Người Việt làm trại gà công nghiệp ở Mỹ

Người Việt làm trại gà công nghiệp ở Mỹ

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2016-12-16

Một trang trại gà của người Việt ở vùng Newark, Maryland

Người Việt làm trại gà công nghiệp ở Mỹ 

Hơn một thập niên trở lại đây, càng ngày càng có nhiều người Việt ở Hoa Kỳ quay sang tậu đất mở trại nuôi gà, một nghề  không quá vất vả mà cuộc sống ổn định hơn làm công nhân trong các hãng xưởng trên thành phố.

Việc tìm người

Đây là những trại gà công nghiệp ở vùng quê nước Mỹ, chỉ nuôi gà lấy thịt chứ không thu hoạch trứng. Và nếu chỉ tính riêng vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, riêng tiểu bang Maryland thôi người ta có thể tìm thấy hơn 40 trại gà công nghiệp của người Việt tại những vùng đất chỉ sống bằng trồng trọt hoặc chăn nuôi như Salisbury, West Over, Pocomoke, Newark, Ocean City…

Làm trại gà không phải là chọn lựa đầu tiên khi chân ướt chân ráo tới Hoa Kỳ, nhưng khi đã vào nghề này thì phần lớn người Việt tự làm chủ chứ không làm công. Mặt khác, cũng rất ít người nuôi gà mà bỏ cuộc nửa chừng. Đó là lời ông Hà Xuân Hải, thuyền nhân đến Mỹ năm 1984:

Tôi đã lên tham quan, sau đó tôi trở về và quyết định bán nhà, dọn lên trên này… Tôi mua một trang trại cũ chỉ có 5 chuồng thôi, sau đó phát triển thêm 3 chuồng nữa.
– Ông Hà Xuân Hải

Tôi đã định cư tại California, thành phố Oakland, sau đó tôi về Virginia, định cư tại thành phố Annandale 22 năm. Tôi đã trải qua nhiều công việc khác nhau như rửa chén, cắt cỏ, dọn dẹp vệ sinh trong cao ốc, làm thợ  sửa chữa bảo trì ở một khách sạn tại Washington DC.

Năm 2005, như một duyên may, ông Hải quen một người đang làm chủ trại gà ở thành phố Pocomoke, tiểu bang Maryland:

Tôi đã lên tham quan, sau đó tôi trở về và quyết định bán nhà, dọn lên trên này. Hiện giờ tôi đang định cư tại thành phố Newark tiểu bang Maryland.

Đầu tiên phải nói cám ơn người bạn đó đã cố vấn và có những khích lệ. Tôi mua một trang trại cũ chỉ có 5 chuồng thôi, sau đó phát triển thêm 3 chuồng nữa.

Bây giờ thì trại gà của ông Hà Xuân Hải có tất cả 8 chuồng với 3 kích cỡ khác nhau. Thứ nhất là 2 chuồng với mỗi chuồng 21,000 con gà. Thứ hai là 3 chuồng với 27.000 con gà trong mỗi chuồng, và thứ ba là 3 chuồng sau này với 43.000 con mỗi một chuồng.

Nuôi gà ở Mỹ là nuôi gà kiểu công nghiệp, hoàn toàn không giống với cách nuôi bên nhà, không cần vườn rộng để thả gà ra khỏi chuồng, cũng không cần phải đi rải thức ăn cho chúng:

Đây là kiểu nuôi gà gia công,mình đi với một hãng cung cấp gà giống, thức ăn, thực phẩm, thuốc men, đó là những hãng của người Mỹ. Đầu tiên là mình có một trại gà trước rồi mình ký hợp đồng với những hãng gà đó. Hợp đồng thỏa thuận xong thì mình chuẩn bị tất cả những dụng cụ trong chuồng gà, máy móc trong chuồng gà sẵn sàng, có hệ thống nước uống và thức ăn, sẵn  sàng  thì họ mang gà lại bỏ cho mình. Đồ ăn gà họ sẽ mang lại luôn, công việc chính của mình gần như là chỉ chăm sóc gà thôi.

Sau 8 tuần thì  hãng gà sẽ tới và mang gà đi. Họ đưa nhân viên tới và mang gà về hãng để giết rồi họ sẽ cân ký, trả tiền cho mình theo số ký họ đã mang ra khỏi trại của mình.

Đó là lý do những trại chăn nuôi gà công nghiệp không bao giờ thu hoạch trứng vì gà vừa lớn thì công ty cung cấp gà giống đã tới nhận mang đi, thay vào đó những lứa gà mới nở  đã được chủng ngừa cẩn thận:

Tại vì vốn liếng mình đã bỏ một số tiền để xây chuồng  xây trại, vốn liếng họ bỏ ra là gà giống và thức ăn, họ đưa những người chuyên về gia súc để coi gà có bịnh hoạn hay không.

Ở đây có hai lãnh vực khác nhau, có trại chỉ nuôi gà đẻ trứng ấp ra để có gà giống, còn như của tôi là chuyên về nuôi gà để lấy thịt. Nhưng vùng  này không có loại gà để trứng để bán ngoài chợ.  Họ phải chia ra vùng để dễ dàng sắp xếp công việc của một khu vực.

Đất lành chim đậu

Với trang trại hơn 200.000 con gà, ông Hải chỉ mướn hai nhân công người Mexico để chạy việc, còn lại là máy móc trang bị sẵn:

Tại vì những việc như nhập gà vô, xuất gà ra là hãng gà họ lo, còn sau khi đã xuất gà rồi thì tôi sẽ mướn những công ty khác tới để dọn dẹp chuồng và lấy phân gà ra khỏi trại.

Một ngày làm việc của một ông chủ trại gà công nghiệp như thế nào:

Buổi sáng mình phải ra coi gà có khỏe mạnh đau ốm gì hay không, đồ ăn và thức uống có đầy đủ hay không. Hệ thống thông gió trong chuồng gà, quạt không khí trong lành vô, mang  những hơi độc từ mùi phân trong chuồng gà ra, đó là những công việc chính mỗi ngày. Mình  đi lượm những con gà chết,  những con gà bị còi hay bị què quặt  thì bỏ ra ngoài để thiêu hủy.

Trong 4 nùa thì công việc gần như khác nhau. Thí dụ mùa hè quá nóng thì mình phải dùng quạt  để mang hơi nóng ta ngoài và đưa hệ thống lạnh chạy bằng nước vô. Mùa đông thì ngược lại,  lúc gà còn nhỏ mình phải dùng hệ thống sưởi để sưởi ấm cho nó trong thời gian ít nhất là 4 tuần. Mùa xuân và mùa thu mình sẽ dùng hệ thống sưởi  theo nhiệt độ của thân con gà.

Không có rủi ro dịch bệnh trong việc chăn nuôi đại trà tại các trại gà công nghiệp là vì gà con khi nhập trại đã được chích ngừa trước:

Gà con đã được chủng ngừa trước khi vào trại của mình và sau đó họ cũng có tới chủng ngừa khi gà đã được 10 cho tới 18 ngày. Từ ngày tôi lên  đây là 12 năm rồi thì vấn đề dịch cúm gà hay H5N1 chưa bao giờ xảy ra..

Thế nhưng thiên tai thì có rồi, thí dụ mưa bão hay tuyết. Có những năm quá nhiều tuyết thì có những chuồng gà bị sập. Mùa hè nóng quá, trên đây nói chung người Việt cũng như người Mỹ gần như năm nào cũng có một hai trại có thể chết hết một trại gà luôn. Lý do là điện bị cúp, máy phát đèn bị trở ngại, chết một hai chuồng mà mỗi chuồng hai ba chục ngàn con là chuyện thường, gần như là xảy ra mỗi năm.

Có nhiều người Việt lên vùng Newark để mở trại gà như ông Hà Xuân Hải không là câu hỏi tiếp theo, được ông Hải trả lời:

Cứ mỗi năm như vậy là có thêm một hai gia đình người Việt Nam tới đây, có năm ba bốn gia đình về. Mười hai năm trước đây vùng này người Việt chỉ khoảng 15 gia đình thôi, nhưng mà tới ngày hôm nay đã lên tới con số 40 trại gà ở đây rồi.

Bên trong một chuồng gà của ông Hà Xuân Hải vùng Newark. Hình do ông Hải gửi RFA

Princess-Anne, một thành phố nhỏ của Maryland, không xa Newark là mấy, có trại gà của ông Nguyễn Chí Hiện. Ông Nguyễn Chí Hiện là dân Đồng Nai, vượt biên sang Mỹ năm 1989, làm đủ thứ việc trong mười mấy năm ở New Jersey  cho đến khi dọn về Maryland để tiếp tục nghề may.

Năm 2011, sau 4 năm dọn về Marylan, ông Hiện tính đến chuyện làm chủ một trại gà:

Tại vì muốn thay đổi công việc thôi, coi trên báo thấy có một số trại gà người Việt thì tôi liên lạc với một anh ở đây thì anh cũng cho biết cách thức nuôi gà. Tôi cũng chạy xuống coi rồi mua lại một trại nho nhỏ có đất của người Mỹ, có một số chuồng gà thì tôi sửa lại tôi nuôi.

Trại của tôi ở thành phố Princess-Anne, nằm trên  bán đảo giữa Maryland, Delaware và Virginia. Princess_Anne là một thành phố đồng quê,dân thưa, không có nhà chỉ có rừng, không có business gì hết chỉ có làm rẫy làm gà vậy thôi.

Khi vô vùng này thì giống như lạc vô khu rừng hoang vậy, lúc đầu kiểu như mình bị lạc lõng lắm, trại gà nói chung làm chỉ đủ sống thôi. Nhiều khi cũng muốn bước ra nhưng tại vì số tiền khá  lớn nên bước ra không được thì mình phải chịu.

Vạn sự khởi đầu nan

Đã vậy, khi bắt tay vào việc, ông Nguyễn Chí Hiện mới cảm thấy mọi chuyện lúc đầu không dễ dàng, ít nhất là đối với bản thân ông:

Có nhiều khó khăn, thứ nhất về cách nuôi gà mình không biết một cái gì hết, mình cũng  không biết cách kiểm soát cái máy tự động để điều khiển tất cả mọi thứ trong chuồng gà, từ đồ ăn, cám, rồi những cái quạt để có hơi gió cho gà sống,  rồi máy điều khiển khi muốn mở cửa số lớn hay mở nhỏ, tất cả bằng máy móc tự động hết.

Hãng bỏ gà cho mình thì họ gởi một người kỹ thuật chịu trách nhiệm giúp đỡ mình, người ta chỉ xuống nói nói rồi bấm bấm  cái máy control điều khiển cái chuồng gà, mình không thể nào nhớ một lúc được, xong cái người ta đi rồi thì mình ớ ra không biết điều khiển làm sao luôn. Đó là cái mình phải học hỏi ngay từ bước  đầu.

Mười hai năm trước đây vùng này người Việt chỉ khoảng 15 gia đình thôi, nhưng mà tới ngày hôm nay đã lên tới con số 40 trại gà ở đây rồi.
– Ông Hà Xuân Hải

Phải qua một năm mới thành thạo việc điều khiển máy móc, ông Hiện nhớ lại:

Hiện tại bây giờ làm được 4 năm rồi. Hai năm đầu tiên tôi  không lấy được đồng nào, nghĩa là có lấy về được nhưng phải đập vô để sửa chữa tu bổ cho trang trại của mình nó hoàn hảo hơn. Bây giờ tôi cũng xây thêm được 3 cái chuồng lớn nữa. Từ ba chuồng đó với mấy cái chuồng kia cuộc sống mình đỡ hơn, mình không phải vất vả nữa.

Lúc mới mua  tôi có 5 chuồng, mỗi chuồng 25.000 con. Về sau này tôi xây thêm được 3 chuồng nữa, một chuồng 50.000 con. Tám chuồng gà này là gà công nghiệp, không đẻ trứng vì nó có bằng đó bốn mươi mấy ngày cho nên nó chưa tới thời kỳ đẻ trứng.

Nếu chỉ nói về thành phố Princess-Anne không thì đã có bảy hay tám trang trại nuôi gà công nghiệp của người Việt.:

Trại gà của người Mỹ cũng rất nhiều nhưng họ không làm lớn. Hầu hết những người Việt về đây nuôi gà thì người nào cũng có chiều hướng mở lớn hơn, nghĩa là thêm nhiều chuồng. Người Mỹ mà 3 chuồng hay 4 chuồng là quá nhiều rồi, người Việt thì ham hơn xíu vậy đó.

Cuộc sống của những người làm gà công nghiệp ở Mỹ, nhìn lên không bằng ai nhưng nhìn xuống cũng  đỡ hơn rất nhiều người, là suy nghĩ của ông Hiện:

Nói chung cuộc sống ổn định, đủ để trang trải tiêu xài. Làm trại gà này phải mượn tiền nhà băng rất nhiều, hiện tại một số người Việt Nam mà họ biết thì họ rất muốn nuôi gà, không được giàu có như những công việc khác nhưng mà cuộc sống thanh thản và bình yên lắm.

Đối với ông Hà Xuân Hải ở Newark thì :

Đây là một công việc phải nói là tốt và có thể nói là thành công cho người Việt Nam. Mặc dù cũng có lúc chân lấm tay bùn nhưng được cái an ủi là mình tự làm chủ, mình có thời giờ để sắp xếp cho gia đình. Với tôi đây là công việc mà tôi cảm thấy rất hài lòng. Tôi cũng đang chuẩn  bị phát triển thêm.

Còn lợi tức hàng năm, ông Hải nói không thể nhớ con số chính xác, có điều:

Lợi tức của trại gà thì mới đầu nghe mình rất thích  tại vì nó cũng cao lắm. Trừ đi hết rồi thì cũng còn con số nhất định, thí dụ một năm là bao nhiêu, nhưng phải để coi lại cái bill điện thoại, điện nước, rồi những chi phí …

Tiếng là có trên 40 trang trại nuôi gà của ngưởi Việt ở Maryland nhưng trại này ở cách trại kia khá xa, điển hình khoảng cách từ trại của ông Hà Xuân Hải ở Newark đến trại của ông Nguyễn Chí Hiện ở Princess-Anne. Điểm đáng lưu ý mà ông Hiện chia sẻ  ở đây, làm  gà thì phải về vùng quê, do đó những ai có con nhỏ cũng là một trở ngại:

So  với thành phố thì nó quá xa, có con nhỏ mà về vùng rừng này ở thì cũng tội cho tụi nó. Tôi thì mấy đứa nhỏ cũng lớn hết rồi, tụi nó đi học xa nhà hết rồi. Đi học ở những thành phố nhỏ này thì không có điều kiện nhiều như những trường lớn của  thành phố lớn.

Người Việt ở Mỹ, dù phải dùng thịt gà đông lạnh bày bán trong các siêu thị, lại không mấy chuộng thịt gà công nghiệp này vì cho là bở và nhiều chất béo, thịt lại không ngọt và không thơm bằng “gà đi bộ” được nuôi thả bên ngoài.

Thực tế đã có một số trang trại nhỏ của người Việt chuyên chăn nuôi và giết mổ “gà đi bộ”  để bỏ mối cho các cửa hàng thực phẩm của người Á Châu trong vùng.

Chủ trại ‘gà đi bộ’ lớn nhất Texas: Làm giàu từ nuôi chơi đến nuôi thiệt

Jul 22, 2019 cập nhật lần cuối Dec 5, 2019

Ngọc Lan / Người Việt

Ông Dương Minh Dũng, chủ nhân công ty gà đi bộ Đồng Nai ở Austin, Texas. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

AUSTIN, Texas (NV) – Trong khi hầu hết người Việt làm nghề nuôi gà chọn cách nuôi gia công cho các hãng lớn của Mỹ theo hợp đồng có giá trị từ 10 đến 15 năm, thì ông Dương Minh Dũng, cư dân thành phố Austin, tiểu bang Texas, lại chọn một con đường đi khác hẳn cho mình. Đó là nuôi “gà đi bộ,” loại gà được người Việt ở Mỹ đặc biệt ưa chuộng.

