Mò Sò

Nguyễn Viết Tân

February 6, 2021 

Cách đây hơn bốn năm, tôi đến San Jose để làm việc một tháng. Bây giờ “Đến Hẹn Lại Lên” vì ở đây tôi đang rảnh, thế mà cũng chỉ một tháng là vội trốn về.

San Jose với đường sá mở rộng thêm nhiều, nhưng xe cộ vẫn kẹt cứng. Những khu kỹ nghệ to lớn với parking đậu đầy xe loại mắc tiền; Ánh đèn ở những khu thương mại chói chang, xứng danh là thung lũng điện tử nổi danh trên toàn thế giới. Ấy vậy mà bên cạnh những cao ốc, vẫn còn rất nhiều đất để hoang, có hoa vàng nở rộ và hai bên xa lộ, đôi khi ta còn bắt gặp vài chú nai đi ngơ ngác, nhất là đi lên hướng Saratoga, highway 9. Cảnh trí nơi này không khác gì Đà lạt, với núi đèo, thác suối. Tiếng lá reo hòa với tiếng suối róc rách, làm cho ta ngỡ rằng đã lạc vào chốn thiên thai.

Có lẽ vì không một ai than phiền với sở Animal Control, nên tuy là một thành phố lớn, nhưng nửa đêm về sáng, người ta vẫn nghe thấy tiếng gà eo óc gáy. Tôi phần thì nhớ nhà, phần thì bị bệnh mất ngủ, lại càng không ngủ được. Cảnh thổ ở bên quê nhà cứ lởn vởn trong trí, với bờ ao ruộng lúa. Mỗi lần nghe tiếng gà gáy, tôi lại nhớ bài thơ Nắng Mới của Lưu Trọng Lư :

Mỗi lần nắng mới hắt ven song
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không
Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi
Hình bóng mẹ tôi chửa xóa mờ
Vẫn còn mường tượng lúc vào ra
Nụ cười đen nhánh sau tay áo
Trong nắng trưa hè trước dậu thưa.


Mẹ tôi còn sống, mà mỗi lần đọc bài thơ này là tôi muốn sa nước mắt, tôi thương cảm giùm những người mất mẹ. Rất may cho tôi là lần này lên làm việc đúng vào dịp hãng có vài công việc được trả tiền theo đầu người, nghĩa là làm việc tà tà, không chuyên môn cũng được (Những công nhân này được gọi là Cà Đơ).
Dân Cà Đơ không lái được xe Heavy equipment, không biết chạy dây điện, cũng được trả ba bốn chục đồng một giờ. Tôi cũng thuộc diện Cà Đơ, nhưng may quá, được trả tới năm chục, nên khi cầm tấm check, nặng trĩu cả hai tay. Lần này, tôi cũng có dịp đi làm chung với nhạc sĩ Trần Chí Phúc. Không biết nhạc của anh ta hay tới đâu, nhưng giọng ngâm thơ của anh vang lên, lẫn trong tiếng suối nơi Highway 9, đã làm ruột gan tim phổi tôi lộn tùng phèo:

Vú em như cái chũm cau
Cho anh bóp cái, có đau anh đền.

Nơi đây, phiá Tây Bắc San Jose, giữa rừng thông cao vút, có con đường nhỏ dẫn vào một trang trại trồng nho, mà những gốc nho già gần hai trăm tuổi, lớn bằng bắp vế, có cơ sở làm rượu Savanah Winery và tasting room. Lúc chúng tôi vào phòng nếm rượu, đã có dăm ba người Mỹ đang uống rượu trong những ly chân cao. Người phụ nữ rót rượu tươi cười giải thích từng màu sắc của từng ly rượu và nói rằng mỗi người khách phải trả bảy đô la. Chúng tôi đồng ý và sau khi uống đến ly thứ ba là đã thấy chếnh choáng. Rượu vang tuy coi vậy, nhưng độ rượu cũng mạnh ra gì.

Không biết là tại vì thấy chúng tôi mặc áo màu vàng trông hem hễ quá, hay tại nhìn thấy ông Chí Phúc và tôi đẹp trai quá, mà cô bán rượu, sau cùng không tính tiền. (Vì đi chung với ông Chí Phúc, nên bạn bè gọi tôi là Chí Phèo). Số tiền rượu không phải trả, nếu đem mua bia, thì cả bọn uống cả tuần không hết.

Một hôm ủi đất kế bên mương nước, tôi bị giật mình vì con vịt trời vụt bay lên, khi nhìn trong đám cỏ có ổ trứng 12 cái. Tôi cũng chẳng muốn lấy trứng làm gì, nhưng nếu không dẹp ổ vịt qua một bên, thì không có chỗ mà làm. Hai con vịt cứ bơi qua, lội lại trên mương nước nên chúng tôi bảo nhau:

– Nếu không sợ bị phạt 500 đô, tụi mình vơ hai con vịt này về thì tối nay có tiết canh.

Ngồi nhìn hai con vịt, tôi lại nhớ tới ngày còn nhỏ (tôi có cái tật hay nhớ như vậy), ngồi làm vịt ở cầu ao, lúc làm bộ lòng, vì tính hay lơ đãng nên đàn cá lòng tong bu lại rỉa gần hết tôi mới nhớ ra, tức nổi xung lên, tôi cằm con dao phay chặt đại xuống mặt nước mấy phát, cả chục con cá đứt đôi nổi phều lên mặt nước. Cho đáng đời, ai biểu mày rỉa!

Hồi còn ở Orange County, có những cuối tuần tôi không biết đi đâu, làm gì cho qua ngày, nhưng những cuối tuần ở San Jose lại qua mau quá. Có lần, tôi được rủ đi đào ốc vòi voi ngoài cồn cát ở vùng vịnh San Francisco. Sáng thứ bảy, đoàn xe ba bốn chiếc nối đuôi nhau chạy lên hướng bắc. Tôi đi chiếc Ford F150 có kéo theo chiếc canô. Từ San Jose đến San Francisco cũng hơn một tiếng đồng hồ. Xe rời freeway để theo đường nhỏ ngoằn ngoèo qua những nông trại nuôi trừu. Những trảng cỏ non bên sườn núi xanh như ruộng mạ, có vài ba con nai đứng ngơ ngác hiền lành. Đến bờ biển, những người trong bọn chúng tôi chưa có license câu cá thì phải mua, tốn hơn mười đồng cho hai ngày. Khi cho tàu xuống bến rồi, chúng tôi phải chia ra làm ba toán để ra đảo cát mới đủ chỗ, vì tàu nhỏ.
Chiếc tàu chạy nhanh quá, nó phóng như bay trên mặt nước, chỉ 15 phút đã ra đến nơi. Anh trưởng đoàn giải thích:

– Ốc vòi voi, còn gọi là hến, là sò. Tiếng Mỹ gọi là Horse neck clam, mỗi con nặng hơn hai pound, có vòi lớn bằng nửa cổ tay và dài gần một gang. Nó nằm sâu dưới cát khoảng gần một thước Tây, cứ chỗ nào có cái lỗ cỡ bằng ngón tay, phọt nước ra, thì chắc chắn dưới đó có con hến… (Có tiếng cười khúc khích). Mỗi người được bắt mười con một ngày, nhưng chúng ta mà bắt được năm con là đã khá lắm rồi, vì mỗi con ngoài chợ bán cũng gần hai mươi đô la. Chúng tôi tản ra theo bốn toán, mỗi toán có một cái ống nhựa cứng, đường kính khoảng hai gang tay, và dài gần một thước, có hai dây quai để dễ kéo lên, trang bị thêm hai chiếc xẻng cán dài và mấy chiếc thùng đựng. Mỗi lần có bước chân động trên mặt cát, là những vòi nước lại phụt lên, lỗ hến đầy dẫy không thể đếm xuể.

Cồn cát này chìm dưới mặt nước cả năm, chỉ trong mấy tháng hè mới lộ ra vào những ngày con nước nhỏ, mà cũng chỉ trong mấy giờ mà thôi. Lúc nước triều lên, có nhiều người vì mải mê với sò, với hến, vô bờ không kịp nên suýt chết vì nước. (Nhưng không được gọi là hy sinh vì tổ quốc).

Đào sò là cả một nghệ thuật: Nhắm ngay cái lỗ, đào chừng vài ba xẻng cát, để cái ống vào rồi nhảy lên trên miệng ống mà nhún nhảy, để cho ống cắm sâu xuống cát. Tại sao lại phải dùng ống như vậy? Bởi vì nước với cát sẽ tràn lấp ngay sau khi ta nhấc xẻng lên, có cố gắng lắm cũng không thể đào sâu đến nửa thước. Vì có ống, nên khi móc cát phía bên trong ống, chúng ta chỉ cần ít phút là đã có thể sờ thấy vòi con hến rồi. Người không kinh nghiệm sẽ nắm lấy cái vòi mà kéo, nó thường đứt luôn, để laị nguyên con sò, mà con này rồi cũng sẽ chết vì cái vòi là bộ phận nó dùng để hút đồ ăn là phiêu sinh vật trong nước biển. Người đào cát phải biết khi nào nương tay, kẻo xẻng sẽ xén đứt luôn cái vòi voi của con sò, mà vòi này là chỗ ngon nhất.

Người đào đương nhiên mệt lắm, nhưng người “mò sò” còn mệt hơn, phải nằm dài xuống mặt cát, tay thọc sâu để rờ rẫm xem cái vòi nằm nơi đâu. Khi bàn tay đã nắm được cái vòi, ngón tay trỏ phải nong cát chung quanh vỏ sò ra cho rộng, rồi vừa kéo, vừa lắc mà rút ra. Có nhiều khi con sò ở sâu qúa, người mò sò chui cả đầu vào ống, chỉ còn hai chân loi choi trên mặt cát, nên không có thế để lên, phải la toáng lên thì đồng bạn mới biết mà kéo ra khỏi ống. Lúc anh mò sò thoát ra khỏi miệng ống, mặt mũi lấm lem, tay nắm chặt con sò, thế mà trên môi lại còn nở nụ cười tình, mặt tươi rói như ông dại sứ.

Có anh bạn trong bọn chúng tôi, đi tìm những chỗ có hai lỗ ở bên nhau mà đào, thành thử anh ta cứ bắt được mỗi lần một đôi tình nhân sò hến. Mới xế trưa, mà gió biển thổi mạnh qúa, những người ướt quần áo thì bắt đầu run vì lạnh. Chúng tôi đành ra về vì có lẽ mỗi người đã được cả chục con. Tôi đã từng nhìn thấy con hến vòi voi nhiều lần được bày bán trong siêu thị, nhưng nhìn nó tôi hơi nhờn nhợn nên chưa ăn thử bao giờ.

