơn ba cây số.

Mom Sol sẽ kéo ra con đường mòn chặn đánh khi địch rút lui.

Chưa tới mười phút sau, có ba tràng M16 bắn ngược chiều, rồi tiếng Mom Sol reo vui,

-Trình Thái Sơn! Em lấy được khẩu 57 ly rồi!

Tôi đã đoán chắc thế nào địch cũng xâm nhập bằng đường rừng, pháo tới tấp hết số đạn mang theo, rồi chạy thục mạng theo con đường mòn dẫn về Tây. Quân ta cứ chặn đường chúng rút là có ăn ngay.

Trong quá khứ, đã có hai lần địch áp dụng ngón đòn đánh trộm rồi chạy.

Phối trí lực lượng Ta và Địch tháng 7 năm 1974

Với một khẩu đội chừng ba hay bốn tên, vác theo cái nòng 57 ly cùng vài viên đạn, chúng xâm nhập bằng đường rừng. Khi tới vạt đất trống, cách hàng rào trại vài trăm mét thì chúng chui ra, vội vàng nạp đạn, bóp cò. Chưa đầy vài phút, sau khi hết đạn, chúng liền phóng ra con đường xe be cũ chạy một mạch về hướng Tây.

Tới khi người trong đồn phát giác ra vị trí đặt súng, lấy xong yếu tố tác xạ để phản pháo thì chúng đã cách xa Pleime cả cây số rồi!

Ði đêm lâu ngày thế nào cũng gặp ma! Bọn bắn trộm ăn quen, rồi cũng có ngày chết mất mạng, mất súng.

Hôm ấy đúng như tôi dự liệu, tính từ lúc trái đạn đầu tiên phát nổ, chưa tới hai mươi phút sau Hạ sĩ Mom Sol đã bước vào cổng Nam Pleime với khẩu 57 ly chiến lợi phẩm trên vai.

Ba chai bia cổ cao được trao tận tay ba anh viễn thám, còn khẩu 57 ly được bay theo Trung tá Hoàng Kim Thanh về Pleiku.

Ngày 22 tháng 7 có chiếc trực thăng bay vào Pleime bốc tôi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh Quân Khu 2 để nhận một chỉ thị đặc biệt.

Tôi được Quân Cảnh đưa lên lầu thì đã có ba vị chỉ huy chờ sẵn, đó là Trung tướng Toàn, Chuẩn tướng Niệm và Trung tá Tiếu.

Cuộc gặp mặt chỉ kéo dài chừng mười phút.

Tướng Toàn xua tay cho tôi miễn trình diện, rồi chỉ cho tôi ngồi xuống cái ghế dựa đặt trước mặt ông, hai bên tôi là Tướng Niệm và Trung tá Tiếu.

Ông Tướng vào đề ngay,

– Chắc chắn vài ngày nữa tụi nó sẽ đánh lấy cho được Pleime.Ta ra giá cho mi cố giữ đồn được ba ngày là ta cho mi lên trung tá. Sau đó cứ làm theo kế hoạch mà ông Tiếu sẽ bàn với mi. Nghe rõ chưa?

Tôi băn khoăn chưa biết kế hoạch của thượng cấp đề ra như thế nào thì Tư Lệnh đã tiếp,

– Chuyện này đứa khác làm không được, nhưng ta tin chắc mi sẽ làm được! Thôi mi nói chuyện với ông Tiếu, ta mắc bận phải đi!

Dứt lời, Tướng Toàn khoát tay ra dấu cho Tướng Niệm, hai người sánh vai đứng lên.

Tới cửa, tôi thấy Tướng Niệm quay đầu lại, chỉ tay về hướng tôi, rồi nói nhỏ với Tướng Toàn,

–Từ ngày đi lính tới giờ, tôi thấy đây là sĩ quan mà tôi cho là ưu tú nhất. Hy vọng ngày nào đó tôi sẽ có người sĩ quan này!

Ông Toàn quay mặt lại, hơi lớn tiếng, chắc là cố ý cho tôi nghe,

– Ðù mạ! Phải cố gắng lên chứ! Quân đội gì mà cứ đánh là thua, cứ đánh là chạy, làm sao mà ăn nói với Mỹ, mà chìa tay ra xin người ta chi viện trợ cho được? 

Trong phòng còn lại tôi và Trung tá Tiếu. Ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II cho tôi biết chi tiết kế hoạch của Quân Ðoàn là:

Nếu Sư Ðoàn 320 A Cộng-Sản động binh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải tận lực giữ đồn không bị tràn ngập trong vòng ba ngày. Sau đó tôi được quyền chui ra khỏi rào, leo lên chỏm núi nào đó, tiếp tục báo cáo với đài tiếp vận Hàm Rồng rằng quân trú phòng đang đánh nhau giành giật với địch quân từng phần đất của Pleime. Cứ thế, cho tới một tuần lễ sau thì hô hoán lên rằng Pleime đã mất. Rồi tôi được quyền chọn một trong hai hướng thoát thân, muốn về trình diện Quận Phú Nhơn hay Quận Thuần Mẫn là tùy ý tôi.

Tôi nghĩ rằng, chưa đánh nhau mà Tướng Tư Lệnh Vùng đã hứa chỉ cần tôi giữ Pleime được ba ngày thôi, sau đó thì có quyền bỏ đồn, rút chạy mà không sợ bị mất lon thì chắc chắn trận này sẽ lớn lắm.

Tướng Nguyễn Văn Toàn là một người thô lỗ, cộc cằn, mở miệng ra là văng tục, chửi thề, nhưng cũng rất thẳng thắn. Chuyện gì ông ta cũng nói huỵch toẹt, không che đậy.

Sở dĩ Tướng Toàn đòi hỏi tôi nếu không giữ được Pleime mà vẫn phải “đánh trận giả” chỉ vì sợ quốc tế nhìn vào, thấy Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa yếu đuối quá, không đủ sức cản chân Cộng Quân, cứ đánh nhau là thua, lại thua nhanh quá, không xứng đáng nhận thêm viện trợ nữa.

Như vậy, chiến công của chúng tôi, nếu có được, sẽ trở thành món hàng quý giá của lòng tin, để chính quyền ta trả giá với đồng minh Hoa-Kỳ xin quân viện.

Tôi thấy mình vừa khoác lên vai một trách nhiệm rất nặng nề. Trận này thắng hay bại có ảnh hưởng rất quan trọng tới ngân sách của quốc gia, tức là liên quan tới sự tồn vong của đất nước.

Tôi tự hứa với lòng mình rằng sẽ cố gắng hoàn thành cái sứ mạng cam go này.

Qua những lần tiếp xúc với các giới chức có thẩm quyền mà tôi thấy được, đất nước chúng ta đang bước vào thời kỳ khan hiếm xăng dầu và đạn dược do ngân sách bị cắt giảm. Vì lý do đó, ở cấp tiểu đoàn, xăng nhớt chỉ được cấp phát cho hai xe Jeep và một xe GMC mười bánh. Tôi cũng nghe nói, chỉ một giờ bay của trực thăng đã làm hao tốn tới 200 đô la viện trợ! Mỗi khẩu pháo chỉ được quyền bắn tối đa là 4 viên mỗi ngày. Nếu ở mặt trận này mà pháo binh bắn lố hơn cấp số 4 viên một ngày thì để bù đắp lại, khẩu súng ở mặt trận khác sẽ bị khóa nòng, không sử dụng.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Apr 2026

Nam Cali mấy hôm nay nhiệt độ không cao lắm,  trời chưa thấy nóng, nhưng buổi trưa trong không khí đã cảm giác có một thứ gì của mùa hè đang tới. Trên những con đường rợp bóng cây, hoa phượng tím đã bắt đầu nở rộ. Khi mới đến đây, chúng tôi không hề biết lai lịch loài hoa này nó từ đâu tới, tên là gì, nhưng đây là loài hoa báo hiệu mùa hè. Hoa tím nở, rồi rụng tím cả một khoảng đường. Hoa của mùa hè, nhân gian gọi tên là hoa phượng, ở quê nhà cũng như ở tiểu bang Hạ Uy Di ấm áp của Mỹ thì phượng đỏ, còn ở Cali thì phượng tím, mỗi phương trời mỗi sắc hoa. Làm sao trong lòng không có một chút xao xuyến nhớ lại những ngày tháng đã qua. Nhưng hình như mùa hè ở xứ này có màu sắc mà thiếu âm thanh, đó là tiếng ve làm xao động những buổi trưa hè của một thời thơ ấu.

Nhắc đến mùa hè là nói đến đời học sinh, tuổi hoa niên của những ngày cắp sách đến trường. Thời gian này kéo dài cho đến tuổi trưởng thành hay chỉ có được vài năm cho những người kém may mắn không có cơ hội đến trường. Thời học trò là thời trong trắng, ngây thơ nhất của một đời người, khi chưa hề có sự lo lắng của một người có gia đình, chưa hề biết ganh đua cho sự nghiệp, chưa có vinh nhục cho nợ cơm áo của cuộc đời.

Tác giả những bài hát mùa hè đã say sưa mô tả mùa này như là một mùa Xuân: “Đây suối trăng rừng thơ/Đây gió nhung thuyền mơ/Đây phím ngọc đường tơ/ Đây tứ nhạc ngàn xưa.” (Hùng Lân- Hè Về), hay:”Về đây ta lắng nghe muôn cung đàn/Đường tơ tha thiết vươnghương nồng nàn/Về đây nghe bao câu hát du dương mơ màng/Và về đây tắm ánh trăng huy hoàng.”(Canh Thân-Khúc Ca Mùa Hè). Cả thi sĩ Xuân Tâm (tiền chiến) cũng viết rằng: “Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.” Nhưng mùa hè đã không có những niềm vui như  thế!

Đó là chưa nói đến thời gian có những mùa hènghe tiếng con chim quốc gọi hè trên núi rừng Việt Bắc. Không được như bạn bè, những năm tháng đầu tiên khi phải nghỉ học, tôi mang một nỗi buồn pha lẫn tiếc nuối và thường có những giấc mơ thấy mình vẫn còn đang ôm cặp sách hay ngồi trên băng ghế cũ trong lớp học ngày nào.

Những ngày trở lại quê hương, nhất là vào mùa hè, đi qua lại ngôi trường cũ, “dẫy thềm hoa rụng”, cửa đóng then cài, sân trường vắng lặng, chỉ có ngọn gió hè cuốn tròn những chiếc lá và tiếng chim hót đâu đây trong bóng mát của chòm cây, tôi mang tâm trạng một người đã đánh mất tuổi thơ. Rồi từ ngày ấy, “cuốn theo chiều gió”, không bao giờ tôi có dịp trở lại nhà trường, dù là được ngồi trong giảng đường trong những ngày tóc đã sương pha. Tôi không được làm như “ông quan to nước Pháp” Carnot trở lại thăm trường cũ, trông thấy ông thầy dạy mình lúc còn bé, bây giờ đầu đã bạc phơ, để chạy ngay lại trước mặt thầy giáo mà lễ phép thưa rằng: “Tôi là Carnot đây, thầy còn nhớ tôi không?” Tôi không được là đứa học trò xuất sắc hay đứa trẻ nghịch  ngợm để thầy còn nhớ đến tôi. Tôi cũng không có chútdanh vọng gì để Thầy biết đến tôi hay đứng trước  đám hậu sinh mà cao giọng nói rằng:”Các em hãy noigương tôi, nhờ chăm chỉ nghe lời Thầy dạy dỗ mà tôi có được ngày hôm nay!”Tôi chỉ là một con người tầm  thường, không có gì để đem lại sự hãnh diện cho thầycũ, trường xưa. Nhiều khi giữa đám đông trong một đám hội hè ái hữu, người ta xướng danh, gọi nhau bằng những chức tước mà quên đi những thằng bạn cũ tầm thường, không danh phận, lạc lõng giữa đám đông.

Nếu thời tuổi trẻ có điều ân hận thì điều đó là không được đến trường thông suốt. Gia cảnh, hôn nhân hay chiến tranh đã tách rời những cô cậu học trò ra khỏi ghế nhà trường quá sớm. Có những người bạn phải nghỉ học nửa chừng để ở nhà lo chuyện ruộng đồng giúp cha mẹ vì neo người, không có tiền thuê mướn người làm. Có những “giai nhân” chưa qua hết trung học đã có người đem xe hoa đến “rước nàng về dinh.” Rồi chiến tranh đã xô đẩy bao nhiêu chàng trai phải “xếp bút nghiên” vào chiến trận giữa tuổi thanh xuân. Tôi biết tìm lại mùa hè ở nơi đâu! “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/Em chở mùa hè của tôi đi đâu?”(Đỗ Trung Quân) Tôi không rõ ngày nay tại các trường Trung Học ở Mỹ người ta có những bảng tưởng niệm những chàng trai trẻ nguyên học sinh của nhà trường đã hy sinh trong các trận chiến tại Việt Nam, Iraq, hay tại Afghanistan không, chứ từ đầu thế kỷ 20, nhiều trường trung học như Papanui School ở New Zealand hay Belfast School ở tiểu bang Maine của Hiệp Chủng Quốc đã có những đài tưởng niệm ghi danh những cựu học sinh của trường đã chết trong trận Thế Chiến Thứ I.

Trong một hai thập niên vừa qua, tại Việt Nam, cả  thầy và trò đều bị cuốn hút trong chiến tranh. Chúng tôi gặp nhau ở quân trường, đơn vị, chiến trường,cùng chung vinh nhục và cuối cùng số phận đưa đẩy, lại gặp nhau trong nhà tù tập trung sau chiến tranh. Ngày nay chúng tôi lại gặp nhau trên đất khách, thầy và trò, đầu đều bạc tóc, ngậm ngùi nhớ lại những kỷ niệm nửa thế kỷ đã trôi qua. Phải chăng sự hoài niệm chỉ dành cho những người luống tuổi, không ai ở tuổi trung niên lại thích nhớ về dĩ vãng, khi đường đời chưa mỏi mệt đôi chân và tâm hồn. Mọi điều quá ngắn ngủi trên thế gian này làm cho người già thường quay lại nhìn đoạn đường đã đi qua. Tôi không còn nhớ mùa hè nào đã để lại nhiều ấn tượng trong tôi. Mùa hè cuối cùng bỏ trường, mùa hè của bom đạn, mùa hè của người tù biệt xứ hay là mùa hè bỏ nước ra đi. Bây giờ mùa hè hình như đang ở đâu đây, ở nơi này hoặc nơi kia, không gian đã thay đổi, thời gian quá xa xôi, không còn những chiếc xe đạp, không còn em, “ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay”, nhưng trưa nay trong nắng oi nồng, tôi nghe trong tâm tưởng như có tiếng trống trường dội lại từ một thời rất xa.

“Như mơ đường khói lên trời nắng, Trường học làng kia tiếng trống vào.” (Bàng Bá Lân)

Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 4 Apr 2026

1.  Anh có tin là mình thoát được không, cái khó nhất đã qua nhưng còn đoạn đường dài từ đây xuống dưới đó.

– Tin hay không tin cũng chẳng ích gì, vượt được chừng nào thì vượt chừng đó, cùng lắm bị bắt trở lại, và mình có bổn phận là tìm cách vượt qua, dễ chừng từ trước tới nay anh chưa bao giờ phải vượt khỏi, phải trốn đi…

– Chưa.

– Thật là một người may mắn, với tôi đây là lần thứ bảy hay thứ tám gì rồi, chúng nó nghĩ mang tôi tới một vùng như thế này thì tôi không làm cách nào mà vượt được, tôi nhớ lại những điều mấy thằng nó nói với nhau, chúng nó tưởng tôi không biết đây là đâu, chúng làm như bọn mình đang sống trong một vùng thuộc tỉnh Vân-nam, tôi đã áng chừng từ hôm mới tới, rừng như thế nào, núi như thế nào, tôi lại dò ra ngọn sông thì tôi yên tâm. Trông anh có vẻ mệt rồi…

– Tôi yếu ít lâu nay, vốn không quen kham khổ, nếu không ở giai đoạn đặc biệt thế này có khi tôi không biết núi rừng, kham khổ là gì, cũng may tôi không đến nỗi mất tinh thần như những người khác, một số bạn tôi đã ngã lòng, chúng tôi không đủ một niềm tin, không kiên trì.
– Đa số hàng ngũ những người quốc gia đều thiếu cái đó, mình nhiều cảm tính quá và thường hoài nghi anh thấy đó, nếu bọn mình nghe được nhau, tin được, phối hợp được thì bây giờ đâu đến nỗi này… mình đã mắc những lầm lỗi lớn, đó là một bài học, bọn mình đã bỏ mất nhiều cơ hội …

Giọng người đứng tuổi trầm xuống hơi buồn, người trẻ tuổi lặng thinh nhìn ra dòng sông trước mặt, ánh trăng xanh trải trên mặt sông rộng, những gợn sóng lóng lánh như bạc, bên kia dòng sông những lau sậy trải ngút ngàn như chạy tới tận chân dãy núi đen sẫm phía xa, không khí vây quanh tịch mịch, nền trời như không một gợn mây, gió nhẹ thoảng qua làm xao động những lùm cây, dòng sông này sẽ xuôi đến đâu.

– Mình phải đi thôi, có lẽ mình đã ra thoát vòng vây chính rồi, nhưng mình còn phải qua nhiều vòng vây nữa. Anh đang nghĩ gì vậy?

– Nhớ tới gia đình…

– Một mái nhà, một ông bố, một bà mẹ, một người vợ, một người con, những bữa cơm đầm ấm trong gia đình, nhiều lúc nghĩ đến tôi muốn rớm nước mắt, nhưng lựa chọn ở lại trong khung cảnh ấy chắc mình sẽ khổ tâm về những điều khác. Nghĩ đến cha mẹ già nhiều lúc thấy mình bất nhẫn…

Tiếng người trẻ tuổi ngâm khe khẽ:

“Gió hiu hắt chừ sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi chừ chẳng trở về…”

Tiếng gió lay động những lá cây, vẻ tịch mịch bao quanh tưởng như giữa chốn hoang đảo nào. Tiếng người lớn tuổi:

– Anh tưởng con sông này là sông Dịch sao?

– Tôi nhớ lại chuyện Kinh Kha sang Tần, Tư Mã Thiên đã viết cảnh qua sông của chàng Kinh thành một thiên anh hùng ca, chắc anh cũng đã đọc qua.

– Anh cũng muốn làm một Kinh Kha nữa sao, tiếc đây không phải là dòng sông Dịch, tiếc tôi không phải là Cao Tiệm Ly, là chủ quán thịt chó hay Thái-tử Đan, và tiếc bên kia sông cũng không có cả một Tần Thủy Hoàng cho anh tới mà hạ con chủy thủ… Để chọn làm một Kinh Kha thì sướng quá đi rồi, hoàn cảnh này đâu còn thích hợp cho Kinh Kha nữa, nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng giết Tần Thủy Hoàng là mục đích chính của chàng Kinh, ca tụng cái hành động đó người ta đã giết Kinh Kha để thỏa mãn sự bất lực của mình, để làm hài lòng tự ái của mình. Tôi hỏi anh, một người như Kinh Kha mà lại không nghĩ tới hậu quả khi cầm con dao nhọn sang Tần sao?

– Tại sao không, nhưng chắc chàng ta không nghĩ tới hậu quả mà nghĩ tới kết quả.

