Mùa gặt cỏ bàng miền Tây

Huỳnh Phương

Ảnh: Trần Ngọc Dũng, Bùi Gia Phú

Thứ ba, 1/9/2020, 02:08 (GMT+7)

Tiền Giang

Bước vào mùa gặt, cánh đồng cỏ bàng xanh mướt đẹp như tranh ở Tân Phước níu chân các nhiếp ảnh gia bởi nét thanh bình của vùng quê.

Bức tranh cánh đồng cỏ bàng vào mùa gặt, do Trần Ngọc Dũng (TP HCM) chụp bằng flycam trong chuyến sáng tác ảnh của anh cùng tay máy Bùi Gia Phú người Mỹ Tho, tại xã Tân Hòa Thành, Tân Phước, Tiền Giang giữa tháng 8. Tân Phước nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, địa phận Tiền Giang, có điều kiện tự nhiên đất phèn thuận lợi để trồng cỏ bàng. Huyện đang có trên 100 ha cỏ bàng, tập trung nhiều tại các xã Tân Hòa Thành, Hưng Thạnh và Phú Mỹ.

Cỏ bàng còn được gọi là bàng hoặc cói bàng, trước đây mọc tự nhiên nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cỏ có thân dưới cứng, dạng ống khoảng 8 – 10 mm, nằm ngang trong bùn. Thân thẳng đứng cao khoảng 1 – 1,5 m và có hoa màu nâu ở phần ngọn.

Vào mùa thu hoạch tháng 8, người dân dùng lưỡi liềm cắt gốc theo từng khóm, khóm nào cắt xong thì qua đến khóm khác, rồi thực hiện “vũ điệu giũ cỏ xuống đất”. Cỏ cắt xong phân thành các loại ngắn, dài, sau đó cột thành từng bó tròn khoảng 2 – 3 kg.

Cỏ bàng dễ trồng, chịu phèn, ít tốn công chăm sóc và ít sâu bệnh. Cỏ trồng gần nửa năm đến khi cao quá đầu người lớn thì bắt đầu thu hoạch. Cỏ cắt xong cứ để gốc đó sẽ lại mọc nhiều lần và không cần trồng mới. Một ngày người dân cắt được khoảng 300 bó.

Nụ cười phấn khởi của người lao động trên đồng. Loại cỏ này được người dân miền Tây sáng tạo làm thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ như đan đệm, làm nón, giỏ xách… Để làm ra những sản phẩm đó, sau khi cắt về người dân dùng máy để ép bàng, phơi khô, rồi ép lại lần nữa, còn trước kia cỏ được giã bằng sức người, dùng chày để giã cho mềm.

Vợ chồng ông Thắng dành chút thời gian ăn trưa ngay trên thuyền chở cỏ. Mùa gặt cỏ bàng tuy vất vả nhưng ấm tình người khi họ cùng san sẻ công việc với nhau và luôn cởi mở, thân thiện với du khách, nhiếp ảnh gia về săn ảnh.

Động tác thuần thục của người dân khi thảy từng bó cỏ bàng cho người trên thuyền, vận chuyển ra đường lớn để thương lái đem về bán lại. Bàng mới thu hoạch còn tươi nếu thương lái chưa đến mua kịp hoặc gặp những ngày mưa không chỗ phơi, người dân sẽ phơi lên sào.

Thuyền chất đầy cỏ bàng đẹp như tranh khi nhìn từ trên cao. Từ lâu cỏ bàng đã đi vào ca dao vùng Đồng Tháp Mười: “Bông xanh mà lá cũng xanh/ Em đi cấy lúa cho anh nhổ bàng”.

Người dân chèo thuyền vận chuyển cỏ bàng ra đường lớn.

“Quá trình gặt cỏ, bó cỏ bàng diễn ra rất đời thường, cùng với sự nhiệt tình của người dân theo sắp đặt của chúng tôi góp phần tạo nên những tác bức ảnh độc đáo và rực rỡ sắc màu”, anh Dũng chia sẻ.

Người dân ôm những bó cỏ bàng lên vệ đường. Hiện giá bàng luôn giữ ở mức 15.000 – 20.000 đồng một bó. Ngoài ra, các cọng cỏ bàng có đường kính khoảng 4 – 6 mm còn được các cửa hàng kinh doanh nước uống thu mua làm ống hút thân thiện môi trường, thay thế ống hút nhựa. Ngoài huyện Tân Phước (Tiền Giang), ngày nay cỏ bàng còn được trồng nhiều tại huyện Đức Hòa (Long An) và huyện Giang Thành (Kiên Giang).

Emotional goodbye: Police dog whimpers at partner’s funeral

Andrew Vaughan / AP

June 13, 2014, 3:42 AM AEST

By Amy Eley

today.com

Một đám tang bi thảm trong tuần này đã đánh dấu một cuộc chia tay đau lòng giữa một chú chó cảnh sát và sĩ quan của anh ta. Cảnh sát trực thuộc Hoàng gia Canada Dave Ross, cùng với các sĩ quan Fabrice Gevaudan và Douglas Larche, đã bị giết bởi một tay súng ở Mocton, New Brunswick vào tuần trước trong khi làm nhiệm vụ. Sự mất mát không chỉ của gia đình họ và cộng đồng mà còn cả chú chó cảnh sát của Ross, Danny. Ross đã phục vụ

Một sĩ quan giữ Danny, đối tác K9 của sĩ quan RCMP bị giết, Constable David Ross, tại lễ tang cho ba sĩ quan RCMP đã thiệt mạng khi làm nhiệm vụ. Marc Grandmaison / Ngày nay

Một đám tang bi thảm trong tuần này đã đánh dấu một cuộc chia tay đau lòng giữa một chú chó cảnh sát và sĩ quan của anh ta.

Danny, đối tác K9 của RCMP Constable Dave Ross đã bị giết, nhìn xung quanh khi bắt đầu lễ tang trung đoàn RCMP vào thứ Ba. Sean Kilpatrick / Hôm nay

Cảnh sát trực thuộc Hoàng gia Canada Dave Ross, cùng với các sĩ quan Fabrice Gevaudan và Douglas Larche, đã bị giết bởi một tay súng ở Mocton, New Brunswick vào tuần trước trong khi làm nhiệm vụ.

Quan tài của Constable Douglas James Larche được đưa vào tang lễ trung đoàn RCMP hôm thứ Ba. Sean Kilpatrick / Hôm nay

Sự mất mát không chỉ của gia đình họ và cộng đồng mà còn cả chú chó cảnh sát của Ross, Danny.

Danny ngửi thấy Stetson của đối tác của mình, đã bị giết Constable David Ross, trong lễ tang. Andrew Vaughan / Ngày nay

Ross đã từng là người trông coi Dịch vụ Chó và đã làm việc với Danny, một Shepard gốc Đức, kể từ năm 2012.

Các sĩ quan RCMP đứng im lặng trong lễ tang cấp trung đoàn của ba sĩ quan bị giết. Andrew Vaughan / Ngày nay

Tại lễ tang trung đoàn hôm thứ Ba, Danny đi trong đám tang cùng với một sĩ quan đang đội mũ của Ross. Con chó cũng được cho là đã nghe thấy tiếng rên rỉ trong suốt dịch vụ, theo Global News.

Quan tài của ba sĩ quan RCMP thiệt mạng trong khi làm nhiệm vụ được treo cờ Canada tại lễ tang trung đoàn. Andrew Vaughan / Ngày nay

Trong khi nhiều con chó được nghỉ hưu sau khi mất người giám sát, Cst. Vợ của Ross, Rachael, nói với RCMP rằng chồng cô muốn Danny tiếp tục làm việc. RCMP hiện đang làm việc để đối sánh Danny với một trình giải quyết Dịch vụ dành cho chó khác.

Ủy viên cảnh sát trực thuộc Hoàng gia Canada Bob Paulson tặng vợ góa Rachael của Constable Dave Ross với Stetson của sĩ quan RCMP đã bị giết trong một lễ tang cấp trung đoàn. Sean Kilpatrick / Hôm nay

Búp bê Daruma Nhật Bản: Câu chuyện có thật đằng sau những món quà lưu niệm cực kỳ dễ thương!

Date published: 15 February 2020
Last updated: 17 February 2021

Written by Lucio Maurizi

Daruma là một loại búp bê truyền thống của Nhật Bản, ở Nhật Bản đã trở thành biểu tượng của sự bền bỉ và may mắn. Nhưng bên ngoài Nhật Bản, không nhiều người biết về lịch sử của nó, hoặc những gì ẩn sau vẻ ngoài ngốc nghếch của nó. Hãy tưởng tượng bạn đang đến thăm Nhật Bản. Bạn còn vài ngày nữa trước khi phải về nước, bạn bè và gia đình đều yêu cầu bạn mang theo đồ lưu niệm. Bạn muốn độc đáo, có thể tránh rượu thông thường, móc khóa với hình ảnh các địa danh nổi tiếng, hoặc rất phổ biến (chính xác là như vậy) nhưng một chút sáo rỗng của KitKat. Khi đi bộ, bạn nhìn thấy một con búp bê tròn, màu đỏ, dễ thương ở một trong những cửa sổ của cửa hàng. Bạn tình cờ bắt gặp một trong những món đồ mang tính biểu tượng nhất của Nhật Bản mà bạn có thể tìm thấy.

Daruma thực sự là một trong những biểu tượng của Nhật Bản. Thật hợp lý khi bạn mang về nhà và tặng nó như một món quà hoặc trưng bày trên kệ, nhưng vẻ ngoài của nó có thể lừa dối, vì con búp bê này, đại diện cho một vị thần, có lịch sử lâu đời, di sản phong phú và nguồn gốc khá đáng lo ngại.

Daruma được mô phỏng theo Bodhidharma, một nhà sư được công nhận là người sáng lập ra Thiền tông, người dường như đã sống từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 6 CN. Nguồn gốc của ông bị che đậy trong bí ẩn và hầu hết các tài khoản ghi lại cuộc đời của ông đều xen lẫn với các truyền thuyết, khiến việc theo dõi chuyến hành hương của Bodhidharma từ “Các vùng phía Tây” (có thể là Trung Á) là một nhiệm vụ rất khó khăn. Trong chuyến du hành của mình, ông đã dừng chân một thời gian tại một tu viện Thiếu Lâm ở Trung Quốc, sáng lập ra môn võ thuật đồng âm nổi tiếng. Sau đó ông tiếp tục cuộc hành trình của mình cho đến khi ông quyết định định cư trong một hang động và thiền định. Đây là nơi bắt đầu lịch sử của Daruma (theo tên tiếng Nhật của Bodhidharma).

Nhà sư đã trở thành một bức tường-gazer. Ông thiền định, mắt nhìn vào tường, trong tư thế ngồi trong chín năm, không nghỉ, và không nhắm mắt, trừ một lần, sau bảy năm. Ông đã rất tức giận với bản thân vì những gì ông cho là thiếu kỷ luật, đến nỗi ông tự cắt mí mắt của mình để ngăn mình ngủ lại. Khi mí mắt chạm đất, chúng mọc lên những cây chè xanh. Truyền thuyết này là một trong những lý do đằng sau việc các nhà sư Phật giáo thường uống trà xanh để tỉnh táo.

Ngoài việc tự cắt xẻo, Bodhidharma còn bị mất cả tay và chân (theo một số truyền thuyết thì chúng đã rụng rời khỏi cơ thể của ông ấy) do hậu quả của việc ông ấy bất động trong 9 năm. Nghệ thuật và văn hóa dân gian mô tả Bồ Đề Đạt Ma cho thấy ông hầu như chỉ thể hiện những đặc điểm này, đó là lý do tại sao búp bê Daruma, về mọi mặt, tượng trưng cho vị trí và đặc điểm của Bồ Đề Đạt Ma.

Ngoài ra, mọi thứ về thiết kế của Daruma đều có nguồn gốc và ý nghĩa sâu xa, từ những chi tiết nhỏ nhất, khiến con búp bê này không chỉ là một món đồ gia dụng đơn giản.

Đặc điểm của Búp bê Daruma

Một điều nổi bật hơn cho rằng nó bắt nguồn từ thực tế rằng, trong quá khứ, những người muốn vị thần trú ngụ trong con búp bê giúp họ đạt được mục tiêu của họ sẽ thề rằng họ sẽ ban cho Daruma thị lực của nó nếu thần giúp họ thành công trong nỗ lực của mình.

Lông mặt: Râu và lông mày vẽ trên búp bê nhằm tái tạo các đặc điểm trên khuôn mặt của Bodhidharma, nhưng chúng không phục vụ mục đích thẩm mỹ đơn thuần.

Trên thực tế, lông mày có hình dạng giống như con hạc, và bộ râu giống như con rùa. Hai con vật này thường tượng trưng cho tuổi thọ, trong văn hóa Nhật Bản (cũng như ở phần còn lại của Đông Á). Các nhà chế tác bắt đầu áp dụng những hình dạng này trên Daruma để phù hợp với câu tục ngữ Nhật Bản “Con hạc sống 1000 năm, con rùa sống 10.000”.

Cơ thể: Daruma không có chân hoặc tay, như một lời nhắc nhở về việc Bodhidharma đã mất tứ chi trong hành trình đạt đến giác ngộ thông qua sự hy sinh bản thân và thiền định, nhưng còn nhiều hơn thế.

Những con búp bê ban đầu được thiết kế để không thể lật nhào. Nghiêng chúng sẽ luôn dẫn đến việc Daruma xoay trở lại vị trí thẳng đứng của nó. Daruma là một lá bùa may mắn, nhưng quan trọng hơn là sự kiên trì. Một người yêu cầu sự giúp đỡ của vị thần này thừa nhận tầm quan trọng của sự hy sinh khi đối mặt với nghịch cảnh.

Vì lý do này, con búp bê như một lời nhắc nhở rằng bất kể người ta có thể bị ngã bao nhiêu lần, người ta phải luôn chịu đựng và đứng dậy để đạt được mục tiêu. Có mối liên hệ chặt chẽ với hệ tư tưởng này và với chính Daruma là cách nói tiếng Nhật nanakorobi yaoki, được dịch một cách lỏng lẻo thành “giảm bảy lần, tăng tám lần”.

Chữ viết: chữ kanji có nghĩa là “may mắn”, “tài sản”, “sự kiên trì” hoặc những chữ khác tương tự đôi khi được viết trên phần giữa của Daruma, có thể là phản ánh lý do mà con búp bê được mua. Ngoài ra, đôi khi, mọi người viết điều ước hoặc mục tiêu của họ lên chính con búp bê, có thể để nhắc nhở bản thân, hoặc để thông báo cho vị thần một cách “chính thức” hơn.

Màu sắc: lý do đằng sau sự lựa chọn màu sắc của Daruma rất thú vị, nhưng phức tạp và khó tìm được sự đồng thuận. Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy những con búp bê này được trang trí bằng đủ loại màu sắc, mỗi con biểu thị một điềm lành khác nhau. Ví dụ, ở Nhật Bản, màu vàng có liên quan đến tiền bạc và danh vọng; màu đen có nghĩa là để xua đuổi những điều không may mắn; màu xanh lá cây tượng trưng cho sức khỏe và thể lực. Tuy nhiên, những liên tưởng chủ đề màu sắc này được rút ra từ vô số niềm tin, mê tín dị đoan và truyền thuyết khác nhau, tất cả chúng kết hợp với nhau để tạo thành một hình ảnh tập thể.

Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là cho đến ngày nay màu phổ biến nhất được sử dụng cho Daruma là màu đỏ, và ban đầu nó là màu duy nhất. Trong nhiều thế kỷ, các học giả đã cố gắng nắm bắt động cơ đằng sau sự lựa chọn màu sắc này, nhưng ngay cả ngày nay nó vẫn được chứng minh là khó. Một trong những lý do có thể liên quan đến Bodhidharma, người, do nền tảng Phật giáo của mình có thể đã mặc áo cà sa màu đỏ. Tương tự như vậy, các nhà sư ngày nay sử dụng áo choàng cùng màu.

Các lý thuyết khác đề cập đến sức mạnh siêu nhiên của màu đỏ và mối liên hệ của nó với các vị thần. Thêm vào những truyền thuyết vốn đã rất nghiệt ngã xung quanh Daruma, màu sắc chủ yếu của nó có thể bắt nguồn từ thời kỳ bùng phát bệnh đậu mùa tàn phá khắp châu Á.

Ở Nhật Bản và các nơi khác, không biết làm thế nào để chống lại “lời nguyền” như vậy do một vị thần báo thù gửi đến, mọi người bắt đầu mặc quần áo màu đỏ, nghĩ rằng màu này làm hài lòng vị thần đậu mùa và sẽ giúp đẩy lùi bệnh tật. Tương tự, mọi người sẽ trang trí cửa và nhà của họ bằng dây thừng màu đỏ, nhằm ngăn chặn bệnh tật xâm nhập vào nhà của họ. Tuy nhiên, lý thuyết này sẽ không giải thích được tại sao, rất thường xuyên, các nạn nhân của bệnh đậu mùa sẽ được quấn khăn khi bị ốm và khi chết, với những tấm màn đỏ, như được miêu tả trong cuốn sách Vụ đắm tàu ​​của Akira Yoshimura. Theo một số nghiên cứu, một số người tin rằng thần đậu mùa không thích màu đỏ. Trên thực tế, anh ta ghét nó đến mức mọi người tin rằng anh ta có thể chuyển lời nguyền mà anh ta đã gây ra cho mọi người, từ nạn nhân sang tấm màn nhuốm màu những gì đối với anh ta là một màu sắc tức giận. Trong suốt lịch sử, búp bê Daruma được cho là có thể ngăn ngừa bệnh tật và giúp phục hồi (theo nghĩa đen là phục hồi sức khỏe), và phần lớn khả năng này được liên kết với màu đỏ, nhưng không ai có thể cho phép nó được chấp nhận rộng rãi. lý do tại sao.

Daruma đã thay đổi như thế nào theo thời gian

Lịch sử của Daruma bắt đầu từ thế kỷ 17. Chính những người nông dân địa phương ở thành phố Takasaki, thuộc tỉnh Gunma, đã tạo ra phiên bản đầu tiên của những con búp bê này, như một thứ bùa để được các nhà sư ban phước. Vì sinh kế của người nông dân phụ thuộc nhiều vào may rủi, họ đã nghĩ ra mẹo mê tín này để giúp họ mùa màng bội thu. Trong khoảng vài thập kỷ, việc sử dụng Daruma đã lan rộng khắp các ngành nghề và khu vực.

Như thường lệ, lịch sử và nguồn gốc của Daruma không mang trọng lượng như trước đây. Màu sắc của nó không phải là thứ duy nhất đã thay đổi. Một trong những thay đổi lớn nhất đã xảy ra là hình ảnh của nó là búp bê nữ, cái gọi là Công chúa Daruma và Quý bà Daruma.

Mặc dù những cách giải thích này đã mang lại sức sống cho những hình ảnh như Hello Kitty và Miffy như một Daruma, nhưng giả sử rằng những thay đổi này xảy ra trong thời hiện đại sẽ là sai lầm. Trên thực tế, những lần quay đầu tiên và quyết liệt nhất về hình ảnh của vị thần đã xảy ra vào thời kỳ Edo ở Nhật Bản (1603-1868), ngay sau khi những con búp bê lần đầu tiên được giới thiệu. Trong thời gian đó, đã xảy ra sự phân chia giai cấp xã hội rất rõ ràng. Các thương gia thường bị xếp vào cuối bậc thang, điều này đã thúc đẩy họ tạo ra một loại xã hội vi mô cho riêng mình. Trong số nhiều thứ khác, chúng đã mang lại sự sống cho các đại diện nữ của Daruma. Điều này có lẽ nhằm gây ra những cú đâm vào cơ sở, nơi luôn miêu tả Bodhidharma là một nhân vật nam tính, mạnh mẽ. Những bức tranh vẽ Bồ Đề Đạt Ma với tư cách là một người phụ nữ trở nên phổ biến hơn, trong khi ngày càng có nhiều liên tưởng châm biếm về vị thần trở thành những sự kiện diễn ra hàng ngày.

