Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 30 May 2026

    Thủy Thủ Về Nhà: phần 1 
Hơn mười giờ sáng rồi mà mặt trời còn ẩn sau lớp mây trắng đục, tỏa ánh sáng yếu ớt làm quang cảnh mù mờ, có chút sương pha nhưng trời êm ả lắm. Hồ nước đã được người ta cào rác rến và đám bông súng mới hôm kia còn bông vàng, bông trắng từng chòm và lá màu xanh nâu chiếc nào chiếc nấy lớn bằng cái mâm kề nhau phủ gần bít mặt hồ, tất cả đã được dọn sạch sẽ. Mặt nước phẳng lặng như tờ, nước hồ đã lóng trong màu vàng nhợt đủ cho cây liễu xum xuê cành lá xanh xanh bên hồ soi tàng bóng nước.  Tôi với Trúc Thanh dẫn Kuma đi qua cây cầu bắc ngang hai bờ hồ. Thanh nói:
– Cảnh thanh bình quá.
Nói tới đây chợt bị thu hút bởi đàn vịt đang bơi qua, chúng tôi đứng lại vịn tay lên lan can cầu nhìn xuống. Không nhớ là tháng mấy, chỉ nhớ hôm đó là mùa xuân, vẫn là những con vịt cha và những con vịt mẹ với những con vịt con nhỏ xíu này bơi lội trên mặt hồ. Đương thong thả nhìn bầy vịt bơi, chợt giựt mình thoát khỏi sự trầm ngâm khi những con vịt đập cánh xuống làm nước văng tung toé, ngó theo bầy vịt bơi ào ào làm quấy động mặt nước êm ả giữa dạ cầu. Chợt thấy một chiếc xe chạy điện dành cho người tàn tật đã thắng đứng lại trước lan can giữa cầu từ lúc nào. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe, cầm mấy lát bánh mì trắng, tay xé bánh ra miếng nho nhỏ và liệng từng miếng xuống nước, bầy vịt nhào tới giành nhau nuốt chửng những miếng bánh mì đã ướt. Nhìn bầy vịt giành ăn, tôi mới nhớ ra, hẳn nhiên có nhiều điều đã đổi thay từ mùa xuân cho tới mùa thu. Mấy đứa con của cha, mẹ vịt giờ đã lớn khôn, chúng không còn ngoan ngoãn nữa, chúng có đôi cánh khoẻ mạnh nhấc được mình lên khỏi nước và đôi chưn mạnh mẽ đạp chạy trên mặt nước như bay. Tôi khoa tay một vòng và nói: – Ừa, mình sống một nơi rất yên bình, con người và muôn thú cũng được bình an. Mama thấy không, bầy vịt con mới mấy tháng trước còn nhỏ xíu, nay đã biết tự kiếm ăn và biết giành ăn, không lâu nữa chúng sẽ trở thành cha mẹ của bầy vịt con sau này.
– Phải rồi, trông chúng rất là vô tư, gần gũi với con người mà hổng biết sợ gì hết. Người phụ nữ chăm chú cho vịt ăn, không để ý tới chúng tôi. Nhưng tôi nhìn cô ta rất kỹ, gương mặt phúc hậu, tóc cắt gọn gàng với chiếc áo khoác len dài màu nâu, mặc một chiếc váy bông cũng màu nâu lấp ló dưới chưn, rất hợp với đôi giày màu nâu sẫm, ước tính cô ta cũng trên dưới tuổi năm mươi. Cô ta bị bịnh gì hổng biết mà ngồi xe lăn? Trúc Thanh cũng trạc tuổi với người phụ nữ kia, tuy hai chân còn đi vững và sức khoẻ đủ để làm việc nửa ngày, vì phẩu thuật mấy lần nên tinh thần không được mạnh mẽ cho lắm. Nghĩ tới đây tôi chợt nhớ tới những người đàn bà ở tuổi trên dưới năm mươi mà tôi quen biết, người nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và sang trọng, có người làm chủ cơ sở kinh doanh, nhưng bên trong cái đẹp hào nhoáng ấy, phần đông đều chịu đựng những căn bịnh ngặt nghèo như; ung thư tử cung, ung thư vú, ung thư máu. Có vài cô đã qua đời ở lứa tuổi năm mươi, tuổi vào thu!  Tôi cũng liên tưởng tới hơn ba tháng qua, ở trên đất liền, tôi dự một buổi rải tro cốt của một ông anh và một buổi cầu siêu của một phật tử mới qua đời và có một anh bạn đang bịnh ung thư gan, bác sĩ cho biết anh ấy còn sống được vài tuần nữa. Mấy tuần trước, vợ chồng tôi và các anh, chị, em rủ nhau tới thăm, trông anh xanh xao, nhưng anh rất lạc quan, vẫn vui vẻ nói cười với anh em một cách bình thường. Mới đó mà chúng tôi đã sống trên đất khách, quê người hết cả cuộc đời. Nhớ tới những ngày còn trai trẻ, người nào cũng có một hoài bão cao ngất trời, nên khi còn chân ướt chân ráo đặt lên xứ người thì anh chị, em hợp nhau để thực hiện lý tưởng hoài bão đó. Những năm gần đây, sau mỗi chuyến hải hành trở về, nếu không nghe tin mất một anh hay một chị thì cũng nghe anh này bịnh, chị kia nằm nhà thương.  Mùa thu là mùa làm cho những người có tinh thần yếu đuối hay bị trầm cảm. Trúc Thanh nằm trong nhóm người này, tinh thần luôn bất an, vui hay buồn đều chảy nước mắt và cũng hay khóc mỗi khi nghe chuyện thương tâm. Cũng vì dễ bị tổn thương, nên có những ý nghĩ tiêu cực tôi để trong lòng chớ hổng dám nói ra. Tôi day ngang khèo Trúc Thanh và ra hiệu cho Kuma đi qua bên kia cầu. Những chùm lá già nua trên hàng cây xanh ven bờ hồ cũng đã đổi màu. Từ đây cho tới cuối tháng mười một mỗi ngày qua là tiết trời mỗi thay đổi, có thể nhìn được thời gian đi qua rõ ràng, nhứt là sự thay đổi ánh sáng mỗi ngày, nó giống như một cuốn phim quay chậm. Chúng tôi đi dọc theo con đường một bên là bờ hồ được đổ đá rất kiên cố và một bên đường trồng một hàng cây lá đã đậm màu, có vài chiếc lá đã điểm màu vàng và lác đác rụng trên thảm cỏ xanh. Trời im gió, không khí mát rượi, những bụi bông lục bình xanh dương hay tím tím, bông thủy tiên và bồ công anh với màu vàng tươi và kết hợp với những loài hoa màu trắng hoặc màu hồng của cá hồi; có loại lá to, loại lá nhỏ, lá gai, lái dài, lá ngắn; có mùi thơm hoặc không có mùi thơm… tất cả rộ lên trong những ngày mùa xuân mà giờ đây cũng đã đổi thay, không còn nhận ra dấu vết. Tôi cầm tay vợ vu vơ nói:
– Bây giờ là mùa thu. Thanh nói:
– Mùa dịch cô vít chớ thu gì.
– Dịch cô vít qua hơn một năm rồi và hổng biết chừng nào mới dứt, không phải là mùa nữa mà phải gọi là “trận” dịch cô vít. Thanh rùng mình một cái:
– Ghê thiệt. Chợt ghe gió lạnh, tôi ngó lên trời, day qua nói:
–  Mây đen kéo về, trời sắp mưa. Thanh nói:
– Ừ, dạo này mưa, gió thất thường, mình đi dìa được rồi.  Về nhà Trúc Thanh cho Kuma ăn, còn tôi pha hai tách trà gừng, chúng tôi rất thích trà gừng tươi, vì nó không chỉ là một thức uống ngon mà còn có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Có một chị bạn là bác sĩ mách cho tôi biết, trà gừng tươi có tác dụng chống viêm, giúp giảm cân, tăng cường hệ thống miễn dịch và thậm chí bảo vệ chống lại ung thư ruột và bệnh Alzheimer. Ngoài ra gừng có tác dụng chống buồn nôn, ta có thể uống nhiều hơn so với một tách trà bình thường. Trong những trung tâm dinh dưỡng cho rằng, gừng cũng thích hợp trong thức ăn lành mạnh. Tôi bưng hai tách trà gừng đem ra bàn, lúc đó trời đã bắt đầu mưa. Tôi nói với Thanh:
– Ngồi trong phòng nhìn mưa, uống trà cũng ấm áp.  Trúc Thanh day qua nói:
– Ờ hén, thấy cũng hay hay. Tôi nhìn mưa tạt vào khung kiếng nghe rào rào, ngoài vườn cây cối lai rai nhả những chiếc lá già xuống sân. Tôi nói:
– Mama nhìn ra vườn sau coi, những chiếc lá dán xuống mặt gạch bị nước mưa làm ướt mem. Trúc Thanh rụt cổ, nói:
– Lạnh thấy mồ.
– Mama lạnh vì bị thời tiết bên ngoài xâm nhập.
– Là sao?
– Mùa thu là mùa di chuyển chậm, thời gian đi từ từ, trời đất gần nhau, tuy nhìn bên ngoài lạnh nhưng nếu nhìn vào bên trong vẫn thấy được ấm áp.
– Trời đất như vầy mà ấm áp gì.
– Thì mình sống tự nhiên theo mùa, tư duy nên hướng vào nội tâm thì sẽ thấy được niềm vui ấm áp.
–  Tui thấy càng hướng vào nội tâm càng dễ bị trầm cảm.
Đó là tâm trạng của người bịnh, có khi nào mama gặp phải các triệu chứng như cảm lạnh, da khô hoặc táo bón trong mùa thu không?
– À, cái này có, nhưng…
– Nhưng sao?
– Cảm lạnh, da khô, táo bón ăn nhập gì nội tâm?
– Ăn nhập chớ, cũng nhờ nội tâm chỉ cho mình thấy được những triệu chứng đó.
– Mùa khác hổng có mấy triệu chứng này sao?
– Có nhưng mùa thu thường xảy ra hơn.
– Vậy à? Tôi chỉ tay xuống tách trà nói:
– Uống hết tách trà gừng đi, gừng ngừa cô vít đó. Trúc Thanh bưng trà lên uống một ngụm, để tách trà xuống rồi nói:
– Ờ, hổng biết có ngừa dịch được không nhưng thơm và ấm thiệt.  Trúc Thanh cầm đồ bấm lên định mở truyền hình, thấy tôi nhìn qua, cô để đồ bấm xuống. Số là trước kia Trúc Thanh dành thời gian xem truyền hình rất nhiều, nhứt là từ khi đại dịch hoành hành ở Việt Nam, cô hay lên Youtube xem mấy clip bên nhà, phần đông là những chuyện thêu dệt cảnh thương tâm của mấy người làm clip, riết rồi bị trầm cảm. Thấy vậy tôi đề nghị với Thanh trong lúc ăn, uống cũng như giờ ngủ không xem iPad và không coi mấy cái clip tiêu cực của Việt Nam nữa. Ban đầu Thanh có hơi bất bình nên hỏi vặn:
– Tại sao?
Tôi giải thích:
– Tại vì truyền hình và mạng internet tin giả, thầy tu giả nhiều vô số, tệ hơn nữa mấy cái clip họ dàn cảnh đóng giả tràn lan, mama xem riết rồi bị bịnh đó. Trúc Thanh nghe tôi giải thích, mới ngộ ra, nhưng cũng còn tiếc:
– Vậy thì ngoài những tin tức của đài phát thanh truyền hình có uy tín và nghe nhạc ra tui hổng xem cái gì nữa hết được hông?
– Tui đâu có ra lịnh cấm mama, chỉ lưu ý thôi, nghe, xem tin tức thì  phải biết chọn lọc, nếu không thì bị nhiễm mấy thứ tiêu cực trên mạng, nó cũng độc hại không thua nhiễm cô vít đâu.
– Nhưng làm cách nào để chọn lọc đây?
– Chỉ có cách là bỏ bớt không gian mạng và mấy đài phát thanh, nhứt là đài truyền hình của Việt Nam, đừng thấy mấy cô, mấy cậu biên tập viên người nào cũng ăn mặc sang trọng, đẹp đẽ và đọc nghe sướng cái lỗ tai mà tin theo bị lầm chết. Còn YouTuber thì phịa tin giựt gân để thu hút mấy người nhẹ dạ cả tin.
– Ừa, sao họ phịa mà y như thiệt vậy đó.
– Bỏ đi! Tốt hơn hết là mình nên quay lại bên trong xem cơ thể mình nó có rầy rà không và sống cho phù hợp với thời tiết của một ngày là đủ rồi.
– Papa nói thử coi, sống sao cho phù hợp với thời tiết hôm nay đây?
– Theo y học cổ truyền Đông Phương thì phân ra năm yếu tố: mộc, hỏa, thổ, kim và thủy, nghĩa là; cây, lửa, đất, sắt và nước. Nếu có sự hài hòa giữa năm yếu tố này, thì sẽ có một sự cân bằng lành mạnh. Mỗi yếu tố liên quan đến một cơ quan, mùa thu gắn liền với nguyên tố kim loại. Cũng theo y học cổ truyền, hằng bao thế kỷ qua, mùa thu vẫn liên hệ với phổi và ruột già. Phổi đón nhận năng lượng mới dưới dạng oxy, ruột già đưa các chất cặn bã trong cơ thể của ta ra ngoài.
– Papa ngồi bên trời Tây mà nói chuyện bên trời Đông nhắm có hợp lý không?
Cái này tui đọc qua báo Tây đó chớ. Bên Tây bây giờ tiệm thuốc Nam, thuốc Bắc thiếu gì. Mama là hội viên của tiệm thuốc Nam mà hổng biết sao?
– Ờ hén, nhưng thuốc thì trị thân thể thôi, còn cảm xúc thì sao?
– Cũng theo đông y, cảm xúc có liên hệ với phổi tạo ra nỗi buồn.
– Vậy là mùa thu là mùa buồn.
– Theo tui được biết thì ta nên cho nỗi buồn một không gian thoáng sẽ tạo ra một sự rộng rãi trong chính bản thân mình. Một khi năng lượng phổi được cân bằng thì có những suy nghĩ, giao tiếp với người ngoài cũng tích cực hơn, nhờ lọc bỏ những cặn bã và thong thả với những ý tưởng mới, có khả năng thư giãn mà phân biệt thật, hư rõ ràng. Còn nếu ai sống trong không gian hẹp, keo, bẩn thì năng lượng phổi thấp và suy tư kém cỏi, lúc đó sẽ gặp khó khăn hơn khi đối mặt với mất mát. Cũng như khó mà buông bỏ tiền tài, vật chất và dễ bị mắc kẹt trong những kinh nghiệm thành công hay thất bại đã trải qua trong đời sống. Cho nên cần làm sạch bên trong lẫn bên ngoài, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
– Như vậy vào mùa thu thì nên thiền tập nhiều để hướng sự chú ý vào trong mình, xem những gì cần thiết để cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa.
– Theo tui thì đó là tâm trạng còn phân biệt, không riêng gì mùa thu. Mọi thời, mọi lúc nên chú ý vào trong mình, để biết mình nên cần giữ điều gì có thể giữ và bỏ điều gì cần phải bỏ.
– Là sao?
– Là những khi rảnh rổi ngồi yên đều hoà hơi thở, để loại bỏ chất thải trong tâm thức, cũng như chất cặn bã của ruột già. Nói chung, những gì trong cơ thể và tâm thức không còn sử dụng được nữa, ta nên thải ra cũng như trong đoạn cuối cùng của sự tiêu hóa.
– Tự dưng hôm nay vợ chồng nói chuyện có hơi khó hiểu. Thực tế chút đi, ăn uống làm sao cho phù hợp với mùa thu?
– Mama làm khâu phát triển sản phẩm trong xưởng sản xuất thức ăn tươi đóng gói cho siêu thị thì phải biết thức ăn của mỗi mùa chớ.
– Ờ, tui nhớ rồi, hôm kia trong hãng chuẩn bị đóng gói rau củ cho các món hầm và bí đỏ cùng gia vị cho món pompoensoep. Tôi hớp một hớp trà nhìn qua Trúc Thanh hỏi:
– Chỉ có rau của món hầm và xúp thôi sao?
– Còn nhiều lắm, tui chỉ đưa ra mấy món tiêu biểu thôi.
– Vậy theo kinh nghiệm lâu năm của mama ra sao kể nghe đi. Trúc Thanh ỡm ờ và hỏi:
– Kể cái gì bây giờ? Tôi gợi ý:
– Đại khái văn hoá ẩm thực, tiêu biểu thực phẩm đúng mùa không chỉ chất lượng hơn mà rau thường ngon hơn, có thể mua nó với giá rẻ hơn và còn có những món ăn tiêu biểu của Hoà Lan, mình cũng nên biết chính xác loại rau nào có mặt vào mùa nào nữa. Trúc Thanh liền nói:
– Rau, trái, củ hầu như mùa nào cũng có bao nhiêu thứ đó thôi, nhưng điển hình các loại rau, trái, củ phổ biến nhiều vào mùa thu như: củ dền đỏ, cần tây, cải xoăn, các loại bắp cải, các loại nấm, củ cần tây, bí rợ, tỏi và, bắp cải đỏ, cà rốt và cải chua; gia vị cay và nặng mùi như tỏi tây, quế, tiêu và ớt. Tôi cười:
– Trúng nghề nên mama kể ra vanh vách.
– Đại khái vậy thôi, đặc biệt là những hương vị nhẹ nhàng, thường thì ăn các món hầm trong khí trời lành lạnh ăn vô thấy ấm lòng hơn.
– Ừa, phải rồi, bí rợ thực sự là một trong những loại trái đặc trưng của mùa thu, nó có vị ấm và ngọt, có thể sử dụng nó tốt trong các món ăn thông thường hoặc nấu một món xúp ngon. Như pompoensoep là món xúp tiêu biểu mùa thu của Hoà Lan, nói chung là Âu Châu, món này gia vị hơi cay ăn với bánh nướng mặn hoặc bánh mì cây hợp với khí trời man mác lạnh.
– Papa là đầu bếp, chuyện ăn uống papa rành hơn tui mà.
– Ờ hén.
Tôi uống thêm ngụm trà gừng và nhìn ra ngoài trời mà ngẫm nghĩ. Thân thể con người ta cũng ngộ, ngay khi những chiếc lá rơi khỏi cây và khí trời lành lạnh, tự nhiên cảm thấy thèm thuồng những món ăn ấm cúng. Tôi day lại nói:
– Thực đơn ăn uống cho mùa thu thì nhiều lắm. Ngoài món xúp bí rợ, xúp đậu ra còn có các loại bánh quiche hoặc những món ăn chơi và món ăn truyền thống của Hoà Lan vào những ngày trời lành lạnh. Điển hình là món khoai tây luộc nghiền chung với cà rốt có tên là hutspot, hoặc nghiền chung với cải xoăn có tên là boerenkoolstamppot, nói chung là các món khoai nghiền tiếng Hoà Lan gọi là stamppot, những loại này ăn kèm với bò viên, thịt ba rọi chiên dòn và xúc xích Hoà Lan hun khói mới đúng điệu ẩm thực của Hoà Lan. Trúc Thanh nói:
– Những món này theo khẩu vị của người Hoà Lan, gia đình mình sống ở đây lâu năm, tui mần trong xưởng chế biến, đóng gói thức ăn và nêm nếm mỗi ngày, còn papa là đầu bếp, mình cũng đã quen với khẩu vị Hoà Lan rồi, vậy mà ăn chỉ được vài ba món chơi cho vui thôi chớ hổng mặn mà cho lắm. Nói chi tới người Việt mình, có được mấy người nuốt cho trôi mấy món stamppot và xúp bí, xúp đậu… Tôi cười hì hì:
– Theo tui thấy thì những người da trắng như Nga và các nước Đông Âu ăn uống dễ thích nghi với mùi vị Hoà Lan. Còn In Đô, Phi Luật Tân cũng như phần đông người Việt mình sanh sống ở Hoà Lan lâu hay mau gì thì cũng khó ăn lắm.
– Dĩ nhiên rồi.
Nghe vợ xác nhận tôi chợt nhớ mấy hôm trước đây, Trúc Thanh với một bà bạn hàng xóm người In Đô và một chị người Việt gần nhà rủ nhau đi vô khu vườn trồng rau của miền nhiệt đới trong một nhà kiếng rộng. Ở đó người bán và người mua tại vườn những loại rau, trái, củ như: khổ qua, mồng tơi, rau muống, rau dền, bầu bí, mướp hương, khoai lang, cà tím, mà người Việt mình dí dỏm gọi là “cà ông giặc”. Tôi day ngang nói:
– Mama hổng nhớ sao, thường thì muốn cho có chút hương vị Việt Nam, vườn rau nhiệt đới xa cả trăm cây số mà mama vẫn lái xe đi mua vài trái khổ qua, mướp hương, bó rau muống và rau thơm. Mấy hôm trước đây chớ đâu xa, khi nghe tin nhà vườn thu hoạch rau, củ, trái cuối mùa bán giá rẻ. Mama còn xông xáo gọi điện rủ mấy người Việt gần nhà, ai đi không được thì hỏi coi mua rau gì mama ghi vô quyển sổ để mua dùm. Còn kêu tui đi theo, tới nơi mấy bà tha hồ mà hốt, rồi bắt tui rinh chất đầy nhóc cốp xe, mệt muốn ná thở luôn.
– Ờ, dù sao rau mua tại vườn cũng vừa tươi, vừa ngon.
– Nghe nói tươi ngon tui thấy đói bụng rồi đây. Vậy hôm nay mama tính cho ăn món gì vậy?
Trúc Thanh day qua hớp một hớp trà và từ từ đứng lên đáp:
– Bánh xèo, trời mưa lành lạnh ăn bánh xèo cũng ngon.
– Ờ lâu rồi tui chưa ăn bánh xèo, tưởng quên cái món quê hương này rồi, nay nghe mama nói, phát thèm!
– Dĩ nhiên!
Nói xong Trúc Thanh bước qua mở tủ đựng đồ khô, lấy một bịt bột gạo và vài gói gia vị rồi qua mở tủ bếp bày dụng cụ ra pha bột. Pha bột xong, day qua tủ lạnh bưng tô nhân bánh xèo làm sẵn ra rồi day qua nói:
– Papa soạn trong học tủ lạnh ra coi còn rau, cải gì ăn bánh xèo hông? Tôi đi lại mở tủ lạnh, coi lại học rau:
– Rau cải của mama mua trong vườn hôm trước ăn cả tuần nữa còn chưa hết.
– Vậy thì papa thấy rau nào ăn bánh xèo được lấy ra lặt, rửa xong rồi lột củ tỏi và gọt dùm hai củ cà rốt.
– Ô kê! Tôi lựa rau cải ra rửa xong rồi hỏi Trúc Thanh:  Còn phụ làm gì nữa không?
– Papa lấy nước mắm rót ra hâm lại và dọn bàn ăn được rồi. Trong khi Trúc Thanh đổ bánh, tôi rót nước mắm để vô lò vi sóng bấm nút ba mươi dây thì chợt nghe điện thoại báo. Tôi đi lại chỗ để điện thoại bấm nhìn xem, thấy có tin nhắn của hãng tàu. Tôi ngước lên nói với Trúc Thanh:
– Tui nghĩ hãng tàu kêu tui đi làm.
– Papa đọc coi họ nói gì?
Tôi đọc tin xong day ngang nói:
– Ồ, hông phải đi làm, mà giấy chứng nhận sơ cứu của tui hết hạn rồi, họ kêu tui trở lại trường học ba ngày, để đổi chứng nhận mới.
– Vậy hả?
Tôi về nhà từ đầu mùa hè tới nay đã giữa mùa thu rồi. Cũng vì sợ cô vít nên chúng tôi hổng dám đi chơi xa. Hơn ba tháng trời, ngoại trừ mấy lần đi thăm vài người bạn cần thăm, tôi chưa ra khỏi vùng Flevoland, cứ luẩn quẩn ở Dronten, một thị trấn nhỏ nằm trong miền đất thấp hơn mặt nước biển của vương quốc Hoà Lan. Ở nhà không được tiếp xúc bạn bè, hổng nói chuyện với ai ngoài vợ nói chồng nghe, chồng nói vợ nghe, lắm khi nhàm chán rồi cãi qua cãi lại. Trước đại dịch, nếu tôi còn ở trên bờ, mỗi khi thấy trời chợt mưa, chợt nắng và gió lành lạnh lướt qua hàng cây trước nhà thì lòng tôi rạo rực, trong ý nghĩ dấy lên một chút lãng mạn rằng mùa thu là mùa lên đường và nôn nao chờ đợi ngày đi. Đối với tôi thì ở trên bờ hơn ba tháng có hơi lâu và phát hiện ra, thời gian qua tâm tư cũng có ít nhiều thay đổi. Năm nay tôi đã trên sáu mươi tuổi rồi, nghiệp đoàn có gởi thư thông báo, nếu muốn thì cuối năm tôi có thể nghỉ hưu, có lẽ cũng vì bức thư nghỉ hưu làm tôi để ý tuổi tác, sức khoẻ của mình. Dù sao đi nữa trong những ngày ở nhà nhàn rỗi, tôi để ý mùa màng một cách tường tận hơn. Thiệt tình mà nói tôi có thể tận hưởng thời tiết trước mặt trọn vẹn không cần phải ngong ngóng phương xa. Nhưng khi nhớ lại có vài thủy thủ già đã nghỉ hưu và còn sức khoẻ, bèn xin trở lại hải hành ngắn hạng. Theo họ thì hải hành để tránh sự nhàm chán trên đất liền và cho đỡ nhớ biển! Sức khoẻ tôi so ra thì cũng còn khá, nghĩ tới đây trong lòng tôi phân vân. Trong lúc chưa biết phải nên tiếp tục hải hành hay là như nhiều người đã khuyên “nên nghỉ ngơi để hưởng thụ cái tuổi già,? Bây giờ được tin tuần sau tôi phải về trường tập huấn, tôi mới nảy sanh ra một ý nghĩ. Tôi đi lại bếp vừa phụ Trúc Thanh dọn bàn vừa nói: – Trong ba ngày vô trường thực tập, có môn bơi dưới nước cho trực thăng tới vớt lên và nhảy từ trên cao xuống nước, có hơi nặng, nếu tui vượt qua được hai đoạn này thì tui sẽ tiếp tục làm việc thêm năm năm nữa. Trúc Thanh xúc bánh xèo ra dĩa vừa nói: – Lấy chứng nhận xong rồi hẳng tính, bây giờ ăn bánh xèo cái đả.  

