Lê Quỳnh Mai phỏng vấn nhà văn Trùng Dương

baotreonline.com

Trần Vũ

November 16th, 2024

Post by Sơn râu 31 May 2026

PHỤ BẢN

Hình Nhật Báo Sóng Thần (ST) bắt đầu xuất bản vào tháng 10, 1971 và bị rút giấy phép vào tháng 2, 1975, tại Saigòn. Hiện microfilm của những số báo ST được lưu trữ tại thư viện của Đại Học Cornell, ghi số Watson Film 5004.

Hình trên góc trái là poster quảng cáo ST sắp trình làng, do nhóm Hà Thúc Nhơn và nhà văn Chu Tử chủ biên. Poster này do hoạ sĩ Đằng Giao trình bày, dựa theo ý của ký giả Uyên Thao và Đường Thiên Lý.

Hình trên bên mặt, là hình trang nhất của một số báo bị tịch thu đề ngày 22 tháng 9, 1974.

Hình dưới bên mặt, trang nhất của số báo ra ngày 31 tháng 10, 1974, ngày ST bị đưa ra toà xử về tội đã đăng nguyên văn bản cáo trạng của Phong Trào Nhân Dân Chống Tham Nhũng do Linh Mục Trần Hữu Thanh chủ xướng với sự tham gia của 300 linh mục.

Các hình bên trái là vài cảnh trong toà với các  luật sư của ST. (Collage TD2008, rút từ cuốn Sóng Thần – Vụ Án Lịch Sử 31-10-74: Ngày Báo chí và Công Lý Thọ Nạn, tài liệu nội bộ, do Uyên Thao và Lê Thiệp soạn)

Ghi chú của Lê Quỳnh Mai

LQM: Ý kiến của chị thế nào về văn học hải ngoại. Và sự khác biệt giữa hai thời điểm trước 1975 và sau 1975 dưới mắt nhìn của chị?

TD: Không biết có phải cái gì đã trở thành kỷ niệm rồi thì bao giờ, ít nhiều, nó cũng đẹp hơn? Tôi vừa đọc lại cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan 1954-1975 (ấn bản lần thứ ba, nhà xuất bản Văn Nghệ, 2000) do nhà văn Võ Phiến soạn từ giữa thập niên 1980, thì thấy là cũng không hẳn thế, mà văn học Miền Nam trước 1975 quả có phong phú thật, và vì bây giờ nó đã trở thành kỷ niệm, nên lại càng đẹp hơn. Và, một cách thầm kín, tôi không khỏi hãnh diện đã được đóng góp một phần nhỏ trong đó.

Cái khác biệt lớn lao là trước 1975 khi còn ở trong nước, chúng ta có người đọc, có môi trường sinh hoạt gần gũi trao đổi và nâng đỡ, kể cả phê bình, lẫn nhau, từ đó nảy ra hứng thú; có các nhà xuất bản sống thuần túy bằng nghề in sách, có hệ thống phát hành chuyên môn, và tiệm sách ở khắp nơi, cả trên các hè phố, chưa kể hệ thống các tiệm cho thuê sách, và người cầm bút có thể sống bằng ngòi bút của mình, hoặc ít ra viết có tiền nhuận bút, dù nhuận bút, cho một truyện ngắn, chẳng hạn, chỉ đủ để mời thân hữu đi ăn một bữa ở nhà hàng.

Sau 1975, ở hải ngoại, chúng ta quá bận rộn vì phải phấn đấu với tâm trạng xa quê hương, nhớ nhà, bà con, sinh hoạt chòm xóm, và bận rộn thích nghi với một môi trường mới hoàn toàn xa lạ, chưa kể nhiều gia đình sống ở đây mà còn phải cưu mang cả người thân, bà con lầm than vất vả ở bên nhà. Thì giờ đâu ra mà đọc, mặc dù ở những năm tháng đầu, người ta thèm đọc, mà là đọc những tin tức về Việt Nam, hoặc những sách vở trước 1975 vốn là một phần trong bộ nhớ nhung chung về một dĩ vãng không còn nữa — ở đây xin ghi nhận công lao đóng góp của nền báo chí hải ngoại, đặc biệt ở giai đọan đầu. Người đọc đã thế, người cầm bút di tản cũng đâu thua gì, có khi còn tệ hơn vì bao nhiêu điều muốn ghi lại song biến cố 30 tháng 4, 1975 đã khiến một số người tê điếng, có trường hợp bị liệt cảm xúc (tôi bị rơi vào tình trạng này hết mấy năm đầu tị nạn).

Tôi nhớ có một lần, vào giữa thập niên 1990, gặp một ông bác sĩ Việt khá thành công ở Stockton, Bắc Cali. Chắc muốn chứng tỏ là mình vẫn theo dõi tình trạng sách báo Việt hải ngoại, nên vừa hỏi, vừa như phán, với tôi như thế này: “Tại sao một biến cố đau thương lớn lao như biến cố 1975 mà chúng ta vẫn chưa có một tác phẩm lớn nào?” Tôi cũng bộc trực trả lời, “Người cầm bút tị nạn cũng phải đi kiếm sống và lo cho gia đình, như bao người khác, sao đòi hỏi họ làm cái việc tày trời đó?” Song tôi cũng kịp ngưng lại, để không phải nói tiếp, là những người thành công về tài chính như ông bác sĩ thì nên nhận bảo trợ một vài nhà văn tị nạn để họ ngồi viết tác phẩm lớn như ông đòi hỏi.

Đấy là thời kỳ thập niên đầu sau 1975. Thế hệ của những người ở tuổi chúng tôi, từ 30 tới 50 khi di tản, cầm bút hay không, là thế hệ phải ổn định đời sống vật chất cho gia đình, do nhu cầu cấp bách đặt ra của một cuộc đổi đời quá lớn. Cũng như thế hệ cha anh của chúng tôi trong cuộc di cư vĩ đại vào Nam năm 1954. Chỉ khác một điều, trên cái nền móng do cha anh chúng tôi xây sau cuộc đổi đời 1954 là toà nhà văn học Miền Nam do chúng tôi xây. Nó đa dạng, rực rỡ, cũng là nhờ 3 yếu tố, như chị Thụy Khuê đã nêu lên, khá chính xác, trong bài viết về văn học Miền Nam của chị (http://thuykhue.free.fr/) . 3 yếu tố đó là 1) nền móng quốc ngữ từ cuối thế kỷ XIX, cộng thêm tiếng Nam như một kho tàng ngôn ngữ mới, 2) sự bảo tồn văn học tiền chiến và bảo lưu Nhân Văn Giai Phẩm trong thời kỳ chia đôi đất nước khiến Miền Nam không bị cắt đứt với quá khứ và hiện tại văn học của cả nước (khác với ở Miền Bắc chúng đã bị bóp chết), và 3) sự nối kết với và thu nhận các trào lưu văn học và tư tưởng nước ngoài vô cùng phong phú, đặc biệt trong hai thập niên 1950 và 1960.

Trên cái nền móng do thế hệ chúng tôi ổn định sau cuộc đổi đời sau 1975 sẽ là gì? Chúng ta cũng đã tạo nên được một nền văn học hải ngoại, dù khó có thể so sánh với nền văn học Miền Nam 1954-1975 vì chúng ta đã bị bật rễ thê thảm, nhưng không vì thế mà nó không phát triển và đa dạng, nhờ ảnh hưởng văn hoá và môi trường sinh sống tại mỗi quốc gia định cư. Một số người viết từ trước 1975 vẫn can đảm tiếp tục mặc dù những khó khăn trong đời sống mới, nguồn tài liệu rải rác, xa xôi, tình trạng sống rải rác khắp nơi khiến chúng ta thiếu một hệ thống hỗ trợ (support system) lẫn nhau.

Từ hơn một thập niên nay, sự hiện diện của kỹ thuật computer và Internet đã thay đổi tình trạng này, và đấy là điều đáng mừng Chúng ta cũng đã có thêm nhiều cây bút mới ghi nhận những mảnh đời, sinh hoạt của người Việt ở khắp nơi. Bên cạnh đó, nhiều người thuộc thế hệ con cháu của chúng ta cũng theo đuổi công việc sáng tác, dù là bằng Anh hay Pháp ngữ mà theo tôi, điều đó không quan trọng, vì ngôn ngữ chẳng qua chỉ là một phương tiện, cũng như văn học nghệ thuật chẳng qua cũng chỉ là phương tiện. Và chúng ta lúc nào muốn và cần, cũng có thể dịch những tác phẩm của họ sang tiếng Việt, như chúng ta đã từng làm việc dịch từ chữ Hán, chữ Nôm các tác phẩm của cha ông chúng ta khi ta chưa có chữ viết mà phải mượn của Tầu hoặc biến chế thành chữ Nôm khó phổ thông hóa, như về sau này với hệ thống chữ quốc ngữ. Cái quan trọng là nội dung, cách diễn đạt và tính nhân bản phản ảnh qua tác phẩm. Tóm lại, văn học hải ngoại 1975-2010 chắc chắn không thể so sánh với văn học Miền Nam 1954-1975, đặc biệt về lượng, nhưng nó đã và đang hiện diện.

LQM: Theo tạp chí Văn (số phát hành ngày 13/7/1973), 5 nhà văn nữ nổi tiếng nhất của văn chương tiểu thuyết hiện đại là Túy Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn thị Thụy Vũ. Cảm giác của chị thế nào khi được chọn lọc như thế?

TD: Cảm giác lúc bấy giờ (1973) thì không còn nhớ chính xác, vì chúng tôi cũng ngạc nhiên khi có người gần đây e-mail cho trang Web có phóng ảnh trích từ số báo Văn này, bởi tôi đã hoàn toàn quên số báo đó. Giờ nhìn lại thì cũng thấy vui vui vì đã được góp mặt, góp phần. Xin mở ngoặc đơn: Bạn đọc nào muốn tìm hiểu thêm về sự đóng góp của 5 chúng tôi và các nhà văn nữ khác của nền văn học Miền Nam 1954-1975, xin đọc một bài biên khảo khá công phu của nữ học giả Công-Huyền Tôn-Nữ Nha-Trang, “Women Writers of South Vietnam, 1954-75” (The Vietnam Forum, No. 9, 1987). Bài này hiện đang được ông Đoàn Thanh Liêm dịch ra chữ Việt với sự thỏa thuận của tác giả. Theo chỗ tôi được biết thì nhà văn Phạm Phú Minh đã được phép tác giả cho in lại trên tờ tạp chí điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ mới ra đời, do anh làm chủ bút, hiện có mặt tại http://www.diendantheky.net/.

LQM: Xin chị giới thiệu về Bầy Kên Kên, tác phẩm đã đưa tên tuổi Trùng Dương thành danh với độc giả. Và chị có hài lòng với những đứa con tinh thần sau đó không. Ví dụ như “Bí mật rừng già”?

TD: Bầy Kên Kên là một tác phẩm chưa hoàn tất, không có gì đáng để nói, và do đấy cũng không phải là tác phẩm đưa tới cái gọi là “thành danh” của Trùng Dương. Thực tình tôi cũng chẳng biết có tác phẩm nào đã khiến tôi “thành danh”. Hình như tôi được người ta nhớ đến nhiều là do hoạt động với tờ Sóng Thần.

Trở lại những tác phẩm văn chương, đọc lại những truyện cũ (tôi may mắn có đem theo được, trong chuyến di tản 1975, vài tập truyện đã in thành sách, tôi không cho in lại vì đã có ai đó nhanh tay… làm hộ việc này, ngoài hiểu biết của tôi, song cũng không quan trọng), tôi chỉ có một sự hài lòng rõ rệt nhất, đó là chúng đã giúp ghi lại những cảm nghĩ, nhận xét về những mảnh đời mà nếu không, mình đã không còn nhớ. Ngoài ra, chúng cũng giúp tôi đo lường được mức độ trưởng thành trong việc cầm bút của mình. Hồi xưa, trước 1975, tôi viết do ngẫu hứng nhiều, không có căn bản về viết văn hay báo, do đấy có những bài rất bột phát, hồn nhiên, thấy cũng hay hay, đọc lại chính mình cũng ngạc nhiên, ngược lại, có nhiều bài dở, vớ vẩn, chẳng ra làm sao, xem lại, thấy buồn cười,

Riêng truyện “Bí mật của rừng già”, cũng lạ là người phỏng vấn đề cập tới, vì ít ai đã đọc, hay đọc mà còn nhớ. Độc giả và các bạn văn nghệ của tôi thường chỉ nhắc tới hai truyện mà họ cho là tiêu biểu, hoặc do còn rơi rớt lại… cái tựa truyện trong trí nhớ của họ, và cũng được chọn làm tựa của hai tập truyện, Vừa đi vừa ngước nhìn (Khai Trí, 1966) và Mưa không ướt đất (Văn, 1967). Truyện “Bí mật của rừng già”, viết vào cuối thập niên 1960, được in lại trong tập truyện Chung Cư (Tân Văn, 1971), có một nửa (phần người nữ tu bị hiếp) dựa vào chuyện do một người bạn kể lại, và nửa còn lại (người hiếp người nữ tu bị người anh của bà ta “xử”, sau khi chuốc rượu cho say đến bất tỉnh) là do trí tưởng tượng của tác giả. Truyện có bối cảnh là một khu định cư của dân Bắc di cư năm 1954 tại một vùng cao nguyên đất đỏ, lấy từ ký ức về những chuyến đi thăm cha tôi và mấy người anh làm cây và trú ngụ ở Túc Trưng, Nam Việt Nam, vào cuối thập niên 1950. Viết truyện ngắn này, hình như tôi chỉ muốn kể lại một câu chuyện, trong tinh thần kể chuyện hơi cổ điển: có đầu có đuôi, có quả có báo. Có thể khi nghe người bạn kể chuyện, tôi thấy bất nhẫn, một cách vô thức, nên tưởng tượng thêm thắt cho thành chuyện quả-báo. Độc giả có toàn quyền rút từ đó ra một ý nghĩa nào đó tùy theo cảm quan của họ.

LQM: Nhận xét của chị về dòng văn chương nữ trong cộng đồng người Việt hải ngoại thế nào? Nói chung, cảm giác của chị ra sao khi biết có không ít những nhà văn nữ, qua tác phẩm của họ, đã tạo được thành công vượt hẳn nam giới?

TD: Tôi chỉ đọc vài người, không đọc hết, thành ra không thể bàn về cái gọi là dòng văn chương nữ hải ngoại, vì sẽ rất thiếu sót, lệch lạc. Song theo tôi, không có dòng văn chương nam hay nữ hay phái ở giữa. Văn chương nào thì cái chính là có rung cảm và làm phong phú (enrich) được người đọc không, và nếu nói lên được cái gì thì càng tốt.

LQM: Người ta nói nhà văn (đích thực) là những người cô đơn nhất theo bản năng tự nhiên. Chính vì thế mà họ mới có khả năng chìm đắm trong tư duy sáng tạo, và sống với những nhân vật họ tạo ra. Theo chị thì câu này có đúng không? Và chị có cảm thấy cô đơn như thế không?

TD: Hành trình sáng tạo nào cũng là một hành trình cô đơn, chẳng cứ viết văn. Như người ta ngồi đồng, đồng không lên thì không nhập đồng được. Nhập rồi thì chẳng còn biết gì về đời sống xung quanh. Nói vậy, tôi chưa thấy mình đạt tới giai đoạn được “đồng nhập” đó. Có lẽ vì thế mà chưa có tác phẩm… lớn?

LQM: Người ta cũng nói rằng sự thành công lớn chính là niềm cô đơn bất tận của nghệ sĩ. Chị có cho đây là cái giá phải trả của nghệ sĩ nói chung không?

TD: Tôi chưa liên kết được 3 cụm từ “sự thành công lớn”, “niềm cô đơn bất tận”, và “cái giá phải trả”. Cũng có thể vì tôi chưa có kinh nghiệm về một “sự thành công lớn” nên chưa có được cái “niềm cô đơn bất tận” đã phải trả bằng “cái giá phải trả”, chăng?

LQM: Chị nghĩ sao về ảnh hưởng lớn của phụ nữ trong lãnh vực chính trị hiện nay? Và ý kiến về nạn buôn người tại Á châu, đặc biệt là tại Việt Nam.

TD: Tôi nghĩ ảnh hưởng của phụ nữ trong lãnh vực chính trị là một điều khích lệ, đáng mừng, đã tới lúc, nếu không nói là hơi trễ là đàng khác.

Về tệ nạn buôn người ở Á châu và đặc biệt tại Việt Nam, đây là một vấn nạn xã hội lớn lao và nhức nhối. Ở đây tôi xin phép chỉ thu gọn vào vấn đề buôn bán trẻ em và các thiếu nữ. Tôi nhớ có đọc một bài báo, về một phóng viên Mỹ bỏ tiền ra chuộc một cô bé trong một ổ điếm ở Căm Bốt và đem em trả về cho gia đình em ở một làng quê, để một thời gian sau anh ta lại thấy em ở trong một ổ điếm khác. Tức là muốn giải quyết tệ nạn này, phải giải quyết tận gốc, bằng sự giáo dục và tạo cơ hội kinh tế cho các em gái.

Chương trình Dateline của NBC cách đây 5 năm có đi một phim tài liệu về tệ nạn này, nhan đề là “Children for Sale”, hiện còn post tại http://www.msnbc.msn.com/id/4038249/; và cách đây 2 năm, chương trình NOW của hệ thống truyền hình PBS cũng có trình chiếu một phim tài liệu tựa là “Daughters for Sale”. Trong khi Dateline cung cấp một cái nhìn tổng quát về tệ nạn buôn bán trẻ em gái, thì NOW thu hẹp vào công tác của tổ chức Nepalese Youth Opportunity Foundation (http://www.nyof.org/), là một nhóm thiện nguyện Tây phương phối hợp với dân địa phương, đã giúp vốn, bằng một con heo con, hay một con dê, trị giá bằng số tiền một gia đình nghèo nhận được nếu đem con gái đi ở đợ, mà kết quả có thể là bán con luôn.

Ngoài việc giữ các em gái ở lại với gia đình, tổ chức này còn giúp cho các em có phương tiện đi học để có được việc làm tốt, đồng thời giữ được phẩm giá con người. Hàng ngàn em gái đã được tổ chức NYOF giúp đỡ để vừa được ở nhà với và giúp gia đình, vừa được đi học để chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn. Song đây cũng chỉ là muối bỏ bể, vì thành kiến xã hội, tập tục văn hóa và đặc biệt, tình trạng kinh tế lạc hậu.

Gần đây tôi cũng có dịp xem một phim tài liệu khác, cũng trên đài PBS, về một trường ở Ấn Độ, gọi là Barefoot College (http://www.barefootcollege.org/), giúp huấn luyện các phụ nữ ở vùng quê lắp ráp solar panel và thiết lập hệ thống thu nguồn ánh sáng của mặt trời  để cung cấp điện lực cho thôn xóm họ, tôi rất thích thú. Đặc biệt trường này chỉ nhận huấn luyện các phụ nữ thôn quê, không nhận nam sinh. Họ lý luận là huấn luyện cho các bà thì các bà làm việc ra tiền thường lại đem thu hoạch về để bồi bổ cho gia đình con cái, chứ không tiêu dùng cho riêng mình.

Sẽ rất thiếu sót nếu không đề cập tới những nỗ lực của các bạn trẻ Việt hải ngoại hiện đang làm các công việc thiện nguyện nhằm giáo dục các em gái con nhà nghèo ở Việt Nam tránh bị rơi vào cạm bẫy của nạn buôn người và giúp các em tiếp tục việc học. Điển hình là các sinh hoạt của Pacific Links Foundation (http://pacificlinks.org/) mà chương trình Newshour thuộc hệ thống truyền hình PBS đã giới thiệu nhân kỷ niệm 35 năm ngày 30 tháng 4, 1975 vừa qua. Hoặc VietACT (http://www.vietact.org/), một tổ chức chống nạn buôn người của một số bạn trẻ hoạt động đã nhiều năm nay, bên cạnh nhiều nỗ lực cá nhân khác, tất cả rất cần chúng ta hỗ trợ, đóng góp nếu có khả năng.

Tóm lại, muốn giải quyết tệ nạn buôn người đối với phụ nữ, phải bắt đầu đi từ căn nguyên, tức là tạo cơ hội kinh tế cho những người có thể trở thành nạn nhân. Các tổ chức thiện nguyện quốc tế không thể một mình làm việc này, mà phải có sự tiếp tay của người địa phương, và của chính quyền, nếu họ thực tâm lo cho dân.