Khả năng đứng lên của Daruma cho dù người ta có đặt nó xuống bao nhiêu lần đi chăng nữa, có liên quan đến gái mại dâm và xu hướng của họ cũng làm như vậy. Những hình ảnh miêu tả Phallic về Daruma cũng trở nên phổ biến hơn cho đến khi, theo thời gian, hình ảnh gốc và những hình ảnh châm biếm gần như ngang bằng với nhau về số lượng và cách sử dụng. Trong thời hiện đại và đương đại, Daruma đã trở thành một món quà lưu niệm, một món đồ trưng bày và một món quà dễ thương. Tuy nhiên, nó vẫn chưa hoàn toàn mất đi sức mạnh ban đầu trong trí tưởng tượng của tập thể. Mặc dù việc tìm thấy những người biết đầy đủ lịch sử đằng sau tấm bùa may mắn này không phổ biến, nhưng Daruma thường được mua để giúp đạt được mục tiêu của một người.

Cách sử dụng Búp bê Daruma

Nếu lịch sử nghiệt ngã và truyền thuyết đằng sau Daruma vẫn chưa khiến bạn sợ hãi, bạn có thể muốn tìm hiểu cách sử dụng chính xác lá bùa này, nếu bạn tin rằng nó có thể giúp ích cho bạn. Sức hấp dẫn của nó là “sức mạnh” của nó là sự pha trộn giữa siêu nhiên và tâm lý. Như đã đề cập trước đó, khi mua, con búp bê bị mất mắt. Những gì bạn làm là vẽ một mắt vào một trong những vòng tròn trắng trống trong khi cam kết thực hiện mục tiêu của mình và cầu xin thần linh giúp đỡ. Sau đó, bạn sẽ vẽ con mắt thứ hai, trả lại thị lực cho vị thần như một lời cảm ơn vì đã giúp đỡ bạn khi bạn đạt được mục tiêu. Bạn cần nhớ rằng Daruma thưởng cho sự hy sinh và ý chí kiên định. Lưu ý rằng Bodhidharma là người đã từ chối giúp đỡ một nhà sư khác, người muốn trở thành người học việc của mình cho đến khi cậu học trò trẻ quyết định thể hiện quyết tâm của mình bằng cách tự chặt cánh tay của mình.

Một năm sau khi mua Daruma, bạn nên trả lại nó cho ngôi đền mà bạn đã lấy được và đốt nó, bất kể bạn có thành công với điều mình mong muốn hay không. Thậm chí còn có một buổi lễ gọi là daruma kuyo hoặc dondoyaki ở một số ngôi đền trên khắp Nhật Bản, trong đó những đống Daruma khổng lồ được đốt cùng một lúc (nhưng đây không phải là dịp duy nhất bạn có thể đốt búp bê Daruma của mình).

Ban đầu, tác dụng có lợi của con búp bê được cho là sẽ hết sau một năm. Sau khoảng thời gian này, con búp bê cần được đốt để giải thoát cho vị thần. Quá trình này không được hiểu là từ bỏ các mục tiêu của một người. Ngược lại, nó được tưởng tượng như một sự tái tạo lời thề của một người (và cam kết mua một Daruma khác).

Làm một con búp bê Daruma

Sản xuất búp bê Daruma là một doanh nghiệp gần như độc quyền của thành phố Takasaki, thuộc tỉnh Gunma (phía bắc Tokyo). Thị trấn sản xuất hơn 80% búp bê được phân phối ở Nhật Bản. Từ đây, những con búp bê đến được mọi nơi trên đất nước, và có thể được mua ở mọi thành phố (hoặc trực tuyến thông qua nhiều trang web – bao gồm cả Amazon). Daruma được chế tác bằng một loại giấy papier-mâché làm bằng tay đặc biệt gọi là washi.

Việc làm washi tốn rất nhiều công sức và ở Nhật Bản được coi là một nghệ thuật của riêng mình. Các tấm này cực kỳ đàn hồi và được làm thủ công từ sợi, thùng và một lượng hóa chất hạn chế, thông qua quá trình đập (thường bằng tay) và phơi khô dưới ánh nắng mặt trời hoặc trên các tấm nung nóng. Tất cả Daruma đều được làm thủ công và vẽ tay, vì vậy không có hai con búp bê nào có thiết kế giống hệt nhau.

Daruma trong văn hóa Nhật Bản hiện đại

Rất giống với những người nông dân (và sau này là tất cả các loại hình kinh doanh) trong quá khứ, không có gì lạ, thậm chí ngày nay, người ta thấy một con búp bê Daruma trang trí nhà hàng, cửa hàng hoặc nhà cửa. Kích thước của nó cũng có thể cho ta ý tưởng về mức độ mong muốn của một người, vì người ta tin rằng con búp bê càng lớn thì khát vọng của người có được nó càng lớn. Tuy nhiên, việc sử dụng Daruma không chỉ giới hạn ở doanh nghiệp hoặc một số hộ gia đình tư nhân. Con búp bê này, qua nhiều thế kỷ, đã đạt được một vị trí đặc quyền trong văn hóa Nhật Bản, đến mức nó có xu hướng xuất hiện trong một số tình huống và địa điểm.

Ví dụ, các chính trị gia thường mang theo búp bê của họ trong các cuộc phỏng vấn, bài phát biểu và thuyết trình, đặc biệt là trong thời gian bầu cử. Giống như những người khác có được Daruma, họ có một điều ước và cam kết trả ơn thần bằng thị lực nếu ngài ban cho họ. Có thể cho rằng, điều này cũng đi sâu vào một tín ngưỡng văn hóa ở Nhật Bản, qua đó một chính trị gia có thể thể hiện quyết tâm và cam kết của mình đối với đất nước và người dân thông qua biểu tượng gắn liền với Daruma. Mặt hàng thiết yếu quen thuộc của Nhật Bản này chắc chắn đã trải qua nhiều lần thay đổi và diễn giải. Nó được coi như một vị thần có thể giúp đạt được thành công. Nó đại diện cho một trong những khía cạnh quan trọng nhất của Thiền tông liên quan đến sự nhẫn nại, kiên trì và hy sinh. Nó trở thành một nhân vật mà một người yêu cầu sự giúp đỡ thông qua các mối đe dọa (chỉ cho thần nhìn lại nếu ngài giúp chúng ta). Trong lịch sử của nó, Daruma vừa là biểu tượng của giai cấp thống trị, vừa là một công cụ được sử dụng để chế nhạo và thách thức sự thành lập. Mặc dù Nhật Bản sở hữu một nền văn hóa rất thú vị và vô cùng phong phú về biểu tượng và truyền thống, nhưng rất ít hình ảnh của đất nước khác có thể tự hào về nguồn gốc và ý nghĩa đa dạng và bí ẩn không kém đã ăn sâu vào xã hội.

Những câu hỏi thường gặp về Búp bê Daruma

Theo thời gian, độc giả đã đặt câu hỏi cho chúng tôi về daruma. Chúng tôi đã kiểm tra câu trả lời của mình bằng tiếng Nhật am hiểu và biên soạn chúng tại đây.

1. Tôi đã đọc rằng một người có thể giữ con búp bê daruma của họ mãi mãi – mặc dù một năm là phổ biến hơn. Điều này có đúng không?

Một con búp bê daruma thường được giữ cho đến khi đạt được mục tiêu. Nhiều người Nhật sẽ coi một mục tiêu có thể đạt được trong vòng một năm, do đó điều này rất phổ biến. Tuy nhiên, vì vẽ mắt thể hiện sự cam kết của bạn đối với một mục tiêu, nó hướng về thành tích đó hơn bất cứ điều gì khác.

2. Tôi có một con búp bê daruma và tôi muốn đặt lại đôi mắt thành màu trắng để tôi có thể sử dụng lại nó một lần nữa. Điều này có được phép không? Bạn có thể tái chế một con búp bê daruma?

Nói một cách chính xác, một con búp bê daruma là về thành tích của chính bạn và hầu hết người Nhật có thể sẽ không xem xét việc “đặt lại” hoặc “tái chế” một con búp bê. Nếu một con búp bê daruma mang lại cho bạn may mắn về thành tích của bạn, thật tuyệt vời! Nếu có thể, hãy để người khác trải nghiệm cảm giác tương tự với búp bê daruma mới của riêng họ. Theo các phóng viên Nhật Bản của chúng tôi, việc “tái chế” một con búp bê daruma sẽ không mang lại xui xẻo cho người nhận, nhưng vì nó là một đồ vật được cá nhân hóa nên nó phải thuộc về một người. Sự tương tự trong văn hóa phương Tây có thể giống như việc đi đến một cái giếng ước, lấy một đồng xu mà người khác đã ném, ước lên nó và ném lại.

3. Tôi có thể mua búp bê daruma cho người khác không?

Nhiều người Nhật thường mua một con búp bê daruma để sử dụng cho riêng họ, tuy nhiên, mua một con búp bê làm quà cho người khác cũng tốt. Ngẫu nhiên, cũng như không có thời hạn nào được đặt ra để đạt được mục tiêu cá nhân, không có thời hạn nhất định để người nhận đặt mục tiêu của mình bằng cách sử dụng daruma.

4. Tôi có thể thực hiện một điều ước cho người khác bằng cách sử dụng một con búp bê daruma không?

Vì một con búp bê daruma nhằm mục đích mong ước về một điều gì đó có thể đạt được đối với bạn, nó thường không được sử dụng cho một kết quả hy vọng cho người khác. Điều đó nói lên rằng, các thành viên thân thiết trong gia đình có thể sử dụng daruma như một loại bùa hộ mệnh omamori và, ví dụ, mong muốn đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển sinh của trường hoặc tương tự.

Viết bởi Lucio Maurizi

Lucio Maurizi là một nhà văn, nhiếp ảnh gia và một streamer người Ý. Anh ấy đã dành 10 năm ở Hoa Kỳ và hiện đang sống ở Nhật Bản, tập trung vào việc tạo ra các bài báo và kênh dành riêng cho đất nước Mặt trời mọc. Anh ấy thích bất kỳ hình thức kể chuyện nào, Natto, và wasabi, và đang cố gắng dành thời gian để viết cuốn tiểu thuyết của mình. Trên Instagram @that_italian_guy_in_japan.

Japanese Daruma Dolls: The true story behind the insanely cute souvenirs!

Date published: 15 February 2020
Last updated: 17 February 2021

Written by Lucio Maurizi

The Daruma is a traditional Japanese doll, which in Japan has become a symbol of perseverance and luck. But outside Japan, not many people know of its history, or what hides behind its goofy look. Imagine you’re visiting Japan. You have a few more days before you have to travel back home, and your friends and family all asked you to bring souvenirs. You want to be original, maybe avoid the usual alcohol, keychains with pictures of famous landmarks, or the very popular (rightfully so) but a little cliché multi-flavor’s of KitKat. As you walk you see a cute, red, round doll in one of the shops’ windows. You stumbled upon one of the most iconic Japanese items you can find.

The Daruma is indeed one of the symbols of Japan. It makes sense to take home with you and give it as a present, or display it on a shelf, but its appearance might be deceiving, as this doll, representing a deity, has a long history, rich heritage, and a quite disturbing origin.

The Legend Behind the Daruma Doll

The Daruma is modelled after Bodhidharma, a monk accredited with the founding of Zen Buddhism, who seems to have lived between the 5th and 6th centuries CE. His origins are shrouded in mystery, and most of the accounts documenting his life are mixed with legends, making the tracking of Bodhidharma’s pilgrimage from the “Western Regions” (possibly central Asia) a very hard task. During his travels he stopped for a time in a Shaolin monastery in China, founding the famous homonymous martial art. He then continued his journey until he decided to settle in a cave and meditate. This is where the history of the Daruma (after Bodhidharma’s Japanese name) begins.

The monk became a wall-gazer. He meditated, eyes to a wall, in a seated position for nine years, without breaks, and without closing his eyes, except once, after seven years. He was so furious at himself for what he perceived as lack of discipline, that he sliced his own eyelids off so to prevent himself from ever sleeping again. As the eyelids touched the ground, they sprouted green tea plants. This legend is one of the reasons behind Buddhist monks often drinking green tea to stay awake. In addition, everything about the Daruma’s design has deep roots and meaning, down to the most minute details, making this doll much more than a simple household item.

Features of Daruma Dolls

A more prominent one suggests that it derives from the fact that, in the past, those who wanted the god residing in the doll to help them achieve their goals would vow that they would give Daruma its eyesight if the god helped them succeed in their endeavours.

Facial hair: The beard and eyebrows painted on the doll are meant to reproduce Bodhidharma’s facial features, but they do not serve a merely aesthetic purpose. In fact, the eyebrows are shaped to look like cranes, and the beard like turtles. These two animals often represent longevity, in Japanese culture (as well as in the rest of East Asia). Crafters started applying these shapes on the Daruma to match the Japanese proverb “The crane lives 1000 years, the turtle 10,000”.

Body: the Daruma presents no legs or arms, as a reminder of Bodhidharma losing his limbs in his quest to reach enlightenment through self-sacrifice and meditation, but there is more.
The original dolls were designed to be impossible to tip over. Tilting them would always result in the Daruma swinging back into its upright position. The Daruma is a talisman of luck, but more importantly perseverance. One asking for the help of this god acknowledges the importance of sacrifice in the face of adversity.
For this reason the doll serves as a reminder than no matter how many times one could get knocked down, one must always endure and stand back up, in order to achieve a goal. Strongly connected to this ideology and to the Daruma itself is the Japanese expression nanakorobi yaoki, which loosely translates into “seven times down, eight times up”.

Writing: kanji meaning “luck”, “fortune”, “perseverance”, or similar others are sometimes written on the Daruma’s midsection, probably as a reflection of the reason for which the doll was acquired. Additionally, sometimes, people write their wish, or goal, on the doll itself, maybe to remind themselves, or to inform the god in a more “official” manner.

Colour: the reasons behind the choice of the colour of the Daruma are interesting, but convoluted, and hard to find consensus on. Nowadays we can find these dolls decorated in all sorts of colours, each one of them signifying a different auspice. For example, in Japan, the colour gold is linked to money and fame; black is meant to ward off bad luck; green symbolizes health and fitness. Yet these colour-theme associations are drawn from a myriad of different beliefs, superstitions, and legends, all of which come together to form a collective image.

One thing that is certain, though, is that to this day the most common colour used for the Daruma is red, and originally it was the only colour. For centuries scholars tried to grasp the motivation behind this colour-choice, but even today it proves to be hard. One of the reasons might connect to Bodhidharma, who, given his Buddhist background may have worn red robes. Similarly, monks today use robes of the same colour.

Other theories refer to the supernatural powers of the colour red and its connection to the gods. Adding to the already very grim legends surrounding the Daruma, its staple colour may have originated from a period of devastating smallpox outbreaks across Asia.

In Japan, and elsewhere, not knowing how to fend off such a “curse” sent by a vengeful god, people started wearing red garments, thinking that this colour pleased the god of smallpox and would have helped in repealing the illness. By the same token, people would decorate their doors and houses with red ropes, in an attempt to block the illness from accessing their homes. Yet this theory would not explain why, very often, victims of smallpox would be wrapped while ill, and in death, with red drapes, as portrayed in the book Shipwreck by Akira Yoshimura. According to some research some people believed that the god of smallpox didn’t like the colour red. He hated it so much, in fact, that people believed that he might transfer the curse with which he afflicted people, from the victim to the drape tinted in what for him was such an infuriating hue. Throughout history Daruma dolls were believed to be able to ward off illness, and help with recovery (literally bouncing back to health), and great part of this ability was associated to the colour red, but no one was ever able to give a universally accepted reason as to why.

How Daruma Changed Over Time

The history of the Daruma dates back to the 17th Century. It was local farmers in the city of Takasaki, in the Gunma prefecture, that crafted the first version of these dolls, as charms to be blessed by monks. Since the farmers’ livelihood depended heavily on luck, they devised this superstitious trick to help them in their harvest. In the span of a few decades the practice of using the Daruma spread across professions and regions.
As often tradition goes, the history and origin of the Daruma doesn’t carry the same weight it used to. Its colours are not the only thing that has changed. One of the biggest changes that occurred is that of its representation as female dolls, the so-called Princess Daruma, and Lady Daruma.

While these interpretations gave life to images such as Hello Kitty and Miffy as a Daruma, assuming that these changes happened in modern times would be wrong. In fact the first and most drastic spins on the image of the god happened during the Edo Period in Japan (1603-1868), shortly after the dolls were first introduced. During that time, a very clear separation of social classes occurred. Merchants were often placed at the bottom of the ladder, which prompted them to create a sort of micro-society for themselves. Among many other things, they gave life to the female representations of the Daruma. This was probably intended to take jabs at the establishment, which always portrayed Bodhidharma as a masculine, strong figure. Paintings of Bodhidharma as a woman became more common, while more and more satirical associations to the god became every-day events.

The Daruma ability to stand up no matter how many times one would lay it down, was associated to prostitutes and their tendency to do the same. Phallic depictions of Daruma also became more commonplace until, in time, the original image and the satirical ones were almost on par with each other in number and use. In modern and contemporary times, the Daruma has become a souvenir, a display item, and a cute present. Yet it has not completely lost its original power in the collective imaginary. While it is not common to find people, who know the full history behind this good-luck charm, the Daruma is often purchased to help achieve one’s goals.

How to Use a Daruma Doll

If the grim history and legends behind the Daruma have not yet scared you off, you might want to learn just how exactly to use this talisman, if you believe it could help you. Its appeal is that its “power” is a mix of supernatural and psychological. As mentioned earlier, upon purchase, the doll is missing its eyes. What you do is paint one eye in one of the blank white circles while committing to your goal and asking for help to the god. You would then paint the second eye, giving the god its eyesight back as a thank you for helping you, once you achieve your goal. You would need to remember that Daruma rewards sacrifice and unwavering force of will. Note that Bodhidharma was the one who refused to help another monk who wanted to become his apprentice until the young pupil decided to demonstrate his determination by cutting off his own arms.

One year after purchasing the Daruma you should return it to the temple from where you obtained it and burn it, regardless of whether you succeeded in what you wished for. There is even a ceremony called daruma kuyo or dondoyaki in several temples across Japan, during which huge piles of Daruma are burnt at the same time (but these are not the only occasions during which you can burn your Daruma doll).

Originally, the beneficial effect of the doll was believed to expire after one year. After this span of time, the doll needed to be burned in order to free the god. This process is not meant to be interpreted as giving up on one’s goals. On the contrary, it’s imagined as a renewal of one’s vow (and a commitment to buy another Daruma).

Making a Daruma Doll

The production of Daruma dolls is an almost exclusive enterprise of the city of Takasaki, in Gunma Prefecture (north of Tokyo). The town produces over 80% of all the dolls distributed in Japan. From here, the dolls reach every corner of the country, and can be purchased in every city (or online through many websites – including Amazon). The Daruma are crafted with a special kind of hand-made papier-mâché called washi.