Dronten 29-9-2021 
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 May 2026

Tuổi chúng tôi bây giờ đi dự đám ma nhiều hơn tiệc cưới, tuy vậy thỉnh thoảng cũng còn rơi rớt vài vụ của những cô, cậu út con cái bạn bè nhủng nhẳng lấy chồng lấy vợ trễ. Phần tôi, thì chờ một vài năm nữa, khi con cháu ngoại tốt nghiệp đại học mà mình chưa vào nursing home, thì cũng ráng mời một vài bạn già trong chỗ thân tình đi dự một cái đám cưới … cuối đời. Tôi cũng phải xin lỗi trước, nếu lúc ấy phải vào nhà thờ đứng lâu … tê cẳng, hoặc tiệc cưới thì chúng cho ăn mỗi tí xà lách và miếng thịt gà nhỏ bằng hai ngón tay vì chúng chê tiệc kiểu Tàu, làm cho mấy cụ cao niên ăn đói, về nhà phải xơi thêm chút mì gói thì cũng xin thông cảm.

Ngày xưa đám cưới, trong nghi thức lễ lược đều cử hành do phong tục, đâu vào đấy một cách tự nhiên không cần ai làm MC nhắc nhở từng tiết mục hay lập chương trình. Ngày nay trong các lễ cưới nạp lễ hay đưa dâu, quả tình mấy ông thợ chụp ảnh hay quay phim là những ông tư lệnh toàn quyền định đoạt cho phép hai họ đi đứng, bắt tay, cười hay quỳ lạy, nhất nhất đều phải tuân hành. Khi nhà trai tụ tập trước sân nhà cô dâu, tất cả đều phải xếp hàng hai dưới quyền chỉ huy của toán “phóng viên”, ai trước ai sau đều vào hàng răm rắp. Sau tiếng hô “đi” hai họ líu ríu bước tới, nghiêm trang, ngay hàng thẳng lối không được cười cợt, vì lúc ấy máy quay phim đã bắt đầu chạy và nhiều ành đèn flash bắt đầu chớp lên. Nhà trai, đàn ông thì áo vest cà vạt, quý bà thì áo dài kim tuyến hay áo đầm dạ hội, tay lấp lánh nữ trang, bắt đầu làm tài tử dưới quyền đạo diễn của ông phó nhòm nên ai nấy đều mang bộ mặt quan trọng của một ngày đại lễ. Vào đến sân nhà gái, lại có tiếng hô “đứng lại, đứng lại!” Đại diện nhà trai bước lên vào cửa xin giờ, xong lui ra, thì lại có tiếng hô “quay mặt qua bên trái”, vì lúc ấy sáu cô thiếu nữ nhà gái dung nhan diễm lệ đã sẵn sàng nhận lễ vật mâm quả hay heo quay từ sáu người bên nhà trai mang tới. Nhưng chớ vội. Khi nghe lệnh: “một hai ba, bắt đầu trao mâm quả” thì nhà trai mới từ từ nâng quả lên, trao cho bên nhà gái, mà phải từ từ như cuốn phim quay chậm, để toán quay phim còn kịp bấm máy. Nếu chưa được nhịp nhàng, phải làm lại thì ráng chịu.

Vào đến nhà trong, “đèn đuốc sáng choang, hương trầm nghi ngút”, ông quay phim vai vác máy, nhưng tay kéo ông này, đẩy bà nọ, chỉ định đứng bên này, qua bên kia, lớp lang đâu ra đấy. Từ đấy nhất nhất đều có lệnh mới được thi hành. Nhà trai ngỏ lời. Nhà gái đáp lời. Giới thiệu hai họ. Mở lễ vật. Lên nhang đèn. Cáo tổ tiên. Mời cô dâu ra trình diện. Màn quan trọng nhất là trao hoa, trao nhẫn. “Từ từ”. Nghe lệnh mới làm. “Chú rễ đứng lui một bước. Cô dâu nhìn ra phía này này.” Tôi đã chứng kiến trong một lễ cưới, chú rễ đeo nhẫn quá nhanh, nhà nhiếp ảnh chưa kịp bấm máy, hay ở góc độ bị che khuất không thấy rõ chiếc nhẫn cưới, anh ta yêu cầu chú rễ cô dâu làm lại từ đầu. Chú rễ cô dâu đều kiên nhẫn, ngoan ngoãn và hai họ hiện diện cũng không thấy ai phản đối. Tôi không phải là cha cô dâu mà chỉ là họ hàng, nên nghĩ rằng im lặng là tốt nhất. Như vậy là cô dâu có hai lần đeo nhẫn, mất hết cả duyên con gái. Cũng không phải là chuyện mê tín, nhưng rõ ràng lễ cưới thiếu sự nghiêm trang, tương kính mà diễn ra như một trò đùa. Những người bạn trẻ chụp ảnh phải quan niệm chụp ảnh đám cưới cũng như chụp ảnh một buổi lễ quan trọng mà mình là phóng viên báo chí, phải bắt lấy cơ hội, bắt lấy góc cạnh và bấm máy đúng lúc. Không thể nào bảo hai ông nguyên thủ quốc gia bắt tay lại để cho các bạn đủ thời giờ chụp một bức ảnh. Rõ ràng là các bạn không đủ khả năng chuyên môn nghề nghiệp và không được chuẩn bị cho cả hai mặt kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp. Trong lễ cưới, người thợ chụp hình chu toàn dịch vụ của mình mà không làm xáo trộn đến buổi lễ, không sắp đặt hay chỉ huy ai, trừ lúc bạn dẫn cô dâu chú rễ ra vườn hoa để chụp những cảnh ngoài trời. Nếu phải sắp đặt hay chỉ huy người khác trong những buổi lễ trang trọng như thế, với lý do để có một bộ ảnh cưới đẹp, thì bạn là người thợ chụp ảnh tồi.

Buổi tiệc tiếp tân buổi tối 99% được tổ chức tại nhà hàng Tàu. Đó là quy luật và thói quen của người Việt Nam “một nghìn năm (bị) nô lệ (bởi) giặc Tàu”. Ăn ở nhà hàng Tây tuy tốn kém, nhưng bị chê là cho ăn đói.

Không ai dám tổ chức ở nhà hàng Việt vì bị chê là bủn xỉn. Tiệc cưới thường pha giữa Việt-Tàu và Tây Phương ở chỗ cắt bánh, mở champagne nhưng lại chào bàn để nhận phong bì. “Tây” thì dâu-rễ và đám phụ dâu-rễ ngồi trên bàn danh dự chủ toạ ngó xuống khách mời, kể cả cha mẹ. “Ta” thì dâu-rễ đứng mỏi cẳng để chào mời, chuyện trò cùng hai họ nhất là thân hữu của cha mẹ hai bên.

Trong tiệc cưới, khách dự sợ nhất là chuyện “câu giờ”, nếu đến đúng giờ ghi trong thiệp mời thì phải ngồi chờ đúng hai tiếng rưỡi nữa mới có thể cầm đũa. Thôi thì đời một lần cho cháu, quan viên hai họ xin ăn một tí gì lót lòng trước khi rời nhà ra đi. Tiệc cưới không dám khai mạc đúng giờ, vì khai mạc đúng giờ thì khách chưa đến đủ. Đến đủ rồi thì “nghi thức khai mạc” kéo dài cũng gần tiếng với diễn văn và giới thiệu anh em, họ hàng, chuyện mà sáng nay đã làm trong lễ cưới rồi. Nỗi sợ thứ hai là sợ ca sĩ và MC trên sân khấu, sợ như thế nào thì quý vị có nhiều kinh nghiệm đi ăn cưới đã hiểu, nên mới có danh từ “MC đám cưới” hay “ca sĩ đám cưới”. Nỗi sợ thứ ba là cái loa khuếch âm dành cho bà con thuộc loại VIP hai họ, có quan trọng mới được sắp bàn ngồi gần sân khấu. Cái sợ thứ tư là sợ những ông khách chúc tụng đôi trẻ bằng những bài thơ bảy chữ có tới những tám câu. Có lần tôi đã nhận được thiệp cưới của một người không quen, không quen vì địa chỉ thì đúng, nhưng họ và chữ lót của tôi đã bị đổi khác. Lần ra manh mối mới biết nhà hàng Tàu quảng cáo, hứa sẽ cho free bánh cưới, champagne, bong bóng nếu đặt trên 40 bàn, mà họ hàng, bằng hữu, hàng xóm láng giềng hai họ tính ra chưa đủ 350 người. Số khách được mời thêm là để cho đủ túc số. Trường hợp ấy, ông bà có nhận lời đi “ăn cưới” không?  Nhân chuyện đám cưới, bây giờ nhiều ông bàphải về Việt Nam cưới vợ cho con, nên thỉnh thoảng chúng ta cũng xem được vài đoạn phim tiệc cưới bên nhà, cũng nên nói qua vài dòng cho biết qua phong tục quê nhà, quê người bây giờ ra sao. Ở Việt Nam bây giờ đi ăn cưới dắt cả lô, cả lốc, con cháu, đi theo người lớn, không báo trước, có khi hai vé mời đã chiếm hết một bàn, gia chủ chỉ sợ thiếu bàn và lỗ vốn. Ở ngoại quốc, trái lại, hai họ thường sợ dư bàn, vì phút chót khách vắng mặt mà không chịu trả lời. Việt Nam người ta còn thích ăn, nhất là đi ăn cưới, ở nước ngoài, người ta sợ ăn cưới vì thời giờ không đủ, mà dầu mỡ thì dư. Việt Nam đi ăn cưới bia uống thả dàn, mỗi bàn để nguyên một thùng, ở phương tây người ta uống cầm chừng vì sợ cảnh sát và mai sớm phải dậy đi làm. Ở Việt Nam đi ăn cưới có thể mặc áo thun, ở Mỹ phải áo vest, cà vạt. Ở Mỹ nghèo hơn ở bên nhà, vì bên đó chú rễ cô dâu có thể có mười cặp phụ dâu-rễ đồng phục và người bưng thức ăn ra bàn đều mặc áo đỏ có nẹp kim tuyến như lính Ngự Lâm Quân và sân khấu xịt khói như trong các show ca nhạc của Asia hay Thuý Nga. Và vì con gái bây giờ có dư nên khi quý khách đi vào nhà hàng sẽ có hàng rào danh dự bằng hàng chục mỹ nhân để đón khách.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 May 2026

1552, nhà Lê dấy lên từ Thanh Hóa, trong lúc này nhà Mạc hãy còn làm chủ miền Bắc, kể từ trấn Sơn Nam trở ra (Động Nam Hà Nội, giáp ranh Thanh Hóa.) Nhà Lê muốn phục hưng. Phải tuyển lính ở ba phủ là Hà Trung, Thiệu Hoa và Tĩnh Gia thuộc hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An. Sau này, nhà Lê đuổi được nhà Mạc ra khỏi Thăng Long, thì quân ở ba phủ trên (tục gọi là lính tam phủ) được coi là thần binh hay ưu binh, nhất binh; và được vua chúa tin dùng làm quân phòng vệ bởi họ đã đóng góp nhiều công lao trong chiến đấu. Chính vì có công lớn, lại được vua chúa nuông chiều, nên họ sinh ra thói kiêu căng, xem thường luật pháp.