Từ vài chục con gà nuôi chơi trong nhà, đến nay, ông Dũng đã là chủ của công ty gà đi bộ Đồng Nai, với 54 chuồng nằm rải rác quanh khu vực Austin, mỗi chuồng trung bình khoảng 30,000 con. Gà đi bộ Đồng Nai không chỉ có mặt trong các chợ, nhà hàng Á Châu quanh vùng mà còn được đưa đến bán ở gần 30 tiểu bang Hoa Kỳ.

Công nhân hãng đồ hộp, bán “taco” và khởi nghiệp nuôi gà thả rông

Sang Mỹ năm 1995, khi chưa đến 40 tuổi, ông Dũng bắt đầu cuộc đời mới bằng việc đi làm cho hãng đồ hộp để mưu sinh.

“Tình cờ một bữa ăn trưa, người bạn làm chung mua cho tôi một cái ‘taco.’ Tôi vừa ăn vừa quan sát và nhận thấy cái taco rất dễ làm, chỉ ăn thua mùi vị thôi. Tôi nhẩm tính chi phí cho một cái taco như vậy chỉ khoảng 25 cents, trong khi họ bán ra là $1.25. Lời quá. Lúc đó lương làm hãng đồ hộp chỉ $400-$500 cho hai tuần, mà rất cực. Thế là tôi quyết định sắm xe đi bán taco.”

Ông Dũng kể chuyện “khởi nghiệp” tại Mỹ trong lúc lái xe đưa phóng viên báo Người Việt đi thăm các trại gà của mình.

Xe “taco” bán cho công nhân hãng xưởng, nên hai ngày cuối tuần công nhân nghỉ thì ông Dũng cũng nghỉ để “đi chợ trời mua gà vịt sống về ăn.”

Là người có “khiếu làm ăn,” nên ông Dũng ghi nhận được ngay hình ảnh, có rất nhiều người Việt đi mua gà vịt sống giống ông.

“Ở đây bắp lúa nhiều quá, lại rẻ, vậy sao mình không thử nuôi gà để ăn, để bán?” Một cách thức kinh doanh xuất hiện trong đầu ông.

Ông kể, “Lúc đó, một người bạn cho tôi mượn miếng đất 10 mẫu, tôi lấy lưới vây lại một góc và mua 100 con gà con thả vô nuôi trong đó. Bốn tháng sau, tôi mang gà về làm ăn, ai cũng khen thịt gà ngon, không như ăn gà Mỹ. Thế là tôi mua gà bỏ thêm vô nuôi. Cuối tuần hai vợ chồng bắt gà về nhà làm, cắt cổ, nhổ lông bằng tay, y như hồi ở Việt Nam, rồi bán cho người quen, bạn bè.”

Gà đi bộ được nuôi tại một trong số 54 chuồng gà của công ty gà Đồng Nai Austin, Texas do ông Dương Minh Dũng làm chủ. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Từ 100 con, ông Dũng nuôi lên 500-600 con, rồi 1,000 con.

“Lúc đó tôi vẫn còn bán taco. Khi đi bán thì để sẵn bịch bắp bịch đậu trong xe, chiều về ghé chỗ nuôi thảy bắp, đậu cho gà ăn. Thấy dễ dàng lắm. Đến lúc thấy gà nuôi bao nhiêu bán cũng không đủ, nhu cầu người ta mua gà đi bộ này nhiều, thì tôi quyết định mua 50 mẫu đất, tập trung vào nghề nuôi gà đi bộ, nghỉ hẳn nghề bán taco. Khi đó là năm 2000.” Ông chủ gà Đồng Nai nhớ lại.

Thất bại ngay lần đầu “làm ăn lớn”

Vừa đứng nhìn những người làm đến bắt gà chuyển qua lò mổ, ông Dũng vừa kể tiếp: “Khi mình nuôi chơi thì rất thành công, nuôi 10 con y chang 10 con, 100 con y chang 100 con, con nào cũng ngon lành. Nhưng khi nuôi lên tới 1,000 con thì đã có vấn đề, nhưng vấn đề nhỏ. Đến lúc thả 6,000 con thì vấn đề khác hẳn.”

Ông chủ trại gà Đồng Nai nhớ lại, “Tôi nhớ thời gian đó tôi không ngủ được, hầu như mỗi ngày tôi ở trong chuồng gà từ 20 đến 22 tiếng với đủ thứ lo lắng mà không biết hỏi ai. Nó quần mình không chịu nổi. Mà kinh khủng nhất là chuyện cho gà ăn và uống.”

Không có kinh nghiệm nuôi gà theo kiểu “công nghệ dây chuyền” cho ăn cho uống hoàn toàn bằng máy, ông Dũng, vào thời điểm đó, vẫn mày mò làm theo cách thức “nông dân.”

“Châm nước cho gà uống theo kiểu từ đầu trên xuống đầu dưới. Mới châm đến 2/3 đường thì đầu trên tụi nó đã uống cạn. Lúc đó suốt ngày gần như chỉ làm mỗi việc cho gà uống nước. Chưa nói đến chuyện chế biến đồ ăn riêng cho gà. Thất bại là ngay lúc đó,” ông nói.

Gà chết mà không biết lý do vì sao cũng là vấn đề khiến ông Dũng mệt mỏi.

“Khi nuôi nhiều thì không chỉ nó ỉa nhiều, mà còn đạp nhau, cắn nhau chết. Gà này khi nuôi lớn đến hai tháng rưỡi, ba tháng thì bắt đầu nó cắn nhau, mổ nhau nó chết. Khi đó, một ngày nó chết cỡ 200 con luôn. Nhìn nó chết mà mình không hiểu lý do, cứ nghĩ là chuột vô cắn chết, lo đi bỏ thuốc diệt chuột, bịt hết các lỗ nghĩ là chuột chạy vô, chứ không biết là gà mổ nhau chết. Rồi đồ ăn cũng vậy. Mình đổ từ đầu này đến đầu kia thì đầu này nó đã ăn hết rồi. Cứ vậy, mình không trong nghề nên không biết gì hết,” ông Dũng mỉm cười nhớ lại quãng thời gian “đau đớn.”

Ông Dương Minh Dũng, chủ nhân công ty gà đi bộ Đồng Nai ở Austin, Texas, đang đứng xem công nhân đang bắt gà đưa qua xưởng chế biến. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Tuy nhiên, sau đó ông Dũng gặp may khi có một người bạn từng làm công việc “bắt điện” cho một trại gà công nghiệp của Mỹ, đến chơi và thăm chuồng gà của ông.

“Tôi nhớ khi đó chuồng gà tôi làm chả giống ai hết nhưng cũng tốn cỡ $200,000 chứ không ít. Nhưng anh bạn vô coi rồi la lên ‘không phải làm như vầy đâu Dũng ơi!,’” Ông kể tiếp.

Thế là nhờ sự “mai mối” của người bạn, ông Dũng có cơ hội vào xem hệ thống trại gà công nghiệp của Mỹ, để từ đó mới biết đến hệ thống cho ăn uống tự động là như thế nào, chuồng phải có máy sưởi, có màn cửa ra làm sao.

Ông nói một cách đầy cảm kích, “Phải công nhận người Mỹ họ hay lắm, mình hỏi cái gì thì họ chỉ dẫn cặn kẽ cái đó. Nhiều thứ mà họ không chỉ không nói thì mình không làm sao biết được. Từ những kinh nghiệm đó, từ từ tôi mới bắt đầu bung ra, hết trại thứ nhất, đến trại thứ hai, thứ ba, đến giờ là 54 chuồng rồi.”

Có tên “gà Đồng Nai” vì “đụng” Health Department!

Vẫn bằng giọng kể chuyện vui nhộn, rộn ràng, ông Dũng tiếp tục câu chuyện trong lúc đi xem chuồng trại, “Lúc mới bắt đầu, chỉ hai vợ chồng tôi làm y chang như kiểu Việt Nam. Khi bỏ quảng cáo ở nhà thờ, họ tới nhà mua đông quá. Mình phải nuôi thêm. Rồi từ nhổ lông bằng tay, chuyển qua mua một máy nhổ lông gà nhỏ nhỏ để nơi góc vườn nhà để làm. Rồi khi gà bắt đầu dư ra thì tôi mang ra chợ Mỹ Thành ở Austin gửi bán.”

Nhưng. Sự đời vốn dĩ luôn có chữ “nhưng” như một cái thắng gấp trước khi bất kỳ ai có thể trượt dài.

“Nhưng mới từ chợ chạy về đến nhà thì đã nghe người chủ chợ gọi cho biết có Sở Y Tế xuống kiểm tra. Khi đó tôi không hiểu luật gì hết. Mà Mỹ hay lắm, khi biết mình không có giấy tờ, không biết luật, là họ tận tình hướng dẫn cách cho mình xin giấy phép, chở tôi đến chỗ làm giấy tờ. Đến lúc họ hỏi tên công ty là gì để điền vào, tôi mới giật mình, không chuẩn bị sẵn, chỉ nhớ hồi xưa mình ở Đồng Nai, nên đề nghị họ cho mình lấy tên Đồng Nai.”

Thương hiệu gà đi bộ Đồng Nai đã ra đời trong hoàn cảnh như thế.

Gà Đồng Nai được bày bán ở chợ Mỹ Thành ở Austin, Texas. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Cũng theo lời ông Dũng, ngay lúc đó, ông được cấp giấy phép cho làm thịt dưới 10,000 con gà mỗi năm, cùng lời dặn “nếu làm trên 10,000 con mỗi năm thì phải báo.”

“Nhưng mà chỉ mới vài tháng thì tôi đã phải đến gặp họ vì mình đã làm hơn số 10,000 con. Họ nói trên 10,000 con thì phải làm kiểu khác. Cứ vậy, mình làm theo cách họ hướng dẫn, làm mỗi lúc một nhiều, họ phải cho bác sĩ và người kiểm dịch xuống đóng chốt tại lò mổ của mình mỗi ngày để bảo đảm an toàn vệ sinh khi gà đến tay người tiêu thụ,” ông Dũng cho biết.

Gà đi bộ được người Á Đông ưa chuộng hơn “gà Mỹ” do thịt gà đi bộ chắc hơn, dai hơn và ngọt hơn.

Ông Dũng cho rằng, “Cách nuôi gà đi bộ khác nuôi gà công nghiệp chủ yếu ở thức ăn, và giống gà. Chuồng trại thì gần giống nhau. Gà Mỹ cũng nuôi chuồng, nhưng chỉ nuôi trong thời gian 6-7 tuần, mà trọng lượng con gà có thể đến 9 lbs. Còn gà mình nuôi tới 4 tháng rưỡi. Con gà này khi làm ra chỉ nặng từ 3.8-4.2 lbs. Gà Mỹ nuôi thức ăn chứa protein rất cao, và giống gà như thổi. Còn gà đi bộ nuôi như ép xác, chỉ cho ăn no nhưng protein rất thấp. Cách nuôi của mình là làm cho con gà tăng trưởng chậm để có thịt ngon.”

Khi gà đi bộ Đồng Nai làm ra bán cho khu vực Austin có dư ra, ông Dũng bắt đầu tiến ra thị trường Dallas, Houston. Đến bây giờ, như ông Dũng nói, “Gà Đồng Nai đã có mặt ở gần 30 tiểu bang Hoa Kỳ. Tại tiểu bang Texas, ngoài các chợ Việt, chợ Tàu, chợ Đại Hàn đều có gà Đồng Nai, hiện giờ các chợ của Ấn Độ, Mễ, Pakistan cũng lấy gà đi bộ Đồng Nai về bán theo như cầu của khách.”

Hiện nay, từ Thứ Hai đến Thứ Sáu, mỗi ngày trung bình trại gà Đồng Nai của ông Dương Minh Dũng đưa ra thị trường khoảng 10,000 con gà đi bộ. Riêng ngày Giao Thừa Tết Nguyên Đán, ngày Lễ Tạ Ơn và ngày Giáng Sinh là những ngày tiêu thụ gà đi bộ nhiều nhất trong năm, số lượng tăng lên rất nhiều, và công ty ông phải làm việc suốt 7 ngày trong một thời gian để có đủ gà cung cấp cho khách hàng.

Nhìn lại công sức của mình, ông Dũng nói, “Ở đây có rất nhiều trại gà nhưng đều là nuôi gia công cho các công ty Mỹ, còn trại gà Đồng Nai là của riêng tôi. Tháng Tám này, tôi sẽ hoàn thành nhà máy giết mổ bò để xuất cảng sang thị trường Đại Hàn và Việt Nam. Nếu không sai thì tôi là người Việt Nam đầu tiên ở đây lập công ty riêng về chăn nuôi từ gà và giờ là bò.”

Ông Dương Minh Dũng, chủ nhân công ty gà Đồng Nai lớn nhất của người Việt tại Mỹ, quả thật, có thể tự hào về những gì ông đã tạo dựng lên từ đôi bàn tay của chính mình trên quê hương thứ hai này.

Trại gà người Việt

Sinh Đặng

October 9th, 2020

Texas là một tiểu bang có diện tích lớn thứ hai của Hoa Kỳ – và gấp đôi Việt Nam – 695,662 km2, mà dân số chỉ có 28,701 (thống kê năm 2018) – với những vùng đồng cỏ bát ngát. Khoảng 10 năm qua, không ít “bước chân Việt Nam”, từ nhiều nơi đã dừng lại ở Texas.

Với đức tính cần cù, siêng năng của người Việt, nhiều người đã đạt được mộng ước có một cuộc sống an lành trên đồng cỏ mênh mông đó. Ðặc biệt những năm gần đây, số người đến lập nghiệp ở Texas, nhất là trong hạng tuổi trung niên trở lên đã gia tăng. Họ có một số vốn sau nhiều năm làm việc và muốn sở hữu một trại gà- điều này đã làm lệch cán cân Cung Cầu cho hệ thống trang trại nầy.

Xin mời quý độc giả theo chân người viết, đến thăm một vài trại gà tại vùng Winnsboro và vùng lân cận thuộc Texas – cách Dallas 100 miles về hướng Ðông.

Ðầu tiên là anh chị Ðặng Ðức Chính đang sống tại Pickton, TX.

Trước kia anh ở đâu, có biết gì về nghề nuôi gà không và động lực nào đã đưa anh đến đây?

Đặng Đức Chính (ĐĐC): Tôi ở San Jose, có xe bán thức ăn như một “tiệm ăn di động”, làm ăn cũng khấm khá, nhưng vất vả và mất nhiều thời gian. Tháng 8 năm 2013, tôi đến thăm người bạn đang làm trại gà ở vùng nầy, thấy công việc thích quá, nên quyết định mua trại gà vào tháng 12 năm 2013, dù chưa một chút hiểu biết về nghề nầy.

Với quyết định táo bạo như vậy, công việc diễn biến thế nào mà anh được thành công như hôm nay?

ĐĐC: Qua sự giúp đỡ của người bạn, tôi mua trại nầy, là một trại cũ với vài chục mẫu đất. Tôi đã được người bạn và các anh em mới quen biết ở đây hướng dẫn tận tình. Tôi mướn một người Mễ đã từng có kinh nghiệm làm việc ở trại gà phụ giúp công việc và cũng để mình học nghề. May mắn, mọi sự suôn sẻ. Ðến năm 2016, người chủ trại bán luôn miếng đất còn lại 133 mẫu và căn nhà tôi đang ở với giá phải chăng, nên tôi mua luôn.

Công việc và cảm tưởng của anh chị về cuộc sống ở đây?