The making of washi is very labour-intensive and is considered, in Japan, an art of its own. The sheets are extremely resilient and are crafted from fibre, vats, and a limited amount of chemicals, through a process of beating (often by hand) and drying in the sun, or on heated plates. All Daruma are handmade and hand-painted, so no two dolls have the exact same design.

Daruma in Modern Japanese Culture

Very much like among farmers (and later all kinds of businesses) in the past, it is not uncommon, even today, to see a Daruma doll decorating a restaurant, or a store, or a home. Its size could also give an idea of the magnitude of one’s wish, since it’s believed that the larger the doll, the bigger the aspiration of the person who acquired it. The use of Daruma, though, is not limited to business, or a few private households. This doll has gained, across centuries, such a privileged place in Japanese culture, that it tends to appear in a number of situations and venues.

Politicians, for example, often carry with them their own dolls during interviews, speeches, and addresses, particularly during the election period. Like everyone else who obtains a Daruma, they have a wish, and pledge to repay the god with eyesight should he grant it to them. Arguably, this also dips into a cultural belief in Japan, through which a politician may be showing his determination and commitment to the country and its people through the symbolism embedded with the Daruma. This familiar Japanese staple item certainly underwent numerous changes and interpretations. It’s regarded as a god who may help achieving success. It represents one of the most important aspects of Zen Buddhism with its relation to patience, perseverance, and sacrifice. It became a figure to which one asks for help through threats (giving the god his sight back only if he helps us). In its history the Daruma was both a symbol of the ruling class, and a tool used to mock and challenge the establishment. While Japan possesses a very interesting culture and is vastly rich of symbolism and traditions, few others of the country’s images can boast an equally multifaceted and mysterious origin and meaning so deeply rooted into society.

Common Questions About Daruma Dolls

Over time, readers have asked us questions about daruma. We’ve checked our answers with knowledgeable Japanese and compiled them here.

1. I have read that a person can keep their daruma doll forever – though one year is more common. Is this true?
A daruma doll is typically kept until an objective has been achieved. Many Japanese will consider a goal that is achievable within one year, hence this is very common. However, as painting the eye is representing your commitment to a goal, it’s more about that achievement than anything else.

2. I have a daruma doll and would like to reset the eyes to be white so I can reuse it again. Is this is allowed? Can you recycle a daruma doll?

Strictly speaking, a daruma doll is about your own achievement and most Japanese would likely not consider “resetting” or “recycling” one. If a daruma doll has brought you good luck toward your achievement, fantastic! As possible, let someone else experience the same feeling with their own, new daruma doll. According to our Japanese correspondents, “recycling” a daruma doll would not bring bad luck to a recipient, but as it is a personalized object, it should belong to one person. The analogy in Western culture might be akin to going to a wishing well, removing a coin someone else had tossed, wishing on it, and tossing it back in.

3. Can I buy a daruma doll for someone else?

Many Japanese would typically purchase a daruma doll for their own use, however, buying one as a gift for someone else is fine as well. Incidentally, just as there is no deadline placed on achieving a personal goal, there is no set deadline for the recipient to set his or her goal using the daruma.

4. Can I make a wish for someone else using a daruma doll?
As a daruma doll is intended for a wish about something achievable for you, it would typically not be used for a hopeful outcome for someone else. That said, close family members may use a daruma as a kind of omamori amulet and, for example, wish for a good score on a school entrance exam or similar.

Written by:

Lucio Maurizi

Lucio Maurizi is an Italian writer, photographer, and streamer. He spent 10 years in the United States and currently lives in Japan, focusing on creating articles and channels dedicated to the Land of the Rising Sun. He loves any form of storytelling, natto, and wasabi, and is desperately trying to make time to work on his novel. On Instagram @that_italian_guy_in_japan.

Cảnh sắc bán đảo Sơn Trà

Phạm Phùng-Huỳnh Phương

Thứ năm, 11/6/2020, 02:08 (GMT+7)

Đà Nẵng

Thiên nhiên đa dạng, núi rừng biển cả, cùng vẻ đẹp của “nữ hoàng linh trưởng” thu hút du khách thăm viếng bán đảo.

Bán đảo Sơn Trà (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) huyền ảo trong làn sương lúc bình minh. Đi xe máy theo con đường ven biển Hoàng Sa, du khách sẽ khám phá vẻ đẹp bán đảo Sơn Trà.

Bán đảo có diện tích hơn 4.400 ha, dài 13 km với chu vi khoảng 60 km, độ cao trung bình 350 m, nơi cao nhất trên núi Sơn Trà là đỉnh Ốc gần 700 m. Cùng với đèo Hải Vân và vịnh Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà như bình phong bao bọc, che chắn cho TP Đà Nẵng. Sơn Trà cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 10 km về hướng đông bắc. Bộ ảnh do nhiếp ảnh gia Phạm Phùng (sống và làm việc tại TP Đà Nẵng) thực hiện.

Quần thể kiến trúc chùa Linh Ứng Sơn Trà có điểm nhấn là tượng Phật Bà Quan thế âm Bồ Tát cao 67 m, đứng trên tòa sen có đường kính 35 m. Từ đây, du khách có thể ngắm nhìn toàn bộ khu vực bán đảo Sơn Trà.

Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát uy nghi và huyền ảo trong đêm “Trăng Hoa” ngày 7/5. Siêu trăng tháng 5/2020 gọi là Trăng Hoa vì diễn ra vào tháng hoa nở ở nhiều nước trên thế giới, đạt cực đại với độ sáng mạnh hơn 30% trăng tròn thông thường.

Quang cảnh chùa Linh Ứng Sơn Trà và tượng Quán Thế Âm Bồ Tát với hướng nhìn ra biển Đông. Ngôi chùa nằm ở độ cao 693 m so với mực nước biển, là quần thể nhiều hạng mục gồm chánh điện, nhà tổ, giảng đường, tăng đường và thư viện.

Các vận động viên bay dù lượn trên bán đảo Sơn Trà. Sở hữu phong cảnh thiên nhiên đa dạng, đây là một trong những điểm lý tưởng để tổ chức các giải dù lượn cấp quốc gia, quốc tế, thu hút các phi công dù lượn trong, ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm. Anh Phạm Phùng cho biết, ảnh được chụp vào dịp Giải dù lượn Đà Nẵng mở rộng mang chủ đề “Bay trên Tiên Sa” được tổ chức trong hai ngày 27 – 28/7/2019. Các vận động viên xuất phát tại điểm bay trên bán đảo Sơn Trà, sau đó đáp xuống bãi biển Thọ Quang.

Những con voọc chà vá chân nâu nghỉ ngơi trên cành cây phủ sắc tím hoa thàn mát. Các số liệu thống kê cho thấy Sơn Trà có gần 1.000 loài thực vật, trong đó có 22 loài quý hiếm. Bán đảo cũng là nơi sinh sống của hàng trăm loài động vật, trong đó voọc chà vá chân nâu được mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng” trên bán đảo Sơn Trà, với quần thể khoảng 300 – 400 con, đang được chính quyền địa phương bảo tồn nghiêm ngặt.

Sơn Trà mê hoặc du khách nhất vào mùa “thay áo” trong khoảng tháng 4 – 6, khi khu rừng chò nảy lộc đỏ vàng, cây lim xẹt trổ hoa và cây thàn mát rực sắc tím. Sau những cơn mưa, cả khu rừng yên bình trở nên xao động với tiếng voọc gọi đàn đến kiếm ăn bên sườn núi dốc.

Voọc nằm thư giãn trên cành cây lim xẹt vào mùa hoa nở. Lim xẹt cao 9 – 10 mét, phát triển ở cánh rừng tại khu vực gần mũi Tiên Sa. Từ đường Yết Kiêu, du khách di chuyển theo con đường dốc dẫn lên Sơn Trà khoảng 2 km sẽ bắt gặp sắc hoa vàng nổi bật.

Bán đảo Sơn Trà là hệ sinh thái khép kín với 4 kiểu rừng phân theo độ cao từ trên xuống dưới, tạo môi trường sống lý tưởng cho các loài sinh vật. Trên bán đảo có các loài chim đặc hữu bản địa như bói cá, hút mật, gà lôi, gà rừng, gà nước, sơn ca, họa mi hay hoét đá. Trong đó chim hút mật đỏ (còn gọi chim xác pháo) với màu lông nổi bật, chuyên hút mật hoa và ăn sâu bọ. Chim hút mật có mỏ cong xuống phía dưới, dài và mỏng, thích nghi với cuộc sống ăn mật hoa và côn trùng.

Tạo hóa ban tặng cho Đà Nẵng bán đảo Sơn Trà độc đáo với vị trí trọng yếu về mặt quốc phòng, hệ sinh thái rừng và đa dạng sinh học kề biển. Nhìn từ trên cao, bán đảo Sơn Trà giống hình cây nấm, đầu nấm là núi Sơn Trà và thân nấm là các bãi cát vàng bồi lắng.

Trong ảnh là cảng Tiên Sa nằm trong vịnh Đà Nẵng, tựa lưng vào bán đảo Sơn Trà. Đây là cảng biển nước sâu tự nhiên, sâu nhất 12 m nước; có khu bến container với hệ thống kho bãi, đê chắn sóng, thiết bị chuyên dụng hiện đại, phục vụ giao thương hàng hóa và phát triển kinh tế, du lịch.

Bức họa mùa nước đổ Bát Xát

vnexpress.net

Huỳnh Phương

Từ 2013 đến nay, nhiếp ảnh gia Vũ Hà Nam 5 lần đến vùng cao Bát Xát để săn ảnh phong cảnh và đời sống địa phương mùa nước đổ.

Bình minh soi rọi trên các thửa ruộng bậc thang mùa nước đổ tại Sàng Ma Sáo. Nhiếp ảnh gia Vũ Hà Nam (hay Nam Tròn) sinh năm 1984, hiện sống và làm việc tại Hà Nội, là một người mê mẩn những khung hình mùa nước đổ vùng cao nên dành rất nhiều lần lên đường săn ảnh. Năm nay do dịch bệnh phức tạp, anh chưa thể lên lại Bát Xát nhưng suốt 5 lần trước anh đi và tích lũy một kho ảnh về mùa nước đổ trên vùng đất này.

Ruộng bậc thang mùa nước đổ là “đặc sản du lịch” của khu vực miền núi phía Bắc dịp tháng 5 – 6. Huyện vùng cao biên giới Bát Xát gồm thị trấn Bát Xát và 20 xã nằm ở tây bắc Lào Cai. Trong đó xã Y Tý nằm ở phía tây huyện, có độ cao trên 2.000 m và tựa lưng vào dãy Nhìu Cồ San.

Anh Nam Tròn cho biết đã khám phá hầu hết các cung đường ruộng bậc thang ở Bát Xát, từ Y Tý, Dền Thàng, Sàng Ma Sáo, Mường Hum cho đến A Lù, Ngải Thầu. Trong những lần săn ảnh Bát Xát anh cũng trải nghiệm nhiều kiểu thời tiết khác nhau, lúc nắng vàng nhộm, sương mù cho đến nhiều mây, mưa rào.

Bức tranh xanh ngắt của ruộng bậc thang Dền Thàng, Bát Xát đẹp không thua kém với các ruộng bậc thang mùa nước đổ tại Sa Pa (Lào Cai), Hoàng Su Phì (Hà Giang) hay Mù Cang Chải (Yên Bái).

Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai có hơn 3.000 ha ruộng bậc thang, với địa hình 70% là đồi núi. Những dòng chảy Ngòi Phát, suối Lũng Pô, suối Quang Kim không chỉ góp phần quan trọng phục vụ sản xuất nông nghiệp và canh tác ruộng, mà còn là điểm du lịch mùa nước đổ đẹp bậc nhất Tây Bắc.

Những khoang ruộng đầy nước đan xen với các khóm mạ non mới cấy Sàng Ma Sáo, ảnh chụp ngày 6/5/2020. Mùa nước đổ ở huyện Bát Xát kéo dài trong tháng 5-6 hàng năm, với những thửa ruộng có thể cấy sớm hoặc muộn tùy theo thời tiết và theo từng khu vực xã, tạo nên các gam màu sắc khác nhau.

Ngoài ngắm phong cảnh, du khách có thể trải nghiệm nhịp sống người dân tộc tại Bát Xát. Huyện vùng cao này là nơi sinh sống của các dân tộc như H’Mông, Dao, Giáy hay Hà Nhì.

Bức ảnh trên chụp tại Mường Hum, cách Sàng Ma Sáo khoảng 5 km. Đến mùa nước đổ, người đồng bào cấy mạ mang đến không khí nhộn nhịp. Họ luôn tươi cười hướng đến ống kính nhiếp ảnh gia.

“Bé gái theo cha mẹ ra đồng cấy mạ tại Mường Hum là một khoảnh khắc gây ấn tượng với tôi”, anh Nam Tròn nói.

Anh cho biết, tuần này Bát Xát đang mùa đổ ải, làm đất rồi chuẩn bị cho nước đổ tràn các thửa ruộng bậc thang vào tuần tới, sau đó đất mềm hơn thì người dân sẽ cấy mạ.

Các ô ruộng bậc thang xếp tầng uốn lượn theo cung đường dốc tại Ngải Thầu và ẩn hiện trong sương sớm. Chặng đường đi Ngải Thầu vất vả hơn do có các rặng đồi từ cao đến thoai thoải, nhiều khúc quanh co, bù lại du khách sẽ mê mẩn với cảnh đẹp mùa nước đổ hai bên đường.

Bé trai ra đồng địu em trên lưng, phía xa là làn mây lảng bảng trên ruộng bậc thang Ngải Thầu. “Khi gặp người lạ, các bé thường bẽn lẽn đứng nhìn nhưng sau đó sẽ nhanh chóng làm quen và càng thích thú hơn khi được các nhiếp ảnh gia chụp hình”, anh Nam Tròn nói.

Sương dày vờn trên các thửa ruộng bậc thang với điểm nhấn là các ngôi nhà trình tường tại A Lù, nếp nhà đặc trưng của người dân tộc vùng cao Tây Bắc. . Nhà trình tường dựng bằng đất, mát mùa hè và ấm mùa đông. Trước đây người dân phủ mái với cỏ tranh, rơm rạ truyền thống. Theo thời gian cùng sự phát triển xuất hiện những căn nhà dùng tấm lợp fibro xi măng hoặc mái tôn.

Bức ảnh trên chụp vào tháng 5/2016, với phong cảnh vùng cao còn hoang sơ và mộc mạc hơn rất nhiều so với ngày nay.

Tưởng Đâu Chừng Như Mình Bị Bội Bạc

Nguyễn Duy An July 9, 2017 | by Ban Tu Thư

Một câu chuyện cảm động.

Nguyễn Duy An là người Á Châu đầu tiên đảm nhận chức vụ Senior Vice President National Geographic tổ chức văn hóa khoa học lớn nhất thế giới.
* * *
Tôi rất ngạc nhiên khi bà thư ký dẫn vị sĩ quan an ninh của Sở vào văn phòng với nét mặt hoảng hốt và rụt rè lên tiếng:

– Duy à… Có chuyện rồi! Ðại Úy Morrow cần gặp riêng Duy. Bà ta vội vã quay lưng, với tay đóng cửa và buớc nhanh ra ngoài. Tôi vừa bắt tay Đại Úy Morrow vừa hỏi:

– Mời đại úy ngồi. Anh tìm tôi có việc gì quan trọng?

– Xin lỗi anh Duy nhé. Ở dưới nhà có 3 người ‘homeless’ cứ nằng nặc đòi gặp anh cho bằng duợc. Nhân viên an ninh đã giữ họ lại và báo cáo cho tôi tìm gặp ông để thảo luận. Những nguời này có vẻ không đàng hoàng… nhưng có một nguời tên Norman khai rằng anh là bạn của hắn ta.

– Ồ… Ðó là anh chàng thỉnh thoảng vẫn thổi kèn Saxophone kiếm tiền ở trạm xe điện ngầm Farragut West dó mà. Anh ta đàng hoàng lắm. Không sao đâu. Ðể tôi xuống gặp họ.

– Anh chờ chút. Chúng tôi muốn sắp xếp để canh chừng vì hai anh chàng kia trông có vẻ ‘ngầu’ lắm. Mấy tay này cứ luôn miệng chửi thề và ‘càm ràm’ với giọng điệu rất hung hăng về cuộc chiến Việt Nam. Tôi đoán chắc họ thuộc nhóm cựu chiến binh Việt Nam mắc bệnh tâm thần… Anh tính sao?

– Tôi nghĩ không cần thiết lắm đâu. Tôi biết tôi không thể dẫn họ lên văn phòng, nhung có thể mời họ vào ‘cafeteria’ uống ly nuớc, chắc không sao chứ?

– Cũng được, nhung cẩn thận vẫn hơn. Ðể tôi bảo nhân viên để ý trông chừng trong lúc anh gặp họ ở ‘cafeteria’. Anh không ngại chứ?

– Cám ơn các anh, nhưng đừng lộ liễu quá, họ tủi thân.

Trong lúc theo với Đại Úy Morrow xuống nhà gặp ‘khách’, tôi nghĩ về kỷ niệm quen biết Norman từ gần 10 năm trước.
Hồi đó, tôi mới về làm cho National Geographic, vì chưa quen đường sá ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn nên thuờng đi làm bằng xe ‘Metro’. Một buổi sáng thứ Sáu, tôi đi trễ hơn bình thuờng vì phải ghé qua truờng học dể ký một số giấy tờ cho các con truớc ngày tựu truờng. Vừa ra khỏi xe điện ngầm ở trạm Farragut West, tôi nghe vọng lại tiếng kèn Saxophone rất điêu luyện đang ‘rên rỉ’ bài Hạ Trắng:

Gọi nắng… trên vai em gầy đường xa áo bay
Nắng qua mắt buồn, lòng hoa buớm say
Lối em đi về… trời không có mây
Đường đi suốt mùa nắng lên thật đầy…

Lên khỏi cầu thang ở trạm xe điện, tôi sững sờ khi trông thấy một nguời Mỹ ‘homeless’ đang ‘ngất nguởng’ thả hồn vào một cõi xa xăm vô định, miệt mài thổi Saxophone. Bài hát vừa dứt, đám đông vây quanh vừa vỗ tay tán thuởng, vừa bỏ một vài đồng bạc lẻ vào cái mũ vải bên cạnh… Tôi tiến đến gần hơn, móc ví lấy tờ giấy bạc $10 bỏ vào mũ biếu anh ta, một người Mỹ có lẽ là cựu chiến binh Việt Nam vì anh ta đang mặc chiếc áo khoác quân nhân, với bảng tên Norman Walker trên túi áo và bên cạnh còn treo lủng lẳng một số huy chương. Tôi chưa kịp bỏ tiền vào mũ, anh ta đã hỏi bằng tiếng Việt:

– Mày Việt Nam hả? Biết bài hát vừa rồi không?

– Ðương nhiên rồi. Ông thổi kèn rất hay và có hồn. Ông nói tiếng Việt cũng giỏi.

– Ðại khái thôi. Kêu mày tao được rồi. Tao dã từng đấm đá gần 8 năm trời trên quê hương của mày, nhung khi trở về bị quê hương tao ruồng bỏ. Nản bỏ mẹ. Tao nhớ Việt Nam nên tập thổi nhạc Trịnh, thỉnh thoảng ra đây biểu diễn kiếm thêm ít đồng mua cơm mua cháo sống qua ngày với đám bạn không nhà không cửa trở về từ cuộc chiến.