Năm Giáp Dần (1674) đời Trịnh Tạc, bọn kiệu binh đã giết quan Tham Tụng Nguyễn Quốc Trinh và phá nhà Phạm Công Trứ. Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất, Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình Báo (Quận Huy) mưu lập Trịnh Cán lên làm chúa. Chi huy kiêu binh là Nguyễn Bằng vào phủ chúa đánh ba hồi trống lảm hiệu, quân kiêu binh kéo dến vây phủ, vào giết Hoàng Đình Báo, bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ, lập Trịnh Khải lên làm chúa. Từ đó kiêu binh một ngày một hống hách, cậy công, cướp phá các nơi, không ai dẹp được.

Kiệu binh lại cậy số đông, đứng ra đánh thuế, thu lợi nơi chợ búa, cửa ải, bến đò … Tháng 5 – 1786, quân Tây Sơn tiến ra Bắc, Lê – Trịnh tìm cách chống giữ, nhưng kiêu binh lúc này đã quen thói kiêu căng, lại rất sợ chinh chiến, nên lấy cớ chờ lương, để chần chứ không chịu tiến quân, khiến trong kinh thành càng xôn xao lo sợ, ai nấy đều lo riêng cho thân mình tháo chạy. Tháng 7-1786 quân của Tây Sơn tiến ra Thăng Long. Nhà Trịnh sụp dổ, nạn kiêu binh cũng chấm dứt theo. Tại miền Nam, vào đầu năm 1970. đã dấy lên một phong trảo kieu bình, nói rõ là phong trào thương phế binh đua nhau đi “cắm dùi” chiếm đất, ngang ngược và công khai mà chính quyền hồi đó đành bỏ tay, không dám đụng đến đám thương binh vì sợ mất lòng quân đội đang chiến đấu ở tiền tuyến. Đỗ Văn Lai, một thương binh BĐQ mù mắt cùng một số phế binh nặng, tại Trung Tâm Chỉnh Hình, trong chiến dịch chiếm đất đã biểu tình, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắt đỏ.

Ở Saigon thương phế binh đã chiếm lề đường Tú Xương, đóng cọc, chăng giây, che bạt chia nhau từng khu vực dựng cây cất nhà bất hợp pháp chung quanh Bộ Xây Dựng Nông Thòn và Viện Quốc Gia Phục Hồi, trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, trên lề đường Lý Thải Tổ, ngay trước trụ sở của Uý ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, trên đường Nguyễn Thông, nơi có hàng quán chợ trời. Ngày 29-3-1970. một đại hội thương phế binh dã được triệu tập tại trường Quốc Gia Nghĩa Tử quy tụ 300 đại diện TPB đã thi nhau tố cáo chinh phủ đã đối xữ với họ không đúng mức.

Tổng Hội Thương Phế Bình ra dời tại Sải Gòn, bầu TB Nguyễn Định làm Hội Trưởng, TB Nguyễn Bính Thinh, tức nhà văn An Khê, làm phó và TB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Thương phế binh đưa lý do nhiều thương phế binh chưa có nhà, họ có thể lập một Ủy Ban Tranh Đấu và có thể kéo tới chiếm các khu đất khác như đất Chú Hỏa, ông Phụ tá Nguyễn Cao Thăng và có thể cả nhà … của ông Tổng Trưởng Cưu Chiến Binh nữa, Chủ tịch Thượng Viện Nguyễn Văn Huyền có đến dự và dã nói trước đại hội rằng ông sẽ lấy tư cách một đại diện dân cử để làm một điều gì tốt đẹp cho thương phế binh. Tòa Đô Chính Saigon đã thông báo: trong lúc chính phủ đang tìm những biện pháp giúp đỡ các thương phế binh một số người đã lợi dụng anh em để mưu cầu những lợi lộc riêng tư và phá rối an ninh trật tự công cộng.

Lợi dụng sự tự do và dễ dãi trong chế độ dân chủ mà những người lãnh đạo không thể nhân danh trật tự xã hội để đàn áp như trong các chế độ sắt máu, dộc tài, một số nhỏ thương binh bị xúi giục, mua chuộc và có những hành động quá khích làm mất lòng dân, vượt qua pháp luật, gây ra một tình trạng rối ren tại hậu phương để tạo khó khăn thêm cho chinh phủ đương thời và tạo những hình ảnh không mấy tốt đẹp về người lính. Nhiều toán thương binh đã chiếm cả dất tư, chủ đất phải năn nỉ lạy lục chi tiền, lo lót cho thương binh, họ mới “nhổ cọc, cuốn giây” đi tìm chỗ khác. Ở Nha Trang, thương binh đã tràn ra bờ biển, cắm cọc chia lô ngay trên bãi biển. Dưới triều đại Cộng Sản, trong thời bình, vai trỏ của “quân đội nhân dân” bị lu mờ và được đảng cho làm kinh doanh có miếng ngon để khỏi nhiễu sự. “bộ đội cụ Hồ” ngày nay vừa lãnh lương lính vừa lãnh lương công ty. Hiện tại, Bộ quốc phòng đang quản lý hơn 110 doanh nghiệp, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh như: cơ khí, hóa chất; nông, lâm và hải sản; điện, điện tử, viễn thông; dệt may, da giày; thực phẩm, đồ uống, dược phẩm; thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ; thương mại và dịch vụ; xây dựng, vật liệu xây dựng …

Đảng cũng không thể dùng quân đội để đàn áp, dân oan. biểu tình … nên đảng phải vin vào công an như khẩu hiệu “còn đảng còn mình” cũng có nghĩa là đảng sống còn phải nhờ vào sự bảo vệ của công an. Bắt bớ, giam cầm người bất đồng chính kiến, còng tay người yêu nước. đàn áp dân oan, đạp vào mặt người biểu tình, không ai khác hơn là công an, người đầy tớ trung thành với đảng trong khi Hồ Chí Minh tuyên truyền đảng là đày tớ của nhân dân.

Theo nghị dịnh 44/2005/ND-CP năm (2005) quy định cấp bậc của Tư Lệnh Sư Đoàn, hay Chi huy Trưởng BCH Quân Đội cấp Tỉnh (tương đương chức Tiểu Khu Trưởng thời VNCH) chỉ là đại tá, trong khi hiện nay công an đứng đường biên giấy phạt cũng đã là dại uý, công an phường đã mang cấp bậc trung tá, công an huyện là đại tá, và công an tỉnh mang “hàm” thiếu tướng đồng loạt trong trận “mưa ân sũng” của đảng vừa qua, Chúng ta cũng nên biết Giám Đốc Công An Hà Nội trước đây là Trung Tướng Nguyễn Đức Nhanh và Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang đang mang cấp bậc đại tướng (!) Lực lượng công an CSVN được tin cậy và nuông chiều như lực lượng trấn áp nhân dân của chế độ, nên chúng trở thành đám kiêu binh, hống hách, giết người không gớm tay. Trên những bản tin trong nước, từ Hà Nội, Hà Giang, Hưng Yên đến Quảng Nam, Khánh Hòa, Bình Dương … ở đâu cũng có chuyện công an đánh chết người, mà công lý luôn luôn đứng về phía … đảng. Dân chủ ngày nay dưới chính thể cộng sản có nghĩa là “mày là dân mà chúng tao là chủ!”

Nói theo lối “lưỡi gỗ” Tôn Nữ Thị Ninh thì dân là con cái trong nhà cần dạy dỗ, mà gia nhân ra tay là bọn Khuyển Ưng cậy thế chủ, làm càn. Ở hài ngoại này cần sự doàn kết một lòng vì việc lớn, chúng ta ráng kềm chế đừng ai cho mình là công thần trong quá khứ, sẽ tránh được nạn kiêu binh.

Sân triều

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

January 27th, 2022

Post by Sơn râu 29 May 2026

Lời Tòa Soạn: 

Ngay từ những năm 1988, 1989 Trần Vũ đã nổi tiếng như một hiện tượng văn học hải ngoại, là đại diện cho lớp viết trẻ và cũng là nhà văn trẻ nhất bấy giờ. Sở trường của Trần Vũ là truyện ngắn, đã đăng trên các tạp chí Làng Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Trẻ và các webs văn học như Talawas; Damau v.v… Trần Vũ cộng tác với Trẻ nhiều năm và không còn lạ gì với độc giả Trẻ qua mục Trong Hầm Rượu. Bạn đọc có thể tìm đọc một vài tác phẩm của Trần Vũ tại https://tusachtre.com và hiểu hơn về cuộc đời nhà văn Trần Vũ, cũng như thân phận người Việt sau 75, qua bài phỏng vấn dưới đây của Sinh Đặng.

Trần Vũ cuối thập niên 80 

Sinh Đặng (SĐ): Anh là một thuyền nhân sau 75, biến cố 30 tháng 4 đến với anh như thế nào?

Trần Vũ (TV):  Có những hình ảnh mà một đứa bé lớn lên không bao giờ quên. Với tôi là khi cha chết. 3 ngày sau khi Dương Văn Minh đầu hàng, cha thổ huyết vì uất. Căn phòng đầy máu. Cha nằm bất động. Tôi òa khóc và người lớn lôi tôi ra. Xe vào nhà thương Grall và 10 ngày sau cha mất. Cái chết của Miền Nam, đối với tôi, là cái chết của cha. Tôi muốn quên, nhưng căn phòng vẫn ở đó.

SĐ: Hành trình vượt biên của anh ra sao?

TV: Năm 79 vượt biên bán chính thức bùng phát. Mẹ tôi gom hết tiền cho tôi với anh Cả ra đi, mẹ và chị không đủ tiền đành ở lại. Lúc đưa chúng tôi ra xe, mẹ và chị đứng khóc dưới gốc cây. Tôi không bao giờ quên.

Chuyến tàu MT-603 xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 mắc cạn ở Bãi Ngầm Trường Sa. Ban ngày nước lên đến ngực, đến trưa rút xuống bụng và chiều xuống đùi, nhưng đêm đến thủy triều dâng quá đầu. Chúng tôi bám vào ván gỗ, dây thừng và níu chặt nhau suốt đêm. Thân tàu đã sập tầng trên chỉ còn lườn, thủy thủ với chủ tàu quát tháo không cho leo lên sợ lật tàu. Chúng tôi ở dưới nước tổng cộng 13 ngày. Da tôi nhăn nhúm như da bà già. May mắn là biển ấm và trời mưa.

Phép màu sau đó, chúng tôi được một hải vận hạm Phi cứu thoát. Lên đảo Palawan ngày 29 tháng 6-1979.

Song thân Trần Vũ Tết Ất Mão 1975

SĐ: Anh có những kỷ niệm nào đáng nhớ trong những bước đầu tị nạn?

TV: Hội Hồng Thập Tự cho các trẻ vị thành niên không cha mẹ vào cô nhi viện. Tôi sống trong một trại cô nhi miền Bắc Pháp. Tôi là cô nhi Á châu duy nhất. Trong trại có một cô nhi Tây cứ trông thấy tôi là nó ngoác miệng: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây…”  Tôi nhớ lời mẹ dặn: Sang đất người phải biết nhịn nhục, một điều nhịn chín điều lành. Tôi im lặng và tránh né. Thằng mất dạy tưởng tôi sợ nó, càng làm tới, hễ trông thấy tôi ở đâu là nó ré lên: “Ðàn ông Việt Nam làm cu li cho Tây, đàn bà Việt Nam làm điếm cho Tây… Nhìn cái mặt cu li kìa!” Tôi chịu hết nổi, một hôm thu hết sức bình sinh tôi phóng lên đấm vào mặt nó, nhưng chỉ trúng ngực, vì nó cao hơn tôi cái đầu. Nó không hề hấn, cung tay móc một trái direct. Tôi lãnh cú thôi sơn ngã lăn ra đất. Thằng mất dạy nhào tới đè lên ngực và thọi tôi liên tiếp. Máu mũi tôi trào ra đỏ tấy. Hôm đó nếu giám thị không can ra là tôi đã bể quai hàm.

Tôi về phòng rửa mặt. Máu mũi chảy ròng ròng, một bên môi sưng và mắt bầm. Tôi tháo chân ghế gỗ trong phòng. Loại chân rời bắt ốc, có đinh xoáy ở đầu. Tôi biết đánh không lại, phải có võ khí. Cái chân ghế đút vừa cặp-táp. Tôi trở xuống phòng ăn. Ðại sảnh giấc trưa đông đúc. Các dãy bàn 12 người xếp san sát. Thằng mất dạy ngồi quay lưng ở góc. Tôi xin giám thị cho đi tiểu. Toilettes gần lối ra ngay chỗ thằng mất dạy đang ăn. Tôi bước ngang qua chỗ nó ngồi, lúc ngay sau lưng, tôi mở cặp và rút cái chân ghế quất vào đầu nó. Nhưng thằng mất dạy nghe tiếng “cách” của nắp khóa khi tôi mở cặp, nó xoay lại và né cực nhanh, cái chân ghế vụt sát mặt nhưng không trúng, chỉ có đầu đinh gỉ sét xước mang tai làm rách da chảy máu. Nó đứng bật dậy xô bàn. Tôi vụt cái nữa. Nó chụp ghế đỡ. Tôi không kịp quất cái thứ ba vì các giám thị đã nhào đến đè tôi xuống. Thằng khốn nạn cũng bị đè xuống.

Chiều hôm đó ban giám hiệu thông báo cho tôi biết, họ chuyển tôi sang Trung Tâm Dành Cho Trẻ Gặp  Khó Khăn. Tôi tưởng tượng ra trại trừng giới. Tôi đã đọc Tiểu đoàn Trừng giới của Konsalik của Nhà xuất bản Thùy Dương năm 73. Tôi buồn bã vô hạn. Tôi nghĩ nếu mẹ tôi biết, chắc bà buồn lắm. Bà sẽ khóc và cuộc đời tôi tiêu rồi. Tại sao tôi không còn quốc gia, không còn cha mẹ?

Khi tôi đến Centre d’Acceuil pour Enfants en Grande Difficulté, thì… đầy Việt Nam.

Trần Vũ và thân mẫu 1962

SĐ: Rồi sau đó?

TV: “Cô nhi nghĩa tử” Việt đủ thành phần. Du đãng Rạch Giá, lơ xe đò tuyến đường Sàigòn-Long Xuyên, vá lốp ngoài chợ Cầu Ông Lãnh, bộ đội phục viên quê Thái Bình đi chui ở Hải Phòng cũng có… Tất cả trên hai mươi tuổi khai xuống còn 15. Tôi là cô nhi duy nhất giữ đúng năm sinh. Trong trại có khoảng 40 cô nhi Việt, 20 Lào và 15 Kampuchia. Nam nữ lẫn lộn. Một sáng nghe tin quân đội Việt Nam “giải phóng” Xiêm Riệp, tảo thanh Battambang, đám Việt Nam rùng rùng kéo sang khu Khmer để “bình Tây”. Các bạn tôi đấm đá thanh niên Khmer túi bụi. Nhóm Lào-Kampuchia bỏ chạy tán loạn. Các giám thị dàn hàng ngang trên sân để chặn. Nhưng phía Việt Nam quyết chiến. Các bạn tôi rút thắt lưng, cầm gậy gộc ghế đẩu lao tới, hét vang: “Ðiện Biên Phủ! Ðiện Biên Phủ!”… Ðến lượt giám thị Tây bỏ chạy. Rồi cảnh sát được kêu tới…

Phải nói rõ ràng là tôi không tham gia những cuộc “bình Tây”. Không phải vì tôi nhát nhưng thời gian đó tôi mất phương hướng, thất lạc, trở nên bất động suy nghĩ và bất động thể chất. Tôi đứng nhìn mà không hiểu chuyện gì xảy ra. Một lần khác, tôi với tên bạn đang đứng xếp hàng. Tên bạn kể chuyện rút dao phay chém đứt lìa bàn tay công an trước khi nhảy xuống thuyền vượt biên. Vì tay công an tịch thu hàng hóa của bố mẹ nó. Giám thị đi tới quát: Silence! Bạn tôi vẫn thao thao kể chuyện. Tay giám thị bợp tai nó. Gương mặt nó đanh lại rồi bất thình lình nó chụp  lấy cổ giám thị quật xuống nền xi-măng, lên gối và dộng liên tục vô mặt. Tay giám thị gãy hai cái răng phun máu ra đất. Sau đó bạn tôi bị nhốt riêng. Nhưng đêm đó nó đập kính leo cửa sổ bỏ trốn. Tôi không gặp lại nữa.

Lúc đó, lúc nó đánh giám thị, tôi vẫn đứng yên nhìn. Tôi giống tê liệt. Làm gì? Nhào vào đánh hội đồng hay kéo bạn mình ra? Ðánh hội đồng vì gì? Can ra thì đã muộn rồi. Ðầu tôi đầy những dấu hỏi. Tôi không hiểu cảnh tượng trước mắt. Chuyện gì vậy? Mới hôm qua tôi còn là học sinh Lasan Taberd đứng chào lá cờ vàng và hát quốc ca với tất cả kiêu hãnh của một công dân biết quốc gia mình độc lập, đang vươn lên, và mình sẽ phụng sự lá cờ này. Mới hôm qua, tôi hãy còn cha mẹ gia đình và danh dự. Sao quốc gia biến mất? Sao cha mẹ biến mất? Sao chị Cả biến mất? Còn anh Cả đi bán khoai tây chiên đêm… Vì sao?

Nhiều năm sau xem phim The Sand Pebbles, có Steve McQueen đóng, đoạn cuối bị bắn thủng bụng sắp chết, Steve McQueen kêu lên: “Mais bon sang! Qu’est-ce qui m’est arrivé? J’étais encore chez moi hier!” (Chết tiệt! Mình bị gì vậy? Hôm qua mình còn ở nhà!). Tôi chép lại câu đó trong đoạn kết của truyện ngắn Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé về sau.

Phải thật lâu tôi mới hiểu, những gì xảy ra chính là vì miền Nam bại trận. Nguyên nhân là chiến tranh.

Gia đình Trần Vũ – 1968

SĐ: Anh không có kỷ niệm nào vui hơn hay sao?

TV: Tôi không biết phía Pháp có duyệt xét hạnh kiểm cô nhi hay không nhưng tôi là cô nhi duy nhất cho đi học trung học, thi tú tài rồi vào cao đẳng. Những cô nhi Việt khác phải học nghề thuộc da, lột da hay giết bò. Nhiều đứa không dám ăn thịt bò nữa vì mỗi ngày cầm súng điện gí vô trán bò cho đến chết, từ sáng đến chiều mấy chục con bò chết trong tay nó. Lên Cao đẳng Ðiện toán, Cục Tế Bần và Xã Hội (Direction Départementale des Affaires Sanitaires et Sociales), trông coi các cô nhi viện, thuê phòng cho tôi ở Nhà Trọ Công Nhân Trẻ (Foyer des Jeunes Travailleurs). Tôi quen với Jadwiga Dabrowska là một nữ sinh viên Ba Lan nhận học bổng sang Pháp học về khí cụ âm nhạc. Chúng tôi sàn sàn tuổi. Chung quá khứ Cộng sản nên dễ thân. Khi đó Công đoàn độc lập Ðoàn Kết Solidarnosc của Lech Walesa đang tranh đấu cho một Ba Lan không Cộng Sản. Chúng tôi theo dõi tin tức và bàn luận với nhau mỗi cuối tuần đánh cờ ở Hội quán, vừa xem tivi chiếu những cảnh đình công và đàn áp. Cả hai thật sự thân thiết sau hôm Jadwiga đứng ngắm say mê núi thịt trong siêu thị, rồi quay lại nói với tôi: “Ở xứ tôi không có nhiều thịt như vậy và không bán tự do”. Tôi kể cho Jadwiga nghe là ở Sàigòn cũng vậy. Sau “giải phóng”,  phải ra Phường xếp hàng rồng rắn để mua vài lạng thịt hôi cá ươn. Jadwiga đáp: “Các xứ theo chủ nghĩa Marx giống nhau, thanh niên Pháp không hiểu chúng ta.”