Buổi tối hôm ấy, là lần đầu tiên tôi ăn, mà laị ăn sống theo kiểu Sushi, tôi mơí thấy vị ngon ngọt của nó. Hèn chi người Tàu, người Nhật đi đào đông quá, nhưng họ được ít lắm, mỗi lần bắt được một con, cả bọn hò reo như đào được mỏ vàng. Còn bọn chúng tôi, nếu thả sức cho đào, có lẽ mỗi người sẽ được vài ba chục con, vì chúng tôi là chuyên viên đào mương, đào lỗ ngoài freeway của công ty Amland. Một công ty do người VN làm chủ lớn nhất (nói theo kiểu quảng cáo của những cơ sở thương mại VN), không những riêng ở Cali, mà còn trên toàn cõi Hoa Kỳ. Mà vì là công ty độc nhất, nên không có ai đứng hạng nhì. Sorry.

The mesmerizing beauty of Vietnam by Nguyen Vu Phuoc

Boredpanda

BuckBenn / 2016
Community member

Nguyễn Vũ Phước là một trong những nhiếp ảnh gia được nhiều người biết đến và yêu mến tại Việt Nam, là người đã giành được vô số giải thưởng tại quê hương và trên toàn cầu. Anh ấy vừa sung mãn vừa độc đáo, tác phẩm của anh ấy thuộc nhiều thể loại từ phim tài liệu đến du lịch đến nghệ thuật mỹ thuật, và tất cả mọi thứ ở giữa.

Nếu bạn thích những gì bạn thấy, xin lưu ý rằng bạn có thể tham gia Phước yêu thương vui vẻ, cùng với tay súng du lịch nổi tiếng David Lazar, cho một hội thảo du lịch ảnh Việt Nam độc quyền vào tháng 6 tới. Hiện tại, anh ấy rất vui và tự hào khi chia sẻ cái nhìn thoáng qua về phong cách và tầm nhìn của mình với Bored Pandas trên toàn thế giới!

Double Vision Fishing’

Umbrella Leaf – Red Dao Children

Nung Lady Rice Farmers in Hoang Su Phi

Quintessential

Cham Girl by Candlelight

The Good Sister – Saigon

Cham Pottery Maker

Champa Kids on the Dunes

Nung Ladies at Harvest Time

Rice Terraces in Legendary Ha Giang Province

Ao Dai Confidential

High School Girl in Mekong Taxi

Rice Farmer Tilling

Circle of Dreams

Lo Lo Family Walking – Northern Vietnam

Visions of Vietnam

The Salt Harvesters of Khanh Hoa Province

Dầu khuynh diệp bác sĩ Tín

Trang Nguyên

November 28th, 2020

Ngày nay dầu khuynh diệp bác sĩ Tín không còn nữa nhưng người dân miền Nam tuổi trung niên trở lên ai cũng nhớ đến cái mùi đặc trưng của loại dầu gió thông dụng này. Dầu trị nhiều chứng bệnh, cảm mạo, sổ mũi, đau nhức cơ bắp, ho, đau bụng, đau răng, trầy chảy máu, ngừa gió, ngừa ban cho trẻ em… Người thường dùng nhất là các bà già, phụ nữ sinh đẻ nên dầu khuynh diệp còn được gọi là “dầu bà đẻ”.

Bác sĩ Tín người đã tạo ra dầu khuynh diệp (Ảnh: Internet)  

Tôi chỉ mới biết “dầu bà đẻ” khi đem chuyện dầu gió ngày xưa ra trò chuyện với mấy ông bạn già. Những câu chuyện góp nhặt đây đó đánh thức ký ức của tôi thời còn bé. Nhớ lại, có lần ba tôi dẫn tôi đến Nhà bảo sanh Hoà Hưng thăm má tôi sanh thằng em út. Vừa bước vào cửa chính đã ngửi thấy nồng nực mùi dầu. Mùi khuynh diệp càng lúc càng nồng khi đi ngang qua các buồng sản phụ dọc theo hai bên. Hồi đó, tôi không để ý lắm cái mùi dầu khuynh diệp vì tủ thuốc trong nhà lúc nào cũng có vài ba chai dầu Nhị Thiên Ðường, dầu khuynh diệp bác sĩ Tín và hũ cù là Mac-Phsu phòng dùng khi cần thiết. Nhưng sau này, khi tôi có dịp ngửi lại mùi dầu khuynh diệp OPC hiệu mẹ bồng con (“hậu duệ” của dầu khuynh diệp bác sĩ Tín). Mùi không đậm bằng dầu gió ngày xưa nhưng tôi vẫn cảm thấy cái mùi thật thân thương và gần gũi!

Ba loại dầu gió này rất thông dụng trong từng gia đình. Mặc dù vậy, dầu khuynh diệp vẫn là loại dầu gió phổ biến nhất bởi công dụng của dầu trị nhiều thứ, kể cả nhức răng. Có lần tôi xúi thằng bạn hàng xóm có cái răng hàm bị sâu khoét một lỗ, nó cứ lấy tay bịt miệng, mặt mày nhăn nhó. Tôi bảo lấy cục bông gòn nhỏ se tròn lại nhúng vào dầu khuynh diệp nhét vào lỗ răng sâu. Nó làm theo đúng là hết thật. Té ra, dầu khuynh diệp hiệu nghiệm thiệt! Hồi đó, nhãn hiệu trên chai dầu khuynh diệp bác sĩ Tín không có ghi cách dùng nào nhưng sau này các loại dầu gió đều phải ghi trên nhãn hiệu “dùng ngoài da”.

Bác sĩ Tín, người sáng chế ra dầu khuynh diệp, tên thật là Bùi Thứ, sinh quán tại Quảng Nam. Ông kết hôn sớm với bà Nguyễn Thị Hoà, người cùng quê. Hồi đi học ông tham gia phong trào bãi khoá tại trường Quốc Học và tham gia lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh cũng như thường lui tới chùa Từ Ðàm, nơi giam lỏng nhà cách mạng Phan Bội Châu nên ông bị sở mật thám Pháp theo dõi ghi tên vào sổ đen. Kết quả là ông bị đuổi học. Sau khi rời Quốc Học, ông ra Hà Nội theo học tại trường Albert Sarraut và đổi tên thành Bùi Kiến Tín.

Ðỗ Tú tài Pháp, ông vào học tại Ðại học Luật khoa Hà Nội nhưng được học bổng sang Pháp học ngành Y. Tốt nghiệp bác sĩ, ông về nước cùng với những người bạn học là bác sĩ Trương Ðình Ngô, dược sĩ Trương Xuân Nam lập một cơ sở nghiên cứu bào chế Âu dược tại Quy Nhơn. Ông làm các loại thuốc ho, bổ huyết, thuốc trị táo bón. Bà Hòa tích cực tham gia cùng chồng ngay từ những ngày này. Bác sĩ Tín nói cần một cái nồi đồng thật lớn để nấu thuốc, bà liền nhận nhiệm vụ đi kiếm cho ra cái nồi như thế. Bà về quê, ngay lúc đám giỗ ở một nhà thuộc tộc Bùi thì gặp ông Bùi Thuyên, cha ruột nhà thơ Bùi Giáng. Nghe chuyện, ông Bùi Thuyên bèn cho mượn cái nồi khá to!

Lọ dầu khuynh diệp bác sĩ Tín luôn có mặt trong nhà của người miền Nam (Ảnh: Internet)

Bác sĩ Tín lại có duyên nợ với ngành Ðông Y nên khi cơ sở sản xuất thuốc dời vào Sài Gòn vào năm 1944, bác sĩ Tín đưa cả gia đình từ Quảng Nam vào lập nghiệp tại Sài Gòn và lập ra viện bào chế đông dược miền Nam tại Phú Lâm, gọi là nhà thuốc Bác Sĩ Tín. Và từ đó tạo lập nên thương hiệu “Dầu khuynh diệp bác sĩ Tín”. Dầu gió được bác sĩ Tín bào chế có công thức đặc biệt bao gồm các loại dầu tràm, dầu bạc hà, dầu hương nhu… và không thể thiếu tinh dầu khuynh diệp. Ðây là loại tinh dầu có mùi rất đặc trưng.

Ðể có được nguyên liệu tốt, năm 1954 ông mua một miếng đất rộng 30ha nằm dọc theo xa lộ Biên Hòa, bên tay phải từ Suối Tiên về Biên Hòa (đối diện Nghĩa Trang Quân Ðội) trồng cây khuynh diệp. Năm 1960, lứa khuynh diệp đầu tiên từ Pháp đưa về được trồng ngay tại đây. Rồi sau đó, ông dùng hạt giống của cây khuynh diệp đã trồng, ươm cây con để trồng trên hai trang trại mới mua rộng 40ha tại xã Lộc Châu, huyện Bảo Lộc, tỉnh Lâm Ðồng.

Tiến sĩ kinh tế Bùi Kiến Thành, trưởng nam của bác sĩ Tín, nói về tâm tư của cha mình khi dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đã gần như chiếm lĩnh thị trường miền Nam vào thuở thập niên 1960. Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ, ông đã nêu tinh thần dân tộc và mong muốn góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hùng mạnh. Ông ước ao làm sao 20 triệu dân hiện tại có sức khỏe tốt để nâng dân số lên 50 triệu cho đúng với tầm cỡ lãnh thổ? Dân Việt Nam lúc đó không có đủ tiền để mua thuốc Tây. Còn Ðông dược rất tốt nhưng sản xuất chưa đúng với phương pháp khoa học nên kém hiệu quả. Và ông muốn thay đổi thực tế này. Do đó bác sĩ Tín cho làm logo hình ảnh một anh lực sĩ nâng cả đất nước Việt Nam lên, bên dưới hình ảnh có ghi ba chữ “Ðại Cường Việt”. Logo này được in trên các nhãn hiệu sản phẩm dầu gió, dầu xoa bóp, dầu cù là.

“Với papa tôi, làm giàu không chỉ cho cá nhân ông mà còn là làm giàu cho đất nước, cho ích nước lợi dân. Thí dụ, khi papa tôi làm thuốc ho Bác sĩ Tín, ông đã có ý thức về chủ quyền với câu khẩu hiệu ‘uống thuốc ho Bác sĩ Tín thở không khí tự do’. Bán thuốc không chỉ để dân khỏe ra mà ông còn muốn xây dựng nhận thức, ý thức chủ quyền cho dân”.