– Ông…

– Lại ông nữa. Mày tao cho thân tình. Không phải nguời Việt tụi mày vẫn nói thế sao?

– Tôi không quen gọi người lạ như thế. Hay gọi nhau là ‘anh tôi’ được không?

– Tùy mày. Tiếng Việt tụi mày rắc rối lắm. Mày có cần phải đi làm chưa?

Tao phải tiếp tục thổi thêm vài tiếng nữa mới đủ sở hụi. Tao nghỉ lúc 11 giờ, mày có thể tới nói chuyện. Nếu bận thì thôi. Thứ Sáu nào tao cũng làm ăn tại đây. Nếu không chê, mày có thể trở lại.

– Tôi sẽ trở lại truớc 11 giờ. Văn phòng tôi làm việc cũng chỉ cách đây một quãng đường ngắn.

-Mày không sợ hả?

-Sợ gì?

-Tụi tao là loại nguời bị ruồng bỏ và khinh chê.

– Không có đâu. Tôi sẽ trở lại.

– Ði đi. Hẹn gặp lại.

Tôi dã trở lại gặp Norman và mời anh ta cùng ăn trưa hôm đó. Anh ta rất cảm động, và chúng tôi trở thành ‘bạn’ từ dạo dó. Tôi thắc mắc tự hỏi không hiểu tại sao hôm nay Norman không gọi điện thoại cho tôi mà lại dẫn theo hai người bạn tới văn phòng tìm tôi, gây xáo trộn cho thêm rắc rối.

Tôi chỉ sợ Norman và bạn của anh ta sẽ buồn và mất cảm tình với National Geographic cũng như cá nhân tôi vì bị những nhân viên an ninh của sở ‘hạch hỏi’. Ðã từ lâu lắm rồi, tôi cảm nhận được nội tâm đơn thuần và tính tình chân thật của những cựu chiến binh không nhà không cửa lang thang khắp đường phố thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Có những nguời đã từ bỏ tất cả để sống kiếp lang thang tại vùng thủ đô để thỉnh thoảng có dịp ghé thăm và tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến được khắc tên trên bức tuờng cẩm thạch mầu đen ở đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial).

Những cựu chiến binh râu ria xồm xoàm, quần áo rách nát và bẩn thỉu, thân thể xâm đầy những bức hình ngổ ngáo hay những dòng chữ ngang tàng để che dấu một nội tâm lúc nào cũng khắc khoải trong đau thương tủi nhục và nhức nhối từng đêm vì những ám ảnh từ cuộc chiến Việt Nam. Tôi cảm thương với hoàn cảnh của họ và trân quý những hy sinh họ đã dành cho Quê Hương Yêu Dấu Việt Nam của chúng ta.

Vừa gặp mặt, Norman siết chặt tay tôi cuời lớn, rồi lên giọng:

– Gặp mày còn khó hơn gặp sĩ quan cao cấp ngoài mặt trận nữa. Hôm nay nói tiếng Anh nhé. Bạn tao không biết tiếng Việt và tao cũng không muốn đám ‘cớm dổm’ ở đây nghi ngờ, gây thêm phiền phức cho thằng bạn nguời Việt rất thân của tao.

Norman đổi giọng, nói tiếng Anh:

– Ðây là thằng Duy rất thân của tao. Nó là nguời Việt tị nạn nhưng đang làm lớn ở đây. Chắc nó giúp được tụi mình. Còn đây là Bernie và Bob, hai thằng bạn thân ‘homeless’ của tao.

Norman vẫn không buông tay nên tôi đành bắt tay trái với Bernie và Bob, rồi lên tiếng mời:

– Mời các bạn xuống ‘cafeteria’ uống nuớc và nói chuyện.

– Có tiện không? Hay tụi tao chờ mày ở ngoài kia, lúc nào rảnh ra nói chuyện.

– Không sao đâu. Tuy nhiên, Norman đừng đòi cà phê sữa đá, ở đây không có đâu.

Norman cuời ha hả trả lời bằng tiếng Việt:

– Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi! Ðúng không? Rất đúng. Nghe giống hệt ‘một ông già Bắc Kỳ’ thứ thiệt.

Chúng tôi vui vẻ buớc vào gọi cà phê, cùng tiến về một bàn trống phía trong cùng truớc bao nhiêu con mắt kinh ngạc của những nguời đang có mặt trong ‘cafeteria’ sáng hôm dó. Vừa ngồi xuống bàn, Norman vội vàng lên tiếng:

– Ðể khỏi mất thì giờ của mày, tao vào đề ngay nhé. Hôm qua Bernie đọc thấy ở đâu đó nói tuần này National Geographic sẽ có ‘preview’ cuộn phim ‘Inside the Vietnam War’ truớc khi trình chiếu vào dịp kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân. Ðúng không?

-Ðúng rồi. Chúng tôi sẽ bắt đầu chiếu trên đài National Geographic từ ngày 18 tháng 2 này.

– Ðài của tụi mày chỉ có trên ‘Cable’ và ‘Direct-TV’. Dân ‘homeless’ tụi tao làm sao xem được. Tao biết họ vẫn mời mày 2 vé ‘preview’ mỗi khi có phim mới. Mày kiếm thêm vé cho 3 đứa tao đi xem với. Ðược không?

– Chắc được. Mấy lần truớc tôi đưa vé cho bạn nhưng có bao giờ xuất hiện đâu!

– Lần này khác… vì họ nói về tụi tao và những bạn bè từng đấm đá trên quê hương của mày.

Ðể giữ sĩ diện cho tôi, cả 3 nguời ‘bạn’ cựu chiến binh đều ăn mặc quần áo tươm tất, đầu tóc chải gọn gàng đứng chờ ngoài hành lang ‘Explorer Hall’ cả giờ đồng hồ truớc khi tôi xuống dẫn vào xem phim trong hội truờng chính của National Geographic. Sau khi cầm trong tay 4 tấm vé ‘preview’, tôi đã liên lạc nhờ mấy nguời trong nhóm ‘Audio & Video’ của sở sắp xếp để chúng tôi ngồi trong góc cuối của hội truờng, tránh xa những vị ‘tai to mặt lớn’ trong sở cũng như những vị khách từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, Quốc Hội, và viên chức chính phủ Mỹ.

Sau những lời giới thiệu, những bài diễn văn theo thủ tục, cuộn phim bắt đầu chiếu. Mấy nguời bạn cựu chiến binh Mỹ của tôi chăm chú lắng nghe, mắt nguời nào cũng long lanh ngấn lệ, cùng siết chặt tay nhau để nén lại những cảm xúc đang cuồn cuộn trào dâng trong tim của mỗi nguời.

Thỉnh thoảng tôi nghe thoang thoảng đâu đó một vài tiếng sụt sùi nho nhỏ vang lên khắp hội truờng. Ba nguời bạn của tôi vẫn ‘án binh bất động’ dõi mắt đăm chiêu theo từng tấm hình, từng tiếng súng, từng buớc đi, từng câu nói, từng tiếng khóc… trên màn ảnh. Tới đoạn phim chiếu lại cảnh những cựu chiến binh trở về từ Việt Nam bị ‘dân Mỹ’ và có lúc cả gia đình và bạn bè miệt thị, Bob bật tiếng khóc thật lớn, rồi Bernie, rồi Norman và một vài nguời chung quanh cùng khóc theo!

Ai đó đã ra lệnh tạm ngưng. Ðèn hội truờng bật sáng. Tôi vội vã xin lỗi những nguời chung quanh rồi vội vàng ‘kéo’ ba nguời bạn cựu chiến binh ra khỏi hội trường. Cả ba vừa đi vừa khóc, lững thững lê gót ‘khật khưỡng’ buớc theo tôi như ba cái xác không hồn!

Mấy ngày sau, tôi nhận được một cú điện thoại từ nhóm thực hiện cuộn phim tài liệu ‘Inside the VietNam War’ nhờ tôi sắp xếp một cuộc gặp gỡ với 3 nguời bạn cựu chiến binh ‘homeless’ đã cùng tôi đi xem ‘preview’ hôm đó, và cũng nhờ họ mời thêm những bạn bè khác vì Bộ Quốc Phòng và Bộ Cựu Chiến Binh cùng một vài viên chức trong chính phủ muốn gặp gỡ và giúp đỡ họ.

Có lẽ đã tới lúc nguời Mỹ nhận thức được ‘món nợ phải trả’ cho sự hy sinh của những cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam.

Lòng tôi chợt nhói lên một niềm đau khi nghĩ tới số phận của những cựu quân nhân và công chức của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ai còn? Ai mất?

Nguyễn Duy An

Miền núi Quảng Trị trong sương sớm

Trần Hóa

Ảnh: Nguyễn Bôn

Chủ nhật, 20/9/2020, 02:07 (GMT+7)

Mùa này, tiết trời ở huyện vùng cao Hướng Hóa thường se lạnh và sương mù vào sáng sớm, khiến khung cảnh mờ ảo.

Anh Nguyễn Bôn, sinh ra và lớn lên ở Hướng Hóa, một huyện miền núi, biên giới nằm phía tây tỉnh Quảng Trị. Với tình yêu thiên nhiên, con người nơi đây, tay máy 27 tuổi đã ghi lại những khoảnh khắc yên bình của quê hương mình. Bộ ảnh được anh chụp từ năm 2019 – 2020.

Huyện có cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo nằm trên trục đ­ường quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào, Thái Lan, Myanmar.

Địa hình Hướng Hóa núi và sông xen kẽ nhau. Khí hậu vùng này mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới – gió mùa, quanh năm nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 22 độ C.

Những đồi cà phê Arabica xanh mướt chuẩn bị vào mùa thu hoạch của người dân ở xã Hướng Phùng.

Một góc thị trấn Khe Sanh, cách TP Đông Hà hơn 60 km, theo quốc lộ 9. Phía xa là ngọn bảo tháp Khe Sanh cao 25 m.

Xã Húc, huyện Hướng Hóa thấp thoáng trong sương. Nguyễn Bôn cho biết, anh rất yêu thích chụp cảnh thiên nhiên mờ ảo trong sương, vì vậy thường phải thức dậy lúc 3 – 4h để đón bình minh.

Cô bé người Vân Kiều chăn trâu trên triền núi. Huyện vùng cao Hướng Hóa hiện có 3 dân tộc sinh sống là Pa Kô, Vân Kiều, Kinh.

Đất đai chủ yếu có hai loại: cát pha và đất đỏ bazan, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp như cà phê, hồ tiêu…

Huyện nằm trên dãy Trường Sơn nên địa hình phần lớn là vùng núi cao ở phía bắc, với đỉnh cao nhất 1.617 m, vùng núi đông bắc và tây nam thấp hơn.

Cánh đồng điện gió khoảng 30 turbine ở xã Hướng Linh, cách thị trấn Khe Sanh hơn 10 km. Những turbine gió được nhập khẩu trực tiếp từ Hà Lan, mỗi trụ cao 82m, đường kính lớn nhất 5m, nặng 200 tấn và làm bằng thép không gỉ.

Cảnh ban mai nhìn từ đỉnh núi Cù Vơ, xã Hướng Linh, vị trí các tay máy thường chọn để săn mây.

BỆNH VIỆN BÌNH DÂN những ngày khói lửa tháng 4-1975

Posted by BIENXUA on APRIL 17, 2021

By TNT on 04/11/2021

Tháng 4 Montréal là tháng tuyết bắt đầu tan. Những thảm cỏ đã bắt đầu lú dạng, chim chóc đã bắt đầu ra khỏi tổ tung bay trên mảng trời xanh trong. Người dân bản xứ ở đây như đang sửa soạn và sẵn sàng chào đón một mùa xuân nắng ấm và tươi vui. Nhưng người Việt tỵ nạn chúng ta thì sao?

Cứ tới tháng 4, tôi tin chắc quý vị cũng như tôi, lòng buồn buồn và trĩu nặng, với một tâm tư ray rứt. Ray rứt vì Việt Nam quê hương chúng ta 44 năm về trước (1975) đang cận kề với ngày mất nước, mất một quê hương yêu dấu.

Tôi rất bồi hồi và thổn thức như mới ngày hôm qua, với những kỷ niệm của một Bệnh viện BD 44 năm trước đây vào những ngày tháng 4, đang ở trong tình trạng dầu sôi, lửa bỏng. Tất cả mọi người đang dồn sức cứu chữa những nạn nhân của một cuộc chiến tranh tàn khốc. Tôi còn nhớ, trên khu nhà mổ lầu I BỆNH VIỆN BÌNH DÂN, có một phòng để các bác sĩ giải phẩu tạm nghỉ giữa các cas mổ. Phòng này nằm đối diện với phòng mổ A của giải phẫu Tiết Niệu và phòng mổ B của giải phẫu Ung Thư (Phòng C, D, E, F thì xa hơn. Phòng C dành cho mổ khẩn cấp, phòng D dành cho giải phẫu Tim và mạch máu, phòng E cho giải phẫu tổng quát bụng ngực và phòng F cho giải phẫu Chỉnh Trực). Phòng nghỉ này có một cửa sổ rất rộng nhìn thẳng ra cây phượng vĩ duy nhất của bệnh viện, ngay giữa sân, truớc cửa Khoa Chỉnh Trực. Ngay từ những tháng đầu năm 1975, có lẽ Trời buồn theo lòng người: mưa nhiều hơn, có những cơn gió khá mạnh, sấm sét, đã làm cây phượng này gãy chẻ làm đôi. Giáo sư Nguyễn Khắc Minh đã nói với tôi: Có lẽ đây cũng là điềm của BỆNH VIỆN BÌNH DÂN trước tình hình đất nước. Cây phượng vĩ này, trước đây có rất nhiều cành đầy hoa đỏ, nhiều khi là là vào cửa sổ rộng của phòng đợi này. Những cành cao hơn có thể lên tới cửa sổ phòng ăn lầu Nội trú ở tầng 2.

Những ngày tháng 4 là những ngày dồn dập tin tức phát ra từ một máy truyền hình nhỏ để ở cuối phòng tạm nghỉ này. Anh cm chúng tôi đều theo dõi sát thời sự :

21-4-1975: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và đọc diễn văn bàn giao chức vụ Tổng thống cho cụ Trần Văn Hương. Tổng thống Trần Văn Hương nhậm chức vào trưa ngày 21 tháng 4 năm 1975.

24-4-1975: Việt cộng bắt đầu pháo kích vào Saigon. Một vài nơi lửa cháy ở ngoại ô, vùng phụ cận Saigon. BỆNH VIỆN BÌNH DÂN bắt đầu nhận ào ào những nạn nhân với thương tích do đạn pháo kích. Có những đêm, nhiều xe cứu thương tải vào bệnh viện cùng một lúc rất nhiều nạn nhân. Bệnh viện đã phải tăng cường các phiên trực. Các bác sĩ trưởng trực: Võ Thành Phụng, Đặng Phú Ân, Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Văn Quang, Lê Quang Dũng, Phan Văn Tường, Văn Tần, Văn Kỳ Nam….nhiều khi đã thức trắng đêm cùng với các bác sĩ Nội trú để đáp ứng kịp thời. Các Thầy Phạm Biểu Tâm, Ngô Gia Hy, Trần Ngọc Ninh, Hoàng Tiến Bảo luôn luôn sẵn sàng rửa tay vào mổ hoặc điều khiển các cuộc giải phẫu khi cần. Giáo sư Nguyễn Khắc Minh, Bác sĩ Trần Quang Dự, cô Lê Thị Thuần và nhiều chuyên viên gây mê khác có thể nói là đã ra sức luân phiên để đáp ứng các trường hợp cấp cứu trong những cas mổ nặng cần hồi sức.

Một hiện tượng đặc biệt là một vài Bác sĩ chạy từ vùng Việt cộng lấn chiếm của miền Trung đã vào BỆNH VIỆN BÌNH DÂN xin làm tình nguyện để tăng cường. Bác sĩ Tạ Thúc Phú, từ Đà Nẵng về (cháu Thầy Nguyễn Đình Cát) tăng cường Khu Quang tuyến. Bác sĩ Trần Thế Nghiệp vẫn còn ở lại phụ trách Khu Quang Tuyến BỆNH VIỆN BÌNH DÂN, Bs Nguyễn Văn Hiệp tăng cường Khu Tiết Niệu, Bs Trần Tấn Phát, Bs Nguyễn Dương Tịnh, Bs Nguyễn Thế Lạc tăng cường Khu Chỉnh Trực, Bs Nghiêm Thị Thuần tăng cường Khoa Mắt…

28-4-1975: Tổng thống Trần Văn Hương trao quyền cho tướng Dương Văn Minh.

Tới ngàỵ 29-4-1975: tuy Thầy Giám đốc BỆNH VIỆN BÌNH DÂN đã vắng mặt, nhưng các Thầy Phạm Biểu Tâm, Trần Ngọc Ninh, Ngô Gia Hy, Hoàng Tiến Bảo, Nguyễn Đình Cát, Nguyễn Văn Út, Nguyễn Khắc Minh, Phan Ngọc Dương vẫn đi làm như thường lệ. Anh em chúng tôi thấy cũng rất an tâm.

Buổi trưa 29-4-1975, trong lúc rửa tay sửa soạn vô mổ, Thầy Phạm Biểu Tâm đã lập lại một bản tin mới nhất: “Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin đã có nhã ý mời Cụ Trần Văn Hương đi cùng chuyến bay ra nước ngoài, nhưng Cụ đã từ chối và nói: ‘“Tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước …. “

Bản tin này như một tiếng gọi mãnh lực đối với chúng tôi và chúng tôi đã noi theo quý Thầy, những tấm gương sáng, lăn lộn chống trả với tử thần cho bao nạn nhân chiến tranh trong những ngày tàn cuộc chiến. Đó là bổn phận rất nhỏ bé của những người ở hậu phương, để đền đáp những hy sinh bao la vô bờ bến của các anh cm chiến sĩ ngoài chiến trường, tranh thủ từng tấc đất với Việt cộng.

Tối 29-4-1975, phần lớn anh em chúng tôi đã ở lại tại BỆNH VIỆN BÌNH DÂN. Ngoài đường Phan Thanh Giản, quần áo, giầy lính bỏ ngổn ngang của những binh sĩ VNCH từ những vùng bị triệt thoái trở về Saigon. Ngay cả súng ống cũng bỏ bừa bải. Thầy Hoàng Tiến Bảo đã ra lệnh lượm lặt tất cả các khẩu súng bỏ rơi trước bệnh viện và nói với ông Lâu (Điều Dưỡng trưởng) cho vào một căn phòng phía sau BỆNH VIỆN BÌNH DÂN và phải khoá thật kỹ, nếu không, quân nổi loạn sẽ sử dụng súng ống, đạn dược này bắn ngược lại đồng bào và chúng ta.

Các đoàn cứu thương, cánh tay đeo băng đỏ, xuất hiện khá nhiều và đã vào BỆNH VIỆN BÌNH DÂN xin bông, băng để cứu thương. Nhưng Thầy Hoàng Tiến Bảo đã ra lệnh hạn chế vì sợ rằng BỆNH VIỆN BÌNH DÂN không đủ dụng cụ cứu thương, giải phẫu. Đêm đó, Thầy Hoàng Tiến Bảo đã ngủ lại tại phòng Thầy Nguyễn Khắc Minh, anh em chúng tôi đã lên lầu 2 ngủ chung với các bác sĩ Nội trú. Đó cũng là những phòng quen thuộc đối với chúng tôi thời Nội trú và từ khi được bổ nhiệm làm Giảng Nghiệm viên, rồi Giảng Nghiệm trưởng thì các phòng này đã được giao lại cho các Tân Nội trú BỆNH VIỆN BÌNH DÂN.