Một trưa Chủ Nhật, sau ván cờ với món súp Zurek bán với giá đồng hương trong Hội quán Ba Lan, Jadwiga nhìn tôi nghiêm trang: “Tôi với anh đánh cờ đã bốn tháng rồi phải không? Nếu anh muốn tôi về phòng anh, tôi sẵn lòng. Tôi không khách sáo.”

Là lần đầu tiên tôi khám phá thân thể của người khác phái. Căn phòng hẹp chỉ đủ kê một giường đơn với một mặt bàn, buồng tắm toilettes ngoài hành lang, nhưng Jadwiga khá tự nhiên và khuyến khích. Tuyết rơi đầy trên lan can và những tàn thông mấp mé cũng trĩu tuyết. Gió thổi rào rạo lên mặt kính. Tôi nhìn Jadwiga lạ lùng, vì đôi mắt cô gái ráo hoảnh.

Tôi hỏi: “Tại sao Jadwiga không khóc?”

Jadwiga ngạc nhiên, hỏi ngược: “Tại sao tôi phải khóc?”

Ðến phiên tôi ngạc nhiên: “Trong tiểu thuyết, sau ân ái, tất cả thiếu nữ đều khóc.”

Jadwiga cười ròn tan: “Hay nhỉ! Tiểu thuyết nào vậy? Ai viết?”

Tôi bắt đầu bực: “Tiểu thuyết Việt Nam. Ân ái là trao thân. Sau trao thân, người con gái khóc.”

Jadwiga cười phá, ôm bụng ngặt nghẽo: “Tôi rất muốn khóc cho anh vui nhưng anh làm tôi mắc cười quá!”

Jadwiga cười ngất làm tôi thêm khó chịu. Tôi nghĩ thầm: Chết rồi, mình gặp gái làng chơi.

Tuy vậy chúng tôi san sẻ thời gian cô độc với nhau thêm một năm cho đến khi Jadwiga quyết định bỏ học bổng về Poznan để tham gia phong trào tranh đấu Ba Lan. Lúc chia tay, Jadwiga có chút bịn rịn: “Tôi sẽ không quên.” Tàu hỏa rời cánh đồng mù-tạt vàng cháy. Tôi thấy Jadwiga thật may mắn vì đã có một quốc gia để trở về, một quốc gia đang chuyển mình.

Là kỷ niệm vui hơn.

Jadwiga Dabrowska và Trần Vũ đầu thập niên 80

SĐ: Anh đã trở về quê nhà từ lúc đó?

TV: Trong tiểu thuyết Những Khúc Xương Con Gái (Les Os des Filles), Line Papin Xuân Linh viết về hành trình trở về quê tìm lại mình trên đường phố Hà Nội: “Lúc ấy em chớm mười bảy tuổi, và em đã bay, một mình, về Hà Nội. Em thấy đó, hôm nay tôi hai mươi ba tuổi, và tôi đang quay về, một mình, một lần nữa, về nơi chốn tuổi thơ của em.

Em đã quay về và tôi vẫn đang quay về, mỗi lần sau lưng em. Tôi có lẽ sẽ quay về mãi mãi để tìm em, tìm cô bé đã sinh ra, sẽ chết, đã tự tìm kiếm, cô bé viết văn, đang quay trở lại. Tôi sẽ quay về mãi mãi với em đã trở lại, về những hũ cốt đựng xương, về những tầng quá khứ xảy ra nơi này.” […]

“Con nghĩ về những khúc xương, con nghĩ về những vết bầm tím, về những quả bom, những hạt gạo, về năm cô gái dưới mái nhà đau khổ này, con nhớ những tràng cười, lời những bài hát, những móng tay, răng, đôi mắt, những cánh tay, những tấm lòng, con nhớ mái tóc đen huyền.” […]

“Con khổ quá mẹ ơi. Tại sao chúng ta phải ra đi và rời xa tất cả những người yêu thương con? Là câu hỏi con đặt ra, như hơi thở hắt. Con khổ vì những người yêu con, con cũng yêu họ. Tại sao phải cắt, dưới chân tình yêu của mẹ, cả một thảm cỏ?”

Xuân Linh khá sáng tạo khi dùng ba ngôi thứ nhất, thứ nhì và thứ ba để viết về cô khi rời lưu vực sông Hồng theo mẹ vừa kết hôn sang Pháp, rồi quay về để tìm lại đứa bé ngày xưa. Là cô ở tuổi ấu thơ. Tôi bắt gặp tâm trạng mình trên những trang sách của Xuân Linh.

Tôi cũng đã trở về Tân Ðịnh, ngôi phố tôi thương mến nhất trên trái đất. Ngôi nhà nơi tôi lớn lên đã thành khách sạn Ðức Huy nhưng tôi còn nhận ra những mặt tiền bên cạnh, từng mái hiên, cả lề đường gập ghềnh. Tôi cũng trông thấy bóng một đứa bé và đứa bé ấy dắt tôi ra Làng Ðại Học Thủ Ðức, đến ngôi biệt thự sát cạnh số 9 Einstein (bây giờ là El Mar The Caffè).

Tôi đứng trước ngôi nhà cũ của cha, nơi cha lái xe đưa chúng tôi về nghỉ cuối tuần. Vườn cây kiểng của mẹ đã thay bằng những gốc dừa. Một gia đình cán bộ đang cho vịt ăn trong piscine mà tôi bơi lội thuở nhỏ. Hồ tắm tuổi thơ của tôi đầy vịt. Tôi nghĩ đến truyện Kẻ Sát Nhân Lương Thiện của Lại Văn Long, giải nhất báo Văn Nghệ 1991. Truyện kể một gia đình có công với Cách Mạng được cho vào ở Villa Pensée của Ngụy. Một thập niên sau sĩ quan Ngụy cải tạo trở về đòi lại biệt thự và gia đình tác giả phải dọn ra. Ít lâu sau, đứa con của Cách Mạng quay lại rút súng bắn chết tươi hết thảy nhà Ngụy và tự cho mình là kẻ sát nhân lương thiện.

Tôi nghĩ đến truyện ngắn đó, và nghĩ kẻ sát nhân lương thiện phải là tôi mới đúng. Vì không gia đình “Ngụy” nào lấy lại được nhà, tất cả đều phải lưu vong. Nhưng tôi không bắn bất kỳ ai phía chiến thắng, ngay cả khi Căn Phòng vẫn ở đó.

SĐ: Anh có hối tiếc đã sang Pháp và phải sống trong cô nhi viện?

TV: Tôi không thể hối tiếc, vì không có chọn lựa. Mẹ gửi tôi đi vượt biên. Ở trại đảo anh Cả quyết định đi Pháp vì anh biết tiếng Pháp. Hội đồng Ðịnh hướng Học đường (Conseil en Orientation scolaire) cho tôi làm trắc nghiệm rồi quyết định xếp tôi vào ban H Session Informatique là Trung học Kỹ thuật Tin học. Tôi không được chọn bất kỳ chuyện gì.

Tôi học lớp 10 cho đến Tú tài trong cô nhi viện. Tôi hay ngồi trên bậc tam cấp trông ra khoảng sân xao xác có vài tượng Thánh. Miền Bắc Pháp gió rất mạnh thổi từng luồng làm lá cờ Tam Tài phần phật. Tôi ước ao khoảng sân trước mắt là một sân điện như những khoảng sân lát đá cổ xưa của một nước Pháp hoàng kim với ngự lâm quân mà tôi từng đi xem trong rạp Rex, phim Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ của Alexandre Dumas, có Raquel Welch và Oliver Reed đóng năm 73. Cha chở cả nhà đi xem. Tôi ước ao cha còn ngồi bên và lát nữa cha sẽ chở tôi về.

Không phải sân triều. Chỉ có lớp xi-măng sần sùi với những đứa trẻ cô nhi đã đủ sức làm tình.

SĐ

(17 tháng 1-2022, Áp Tết Nhâm Dần)

Tác phẩm

Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1988, tái bản năm 1994)

Cái Chết Sau Quá Khứ (1993)

Phép tính của một nho sĩ (2019)

Giáo sĩ (2021)

Những truyện ngắn của Trần Vũ được tuyển chọn dịch và in thành sách tiếng Anh, tiếng Pháp:

The Dragon Hunt (Nhà xuất bản Hyperion xuất  bản năm 1999), do Nina McPherson và Phan Huy Đường dịch.

Sous Une Pluie d’Epines (Paris: Nhà xuất bản Flammarion, năm 1998), Phan Huy Đường dịch. Và Terre des Ephemeres (1994), Au Rez de Chaussée du Paradis (1994) và En traversant Le    Fleuve (1996).

Tiểu luận

Đông Dương 1993;

Sát thát;

Quân đội Việt Nam – con đường canh tân;

Quân đội Việt Nam – 1979, cơ hội đánh mất….

Ký

Hiệp hội tương tế Bắc Việt nghĩa trang,

Di vật,

Lưng trần…

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu
Post by Sơn râu 29 May 2026

Hôm nay chúng tôi có món cá đặc biệt.

Dĩ nhiên đó là lời tán tụng của anh bồi bàn.

– Đồng ý, món đặc biệt. Đồng ý tất cả ý kiến của anh. Tôi tin rằng anh cho biết những thứ hảo hạng.

– Vẫn rượu ấy?

– Rượu ấy hay rượu khác tùy anh lựa giùm.

Người bồi thích chí lui ra. Graber ngồi ngửa người ra tựa vào lưng ghế nhìn Elisabeth. Y có cảm tưởng rằng mình bất thần từ một khu tiền tuyến bom đạn tơi bời chuyển sang một đảo xa hẳn chiến cuộc. Buổi sáng hôm nay đã xa rồi. Chỉ còn lại phản ảnh của một khoảnh khắc mà cuộc đời đáng sống mở ra trước tầm tay, trước ánh sáng. Y tự nhủ: “Hai tuần lễ để sống, phải nắm lấy nó như cây bồ đề trông thấy ánh sáng nay dang tay ra nắm lấy ánh sáng của mặt trời”.

Anh bồi bàn trở lại.

– Ông nghĩ sao về một chai rượu xứ Moselle màu ngọc bích. So với nó thì sâm banh chỉ là nước chanh.

– Ừ thì rượu Moselle.

– Ông thật là người sành rượu. Dùng với món đặc biệt kia thì tuyệt. Để tôi làm một đĩa xà lách tươi cho thêm vị. Đây là rượu gốc.

Graber nghĩ thầm: “Bữa cơm cho người tội tử hình. Hai tuần ăn những bữa cơm đợi lúc tử hình”.

Y nghĩ thế nhưng không lấy làm chua xót. Y chưa hề nghĩ đến lúc mãn phép, hạn nghỉ phép hình như dài bất tận. Nhiều điều mới mẻ đã xuất hiện hay có dấu hiệu báo trước sắp xảy ra. Y phải đọc bản thông cáo ấy và cũng phải đến thăm thầy Pohlmann để ước lượng xem thời gian còn lại sẽ làm gì.

Elisabeth nhìn theo anh bồi bàn:

– Một ngàn lần cảm ơn người bạn của anh. Y làm cho chúng mình thành người sành ăn.

– Chúng ta không phải chỉ là người sành sỏi, chúng ta hơn thế. Chúng ta là những kẻ phiêu lưu, phiêu lưu tìm an bình trong lúc chiến tranh đảo lộn. Cái mà ngày xưa tượng trưng cho sự cầu an chán ngán, cho tinh thần trưởng giả mỏi mệt, thì bây giờ ta dám với đến là cả một sự báo động vô cùng.

Elisabeth cười.

– Chính chúng ta thực hiện sự thay đổi ấy.

– Thời gian đó. Dầu sao thì cũng có một cái khó chịu mà chúng ta không thể phàn nàn được, đó là chán ngấy và nhàm nhỡ.

Graber nhìn Elisabeth. Nàng ngồi trước mặt chàng, người bó sát trong một cái áo thật eo. Tóc nàng quấn trong một cái khăn choàng lụa. Nom nàng như một cậu thiếu niên.

– Nhàm chán thật. Hôm nay sao anh không mặc đồ dân sự?

– Không có cách nào. Không tìm được chỗ để thay đồ.

Y đã muốn đến nhà Binding thay đồ, nhưng từ trưa hôm ấy đến nay y chưa trở lại nhà Binding.

– Anh cứ đến nhà em mà thay đồ.

– Nhà em? Thế còn mụ Lieser?

– Thây kệ mụ! Em đã quyết không đếm xỉa tới mụ ta nữa.

– Ta không đếm xỉa đến nhiều chuyện khác nữa.

– Em cũng vậy.

Bồi bàn mang ra một chai rượu và mở nút. Nhưng anh ta không rót ra ly. Anh ta nghiêng đầu nghe ngóng.

– Lại báo động, thật là ngán.

Anh ta không cần phải giải thích. Tiếng còi hụ vang lên che lấp cả tiếng nói của khách ăn.

– Hầm núp gần nhất ở đâu?

– Hầm của nhà.

– Có dành cho khách ăn không?

– Ông cũng là khách ăn. Hầm tốt lắm. Hơn những hầm trong thành phố. Vì chúng tôi có phòng cho các sĩ quan cao cấp.

– Nhưng còn món ăn?

– Chưa cho vào lò. Để tôi giữ nguyên vẹn. Tôi không muốn đưa xuống hầm. Hẳn ông cũng hiểu.

– Anh nói phải.

Graber cầm lấy chai rượu rót ra hai ly và đưa cho Elisabeth.

Elisabeth lắc đầu.

– Tốt hơn hết là đừng xuống hầm.

– Còn nhiều thời giờ. Mới là còi bắt đầu. Có lẽ không có gì cả như lần trước. Uống đi em, để thêm sức mà chịu đựng.

– Ông nói rất phải. Rượu quý này mà uống như thế thì cũng uổng thật, nhưng đây là bất đắc đĩ.

Anh ta mặt tái như gà cắt tiết và cố gượng cười.

– Thưa ông, ngày trước chúng ta ngẩng mặt nhìn trời để cầu nguyện. Bây giờ thì để nguyền rủa. Thật không ngờ đã đến nỗi này!

Graber nhìn Elisabeth không rời mắt.

– Uống đi em. Chúng ta có đủ thì giờ, uống hết chai cũng còn kịp.

Nàng nâng cốc uống thong thả. Cử chỉ có cái gì vừa như cả quyết vừa như thất vọng. Rồi nàng đặt ly xuống mỉm cười.

– Bây giờ em cũng phải quyết định lấy một thái độ trước sự nguy hiểm mới được. Lạ thật mỗi lần còi là sợ run.

– Không phải em run đâu, đời sống trong người em run đấy. Cái ấy không ăn nhằm gì với sự can đảm cả. Can đảm là có thể chống cự được. Còn thì nói gì cũng chỉ là khoe khoang. Đời sống của chúng ta có lý hơn chúng ta.

– Nếu thế thì em uống nữa.

Anh bồi bàn cũng nói:

– Con tôi bệnh, nó bệnh lao. Năm nay nó mười một tuổi. Hầm nhà tôi không tốt đâu. Vợ tôi mang được đứa nhỏ xuống thật là khó khăn. Ấy thế mà tôi cũng không về nhà giúp đỡ gì được. Tôi phải ở đây.

Graber trông thấy một cái ly ở bàn bên cạnh, y rót đầy đưa cho anh.

– Này anh, uống một ly với chúng tôi. Ngoài mặt trận chúng tôi có lệ: nếu không thể làm gì được nữa thì cứ bình tĩnh.

– Nói thì dễ thật!

– Thì hẳn rồi! Người ta đâu phải bằng gỗ. Thế thì uống đi.

– Bị chủ cấm uống trong những giờ làm việc.

– Đây là trường hợp đặc biệt, chính anh đã nói thế.

Anh ta cầm ly lên nhưng còn nhìn quanh xem có ai trông thấy không đã.

– Ông cho phép tôi uống mừng khóa của ông?

– Khóa nào?

– Khóa hạ sĩ quan.

– Cám ơn. Anh có khiếu nhận xét lắm.

Anh bồi đặt ly xuống :

– Tôi không thể uống một hơi được. Rượu quý thế này! Cả trong những trường hợp đặc biệt.

– Điều đó thật vinh dự cho anh. Anh mang cả ly đi.

– Cám ơn.

Graber rót ly mình và ly Elisabeth và nói:

– Anh làm thế này để tỏ ra mình can đảm. Vì đã bị nạn bom thì tốt hơn hết ta hưởng cái gì có thể hưởng được, đã biết đâu lát nữa có còn gì không.

Elisabeth nhìn bộ quân phục của y:

– Em sợ vào một hầm đầy nhóc sĩ quan người ta sẽ biết sự giả mạo.

– Biết thế nào được.

– Sao lại không.

– Vả anh cũng không cần.

– Không cần không phải là để bị bắt.

– Ít khi lắm. Cái sợ làm mình chú ý đến chuyện đấy thôi chứ có gì đáng lo. Thôi xuống đi. Lúc khó khăn nhất đã qua rồi.

***

Một phần hầm rượu được đổ bê tông, chống gióng sắt làm thành hầm núp. Có nhiều ghế, ghế bành và trường kỷ với bàn. Nền trải mấy cái thảm cũ, tường quét vôi trắng. Còn có một cái máy thâu thanh, một cái bàn thấp để ly tách và mấy chai rượu. Hầm núp hạng sang.

Hai người ngồi gần tấm vách ván mỏng ngăn chỗ chứa rượu. Nhiều khách ăn cũng theo xuống trong số ấy có một người đàn bà rất đẹp mặc đồ đại hội trắng. Áo hở vai, cánh tay trái óng ánh vàng ngọc. Theo sau là một bà tóc vàng mặt như mặt cá chép. Rồi đến những khách ăn mặc dân sự, một vài bà đứng tuổi và vài sĩ quan. Người ta bắt đầu mở nút chai.

Graber nói:

– Giá mình mang rượu xuống đây có phải hơn không.

Elisabeth lắc đầu.

– Chúng ta đóng kịch với mình làm quái gì!

Elisabeth nói:

– Làm thế xui chết!

Graber nghĩ thầm: “Nàng có lý”. Y nhìn người phổ thầu đi lại với một cái mâm mà bực mình.