Tiến sĩ Bùi Kiến Thành thời trẻ, trưởng nam của bác sĩ Tín cùng cha quản lý nhiều công ty tại Sài Gòn và các tỉnh (Ảnh: Internet)

Ông Thành nhớ lại: “Papa tôi đã mua một chiếc xe tải lớn, dài 7-8 mét nhưng không đóng thùng mà để lên đó một chiếc xe hơi Austin mới cáu cạnh. Gắn kèm chiếc xe là cái bảng to ghi: Giải thưởng Bác sĩ Tín. Ai mua dầu của BS Tín cũng được cho một con số kèm theo. Ði cùng với chiếc xe là đoàn múa lân đánh trống tùng tùng xèng. Xe chạy từ Nghệ An, Hà Tĩnh suốt cho tới Cà Mau. Một chiếc xe quá lạ lùng và tưng bừng như vậy bảo sao dừng ở bãi chợ nào, trẻ em, người lớn đều không xúm coi rần rần? Xổ số trúng thưởng sau đó được tổ chức rất nghiêm túc, ngoài xe hơi Austin còn có mấy chục giải phụ là xe đạp. Ðó là chiêu mà ông nghĩ ra để từ Nam chí Bắc, ai ai cũng biết đến dầu khuynh diệp bác sĩ Tín. Papa tôi đã mua mấy chục chiếc xe tải để đi khắp nơi quảng bá và bán tận tay tới người dân. Mỗi năm có khoảng 20 triệu chai dầu khuynh diệp được bán ra”.

Trong một bài viết tưởng nhớ bác sĩ Tín đăng trên facebook của Ban Tu chính phổ hệ Bùi Kiến Tiến – Bùi Kiến Quang rằng, bác sĩ Tín tham gia nội các của Thủ tướng Ngô Ðình Diệm hồi năm 1954. Ông giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Thông tin. Nhưng sau khi Ðệ Nhất Cộng Hoà được thiết lập, ông từ bỏ tham chính và được phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung tá làm việc tại Huế và Cà Mau một thời gian. Sau đó ông được giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng thống và Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống (1960). Năm 1969, ông ra tranh cử Dân biểu Quốc hội nhưng thua phiếu Luật sư Trần Văn Tuyên. Kể từ đó ông chú tâm vào việc kinh doanh, công tác xã hội và tôn giáo.

Thành công trong lĩnh vực đông y dược, bác sĩ Tín lấn sân sang các ngành nghề kinh doanh khác như kỹ nghệ, tài chánh và xây dựng. Ông cùng với trưởng nam Bùi Kiến Thành đồng sáng lập Công ty sản xuất bình điện Prestolite của thương hiệu ắc-quy Autolite thuộc hãng xe Ford của Mỹ nhượng quyền; thành lập Ðông Phương Ngân hàng và Việt Nam Công Thương Ngân hàng tại Sài Gòn; thành lập Công ty địa ốc Tân Ba, khai thác cát tinh bán cho Nhật, sản xuất muối Cà Ná; mở Công ty Nông nghiệp Khánh Hoà thu mua cơm dừa bán cho các cơ sở làm xà bông. Ông cùng các con lập ra Viện Bào chế Tiandi ở Chợ Lớn và Viện bào chế Hana tại đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận. Không những dừng lại đó, ông còn có ý tưởng xây dựng khu Disney Land tại Biên Hoà giống như bên Mỹ, rộng 290ha. Tiếc rằng ý tưởng của ông phải dừng lại vào năm 1975 khi Sài Gòn thất thủ. Ông cùng gia đình di tản sang Pháp.

Ông mất vào năm 1994, thọ 83 tuổi. Tuy thế, dư âm của dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đến nay vẫn còn sống mãi trong ký ức người dân Sài Gòn.

Dầu gió “trị bá bệnh”

December 17th, 2020

Trang Nguyên

Dầu Nhị Thiên Đường làm mưa làm gió suốt một thời gian dài,  cho đến khi dầu khuynh diệp bác sĩ Tín đứng vững trên thị trường từ thập niên 1950 và trở thành đối thủ xứng tầm. Cả hai đều được dân chúng ủng hộ và trở thành dầu gió thông dụng trong đời sống hằng ngày. Với dầu gió bác sĩ Tín được mệnh danh là “dầu bà đẻ”, còn Nhị Thiên Đường là dầu “trị bá bệnh” một thời.

Quảng cáo dầu gió Nhị Thiên Đường ngày xưa (Ảnh: Internet)   

Do quá tín nhiệm dầu gió Nhị Thiên Ðường nên người dân cho rằng nó “trị bá bệnh”. Thật ra cả hai loại dầu nói trên đều trị những bệnh thông thường nhức đầu sổ mũi. Ðau đầu thì xoa hai bên thái dương, đau bụng xoa lên bụng, sổ mũi thoa lên hai lỗ mũi, ho khục khặc thì xức dầu lên cổ. Thậm chí cảm thấy ớn lạnh nhỏ vài giọt dầu vào nồi nước sôi, trùm mền xông hơi mồ hôi ra như tắm thấy hồi phục lại ngay, trầy da chảy máu lấy dầu thoa lên như loại thuốc sát trùng. Chai dầu gió lúc nào cũng có trong nhà, trong túi áo mấy bà, mấy chị, hễ thấy người khó chịu cứ xoa dầu, cạo gió là xong. Buồn buồn lấy chai dầu ra xức lên thái dương, cổ họng để giữ cơ thể cho ấm, riết thành thói quen. Ngồi gần mấy bà già trầu ngồi trên xe thổ mộ hay xe lam chật chội, mùi dầu gió nồng nặc trong xe nhưng cũng cảm thấy dễ chịu hơn mùi dầu khói của xe lam xả mịt mù.

Trước khi có các loại dầu gió, người Việt mình hay dùng dầu cù là Mac Phsu. Nhớ hồi nhỏ tụi tôi chơi trò chi chi chành chành, cải biên lời ca đồng dao thành “Bòn bon si-cu-la, bánh tây sữa hột gà, dầu cù là mác-su” dù rằng thuở đó, dầu gió Nhị Thiên Ðường, rồi dầu khuynh diệp đã phổ biến khắp nơi. Người dân vẫn dùng cả ba loại dầu gió nhưng dầu nước  thuận tiện hơn dầu cù là thoa lên người thấy nhớp nháp. Dầu Nhị Thiên Ðường có màu nâu đỏ, nhãn hiệu cầu chứng là hình Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.

Còn một lời đồng dao vui nhắc đến dầu Nhị Thiên Ðường mà tôi tin rằng các vị tuổi trung niên đều biết: Nhất dương chỉ, Nhị thiên đường, Tam tông miếu, Tứ đổ tường, Ngũ vị hương, Lục tàu xá. Nói chung là trộn lẫn hằm bà lằng xá cấu, chỉ có món chè Lục tàu xá là ngon thôi.

Đường Triệu Quang Phục Chợ Lớn nơi có nhà thuốc Nhị Thiên Đường (Nguồn: Manhhaiflickr)

Trong cuốn Phê bình và cảo luận, nhà phê bình Thiếu Sơn viết: “Lần đầu tiên tôi được đọc cụ Hồ Biểu Chánh trong một cuốn sách quảng cáo của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường. Tôi để ý tới tiểu thuyết của cụ rồi kiếm coi ở loại sách như những truyện Tàu in xấu, để giá 4 cắc mà luôn luôn bán dưới giá đó…”.

Xem ra ngoài các quảng cáo báo chí thông thường, nhà thuốc Nhị Thiên Ðường còn có sáng kiến tạo ra cách quảng cáo độc đáo để sản phẩm dầu gió được công chúng bình dân biết đến rộng rãi.

Tác giả Phạm Trường Giang ghi nhận: “Ðể quảng bá nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường, ông chủ đã chọn cách khá độc đáo. Ðó là thay vì đăng quảng cáo trên sách, báo thì ông ta thuê một số trí thức viết ra các bộ sách quảng cáo bằng chữ Quốc ngữ, luôn cả chữ Pháp và Hán tự, gọi là Vệ sinh chỉ nam. Trong cuốn sách này in đầy hình ảnh và chữ quảng cáo cho các cao đơn hoàn tán của Nhị Thiên Ðường, đồng thời in kèm vào trong đó các loại thơ văn để người mua có thể đọc thêm. Chẳng hạn bên cạnh quảng cáo dầu cù là Ông Tiên là trích đoạn thơ Lục Vân Tiên, bên cạnh nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường là từng phần Nghĩa hiệp kỳ duyên, bộ truyện tình cực kỳ ăn khách về mối tình Việt – Khmer lúc đó của Nguyễn Chánh Sắt hay còn gọi Chăn Cà Mum (tên nhân vật chính). Nhiều khi khách đang đọc quảng cáo thuốc xổ lãi thì được đọc thêm Hậu chàng Lía, hay các mối tình uyên ương ly hận của Hồ Biểu Chánh… Vì sao nhà văn Hồ Biểu Chánh không muốn in sách đẹp? Vì ông biết nếu sách in đẹp sẽ phải bán mắc và như vậy sẽ không đến được tay những độc giả bình dân thân thiết của ông. Chính nhờ những cuốn sách quảng cáo giá rẻ, in xấu như Vệ sinh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường mà văn chương chữ Quốc ngữ bình dân giai đoạn đó đã cực kỳ phong phú và phổ biến rộng khắp trong tầng lớp dân chúng…”.

Cầu Nhị Thiên Đường xây xong năm 1925 (Nguồn:Manhhaiflickr)

Dầu Nhị Thiên Ðường do gia đình họ Vi người Quảng Ðông sang Chợ Lớn sáng lập. Không thấy tài liệu ghi nhà thuốc Nhị Thiên Ðường thành lập năm nào, chỉ biết ngoài dầu gió, nhà thuốc còn làm ra các loại đông dược trị các loại bệnh, đặc biệt là ngoại cảm tán, một loại thuốc trị cảm rất hiệu nghiệm, bán rất chạy, thậm chí cả thương hàn. Trong cuốn niên giám Ðông Dương 1933-1934 còn ghi lại: Nhị Thiên Ðường Pharmacie asiatique 47 rue de Canton (Triệu Quang Phục), Telephone no 58 Directeur Vi-Khai Chợ Lớn.

Ngược dòng thời gian về mấy chục năm trước nữa, trên địa bàn quận 5, Chợ Lớn (nay thuộc quận 8) điểm nguồn của quốc lộ 50 Long An đã có một cây cầu gỗ bắc ngang kênh Ðôi cho người dân qua lại. Ðến năm 1925, nhà thầu Vallois-Perret xây một cây cầu bê tông, trang trí hai bên ban công bằng những trụ đèn bằng sắt và từ đó cây cầu được đặt tên chính thức là cầu Nhị Thiên Ðường.

Theo những người dân cố cựu tại khu vực này thì, cây cầu gỗ hồi đó không có tên, do nhà thuốc Nhị Thiên Ðường dựng lên để thông thương hai bờ cho người dân dễ đi lại. Từ đó mà thành tên.