ĐĐC: Bình thường, hai vợ chồng làm công việc trại gà chỉ tốn 4, 5 tiếng là xong. Nhưng những lúc trục trặc thì rất vất vả. Tôi cũng đang gầy dựng đàn bò được vài chục con. Nhìn bò nhởn nhơ gặm cỏ trên cánh đồng thênh thang, tôi nghĩ, đây đúng là “Vùng Trời Bình Yên”.

Từ giã anh Chính, người viết đến trang trại của anh Nguyễn Thiện gần thị trấn Winnsboro, với căn nhà xinh xắn, do chủ nhân tự thiết kế, chung quanh là cây cảnh, bông hoa thật đẹp mắt.

Ông Bà Đặng Đức Chính tại khu trại gà

Anh định cư tại Hoa Kỳ năm nào? Đã sống ở đâu, làm nghề gì và cơ duyên nào đưa anh về đây?

Nguyễn Thiện (NT): Tôi được người anh bảo lãnh qua Mỹ năm 2010 và định cư tại New Jersey. Ở đó, tôi làm nghề xây dựng khá nặng nhọc. Năm 2015, sang đây thăm anh, tôi được  gặp gỡ những gia đình làm trại gà. Qua tiếp xúc, tôi thấy các anh chị đối xử với nhau rất thân thiện, đầy tình người như ở Việt Nam, với cuộc sống thật êm ả. Thích quá, tôi quyết định về đây trong lúc không có chút hiểu biết nào về nghề nầy. Tôi mua trang trại nầy vào tháng Giêng, năm 2016.

Làm sao anh có thể điều hành trại gà lúc bắt đầu?

NT: Lần đầu tiên, khi hãng đưa gà vô, tôi không hề biết gì về hệ thống máy móc, computer. Nhưng thật may mắn và cảm động, khi có cả chục người bạn mới – chủ các trại gà khác – đến giúp, mỗi người chỉ bảo một việc. Sau đó, mỗi lần có trở ngại, tôi gọi điện thoại cho các anh và được hướng dẫn tận tình. Sau 2 đợt gà, tôi tương đối biết mọi việc. Hơn một năm sau, tôi đưa nhà tôi và con trai sang đây.

Công việc chăm sóc trại gà hàng ngày của anh có nặng nề không, và anh có hài lòng với lựa chọn của mình không?

NT: Trại của tôi có 6 chuồng. Năm rồi, cơn bão đã làm hư hại 3 chuồng. Bảo hiểm bồi thường và  đang xây lại 3 chuồng. Công việc hàng ngày của vợ chồng tôi là nhặt gà chết, bắt đầu từ 5 giờ sáng, chỉ vài tiếng là xong. Công việc hơi cực là sau khi ra gà xong. Có khoảng 2 tuần để dọn dẹp, vệ sinh chuồng trại, dùng máy cày, xới phân cho nhuyễn đều, rồi lấy ra bớt, chỉ chừa lại 4 inch, cho nền bằng phẳng để vô gà mới. Khi ở Việt Nam, chúng tôi sống ở miền quê, làm việc cực nhọc hơn nhiều, nên với tôi, công việc này không quá nặng nề. Tôi cảm thấy rất sung sướng, vì tôi đã chọn đúng chỗ, đúng nghề và có được một cuộc sống an bình.

Tạm biệt anh Thiện, chúng tôi đến thăm anh Trần Duy, một trong những người làm trại gà lâu năm nhất vùng nầy, để tìm hiểu thêm về phần chuyên môn. Anh Duy là kỹ sư. Vợ anh là bác sĩ. Năm 2005, khi chị mở phòng khám bệnh tại thị trấn Winnsboro, anh đã quyết định mua trại gà và hoạt động trong nghề cho đến nay.

Xin anh cho biết có bao nhiêu hãng gà đang hoạt động tại Texas? Tên các hãng có trại gà người Việt tại vùng Winnsboro và phụ cận?

trần duy (TD): Texas có 3 hãng lớn là Tyson, Pilgrim và Sanderson. Tại vùng nầy, người Việt nuôi gà cho hãng Pilgrim và Sanderson.

Ông Bà Nguyễn Thiện trước căn nhà ở farm.

Khi ký hợp đồng, hãng có ấn định thời gian bao nhiêu năm không?

TD: Với hãng Pilgrim, nếu trại mới xây thì hợp đồng 15 năm, còn trại cũ thì ký mỗi năm.

Có trường hợp nào bị hủy hợp đồng không?

TD: Khi người nuôi không làm theo đúng những quy định và tiêu chuẩn mà người nuôi phải chấp hành. Trường hợp người nuôi vi phạm nhiều lỗi, hãng buộc người nuôi phải bán trại.

Khi mua trại gà, chủ trại phải làm cho một hãng duy nhất hay có thể hợp đồng với hãng khác?

TD: Phải làm cho hãng đó. Ít khi có trường hợp được đổi từ hãng này qua hãng khác.

Thời gian nuôi gà trong chuồng là bao lâu?

TD: Tùy theo size gà. Nuôi 32 ngày, gà nặng khoảng 3.5lbs. Nuôi 42 ngày, gà nặng khoảng 5lbs. Nuôi 49 ngày, gà nặng khoảng 7lbs, và nuôi 63 ngày, gà nặng khoảng 9lbs.

Chuồng gà có bao nhiêu size?

TD: Có nhiều size. Thập niên 80, size chuồng rộng 40ft, dài 300ft (chứa 16,500 con gà / mỗi con nặng 5lbs). Sau đó, có các size: 40×400 và 40×500 (chứa 19,500 con gà/ 9 lbs). Hiện nay, có nhiều size như: 43×600 – 46×600 – 50×600.

Gà bên trong chuồng.

Trại có 8 chuồng lớn, mỗi ngày, một người phải làm bao nhiêu giờ?

TD: Chuồng mới 46×600, làm trung bình từ 6 đến 8 tiếng. Công việc là nhặt gà chết, sau đó đem thiêu. Chuồng size 40×500, một người làm 4-6 tiếng. Khi gặp trục trặc kỹ thuật, có khi phải làm từ sáng đến tối. Trại gà cũ thì trục trặc kỹ thuật nhiều hơn, đòi hỏi phải thức khuya, dậy sớm, làm nhiều giờ, rất cực. Công việc nặng nhất là khi bắt gà ra và vô gà mới. Ðến ngày hãng báo bắt gà, chủ trại phải thức cả đêm để chuẩn bị, như nâng các máng chứa thức ăn, nước uống lên cao, để xe chạy vào trong. Ra gà xong phải “clean up” và làm nền lại cho kịp ngày gà mới vô.

Gà con, thức ăn, thuốc ngừa bệnh, có phải do hãng cung cấp?

TD: Hãng cung cấp gà con, thực phẩm và thuốc (nếu cần). Có nhân viên đến kiểm tra thường xuyên. Hãng Pilgrim thì khoảng 1 hoặc hơn 1 tuần họ đến. Hãng Sanderson khó hơn, cứ cách 1 ngày lại có nhân viên đến.

Sau đợt nuôi xong, họ tính tiền ra sao?

TD: Hãng sẽ trả tiền theo cân. Nhưng số tiền căn cứ vào nhiều yếu tố khác: cân nặng của con gà, ít hao cám – tiêu thụ nguồn cung cấp của hãng tốt – thì được trả tiền nhiều hơn. Còn gà nuôi không nặng cân, tiêu hao thức ăn nhiều, chết nhiều, thì bị xếp hạng thấp, tiền ít hơn. Hãng dùng cách so sánh các trại và xếp hạng. Họ sẽ trừ tiền người nuôi dở và thưởng cho người nuôi giỏi.

Số gà bị chết trong chu kỳ nuôi có phải báo và bị trách nhiệm không? Có giới hạn tỷ lệ gà chết và nếu gà chết hết, có bị bồi thường không?

TD: Gà bị chết 2%- 5% là bình thường. Hằng ngày, phải ghi số gà chết vào báo cáo. Nếu gà chết nhiều – một cách bất thường – phải báo cáo cho hãng ngay. Nếu vì lý do nào gà chết hết, người nuôi không phải chịu trách nhiệm đền bù. Người nuôi có mua bảo hiểm và được bồi thường nếu trại có thiệt hại vì lý do nào đó.

Theo sự tìm hiểu của người viết, khá nhiều người Việt đã thành công trong nghề nuôi gà gia công. Nhờ đức tính cần cù, chịu khó mà người Mỹ gốc Việt đã được các hãng gà đón nhận khá dễ dàng. Tuy nhiên, công việc nào cũng có nhiều mặt và tùy hoàn cảnh – tạm cho là số mạng – nên cũng có người gặp thất bại trong nghề nầy, khi phải đầu tư số vốn lớn cho một công việc, mà hãng gà là chủ. Không phải ai cũng có vận may, được một cộng đoàn sát cánh trợ giúp ban đầu như anh Chính và anh Thiện. Có thể sắp tới, người viết sẽ có cơ hội tiếp xúc với những người gặp thất bại trong nghề để chia sẻ cùng độc giả.

Trên đường về, qua những cánh đồng cỏ xanh biếc với đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ, người viết cảm nhận được câu nói “Vùng Trời Bình Yên” của anh Chính, người chủ trại gà đầy nghệ sĩ tính.

Con chuột

Hồ Đắc Vũ / February 29th, 202

Ðại Tá Douglas, chỉ huy trưởng Trung Ðoàn Biệt Ðộng 75, thuộc Sư Ðoàn 3 Ranger.

– Bọn con trai mồ côi của tao! Nghe cho rõ, đập một cú đích đáng! Bãi đã dọn sạch! AC-130 hái hết mùa! Taliban mất dái rồi! Tụi bay vô đó nướng bầy chuột, tối nay làm Party! Ok?

5 Sĩ Quan chỉ huy Ranger đưa tay.

-Uh rah!

“Ðêm 19-10 rạng sáng 20-10-2001, Lực Lượng Ðặc Nhiệm Mỹ mở chiến dịch nhảy dù cỡ lớn, chơi thần tốc vô vùng núi Kandahar, bản doanh của Taliban, phía tây bắc Afghanistan”.

Màn đầu, oanh tạc cơ B2 trải thảm xuống căn cứ, sau đó, phi cơ AC-130 võ trang cày nát không sót tấc đất, bọn Taliban chết tại chỗ khá nhiều, đám còn lại tẩu thoát vô vùng núi đá, sau đó Trung Ðội 9 Trinh Sát thuộc Sư Ðoàn 3 Ranger của Jake cùng với 199 lính Biệt Ðộng thuộc Trung Ðoàn 75 được thả xuống trận địa.”

Trung Ðội 9 Ranger áp sát trung tâm chỉ huy của Taliban, thuộc tỉnh Kandahar, nơi được Tình Báo, Không Thám cho hay là đại bản doanh của Tay chột mắt Mullah Mohammed Omar, cha đẻ của quái thai khủng bố và Trùm Taliban, kẻ thù dai dẳng của Mỹ.

Lệnh hành quân cho đơn vị chơi xả láng…

Jake và Luke tạt ra 2 cao điểm, đặt 2 khẩu đại liên M60 bắn chéo, yểm trợ cho toán xung kích đánh nhanh 2 mặt hông, 6 tay súng M79, 2 đại liên trực diện chơi phủ đầu, 2 M72 phá điểm đặt súng cối của Taliban.

2 quả M72 nổ, M 60 nổ, M79 nổ, dãy nhà gạch đất sét, toang hoác trần truồng, những thùng xăng rỗng văng lên cao rớt xuống giữa sân, kho lương thực tung tóe, bầy dê, trừu chạy khắp nơi.

Vài loạt súng chống trả rời rạc, không một bóng Taliban! Bãi chiến trường tưởng chừng khốc liệt, lại vắng tanh, như sân đá banh.

Jake gọi máy.

– Bố Già ơi! Tụi con có thể làm một trận football tại đây. Không một con rệp nào chào hỏi hết!

Nhưng Jake đã sai…

Bên kia dãy núi đá, tận hang sâu.

Bầy Rệp Taliban, nai nịt đầy đủ, súng lớn súng nhỏ, AK, đại liên PKM, RPG7, B41, hỏa tiễn cá nhân, áo quần đen, ngồi đầy hang núi như lũ chuột.

Ánh đuốc đỏ, loáng trên những khuôn mặt sắc máu.

Hassan Akhund, trùm chiến thuật độn thổ, chuyên trị đánh hầm, thông thạo tất cả hang động vùng đồi khô, núi đá chung quanh Kandahar.

Gã đưa 2 tay lên trời, cả bọn im.

– Bọn Mỹ đã sa bẫy, theo như ý Ala! Ðúng mặt trời lặn chúng ta làm một cú hốt ổ!

Mọi người đã chuẩn bị?

– Ala!

C-H-U-Ộ-T!

Anh xô ghế, bỏ ra ngoài, lảo đảo về trại.

Mấy phóng viên.

– Có thể vì trung đội bị nặng nên anh ta khủng hoảng. Giống hội chứng chiến tranh Việt Nam ngày xưa.

– Không! Không có chuyện khủng hoảng.

Luke đứng dậy, nói lớn từ cuối hàng ghế.

– Như Jake, tôi cũng là bạn của Duck. Tên con chuột do tôi đặt ra, chúng tôi quen nhau ngoài chiến trường, trở thành bạn trong đêm.

Các phóng viên há miệng, to mắt, nhìn nhau.

– Khi kẹt tại bãi mìn trong hang núi, chính Duck hướng dẫn tụi tôi thoát hiểm.

Luke bước chậm ra phía trước.

Lao xao.

– Vậy con chuột Duck đâu rồi?

Luke quay phắt lại, hai tay nắm chặt thành ghế, run run.

– Các anh nghĩ rằng nó có thể còn sống sót sau trận mìn sụp cả hang núi sao?

Phóng viên lại lao xao.

Luke xô ghế, bỏ ra ngoài.

Anh nhìn bầu trời xanh, không bóng mây của Kandahar, nơi quân Mỹ vừa chiến thắng.

Giọt nước mắt lăn trên má Luke.

– Bye bye Duck!

HĐV

Melrose, MA

Tết Tây uống bia

Hồ Đắc Vũ / January 6th, 2021

Jim, hàng xóm thân mến của tôi có người bạn đồng ngũ ngày xưa, Eric, Thiếu úy TQLC Mỹ, cũng như anh, từng đánh đấm ở Gio Linh, Quảng Trị, Việt Nam, lúc nơi này trải qua những cuộc giao tranh đẫm máu nhất. Anh từ New York về Melrose chơi Tết Tây 2021.

Hãng bia Lone Pine. Nguồn. Lone pine brewing company.      

Cả ba tụi tôi đều thích bia.

Jim bày chuyện:

– Hê! Thứ Sáu, năm mới, lên Portland, Maine uống bia Tiệp, bia Bỉ, bia Mỹ, bia Ðức.

Tôi bỗng làm biếng vì cơn dịch còn ầm ĩ:

– Bên Cambridge thiếu gì, đi cho xa.

– Nhưng không phải là Portland cha!

Vậy là ba người bịt mặt ra đi đúng ngày Tết Tây.

Jim chạy xa lộ 95, dọc bờ biển, qua Kennebunkport, có đảo của gia đình Tổng thống Bush ở, nằm gần bờ. Hai ca nô của mật vụ chạy vòng vòng quanh đảo đá. Rừng núi thấp kéo dài từ hướng Tây chạy xuống bắt tay biển với nhiều bãi đá, ghềnh cao. Trời đầy gió, mát lạnh, nhiều du khách chụp hình.

Chạy đã một tiếng.

– Ghé đây uống chai bia, ăn sò chiên khai vị đầu năm.

Jim quẹo vô “Captain Cook”, tiệm bán tôm hùm, nghêu sò hấp, bia, nằm thụt vô khu rừng thông bên đường.