– Kết quả là nước Yên bị làm cỏ, những người như chàng Kinh mà hành động là phải nghĩ tới cùng một lúc những thất bại, và những thành công, anh nghĩ giết được Tần Thủy Hoàng là thành công rồi sao. Tôi nghĩ chắc chắn khi cầm mũi nhọn sang Tần chàng Kinh phải nghĩ tới sau khi đã giết được Tần Thủy Hoàng và nếu việc giết thất bại. Giết Tần Thủy Hoàng rồi làm gì với một nước Tàu rối loạn? Giết một kẻ tàn bạo không chết hắn sẽ làm gì với võ lực trong tay hắn?

– Tôi thấy các chính sử chỉ chép hành động của Kinh Kha: giết một kẻ bạo tàn, sự bạo tàn mà về sau này ai cũng thấy, như vậy hành động như Kinh Kha không đáng ca ngợi sao?

– Coi chừng anh nghĩ sai điều tôi nói, tôi không hề không tán đồng hành động của Kinh Kha, nhưng tôi không tán đồng lý do người ta đưa ra, lý do khiến Kinh Kha hành động… Trước đây tôi được một người kể lại cho nghe về một cuốn sách viết về chàng Kinh, một cuốn sách mà những sự việc trong đời chàng Kinh khác hẳn những điều mình đã đọc.

– Sao lại có nhiều Kinh Kha thế?

– Kinh Kha thì chỉ có một người, nhưng những sự thật về Kinh Kha khác nhau, sự thật tùy thuộc con mắt nhìn của kẻ khác. Đọc về Kinh Kha do Tư Mã Thiên viết hay thì hay thật, hào hùng thật nhưng tôi không khỏi thấy hành động của chàng như hành động của một kẻ mà thành ngữ của mình gọi là anh hùng rơm, nếu không thì tôi cũng nghĩ Kinh Kha là một kẻ tầm thường chỉ hành động để thỏa lòng tự ái, tự ái vì hành động của Điền Quang, của Phàn Ô Kỳ, của Thái-tử Đan, nếu hành động vì nghĩa lớn, chàng Kinh đã không hấp tấp sang Tần với một kẻ giết mướn là Tần Vũ-Dương mà chàng phải đợi người bạn có đường kiếm tuyệt luân, chàng cũng không thể có những hành động ăn chơi, mê người đẹp như là cố hưởng cho hết những lạc thú trên đời để rồi chết. Kinh Kha sang Tần không phải vì mắt xanh của Điền Quang, của Thái-tử Đan, của Phàn Ô Kỳ, lại càng không phải vì cái đầu của Phàn Ô Kỳ do chính tay Kỳ chặt lấy, chẳng phải vì đôi tay người yêu của Thái-tử Đan, một người như chàng Kinh từng qua chơi khắp các chư hầu kết bạn với hết cả những bậc hiền sĩ trong thiên hạ, Điền Quang thấy không phải là người thường, luận kiếm với Cát Nhiếp, Nhiếp dọa bằng mắt mà lặng lẽ bỏ đi, vừa thân với những danh sĩ, vừa có thể thân với một tên chủ quán thịt chó; chơi với rượu mà tính thâm trầm ham đọc sách, lại có thể nghêu ngao hát giữa chợ như chỗ không người thì đâu phải là một người thường. Như vậy khiến tôi tin những điều tôi đã được nghe về chàng Kinh.

Giọng nói trầm trầm của người lớn tuổi đầy vẻ say sưa, người trẻ im lặng lắng nghe, trăng giữa tháng vằng vặc trên nền trời đầy sao lấp lánh, con sông như một dòng nước bạc óng ánh, người trẻ nói:

– Anh đã đọc được những gì về Kinh Kha mà anh cho là khác hẳn với những sử sách đã viết về chàng?

– Tôi không được đọc, tôi chỉ được nghe lại do một người anh cả nói cho nghe, anh ấy nói đã được đọc cuốn sách khi lưu lạc bên Quảng-châu.

– Liệu đó là một cuốn sử hay là một tập truyền kỳ?

– Tôi không rõ, nói theo bây giờ, theo người thật, nó như một cuốn ký sự lịch sử, không có tên tác giả, người ta khám phá ra nó giữa những sách được cất giấu khi Tần Thủy-Hoàng ra lệnh đốt hết những sách lưu truyền bấy giờ, cuốn sách có ba chương với cái tên là: Ba lần gặp Kinh Kha, cuốn sách chừng như chưa viết xong và được bỏ lửng. Trăng còn sáng quá, tôi có thể kể lại cho anh nghe trong khi chờ đợi mình lên đường.

2.

Được tin của Kinh Kha tôi vội vàng đeo hành lý lên đường, nhưng khi tới nơi Kha đã đi trước đó một ngày. Thôi thế là hỏng hết mọi chuyện, gặp Cao Tiệm-Ly trong quán rượu chúng tôi chỉ than thở với nhau, tôi nói:

– Đã nhắn tôi sao hắn không chờ tôi?

– Hắn chờ quá, lần lữa mấy ngày nhưng vẫn không thấy gì, hắn cũng như tôi nghĩ rằng một là anh không muốn nhận chuyến đi, hai là người ta không tìm thấy anh, sau nữa Thái-tử Đan có ý ngờ Kha không muốn lên đường vì sợ chết. Trong lúc quân Tần đã ngấp nghé ngoài biên thùy, làm sao để Kha có thể nói được trong một hoàn cảnh như thế, khi xuống thuyền với Tần Vũ-Dương, Kha có ý không vui.

– Tần Vũ-Dương là người thế nào?

– Một kẻ sinh ở đất mường mán, năm mười ba tuổi đã giết người, không ai dám nhìn mặt. Thái-tử Đan cho đó là một dũng sĩ có thể giúp Kha giết được Tần Thủy-Hoàng một cách dễ dàng, Kha đã quát lên với Tần Vũ-Dương: Sao Thái-tử lại sai đến mày, đi mà không về là tại thằng nhãi này, cầm một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc phải là một dũng sĩ chứ đâu phải là một kẻ giết người như mày.

Nghe Cao Tiệm-Ly nói tôi chỉ biết thở dài, chúng tôi đều linh cảm thấy công việc của chàng Kinh đã hỏng và chúng tôi chờ đợi để nghe tin chàng chết, ngọn lửa hung bạo lại được tưới thêm dầu, chúng tôi không thể tưởng tượng hậu quả phải gánh chịu. Bây giờ Kinh Kha đang trên con đường tới Hàm-dương, tôi quanh quẩn chỗ này chỗ khác nghe người ta nói tới những ngày chàng Kinh còn ở lại đây, nào là cái chết của Thầy Điền-Quang, dũng khí của Phàn Ô Kỳ tự tay cắt lấy đầu mình cho chàng Kinh mang qua đất Tần mong được gần bạo chúa, người ta nói đến Thái-tử Đan chỉ nghĩ tới việc diệt Tần đã hy sinh ngay cả người yêu để làm vui lòng chàng Kinh. Ngồi uống rượu bên sông Dịch, nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly khiến tôi không khỏi bồi hồi xúc cảm, cái cảnh hơn ba ngàn tân khách, mấy vạn người dân mặc áo tang đã ra đây tiễn chàng đi, tôi tiếc đã không được hưởng khung cảnh ấy, tiếc đã không được cùng chàng lên chiếc thuyền nhỏ qua sông, bao nhiêu năm tập luyện để làm gì, lưỡi kiếm truyền lại từ nhiều đời để làm gì khi đã bỏ lỡ mất cơ hội của nó.

Tôi nhớ lại lần gặp gỡ năm xưa, cũng trong một quán rượu như thế này, lần đó Kha vừa rời khỏi Hàm-đan trên đường sang Yên, tôi nghe tiếng chàng từ lâu nên gặp nhau rất mừng rỡ và chúng tôi thân với nhau ngay, tôi thấy rõ chàng không phải là một người thường, tôi hỏi tại sao lại rời Hàm-đan, Lỗ Câu-Tiễn không dung được anh sao? Kha nói hắn mới quát mắng tôi chỉ vì ganh nhau khi đánh song lục, với những người như thế mình nên đi khỏi là hơn, lúc trước tôi cũng đã phải đi vì Cát-Nhiếp dọa tôi khi luận kiếm thuật với hắn, mỗi lần bỏ đi như thế chắc họ tưởng tôi hèn lắm, nhưng trong những trường hợp đó tôi chọn làm kẻ hèn, tôi đi tìm một kẻ để tôi xách dép cho họ nhưng tôi chưa thấy một người làm tôi nể, tôi nghe nói đất Yên có Thầy Điền Quang rất đáng kính, và Thái-tử Đan có mắt thấy được kẻ sĩ nên sang đó xem sao, trông Tần bạo ngược tôi không yên lòng được, anh có sang Yên cùng với tôi không? Tôi nói tôi không cùng đi được, tôi muốn về thăm mẹ già, nhưng tôi hẹn nếu cần đến tôi thì hãy tin cho tôi biết. Chúng tôi ở với nhau ít ngày luận bàn kiếm thuật rất tương đắc, Kha uống rượu rất nhiều, uống bao nhiêu cũng được và chừng như không bao giờ say, càng uống khí dũng của Kha càng như mạnh thêm, chàng vừa uống rượu vừa múa gươm, giọng ngâm thơ hào sảng, khí khái, tôi chưa được gặp một ai như chàng. Kha nói với tôi: luyện kiếm để làm gì, tôi nói tôi nghĩ tới Tần Thủy-Hoàng, Kha cười, chàng nói: anh có biết Cát-Nhiếp, Lỗ Câu-Tiễn luyện kiếm để làm gì không, tôi nói không, Kha cười lớn, họ luyện kiếm để dọa tôi, họ cầm lưỡi kiếm trong tay với sự đùa giỡn, nước loạn chính vì những kẻ không đáng cầm kiếm đã cầm kiếm trong tay và khoa lên với một đầu óc khoa trương rỗng tuếch, bao nhiêu lưỡi kiếm quý đã phải tủi hờn, tiếc thay.

Giọng Kha trầm trầm, tôi không phải là kẻ đánh gươm có tài, nhưng tôi muốn được dùng tới gươm một lần cho thật xứng đáng. Tôi nói tôi cũng ao ước như thế nhưng chưa được thỏa lòng, thực là một kẻ đánh kiếm không bao giờ nói đến đánh kiếm trừ trường hợp gặp tri âm, tôi đã nhầm khi đánh kiếm, luận kiếm với những kẻ như Lỗ Câu Tiễn hay Cát-Nhiếp, quả là tôi chưa có mắt thấy được người, cũng từ đó tôi bắt đầu sợ khi thấy những kẻ đeo kiếm bên mình, tôi sợ cho những người khác và cho chính hắn mang họa vì lưỡi thép vô tri, cầm một mũi nhọn, cầm một ngọn bút trong tay đâu phải giỡn được.

Ngồi bên quán nơi Kha đã ngồi, uống rượu với những kẻ Kha đã uống, nhìn con sông Kha đã qua tôi bồi hồi lo âu, mũi nhọn trong tay chàng sang đất Tần liệu có mang được gì về, tiếng nói của chàng như còn văng vẳng bên tai tôi. Chúng tôi chỉ gặp nhau mấy ngày rồi chia tay, tôi lên đường trở về cố hương, Kha lên đường sang Yên với lời hẹn gặp lại, nhưng có lẽ không bao giờ chúng tôi còn gặp lại nhau nữa. Ngày ngày chúng tôi ngồi uống rượu bên sông chờ tin người đi, có lúc Tiệm-Ly hỏi tôi:

– Nếu hắn không về chúng ta phải làm gì?

– Đừng vội nghĩ đến điều đó. Tôi tin hắn trở về.

– Anh nghĩ vào đất Tần dễ vậy sao?

– Không, tôi không bao giờ nghĩ vậy, tôi không muốn nghĩ rằng hắn thất bại. Nay Tần đã diệt Hàn, chiếm Sở, lấn Triệu, quân Tần đã đến biên giới nước Yên rồi, nếu hắn thất bại thì không quá một ngày gót quân Tần đã tới đây, chúng ta nào còn được ngồi yên đây, Thái-tử Đan liệu có chạy thoát, cảnh huống nào người dân nước Yên phải chịu, và thân hắn liệu có còn hay đã tan thành muôn mảnh. Vào một đất Tần bất trắc hiểm nghèo tôi vẫn mong hắn có thể trở về được.

Chúng tôi chờ đợi từng ngày nhưng tin từ Hàm dương vẫn biệt tăm, không ai biết những chuyện gì đã xảy ra ở đó, quân Yên dưới quyền Thái-tử Đan đã được điều động để phòng bất trắc có thể xẩy ra, tôi nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly không còn hay nữa, thịt rượu không còn ngon miệng nữa, luyện lưỡi gươm trong bao nhiêu năm đến lúc phải dùng lại không dùng được, đêm đặt mình không sao nhắm mắt. Chợt một đêm kia chúng tôi nghe tiếng gọi cửa, khi ra tới nơi thì thấy Kha, tôi rợn người hỏi:

– Anh thác rồi sao?

Kha cười khan:

– Không đâu, sao anh tới muộn thế, nhưng không sao.

Kha đưa tay cho tôi cầm và biết Kha còn sống, Kha nói:

– Tôi về đây để gặp Thái-tử Đan. Tôi bắt sống được Tần Thủy Hoàng rồi.

Chúng tôi đều tưởng mình sống trong một giấc mơ, nhưng đó là sự thực, Kha nói:

– Tôi muốn nghe câu trả lời của Thái-tử Đan: giết được Tần Thủy-Hoàng rồi thì Thái-tử làm gì với nước Tàu này?

– Anh hãy thuật mọi chuyện cho tôi nghe.

– Tôi vẫn có ý đợi anh cùng đi, nhưng đợi mãi không được tin gì của anh, quân Tần đã lấy Triệu, Thái-tử Đan không còn kiên nhẫn được nữa khiến tôi phải lên đường. Tới Hàm-dương tôi phải mang tất cả vàng bạc đút lót cho kẻ sủng thần của Tần là Mông-Gia để được vào bệ kiến Tần Thủy-Hoàng, với cái đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm địa đồ đất Đốc-căng chúng tôi vào bệ kiến vua Tần. Giữa chốn triều đình uy nghiêm, vượt qua bao nhiêu tầng canh gác Tần Vũ-Dương kinh sợ khiến suýt bị bại lộ, may sao con chủy thủ trong tấm bản đồ đã không lộ ra, một kẻ giết mướn làm sao đủ sức để giết được một kẻ như Tần Thủy Hoàng, tôi đứng lên sát tận ngai vàng dâng tấm bản đồ, thừa cơ cầm chắc lấy mũi nhọn túm lấy ngực vua Tần, cả triều đình kinh hoàng nhưng không ai có khí giới trong tay, lệnh vua Tần cấm không cho bất cứ ai mang võ khí vào triều, quân phía ngoài phải có lệnh vua Tần mới được vào, tôi rút lấy kiếm của vua đưa cho Tần Vũ-Dương ra lệnh cho các quan không được nhúc nhích, tôi kề mũi nhọn vào cổ vua Tần, ý tôi muốn bắt sống mang về Yên làm thịt cho hả lòng Thái-tử Đan, sau là moi gan hắn ra tế Phàn Ô Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên về thái độ bình tĩnh của Thủy Hoàng, hắn nói không ngờ trong thiên hạ còn có những dũng sĩ như anh, tôi nói đừng có nịnh ta, ta chẳng phải là dũng sĩ gì, ta là người đánh gươm rất dở, dù vậy những người trong thiên hạ như ta không thiếu, họ không chấp nhận được sự tàn bạo của nhà ngươi và chỉ vì vậy họ thừa can đảm liều mạng tới đây. Nhà ngươi không sợ chết sao? Tôi bảo nếu tôi chết sẽ có kẻ khác noi theo, cho tới khi nào giết được nhà ngươi. Vua Tần gằn giọng: thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi: giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Tàu này.

– Thế bây giờ hắn ra sao, anh chưa giết nó?

– Chưa, nhưng hắn ở trong tay tôi lúc nào mình muốn giết thì giết, có điều tôi muốn biết Thái-tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung-hoa sau khi tôi đã giết hắn. Câu hỏi đặt ra không những cho Thái-tử Đan mà cho cả tôi lẫn anh, cho những ai không vì địa vị, không vì quyền bính mà chỉ hành động cho chính nghĩa, hành động vì đời sống hạnh phúc của dân chúng. Không chấp nhận sự tàn bạo của Tần Thủy-Hoàng, nhưng tôi cũng không chấp nhận một xã hội rối loạn phân tán, chia rẽ, một nước Trung-hoa hùng vĩ bị chia ra làm nhiều mảnh nhỏ cho mỗi kẻ hùng cứ một phương, lâu lâu kết bè kết đảng đánh lẫn nhau gây cảnh chiến tranh không bao giờ dứt, không thể chấp nhận để một nước Trung-hoa có văn hóa bị chia cắt ra từng vùng văn minh, lại để cho mình bị yếu hèn với sự đe dọa của mọi phương bắc. Bây giờ chính là lúc phải nghĩ tới việc thống nhất một nước Trung-hoa để đối địch với dân Mông cổ, mở lại ảnh hưởng ở miền Nam, như thế phải chấp nhận phá bỏ chế độ liệt quốc, đối với tôi việc giết Tần Thủy Hoàng không phải là điều quan trọng mà chính là phải làm gì sau khi đã giết hắn? Tôi đã bắt mang theo Tần Thủy Hoàng và giao cho Tần Vũ-Dương canh chừng trên đoạn đường từ Hàm-dương về đây, vua Tần đã giải thích cho tôi nghe những việc ông làm, hắn muốn làm những việc mà tôi đã nói với anh ở trên, thống nhất một nước Trung-hoa trong mọi lãnh vực …
Chỉ gặp chúng tôi trong một thời gian rất ngắn, chàng Kinh vội từ biệt để đi gặp Thái-tử Đan, sau một ngày trời chàng Kinh trở lại vẻ thất vọng, chàng nói: các anh phải sang Triệu đi, không thể ở đây được, tôi phải trở lại Tần. Tôi nói anh trở sang Tần làm gì, Thái-tử Đan đã trả lời anh ra sao, tôi phải sang Tần, tôi chưa thể trả lời anh được, còn Thái-tử Đan, thật đáng thất vọng, Thái-tử nói trả đất lại cho chư hầu, mỗi kẻ hùng cứ một phương, và nước Tần phải bị tiêu diệt. Không, tôi không chấp nhận một hành động như vậy, tôi phải trở lại Tần và hẹn lại các anh sau. Và Kinh Kha đã đi.

3. Người lớn tuổi ngừng kể, gió núi thổi mạnh hơn, trên nền trời những vạt mây theo gió trôi qua mặt trăng có lúc bầu trời tối hẳn đi, khuôn mặt người bạn lạnh như một pho tượng dưới ánh trăng, dòng sông nước bạc vẫn lờ lững trôi. Tiếng thú rừng lạc lõng vẳng xa. Người lớn tuổi đứng lên:

– Mình phải đi thôi, mình phải ra khỏi vùng này trước khi trời sáng.