– Như thế không phải là can đảm, chỉ là nông nổi. Con người phải đối phó với sự nguy hiểm một cách nghiêm chỉnh. Nhưng muốn biết sự quan trọng, sự sâu xa của cái nguy hiểm thì cần phải quen với cái chết.

Có người ngồi cạnh nói:

– Còi hụ lần thứ hai. Máy bay đến gần rồi.

Graber kéo ghế ngồi xích lại gần Elisabeth.

– Em sợ anh ạ. Mặc dù có rượu mạnh và mình đã cương quyết.

– Anh cũng sợ.

Y ôm lấy vai nàng và nhận thấy nàng lo sợ lắm. Nàng như một con vật trông thấy nguy hiểm và thu mình lại. Nàng không giả bộ can đảm để lấy mạnh mẽ. Nàng chỉ có sự can đảm để chống cự lại nguy hiểm. Sức sống trong người nàng gò người nàng lại theo nhịp còi hụ kêu gào sự chết, và nàng không tìm cách giấu diếm sự rùng mình.

Y nhận thấy người ngồi bên người đàn bà tóc vàng chăm chú nhìn mình. Ông ta là đại úy, người mảnh dẽ, cằm hơi lẹm. Bà tóc vàng trông thấy bàn ăn thì thích chí cười rộ.

Hầm khẽ rung rinh vì một trái bom, rồi tiếng nổ từ xa vọng lại. Câu chuyện giữa đám khách ăn ngưng bặt, nhưng rồi lại nổi lên ầm ầm ồn ào hơn trước. Ba tiếng nổ mạnh hơn tiếp theo tiếng nổ trước.

Graber ngồi áp chặt vào với Elisabeth. Y nhận thấy bà tóc vàng không cười nữa. Bất ngờ hầm rung động mạnh, người bồi đặt vội cái mâm xuống đứng ôm lấy cột tủ đĩa bát. Một tiếng nói nhanh :

– Đừng lo, bom rớt xuống chỗ khá xa.

Thình lình một loạt chuyển động và đổ vỡ vang lên trong hầm. Ánh sáng chớp nhoáng như đứt phim điện ảnh rồi có một tiếng gầm dữ dội. Đèn sáng rồi tắt lia lịa, mỗi lần sáng lên, dáng điệu và nét mặt của mỗi người lại thay đổi. Lần thứ nhất, bà mặc đại lễ hở vai còn ngồi, sau vẫn đứng, rồi có cử chỉ chạy trốn, rồi mọi người xúm quanh bà ta, đến khi tối đen không thấy gì nữa thì chỉ nghe tiếng bà ta kêu la. Bấy giờ mới nổi lên một tiếng sấm dội đi dội lại, hàng ngàn lần, làm trái tim người ta ngưng lại, trái đất như không còn trọng lực.

Graber nói:

– Đây chỉ là không khí di chuyển. Chắc là đứt hết dây điện. Nhà này không trúng bom.

Elisabeth nép vào người chàng. Có người kêu lên :

– Quẹt! Đèn cầy! Có đèn cầy không? Hay cái đèn bấm cũng được.

Đó đây một vài cái diêm bật sáng, chập chờn như ma trơi trong bóng tối.

– Trời đất ơi trong nhà không có đèn khác sao? Bồi đâu rồi?

Những vòng sáng run run đưa trên mặt tường. Trong tối xuất hiện hai vai trần một người đàn bà, một hột xoàn sáng chói, một cái miệng há hốc đen thui, tiếng người nói qua tiếng bom gầm như tiếng kêu chuột nhắt giữa nơi thác đổ. Rồi một tiếng nổ lớn bung ra, lớn thêm đến nhức óc như có một vẩn thạch bằng thép rớt xuống hầm. Tất cả đều lung lay. Những vòng tròn sáng vươn lên rồi tắt ngấm. Hầm không rung động nữa, tiếng gầm như làm hầm bật khỏi trái đất tung lên trời. Graber có cảm tưởng như mình lấy đầu chọc thủng trần nhà. Y lấy hai tay ôm chặt Elisabeth. Một lần rung chuyển nữa lại xuất hiện, y vội vàng lấy mình che kín Elisabeth, lôi tuột nàng xuống đất hai người chui vào một gầm ghế. Y chỉ nghe tiếng nóc sập xuống. Hầu như trong hầm trở thành rỗng không, cái rỗng không như một khối kỳ lạ đè nặng xuống người, bóp thắt tim phổi làm máu đập mạnh ở thái dương. Chỉ còn đợi cái hầm sụp đổ và hấp hối dưới đống gạch vụn. Sự chờ đợi kéo dài. Thình lình một đóm lửa quay tròn trên mặt đất. Đúng hơn, một bó đuốc người, đó là một người đàn bà đang la thét :

– Cháy, cháy, tôi bị cháy, cứu tôi với!

Bà ta giẫy giụa, áo phun ra từng loạt đóm lửa, hột xoàn của bà ta cũng ném ra tia lửa. Mặt bà ta đầy vẻ kinh hoàng. Tiếng người lao xao. Vài người mặc quân phục chạy lại, cùng với bà ta lăn từng vòng trên mặt đất. Tiếng kêu thất thanh xuyên qua tiếng súng phòng không và tiếng bom gầm, rồi tiếng thét bị tắt nghẽn dưới đám chăn mền, quần áo người ta đem trùm kín bà ta để dập lửa.

Graber ôm chặt lấy đầu Elisabeth và lấy người mình che kín nàng cho đến khi hết cháy và hết tiếng la hét, kế đó là tiếng rên yếu ớt và mùi khét lẹt quần áo và thịt người cháy.

– Đi mời thầy thuốc.

– Sao?

– Chở vào nhà thương! Phải chở đi ngay.

– Bây giờ chở đi sao được?

Mọi người yên lặng. Bên ngoài còn vang động tiếng súng phòng không. Đã hết tiếng bom nổ.

– Họ đi xa rồi, thế là hết.

Graber nói vào tai Elisabeth:

– Cứ nằm yên. Hết rồi nhưng cứ nằm yên. Như vậy không bị ai dẫm lên mình mà đi.

Có tiếng người ra vẻ hiểu biết:

– Phải đợi chút nữa. Có thể có đợt thứ hai. Vả chăng còn súng phòng không, còn mảnh đạn.

Một vòng sáng rọi vào cửa, ánh sáng đèn bấm. Người đàn bà lại rên la.

– Tắt đèn đi, không được để lửa.

– Đâu phải lửa! Đây là đèn bấm.

Vòng lửa đưa theo dọc tường như sờ nắn.

– Soi lại đây. Ai có đèn thế?

Vòng lửa vẽ nhanh một hình cung trên trần rồi soi sáng một ngực áo là cứng, đôi ve áo, cái ca vát đen và một bộ mặt bối rối.

– Tôi là quản lý đây. Phòng ăn bị bom rồi. Chúng tôi phải tạm ngưng bán. Xin đưa quí vị xem phiếu trả tiền ăn.

– Hử?

Người quản lý vẫn lấy đèn soi sáng mặt mình.

– Đã hết dội bom rồi. Tôi mang phiếu tính tiền lại đây.

– Phiếu phiếu cái gì! Kỳ cục!

Người quản lý buồn rầu mà đáp:

– Dạ thưa ông, quản lý ăn lương của chủ thì có trách nhiệm phải lo liệu mọi việc.

– Kỳ cục! Ông cho chúng tôi là ăn quịt à. Ông còn lấy đèn mà soi sáng bộ mặt khả ố của ông nữa! Lại ngay đây. Có người bị thương đây.

Khuôn mặt người quản lý lẫn vào trong tối. Vòng sáng đi men trên tường, soi vào tóc Elisabeth, bò xuống đất rồi dừng lại đống chăn mền.

Một người mặc sơ mi quỳ bên cạnh bà bị thương. Y lùi lại. Chỉ còn hai bàn tay ở trong vùng sáng. Vùng sáng lung linh trên đống quần áo chăn mền. Người quản lý cũng run rẩy. Người ta lôi một chiếc mền ra.

Người mặc sơ mi la lên:

– Trời!

Graber bảo Elisabeth:

– Đừng nhìn vào đây. Tai nạn này có thể xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, không dính dáng gì đến chuyện bom đạn. Em không nên ở trong tỉnh này nữa. Để anh đưa về một làng không bị oanh tạc. Anh biết một nơi, có người quen, chắc là họ sẽ nhận cho ở. Ở đấy an toàn hơn.

– Lấy cái cáng, nhà có cái cáng nào không?

Người quản lý không biết được cấp bậc của viên sĩ quan mặc áo sơ mi ấy:

– Xin lỗi ông. Tôi không biết ở đây có người bị nạn.

– Đi tìm ngay một cái cáng. Thôi để tôi đi với ông. Ở ngoài thế nào? Có thể đi lại được chưa?

– Đi được rồi.

Người sĩ quan đứng dậy, mặc áo vào, y là đại úy. Tia ánh sáng biến mất, người ta có cảm tưởng rằng tia hy vọng cũng biến theo. Người đàn bà bị nạn vẫn rên rỉ.

Một tiếng đàn ông run rẩy than thở :

– Wanda! Wanda! Bây giờ biết làm thế nào?

Một người nói :

– Chắc là đi ra được rồi.

– Chưa có còi báo hết! Đèn đóm đâu?

Người đàn bà vừa rên vừa nói:

– Đừng thắp đèn! Đừng thắp đèn!

– Phải mời thầy thuốc, phải kiếm một ít thuốc tê.

– Wanda! Biết nói sao với anh Eberhard?

Người ta mang đèn đến, lần này là đèn dầu. Viên đại úy cầm đèn đi trước, hai người bồi bàn theo sau với cái cáng.

– Dây điện thoại đứt cả rồi. Đưa cáng lại đây.

Ông ta đặt cây đèn xuống đất, quỳ xuống cắm cúi làm gì bên cạnh người đàn bà một lát rồi đứng dậy :

– Vậy là được rồi, thuốc ngủ sẽ làm bà ngủ yên. May mà tôi có sẵn mũi thuốc ngủ. Nhẹ tay, nhẹ tay một chút. Được rồi khiêng đi. Phải đợi ở ngoài để tìm một xe cứu thương.

– Thưa đại úy, vâng ạ.

Người quản lý ngoan ngoãn trả lời.

Cáng được khiêng ra phía cửa. Cái đầu đen thui cháy hết tóc lắc sang phái sang trái. Một cái khăn bàn phủ kín người.

Elisabeth hỏi :

– Bà ta có chết thật không?

– Không. Rồi sẽ khỏi, rồi tóc lại mọc.

– Thế còn mặt mũi thì sao?

– Mặt không hề gì. Cái đó là chính yếu. Còn chỗ khác sẽ liền da. Nói chung thì không có gì là nặng lắm. Anh đã thấy nhiều trường hợp như thế.

– Tại sao lại xảy ra như thế nhỉ?

– Áo bắt lửa vì ngồi gần cái quẹt. Chỉ có thế thôi. Hầm tốt đấy chứ! Chịu được một trái bom ném trúng nóc.

Graber bấy giờ mới rời khỏi Elisabeth. Lúc đứng dậy y nhận thấy mình giẫm lên nhiều mảnh chai, bức vách ngăn cái hầm ra làm hai cũng tan tành. Nhiều ngắn đựng rượu cũng nghiêng đổ, ve và chai nằm ngổn ngang cái còn cái vỡ. Rượu vang chảy lênh láng trên mặt đất như dầu đen.

– Đợi anh một chút, anh trở lại ngay.

Y cầm lấy áo bành tô đi vào hầm, một loáng đã trở lại.

– Thôi ta đi.

***

Bên ngoài, cáng chở người bị bỏng vẫn đứng đợi. Hai người bồi bàn đưa ngón tay vào miệng huýt còi cố gắng gọi một chiếc xe. Người đàn ông ban nãy van than thở :

– Bây giờ biết nói làm sao với Eberhard. Thật là xui xẻo! Làm sao cho Eberhard hiểu được…

Graber nghĩ thầm: “Chắc Eberhard là chồng”. Y đến bên người bồi bàn :

– Ai coi việc bán rượu thế ông?

– Ông hỏi người nào, có hai người.

– Người già, bé nhỏ như con cò.

– Anh Otto. Ảnh chết rồi, cái đèn treo lớn rớt xuống người. Otto chết rồi ông!

Graber im lặng một lát.

– Tôi thiếu ông ta tiền chai rượu.

Người bồi lau mồ hôi trán.

– Ông đưa tôi nhận cũng được.

Anh bồi lấy một cuốn sổ trong túi ra và bật đèn bấm :

– Bốn đồng, thêm tiền phí khoản là bốn đồng tư.

Graber trả tiền. Người bồi nhận. Y chắc chắn rằng anh ta sẽ bỏ túi món tiền ấy chứ không đưa cho chủ.

Hai người quay ra tìm một lối đi giữa chỗ gạch ngói ngổn ngang. Phía nam thành phố đang cháy. Trời đỏ rực, gió cuốn từng đám mây tro than, rắc xuống thành phố.

– Bây giờ phải trở về xem nhà em còn không.

Nàng lắc đầu.

– Chúng ta còn nhiều thời giờ, hãy ở ngoài một lúc nữa.

Họ đến gần hầm bê-tông mà trận bom trước họ đã xuống núp. Lối vào bốc khói như cửa Âm phủ. Họ ngồi trên một cái ghế ở vườn hoa.

– Em đói không. Tối nay chưa ăn gì cả.

– Không sao. Có ăn cũng không nuốt nổi.

Graber giở áo bành tô lấy ra hai chai rượu.

– Không biết lấy được gì đây. Có vẻ là cô-nhắc.

Elisabeth nhìn y.

– Anh lấy đâu vậy?

– Trong hầm. Cửa mở, có hàng chục chai vỡ. Ta cứ giả thiết như đây cũng thuộc số những chai vỡ.

– Anh cứ thản nhiên thế mà lấy đi à?

– Làm lính mà chê một hầm rượu thì chỉ có là lính ốm sắp chết. Anh đã học được cách suy nghĩ rất thực tế. Đối với lính thì mười điều răn không có giá trị.

– Em cũng bắt đầu nghĩ thế, những điều răn khác cũng vậy.

Nàng cười.

– Em không biết mấy tí về các “ông lính”.

– Hôm nay thì em biết khá nhiều rồi đấy.

– Không. Biết thế nào được các anh. Về đến đây thì các anh đã khác rồi. Phải ở ngoài ấy thì mới biết được chân tướng của các anh.

Graber lôi ra hai chai rượu nữa:

– Chai này có thể mở được không cần đồ mở. Rượu sâm banh.

Y tháo sợi dây mạ vàng:

– Mong rằng em cứ uống không có gì phải thắc mắc cả.

– Bây giờ thì không thật.

– Chúng ta uống là uống, không phải để mừng cái gì cả, như vậy không có gì là xui xẻo. Chúng ta uống vì chúng ta khát. Và cũng vì chúng ta còn sống.

Elisabeth cười.

– Anh không can phải nói, bây giờ em đã biết rồi. Tại sao anh lại trả tiền một chai trong khi lấy không bốn chai của người ta?

– À, cái đó khác. Chai kia, nếu mình không trả tiền thì là mình ăn quịt.

Y xoay cái nút đi mấy vòng rồi lấy ra không một tiếng kêu.

– Phải học cách tu cả chai em ạ. Để anh chỉ cho.

***

Hoàng hôn lấn dần trong yên lặng hoàn toàn. Ánh sáng kỳ dị làm cho cái gì cũng có vẻ không thực.

– Anh! Trông cái cây kia. Nó đang trổ hoa.

Graber quay lại. Cây bị bật nửa gốc vì trái bom, một phần rễ đâm ngược lên trời, thân cây bị toác ra, nhiều cành gãy nát. Ấy thế mà cây nở đầy hoa trắng điểm phớt hồng.

– Căn nhà bên cạnh cháy, có lẽ sức nóng làm cho cây chóng khai hoa. Nó ra hoa trước những cây khác đến vài tuần, tuy nó bị đau thương hơn cả.

Elisabeth đứng dậy đi vài bước. Ghế ngồi kê trong bóng tối. Nàng đi lại trước ánh lửa chập chờn nhà cháy như một cô đào nhảy múa trước sân khấu. Ánh lửa đỏ rực bao bọc nàng như một vầng sáng man rợ, như ánh sáng một ngôi sao chổi khải huyền báo trước sự tận thế vào giờ cuối cùng.

Elisabeth nói :

– Cái cây trổ hoa. Đối với nó chỉ có mùa xuân thôi. Còn những chuyện khác nó không cần biết.

– Đúng thế. Cây cối cho ta một bài học. Nó không ngừng cho ta những bài học. Trưa nay là cây bồ đề, tối nay là cây này. Chúng nó chỉ biết mọc lên, khai nụ, trổ hoa, nếu bị bom đạn thì cành nào còn lại vẫn khăng khăng tiếp tục cuộc sống. Sự hiện diện của chúng dạy chúng ta rằng, chúng ta không nền phàn nàn, không nên than thân trách phận.

Elisabeth bước thong thả trở lại. Nước da nàng sáng loáng trong ánh lửa kỳ dị không có bóng tối, mặt nàng trong khoảng khắc hầu như tham dự vào sự kỳ ảo của thế giới cỏ cây, dù có thế nào cũng tiếp tục cuộc sống tối tăm của chúng với sự tin tưởng không sờn. Rồi nàng từ vùng sáng bước vào khoảng tối đến ngồi cạnh chàng, chàng cảm thấy nàng hồi hộp và chan hòa sức sống nồng ấm. Chàng kéo nàng lại gần. Vòm cây trên đầu họ như lớn vô chừng dưới nền trời đỏ rực. Đất lành vẫn sẵn sàng dung nạp họ. Nàng hoàn toàn gởi thân cho chàng không chống cự chút nào.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 29 May 2026

Vào những ngày biển êm gió nhẹ, buổi sáng cũng như buổi chiều, lúc rảnh rỗi tôi hay ra boong đứng nhìn trời nước bao la. Hễ cứ mỗi lần trở lại vùng Scandinavia tâm trạng tôi có hơi chộn rộn và hay suy tư. Chiều nay sau khi lau chùi, dọn dẹp bếp núc xong tôi lên đứng ngoài tầng hai của mui tàu nhìn mặt trời chiếu lóng lánh trên mặt nước, vài con chim nhàn bay lượn qua lượn lại trong khoảng không sau lái tàu. Trên mặt biển xanh hiện ra những chiếc containers chạy dọc ngang giữa vùng nước rộng mênh mông và vài chiếc tàu buồm trắng thấp thoáng từ dãi đất liền xa xa. Mặt trời hạ xuống gần ngang viền nước phía chơn trời, trước cảnh đẹp tự nhiên nhưng chưa biết tàu nằm trên hải phận nước nào? Tôi đi vô phòng lấy điện thoại mở ra xem thì thấy tín hiệu, tuy chưa cao nhưng là đường truyền của Thuỵ Điển. Có mấy email và tin nhắn tôi chưa vội đọc vì cảnh hoàng hôn bên ngoài hấp dẫn quá. Cầm theo điện thoại bước ra boong mở máy chụp cảnh mặt trời lặn. Chụp xong mấy bôi, chợt thấy thuyền phó từ tầng trên đi xuống, gặp tôi nó dừng lại chào và nói:

– Tui định tìm ông để báo một tin vui.