Dấu ấn còn lại của nhà thuốc Nhị Thiên Đường (Ảnh: Nguyễn Minh Vũ)

Theo ghi nhận của tác giả Phạm Trường Giang đăng trên báo Pháp Luật thì “nhà máy sản xuất thuốc và dầu Nhị Thiên Ðường nằm ở bên phía đường Trần Hưng Ðạo và Nguyễn Văn Dũng, còn công nhân thì ở khu vực ngoại thành phía bên kia kênh Ðôi. Hằng ngày để đi đến chỗ làm các công nhân đều phải đi đò qua kênh Ðôi rất mất thời gian và nguy hiểm. Ông chủ Nhị Thiên Ðường quyết định bỏ tiền cùng với chính phủ Nam Kỳ lúc đó xây nên cây cầu này làm việc thiện cho dân chúng thuận tiện đi lại, trong đó có các công nhân của ông. Cũng có giai thoại cho rằng khi xây cầu, chính phủ Nam Kỳ vận động ông chủ Nhị Thiên Ðường ủng hộ một phần tiền để đổi lấy việc đặt tên cầu chứ không phải toàn bộ kinh phí xây cầu vì số tiền này rất lớn. Cũng có một giai thoại khác là kinh phí xây cầu đều do chính phủ Nam Kỳ lúc đó bỏ ra. Do ở gần ngay nơi chân cầu vốn có một dãy nhà kho lớn là nơi chứa gạo và sản phẩm của dầu Nhị Thiên Ðường, được dân chúng gọi là kho Nhị Thiên Ðường nên khi xây cầu xong, người ta lấy luôn tên Nhị Thiên Ðường đặt cho cây cầu. Không rõ trong các giai thoại trên cái nào là chính xác nhưng chắc chắn là đều có liên quan đến nhãn hiệu Nhị Thiên Ðường”.

Sau 1975, dầu Nhị Thiên Ðường ngừng hoạt động. Dòng họ Vi ra định cư nước ngoài và tiếp tục sản xuất dầu gió “trị bá bệnh”. Những năm sau đó, trong nước xuất hiện lại dầu gió Nhị Thiên Ðường nhưng là hàng giả mạo.

Công dụng của những “Thủy đài nấm” – di sản đã mất của Sài Gòn trước năm 1975

2019/11/07 

in Saigon xưa

Đông Kha nhacxua.vn

Nhiều người có lẽ đã rất quen hình ảnh tháp nước hình nấm này ở Sài Gòn đã có từ trước năm 1975, nhưng không phải ai cũng biết tác dụng điều tiết nước của những “thủy đài nấm” này. Đến năm 2017, hầu hết các thủy đài đã bị đập bỏ.

Ở Sài Gòn có tổng cộng 8 thủy đài hình nấm được xây dựng trước năm 75 là ở đường Hồ Văn Huê (Phú Nhuận), Nguyễn Văn Đậu (Bình Thạnh), Ba Tháng Hai (quận 10), Hoàng Diệu (quận 4), Nguyễn Thái Sơn (Gò Vấp), Võ Văn Kiệt (quận 5), Phạm Phú Thứ (quận 6), Nguyễn Văn Tráng (quận 1).

Những thủy đài cao khoảng 30m, có kết cấu bê tông cốt thép với dung tích 1.200 m3 đến 8.500 m3, được xây dựng trước năm 1975 với mục đích là để điều tiết áp lực nước từ nhà máy nước ở Thủ Đức cấp cho Sài Gòn – Gia Định.

Phía dưới những thủy đài này được xây tường kín hay là những khung cột bê tông cốt thép đỡ bồn nước hình tròn bên trên. Không gian khu vực thủy đài thường rất rộng để đảm bảo an toàn khi thủy đài vận hành. Vị trí của các thủy đài cho biết mật độ dân cư ở đó khá tập trung, nhu cầu nước sạch lớn nên cần có “áp lực” mạnh và khối lượng lớn để cung cấp.

Tuy nhiên có một điều ít người biết là dù được xây dựng từ rất lâu nhưng những thủy đài hình nấm này chưa bao giờ được sử dụng.

Lý do theo một số người nói là vì các công trình này vừa được xây xong thì xảy ra biến cố 1975 nên bị bỏ hoang cho đến khi bị đập bỏ. Một nguồn tin khác nói rằng thủy đài được xây trong thời gian 1966-1969, nhưng không được đưa vào sử dụng vì bị cho là rò rỉ nước khi thử nghiệm. Công tác khắc phục kéo dài đến năm 1975 vẫn chưa hoàn thành do tình hình chĭến cuộc căng thẳng. Có thể giả thiết đầu tiên đúng hơn, vì trong các hình ảnh Sài Gòn trước năm 75, hiếm thấy có hình ảnh của thủy đài nấm, ngoài tấm hình dưới đây.

Bên trên là hình tháp nước đang được xây dựng, nằm ở vị trí Trần Quốc Toản – Lê Đại Hành (nay là đường 3 Tháng 2 – Lê Đại Hành). Còn hình bên dưới là lúc đã hoàn thành, nằm kế bên cây xăng Phú Thọ.

Công dụng

Như vậy, nếu như hoạt động được thì các thủy đài hình nấm này sẽ có công dụng và chức năng như thế nào? Nhiều người sẽ biết câu trả lời, đó là để chứa nước, nhưng không hẳn chỉ là như vậy, nó còn có chức năng điều tiết áp lực. Theo thiết kế, thủy đài được xây dựng để điều áp nguồn nước sinh hoạt. Buổi tối, khi người dân ít sử dụng sẽ dư ra lượng nước lớn, phần nước đó sẽ tự động bơm lên các thủy đài. Còn ban ngày dùng nhiều, thủy đài sẽ tự động mở van để bơm nước trở lại vào mạng lưới cung cấp.

Nguyên tắc hoạt động của thủy đài được giải thích bằng hình vẽ dưới đây:

1. Nước được bơm lên thủy đài
2. Nước được trữ lại
3. Nước được phân phối cho các nơi sử dụng bằng động năng. Vì vậy kể cả khi cúp điện thì người dân vẫn dùng được nước.

Tháp nước trên đường Thuận Kiều thập niên 1920

Quay ngược về quá khứ, từ năm 1886,, người Pháp đã xây những thủy đài, đơn thuần là để chứa nước, với nhà máy nước đặt ở khu vực Hồ Con Rùa (này nay là Công ty Cấp nước Sài Gòn – Sawaco). Nước được bơm thủ công lên bể chứa từ các giếng cạn gần đó để phục vụ cho các công sở, nhà các quan chức Pháp cùng một ít dân cư người Việt khá giả tại khu vực trung tâm Sài Gòn khi ấy chỉ lèo tèo vài con đường đất.

Tháp nước và nhà máy nước khu vực Hồ Con Rùa vào thập niên 1920

Tuy nhiên những tháp nước này có thể tích hạn chế chỉ cấp nước được với quy mô nhỏ. Khi dân số Sài Gòn tăng lên, người Pháp mới bắt đầu cho xây các phông-tên công cộng dọc theo các con phố chính để người dân đến lấy nước sinh họat. Những phông-tên này chính là các giếng khoan trực tiếp do công ty Société Layne France et Cie khảo sát và khoan thẳng vào tầng nước ngầm sâu trên trăm mét.

Cho đến thập niên 1960 các phông-tên nước này ở Sài Gòn mới lùi dần vào quá khứ, khi chính quyền bắt đầu xây dựng nhà máy nước với các đường ống đi tận vào từng nhà. Nhà máy nước Thủ Đức được khánh thành vào ngày 12 tháng 12 năm 1966, nằm ở khu vực Linh Trung hiện nay, cung cấp 90% nhu cầu nước máy sinh hoạt của thủ đô Sài Gòn.

Lắp đường ống để cung cấp nước cho Sài Gòn vào năm 1966

Tuy nhiên nước được dẫn từ Thủ Đức vào trong nội thành, nên áp lực nước sẽ yếu. Vì vậy, chính quyền đã xây dựng hàng chục “thủy đài nấm” chung quanh thành phố nhằm điều áp lưu lượng nước chảy đến đường ống của tất cả các khu vực dân cư ở xa sau khi nhà máy nước Thủ Ðức hoàn thành. Đó chỉnh là các “thủy đài nấm” được nhắc đến trong bài này. Do đó, các thủy đài này không đơn thuần là để chứa nước, mà là để điều tiết áp lực cho nước máy sinh hoạt.

Xin lưu ý, thủy đài nấm này có công năng khác với “tháp điều áp” (tháp cắt áp) ở đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) như đã nhắc đến trong bài trước. Khi nước từ nhà máy bơm vào đường ống lớn, áp lực nước sẽ được tháp này điều tiết, giảm xuống, trước khi nguồn nước này hòa vào mạng lưới đường ống nhỏ hơn. Mục đích là để tránh áp lực nước quá lớn làm bể ổng dẫn nước.

Còn thủy đài nấm là để điều tiết lực nước trước khi dẫn vào từng gia đình như đã giải thích bằng hình ảnh ở bên trên.

Phá bỏ

Năm 2017, chính quyền đã cho gỡ bỏ các thủy đài này. Khi thi công tháo dỡ, người ta thấy rằng các thủy đài này được xây dựng rất kiên cố với bê tông cốt thép nên quá trình tháo dỡ mất rất nhiều thời gian, chậm tiến độ. Một cán bộ giám sát tháo dỡ nói: “Phần nắp thủy đài, nhất là phần vành nắp là nơi khó tháo dỡ nhất và hầu như chỉ thi công thủ công. Do đó, công trình có phần chậm tiến độ so với thời gian đề ra”.

Qua quan sát, phần mái thủy đài được làm bằng bê tông lưới thép kiên cố. Công nhân phải dùng búa tạ đập liên tiếp khoảng 4 lần vào một điểm, mảnh bê tông mới vỡ ra lộ khung lưới thép. “Công trình này làm quá kiên cố, hơn 10 anh em chúng tôi đập và khoan liên tục trong 3 ngày qua nhưng chưa giải quyết xong phần mái thủy đài. Hy vọng, ngày mai chúng tôi sẽ quyết xong phần mái và tiến hành căng lưới tháo dỡ phần thân thủy đài” – một công nhân chia sẻ.

Chia tay một ký ức

Những thủy đài nấm này bị phá bỏ từ năm 2017 để lại nhiều lưu luyến và tiếc nuối cho người Sài Gòn. Những ý kiến sau được tổng hợp từ báo Tuổi Trẻ:

Dương Ngọc Khoa – một người Sài Gòn nhập cư – chia sẻ: “Mỗi lần đi qua tháp nước nào đó tôi lại nhớ cái cảm giác… ngồ ngộ khi tôi trông thấy “cây nấm khổng lồ” lần đầu. Giờ nghe tin nó bị tháo dỡ tôi cũng có cảm giác như phải chia tay một ký ức”.