Người trẻ tuổi đứng lên theo:

– Rồi sau đó ra sao, chẳng lẽ câu chuyện lại ngừng lại ở đó, cái kẻ xưng tôi kia chắc chắn là người bạn mà Kinh Kha đã đợi để cùng sang Tần, trong Sử-ký Tư Mã Thiên có nói đến nhưng không cho biết đó là ai, trước tôi nghĩ là Cát-Nhiếp.

– Không phải Cát-Nhiếp, là một kẻ vô danh.

– Như vậy thì Thủy-Hoàng đâu phải là một kẻ tồi gì, nhưng tại sao sau đó hắn lại có nhiều hành động bạo tàn như thế. Thủy-Hoàng chết rồi, cho đến nay trải qua bao nhiêu thời đại mà tội ác của hắn vẫn được coi là kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung-hoa, những tội ác không ai có thể bào chữa được, bao nhiêu kẻ đã chết ở Vạn-lý trường-thành, bao nhiêu kẻ sĩ bị chôn sống, sách vở của thánh hiền đều bị đốt, các chư hầu đều bị thanh toán, nếu quả Kinh Kha đã tha chết cho Tần Thủy-Hoàng thì Kinh Kha đáng là kẻ phải chịu trọng tội và ngày nay người ta sẽ không còn ca tụng Kinh Kha như một dũng sĩ nữa.

– Câu chuyện đâu đã dứt, để rồi tôi kể tiếp cho anh nghe, tại sao phải xây Vạn-lý trường-thành, tại sao phải chấm dứt sự chia cắt, tại sao phải đốt sách chôn học trò, chính là phải đặt mình trong hoàn cảnh của nước Trung hoa thời đó, lại đặt mình trong cương vị của Tần Thủy Hoàng may ra mới thấy được điều đó, phê phán lịch sử một thời phải đặt mình trong hoàn cảnh của lịch sử đó. Tôi hỏi anh, nếu bây giờ anh là người nắm vận mạng của nước ta anh phải làm gì?

– Tôi chưa bao giờ nghĩ tới điều đó.

– Anh cứ thử đặt mình vào trong một hoàn cảnh như thế.

– Không, tôi không thể đặt được, lớn lên với những ý nghĩ cao đẹp, nào giành lại độc lập, thống nhất, nào kiến tạo tự do hạnh phúc, ai cũng nói thế mà nay anh em giết lẫn nhau, tự do hạnh phúc chưa thấy đã thấy trại giam, đói khổ, độc lập chưa thấy đã thấy gót giày ngoại xâm, tôi chẳng cần giấu anh, ngày nay nhiều lúc tôi buồn chán ngã lòng, sức mình chẳng làm được gì, anh thấy đó, may mà anh với tôi không đến nỗi chết ở đây, nhưng rồi những ngày tới này ra sao?

Giọng người trẻ tuổi buồn buồn xúc động. Người lớn tuổi giọng vững vàng:

– Anh ít tuổi hơn tôi mà còn thấy vậy, nếu anh là tôi anh sẽ thấy còn đáng buồn hơn nhiều, nhưng đã nhận cho mình một trách nhiệm thì không có quyền được ngã lòng. Nhìn ra những khó khăn, những sự thật chắc chắn Kinh Kha cũng ngã lòng và chàng chắc không muốn mình là một kẻ sĩ nữa, chàng muốn là một kẻ thoát ra khỏi đời sống nhưng làm sao để sống một cách yên lòng với hạnh phúc nhỏ bé của mình trong giữa một cõi đời đầy những đau khổ, làm sao để ăn miếng cơm mà thấy ngon giữa những kẻ đói khát, làm sao để thấy mình ấm áp giữa mùa đông đầy những người không có tấm áo che thân, làm sao để yên lòng phiêu diêu giữa một xã hội đầy những nhà giam, những đàn áp, bóc lột, bị tước đoạt tự do. Làm sao để yên ngủ với những mộng đẹp triền miên khi đất nước khói lửa, khi ngoại xâm giày xéo, khi đất nước bị những kẻ vô đạo, bất nhân cai trị … Cũng như bây giờ tôi hay anh có đang nhiên mà ngồi nguyên được không? Chúng ta chống Tây để rồi nhận Tàu sao, chúng ta chống chế độ thực dân hà khắc để nhận chế độ độc tài đảng trị sao, chúng ta bằng lòng nhìn sự thay thế tinh thần quốc gia bằng một tinh thần quốc tế sao?… Bao nhiêu câu hỏi đặt ra cho mình, thất bại nhưng không được bỏ cuộc, tôi vẫn nhủ thầm với tôi như thế, mình còn nhiều cơ hội, dù thế nào cũng không thể ngồi yên được.

Hai bóng người yên lặng len lỏi trong lối đi hẹp, một con đường mòn luồn dưới những hàng cây rậm rạp, ánh trăng thấp thoáng qua những bóng lá.

– Còn câu chuyện chàng Kinh?

– Đoạn tôi vừa kể lại với anh là hai phần đầu của cuốn sách, tôi kể lại theo một người kể cho tôi nghe, chừng như tôi đã toát lược thêm đi một phần, tôi không phải là một người có tài kể chuyện, tiếc rằng anh không được nghe người anh cả của tôi kể, câu chuyện anh ấy kể trong một đêm cũng có trăng sáng như đêm nay trong chiến khu ở Vĩnh-yên, thời gian chúng tôi phải sống những ngày đêm dài nhất trong cuộc chống trả lại Việt-Minh, rồi anh thấy đó, chúng tôi thất bại, mỗi kẻ lưu lạc một phương, người anh cả chúng tôi sau đó đã bị giết một cách bí mật, có người không tin anh đã chết, nhưng tôi có nhiều bằng chứng để tin anh không còn lại với chúng tôi nữa. Tôi nhớ rõ khuôn mặt anh, tôi còn nhớ tiếng anh nói, giọng tha thiết, ấm, mạnh khỏe, tôi tiếc không nhớ hết và nói được cái giọng của anh ấy cho anh nghe, không bao giờ tôi còn được thấy lại anh, không bao giờ được nghe giọng nói đầm ấm thiết tha và đầy tin tưởng ấy nữa.

Hồi bấy giờ anh cũng ngừng câu chuyện ở lại đó, anh hỏi chúng tôi: nếu đã nắm được quyền lãnh đạo trong tay rồi chúng ta phải làm gì, anh nói chúng ta hành động không phải chỉ để hành động, chúng ta hành động để giữ lấy vai trò lãnh đạo, với quyền lãnh đạo chúng ta mới thực hiện được cuộc cách mạng chúng ta mong muốn, tạo dựng một xã hội chúng ta hằng mơ tưởng, chúng ta không hành động như một kẻ nổi loạn hư vô, chúng ta muốn tiến tới một đổi đời… Những điều anh ấy nói trong đêm trăng ngày nào vẫn còn văng vẳng bên tai tôi, không bao giờ tôi quên những điều đó, chính nó như ngọn đèn cháy mãi soi sáng cho tôi… Và sau đó anh kể tiếp câu chuyện chàng Kinh.

4. Chẳng bao lâu Tần đã thu tóm thiên hạ về một mối, thống nhất luật lệ, cân đo, chữ viết, cải tổ toàn thể cơ cấu xã hội, thanh toán những kẻ chống lại chế độ, bắt dân chúng xây Vạn-lý trường-thành ngăn rợ phương bắc, cải cách điền địa… tạo thành một nước Trung-hoa hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử. Nhưng những đau khổ mỗi ngày một chồng chất lên dân chúng. Chúng tôi đã rời khỏi ngay nước Yên khi chàng Kinh ra đi. Câu chuyện ngày nào còn như một giấc chiêm bao đối với chúng tôi, chúng tôi vẫn hỏi nhau có thực Kinh Kha đã bắt được vua Tần, có phải người hôm gặp chúng tôi thật là Kinh Kha hay chỉ là một hình bóng trong giấc mộng chúng tôi, chúng tôi hỏi nhau như thế nhiều lần nhưng không sao trả lời được. Chỉ biết sau đó ít ngày tin dữ từ Hàm-dương đưa về: Kinh Kha đã nát thân dưới lưỡi kiếm bạo chúa, đâu đâu cũng nghe nói tới chuyện chàng Kinh khi tiến lên dâng địa đồ đất Đốc-cang đã thừa lúc bất ngờ cầm con chủy thủ định giết vua Tần nhưng việc không thành, nhiều chi tiết trái ngược nhau được nói đến, có người nói tại Tần Vũ-Dương mất can đảm nên để lộ cơ mưu, có người nói vì chàng Kinh không biết đánh gươm, nhưng ai cũng cho đó là số trời không cưỡng lại được, dân chúng còn phải lầm than nên mưu toan của chàng Kinh bất thành. Có điều chắc chắn là sau đó không bao lâu vua Tần phái Vương-Tiễn mang quân sang Yên, thế quân như nước lũ, gót quân Tần đến đâu cỏ không mọc lên được, chưa đất nào bị giày xéo như đất Yên, chừng như vua Tần muốn trả cái thù của Kinh Kha, không đầy một năm thành trì của Yên đã lọt vào quân Tần, vua Yên nghe lời vua Đại-Gia rằng Tần chỉ căm giận Thái-tử Đan, nếu giết Đan dâng cho Tần thì sẽ tránh được chết, nhưng dù giết Đan vua Yên vẫn bị giết theo.

Tiệm-Ly như phát điên: phải trả thù cho hắn, trả thù cho những kẻ đã bị tàn sát, phải giết tên bạo chúa. Tôi nói thì giết tên bạo chúa nhưng sau đó… Tiệm-Ly kêu: hãy giết hắn đã rồi sau sẽ hay, nghĩ mãi rồi làm sao mà hành động, trông những việc hắn làm đó mà ngồi yên được sao. Chúng tôi sống chui nhủi, bôi mặt đổi tên để tránh sự lùng bắt của quân Tần vì từ sau khi bị mưu sát vua Tần đã cho lệnh lùng bắt những bạn hữu của chàng Kinh mà giết đi, Tiệm-Ly nương náu nơi nhà Tống-tử, nhờ tài thổi ống tiêu được tiến vào cung vua Tần, nhưng có kẻ nhận ra mặt nói cho Thủy-Hoàng biết, vua Tần tiếc tài cho khỏi chết, khoét mắt chàng bảo thổi ống tiêu, dần dần Tiệm-Ly được ngồi gần Thủy-Hoàng, chàng liền đổ chì vào ống tiêu, nhân lúc ngồi gần liền giơ ống tiêu đánh vua Tần nhưng không trúng, từ đó Thủy-Hoàng không bao giờ gần người ở các nước chư hầu nữa. Hai người bạn thân đều đã chết, còn lại người chủ quán thịt chó, chúng tôi lang bạt khắp nơi mong có ngày nhà Tần bị diệt.

Còn đâu tiếng tiêu của Cao Tiệm-Ly, còn đâu tiếng nói, khí phách một người vào đất Tần bất trắc với một mũi nhọn. Tôi cô đơn trong niềm bất lực đau đớn. Tôi không còn chàng Kinh nữa. Tôi tưởng tôi đã có trách nhiệm trong sự thất bại của chàng, nếu tôi đi được chắc tôi đã không để cho hắn sống.

Một ngày kia khi đang ở nước Hàn, lang thang ngoài chợ bỗng nghe tiếng gọi, tôi ngạc nhiên không nhận ra người trước mặt.

– Kha đây.

Tôi kinh hoàng nói:

– Tôi tỉnh hay mê vậy?

– Tỉnh, tôi thật đây.

Vừa nói Kha vừa nắm lấy tay tôi: Tôi đang đi kiếm các anh, khi tới Triệu thì tôi nghe Tiệm-Ly đã chết, tôi nghe ở Hàn có hàng thịt chó rất ngon, đoán chắc các anh ở đó, quả không sai.

– Hóa anh chưa chết, tôi không hiểu được. Sau khi anh đi chúng tôi hỏi nhau hôm gặp anh thực hay mơ, và cho đến bây giờ vẫn vậy, anh đã tha chết để cho hắn hành động như vậy sao?

Chàng Kinh lặng đi, chúng tôi trở về quán, nhìn thấy một chiếc ống sáo của Tiệm-Ly còn để lại chàng Kinh cầm lấy mà khóc:

– Tôi đâu nào sợ cái chết, giết hắn đâu phải là khó với tôi, nhưng chính là tôi đã nghe người, quả tôi không có mắt thấy được người. Bây giờ chàng Kinh tóc đã có những sợi trắng, má đã nhăn, nhưng khí dũng vẫn còn cương cường. Trong cảm xúc nghẹn ngào Kha đã nói lại với chúng tôi:

– Chắc chắn sau này sử sách sẽ viết rằng: năm ấy, ngày ấy có một tay dũng sĩ tên là Kinh Kha đã mang một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc mưu mô giết vua Tần nhưng việc không thành. Nào phải thế, như tôi đã nói hôm gặp lại các anh trên bờ sông Dịch đó. Giữa chốn triều đình nhà Tần, tôi đã tay trái túm lấy ngực hắn, tay phải áp con chủy thủ vào cổ hắn, tôi muốn mang hắn về Yên cho Thái tử Đan hài lòng, sau là moi gan hắn mà tế anh linh của Thầy Điền-Quang, Phàn tướng quân, tôi cũng muốn như Tào Mạt xưa kia bắt hiếp Tề Hoàn-Công ký giấy trả đất cho chư hầu. Tôi nghe hắn hỏi tôi: nhà ngươi sẽ làm gì với một nước Trung-hoa này, ta không muốn chết một cách ân hận. Lật bỏ một chế độ là người ta muốn có một chế độ tốt đẹp hơn. Xô đổ một ngai vàng là để lập một ngai vàng mới, nhưng ngày nay ai là kẻ đáng mặt lên ngôi? Tôi so sánh giữa hai chế độ: những ngày đầu tiên trong chế độ nhà Tần và tình cảnh Trung-hoa trong chia cắt, phân tán, mỗi kẻ hùng cứ một phương tác oai tác quái, nỗi khốn khổ của dân chúng kéo dài quá lâu. Tôi không muốn thấy mãi một tình trạng tranh chấp liên miên, không muốn thấy một thời liệt quốc mới. Tôi muốn có một nước Trung-hoa thống nhất, một nền cai trị mạnh, hữu hiệu, sáng suốt. Thủy-Hoàng nói với tôi cũng muốn vậy đó là lý do khiến ông tiến tới thống nhất Trung-hoa, phá bỏ các chư hầu. Chúng tôi thảo luận với nhau và tôi đồng ý tha chết cho Tần Thủy-Hoàng để cùng nhau bàn kế hoạch, chúng tôi làm việc hoàn toàn bí mật: phải thống nhất một nước Trung-hoa, phải thay đổi hẳn căn bản xã hội, phải làm lại hết cả…

– Anh đã đồng ý để chôn học trò, đốt sách?

– Từ sau thời Thầy Trọng-Ni tư tưởng của Thầy đã bị không biết bao nhiêu kẻ làm sai lạc, sách vở nhảm nhí không biết bao nhiêu, để những sách ấy tôi hỏi anh di hại biết đến bao giờ. Phải chỉnh lại văn hóa, cuộc sống chỉ yên vui được khi xã hội chỉ sống với một tư tưởng, một cuốn sách cho một chân lý, một lẽ phải. Còn chôn sống học trò thì không đúng, giết hết những người có học thì lấy ai để điều khiển guồng máy cai trị. Nhưng không thể dung túng những tên khuyển nho những kẻ có học mà sống xa nghĩa sách thánh hiền, học ba chữ thánh hiền chưa vỡ mà tưởng mình đội đá vá trời được, muốn nước hùng mạnh xã hội trật tự cuộc sống hạnh phúc thì phải chôn đi những kẻ không chấp nhận sự tiến bộ, chôn đi những kẻ mãi mãi muốn duy trì địa vị quyền lợi của mình.

– Anh chấp nhận để xây Vạn-lý trường-thành bằng xương máu của người dân?

– Chúng tôi nhân danh sự bền vững muôn đời, sự sống còn của nước Trung-hoa mà xây trường thành. Muốn có đời sống buộc mọi người cùng nhau đóng góp hy sinh… Nhưng thôi anh đừng hỏi tôi nữa, tôi là một kẻ có tội, tôi cũng đã bị phản bội… Mộng tưởng của tôi chỉ là ảo tưởng, Tần Thủy-Hoàng đã đổi thay, Hoàng-đế nhà Tần ngày nay không phải là kẻ mà xưa kia tôi đã tha chết cho hắn.

– Vậy ai đã chết thay cho anh?

– Như tôi đã nói đó, tôi thất vọng với Thái-tử Đan nên đã thấy Tần Thủy-Hoàng có lý, chúng tôi cộng tác với nhau, Thủy-Hoàng nguyện thi hành những kế hoạch tôi đã đề ra, để cho vua Tần có thêm uy thế chúng tôi vẽ ra cái chuyện Kinh Kha nát thây dưới lưỡi kiếm vua Tần. Nhưng ai ngờ khi đã thu thiên hạ về một mối, dẹp tan các chư hầu, ổn định được tình thế thì vua Tần thay lòng đổi dạ. Khi đã thống nhất được giang sơn, diệt hết các địch thủ hắn không còn nghĩ tới lý tưởng tới đất nước nữa, hắn nghĩ tới hắn, hắn nghĩ tới trường sinh bất tử, tôi biết tôi đã bị phản bội, không làm cách gì khác hơn là bỏ đi.

Chàng Kinh lấy ra con chủy thủ mỉm cười:

– Anh nhớ cái này không?

– Nhớ.

– Nó nguyên là của Từ Phu-nhân nước Triệu, lúc trước Thái-tử Đan mua với giá một trăm lạng vàng, đã được tẩm thuốc độc, tôi còn giữ nó đây và đi tìm các anh. Bây giờ mình phải bắt đầu lại, bắt đầu lại trong khó khăn, thiếu vắng bạn hữu và một chế độ đã được củng cố… Xưa kia cầm con chủy thủ vào một đất Tần bất trắc tôi chỉ nghĩ tới lúc giết được bạo chúa, nhưng nay cũng với con chủy thủ này vào một đất Tần bất trắc gấp trăm lần tôi nghĩ tới một xã hội sau khi đã giết được bạo chúa, điều đó khiến tôi yên tâm hơn, nhất nữa nay tôi không phải vào đất Tần với một tên giết mướn mà vào đất Tần với anh…

5. Hai người dừng lại, người đứng tuổi ngồi xuống một cành cây, trăng đã ngả xuống, ánh sáng đục hơn, trước mặt họ con sông vẫn lờ lững chảy, người trẻ tuổi nhận ra họ đã đến một bến sông, hai bên bờ sông có mấy quán lá xơ xác, không một bóng người, dưới bến có một chiếc thuyền cột vào một gốc cây. Người lớn tuổi nói:

– Người kể câu chuyện cho tôi nghe đã dừng lại ở đó. Tôi hỏi rồi sau đó ra sao? Người anh cả trả lời: không biết, tôi chỉ thấy cuốn sách hết ở đấy. Còn sử chép: Thủy Hoàng chẳng hề bị giết mà sau chết vì dư máu, như thế có nghĩa rằng chàng Kinh Kha kia đã thất bại, nhưng đó đâu phải là kết luận của cuốn sách.

Người trẻ tuổi tư lự:

– Tôi cho rằng đây là huyền thoại do một người nào đó tạo ra để gửi gắm tâm sự của mình. Lịch sử còn chép rành rành ra đó.

– Anh tin sử ký đều là sự thực?