Trước tiệm, có tấm bảng “New Year, giá mới, giảm 20%”, dịch Covi cắn, không có khách.

Một đĩa sò chiên trứng, ba chai bia lạnh, ngồi rừng thông nhìn buổi sáng trời xanh ngọc bích, qua chai bia lạnh sủi bọt màu hổ phách.

1:00 trưa, từ xa lộ 95, Jim quẹo vô downtown Portland…

Thành phố vẫn còn vắng.

Tiểu bang Maine thường được biết tới với các đèn biển, tôm hùm ngon, món cuốn tôm hùm nổi tiếng và chuyện mê tín dị đoan, siêu nhiên huyền bí. Nhưng đây cũng là thánh địa của các hãng bia thủ công. Tụi tôi cám ơn các nơi làm bia ở Portland, Maine.

Jim tìm được chỗ đậu xe ở đường Newbury. Anh giải thích:

– Nè! Portland có 12 nơi làm bia thủ công, nhiều hơn các thành phố khác, cho nên … Có ai muốn làm một vòng các nhà máy bia để thử hết hoặc là tìm một chỗ nhậu bia ngon, khỏi lòng vòng?

– Mình không có thì giờ nhiều, chỉ còn 4 tiếng rong chơi…

Tôi nói, Eric tiếp:

– Thường thì ăn nhậu vui vẻ cũng mất cha 2 tiếng rồi.

– Vậy thì mình đi thăm vài hãng bia, uống tại chỗ cũng đủ thì giờ, chừa 30 phút nghỉ trước khi về.

Eric hỏi:

– Nghỉ đâu?

Tôi:

– Nhà nghỉ?

– Không, công viên!

Jim cười.

– Như mấy cha không nhà, say sưa bụi đời… Ha!

Bia tươi Portland. Nguồn. TripAdvisor

Shipyard Brewing Company

Ba người đi bộ tới Shipyard Brewing Company, chừng 4 khu nhà phía trước, số 86 Newbury St.

Nhà máy như một đồn lính to, chung quanh bịt kín, không cửa sổ, một bảng hiệu lớn bên hông với website và số phone, cửa vô nằm sát đường, bên phải.

– Giống nhà tù quá Jim!

Tôi nói.

– Tao thấy giống một góc Ngũ Giác Ðài.

Tụi tôi vô trong.

Sau cánh cửa xấu xí, quẹo qua phải là một tiệm bia rất mát mắt, nơi đây có đủ tất cả các loại bia tươi, bia chai của hãng.

Lấy bàn, Eric gọi 6 chai bia nổi tiếng của Shipyard, Bia bí rợ (Shipyard smashed pumpkin).

– Loại bia này phải rót ra ly, cho tan bớt mùi rượu và hương vị có dịp bốc lên. Jim nhắc.

Khui lon bia, rót vô ly, bọt trắng tràn nhẹ trên lớp bia có màu đồng vàng. Mùi hương của bí rợ và đậu bay vô mũi.

Tôi làm ngụm nhỏ.

Vị ngọt của bí cộng men lúa mì béo, đắng nhẹ với ngàn hạt bong bóng li ti tan trong miệng.

– Ực!

Thêm một ngụm lớn, hết ly bia.

Jim:

– Ngon.

Eric làm nửa ly.

– Ngon.

– Còn thiếu.

– Gì?

– Mất 50% cho màn uống bia.

Jim nhìn tôi.

– Theo truyền thống Nam Bộ của Việt Nam, nhậu phải có mồi, đúng hông cha?

– Ðúng! Luôn luôn đúng, Jim chìa khóa xe đâu?

– Chìa khóa xe thì liên hệ gì tới mồi?

Tôi lấy ba lon bia cho ba người, khoanh tay:

– Tao già nhất trong ba người.

Eric:

– Ðúng!

Jim:

– … Cũng đâu có liên hệ tới mồi?

– Eric trẻ nhất!

– Thì liên hệ gì?

– Eric! Lấy chìa khóa xe, lội bộ 3 blocks, trở lại xe, bỏ tiền đậu xe thêm 2 tiếng, mở cửa xe, mở túi đeo lưng của tao, có một gói bọc giấy nhôm, trong bao ni lông. Mang tới ngay đây.

Eric đứng dậy, chán nản đi, tôi nói theo:

– Mầy gọi Uber nếu muốn trở về nhanh!

20 phút sau, Eric bày gói giấy nhôm, tôi mở ra, Jim ôm lấy tôi:

– Chết tao, H! Cha quá giỏi!

Những miếng nem chua cắt nhỏ nằm vòng tròn.

Jim chụp lấy.

Xin nhắc lại, Jim mê nem như mê gái Việt Nam, anh đã ăn nem Huế khi đóng ở Gio Linh năm 71-73, vẫn tiếc hoài vì chưa đụng được gái Huế, Jim thường lý luận:

– Nơi nào thức ăn, đồ nhậu ngon, thì gái ngon.

Các miếng nem Huế xuất hiện đúng lúc làm 6 lon bia cạn trong 10 phút ngắn.

– Bây giờ mình tới…

Thử bia ở Portland, Maine

Allagash Brewing Company

Lấy xe, vòng xuống downtown, qua Riverton.

Allagash bắt đầu với mọi người, năm 1995, sử dụng dàn máy làm sữa đã biến cải. Tới bây giờ thì đã có các loại bia nổi tiếng nước Mỹ, Allagash White.

Jim đậu xe trước hãng, tiệm bia ngay đó.

Tới phiên tôi, cô nhỏ tóc nâu chân dài như hươu cao cổ, có đôi mắt đẹp:

– Chào, các ông chọn bia gì?

– Cô cho tôi 6 chai bia Allagash nâu… như màu tóc đẹp của cô.

– Cám ơn.

Cô đi và trở lại với 6 chai bia đen:

– Tôi mời ông 6 chai bia đen nổi tiếng của Allagash.

– Nhưng tôi gọi bia nâu như tóc cô.

Cô cười.

– Bản chính tóc tôi đen, nhuộm nâu.

– Tiêu! Cha nốc bia đen rồi!

Tôi lôi gói nem chua trong túi.

Ðây là loại bia đen, được ủ trong thùng rượu whiskey với đậu vanilla, bia nặng 9 độ, đầy mùi whiskey, gỗ sồi nướng và làm bạn bốc ngay, bay là đà sau hai chai.

Allagash beer. Allagash Brewing Company

Bissell Brothers Brewing, Libbytown

Hãng bia này, ban đầu không có chỗ sản xuất, họ phải mướn hãng The Thirsty Pig. Bây giờ thì Bissell Brothers cung cấp cả 10,000 thùng mỗi năm tại Libbytown. Suốt mùa Hè bạn sẽ mê mẩn với loại bia ướp lạnh đầy mùi rừng thông, mùi Caramel ngọt ngào của Portland này.

Bissell Brothers. Nguồn. Good Beer Hunting

Lone Pine, khu East Bayside

Từ Thư viện Ðồ nghề của Maine, băng qua đường, đi chừng 10 phút tới góc của khu phía Ðông, gặp ngay Lone Pine. Sau cánh cửa nặng nề là những người làm việc, phục vụ vui vẻ, nhã nhặn. Một nhân viên đang giải thích cách thức, quá trình làm bia, những đặc điểm của hãng và bạn sẽ được mời nếm thử các loại bia tươi trong thùng gỗ xưa.

Jim đã ngồi ở bàn nhỏ, tụi tôi kéo ghế:

– Người ta nói rằng, tới Lone Pine mà không uống loại bia DIPA có hình động vật như ngựa một sừng, con mèo và khủng long là chưa thành “dân bia” (Beer man).

– Ai nói?

Eric hỏi chọc.

Jim lấy bình đựng bia một lít, rót 3 ly lớn.

– Mẹ! Thì thần bia (Beer Lord). Hà hà!

Phải nói đây là lần đầu tiên thưởng thức loại bia lạ này. Nặng 7.8%, được ủ với mạch nha của lúa mạch đen đậm đà

Tôi làm nửa ly, nhắp lưỡi, mùi kem béo mát lưỡi, thoảng hương vị the của vỏ cam.

– Nem đâu rồi?

– Tao nghĩ sẽ rất vô duyên nếu cha ăn nem, uống bia đen, nem sẽ giết mùi bia đen, và độ đậm bia đen sẽ hạ đo ván mùi nem.

– Ai nói.

Eric chọc.

Tôi cất gói nem vô túi.

– Thần bia bên Ái Nhĩ Lan (Irish Beer Lord), quê của bia đen nói.

Ðã 3:30 chiều, Portland lạnh run, hàng cây bên đường còn vương vãi tuyết, mùa Ðông thường về sớm ở phía Bắc.

– Quẹo vô hãng bia này làm mấy chai rồi nghỉ ngơi, tới giờ về.

Tôi nhắc.

Ði ngược lại chừng10 phút, lên cầu, quẹo trái, ba người vô cửa.

Một loại bia ở Portland, Maine. Nguồn. Foursquare

Austin Street Brewery, Riverton

Ðây là hãng bia nhỏ nhất của Portland, nhưng sản xuất nhiều loại bia IPA ngon có tiếng tại thành phố này.

Jim lấy 6 chai IPA, tôi lôi gói nem trong túi bỏ ra bàn:

– Bây giờ ăn nem là hợp lý.

Jim lấy miếng nem, uống nửa chai bia, chép miệng.

– Bia này thì uống với nem quá ngon, vị chua của nem là bạn đồng hành tuyệt vời với hương trái cây thơm ngọt của Bia IPA.

Eric, lấy hai miếng nem, nhai nhai, nốc hết chai bia, khà:

– Cha nói quá đúng luôn.

Jim cười:

– Không phải tao, ông thần bia Portland nói.

Bia ở hãng Austin Street. Nguồn. Austin Street Brewery

(Sử dụng tư liệu của Evan Fleischer: http://www.thrillist.com)

Nai một sừng

Hồ Đắc Vũ / June 4th, 2020

Mặt trời xuống, những mảng sáng chập choạng, loang lổ qua cánh rừng phong bạt ngàn.

Buổi tối tới sớm hơn ở miền núi, 4 giờ chiều, sương lạnh phủ đầy, lớp hơi nước mù mặt đất, Chavez về tới nhà, anh đẩy cổng. Bỗng cơn lạnh tràn lưng.

Chập chờn dưới bóng tối, cánh cửa chính bị phá một lỗ lớn, nghiêng qua.

Anh thụp xuống, mở đèn săn, đưa cây súng 2 nòng trước mặt, từng bước thận trọng…

Có ai đã phá nát cửa nhà anh.

Chavez chạy qua phải, áp sát cửa.

Góc trái, của cánh cửa nát do một sừng nai ghim vào, máu đông lại chảy thành mảng lớn, tanh rình.

Chavez vô nhà.

Anh kéo chiếc bàn, đè cánh cửa bể, lấy mấy tảng gỗ, bỏ vô chiếc lò gang, nổi lửa, đặt khẩu súng trên bàn, cởi chiếc áo da nhồi bông, treo trên vách, bước tới lò, đốt chiếc đèn gaz, đặt bình cà phê, lấy que sắt, khơi khúc gỗ cháy rực.

Nửa chiếc sừng nai gãy, đầy máu, cánh cửa toang hoác, điều hung dữ đã tới, con nai muốn thí mạng với mình! Ðược!

Anh kéo bao da trên nóc tủ, lôi khẩu 12 ly, một nòng, vô đạn, đặt trên bàn, ngang với khẩu 2 nòng, lấy bình rượu bắp, rót ly đầy, cắt miếng thịt nai xông khói treo trên bếp, bước tới sau tủ lôi bao khoai tây, chọn 4 củ, để lên mặt lò.

Bữa ăn của một ngày săn bắn mệt nhọc với thịt nai, khoai tây nướng, rượu bắp và 2 khẩu súng săn lên đạn, đặt ngay trên bàn và nỗi hoang mang về con nai một sừng.

Có tiếng động mạnh, như ai đang đá vô hàng rào.

Tất nhiên Chavez đã biết chuyện gì đang xảy ra, anh chụp khẩu một nòng, bước tới.

Hàng rào gỗ mù trong lớp sương dày, thấp thoáng bóng con nai một sừng đang đạp mạnh.

– Rầm! Rầm!

Chavez đưa súng lên, nó lẫn vô sương mù.

Chavez tiếp tục ăn bữa tối, lo lắng nhìn chiếc cửa gỗ, đã rớt ra từng mảnh. Xong bữa ăn, Chavez, kéo chiếc tủ, che kín cửa, chừa một khe nhỏ bằng bàn tay, đủ để quan sát bên ngoài, anh đặt 2 khẩu súng trên ghế dài, trong tầm tay.

Chavez nốc ly rượu bắp nặng độ, cay sè, nằm xuống giường, kéo tấm mền lông gấu dày.

Buổi tối miền núi lạnh, sương mù…

Sau khi giải ngũ vì hư mắt phải do mảnh lựu đạn trong cuộc phục kích của phiến loạn tại Bosnia, Chavez về tới vùng núi rừng quê hương Arano, thuộc vùng Navare, Tây Bắc Tây Ban Nha, sát nách Pháp. Với số tiền trợ cấp thương binh và căn nhà gỗ của Ba anh để lại, gồm một phòng ngủ nhỏ, bếp, phòng khách, ít vật dụng làm vườn, 2 khẩu súng săn 10 hộp đạn, phụ tùng đi săn dài ngày trên núi như túi da đựng rượu, bộ dao xẻ thịt thú, lều và đồ ngủ, ít đồ dùng trong nhà và món tiền 90,000 peseta (600 đô Mỹ), cùng với Don – con ngựa già – và 40 chú gà. Tất cả được họ Ðạo khu vực, trao lại cho Chavez sau buổi lễ cầu nguyện cho cha mình tại nhà thờ bên kia rừng.

Chừng ấy của cải, với trợ cấp thương binh và sức khỏe của một người lính rừng Tây Ban Nha, đủ cho Chavez bắt đầu cuộc đời yên ổn mới tại Arano, nơi chôn nhau cắt rún.

Mỗi tối cuối tuần, Chavez thường ghé Bar Tapas đầu làng, làm vài ly rượu bắp cay xé cổ với nai, chồn nướng, lè nhè kể về những ngày tác chiến, chừng 2 giờ sáng, khi ngà say, anh lên ngựa, về nhà lăn ra ngủ. Sáng dậy sớm, thu trứng gà, rau cải, bán cho quán tạp hóa cuối làng.

Tối nay, thứ Bảy, trăng đầy, trắng cả rừng, Bar làng đầy tiếng nói cười, tiếng đàn Guitar.

Chavez nốc ly lớn rượu bắp, cắn miếng thịt chồn nướng, nhai nhai, quẹt tay áo lau miệng, anh vừa nấc cụt, vừa kể

– Trung đội viễn thám… Híc! Của tao đang băng qua những mỏm đá chiều hôm đó thì…Híc! Gặp phục kích!

Ông già Corsi ngồi bên phải quầy, tiếp theo:

– Ðùng! Trái mìn nổ! 2 thằng tiền sát chết ngắt! Tụi tao dạt ra hai bên…

Anh chàng râu quai nón vàng hoe như râu bắp, chơi guitar bên cửa sổ, đưa tay.

– … Bắn xả láng vô những bụi cây, hốc đá chung quanh… Cây đại liên quạt mạnh, tụi nó chạy như dê núi!

Chavez, cầm ly rượu, quay lại.

– Tao nghe tiếng thằng chỉ huy léo nhéo…

– Mẹ! Rút! Nổ dữ quá!

– …Nên ra lệnh phản công…tụi tao tưới đạn, đại liên chơi từng tràng, tao rượt theo một thằng…

Anh phục vụ đặt 2 ly bia xuống bàn, nói:

– … Nó núp vào tảng đá, tung quả lựu đạn, tao mất đà, té xuống, lăn một vòng.