Anh Được vẫn nấu cơm cho các Nội trú, nay đã được lệnh của Ban Giám Đốc nấu thêm phần ăn cho các bác sĩ trực hay các bác sĩ ở lại bệnh viện. Phải đến lúc lâm nguy mới biết rõ ý chí và tấm lòng của các em Sinh viên Y khoa. Nhiều Sinh viên Y khoa năm cuối, tuy không là Nội trú, nhưng cũng tình nguyện ở ké trên lầu Nội trú để có dịp học hỏi và phụ giúp các bác sĩ đàn anh, các Thầy trong những lúc nguy biến.

Sinh viên ở thường trực, xin đơn cử sinh viên Vũ Minh Thủy, ăn ở, giặt quần áo ở lầu Nội Trú là một trong những điển hình. Cas nào mổ, cần tay phụ, có thể gọi Thủy. Thủy sẵn sàng thức ngày đêm với các đàn anh, các Thầy. Rất tiếc Bác sĩ Vũ Minh Thủy sau này có tỵ nạn tại Montreal, Canada, hành nghề tại đây và đã mất sớm vì bạo bệnh. Thương tiếc cho một sinh viên, một thầy thuốc đã đóng góp cho việc cứu chữa nạn nhân chiến cuộc 1975.

Ngày 30 tháng tư, từ tờ mờ 6 giờ sáng, mặt trời vừa lên, chúng tôi đã trải qua một đêm dài trong các phòng giải phẫu.

Tại phòng số 10, Khu Chỉnh Trực dưới nhà, chúng tôi, các bác sĩ truởng trực Võ Thành Phụng, Nguyễn Chấn Hùng, Văn Tần và tôi, đã tìm gặp và xin Thầy Hoàng Tiến Bảo chính thức thay thế Thầy Giám Đốc BỆNH VIỆN BÌNH DÂN (vắng mặt) để điều hành chúng tôi, và để đáp ứng công việc khẩn cấp của bệnh viện. Thầy Bảo băn khoăn không dám nhận, nhưng vì được sự hậu thuẫn của các Thầy Phạm Biểu Tâm, Trần Ngọc Ninh, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đình Cát và Nguyễn Khắc Minh, Thầy Hoàng Tiến Bảo đành nhận lời.

Khoáng 7 giờ 30, Thầy Hoàng Tiến Bảo đã điện thoại về cho bà Thầy và căn dặn hãy mang con cái tới khu tạm trú tại bệnh viện St Paul, có nhà lầu cao để tránh pháo kích. Chừng khoảng nửa giờ sau, Thầy Bảo nói với chúng tôi, gia đình Thầy đã tới được bệnh viện St Paul. Thầy Bảo hỏi tôi: “Còn gia đình Ân thì sao?”. Tôi trả lời: ‘Thưa Thầy, Kim Nhi vợ em hôm nay cũng trực tại Bệnh viện Nhi Đồng, cháu Cường mới sanh được 2 tháng, được gởi tại nhà Ông Bà Nội cháu”. Nhà tôi ở đường Phan Đình Phùng, cũng gần BỆNH VIỆN BÌNH DÂN và Bệnh viện Nhi Đồng, nên không có gì lo ngại lắm. Riêng bạn thân của tôi, Bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, tuy nhà ở đường Trần Bình Trọng, nhưng hai cụ thân sinh của Hùng ở mạn Phú Lâm, xa trung tâm thành phố, cũng sợ pháo kích. Bác sĩ Hùng rất bình tâm ở lại bệnh viện dồn mọi nổ lực chăm sóc cho nạn nhân chiến tranh. Nội trú Nguyễn Đức Tuệ của Bác sĩ Hùng nhà cũng ở đường Cao Thắng không xa BỆNH VIỆN BÌNH DÂN… Ê kíp chúng tôi tương đối ổn định về công việc gia đình, không có gì lo lắng lắm…

Hôm nay, 30-4-1975 là ngày trực của tôi, trước hết, tôi phải ghé qua Khu Ngoại Chẩn để xem có những trường hợp cần giải quyết không?. Tới đây, tôi thấy đồng bào, người già, người trẻ, kẻ thì kêu la cầu cứu vì người nhà là những nạn nhân bị thương tích trầm trọng đang nằm trên các băng ca la liệt ở dưới đất, kẻ thì hốt hoảng, không thấy người nhà, chắc đã bị lạc đi đâu?

Những Sinh viên Ngoại trú được tăng cường tại Khu Ngoại Chẩn, sinh viên lớp lớn Y khoa 5, Y khoa 6, được cắt đặt làm Truởng và Phó phòng khám, dưới quyền điều khiển của Bác sĩ Bùi Văn Đức. Thầy Hoàng Tiến Bảo đã tín nhiệm Bác sĩ Đức ở đây vì anh đã từng làm Trưởng đoàn cấp cứu của Hướng Đạo. Các bác sĩ và sinh viên ở Ngoại Chẩn sẽ quyết định các cas cần giữ lại hay chuyển đi các bệnh viện khác (như Chợ Rẫy, Nguyễn Văn Học) hay cho về. Những cas nào cần giải phẫu cấp kỳ sẽ cho chuyển vào phòng 8 nằm chờ đợi bác sĩ giải phẫu đi thăm và quyết định những xét nghiệm chẩn đoán trước khi quyết định đưa lên bàn mổ.

Bác sĩ Trần Thế Nghiệp, Trưởng Khoa Quang Tuyến, và anh Hưng, kỹ thuật viên, đi tới đi lui phòng 8 để nhận các cas cần làm quang tuyến. Ông Nguyễn Ngọc Anh (thân sinh Bác sĩ Quỳnh Giao, nhạc phụ Bác sĩ Nguyễn Đức Tuệ), ông Bình, cô Thơ phòng Thí Nghiệm ra vào liên tục để lấy máu.

Tại Khu Ngoại Chẩn, đã có một sơ đồ lựa chọn ưu tiên cho các trường hợp khẩn cấp:

Ưu tiên 1: cho các thương tích bộ máy hô hấp; Ưu tiên 2: thương tích mạch máu; Ưu tiên 3: thương tích sọ não; Ưu tiên 4: dành cho thương tích bộ máy tiêu hoá; Ưu tiên 5: bộ phận tiết niệu; Ưu tiên 6: cho thương tích bộ phận sinh dục; Ưu tiên 7 mới đến gẫy xương, trật khớp (ngoại trừ gẫy xương hở và tình trạng tim mạch xấu).

Từ Phòng Ngoại Chẩn, tôi phải đi qua phòng Thầy Phạm Biểu Tâm với cô Tuyết, thơ ký riêng của ông Thầy. Cô Tuyết nói: Thầy Tâm đã có mặt ở đây từ 6 giờ 30 sáng và tôi thấy Thầy cũng sửa soạn để lên phòng mổ, và trên đường Thầy bị bà Quỳ – Y tá trưởng Phòng 4 & 5 Giải Phẫu tổng quát, níu kéo tìm cách trình gấp những hồ sơ khẩn cấp. Hôm nay nhận trực, tôi phải tới phòng 8 sau khi đi qua phòng Thầy Tâm và phòng mổ khẩn cấp dưới nhà. Phòng mổ này được mở liên tục 24/24 giờ. Những trường hợp cấp cứu nặng, di chuyển lên lầu I khu nhà mổ, khó khăn, anh em chúng tôi phải mổ ngay tại phòng mổ dưới đất này… Nhìn vào, tôi thấy Bác sĩ Võ Thành Phụng, và có lẽ cả Bác sĩ Bùi Đắc Lộc đang mổ một trường hợp đạn bắn vào bả vai của một người đàn ông.

Và bây giờ tôi đã tới phòng 8, nơi đây tôi phải đi thăm bệnh cùng với các Nội trú trực. Phải nói và phải ghi nhận tinh thần làm việc rất hăng say và kỷ luật của các Nội trú Nguyễn Đức Tuệ, Nội trú Phan Thanh Hải (Ung thư), Nội trú Phan Thượng Hải, Nội trú Lê Quang Nghĩa, Nội trú Uỷ nhiệm Châu Kim Sơn (Giải Phẫu Tổng Quát). Các bác sĩ cựu Nội trú Bùi Đắc Lộc (Chỉnh Trực), Lê Thanh Các, Lê Tấn Thành (Niệu Khoa). Nếu không có các Nội trú, các bác sĩ này, quý Thầy và các Bác sĩ trưởng trực rất khó làm việc vì thiếu tay chân! Tới phòng 8, mới mở cửa vào, tôi thấy hôm nay không còn một giường trống. Cuối phòng, tôi thấy có một cảnh sát đứng ngay cạnh một bà bệnh nhân trạc 40 tuổi, nước da hơi xạm, chân bị xích vào cuối giường. Tôi hỏi bà Thìn – Y lá Trướng của phòng 8: “Tại sao lại có cảnh sát theo dõi, bà ta là Việt cộng hay sao?” Bà Thìn cười và trả lời: “Không, đây là trường hợp một bà trong lúc hỗn loạn đường phố, đã vào hôi của ở một tiệm nữ trang, và bà ta đã lấy được một chiếc nhẫn kim cương khá lớn và nuốt vào bụng. Đêm qua Bác sĩ Võ Thành Phụng cho rọi kiếng thì quả đúng vậy. Thầy Tâm dặn đừng mổ. Nhẫn kim cương đó sẽ đi cầu ra.” Mọi người mặc dầu đang bận rộn vì các trường hợp chấn thương nặng do pháo kích, cũng phải phì cười! Và quả vậy tới gần trưa 30-4-1975 thì bà ta đã đi cầu trong một cái bô và lúc đó cảnh sát cũng đã biến luôn, chắc phải bỏ về với gia đình trong cảnh hoảng loạn, trong kế hoạch vượt biển với gia đình. Chị Thìn và cô y tá trẻ đã giữ chiếc nhẫn kim cương đó lại để đưa cho Điều dưỡng trưởng.

Tôi đang đi thăm bệnh thì từ ngoài đẩy băng ca vào phòng 8. Một bệnh nhân đang trong cơn “choc” mất máu. Giáo sư Nguyễn Khắc Minh, Bác sĩ Trần Quang Dự đã được thông báo và sau khi xem tim mạch, thì đây là một trường hợp bị đạn bắn từ sau lưng bên trái, trổ ra phía đàng trước bụng với hội chứng nội xuất huyết nặng, nghi ngờ vết thương thận và lá lách. Bệnh nhân đã được cho truyền máu ngay và cần được giải phẫu cấp kỳ tại phòng mổ A trên lầu (vì phòng dưới đất, Bác sĩ Phụng đang mổ).

Tôi đã phải dừng thăm khám bệnh ở phòng 8 vài phút (lúc đó cũng có một cas, một bà bệnh nhân ói ra máu mạnh bắn cả lên tường. Đó là một bệnh nhân mà tôi đã biết rõ bệnh sử: bà ta bị urê huyết cao và tôi đã từng cho lọc máu bằng thận nhân tạo). Tôi có gọi ông Nghi (Y tá Niệu khoa, phụ trách Phòng Thận Nhân tạo), để ông ta mời Bác sĩ Dương Quang Trí đang đi thăm bệnh ở Khu Niệu Khoa, thay tôi chẩn bệnh và cho chạy lọc máu ngay hôm nay..

Chạy vội lên phòng mổ A, lầu I. Tới nơi Bác sĩ Lê Tấn Thành (Nội trú Niệu Khoa cũ của chúng tôi) đã có mặt để phụ tôi. Bệnh nhân đã sẵn sàng chờ trên bàn mổ. Có chị Lê Thị Thuần gây mê túc trực, dưới sự điều khiển của Giáo sư Nguyễn Khắc Minh.

Thầy Ngô Gia Hy đang bận rộn bên phòng mổ C cấp cứu cùng Thầy Hoàng Tiến Bảo với trường hợp của một thanh niên ngã từ trên lầu cao được chuyển từ Khánh Hội qua với chấn thương cột sống và chấn thương xương chậu. Có lẽ bị dập thận hay kể cả dập bọng đái luôn.

Phòng mổ E: Bác sĩ Lê Quang Dũng và Bác sĩ Văn Kỳ Nam đang loay hoay trên bàn mổ. Tôi không rõ là cas gì.

Phòng mổ F: Thầy Trần Ngọc Ninh đang phụ giúp Bác sĩ Văn Tần, mổ một truờng hợp đạn pháo kích gẫy nát xương đùi và phải ghép nối mạch máu của ống chân.

Thầy Trần Ngọc Ninh cũng rất bận, chạy qua chạy lại như con thoi giữa BV Bình Dân và BV Nhi Đồng (giải phẫu tiểu nhi) vì chỉ còn Bs Trần Xuân Ninh rất cực bên đó.

Trở lại cas ở phòng mổ A, tôi đã mổ vào bụng bằng đường giữa và định bệnh khi đó là vết thương thận trái với xuất huyết sau phúc mạc (hémorragie rétropéritonéale) và vết thương ở lá lách. Rất may, vết thương thận chỉ bị ở đỉnh trên trái của thận, tôi đã dùng kỷ thuật cắt thận một phần (nephrectomie partielle) vì chỉ một phần thận đó đã bị nát, còn lá lách bắt buộc phải cắt toàn phần. Trong khi tôi đang sửa soạn kẹp cuống mạch máu đi vào lá lách, thì anh Khánh (chuyên viên dụng cụ, chúng tôi cứ gọi là anh Khánh tai bèo vì tai của anh hơi tỏa rộng), hốt hoảng nói với chúng tôi: “Thôi hỏng rồi, Bác sĩ Ân ơi…” . Tôi vội hỏi: “Hỏng gì?”. Tôi nghĩ là thiếu dụng cụ để kẹp mạch máu…nhưng anh Khánh nói tiếp: “Dương Văn Minh đã đầu hàng vô điều kiện!!!”. Đúng vào khoảng giữa trưa 30-4-1975. Tôi, chị Lê Thị Thuần, và ê kíp mổ đã bàng hoàng, nhưng vẫn phải đứng tại chỗ để cắt cho xong cái lá lách của bệnh nhân. Tình hình đất nước đen tối, nhưng trên bàn mổ, cô Thuần nói: “Huyết áp đã ổn định, tình trạng bệnh nhân sáng sủa hơn…”

Đó là một kỷ niệm trong đời thầy thuốc không bao giờ tôi quên được.

Ra khỏi phòng mổ A, bên cạnh là phòng mổ B, Bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng đang rửa tay để sửa soạn vào mổ trường hợp một bà bị chấn thương ngực, đây là vùng giải phẫu mà bác sĩ Hùng rất quen thuộc khi mổ ung thư vú, ung thư phổi… Tôi và Hùng chỉ lặng lẽ nhìn nhau, trước thời cuộc đen tối.

Tôi lên phòng ăn của lầu Nội trú nghỉ tạm. Đài Truyền hình, đài Phát thanh để nhạc giải phóng liên lục, không còn giọng nói của các xướng ngôn viên quen thuộc ngọt ngào ngày xưa… Bây giờ …là giọng của nữ xướng ngôn viên chua như dấm, lâu lâu có một vài tuyên bố của những tên đón gió trở cờ, của những tên Việt Cộng nằm vùng như Huỳnh Tấn Mẫm, Dương Văn Đầy….kêu gọi, xen vào đó là tiếng nhạc được nhai đi nhai lại :“Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết chiến đấu, cùng quyết chiến đấu…” Nếu tôi không lầm, sau này được biết đây là bản nhạc của Huỳnh Minh Tiễng.

Nghỉ ít phút trước khi xuống lầu I mổ tiếp, tôi tạm thả tâm tư về những năm tháng về trước, hồi còn Nội trú. Cũng phòng này đây, những tiếng nhạc đau xót cho sự hy sinh của trai thời chiến. Trong bài Kỷ vật cho em, với giọng ca Thái Thanh ray rứt: Em hỏi anh, em hỏi anh: bao giờ trở lại… Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về….Anh trở về có thể bằng chiến thắng Plemei hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã… Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa…

Ôi biết bao hy sinh thật đáng ngưỡng mộ và khâm phục của các anh chiến binh VNCH. Cùng phòng này đây, cũng có những tiếng nhạc êm dịu, tình tứ: “Trả lại em yêu, khung trời Đại học, con đường Duy Tân cây dài bóng mát…”

Bây giờ đây, nhiều người thân, nhiều bạn bè đã ra đi, ra đi thật xa. Thực tế chỉ còn những tiếng nhạc của đoàn quân xâm lăng miền Nam.

1-5-1975: 6 giờ sáng, ông Lâu đã thông báo với chúng tôi: “Hôm nay họ tới”. Ông nói họ là chúng tôi hiểu là ai. Vừa nói xong thì 6 giờ 30, 3 nguời mặc quần áo kaki mầu xanh lá cây rộng thùng thình, đầu đội nón tai bèo vành rộng, chân đi dép râu, tiến vào cổng. Người đi giữa đeo súng lục, hai người hai bên đeo AK 47 trên vai. Vào tới bên trong, tới gần Khu Ngoại Chẩn, ông Lâu mới giới thiệu với 3 người này: “Đây là Giáo sư Hoàng Tiến Bảo, Giám đốc BỆNH VIỆN BÌNH DÂN”.

3 người này nói: “Chào các anh!” và sau đó ông Lâu đã hướng dẫn 3 người đó vào phòng của Thầy Đào Đức Hoành ngày xưa. Nơi đây, trước kia chúng tôi thường hay lên lên họp với Thầy Hoành và bác sĩ Thường trú để chia bảng trực. Sau đó, ông Lâu đã hướng dẫn đi thăm một số khoa cấp tốc và Ủy Ban Quân Quản ngõ ý gặp toàn thể các bác sĩ và nhân viên.

7 giờ 30 sáng, ông Lâu đã cho thông báo trên loa phóng thanh : “Bác sĩ Trưởng Khối Chuyên Môn Hoàng Tiến Bảo và Ủy Ban Quân Quản (tên gọi mới của nhóm 3 người của quân MTGPMN), kính mời toàn thể các bác sĩ, dược sĩ, y tá và nhân viên tới họp tại Giảng đường A.”

Anh em chúng tôi đã thu xếp các cas mổ để dành thời giờ cùng xuống Giảng đường A.

Khi đi trên hành lang tới Giảng Đường A, Thầy Trần Ngọc Ninh có ghé tai Thầy Nguyễn Khắc Minh nói nhỏ về câu Kiều:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Để xem Việt Cộng xoay VẦN đến đâu! “

Khi tới Giảng đường A, chúng tôi rất an tâm và hãnh diện vì đã thấy sự hiện diện của các Thầy Phạm Biểu Tâm, Trần Ngọc Ninh, Ngô Gia Hy, Nguyễn Văn Út, Phan Ngọc Dương, Nguyễn Đình Cát, Nguyễn Khắc Minh… Các Thầy có một dáng điệu rất chững chạc và có thể nói là hiên ngang của những kẻ sĩ, những thầy thuốc lúc nào cũng ở sát cánh cứu chữa những đồng bào ruột thịt của mình. Hoàn toàn không có tư cách của những “hàng thần lơ láo phận mình ra sao !” Bởi vì chủ trương của các Thầy của BỆNH VIỆN BÌNH DÂN là sẵn sàng cứu chữa những bệnh nhân không phân biệt chiến tuyến. Đó là sứ mệnh cao cả nhất của một người thầy thuốc.