– Chẳng lẽ nó đều là những điều dối trá sao?

– Tôi không nói vậy. Đó là sự thực theo một con mắt nào đó. Anh cũng đã từng tham dự vào một số những biến động lịch sử trong những ngày gần đây, anh đã biết những vụ Ôn Như-hầu, Cổ-am, Vĩnh-yên… vô phúc lịch sử lại được viết bởi những người vừa bỏ tù chúng ta thì anh sẽ thấy, có khi chúng ta còn được gọi là những kẻ phản quốc nữa. Những người sau này đọc còn biết đâu là sự thật. Nếu những người đã chết đều đội mồ mà sống lại được thì chắc lịch sử còn được làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc. Có thể câu chuyện chàng Kinh tôi vừa kể với anh chỉ là một huyền thoại, nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn tin rằng một kẻ như Kinh Kha đâu chỉ hành động để hành động hay hành động để lấy chết.

Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng, họ đưa mắt nhìn lơ đãng xuống bến sông mơ hồ trước mặt, mấy quán lá quạnh hiu trong màn sương đục, bên kia sông lờ mờ hình bóng những lũy tre mỏng đi như nét bút vờn nhẹ trong bức tranh thủy mạc đã lâu đời. Người lớn tuổi nói:

– Chúng ta phải chia tay nhau thôi.

– Sao vậy?

– Nơi chúng ta đang đứng đây người ta gọi là vùng tự do hay vùng giải phóng; còn bên kia sông được gọi là vùng địch hay vùng tề. Muốn cộng tác với Pháp thì qua sông, muốn sống trong giam hãm, đày đọa hay chết thì ở lại đây. Anh thấy chưa, bây giờ đâu phải là thời của Kinh Kha, còn Kinh Kha thì Kinh Kha cũng bó tay. Bây giờ có nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy-Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua… Chiến sĩ một đi không trở lại, tôi không chấp nhận quan niệm ấy, lên đường là phải nghĩ đến ngày trở về, nhưng đó lại là chuyện khác, bây giờ anh qua sông hay ở lại?

– Còn anh, anh lựa chọn đường nào?

– Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận những con đường có sẵn? …

(1962)

Dương Nghiễm Mậu

(Văn số 58 ngày 15/5/1966)

30 Tháng Tư: Chuyện Người Nghĩa Quân

vvnm.vietbao.com

21/04/2011

Phạm Thành Châu

Post by Sơn râu 4 Apr 2026

Tác giả hiện là cư dân Virginia, có ba tập truyện ngắn đã xuất bản. Sau đây là bài viết đặc biệt của ông nhân dịp kỷ niệm 30 Tháng Tư: chuyện một việt kiều về thăm mộ bạn cũ và chuyện người nghĩa quân VNCH biến khu mộ của các đồng đội cũ thành nơi thờ cúng các anh hùng liệt nữ.

***

Rừng thiêng sơn trại không hò trận

Chỉ thấy tiêu điều những bóng ma

Viên Linh

Tết năm đó tôi về Việt Nam ghé thăm bạn bè. Đến miền Trung, tôi được một người bạn rủ thăm mộ một người bạn khác. Từ một thị trấn miền biển, chúng tôi ra quốc lộ Một, theo hướng bắc, lên một đèo nhỏ, đến đỉnh đèo, thay vì xuống dốc, bạn tôi cho xe chạy vào một đường mòn dọc theo chân núi. Đây là một vùng hoang vắng, cằn cỗi, toàn đá, cây lưa thưa, cao không quá đầu người. Chiếc xe gắn máy cứ nhảy chồm chồm, như con ngựa trở chứng, mấy lần suýt ngã xuống vực. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được một nơi, hơi bằng phẳng, có mười mấy ngôi mộ đất, nằm rải rác trên một diện tích khoảng một cái sân lớn. Bạn tôi chỉ một mô đất có miếng gỗ nhỏ ghi chữ Tư bằng hắc ín bạc màu.

– Nó nằm đây!

Chúng tôi lấy nhang, đốt lên, đứng trước mồ bạn, khấn vái mấy câu. Trong giây phút tưởng niệm, tôi như hình dung rõ bạn tôi trong những ngày cùng ngồi chung lớp, chung trường. Bạn tôi vui tươi, khỏe mạnh, yêu đời, lúc nào cũng nói chuyện tếu được, khiến cho dù ai có chuyện buồn cũng phải bật cười… Rồi cảm tưởng như tất cả những người nằm trong các ngôi mộ rải rác chung quanh đều là bạn thân thiết, vong linh họ đang đứng bên cạnh, tò mò nhìn xem chúng tôi làm gì” Ý nghĩ đó khiến tôi thêm ngậm ngùi, thương cảm. Tôi khấn lầm thầm. “Chúng tôi rất hãnh diện có được những người bạn đã chọn một cái chết hào hùng để bảo vệ tự do, bảo vệ đồng bào. Sự hy sinh của các bạn càng thêm ý nghĩa sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm đóng Miền Nam. Dân chủ, tự do không còn nữa!” Tôi cũng trấn an người bạn học quá cố của chúng tôi khi nói về cuộc sống ổn định của vợ và các con của bạn “Anh em đồng môn luôn tìm cách an ủi, giúp đỡ chị và các cháu”. Khấn xong, chúng tôi đem nhang cắm lên tất cả các ngôi mộ.

– Chỉ thằng nầy là dân hành chánh, còn mấy cậu nằm chung quanh toàn quân nhân. Nhảy dù với nghĩa quân.

– Có lẽ phải xây một cái khung cho tất cả các ngôi mộ nầy, rồi đổ đất lên mới không bị mồ xiêu mả lạc.

– Lần trước, lên đây, tôi có gặp anh chàng sống một mình trong mái tranh đằng kia, mình có thể nhờ anh ta lo vụ nầy…Chắc không tốn bao nhiêu.

Mới buổi sáng mà nắng đã gay gắt. Tôi đứng nhìn quanh. Một bên là núi cao, một bên là sườn núi thoai thoải, chạy đến một rừng cây xanh có lẽ là điểm nước, thấp thoáng sau hàng cây là quốc lộ Một, mấy chiếc xe đang chạy trên một cây cầu nhỏ, bắc qua một con suối, về mùa hè nên nước cạn, chỉ thấy lấp loáng ánh nắng qua những gộp đá nhỏ. Bạn tôi chỉ tay về hướng bên kia đồi.

– Nhà anh ta dưới tàng cây lớn kia kìa, nếu để ý, quá khỏi tàng cây, có cái gò cao, giống hình người đang ngồi. Bạn thấy chưa” Đó là cái gò mối, nhưng người ta đồn đãi là mộ của một cô gái rất linh thiêng. Bây giờ mình thử đến đó xem sao.

Chúng tôi đi băng qua đồi. Đường rất khó đi nên phải đẩy bộ chiếc xe gắn máy, có khi phải khiêng qua những những tảng đá lớn chắn lối hay những rãnh sâu. Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến nơi. Đó là một căn nhà tranh vách ván, nằm dưới một cây mít có tàng lớn che gần hết mái nhà. Sau nhà là một khu vườn vuông vức mỗi cạnh độ vài trăm thước, trồng cây lưu niên làm hàng rào, trong vườn là những luống khoai lang, khoai mì và bắp, góc vườn có một giàn bầu hay bí gì đấy. Nhà vắng tanh. Chúng tôi lên tiếng.

– Có ai trong nhà không”

Một người đàn ông từ sau bếp bước ra.

– Có tôi!

Anh ta khoảng trên bốn mươi, người hơi ốm nhưng rắn rỏi, da sạm nắng, tóc cắt ngắn, đôi mắt chơn chất sáng lên niềm vui của kẻ sống cô độc được có người đến thăm.

– Chào quí anh. Quí anh có chuyện gì mà lên chỗ hẻo lánh nầy”

– Chúng tôi đi thăm mấy cái mộ đằng kia, nhân tiện ghé thăm anh, định nhờ anh chút chuyện.

Anh ta cười, đưa hàm răng vàng khè vì khói thuốc.

– Lúc mấy anh đi lên, tôi đã thấy rồi. Vậy chứ mấy anh có thân nhân, bạn bè gì nằm ở đó”

– Có ông bạn học…Lên thăm, và định xây cho nó cái mộ cho tươm tất, để mộ đất, lâu ngày, gió mưa trôi hết, sau nầy tìm không ra.

– Mời hai anh vô nhà ngồi uống nước.

Chúng tôi bước vào. Đó là một ngôi nhà tranh nhỏ tầm thường. Nhà ba gian, giữa là bàn thờ, có tấm màn che. Bên trái là chiếc giường nhỏ, có lẽ là chỗ ngủ của chủ nhà, bên gối tôi thấy có mấy quyển sách, vì phép lịch sự tôi không nhìn kỹ sách gì nhưng như thế chứng tỏ chủ nhà là người có học và có thú vui đọc sách. Bên phải là một căn buồng đóng cửa. Trước bàn thờ là bàn nước bằng gỗ mộc, cũ kỹ, để một bình tích trong trái dừa khô, giúp cho nước giữ nóng được lâu, mấy cái ly thủy tinh trên một dĩa lớn. Có bốn cái ghế dựa để tiếp khách. Anh kéo ghế mời chúng tôi rồi xuống bếp thổi lửa nấu nước, pha trà. Chúng tôi ngồi nhìn quanh, hỏi vọng xuống bếp.

-Anh sống một mình sao”

Anh ta đi lên nhà trên.

– Tôi sống một mình. Cũng hơn mười năm.

– Không buồn à” Kiếm một bà về ở chung để có người chuyện trò, ốm đau còn nương tựa nhau.

– Tôi có vợ rồi, nhưng vợ mất, tôi ở vậy…thờ vợ.

Tôi pha trò.

– Anh có hiếu với vợ dữ! Cô vợ anh chắc sẽ mỉm cười nơi chín suối khi có được người chồng chung tình như anh.

Anh ta chỉ cười, xuống bếp lấây ấm nước lên, mở nắp bình tích, bỏ trà, chế nước sôi vào.

– Sống một mình cũng quen. Xuống phố thấy xe cộ, người nói, ồn ào, chỉ muốn về nhà cho yên tĩnh.

– Đất vùng nầy cằn cỗi, sao vườn anh tươi tốt vậy”

-Phải xuống suối móc sình lên đắp, mấy đời như thế nên mới trồng trọt được. Mấy anh đi thăm mộ ai ở đằng đó”

– Thăm người bạn, tử trận hồi bảy lăm. Bởi vậy mới định nhờ anh…

Anh ta ngồi lên giường, gác tréo chân, thong thả vấn điếu thuốc lá.

– Thỉnh thoảng tôi có ghé thăm chừng, thắp nhang, dọn cỏ mấy ngôi mộ đó. Mấy anh định xây cho mộ nào”

– Có ông bạn học nằm đó. Cũng định xây luôn cái khung chung quanh tất cả các ngôi mộ rồi đắp thêm đất lên cho mưa lũ khỏi trôi mất. Anh có thể giúp được không”

– Có phải mấy anh định xây mộ cho ông phó hành chánh nằm đó không”

– Sao anh biết”

– Tôi là lính phòng thủ quận hành chánh. Nghĩa quân tụi tôi với ông phó thân lắm. Đúng ra thì ông phó không có nhiệm vụ tác chiến, thiếu tá quận trưởng bảo ông đưa gia đình về Sài gòn, mục đích để khỏi phải đánh nhau, nhưng ông phó chỉ gửi vợ con đi còn ông ta thì ở lại. Ôâng phó bảo đã tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức mà lại trốn chui trốn nhủi thì nhục lắm. Mời mấy anh dùng trà.

Vẻ dè dặt không còn trong cách đối xử của anh ta.

– Các anh yên tâm. Nếu các anh muốn xây thêm cái “khuỷnh” cho tất cả các ngôi mộ thì tôi cũng xin góp chút công. Tôi chỉ tính vật liệu thôi, không tính tiền công. Bây giờ tôi đề nghị thế nầy. Các anh ở lại đây nghỉ trưa, chúng ta sẽ có thì giờ bàn lại kỷ hơn chuyện mồ mả. Tôi xin mời các anh một bữa trưa. Chỉ kẹt là không có rựợu, chớ còn mồi thì lúc nào cũng sẵn sàng. Bắt con gà rồi quơ bậy mớ rau thơm là có ngay một nồi cháo. Hai anh cứ ngồi chơi, đợi tôi. Hay là ra sau hè, có gió, mát hơn ở trong nhà.

– Tụi tôi đâu biết nhậu, có cháo gà mà húp cũng đủ khoái rồi.

Hai đứa tôi ra sau hè, tôi nằm đong đưa trên võng, người bạn ngồi trên cái ghế dài, tựa vào vách nhà. Gió biển thổi lên mát rượi, mấy con chim sâu hót trong bụi rậm, tiếng gió rì rào trong cảnh vắng vẻ, tĩnh mịch… Đúng là cõi thần tiên nơi góc núi. Hai đứa tôi chuyện trò linh tinh một lúc, độ hơn nửa giờ thì anh ta bưng nồi cháo ra, đặt trên một cái bàn nhỏ, thêm mớ chén, đũa, vậy là chúng tôi vừa sì sụp vừa chuyện trò.

– Bây giờ anh kể vụ bảy lăm, ở đây, xảy ra những chuyện gì” Tụi tôi chỉ nghe mang máng có đánh nhau dưới cầu kia, anh có tham dự không”

– Có chứ! Khi có vụ di tản từ Cao Nguyên xuống thì ở quận, tụi tôi được lịnh ứng chiến. Ông phó hành chánh, tức bạn của hai anh, dẫn trung đội nghĩa quân tụi tôi lên chốt trên kia. Tụi tôi đóng ở đó được mấy ngày thì có một đại đội dù đến tăng cường. Ông phó phối hợp với bên dù cho gài mìn dưới cầu đằng kia, chờ tụi hắn đến thì giật sập cầu và chận đánh. Một toán nằm dọc bờ suối, phục ở đó, chờ địch. Tôi và một anh nhảy dù lo việc giật mìn. Nhiệm vụ tôi hễ bấm xong mìn thì lên chỗ gò kia nằm, theo dõi và gọi máy báo cáo khi thấy địch xung phong lên núi. Thế rồi, địch xuất hiện, chạy một dọc cả chục chiếc xe lớn chở đầy bộ đội. Tôi bấm mìn giật sập cầu, mấy anh nhảy dù thụt M72, cháy mấy chiếc xe đi đầu, rồi xả súng như mưa. Từ ngày tôi đi nghĩa quân, thỉnh thoảng có hành quân lùng sục du kích, nhưng việt cộng chỉ bắn mấy phát rồi bỏ chạy, chứ chưa thực sự đụng độ bao giờ. Đến lúc đó tôi mới biết thế nào là đánh nhau. Ôi thôi! Súng nổ khắp nơi, rầm trời, rầm đất. Tôi bò lên chỗ gò mối nằm dòm chừng để báo cáo tình hình. Đến chiều thì xe tăng tụi nó đến. Đại bác của xe tăng thụt phe ta chạy tứ tán, phải núp sau mấy tảng đá, hi vọng tụi nó xung phong theo bờ suối thì nhào ra. Vậy mà chúng chỉ bắn cầm chừng, đến tối, chúng vào giở nhà dân bắt cầu, suốt đêm, sáng hôm sau chúng đi mất tiêu. Coi bộ chúng không thiết đánh nhau, chỉ lo chạy vô phía Nam mà thôi. Sáng đó tụi tôi cũng thu dọn chiến trường, chôn mấy người chết, băng bó người bị thương rồi cũng di chuyển theo đường núi về hướng Nam. Đến tháng Năm thì tan hàng, ai về nhà nấy. Tôi về trình diện chính quyền cộng sản, đi học tập, nghĩa là đi nghe chửi, lao động sản xuất rồi được về nhà. Tôi về đây phụng dưỡng ông bà già. Được năm năm hai ông bà qua đời, tôi vẫn ở đây lo hương khói, chăm nom mồ mả cha mẹ, vợ con cho đến bây giờ.

Ăn xong chúng tôi phụ nhau dọn dẹp chén đũa. Anh đem bình trà và ly ra.

– Trưa nào tôi cũng ra đây làm một giấc. Gió mát lắm!

Tôi nhìn lên đồi, thấy cái gò mối giống hình người ngồi xây lưng về phía chúng tôi.

– Tôi có nghe kể về chuyện cô gái chết nhưng linh thiêng lắm. Anh biết chuyện đó không”

– Chuyện linh thiêng thì tôi không tin, vì đôi khi chỉ là sự trùng hợp tình cờ. Nhưng chuyện về cô gái đó thì tôi biết rõ. Vì nó xảy ra cùng lúc với vụ đụng độ mà tôi vừa kể cho mấy anh nghe đó.

– Anh có thể kể vắn tắt cho tụi nầy nghe được không”

– Chuyện chẳng có gì lạ lùng cả. Lúc đụng độ thì cái gò mối chưa cao và to như vậy…

Tôi đoán chừng.

– Sau đó cái gò mới nổi lên giống hình cô gái ngồi nên người ta thêu dệt nên một chuyện linh thiêng, phải không”

– Cũng gần như thế. Trong toán nghĩa quân, có một anh chàng là chồng của cô gái ở nhà nầy, nên ông phó giao cho hai vợ chồng cái chốt đằng kia, canh chừng địch. Coi như vừa làm việc nhà vừa làm việc nước. Hai người mới cưới nhau được có nửa năm.

Anh ta trầm ngâm.

– Cô ta có bầu được ba bốn tháng. Lúc đụng độ, cô ta không ở trên chốt mà ở nhà, ở đây. Cô với cha mẹ nấp dưới hầm nên vẫn bình yên. Sáng hôm sau, sau vụ đụng độ, cả đơn vị, dù và nghĩa quân theo đường núi vào Nam. Anh chàng nghĩa quân có hẹn với vợ là sẽ quay lại. Nếu tình hình khó khăn, nguy hiểm thì anh ta sẽ về ban đêm, điểm hẹn là cái gò đó. Thế nên, khi thành phố bị địch chiếm, làng xã bị kiểm soát, cô ta không hi vọng gặp chồng ban ngày nên buổi tối cô ta thường mang chiếc võng, mùng mền ra ngoài chốt kia ngủ để chờ chồng. Thường thì cô ngủ lại ở đó đến gần trưa mới vô. Cha mẹ thấy cô mang bầu, thương con, cứ để cho cô ngủ, khi nào thức dậy thì vô nhà. Bữa đó đến chiều, không thấy cô vào, bà mẹ mới ra đánh thức con. Không ngờ ra đến nơi thì chỗ con gái nằm, mối đã đùn lên ngập xác cô, như một nấm mộ. Hai ông bà chưa biết tính sao thì hôm sau, mối phủ cao lên nữa, đành để vậy. Hôm trước đó, cô gái đã than là trong người khó ở, bị sốt, không chịu ăn uống. Cha mẹ cản ngăn nhưng cô vẫn lên chốt ngủ chờ chồng. Có lẽ cô bị trúng gió hay trở bịnh bất ngờ, không ai cứu giúp nên phải chết, vừa lúc mối đùn gò ngập luôn xác của cô.