Chavez vung hai tay lên trời.

– Ầm! Lựu đạn nổ!

Ông rót rượu, đứng sau quầy, thở dài.

– Lạy Chúa! Chỉ một mảnh nhỏ cắt ngang mắt… Nếu mảnh lớn thì…

Ổng đẩy tuột ly rượu vừa rót trên mặt quầy gỗ, Chazez chụp lấy.

– …Thì cha nội Chavez đã không có mặt tối nay với các bạn!

Anh nâng ly.

– Ô la!

Mọi người nâng ly, cùng la Ô la! Ô la…

Tiếng Ô la thứ 3, thường lệ bỗng ngưng bặt.

Cánh cửa sồi cũ kỹ mở một khoảng nhỏ, người áo đỏ lách nhanh vô, đóng cửa.

– Chào mọi người.

Những tiếng ly để xuống bàn.

– Xin chào!

Cô gái bước tới, dưới ngọn đèn gas trên trần.

À! Một cô Du Mục, tóc xoắn, áo đỏ đốm trắng, đầm đen.

Cô ngước đôi mắt to, nói.

– Tôi là Dika, có thể múa cho các ông coi và đổi lại ít rượu, thịt?

Mọi người lặng thinh.

Mấy ông già quay chỗ khác vì keo kiệt và không còn hứng thú vụ múa.

Anh trai trẻ chơi guitar có vẻ nghèo với chiếc áo da dê và đôi bốt vẹt đế, làm bộ nhìn ra cửa sổ, vờ đi.

Chủ quán nhún vai, vì bà vợ mập ú đang trong bếp, thò đầu ra.

Chỉ còn Chavez.

Hôm nay thứ Bảy, trăng đầy, đêm của sói, đêm của đàn ông căng đầy dục tình, nên Chavez nổi máu.

Anh bước tới, đưa tay chào.

– Cô múa đi, tôi mời rượu và một con chồn nướng mới ra lò!

Cái Bar nghèo nàn, lạnh ngắt vùng núi bỗng sôi nổi hẳn lên, anh đánh guitar chơi những bài dân ca Tây Ban Nha rộn ràng. Cô Dika hát không hay, múa cũng không giỏi, nhưng uống rượu tốt và có cái mông, theo Chavez, tròn và đẹp như mông con bò rừng.

2 giờ sáng, Chavez say tới bến, ông Donez, chủ Bar xốc chả nằm lên ngựa, hỏi Dika.

– Cô về đâu?

Chavez còn cố lè nhè.

– Về nhà tao!

Vậy là Dika theo sau con ngựa chở Chavez về nhà.

4 giờ sáng.

Chavez tỉnh dậy.

Căn nhà vắng tanh.

Nghĩ tới lời đồn đại về tính trộm cắp của người du mục, anh phóng xuống giường, quấn chiếc mền lông quanh người, chạy tới cửa, rờ tay lên mái gỗ.

– À! Còn!

Số tiền dành dụm gói trong bọc da chồn vẫn còn đó, anh ra ngoài, gọi lớn.

– Dika! Dika!

Không một tiếng trả lời, nhìn qua chuồng ngựa… Dika đã biến mất với con ngựa, phương tiện di chuyển duy nhất của mình.

Chavez ôm mặt, ngồi trên giường, buồn cho cái ngu đêm qua.

Chừng vài phút, có tiếng chân ngựa trước nhà, anh mở cửa.

Dika bước vô, đặt túi da trên bàn, lôi vò rượu bắp, bình sữa, bao trứng, phần thịt nai tươi, ổ bánh mì lớn, bắp cải, cà rốt, khoai tây.

– Xin lỗi!

Cô rót ly sữa, đẩy tới Chavez, một ly cho mình.

– Em dậy sớm! Thu trứng gà, cắt 20 cái bắp cải, lấy 4 tấm da chồn đen, bán dưới làng.

– Nhưng da chồn chưa xong!

Dika nhún vai, lấy chảo nhỏ, chiên 4 trứng cho Chavez, 2 trứng cho mình, kéo anh ta ra bàn, Dika ngồi xuống.

Chavez mở miệng.

– Tại sao?

Dika cắt 2 lát bánh mì lớn, đặt vô dĩa.

– Ăn đi! Tại sao thì chút nữa biết!

Hai người ăn.

Dika cười đằm thắm.

– Chavez! Em muốn ở lại đây với anh như một gia đình…

Chavez há miệng, miếng bánh mì rớt xuống dĩa

– … Em làm vườn, nuôi thêm gà, phụ giúp anh. Sẽ không múa nữa.

Dika lượm mẩu bánh mì rớt trên dĩa, bỏ vô miệng Chavez.

Chavez ú ớ.

– Ược! Ược!

Anh nuốt trộng mẩu bánh, đứng dậy ôm Dika.

– Quá được em! Anh yêu em!

Vậy là mái ấm gia đình của Chavez và Dika ra đời ở vùng núi Arano.

Ðêm đó Chavez, Dika, khai trương cuộc sống chung bằng một bữa nhậu tận mạng với mấy người trong Bar Tapas, coi như mừng đám cưới, tối Dika hát bài du mục thật vui, dắt ngựa, chở Chavez về.

Chavez, bắn giỏi, ngày nào cũng có thú, nhất là những ngày cuối Thu, có khi anh bắn cả chục con Ngỗng trời.

Dika, trồng rau cải, nuôi đàn gà lớn, lợi tức cho hai người cuộc sống vừa đủ.

Ba tháng, trước khi gặp Dika.

Trời đổ lạnh, băng tuyết cả khu vực, mùa săn nai bỗng khó khăn.

Trưa, trời ấm, tuyết tan róc rách, Chavez, co người trong hốc đá, nhìn xuống con suối nhỏ, đóng băng, nai thường ra đập nát băng, uống nước.

Ðúng như mong đợi, chừng 10 phút, một con nai cái từ bìa rừng tung tăng chạy tới, sau đó là anh nai đực, hai đứa quay vòng, lăn ra tuyết. con đực leo lên lưng người bạn tình…

À! Tụi này đang mần tình, nhưng xin lỗi cho tình yêu, bây giờ thì tao cần sống… Anh đưa súng lên.

Nếu bắn khéo một phát, tao sẽ lượm luôn 2 con, lúc này nai khó tìm!

– Ðùng!

Con nai cái bật té, chết, con đực té theo, nhưng vùng dậy, chiếc sừng bị gãy một phần, còn lại đoạn ngắn, nó lảo đảo quanh con cái, liếm vết máu từ mắt của người tình, rồi quay lại, bước chậm tới gần hốc đá, đưa cặp mắt đỏ như sói nhìn về hướng Chavez, nơi phát súng đã giết chết người bạn tình, nó giận dữ đập hai chân, nhào vô, Chavez phóng ra khỏi hốc núi lăn tròn, siết cò.

– Ðùng!

Con nai biến mất.

Chavez không mảy may bận tâm con nai, anh kéo xác nai chết, ra lùm cây, cột trên ngựa, về nhà.

Khu rừng chập choạng tối, tới mỏm đá trên dốc núi, Chavez giật mình, ngựa khựng lại, lồng lên.

Con nai gãy sừng, đứng đó từ bao giờ, cặp mắt tóe lửa trừng trừng nhìn Chavez, anh chưa kịp phản ứng nó đã lao tới, đâm thẳng, chiếc sừng xé một đường sâu bên hông ngựa, con ngựa đau đớn té xuống, kéo theo Chavez, nhưng anh còn đủ bình tĩnh, quay súng trên vai, nổ một phát.

Chavez nhìn chung quanh, con nai gãy sừng biến mất.

Bây giờ thì chuyện đã rõ ràng, thường thì nai ít khi tấn công người, nhưng con nai gãy sừng tấn công, vì anh đã giết bạn tình của nó.

Chavez tẩm ít rượu mạnh trong chiếc khăn vải, đắp lên vết thương cho con ngựa, thận trọng về nhà.

Vài hôm sau, suốt một ngày săn vất vả, anh chứng kiến chiếc sừng nai đâm lên cánh cửa bị phá nát.

Linh tính của một người lính, của một thợ săn cho biết, con nai một sừng đã gởi đến Chavez tín hiệu của sự quyết tử: Giữa chúng ta có mối thù, tao sẽ đòi món nợ sát nhân này.

Chavez không kể chuyện này cho Dika, người vợ mới của mình.

– Khi anh không có nhà, hoặc em ra ngoài vườn, đi rừng, nhớ mang theo khẩu 12 ly.

Dika đang nhồi bột bánh mì, quay lại.

– Tại sao?

– Mùa này ít thú săn, sói thiếu mồi, hay lảng vảng gần nhà!

– Anh tưởng em là cô bé choàng khăn đỏ à?

Dika đặt chân lên bàn, trên bắp chân thon là con dao trong bao da, cột quanh đùi.

– Dao này không ăn thua với con nai đó!

– Nai nào?

– À! Mấy con sói!

Chavez bước tới ôm Dika.

– Em nhớ! Sói đi từng đàn, dao của em chỉ cắt được cái đuôi, súng vẫn tốt hơn. Em nên cẩn thận.

Bữa tối qua mau, Dika dọn dẹp, vô phòng ngủ.

Chavez xách súng, đi một vòng ngoài vườn. Anh có cảm giác, con nai một sừng vẫn quanh đây. Ðợi dịp để trả thù.

Khi đóng cửa, Chavez bỗng thấy hai đốm đỏ phía trước.

Lẫn trong màn sương mù bốc lên từ đất, con nai một sừng đứng yên như pho tượng, ngoài hàng rào.

Chavez đưa súng lên, nó biến thật nhanh.

Anh lặng lẽ vô phòng, Dika đã ngủ yên.

Tuyết rơi lất phất. Chavez dậy từ sáng sớm,

– Hôm nay anh săn chồn gần đây, không cần ngựa.Anh đeo túi, đặt cây súng 12 ly lên bàn, bước ra cửa, còn dặn Dika

– Anh để sẵn, khi em cần.

Dika làm việc nhà, chuẩn bị bột và trứng, bánh mì.

– Sinh nhật của Chavez chỉ còn vài ngày, hay mình ra tiệm mua ít rượu ngon.

Dika đeo khẩu súng trên vai, lấy ngựa, ra khỏi nhà.

Nắng heo hắt soi làn bông tuyết rơi nhẹ, con đường vô làng đã phủ lớp trắng, mấy người quen chào Dika.

– Hê Dika! Khỏe không?

– Cám ơn! Mình đi mua rượu đây.

– Tối nay hai người say?

– Không! Sinh nhật Chavez sắp tới.

– Woo! Xin chúc mừng trước!

– Cảm ơn.

– Chúc phúc hai người. Chavez và cô Du Mục tử tế!

Dika la lớn.

– Ố la!

Tới Bar Tapas, Dika lấy 2 lít rượu bắp, 4 cái xúc xích heo sấy, và không quên mua một ly rượu cho mình.

Nhưng! Dân Du mục không bao giờ uống một ly rượu!

Cho nên.

Dika lè nhè với ông rót rượu.

– Rót cho đủ một lít luôn!

Dika làm sạch cái “Cho đủ một lít luôn”, lên ngựa, về nhà.

Mới 3 giờ chiều, tuyết rơi, núi rừng âm u tối.

Dika nằm dài, ôm cổ con ngựa.

– Hic! Don! Về nhà giùm cái! Tao phê quá. Coi như mừng sinh nhật Chavez hơi sớm!

Don, con ngựa già cúi đầu, đi từng bước chậm như sợ làm thức cái lè nhè của Dika, qua khỏi mỏm đá, một đoạn rừng phong, nhà đã thấp thoáng trước mặt.

Bỗng con ngựa dừng lại, đập chân cộp cộp trên mặt đường.

– Cái gì? Don.

Dika đã bớt say, cô ngẩng đầu.

Gần cổng nhà, con nai một sừng đứng dạng hai chân trong thế tấn công, đôi mắt đỏ ngầu, trừng trừng nhìn Dika.

– Ô! Vậy là khỏi săn xa! Mồi ngay đây rồi.

Cô đưa súng lên, nhưng không kịp, con nai phóng thật nhanh tới, đâm thẳng, Don lồng lên, quay lại, tung cú đá, Dika rớt xuống, khẩu súng văng đi, nai một sừng trúng cú đá của Don ngựa già, nó giập phổi, rớt xuống, nhắm ngay hạ bộ của Don, đâm mạnh. Chiếc sừng nai duy nhất cắt một đường dài từ hạ bộ đến bụng con ngựa, máu đỏ phun có vòi trên mặt tuyết trắng, Don hí lớn dập thêm cú đá tiếp.

Dika, cố bò tới, tay chạm vô đầu khẩu súng, cô kéo mạnh.

Con nai một sừng đã nằm đó tự bao giờ, hắt hơi thở.

Dika lui lại, con nai bây giờ to lớn như con bò, chân đè trên cò súng, cặp mắt nhắm nghiền bỗng mở to, đỏ ngầu, một chân run run đưa lên…

Dika, không nghĩ rằng nó có thể bắn súng!

Nhưng!

Con nai một sừng đã đập mạnh vô cò.

Khẩu 12 ly nổ lớn!

Tiếng súng nổ làm Chavez băng rừng, chạy thục mạng về nhà.

Trước cổng, con ngựa Don chết lòi ruột trong vũng máu, con nai một sừng chết lè lưỡi, Dika bị bay mất bàn chân, ngất xỉu.

Chavez gục xuống khóc.

Con nai một sừng đã trả được mối thù cho cái chết của người bạn tình.

Máu đã trả bằng máu, nhưng không trả vô mình, mà đã vấy tới Dika, người vợ vô tội của Chavez!

o O o

Khi Dika chập chững chống nạng tập đi, cũng là lúc Chavez nhận giấy định cư Mỹ.

Ðêm đã khuya, tôi uống hết ly bia, bắt tay Chavez, cúi đầu chào Dika.

– Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp hơn.

Chavez cười, chỉ Hugo.

– Cũng nhờ người cháu này.

Tôi quên nói. Hugo, bạn tôi là cháu của Chavez, người bảo lãnh ông và vợ tới Mỹ.

Tôi ra về, lái xe mà vẫn miên man về con nai một sừng.

Tình yêu của nó quá lớn!

MS-13 băng đảng hung bạo nhất

MS-13 băng đảng hung bạo nhất

Hồ Đắc Vũ / September 18th, 2020

Mara Salvatrucha, thường được biết dưới tên MS-13, vào những năm 1970-1980, là một băng tội phạm quốc tế, xuất phát từ Los Angeles (LA), California. Ban đầu, băng này được thành lập để bảo vệ dân nhập cư El Salvador khỏi bị hà hiếp bởi các băng khác ở vùng LA. Theo thời gian, họ phát triển thành tổ chức tội phạm chuyên nghiệp.

MS-13 trong tù. Nguồn. cvitnation.com         

Nhiều thành viên của MS-13 đã bị trục xuất về El Salvador khi cuộc nội chiến tại nước này chấm dứt vào năm 1992, hoặc sau khi bị bắt. Hiện nay, MS-13, hầu hết thành viên là dân El Salvador, vẫn còn hoạt động nhiều nơi như Mỹ, Canada, Mễ Tây Cơ và Trung Mỹ.

Dân Trung Mỹ là mục tiêu chính của băng MS-13. Rất nhiều nạn nhân dưới tuổi thành niên và cũng chính đa số đối tượng này bị bắt vì tội giết người theo lệnh của các ông trùm MS-13.

Có nhiều gia đình di dân từ Trung Mỹ được bảo trợ nhưng lại sống bơ vơ trong nhà. Ðây là cơ hội tốt cho bọn băng đảng gạ gẫm, tuyển dụng. Ở El Salvador, trẻ em thường bị dụ dỗ hoặc đe dọa buộc phải tham gia vào băng nhóm khi đi học, tới nhà thờ hoặc đi làm.