LQM: Nhà văn Võ Phiến, về cuối đời đã viết trong tản mạn Thẫn Thờ như sau: “Chuyện sáng tác có gì đáng nói… Tôi e những món thơ thẩn và tùy bút nọ kia đều phải xếp về phía đồ chơi. Những cái mình miệt mài bấy lâu, khi đầu bạc nhìn lại là đồ chơi cả…” (Cuối Cùng, Võ Phiến, Thế Kỷ 21 xb năm 2010). Xin chị cho ý kiến về câu tuyệt vời trên?!

TD: “Chơi” mà đồ sộ như thư mục sách đã xuất bản của ông Vô Phiến, thì cũng đáng “chơi” lắm, chứ sao lại… “thẫn thờ”? Và có lẽ vì ông ấy “chơi”, chứ mà đăm chiêu, nghiêm chỉnh, lúc nào cũng như vác một sứ mệnh văn nghệ vĩ đại, e người đọc bị nhát, đọc sợ không vô. Có lẽ đó là cái khiến nhiều người thích đọc và cảm được Võ Phiến, vì ông ấy chỉ kề cà kể chuyện, bình dân, mộc mạc, kể cả khi đề cập tới những chuyện không nhỏ tí nào, như… 20 năm Văn học Miền Nam 1954-1975.

LQM: Trở lại với độc giả qua những ký sự du lịch. Điều này chứng minh chị đã đi qua rất nhiều địa danh lịch sử trên thế giới. Chị có tìm ra được sự liên hệ chung của con người là gì không? Có phải đó chính là tình yêu?

TD: Thực ra tôi đi không nhiều, và cũng rất chọn lọc cái nơi mình đi thăm, không nhất thiết phải là một địa danh lịch sử. Như đã nói ở trên, tôi thích nhiều thứ, là một loại “chuyên viên về các vấn đề tổng quát” (chữ của nhà thơ Đỗ Quý Toàn, trước 1975, một lần nói về nghề viết báo của Đạo Cấy, bút hiệu viết phiếm của anh ấy). Và tôi cũng rất thích loại phóng sự bằng hình (photoessay) hoặc chuyện bằng hình (photostory) nữa, làm để… chơi, để gửi đi chia sẻ với người thân, bằng hữu hoặc vài tờ báo thân hữu. Tôi thích, và vẫn cố, viết ngắn và cô đọng, và để cho hình ảnh kể chuyện, một phần vì thời buổi này không có mấy ai có thì giờ đọc bài dài và nhớ được dù chỉ một phần nhỏ.

Trở lại chuyện du lịch. Tôi đi thăm Taos, New Mexico, chẳng hạn, vì dạo đã lâu nghe thằng con đi thăm Taos về, nói ở California đi ra bờ sông thấy thiên hạ thả cần câu cá đầy dọc theo bờ sông, còn đến Taos thì chỉ thấy họa sĩ dựng giá vẽ đầy dọc bờ sông. Có thể là thằng con diễn tả hơi quá, có tính khôi hài. Dù vậy, khi tôi đi thăm Taos là vào tháng 11, trời đã lạnh, lại ở cao độ, đã lất phất tuyết rơi, nên chẳng thấy hoạ sĩ nào dại dột ra bờ sông dựng giá vẽ hết, nhưng thành phố thì thấy đầy phòng tranh, có phòng tranh có tên gọi là “The Starving Artists”, có cả một rạp chiếu bóng tên là Storyteller – tôi rất mê văn hóa nghệ thuật, đặc biệt kiến trúc, của vùng Tây Nam Hoa Kỳ vốn xưa thuộc về các bộ lạc Da Đỏ. Hoặc tôi đi New Orleans, 3 năm sau trận bão kinh hoàng Katrina, vì mối quan tâm tới môi sinh và vì muốn biết thành phố này đã phục hồi ra sao – cũng nhờ chuyến đi đó mà gần đây tôi theo dõi vụ tràn dầu trong Vịnh Mexico với một kiến thức về môi sinh của vùng bờ biển Louisiana, chỉ cách New Orleans có vài ba chục miles, và với một quan tâm đặc biệt. Hoặc tôi đi thăm các bãi đổ bộ của quân Đồng Minh ở Normandy, Pháp, nhân kỷ niệm 65 năm D-Day năm ngoái, và đã đi thăm các nghĩa trang tử sĩ Mỹ và cả Đức, để được nhìn thấy tận mắt sự tôn trọng các tử sĩ không phân biệt bên thắng bên thua của một nhân loại văn minh, không như người cộng sản ở Việt Nam đối với các phần mộ của các tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Hoặc tôi đi Nam Cực vì … ít người có dịp này — một kinh nghiệm tuyệt vời vì môi trường vô cùng tinh khiết nơi đây, mặc dù lạnh ơi là lạnh dù đang giữa mùa hè ở Nam Bán Cầu (mà tôi lại bị mất cắp túi hành lý đựng quần áo và thuốc men khi chờ xe bus ở Buenos Aires, Argentina trước khi lên tầu đi cruise – một kỷ niệm đáng nhớ!). Hay tôi đi Ý vì trên 30 năm trước, vào những ngày cuối cùng ở Sàigòn, có cơ hội di tản song còn đang phân vân nên đi hay ở, tôi đi xem một phim có bối cảnh ở Rome, đã tự nhủ nếu không rời khỏi Việt Nam thì… bao giờ mới được thấy Ý và những công trình kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật của xứ này. Vậy mà mãi tới năm vừa rồi tôi mới có dịp đi Ý, và đã hẳn là phải viếng cả Pompeii nữa, để trí tưởng tượng của mình có dịp bay ngược thời gian về thế kỷ thứ nhất khi Pompeii và thành phố Herculaneum kế bên bị hỏa diệm sơn Vesuvius phun lửa chôn vùi dưới 21 mét nham thạch vào năm 79 thuộc thế kỷ thứ nhất, cũng là thế kỷ thấy cuộc khởi nghĩa thành công và xưng vương ngắn ngủi của Hai Bà Trưng (40-43). Cũng vì thích những tàn tích cổ đó, mà tôi đi thăm Mesa Verde National Park ở Colorado, nơi có những làng xóm các bộ lạc Da Đỏ xây trong hốc núi (cliff dwellings) từ trước thế kỷ thứ 13, vừa bí ẩn, vừa đẹp, như những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật. Tôi vẫn mong có dịp đi thăm các di tích của vương quốc Chàm – tôi chưa| trở về lại Việt Nam lần nào.

Qua những chuyến đi ấy, tôi càng thấy thêm yêu thương trái đất. Trái đất – hành tinh duy nhất còn sự sống – đẹp như thế, môi sinh đa dạng như thế, với các nền văn minh nối tiếp nhau phong phú rực rỡ khi thịnh, và trầm mặc, bí ẩn lúc suy, như thế, mình phải làm những gì có thể làm để bảo tồn, trân trọng nó, đừng mặc sức khai thác, tàn phá, làm ô nhiễm nó thêm, và để cho con cháu mình cũng được dịp thưởng ngoạn những cái đẹp ấy.

LQM: Xin nhà văn Trùng Dương có vài lời với quý độc giả,

TD: Vài người gần đây nói với tôi họ thích đọc tôi vì thấy được mở mang kiến thức, tôi thấy vui vui vì mình đã làm được một việc có ích khi kể lại những chuyến đi chơi của mình, hoặc khi viết về một đề tài nào đó, hoặc về cuốn sách hay một phim hay đã đọc, xem và đã rung động mình. Xin chân thành cảm tạ lòng ưu ái của bạn đọc, hiện tại cũng như trong quá khứ.

LQM: Cám ơn chị đã nhận lời mời phỏng vấn của Lê Quỳnh Mai.

TD: Xin cảm ơn người phỏng vấn đã dành cho tôi cơ hội “gói ghém” cuộc đời cầm bút của mình.

LQM

Thực hiện 29 tháng 6 năm 2010, trích từ tập Tác giả với Chúng ta (2004)

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Sáng chủ nhật Graber trở về đường Haken. Y nhận thấy có cái gì khác trong chỗ nhà đổ nát. Cái bồn tắm đã biến mất, mấy bậc cầu thang còn lại cũng biến mất. Một lối đi hẹp được khoét dọc bờ tường vào tận sân trong. Có lẽ một toán người đã đến đây dọn dẹp.

Graber bước vào lối đi, qua sân vào một phòng đầy gạch vụn, y nhận ra trước đây là phòng tắm giặt. Y chú ý đến một hành lang tối om bèn bật diêm lên soi. Bất thần đằng sau y một tiếng người la lớn:

– Vào đây làm gì, ra mau đi!

Y quay lại, không thấy gì trong tối, bèn quay ra. Một người đứng chờ ở ngoài. Hai tay người ấy chống nạnh, áo tơi lính trùm ra ngoài bộ đồ dân sự. Graber nói:

– Nhà tôi ở đây. Ông là ai?

– Tôi ở đây chớ không ai khác! Ông đến đây làm gì? Ăn cắp hả?

Graber bình tĩnh vì thấy đôi nạng và chiếc áo tơi.

– Làm gì mà nóng nảy thế. Cha mẹ tôi ở đây trước ngày nhà trúng bom. Trước khi nhập ngũ tôi cũng ở đây. Như thế đủ chưa?

– Nói thì dễ quá!

Graber nắm hai vai người tàn tật đẩy ra một bên lấy lối đi ra. Từ phía ngoài một người đàn bà và một đứa con nít đi vào theo sau có một người vác cuốc trên vai. Họ xúm quanh Graber. Người vác cuốc hỏi người tàn tật.

– Có chuyện gì thế?

– Người này lảng vảng vào đây. Y bảo rằng cha mẹ y ở căn nhà này.

Người mang cuốc cười gằn:

– Rồi sao nữa?

– Thế thôi.

Graber nói.

– Anh chỉ biết nói thế thôi à?

Hắn giơ cuốc lên:

– Bước ngay, không thì tao phang cho một nhát.

Y chưa kịp nói lần thứ hai. Graber giáng một cái đấm vào giữa mặt, hắn ngã dúi ra sau. Graber cầm lấy cuốc.

– Phải thế mới trị được mày. Đi mà gọi cảnh sát đến đây. Nhưng tao chắc mày không dám làm liều thế.

Hắn ngóc dậy dần dần, lấy tay áo chùi mặt vấy máu.

– Đừng có làm tới nữa nghe. Người Phổ đã dạy tao miếng võ thần này. Bây giờ nói cho tao nghe. Mày đến đây làm gì.

Người đàn bà tiến lại.

– Chúng ta ở nhà này. Ở đây thì có tội tình gì?

– Không. Nhưng đây là nhà cha mẹ tôi. Tôi đến đây có tội tình gì?

– Chứng cớ đâu?

– Không cần chứng cớ. Đây không còn gì mà ăn cắp.

– Đối với người nghèo thì vẫn hơn.

– Tôi không đến đây để ăn cắp. Tôi về nghỉ phép, vài ngày nữa sẽ đi. Anh có đọc bức thư ở cửa không? Tôi là người viết thư để tìm cha mẹ.

– Anh đấy à?

– Tôi đây, nhà tôi ở đây.

– A thế thì khác. Anh hiểu cho chúng tôi, bây giờ ai cũng không tin ai cả. Chúng tôi bị nạn, chúng tôi tạm ngụ ở đây. Không nhà thì phải tìm chỗ trú chứ.

– Anh quét dọn chỗ này à?

– Một phần thôi, có người giúp tôi.

– Ai?

– Bà con. Họ có đồ nghề.

– Có tìm thấy người chết dưới đống gạch không?

– Không.

– Chắc không?

– Chắc. Nhưng dẫu sao thì trước người ta đã dọn dẹp rồi. Đến lượt chúng tôi không thấy gì cả.

– Tôi chỉ muốn biết thế thôi.

– Có thế thì sao đấm vỡ mặt người ta? – Người đàn bà nói.

– Chồng chị đấy à?

– Việc gì đến anh. Không phải chồng tôi, em tôi đấy. Máu me ra thế kia kìa.

– Chỉ chảy máu mũi thôi.

– Cả răng nữa.

Graber giơ cuốc lên :

– Hắn định lấy cuốc phang tôi.

– Đã phang đâu.

– Thưa chị, tôi đã hiểu quá rằng đừng nên đợi cho sự đe dọa trở thành sự thật.

Y ném cái cuốc vào đống gạch thật xa. Mấy người khác nom theo. Đứa bé định chạy ra nhặt nhưng người mẹ cản lại. Graber nhìn quanh cái bồn tắm đã khiêng ra để gần nhà ngang. Có lẽ cầu thang đã được bửa ra làm củi đun. Hộp đồ ăn, bướm áo, xoong chao méo mó, đồ đạc gãy nát lẫn với đám gạch vụn. Gia đình này đã dọn dẹp căn nhà ngang ở và chiếm hữu tất cả cái gì còn dùng được trong đống gạch vụn. Chuyện ấy không có gì đáng nói. Đời sống vẫn tiếp tục. Đứa con trẻ có vẻ khỏe mạnh. Mảnh đất điêu tàn lại có người ở. Người ta đành phải theo dòng đời.

– Anh đã ráng sức dọn dẹp thật mau lẹ.

– Thì phải mau tay khi không có gì che mưa nắng.

Graber đã sắp sửa đi, lại hỏi một câu:

– Anh có thấy con mèo, con mèo đen khoang trắng?

– Mèo Rosa của mình đấy à?

Đứa trẻ xen vào. Người đàn bà vội cướp lời:

– Không, không thấy mèo nào cả.

Graber bỏ đi. Chắc là phải còn nhiều gia đình khác trong hầm này. Nếu không thì sao dọn dẹp được mau thế, trừ khi có một toán người đến làm giúp. Bây giờ người ta thường đem từng đoàn người ở các trại tập trung về tỉnh dọn dẹp.

Y rảo bước đi. Không biết tại sao bỗng dưng y thấy mình nghèo đi.

***

Y đến một dãy phố còn nguyên vẹn, cửa kính các tiệm buôn cũng không bị vỡ. Chân bước đi đầu óc rỗng không. Hốt nhiên y kinh ngạc dừng lại. Có người đi trở lại ngay trước mặt, thì ra chính bóng mình phản chiếu trong một tấm gương của tiệm may. Y có cảm tưởng kỳ lạ rằng mình đứng trước mình, nếu rẽ ngang ra, hình ảnh tan đi đời sống của mình cũng tiêu tan hẳn.

Y dừng lại nhìn ảnh mình mờ nhạt trong tấm gương đã mờ. Hai mắt sâu hoắm như hai lỗ đáo đen trên khuôn mặt có thể nói rằng không có mắt. Thình lình y cảm thấy một cảm giác khắc khoải lạnh lùng hầu như xa lạ với mình. Không phải là sự khủng khiếp thể chất, không phải bản năng bảo tồn sự sống tập trung sinh lực lại để chống cự, chạy trốn hay chờ đợi; đó là một thứ sợ hãi bình lặng len lỏi khắp châu than, cái sợ lọt qua kẽ mọi cố gắng thông trị nó, cái sợ mở ra một vực thẳm hư không hút lấy con người làm người ta tê liệt ca máu xương da thịt lẫn đến đời sống. Hình ảnh trong gương vẫn nguyên đấy nhưng y vẫn chờ đợi cái hư không vô hình tướng kia thu hút mất hình hài giới hạn và phù vân có tên gọi nhất thời là Graber và đẩy y xuống Âm ti. Âm ti là cái gì còn hơn cái chết, đó là sự tận cùng của cái ta, là sự tan rã, là sự phân tâm cho lan vào nguyên tử hỗn mang, là trở về hư vô.

Như vậy sẽ còn gì? Khi mình đã khuất núi thì sẽ còn gì.

Hết. Hết hẳn, trừ chút kỷ niệm trong tâm trí vài người thân bằng cố hữu hay bạn bè – có lẽ cả Elisabeth nữa – nhưng phỏng được bao lâu?

Mắt y không rời cái gương lớn. Dường như y đã trở thành nhẹ lâng lâng, một cái bóng bằng giấy, trong suốt, một cái bao mất hết ruột ở trong, chỉ một cơn gió nhẹ cũng thổi bay. Như vậy sẽ còn lại cái gì? Tìm đâu một điểm tựa, bỏ neo xuống chỗ nào, làm gì cho vững bền đôi chút để lưu lại vết tích của mình.

Có người đằng sau gọi:

– Ernst!

Y giật mình quay lại. Một người cụt chân, đứng tựa vào đôi nạng đứng nhìn. Mới đầu y nghĩ đến người chống nạng ở đường Haken; nhưng sau nhận ra là Karl Mutzig, người bạn học cũ.

– Ủa, Karl hả? Tôi không dè lại được gặp anh ở đây!

– Tôi về nhà từ lâu. Sáu tháng nay rồi.

Hai người nhìn nhau.

– Thật ngẫu nhiên may mắn nhé!

– Sao?

Mutzig giơ cặp nạng lên, đặt xuống mà rằng:

– Cái này này!

– Ừ, ít ra nó cũng gỡ rối cho anh. Còn tôi, tôi phải trở ra mặt trận.

– Tất cả đều tùy góc cạnh nhìn. Nếu còn chiến tranh vài năm nữa thì tôi thoát nạn thật. Nhưng nếu trong sáu tháng nữa chiến tranh kết liễu thì tôi trở thành người khổ nhất đời.

– Tại sao anh lại nói sáu tháng nữa thì xong.

– Tôi cũng không biết, đó chỉ là giả thiết.

– Như vậy thì anh có lý.

– Sao anh không đến chơi với tôi? Anh Bergmann cũng ở với tôi, anh ta mất cả hai tay.

– Anh ở đâu?

– Ở bệnh viện tỉnh. Khu những người bị cưa. Nếu có dịp, đến với chúng tôi.

– Vâng, tôi sẽ đến.

– Chắc nhé? Ai cũng nói thế mà chẳng ai lại cả.

– Lại chứ, tôi hứa với anh.

– Thế thì chúng tôi mừng lắm. Anh sẽ thấy. Chúng tôi không đến nỗi buồn, nhất là trong phòng tôi.

Hai người vẫn nhìn nhau, nhưng có điều gì đã nói hết rồi.

– Thôi chúc anh can đảm và may mắn.

– Anh cũng vậy.

Họ bắt tay nhau.

– Anh có biết Sierer đã chết rồi không?

– Không, tôi không biết.

– Được sáu tuần rồi. Thế còn Leiner?

– Cũng không.

– Leiner và Lingen. Hai người cùng chết một buổi sáng. Bruning thì hóa điên. Anh có nghe tin Hollmann bị ghi là mất tích?

– Không.

– Bergmann nói với tôi như vậy. Thôi tạm biệt. Đừng quên đến chơi tôi nhé.

Mutzig tựa vào nạng đi. Graber nghĩ thầm: “Hình như anh chàng này khoái chí mà nói đến những người bạn chết trận. Có lẽ y tìm thấy sự an ủi nào đó”. Y nhìn theo Mutzig. Chân bị cứa từ đùi. Ngày trước Mutzig là người chạy nhanh nhất lớp. Graber không biết mình nên phàn nàn cho bạn hay nên thèm muốn cảnh bạn. Mutzig nói có lý, tất cả đều tùy thuộc ngày mai.

***

Graber bước vào thì thấy Elisabeth mặc áo trong nhà màu trắng ngồi trên giường. Nàng vấn một cái khăn mặt trên đầu ngồi đợi, bình tĩnh và trầm ngâm, như một con chim trong trắng bay qua cửa sổ vào ngồi nghỉ chốc lát trước khi tung cánh lưng trời.

– Em đã dùng nước nóng bằng cả khối nước hạn cho một tuần lễ, chắc là mụ Lieser về sẽ nổi tam bành đây!

– Để cho mụ ta la ó, mụ thì cần gì nước nóng. Đảng viên Đức quốc xã chính tông cần gì tắm gội. Sạch sẽ là tật di truyền của giới thống trị Do Thái.