7 giờ 45 sáng 1-5-1975: trong Giảng đường A, Uỷ Ban Quân Quản và ông Lâu đã đặt sẵn một cái bàn ở giữa và sát tấm bảng lớn trên tường với 4 cái ghế: 3 cho Ủy Ban Quản Quản và 1 cho Bác sĩ Trưởng Khối Chuyên Môn. Thầy Bảo và Ba Trần Y (trưởng ban quân quản) ngồi giữa. Ba Liên và Năm Lực (hay là Mười Quý, tôi không nhớ rõ) ngồi hai bên.

Thầy Bảo đã rất tế nhị và rất khiêm nhường đã mời Thầy Phạm Biểu Tâm ngồi ở giữa với Uỷ Ban Quân Quản nhưng Thầy Tâm đã từ chối và mời Thầy Hoàng Tiến Bảo với tư cách Giám Đốc BỆNH VIỆN BÌNH DÂN (tên mới là Trưởng Khối Chuyên Môn) ngồi và … Thầy Phạm Biểu Tâm ngồi đầu dãy ghế bên hông sát cửa vào Giảng Đường gồm 7 chiếc ghế dành cho các Giáo sư (các Thầy Phạm Biểu Tâm, Trần Ngọc Ninh, Ngô Gia Hy, Nguyễn Văn Út, Phan Ngọc Dương, Nguyễn Đình Cát, Nguyễn Khắc Minh…).

Những hàng ghế đầu của dãy ghế ngang: Ông Lâu đã cho mời các Bác sĩ trưởng trực, Võ Thành Phụng. Nguyễn Chấn Hùng, Đặng Phú Ân, Văn Tần, Văn Kỳ Nam. Sau đó là bác sĩ các Khoa Giải Phẫu Tổng Quát, Chỉnh Trực, Ung Thư, Da Liểu, TMH, Nha Khoa và các Nội trú, Y tá, và nhân viên, y công….

Mọi người nhìn nhau như thầm nói: “tôi luôn ở đây với các anh các chị. Nhưng trong trí mọi người, người nào cũng hoang mang và bề bộn việc nhà, việc nước, về tương lai gia đình, vợ chồng, con cái mình sẽ ra sao đây”. Số phận của những người thân đã ra đi có tới bờ tới bến không? Hay chết trên biển cả. Những người thân ở vùng đã bị xâm chiếm sẽ ra sao? Kẻ xâm lăng sẽ đối xử với mình như thế nào?

Lẽ dĩ nhiên, cũng có nhiều dự án đào thoát, dự án vượt biên mà không ai nói với ai cả.

Nhưng trước mắt với những nạn nhân, tử thần đã kề sát, sự hy sinh của chúng ta đã đem lại phần nào an ủi và yên lòng.

Phải công nhận một điểm ở đây: Các Thầy chúng tôi ở BỆNH VIỆN BÌNH DÂN đã là tấm gương sáng cho chúng tôi, bằng y đức và niềm kiêu hãnh, chí hào hùng của quý Thầy (như đã từng chứng tỏ qua bao giai đoạn từ khi Việt Minh cướp chính quyền, từ miền Bắc di cư vào miền Nam), Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972…

Sau những giờ phút căng thẳng, những tuyên bố láo khoét của Ba Trần Y….Ủy Ban Quân Quản: “Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”, nào là “chúng tôi đã dùng nước dừa tươi thay serum truyền cho bệnh nhân v.v.”, thì cuối buổi họp, một phụ nữ chắc do dấy động của quân giải phóng đã la hét: “Đêm qua. các bác sĩ mổ cho em tôi và đến khuya thì em tôi đã chết”, thì Thầy Hoàng Tiến Bảo đã rất nhã nhặn nói: “Sáng nay lúc 4 giờ sáng, tôi xuống nhà xác, đã có 34 xác nằm ở đấy. Đó là 34 thất bại của chúng tôi” …”Chúng tôi chịu trách nhiệm về những thất bại ấy, và giờ này, tôi muốn bào chữa cách nào, thì trách nhiệm ấy, chúng tôi hoàn toàn phải gánh”.

Thầy Phạm Biểu Tâm nói rất thâm thuý và có ý chửi xéo, “tôi nghĩ đó cũng là thành công của các anh”. Nói xong, chúng tôi thấy Thầy đỏ mặt và miệng hơi chúm chím với đôi gò má hóp từ mấy tuần qua. Trên đây là khúc phim quay lại phần nào của những ngày mà tôi khắc ghi qua lời của Thầy Hoàng Tiến Bảo “Ngày dài nhất trong đời bác sĩ”.

Giờ đây 44 năm đã trôi qua, không nhẹ nhàng như chúng ta tưởng. 44 năm bi thảm với những cảnh gia đình tan nát, sinh ly tử biệt. Chết trong nhiều cảnh thương tâm, chết ngay trên chiến trường sôi động, chết vì bị Cộng quân pháo kích, chết trong rừng sâu, trong tủi nhục tù đày, hay chết trên biển cả, chết chìm sâu dưới lòng đại dương. Rồi tới đất tạm dung, gặp nhiều cảnh đời đảo nghịch, gặp khó khăn trong việc hội nhập, bắt đầu xây dựng lại từ hai bàn tay trắng khi đã luống tuổi trong một xã hội xa lạ…

Nhưng rất may, các người trẻ của chúng ta, những thế hệ tiếp nối đã và đang tạo dựng được nhiều thành quả xuất sắc trong nhiều ngành nghề tại các xứ tạm dung để đền đáp công sức khó nhọc của thế hệ cha ông; đem con cháu ra đi tìm một đời sống tự do nơi xứ người.

Tôi muốn dành một phần nhỏ cuối bài BVBD trong những ngày khói lửa 1975 để đặc biệt ghi khắc những kỷ niệm thật trân quý về một vị Thầy: Thầy Hoàng Tiến Bảo.

Thầy Bảo đã ngày đêm hướng dẫn chúng tôi tại BVBD, đã lèo lái con thuyền BVBD với chức Trưởng Khối Chuyên Môn trong những ngày bấp bênh nhất trước làn sóng đỏ của Việt Cộng. Thầy Hoàng Tiến Bảo, bề ngoài mang dáng dấp của một ông thầy nghiêm khắc khô khan, của một tu sĩ một Đại Chủng Viện (mà Thầy đã tu học). Nhưng những ai đã có dịp tiếp xúc hay làm việc với Thầy đều khẳng định một điều : Thầy là người rất cởi mở, hoà nhã, đem lại không khí làm việc rất vui vẻ, phối hợp hài hòa những giây phút thật trào phúng, dí dỏm với những giây phút nghiêm trang trong việc tổ chức, kế hoạch rất chu đáo.

Nhờ vậy mà anh em chúng tôi đã sống và làm việc hăng say để phục vụ bệnh nhân, không biết mệt trong những ngày gay cấn nhất của thời cuộc. Không những thế, Thầy Hoàng Tiến Bảo và những Thầy khác đã làm cho “quân giải phóng” phải kính nể, không một ai của họ dám đụng vào các công tác chuyên môn của BVBD.

Sau 8 năm tận tâm phục vụ đồng bào, những nạn nhân chiến tranh Việt Nam dưới chế độ cộng sản, Thầy đã tới được Hoa Kỳ năm 1983 với nhiều nếp nhăn hằn in trên khuôn mặt, với bộ tóc bạc khá nhiều. Thầy đã qua đời vì bạo bệnh ở Hoa Kỳ. Thầy để lại biết bao thương tiếc cho gia đình, cho bạn bè, cho môn đệ, cho gia đình các nạn nhân chiến cuộc.Tất cả đều thương tiếc Thầy, nhất là trong những ngày với khí thiêng của Tháng Tư mỗi năm. Cầu nguyện cho Thầy được bình an trong tình thương bao la của Thiên Chúa.

Sau cùng, chúng tôi xin đặc biệt tri ân tất cả quý Thầy, quý anh chị em đồng nghiệp, toàn thể quý vị điều dưỡng và huynh trưởng nhân viên BVBD kính quý, đã hỗ trợ tinh thần chúng tôi trong những ngày cam go nhất của đất nước, những ngày Saigon đang trong cơn hấp hối.

Montreal, những ngày Tháng Tư đen 2019
Bs Đặng Phú Ân

Lê Thy đánh máy từ báo QUỐC GIA (Montreal-Canada) số 153-Quốc Hận 2021

Nguổn: https://tredeponline.com/2021/04/benh-vien-binh-dan-nhung-ngay-khoi-lua-thang-4-1975/

Giáo sư y khoa Hoàng Tiến Bảo, chân dung một nhân cách lớn

Bởi AdminTD

27/01/2021

Ngô Thế Vinh

27-1-2021

Tưởng niệm 101 năm, ngày sinh Giáo sư y khoa Hoàng Tiến Bảo

Hình 1: Chân dung GS Hoàng Tiến Bảo 1920 – 2008. Hình chụp tại nhà Thầy ở Alhambra ngày Chủ Nhật 30/01/2005 còn 9 ngày nữa là Tết Ất Dậu, nhân dịp các học trò đến chúc Tết Thầy Cô, đa số là lớp YKSG 74-75. Photo by Phạm Xuân Cầu, tư liệu Phạm Anh Dũng, YKSG 74

Dẫn nhập: Cuộc đời 88 năm của GS Hoàng Tiến Bảo quá phong phú và đa dạng, phải cần tới một cuốn sách mới có thể phác hoạ được một chân dung đầy đủ về Thầy. Đây chỉ là một bài viết ngắn xen lẫn với cả những điều riêng tư, nhân dịp Tưởng niệm 101 năm ngày sinh của Thầy.

Với tất cả sự thận trọng, người viết mong rằng bài tưởng niệm này, có thể chưa đầy đủ nhưng sẽ không có các chi tiết sai lạc. Cám ơn GS Trần Ngọc Ninh, GS Đào Hữu Anh, cùng các bạn đồng môn từ các khoá Y khoa Đại học Sài Gòn đã cung cấp cho tư liệu, hình ảnh và cả những thông tin còn nhớ được qua các cuộc nói chuyện trao đổi để có thể hoàn thành bài viết.

TIỂU SỬ

GS Hoàng Tiến Bảo sinh ngày 14/04/1920 tại Hà Nội. Quê nội làng Kim Lũ tỉnh Hà Đông, quê ngoại Làng Vẽ gần Hà Nội. Đi học từ năm 4 tuổi ở trường Trí Tri phố Hàng Đàn, lên trung học học trường Bờ Sông  [École du Quai Clemenceau]. Có năng khiếu về môn vẽ, và mơ ước trở thành giáo viên đi dạy học. Thuở thiếu thời, ông có một nếp sống lành mạnh, chơi thể thao chạy bộ, tập ném tạ, ném đĩa, ra hồ Tây bơi lội một mình.

Ông đi hướng đạo vào tuổi tráng niên, tập quen chịu phong sương. Mẹ ông buôn bán, sau này mới theo đạo Thiên Chúa, tất cả anh chị em ông cùng  được chịu phép rửa tội theo mẹ ở nhà thờ Các Thánh Tử Đạo ở Cửa Bắc. Trong tám anh chị em, ông là con trai cả, tuy là gia đình tân tòng nhưng sau này có được hai linh mục, một dì phước dòng Thánh Phaolô, và một sư huynh dòng La Salle.

[Linh mục Hoàng Quốc Trương là em ông, là một trong những người Việt đầu tiên du học ở Mỹ có  Ph.D. về động-vật học (Zoology) và dạy môn này tại Đại Học Khoa Học Sài Gòn trong nhiều năm].

Năm 1937, ở tuổi 17 ông thiếu một tuổi để thi vào trường Sư phạm / École de Pédagogie ngành học mà ông mơ ước. Lúc đó Cha giám đốc trường Kẻ Giảng đang tìm người có bằng Diplôme dạy học, ông nhận lời và dự định chỉ dạy ở Kẻ Giảng một năm, khi đủ 18 tuổi sẽ về Hà Nội thi vào trường Sư phạm. Ông dạy môn Pháp văn. Chủ Nhật cuối tuần thì về Hà Nội.

Nhưng ông đã ở Kẻ Sở 3 năm, thời gian 3 năm đó đã khiến ông trở thành một người Công Giáo thuần thành. Tuy không chịu chức Thánh, nhưng với 3 năm nơi trường Kẻ Giảng, ông được thấm nhuần các đức tính của một tu sĩ: nghèo khó, phục vụ, vâng lời. Và hầu như đã trở thành thói quen suốt đời, sáu giờ sáng mỗi ngày ông đi lễ nhà thờ, kể cả những năm ông du học ở Philadelphia, Hoa Kỳ. (1)

Ông lập gia đình năm 1946 tại Hà Nội. Có khoảng thời gian ngắn làm nghề may và buôn bán nhưng không thành công; sau khi thi tú tài xong, ông quyết định theo học Y Khoa. Khi GS Phạm Biểu Tâm, GS Trần Ngọc Ninh  đã là nội trú ở bệnh viện Phủ Doãn thì ông mới là một ngoại trú. Ông vào học Y khoa sau hai chị Vũ Thị Thoa và Nguyễn Thị Nhị một năm. [ BS Vũ Thị Thoa sau này là giáo sư Nhi khoa BV Nhi Đồng, BS Nguyễn Thị Nhị giảng sư Sản phụ khoa BV Hùng Vương ].

Ông tốt nghiệp Y khoa năm 1952 với Thèse Doctorat de Médecine: L’ Hémodiagnostic / Hemodiagnosis [ Hoàng Tiến Bảo, M.D.E., Hanoi 1952 ]. Ông là bác sĩ giải phẫu tại bệnh viện Phủ Doãn cho tới 1954, Ông cùng gia đình di cư vào Nam ngay sau Hiệp định Geneve chia đôi đất nước.

Vào Sài Gòn, ông mở phòng mạch một thời gian ngắn ở khu bình dân Khánh Hội. Sau đó ông được GS Trần Ngọc Ninh lúc đó mới đậu Agrégé từ Pháp về, mời làm phụ tá cho GS Ninh ở Bệnh viện Bình Dân trên đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn. Từ một bác sĩ giải phẫu tổng quát, sau này ông trở thành một bác sĩ chuyên khoa Chỉnh trực, làm việc cùng với các bạn đồng sự từ bệnh viện Phủ Doãn di cư vào Nam. Ngoài ra, ông còn phụ trách một số giờ dạy môn Cơ thể học / Anatomy cho sinh viên Y khoa năm thứ nhất cùng với Giáo sư Nguyễn Hữu, trên đường Trần Hoàng Quân, Chợ Lớn.

Năm 1960, ông được trường Y khoa Sài Gòn cử đi du học Hoa Kỳ tại University of Pennsylvania, theo ngành Orthopaedics một năm, xong chuyển qua ngành Bone Pathology tại Temple University. Trong thời gian này, ông đã thi đậu bằng tương đương ECFMG (1962), hoàn tất học vị Master of Science về Orthopaedic Pathology, American Board of Pathology. Ông trở về Việt Nam năm 1966.

Từ năm 1966, ông là Giáo sư Đại học Y Khoa Sài Gòn, làm trưởng khu Chỉnh Trực bệnh viện Bình Dân, [ sau khi GS Trần Ngọc Ninh chuyển sang bệnh viện Nhi Đồng xây dựng Khoa Giải Phẫu Tiểu nhi / Chirurgie Infantile / Pediatric Surgery với các công trình nghiên cứu nổi tiếng Đông Nam Á ]. Thầy Hoàng Tiến Bảo cũng đồng thời phát triển ngành học mới Bướu Xương / Bone Tumor  tại Việt Nam, chữa trị cho nhiều bệnh nhân bị chứng bệnh hiểm nghèo này.

Năm 1974, ông sang University of Hong Kong học thêm về chuyên khoa Phẫu thuật Cột sống [ Spine Surgery ] với Giáo sư A.R. Hodgson, người Anh. Sau đó ông trở về Việt Nam, cũng tại Bệnh viện Bình Dân phát triển khoa này, làm việc cùng với Bác sĩ Hoover đại diện cho AMA / American Medical Association ở Việt Nam. Ông đã giúp nhiều bệnh nhân bị lao cột sống [ Mal de Pott / Pott’s disease ] và chấn thương cột sống có khả năng trở lại sinh hoạt bình thường. Lao cột sống là một bệnh thường gặp ở Việt Nam, khi mà dịch bệnh lao phổi còn đang lan tràn ở quê nhà. Trong những năm đó, ông đào tạo nhiều thế hệ môn sinh, sau này rất thành công trong mọi lãnh vực y khoa, kể cả ngành chấn thương chỉnh hình và cột sống.

Võ Văn Thành và Vũ Tam Tĩnh, cùng YKSG 74 là hai môn sinh khoa cột sống, từng làm việc với Thầy gần 8 năm ở bệnh viện Bình Dân, họ không có cơ hội đến các bến bờ tự do nên  còn ở lại Việt Nam. Trong nghịch cảnh, hai anh vẫn cố gắng xây dựng và phát triển Khoa Giải phẫu Cột Sống ngày thêm vững mạnh. Thầy Bảo viết: “Thành và Tĩnh là những người tiêu biểu cho khoá 1974 ở quê nhà.” Vẫn Thầy viết tiếp: “Thành và Tĩnh đều rõ tôi nghĩ về các anh thế nào.” (2)

Vũ Tam Tĩnh thì đã mất vì bạo bệnh trước Thầy. Chỉ còn lại Võ Văn Thành, bấy lâu vẫn giữ mối liên lạc mật thiết và kính trọng với Thầy cho tới ngày Thầy mất.

Hình 2: Người học trò cũ lâu năm của Thầy nay mái tóc cũng đã bạc phơ. Ngày chụp tấm hình này,Thầy Hoàng Tiến Bảo mất cũng đã 6 năm. Võ Văn Thành, nay đã là giáo sư Y khoa Sài Gòn, đang trao đổi với GS David Segal đến từ Israel về kết quả của một bệnh nhân sau cas mổ cột sống. Photo by Nguyễn Luân/ Nguồn: Báo Ảnh Việt Nam 23.04.2014

THẦY GIẢNG DẠY NHỮNG ỨNG DỤNG THỰC TẾ

Không lý thuyết viển vông, Thầy Bảo giảng dạy những điều rất thực tế để sinh viên có thể lãnh hội và áp dụng được ngay. Thầy dạy học với lòng nhiệt thành và thân ái, giúp cho sinh viên tìm thấy đường đi trong rừng sách vở. Từ giảng đường Y khoa tới bệnh viện, bằng cách này hay cách khác, Thầy Hoàng Tiến Bảo đã để lại những dấu ấn trong suốt học trình Y khoa trên đám môn sinh được học Thầy. Trong một bài tưởng niệm Thầy, cựu nội trú Phan Ngọc Hà YKSG 74 đã ghi lại kinh nghiệm học trình Y khoa 5 năm được học với Thầy.

“Năm thứ nhất: bài học đầu tiên với Thầy là 2 tuần lễ Cơ thể học / Anatomy về tứ chi. Năm thứ hai: Thầy mở đầu môn Cơ Thể Bệnh lý / Anapath với bài Viêm cùng 4 triệu chứng sưng, đau, nóng, đỏ. Năm thứ ba Thầy dạy về gẫy xương với từng vị trí xương gẫy và phương pháp điều trị rất thực dụng. Năm thứ tư: Thầy dạy về bướu xương, môn học rất mới và xấp cours của Thầy như một cẩm nang rất hữu ích. Năm thứ năm: Thầy đảm trách thêm một số giờ về môn Médecine Opératoire, thay vì thuần lý thuyết, Thầy dạy những điều mà học trò có thể ứng dụng ngay khi bước vào đời.”