– Nhưng nghe nói cô linh thiêng lắm, anh có biết tại sao không”

– Số là một năm sau đó, có chuyện xảy ra dưới quốc lộ, chỗ đường mòn mà mấy anh dẫn xe vô lúc nãy. Chuyện như thế nầy. Một buổi tối, trời mưa to, có chiếc xe khách chạy lên đèo. Vì mưa quá lớn không thấy đường sá gì cả, anh tài xế phải lái rất cẩn thận. Lúc xe vừa định quẹo cua, đổ đèo thì thấy một chị đàn bà, bụng mang bầu, đi băng qua đường. Anh tài xế hoảng kinh, vội thắng gấp rồi thò đầu ra cửa xe chửi thề chị đàn bà là đui, là ngu. Chị ta không nói năng gì cả, cứ lẳng lặng đi qua rồi khuất trong mưa. Chửi xong anh ta cho xe chạy. Nhưnh chưa kịp sang số thì thấy một chiếc xe tải chết máy, nằm lù lù một đống, không đèn đóm, không dấu hiệu gì cả. Nếu không vì chị đàn bà băng qua đường mà phải thắng gấp, anh ta đã cho xe húc vào đít chiếc xe tải chết máy nằm đó rồi, chắc chắn là xe phải rớt xuống đèo. Thật hú vía! Anh tài xế xuống xe, cứ hướng chị đàn bà đã đi khuất mà vái lạy rối rít. Không hiểu nghe ai kể mà anh tài xế, ít lâu sau, ra kêu người nhờ xây cái miếu chỗ khúc quanh suýt xảy ra tai nạn. Không may cho anh ta, mới đổ gạch xuống đó thì gặp mấy ông công an xã đi ngang. Họ dừng lại hỏi lý do xây miếu, hỏi giấy phép. Anh tài xế kể lại chuyện xảy ra hôm trước, nhưng chẳng ai tin. Vụ xây miếu bị ngưng. Mấy ông công an kéo nhau lên chỗ gò mối, ông trưởng công an xã rút súng bắn vào cái mộ để thị uy “Chết là hết. Không có ma quỉ, thần thánh gì cả. Cái mộ nầy sẽ bị san bằng nay mai” Vì mấy ông đó đi nhậu về, say quá nên khi xuống đồi, xe bị lọt hố, ông trưởng công an xã bị gãy tay. Thế là người ta đồn rầm lên là ông ta bị “Cô” vật.

– Tôi có đọc một truyện ngắn tương tự. Có lẽ người ta dựa theo đó, cùng với lòng thương cảm cô ta mà thần thánh hóa câu chuyện để người đời truyền tụng.

Anh ta như không để ý lời tôi, kể tiếp.

– Ít lâu sau, anh tài xế được nhắn ra, cho phép tiếp tục xây cái miếu, nhưng không ai dám giúp vì sợ bị bắt. Vừa may gặp tôi, tôi thầu luôn. Xây xong miếu, tôi vào chùa, xin thầy trụ trì viết cho một bài vị bằng chữ nho. Phần trên để mấy chữ thật lớn Anh Hùng, Liệt Nữ. Dưới đó là tên cô gái và tên mấy anh lính chết trận. Tôi đem đến thợ đá nhờ chạm cho một bia nhỏ để thờ trong miếu. Thành ra, ngày rằm, mồng một, xe cộ ngang qua đấy thường dâng lễ vật, khấn vái, xin “Cô”â phù hộ đi đường bình an.

– Bộ anh nhớ hết tên mọi người chết trên đó sao”

– Nghĩa quân là đồng đội, cùng đơn vị bao nhiêu năm. Với các anh bên nhảy dù, sống với nhau hàng tuần lễ, chỉ cần nghe tiếng nói tôi cũng biết là ai, tên gì. Vả lại phải nhớ tên mấy người đã chết, để sau nầy thân nhân đi tìm mà chỉ cho họ.

Thấy trời đã về chiều, tôi bàn đến chuyện xây mả, anh ta đề nghị.

– Nên xây từ từ, không cho chính quyền biết, hết tiền tôi sẽ ghé nhà quí anh lấy thêm.

– Anh đừng lo, tôi là Việt kiều, anh cứ tính công vào cho sòng phẳng. Chẳng bao nhiêu mà ngại. Tôi để tiền lại, anh cứ ghé bạn tôi mà lấy.

Tôi nhờ anh ta đưa chúng tôi ra thăm gò mối là mộ của cô gái. Trông không khác bất cứ gò mối nào ở trong rừng, nhưng rất to, kích thước cũng cỡ một ngôi nhà nhỏ. Đứng gần thì không hình dung được, nhưng nếu lùi ra xa, đi vòng phía bên kia, sẽ thấy giống hình một người đàn bà với mái tóc dài, ngực lớn, ngồi xây mặt vô núi. Có một cái nấm nhỏ hơn, giống đứa bé ngồi tựa vào lòng mẹ. Tôi hỏi.

– Trông giống Hòn Vọng Phu, nhưng sao Hòn Vọng Phu nầy lại xây mặt vô núi”

Anh ta có vẻ đăm chiêu.

– Hai mẹ con chờ người trong núi ra.

Buổi chiều âm u, cảnh vật im lìm, tôi cảm thấy rờn rợn, tưởng chừng cái nấm mộ vĩ đại giống hình người kia cũng có linh hồn, có cảm giác và đang lắng nghe chúng tôi chuyện trò. Tôi nói.

– Đáng lẽ phải đem nhang ra đây…

– Vô nhà cúng cũng được. Trong đó có thờ cô ta.

Khi vào nhà, chúng tôi xin được thắp nén nhang, lễ trước bàn thờ tổ tiên, thân nhân của chủ nhà. Anh ta vén tấm màn che bàn thờ lên và lấy nhang, quẹt diêm đốt, trao cho chúng tôi. Tôi thấy trên bàn thờ có để hình hai người lớn tuổi, có lẽ là cha mẹ anh ta. Phía trước là hình một cô gái, diện mạo bình thường, hơi mập, mặt tròn, nụ cười hiền lành, chất phác. Cạnh hình cô ta là hình một người thanh niên.

– Có phải hình thờ bên cạnh là chồng cô ta không”

-Đúng rồi! Vợ chồng phải thờ bên nhau cho có đôi.

Tôi nhìn hình người đàn ông, thấy ngờ ngợ như gặp ở đâu” Nghĩ mãi một lúc, quay nhìn anh ta, hóa ra là hình của chính anh.

-Ủa, anh chưa chết mà sao lại thờ, hay là hình người khác”

– Hình của tôi đó! Cô ta là vợ tôi. Khi cô ấy mất, tôi về đây phụng dưỡng cha mẹ vợ.

– Nhưng sao anh lại thờ chính mình”

Anh cười buồn, đôi mắt xa xăm.

– Khi học tập cải tạo, cán bộ bảo rằng nước Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa. Tối đó, tôi nằm khóc suốt một đêm. Tôi biết, thế là hết. Đất nước tôi, quê hương, bản quán của tôi đã bị người ta chiếm mất rồi! Cán bộ nói rõ là chúng tôi đáng tội chết, chúng tôi không còn là người dân nước Việt Nam nữa. Chúng tôi sẽ bị kiểm soát, theo dõi như những người tù.

Bạn bè, đồng đội, đứa nào cũng buồn, không muốn gặp mặt nhau! Tôi như người lính duy nhất còn sống sót, lang thang giữa một vùng quen thuộc nhưng không còn nơi để trở về. Cảm tưởng rõ rệt nhất là khi tôi đứng trước quận hành chánh nhìn vào. Quận đường vẫn nguyên vẹn, vọng gác trước cổng, nơi tôi thường ngồi gác vẫn còn đó, nhưng tôi không còn quyền yêu thương nơi đó nữa. Tôi đã bị xua đuổi khỏi quê hương tôi.

Tôi sống một mình ở đây nhưng lại cảm thấy được gần gũi với bao người thân yêu chung quanh. Thỉnh thoảng tôi ra ngồi tâm sự với vợ con tôi ở gò mả ngoài kia. Khi thì tôi qua bên kia đồi, cạnh các ngôi mộ, chuyện trò với đồng đội nằm dưới đó. Tôi nghe được, hiểu được những gì các bạn nói với tôi. Tôi nghe cả tiếng cười đùa của họ, nghe cả tiếng lách cách của súng đạn va chạm nhau, ngửi được cái mùi lính, mùi quen thuộc của mồ hôi thấm vào áo trận. Tôi ngồi đó để cảm thấy được an toàn đồng đội như những lúc hành quân, những ngày đóng chốt cũng như khi đụng độ với giặc.

Tôi ngồi đó để tưởng nhớ nước Việt Nam Cộng Hòa thân yêu của tôi.

Tôi để hình tôi trên bàn thờ là coi như mình đã chết theo với nước Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Tôi chỉ sống lây lất, lo nhang khói cho đồng đội, cho cha mẹï, vợ con. Khi nào thực sự nhắm mắt thì tôi đã có sẵn cái huyệt mộ, gần vợ con tôi, ngoài kia.

Phạm Thành Châu

Ăn cháo

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 30 My 2017

Post by Sơn râu 4 Apr 2026

Độ rày anh chăm thức khuya, đúng ra vào giường cố dỗ giấc ngủ cũng không ăn thua. Dần dà quen thói cứ vùi giấc mộng ban trưa, thức dậy bần thần với nắng nhạt hiên nhà. Họ làm ngày không đủ, riêng anh cũng chẳng tranh thủ làm đêm, nhàn nhã suốt. Anh xem phim kinh dị chiếu lúc 0 giờ, mê cảnh thằng bá tước xiêm y chỉnh tề chui vào áo quan ngơi giấc điệp ban ngày để hoàng hôn mới lục đục tỉnh thức bay xuống thị trấn tìm cách sinh nhai giữa bóng tối vây phủ. Lạ, đối tượng là những cô gái thể hình ngồn ngộn xuân tình căng mọng trù phú vùng miền chẳng đá động, ảnh chỉ ưa để mắt tới cần cổ trắng muốt nuột nà của em. Em nhắm mắt xiêu lạc thần hồn giao trứng cho ác và ác chưa bao giờ phải chịu sống cảnh đêm dài lắm mộng. Khi bị hiếp đáp, cơ thể em thất thoát máu ở chỗ lạ thường bởi cửa miệng cửa mình em là thứ ảnh hổng thèm xơi. Ma cà rồng khác người, kẻ thủ ác chỉ đè những nơi nhạy cảm hòng soán đoạt, gửi gấm niềm khoái lạc, cần cổ chỉ dùng để bóp nếu nạn nhân chống cự vùng vằng. Suy ra đêm hôm gặp người mới sợ chứ ma quỷ thì nhằm nhò gì, nhỉ?

Phòng anh luôn có ngọn đèn vàng sáng tỏ năm canh, nó chẳng lẻ loi vì ngoài nó ra còn vuông màn hình cái MacBook Air thường trực xanh tái mặt mày với con trỏ cursor là trái tim bình thản đập của máy. Mùa đông đóng kín cửa, mùa hè rộng mở để đón nhận những tiếng động lạ tai chợt khuấy lên, đâu đó từ thế giới bên ngoài. Một con ma trắng toát có vui chân ghé lại, vắt vẻo trên cành rung cây sát cửa? Anh sống trong mơ như thế, chẳng biết tháng ngày. Viết vẩn vơ, gõ mê muội cho đến hồi tượng hình ra một cuốn sách. Giống đàn bà ở thời gian hậu sản, anh tập cho mình cách nghỉ ngơi. Khác người mẹ mừng vui ôm con thơ trong vòng tay, anh nhìn xuống tập truyện còn thơm mùi giấy mà lòng chẳng mấy vồn vập tự mãn. Anh không đọc lại, anh để chúng nằm yên trong thùng giấy vừa vượt ngàn dặm đường về tay khổ chủ. Chứng mất ngủ vẫn chưa buông tha, như phạm một lời nguyền mãi thức lẻ bóng với canh thâu, với hoài nghi có phải mình vừa làm xong việc rồ dại?

Máy báo có một email vừa tới. “Thưa anh, tình cờ đọc phải mẩu quảng cáo về cuốn sách của anh. Xin anh ghi cho địa chỉ để tôi gửi ngân phiếu mua sách, nếu tiện nhờ anh ký và viết tên Nguyễn Thị Mộng Lành ở trang đầu. Cảm ơn anh”. Ôi Mộng Lành! Giữa cuộc đời lắm hư hao mông quạnh này sao còn có người mang một mỹ từ thuần khiết đáng ngờ đến vậy? Và cái nên tôn vinh là Mộng Lành đã mua mở hàng giúp anh. Anh quen ngủ ngày để đêm hôm trằn trọc, vậy thì Mộng Lành sẽ thao thức nếu đọc những hàng chữ chẳng êm đẹp chút nào của anh. Hãy va chạm với bất ưng cho khỏi rơi vào trạng thái tẻ nhạt, chứ lành mạnh quá thì đời bớt đẹp đi. Anh vui thú hồi âm, chẳng dông dài, chỉ ghi cái địa chỉ thể theo yêu cầu và rồi thắc thỏm chờ đợi. Một tuần mươi ngày cuối cùng lá thư mỏng lét cũng rơi vào thùng. Trên góc bì thư ghi hàng chữ cứng cáp chẳng phải tên Mộng Lành. Nguyễn Văn Đoàn viết: “Trước đây, chị tôi muốn mua một cuốn sách của anh, vì bà ở bên Mỹ xa xôi và bất tiện, biết anh ở cùng thành phố với tôi nên nhờ tôi lấy sách giùm. Làm phiền xin anh một cái hẹn để chúng ta gặp nhau, trao đổi. Sau đây là số điện thoại của tôi. Cám ơn anh. Kính. NVĐ”.

Đoàn nhỏ tuổi thua anh, khác biệt chừng mươi niên. Trẻ không trẻ già không già, cứ cho là trung niên. Đa phần những kẻ ở trong nước, đường tiến thân của họ vạch sẵn hai giai đoạn, phải đoàn mới tới đảng, chưa tính khi còn nhóc con cổ đã luôn quàng khăn đỏ. Đoàn mà anh hẹn gặp trong quán cà phê thì bỏ nước sang đây đã mút mùa lệ thuỷ, nói tiếng Việt lơ lớ khổ sở như đàn bà sắp đẻ. Nếu có vào đảng thì đảng ấy chỉ tinh tường việc sử dụng tiếng Pháp cọng tiếng Anh, ma-dzê in Canada. Ở nhà sợ bố mẹ buồn nên trao đổi kiệm lời chữ quốc ngữ, lớn khôn lao vào trường đời, đời làm trầy vi tróc vảy nên tiếng Việt đành phải cáo chung, phải a bê xê dắt dê đi ỉa, chỉ giữ lại một bộ phận rất nhỏ để phòng khi tối lửa tắt đèn. Gặp kẻ biết nói ngoại ngữ thì ô kê chứ kẻ ấy trên răng dưới dái thì bù trất, tha hồ ông nói gà bà nói vịt. May cho anh và cũng may cho Đoàn, anh hiểu hết những gì Đoàn trình bày vấn đề bằng thứ ngôn ngữ nửa nạc nửa mỡ kia.

Trời đang rộn màu nắng ấm nên cả hai mua cà phê mang ra ngoài hàng hiên, nơi có bàn ghế được cái dù lớn bung ra che chở tạo một vũng râm. Đoàn rất ngán anh ở điểm “giờ này mà còn hút thuốc”. Hắn không nói, anh chỉ dòm vào ánh mắt của hắn thì tự biết. Anh thở khói: Ông bà mình từng ngôn, miếng trầu làm đầu câu chuyện, chốn này hổng có trầu, họ chỉ bán thuốc lá, kệ đi mà, nó hại chỗ nào chưa thấy, chỉ thấy vin nhờ nó mới làm ấm áp buổi chuyện trò này. You know? Đoàn thăm dò: Hình như nhà văn nhà thơ ai cũng hút thuốc? Anh gật đầu: Nói chí phải, Albert Camus viết đâu khoảng hai trăm con chữ thì cái gạt tàn đặt trên bàn đã cao như núi. Đoàn la: Thời đó khác thời buổi này chứ bộ! Anh xác nhận: ừ, thời đó quả là lạc hậu! James Dean các thứ, thảy chết sớm, chết lãng nhách!

Anh trao cho Đoàn cuốn sách. Hắn lật trang đầu để kiểm tra xem chữ Mộng Lành đã nằm đó chưa. Cám ơn anh. Đoàn nói, sách bán được chứ ạ? Anh cất cái phong bì nhỏ nhắn đựng hai chục bạc vào trong túi. Ế chảy, anh trả lời. E chỉ có chị ấy mới mua sách tôi thôi. Đoàn suy nghĩ một hồi mới nói được vài chữ: Bất tiện quá nhỉ! Anh rất có cảm tình với chữ bất tiện, hoá ra không giỏi tiếng Việt cũng có khi “đạt đạo”. Thời bây giờ, thật bất tiện nếu ai kia ưa làm nhà văn! Lối đoạn trường dành cho Thuý Kiều cũng bất tiện chẳng kém. Chẳng biết muốn qua kênh rạch, người đi trên cầu tre lắc lẻo có cảm thấy bất tiện? Kệ đi mà, ví phỏng đường đời bằng phẳng mãi… Bất quá thì “rớt xuống sông ướt cái quần ny-lông”. Rớt, loi ngoi, rong cuốn, uống đôi ngụm nước, chới với, cho cá thia lia rỉa mấy sợi lông mày mới ngộ được giá trị mắc rẻ của bèo. Hãy tự an ủi, mình hơn chúng sinh ở chỗ mình giàu mơ mộng trong khi chúng sinh mãi mê muội lóp ngóp với các giá trị hiện vật tầm thường, chỉ biết trọng của, tham phú phụ bần.

Như thế cái ngó lơ ấy đã giết sự can đảm của mình? Anh nhìn Đoàn, cậu chưa thể lên đảng này nói ra nhiều chữ hay quá! Thay vì dùng cụt hứng, thay vì bảo dội một thau nước lạnh vào mặt, thay vì nói nhạt như nước ốc… Can đảm đồng nghĩa với mất nhuệ khí? Nếu Đoàn giỏi tiếng nước nhà hẳn hắn đã đọc thơ Kiều cho anh nghe:

“Trong khi chắp cánh liền cành,

Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.

Mái tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng”.

Anh thành thật với kẻ không thể đọc văn anh: Đoàn à, tôi lỡ điếc không sợ súng mất rồi và tôi từng ăn đạn lắm khi, trong tôi vẫn còn nguyên lòng can đảm. Cho tôi gửi lời cám ơn chị Mộng Lành nhé. Đoàn bắt tay anh rồi xin kiếu. Anh ngồi bên vỉa hè, một mình cùng cốc cà phê đã nguội. Cũng may đại diện một độc giả phương xa là đứa hơi bị cà lăm cà cặp, chứ nếu miệng hắn có thoa mỡ không chừng khi đối thoại lại bày lắm ngoa ngôn. Không biết thì dựa cột mà nghe, đó là một lời khuyên hữu ích. Anh ngồi dựa lưng ghế nghe gió đi trên đầu nhắn thầm mùa hè đang tới, với nắng nôi, với đổ mồ hôi sôi nước mắt. Với ngày dài uể oải giấc ngủ nướng và đêm thu ngắn những cơn mộng là đà về một cảnh quang không có thật.