Băng MS-13 nguồn. valoroustv.com

MS-13 thường công khai bạo lực. Giết trẻ con và phụ nữ là chuyện bình thường. El Salvador đứng hạng 3 thế giới về số vụ giết hại phụ nữ. Năm 2016, có tới 5,000 phụ nữ El Salvador bị giết. Trong đó chỉ có 5% liên quan tới xã hội đen, còn lại là dân vô tội. Những vụ trả thù đẫm máu, nhắm vào băng nhóm đối thủ, gia đình, bạn bè và cả hàng xóm của họ. Có cả gia đình bị xóa sổ trong một trận tấn công chớp nhoáng, giết sạch, không kể tuổi, giới tính. Xe bus chở đầy hành khách nếu vô tình xâm phạm khu vực sẽ bị đốt cháy ngang nhiên giữa ban ngày. Ngoài ra, cảnh sát, nhân viên chính phủ cũng thường là mục tiêu của băng đảng này. Chính do các cuộc tấn công như vậy khiến Tòa án tối cao El Salvador xếp băng đảng này vào các tổ chức khủng bố.

Thành viên của Mara Salvatrucha, giống như đám băng đảng Mỹ bây giờ, sử dụng dấu hiệu bằng tay khi giao tiếp hay để nhận diện. Một trong trong dấu hiệu thông thường là “Ðầu của Quỷ”, giống chữ M lộn ngược.

Thành viên MS-13. Nguồn. thewashingtonpundit.com

MS-13 tại Mỹ không liên kết chặt chẽ với nhau mà hoạt động theo kiểu khu vực. Theo số liệu năm 2009 của Tổ chức Mối đe dọa băng đảng quốc gia thì “MS-13 có khoảng 30-50,000 thành viên trên thế giới. Riêng tại Mỹ có khoảng 8,000-10,000 thành viên”.

MS-13 trở thành tổ chức tội ác chuyên nghiệp dưới sự cai quản của Ernesto Deras. Deras là cựu chiến sĩ Lực lượng Ðặc biệt El Salvador, được Mỹ huấn luyện từ Panama. Ðể giành quyền chỉ huy MS-13, vào năm 1990, Deras đã sử dụng những gì đã được huấn luyện vào cuộc tranh giành quyền lực và đã trở thành thủ lãnh. Sau đó, gã sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của băng đảng. Từ đó, MS-13 trở thành một trong số ít băng đảng có quyền lực lớn mạnh nhất.

MS-13, thành viên nữ. Nguồn. poplyft.com

Rất nhiều thành viên băng Mara Salvatrucha tại LA đã bị tống cổ về nước sau khi bị bắt. Jose Abrego, một thành viên cỡ bự, đã bị trục xuất 4 lần. Vì những vụ trục xuất này, MS-13 đã thay đổi cách tuyển mộ bằng cách kết nạp nhiều thành viên tại địa phương. Thời Báo Los Angeles nhận định rằng, chính sách trục xuất đã ảnh hưởng tới hoạt động của MS-13 tại Mỹ và Trung Mỹ.

Ngày 23/12/2004, một tội ác tày trời do MS-13 gây ra tại Chamelecón, Honduras, Trung Mỹ. Chiếc xe bus liên tỉnh bị chặn lại và phải nhận cả cơn mưa đạn. Ðã có 28 người chết, 14 người bị thương, hầu hết là đàn bà, trẻ em. MS-13 thực hiện vụ thảm sát này để chống lại chủ trương tái lập án tử hình của chính phủ Honduras. Sáu tay súng đã bắn nát xe bus trong lúc các hành khách gào thét và bỏ chạy. Một tay súng khác leo lên xe, giết từng người một.

Báo Daily News cho biết, vào ngày 4/11/2009, thủ lãnh El Salvador của băng MS-13, đảng phó “Duke” Torres bị tống giam vì tội tổ chức thanh trừng các phe nhóm tại New York và âm mưu ám sát một nhân viên Hải quan phụ trách nhập cư. Torres đã khai kế hoạch này khi chính y và 4 thành viên MS-13 bị các Cảnh sát hình sự New York bắt vì tội quấy nhiễu người đi đường tại đại lộ phía Bắc khu Queen, New York.

Băng đảng bị tù tại El Salvador. Nguồn. izismile.com

Torres tiết lộ, đây là lệnh hạ sát từ thủ lãnh MS-13 tại El Salvador. Torres, thuộc nhóm MS-13 tại Virginia, cho biết, hắn ta được trao quyền chỉ huy và tới New York vào tháng 8 “với mục đích tham gia một kế hoạch giết người”. Nhân viên di trú Hải quan Sean Sweeney đã viết trong lệnh truy tố Torres: “Âm mưu giết người”.

Bản cung khai của một thành viên khác cho biết lý do: “Nhân viên phụ trách di trú bị ám sát vì ông đã bắt quá nhiều người của họ trong 3 năm qua nên băng MS-13 trả thù”.

Theo lời khai thì cuộc ám sát sẽ được nhóm “Flushing” thực hiện. Nhân viên di trú phụ trách chỉ huy điều tra đặc biệt của nhiều vụ án thuộc Liên bang, liên quan tới tội ác như tống tiền, mại dâm, bắt cóc, nhập cư bất hợp pháp, rửa tiền, ám sát, buôn người, buôn vũ khí, thuốc phiện… là đối tượng mà MS-13 nhắm đến.

MS-13 bị tù. Nguồn. Business insider

Tháng 2/2012, Thẩm phán Liên bang tuyên án 3 thành viên MS-13 về tội giết người. Nạn nhân của họ, Moises Frias Jr, bị giết và 2 người bạn trọng thương do thành viên của MS-13 tưởng lầm là băng đối nghịch Nortenos vì họ mặc áo quần đỏ. Danilo Velasquez, cựu trùm chi nhánh MS-13 San Francisco, bị tù chung thân cộng thêm 10 năm giam giữ.

Tháng 4/2017, thành viên Yovany Gomez của MS-13 tại New Jersey bị đưa vô danh sách truy nã của FBI. Gomez bị bắt và kết tội hạ sát bạn mình, Julio Matute, vì tay này liên kết với băng khác. Sau một đêm nhậu say, Gomez và một thành viên khác của MS-13 đập đầu Matute, cắt cổ, và đâm 17 nhát vô lưng. Gomez đào tẩu, nhưng bị tóm tại Virginia khi đang trốn tránh cùng các thành viên MS-13 khác.

Trung tâm Nghiên cứu Nhập cư Washington D.C công bố một danh sách gồm tổng cộng 506 vụ về hành vi gây tội ác của MS-13 tại Mỹ từ năm 2012-2018.

214 thành viên MS-13 bị bắt. Nguồn. Breitbart News

Năm 2017, hai thành viên MS-13 là Miguel Alvarez-Flores và Diego Hernandez-Rivera bị bắt vì tội bắt cóc, hãm hiếp, tra tấn và ép thuốc một cô gái 14 tuổi, trong 2 tuần ở Houston, Texas.

Miguel Angel Corea Diaz, cư ngụ tại vùng Laurel, Maryland (quận Prince, George) là tay trùm MS-13 ở vùng bờ biển phía Ðông, đã bị truy tố ra tòa ngày 19/4/2018, tại tòa án quận Nassau, Mineola, New York, vì tội dự mưu ám sát. Với tội danh này, Miguel Angel có thể bị kết án chung thân nếu tòa án xác định phạm tội. Miguel là 1 trong 17 bị cáo với cáo trạng 21 tội danh bị buộc tội âm mưu giết người, và điều hành hệ thống buôn bán cao cấp các hóa chất bị kiểm soát.

MS-13 đã kêu gọi các thành viên thực hiện “giết một cảnh sát” nhằm trả thù cho việc trùm Miguel Angel Corea Diaz bị bắt (theo tin của AFP News, ngày 21-12-2019).

Một trùm MS-13 bị bắt. Nguồn. Newsday

Trong một cuộc họp với Tổng Thống D. Trump, giới thẩm quyền Mỹ đã công bố: các điều tra viên đã bắt hơn 230 thành viên băng MS-13 tại New York, Baltimore và El Salvador. Ðây là kết quả của hơn 2 năm điều tra băng MS-13.

Trong số 230 người bị bắt, có 96 người ở Long Island, thành trì của MS-13. Tuy nhiên trong biên bản không cho biết họ là dân Mỹ hay nước khác. Ngay sau công bố này, Tổng Thống Trump viết trên Twitter “Chúng ta tóm cổ đám băng đảng MS-13 và những người đó không nên ở đây. Hãy biến khỏi đất nước chúng ta”.

Tổng Thống D. Trump thường gắn những hoạt động bất hợp pháp của băng đảng vào chiến dịch giảm mức độ di dân vô Mỹ. Năm 2017, ông nói rằng MS-13 đã “nắm quyền ở các thành phố và thị trấn ở M

6 thành viên MS-13, lãnh án âm mưu giết người. Nguồn. news.ntd.com

Nhân viên đặc biệt của Phòng Chống Ma túy và Tội ác, Ray Donovan nói: “Những cuộc bắt giữ hôm nay đã khởi sự khép lại sự tàn bạo ở bờ biển Ðông của băng MS-13”. Ông cũng nói rằng, cuộc điều tra đã cho các quan chức cái nhìn sâu sắc hơn về “sự tàn bạo và cai quản của băng MS-13”.

Từ những nỗ lực đó, người ta tin rằng MS-13 sẽ tan tành, và sẽ trở thành chuyện hè phố trong một ngày gần đây!

MS-13 bị quét sạch tai Long Island, New York. Nguồn. muskogeephoenix.com

Một bác sĩ gốc Việt tài ba

(chia xẻ với các bạn nhân đọc bào báo viết về người bạn thân của mình. Có nhiều chi tiết mà bài báo không biết nên không nhắc tới nên mời các bạn đọc thêm cho vui)

Rất vui được đọc bài viết về người Bác Sĩ tài ba Phạm Sĩ (tên thật là Phạm Mai Sĩ), mà Sĩ lại là người bạn rất thân của mình. Câu chuyện về Sĩ mình cũng đã có kể cho nhiều bạn bè nghe rồi. Nay đọc bài báo thấy cần xin kể lại.

Bắt đầu từ tháng 6 năm 75, NL và Sĩ, những người con lưu lạc không gia đình đang học hành dở dang từ VN, sống tị nạn trong trại Indian Town Gap. Hai đứa được chọn trong số hàng ngàn sinh viên tị nạn thời ấy, cấp học bỗng toàn phần và tiếp tục đi học lại vào tháng 9 tại trường Lebanon Valley College, cách trại tị nạn chừng 5 dặm. Sĩ, nguyên là SV năm thứ 2 trường Dược Saigon còn NL thì năm thứ 3 trường Khoa Học, Giáo Dục tại Dalat. Hai đứa và một người bạn tên Tuấn cùng theo nghành Pre Med, nhưng sau 1 năm NL và Tuấn bỏ qua học Hóa Học và Sĩ vẫn tiếp tục nghành Y. Sẽ không có một Bác Sĩ mổ tim nổi danh thế giới sau này nếu không có câu chuyện thật kỳ lạ như thế này:

Mùa hè năm 1979, Sĩ nghe tin mình được ĐH Pittsburgh nhận vào học Y lúc đang sống vất vả, loay hoay, thất nghiệp ở Colorado, nhưng không có tiền đi học. NL thì ra trường trước Sĩ một năm, đi làm và có để dành chút đỉnh. NL gọi cho bạn nói: “Mày làm sao mượn tiền, mua vé may bay đến được Pitts, tao sẽ cố gắng chuyển tiền đến đó cho”. Gom góp hết tiền đi làm để dành và mượn thêm của bạn bè, được 15 ngàn đô gởi hết cho Sĩ, và thế là chàng SV người Việt, gốc Ninh Hòa, được nhận vào học trong khóa mùa Thu. Nửa năm sau, tháng 1, 1980, thì không còn tiền để học tiếp khóa sau, sắp phải bỏ học, mình thì bất lực không giúp tiếp cho bạn được nữa (thời đó kinh tế Mỹ rất khó khăn, vay tiền mua nhà phải trả lãi trên 10% và SV không dễ vay tiền đi học nếu không có ai đó bảo lãnh vay giúp). 

May mắn lúc đó tại Pittsburgh có một bà triệu phú, chồng mới mất, để lại một gia tài đồ sộ, muốn cấp học bổng cho SV Trường Y. Nhà trường nhờ bà giúp cho hoàn cảnh của Sĩ, bà đồng ý trả cho chi phí tiền học hết những năm học còn lại với hai điều kiện: không được cho Sĩ biết bà là ai, và Sĩ phải có kết quả học thật xuất sắc. Bà còn gởi thư hỏi Sĩ là đã mượn tiền ai để học. Thế là một hôm NL nhận lại đủ số tiền đã giúp bạn còn thêm một ít tiền lời do bà gởi đến trả thay cho bạn Sĩ. Sĩ mang ơn trời biển, ráng học thật giỏi và quyết theo nghành mổ tim để về các nước kém phát triển giúp đỡ. Với những sinh viên Y Khoa giỏi, thường họ xin thực tập tại các bệnh viện lớn, nổi tiếng để có chỗ dựa cho tương lai. Sĩ quyết định xin qua các nước Châu Phi thực tập. Hình ảnh thời này Sĩ gởi về cho NL xem là những tấm hình chụp chung với thổ dân nghèo, với mái tranh dột nát, đám cây khoai mì khô khốc và những bữa cơm, không có cơm, thật đạm bạc. Sĩ vui vẻ giúp họ và ở đây bệnh nhân nhiều vô số cần giúp đỡ, Sĩ nói ” tao mổ tim như mổ gà”, mỗi ngày giúp mổ cho hàng chục bệnh nhân. Nhờ làm việc này mỗi ngày nên thông thạo và thực tập rất nhiều ca mổ khó, bác sĩ tim trẻ tuổi đã rành nghề khi chưa tốt nghiệp. Nhớ ơn người Mỹ đã giúp mình, Sĩ làm thiện nguyện giúp mổ tim cho trẻ em khắp thế giới, trong đó có VN.

Câu chuyện trong bài báo viết dưới đây có nói một chút về việc Sĩ làm nên tên tuổi khi mổ và thay gần hết lục phủ ngũ tạng ông cựu Thống Đốc Casey của PA, bố của đương kim thượng nghị sĩ dân chủ liên bang Casey. Số là ông thống đốc đã thay tim rất nhiều lần nhưng được vài năm lại hỏng. Khi Sĩ làm trưởng nhóm chuẩn bị thay tim cho ông thì có một thanh niên chết vì tai nạn xe hơi. Sĩ quyết định không chỉ thay tim, mà thay tất cả các bộ phận khác trong lồng ngực ông thống đốc, lấy từ người quá cố, một việc làm chưa ai làm trước đó, nhưng Sĩ quyết định làm. Anh nói:”tất cả các bộ phận khác của ông TĐ cũng đã hư, nếu chỉ có thay tim thì sẽ không sống được lâu, cũng phí, nên phải làm liều”. Dù cho tất cả các bác sĩ tim khác ngăn cản, Sĩ vẫn quyết định làm cách mạng y khoa, và thế là ca mổ dài hơn 36 giờ liền, có 12 Bác Sĩ giải phẩu tim thượng thặng cùng làm, Sĩ đã thành công, mà ông TĐ lúc tỉnh lại đã nắm tay Sĩ nói: “Anh là Chúa cứu thế, giúp tôi sinh lại lần nữa”. Ông TĐ sống mạnh khỏe hơn 10 năm sau với trái tim của người thanh niên vắn số, rồi mới qua đời vì già.