– Tin gì?

– Tàu trở lại Hamburg ông được về nhà.

– Vậy hả, nhưng còn cả tuần nữa tàu mới về tới Hamburg.

– Ờ, còn một tuần và tui cũng về.

– Mày xuống tàu trước tao mà.

– Cùng ngày với ông.

– Hôm xuống tàu thấy mày trên tàu, tao tưởng mày xuống lâu rồi.

– Trước ông mấy giờ thôi.

– Ờ, như vậy cũng đã hơn hai tháng rồi. Mày xuống tìm tao thông báo vậy thôi sao?

– Không không, tui với phụ tá thuyền phó đổi ca trực đêm, thuyền trưởng cho tàu ghé Stockholm vào sáng sớm ngày mai.

– Vậy hả?

– Tàu đậu lại Stockholm mai mới chạy.

– Những ngày mùa hè thành phố Stockholm đẹp lắm.

– Ông muốn lên bờ chơi không ?

– Chưa biết, tao có đọc tin tức, chánh quyền Thuỵ Điển chưa ban lịnh phòng chống dịch nên bị nhiễm corona tràn lan, có lên bờ chắc cũng hổng được an tâm.

Thuyền phó lắc lắc cái đầu:

– Corona.

Nói tới dịch bệnh tôi mới nhớ ra một chuyện bèn nói:

– Tao có nghe Stockholm trước đây hai ba thế kỷ gì đó có một trận dịch hạch khủng khiếp đã làm chết khoảng một phần ba dân số, bây giờ bị corona không biết chết bao nhiêu nữa đây.

– Ghê quá. Nhưng corona có mặt khắp thế giới, không riêng gì Stockholm.

Thuyền phó vừa nói vừa rụt vai rồi day lưng đi xuống tầng dưới. Mặt trời đã lặn xuống viền nước phương Tây, nhưng khí trời vẫn còn ấm áp, mới hay sắp tới mùa hè. Tôi định đi vô phòng tắm một cái và thay đồ rồi đi ngủ thì thấy thuyền phó trở lên, hai tay cầm hai lon bia, nó khui một lon đưa qua cho tôi và khui một lon giơ lên mời tôi cụng. Động tác của nó nhanh quá làm tôi không kịp phản ứng gì hết. Thấy cũng vui vui nên nó kêu sao tôi làm vậy. Hớp xong hớp bia nó hỏi:

– Trời đẹp quá phải không?

Câu hỏi đúng tâm trạng của tôi trong lúc này. Tôi nói:

– Ờ đẹp thiệt! Không hiểu sao mỗi lần trở lại vùng biển Baltic lúc tao nghĩ vầy khi tao nghĩ khác.

– Là sao?

– Như có điều gì đó đặc biệt, chỉ cách một ranh giới hay eo biển mà con người ta sống khác nhau một trời một vực.

– Ông nói bờ biển và ranh giới của nước nào?

– Những nước bên kia bờ, trong đó có nước Nga của mày.

– À, trước thời Cộng Sản thì khác, chớ giờ thì các nước qua lại bình thường rồi.

– Tao hổng nghĩ vậy, muốn bình thường chắc còn lâu lắm.

– Sao vậy?

– Xã hội và kinh tế thay đổi mau hay chậm tùy theo khả năng chánh quyền, nhưng con người muốn thay đổi thì phải chờ vài ba thế kỷ nữa may ra.

– Ông nghĩ vậy sao?

– Cần gì phải suy nghĩ, mày so sánh nước Nga với những quốc gia trong vùng Scandinavia thì biết.

Nó hớp bia và đưa tay ra lắc lắc độ chừng:

– Scandinavia vật giá mắc mỏ hơn Nga, nhưng cái gì bên đây có thì bên Nga cũng có.

Tôi nhìn thuyền phó, mỉm cười và nói:

– Vừa nói ra thì đã thấy khác rồi, người Nga mày hay so đo vật giá chỗ này mắc chỗ kia rẻ. Nhưng đó là vật giá hàng hoá, còn tinh thần và con người thì sao?

Thuyền phó nhún vai:

– Tui nghĩ con người là con người, hổng khác nhau gì hết.

– Hồi còn trẻ lúc mới tị nạn cộng sản ra nước ngoài, tao nghe nói về tự do, bình đẳng tao cũng nghĩ như mày. Nhưng sống lâu trong thế giới tự do tao thấy khác nhiều thứ, thật ra thì cái gì cũng tương đối thôi. Như nước Nga của mày đã thay đổi gần nửa thế kỷ rồi, kinh tế khá hơn thời bao cấp mà vẫn còn có những con người lúc nào cũng làm như bận rộn, với gương mặt buồn bã, sống không hoà đồng với người khác, làm việc thì chậm chạp hổng tuân theo giờ giấc gì hết. Còn những người trong vùng Scandinavians thân thiện, nhẹ nhàng, tiếp xúc với họ rất dễ dàng và thoải mái.

– Vậy bên Nga hổng dễ dàng và thoải mái sao?

– Mày nghĩ xem, nếu lên một thành phố chơi, khi trở xuống tàu, mặt mũi bầm tím, sưng phù và từ đầu tới chưn đầy thương tích, máu me khắp người, tiền bạc hết sạch, giấy tờ tùy thân hổng còn một miếng, như vậy thì mày có được thoải mái không?

– Bên Mỹ cũng vậy mà.

– Tao công nhận các nước khác đều cũng vậy, chớ hổng riêng gì bên Mỹ hay Nga, nhưng còn tùy theo cách đối xử của người với người và cảnh sát nơi đó có thân thiện, làm đúng chức năng không nữa. Nhưng ở đây tao chỉ so sánh với Scandinavia, chớ tao đâu có so sánh với nước Mỹ.

– Ok. Rồi sao nữa?

– Con người bên các nước trong vùng Scandinavia thoải mái vui tươi, không ồn ào uống rượu bia nhiều cũng không la lết ngoài đường như người ở nước Nga và những nước bên kia bờ như Estonia… nói chung là những nước trong khối Liên Xô cũ…

Tôi nói một hơi, chợt thấy thuyền phó trầm ngâm đứng ngó mông lung. Mặc dù những người Nga trẻ tuổi, qua những nước Tây phương làm việc, họ sống rất văn minh, tâm tình rất cởi mở, tuy nhiên là người ai cũng có niềm tự hào dân tộc, nhứt là khi họ nói chuyện với người xứ khác. Cho nên tôi sợ mình quá lời xúc phạm làm cho nó khó chịu nên tôi ngưng nói.  Với lại một buổi chiều mát mẻ, đẹp đẽ như vầy cũng nên nói sao cho êm dịu một chút. Tôi nhẹ giọng nói để phá tan bầu không khí im lặng có chút nặng nề:

– Thật ra tao cũng là người cưỡi ngựa xem hoa thôi, thấy sao nói vậy, nghĩ gì nói nấy.

Thuyền phó day lại đưa tay ra khoát khoát:

– Không sao, ông nói hay, nói đúng mà.

– Thật tình thì tao chỉ so sánh con người và cách sống hai bên bờ biển thôi, nếu nói rộng ra thì những tiêu cực ở nước nào cũng có chớ không riêng gì cộng sản hay tự do hoặc nước Nga và nước Mỹ. Người Việt tao cũng vậy, ở bên Nga mày cũng thấy đó xô bồ xô bộn, đâm chém và bắn giết nhau hà rầm như cơm bữa. Ở đây tao chỉ so sánh những chuyện tốt, chuyện xấu xảy ra trong xã hội nhiều hoặc ít thôi. Thật tình thì nước Nga có nền văn hoá cổ kính lâu đời đã gieo vào lòng tao rất nhiều ấn tượng.

– Ấn tượng gì?

– Có những thứ dã man, mà cũng có những thứ văn minh đáng kính. Tao ấn tượng nhứt là những đêm mùa hè rất lãng mạn, con người nơi đây như sống trong một thế giới khác.

– Khác sao?  

– Thành phố St. Petersburg cũng như các thành phố ở cùng một vĩ tuyến, mặt trời hổng lặn được sâu xuống dưới đường chưn trời, bình minh và hoàng hôn nối tiếp nhau làm cho trăng và sao không có cơ hội toả sáng, những đêm này người ta gọi là Đêm Trắng. Ánh sáng giữa đêm trắng có cái tên thông thường rất lãng mạn là romantic light và cũng có tên gọi vừa lãng mạn vừa có chút ma quái đó là magician’s light (ánh sáng của phù thủy). 

Thuyền phó cao hứng tiếp lời: 

– Ông nói đúng rồi, ánh sáng Đêm Trắng không thể phân biệt được với ánh sáng ban ngày, vì vậy thời gian này những thành phố không bao giờ bật đèn đường vào lúc ban đêm. 

– Nhờ vậy mà ở các thành phố, nhứt là những thành phố trong vùng phía Bắc Baltic, những ngày hè dân chúng tiết kiệm được rất nhiều tiền điện và dùng tiền đó mua rượu vodka uống cho đã. 

Thuyền phó cười ha hả, xong nó nói: 

– Thật ra mỗi thành phố trong những đêm Trắng sinh hoạt đều có màu sắc riêng. 

– Nhưng Phải nói là sinh hoạt ở thành phố St. Petersburg vừa có ý nghĩa vừa sôi nổi, sống động vừa lãng mạn và vui nhộn suốt đêm ngày. 

Nghe nói tới đây thuyền phó day lại, cầm lon bia đưa lên mời, chúng tôi cụng một cái và cùng ngước cổ lên uống một hớp. Nét mặt ra vẻ tự hào, nó nói: 

–  Ông có thể tưởng tượng một đám đông cả triệu con người chen chúc nhau trong một thành phố để xem nhiều loại phim truyện, hình ảnh, hội hoạ giải trí có giá trị do thành phố St.Petersburg cung cấp hoàn toàn miễn phí. Nhiều ngôi sao nhạc rock nổi tiếng cùng dàn nhạc giao hưởng St.Petersburg, những điệu múa ba lê và các nghệ sĩ cổ điển cùng lúc biểu diễn trên những sân khấu khác nhau trong mỗi khu phố… 

– Oh, hay quá! Trước đây có lần tao ghé St. Petersburg nhằm lễ Đêm Trắng, người đông như kiến cỏ, chen chúc chau phát ngộp luôn, nhưng tao chỉ thấy được sinh hoạt trên thành phố còn có những chương trình nghệ thuật dưới nước và trên dòng sông Neva nữa, nhưng tao chưa được xem. 

Thuyền phó cao hứng kể tôi nghe các cuộc đua thuyền chèo, thuyền máy và các kịch sĩ diễn lại chuyện “Cánh Bưồm Đỏ Thắm” được tổ chức vào tháng sáu hàng năm, nhân dịp ngày tốt nghiệp phổ thông trung học nhằm đánh dấu bước ngoặc mới trong cuộc đời của các em học sinh, để cho các em tự tin bước vào đời sống sinh viên. Lễ hội còn diễn lại một cuộc chiến cướp biển bằng sự xuất hiện của một con tàu lớn và những cánh buồm cao màu đỏ tươi trông rất là ngoạn mục. Với một thủy thủ trẻ trung, kiên cường vượt qua sóng gió để đến đón cô gái Assol xinh đẹp… Coi như mơ ước suốt thời kỳ thơ ấu của Assol theo đuổi đã hoàn thành. 

Chuyện Cánh Buồm Đỏ tôi đã xem phim và nghe nói nhiều rồi, nhưng vẫn thích nghe người Nga kể lại trong đêm trắng hơn là người nước khác. Cuối cùng có vài tiết mục nghệ thuật do các diễn viên nổi tiếng của nước Nga và bế mạc chương trình bằng đợt bắn pháo bông rực rở diễn ra. Hàng triệu tia pháo hoa chóp sáng trên bầu trời thành phố, một chiếc thuyền buồm màu đỏ hiện ra trên sông Neva trong ánh sáng thiên nhiên đầy lãng mạn, kì ảo của đêm trắng trên sông Neva như muốn để lại trong lòng người ta một ấn tượng khó quên. Tôi day qua nói với thuyền phó: 

– Theo tao ngoại trừ những thành phố trong vùng của những ngày hè không tối ra thì vui tươi, nhộn nhịp không thành phố lớn nào ở châu Âu có thể đem ra so sánh với St. Petersburg! 

– Nhưng ngoài những cái hay, cái đẹp của nước Nga cũng còn có những cái dã man phải không? 

Thuyền phó nhìn tôi cười cười như chờ xem thái độ của tôi. Trong những ngày thường, lúc ngồi uống bia chơi, tôi hay nói về sự tù tội, giết người dã man của người cộng sản trên thế giới này, cho nên trong lúc cao hứng thuyền phó muốn thăm dò ý nghĩ của tôi chăng? Có lẽ trước kia tôi thường đi đi lại lại thành phố St. Petersburg, tiếp súc nhiều người Việt sống trong thời Cộng Sản loi nhoi lóc nhóc trên nhiều đường phố. Tôi cũng có đọc và tìm tòi biết được chút ít lịch sử, văn hoá nước Nga. Sau này làm việc chung với người Nga trên đất nước tự do, cho nên những ý nghĩ về đất nước, con người Nga trong đầu tôi lúc nào cũng ầm ĩ. Tôi đáp liền: 

– Nói dã man thì có hơi quá, ở đây tao nói một chút khía cạnh của lịch sử, văn hoá mà thôi. Thí dụ những cái tiêu cực như tượng đài vinh danh hay những công trình kiến trúc đồ sộ có tính tuyên truyền của thời Sô Viết, nói gì thì nói, nhưng dù sao nó cũng là những di tích lịch sử. Từ bây giờ con người ta bắt đầu đánh giá lại hết, tao nghĩ cho tới ngàn đời sau cũng mang tiếng như vậy thôi. 

Thuyền phó ngạc nhiên day qua hỏi: 

– Oh, mang tiếng gì? 

– Như con kinh đào Biển Trắng (Belomorkanal) ở bắc Băng Dương nối liền từ Biển Trắng ra biển Baltic, người ta hổng cần biết nó làm cho kinh tế vùng Biển Trắng của nước Nga có khá lên không. Nhưng chắc chắn người ta sẽ nhớ mãi con kinh làm bằng công sức lao động cưỡng bức trên hai trăm ngàn tù nhân thời Cộng Sản Nga, với chừng đó con người, sau khi khai thông được con kinh thì những người tù bị chết cũng trên dưới trăm ngàn người… 

– Nhưng nước nào cũng vậy, xây dựng những công trình lớn, cũng cần  có nhiều người góp sức, dĩ nhiên là có tổn thất rồi. 

– Ok, tao đồng ý với mày là cần nhiều người góp sức và chịu sự tổn thất, nhưng mày cũng cần nên biết, một bên tự nguyện góp sức có hợp đồng và một bên cưỡng bức người ta lao động, hai cách làm nhìn thì giống nhau, nhưng về mặt tinh thần thì khác. 

– Khác sao? 

Cái thằng trông mặt có vẻ thông minh vậy mà hổng hiểu những gì tôi nói, làm tôi phải thêm một phen giải thích: 

 –  Thí dụ như khách du lịch đi trên Great Wall of China (Vạn Lý Trường Thành) ngoài sự chiêm ngưỡng bức tường dài ra họ còn nghĩ tới mỗi viên gạch là một xác chết, tức thì khách du lịch chấp tay cầu nguyện, dù cho kiến trúc tường thành đó có tinh vi, kiên cố bao nhiêu đi nữa thì người ta cũng nhớ tới vị hoàng đế tàn bạo thuở đó là… 

Nói tới đây tôi bí vì hổng biết tên vị hoàng đế Tần Thủy Hoàng tiếng anh gọi là gì và thấy thuyền phó cũng hứng thú và chú ý lắng nghe. Tôi bèn móc điện thoại trong túi ra, mở google dịch, bấm tìm tên Tần Thủy Hoàng, máy dịch ra tiếng anh là Qin Shi Huang. Tôi đưa điện thoại qua cho thuyền phó xem, nó lắc đầu nói: 

– Tui hổng biết tên vị hoàng đế này. 

– Mày có nghe Great Wall of China không? 

– Có, tui đó đọc báo du lịch. 

– Chính ông hoàng đế Qin Shi Huang này bắt dân nô lệ Trung Quốc xây lên đó. 

Tôi đút điện thoại vô túi áo và nói tiếp: 

– Theo tao thì ngàn năm sau, du khách Nga hoặc du khách các nước khác đi tàu trên con kinh đào Belomorkanal thì họ cũng sẽ nghĩ tới hàng trăm ngàn người tù cưỡng bức đã chết tức tưởi trong lúc đào kinh bị đói vì thiếu ăn, bị lạnh không đủ áo ấm và bịnh đau không thuốc men, không bác sĩ, y tá săn sóc chữa trị. Hễ người tù nào chống đối hặc làm hổng nổi liền bị bắn tại chỗ thì người ta sẽ chấp tay cầu nguyện và nhớ tới lãnh đạo nước Nga tàn bạo thuở đó là đảng cộng sản do ông Lenin cầm đầu. 

Thuyền phó ừ hử và day ngang đưa lon bia ra cụng, nó ngước cổ uống một hớp và tôi cũng làm theo. Có lẽ nghe chuyện “dã man” làm thằng nhỏ uống ngụm bia bị đắng rồi nên mới đứng im lặng? Chúng tôi không nói thêm gì chỉ đứng nhìn vào dãi đất liền, bóng tối mỗi lúc mỗi đen, trên nền trời có những vì sao xuất hiện và ngọn hải đăng trong dãi đất liền quét lằng sáng trên không gian. Hồi sau thuyền phó cất tiếng nói: 

– Hồi trước tới giờ tui chưa một lần bước lên bờ Thuỵ Điển.

– Đan mạch, Na Uy, Phần Lan mày lên chưa? 

– Có vài lần lên bờ mua sắm rồi trở lại tàu, nên tui không hình dung ra con người xã hội những nước đó ra làm sao. 

– Theo tao thì Scandinavia là một nhóm quốc gia văn minh, nhân bản có những nhà nước thông minh, những xã hội giàu có, trình độ giáo dục và chăm sóc sức khỏe dân chúng rất tốt.

– Tui có đọc báo mới biết thủ đô Stokholm đẹp giống như thành phố Venezia. 

– Giống chỗ nào?

– Có rất nhiều nước.

– Giống nhau tại vì có nhiều nước thôi sao?