Đêm nay có vầng trăng hiện ra lưng chừng giữa khoảng trời xanh màu lam ngọc, thắp lên bạc nhược vì mây dày giăng bủa, rõ là trăng chẳng tròn như trăng Trung quốc được. Đừng cãi, vì chốn đó đẻ ra nhân vật Hằng Nga, phát minh giữ bản quyền bánh Trung Thu và người Việt luôn tâm đắc về chú Cuội. Hứa lèo hứa cuội cũng là bà con với con ma nhà họ Hứa. Anh nhớ có lắm nhà văn từng bảo, khi viết xong một tác phẩm, thảy nó ra ngoài đời thì hãy để nó có số phận riêng mà tác giả không thể can dự xía phần, toàn quyền quyết định nằm ở phía độc giả. Tập truyện của anh hẳn là con trăng chưa ra khỏi trần mây xám và không chắc độc giả đều đáng yêu như Mộng Lành. Người Do Thái có câu nói: “Khi ta mang hoa đến tặng một ai thì chính ta là người đầu tiên đón nhận hương hoa”. Điều này hẳn không dành cho kẻ làm thơ viết văn, anh vừa ngắt đi một chùm hoa và chưa chắc Mộng Lành đã phát hiện chút hương mùi khi đón nhận. Người gửi cũng thế, lòng anh luôn hồ nghi về thứ đặc sản cây nhà lá vườn. Sầu riêng, đã có lắm người nhăn mặt không ngửi được…

Trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh tầm hai ba giờ sáng có kẻ dạ hành bất ngờ hiện ra. Cửa vẫn mở, trăng lặn sao mờ. Đèn vẫn thắp nhưng luồng sáng của nó chẳng đủ sức lấn tới ngoài ban-công, lung linh ở đó ma mị một bóng dáng nữ nhân. Câm tiếng trong chờ đợi, cô ngồi trên thanh gỗ, vắt vẻo. Không có gió nhưng tà áo cô luôn máy động. Đêm hè nóng nhưng từ thân cô mãi xô về anh thứ hơi lạnh tựa máy điều hoà 9.000 BTU đang mở hết công suất. Tôi đã đọc xong tập truyện của anh, tôi thích sáu trên cái mục lục ghi tới mười hai truyện. Cô gái nói, anh có cảm giác như mình đang áp cái iPhone sát tai, bởi đó là âm thanh được ký gửi qua sóng điện thoại, môi cô hình như chẳng mấp máy. Trước, tôi đọc anh khá nhiều nhưng tôi đã quên tuốt, chuyện dễ hiểu vì qua sông tôi đã húp sạch chén cháo lú. Vì thế cứ xem như tôi lần đầu tới làm quen với chữ nghĩa của anh. Sáu trên mười hai, như vậy là mức điểm trung bình. Anh đừng trách, chắc do bởi hồn tôi mãi xiêu lạc tận đâu.

Để định thần, anh với tay tìm lấy bao thuốc đặt trên bàn viết, châm lửa một điếu. Ghế anh ngồi có bốn bánh xe và anh muốn dùng chân thúc đẩy nó di chuyển lại gần cửa. Khuôn mặt người con gái chẳng rõ nét dù khoảng cách đã có thu ngắn. Cúng 49 ngày, đứa em tôi đã đốt cuốn sách mua mở hàng từ anh. Dương thế chưa chắc đã có người đọc xong, nhưng tôi khác, trong vòng nửa giờ tôi xem không bỏ sót, từ đốm lửa đầu tiên thắp lên cho tới hồi tàn lụi trong thau nhôm. Tôi yêu những cuộc tình trắc trở đầy thương tật do anh dựng nên, tôi mến những hoài nghi anh luôn đặt ra, rằng đời sống luôn bày những ngược ngạo trái khuấy. Tên tôi còn đó là mơ ước không thể nào thành tựu, tôi luôn không gặp mộng lành. Anh chưa qua khỏi bến mê, chưa đón nhận chén cháo lú nhưng tôi biết giờ đây anh cũng đang ăn cháo. Làm sao anh ăn cơm được khi chẳng có con ma nào thèm mua sách của anh. Hãy cầm cự để sống thở, hãy vui vì thứ đặc ân kia.

Anh chẳng hút hơi nào, điếu thuốc tự nó cháy cụt bề dài, tàn rơi xuống đồng thời Mộng Lành thôi còn ngồi ở đó nữa. Một con ma? Anh ngờ vực và anh không tin. Trần gian này sẽ chẳng hiện được bóng ma nào đáng yêu đến thế. Không khiến mình sợ hãi đã đành, nó còn biết trấn an anh, nhắn nhủ tới anh đôi lời mà ngay cả bằng hữu cũng chẳng thành tâm để thốt ra. Dù sao thì anh cũng kéo hết những ngăn tủ để tìm cho ra bó nhang, anh thắp ba cây rồi đứng ngoài bao lơn mà chắp tay vái tứ phương. Tôi cũng giống Mộng Lành ở chỗ, một kẻ bị mất ngủ kẻ ấy làm sao đón nhận mộng lành. Tôi ngủ bù ban ngày và thường gặp cảnh ma đè, thân trì nặng mà trí óc mụ mị nhớ trước quên sau. Nếu Mộng Lành linh thiêng, xin hằng đêm hãy ghé ngang tôi trò chuyện. Ngày mai tôi dùng hai chục bạc tiền người em mua sách để đi sắm sửa ít trái cây, tôi sẽ nấu nước pha trà cho Mộng Lành uống. Tôi sẽ đặt một cuốn sách của tôi ngay chỗ Mộng Lành ngồi, để lỡ như “bất tiện” không thể ghé được, xin làm dấu cho tôi biết bằng cách gạt cuốn sách ấy xuống đất. Anh mất ngủ. Anh đốt thuốc, anh uống cà phê đen đậm đặc. Anh bắt ghế ngồi với trăng lu nhưng Mộng Lành đã không ghé ngang. Nói cho đúng, cô chẳng thích trò chuyện nữa, bởi vì nhiều lần cô đã làm cho tập truyện rơi xuống đất. Anh cũng chẳng buồn khom lưng nhặt lên. Sách anh nằm ngoài đó hằng đêm, với gió nhẹ với sương sa và nó bắt đầu đổi màu vàng úa. Anh biết, gió sẽ từ tốn lật giở từng trang ẩm lạnh trong khi chẳng một ai gửi email về cho anh, trống trải một hòm thư. Phải giết thời gian thôi, thay vì vùi mặt vào gối chăn. Anh gõ chữ vào vuông hình trắng toát nhan truyện mới: Hư Không.

Hồ Đình Nghiêm

Montréal, 29.5.2017

Anh ‘phắc-tơ’!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Apr 2026

Bưu Điện, từ Hán Việt gồm bưu tín và điện tín. Rồi có những danh từ khác cùng họ ‘Bưu’ lần lượt ra đời như: bưu kiện, bưu phẩm, bưu phiếu. Rồi bưu cục. Cuối cùng đến bưu tá.
Tiếng Nôm mình gọi là chú đưa thơ (nếu già háp) hoặc anh phát thơ (nếu tuổi xuân hơ hớ).
Còn tiếng Tây, tiếng U rốp rốp như bẻ mía, nổ ‘pằng pằng’ để lòe thiên hạ là ‘phắc-tơ’ (facteur).
Sỡ dĩ mà trong ngành Bưu Điện nước mình xài rất nhiều tiếng Tây là vì vào thế kỷ thứ 19, khi thực dân Pháp chiếm nước mình, đặt guồng máy cai trị thì một trong những việc đầu tiên Tây nó làm là cất ra cái Bưu Điện.
Chi vậy? Thì để ông Tây có thể gởi về Bà đầm, em yêu dấu, những bức thơ tình (bưu tín), xa quê hương nhớ em hiền. Em ơi em hỡi đây tiền của anh (bưu phiếu)
Chính vì vậy Tòa Đô Chánh thời VNCH mình tức Dinh Xã Tây đã xưa thiệt là xưa thì Sở Bưu điện Sài Gòn còn xưa hơn nữa.
Ty Bưu Điện bà con mình còn gọi là Nhà Dây Thép. Vì hồi xưa đánh ‘morse’, tức điện tín là truyền qua đường dây thép mắc trên cột giăng giăng dọc theo đường quốc lộ 4.
VC đêm đêm thường hay bò ra, đứa đào đường đắp mô, đứa đốn mấy cây cột nầy. Gọi là chiến tranh phá hoại!
Sau Mỹ qua, kỹ thuật tối tân hơn, xây sau lưng mỗi Ty Bưu Điện một cái đài vi ba để truyền sóng. Phá không được thì VC lại căn vào cái đỉnh đài nầy (cao tới 124 mét gồm 21 tầng bằng khung sắt lớn nhỏ), trên có cái đèn lân tinh cho máy bay nó thấy đường mà tránh làm điểm chuẩn để bắn vào thị xã Mỹ Tho; làm tui phải chạy tóe khói đêm đêm lom khom dông lẹ xuống hầm trú ẩn chất đầy năm lớp bao cát. Mà tiếng ‘đề ba’ nghe cái bụp cũng không xa; đạn cối 120 ly của Trung Cộng bay vèo vèo rồi u u sắp nổ.

Đạn tiếp đất, lóa sáng, nổ, miểng bay rào rào văng lên mái ngói như người ta vãi gạo lên cái mâm thau vậy đó!
Tổ cha mấy thằng pháo kích. Mãi sau Thám sát Tỉnh ra rình, rượt chúng chạy có cờ, bỏ lại cây súng cối mà bàn tiếp hậu bự chảng thì nhà tui đang ở mới được tạm yên.
Ty Bưu Điện Mỹ Tho, số 31 và 33 đường Gia Long, dọc theo bờ sông Mỹ Tho, nơi người viết từng đến ở, xưa từ năm 1864, chỉ hai năm sau lúc Tây chiếm được 3 tỉnh Miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường và Biên Hòa) năm 1862.


Tường nhà không phải bằng xi măng mà bằng cát pha với mật đường. Quạt trần thì cánh bằng cây, quay rột rẹt cho vui; chớ không mát mẻ gì ráo trọi.
(Mấy cái Ty Bưu Điện theo phong cách Pháp nầy rất đẹp! Đúng ra là phải được đưa vào di tích lịch sử để bảo tồn! Nhưng VC vô, nó nhẫn tâm kéo sập hết trơn. Vì phá rồi cất cái mới, mới có cái để mà ăn!)
Vị trí Ty Bưu Điện rất đắc địa, nhứt cận thị; nhị cận giang, gần chợ; gần sông; nằm giữa trung tâm thị tứ để bà con mình dễ dàng tới lui mua cò gởi thơ.
Thu nhập của Bưu Điện hồi xưa đa phần dựa vào việc bán tem (timbre), cò cho người gởi thơ! (Giờ thì bị ‘email’ nó giết, ngắc ngoải lần hồi rồi chết ngắc luôn cho coi!)
Cái gì đứng nép vào một góc mà có thể chu du toàn thế giới? Câu trả lời là con cò dán vào góc bì thơ là nó biết bay!
Con cò cũng đĩnh đạc đi vào ca dao, qua câu: “Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No. Anh có thương em thì cho một chiếc đò. Để em đi lại mua cò gởi thơ!”
(Mua một con cò mà em xin tới một chiếc đò lận he? Đò dĩ nhiên là lớn hơn ghe tam bản rồi. Lớn hơn tất mắc tiền hơn!
Ông cố nội nào có em yêu khôn giàn trời mây như vậy thì chưa rờ được tới cọng lông chưn của em thì đà ‘băng rắp’)

Con cò hay con tem có hai mặt! Mặt trước in hình lãnh tụ, giơ tay chào vĩnh biệt nhân dân hay chỉ tay tới phía trước để cho nhân dân XHCN (Xuống hố cả nước). Mặt sau có phết sẵn một lớp keo.
Nên quý bạn đọc thân mến có nghe cái tin là Bưu Điện Nga vừa thu hồi những con tem mới nhứt có in hình lãnh tụ CS Liên Xô, nhà độc tài đỏ Stalin không?
Hình Stalin oai phong lẫm kiệt quá mà, để ria mép, ngực mang một đống ‘mề đay’ tại sao lại phải thu hồi?
Chẳng qua là dân Nga bối rối, hỏng biết phải phun nước miếng vào mặt nào!
Còn đứa nào nhát, sợ bọn KGB, thì phun nước miếng lên chỗ dán keo, bỏ vô thùng thơ thì cái thằng cha Bưu tá lôi ra, dùng cái mộc bằng kim loại tròn vo, đóng một cái rầm vô mặt lãnh tụ khát máu Stalin.
Làm cho dân căm hờn thì không có chạy Trời cho khỏi nắng nhe!

Hồi Việt Nam Cộng Hòa mình, Tổng Nha Bưu Điện đặt ở thủ đô Sài Gòn, gần Vương Cung Thánh Đường.
Dưới Tổng Nha thì có Nha Bưu Điện Trung Phần, Nha Bưu Điện Nam Phần.
Ở các tỉnh, mình có Ty Bưu Điện. Ở Quận thì có Chi Bưu Điện, còn quận nhỏ thì có Đại lý Bưu Chính.
Sau 75 miền Nam thất thủ, quân nhân từ Thiếu úy, công chức trung cấp trở lên đều bị VC kêu trình diện học tập cải tạo, thực chất là đi ở tù.
Nên có cái chuyện thiệt cười ra nước mắt như vậy: Quận Kế Sách thuộc tỉnh Ba Xuyên không có Chi Bưu Điện mà chỉ có Đại lý Bưu Chính với nhiệm vụ nhận và phát thơ cho đồng bào trong quận và chuyển về tới xã cho bà con tới lấy.
Người phụ trách là một nghĩa quân được tăng phái qua làm Đại lý Bưu Chính. Ông nầy cũng đi trình diện nhưng trong khi những người lính khác chỉ học tập năm, ba bữa cùng lắm nửa tháng là được thả. Trong khi ông bị nhốt tới 6 tháng Trời mà không biết lý do tại làm sao? Cuối cùng thì mới biết tại vì trong tờ lý lịch, ông nghĩa quân khai rằng: Ngụy quân: Nghĩa quân. Nguỵ quyền: Đại lý Bưu Chính.

VC cho là nghĩa quân mà lên tới chức ‘Đại úy’ Bưu Chính, (tội ác chống nhân dân quá dầy) nên nhốt ông mút chỉ cà tha đến khi thả về má bầy trẻ nhìn không có ra luôn?!Chắc bà con mình ai cũng thấy người ‘phắc-tơ’, Úc gọi là ‘postie’, cỡi chiếc xe gắn máy tay ga hiệu Honda và ăn mặc che kín mặt mũi từ đầu tới chân như phi hành gia Mỹ Neil Amstrong sắp đổ bộ xuống mặt trăng.
Che kín mít; dù Trời mưa hay nắng; dù rét thấu xương hay nóng chảy mỡ!
Tại sao mà khờ như vậy chớ? Dà hỏng dám khờ đâu mà vì mấy cha ‘phắc-tơ’ nầy sợ bị chó cắn đó bà con ơi!
Tuy cái nghề coi nguy hiểm vì phải đi chích ngừa chó dại nếu cớ sự xảy ra; nhưng cũng có niềm vui, những phần thưởng kỳ thú bất ngờ như câu chuyện dưới đây:
Bà Nội của Judy một hôm kể lại chuyện tình của tôi cho cháu gái mình nghe: Bà đang nồng ấm, hò hẹn với một anh chàng thì đất bằng bỗng nổi phong ba. Chiến tranh nổ ra và chàng phải theo tiếng gọi tòng quân, sơn hà nguy biến mà lên đường giết giặc.
Đôi ta mỗi tuần đều viết những thơ tình ướt át, muồi mẩn, đẫm đầy thương nhớ, anh tiền tuyến; em hậu phương!
“Rồi bà Nội kết hôn với ông Nội khi chiến tranh chấm dứt ông trở về trong khúc hoan ca hả?!”
“Đâu có nè! Ông Nội của con là người ‘phắc–tơ’ đó!”
Còn câu chuyện thứ hai cụp lạc hơn nữa kìa làm tui phải phát ganh với mấy cha ‘phắc-tơ’ nầy quá!
Chuyện rằng: Sau 35 năm làm nghề đưa thư dù trời mưa hay nắng trong cái postcode, khu bưu chính, của mình. Có bắt đầu là có kết thúc ngày cuối cùng rồi cũng đến. Ngày mai anh ‘phắc-tơ’ sẽ về hưu.
Khi đến căn nhà đầu đường cả gia đình ra chào đón, chúc mừng anh tháo ách cởi cày! Trong phong bì là một món quà nho nhỏ 20 đô kèm theo là cái thiếp cám ơn!
Căn nhà thứ hai tặng anh một một hộp xì gà Cuba thượng hảo hạng mà Fidel Castro thường hay ngậm trong mồm.
Căn nhà thứ ba thì tặng anh ‘phắc-tơ’ một cái cần câu loại xịn để ra sông câu cá về nấu canh chua mà nhậu, khỏi phải tốn tiền ra chợ Footscray mà mua.
Căn thứ tư, một em Úc đẹp tuyệt vời và hấp dẫn như người mẫu chân dài nhưng đầu hơi bị ngắn!
Em cười tươi như hoa mười giờ buổi sáng. Nàng nhẹ nhàng cầm lấy tay anh, dẫn qua khung cửa rồi cũng nhẹ nhàng đóng lại.
Chưa hết ngạc nhiên thì nàng dẫn anh lên phòng ngủ trên lầu. Rồi dầy dầy đúc sẵn một tòa thiên nhiên.
Xưa giờ đâu có bịnh gì đâu mà cử… nên nàng đã làm anh ‘phắc- tơ’ bay bổng vào cõi thiên thai.
Khi đã xong xuôi, nàng lại nắm tay anh, chu choa tình thôi hết biết, đưa xuống cầu thang!
Rồi từ trong bếp, nàng dọn ra một bữa ăn sáng mà dân Hoàng gia mới được thưởng thức. Nào trứng chiên, khoai tây nghiền, thịt heo xông khói và cả ly nước cam vắt, đầy ú ụ, cho chàng lại sức.
Xong chấm dứt bằng ly cà phê pha kiểu Ý, gọi là ‘cappuccino’! Trên lớp váng kem có rắc thêm bột chocolate. Thiệt là bùi bùi, béo béo.
Nhưng chưa hết, nàng còn móc trong túi ra để tặng chàng một đô la.
Cực kỳ cảm động anh ‘phắc-tơ’ cám ơn: “Trong suốt 35 năm dầm mưa dãi nắng đưa thơ tui mới được ngày quá đã như vầy!”
Em cười chúm chím như nụ hoa hàm tiếu, thỏ thẻ hàng hàng châu ngọc như vầy: “Anh ‘phắc tơ’ không cần phải cám ơn em. Chẳng qua em làm theo chồng em dặn trước khi đi làm đấy thôi!
Khi hỏi ý kiến của anh ấy là tặng anh ‘phắc- tơ’ sắp về hưu món quà gì thì chàng bảo em rằng: “Bụp cho nó một cái! Rồi cho nó một đô la!”
Còn cái bữa điểm tâm cực kỳ thịnh soạn nầy mới là ý tưởng của em!”Kiếp sau, chắc tui sẽ xin Diêm Vương cho đầu thai lên làm ‘phắc- tơ’ mới được!