Nhớ lại chuyện cũ, Sĩ nói: “khi ông Casey mở mắt ra sau mấy ngày hôn mê, tôi cũng như người chết đi sống lại. Sau mấy ngày nằm cạnh để theo dõi bệnh nhân từng giờ, mình thở phào vì mình biết là đã làm nên lịch sử trong nghành y khoa”. Khi tỉnh táo, ông TĐ có hỏi Sĩ: “Bạn cần bất cứ điều gì tôi sẽ giúp, nếu giúp được”. Và Sĩ đã kể với ông về việc muốn bảo lãnh gia đình từ Ninh Hòa qua Mỹ mà đang bị trục trặc giấy tờ. Thế là một ngày đẹp trời vài tháng sau, trên một chiếc máy bay, một gia đình nhà quê nghèo khổ có cha mẹ và một bầy em trai gái 10 người, đáp xuống phi trường gần Pittsburgs để đoàn tụ với người con trai xuất chúng, đã xa nhau gần 20 năm, của họ. 

Nhà của Cha Mẹ Sĩ tôi không lạ. Những năm làm việc tại Á Châu, lâu lâu về VN làm việc và về Qui Nhơn thăm nhà. Trên đường từ Saigon ra Trung, tôi đều ghé Ninh Hòa, một thành phố biển  nghèo xơ xác, phía Bắc Nha Trang, để thăm, gởi lời nhắn của người con xa xứ và giúp cho họ chút tiền. Lần đầu thấy có xe hơi ghé nhà, bà con xóm biển lại  xem như trẩy hội. Tôi gởi cho họ tiền đô la, số tiền đầu tiên Sĩ có được từ lương Bác Sĩ, và dặn vào Nha Trang đổi ra tiền Việt. Thời đó $4000 đô là  một gia tài quá lớn đối với họ. Tôi còn nói con trai họ, bạn rất thân của tôi, đã thành tài nơi xứ người. Nhưng họ không thể hiểu là anh ta nổi tiếng đến mức nào. Bây giờ, những người em trai gái của Sĩ cũng rất thành công ở Mỹ. Có vài em lấy bằng Tiến Sĩ và có em mở công ty làm ăn khấm khá. Cha Mẹ Sĩ đã già, bỏ Pittsburgh vì qúa lạnh về sống vùng Bolsa cho gần người Việt. Sĩ là trường khoa mổ tim của Pittsburgh U., Miami U., Maryland U. , và giờ đang là giám đốc bệnh viện Tim tại Jacksonville, Florida. 

Cá nhân tôi, nếu không có người bạn thân tài giỏi này thì chắc cũng không còn ngồi đây viết những giòng chữ này. Năm 90, khi đưa gia đình qua Á Châu làm việc tại Singapore, tôi đã sống với một trái tim có vần đề bẩm sinh, (có lỗ làm máu đen máu đỏ hòa vào nhau) từ bé (có lẽ vì yêu nhiều qúa chăng?) nhưng vì sợ không dám mổ nên trì hoãn. Sĩ nói nếu ông không mổ trước 40t thì sẽ chết sớm, và dĩ nhiên là tôi yêu đời muốn sống với trái tim khỏe. Mùa Giáng Sinh năm 90 tôi được mổ bỡi một cô Bác Sĩ, học trò xuất sắc của Sĩ, tại Singapore . Và nếu không có Sĩ điều khiển từ Pittsburgh, ca mỗ tim tôi gặp trục trặc lớn và chính Sĩ đã chỉ dạy cho cô họ trò sửa sai, và hơn 28 năm qua tôi được sống với trái tim khỏe, đầy máu đỏ (nhiệt huyết).

Nghĩ lại, tất cả những gì xảy trên trên đời đều có lý do mà nhà Phật gọi là Duyên. Tôi tin ở số phận, tin “ở hiền gặp lành” và sống bằng tất cả tấm lòng”ai giúp mình thì mình phải giúp lại” kẻ khác. Kỷ niệm 20 năm (1975-1995) anh em chúng tôi, 12 sinh viên tị nạn đầu tiên trên nước Mỹ được học bỗng đại học, đã về lại trường cũ thăm thầy cô để cảm ơn trường . Chúng tôi chung góp một số tiền lớn, bỏ nhà băng lấy tiền lời, mỗi năm nhờ trường cho học bỗng các sinh viên nghèo cần giúp đỡ như chúng tôi 20 trước. Trong số 12 sinh viên thời ấy, tất cả sau này đều đã học đến tận cùng những gì cần học ở Mỹ. Họ là những Giám Đốc Bệnh Viện, Chủ Tịch nhà Băng, Công ty lớn. Họ là những nhà khoa học, giáo sư, nhà nghiên cứu, ngoại giao…và cũng đóng góp nhiều cho đất nước này. Phạm Mai Sĩ là một trường hợp điển hình.

Nghĩ lại, nếu những năm 75, không có chính sách di dân cởi mở, không có người dân Mỹ, Nhà Thờ Mỹ và Trường Đại Học Mỹ giúp…thì không biết 12 người sinh viên nghèo, không người thân như chúng tôi, đã làm được gì trên đất nước này. Và nếu không có may mắn rời khỏi VN những ngày cuối tháng 4/75 thì chắc chắn người như Phạm Sĩ cũng là một bác sĩ trong một bệnh viện nào đó nếu may mắn được thành Bác Sĩ. Và tôi, chắc là một giáo làng, với nghề gõ đầu trẻ, hút thuốc Lào, uống rượu đế và làm thơ hận đời…

NL

Bác sĩ tị nạn CS lừng danh / Bác Sĩ Phạm Mai Sĩ

 Bác sĩ gốc Việt lừng danh thế giới, ngỏ lời tạ ơn một trường nhỏ từng có lòng tốt đối với người tị nạn.

 Ông Phạm Sĩ từng học để trở thành bác sĩ ở Sài Gòn, thì ước mơ bỗng bị tan vỡ bởi cuộc chiến. Câu chuyện lưu lạc của ông đến nước Mỹ đã được nhật báo Lebanon Daily News tường thuật vào đầu tháng Năm, với nội dung như sau. Ông thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Ông có mặt trên một chiếc thuyền, bị tách rời khỏi đất nước, bỏ lại những người thân trong gia đình, và chỉ có bộ quần áo trên người.

Bốn mươi năm sau đó, Phạm Sĩ là một bác sĩ giải phẫu tim mạch tài ba hiếm hoi của thế giới, và là nhà nghiên cứu y khoa từng viết hơn 170 bài nghiên cứu và tham gia ca mổ ghép tim và gan cho cựu Thống Đốc Bob Casey của tiểu bang Pennsylvania.

Bác sĩ Phạm Sĩ được ngồi cạnh vị Giáo Sư ân nhân Owen Moe (bên trái) và Viện Trưởng Lewis Thanye của trường Lebanon Valley College trong đêm trao giải thưởng 27 tháng Tư, 2018 tại trường này.

Nhưng theo ông Phạm Sĩ nói, câu chuyện tay trắng làm nên sự nghiệp của ông chỉ có thể xảy ra là nhờ lòng nhân đạo của thị xã Annville và trường đại học nhỏ bé chuyên về khoa học và nghệ thuật tại thung lũng Lebanon này, được tỏ bày dành cho những người tị nạn chiến tranh cách đây hơn bốn thập niên.

Ông Phạm Sĩ kể rằng ông đã lớn lên cảm thấy bất lực trong một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Ông ước ao có thể chữa lành những vết thương mà bạn bè ông phải chịu đựng do bom đạn gây ra. Vì vậy ông vào Sài Gòn để học ngành bác sĩ.
Nhưng đến năm 1975, cuộc chiến diễn biến tệ hơn cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi, quân cộng sản Bắc Việt nhanh chóng xâm nhập và cưỡng chiếm miền Nam. Cha mẹ ông hồi đó sống ở miền Trung, và họ bị kẹt trong sự kiểm soát cộng sản khi cuộc xâm lăng tiến đến gần Sài Gòn.

 Ông Phạm Sĩ nói, “Tôi biết chế độ cộng sản là gì và tôi biết dân chủ là gì, vì vậy tôi đã lựa chọn rời khỏi đất nước để rồi thành người tị nạn.”
Bác sĩ giải phẫu tim mạch Phạm Sĩ đang nhận giải thưởng Distinguished Alumnus (Cựu Sinh Viên Xuất Sắc) của trường Lebanon Valley College vào ngày 27 tháng Tư, 2018.
Những người tị nạn được đưa tới đảo Guam, nơi họ ở lại cho tới tháng Sáu 1975, khi họ được phép đến trại Fort Indiantown Gap, nơi chứa 15,000 người tị nạn.

 Ông nói, “Hồi đó tôi không có gì cả. Tôi chỉ có một bộ quần áo trên người.”

Những người tị nạn không được phép rời khỏi trại Gap, cho đến khi họ có được một người Mỹ bảo trợ, và những người độc thân như ông Sĩ đều nằm cuối danh sách mà sự ưu tiên là dành cho những gia đình. Tuy vậy, đến tháng Tám năm ấy, trường Lebanon Valley College (LVC) tạo một cơ hội cho 12 học sinh tị nạn được ghi danh và có được nơi ăn chốn ở, thông qua sự kết hợp giữa chương trình học bổng Pell Grants, chương trình vừa học vừa làm, một học bổng và một khoản tiền vay nhỏ. Thậm chí trường đại học này còn cung cấp các lớp học tiếng Anh bổ túc cho các sinh viên.
Giáo Sư Hóa Học Danh Dự Owen Moe, thời đó là một giáo sư nghiên cứu tại LVC, đã không lập tức để ý tới Phạm Sĩ. Cho đến khi họ bắt đầu cùng nhau làm việc trên các dự án, ông mới xác định ông Sĩ thuộc hạng sinh viên có thể vươn lên tới hàng đầu trong chức nghiệp.

Ông Moe nói, “Anh ấy có sự quyết tâm, và phải đối phó trước nhiều trở ngại. Anh đã tìm cách vượt qua mọi trở ngại đó.”

Owen Moe Professor Emeritus of Chemistry at Lebanon Valley College 

Ông Phạm Sĩ nói rằng thầy Moe là một người dìu dắt tuyệt vời và là một niềm khích lệ lớn cho ông. Lúc đó ông rất biết ơn vì có cơ hội hoàn tất việc học tại một trường đại học Mỹ, với các giáo sư trực tiếp giảng dạy. Nhưng ít nhất mỗi tuần một lần, ông vẫn thức dậy và nghĩ rằng mình vẫn còn ở Việt Nam. Nơi đó cha mẹ ông đang sống dưới ách cai trị của cộng sản, và không biết ông còn sống hay đã chết.

Phạm Sĩ nói, “Chiến tranh làm cho người ta mau trưởng thành hơn. Đó là một vấn đề sống còn – bạn phải lớn lên, chiến đấu và tìm cách sống sót.”

Ông tốt nghiệp từ trường Lebanon Valley College, sau đó từ trường y khoa, và nhanh chóng vươn lên vượt qua hàng ngũ nghề nghiệp, trở thành trưởng khoa cấy ghép tim, phổi và tim nhân tạo, tại trường y khoa thuộc đại học University of Miami, ngoài những công việc khác. Ông đã công bố hơn 170 bài báo khoa học, giúp thành lập những phương pháp để ngăn chặn sự việc cơ thể tìm cách loại bỏ những bộ phận cấy ghép tim và phổi, và giúp một giải pháp được tiến xa hơn trong việc một phương thay thế phẫu thuật tim hở, theo thông tin do trường LVC cung cấp.  Vào năm 1993, ông là thành viên của một nhóm thực hiện ca cấy ghép gan và tim lần thứ bảy trên thế giới, mà bệnh nhân là cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.

Hiện nay ông đang làm việc cho Mayo Clinic tại Minnesota.
Tuy nhiên, những thành tựu mà ông Phạm Sĩ hãnh diện nhất sẽ không xuất hiện trong các cuốn sách lịch sử: đó là cung cấp các ca mổ cần thiết cho di dân, cho những người nghèo cư ngụ trong thành phố, và những người không có khả năng trả tiền giải phẫu.

Chính ở đó, ông Phạm Sĩ cảm thấy như thể đã hoàn thành sứ mạng ban đầu của ông: là sửa chữa những cơ thể bị phá hỏng, giống như những cơ thể mà cuộc chiến Việt Nam đã tìm cách hủy hoại. Ông cũng có cơ hội để chăm sóc các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Trong số đo có một đại tá về hưu, người đã giúp lập một trại tị nạn nơi mà ông Phạm Sĩ từng ở.

Vì ông đam mê giúp đỡ người bệnh, một trong những thách thức chuyên nghiệp lớn nhất của ông là đối phó với thất bại sau một ca mổ có mức rủi ro cao.

 Ông nói, “Bạn phải nói chuyện với các người thân trong gia đình, bạn biết đấy, nói cho người thân biết rằng bệnh nhân không thể qua khỏi. Thật khó, rất khó. Bạn phải học cách đối phó với chuyện đó và rồi tiếp tục đi tới. Nếu không, chuyện đó có thể trở nên khó khăn về mặt tâm lý.”

Mấy năm sau khi đến Mỹ, ông Sĩ mới có thể gửi thư cho cha mẹ thông qua một người bạn sống ở Canada. Bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nối lại vào cuối thập niên 1980, và trong thập niên 1990, ông đưa cha mẹ sang Mỹ để sống với ông trong một thời gian.
Đến lượt ông dẫn con cái về Việt Nam và tới các quốc gia nghèo kém khác, để các con ông có thể hiểu được sự may mắn mà chúng có được ở đất nước Hoa Kỳ này.

Ông đã nhận được giải thưởng cựu sinh viên xuất sắc của LVC, tại một buổi lễ ngày 27 tháng Tư, và ông rất vui khi lãnh thưởng. Thực vậy, ông ghi nhận công lao của cả trường LVC lẫn cộng đồng Annville đã đón tiếp những người tị nạn trắng tay như ông.
Ông nói, “Dân chúng Mỹ rất rộng lượng, giúp đỡ rất nhiều.” 

Vị bác sĩ này hy vọng mọi thành công của ông sẽ khích lệ những di dân khác, để họ không bị nản lòng khi theo đuổi ước mơ của họ. Ông nói, “Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian sẽ chữa lành nhiều vết thương. 



Rượu Đế ở Mỹ

Ian Bùi

February 22, 2021 by Ban Tu Thư 

Lần đầu tiên nước Mỹ có một lò nấu rượu đế của người Việt, ngay trong vùng Dallas-Fort Worth. Nghe tiếng, chúng tôi lặn lội đến tận nơi để hỏi thăm, thám thính và … uống thử. Thành thật mà nói: Ngon!!

Lò rượu độc đáo này mang tên ‘SuTi Craft Distillery’. SuTi là chữ viết tắt lấy từ tên của hai nhà tiên phong Đinh Trọng Suý và Ngô Thời Tiến. Suý sang Mỹ năm 75 khi còn nhỏ. Gia đình ngày xưa là dân Nam Định, di cư vào Nam năm 54. Anh kể hồi ngoài Bắc Mẹ anh cũng biết nấu rượu như nhiều người trong làng. Nhưng anh thì dĩ nhiên không biết gì về việc đó. Qua Mỹ, anh đi học và ra trường kỹ sư, làm việc trong ngành viễn thông (telecom). Năm 2011 Suý quen một anh bạn gốc Cái Răng, nhà ở Cần Thơ có nghề nấu rượu. Anh tò mò học hỏi và bắt đầu thử nghiệm cất rượu lấy. Anh nói vì khi đi dự tiệc anh hay nghe mấy ông già thắc mắc sao cứ phải uống rượu Tây hoài, không tìm đâu ra rượu đế.

Toàn cảnh phòng nấu rượu.