Ngay cả những sinh viên, cho dù chỉ tới thực tập với khu Chỉnh trực BV Bình Dân trong một thời gian ngắn cũng được Thầy dạy dỗ và chăm sóc chu đáo. Mới đây, nhân 13 năm ngày giỗ Thầy Hoàng Tiến Bảo [20.01.2008 – 20.01.2021], Phan Ngọc Luỹ YKSG 74, đã viết trên Facebook của mình:

“Tôi không thể nào quên được những lần được phụ mổ lao cột sống với Thầy. Mặc dù cuộc mổ khá dài, Thầy vẫn vừa cần mẫn, tận tụy mổ xẻ vừa từ tốn, ôn tồn giảng dạy cho các học trò chung quanh. Thầy hết lòng chăm lo đời sống cho sinh viên. Các sinh viên năm thứ 5 thực tập tại khu Chỉnh trực được Thầy xin Ban giám đốc Bệnh viện cho làm nội trú ủy nhiệm và được hưởng lương tháng. Đây không chỉ là một số tiền khá lớn đối với các sinh viên nghèo mà còn là niềm khuyến khích vô biên cho học trò. Thầy là người công bình. Trong khu Chỉnh trực, sự phân công cho các sinh viên, từ trại bệnh, phòng mổ, phòng bột như nhau. Được cho phép mổ từ trường hợp đơn giản đến phức tạp tùy theo thời gian thực tập. Mọi sinh viên đều có cơ hội học tập như nhau. Thầy luôn khuyến khích mọi sinh viên học hành tiến bộ. Đây chỉ là vài kỷ niệm nhỏ đối với Thầy, một vị giáo sư y khoa tài đức vẹn toàn.” 

Với quan niệm giảng dạy “kiến thức và thực dụng”, khác với đường lối cũ của Pháp chỉ nhắm đào tạo một thiểu số “tinh hoa – elite”, với chế độ thi cử thật khắt khe, và mỗi năm mỗi khoá học với 200 – 300 sinh viên mà chỉ chọn khoảng 12 tới 15 nội trú thực thụ. Thấy được sự cách biệt về trình độ và phẩm chất đào tạo giữa nhóm nội trú và một đa số ngoại trú hành lang – externes des couloirs, Thầy Bảo đã mạnh dạn chủ trương là phải mở rộng chương trình nội trú, gia tăng sĩ số sinh viên nội trú trúng tuyển để mọi sinh viên ưu tú có khả năng có cơ hội đồng đều để trở thành những bác sĩ giỏi. Một mô hình tiến rất gần tới chế độ nội trú – thường trú [Internship and Residency] của giáo dục Y khoa của Mỹ. Cũng như khi dạy Cơ Thể Học, Thầy luôn luôn nhấn mạnh tới phần ứng dụng, môn Cơ Thể Học Chức năng – Functional Anatomy.

Kỳ thi nội trú khoá 74 [theo Bạch Thế Thức], đã có tới 66 nội trú thực thụ trúng tuyển và 4 nội trú tạm thời / provisoire, hơn rất xa con số nội trú của những năm trước đó. Tới khoá 75, số nội trú mới trúng tuyển còn tăng thêm nữa, lên tới con số 90. Quan điểm phải mở rộng chương trình nội trú của Thầy Hoàng Tiến Bảo – với sự hậu thuẫn của Hội đồng Khoa, với thời gian đã được chứng minh là rất đúng qua những con số đám môn sinh thành đạt, phục vụ người bệnh hữu hiệu, không chỉ ở trong nước mà cả rất thành công khi ra hải ngoại. Rất tiếc là “chương trình nội trú mở rộng” đầy triển vọng của Thầy Bảo sau 1975 đã bị chế độ mới xoá bỏ, họ đã hạ thấp một nền Y khoa Khoa học của miền Nam xuống trình độ một nền Y khoa nhân dân du nhập từ miền Bắc. Đó cũng là nhận định cay đắng của Giáo sư Trần Ngọc Ninh từ Đại học Y Khoa Sài Gòn, trong khoảng thời gian của buổi giao thời khi ông bị kẹt ở lại.

Hình 3: Hội đồng giám khảo và một phần trong số đông đảo 66 các tân nội trú khoá 1974 Đại học Y khoa Sài Gòn, hàng trước từ trái: BS Dương Minh Quảng (đại diện Bộ Y tế), GS Đặng Trần Hoàng, GS Đào Đức Hoành, GS Hoàng Tiến Bảo (Chủ tịch Hội đồng Giám khảo), GS Huỳnh Thị Xuân, GS Trần Văn Bảng, Giảng sư Hoàng Minh Mậu, Giảng sư Tăng Nhiếp. Hình chụp tại giảng đường BV Bình Dân/ Tư liệu Bạch Thế Thức.

1975 VÀ NHỮNG NGÀY DÀI NHẤT

Biến cố 1975 như một cơn bão xô đẩy cả đất nước và mọi người vào một cuộc bể dâu. Ngày 30.04.1975 đã được Thầy Hoàng Tiến Bảo ghi nhận là Ngày dài nhất trong cuộc đời Bác sĩ. Thầy đã can đảm gánh vác vai trò Giám đốc BV Bình Dân, chấp nhận mọi việc rủi ro có thể xảy đến với mình và vẫn bênh vực cho tất cả những nhân viên cũ, các bác sĩ đàn em và đám sinh viên.(5)

Tình cảnh ở miền Nam sau 1975 cũng không khác với tình cảnh đám bác sĩ cũ còn kẹt lại ở Hà Nội sau 1954, tuy vẫn làm việc nhưng là trong tình trạng “lưu dung” [không phải lưu dụng / không có dấu nặng] theo cái nghĩa xúc phạm tồi tệ, đó là “dung thứ mà giữ lại”, và họ vẫn bị đối xử như một thứ công dân hạng hai. Thầy Bảo tuy vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế độ mới vì đức độ tài năng, nhân cách đặc biệt của Thầy; và cũng vì họ đang cần Thầy nhưng bảo tin cậy Thầy thì không. Như trường hợp Giáo sư Phạm Biểu Tâm, một tên tuổi trí thức lớn như vậy mà vẫn 2 lần bị Công an thành phố vây khám nhà mà không tìm ra được gì, sau đó là 2 lần xin lỗi của Thành uỷ Sài Gòn.(3) Có một nhận định bằng xương máu của một người rất hiểu Cộng sản từ ngoài Bắc vào, đó là: “Người Cộng sản có thể lạnh lùng giết anh và sau đó gửi tới vòng hoa phúng điếu.”

Hình 4: Giáo sư Hoàng Tiến Bảo và đám môn sinh tại Bệnh viện Bình Dân 1976, trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn; hàng trước từ trái: Bùi Đắc Lộc YKSG 72, Võ Văn Thành YKSG 74, Giáo sư Hoàng Tiến Bảo, Võ Thành Phụng YKSG 68, Nguyễn Văn Quang YKSG 70, Quan Vân Hùng YKSG 76; hàng sau: Dương Hoàng Anh YKSG 76, Nguyễn Tri Phương YKSG 76, Tăng Quốc Kiệt YKSG 76. Tư liệu và ghi chú của Bùi Đắc Lộc.

Người viết còn nhớ, vào mấy ngày trước Tết Tân Dậu, khoảng đầu năm 1981 mấy thầy trò còn kẹt ở lại có buổi họp mặt tất niên, bao gồm các khóa, nhưng đông nhất là Y Khoa 68. Có được hai Thầy là giáo sư Hoàng Tiến Bảo và giáo sư Phạm Biểu Tâm tới dự. Giữa lúc phong trào “Boat People / vượt biển tìm tự do” – cho dù với nhiều tang thương chết chóc nhưng vẫn dâng cao, tâm trạng “ở đi” của mọi người vô cùng ngổn ngang lúc đó nên “vui là vui gượng kẻo là”.

Thầy Bảo thì vẫn thâm trầm ít nói, có dáng khắc khổ như một thầy tu. Thầy Tâm tuy không bao giờ uống rượu nhưng vẫn mang rượu tới để chung vui. Thầy Tâm giơ cao chai rượu trước mặt các học trò và nói đại ý: “Lần này thì các anh thực sự yên tâm, đây không phải là rượu giả vì là chai rượu lễ của một Cha mới biếu tôi.” Trước sau, Thầy Tâm vẫn có một lối nói chuyện gián tiếp với “ý tại ngôn ngoại” như vậy. Ai cũng hiểu ý Thầy, muốn nói về một “thời kỳ giả dối” du nhập từ miền Bắc mà cả miền Nam đang phải bàng hoàng trải qua.

Thầy Bảo tuy phải sống trong nghịch cảnh với bao khó khăn chồng chất, nhưng Thầy vẫn hàng ngày đứng mổ, tận tuỵ phục vụ người bệnh, giảng dạy học trò cho đến ngày về hưu, đi định cư ở Hoa kỳ năm 1983.

Thầy đến Mỹ ở tuổi 63, dự định đoàn tụ với các con và tiếp tục nghỉ hưu. Ban đầu Thầy Cô thuê nhà ở San Francisco, sau đó dọn xuống Long Beach. Sau một thời gian ở Long Beach, cuối cùng Thầy Cô cũng ổn định được cuộc sống, sinh hoạt đoàn tụ cùng gia đình trong một căn nhà rất khiêm tốn ở thành phố Alhambra, California.

Rồi đám học trò cũ kéo tới thăm Thầy và còn đem cho Thầy một thùng sách và một đống cours ronéo, và cả thúc giục Thầy học lại. Thầy đã có ECFMG có lẽ là sớm nhất, từ 1962 khi du học ở Mỹ, hồi đó là đã đủ điều kiện để xin đi residency, nhưng nay lại bắt buộc phải thêm FLEX, một kỳ thi kéo dài ròng rã 3 ngày. Thầy viết: “Trong lúc rảnh rỗi, sẵn xấp cours và sách, giở ra coi, thấy hay hay nhưng Y khoa ở Mỹ bây giờ thì đã khác quá xa với một phần tư thế kỷ trước. Hồi đó IgA, IgE, IgM chưa sách nào nói đến, Watson và Crick chưa tìm ra cơ cấu của DNA, Behavior sciences chưa có chữ nào…”

Thầy đã là giáo sư y khoa, từng du học Mỹ 6 năm, nhưng nay là một di dân, và để có thể lấy lại được bằng hành nghề y tại Hoa Kỳ, Thầy vẫn phải học hành thi cử như mọi bác sĩ ngoại quốc khác.

MỘT NGÀY TRONG MỘT NĂM VOLUNTEER CỦA THẦY

Với khích lệ của đám môn sinh, Thầy quyết định trở lại vui với đèn sách. Đây cũng là thời gian gần một năm [khoảng từ tháng 5/1987 đến tháng 4/1988], như một cơ duyên tôi được gần gũi với Thầy. Qua giới thiệu của bạn đồng môn Phạm Quang Thuỳ YKSG 69 cũng là học trò của Thầy, Thầy và tôi cùng được nhận vào làm Clinical fellow / volunteer / WOC / không lương nơi Department of Medicine & Hypertension, USC Medical School với 2 giáo sư Vincent DeQuattro và Robert Barndt, trên tầng lầu 6 toà nhà chính của Bệnh viện. Nơi đây, không phải chỉ có Việt Nam, mà còn có các bác sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác như Nam Hàn, Trung Quốc, Phi Luật Tân, Syria và cả Nhật Bản.

Tuy đã gần tuổi “cổ lai hy” nhưng nếp sống của Thầy trẻ trung hơn tuổi tác. Như từ bao năm, đều đặn mỗi sáng từ 6 giờ, Thầy đã rời nhà [thành phố Alhambra] với backpack nhẹ trên lưng, đi bộ ra trạm xe bước lên chuyến bus tới dự thánh lễ buổi sáng ở nhà thờ, sau đó mới lên một chuyến bus khác để tới bệnh viện USC trên đường Zonal, Los Angeles.

Mục đích Thầy trò tới đây là để làm quen thêm với môi trường bệnh viện Mỹ, cho dù trước 1975 thầy Bảo cũng đã du học về Orthopaedics ở Mỹ và tôi thì cũng có một thời gian tu nghiệp về Physical Medicine & Rehabilitation ở Letterman General Hospital, San Francisco. Và cũng không kém quan trọng là sau một năm, Thầy trò sẽ có được mấy letters of recommendation của các giáo sư Mỹ. Cũng dễ hiểu, người Mỹ chỉ tin những gì có gốc xuất phát từ môi trường của họ.

Hệ thống y khoa Mỹ lạnh lùng và tàn nhẫn với bất cứ một bác sĩ ngoại quốc nào tới Mỹ theo diện di dân muốn hành nghề trở lại, cách đối xử khác xa với thành phần du học nếu sau đó trở về nước. Nhưng cũng có một nhận định khác cho rằng đó là sự tuyển chọn rất công bằng chỉ có ở nước Mỹ. Không là ngoại lệ, cả hai thầy trò phải đi lại từ bước đầu. Nhưng rồi sau này, có thời gian làm việc tại các bệnh viện New York, tôi đã chứng kiến hoàn cảnh vị giáo sư ObGyn đáng kính người Ba Lan phải đi làm EKG technician, và một bác sĩ giải phẫu người Nga thì làm công việc của một respiratory therapist. Họ là thế hệ thứ nhất tới Mỹ với tuổi tác không thể đi học lại từ đầu những môn khoa học cơ bản (basic sciences) quá mới mẻ nên đành chấp nhận hy sinh lót đường cho thế hệ thứ hai vươn lên.

Tại USC Medical Center, đám bác sĩ ngoại quốc chúng tôi tuy chưa có bằng hành nghề, nhưng cũng được tiếp xúc với bệnh nhân, để chọn lọc và ghi tên họ tham gia vào các công trình nghiên cứu y khoa, theo protocol, thực hiện các cuộc phỏng vấn, lập hồ sơ với folder cho từng người; ngoài ra 2 ngày mỗi tuần chúng tôi được tham dự / quan sát các buổi khám bệnh của 2 vị giáo sư Mỹ này. Thầy Hoàng Tiến Bảo, tuy bao năm đã từng làm giáo sư Y khoa ở Việt Nam nhưng Thầy rất khiêm cung, và khi biết được background của Thầy, ai cũng tỏ vẻ kính trọng.

Mỗi ngày, sau khi làm xong phần vụ được giao phó, hai Thầy trò lại cùng nhau xuống thư viện Norris Medical Library nơi có cả một rừng sách, phía sau Bệnh viện để dùi mài kinh sử; chủ yếu là nghe tape và xem video các bài giảng y khoa, giống như mấy trung tâm luyện thi Kaplan nhưng phải trả tiền khá đắt. Thầy Bảo vừa xem-nghe vừa ghi chép tóm tắt mỗi bài giảng trên một cuốn vở, do có khiếu vẽ từ nhỏ chữ viết của Thầy thì tuyệt đẹp. Buổi trưa giờ lunchbreak, hai Thầy trò ra ngồi nơi ghế đá dưới bóng mát những tàn cây xanh bên ngoài thư viện, với bữa ăn trưa đơn giản thường là một ổ bánh mì sandwich và chai nước suối, có hôm được tráng miệng với trái cây: quả chuối hay vài trái nho hay một trái táo, mà cô Bảo đã chu đáo gói sẵn trong bao Ziploc bỏ vào backpack cho Thầy mang theo.

Trong thời gian này, tôi được chứng kiến là Thầy lo cho bản thân thì ít, mà lo cho các môn sinh thì nhiều. Nhất là với các bác sĩ ra trường sau 1975, gặp khó khăn về hồ sơ giấy tờ để được học hành thi cử trở lại. Có lần đã sắp tới ngày thi FLEX của Thầy, nhưng Thầy không quá quan tâm, vẫn dẫn một phái đoàn lên gặp Medical Board trên Sacramento, tranh đấu cho đám sinh viên ra trường sau 1975 được công nhận là tương đương và được quyền thi cử để trở lại y nghiệp. Một lần khác, Thầy xin nghỉ hẳn một ngày ở USC, và tôi được biết Thầy đã đi bus lên Pomona, để gặp và khuyên một môn sinh đừng bỏ học, và được biết sau này anh ấy cũng đã trở lại hành nghề y khoa.

Và rồi Thầy đã rất vui khi biết tôi đã qua phần thi cử FMGEMS, có được mấy cuộc phỏng vấn / interviews để vào NRMP (National Resident Matching Program) và cũng chính thầy Bảo là người đầu tiên chia vui với tin tưởng là học trò của Thầy sẽ qua được chặng đường thử thách 3 năm trước mặt. Sau đó tôi rời California đi New York với hy vọng hoàn tất chương trình nội trú & thường trú nơi hệ thống Bệnh viện Đại học SUNY Downstate at Brooklyn, New York. Trên đoạn đường chiến binh 3 năm ấy, đã ở cái tuổi 47, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được hoặc một tấm bưu thiếp hay một trang thư ngắn với nét chữ thân yêu rất đẹp của Thầy cùng với lời khuyến khích mà cho đến những năm sau này tôi vẫn còn mãi nhớ ơn.

Hình 5: USC Medical Center, 2025 Zonal Ave, Los Angeles, CA 90033, Department of Medicine, Clinical Hypertension Service, Raulston Bldg. # 100, nơi hai Thầy trò đã trải qua gần một năm làm Clinical fellow WOC / không lương.

TỔ CHỨC NHÓM HỌC THI CHO ĐÁM MÔN SINH

Đến năm 1991, xong chương trình 3 năm thường trú về Nội khoa, tôi trở lại California, làm việc cho một Bệnh viện VA ở Long Beach. Đến thăm Thầy, rất vui khi thấy Thầy khỏe mạnh và vẫn rất minh mẫn ở tuổi 71. Bao quanh Thầy nay là một đám học trò cũ tới Mỹ ở một thời điểm phải nói là muộn màng. Và cũng để tạo không khí vui học, Thầy đã tổ chức các buổi học nhóm cho đám môn sinh này. Các buổi học nhóm rất linh động, lúc thì ở nhà Thầy, rồi luân phiên tới nhà các học trò.

Nơi trụ lâu nhất là nhà anh chị Nguyễn Đức Thụ trên đường Crystal Lane – còn được gọi đùa là Crystal Lane Medical College, vì đây là lò đào tạo thành công cho một số học trò của Thầy trở lại nghiệp cũ như Nguyễn Phan Khuê, Trương Văn Như, Huỳnh Quang Lang, Nguyễn Đức Thụ… Nguyễn Phan Khuê là người mỗi sáng từ nhà West Covina đến Alhambra đón Thầy xuống Tustin học chung nhóm từ 9 giờ sáng tới 8 giờ tối, rồi từ đó chở Thầy về Alhambra, cứ như vậy trong suốt 6 tháng. Với uy tín sẵn có, Thầy dễ dàng mời các bác sĩ đã thành đạt trong dòng chính/ mainstream, đang hành nghề và cả giảng dạy, đa số qua Mỹ sớm từ 1975 và một số cũng là học trò của Thầy. Họ đến từ các chuyên khoa khác nhau, chia sẻ những kinh nghiệm lâm sàng và thi cử: như GS Vũ Quý Đài (Khoa trưởng cuối cùng của trường Y khoa Sài Gòn ) tới giảng về Microbiology & Immunology, Phùng Mạnh Lành về Biochemistry, Bạch Thế Thức về Surgery, Quỳnh Kiều về Pediatry, Phạm Văn Hạnh và Phùng Gia Thanh về Radiology, Trà Mi về Dermatology…

Hình 6: 1991, Thầy Hoàng Tiến Bảo và các học trò, trong buổi học nhóm tại nhà anh Nguyễn Văn Hai, từ trái hàng ngồi: Trần Thiện… hàng đứng: Trần Trung Nhựt, Nguyễn Cầm, Thầy Hoàng Tiến Bảo, Trần Minh Cảnh, Lâm Kỳ Hiệp, Nguyễn Văn Hai, Nguyễn Xuân Vinh. / Trong hình này có 3 Bạn chưa nhận diện được. Tư liệu và ghi chú của Nguyễn Cầm.