Còn họa sĩ Uyên Huy – một người Sài Gòn gốc – thổ lộ: “Có chút gì đó hụt hẫng, luyến tiếc. Những thủy đài thời Pháp, Mỹ để lại không xấu, thậm chí nhìn nó cũng thấy lạ, thấy vui mắt. Nhưng nếu để lâu, không bảo dưỡng thì không an toàn, nên nếu buộc tháo dỡ thì theo tôi cũng hợp lẽ thôi.

Tôi cũng cảm thấy tiếc, giá như có những ý tưởng cải tạo những thủy đài này thành nhà hàng, quán cà phê… hay công trình văn hóa gì đó thì hay, nhưng chúng ta không có những ý tưởng đó”.

Đồng quan điểm với họa sĩ Uyên Huy, TS Quách Thu Nguyệt bộc bạch: “Với tôi và thế hệ chúng tôi, những thủy đài ở Sài Gòn là một phần ký ức của đời sống đô thị.

Mỗi lần đi ngang thủy đài trên đường Hồ Văn Huê, tôi vẫn thấy trong lòng gợn lên những cảm xúc gần gũi và như điều gì đó rất riêng rất thiêng liêng với thành phố này.

Nó là cái hồn của Sài Gòn xưa.

Quan điểm của thành phố là dẹp hết các thủy đài, chỉ giữ lại một cái thôi. Nhưng theo tôi, nhìn từ tình cảm của tôi, nếu giữ được thêm thì rất tốt. Thực ra thủy đài cũng là một biểu trưng của thành phố, là hình ảnh có tính công nghiệp, đánh dấu sự trưởng thành của đô thị Sài Gòn trong việc kiến tạo tiện ích sinh hoạt cho người dân”.

TS Vũ Thế Long (ủy viên ban chấp hành Hiệp hội UNESCO TP Hà Nội):

“Lần đầu vào Sài Gòn, tôi rất tò mò khi trông thấy những thủy đài. Những thủy đài đó là kiến trúc của một thời đại, mang trong đó nhiều giá trị.

Mỗi TP đều có bề dày và sức sống lịch sử cùng sự phát triển tất yếu. Nhưng nếu phát triển mà xóa đi các giá trị của lịch sử thì đô thị sẽ bị “què quặt”.

Tôi phản đối chuyện phá hủy vô tội vạ, nhưng cũng không đồng tình công trình nào cũ cũng phải giữ lại. Vậy nên trước khi phá hủy công trình cũ/cổ nào đó, cần phải có những cuộc hội thảo, lấy ý kiến tham góp của các nhà khoa học và cộng đồng.

Những kiến trúc công nghiệp thời thực dân cũ là những giá trị thu hút khách du lịch. Nếu Sài Gòn đánh mất những giá trị ấy thì sẽ giảm đi sức hấp dẫn của thành phố.

Như tháp nước Hàng Đậu ở Hà Nội có thể coi là những chiếc cúc vàng trên chiếc áo đẹp là tổng thể kiến trúc Pháp khu vực quanh đó như những tòa nhà, biệt thự Pháp, cầu Long Biên… Nếu phá bỏ tháp nước Hàng Đậu thì khu vực quanh đó cũng như chiếc áo bị mất cúc.”

Mời các bạn cùng nhìn lại những hình ảnh quen thuộc với người Sài Gòn, nay đã không còn nữa. Nguồn ảnh từ trang zing.vn:

A fishing boat called Freedom: the story of Tu Do

Museum

Posted on 30 Apr 2015 by Kim Tao

Vào ngày 21 tháng 11 năm 1977, một nhiếp ảnh gia làm việc cho Chính phủ Úc, Michael Jensen, đã ghi lại một khoảnh khắc trong lịch sử khi sáu chiếc thuyền tị nạn của Việt Nam cập cảng Darwin trong một ngày. Năm 1990, Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc đã mua một trong những chiếc thuyền này, Tự Do, để khám phá những gì vào thời điểm đó là một trong những chủ đề quan trọng nhất trong lịch sử hàng hải Úc – sự xuất hiện của những người tị nạn trên biển và người tị nạn. Vào năm 2012, sau một chương trình phục hồi kéo dài gần một thập kỷ, cuối cùng bảo tàng đã đưa Tu Do trở lại cấu hình được ghi lại trong các bức ảnh của Jensen, khi con tàu chở 31 người tị nạn, bao gồm chủ cửa hàng Nam Việt Nam Tân Thành Lu và gia đình trẻ của anh ta tự do.

Vietnamese refugee boats PK3402 and Tu Do in Darwin, 1977. Photograph by Michael Jensen. ANMM Collection

Dự án Tự Do đã mang lại một nghiên cứu trường hợp cá nhân hấp dẫn về một nhóm người tị nạn. Nhưng nó cũng cung cấp một trường hợp nghiên cứu thú vị không kém về những thách thức độc đáo mà các bảo tàng phải đối mặt với các vật thể làm việc lớn như thuyền. Chúng bao gồm từ những thách thức thực tế của việc tìm nguồn cung ứng vật liệu và học các kỹ thuật đóng thuyền truyền thống, cho đến các cuộc tranh luận về khái niệm về bảo tồn và phục hồi, đặc biệt đối với các vật thể không được chế tạo để đứng trước thử thách của thời gian.

Trốn thoát khỏi Việt Nam

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc với sự sụp đổ của Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn một triệu người tị nạn đã rời khỏi chế độ cộng sản mới bằng một trong những con đường duy nhất có sẵn – trên biển mở. Hầu hết trốn thoát đến các trại tị nạn quá đông đúc ở các nước châu Á lân cận, nơi họ đang chờ tái định cư ở những nơi như Úc, Hoa Kỳ và Canada. Một số nhỏ – 2.059 người – đã trực tiếp đến Úc bằng thuyền trong khoảng năm 1976 đến 1981. Nhiều người khác đã chết vì cố gắng.

Lu family on the deck of Tu Do in Darwin, 1977. Left to right: Tan Lu (in white shirt), daughters Dzung and Dao (standing and sitting on hatch) and wife Tuyet (in spotted shirt). Photograph by Michael Jensen, ANMM Collection

Tan Lu, ba mươi tuổi, đã chiến đấu với Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam và biết rằng gia đình ông phải đối mặt với một tương lai không chắc chắn dưới chế độ cộng sản. Năm 1975, ông đã hợp tác tài nguyên với ba người bạn trên đảo phía nam Phú Quốc và đóng một chiếc thuyền đánh cá mà ông gọi là Tự Do (Tự do) đặc biệt để trốn thoát khỏi Việt Nam. Khi làm như vậy, ông sẽ trở thành một trong những cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử hiện đại – cuộc di cư của thuyền nhân Việt Nam.

Anh gọi chiếc thuyền đánh cá của mình là ‘Tu Do’, có nghĩa là ‘Tự do’ trong tiếng Việt

Tân đã xây dựng Tự Do theo thiết kế của một chiếc thuyền đánh cá kéo lưới đặc trưng của vùng đảo, dài 18,25 mét với một cột buồm về phía trước và một cabin và buồng lái phía sau. Ban đầu, ông sử dụng thuyền để câu cá để đánh lạc hướng sự nghi ngờ của chính quyền và giúp trả tiền cho các nguồn cung cấp quan trọng như thực phẩm, nhiên liệu diesel và động cơ dự phòng.

Trước khi khởi hành vào tháng 9 năm 1977, Tan đã tổ chức một thay đổi động cơ để việc giám sát của Tu Do được thư giãn. Anh đã lắp đặt động cơ thay thế mạnh hơn và nhóm 38 hành khách của mình, bao gồm vợ mang thai Tuyết (27), con gái Dzung (6) và Dao (4), con trai Mo (2), và người thân, bạn bè và hàng xóm, lên đường trong đêm. Những đứa trẻ đã được cho uống thuốc ho để giữ im lặng, nhưng khi chúng đến được vùng nước sâu hơn, một người đứng đầu tiết lộ rằng Dzung đã bị bỏ lại ngủ trên bờ. Họ quay trở lại tìm cô và chuyến đi bắt đầu.

Với vàng và tiền mặt được giấu kín về con tàu, Tự Do đã vượt qua vùng biển có hải tặc khét tiếng ở Vịnh Thái Lan và đổ bộ vào Mersing, Malaysia, nơi tám hành khách kiệt sức được phép rời khỏi nơi tị nạn. Tan có người thân ở Hoa Kỳ, nhưng sau nhiều tuần đàm phán bực bội với các quan chức Di trú Hoa Kỳ, anh đã chọn đi thuyền tới Úc với 30 hành khách còn lại. Ra khỏi Flores ở Indonesia, họ đã giải cứu một chiếc thuyền tị nạn khác, PK3402, bị mắc cạn và kéo nó qua biển Timor. Những chiếc thuyền cập cảng gần Darwin, Lãnh thổ phía Bắc, vào ngày 21 tháng 11 năm 1977. Tan và nhóm của anh ta đã điều hướng hơn 6.000 km bằng một la bàn đơn giản và một bản đồ bị rách từ nắp bàn học. Gia đình Lu được chuyển đến Wacol Migrant Hostel ở Brisbane, Queensland, nơi Tuyết sinh hạ một đứa con trai, Quốc. Gia đình đã được cấp hồ sơ tị nạn sau sáu tháng.

Tu Do arrives in Sydney, 1990. Photograph by Jenni Carter/Australian National Maritime Museum

Vào năm 1978, khi còn ở Wacol, Tan đã sắp xếp bán Tu Do cho một người dân địa phương Darwin, sau đó bán nó cho một người đàn ông ở Cairns vào năm 1985. Cả hai chủ sở hữu đã sửa đổi nhỏ cho con tàu, như tháo mái và tời, lắp đường ray và chỗ ngồi và vẽ lên sơ đồ màu xanh da trời đơn giản của nó, mà Tan ban đầu đã chọn để hòa mình vào đại dương. Tuy nhiên, cấu trúc thân tàu, boong tàu và cabin vẫn còn nguyên vẹn vào thời điểm tàu ​​đến Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc năm 1990.

Posted on 30 Apr 2015 by Kim Tao

Năm 2003, nhân viên bảo tàng đã hoàn thành Kế hoạch quản lý tàu đầu tiên cho Tự Do và bắt đầu một chương trình khôi phục tàu trở lại vào năm 1977 – giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử thuyền nhân. Đó là khoảng thời gian này, chúng tôi nhận được tin bi thảm rằng Tan Lu đã chết trong một chuyến công tác đến Việt Nam. Chương trình phục hồi còn mang một ý nghĩa lớn hơn – nó trở thành một cách bảo tồn di sản Tân Lu cũng như ghi lại sự xuất hiện của thuyền nhân Đông Dương đầu tiên vào cuối những năm 1970.