– Ừ, thì thành phố cổ, nhà cửa cũ kỹ…

– Tao cũng không hiểu sao mấy người viết báo du lịch hay so sánh những thành phố đẹp khác với Venezia. Thật ra nước ở Venezia hổng được xanh trong như nước biển Stockholm và xe cộ bị cấm chạy trong thành phố kể cả xe đạp, du khách cuốc bộ hoặc đi xuồng gondola, tàu đò hoặc tắc-xi-nước và sinh hoạt đâu có rầm rộ như ở Stockholm. Đi trong phố Venezia tao có cảm giác như đi trên một sàn nước cũ kỹ, khổng lồ làm bằng xi măng cốt sắt, lót đá gạch và tưởng chừng nó có thể bị xụp đổ xuống hoặc bị nước ngập lên bất cứ lúc nào.

– Ông tới Stockholm nhiều lắm không?

– Mấy năm trước tao thường đi đi lại lại thành phố này, tàu tới buổi sáng thì tao lên bờ buổi trưa, tàu tới buổi chiều là tao lên bờ chơi buổi tối, những đêm trắng có khi tao thức suốt đêm.

– Chắc nó có gì hấp dẫn lắm mới làm ông thích.

– Tao cũng hổng biết nói sao nữa, nhưng tao nhớ nó gây ấn tượng trong tao rất nhẹ nhàng.

– Nhẹ sao?

– Tao còn nhớ lần đầu tao tò mò muốn biết đến Stockholm vì hai câu thành ngữ:  ‘Thành phố lớn mà nhỏ nhất thế giới’ và cũng có câu: ‘Thị trấn nhỏ mà lớn nhất thế giới’.

– Oh, lạ vậy.

– Ừa lạ lắm mà cũng đẹp lắm. Stockholm là một thành phố nối liền đảo này qua đảo nọ bằng những chiếc cầu lớn và dài. Các tòa nhà trong phố có từ thế kỷ mười sáu, mười bảy nằm chung với những toà nhà mới rất hiện đại. Đặc biệt có nhà thờ Riddarholmen, một tu viện dòng Phanxicô được xây dựng vào thế kỷ mười hai. Đường xe điện ngầm của thành phố được du khách biết đến như là phòng trưng bày nghệ thuật dài nhất thế giới, phần lớn các nhà ga được trang trí bằng những bức tranh và những tác phẩm điêu khắc trạm trổ tinh vi. Stockholm là trung tâm văn hóa của Thụy Điển; nhiều hội văn học và học viện khoa học có từ thế kỷ mười tám. Stockholm cũng là thành phố được khách du lịch ghé thăm nhiều thứ hai trong các nước Bắc Âu. Ông Alfred Nobel là nhà hóa học người Thụy Điển, sinh ra tại Stockholm, sáng lập giải Nobel cũng đáng lắm, vì ngoài danh tiếng  của ông ra, có lẽ đi tới đâu cũng thấy mẫu hình nghệ thuật nên Stockholm được chọn làm nơi để trao giải Nobel.  

– Ông biết nhiều quá.

– Có một điều đặc biệt mà tao thích là những con người trong các thành phố của Scandinavia như Stockholm, Helsinki, Cophenhagen vào mùa hè họ rất đẹp. Nhứt là ban đêm trời không tối, họ đi ngoài đường hoặc ra vào nhà ga lúc lưa thưa cũng như khi đông đúc, họ không ồn ào giữa không gian xam xám, nâu nâu và đùn đục. Trong ánh sáng nhẹ nhàng đã tạo ra một bầu không khí thanh tao đầy lãng mạn làm cho con người họ tao nhã rất là tự nhiên, trông họ đẹp như thần tiên, thoạt nhìn tưởng chừng như họ bước ra từ trong một tạp chí người mẫu thời trang.

Thuyền phó hớp hớp bia cuối cùng rồi liệng lon xuống biển.

Day ngang nói:- Nghe ông nói tui thấy thích vô cùng, có thời gian tui lên bờ xem cho biết.

Tôi cũng hớp một hớp bia và quay ra hỏi nó:

– Mày uống nữa không?

– Không tui đi ngủ, khuya nay tui còn trực.

Nói xong nó chào tôi rồi đi vô trong mui tàu. Tôi cầm lon bia vô phòng và bỏ lon vô thùng rác, móc điện thoại để lên bàn. Tắm rửa sạch sẻ, thay đồ ngủ xong lên giường nằm. Chợt nhớ tới mấy tin nhắn và email, tôi bèn chồm qua bàn lấy điện thoại mở ra nằm đọc. Đọc hết tin nhắn chưa và tôi cũng hổng biết buông điện thoại mà ngủ đi hồi lúc nào không hay. Tới khi nghe tiếng máy tàu giảm nhẹ tôi thức dậy,  nghe chiếc điện thoại còn cồm cộm dưới lưng, tôi ngồi dậy lấy điện thoại, tiện tay bấm coi giờ, mới hơn bốn giờ sáng, nghe tiếng máy tàu tăng lên mới biết tàu đã đón hoa tiêu. Tôi nằm xuống đọc lại mấy tin nhắn, dạo này những tin nhắn thường hỏi thăm sức khoẻ và nói về chuyện corona. Có chị bạn là bác sĩ hay gởi thông tin về corona và dạy tôi cách đề phòng dịch bệnh và bạn bè hỏi những nơi tôi tới có nhiều corona không?

Phải công nhận, ngủ trong cái không mát mẻ, mặc dù ngủ ít, nhưng khi thức dậy khoẻ khoắn thể chất lẫn tinh thần. Tôi không ngủ lại được nữa, ngồi dậy bước ra boong định làm vài động tác thể dục, chợt thấy trên boong ướt sũng.

– Ồ! Mưa đêm?

Mặt trời cũng vừa ló dạng những hòn đảo và dãi đất liền đã hiện rõ trên làng nước xanh, mặt nước lóng lánh rực rỡ và một thứ ánh sáng mơ màng chỉ đọng giữa biển trong khoảnh khắc nó thay đổi qua sáng trong trẻo như hơi thở nhẹ nhàng ngập tràn biển khơi. Thật kỳ diệu, không phải chỉ nhìn thấy bằng mắt mà nhìn bằng cả một tấm lòng, tôi có chút ngạc nhiên khi nhìn vô bờ, trời trong vắt dãi đất liền đậm hơn, những đám mây xám nặng nề phủ phía chưn trời vừa vén lên để lộ ra một góc trời trần trụi. Trong cái ánh sáng chan hoà một cánh buồm nhỏ xinh xắn màu trắng tươi in trên mặt nước xanh như một chấm phá. Có lẽ những người trên chiếc ghe buồm ấy cũng không ngủ hoặc có ngủ thì cũng ngủ ngắn như tôi, họ đương thức và ngồi nhìn ánh sáng thay đổi và thấy thời gian chầm chậm trôi theo ánh mặt trời từ từ chiếu sáng. Chưa bao giờ tôi thấy không gian trong sạch đến đỗi không tin rằng nó có thật trên trần gian. Tôi chắc chắn là khắp vùng biển này chưa bị nhiễm dịch corona mà người ta gọi là dịch Vũ Hán. 

Dronten 1-5-2021

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 May 2026

Với một ý nghĩ rất cổ lỗ tôi vẫn cho rằng trẻ em ngày nay, thế hệ người Việt sống ở hải ngoại không có được cái thú ăn quà vặt và nghe tiếng rao hàng ở quê nhà như tôi thời thơ ấu. Cách đây vài  năm, cháu ngoại tôi có dịp về thăm Việt Nam, một buổi trưa nó hỏi mẹ:

– Bà này làm gì lầm lỗi mà trưa nào bà cũng đi quanh xóm kêu lớn để xin lỗi mọi người vậy, Má?

Mẹ nó lắng nghe mới biết đó là tiếng rao hàng lanh lảnh trưa trưa trong xóm: “Ai ăn cherry?” Con bé không rành tiếng Việt, nghe như tiếng xin lỗi “I am sorry! I am sorry!”

Cái thời xưa, chuyện mua bán, theo cung và cầu, đã có những dịch vụ đưa đến tận nhà, không phải đi xa, trước hết ngay cả những món hàng như gạo, vải mà ngày nay chúng ta phải cất công đến cửa hàng, thì cái thời thô sơ đó, ở các làng mạc và các tỉnh nhỏ những người buôn bán vải vóc hay gạo thóc đưa đến tận nhà qua những lời rao mời hàng. Sinh ra trong một gia đình công chức, tôi còn nhớ mẹ tôi thường đong gạo từ những cô hàng xáo (1) và mua những thước vải màu những bà bán vải, thường mang bên mình một “tay nải” nặng mớ vải đủ loại và tay cầm cây thước gỗ dài, đi từ nhà này sang nhà khác. Rồi có nải chuối, con gà, mớ rau, trái bí … cũng phải mang đi rao bán. Ngay có những món hàng nặng nề cũng có người mang đi mời từng nhà. Thỉnh thoảng bạn thấy một người mang hai cây tre, hay đã làm thành sản phẩm như chiếc giường hay chiếc thang, là những món hàng ở thôn quê mang lên phố. Người nông dân cần tiền, ra vườn đốn hai cây tre tốt, mang đi bán để lấy tiền đong gạo. Kiểu mua bán thô sơ này không cần mở cửa hàng, mà cũng chẳng cần biết đến chuyện thuế má. Ngày còn nhỏ tôi đã thấy nhiều nông dân vác hai cây tre, đi suốt ngày mà không ai mua, gần tối chiều mệt mỏi, đói khát, ông ghé một nhà nào đó, bán rẻ gần như cho không. Từ làng lên thành phố đã hằng chục cây số rồi, lại phải đi quanh trong thành phố, thật quá vất vả. Còn thức ăn thì từ sáng sớm đến lúc tối khuya, dù mưa hay nắng, mùa hạ nắng gắt hay mùa đông lạnh giá đều có thức ăn rao bán tận cửa nhà. Tôi không có thời thơ ấu ở Hà Nội hay miền Bắc, nhưng tôi còn nhớ mãi tiếng gõ “sực tắc” của xe mì ông già người Tàu, trong phim “Kiếp Hoa” do hai cô đào Kim Chung, Kim Xuân đóng được chiếu ở Saigon vào thời điểm sau 1954. Xe mì Tàu không có tiếng rao, nhưng có tiếng gõ “nhịp ba” bằng hai thanh gỗ của đứa bé theo phụ nghề, âm thanh đi rất xa, kêu gọi bao tử của những ai muốn ăn bát mì nóng mang đến tận cửa nhà. Nhưng xe mì là chuyện của người lớn. Bọn trẻ chúng tôi thường bâu quanh xe bán kẹo kéo, mà tôi nhớ người bán phải là một ông Bắc Kỳ, không Bắc Kỳ sao lại có câu rao:”Có tiền mà để làm gì? Không mua kẹo kéo Bắc Kỳ mà ăn?”Thứ kẹo mềm và dòn này là một tảng lớn bao bọc trong mình nó đậu phụng rang, nhưng nghệ thuật của người bán dùng vải bọc lót tay, kéo …

Ở quê nhà, trên đường phố, nắng hay mưa, đêm hay ngày, lúc nào cũng vang lên tiếng rao quen thuộc của những gánh hàng rong. Điểm tâm thì có gánh bún, gánh xôi, gánh cháo, bánh mì nóng hay ông già đẩy cái xe cọc cạch bán mì, phở hay cháo huyết. Buổi trưa có gánh đậu hũ đường gừng thơm ngát, cậu bé bán kem, kẹo đậu phụng, cốm gạo hay cốm bắp gánh trong hai cái lu lớn của ông già bán cốm. Ở miền Trung còn có những gánh chè bày những chén chè nhỏ đủ loại úp trên mấy cái mẹt tre, gánh bánh bèo, bánh nậm, bánh lá, bánh bột lọc hay gánh bánh canh Nam Phổ … cho những người cần ăn bữa lỡ lúc xế chiều. Buổi tối lại những món ăn rao mời, nghe tiếng rõ ràng trong đêm vắng: bánh mì nóng, món chè đêm, kéo ra thành những đoạn dài mà vẫn còn bọc được những hạt đậu phụng ở trong. Với một cái ngắt tay nhanh tuỳ theo đoạn kẹo dài ngắn theo số tiền của “người đối diện”, khúc kẹo kéo được bọc vào một mảnh giấy báo trao cho người mua. Ông bán hàng còn dụ bọn khách hàng nhỏ tuổi bằng trò chơi quây số may rủi, nhưng cuối cùng thanh kẹo kéo dài ngắn cũng chẳng cách biệt bao nhiêu, nhưng cũng đã đem lại chút vui mừng hay thất vọng nho nhỏ chốc lát của một thời thơ ấu. Tôi cũng nghe những người bạn di cư nói về tiếng rao “hàn xôi phá sang” của ông Tàu già bán lạc rang mà cũng không hiểu mấy tiếng rao nửa Việt nửa Tàu này nghĩa là gì? Rồi món mía hấp, bún riêu, bánh cuốn, món chè “Lục tào Xá”, gánh phở, và xe kẹo, thúng hột vịt lộn hay gánh phở lắc lư theo ngọn đèn dầu tù mù ngang trước nhà. Những ngày vào Nam, có ai còn nhớ tiếng rao ngọt ngào như món ăn trong gánh hàng rong: “Ai ăn chè đậu xanh, nước dừa, đường cát hôn?” “Ai ăn vịt lộn không”, “Bắp luộc, bắp nướng đây!” “Bánh mì nóng giòn mới ra lò … “, “Bánh bò bánh tiêu”, “Bánh gai, bánh giò đê” “Báo mới đây … “

Có phải chăng con người Việt Nam khá dư dả, sung túc nên ngoài chuyện “cơm ngày ba bữa” còn có thể có tiền ăn chút quà róng? Sự thật là người dân Việt đều thích ăn quà giữa những bữa cơm, càng nghèo càng bình dân lại càng ăn quà, vì vậy hàng quà chỉ  ống nhờ những xóm bình dân hơn là trong những khu phố sang trọng. Ít tiền thì củ khoai, khúc mía, trái cóc, miếng ổi … , dư dả thì bát phở, tô mì, tạo nên thứ “văn hoá” … ăn quà vặt.

Có bao nhiêu thức ăn, bao nhiêu món hàng được rao bán, thật khó mà lên một danh sách cho đầy đủ: từ cây kem cho đến bát phở. Nhưng không phải tất cả tiếng rao hàng đều ngọt ngào, mềm mại, âm thanh trầm bổng như của cô bán chè “ … nước dừa, đường cát hôn?” hay “Ai ăn chè đậu ván!” mà có những buổi trưa bạn đang thiu thiu ngủ, có những tiếng rao như kêu thét lên”Tẩm quất! Tẩm quất!” cùng âm thanh của những miểng sắt nhỏ chạm vào nhau nghe loảng xoảng hay tiếng chuông leng keng của chiếc xe bán kem vừa đi qua. Rồi những tiếng kêu lớn của người thợ hớt tóc dạo: “Tóc đây! Hớt tóc đây!” Anh chàng mua đồ “lạc xon”:”Đồng hồ, quạt máy, ra-dô cũ bán không?” Chị mua lông gà vịt:”Ai lông gà lông vịt bán không?”, “Ve chai đây!”“Có giường nệm, bàn ghế bán không?” Vào cái thời khốn nạn của đất nước “cái gì cũng bán, cái gì cũng mua”:

“Từ tượng đồng, mộ bia, lăng miếu, Đến xác thân em bé đứng đường.”

Quê hương với những tiếng rao hàng vẫn còn đó, nhưng ngày nay, vào thời đại văn minh, những tiếng rao hàng đã thay đổi bằng máy những ca khúc “bolero” qua băng casette rồi đến CD. Tội nghiệp cho những giọng ca nổi tiếng ngày nay đi vào lòng quần chúng, trên những xe kẹo kéo, bánh bò và cả bánh giò, bánh chưng. Nhiều người bán hàng còn trang bị thêm các loại đèn nhấp nháy “hazar light”, “strobe lights” như đèn xe cảnh sát để gây thêm sự chú ý của người mua hàng. Nhiều người than phiền rằng về Việt Nam không ngủ được vì có quá nhiều tiếng động như tiếng còi xe, tiếng chó sủa, tiếng người cười nói ồn ào, pha lẫn và nhiều nhất là tiếng rao hàng, nhiều khi cho mãi tận đến khuya.

Ở trên quê hương chúng ta, những tiếng rao hàng phản ánh nếp sống của người dân nghèo khó, bình thường của những người buôn thúng, bán bưng, suốt một đời cực nhọc vì miếng cơm manh áo, nghỉ một ngày là đói một ngày. Có những gánh bún của bà mẹ đã nuôi nổi một đàn con khôn lớn, một mẹt hành, chanh, ớt cũng đủ tiền chợ trong ngày. Tôi không quên những xe bán kem, chiếc bình ga bán bong bóng hay xấp vé số của người lính miền Nam vừa ra khỏi nhà tù, nếm chút đắng cay đổi đời của cuộc sống để chờ đợi một tương lai sáng sủa hơn.

Còn người muốn ăn quà vặt, còn người muốn mua những món hàng nhỏ đưa đến tận nhà là còn có người bán, người rao hàng. Quê hương Việt Nam vẫn còn đó tiếng rao hàng, những âm thanh đầy kỷ niệm mang theo từ ngày bỏ quê hương. Có bao giờ bạn trở lại, để khuya nay bất chợt nghe một tiếng rao đêm, vẫn âm thanh ấy không khác chi thuở nào, nhưng nghe như nỗi buồn xa xuôi mang theo cả một thời ấu thơ đầy kỷ niệm. Và có nhiều phận người, suốt đời vẫn lam lũ, nhọc nhằn theo chuyện áo cơm.

(1) Người mua lúa về xay xát đem gạo bán cho người, lấy công làm lời.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 May 2026

Khoảng năm 1985, khi nhà văn Đỗ Tấn bị bạo bệnh qua đời tại Saigon, tôi là người có nhiệm vụ đi đăng cáo phó cho anh. Lúc bấy giờ trong thành phố đã đổi tên chỉ có một tờ nhật báo của chế độ mới, đó là tờ “Saigon Giải Phóng.” Sau khi xem qua bản cáo phó viết tay của tôi mang đến, chắc là thấy cái tên người chết có vẽ lạ, nhân viên toà báo trả lại tờ giấy cho tôi và nói:

“Ông này có ở trong Hội Nhà Văn không và nếu có, cho tôi xem giấy chứng nhận, tôi mới đăng được!”