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 2 Nov 2019

Post by Sơn râu 4 Apr 2026

Kỳ 2.

Hơn 3 năm và sau 6 lần thay thế Tiểu đoàn trưởng, đơn vị vẫn chưa thoát khỏi cái cốt của một đơn vị Dân sự Chiến Đấu. Chính vị Tiểu Đoàn Trưởng Vương Mộng Long đã thay da đổi thịt nó trở thành một Tiểu đoàn lừng lẫy nhất của QLVNCH.

Chính vì có những buổi thực tập dã ngoại thường xuyên này mà những đơn vị dưới quyền tôi hiếm có cảnh “nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, siết ngón tay trỏ, đạn vút lên mây” khi trực diện với địch quân.

Người ta nói “văn ôn võ luyện” cũng đúng!

Công tác chấn chỉnh và cải tổ đơn vị của tôi chưa hoàn tất thì Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã ra tay trước. Giữa tháng Tư năm 1974, một trận đánh đẫm máu và ác liệt đã xảy ra ở Căn cứ Hỏa Lực 711 khiến đài BBC mô tả trong một bài tường thuật: “Ðây là trận đánh mà tổn thất của đôi bên được coi là cao nhất kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris”

Thế rồi chiến tranh tiếp tục leo thang, Hiệp định Paris không còn hiệu lực, Việt Cộng công khai tấn công lấn chiếm, mở rộng vùng kiểm soát. Tháng 5 năm 1974 chúng ngang nhiên đánh chiếm Dak Pek và Mang Buk giữa ban ngày, mặc dù hai địa danh này hiện diện rành rành trên bản đồ đình chiến là của Việt-Nam Cộng-Hòa, vậy mà Ủy-Hội Quốc-Tế cũng chỉ trơ mắt ngó mà thôi. Hiển nhiên mục tiêu sắp tới của Cộng Quân chắc chắn sẽ là Pleime!

o O o

Từ ngày tiếp nhận Căn cứ Pleime, tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để tổ chức nội vi căn cứ này thành một cứ điểm phòng thủ vững chắc.

Trên mặt đất của trại Pleime đúng là một “Trận Ðồ” chằng chịt hàng rào kẽm gai và giao thông hào. Hai cái cổng Bắc và Nam lại là nơi rào kỹ nhất. Từ dốc vườn rau, vào tới trung tâm hành quân xa không tới hai trăm thước, vậy mà muốn đi qua đoạn đường này cũng mất cả chục phút loanh quanh trong hàng rào gai dích dắc.

Trại Pleime có 6 cạnh, 6 góc, mỗi góc có một pháo đài kiên cố xây bằng xi măng cốt sắt. Tôi đặt tên cho các pháo đài theo thứ tự 1 tới 6, theo chiều quay của kim đồng hồ. Hướng Ðông là các pháo đài 1, 2, 3, hướng Tây là các pháo đài 4, 5, 6.

Sau khi tôi dựng thêm hai lô cốt phụ nơi cổng Bắc và cổng Nam thì vòng đai trong của trại này có 8 pháo đài kiên cố.

Bình thường các quân nhân trong đồn chỉ cần nói họ đang ở gần pháo đài số mấy, người nghe sẽ biết vị trí hiện tại của anh ta ngay.

Các đại đội cũng được phân chia khu vực trách nhiệm cố định, họ sẽ quen với cảnh vật hàng ngày trước mắt họ, nếu có gì khác lạ, họ sẽ nhận ra ngay.

Tôi tiên đoán mặt Tây sẽ là hướng tấn công chính của địch, do đó tôi cho dựng một cái hầm chỉ huy ngay giữa sân cờ. Từ đây, tôi có thể theo giao thông hào mà di chuyển tới các Pháo đài 1 (Ðông Bắc), Pháo đài 6 (Tây Bắc), Pháo đài 5 (Tây), và Pháo đài 4 (Tây Nam). Ông tiểu đoàn phó giữ Pháo đài số 2, còn Pháo đài số 3 nằm ngay sát trung đội pháo binh nên Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng pháo binh biên phòng, sẽ kiêm nhiệm chỉ huy cứ điểm này. Trong hầm chỉ huy dã chiến có ban Truyền Tin của Trung úy Nguyễn Công Minh và Binh nhì Y Don Nier, người mang máy nội bộ của tiểu đoàn trưởng.

Tôi và Thiếu úy Trần Văn Phước, sĩ quan Ban 2 ở chung một hầm, cách hầm chỉ huy vài mét về hướng hàng rào.

Vây quanh căn hầm của tôi là ba cụm tam tam của ba toán viễn thám, mỗi toán trang bị hai thùng lựu đạn M26 và một đại liên M60.

Những ngày tình hình căng thẳng nhứt thì mặt đất chứa đầy mìn Claymore phòng khi bị địch tràn ngập.

Suốt thời gian xảy ra chiến dịch Pleime 1974, tôi đã phải đích thân chỉ huy, điều khiển các điểm tác chiến, từng lô cốt, từng pháo đài, từng khẩu đội, vì nếu xảy ra một hoạt động không ăn khớp có thể sẽ đưa tới thảm họa.

Chỉ cần mở được một cửa khẩu, Ðặc-Công Việt-Cộng có thể đánh thẳng vào trung thâm. Nếu Việt-Cộng vào được trung thâm, triển khai được giai đoạn “Hoa nở trong lòng địch” là ta mất đồn! (Trung thâm: Danh từ của Ðặc-Công Việt-Cộng dùng để chỉ nơi đặt chỉ huy sở hay vị trí đầu não của ta)- (Hoa nở trong lòng địch: Từ trong đánh ra theo nhiều hướng. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong một trận đánh Ðặc-Công của Việt-Cộng)

Tôi làm việc bằng điện thoại, khẩu lệnh, thủ lệnh và máy truyền tin nội bộ. Vì thế mà nhiều khi, liên đoàn muốn ra lệnh cho tôi, họ phải gọi qua trung tâm hành quân của trại, từ đây sĩ quan Ban 3 của tôi sẽ chuyển lại cho tôi.

Trung tâm hành quân tiểu đoàn vì có cái anten cao do Mỹ để lại nên trở thành nơi độc nhứt có thể liên lạc vô tuyến với Căn cứ 711 và đài tiếp vận Hàm Rồng.

Trung tâm hành quân là một lô cốt kiên cố, xây bằng xi măng, cốt sắt, thêm hai tầng nóc lợp bằng bao cát và vỉ sắt tổ ong chống đạn nổ chậm. Ngồi trong hầm, đôi khi không nghe được tiếng đạn cối nổ ở ngoài sân cờ.

Sát cạnh trung tâm hành quân là một hầm lộ thiên hình tròn xây bằng bao cát, trong vòng tròn là mũi tên lửa chỉ điểm mục tiêu.

Mũi tên lửa này được đốt bằng dầu Diesel thắp sáng suốt đêm, nó có thể quay 360 độ một cách dễ dàng, đầu nhọn của nó luôn luôn quay về hướng địch.

Nếu không có nhu cầu tác xạ, thì trước khi rời vùng, để giải tỏa bom đạn, máy bay Hỏa Long hay Gunship cứ việc phóng hỏa tiễn hay bắn phá cách xa Pleime 3 cây số theo hướng mũi tên.

Tiểu đội Lao Công Chiến Trường đã hoàn thành những công trình này dưới sự chỉ huy của Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng đại đội trưởng đại đội chỉ huy.

Tiểu đoàn 82 có một tiểu đội Lao Công Chiến Trường. Họ là những cựu quân nhân can tội khác nhau nên bị đày ra tiền tuyến làm những công việc hiểm nguy và cực nhọc.

Tôi đặc biệt lưu ý tới những người này, bố trí cho họ vào từng vị trí thích hợp với khả năng của mỗi người. Dưới bàn tay tôi, những tội nhân đó đã trở về với vị trí chuyên môn của họ, họ trở thành xạ thủ đại liên, xạ thủ cối 81 ly, trinh sát viên, tiểu đội trưởng, toán trưởng toán thám sát, hoặc chuyên viên sửa chữa vũ khí.

Ðể tất cả binh sĩ chú tâm vào công tác tổ chức phòng thủ, tôi ra lệnh cho tất cả thân nhân gia đình binh sĩ phải rời Pleime theo chuyến tiếp tế thường kỳ ngay sau ngày phát lương cuối tháng 6 năm 1974. Ở Pleiku tôi vừa tiếp nhận doanh trại của Ðại đội 2 Quân Y Biệt Ðộng Quân, doanh trại này rất đầy đủ tiện nghi, nên những anh em có gia đình không phải lo lắng chuyện nơi ăn chốn ở của vợ con họ.

Tôi là dân Tình Báo Tác Chiến, nên ngày nào tôi cũng duyệt các bản tin A2 mà Ban Truyền Tin của đơn vị trình lên.

Tôi lấy làm lạ là ngày nào cũng vậy, cứ mình vừa gửi công điện báo cáo vị trí đêm của các cánh quân về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thì chỉ hai giờ sau bản tin A2 đã thông báo rằng Việt-Cộng vừa gửi cho nhau toàn bộ vị trí đóng quân của quân bạn, chính xác tới độ y như nguyên văn!

Tôi nghĩ rằng ở bộ chỉ huy có nội tuyến, hoặc là đặc lệnh truyền tin của bộ chỉ huy đã bị tiết lộ nên mới có tình trạng này.

Ðể phòng thân, tôi nghĩ ra một bản mã riêng, rồi photocopy ra 2 bản, ban truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ một bản, bản kia tôi đem về trao tận tay cho Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2.

Mỗi đêm tiểu đoàn tôi gửi về Pleiku bản tin đóng quân dưới bộ mã mới. Vì thế, từ ấy, chỉ có một mình tiểu đoàn tôi là không bị địch phát giác vị trí đêm và các vị trí dã ngoại.

Gần nửa thế kỷ sau ngày đó, chú Hoạ Mi 82 tức Trung úy Nguyễn Công Minh, trưởng ban truyền tin của đơn vị tôi vẫn chưa quên chuyện cái đặc lệnh truyền tin ngoại lệ này.

Và 40 năm sau chiến tranh, nhân một lần trò chuyện bằng điện thoại, cựu Chuẩn tướng Phạm Duy Tất đã hỏi tôi,

– Ngày đó Long có nghi thằng đại đội trưởng đại đội truyền tin của mình là Việt-Cộng không?

Tôi nói,

– Ðúng là chuyện trời sập! Thuở ấy ai mà dám nghi cho nó! Nó là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt! Nó lại là đồ đệ ruột của Trường An! Trường An tin tưởng nó còn hơn ai hết. Sau này có lệnh của trung ương bắt các sĩ quan không tác chiến phải ra đơn vị hành quân, ít ra là sáu tháng, Trường An đưa nó đi tiểu đoàn nào vậy?

“Trường An” là biệt danh của Ðại tá (sau là Chuẩn tướng) Phạm Duy Tất. Ông Tất cười hì hì,

– Thì anh ta vẫn còn ở bộ chỉ huy chứ có đi đâu đâu! Ngày Pleiku di tản không rõ anh ta núp chỗ nào? Mãi về sau mới nghe đồn rằng anh ta là nội tuyến!

Kỳ 2.

Hơn 3 năm và sau 6 lần thay thế Tiểu đoàn trưởng, đơn vị vẫn chưa thoát khỏi cái cốt của một đơn vị Dân sự Chiến Đấu. Chính vị Tiểu Đoàn Trưởng Vương Mộng Long đã thay da đổi thịt nó trở thành một Tiểu đoàn lừng lẫy nhất của QLVNCH.

Chính vì có những buổi thực tập dã ngoại thường xuyên này mà những đơn vị dưới quyền tôi hiếm có cảnh “nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, siết ngón tay trỏ, đạn vút lên mây” khi trực diện với địch quân.

Người ta nói “văn ôn võ luyện” cũng đúng!

Công tác chấn chỉnh và cải tổ đơn vị của tôi chưa hoàn tất thì Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã ra tay trước.

Giữa tháng Tư năm 1974, một trận đánh đẫm máu và ác liệt đã xảy ra ở Căn cứ Hỏa Lực 711 khiến đài BBC mô tả trong một bài tường thuật: “Ðây là trận đánh mà tổn thất của đôi bên được coi là cao nhất kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris”

Thế rồi chiến tranh tiếp tục leo thang, Hiệp định Paris không còn hiệu lực, Việt Cộng công khai tấn công lấn chiếm, mở rộng vùng kiểm soát. Tháng 5 năm 1974 chúng ngang nhiên đánh chiếm Dak Pek và Mang Buk giữa ban ngày, mặc dù hai địa danh này hiện diện rành rành trên bản đồ đình chiến là của Việt-Nam Cộng-Hòa, vậy mà Ủy-Hội Quốc-Tế cũng chỉ trơ mắt ngó mà thôi. Hiển nhiên mục tiêu sắp tới của Cộng Quân chắc chắn sẽ là Pleime!

o O o

Từ ngày tiếp nhận Căn cứ Pleime, tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để tổ chức nội vi căn cứ này thành một cứ điểm phòng thủ vững chắc.

Trên mặt đất của trại Pleime đúng là một “Trận Ðồ” chằng chịt hàng rào kẽm gai và giao thông hào. Hai cái cổng Bắc và Nam lại là nơi rào kỹ nhất. Từ dốc vườn rau, vào tới trung tâm hành quân xa không tới hai trăm thước, vậy mà muốn đi qua đoạn đường này cũng mất cả chục phút loanh quanh trong hàng rào gai dích dắc.

Trại Pleime có 6 cạnh, 6 góc, mỗi góc có một pháo đài kiên cố xây bằng xi măng cốt sắt. Tôi đặt tên cho các pháo đài theo thứ tự 1 tới 6, theo chiều quay của kim đồng hồ. Hướng Ðông là các pháo đài 1, 2, 3, hướng Tây là các pháo đài 4, 5, 6.

Sau khi tôi dựng thêm hai lô cốt phụ nơi cổng Bắc và cổng Nam thì vòng đai trong của trại này có 8 pháo đài kiên cố.

Bình thường các quân nhân trong đồn chỉ cần nói họ đang ở gần pháo đài số mấy, người nghe sẽ biết vị trí hiện tại của anh ta ngay.

Các đại đội cũng được phân chia khu vực trách nhiệm cố định, họ sẽ quen với cảnh vật hàng ngày trước mắt họ, nếu có gì khác lạ, họ sẽ nhận ra ngay.

Tôi tiên đoán mặt Tây sẽ là hướng tấn công chính của địch, do đó tôi cho dựng một cái hầm chỉ huy ngay giữa sân cờ. Từ đây, tôi có thể theo giao thông hào mà di chuyển tới các Pháo đài 1 (Ðông Bắc), Pháo đài 6 (Tây Bắc), Pháo đài 5 (Tây), và Pháo đài 4 (Tây Nam). Ông tiểu đoàn phó giữ Pháo đài số 2, còn Pháo đài số 3 nằm ngay sát trung đội pháo binh nên Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng pháo binh biên phòng, sẽ kiêm nhiệm chỉ huy cứ điểm này. Trong hầm chỉ huy dã chiến có ban Truyền Tin của Trung úy Nguyễn Công Minh và Binh nhì Y Don Nier, người mang máy nội bộ của tiểu đoàn trưởng.

Tôi và Thiếu úy Trần Văn Phước, sĩ quan Ban 2 ở chung một hầm, cách hầm chỉ huy vài mét về hướng hàng rào.

Vây quanh căn hầm của tôi là ba cụm tam tam của ba toán viễn thám, mỗi toán trang bị hai thùng lựu đạn M26 và một đại liên M60.

Những ngày tình hình căng thẳng nhứt thì mặt đất chứa đầy mìn Claymore phòng khi bị địch tràn ngập.

Suốt thời gian xảy ra chiến dịch Pleime 1974, tôi đã phải đích thân chỉ huy, điều khiển các điểm tác chiến, từng lô cốt, từng pháo đài, từng khẩu đội, vì nếu xảy ra một hoạt động không ăn khớp có thể sẽ đưa tới thảm họa.

Chỉ cần mở được một cửa khẩu, Ðặc-Công Việt-Cộng có thể đánh thẳng vào trung thâm. Nếu Việt-Cộng vào được trung thâm, triển khai được giai đoạn “Hoa nở trong lòng địch” là ta mất đồn! (Trung thâm: Danh từ của Ðặc-Công Việt-Cộng dùng để chỉ nơi đặt chỉ huy sở hay vị trí đầu não của ta)- (Hoa nở trong lòng địch: Từ trong đánh ra theo nhiều hướng. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong một trận đánh Ðặc-Công của Việt-Cộng)

Tôi làm việc bằng điện thoại, khẩu lệnh, thủ lệnh và máy truyền tin nội bộ. Vì thế mà nhiều khi, liên đoàn muốn ra lệnh cho tôi, họ phải gọi qua trung tâm hành quân của trại, từ đây sĩ quan Ban 3 của tôi sẽ chuyển lại cho tôi.

Trung tâm hành quân tiểu đoàn vì có cái anten cao do Mỹ để lại nên trở thành nơi độc nhứt có thể liên lạc vô tuyến với Căn cứ 711 và đài tiếp vận Hàm Rồng.

Trung tâm hành quân là một lô cốt kiên cố, xây bằng xi măng, cốt sắt, thêm hai tầng nóc lợp bằng bao cát và vỉ sắt tổ ong chống đạn nổ chậm. Ngồi trong hầm, đôi khi không nghe được tiếng đạn cối nổ ở ngoài sân cờ.

Sát cạnh trung tâm hành quân là một hầm lộ thiên hình tròn xây bằng bao cát, trong vòng tròn là mũi tên lửa chỉ điểm mục tiêu.

Mũi tên lửa này được đốt bằng dầu Diesel thắp sáng suốt đêm, nó có thể quay 360 độ một cách dễ dàng, đầu nhọn của nó luôn luôn quay về hướng địch.

Nếu không có nhu cầu tác xạ, thì trước khi rời vùng, để giải tỏa bom đạn, máy bay Hỏa Long hay Gunship cứ việc phóng hỏa tiễn hay bắn phá cách xa Pleime 3 cây số theo hướng mũi tên.

Tiểu đội Lao Công Chiến Trường đã hoàn thành những công trình này dưới sự chỉ huy của Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng đại đội trưởng đại đội chỉ huy.

Tiểu đoàn 82 có một tiểu đội Lao Công Chiến Trường. Họ là những cựu quân nhân can tội khác nhau nên bị đày ra tiền tuyến làm những công việc hiểm nguy và cực nhọc.

Tôi đặc biệt lưu ý tới những người này, bố trí cho họ vào từng vị trí thích hợp với khả năng của mỗi người. Dưới bàn tay tôi, những tội nhân đó đã trở về với vị trí chuyên môn của họ, họ trở thành xạ thủ đại liên, xạ thủ cối 81 ly, trinh sát viên, tiểu đội trưởng, toán trưởng toán thám sát, hoặc chuyên viên sửa chữa vũ khí.

Ðể tất cả binh sĩ chú tâm vào công tác tổ chức phòng thủ, tôi ra lệnh cho tất cả thân nhân gia đình binh sĩ phải rời Pleime theo chuyến tiếp tế thường kỳ ngay sau ngày phát lương cuối tháng 6 năm 1974. Ở Pleiku tôi vừa tiếp nhận doanh trại của Ðại đội 2 Quân Y Biệt Ðộng Quân, doanh trại này rất đầy đủ tiện nghi, nên những anh em có gia đình không phải lo lắng chuyện nơi ăn chốn ở của vợ con họ.