Đây là một thời kỳ thay đổi xã hội lớn ở Úc. Người Việt Nam ban đầu nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ chính quyền Úc và sự xuất hiện của họ trùng hợp với những thay đổi lớn trong luật nhập cư, bao gồm cả việc dỡ bỏ chính sách Úc da trắng đã có từ năm 1901. Tu Do cung cấp một sự tương phản thú vị với con thuyền trái phép gần đây đến Úc, nơi đã góp phần vào một nền văn hóa sợ hãi ngày càng tăng trong cả các diễn ngôn chính trị và công cộng. Tàu cá khiêm tốn này vẫn là một phương tiện mạnh mẽ mà qua đó chúng ta có thể kiểm tra các cuộc tranh luận về nhập cư trong quá khứ và hiện tại là một phần trung tâm của lịch sử hàng hải của chúng ta.

Shipwrights Michael Whetters and Ron McJannett during extensive conservation and repair work to Tu Do’s hull, 2004. Photograph by Andrew Frolows/Australian National Maritime Museum

Chương trình phục hồi Tự Do được phát triển bởi một nhóm bao gồm các nhân viên quản lý và bảo tồn, cùng với các nhân viên của bộ phận bảo tàng, có nhiệm vụ quan trọng (và rất lớn) trong việc duy trì bộ sưu tập nổi của chúng tôi – một trong những thách thức lớn nhất và lớn nhất bảo tàng hàng hải trên thế giới. Chương trình Tu Do được củng cố bằng nghiên cứu sâu rộng về xây dựng thuyền đánh cá Việt Nam và phục hồi thuyền gỗ, cũng như lịch sử và thảo luận với gia đình Lu, các cuộc phỏng vấn với các chủ sở hữu tiếp theo, và những bức ảnh của Michael Jensen, về To Do đến Darwin năm 1977.

Giai đoạn đầu tiên của chương trình (2003 2015) liên quan đến việc sửa chữa và ổn định tàu, trong khi cố gắng giữ lại càng nhiều vải gốc càng tốt. Nhà xe của Tu Do, đã được gỡ bỏ để tăng cường trên bờ, dưới vỏ bọc, và động cơ diesel Jinil mạnh mẽ đã được lắp đặt để vượt qua cướp biển đã được khôi phục với các bộ phận có nguồn gốc ở Hàn Quốc hoặc được sản xuất bởi các tàu đóng bảo tàng.

Các nhà đóng tàu cũng đã loại bỏ boong tàu Tu Do để truy cập cấu trúc thân tàu của nó và thay thế các phần bị hư hỏng của khung và ván bằng gỗ cứng Úc, có đặc tính tương tự như gỗ gốc Đông Nam Á. Đóng tàu sử dụng các kỹ thuật phù hợp với các kỹ thuật của người xây dựng và thời đại xây dựng của nó, chẳng hạn như sử dụng trunnels (chốt gỗ) thay vì đinh. Khi cấu trúc bên trong đã phát ra tiếng ván sàn, động cơ và buồng lái được khôi phục đã được cài đặt lại, khiến Tu Do trở thành chiếc thuyền tị nạn duy nhất hoạt động đầy đủ được hiển thị trên mặt nước ở Úc.

The Lu family back on-board Tu Do, 2005. Left to right: Mo, Dzung, Dao, Tuyet and Quoc Lu. Photograph by Andrew Frolows/Australian National Maritime Museum

Tái thiết và sơn lại

Giai đoạn thứ hai (20091212) liên quan đến việc tái thiết và sơn lại, và phụ thuộc rất nhiều vào các bằng chứng hình ảnh trong các bức ảnh của Jensen. Các yếu tố có thể nhận dạng trong các bức ảnh bao gồm một mái hiên trên boong, được hỗ trợ giữa cột buồm và cabin bằng một chùm, cành cây và cọc tre; rào chắn gỗ tạm thời ở phía cảng của tàu; một tời kéo trên đỉnh cabin; và một nhà vệ sinh ván rất chắc chắn ở đuôi tàu – không gì khác hơn là một cái bục gỗ nhỏ được bao quanh bởi một bao tải hessian cho sự riêng tư.

Tu Do revisions to suit the vessel’s configuration on arrival in Darwin in 1977. Plan drawn by David Payne/Australian National Maritime Museum, 2011

Các kế hoạch đã được soạn thảo bởi giám tuyển David Payne để hiển thị thiết kế và kích thước của từng yếu tố, cũng như vị trí của nó trên tàu như được xác định từ các bức ảnh năm 1977. Đội tàu của chúng tôi đã lùng sục các bãi gỗ khác nhau để tìm gỗ thay thế và ván phong hóa, và các đạo cụ có nguồn gốc như cành cây, tre, trống thép, một tấm bạt và dây thừng cũ để mặc tàu. Khi các yếu tố được xây dựng và cài đặt trên boong, cấu hình ban đầu Tu Do xuất hiện từ từ. Bước cuối cùng là đưa tàu trở lại sơ đồ màu đến.

Sau khi đến Úc Tu Do đã được sơn lại nhiều lần bởi các chủ sở hữu tiếp theo của nó, và được chuyển đến bảo tàng vào năm 1990 với một thân tàu màu trắng và một cabin nhiều màu gợi nhớ đến nhiều kiểu thuyền đánh cá Đông Nam Á, nhưng không phải là màu sắc Thuyền đến Darwin. Các nhà bảo tồn bảo tàng đã lấy các mẫu sơn để tìm lại niên đại về bảng màu ban đầu. Sử dụng các mẫu và thông tin lượm lặt được từ các cuộc phỏng vấn với gia đình Lu, chúng tôi đã có thể xây dựng một sơ đồ sơn chi tiết cho Tu Do. Các bức ảnh của Jensen, mặc dù đen và trắng, rất hữu ích trong việc xác định các tông màu sơn khác nhau, trong khi nghiên cứu về thuyền đánh cá Việt Nam đã cung cấp một nền tảng cho các đường viền truyền thống. Khi Tuyết Lu và cô con gái lớn của cô, Dzung xác định màu xanh da trời chính xác từ các biểu đồ sơn, chúng tôi đã sẵn sàng để bắt đầu vẽ.

Shipwrights Tom Kershaw and Matt McKinlay prepare to paint Tu Do’s hull, 2012. Photograph by Phil McKendrick/Australian National Maritime Museum

Tu Do bị trượt tại một xưởng đóng thuyền ở Bắc Sydney, nơi những người đóng tàu sơn màu xanh thân tàu của nó bằng một lớp sơn chống bẩn màu đỏ bên dưới dòng nước. Số đăng ký tàu ‘VN, KG, 1062A, DC, xác định đây là tàu đánh cá cơ giới của tỉnh Kiên Giang ở Việt Nam, được vẽ trên mũi tàu. Những con số được cộng lại lên đến chín – số may mắn của Tân. Tu Do sau đó được đưa trở lại bảo tàng bến du thuyền nổi, nơi các tàu thuyền hoàn thành công việc sơn trên boong tàu, cabin và cột buồm. Các chi tiết trang trí đã được thêm vào, chẳng hạn như đính cườm trắng xung quanh khung bảng điều khiển của xe lăn và màu đỏ trên gunwale, cột buồm và thân cây. Cuối cùng, thùng nhiên liệu sao chép đã được lắp đặt trên boong, lưới đánh cá đã bị đình chỉ trong cơ chế tời và một tấm bạt được lắp trên mái hiên được tái tạo để khôi phục Tu Do cho cấu hình được chụp bởi Michael Jensen khi nó cập cảng Darwin vào một ngày ướt át vào tháng 11 năm 1977.

Shipwright Tom Kershaw, apprentice shipwright Clarke Prior, apprentice boiler maker Ben Daley and shipwright and painter Teresa McKinlay dress the restored Tu Do at the Australian National Maritime Museum, 2012. Photograph by Kim Tao/Australian National Maritime Museum

Đối với tôi, đó là một khoảnh khắc xác định khi tôi xem đội của bảo tàng lắp đặt tấm bạt, chui xuống dưới tán cây thấp khi họ buộc dây thừng. Tôi tưởng tượng các điều kiện khi Tan và nhóm của anh ta lắp ráp nơi trú ẩn tạm thời này trên biển khơi, đã mạo hiểm mọi thứ trong một chuyến đi vào nơi chưa biết. Nó mang về nhà thực tế đáng sợ về sự trốn thoát của họ và xác nhận Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc về lý do phục hồi Tu Do. Khi vấn đề tàu thuyền trái phép tiếp tục chi phối cuộc tranh luận chính trị và công cộng, Tự Do là minh chứng cho sự can đảm, hy vọng và sự khéo léo được thể hiện bởi Tan, gia đình và hành khách của họ. Nó cung cấp cho khách thăm viếng bảo tàng một cái nhìn sâu sắc, hấp dẫn về bản chất của các chuyến đi tị nạn và tác động lâu dài của họ đối với cuộc sống cá nhân.

Đối với Tuyết Lu, người vẫn sống ở phía bắc NSW, Tu Do được khôi phục gợi lên những cảm xúc lẫn lộn. Khi nhìn thấy những bức ảnh về chiếc thuyền gần đây, Tuyết đã nhớ lại rằng cô đã biết ơn nước Úc như thế nào nhưng cô cũng cảm thấy buồn như thế nào khi rời quê hương đến một đất nước rất xa. Trên tất cả, cô đã nhớ về người chồng quá cố Tan và hành trình của họ trên một chiếc thuyền đánh cá tên là Freedom.

Tu Do is open daily at the Australian National Maritime Museum in Darling Harbor, Sydney.

Tu Do on display at the Australian National Maritime Museum, Darling Harbour.

Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

September 6, 2017

Lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster.(Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – “Những thế hệ đi sau như chúng tôi, muôn đời rất biết ơn những người chiến sĩ của Quân Lực VNCH đã từng phục vụ cho đất nước Việt Nam. Chúng tôi đang là một quân nhân của chính phủ Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng tự do, và vẫn không quên nguồn gốc của mình là người Việt Nam.”

Đó là lời của Chuẩn Tướng Châu Lập Thế, Vệ Binh Hoa Kỳ ở Virginia, nói trong buổi lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, vào sáng Chủ Nhật, 3 Tháng Chín, vừa qua.

Trong lễ truy điệu diễn ra tại đây, tất cả các quân nhân gốc Việt đều mặc quân phục chỉnh tề. Đi trước là hai quân nhân trịnh trọng mang vòng hoa được kết thành lá quốc kỳ VNCH, các quân nhân theo sau vòng hoa đến đặt trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ và giơ tay chào kính.

Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ Chris Phan, một sáng lập viên Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt, cho biết: “Hội tổ chức buổi lễ đặt vòng hoa này là để tưởng niệm những quý chú bác trong Quân Lực VNCH và những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã nằm xuống để cho các con cháu chúng ta được sống tự do trên xứ sở này.”