Y đến gần cửa sổ đứng nhìn ra ngoài. Trời u ám, phố xá lặng lẽ. Bên kia đường, một người không áo ngoài, hở hai tay lông lá, ngồi hóng mát và ngáp vặt. Từ một cửa sổ khác vọng ra tiếng dương cầm phụ họa giọng hát của đàn bà. Graber ngắm nhìn một lối vào hầm núp dọn dẹp sạch sẽ. Y nghĩ đến cái sợ ớn lạnh bóp thắt mình hồi nãy khi đứng trước tấm gương một tiệm may, y lại rùng mình. Y còn lại gì không? Phải để lại đây một cái gì, một cái neo ràng buộc y với nơi này để y còn có ý muốn trở lại. Nhưng cái neo nào? Elisabeth chăng? Elisabeth đã thuộc về mình chưa? Y mới biết nàng chưa được bao lâu! Thế mà y sắp sửa ra đi trong vài năm không chừng. Nàng sẽ quên chăng? Làm thế nào để mình ràng buộc với nàng? Y quay lại :

– Elisabeth ạ, chúng mình phải làm giá thú.

– Giá thú à?

Nàng cười:

– Để làm gì?

– Bởi vì làm như thế thì phi lý. Chúng ta mới biết nhau được vài ngày, trong vài ngày nữa sẽ từ biệt nhau, vì chúng ta không biết có hợp nhau để sống chung hòa thuận không. Ấy vì những lý do đó mà phải làm giá thú.

Elisabeth nhìn y.

– Anh muốn nói rằng chúng ta là hai người cô độc, không hy vọng ngày mai và không còn gì khác nữa?

– Không.

Elisabeth yên lặng. Y nói tiếp.

– Không phải chỉ vì thế.

– Thế thì vì lý do gì?

Y nhìn nàng thở và bỗng dưng thấy nàng xa lạ. Ngực đưa lên đưa xuống, hai mắt khác hẳn mắt mình, hai bàn tay khác, tư tưởng khác, đời sống khác… Không bao giờ nàng hiểu mình được, nhưng tại sao cần nàng hiểu mình. Y không hiểu tại sao bỗng dưng y cần đến sự hiểu nhau như thế :

– Lấy nhau rồi, em không sợ mụ Lieser nữa. Là vợ lính, em được pháp luật bảo vệ.

– Anh tin là thế à?

– Tin chứ!

Nàng nhìn y chầm chập làm y ngượng.

– Mấy lại em được hưởng phụ cấp.

– Đấy không phải là một lý do. Còn như mụ Lieser thì một mình em cũng đủ đôi phó với mụ. Hôn thú à? Trời ơi biết bao nhiêu là giấy tờ phiền phức, phép tắc, giấy nhận thực dòng dõi Aryens, khám nghiệm trước ngày cưới, còn gì nữa! Không có thì giờ, ít ra cũng mất vài tuần lễ!

Graber nghĩ thầm: “Vài tuần thôi à, nàng đã nghĩ lầm”.

– Lấy nhau trong thời chiến này chóng lắm, có đâu lâu như vậy. Chỉ mất vài ngày thôi, ở trại người ta kháo nhau như vậy.

– Vì thế mà anh nghĩ đến chuyện hôn thú à?

– Không phải, anh mới nghĩ đến từ sáng hôm nay. Nhưng ở trại người ta bàn tán nhiều về chuyện ấy. Nhiều người lấy vợ nhân dịp nghỉ phép. Tại sao chúng ta không làm thế? Khi một người lính ở mặt trận có vợ thì hình như vợ được phụ cấp hàng tháng hai trăm đồng. Tại sao mình lại tặng không nhà nước khoản tiền ấy? Em thì cần mà lại để cho nhà nước xài, như thế có công bình không?

– Nhìn dưới khía cạnh ấy thì đúng lắm.

– Anh thì anh hiểu như thế. Hình như còn có khoản tiền cho vay, mỗi cặp vợ chồng mới được vay 1.000 đồng. Như vậy em không cần phải đi làm nữa.

– Đúng thế thật.

Graber lại cảm thấy thất vọng mà tự nhủ: “Mình trẻ trung, mình phải được hưởng hạnh phúc. Cha anh mình đã gây ra cuộc chiến tranh này nhưng mình có cần gì?”.

Y bảo nàng:

– Rồi đây chúng ta sẽ sống cô đơn. Nhưng nếu thành vợ chồng thì đỡ cô đơn.

Nàng lắc đầu. Y hỏi:

– Em không muốn lấy anh à?

– Chúng ta không bớt cô đơn đâu. Chúng ta càng thêm cô đơn.

Graber nghe giọng hát của người ca sĩ. Cô ca sĩ bỏ hát âm để tập môn khác. Cô ta lấy hơi phát âm thật dài không ngừng, chính tiếng dội của giọng hát lại trả lời cô ta.

– Nếu em sợ hôn nhân thì em cũng nên biết rằng hôn nhân không có gì là bắt buộc mãn đời. Vẫn có thể ly dị được nếu cần.

– Thế thì lấy nhau để làm gì?

– Tại sao mĩnh lại đem tiền tặng nhà nước?

Elisabeth đứng dậ :

– Hôm qua anh không như hôm nay.

– Có gì thay đổi?

Nàng khẽ mỉm cười:

– Tốt hơn hết là đừng nói chuyện ấy nữa. Chúng ta sống với nhau lúc này, cần gì phải nghĩ đến cái khác.

– Thế là em không muốn?

– Không.

Y nhìn nàng. Nàng có cái gì cả quyết, ác cảm.

– Em ạ, anh cam đoan với em rằng khi nói như vậy anh chỉ hết lòng với em chứ không nghĩ quanh co gì cả.

Nàng mỉm cười :

– Chính vì thế, ở đời có những trường hợp mình không nên nghĩ tới điều hay điều tốt. Còn gì uống không anh?

– Còn, còn chai Slivovitz.

– Sản phẩm Ba Lan phải không?

– Phải.

– Chúng ta chỉ có chiến lợi phẩm để uống thôi à?

– Còn chai kummel, sản phẩm Đức quốc.

– Thế thì em uống rượu Đức.

Graber vào bếp tìm chai rượu. Y tức giận với mình. Y đứng một lúc lâu trong bóng tối, mùi đồ ăn của Binding tặng xông lên nồng nặc. Y nhọc mệt, không biết phải làm sao bây giờ. Khi trở lại phòng thì thấy Elisabeth đứng tựa tay vào cửa sổ.

– Trời u ám quá! Chắc là sắp mưa. Thật đáng tiếc!

– Sao vậy?

– Ngày chủ nhật đầu tiên. Đẹp trời mình có thể đi chơi được. Chung quanh tỉnh này bây giờ đồng quê là mùa xuân hoa nở khắp nơi.

– Em muốn đi chơi à?

– Không. Đối với em, chỉ cần vắng mặt mụ Lieser cũng đủ rồi. Nhưng đối với anh ngồi một xó suốt ngày cũng ngán thật.

– Không phải. Anh sống giữa thiên nhiên đã nhiều rồi, vài ngày không có cây cỏ và khí trời cũng chẳng sao. Nói đến thiên nhiên anh chỉ mơ tưởng một căn phòng đầy đủ tiện nghi, bàn ghế đừng cái nào cụt chân. Cái này chẳng hạn. Đối với anh đó là cuộc phiêu lưu đáng kể hơn cả. Nếu em muốn đi chơi thì chúng ta đi xi nê.

Elisabeth lắc đầu :

– Thế thì cứ ở yên đây. Đi ra ngoài thời giờ trôi chóng lắm sẽ hết ngày ngay mất. Ở đây giờ giấc đi chậm hơn.

Graber đến bên ôm nàng ngồi trong tay. Y nhận thấy nàng ràn rụa nước mắt.

– Lúc nãy anh có làm em buồn không?

– Sao lại buồn, anh!

– Có lẽ anh đã vụng về làm em phải khóc.

Trông qua vai nàng xuống phố thấy người mặc áo sơ-mi đã biến mất. Một vài đứa trẻ chơi đánh trận trong cái hầm đưa đến hầm nhà bị phá hủy.

“Chúng ta không nên buồn”.

Người ca sĩ lại bắt đầu luyện giọng hát. Nàng hát một hòa khúc của Grieg: Yêu anh, yêu anh! Giọng bỗng cao vút: “Yêu anh mặc cho thời gian trôi vùn vụt, đời sống khắt khe!”.

Đến lúc quá trưa trời bắt đầu mưa. Trời tối sầm lại, mây đen nổi lên. Họ nằm trên giường, không có đèn đóm gì cả bên ngoài cửa sổ mở, mây giăng một tấm màn nước rung rinh.

Graber nghe tiếng hạt mưa tí tách. Y nghĩ đến nước Nga,có lẽ bây giờ đã bắt đầu thời kỳ cảnh vật chìm dưới một lớp bùn lầy. Trong vài ngày nữa, y sẽ đến đầm mình vào trong đống bùn ấy.

– Có lẽ anh nên ra về thì hơn. Mụ Lieser sắp trở lại rồi.

– Mặc kệ mụ, đã muộn thế rồi cơ à?

– Không biết nữa, có lẽ vì mưa mụ sẽ về sớm hơn.

Elisabeth vừa nói vừa nép mặt vào vai chàng:

– Giá mụ bị đụng xe chết tươi có phải đẹp đẽ biết mấy!

– Em không nhân từ tí nào cả.

Graber nhìn chăm chăm khung chữ nhật màu xám nơi cửa sổ.

– Nếu chúng ta có hôn thú thì anh có thể đến đây một cách yên ổn.

Elisabeth vẫn không nhúc nhích.

– Tại sao anh muốn lấy em, anh biết em chưa được bao lâu.

– Anh biết em khá lâu rồi.

– Từ bao giờ nhỉ. Mấy ngày thôi.

– Không phải mấy ngày. Từ một năm nay rồi. Anh cho rằng thế cũng đủ.

– Làm sao cho được một năm? Không nên nói đến lúc tuổi thơ, xa quá rồi.

– Anh không kể lúc bé. Anh được nghỉ ba tuần lễ sau hai năm ở mặt trận, ở gần hai tuần lễ, như thế tương đương với mười lăm tháng ở mặt trận. Như vậy là biết em đã hơn một năm.

Elisabeth mở mắt ra.

– Em không nghĩ đến điều ấy.

– Anh cũng vừa mới nghĩ ra đây. Trời mưa mà tối om thế này người ta có nhiều ý kiến lạ.

– Cần phải tối và mưa à?

– Không, nhưng tối và mưa giúp mình suy nghĩ.

– Thế bây giờ anh nghĩ gì?

– Anh nghĩ rằng không dùng hai bàn tay mình để bắn súng và ném lựu đạn mà dùng để làm cái khác, thì thật là tuyệt diệu.

Nàng nhìn y:

– Tại sao anh không nói câu ấy hồi xế?

– Hồi xế anh có những ý tưởng thực tế hơn.

– Những ý tưởng về tiền phụ cấp và cho vay của những cặp vợ chồng mới.

– Thì cũng vậy, chỉ khác có danh từ.

Nàng lẩm bẩm nói một câu y không hiểu nghĩa :

– Danh từ quan trọng lắm, ít ra đối với những việc thuộc loại ấy.

– Anh mất thói quen dùng danh từ rồi, nhưng rồi anh sẽ học lại. Để cho anh một thời gian.

– Thời gian? Chúng ta không có nhiều thời giờ.

– Phải. Hôm qua chúng ta thấy có nhiều thì giờ và hôm nay chúng ta lại tiếc thời giờ ngày hôm nay.

Y nói rồi im bặt. Elisabeth đặt đầu lên cánh tay y, mớ tóc tạo một vùng tối trên gối trắng, hạt mưa làm lấp loáng bóng tốì trên mặt nàng.

– Anh muốn lấy em, nhưng anh có biết đích xác rằng anh yêu em không?

– Làm sao chúng ta biết được? Phải cùng sống với nhau mới biết được điều ấy chứ!

– Hẳn là thế. Nhưng tại sao anh lại muốn lấy em?

– Bởi vì anh không quan niệm đời sống nào khác hơn đời sống với em.

Elisabeth yên lặng một lát rồi hỏi :

– Anh có cho rằng cái gì xảy ra với em có thể xảy ra với người khác không?

Graber vẫn nhìn hạt mưa giăng, một tấm màn xám xịt bên ngoài.

– Có thể xảy ra với người khác được, ai biết đâu mà nói trước. Nhưng bây giờ đã xảy ra với em, anh không thể tưởng tượng ra ai khác em bên mình anh nữa.

Elisabeth cựa đầu đặt trên tay chàng.

– Anh đã học được cái gì khác rồi. Anh có giọng khác xế nay. Tại trời tối. Anh có nghĩ rằng suốt đời em, cứ phải đợi đến đêm mới được nói?

– Không, anh sẽ học nói vào lúc ban ngày. Và sẽ tránh không nói đến phụ cấp gia đình.

– Tuy nhiên chúng ta cũng không chê nó chứ!

– Chê gì?

– Phụ cấp gia đình.

Graber nín thở một lúc.

– Em bằng lòng lấy anh?

– Đành vậy, vì chúng ta biết nhau đã hơn một năm rồi. Vả chăng, sau mình vẫn có thể ly dị được phải không?

– Không. Nàng ôm chặt lấy chàng rồi ngủ đi. Chàng thức tỉnh rất lâu. Chàng nghe tiếng mưa rơi tí tách và bây giờ thì chàng biết phải nói với người yêu những lời gì.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 31 May 2026

Bác Huế nói: “Chừ con là cậu tú. Con phải đàng hoàng cho ra người lớn. Không thể sống lây lất nay chổ nì, mai chổ tê. Con về ở đy với bác. Lo cho xong cái tú tài đôi, rồi thì muốn bay nhảy đi mô thì đi.”

Không ngờ đậu cái tú tài quan trọng đến thế. Tôi thấy mình lớn vụt lên. Tôi phải đàng hoàng cho ra người lớn. Tôi không có quyền ngủ trên ghế dá công viên, không có quyền ngủ trên bãi biển. Nhất là không có quyền mặc quần thủng đít đi ra dường, một điều mà trước đây tôi xem rất thường. Ngày dọn đồ rời căn nhà lá, thấy buồn làm sao. Dù xiêu vẹo, nhưng nó đã che chở cho tôi qua bao ngày khốn khó. Tôi đi, bỏ những con ma xấu muộn hằng đêm ngoài nghĩa địa. Tôi biết rồi đây, tôi sẽ không quên được căn nhà lá bên cái nghĩa địa buồn hìu. Nó để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, Nó tan hòa cùng máu thịt tôi. Nó trở thành một phần đời, và đeo đẳng theo tôi trong suốt kiếp người còn lại. Tôi về nhà hai bác Huế Quảng, chiếm lại căn gác. Bé Đông dọn xuống ngủ chung với bé Hà. Khi sắp xếp đồ đạc, tôi thấy một mảnh giấy nhà dán ở đầu giường, “Tôi tên là Đông. Cấm gọi bé Đông”. Tôi cười thầm. Con bé này lắm điều rắc rối. Quan trọng gì một tiếng goi kèm, bé hay không bé?

Đăng và Tường hỏng tú tài.

Tường được vào trường Nông Lâm Súc. Má nó làm tiệc mừng con thi đậu, cho phép nó mời một số bạn tham dự, với điều kiện không có mặt thằng Hiên, Nó buồn rầu nói với tôi như thế. Tôi đã quen với sự hất hủi của người đời, nên điều đó không làm tôi nghĩ suy khúc mắc. Hôm sau, gặp lại bọn tôi.

Tường nói: “Tao phải làm một bữa nhậu để chia tay với tụi mày.”

Nó phân công, Ẩn và Đăng chạy di mua bia đem về căn nhà lá, nơi tôi vừa bỏ đi. Tường và tôi về nhà nó bắt gà. Tôi ngại: “Má mày không ưa tao.”

Nó trấn an: “Yên chí. Giờ này má tao đang ngủ trưa.”

Nhà Tường ở Xóm Dương. Trưa hè yên ắng, Nhà trên cửa đóng. Đàn gà đang ăn bên ngoài. Tường rắc gạo, nhữ gà vào bếp. Nó đóng cửa bếp và nhanh tay chụp dược một con. Đàn gà còn lại kêu quang quác, nhảy tứ tung.

Nó bảo: “Mày giữ gà, tao tìm cái bị.”

Một tay tôi nắm cánh gà nhấc bổng lên, một tay bóp cổ không cho kêu. Tường chạy vòng ra phía sau lấy bị. Bất ngờ, cánh cửa từ nhà trên thông xuống bếp, bật mở. Má của Tường xuất hiện. Tôi tái mặt, buộng con gà ra. Con gà không nhúc nhich. Bà cười nửa miệng, đúng hơn, bà chỉ nhếch mép: “Cậu Hiên, cầm lên đi. Tôi cho cậu đấy.”

Tôi ngồi chết sững.

Bà tiếp: “Cả năm nay, cậu rủ rê con tôi bạn bè đàn đúm, chơi bời lêu lổng, tiêm nhiễm thói bư tật xấu. Nó không đậu được tú tài, cũng vì cậu. May mà cuối cùng nó còn vào được trường Nông Lâm Súc. Cái thân bá vơ, vất vưỡng đầu đường xó chợ của cậu, không học không hành là phải rồi. Nhưng con tôi, nó phải nên người. Cậu còn quá lắm, dám xúi dại con tôi về nhà ăn cắp gà nữa. Thôi, cậu cầm lấy con gà. đi đi.

Cút ngay cho khuất mắt.”

Bà nhìn tôi bằng cái nhìn sắc lạnh như dao. Những lời đay nghiến thoát ra từ hàm răng khít rịt, cứa nát lòng tôi. Tôi nghe một luồng hơi lạnh phả tràn lên mặt, đồng thời ngực đau nhói như bị dao đâm. Tôi uất ức, tôi muốn hét vào mặt bà rằng, bà lầm rồi: Chính tôi là người thi vào Nông Lâm Súc cho con bà, Chuyện này, nếu đổ bể tôi có thể đi tù vì làm giấy tờ giả mạo. Tôi liều thân cho con bà, chứ không phải tôi hại nó như bà tưởng. Nhưng vì tình bạn với Tường, tôi đành cắn răng ngậm miệng. Tường từ nhà sau, chạy vào: “Má … , chính con bắt gà … “

Bà khoát tay: “Mày khỏi nói. Tao biết cả rồi. Du thủ du thực.”

Bà đóng sầm cửa lại. Tôi như người bị chấn thương, lảo đảo đạp xe di. Tường xách con gà đạp xe theo.