Trong quá trình thử nghiệm, Suý tự lên Internet tìm hiểu thêm về các loại men, các loại gạo, những phương pháp nấu rượu khác nhau của nhiều dân tộc. Anh đặt mua đủ thứ men từ Việt Nam, Âu Châu cũng như Mỹ về để thí nghiệm. Anh bỏ nhiều năm trời tìm xem gạo nào làm rượu thơm ngon nhất. Vài năm sau tay nghề của Suý đã kha khá, anh bắt đầu tự tin đủ để mang rượu của mình đến các buổi tiệc để giới thiệu với bạn bè và nhận được nhiều phản hồi khích lệ. Một trong những người khuyến khích anh nên theo đuổi đam mê của mình là Tiến, người anh em cột chèo đồng thời là kiến trúc sư làm việc ở Dallas. Bắt đầu từ năm 2016, Suý và Tiến hùn vốn để xây lò rượu.

Nét Đông Phương toả khắp không gian trong mùi gạo thơm thoang thoảng.

Sau khi tìm mua được miếng đất gần Fort Worth, họ mất nhiều tháng trời chỉ để được phép động thổ và khởi công. Khác với những hình thức kinh doanh thông thường như mở nhà hàng hay mở tiệm nails, lò rượu đòi hỏi vô số điều kiện liên quan đến luật liên bang, tiểu bang và thành phố rất khắt khe. Nhưng cuối cùng SuTi cũng thành hình và chính thức đi vào hoạt động cách đây vài tháng.
Hiện thời SuTi có hai sản phẩm chính là ‘Rượu Đế Ông Già’ (40%) và rượu mạnh ‘Lion 45’ (45%). Vì là một nhà nấu rượu bán lẻ, SuTi chỉ có thể bán tại chỗ chứ không thể gởi rượu qua đường bưu điện. Suý kể có người lái xe từ tận Houston lên chỉ để mua chục chai mang về. Nghe vậy chúng tôi cảm thấy mình còn quá may mắn vì ở cách lò đế độc nhất vô nhị này có … 60 dặm!

Chiếc máy TEAC cũ kỹ nhưng âm thanh vẫn còn rất tốt.

Chiếc máy TEAC cũ kỹ nhưng âm thanh vẫn còn rất tốt.

Ấn tượng đầu tiên khi bước vào phòng khách là một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, và rất … Việt Nam. Cách trình bày nơi đây đơn sơ nhưng mỹ thuật, nhờ bàn tay khéo léo và con mắt nhà nghề của kiến trúc sư Tiến Ngô. Trong một góc là chiếc máy hát dĩa thuộc loại đồ cổ gần cả trăm năm nhưng vẫn còn chạy. Chẳng may hôm chúng tôi đến cây kim đã bị hư, chưa được thay. Nhưng bù lại chúng tôi được nghe một thứ nhạc rất lạ mà quen, phát ra từ chiếc máy TEAC tuổi đời chắc cũng gần bằng của chủ nhân. Giọng hát Khánh Ly và Thanh Thuý thời trước 75 lâng lâng đưa ta vào một thế giới nửa của quá khứ nửa tương lai. Chưa kịp thử rượu đã muốn phê.

Hèm đang được ủ để lên men.

Toàn bộ diện tích phòng nấu rượu chiếm một không gian khiêm tốn không đầy 2000 sf nhưng đầy đủ mọi dụng cụ được sắp xếp gọn gàng. Cuối phòng là một cái nồi khổng lồ có thể nấu cả ngàn ký gạo một lúc. ‘Ông Già’ được làm từ một loại gạo thơm đặc biệt đến từ miền Nam Louisiana tên Jazzmen (ghép từ gạo jasmine Á châu và gạo vùng New Orleans, quê hương của jazz). Suý kể mất lâu lắm anh mới tìm được loại gạo này; nhờ nó mà ‘Ông Già’ có một cái hậu rất thơm.
Suý không dùng men từ Việt Nam vì theo anh nó có nhiều mùi thuốc Bắc, đã vậy anh không biết được thành phần gồm có những gì. Vì muốn chế biến một loại đế người Mỹ cũng uống được, anh dùng một loại men của Mỹ cho ‘Ông Già’, và một thứ men mới từ Âu Châu cho ‘Lion 45’. Những ai thích rượu mạnh như whiskey hay vodka bảo đảm sẽ ưng ‘Lion 45’, nhất là khi được ướp lạnh. Ai thích mùi gạo thơm sẽ khoái ‘Ông Già’. Sắp tới đây anh sẽ thí nghiệm làm rượu nếp than.

Suý Đinh giảng giải về kỹ thuật và nghệ thuật làm rượu đế, bên cạnh cái máy cất rượu bằng đồng thiết kế theo kiểu nấu whiskey của dân Scotch.

Rượu cất xong được nếm thử và đo nồng độ. Mỗi vụ rượu (batch) được đánh số và ghi ngày tháng cẩn thận. Chỉ những vụ nào đạt đúng tiêu chuẩn về hương vị cũng như nồng độ mới được giữ lại để bán. Luật liên bang quy định rượu được giữ để bán phải có phòng chứa riêng và phải nộp thuế trước, do đó SuTi phải kiểm tra chất lượng mỗi vụ thật kỹ trước khi quyết định dùng hay không.
Suý Đinh và Tiến Ngô là hai nhà khởi nghiệp ngành rượu đế trên nước Mỹ. Khách hàng của họ đa số thuộc thành phần trẻ, phụ nữ, dân sành rượu và thích rượu ngon. Với giá một chai chỉ khoảng $35-$45 (tuỳ theo vụ) rượu SuTi dễ dàng cạnh tranh với các nhãn hiệu nổi tiếng trên thị trường.

Chiếc bàn nơi rượu cất xong được nếm thử và đo nồng độ.

Tết Ta cho đến Tết Tây
Tiệc tùng cưới hỏi lấy chi làm quà?
SuTi nức tiếng ‘Ông Già’
Uống ly rượu đế chạy ba quãng đồng!


Địa chỉ liên lạc và Facebook:
Suti Craft Distillery
528 W. Kennedale Pkwy
Kennedale, TX 76060

Âm mưu phá đổ đập Hoover Dam

Hồ Đắc Vũ

August 6th, 2020

Lời tòa soạn: Đập nước là một lợi thế và cũng là một yếu điểm. Nó có thể cung cấp nước uống và điện năng, nhưng cũng có thể là một quả bom mềm với sức công phá không thua kém bom nguyên tử. Chính vì vậy, đôi khi TQ rải quân đội dày như cám, với những hệ thống phòng không tối tân nhất, và lực lượng bảo vệ đập Tam Hiệp tinh nhuệ không thua kém đội quân bảo vệ Trung Nam Hải…

Cầu và đập Hoover. Nguồn. Zimbio 

Trong Thế chiến 2, khi quân đội Ðức Quốc Xã đã xâm lăng khắp Châu Âu, Nga và Bắc Phi, họ vẫn có tham vọng tàn phá các mục tiêu quan trọng của Mỹ. Các mục tiêu họ chọn có tác động về tâm lý và cùng lúc phá hủy các cơ cấu hạ tầng quan trọng liên quan tới chiến tranh.

Những nơi được chọn để tấn công như thành phố New York, Washington D.C, các cơ xưởng quốc phòng ở Detroit và Hoover Dam. Bao nhiêu kế hoạch đã trình làng, vài cái không hợp lý và hao tốn nhiều so với kết quả. Tuy nhiên, có kế hoạch được chấp thuận, được thử nghiệm hoặc đưa vào hành động. Một trong các kế hoạch ấy là tấn công Ðập Hoover đã được thực hiện qua nhiều cách.

Đức Quốc Xã âm mưu ném bom đập Hoover. Nguồn. the-wanderling.com

Suốt Thế Chiến 2, một trong trong các dự định đánh sập Ðập Hoover là dùng tàu ngầm, như tên của một bài báo online “Tàu ngầm Ðức tấn công Ðập Hoover”. Nội dung bài báo xoay quanh một âm mưu có thật vào cuối năm 1944 trong thời kỳ Quốc Xã, họ muốn tàn phá Ðập bằng cách đi ngược giòng sông Colorado từ biển Cortez tại Mễ Tây Cơ bằng loại tàu lặn được võ trang đầy vũ khí.

Văn bản cho biết: Bộ Ngoại Giao và Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Mễ Tây Cơ chứng minh rằng vào năm 1939, trước khi có chiến tranh với Mỹ, 5 năm trước khi trận tấn công bằng tàu ngầm bị tố cáo, các đặc vụ Ðức đã rình rập trong nỗ lực tàn phá con Ðập và bị bắt gọn vì chuyện đó. Ngay cả sau 5 năm chiến tranh, người Ðức vẫn còn theo đuổi âm mưu này.

Pháo đài bí mật canh giữ đập Hoover. Nguồn. Mark Henle, Mark Henle.The Republic

Tối ngày 30-11-1939, Bộ Ngoại Giao nhận báo cáo từ Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Mễ Tây Cơ cho biết một âm mưu đánh bom tháp dẫn nước vào Ðập Hoover. Họ đã phát giác đặc vụ Ðức tại thành phố Mexico City với kế hoạch tấn công Ðập nhằm tê liệt công nghiệp sản xuất về hàng không ở Los Angeles. Việc này sẽ hoàn thành bằng cách cắt đứt đường vận chuyển điện cao thế của Ðập. Hai đặc vụ Ðức cư ngụ tại Las Vegas, một người là chuyên viên đầy kinh nghiệm về chất nổ đã nhiều lần tới Ðập để quan sát khả năng thực hiện kế hoạch. Họ dự định thuê một chiếc thuyền giả vờ câu cá và dùng nó để gắn bom vào tháp dẫn nước của Ðập.

Tháng 4-1942, 5 tháng sau vụ Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, bộ Phim “Kẻ phá hoại” được công chiếu. “Trong phim một anh hùng làm việc tại công xưởng Quốc Phòng ở Nam Cali khi kẻ phá hoại đốt cháy một phần của xưởng. Bạn của người anh hùng bị giết, kẻ phá hoại trốn thoát và người anh hùng bị nhầm là kẻ phá hoại, ông bỏ trốn và truy lùng kẻ đã giết bạn mình khắp đất nước. Ông ta theo sát những manh mối và tìm đến thị trấn Ghost ở Nevada gần Ðập Hoover, nơi ông đã tiếp xúc với nhóm phá hoại, biết rằng họ đang âm mưu cho nổ con Ðập, người anh hùng giả làm kẻ xấu và nhập vô nhóm phá hoại với hy vọng sẽ tìm ra kẻ giết bạn mình.

Xây dựng đập Hoover năm 1934. Nguồn. tribupedia.com

Nhóm phá hoại băng ngang nước Mỹ với trọng tâm là đánh chìm tàu chiến Moored tại thành phố New York sau khi âm mưu nổ đập Hoover trước đó đã bị người anh hùng phá hỏng”

Ðiều thú vị là bộ phim đã được chiếu năm 1942, chỉ một tháng trước khi chiến tranh, giai đoạn sản xuất thật sự bắt đầu trước ngày Trân Châu Cảng bị tấn công 7-12-1941.

Ðoạn trích dẫn trên được lấy từ tạp chí Prologue, cũng cho biết kế hoạch của hai đặc vụ của Ðức tại Las Vegas đơn giản, sạch dấu vết, kỹ thuật tốt. Không thiết bị phức tạp, không máy móc chiến tranh, không cần nhiều lính. Họ sẽ thuê thuyền câu cá, chèo ra hồ như mọi người, khi không ai để ý, họ gắn bom vào bên hông tháp dẫn nước. Nhưng cả hai đã bị bắt trước khi thực hiện đầy đủ kế hoạch, và Ðập không bị tàn phá.

Xây cầu treo qua đập Hoover. Nguồn. High Country News

Vài ngày sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng. Người Nhật bắt đầu thăm dò khả năng radar của Mỹ dọc bờ biển Thái Bình Dương cùng sự hợp tác với các nhân viên bí mật đã nằm vùng tại nơi ấy. Trong quá trình thực hiện, theo các khả năng của radar và các nguồn tương tự, họ đã tìm được những nơi vị trí sóng radar có hiệu quả, yếu hoặc mất sóng.

Ngày 31-12-1941, Bộ Tư Lệnh Không Quân Ðánh Chặn 4 đã báo rằng có nhiều máy bay địch đã hạ cánh và được giấu gần vùng đất sa mạc ở Idaho, Brawley ở thung lũng Imperial của Cali. Họ cũng báo cáo rằng có 5 bản tin liên lạc bằng mật mã Nhật đã được gởi mỗi ngày giữa Brawley và thành phố Mexico qua làn sóng ngắn. Lúc 12:32pm chiều ngày 31-12-1941, Cục Ðiều Tra Liên bang đã chuyển thông tin như sau:

Những người xây đập Hoover. Nguồn. waterandpower.org

“Kế hoạch tấn công bằng Không và Hải lực vào San Diego, San Perdo và San Francisco sẽ xảy ra lúc hừng sáng vào ngày Tết năm mới hoặc Chúa Nhật sau đó. Tấn công vào San Diego và San Perdo trước. Số người lạ sẽ xâm nhập bờ biển. Cuộc tấn công trên không do các Phi công Ðức từ ngoài biên giới nơi máy bay đang cất giấu, họ cất cánh trước bình minh, bay ở độ cao. Nếu Không Lực được báo động, họ sẽ bị đánh chặn trước khi tới mục tiêu. Hãy nhớ trận Trân Châu Cảng”

Cuộc tấn công tính toán kỹ ấy bị ngưng lại vì các cộng sự viên bí mật của Mỹ, đó là một người đàn bà, như một điệp viên, một tài tử điện ảnh tên là Rochelle Hudson, người cùng sát cánh với chồng là Sĩ Quan Hải Quân Mỹ, đã làm cuộc du lịch nghỉ hè bí mật Mễ Tây Cơ trước và ngay lúc sắp chiến tranh để quan sát liệu có các hoạt động của Ðức, Nhật về khu biên giới phía Nam hay không, nếu có thì cỡ nào. Trong cuộc nghỉ hè, hai vợ chồng đã tìm ra một số lượng lớn nhiên liệu máy bay do đặc vụ Ðức chứa tại Baja, Cali. Bằng mọi cách, số nhiên liệu cất giấu đã được tịch thu nên không có nhiên liệu cho máy bay thực hiện vụ tấn công và kế hoạch bị hủy bỏ.

Những động cơ điện trong hầm ngầm của đập Hoover. Nguồn. YouTube

Sau đó các vùng được tăng cường ra-đa theo dọc bờ biển từ Los Angeles tới tận Mễ và cả 2 phía của Baja. Hầu hết những cuộc xâm nhập Ðập Hoover bằng Không Lực suốt phạm vị rộng 300 miles từ Cali tới vùng Thái Bình Dương, hoặc lên phía trên qua Baja không thể nào thực hiện được. Có hai con đường có thể phá Ðập Hoover. Một, bằng đường thủy ngược giòng sông Colorado, thứ hai, bằng hàng không bay tới từ Arizona và Tân Mễ Tây Cơ, cả hai đường đều không thể thực hiện được. Ðường thủy qua sông Colorado bằng tàu ngầm đã được canh rất kỹ.

Trong khi quân Ðức điên cuồng với kế hoạch phá hủy Ðập Hoover bằng mọi cách. Người Nhật thì yên lặng tự mình phát triển kế hoạch tấn công vô đất Mỹ bằng cách đánh một đòn hủy diệt lớn không tốn nhiều nhân lực, thiết bị và tài chánh. Kế hoạch khởi sự nhỏ, với tàu ngầm loại mini hai người điều khiển là nhân tố chính, bước cuối là dự định cho nổ bom hạt nhân tại thành phố Los Angeles, tới Ðập Hoover.

Những đường hầm dưới đập Hoover. Nguồn. blogspot.com

Hđv (2020)

Nguồn. The-wanderling.com