Các quân nhân Mỹ gốc Việt trong nghi thức khai mạc. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Chúng tôi hãnh diện vì được phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Nhưng còn một hãnh diện hơn nữa, đó là hơn 42 năm qua, cộng đồng người Việt của chúng ta đã gầy dựng một lý tưởng, mà lý tưởng này do từ cha mẹ, từ những chú bác trong Quân Lực VNCH cho chúng tôi, chứ không phải do riêng chúng tôi mà tự có được. Chúng tôi được dạy dỗ là phải phục vụ cho quốc gia dân tộc Việt Nam cũng như của chính phủ Hoa Kỳ đã cưu mang, cho chúng tôi có được tự do như ngày hôm nay,” ông tâm tình.

Một sáng lập viên nữa của hội là cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ hồi hưu Nguyễn Văn Thọ, cũng có lời chia sẻ: “Tôi vượt biên và được định cư tại Hoa Kỳ 1980. Sau đó, tôi được học tại trường đại học của Hoa Kỳ. Trước khi tốt nghiệp đại học, tôi đã gia nhập vào sĩ quan trừ bị của Quân Đội Hoa Kỳ và được đeo lon thiếu úy. Sau 28 năm, tôi đã làm rất nhiều công việc khác nhau trong quân đội, tôi được đeo lon trung tá, và được hồi hưu vào năm ngoái, nhưng vẫn còn là một thành viên của hội này để hướng dẫn các em trẻ sĩ quan gốc Việt của quân đội Hoa Kỳ trong vấn đề binh nghiệp.”

 Kể về việc thành lập hội, cựu trung tá Hải Quân Hoa Kỳ hồi hưu Nguyễn Anh Tuấn cho phóng viên nhật báo Người Việt biết: “Năm 2007, tại chiến trường Iraq, Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ Christ Phan và Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Nguyễn Văn Thọ gặp nhau tại chiến trường và cùng có ý kiến lập ra một hội để các quân nhân người Mỹ gốc Việt được quen biết, giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần, cũng như chia sẻ với nhau về những kinh nghiệm làm việc trong Quân Đội Hoa Kỳ.”

Từ trái, Chuẩn Tướng Châu Lập Thể, nữ tài tử điện ảnh Kiều Chinh, cựu phóng viên chiến trường Nick Út, và nữ Đại Tá Mimi Phan. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

     “Đến năm 2008, hai ông về Nam California lập ra hội này, với danh xưng là Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt. Cho đến bây giờ, hội có khoảng 1,500 hội viên. Kể từ sau năm 1975, có khoảng trên 10,000 quân nhân người Mỹ gốc Việt tính luôn cả hồi hưu đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Cho đến bây giờ, có khoảng hơn 20,000 quân nhân Mỹ gốc Việt đang hoặc hồi hưu của quân đội Hoa Kỳ,” ông nói thêm.

      Nữ Đại Tá Mimi Phan, hội trưởng Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt, kiêm trưởng ban tổ chức tiệc ra mắt hội với cộng đồng người Việt tại California, cho biết: “Vào khoảng Tháng Hai, 2016, tôi có về Việt Nam vì bố của tôi bị ngã bệnh khi về Việt Nam. Trong khoảng bảy ngày ở bệnh viện cùng bố, tôi có quan sát được những gì chung quanh mình. Từ một quốc gia có tự do dân chủ, mình cảm thấy hơi buồn vì thấy đất nước của mình còn nghèo quá. Mình mong rằng một ngày nào đó dân tộc của mình có thể được cường mạnh hơn nữa.”

      Đến dự lễ, ông Nguyễn Phước Ái Đỉnh, cựu Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, hội trưởng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt Nam California, nói: “Mục đích chúng tôi đến tham dự buổi lễ này là để đại diện cho một đơn vị của Quân Lực VNCH đến tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ đã hy sinh tại chiến trường Việt Nam, đồng thời cũng tưởng niệm người con của tôi là cựu quân nhân của Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ, đã nằm xuống cho công việc phụng sự quốc gia Hoa Kỳ tại chiến trường Iraq.”

Ban tổ chức, quan khách và đồng hương đến tham dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Đối với những anh em quân nhân người Mỹ gốc Việt, phần nhiều những gia đình của họ là tị nạn Cộng Sản đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp đỡ cho họ được định cư tại xứ sở này. Khi học hành xong, họ gia nhập vào quân đội Hoa Kỳ với mục đích cũng là góp một phần trả công ơn của chính phủ Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình của họ cũng như cộng đồng người Việt tại xứ sở này. Đối với tôi, đó là một sự trả ơn rất trân quý. Tôi rất hạnh diện là một cựu quân nhân đã từng chiến đấu chống Cộng Sản tại Việt Nam, và được làm cha của một chiến sĩ trong quân đội Hoa Kỳ đã hy sinh tại chiến trường Iraq,” ông nói thêm.

 Bà Jennifer Ngô, cư dân Santa Ana, cho biết chồng của bà là cựu quân nhân Biệt Kích của Nha Kỹ Thuật Quân Lực VNCH, và chia sẻ: “Tôi là một quả phụ của một cựu quân nhân từng đi chiến đấu với địch quân tại Việt Nam, nên hôm nay, tôi thấy những người lính Mỹ gốc Việt thì tôi rất thương mến họ. Tôi đến đây để tưởng niệm sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Quân Lực VNCH và các quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt cho tự do của miền Nam Việt Nam, cho Hoa Kỳ và thế giới.”

Japanese architect Tadao Ando has concealed a huge stone statue of the buddha within a hill covered in lavender plants at the Makomanai Takino Cemetery in Sapporo.

Jessica Mairs | 8 August 2017 

Đỉnh đầu của bức tượng chỉ xuyên qua một cái giếng tròn ở trung tâm của gò đất xanh tươi, nơi được trải thảm bởi 150.000 loài thực vật có hoa màu tím. Du khách phải đi qua một đường hầm dài 40 mét để đến chân bức tượng cao 13,5 mét.

Được tạo thành từ những mái vòm bằng bê tông gấp khúc, đường hầm được chiếu sáng lờ mờ để tạo ra một bầu không khí “giống như bụng mẹ”, trong khi phần mở ở trung tâm được chiếu sáng tự nhiên và được bao quanh bởi những bức tường bê tông liên kết hẹp hướng lên trời. Ando đã hoàn thành Đồi của Đức Phật tại Nghĩa trang Makomanai Takino ở miền bắc Nhật Bản vào cuối năm 2015, nhưng những bức ảnh và cảnh quay bằng máy bay không người lái về dự án chỉ mới bắt đầu được lưu hành.

Ando viết trong một bài luận: “Mục đích của dự án này là xây dựng một phòng cầu nguyện để nâng cao sức hấp dẫn của tượng phật bằng đá được điêu khắc cách đây 15 năm. Địa điểm là một ngọn đồi thoai thoải trên 180 ha đất tươi tốt thuộc một nghĩa trang” cho tạp chí Domus.

“Cho đến nay, bức tượng phật vẫn đứng trơ ​​trọi trên cánh đồng, tạo cảm giác bất an. Khách hàng muốn mang đến cho du khách cảm giác thanh thản hơn về tượng phật”, anh nói tiếp. “Ý tưởng của chúng tôi là che phủ tượng phật dưới đầu bằng một ngọn đồi cây oải hương. Chúng tôi gọi ý tưởng này là ‘phật đầu ra ngoài’.”

Thảm thực vật cung cấp bối cảnh thích hợp theo mùa cho bức tượng, chuyển từ màu xanh lá cây vào mùa xuân sang màu tím vào mùa hè và cuối cùng là màu trắng vào mùa đông, khi gò đống trong tuyết.

Một khu vườn nước ở chân gò đất được bao quanh bởi những bức tường bê tông cao và một đường viền nhỏ bằng sỏi xám.

“Một trong những nét quyến rũ của khu vực tượng đài là nó đạt được sự hài hòa với cảnh quan thiên nhiên như thế nào”, Nghĩa trang Makomanai Takino cho biết. “Đáng ngạc nhiên, người ta chỉ nhìn thấy phần đầu của bức tượng được bao quanh bởi cảnh quan của ngọn đồi,” nó tiếp tục.

“Atama Daibutsu (Đầu của Đức Phật) được đặt tên vì vẻ ngoài mới lạ, ấn tượng. Nó hòa hợp hoàn hảo với cảnh quan xung quanh trong tất cả các mùa. Vì vậy, một biểu tượng mới của nghĩa trang đã được thành lập.”

Ando cho biết thêm: “Toàn bộ cơ thể của Atama Daibutsu không thể nhìn thấy từ bên ngoài. Tuyết tích tụ trên đầu nó vào mùa đông. Những gì còn sót lại sẽ khơi dậy sự sáng tạo”.

Là một kiến ​​trúc sư tự học, Ando đã trở thành một trong những người nổi tiếng nhất trong lĩnh vực của mình, đoạt giải Pritzker năm 1995, huy chương vàng Hoàng gia RIBA năm 1997 và huy chương vàng AIA năm 2002. Anh xếp ở vị trí thứ 16 trong danh sách đầu tiên của Dezeen Hot List .

Nhiều dự án đã hoàn thành gần đây của Ando ở Mexico, bao gồm một ngôi nhà bê tông và trung tâm nghệ thuật cho một khu vực ven biển đẹp như tranh vẽ, và một trường nghệ thuật, thiết kế và kiến ​​trúc tại Đại học Monterrey

Dự án này thể hiện một số đặc điểm chính trong công việc của Ando – cụ thể là việc sử dụng bê tông thô, ánh sáng tự nhiên kịch tính và sự tương tác của không gian bên trong và bên ngoài.

Decades Later, a Family of ‘Boat People’ Find Their Rescuers

The New York Times

By Corey KilgannonNov. 7, 2017

Lauren Vương với Dan Hanson, trái, và Ken Nelson, trong cuộc đoàn tụ của những người tị nạn Việt Nam được gọi là “thuyền nhân” và một số thủy thủ đã cứu họ.