Đêm đó, chúng tôi ngồi trong căn nhà lá với con gà luộc và những chai bia. Tuờng nói lời xin lỗi rất cảm động. Tính tôi hời hợt mau quên. Vết thương nào rồi cũng lành lặn nhanh chóng. Tường lên Lâm Đồng, học trường Nông Lâm Súc. Từ đó, tôi không còn gặp lại nó nữa. Sau này, nghe đâu nó thành công lớn trên đường đời, về phương diện vật chất. Cha mẹ Đăng có liên hệ thân thiết với một vị linh mục truờng Dòng, Đuợc sự giúp dỡ ấy, Đăng dông tuốt ra Huế làm thư ký trường Pellerin. An đậu tú tài toàn phần, vào Sài gòn chuẩn bị cho niện học tới trên đại học. Bạn bè tứ tán chia xa. Tôi buồn quả đỗi. Không biết chơi với ai. Riêng thằng Hoàng, tôi thể không dây dưa dính mắc với hắn nữa. Tuyết Liên gọi hắn là con quỷ râu xanh. Đêm trong căn nhà lá sau khi hắn đi rồi, Tuyết Liên kể, hắn hiếp con bé muời bốn tuổi, từ miền quê lên nhà hắn ở đợ ẳm em. Con bé ngồi trong goc nhà, bụm háng khóc mãi. Má hắn về biết chuyện, bảo nhà có sẵn đĩ không chơi, chơi con nít chi cho phiền hà rắc rối. Bà dỗ dành cou bé,và cho nó tiền. Vài hôm sau, hắn lại đè con người ta ra hiếp nữa. Không dạy được thằng con, bà tống con bé về quê luôn. Nghe chuyện, tôi tởm hắn. Thỉnh thoảng, tôi vẫn thấy hắn đạp xich lô rà rê đón khách trước khách sạn Hoàng Yến. Dưới hình thức một nghề lương thiện, hắn là tên ma cô. Và dưới mắt hắn, mọi người là đĩ bợm. Có lần hắn nói, tao biết vài ông tai to mặt lớn của thành phố này ngủ với gái diếm, cũng như vài bà mệnh phụ phu nhân lén chồng vào khách sạn với tình nhân. Trong lý luận, hắn đánh đổ hết mọi giá trị đạo đức trên đời. Hắn dày xéo lên thân phận người khác bằng lối nhìn hết sức thâm dộc. Hắn chười đổng, và khinh thường tất cả. Thậm chí, còn đái vào những chỗ có bảng đề “Cấm đái nơi đây”, tỏ thái độ phản kháng với đời. Như con ngựa bất kham, không ai có thể cầm cuơng hắn được. Hắn coi tôi là thằng ngu ngốc để đùa chơi. Tôi càng đau khổ, hắn càng thú vị. Hắn không có tình bạn.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 31 May 2026

Thủy thủ về nhà: phần 2 
Hơn mười giờ sáng rồi mà mặt trời còn ẩn sau lớp mây trắng đục, tỏa ánh sáng yếu ớt làm quang cảnh mù mờ, có chút sương pha nhưng trời êm ả lắm. Hồ nước đã được người ta cào rác rến và đám bông súng mới hôm kia còn bông vàng, bông trắng từng chòm và lá màu xanh nâu chiếc nào chiếc nấy lớn bằng cái mâm kề nhau phủ gần bít mặt hồ, tất cả đã được dọn sạch sẽ. Mặt nước phẳng lặng như tờ, nước hồ đã lóng trong màu vàng nhợt đủ cho cây liễu xum xuê cành lá xanh xanh bên hồ soi tàng bóng nước.  Tôi với Trúc Thanh dẫn Kuma đi qua cây cầu bắc ngang hai bờ hồ. Thanh nói:
– Cảnh thanh bình quá. Nói tới đây chợt bị thu hút bởi đàn vịt đang bơi qua, chúng tôi đứng lại vịn tay lên lan can cầu nhìn xuống. Không nhớ là tháng mấy, chỉ nhớ hôm đó là mùa xuân, vẫn là những con vịt cha và những con vịt mẹ với những con vịt con nhỏ xíu này bơi lội trên mặt hồ. Đương thong thả nhìn bầy vịt bơi, chợt giựt mình thoát khỏi sự trầm ngâm khi những con vịt đập cánh xuống làm nước văng tung toé, ngó theo bầy vịt bơi ào ào làm quấy động mặt nước êm ả giữa dạ cầu. Chợt thấy một chiếc xe chạy điện dành cho người tàn tật đã thắng đứng lại trước lan can giữa cầu từ lúc nào. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe, cầm mấy lát bánh mì trắng, tay xé bánh ra miếng nho nhỏ và liệng từng miếng xuống nước, bầy vịt nhào tới giành nhau nuốt chửng những miếng bánh mì đã ướt. Nhìn bầy vịt giành ăn, tôi mới nhớ ra, hẳn nhiên có nhiều điều đã đổi thay từ mùa xuân cho tới mùa thu. Mấy đứa con của cha, mẹ vịt giờ đã lớn khôn, chúng không còn ngoan ngoãn nữa, chúng có đôi cánh khoẻ mạnh nhấc được mình lên khỏi nước và đôi chưn mạnh mẽ đạp chạy trên mặt nước như bay. Tôi khoa tay một vòng và nói:
– Ừa, mình sống một nơi rất yên bình, con người và muôn thú cũng được bình an. Mama thấy không, bầy vịt con mới mấy tháng trước còn nhỏ xíu, nay đã biết tự kiếm ăn và biết giành ăn, không lâu nữa chúng sẽ trở thành cha mẹ của bầy vịt con sau này.
– Phải rồi, trông chúng rất là vô tư, gần gũi với con người mà hổng biết sợ gì hết. Người phụ nữ chăm chú cho vịt ăn, không để ý tới chúng tôi. Nhưng tôi nhìn cô ta rất kỹ, gương mặt phúc hậu, tóc cắt gọn gàng với chiếc áo khoác len dài màu nâu, mặc một chiếc váy bông cũng màu nâu lấp ló dưới chưn, rất hợp với đôi giày màu nâu sẫm, ước tính cô ta cũng trên dưới tuổi năm mươi. Cô ta bị bịnh gì hổng biết mà ngồi xe lăn? Trúc Thanh cũng trạc tuổi với người phụ nữ kia, tuy hai chân còn đi vững và sức khoẻ đủ để làm việc nửa ngày, vì phẩu thuật mấy lần nên tinh thần không được mạnh mẽ cho lắm. Nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới những người đàn bà ở tuổi trên dưới năm mươi mà tôi quen biết, người nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và sang trọng, có người làm chủ cơ sở kinh doanh, nhưng bên trong cái đẹp hào nhoáng ấy, phần đông đều chịu đựng những căn bịnh ngặt nghèo như; ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư máu. Có vài cô đã qua đời ở lứa tuổi năm mươi, tuổi vào thu!  Tôi cũng liên tưởng tới hơn ba tháng qua, ở trên đất liền, tôi dự một buổi rải tro cốt của một ông anh và một buổi cầu siêu của một phật tử mới qua đời và có một anh bạn đang bịnh ung thư gan, bác sĩ cho biết anh ấy còn sống được vài tuần nữa. Mấy tuần trước, vợ chồng tôi và các anh, chị, em rủ nhau tới thăm, trông anh xanh xao, nhưng anh rất lạc quan, vẫn vui vẻ nói cười với anh em một cách bình thường. Mới đó mà chúng tôi đã sống trên đất khách, quê người hết cả cuộc đời. Nhớ tới những ngày còn trai trẻ, người nào cũng có một hoài bão cao ngất trời, nên khi còn chân ướt chân ráo đặt lên xứ người thì anh chị, em hợp nhau để thực hiện lý tưởng hoài bão đó. Những năm gần đây, sau mỗi chuyến hải hành trở về, nếu không nghe tin mất một anh hay một chị thì cũng nghe anh này bịnh, chị kia nằm nhà thương.  Mùa thu là mùa làm cho những người có tinh thần yếu đuối hay bị trầm cảm. Trúc Thanh nằm trong nhóm người này, tinh thần luôn bất an, vui hay buồn đều chảy nước mắt và cũng hay khóc mỗi khi nghe chuyện thương tâm. Cũng vì dễ bị tổn thương, nên có những ý nghĩ tiêu cực tôi để trong lòng chớ hổng dám nói ra. Tôi day ngang khèo Trúc Thanh và ra hiệu cho Kuma đi qua bên kia cầu. Những chùm lá già nua trên hàng cây xanh ven bờ hồ cũng đã đổi màu. Từ đây cho tới cuối tháng mười một mỗi ngày qua là tiết trời mỗi thay đổi, có thể nhìn được thời gian đi qua rõ ràng, nhứt là sự thay đổi ánh sáng mỗi ngày, nó giống như một cuốn phim quay chậm. Chúng tôi đi dọc theo con đường một bên là bờ hồ được đổ đá rất kiên cố và một bên đường trồng một hàng cây lá đã đậm màu, có vài chiếc lá đã điểm màu vàng và lác đác rụng trên thảm cỏ xanh. Trời im gió, không khí mát rượi, những bụi bông lục bình xanh dương hay tím tím, bông thủy tiên và bồ công anh với màu vàng tươi và kết hợp với những loài hoa màu trắng hoặc màu hồng của cá hồi; có loại lá to, loại lá nhỏ, lá gai, lái dài, lá ngắn; có mùi thơm hoặc không có mùi thơm… tất cả rộ lên trong những ngày mùa xuân mà giờ đây cũng đã đổi thay, không còn nhận ra dấu vết. Tôi cầm tay vợ vu vơ nói:
– Bây giờ là mùa thu. Thanh nói:
– Mùa dịch cô vít chớ thu gì.
– Dịch cô vít qua hơn một năm rồi và hổng biết chừng nào mới dứt, không phải là mùa nữa mà phải gọi là “trận” dịch cô vít. Thanh rùng mình một cái:
– Ghê thiệt. Chợt ghe gió lạnh, tôi ngó lên trời, day qua nói:
–  Mây đen kéo về, trời sắp mưa. Thanh nói:
– Ừ, dạo này mưa, gió thất thường, mình đi dìa được rồi.  Về nhà Trúc Thanh cho Kuma ăn, còn tôi pha hai tách trà gừng, chúng tôi rất thích trà gừng tươi, vì nó không chỉ là một thức uống ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Có một chị bạn là bác sĩ mách cho tôi biết, trà gừng tươi có tác dụng chống viêm, giúp giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch và thậm chí bảo vệ chống lại ung thư ruột và bệnh Alzheimer. Ngoài ra gừng có tác dụng chống buồn nôn, ta có thể uống nhiều hơn so với một tách trà bình thường. Trong những trung tâm dinh dưỡng cho rằng, gừng cũng thích hợp trong thức ăn lành mạnh. Tôi bưng hai tách trà gừng đem ra bàn, lúc đó trời đã bắt đầu mưa. Tôi nói với Thanh:
– Ngồi trong phòng nhìn mưa, uống trà cũng ấm áp.  Trúc Thanh day qua nói:
– Ờ hén, thấy cũng hay hay. Tôi nhìn mưa tạt vào khung kiếng nghe rào rào, ngoài vườn cây cối lai rai nhả những chiếc lá già xuống sân. Tôi nói:
– Mama nhìn ra vườn sau coi, những chiếc lá dán xuống mặt gạch bị nước mưa làm ướt mem. Trúc Thanh rụt cổ, nói:
– Lạnh thấy mồ.
– Mama lạnh vì bị thời tiết bên ngoài xâm nhập.
– Là sao?
– Mùa thu là mùa di chuyển chậm, thời gian đi từ từ, trời đất gần nhau, tuy nhìn bên ngoài lạnh nhưng nếu nhìn vào bên trong vẫn thấy được ấm áp.
– Trời đất như vầy mà ấm áp gì.
– Thì mình sống tự nhiên theo mùa, tư duy nên hướng vào nội tâm thì sẽ thấy được niềm vui ấm áp.
–  Tui thấy càng hướng vào nội tâm càng dễ bị trầm cảm.
– Đó là tâm trạng của người bịnh, có khi nào mama gặp phải các triệu chứng như cảm lạnh, da khô hoặc táo bón trong mùa thu không?
– À, cái này có, nhưng…
– Nhưng sao?
– Cảm lạnh, da khô, táo bón ăn nhập gì nội tâm?
– Ăn nhập chớ, cũng nhờ nội tâm chỉ cho mình thấy được những triệu chứng đó.
– Mùa khác hổng có mấy triệu chứng này sao?
– Có nhưng mùa thu thường xảy ra hơn.
– Vậy à? Tôi chỉ tay xuống tách trà nói:
– Uống hết tách trà gừng đi, gừng ngừa cô vít đó. Trúc Thanh bưng trà lên uống một ngụm, để tách trà xuống rồi nói:
– Ờ, hổng biết có ngừa dịch được không nhưng thơm và ấm thiệt.  Trúc Thanh cầm đồ bấm lên định mở truyền hình, thấy tôi nhìn qua, cô để đồ bấm xuống. Số là trước kia Trúc Thanh dành thời gian xem truyền hình rất nhiều, nhứt là từ khi đại dịch hoành hành ở Việt Nam, cô hay lên Youtube xem mấy clip bên nhà, phần đông là những chuyện thêu dệt cảnh thương tâm của mấy người làm clip, riết rồi bị trầm cảm. Thấy vậy tôi đề nghị với Thanh trong lúc ăn, uống cũng như giờ ngủ không xem iPad và không coi mấy cái clip tiêu cực của Việt Nam nữa. Ban đầu Thanh có hơi bất bình nên hỏi vặn:
– Tại sao? Tôi giải thích:
– Tại vì truyền hình và mạng internet tin giả, thầy tu giả nhiều vô số, tệ hơn nữa mấy cái clip họ dàn cảnh đóng giả tràn lan, mama xem riết rồi bị bịnh đó. Trúc Thanh nghe tôi giải thích, mới ngộ ra, nhưng cũng còn tiếc:
– Vậy thì ngoài những tin tức của đài phát thanh truyền hình có uy tín và nghe nhạc ra tui hổng xem cái gì nữa hết được hông?
– Tui đâu có ra lịnh cấm mama, chỉ lưu ý thôi, nghe, xem tin tức thì  phải biết chọn lọc, nếu không thì bị nhiễm mấy thứ tiêu cực trên mạng, nó cũng độc hại không thua nhiễm cô vít đâu.
– Nhưng làm cách nào để chọn lọc đây?
– Chỉ có cách là bỏ bớt không gian mạng và mấy đài phát thanh, nhứt là đài truyền hình của Việt Nam, đừng thấy mấy cô, mấy cậu biên tập viên người nào cũng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ và đọc nghe sướng cái lỗ tai mà tin theo bị lầm chết. Còn YouTuber thì phịa tin giựt gân để thu hút mấy người nhẹ dạ cả tin.
– Ừa, sao họ phịa mà y như thiệt vậy đó.
– Bỏ đi! Tốt hơn hết là mình nên quay lại bên trong xem cơ thể mình nó có rầy rà không và sống cho phù hợp với thời tiết của một ngày là đủ rồi.
– Papa nói thử coi, sống sao cho phù hợp với thời tiết hôm nay đây?
– Theo y học cổ truyền Đông Phương thì phân ra năm yếu tố: mộc, hỏa, thổ, kim và thủy, nghĩa là; cây, lửa, đất, sắt và nước. Nếu có sự hài hòa giữa năm yếu tố này, thì sẽ có một sự cân bằng lành mạnh. Mỗi yếu tố liên quan đến một cơ quan, mùa thu gắn liền với nguyên tố kim loại. Cũng theo y học cổ truyền, hằng bao thế kỷ qua, mùa thu vẫn liên hệ với phổi và ruột già. Phổi đón nhận năng lượng mới dưới dạng oxy, ruột già đưa các chất cặn bã trong cơ thể của ta ra ngoài.
– Papa ngồi bên trời Tây mà nói chuyện bên trời Đông nhắm có hợp lý không?
– Cái này tui đọc qua báo Tây đó chớ. Bên Tây bây giờ tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc thiếu gì. Mama là hội viên của tiệm thuốc Nam mà hổng biết sao?
– Ờ hén, nhưng thuốc thì trị thân thể thôi, còn cảm xúc thì sao?
– Cũng theo đông y, cảm xúc có liên hệ với phổi tạo ra nỗi buồn.
– Vậy là mùa thu là mùa buồn.
– Theo tui được biết thì ta nên cho nỗi buồn một không gian thoáng sẽ tạo ra một sự rộng rãi trong chính bản thân mình. Một khi năng lượng phổi được cân bằng thì có những suy nghĩ, giao tiếp với người ngoài cũng tích cực hơn, nhờ lọc bỏ những cặn bã và thong thả với những ý tưởng mới, có khả năng thư giãn mà phân biệt thật, hư rõ ràng. Còn nếu ai sống trong không gian hẹp, keo, bẩn thì năng lượng phổi thấp và suy tư kém cỏi, lúc đó sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với mất mát. Cũng như khó mà buông bỏ tiền tài, vật chất và dễ bị mắc kẹt trong những kinh nghiệm thành công hay thất bại đã trải qua trong đời sống. Cho nên cần làm sạch bên trong lẫn bên ngoài, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
– Như vậy vào mùa thu thì nên thiền tập nhiều để hướng sự chú ý vào trong mình, xem những gì cần thiết để cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa.
– Theo tui thì đó là tâm trạng còn phân biệt, không riêng gì mùa thu. Mọi thời, mọi lúc nên chú ý vào trong mình, để biết mình nên cần giữ điều gì có thể giữ và bỏ điều gì cần phải bỏ.
– Là sao?
– Là những khi rảnh rổi ngồi yên đều hoà hơi thở, để loại bỏ chất thải trong tâm thức, cũng như chất cặn bã của ruột già. Nói chung, những gì trong cơ thể và tâm thức không còn sử dụng được nữa, ta nên thải ra cũng như trong đoạn cuối cùng của sự tiêu hóa.
– Tự dưng hôm nay vợ chồng nói chuyện có hơi khó hiểu. Thực tế chút đi, ăn uống làm sao cho phù hợp với mùa thu?
– Mama làm khâu phát triển sản phẩm trong xưởng sản xuất thức ăn tươi đóng gói cho siêu thị thì phải biết thức ăn của mỗi mùa chớ.
– Ờ, tui nhớ rồi, hôm kia trong hãng chuẩn bị đóng gói rau củ cho các món hầm và bí đỏ cùng gia vị cho món pompoensoep. Tôi hớp một hớp trà nhìn qua Trúc Thanh hỏi:
– Chỉ có rau của món hầm và xúp thôi sao?
– Còn nhiều lắm, tui chỉ đưa ra mấy món tiêu biểu thôi.
– Vậy theo kinh nghiệm lâu năm của mama ra sao kể nghe đi. Trúc Thanh ỡm ờ và hỏi:
– Kể cái gì bây giờ? Tôi gợi ý:
– Đại khái văn hoá ẩm thực, tiêu biểu thực phẩm đúng mùa không chỉ chất lượng hơn mà rau thường ngon hơn, có thể mua nó với giá rẻ hơn và còn có những món ăn tiêu biểu của Hoà Lan, mình cũng nên biết chính xác loại rau nào có mặt vào mùa nào nữa. Trúc Thanh liền nói:
– Rau, trái, củ hầu như mùa nào cũng có bao nhiêu thứ đó thôi, nhưng điển hình các loại rau, trái, củ phổ biến nhiều vào mùa thu như: củ dền đỏ, cần tây, cải xoăn, các loại bắp cải, các loại nấm, củ cần tây, bí rợ, tỏi và, bắp cải đỏ, cà rốt và cải chua; gia vị cay và nặng mùi như tỏi tây, quế, tiêu và ớt. Tôi cười:
– Trúng nghề nên mama kể ra vanh vách.
– Đại khái vậy thôi, đặc biệt là những hương vị nhẹ nhàng, thường thì ăn các món hầm trong khí trời lành lạnh ăn vô thấy ấm lòng hơn.
– Ừa, phải rồi, bí rợ thực sự là một trong những loại trái đặc trưng của mùa thu, nó có vị ấm và ngọt, có thể sử dụng nó tốt trong các món ăn thông thường hoặc nấu một món xúp ngon. Như pompoensoep là món xúp tiêu biểu mùa thu của Hoà Lan, nói chung là Âu Châu, món này gia vị hơi cay ăn với bánh nướng mặn hoặc bánh mì cây hợp với khí trời man mác lạnh.
– Papa là đầu bếp, chuyện ăn uống papa rành hơn tui mà.
– Ờ hén. Tôi uống thêm ngụm trà gừng và nhìn ra ngoài trời mà ngẫm nghĩ. Thân thể con người ta cũng ngộ, ngay khi những chiếc lá rơi khỏi cây và khí trời lành lạnh, tự nhiên cảm thấy thèm thuồng những món ăn ấm cúng. Tôi day lại nói:
– Thực đơn ăn uống cho mùa thu thì nhiều lắm. Ngoài món xúp bí rợ, xúp đậu ra còn có các loại bánh quiche hoặc những món ăn chơi và món ăn truyền thống của Hoà Lan vào những ngày trời lành lạnh. Điển hình là món khoai tây luộc nghiền chung với cà rốt có tên là hutspot, hoặc nghiền chung với cải xoăn có tên là boerenkoolstamppot, nói chung là các món khoai nghiền tiếng Hoà Lan gọi là stamppot, những loại này ăn kèm với bò viên, thịt ba rọi chiên dòn và xúc xích Hoà Lan hun khói mới đúng điệu ẩm thực của Hoà Lan. Trúc Thanh nói:
– Những món này theo khẩu vị của người Hoà Lan, gia đình mình sống ở đây lâu năm, tui mần trong xưởng chế biến, đóng gói thức ăn và nêm nếm mỗi ngày, còn papa là đầu bếp, mình cũng đã quen với khẩu vị Hoà Lan rồi, vậy mà ăn chỉ được vài ba món chơi cho vui thôi chớ hổng mặn mà cho lắm. Nói chi tới người Việt mình, có được mấy người nuốt cho trôi mấy món stamppot và xúp bí, xúp đậu… Tôi cười hì hì:
– Theo tui thấy thì những người da trắng như Nga và các nước Đông Âu ăn uống dễ thích nghi với mùi vị Hoà Lan. Còn In Đô, Phi Luật Tân cũng như phần đông người Việt mình sanh sống ở Hoà Lan lâu hay mau gì thì cũng khó ăn lắm.
– Dĩ nhiên rồi. Nghe vợ xác nhận tôi chợt nhớ mấy hôm trước đây, Trúc Thanh với một bà bạn hàng xóm người In Đô và một chị người Việt gần nhà rủ nhau đi vô khu vườn trồng rau của miền nhiệt đới trong một nhà kiếng rộng. Ở đó người bán và người mua tại vườn những loại rau, trái, củ như: khổ qua, mồng tơi, rau muống, rau dền, bầu bí, mướp hương, khoai lang, cà tím, mà người Việt mình dí dỏm gọi là “cà ông giặc”. Tôi day ngang nói:
– Mama hổng nhớ sao, thường thì muốn cho có chút hương vị Việt Nam, vườn rau nhiệt đới xa cả trăm cây số mà mama vẫn lái xe đi mua vài trái khổ qua, mướp hương, bó rau muống và rau thơm. Mấy hôm trước đây chớ đâu xa, khi nghe tin nhà vườn thu hoạch rau, củ, trái cuối mùa bán giá rẻ. Mama còn xông xáo gọi điện rủ mấy người Việt gần nhà, ai đi không được thì hỏi coi mua rau gì mama ghi vô quyển sổ để mua dùm. Còn kêu tui đi theo, tới nơi mấy bà tha hồ mà hốt, rồi bắt tui rinh chất đầy nhóc cốp xe, mệt muốn ná thở luôn.
– Ờ, dù sao rau mua tại vườn cũng vừa tươi, vừa ngon.
– Nghe nói tươi ngon tui thấy đói bụng rồi đây. Vậy hôm nay mama tính cho ăn món gì vậy? Trúc Thanh day qua hớp một hớp trà và từ từ đứng lên đáp:
– Bánh xèo, trời mưa lành lạnh ăn bánh xèo cũng ngon.
– Ờ lâu rồi tui chưa ăn bánh xèo, tưởng quên cái món quê hương này rồi, nay nghe mama nói, phát thèm!
– Dĩ nhiên! Nói xong Trúc Thanh bước qua mở tủ đựng đồ khô, lấy một bịt bột gạo và vài gói gia vị rồi qua mở tủ bếp bày dụng cụ ra pha bột. Pha bột xong, day qua tủ lạnh bưng tô nhân bánh xèo làm sẵn ra rồi day qua nói:
– Papa soạn trong học tủ lạnh ra coi còn rau, cải gì ăn bánh xèo hông? Tôi đi lại mở tủ lạnh, coi lại học rau:
– Rau cải của mama mua trong vườn hôm trước ăn cả tuần nữa còn chưa hết.
– Vậy thì papa thấy rau nào ăn bánh xèo được lấy ra lặt, rửa xong rồi lột củ tỏi và gọt dùm hai củ cà rốt.
– Ô kê! Tôi lựa rau cải ra rửa xong rồi hỏi Trúc Thanh:  Còn phụ làm gì nữa không?
– Papa lấy nước mắm rót ra hâm lại và dọn bàn ăn được rồi. Trong khi Trúc Thanh đổ bánh, tôi rót nước mắm để vô lò vi sóng bấm nút ba mươi dây thì chợt nghe điện thoại báo. Tôi đi lại chỗ để điện thoại bấm nhìn xem, thấy có tin nhắn của hãng tàu. Tôi ngước lên nói với Trúc Thanh:
– Tui nghĩ hãng tàu kêu tui đi làm.
– Papa đọc coi họ nói gì? Tôi đọc tin xong day ngang nói:
– Ồ, hông phải đi làm, mà giấy chứng nhận sơ cứu của tui hết hạn rồi, họ kêu tui trở lại trường học ba ngày, để đổi chứng nhận mới.
– Vậy hả? Tôi về nhà từ đầu mùa hè tới nay đã giữa mùa thu rồi. Cũng vì sợ cô vít nên chúng tôi hổng dám đi chơi xa. Hơn ba tháng trời, ngoại trừ mấy lần đi thăm vài người bạn cần thăm, tôi chưa ra khỏi vùng Flevoland, cứ luẩn quẩn ở Dronten, một thị trấn nhỏ nằm trong miền đất thấp hơn mặt nước biển của vương quốc Hoà Lan. Ở nhà không được tiếp xúc bạn bè, hổng nói chuyện với ai ngoài vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, lắm khi nhàm chán rồi cãi qua cãi lại. Trước đại dịch, nếu tôi còn ở trên bờ, mỗi khi thấy trời chợt mưa, chợt nắng và gió lành lạnh lướt qua hàng cây trước nhà thì lòng tôi rạo rực, trong ý nghĩ dấy lên một chút lãng mạn rằng mùa thu là mùa lên đường và nôn nao chờ đợi ngày đi. Đối với tôi thì ở trên bờ hơn ba tháng có hơi lâu và phát hiện ra, thời gian qua tâm tư cũng có ít nhiều thay đổi. Năm nay tôi đã trên sáu mươi tuổi rồi, nghiệp đoàn có gởi thư thông báo, nếu muốn thì cuối năm tôi có thể nghỉ hưu, có lẽ cũng vì bức thư nghỉ hưu làm tôi để ý tuổi tác, sức khoẻ của mình. Dù sao đi nữa trong những ngày ở nhà nhàn rỗi, tôi để ý mùa màng một cách tường tận hơn. Thiệt tình mà nói tôi có thể tận hưởng thời tiết trước mặt trọn vẹn không cần phải ngong ngóng phương xa. Nhưng khi nhớ lại có vài thủy thủ già đã nghỉ hưu và còn sức khoẻ, bèn xin trở lại hải hành ngắn hạng. Theo họ thì hải hành để tránh sự nhàm chán trên đất liền và cho đỡ nhớ biển! Sức khoẻ tôi so ra thì cũng còn khá, nghĩ tới đây trong lòng tôi phân vân. Trong lúc chưa biết phải nên tiếp tục hải hành hay là như nhiều người đã khuyên “nên nghỉ ngơi để hưởng thụ cái tuổi già,? Bây giờ được tin tuần sau tôi phải về trường tập huấn, tôi mới nảy sanh ra một ý nghĩ. Tôi đi lại bếp vừa phụ Trúc Thanh dọn bàn vừa nói:
– Trong ba ngày vô trường thực tập, có môn bơi dưới nước cho trực thăng tới vớt lên và nhảy từ trên cao xuống nước, có hơi nặng, nếu tui vượt qua được hai đoạn này thì tui sẽ tiếp tục làm việc thêm năm năm nữa. Trúc Thanh xúc bánh xèo ra dĩa vừa nói:
– Lấy chứng nhận xong rồi hẳng tính, bây giờ ăn bánh xèo cái đả.  
Dronten 29-9-2021 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 31 May 2026