Tôi là dân Tình Báo Tác Chiến, nên ngày nào tôi cũng duyệt các bản tin A2 mà Ban Truyền Tin của đơn vị trình lên.

Tôi lấy làm lạ là ngày nào cũng vậy, cứ mình vừa gửi công điện báo cáo vị trí đêm của các cánh quân về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thì chỉ hai giờ sau bản tin A2 đã thông báo rằng Việt-Cộng vừa gửi cho nhau toàn bộ vị trí đóng quân của quân bạn, chính xác tới độ y như nguyên văn!

Tôi nghĩ rằng ở bộ chỉ huy có nội tuyến, hoặc là đặc lệnh truyền tin của bộ chỉ huy đã bị tiết lộ nên mới có tình trạng này.

Ðể phòng thân, tôi nghĩ ra một bản mã riêng, rồi photocopy ra 2 bản, ban truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ một bản, bản kia tôi đem về trao tận tay cho Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2.

Mỗi đêm tiểu đoàn tôi gửi về Pleiku bản tin đóng quân dưới bộ mã mới. Vì thế, từ ấy, chỉ có một mình tiểu đoàn tôi là không bị địch phát giác vị trí đêm và các vị trí dã ngoại.

Gần nửa thế kỷ sau ngày đó, chú Hoạ Mi 82 tức Trung úy Nguyễn Công Minh, trưởng ban truyền tin của đơn vị tôi vẫn chưa quên chuyện cái đặc lệnh truyền tin ngoại lệ này.

Và 40 năm sau chiến tranh, nhân một lần trò chuyện bằng điện thoại, cựu Chuẩn tướng Phạm Duy Tất đã hỏi tôi,

– Ngày đó Long có nghi thằng đại đội trưởng đại đội truyền tin của mình là Việt-Cộng không?

Tôi nói,

– Ðúng là chuyện trời sập! Thuở ấy ai mà dám nghi cho nó! Nó là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt! Nó lại là đồ đệ ruột của Trường An! Trường An tin tưởng nó còn hơn ai hết. Sau này có lệnh của trung ương bắt các sĩ quan không tác chiến phải ra đơn vị hành quân, ít ra là sáu tháng, Trường An đưa nó đi tiểu đoàn nào vậy?

“Trường An” là biệt danh của Ðại tá (sau là Chuẩn tướng) Phạm Duy Tất. Ông Tất cười hì hì,

– Thì anh ta vẫn còn ở bộ chỉ huy chứ có đi đâu đâu! Ngày Pleiku di tản không rõ anh ta núp chỗ nào? Mãi về sau mới nghe đồn rằng anh ta là nội tuyến!

Sơ đồ phòng thủ trại Pleime tháng 7 năm 1974

Tôi chợt nhớ ra, có một hôm anh đại úy này gặp tôi trong sân bộ chỉ huy, anh ta năn nỉ tôi ghi tên cho anh ta giữ chức đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ trên giấy tờ thôi, còn bản thân thì anh ta vẫn làm việc ở Pleiku. Chỉ khi nào có thanh tra của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Trung Ương hay Bộ Tổng Tham Mưu thì anh ta sẽ có mặt ở đơn vị.

Tôi không đồng ý giúp anh ta diễn cái trò ma mãnh này nhằm hợp thức hóa tình trạng chỉ huy tác chiến của anh ta; tôi khuyên anh ta hãy đi tìm người khác mà nhờ vả.

Thật là hú hồn! Nếu ngày đó anh ta không đòi hỏi được ở Pleiku mà vui vẻ tình nguyện vào chỉ huy đại đội thì có khi tôi đã mất đồn vào tay anh ta rồi!

Ai mà ngờ? Cả năm trước ngày Pleiku di tản, người cung cấp những đặc lệnh truyền tin và mật mã hàng tháng của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cho địch lại là ông đại úy đại đội trưởng Ðại đội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2!

Vào những năm sau Hòa Ðàm Paris, Việt-Cộng đã đẩy mạnh công tác xâm nhập từ chiến lược tới chiến thuật.

Ở cấp trung ương, đã có những gián điệp cấp cao của địch nằm trong Tổng Thống Phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu.

Vì thế ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 Pleiku có một tên nội tuyến cấp đại úy thì cũng không phải là chuyện lạ.

Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm dưới quyền giám sát hành quân của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.

Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Ðoàn 22 đồn trú trong Căn Cứ Bình Tây 3 ở Hàm Rồng. Căn cứ Bình Tây 3 vốn dĩ là Camp Enari cũ, nơi từng là bản doanh của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.

Hầu như cứ cách hai, hoặc ba ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại ghé Pleime thăm đơn vị tôi. Ông tướng này đã chịu khó bỏ ra hàng giờ để tỉ mỉ quan sát công việc thiết trí công sự phòng thủ, và điều quân trinh sát của tôi trong thời gian chuẩn bị cho một trận chiến chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Ông lấy làm lạ là tại sao giao thông hào của tôi lại đào sâu gần hai thước, cao quá một đầu, một với của người thường? Tại sao dưới giao thông hào tôi lại cho moi rất nhiều hàm ếch? Tại sao mặt đất lại rào thép gai chằng chịt khiến cho việc di chuyển từ lô cốt này, tới lô cốt kia cứ phải đi dích dắc tới chóng mặt?

Tôi đã phải từ tốn giải thích với ông Tướng rằng:

“Thưa Chuẩn tướng, sở dĩ giao thông hào phải đào sâu là để sự di chuyển được an toàn khi giao tranh. Hào sâu thì người ngồi trong hào khi bị pháo kích nghe tiếng nổ của đạn sẽ thấy nhỏ hơn, sẽ bớt sợ hãi hơn. Hàm ếch giúp cho lính an toàn vì có che chở. Nếu rủi có quả đạn delay (nổ chậm) rơi trúng hầm thì chỉ chết một người, không chết chùm như trường hợp tác chiến lộ thiên. Còn hệ thống kẽm gai chằng chịt là để chống Ðặc Công, lệnh của tôi là ban đêm nếu có tiếng súng nổ thì ai ở yên vị trí đó, người nào đi trên mặt đất sẽ bị bắn chết. Thói thường thì Ðặc Công sau khi xâm nhập sẽ chạy vòng vòng khắp nơi, ném bộc phá vào các lô cốt và nhà cửa. Gặp thứ hàng rào chóng mặt của tôi thì Ðặc Công chỉ có nước khóc ròng, làm sao mà chạy vòng vòng để ném bộc phá được nữa!”

Tướng Tư Lệnh nghe xong thì thấm ý, gật gù. Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh để đảm trách nhiệm vụ phòng thủ vùng. Tiểu đoàn bộ binh này do Ðại úy Nguyễn Hữu Chấn chỉ huy, Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Võ Bị, là khóa đàn em của tôi.

Tôi và Chấn cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam. Tôi là một trong những đàn anh Khóa 20 đã huấn luyện chú Chấn, vì thế anh em tôi rất thân thiết, thương yêu nhau.

Tôi giao cho chú Chấn giữ an ninh vùng Bắc Pleime, còn tôi chịu trách nhiệm vùng Tây và Nam của căn cứ này.

Người chỉ huy trực tiếp của tôi và chú Chấn là Ðại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 Bộ Binh, Ðại tá Thông xuất thân từ Khóa 16 Võ Bị.

Mỗi lần vào thăm Pleime bằng đường bộ, niên trưởng Thông đều than phiền,

– Chu choa! Ði qua cái hàng rào “Bát Quái Trận Ðồ” của Long anh cứ chóng mặt muốn té!

Thấy thế tôi không khỏi bật cười,

– Ngày nào tôi cũng đi ra, đi vào cái trận đồ này mà vẫn còn bị chóng mặt, huống hồ gì niên trưởng là người lâu lâu mới tới thăm Pleime một lần.

o O o

Tri kỷ tri bỉ

(biết ta, biết địch)

Thế rồi, vào một ngày cuối tháng 6 năm 1974, toàn bộ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh đột nhiên rút khỏi vùng Bắc Pleime, thay thế là Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân trú đóng tại Căn cứ Hỏa lực 711.

Thời gian này nếu tính cả hai khẩu 155 ly đặt trong chi khu Phú Nhơn, thì khả năng yểm trợ của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân chỉ mạnh bằng một nửa, so với hỏa lực cơ hữu của một trung đoàn bộ binh.

Ðây cũng là thời gian tôi bận rộn suốt ngày. Cả tháng trời tôi không dám bỏ đồn về Pleiku thăm hậu cứ lần nào.

Về phần an ninh khu vực trách nhiệm, lúc nào tôi cũng phải cảnh giác đề phòng một cuộc tấn công với quy mô lớn của đối phương có thể xảy ra bất thình lình.

Ðối diện với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là cả một sư đoàn bộ binh, một sư đoàn vận tải, một trung đoàn pháo, và một tiểu đoàn xe tank của địch.

Lực lượng hùng hậu và đáng sợ này của Cộng Quân ngang nhiên trú đóng trong vùng núi Chư Prong và thung lũng Ia Drang, chỉ cách Pleime hơn mười cây số đường chim bay.

Tôi ước tính, chỉ cần chưa tới hai giờ đồng hồ vận chuyển bộ, Cộng Quân đã có thể cắt đứt Tỉnh lộ 6C và bắt đầu vây hãm Pleime rồi.

Nếu so sánh tương quan lực lượng khi phải giao tranh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ phải đương cự với một địch thủ có quân số đông hơn mình cả chục lần về nhân lực, chưa kể tới cơ giới và pháo binh.

Nhiều đêm, với điếu thuốc Lucky trên môi, một mình ngồi hàng giờ trên nóc lô cốt, tôi tự hỏi:

“Nếu địch tấn công Pleime thì mình sẽ đối phó cách nào đây?”

Sau nhiều đêm vắt óc suy nghĩ và cân nhắc, tôi mới tìm ra giải đáp:

“Muốn sống còn, tôi phải tránh bị đánh úp bất ngờ, phải biết khi nào địch bắt đầu triển khai chiến dịch để xin thượng cấp dự trù quân tăng viện. Phải cố gắng giữ đồn và trì hoãn chiến để chờ viện binh”.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Apr 2026

Đời xưa có người chỉ qua một đêm lo nghĩ không ngủ, sáng dậy râu tóc đều bạc phơ. Theo truyện Đông Chu Liệt Quốc, Ngũ Tử Tư là người nước Sở, văn võ song toàn, có cha Ngũ Xa là người chính trực nhưng bị vua nghe sàm tấu mà khép vào tội phản nghịch bắt giam lại để xử tội. Vua sợ hai con của Ngũ Xa là Ngũ Thượng và Ngũ Tử Tư sẽ làm phản nên ép Ngũ Xa viết thư dụ hai con về triều để vua phong chức, nhưng chỉ có Ngũ Thượng tin cha theo về triều bị vua Sở giết.

Ngũ Tử Tư bị truy lùng khắp nơi, một đêm đi đến cửa ải, định sang nước Ngô mà không được, nằm lo âu, chỉ qua một đêm trằn trọc không ngủ, suy nghĩ đến tận sáng hôm sau thì toàn bộ râu, tóc của Ngũ Tử tư đều bạc trắng.

Người ta thường dùng mấy chữ “giấc ngủ trẻ con” để nói đến những giấc ngủ ngây thơ, vô tư, còn người ưu thời mẫn thế, lo nghĩ chuyện đời hoặc gặp cảnh trái ngang, đêm thường khó ngủ. Có khi mất ngủ vì lo âu, vì buồn bã, vì sợ hãi hay đôi khi vì quá vui. Nghĩ đến cảnh nước mất nhà tan, cuộc đời dâu bể, Trần Tế Xương đã mô tả cảnh “đêm nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”, hay cũng là đêm: “trời không chớp bể với mưa nguồn, đêm não đêm nao tớ cũng buồn!”

Hay như nhà thơ Từ Diễn Đồng (1866-1918) dưới thời Pháp thuộc, với tâm sự cô đơn của một nhà nho yêu nước, biết ai đồng chí, đồng tâm với mình, cũng với những đêm không ngủ:

Đêm sao đêm mãi tối mò mò

Đêm đến bao giờ mới sáng cho?

Đàn trẻ u ơ chừng muốn dậy

Ông già thúng thắng vẫn đang ho.

Ngọn đèn giữ trộm khêu còn bé

Tiếng chó nghi người cắn vẫn to

Hàng xóm bốn bề ai dậy chửa?

Dậy thời lên tiếng gọi nhà nho!”

Chúng ta dẫu không là “chí sĩ”, trong cuộc đời khổ đau, chiến tranh, tù đày, chia ly gặp nghịch cảnh, cũng có nhiều đêm mất ngủ vì phiền muộn lo âu. Mất ngủ thì sáng dậy, thể lực tiêu hao, tinh thần hao mòn, đôi mắt trõm lơ, chân bước không vững, ăn không thấy ngon. Trong cuộc đời chúng ta, cũng có lần mất ngủ như thế. Trong đêm bốn bề vắng lặng, chúng ta đã nghe gì. Chúng ta cùng nhớ lại những tiếng động ban đêm của một thời thơ ấu, cùng với Quốc Văn Giáo Khoa Thư- Lớp Dự Bị:

“Một đêm nằm mãi không ngủ được, tôi lắng tai nghe những tiếng động ở nhà. Ở dưới giường con mọt nghiến gỗ kèn kẹt như người đưa võng. Ở đầu giường cạnh cái tủ, chuột chạy sột sạt, bên cạnh mình, muỗi kêu vo vo. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng con thằn lằn bắt muỗi. Con nắc nẻ bay xè xè bên vách. Không những trong nhà mà ở ngoài cũng có tiếng động. Cạnh nhà gió thổi vào những tàu lá chuối, nghe như mưa; ngoài vườn tiếng dế kêu ri rỉ. Trời mới mưa, các lỗ trũng đầy nước cả, nên cóc và ếch, nhái đều kêu inh ỏi. Xa  xa thì nghe tiếng chó sủa trăng”

Ở Mỹ không ngủ được thì trước hết là nghe tiếngđộng cơ xe hơi ngoài đường, tiếng còi hụ của xe cảnh sát xa xa, tiếng nước tưới cây tự động ngoài vườn và cả tiếng đồng hồ nhịp từng tiếng một trên tường hay tiếng ngáy của người nằm bên cạnh. Hạnh phúc cho ai có một giấc ngủ bình thường. “Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo”. Nước Mỹ mỗi đêm có 8,5 triệu người mỗi đêm mất ngủ, trăn trở trên giường và người ta đã tốn hằng trăm triệu đô la để chữa bệnh mất ngủ. Đến ông bác sĩ Tây thì ông xem lại mũi họng, ông Đông thì nói tại gan nóng, bác sĩ tâm thần thì nói tại lo nghĩ, tâm lý bất an. Người ta khuyên đừng uống trà và cà phê buổi tối, đừng biến phòng ngủ thành nơi làm việc, đừng uống rượu, lo nghĩ tính toán trước khi lên giường chứ không phải trên giường, nghe nhạc nhẹ, tắm nước nóng hay đơn giản là đếm … cừu chờ giấc ngủ. Nhưng mọi thứ đều vô hiệu. Người mất ngủ vẫn trằn trọc trên giường, dỗ dành giấc ngủ và bắt đầu sợ hãi bóng tối và sự yên lặng của đêm khuya. Lao động chân tay như người nông dân hay công nhân, vất vả với những công việc nặng nhọc suốt ngày ngoài đồng hay ở công trường có lẽ sẽ tìm thấy giấc ngủ dễ dàng. Vì vậy những người ở trong các trại tù “lao động cải tạo” của Cộng Sản, trước kia dù có bệnh mất ngủ, sau một ngày cực nhọc vất vả, tối về cũng phải ngủ vùi mê mệt. Ở trong trại tù này, tôi cũng đã có lần thức giấc, rồi khó khăn để dỗ giấc ngủ trở lại, vì cơn đói hành hạ. Cũng có một thời gian, khi đổi về trại Phú Sơn, tôi được xếp nằm cạnh một người bạn tù, anh Nguyễn Văn Bé, nguyên Trưởng Ban 2 một Chi khu ở Vùng 4. Anh Bé bị suyễn nặng, cứ tưởng tượng trong cảnh thiếu ăn, thiếu mặc, với mùa đông ở Bắc Thái buốt giá, bệnh suyễn đã hành hạ thân xác anh như thế nào. Suốt đêm anh hết ngồi lại nằm khom người, hơi thở mệt nhọc, tiếng kêu như tiếng bể lò rèn, rồi sáng mai lại cũng phải thức dậy đi lao động như anh em. Nhiều khi thấy anh xanh xao, kiệt lực, nhưng không chết. Bọn cai tù cũng biết vậy nên cũng chẳng cho anh ra tù, cũng đưa anh ra Bắc, vào thời gian ấy cũng đã hơn năm năm. Nằm bên anh, riết rồi quen, tôi cũng phải ngủ được, không ngủ chắc phải chết, nhưng lại nhớ nhà, vì tôi có một cháu trai năm tôi vào tù mới mười ba tuổi cũng bị suyễn nặng. Anh “Bé Suyễn” ơi! Bây giờ anh ở đâu?

Tôi có một người bạn bị mất ngủ kinh niên gần nửa thế kỷ nay, từ thời trẻ, đi lính, vào tù rồi sang Mỹ, mỗi đêm anh chỉ chợp mắt đi chừng ba tiếng đồng hồ, nhưng coi bộ anh cũng yêu đời và không hề than phiền đến thứ bệnh “trắng đêm” này. Thuốc Đông, Tây, Nam, rồi châm cứu, thôi miên, thiền … anh đã trải hết mùi đời, nhưng không có kết quả, đành ôm lấy nó mà sống. Cuối cùng anh gặp một bác sĩ, không cho anh thuốc ngủ trị bệnh mà chỉ cho anh những lời chúc mừng, vì anh đã sống được hai cuộc đời, dài hơn những người bình thường. Phải cám ơn Thượng Đế, vì trong khi thiên hạ sống sáu mươi năm, đã dành suốt hai mươi năm để ngủ, chỉ còn lại bốn mươi năm để hạnh phúc hay khổ đau, phần anh, anh sống dài hơn người khác trên mười năm. Nhiều lúc vào ban ngày, anh cũng bị căng thẳng, nhưng vào ban đêm, trong khi mọi người ngủ, anh có thể đọc thêm sách, viết lách hay mơ mộng trong sự yên tĩnh mà không hề bị ai quấy rầy trong một thế giới của riêng anh … Anh nói rằng: mất ngủ cũng buồn, nhưng không có ai mất ngủ mà chết! Ngày nay, người bạn tôi đã bước sang tuổi “cổ lai hy”, tiếc không như Saigon năm cũ, đốt đuốc lên mà chơi, vì cuộc đời quá ngắn ngủi.

Còn tất cả quý vị còn lại, đã là người “thất phu” (quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách), lâu lâu cũng phải có một đêm mất ngủ, không buồn chuyện xót xa ở quê nhà thì cũng buồn chuyện nhiễu nhương quê người. Nhưng nhiều khi nghĩ lại, “có khi thiên hạ đều ngủ cả, dại gì mà thức một mình ta!”