Vào tháng 6 năm 1980, một gia đình gồm 5 người cùng với 57 người tị nạn khác chạy trốn khỏi cuộc đàn áp chính trị ở Việt Nam trên một chiếc thuyền đánh cá ọp ẹp cho một cuộc hành trình đầy mạo hiểm trên Biển Đông. “Nếu chúng tôi ở lại Việt Nam, chúng tôi sẽ chết riêng, vì vậy tôi đã đưa ra quyết định,” Mai Trần, người cùng chồng, Thiêm Vương, đưa ba đứa con nhỏ của họ lên thuyền, nhớ lại. “Nếu chúng ta chết, chúng ta sẽ chết cùng nhau.” Những hành khách tuyệt vọng nằm trong số hàng trăm người tị nạn Việt Nam được gọi là thuyền nhân sau hậu quả của Chiến tranh Việt Nam. Lauren Vuong, con gái của bà Trần, năm nay 45 tuổi, lúc đó mới 7 tuổi nhưng vẫn nhớ rất rõ chuyến đi 10 ngày đầy gian khổ khiến hành khách trên bờ vực của cái chết khi một cơn bão nhiệt đới hoành hành và thực phẩm, nước và nhiên liệu cạn kiệt. Nhưng vào lúc mặt trời mọc vào ngày 29 tháng 6 năm 1980, một đốm lửa cứu rỗi xuất hiện ở đường chân trời và ngày càng lớn hơn. Đó là L.N.G. Virgo, một tàu chở dầu dài 935 foot có thủy thủ đoàn đã giải cứu tất cả 62 người tị nạn, hầu hết đều trở thành công dân Mỹ.

Cô Vương, hiện là luật sư ở San Francisco, đã dành nhiều năm để tìm kiếm những người cứu hộ gia đình mình, theo dõi và xem xét nhật ký và sổ đăng ký tàu hàng hải, giấy tờ tùy thân và các tài liệu khác. Vào thứ Bảy, cô gặp họ lần đầu tiên, sau khi cùng gia đình đi du lịch từ California để đoàn tụ tại trường Cao đẳng Hàng hải SUNY ở Fort Schuyler ở Bronx. Virgo là một trong tám tàu ​​chở dầu do Tổng công ty Vận tải Năng lượng, hiện đã không còn tồn tại, vận hành để chở khí đốt tự nhiên hóa lỏng từ Indonesia đến Nhật Bản. Các thủy thủ đã nghỉ hưu của công ty đã tụ họp để đoàn tụ vào cuối tuần trước và tham dự một diễn đàn về ngành cũng như khai mạc triển lãm vận chuyển mới tại Bảo tàng Công nghiệp Hàng hải của trường đại học.

Sau bữa trưa, các thành viên phi của chiếc tàu đã nghỉ hưu kể lại câu chuyện của họ về cuộc giải cứu, trong khi Vương kể lại câu chuyện của họ. Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, ông Vương, người từng là sĩ quan trong Quân đội miền Nam Việt Nam, bị chế độ Cộng sản bắt giam 4 năm, để lại người vợ Mai Trần nuôi ba đứa con thơ. Khi ông Vương bị quản thúc tại gia, bà Trần đã giúp bảo đảm một chiếc thuyền đánh cá dài 35 feet, Thắng Lợi, hay còn gọi là “Victory” trong tiếng Việt. Một gái mại dâm đã được thuê để làm cho người điều khiển con thuyền say xỉn để những kẻ tị nạn có thể bắt cóc anh ta bằng súng và buộc anh ta phải điều hướng con tàu, bà Vương nói.

Trên biển, bà Vương nhớ lại cảnh chiếc thuyền đánh cá bị đầm lầy bởi những bức tường nước mặn, đen và nghe thấy tiếng khóc của hành khách tưởng chừng như cam chịu trước một cái chết ngập nước. Cô Trần cho biết cô đã giúp làm những ngọn đuốc từ quần áo và vẫn thức vào ban đêm để quan sát các tàu đi qua. Nhiều chuyện trôi qua, cô Vương nói, nhưng chỉ có Virgo dừng lại. Bà Vương nói: “Mẹ tôi vừa khóc vừa cười. “Cô ấy nói,” Chúng ta sẽ sống. “

Ông Nelson với mẹ của bà Vương, bà Mai Trần và cha bà, bà Thiêm Vương, tại cuộc họp. Gia đình Vương được cứu trên một chiếc thuyền đánh cá ở Biển Đông vào năm 1980. Don Walsh kể lại rằng đang canh buổi sáng trên boong tàu Xử Nữ và phát hiện ra chiếc thuyền đánh cá. Larry O’Toole, kỹ sư trưởng của Virgo, nhớ lại đang kéo theo chiếc thuyền đánh cá và thấy rằng “nguồn cung cấp của họ đang cạn kiệt – họ đã sắp hết dây”. Hai kỹ sư từ Virgo, Ken Nelson và Dan Hanson, được hạ xuống để kiểm tra con thuyền và thấy phụ nữ và trẻ em đang túm tụm trong khu vực ngập trong phân và chất nôn.

Ông Hanson nói: “Bạn phải thật phi nhân tính khi nhìn vào tất cả những khuôn mặt đó và tiếp tục bước tiếp. Ông Nelson cho biết ông đã thông báo cho thuyền trưởng của con tàu, Hartmann Schonn, qua radio rằng “con tàu này không xứng đáng – chúng tôi phải đưa họ lên tàu,” và sau đó bắt đầu nâng những người tị nạn từ thuyền lên chỗ ông Hanson trên một con đường mòn. Thắng Lợi là một trong nhiều thuyền tị nạn mà Thuyền trưởng Schonn quyết định dừng lại, một số thành viên cũ của ông nhớ lại.

Nệm được giữ trên tàu cho những người tị nạn được giải cứu, và thuyền trưởng đã chụp ảnh những người tị nạn để đăng trên tàu. Ông cũng tổ chức tiệc cho những người tị nạn trước khi họ xuống tàu và trao cho mỗi gia đình 10 đô la từ tiền túi của mình. “Anh ấy không chỉ cứu sống chúng tôi mà còn không muốn chúng tôi phải tay trắng bỏ công việc chăm sóc của anh ấy”, bà Vương nói. Don McLendon, người từng là kỹ sư trưởng của Thuyền trưởng Schonn cho biết: “Đó là món quà của anh ấy, để họ bắt đầu một cuộc sống mới. “Và tôi biết nó đã mua cho họ bữa ăn trong các trại tị nạn.”

Đại úy Schonn qua đời vào năm 2000, nhưng người vợ góa của anh, Karin Schonn, người đã đi từ Đức để đoàn tụ, cho biết anh thề sẽ sống một cuộc sống từ thiện sau khi được ép phục vụ ở tuổi 14 với tư cách là một xạ thủ phòng không trong Quân đội Đức trong Thế chiến thứ hai. Sau đó, ông nhập cư đến Mỹ, phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, và sau đó trở thành một thuyền trưởng hàng hải nổi tiếng với việc cứu người tị nạn. “Đôi khi anh ấy thực hiện các nhiệm vụ tìm kiếm chúng, chuyển hướng khi anh ấy nghĩ rằng anh ấy đã nhìn thấy một vài đốm sáng ở đường chân trời,” ông McLendon nói.

Theo Joseph Cuneo, một chủ tịch đã nghỉ hưu của công ty, thuyền trưởng Schonn và những người khác được sự hỗ trợ của các giám đốc điều hành công ty, cho biết rằng các tàu của công ty ông đã vớt hơn 2.000 thuyền nhân Việt Nam. Ông nói: “Phải tốn 100.000 đô la một ngày để chạy những con tàu này, vì vậy việc chuyển hướng một con tàu trong một ngày là rất tốn kém, nhưng chúng tôi đã làm hết lần này đến lần khác. “Chúng tôi đã giao hàng hóa có giá trị, nhưng giải cứu mọi người và mang lại cho họ một cuộc sống mới, bạn không thể sánh được”. Sau hai ngày trên tàu Xử Nữ, họ Vương và những người tị nạn khác được một tàu Hải quân Hoa Kỳ đưa vào đất liền. Sau khi trải qua vài tháng trong các trại tị nạn ở Singapore và Indonesia, cuối cùng họ định cư ở San Jose, California. “Cảm ơn rất nhiều vì đã cứu chúng tôi 37 năm trước,” cô nói. “Và cho tất cả các thuyền nhân Việt Nam, xin cảm ơn.”

Dang Can, 1957 | Landscape/Figurative painter

Pubblicato da Tutt’Art Bihiku

Họa sĩ Đặng Văn Cẩn sinh năm 1957 tại xã An Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nơi nằm ven sông Cửu Long của Việt Nam. Anh đã sớm bộc lộ năng khiếu vẽ và hội họa. Anh bắt đầu tham gia các hoạt động nghệ thuật từ năm 1976 với công việc chính là người vẽ minh họa cho các tờ báo và tạp chí địa phương. Đặng Can là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Anh có nhiều bức tranh trong bộ sưu tập riêng ở nhiều nước.

Để rồi từng bước đưa anh đến với công chúng thích nghệ thuật.

Phong cách vẽ tranh của anh không chỉ rất mềm mại, sâu lắng mà còn rất cuốn hút ở sự yên bình của đồng bằng sông Cửu Long. Tranh của anh mang đến một giấc mơ trọn vẹn và tinh khôi, thấm đẫm chất thơ, bay bổng nhưng cũng hiện thực. Chủ đề chính xuyên suốt các tác phẩm của anh là phong cảnh vùng quê yên bình của đồng bằng sông Cửu Long, nữ sinh ở Aodai, sự thay đổi hàng ngày của cư dân địa phương. Nó thực sự đơn giản nhưng cũng rất đáng yêu.

Ngoài hội họa, anh còn là một nhà soạn nhạc / thiết kế gốm sứ. Anh từng có thời gian tham gia công việc cho Xưởng gốm nghệ thuật tại Vĩnh Long, nơi có sản phẩm gốm mỹ nghệ nổi tiếng xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Nhìn những tác phẩm nghệ thuật của Can, chúng tôi không thể cầm lòng hay thờ ơ được vì anh đã đưa chúng tôi đến với cuộc sống tự nhiên ở hạ lưu sông Mekong. Anh ấy muốn cho chúng ta thấy những điều kiện con người, những thăng hoa của cuộc sống hàng ngày cũng như những khung cảnh thân thương và sự đổi mới của đất nước chúng ta từng ngày. Khu vực đồng bằng.

Exhibitions and Awards

  • 1996: Local Exh. held in Vinh Long – Art work: The building worker – Enc. award;
  • 1998: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. – Art work: The green cages – Enc. Award;
  • 2001: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: The green dream – A Prize;
  • 2003: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: The rest of donor – C Prize;
  • 2004: Zone No.8th Mekong delta – National Ext.Art;
  • 2006: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: Closing mud. – C Prize;
  • 2006: National exhibition of period 5 year 2001-2006 held at HCM Fine Arts Museum;
  • 2007: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: a Green message.- 2nd Prize;
  • 2007: Group exhibition – October – “Echo of time” with artist Le Trieu Dien at Phuong Mai Gallery, HCM city;
  • 2008: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: Waiting – B Prize – Collected by Vietnam Fine Arts Museum, Hanoi;
  • 2009, June: Group exhibition “A moment of Mekong Delta” with artist Chieu Dong at Phuong Mai Gallery, HCM City.