Hôm nay cáo phó sao nhiều quá! Ở tuổi già, bạn bè thường nói với nhau: “Bây giờ chẳng ai mời đám cưới nữa mà toàn đi dự đám tang!” Đây không hẳn là một câu nói trách móc ai mà chỉ là một lời “tri thiên mệnh.” Một ông bạn già còn phát biểu thêm: “Đi đám ma còn mất thời giờ hơn đi đám cưới!” Tôi đang còn ngạc nhiên vì chậm hiểu thì ông bạn lanh lẹ giải thích: “Lần thứ nhất phải vào bệnh viện thăm, lần thứ hai phúng điếu tại nhà quàn, lần thứ ba đưa đám và lần thứ tư dự lễ thất tuần hay bách nhật!” Đúng là một thằng cha chi ly, tính toán, nhưng chưa chừng thực tế, nếu chúng ta thân với hắn, chắc cũng phải đến với hắn đủ bốn lần, cho đúng với câu “nghĩa tử là nghĩa tận”. Nhiều người sợ khi phải nói đến cái chết, tệ hơn là nói đến những dự định hay sửa soạn cho đám tang của mình, vì sợ xui xẻo, nhưng lại thích tưởng tượng chuyện trúng số độc đắc, bằng chứng là có nhiều người mua vé số hàng tuần vì hy vọng. Người mua vé số “có thể” trúng độc đắc, ta là người mua vé số, ta cũng có thể trúng độc đắc, đó là tam đoạn luận. Tuy vậy, mỗi năm nước Mỹ này chỉ có thêm được vài chục người may mắn trúng số độc đắc, nhưng cũng mỗi năm xứ này có 20,000 người chết vì bệnh cúm thường(common flu), 42,000 người chết vì tai nạn trên xa lộ, 15,000 người chết vì súng ống, đâm chém. Nội số  người bị điện giật không thôi cũng gấp bốn lần số người trúng số. Vậy thì chúng ta nói chuyện đám ma coi bộ còn có lý và hiểu biết chuyện đời hơn là bàn chuyện trúng số.

Nếu bàn chuyện: “chết rồi đi về đâu?” là nói chuyện triết lý và đụng đến niềm tin tôn giáo. Bọn phàm phu tục tử chúng tôi thường có câu hỏi thực tế gần hơn, là chết rồi, nên chôn hay nên thiêu? Thiêu thì hẳn rẻ hơn chôn. Thiêu rồi đem rải tro ở đâu đó để “cát bụi trở về cát bụi” cho xong một kiếp người. Nhưng khổ nỗi, nhiều người ngỏ ý không chịu cho con cháu thiêu vì sợ nóng, người chết còn biết nóng thì chắc khi chôn bị ngộp thở, rồi côn trùng sâu bọ rúc rỉa trong xương thịt dài dài, còn khổ sở biết bao nhiêu! Chôn xuống đất, phải tốn tiền cho một phần mộ. Một phần đất chôn, cộng với nhà quàn, quan tài, bia mộ không dưới $15,000 cho một người, đâu phải là số tiền ai cũng có được! Mộ thì phải có bia, mặc dù bia đá trăm năm cũng phải mòn. Chôn xuống đất rồi, nằm đó, ngày tháng trôi qua mà không có “con ma” nào lui tới thăm viếng còn rầu hơn nữa, nhất là những ngày Hiền Mẫu, Nghiêm Phụ, những ngày Lễ Tết, “nằm trong huyệt lạnh chắc em sầu .. “(Đinh Hùng), vì mộ người bên cạnh nhang khói, hoa tươi phủ đầy mà phần ta tiêu điều vắng lạnh, sao cho khỏi chạnh lòng dưới mộ sâu.

Chết rồi đem vào nhà quàn, lại có người muốn đến đọc bản tuyên dương công trạng và phủ cờ. Bản thân chưa làm được điều gì ích quốc lợi dân, lại chưa hết lòng vì tổ quốc, nay nước mất nhà tan, chịu cảnh đầu hàng, hoặc là bỏ đơn vị, chiến hữu ra đi, cao bay xa chạy, hoặc xếp hàng “đăng ký” xin ghi tên vào tù, còn vinh dự gì để được lá cờ tổ quốc phủ lên quan tài. Những người xứng đáng được phủ lá cờ tổ quốc hiện nay đang nắm trong nghĩa trang quân đội Biên Hoà hoang lạnh hay bỏ xác trên rừng dưới biển. Ngoài những trang liệt sĩ, anh hùng đã chết vì tổ quốc như thế, ở đây còn ai xứng đáng để phủ lá cờ thiêng liêng ấy cho người lính già chết tha phương trên đất khách hôm nay?

Cũng xin đừng quá lo lắng, phiền lòng đến chuyện cầu nguyện cho người đã chết để linh hồn được sớm siêu thoát bay lên Niết Bàn hay Thiên Đàng an vui. Nghiệp chướng, nếu sống một cuộc đời tốt lành, không có năng lực nào làm cho dầu chìm được xuống đáy hồ, nếu sống một cuộc đời xấu xa, là đá thì là nghìn câu kinh cầu nguyện cũng không làm cho đá nổi lên được mặt nước. Không có giáo sĩ quyền năng trên thế giới này có thể cầu nguyện để làm ngược lại được định luật đó. Nếu chúng ta vẫn thường tự hào về bản sắc văn hoá, nghìn năm nô lệ cũng không bị đồng hoá, sao mới sống với Mỹ ba mươi lăm năm, đã vội quên đậy nắp quan tài cho người thân. Người Việt trong nước sau năm 1975, bắt chước Liên Xô, người chết nằm trong quan tài có nắp kính để người viếng có thể trong thấy mặt, vợ con anh em thay nhau phát biểu tình cảm với người chết, rồi quan khách “diễu hành” quanh quan tài nhiều vòng, trước khi di quan, nhưng ngày nay loại văn hoá này đã không còn tồn tại. Theo tục lệ Việt Nam, người chết rồi thì phải đắp mặt, tẩm liệm thì phải đậy nắp hòm. Người bệnh đau ốm lâu ngày, nhan sắc tàn phai, nhiều khi không muốn gặp mặt bạn bè, thân quyến, huống gì lúc đã nhắm mắt xuôi tay. Gia đình con cái thì xúc động khi còn nhìn thấy mặt người thân, tạo nên sự lưu luyến tình cảm, bịn rịn không muốn chia rời. Hầu như tất cả đám tang cử hành tại Mỹ, trong cáo phó đều có ghi hàng chữ “Xin miễn phúng điếu”, dần dần người ta hiểu nghĩa “xin miễn phúng điếu”, có nghĩa là tang gia không nhận tiền, trong khi đó vẫn nhận hoa. Thật ra “Phúng: là lễ vật để điếu người chết,” “Phúng Điếu: là đem lễ vật đến hỏi thăm người chết” (*) vậy thì không những tiền, mà hoa hay bánh trái, nhang đèn (như ở Việt Nam) đều là vật phúng điếu. Người ta cũng thường căn cứ vào số lượng vòng hoa phúng để lượng giá một đám tang lớn hay nhỏ, sang hay hèn, mặc dầu những tràng hoa này chỉ tồn tại trong vòng một ngày rồi đem vứt bỏ, đã tốn kém khoảng $200 cho một tràng hoa, một số tiền không nhỏ. Nhiều tang gia đã loan báo không nhận vòng hoa và xin dành số tiền đó cho những việc từ thiện, nhưng không được đáp ứng từ bạn bè thân thích, lý do là người ta thích bề ngoài, làm sao cho đẹp mắt mà mọi người đều thấy được. Một đám tang, khoảng từ 5 đến $8.000 tiền hoa được đem đi vứt bỏ phí phạm. Một đám tang của người Mỹ, dù là danh giá hay triệu phú, không có nhiều vòng hoa tang như người Việt, có dịp, các bạn thử đếm xem, chúng ta “chơi bảnh” hơn họ nhiều. Vui hay buồn thì cũng hiểu cho thuận lẽ trời. Mái tóc điểm sương và xác thân “tứ đại”

(**) bắt đầu rệu rã. Châm ngôn của ngành Thiếu Hướng Đạo là “Sắp Sẵn”, còn chúng ta thuộc loại “cổ lai hy” rồi, đã có ai sắp sẵn chưa?

Phần các con, xin hãy cho mẹ một bát canh nóng lúc về già hơn là nghìn nghi thức đưa tiễn lúc nằm xuống, lúc bấy giờ mẹ đâu còn biết gì nữa!

(*) Hán-Việt. Đào Duy Anh (**) Gió, Lửa, Nước, Đất

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 31 May 2026

Bây giờ là mùa Đông, Mùa Đông ở Saigon chỉ khác chút ít với mùa hè, vì Saigon không có bốn mùa mà chỉ có hai mùa mưa nắng, vì vậy người không nhà vẫn có thể ngủ qua đêm bên hè phố, trong ống cống, mà không cần chăn đắp. Nhờ vậy những năm 80, dân chúng trốn từ vùng kinh tế mới về có thể ngủ la liệt trên đường phố, kiếm miếng ăn sống qua ngày mà chờ ngày vượt biển hay ở lại với Saigon đã đổi tên, để buông theo số phận. Bây giờ tuy mùa Đông, California vẫn còn chút nắng ấm trong khi ở miền Đông Bắc nước Mỹ, nhiệt dộ xuống thấp, tuyết phủ dày đặc khắp nơi, nhất là sau cơn bão Sandy, nhiều thành phố mất điện, trên xa lộ nhiều tai nạn xẩy ra, nhiều người chết vì băng giá vì trong nhà không có khí sưởi và ở ngoài trời trong công viên, nơi gầm cầu hay dưới ga xe điện ngầm với những kẻ không nhà.

Cơn nóng năm 2003 ở Âu Châu đã giết 70,000 người, trong dó nước Pháp dã có 14,802 nạn nhân, nhưng lạnh thì năm nào cũng giết người một cách âm thầm trên khắp thế giới.

Những người chết cóng thân nhiệt bị hạ thấp và tim ngừng đập vì ngủ ở ngoài hè phố hay dưới gẩm cầu, với bức tường là nhà và thùng carton là chăn đắp. Tại thành phố Boston, 151 người vô gia cư đã chết trong mùa đông năm 2002, trong đó có một em bé hai tháng tuổi. Ngay cả những vùng ít lạnh hơn như Atlanta, Georgia, cơ quan cảnh sát cũng ước tính một năm có 60 người vô gia cư chết vì lạnh. Nhiều người tê cứng ngoài hè phố đã được cứu sống nhưng phải bị cắt cụt bàn chân, bàn tay hay những ngón tay vì những phần này đã bị hoại tử. Con người ở xứ lạnh thường giàu có no đủ hơn các dân tộc vùng nhiệt đới, nếu không những xứ đói nghèo như Châu Phi, không có thực phẩm, không có áo quần làm sao sống qua những mùa Đông giá buốt. Thượng Đế, nếu có, mìa mai và quái ác cho xứ nghèo cái nóng và cho dân giàu cái lạnh, Tuy vậy, sự ban bố này không mấy hoàn hảo nên trên trái dất này, nhiều nơi đã đói nghèo mà còn phải chịu thêm lạnh lẽo.

Những năm sau tháng 4-1975, những người lính miền Nam đã quen với khí hậu ấm áp. bị đày ải ra miền Bắc trong các nhà tù tập trung bắt đầu cảm thấy cái lạnh buốt tán nhẫn của mùa Đông, Khi ra đi chúng tôi chỉ có mấy bộ áo quần, chiếc mùng và chiếc chăn đơn, đầu không nón, chân không giày. Đến mùa Đông tù nhận được phát áo “trần thủ” độn bông, những chiếc áo thời Điện Biên Phủ dễ chừng đã từng thấm máu thương binh hay những người chết đã dược giặt giủ để dùng lại. Những đôi giảy vải cũng không chịu nỗi với thời gian khi phải lội qua cơn suối lạnh, những quãng đường lầy lội hay trên những con đường mòn qua núi trơn trượt, nên cuối cùng vẫn là đôi “dép râu” hay hai bàn chân trần, với mười ngón chân bám chặt vào thớ đất … quê hương tù đày.

Buổi sáng chúng tôi thức giấc giữa vùng trời lạnh đầy sương muối. Những bàn chân gầy lép phải nhấn sâu trong bùn nhão phủ bởi một lớp sương đã đóng thành băng trắng để thay đám trâu nhào đất làm gạch, cảm thấy cái lạnh buốt đền tim gan. Những ngày “ra gạch,” bụi bặm, than xỉ bám đầy tóc tai, áo quần, trên đường trở về trại, mặc dầu trởi rét cắt da, đoàn tù cũng phải cởi áo quần xuống suối tắm gội, toàn thân run rẩy, ửng đỏ vì máu phải dồn ra da để chống cải lạnh khắc nghiệt.