Tôi đành mang tờ cáo phó ra về. Trong chế độ này tất cả những thứ như Nghệ sĩ Ưu Tú, Nghệ Sĩ Nhân Dân, Nhà Giáo Nhân Dân, thậm chí là Anh Hùng cũng phải được “Nhà Nước” phong tặng, có văn bản đàng hoàng, nói chung là Đảng và Nhà nước giành quyền ấn định danh xưng cho nhân dân, Trong chế dộ này, muốn trở thành nhả văn, nhà thơ, nghệ sĩ phải mang giấy chứng nhận có cơn dấu của đảng, duy chi có một cái giấy chứng nhận cần thiết không nghe ai nói dến là giấy chứng nhận làm người. Chẳng bù với đời sống ở hải ngoại này, ai muốn có danh xung nào tuy thích chọn lựa, không hể bị ai hạch hỏi. Một người không biết nói, biết hát, biết đàn, biết vẽ, biết làm thơ viết văn … có thể tự nhận minh là … nghệ sĩ. Một lần, tôi được giới thiệu với một vị cao niện tình cờ gặp trong quán cả phê, vị nảy nhoòi minh về phía tôi và đưa tay bắt, tự giới thiệu:

– “Tổi là nhà thơ XY/. #

Ở trong cái thành phố nhỏ “đi dăm phút đã về chốn cũ,” bằng cái lỗ mũi này cái tên nhà thơ này thật tình tôi chưa hề nghe, Nghe nói năm ngoái ông có in một tập thơ, tôi nghĩ như vậy tác phẩm, ở hải ngoại này có thể thay giấy chứng nhận của đảng, Ông cũng có tên trong tác phầm thi ca “1,000 thi sĩ ở Hoa Kỳ” mà mỗi thi sĩ tự đóng tiền, góp ấn phí, để đem về 50 tập thơ bằng tiếng Anh tặng cho bạn bè. Trong các loại danh xung, Bác Sĩ được xếp loại cao nhất, vì vậy không ai thích gọi tắt mình là Dược Sĩ, Nha Sĩ mà muốn gọi là Bác Sĩ Nha Khoa, Bác sĩ Dược Khoa, Bác Sĩ Y Khoa cho đung chữ (Doctor of Dental Surgery, Doctor of Pharmacy,) thậm chí ngành “Vision Optometry” hay Optician (chuyên viên quang học – đo mắt và cho độ làm kính) cũng dược gọi là Bác Sĩ Mắt thay vì Ophthalmologist mới được gọi là Bác Sĩ Nhãn Khoa có thể chữa hay giải phẩu các bệnh về mắt. Danh xưng Bác Sĩ phải ghi trước tên là Dr và sau là MD như “Dr. Trần Văn A, MD).”cũng như trong trường hợp “Bác Sĩ Nguyễn Văn B, MD.” Nhiều vị Bác Sĩ dung tước vị như là một danh xung ở ngôi thứ nhất, Trong nhiều chương trình quảng cáo cho các phòng mạch y khoa hay sản phụ khoa, chúng ta thường nghe nhiều vị bác sĩ thường dùng tiếng “Bác Sĩ” thay cho tiếng “Tôi” ở ngôi thứ nhất số ít như “Bác sĩ nói cho em nghe … Bác sĩ khuyên bà nên dùng …. ” Gọi bệnh nhân gọi vào chương trình hội thoại bằng “em” đã khó nghe, dùng danh xưng bác sĩ thay cho “tôi” hay “chúng tôi” là điều chỉ thấy trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại.

Trong các tiệm ăn ở gần các bệnh viện, thỉnh thoảng chúng ta thấy nhiều vị bác sĩ, y tá, hoặc nhận viên y tế, mặc đồng phục của bệnh viện ra ăn trưa, nhiều vị bác sĩ còn mang cả ống nghe trên cổ, nghề y quá bận rộn. vất vã! Danh xưng Giáo Sư nhiều người cho rằng chỉ dùng cho Giáo Sư Đại Học, nhưng thời VNCH, dạy Trung Học cũng được gọi là Giáo Sư, vì có ngạch trật là Giáo Sư Trung Học. Hiện nay người ta dùng danh xưng Giáo Sư quá nhiều, nên rất khó phân biệt là Giao Sư Trung Học (Có bằng Tủ Tài II, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội, Đại Học Sư Phạm 3 năm, hay ĐHSP Cấp Tốc 1 năm hay GS Đại Học có bằng Thạc Sĩ. Tiến Sĩ trở lên, có vài ngành chỉ cần có Cử Nhân.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều nghề được quý trọng và nhân gian thường gọi bằng Thầy như Thầy Địa, Thầy Bói, Thầy Tử Vi, Thầy Bói Dịch, Thầy Tu, Thầy Tụng, Thầy Cúng, Thầy Chùa, Thầy Dùi. Thầy Dạy Nhày … nhưng nếu diễn nghĩa chữ “Thầy” ra “Giiáo Sư” như một vài trường hợp chúng ta thường gặp trên báo chí như Giáo Sư Khiêu Vũ, Giáo Sư Phong Thủy, Giáo Sư Cố Vấn, Giảo Sư Bói Toán nghe khá chướng tai. Trong các chương trinh talk show trên TV, chúng ta thường thấy cáe danh xung có vẽ kiêm nhiệm: “Giáo Sư-Nhà Văn.” Hai danh xưng này cái gì quý hay lớn hơn cái kia. Nếu chỉ là một chương trình hội thoại về văn chương, thi nghề giáo sư dạy toán ở trung học không cần thiết phải đưa lên màn ảnh TV hay nhờ xướng ngôn viên giới thiệu về mình. Một bài biên khảo về y học được ký dưới tên một bác sĩ là đúng, nhưng một bài thơ hay một truyện ngắn, mà tác giả cố đem vào trước tên mình cái danh xưng Giáo Sư hay Bác Sĩ là không cần thiết. Danh từ Viện trong tiếng Hán Việt dùng để chỉ một nơi có tường thành bao bọc như Tu Viện. Viện Hán Học, Kỹ Viện, nhưng ngày nay người ta lạm dụng tiếng Viện dành cho một tiệm uốn tóc chỉ có vài ba người thợ, gọi là Thẩm Mỹ Viện hay Viện Uốn Tóc thật không ổn. Mong rằng rồi đây sẽ không bao giờ có những Viện Sữa Xe Hơi, Viện Dry Clean, Viện Food To Go … ra đời.

Về các cấp bậc trong quân đội trước năm 1975 ở miền Nam, nhiều câu nói khôi hài cho rằng, chúng ta tan hàng nhưng phòng thăng thưởng nhân viên là vẫn còn tồn tại. Bằng chứng là nhiều vị vào lúc tan hàng chỉ mang cấp bậc Đại Uý, nay ra hải ngoại không còn quân đội dã 38 năm mà nay được gọi là Thiếu tá. Nhiều người chỉ có cấp hậc Trung Tá ngày trước, được thuộc cấp hay bạn bè nịnh hót gọi Đại Tá, lâu ngày nghe quên tai, thay vì một lời cải chính, thì lại “im lặng là nhận lời,” đôi khi tưởng mình là Đại Tá thật. Nhiều vị lại quả “khiêm nhường” chỉ mới Đai Uý nhưng cho mình xứng đáng mang cấp bậc Thiếu tá trong các buổi lễ lược hay tự xưng, với lý do cũng giống nhau là đã có giấy tờ (ai chứng minh) vào những ngày cuối tháng 4-1975 nhưng “chua kịp gắn lon,” cho nên bây giờ tôi “khiêm tốn” tự gắn cấp bậc mới cho mình. Đó là chưa nói đến chuyện nhiều vị vẫn thích mặc đồng phục, mang cấp bậc Thiếu Tướng, Đại tá của một đơn vị không có trong tổ chức của Quản Đội Mỹ cũng như Quân Đội VNCH, kể cả gắn sao lên xe hơi của mình, Đây thật sự là xử tự do! Dù là một Phật Từ, thú nhận tôi cũng chưa rành về các danh xưng của Quý Thầy, nên hồi ở TTHL Quang Trung, tôi bị ông Thượng Toạ Trưởng Phòng Tuyên Uý Phật Giáo “cự” vì nhân viên biên tập đã ghi nhầm danh vị của ông là Đại Đức thay vì đúng là Thượng Toạ, Cách dây gần 10 năm, khi viết loạt bải  Chân Dung Một H.O.” cũng vì tưởng lầm Thượng Toạ là danh vị cao nhất (ngồi trên) tôi đã hị Hòa Thượng Hạnh Đạo “mắng yêu:” – “Ông Huy Phương, ông hạ chức của Thầy rồi!”

Nhiều danh xưng thiếu tự trọng và thiếu đức khiêm cung mà chúng ta vẫn thường nghc quảng cáo như “Đệ Nhất MC,” hay “Lưong Y Nguyễn Văn X., chuyên chẩn bệnh, bốc thuốc” … Người đi hát có thể gọi là ca sĩ, nhưng không thể tùy tiện nhận mình là danh ca. Ở tiệm bán đồ lưu niệm và khắc chữ “Things Remembered” công khắc phải đếm, tính từng chữ một. Ở bia mộ khi chúng ta qua đời, cũng vậy!

Y Vân – Lost sound of Saigon

baotreonline.com

Ian Bùi

 13th, May 2026

Post by Sơn râu 28 May 2026

Y Vân: The Lost Sounds of Saigon là một cuốn phim tài liệu do cháu ngoại của cố nhạc sĩ, Khoa Hà, thực hiện và làm đồng đạo diễn cùng với Victor Velle. Phát hành vào cuối năm 2025, phim ra mắt khán giả lần đầu tại DOC NYC – liên hoan phim tài liệu tại thành phố New York, và ngay lập tức được lọt vào Top 10 tại đây. “Lost sounds” là một bộ phim đáng xem, và nếu được, nên xem trên màn ảnh lớn.

Khoa Hà đã bỏ ra gần mười năm để tìm kiếm tất cả mọi thứ có liên quan đến nhạc sĩ Y Vân. Nào là những tập nhạc được in trước 1975 cho đến các dĩa nhựa 45 và 33 tua. Là một người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ trẻ, làm việc chủ yếu trong lĩnh vực thiết kế đồ hoạ (graphic design), lúc ban đầu cô hoàn toàn không có ý định làm phim mà đơn thuần chỉ là sưu tầm để bảo tồn di sản âm nhạc của ông ngoại mình. Cách đây khoảng tám năm, cô gặp nhà làm phim tài liệu Douglas Emerson, và ý tưởng làm phim bắt đầu bén rễ mặc dù cô không biết gì nhiều về ngành này. Nhưng cũng nhờ là người “ngoại đạo” nên cuốn phim đầu tay của cô đã vượt ra ngoài lối làm phim tài liệu quy ước, tạo cho “Lost Sounds” một sắc thái riêng biệt và độc đáo, gây sự chú ý trong giới làm phim chuyên nghiệp.

Poster quảng cáo phim tại DOC NYC, một trong những liên hoan phim tài liệu quan trọng nhất trên nước Mỹ.

Ngay từ phút mở màn, bộ phim đã gây ấn tượng mạnh mẽ với cách dùng graphic design theo kiểu Sài Gòn xưa để giới thiệu đạo diễn, nhà sản xuất v.v. Cùng lúc, âm thanh nền là một bản kích động nhạc của Y Vân. Ngay lập tức ta có cảm giác mình sắp sửa được bước vào một cỗ máy thời gian đi ngược về những năm 1960-70 của miền Nam Việt Nam. Màn ảnh lớn với âm thanh nổi càng làm tăng sự kích thích.

Một trong những hình ảnh minh hoạ dùng trong phim. (Pink Buffalo Films)

Trong phim, Khoa Hà xuất hiện như một người kể chuyện. Một câu chuyện về bản thân, đi tìm một điều gì đã mất chứ không phải điều mình đã biết. Hành trình của cô bắt đầu từ những băng cassette cũ, dần dần đưa tới nhiều khám phá ngoài sự tiên liệu lúc ban đầu mà có lẽ ta không nên kể ra nơi đây, để dành sự bất ngờ ấy cho người xem thì hay hơn. Song một điều chắc chắn là sau khi xem phim đa số khán giả sẽ không cảm thấy uổng phí 93 phút cuộc đời.

Truyện phim được chia làm bốn chương với nhan đề riêng biệt, dễ cho ta theo dõi và nắm bắt nội dung:

– Di Sản (Inheritance);

– Chia Cắt (Separation);

– Trở Về (Return);

– Hoà Giải (Reconciliation).

Nó kể lại hành trình của một người trẻ truy lùng nguồn cội qua việc thừa hưởng một di sản mơ hồ, trải qua những đứt gãy văn hoá và lịch sử, trở về quê mẹ để tìm hiểu thêm và cuối cùng tìm được mối dây tinh thần kết nối hai thế hệ và hai nền văn hoá qua âm nhạc. Câu chuyện tuy đơn giản nhưng đầy những bất ngờ thú vị.

Hai mẹ con Khoa Hà trong một chuyến săn lùng dĩa nhạc. (Pink Buffalo Films)

Tuy đây không phải là một cuốn phim về tiểu sử nhạc sĩ Y Vân – ai cũng có thể lên internet tìm đọc về ông nếu muốn, nhưng qua các cuộc phỏng vấn với những người thân như chị em hay vợ ông, chúng ta sẽ được biết thêm về một con người, đúng hơn là một nhân cách, mà có lẽ công chúng xưa nay ít ai biết tới. Đối với người viết, đây có lẽ là phát hiện thú vị nhất sau khi xem phim, vì trước giờ mình chỉ nghĩ đến Y Vân như một nhạc sĩ chứ không như một người cha, người chồng. Giờ đây mỗi khi nghe đến bài “Sài Gòn Đẹp Lắm” mình sẽ nghĩ khác về nó.

Cố phu nhân của nhạc sĩ Y Vân, qua đời không lâu sau khi quay màn phỏng vấn này. (Pink Buffalo Films)

Một trong những điểm son của bộ phim này là phần kỹ thuật hình ảnh – cinematography, được thực hiện vô cùng xuất sắc bởi Victor Velle, người đồng đạo diễn của nhân vật chính là Khoa Hà. Cách sử dụng ánh sáng và đặt góc quay của Victor Velle rất sáng tạo, nhất là những cảnh đường phố của Sài Gòn và Hà Nội hiện đại, tương phản rõ rệt với các hình ảnh vẽ tay mô tả một miền Nam thời xa xưa. Phong cách dựng phim (editing) của Benjamin Shearn cũng đón góp rất nhiều, đưa “Lost Sounds” lên tầm một tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao.

Một cảnh quay phim ở Nha Trang. (Pink Buffalo Films)

Phim hiện đang lưu diễn đến một số liên hoan phim (LHP) trên nước Mỹ. Tại LHP San Luis Obispo ở Cali mới gần đây, “Lost Sounds” đã được khán giả bầu chọn là phim tài liệu hay nhất (Best Documentary), đồng thời là phim hay nhất (Best of Fest). Khán giả vùng Texas có thể đón xem phim này tại LHP HAAPIFEST 2026 ở Houston. Theo lịch trình thì “Lost Sounds” sẽ là bộ phim chủ lực, được trình chiếu vào đêm cuối cùng của LHP vào ngày thứ Bảy, June 7. Muốn biết thêm chi tiết về giờ và rạp chiếu, bạn có thể vào website của HAAPIFEST. Phim hay, rất đáng xem!

Nhà sản xuất Justin Tuấn Smith (phải) trả lời câu hỏi của khán giả sau buổi trình chiếu cuối cùng tại LHP San Diego Asian Film Festival. (IANBUI/TRẺ)

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 28 May 2026

Hai ngày sau cái đêm bóng gương lồng bóng trà mi chập chùng, tôi bị sốt và đái buốt không chiu nổi. Tôi dạp xe đi tìm Hoàng. Hắn cuời ha hà: “Mày mắc bệnh lậu rồi. Bài học làm người đấy.”

Tôi muốn gầm lên, muốn tống một quả đấm thiên lôi sấm sét vào bộ mặt đểu cáng. Nhưng trời ơi, tôi đang cần hắn, tôi phải xuống nước.

Hắn lên mặt dạy đời như người cha dạy đứa con lầm lỗi:

“Đây là dịp để mày sáng mất ra. Đàn bà là loài La Sát, nó ăn tươi nuốt sống những thằng khờ khạo như mày.”

“Hoàng ơi, đừng nói nữa.” Tôi rên lên bằng tất cả nổi niềm thống khổ.

Hắn nói: “Hôm qua, má tao gọi y tá đến nhà chích thuốc cho Tuyết Liên. Tao biết trước sau gì mày cũng tìm tao.”

“Khi ngủ với tao, Tuyết Liên chưa biết nó bệnh?”

“Lúc đó thì chưa. Nhưng thằng nào chơi bời. cũng phải biết rằng con đĩ nào cũng mang một ổ vi trùng. Đã là dân chơi thì nhằm nhò gì ba thú lẻ tẽ đó. Vào trận mạc là chấp nhận thương đau.”

Hoàng dẫn tôi dến nhà một chị y tá, giới thiệu rồi bỏ đi. Khốn nạn! Bệnh kín của đàn ông, lại dưa cho đàn bà điểu trị. Tôi xấu hổ, không đám ngó thẳng vào chị.

Rất dịu dàng, chị hỏi: “Em có sốt không?”

“Có.”

“Đi tiểu có buốt không?”

“Có.”

“Đầu dương vật có mủ không?”

“Có.”

“Mũ trắng hay vàng?”

“Trắng.”

“Trắng là bệnh mới phát, chỉ vài liểu trụ sinh là khỏi ngay, nhung phải kiên nhẫn tiêm cà tuần mới bảo đảm dứt noc.”

Khi trả tiền thuốc, tôi xót số tiền anh Hòa đã cho. Nếu anh biết rằng một phần tiền được dùng vào việc trị bệnh lậu, thì sao? Tôi không xứng đáng với lòng tốt của anh. Trên đường về, tôi gằm mặt xuống. Trời đất mênh mông, vầng dương sáng tỏ. Hình như thiên hạ ai cũng nhìn tôi bằng cặp mắt tò mò. Tôi muốn lẩn trốn, thu mình trong hang như con thú nằm liếm vết thương đau nhức. Tôi lánh mặt những người quen. Tôi sợ những con mắt nhìn vào tôi. Tôi sợ dưới ánh sáng mặt trời, những con mắt ấy phát hiện ra tôi đang bị lậu. Bị bệnh gì, cũng có thể thố lộ. Bị lậu phải giấu giếm, âm thầm ôm lấy đau khổ một mình. Chứng bệnh quái ác này, nó tố cáo một hành động dâm dục bất chính. Nó lột mặt nạ những người đường hoàng đạo đức, phơi trần bộ mặt ghẻ lở xấu xa. Tôi không muốn ai nhìn thấy chân tướng nhơ nhuốc của tôi. Mỗi ngày, tôi đến nhà chị y tá chích thuốc. Ghé lại xe bánh mì trên đường Phước Hải, mua hai ổ bánh cho hai bữa sáng chiều.

Tôi về nằm rúc trong căn nhà lá. Những chiều chạng vạng, tôi hay đứng sau nhà nhìn ra nghĩa địa. Yên tâm trước những nấm mồ câm nín. Không còn quá sợ ma như lúc trước. Tôi là con ma bệnh. thì còn sợ gì ma nữa. Chỉ sợ người đời nhìn rõ bóng dáng tôi. Đêm, tôi không thắp đèn. Tự dung không thích ánh sáng. Khí âm tràn ngập, bóng tối âm u là thế giới của ma quỷ. Tôi sắp biến thành con ma ngoài nghĩa địa.

Giữa khuya tôi hay đạp xe ra bãi biển Nha Trang. Nằm nghe sóng và ngủ quên ở đó. Tinh thần sa sút cùng cực.