– Những buổi tối mua Đông, sau một ngày mệt mỏi, đói khát chúng tôi chi muốn buông mùng, tay ôm đầu để tìm vào giấc ngủ, nhưng lại phải chong đèn “học tập” ngồi “phê bình, kiểm thảo,” chì chiết, kê kích nhau để bình công, chấm diểm dưới cái bóng ma “cách mạng” dấu mặt. để định cho kẻ kia mười bốn, người nọ mười bảy cân lương thực. Đói, buồn, vất vả và giá buốt đã làm tiêu hao sức lực của những chàng trai trung nien, biến chúng tôi thành những con ma đói dật dờ. Những căn nhà mái tranh vách nứa, khe hở gió  lùa, để chống rét, mỗi đêm trởi lạnh chúng tôi gom củi rừng, đốt một đống lửa giữa “lán,”để tìm chút hơi ấm. Ánh sáng cùa bếp lừa giữa nhà hắt bóng những người tù ngồi lên vách nứa, chập chờn như những bóng ma. Nửa đêm lửa tàn, cơn lạnh làm những người tù thức giấc, co ro, xót xa nỗi nhớ nhà, nghe tiếng gió rít trên vùng đồi núi chung quanh trại tù như tiếng ma quỷ kêu gào giữa dêm khuya. Cái lạnh là kẻ thủ lớn nhất của người tù trên núi rừng Việt Bắc, nó đâm da xẻ thịt những con người còm cõi vì làm lụng vất vã mà không có đủ miếng ăn, cộng với nổi buồn của những người lưu đày xa xứ, mỗi buổi chiều theo dõi đám mây trôi, mà thấy miền Nam xa biền biệt không có ngày về. Cái lạnh thường mang theo nỗi buồn, cái lạnh mang thêm cái đói, cái mệt nữa đã tàn phá con người một cách nhanh chóng, cho nên không ít người trong chúng tôi đã phải nằm lại trên những ngọn đồi heo hút, nhưng không phải xương cốt ai cũng được một ngày nào đó mang trở lại về quê hương.

Sung suớng cho các bạn bè còn ở lại miền Nam, dù sao mảnh đất đó cũng là ruột thịt, hơi hám của quê hương, để các bạn còn nghe giong nói quen thuộc, thấy dáng núi cỏ cây, vẫn nghĩ đây là nơi gần gũi với những người thân yêu, vì nơi đây dủ sao vẫn được gọi là đất nhà. Dù cùng là cảnh tù đảy nhưng không phải mang bản án lưu xử, phát vãng dến nơi “chim kêu vượn hú, biết đâu là nhà!” Bây giờ, gần ba mươi năm sau mỗi lần trời mùa Đông, tôi lại nhớ đến cái lạnh (mà người miền Bắc gọi là rét) Yên Bái, Tuyên Quang, Nghệ Tỉnh, .. với hình ảnh đoàn tù rách rưới, mệt nhọc, thểu não, lầm lì lê bước đi trên những con đường mòn qua rừng, qua suối, qua những bờ ruộng mấp mô, thèm một bát cơm nóng, một bếp lữa, một tiếng cười.

Bây giờ, dù là mùa Đông tuyết đổ trên xứ người, có chăn ấm nệm êm. có bát cơm nóng, có bếp lửa, có tiếng cười, những ai còn nhớ hay ai đã quên?

Huy Phương

Hải quân Thiếu tá Thinh Hoang, Sĩ quan kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân Hải quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com/

Nguyễn Quân

Posted on May 29, 2026 by dongsongcu

Post by Sơn râu 31 May 2026

HQ Thiếu tá Thinh Hoang (hình của linkedin.com).

Hải quân Thiếu tá Thinh Hoang là Sĩ quan kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân Hải quân Hoa Kỳ, ông hiện giữ chức Sĩ quan điều phối của Giám sát đóng tàu, chuyển đổi và sửa chữa tàu ngầm hạt nhân tại Groton, Connecticut (SUPSHIP Groton). SUPSHIP là cầu nối giữa Bộ Hải quân và Tập đoàn Electric Boat, là đơn vị tham gia thiết kế và chế tạo các tàu ngầm mới mang hoả tiễn đạn đạo lớp COLUMBIA, và tiếp tục chế tạo các tàu ngầm lớp VIRGINIA, cũng như sửa chữa và hiện đại hóa các tàu ngầm hạt nhân lớp OHIO, LOS ANGELES, SEAWOLF và VIRGINIA trong Hạm đội tàu ngầm. Trách nhiệm của Giám sát là quản lý các hợp đồng đóng tàu ngầm được giao, bảo đảm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật và chất lượng của hợp đồng, duy trì sản xuất đạt yêu cầu và bảo đảm sản phẩm cuối cùng được bàn giao cho Hạm đội tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ sẵn sàng hoạt động. SUPSHIP Groton có khoảng 427 nhân viên dân sự và 28 nhân viên quân sự tại ba địa điểm: Groton, New London, Connecticut, và Quonset Point, Rhode Island.

Thinh Hoang thụ huấn chương trình Ứng viên Sĩ quan Hải quân từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016. Sau đó HQ Thiếu uý Thinh Hoang được bổ nhiệm làm Giảng viên kỹ thuật Trường năng lượng hạt nhân (NPS). Bộ Tư lệnh huấn luyện năng lượng hạt nhân Hải quân (NNPTC) tại Charleston, Nam Carolina từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 9 năm 2019.

Nhiệm vụ tiếp theo, HQ Trung uý Thinh Hoang được chỉ định làm Sĩ quan Phân đội (DIVO), phụ trách bộ phận thiết bị đo lường và điều khiển tại Trường đào tạo chuyên ngành hạt nhân A tại Charleston, South Carolina từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 4 năm 2021.

Tháng 5 năm 2021, HQ Đại uý Thinh Hoang thụ huấn ngành kỹ thuật và xây dựng Hải quân, khóa học 2N – MIT tại Cambridge, Massachusetts, ông hoàn tất khoá học vào tháng 8 năm 2024.

Tháng 9 năm 2024, HQ Đại uý Thinh Hoang được bổ nhiệm làm Sĩ quan kỹ thuật, Ứng viên Dolphin Hải quân (EDO), tàu ngầm hât nhân USS South Dakota (SSN-790) thuộc Hải đội 4 tại Groton, Connecticut, ông đã chứng minh được năng lực thành thạo kỹ thuật tàu ngầm. Ông phục vụ tại đơn vị này đến tháng 5 năm 2025.

Từ tháng 5 năm 2025 đến nay, ông là Sĩ quan kỹ thuật tàu ngầm hạt nhân Hải quân Hoa Kỳ, Sĩ quan điều phối của Giám sát viên đóng tàu, chuyển đổi và sửa chữa tàu ngầm hạt nhân tại Groton, Connecticut (SUPSHIP Groton).

Huy hiệu SUPSHIP Groton của linkedin.com

HQ Đại uý Thinh Hoang được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Active-Duty Officer Promotion Boards), chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá YF-26, theo thông báo ngày 28 tháng 8 năm 2025, từ mynavyhr.navy.mil/References/Messages/ALNAV-2025. Và đã được Uỷ ban quân vụ thượng viện bầu chọn ngày 30 tháng 10 năm 2025 – congress.gov/nomination/119th-congress/541?hl=THINH+HOANG&s=5&r=1.

HQ Thiếu tá Thinh Hoang hoàn tất các Văn bằng: Cử nhân khoa học (BS), sinh hóa và sinh học hóa học, Đại học Wayne State University năm 2016; Văn bằng Cao học khoa học – MS, kỹ thuật và quản lý, Học viện công nghệ Massachusetts năm 2024; Văn bằng kỹ thuật Hải quân, khóa học 2N, Học viện công nghệ Massachusetts năm 2024.

HQ Thiếu tá Thinh Hoang là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Thinh Hoang. Thinh Bao Hoang, họ và tên Việt Hoàng Bảo Thịnh.

Nguồn: navsea.navy.mil; mynavyhr.navy.mi; linkedin.com; bienxua-33 Hải Quân Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2025.

Lê Quỳnh Mai phỏng vấn nhà văn Trùng Dương

baotreonline.com

Trần Vũ

November 8th, 2024

Post by Sơn râu 30 May 2026

Lê Quỳnh Mai sinh 1962 tại Sài Gòn, theo học chương trình Pháp và cùng gia đình rời Việt Nam tháng 4-1975. Định cư tại Montréal, Québec, bắt đầu viết từ 1998. Đã in Tác giả với Chúng ta (2004), Gã Đấu bò thành Malaga (2005).

Lê Quỳnh Mai: Xin chị giới thiệu về nhà báo và nhà văn Trùng Dương Nguyễn Thị Thái.


Trùng Dương: Khi viết báo, tôi tôn trọng dữ kiện, sự chính xác. Khi viết văn, tôi để óc tưởng tượng của tôi thở, sống, “theo chân mây”, như tựa một cái truyện ngắn viết trước 1975, thay vì nhốt nó ở đâu đó. Ở cả hai bộ môn, văn chương và báo chí, chân thực là điều căn bản, nhất là sự chân thực trí thức.


LQM: Là chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần tại miền Nam Việt Nam trước 1975. Chị có thể cho quý độc giả biết về quá trình thực hiện và hoạt động của cơ quan ngôn luận này không?


TD: Tình cờ tôi vừa viết xong bài điểm sách cuốn Báo chí ở Thành Phố Hồ Chí Minh – 100 Câu Hỏi Đáp Về Gia Định – Sài Gòn TP. Hồ Chí Minh, do Trương Ngọc Tường và Nguyễn Ngọc Phan biên soạn và nhà xuất bản Tổng hợp TP-HCM ấn hành năm 2006, về báo chí Miền Nam từ 1865 tới 1995, trong đó có 2 trang về tờ Sóng Thần với rất nhiều sai sót. Tôi nhận thấy, vì nhu cầu trong nước và cả ở hải ngoại hiện muốn tìm hiểu về nền văn học Miền Nam 1954-1975, trong đó báo chí là một bộ phận, nên tôi có viết lại về tờ báo Sóng Thần để những ai muốn tham khảo về tờ báo như một phần của báo chí nói riêng và văn học Miền Nam nói chung, có tài liệu và không phải đoán mò, cương ẩu. Rất tiếc là tôi không có phương tiện, nhất là sức lực, để suy khảo về cả 20 năm báo chí Miền Nam, mặc dù một dạo rất muốn và đã thu thập được một số tài liệu. Sau đây là phần viết về tờ Sóng Thần rút ra từ bài điểm sách.
Tờ Sóng Thần ra đời vào tháng 10, năm 1971, và bị rút giấy phép vào tháng 2, năm 1975. Microfilm của những số báo Sóng Thần (trừ những số báo bị tịch thu không ra được tới sạp bán) hiện được lưu trữ tại thư viện Kroch Library Asia thuộc Đại học Cornell, Ithaca, N.Y. Bộ phim gồm bảy cuộn, mang số 5004, gồm 1971: Oct.-Dec., 1972-1974, 1975: Jan.-Feb.
Khởi thủy Sóng Thần là cơ quan ngôn luận của nhóm chống tham nhũng Hà Thúc Nhơn (tên một đại úy y sĩ đã bị sát hại vào năm 1970 trong khi đơn thương độc mã chống tham nhũng trong chính quyền Nha Trang). Nhóm này gồm Bác sĩ Phạm Văn Lương, Giáo sư Nguyễn Liệu, Hà Thế Ruyệt, Phan Nhự Thức, Uyên Thao, Lý Đại Nguyên và một số người khác tôi không nhớ hết tên, và những người vì lý do riêng, không muốn công khai. Sau vì nhu cầu chuyên nghiệp, tờ báo tách ra đứng riêng, mặc dù vẫn theo chủ trương chống tham nhũng trong chính quyền và quân đội. Hồi ấy, tham nhũng ở Miền Nam chỉ bằng một phần nhỏ, so với bây giờ, và cũng chẳng lãnh đạo nào dám ngang nhiên tặng đảo, đất hay cho ngoại bang thuê mỏ, thuê rừng để bỏ túi riêng, như bây giờ. Và cũng không có lãnh đạo nào dám bênh vực tham nhũng, cho rằng tham nhũng ở Việt Nam còn thua xa vài quốc gia khác, như mới đây, ở Việt Nam.
Sóng Thần được hình thành là do đóng góp tiền bạc dưới hình thức mua cổ phần của các cổ đông và độc giả. Tờ báo có trụ sở đặt tại 133 đường Võ Tánh, Sàigòn (không phải ở miền Trung như ghi trong cuốn Báo chí TP. Hồ Chí Minh). Tờ báo do tôi đứng tên làm chủ nhiệm, và nhà văn-nhà báo Chu Tử làm chủ biên. Sóng Thần chống tham nhũng ngay từ lúc đầu, chứ không phải mãi tới cuối năm 1974, như ghi trong bài “Xin cho biết về tờ Sóng Thần”. Tuy vậy, Sóng Thần chống tham nhũng, không chống chế độ hay chính phủ, như một số báo chí ngoại quốc hồi ấy xếp loại là “anti-government”. Ngoài ra là thông tin, bình luận thời cuộc, xã hội, và giải trí (mà việc đăng tải những truyện feuilleton là một).
Báo có anh Nguyễn Đức Nhuận lo trị sự, một người rất tận tụy, không những đối với tờ báo, mà còn với gia đình của anh chị em tòa soạn. Phát hành thì có Sáu Cao (tôi không nhớ trọn tên họ của anh, anh chị em quen gọi anh là Cao vì anh … rất cao và gầy, người miền Nam, năng nổ, bộc trực). Tôi vẫn nhớ hình ảnh anh Sáu ngồi kiểu nước lụt (tức ngồi xổm, theo lối diễn tả của người Bắc), bứt rứt, khốn khổ, buồn so, mỗi khi nghe tin báo bị tịch thu vì một lý do nào đó, và anh không có báo để phát hành.
Phần tòa soạn thì anh Uyên Thao điều hành, với tư cách tổng thư ký, và anh Trương Cam Vĩnh làm phụ tá. Phụ trách về trình bày và dàn trang, lo in ấn có các hoạ sĩ Đằng Giao, Huy Tường, và Vị Ý. Hồi ấy, chúng tôi đưa báo đi nhà in mướn người ta in, nhưng có riêng một dàn sắp chữ với khoảng một tá thợ, cậu nào cậu nấy lúc nào cũng mình trần vì phòng sắp chữ vốn là một cái gác lửng trần thấp nên rất nóng, và lem luốc vì mực. Phòng sắp chữ nằm phía sau tòa soạn, do sếp typo Tấn, một thanh niên gốc miền Nam, rất tận tụy, trông coi. Giờ nhìn lại tôi không khỏi xấu hổ mà nhìn nhận là trong số thợ sắp chữ đó có một số em chỉ mới trên dưới 10 tuổi, đủ biết đánh vần để có thể sắp chữ, bỏ học đi làm để kiếm sống giúp gia đình. Tôi cũng còn nhớ cảnh Tấn giục bài, “để mấy đứa nhỏ có bài sắp chữ” vào buổi trưa sau khi báo đã in và thợ sắp chữ sắp các bài nằm, có lần đứng bên cạnh bàn làm việc của tôi với cái thước kẻ, hễ thấy viết được khoảng nửa trang, cậu ta kê thước kẻ vào trang giấy xé cái rẹt, đem phần giấy có chữ xuống nhà sắp chữ, mặc tôi ngẩn ngơ như con gà vừa bị cắt đầu. Sau kinh nghiệm đó, tôi thường viết bài ở nhà, nếu bữa nào chậm bài cho Tấn.
Thành phần biên tập, bình luận và nhiếp ảnh khá đông, nòng cốt gồm có Vũ Ánh, Đỗ Ngọc Yến, Lý Đại Nguyên, Đường Thiên Lý, Lê Thiệp, Dương Phục, Nguyễn Tiến Sơn, Lê thị Bích Vân, Anh Điển, Nguyễn Tân Dân, Chóe Nguyễn Hải Chí, Hùng Phong, Nguyễn Tuyển, Thục Viên, Triều Giang, Chu Vị Thủy, Vũ Ngọc Long, và nhiều người khác nữa. Bên cạnh đó là một hệ thống các văn phòng đại diện ở các tỉnh, đặc biệt là Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị, với Nguyễn Kinh Châu, Nguyễn Quý, Ngy Thanh, Đoàn Kế Tường và nhiều anh em khác. Cộng tác viên thì càng đông hơn. Thường xuyên lui tới toà soạn tôi nhớ nhất có các anh Trần Phong Vũ và Vũ Đức Vinh, cả hai hồi ấy làm đài phát thanh Sàigòn, với anh Vinh là tổng giám đốc. Về sau này, sau khi nhật báo Đuốc Nhà Nam của ký giả lão thành Trần Tấn Quốc tự ý đóng cửa để phản đối luật báo chí mới 007/1972 đòi mỗi nhật báo phải ký quỹ 20 triệu đồng, Sóng Thần (tồn tại nhờ vay tiền ký quỹ, và số tiền này còn nằm ở Ngân Hàng Quốc Gia khi biến cố 30 tháng 4, 1975 xảy ra) mời được bỉnh bút Ngọa Long về cho có mầu sắc người Miền Nam vì đa số thành phần biên tập là những người gốc miền Bắc di cư năm 1954. Khác với lời ghi trong cuốn “100 Câu Hỏi Đáp” là cả ba nhà báo kỳ cựu gốc miền Nam Trần Tấn Quốc, Nam Đình và Ngọa Long “cùng sang cộng tác với Sóng Thần”, thực tế chỉ có một mình ông Ngọa Long bằng lòng về hợp tác thôi.
Riêng về các nhà văn nhận lời viết feuilleton cho Sóng Thần thì khởi thủy gồm có Nguyên Vũ, Cung Tích Biền, Nguyễn Thuỵ Long, Vũ Ngọc Đĩnh, Hoàng Hải Thuỷ, v.v. Sau thêm một số khác nữa trong đó tôi nhớ hơn cả, vì là do chính tôi mời, mà lại mời viết hồi ký chứ không phải tiểu thuyết, để in song song, một phần cũng là nhằm lôi cuốn người đọc, đó là hai nhà văn nữ Túy Hồng và Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tôi đã dự tính sau hai nhà văn này thì sẽ mời Nhã Ca và Nguyễn Thị Hoàng viết hồi ký song song như thế, nhưng chưa kịp, không nhớ vì lý do gì. Cả 4 chị đều là những nhà văn có nhiều sách truyện đã xuất bản và được nhiều người biết tới và đọc, khác với tôi, một người viết truyện “xuân thu nhị kỳ”, như chủ bút Văn dạo ấy, Trần Phong Giao, đặt cho tôi, có thể vì tôi luôn có những sở thích khác lôi cuốn mình, không chỉ mình văn chương. Những người viết feuilleton cho báo hàng ngày là cộng tác viên, không nằm trong thành phần biên tập.
Ngoài công việc thông tin, nhật báo Sóng Thần còn tham gia vào hoặc tài trợ cho một số những sinh hoạt giáo dục (như hỗ trợ cho chương trình gây quỹ học bổng cho trường Quảng Ngãi Nghĩa Thục dạy học miễn phí cho vài trăm em học sinh trung học nghèo ở Quảng Ngãi, do Nguyễn Liệu và trên 100 giáo sư trung học ở Quảng Ngãi đảm trách); xã hội hoặc nhân đạo (như chương trình xây nhà giúp người nghèo, hoặc gây quỹ và phát động chiến dịch hốt xác và chôn cất gần 2,000 nạn nhân chiến cuộc trên Đại lộ Kinh Hoàng trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa 1972); hoặc văn nghệ (như lập nhà xuất bản Nhân Chủ, hỗ trợ gánh hát cải lương Bạch Tuyết-Hùng Cường, thực hiện phim “Yêu”, do Đỗ Tiến Đức đạo diễn, dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của Chu Tử).
Cái ưu điểm của Sóng Thần, và lý do tờ báo lôi cuốn được nhiều người tham gia, hỗ trợ, đó là, ngoài chủ trương chống tham nhũng làm sạch hậu phương để hỗ trợ tiền tuyến chống Cộng đặng bảo vệ một Miền Nam tự do, còn do chỗ này: đó là tờ báo do nhiều người làm chủ, với tư cách cổ đông góp phần hùn vốn, và niềm tin của họ đặt vào hoài bão của nhóm chủ trương, cũng là ước vọng của họ. Tôi chỉ là người đứng tên trên giấy phép xuất bản và chịu trách nhiệm đối với chính quyền, trong đó có những màn đi hầu tòa mỗi khi báo bị tịch thu. Tôi còn nhớ mỗi lần tôi mặc áo dài đến tòa soạn, thế nào cũng có người hỏi: “Bữa nay bà đi hầu tòa hả?” Vì tôi ít khi mặc ào dài, mà thường mặc Âu phục để đi xe đạp cho đỡ vướng. Nói tóm lại, không có các anh chị em khác đã cộng tác với Sóng Thần và sự tin tưởng vào lý tưởng của tờ báo từ các cổ đông và độc giả, chắc chắn đã không có tờ Sóng Thần.


LQM: Khó khăn lớn nhất mà chị đã gặp khi thực hiện tờ Sóng Thần.

Trùng Dương


TD: Có lẽ là sự kiểm duyệt khá khe khắt, đôi khi vô lý và lố bịch, của chính quyền của ông Nguyễn Văn Thiệu, và đặc biệt là luật báo chí 007/72 ban hành sau biến cố Mùa Hè Đỏ Lửa, đòi mỗi nhật báo phải ký quỹ 20 triệu đồng để được phép tiếp tục xuất bản. Nguyên nhân sâu xa, đã hẳn là do tình trạng chiến tranh do cộng sản Hà Nội chủ trương, với sự thâm nhập hàng ngũ quốc gia của các cán bộ nằm vùng, đặc biệt trong giới cầm bút viết văn, đưa tới thái độ “paranoid” của giới lãnh đạo Miền Nam. Khi một tờ báo bị kiểm duyệt và tịch thu hơi thường xuyên, khách hàng quảng cáo sợ và độc giả cũng dần nản, bỏ mình, rồi cái nọ kéo theo cái kia.


LQM:
Mặc dù tạo được tiếng vang lớn, nhưng tuổi thọ của Sóng Thần không được lâu dài như một số nhật báo nổi tiếng của miền Nam Việt Nam trước kia. Chị nghĩ sao về cái tên của nó như điềm báo trước về hiện tượng này?


TD: Chuyện “tên như một điềm báo” chỉ là để nói đùa với nhau cho vui. Tôi không tin tên Sóng Thần tự nó là một điềm báo. Hồi đó, mặc dù Sóng Thần nghe không có vẻ tên báo, nhưng ông Chu Tử rất thích khi tôi cho biết đã chọn tên báo là Sóng Thần. Ngoài Sóng Thần, còn có vài tờ khác cũng bị rút giấy phép cùng lúc, trong đó có tờ Đại Dân Tộc của ông Võ Long Triều.


LQM: Sau nhiều biến cố xảy ra, chị có tìm ra nguyên nhân tại sao nhật báo Sóng Thần bị đóng cửa hay không?


TD: Tôi nghĩ tờ Sóng Thần bị đóng cửa là vì thái độ sợ hãi, không còn tin ở ai của chính quyền của ông Thiệu. Như tôi đã nói ở trên, chính quyền của ông Thiệu khi ở bước đường cùng càng trở nên quẫn trí, phản ứng không còn theo lý trí nữa. Người Mỹ có thành ngữ “shoot yourself in the foot” (tự bắn vào chân mình), nói cách khác là tự đào mồ chôn sống, và đấy là tình trạng của những chế độ ở bước đường cùng và không tin ai nữa, kết quả là hở ra làm cái gì cũng sai, trật, và từ từ tự đào hố chôn mình và chôn theo cả một quốc gia, dân tộc. Ta cũng thấy điều đó hiện đang diễn ra ở Việt Nam.


LQM: Chị có nhận xét và so sánh thế nào giữa hai nền báo chí ở miền Nam Việt Nam trước 1975 và của cộng đồng người Việt hải ngoại sau 1975 (nói riêng tại Hoa Kỳ).


TD: Báo chí ở Miền Nam trước 1975 có kiểm duyệt, mặc dù không bị chỉ đạo, như báo chí dưới chế độ cộng sản độc tài ở Miền Bắc và cả 35 năm qua trên toàn Việt Nam. Báo chí Việt ở hải ngoại thì hoàn toàn tự do, chỉ cần xin giấy phép mở một cơ sở thương mại (business). Ngày nay với kỹ thuật Internet phổ biến, nhiều báo điện tử không cần cả giấy phép thương mại, chỉ cần ghi danh với một trong những cơ sở ghi danh trên Internet. Tuy nhiên, nhiều người làm báo ở hải ngoại, tất nhiên không phải tất cả, hiểu nhầm quyền tự do báo chí, cho rằng mình muốn viết gì, công kích hay chụp mũ ai thì đó là quyền của mình. Điều này không đúng. Càng tự do, trách nhiệm của người cầm bút càng cao, do đấy người cầm bút càng phải luôn học hỏi, tự trau dồi, về kiến thức cũng như khả năng nghề nghiệp. Và quan trọng hơn cả, theo tôi, là vun xới đức tính khiêm tốn, đạo đức nghề nghiệp.


LQM: Chị có so sánh gì về cả hai mặt tốt xấu trong cách làm báo của người bản xứ tại Hoa Kỳ và của người Việt tại hải ngoại.Và ý kiến về sự xuất hiện mạnh mẽ của báo điện tử hiện nay?


TD: Báo Việt ở hải ngoại, đặc biệt tại Nam Cali, nhiều quá, vì ai cũng muốn làm chủ báo, mà số người viết thì có hạn, độc giả có hạn, cũng vậy là khách hàng quảng cáo. Lượng thì nhiều mà phẩm không có bao nhiêu. Về phát thanh cũng vậy. Đã vậy, báo chí Việt ngữ, vì tính chất chính trị đặc biệt của cộng đồng Việt tị nạn, ít nhiều, dù không muốn, cũng bị lôi cuốn vào vòng chính trị, khó duy trì được tính khách quan, chuyên nghiệp. Chưa kể ảnh hưởng của khách hàng quảng cáo tới sự độc lập của tờ báo nữa. Báo chí Mỹ không bị chi phối bởi đặc tính chính trị này, mặc dù cũng không tránh được sự chi phối của quảng cáo. Báo chí Mỹ cũng không xuất bản ồ ạt như vậy. Tại một thành phố như Stockton, nơi tôi đã sống và làm việc 12 năm, chẳng hạn, với dân số khoảng 250 ngàn cho thành phố và khoảng nửa triệu cho toàn quận, chỉ có một tờ báo hàng ngày, tờ The Record, với số phát hành khoảng 70 ngàn số. Vậy mà từ nhiều năm trở lại đây tờ báo cũng đang khốn đốn vì sự phổ biến của Internet vì kỹ thuật này đang lấy đi khách hàng quảng cáo, nguồn thu chính của tờ báo. Và đấy là tình trạng chung của báo in tại Mỹ: nguồn thu quảng cáo đang bị thu hẹp lại, trong khi số độc giả mua báo cũng giảm đi.
Kỹ thuật Internet chỉ mới được chính phủ Hoa Kỳ bàn giao cho tư nhân sử dụng vào năm 1995, 4 năm sau khi kết thúc cuộc Chiến Tranh Lạnh. Tuy thế, Internet đã biến đổi sâu xa đời sống của chúng ta ở mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật và cả những liên hệ và đời sống cá nhân. Cũng chưa có kỹ thuật nào từ cổ chí kim mà lại có khả năng thu nhỏ quả địa cầu, thông tin chớp nhoáng, kể cả “tin” bậy, và dân chủ hoá và trang bị sức mạnh (empower) cho người sử dụng, như kỹ thuật Internet, mà World Wide Web, gọi tắt là Web, là một bộ phận. Do đấy chúng ta không nên lấy làm lạ khi báo điện tử của người Việt trong và ngoài nước bỗng tràn lan, bên cạnh những ấn bản điện tử (online) của những báo giấy, đấy là chưa kể các trang Web của các đoàn thể, hội, nhóm và cá nhân. Không cần chi phí nhiều để mở những trang Web đó, chưa kể nếu chịu khó thì có thể tự làm lấy trang Web của mình với sự hỗ trợ của một vài chương trình computer, rồi thuê post lên Web, tốn vài chục Mỹ kim/tháng. Vấn đề là có người viết và viết như thế nào, có đáng cho chúng ta theo dõi đọc và tin được không. Không ai ở hải ngoại này, kể cả chính quyền, có thể “đóng cửa” những Web sites này, trừ phi họ vi phạm điều lệ của hãng Internet mà họ thuê post và có người khiếu nại. Do đấy, người đọc cần đủ hiểu biết và thông minh để phân biệt thực hư, giữa sự thực và dối trá, đừng bạ cái gì cũng tin, rồi chuyển đi tứ tán, qua phương tiện e-mail, một cách vô trách nhiệm.

LQM: Là nhà báo và cũng là nhà văn, chị thích lãnh vực nào hơn. Tại sao?

TD: Không có lãnh vực nào tôi thích hơn lãnh vực nào, mà cả hai bổ sung cho nhau. Càng lớn tuổi, với kinh nghiệm, mình càng thực tiễn hơn, không còn mơ mộng, đam mê như lúc còn trẻ, do đấy óc tưởng tượng cũng mòn mỏi đi. Vì nhu cầu công việc và thói quen nghề nghiệp, tôi nghiêng về báo chí nhiều. Tóm lại, tôi đọc báo, tạp chí, sách non-fiction, xem phim tài liệu nhiều hơn là đọc truyện và xem phim truyện, trừ những tác phẩm thật hay. Viết cũng vậy.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 30 May 2026

Một huối trưa, tôi đang gặm bánh mì, bé Đông xô vào nhà như cơn lốc. Nó cười rất tươi, nói không kịp thờ.

“Anh Hiên ơi. em lên nhà ông kỹ sư mới biết anh đi rồi. Chẳng biết anh đi-mô. Mạ bắt tìm anh cho bằng được. Mạ nói, đáng lã anh thi đậu phải báo tin mừng cho mạ. Răng anh đi mất biệt?”

Tôi hững hờ: “Sao mạ em nghĩ rằng anh thi đậu?”

“Em coi bảng niêm yết thấy tên anh, cm nói với mạ.”

Tôi sửng sốt, tường như nghe lầm: “Cái gì? Có bảng niêm yết rồi hả? Bảng niêm yết có tên anh?”

“Rứa anh không coi à? Bảng niêm yết có từ hai ngày ni

“Có tên anh?”

“Úi chao, cái ông nì!”

Con ma tuyệt vọng chán đời trong lồi bừng dậy. Niềm vui òa vỡ. Trong giây phút bất chợt không hề suy tính, tôi nhào tới ôm bé Đông.

“Em nói thật?”

“Em dối, trời hại em đi.”

“Đừng thề.”

Bé Đông lúng túng trong tay tôi. Vành tai nó hồng lên, bẽn lẽn dẩy tôi ra.

“Cái ông nì!”

“Ông nì thế nào? Đi ngay với anh.”

Tôi kéo tay bé Đông chay ra xe. Nóng lòng muốn nhìn thấy tên mình trên bảng niêm yết, tôi đạp xe vùn vụt về hướng trường Trung Học Võ Tánh. Ngoi phía sau, bé Đông la: “Cần thận, anh!”

Mặc nó la. Tôi không còn để ý điều gì khác. Có hai loại bãng niêm yết kết quả thí sinh trúng tuyển kỳ thi tú tài 1. Bảng chính và bảng phụ. Tỷ số thí sinh chính thức trúng tuyển quá ít, người ta hạ số điểm xuống để lấy thêm một số thí sinh điểm thấp. Tên tôi nằm trong bảng phụ, thuộc thành phần đậu vớt. Đã rơi xuống vực, lại được vớt lên. Nỗi mừng vui chắc phải lớn hơn kẻ dã đứng vững trên bờ.

Tôi vẫn lén lút đến nhà chị y tá. Tinh thần phấn khởi, khác hẳn những ngày trước. Nhà chị luôn đóng cửa. Lần nào tôi dến gõ, chị cũng xuất hiện với nụ cười. Lần cuối cùng tôi đến, người ra mờ cửa không phải là chị. Một người khác. Một đứa con gái, tôi ngờ ngợ như dã nhìn thấy ở đâu rồi.

Nộ có vẻ ngạc nhiên, nhưng ngay tức khắc lấy lại bình thường.

“Anh vào ngồi chờ một chút. Chị tui đang bận tay.”

Nó đem cho tôi ly nước, rồi đứng xớ rớ nơi cái bàn tròn, chưa chịu cút đì. Hình như nó muốn nói điều gì. Tôi sợ gặp người quen trong tình thế này.

Nó e dè hỏi: “Anh tên Hiên?”

Tôi giật mình, chối phắt: “Không.”

Mặt tôi lạnh băng, trà lời cộc lốc. Nó hơi ngỡ ngàng. Cười gượng, quay lưng vào nhà trong. Tôi cố nhớ lại đã gặp con nhỏ này ở dâu, trong trường hợp nào? Đành chịu. Trên đường về, chợt nhớ ra nó là con bạn của Phương Nghi. Vài lần, tôi nhìn thấy hai đứa nó cùng đi trên phố Độc Lập. Sao tôi lại chạm mặt nó trọng nhà của chị y tá? Liệu chị nó có nói tôi đang chích thuốc vì bệnh lậu? Liệu nó có kể lại cho Phương Nghi về trường hợp của tôi? Tôi với Phương Nghì dầu đã chia lìa, nhưng lòng tôi còn khắc khoải chưa nguôi. Bất cứ điều gì có liên quan tới Phương Nghi, cũng làm tôi ray rứt. Cuối tuần, bác Huế không ra ngồi bán sạp vãi. Bác nói, ở nhà làm tiệc mừng cậu tú. Đậu được cái tú tài không dễ mô. Quả thật, kém thông minh như tôi, đậu  được cái tú tài không dễ. Ốm o gẩy mòn. Trầy vi tróc vẫy. Khổ sở trăm bề. Sắp hụt hơi mới lọt qua cái cửa ải tú tài 1. Tôi như con cá thành rồng. tâm hồn bay tận mây xanh. Bác Quảng ngồi lọc cọc đánh máy những tờ Thế Vì Khai Sinh. Công việc ngoai giờ hành chánh, bác làm kiếm thêm tiền cho cà phê thuốc lá. Bác nói thế. Khi bác làm việc, cái gạt tàn bên cạnh luôn luôn có điếu thuốc cháy dở. Tôi đậu tú tài, bác thưởng bộ dồ mới.

Tôi mặc bộ đồ mới. Đi ra đi vào. Bác Huế, bé Đông lúi húi trong bếp, lo nấu ăn cho bữa tiệc.

Không khí gia đình đẩm ấm vui tươi. Tôi vào bếp, phụ bé Ià lặt rau.

Bác Huế hỏi: “Thi đậu rồi, con có dự định gì không?

“Con sẽ xin vô trường Trung Học Võ Tánh.”

“Con có định về quê thăm nhà, báo tin mừng cho ba con?”

“Con không có ý định đó.”

“Bác nghĩ, ba con không đơn thuần nghc lời vợ kế mà đuổi con đi. Chắc là phải có nguyên nhân nào khác nữa.”

Tôi nghĩ tới những điều bịa đặt khi mới gặp bác Huế, hơi ân hận. Nhưng cho đến bây giờ, tôi cũng không tnuốn đính chính. Tôi nói: “Vâng. Còn nguyên nhân khác nữa. Chuyện lâu rồi, con muốn quên đi.”

Bác Huế không nói gì. Nhìn bác, tôi nghĩ dến má tôi. Tôi nới những lời đầy khách sáo: “Con có được như ngày hôm nay, cũng nhờ vào hai bác đùm bọc. Cái ơn của hai bác đối với con nặng lắm.”

Bác Huế hỏi dùa: “Rứa eng tính trả ơn cho tui bằng cách chi?”

Nhìn bé Đông, tôi cũng đùa: “Con sẽ cưới bé Đông, trả ơn cho hai bác.”

Bác cười: “Muốn cưới con gái tui, eng phải ở rễ trước ba năm.

Bé Đông la: “Mạ ạ ạ … , đừng đùa như rứa.” Rồi chạy lại cú vào lưng tôi, “Còn cái ông nì, chết duyên chưa! Người chi mà nói không biết ngượng. Ai thèm ưng ông?”

Bác Huế và tôi cười vang trong bếp. Mặt bé Đông đỏ lên vì thẹn. Trên bàn ăn, bác Quảng nói về thời đi học của bác. Giặc giả không yên. Làng quê buồn thảm. Học hành khó khăn. Thời ẩy, ai đậu cái bằng Thành Chung là giá trị lắm. Từ Quảng Nam, bác ra Huế học và gặp bác Huế ở đó.

Rồi bác đùa: “Bác tính về quê lấy vợ. Nhưng mụ ấy mê bác, đòi trầm mình xuống sông Hương, nếu bị bỏ rơi. Thấy tội quá, bác đành hy sinh đời bác cho mụ.”

Bác Huế hỏi: “Rứa mỗi ngày tui đi học về, ai đứng trồng cây si khô héo bên đầu cầu Tràng Tiền?”

“Ối, cái thời trai trẻ, ai không rứa, Tui tính chuyện chơi chọ vui. Mụ tính chuyện thiệt.” Bữa tiệc mừng tôi thi đậu tú tài, vui như ngày tết.

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 30 May 2026

Elisabeth nói:

– Không có ai cả. Mụ Lieser và cả hai đứa con đều đi rồi. Chúng ta hoàn toàn làm chủ nhà này.

– Tạ ơn Trời! Anh đang lo mình nổi nóng đập chết mụ ta nếu mụ ta còn mở miệng nói càn. Hôm qua em còn cãi nhau với mụ hả?

Elisabeth cười:

– Mụ bảo em là điếm.

– Sao vậy? Chúng ta chỉ ở trong này độ một giờ hôm qua.

– Nhưng vì tối hôm kia và tối hôm trước nữa chúng ta ở đây suốt buổi tối.

– Nhưng chúng ta đã bịt kín lỗ khóa và cho chạy kèn hát không ngừng. Tại sao mụ lại nghĩ có thể như thế được?

Elisabeth nhìn chàng một cách giễu cợt mà rằng:

– Em cũng tự hỏi thế.

Graber nhìn nàng, nàng hơi đỏ mặt. Y tự hỏi: “Không biết tối hôm ấy đầu óc mình để đâu”.

– Tối nay mụ đi đâu?

– Mụ đi quyên các làng. Không biết để cứu trợ mùa đông mùa hạ gì đó. Tối mai mới về. Chúng ta được thảnh thơi cả tối nay lẫn ngày mai.

– Cả ngày mai à. Chủ nhật được nghỉ cho đến khi có lệnh mới.

– Chủ nhật à! Anh quên bẵng đi mất. Vậy thì ban ngày có thể đến thăm em được. Cho đến nay chúng mình chỉ gặp nhau lúc tối.

– Thật ư?

– Thật chứ. Lần thứ nhất vào ngày thứ hai. Chúng ta đi chơi mang theo chai a-ma-nhắc.

– Ừ nhỉ. Em cũng vậy, em chưa từng trông thấy anh ban ngày.

Nàng nhìn y rồi quay mặt đi.

– Chúng ta sống như chim ăn đêm ấy.

– Có thể nào làm khác không?

– Khi nào chúng ta thấy nhau dưới ánh sáng buổi trưa thì chắc là phải lạ lùng lắm.

– Thôi cứ tin ở Thượng đế. Nhưng tối nay biết làm gì? Lại đến tiệm ăn hôm trước? Thật là hú vía. Đáng tiếc rằng lữ quán Germania đóng cửa.

– Ta cứ ở đây. Ta có đủ đồ uống. Để em thử làm bếp một chút.

– Ở đây mà em chịu được à?

– Khi không có mụ Lieser, em có cảm tưởng rằng mình được nghỉ hè.

– Thế thì ở đây. Một tối không có kèn hát. Như thế kể cũng thần tiên lắm chứ. Anh cũng không cần trở lại trại. Nhưng em có biết làm bếp không? Trông em không có vẻ thạo tí nào.

– Thì cứ thử xem. Mấy lại cũng chẳng có gì. Phiếu thực phẩm cho gì thì ăn nấy thôi.

– Có bao nhiêu đâu mà phải lo.

Hai người đi xuống bếp. Y nhìn đồ ăn của Elisabeth. Lỏng chỏng một chút bánh mì, mật nhân tạo, dầu, hai quả trứng và vài củ khoai tây héo.

– Em còn phiếu thực phẩm. Có một cửa tiệm còn mở cửa. Để em đi chợ.

Graber đóng ngăn chạn ăn.

– Thôi, giữ phiếu thực phẩm để dùng sau. Bây giờ đi kiếm thứ khác. Ta phải tháo vát mới được.

– Ta không thể lấy ở đây được. Mụ Lieser có gì mụ nhớ từng li từng tí.

– Chắc thế. Nhưng anh đâu có nói chuyện lấy của ai. Ít ra ngày hôm nay. Để anh đi làm một cuộc tịch thu như lính chiếm đóng nước người. Tối nay Binding có mời anh dự tiệc. Để anh đến lấy phần của anh. Nhà hắn có nhiều thức ăn lắm. Đi độ một giờ thôi.

***

Binding tiếp đón y niềm nở. Anh ta say rượu, mặt đỏ nhừ.

– Anh đến thật là vui vẻ quá. Hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Có mời mấy người bạn.

Trong phòng đầy khói thuốc và tiếng cười nói.

Graber đứng trong hành lang bảo Binding:

– Anh ạ, tôi không thể ở lại được, đi qua đây ghé vào thôi, lại phải đi ngay.

– Đi à. Không có vấn đề đi.

– Anh tha lỗi cho tôi. Tôi có hẹn rồi mới được anh cho biết.

– Không sao. Cứ nói là anh mắc đi họp… hay mắc đi khai cung.

Binding cười.

– Ở đây có hai Cảnh sát Mật vụ, để tôi giới thiệu với anh. Cứ nói rằng anh bị Cảnh sát Mật vụ mời đến. Nói thế cũng không phải là nói dối. Hay là đưa bạn anh đến đây nếu họ vui tính.

– Không thể được anh ạ.

– Sao thế? Đối với tôi không có chuyện không thể được.

Graber nhận thấy tốt hơn hết là nên nói thật.

– Anh biết cho tôi. Tôi không hay hôm nay là sinh nhật anh. Tôi đến đây xin anh chút gì ăn uống. Tôi có hẹn với một người không thể đưa lại đây được. Làm như vậy thì điên quá. Anh hiểu không?

Binding bật cười:

– Biết tẩy cậu rồi. Lại đi với cô nào chứ gì! Tôi bắt đầu nghi anh rồi đó. Ừ như thế thì còn tha thứ được. Tiếc rằng hôm nay nhiều món thú vị lắm. Thử vào coi? Cô Irma kìa nom xem ngon lành không. Cô ta vừa ở trại tập trung về. Cô tóc vàng đi giày ủng đó. Còn cô Gudrnn kia thì nội trong tối hôm nay anh có thể đưa vào giường nằm được ngay. Cô ta vẫn ở đây đợi chiến sĩ ở mặt trận về. Mùi hầm đất làm cô ta khoái lắm.

– Tôi thì không.

Binding bật cười.

– Cả mùi trại tập trung nữa à? Anh chàng mập ụ ngồi kia kìa khoái lắm. Nhưng tôi cũng không thích. Tôi có sở thích bình thường thôi, cái gì êm đềm nhung lụa. Anh thấy cô bé nhỏ ngồi góc kia không?

– Tuyệt!

– Arih muốn à? Tôi nhường cho anh nếu anh ở lại.

Graber lắc đầu.

– Không thể được.

– À tôi hiểu. Anh kiếm được món hạng sang chứ gì. Thế thì anh cũng không đáng trách. Tôi ở địa vị anh tôi cũng làm vậy. Xuống bếp với tôi kiếm cái gì ngon ngon cho nàng. Rồi trở lại cụng ly với chúng tôi, ngày sinh nhật mà. Đồng ý?

– Đồng ý.

Bà quản gia đang bận túi bụi trong bếp.

– Đây có đồ nguội. Anh muốn lấy gì thì lấy. Hay bà quản gia, nhờ bà gói một ít đồ ăn cho ông Graber để tôi xuống hầm kiếm rượu.

Dưới hầm rất nhiều đồ ăn.

– Để tôi lấy cho. Trước hết xúp ba ba đóng hộp. Cứ hâm nóng rồi ăn. Đồ chở thẳng từ Pháp sang. Anh lấy hai hộp đi. Lấy măng Hòa Lan nữa này, ăn nguội hay nóng tùy thích. Kia là dăm bông Tiệp Khắc, phần đóng góp của Tiệp Khắc cho khẩu phần chúng ta.

Y trèo lên cái ghế đẩu:

– Phó mát Đan Mạch và bơ. Cái này để lâu được. À lấy một ít đào si rô nữa, hay nàng của anh thích trái dâu?

Graber nhìn hai chân ngắn ngủn đi giày véc ni cao gót trên chiếc ghế đẩu:

– Giày hai tầng gót vẫn cao hơn một chút chứ anh!

Binding cười.

– Tôi vẫn khoái anh vì anh vui tính. Buồn rầu làm quái gì hả? Ta phải hưởng của trời cho chứ, mặc kệ những thằng ghen ghét chửi bới. Tôi có ý kiến của tôi!

Anh ta bước xuống đi vào hầm trong chứa rượu.

– Đây là chiến lợi phẩm mà. Kẻ thù của ta là tay sành rượu lắm. Anh thích cái gì? Vốt-ca? A-ma-nhắc? Đây cũng là rượu Slivovitz Ba Lan.

Graber không muốn lấy rượu. Đồ lấy trong hầm lữ quán Germania còn nhiều. Binding có lý lắm, chiến lợi phẩm phải để cho mọi người cùng hưởng, mà người ta cũng cần hưởng của trời cho.

– Tôi cũng có sâm banh. Nhưng không ưa lắm. Hình như ái tình không có rượu sâm banh không được phải không? Mang chai này đi và hãy tỏ ra mình đáng mặt ăn chơi với đời.

Y bật cười:

– Anh biết tôi thích gì không? Chỉ thích kummel thôi! Kummel thật lâu ngày, nói nghe thì kỳ thật, nhưng tôi thích là tôi thích. Anh mang một chai về đi, khi nào uống thì nhớ đến A.Binding này nhé!

Y cầm hai chai trở lên bếp.

– Gói làm hai bó bà ạ. Một bó thức ăn, một bó rượu, lót giấy nhiều vào cho đi đường khỏi vỡ. Thêm cà phê nữa, cà phê thứ thiệt đó. Như vậy được không?

Binding hớn hở. Graber nói:

– Mong rằng tôi có sức để mang hết.

– Binding không quên bạn cũ, nhất là ngày sinh nhật.

Anh ta nhìn Graber, hai mắt sáng quắc, má đỏ hây hây. Nom anh ta y như một đứa lấy được một tổ chim. Graber cũng cảm kích vì anh tốt với bạn bè như thế. Nhưng y lại nhớ đến lúc Binding nghe chuyện Heini mà cũng vui vẻ tràn bờ.

Binding nháy mắt ra hiệu :

– Cà phê để đến sáng mai. Mong rằng anh sẽ nằm ngủ cho đến trưa, đừng về trại ngay. Thôi bây giờ vào đây để tôi giới thiệu với bạn tôi, hai người ở Ty Cảnh sát Mật vụ. Quen biết họ có lợi sau này. Anh uống một ly mừng tôi, mừng căn nhà này với những đồ ngon lành cho ta hưởng trong lúc khó khăn này.

Anh ta bỗng trở nên ủy mị:

– Chúng ta là người Đức, chúng ta vẫn không chừa được tính lãng mạn.

Elisabeth lúng túng mà rằng:

– Không thể để tất cả dưới bếp. Phải tìm chỗ cất cẩn thận mới được. Mụ Lieser mụ mà nom thấy thì mụ tố cáo ngay em làm chợ đen.

– Ừ nhỉ! Anh không nghĩ đến. Lấy những món không ưa đem cho mụ để mụ câm mồm có được không?

– Anh thấy có cái gì chúng ta không thích?

Graber cười:

– Chỉ có mật nhân tạo và dầu là không cần. Nhưng mai kia sẽ cần đến.

– Vả chăng cũng khó mà mua chuộc mụ. Mụ lại tự kiêu mà chỉ nhất định sống bằng phiếu thực phẩm.

Graber ra vẻ nghĩ ngợi.

– Từ bây giờ đến tôi mai chúng ta sẽ ăn hết một phần lớn. Nhưng hẳn là không hết. Còn thì cất đâu được?

– Trong phòng em. Để đằng sau sách vở và quần áo. Em cũng còn cái va-li có khóa.

– Nếu mụ lục lọi khắp cả thì sao?

– Bao giờ đi em cũng khóa cửa.

– Sợ mụ có chìa khóa khác.

– Em không nghĩ đến chuyện ấy, chắc mụ có.

Graber mở một chai.

– Chúng tạ được thong thả cho đến tối mai. Hãy bắt đầu ăn cái gì thích nhất. Bây giờ mở hết ra đặt trên bàn như tối Nô-en.

– Cả đồ hộp nữa à?

– Cả đồ hộp. Để nhìn mà. Nhưng ăn hộp nào mở hộp ấy thôi. Tất cả gia tài của mình kiếm được một cách thẳng thắn bằng cách ăn cắp và hối lộ.

– Uống cả rượu của lữ quán Germania?

– Thì hẳn rồi. Đó là giá mấy giờ lo sợ hết hồn trong hầm rượu.

Họ đẩy bàn ra giữa nhà rồi cởi các gói đồ ăn, mở nút rượu Slivovitz, cô-nhắc, kummel. Còn chai sâm banh để lúc ăn xong.

– Trời ơi! Chúng ta giàu quá. Còn tối nay khao gì đây?

Graber đưa rượu cho nàng.

– Khao cả một lượt. Làm gì có thời giờ mà khao riêng từng bữa. Khao cả một thể để mừng được họp mặt với nhau và được hai ngày nghỉ.

Y đi quanh bàn đến ôm lấy Elisabeth. Nàng như bản thân thứ hai của y, phong phú hơn, nồng ấm, sáng sủa hơn, cũng nhẹ nhàng hơn vì không giới hạn, không quá khứ; sống tất cả cho hiện tại không chút thắc mắc. Nàng nép mình vào người Graber. Cái bàn đầy món ăn làm cho căn phòng thêm vẻ long trọng.

– Khao một bữa mà như thế này có nhiều quá không?

Y lắc đầu.

– Anh đã dùng những chữ to tát quá. Thực ra vẫn chỉ là một vấn đề: sự sung sướng vì vẫn còn được sống.

Elisabeth uống một hớp:

– Nhiều lúc em tự hỏi rằng có lẽ chúng ta còn biết hạnh phúc nếu người ta để cho chúng ta sống.

– Em nói đúng.

– Dĩ nhiên trừ kỷ niệm cha em ra còn thì cứ dẹp hết sợ hãi, dẹp hết, như thế em càng được thanh thoát để bắt đầu sống cuộc đời sống khác.

Graber nhìn nàng. Ánh sáng yếu đt từ cửa sổ rọi xuống hai vai. Bên ngoài vọng đến tiếng cuốc và xẻng xúc đất.

– Đưa cho anh chai rượu để ở bồn tắm. Chúng ta uống hết đi trước khi căn nhà này tan thành mớ gạch vụn.

– Chai rượu của lữ quán Germania?

– Phải rồi. Để những chai của Binding vào đấy. Ai đã biết lần bom sắp tới xảy ra lúc nào. Những thứ rượu ấy dễ nổ như lựu đạn. Có ly không?

– Có ly uống nước.

– Uống sâm banh với ly ấy cũng được, ở Ba Lê tụi này vẫn uống như thế.

– À, lúc mới bắt đầu chiến tranh.

Nàng mang ly lại. Y mở nút chai rất cẩn thận. Rượu lóng lánh dưới đám bọt trắng.

– Anh ở Ba Lê bao lâu?

– Vài tuần lễ.

– Ở đấy người ta ghét các anh lắm hả?

– Có lẽ. Anh không nhận thấy, vả chăng tụi này cũng không muốn để ý đến làm gì. Người ta bảo mình thế nào mình cũng tin như thế. Mình chỉ muốn chóng hết chiến tranh để có thể về ngồi phòng trà uống cà phê, uống những thứ rượu chưa biết. Bấy giờ mình còn trẻ quá.

– Trẻ à! Anh nói như cách đây đã mười năm.

– Anh có cảm tưởng ấy thật.

– Bây giờ anh không còn trẻ nữa à?

– Trẻ chứ, nhưng trẻ một cách khác.

Elisabeth giơ ly ra trước cửa sổ, cầm lắc khẽ để xem những hột nhỏ từ đáy ly đưa lên. Graber nhìn vai nàng, nhìn suối tóc đen, đường cong lưng ong, đường lượn hai cẳng. Y nghĩ: “Sao nàng lại nghĩ đến bắt đầu sống lại, khi nàng không còn quần áo, không còn gì dính dáng đến căn nhà này, công việc làm ăn, mụ Lieser? Nàng chỉ là một với ánh sáng lập lòe ngoài cửa sổ, với đêm trường xao xuyến, với thị dục mù quáng xông lên, kế theo đó là sự trống rỗng ngao ngán, với tiếng gọi khan cổ, với tiếng nói mệt nhọc bên ngoài, với đời sống và cũng với những người chết vùi dưới đống gạch vụn còn đang bới lên. Nhưng quả là nàng xa lạ với những ngẫu nhiên phi lý của chiến tranh, với sự khổ cực mà con người phải chịu vô cđ. Dường như nàng không muốn giữ kẽ nữa mà cứ hành động theo sự bó buộc của cuộc đời”.

Nàng nói:

– Em rất tiếc rằng không được ở Ba Lê với anh hồi trước.

– Còn anh, anh muốn mai mốt được sang Ba Lê với em.

– Liệu người ta có ác cảm với mình không?

– Có lẽ không. Chúng ta có tàn phá Ba Lê đâu?

– Đành thế, còn những vùng khác của nước Pháp?

– Cũng không tàn phá nhiều hơn ở các nước khác. Chúng ta lấy nước Pháp mau lắm mà.

– Sợ rằng các anh tàn phá nhiều quá, để họ căm thù bọn mình trong nhiều năm.

– Không biết. Người ta dễ quên khi chiến tranh kéo dài. Có lẽ họ căm thù chúng ta thực sự.

– Em muốn chúng ta đến xứ nào không bị tàn phá.

– Không có bao nhiêu. À còn gì uống không?

– Còn, còn nhiều, ở Ba Lê rồi anh còn đi đâu nữa.

– Sang Phi châu.

– Phi châu nữa à? Chắc anh thấy nhiều, biết nhiều.

– Biết nhiều thật, nhưng không biết như thuở nhỏ mình ao ước.

Nàng cầm lấy chai rượu rót đầy ly. Chàng nhìn nàng làm việc. Tất cả đều có vẻ không thực nhưng không phải vì họ đã chuếnh choáng hơi men. Tiếng nói trôi vật vờ trong bóng tối mờ, còn cái gì thực là quan trọng thì không thể diễn tả bằng lời nói. Cái gì quan trọng phồng ra rồi xẹp lại như con sông lớn, không thể diễn thành ngôn từ, tiếng nói chỉ vật vờ trên sông như những cánh buồm trắng lướt đi.

– Anh còn thấy những xứ khác không? – Nàng hỏi.

“Những cánh buồm trắng trôi trên sông” Graber nghĩ vậy. Chàng trả lời nàng:

– Xứ Hòa Lan. Ấy là lúc mới có chiến tranh. Thuyền bè lướt đi trên những con kinh, mặt nước cũng cao ngang với đồng ruộng, người ta có cảm tưởng thuyền bè đi trên ruộng vậy. Thuyền trôi lặng lẽ, buồm căng trước gió, đến chiều nom thật lạ mắt, nom như những con bướm cánh lam và trắng.

Nàng mơ mộng:

– Xứ Hòa Lan. Hết chiến tranh chúng ta có thể sang chơi Hòa Lan, ăn bánh bột mì và các loại pho mát Hòa Lan, đến chiều chúng ta sẽ đi xem thuyền bè trên kinh.

Chàng nhìn nàng và nghĩ thầm: Nàng chỉ nghĩ đến ăn. Hạnh phúc bây giờ gắn liền với thực phẩm.

Nàng lại nói:

– Mong rằng người Hòa Lan không ác cảm chúng mình.

– Có thể lắm. Chúng ta đã chiếm Hòa Lan và phá thành Rotterdam mà không khai chiến. Anh đã trông thấy cảnh điêu tàn. Không có một cái nhà nào đứng vững. Ba chục ngàn người chết. Có lẽ ở đấy người ta cũng không ưa mình đâu.

Một lúc yên lặng. Bất thần nàng cầm cái ly ném mạnh xuống sàn.

– Như vậy thì còn mơ ước làm gì! Chúng ta không thể đi đến đâu được, không ai ưa ta, ở đâu người ta cũng chửi rủa mình!

Graber ngồi xuống bên giường. Hai mắt người thiếu nữ sáng như thủy tinh trong ánh sáng mờ rung rinh từ ngoài tràn vào. Chàng cúi mình gần nàng và xem xét dưới sàn:

– Chúng ta phải thắp đèn lên để nhặt hết mảnh thủy tinh kẻo giẫm phải thì đứt nát chân. Đợi chút, anh ra đóng cửa lại.

Y đứng dậy. Elisabeth vặn đèn và choàng cái áo lên mình. Ánh sáng làm cho nàng e thẹn.

– Đừng nhìn em. Không biết sao em lại làm thế này. Xưa nay em có nóng nảy như thế bao giờ!

– Có lẽ có chứ! Cái không phù hợp với em là cuộc sống ở đây. Như vậy có gì là lạ nếu thỉnh thoảng em đập phá một chút.

– Em muốn biết cái gì phù hợp với em ở đâu!

Graber cười.

– Anh cũng vậy! Có lẽ là một rạp hát xiệc, hay một cái lều căng ngoài trời, hay một phòng trà Mỹ. Dầu sao thì cũng không phải là căn phòng ngăn nắp của con gái như căn phòng này. Thế mà tối thứ nhất đến đây anh tưởng em mồ côi không ai săn sóc!

– Đúng thế em mồ côi, không ai săn sóc thật.

– Thì anh cũng thế.

– Chúng ta ai cũng thế cả. Nhưng chúng ta vẫn sống được không cần ai giúp đỡ cả.

Y trải một tờ nhật trình xuống sàn rồi lấy tờ khác vun hết mảnh ly vỡ vào đó. Tình cờ y đọc những hàng tít lớn nơi trang nhất. Thâu hẹp thêm phòng tuyến. Kịch chiến trong vùng Orel. Y gập tờ nhật trình lại bỏ vào sọt rác. Bầu không khí ấm áp trong phòng bỗng tăng bội tiện nghi. Người ta còn nghe tiếng cuốc và tiếng hốt gạch của toán người dọn dẹp. Đồ ăn của Binding cho vẫn bày khắp mặt bàn.

– Để em dọn dẹp đi. Em không muốn nhìn những vật này nữa.

– Dọn đi đâu?

– Cất vào bếp. Từ đây đến chiều mai còn kịp thì giờ để mang đi chỗ khác.

– Đến chiều mai chắc không còn gì. Nhưng sợ mụ Licser về sớm hơn.

– Kệ mụ.

Graber ngạc nhiên nhìn nàng. Nàng thấy thế bèn nói:

– Em không cần để ý đến mụ nữa. Chính em cũng ngạc nhiên rằng mới từ hôm qua đến giờ mình đã thay đổi hẳn.

– Có lẽ nên nói thay đổi từng giờ.

– Còn anh?

– Anh cũng thế, cũng thay đổi.

– Anh bằng lòng thế à?

– Ừ. Mà không bằng lòng thì cũng chẳng có gì là quan trọng.

– Bây giờ chẳng có cái gì là quan trọng cả.

– Có chứ.

– Chúng ta có thể mở cửa sổ.

Graber mở cửa sổ. Một luồng gió lạnh ùa vào thổi phồng màn cửa.

– Trời sáng trăng.

Nàng loan báo với giọng trịnh trọng khôi hài.

Mặt trăng đỏ lòm xuất hiện trên một mái nhà đổ nát. Đầu một con quỷ đang gặm nhấm căn nhà bằng răng nhọn. Graber lấy hai ly uống nước rót rượu cô-nhắc ra, đưa một ly cho nàng.

– Uống đi em. Rượu nho không phải để uống trong tối.

Trăng vẫn lên dần. Ánh vàng thêm lộng lẫy, chị Hằng có vẻ uy nghi. Họ ngồi bên nhau im lặng trong chốc lát. Nàng quay đầu lại :

– Era thường tự hỏi không biết chúng mình sung sướng hay khổ sở.

Graber nghĩ ngợi.

– Vừa sướng lẫn khổ. Có lẽ không tránh được. Ngày nay chỉ có bò cái là sung sướng. À, còn đá nữa, có lẽ đá cũng sung sướng.

– Cái đó cũng không có gì là quan trọng phải không anh?

– Không.

Graber trả lời trong khi hai mắt chìm trong ánh trăng vàng dần dần tràn ngập căn phòng.

– Vậy theo anh cái gì quan trọng?

– Cái quan trọng là chúng ta không chết nữa, mà chúng ta cũng chưa chết.