Không chỉ trong học tập, Thầy Bảo gần gũi với đám học trò trong mọi sinh hoạt. Thầy đại diện nhà trai làm chủ hôn cho học trò Nguyễn Phan Khuê YKSG 74, Thầy tham dự nhiều đám cưới của học trò cũ như của Nguyễn Chí Vỹ, Lã Hoàng Trung… Thầy đã vào bệnh viện Huntington Memorial Hospital thăm học trò Nguyễn Văn Chí , khi đang ở tình trạng thập tử nhất sinh, không ai nghĩ rằng Chí có thể sống sót và tin rằng đó là lần cuối cùng Thầy đến thăm trò. Vậy mà giờ đây Nguyễn Văn Chí vẫn còn sống khoẻ mạnh, và Thầy đã ra người thiên cổ! Chí vẫn còn nhớ và rất cảm động khi nhắc đến Thầy.

Hình 7: Thầy Hoàng Tiến Bảo đại diện nhà trai làm chủ hôn cho đám cưới (1987) của học trò Nguyễn Phan Khuê YKSG 74. Khuê vượt biển 1983, ra đi chỉ có một thân một mình. Thầy rất mát tay, sau đó Khuê đã có một gia đình với vợ và hai con rất hạnh phúc. Tư liệu và ghi chú Nguyễn Phan Khuê.

Không có khoảng cách tuổi tác, hoà mình cùng đám học trò: học chung, ăn chung rất vui nhộn nhưng đám môn sinh thì vẫn giữ sự kính trọng với cương vị của một người Thầy trong mọi hoàn cảnh với ý nghĩa tốt đẹp nhất. Sau này có dịp nhìn lại, Thầy tâm sự thành thật: “Không có các bạn, đặc biệt là các bạn khoá 74, tôi khó lòng có dịp hành nghề trở lại vào tuổi 71. Trông lại, những ngày cùng nhau phấn đấu là những ngày vui.”

HÀNH NGHỀ TRÊN ĐẤT MỸ

Thầy cũng lấy được license hành nghề trên đất Mỹ, như một tấm gương sáng, dù phải trải qua một chặng đường thi cử khá gập ghềnh. Do được thấm nhuần từ tuổi trẻ các đức tính: nghèo khó, phục vụ, nên sự trở lại ngành nghề của Thầy không phải vì động lực tiền bạc, mà là một nhu cầu trí tuệ, một tái khẳng định tấm Căn cước / Identity Chí hướng Y khoa của Thầy.

Bước đầu, Thầy được BS Hà Gia Cường lúc ấy đang làm ở Fairview Medical Center, Costa Mesa, CA cho biết nơi đây đang cần một surgeon nhưng chỉ làm minor surgery. Qua giới thiệu của Cường, Thầy được mời interview đạt 94 /100 điểm, cuối cùng chỉ còn Thầy và một người nữa được vào chung kết; đến interview thứ hai thì người được chọn là anh bác sĩ Mỹ chắc chắn là trẻ trung hơn Thầy. Những ai đã chen chân vào hệ thống Y khoa Hoa Kỳ đều dễ dàng hiểu tại sao, cho dù EEO (Equal Employment Opportunity) khẳng định rằng không có phân biệt về sắc tộc và tuổi tác.

Bước tiếp theo là lúc đi tìm nơi mở phòng mạch, nhưng tiền overhead thì đắt kinh khủng. Cuối cùng Bạch Thế Thức chỉ cho Thầy một nơi ở Alhambra gần nhà, tiền thuê chỉ có $600 một tháng, lại trông sang phòng mạch của Thuý San, vợ Thức. Thầy viết: “Thuý San chuyên về Nhi khoa / Pediatrics, khi có người lớn muốn khám bệnh thì chị gửi qua tôi, thành ra tôi không có mối lo của người mới mở phòng mạch.”

Khi mà nền Y khoa Mỹ cuối thế kỷ 20, đã càng ngày càng trở nên quá thực dụng: bác sĩ thì được gọi là người cung cấp dịch vụ (provider), và bệnh nhân là khách hàng (customer), thì ai cũng hiểu rằng thứ “văn hoá dịch vụ” ấy hoàn toàn không thích hợp với tâm tư và lý tưởng y khoa của Thầy. Mặc dầu Thầy đã đi du học Mỹ 6 năm [1960 – 1966] nhưng là sinh hoạt trong môi trường đại học (academic). Nay bước ra làm phòng mạch, việc điều hành không khác một thương vụ, đây quả là một “culture shock” đối với Thầy. Và rồi còn thêm những vụ kiện cáo, cho dù có lý do chính đáng hay không, khiến người y sĩ phải hành nghề trong tư thế tự vệ (defensive medicine), dẫn tới yêu cầu phải làm những thử nghiệm (tests), các thủ thuật (procedures) rất tốn kém đôi khi không thật cần thiết, với mục đích chỉ để giảm thiểu các đe doạ kiện tụng sau này.

Tôi còn nhớ hồi hai Thầy trò đi làm volunteer ở USC, trong một buổi Morning report, khi một fellow gốc Trung Đông trình bày hồ sơ một bệnh nhân quá sơ sài, GS DeQuattro đã nhắc nhở đám fellow volunteer chúng tôi rằng: “Khi đặt bút viết trên một hồ sơ bệnh nhân, nên nhớ rằng, có thể một ngày nào đó anh chị phải đọc hồ sơ đó trước toà, sẽ không có ai bảo vệ các anh chị lúc đó ngoài những dòng chữ viết trên giấy.” Vào thập niên 80s, lúc đó hồ sơ bệnh nhân còn phải viết tay, chưa tới giai đoạn làm bệnh án điện tử (electronic medical record) như hiện nay.

Trong bài viết Những Ngày Vui, Thầy Bảo đã giãi bày tâm sự: “Làm phòng mạch ở Mỹ không giản dị như khi tôi mở ở Hà Nội và Sài Gòn. Ở Mỹ nếu khám bệnh 5 phút, thì giấy tờ phải từ 15, 20 phút. Hồ sơ bệnh nhân phải làm sao khi có kiện cáo, mình không bị sơ hở. Rồi giấy tờ làm sao họ không bị deny trả tiền.” Rồi Thầy viết tiếp: “Tôi nhận thấy mình đã tới tuổi, sức chịu stress giảm đi nhiều nên làm phòng mạch được khoảng một năm rồi tôi thôi.” (2)

Hình 8: 1990, GS Hoàng Tiến Bảo (phải) tới thăm GS Phạm Biểu Tâm (trái) ở Tustin, Orange County. Trích album gia đình GS Phạm Biểu Tâm

Hình 9: 1992, Tới thăm Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, thành phố Tustin, Orange County, ngồi: Thầy Cô Phạm Biểu Tâm, đứng từ trái: Văn Kỳ Chương, Trần Trung Nhựt, Đặng Văn Việt, Cô Hoàng Tiến Bảo, [?], Thầy Hoàng Tiến Bảo, Nguyễn Minh Quốc YK 74, BS Trần Quý Nhu, Lâm Kỳ Hiệp, [?], Nguyễn Cầm. Trích album gia đình GS Phạm Biểu Tâm, ghi chú hình Nguyễn Cầm.

KHI THẦY THUỐC LÀ CON BỆNH

Đến tuổi 75, Thầy có vấn đề về sức khoẻ, sức chịu đựng về thể lực giảm, thấy mệt khi gắng sức, nghĩ rằng do tuổi tác. Đôi lần ra vào bệnh viện, làm đủ các tests: X-rays, Echocardiogram, Holter monitoring đều không thấy gì. Cuối cùng, qua giới thiệu của Trần Thế Kiệt YKSG 74, Thầy đến gặp bác sĩ Zhao tại French Hospital, gần khu Chinatown, Los Angeles. Là một bác sĩ tim mạch / non invasive cardiologist, lai 3 dòng máu Việt, Lào, Hoa, biết nói tiếng Việt, bác sĩ Zhao đề nghị Thầy làm Coronary angiogram / Soi tim chụp mạch vành. Nhưng Thầy không muốn.

Trong một bức thư gửi đám môn sinh, Thầy viết: “Từ tháng Giêng tới tháng Sáu 1995, tôi vẫn lừng khừng vì không bao giờ có chest pain, nhưng sau đó Thầy có vấn đề trong sinh hoạt hàng ngày, rất mệt khi lên xuống cầu thang trong nhà, phải dừng lại khi đi vội ra trạm xe bus.”

Đến lúc đó Thầy mới chịu vào Garfield Medical Center, Monterey Park để làm angiogram. Kết quả: có 4 động mạch tim bị nghẽn từ 70 % tới 90 %, và bác sĩ Zhao khuyên Thầy nên làm bypass. Vẫn với tâm trạng phủ nhận (denial) và cả hoài nghi, Thầy viết: “90%, 80% … các ông lấy tiêu chuẩn nào mà evaluate rõ ràng như vậy? Vả lại ở nước Mỹ này không thiếu gì bác sĩ đè con người ta ra mổ vì incentive là tiền, không có incentive đó, nhiều ông không mổ. Cho nên tôi vẫn lừng khừng.” Điều này Thầy nghĩ không đúng. Thật ra, bác sĩ Zhao, chỉ làm công việc chẩn đoán chứ không phải là người mổ cho Thầy. Cho dù Thầy biết rất rõ angiogram là “tiêu chuẩn vàng – gold standard” để chẩn đoán nghẽn mạch tim. Nhưng bản thân Thầy, khi là con bệnh thì vẫn cứ hoài nghi.

Người viết còn nhớ, trong một cuốn sách nhan đề “Khi những thầy thuốc là con bệnh – When doctors are patients” ghi lại một cách trung thực những kinh nghiệm bản thân phải nếm trải khi chính các bác sĩ là con bệnh, chính họ phải đối phó với một số căn bệnh trầm kha. Max Pinner và Benjamin F. Miller cũng là bác sĩ đã cùng đi tới kết luận rằng: “Người-bệnh-thầy-thuốc không chỉ phải đương đầu với căn bệnh, mà là phải đối phó với một suy sụp toàn thể.” (4)

Và tôi hiểu rằng, dẫu là bác sĩ, nhưng trước một thử thách có thể là “giữa sống và chết”, chính người-bệnh-thầy-thuốc cũng phải trải qua những biến đổi sâu xa về mọi phương diện, cả những thay đổi về sự phán đoán do những xúc động về tình cảm và tâm lý. Và tôi đã nhận thấy được sự thay đổi ấy ngay nơi các Thầy của mình như trước đây là Thầy Phạm Biểu Tâm, và nay là Thầy Hoàng Tiến Bảo.

Bạch Thế Thức thu xếp cho Thầy được gặp bác sĩ Minh Lu Huang, là một trong 8 bác sĩ giải phẫu cardiothoracic giỏi nhất trong vùng. Trong 10 năm ông Huang đã mổ hơn 2.000 cas bypass từ khi tốt nghiệp. Theo Thức, do có nhiều dịp phụ mổ, thấy bác sĩ Huang đã giải quyết những cas bypass khó khăn một cách bình tĩnh và khéo léo. Bác sĩ Huang quyết định sẽ đưa Thầy vào Huntington Memorial Hospital – là một bệnh viện lớn trang bị hiện đại nhất trong vùng để mổ. Thầy không phải nhập viện sớm, do mọi chuyện Pre-op Thức đều lo cho Thầy. Thầy còn một mối lo khác, khi mổ cần truyền máu nếu lấy từ blood bank, thì cái risk AIDS và Hepatitis tuy ít nhưng vẫn có. Rất may, Bạch Thế Thức thuộc nhóm máu O – universal donor, Thức đã tình nguyện hiến máu trước cho Thầy khi cần.

Phạm Văn Hạnh YKSG 74, sau này trở thành giáo sư UCI về Neuro-radiology trong một chia sẻ riêng với người viết: “Thức và Thuý San trong bấy lâu đã chăm sóc Thầy Cô như những đứa con lo cho cha mẹ.”

Thầy Bảo rất thành thật tâm sự: “Khi mổ cho người khác thì hăng hái mà đến lượt mình lên bàn mổ thì lại rất rụt rè.” Và cuối cùng không phải ai khác hơn, chính Bạch Thế Thức, Trần Thế Kiệt và sau này là Nguyễn Xuân Ngãi, cả ba đều là học trò của Thầy, đã giúp Thầy quyết định, chấp nhận làm bypass với tâm trạng không còn do dự gì nữa, nhưng vẫn với chút lo âu, Thầy viết: “Lành nhiều, dữ ít, theo thống kê, song mortality / tử vong vẫn có.”

Đó là những dòng chữ trên trang đầu của 8 trang thư viết tay của Thầy từ lúc 6 giờ rưỡi sáng ngày 22/09/1995 chỉ vài giờ trước khi lên bàn mổ. Tám trang thư ấy, nửa như một tâm thư, nửa như một di chúc gửi các Anh Chị Em đồng nghiệp Y Khoa Đại Học Sài Gòn, đặc biệt với khoá 1967 – 1974 ở quê hương và năm châu. Thầy viết tiếp:

“Tôi sẽ thấy sáng mai rạng rỡ như sáng nay hay không bao giờ thấy nữa, hoàn toàn tuỳ thuộc vào Đấng cai quản đời tôi. Đấng ấy đã ban cho tôi một cuộc đời hào hứng, một nghề nghiệp mà tôi yêu suốt đời và giờ đây với lòng hãnh diện tôi có không biết bao nhiêu bạn đồng nghiệp mà tôi được tiếp xúc ở Y khoa Đại học Sài Gòn, và nay tại khắp năm châu bốn bể mà tôi không có phương tiện gửi lời chúc Good Morning đến tất cả nên viết lá thư này.”

Ngoài phần xúc cảm riêng tư của Thầy – như một người bệnh trước khi bước lên dốc tử sinh, nhưng cuối cùng vẫn là mối ưu tư về thời cuộc về đất nước, cùng với một lời nhắn tới các bạn đồng nghiệp trẻ là “Quê hương Việt Nam đang chờ”.

Rồi Thầy cũng trở lại với chút riêng tư, với mấy dòng tái bút cuối thư: “Xin anh chị em cầu nguyện cho tôi, Mục sư Phạm Hồng Lạc, con người của Thiên Chúa, Chị Liên Ôn, giữa đường gặp Chúa, xin nhớ đến tôi nhiều trong khi hàng ngày cầu nguyện.”

Khoảng 9 giờ sáng ngày 22/09/1995, đích thân Bạch Thế Thức lái xe đến đón Thầy vào Huntington Memorial Hospital để mổ 4 động mạch tim bị nghẽn, một Quadruple bypass theo lịch mổ là 1 giờ trưa. Thức là phụ mổ chính cho BS Huang. Và sau này Thức cho biết khi mổ mới phát hiện ra là có thêm một động mạch thứ 5 bị nghẽn, như vậy đây là Quintuple bypass. Cuộc mổ kéo dài 4 tiếng đồng hồ, không cần truyền máu ngoài 10 units tiểu cầu (platelets) và thành công tốt đẹp. Ngày thứ tư Thầy được xuất viện về nhà. Thầy hồi phục rất nhanh, không có một biến chứng hậu phẫu nào.

Hình 10 A: Một tuần sau mổ, ngày 28/09/1995, Phạm Xuân Cầu YKSG 74 từ Irvine chở Võ Văn Thành YKSG 74 mới từ Sài Gòn qua, đến thăm Thầy Cô ở Alhambra, bên trái Thầy là Võ Văn Thành và Phạm Xuân Cầu. Thầy Cô đã đãi 2 trò bữa ăn rất thịnh soạn tại một tiệm ăn Tàu ở Monterey Park và không cho phép 2 học trò được trả tiền. Tư liệu và ghi chú của Phạm Xuân Cầu.

Hình 10 B: Một tháng sau mổ, hình chụp tại nhà Thầy, từ trái: vợ chồng Bạch Thế Thức – Thuý San, Thầy Cô Hoàng Tiến Bảo, vợ chồng Nguyễn Đức Thụ – Cẩm Anh. Như một truyền thống hàng năm, vào những ngày Tết, đông đảo học trò tụ hội về nhà Thầy, để cùng chúc Tết Thầy Cô. Truyền thống ấy vẫn được giữ cả những năm sau ngày Thầy mất, chỉ có năm 2020 – 2021 là không có vì trận đại dịch Covid Vũ Hán. Tư liệu Bạch Thế Thức

Thầy Hoàng Tiến Bảo đã sống thêm được 13 năm, trở lại với một cuộc đời hào hứng. Nền y khoa tiến bộ “Không những chỉ kéo dài tuổi thọ mà còn tăng thêm phẩm chất của cuộc sống / Adding years to life – and life to years.” Đó cũng là Motto của nền Y Khoa Phục Hồi, được coi như Bước Thứ Ba của Y Khoa.

Ngay sau khi cuộc mổ tim bình phục, Thầy sinh hoạt năng động trở lại, rất gắn bó với đám học trò cũ, và gần gũi nhất vẫn là khoá YKSG 74.

Thầy Hoàng Tiến Bảo mất ngày 21/01/2008 tại Alhambra, California. Lễ an táng của Thầy đã được tổ chức tại Resurrection Catholic Cemetery, Rosemead ngày 26 tháng 01 năm 2008 với tham dự đông đủ của các môn sinh tại nam California và cả nhiều người từ xa về. Chúng tôi và rất nhiều học trò khác không bao giờ quên ơn và nhớ mãi tấm gương sáng với tấm lòng quảng đại đầy nhân hậu của Thầy. Rất nhiều điếu văn ca ngợi công đức của Thầy, sau đây là trích dẫn đôi dòng từ bài điếu văn của môn sinh Đặng Văn Chất, YKSG 72 đọc trước mộ chí của Thầy:

“Thầy đã có một cuộc đời đầy ý nghĩa, một cuộc đời mà chúng ta mong muốn được sống, cuộc đời của một Đại Lương Y luôn luôn tận tụy với bệnh nhân, cuộc đời của một Đại Giáo Sư luôn luôn tận tụy với học trò, và cuộc đời của một người chồng, một người cha gương mẫu. Hơn thế nữa, chúng ta mừng vì Thầy Bảo đã làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ Quốc Việt Nam thương yêu của chúng ta. Tổ Quốc Việt Nam của tất cả người Việt ở nước nhà cũng như ở xứ ngoài…”

Hình 11: Từ trái, chân dung Thầy Hoàng Tiến Bảo 2007, khoảng một năm trước ngày Thầy mất. [photo by Bùi Đắc Lộc]. Phải: bia mộ Thầy Hoàng Tiến Bảo (1920 – 2008) tại nghĩa trang Resurrection Catholic Cemetery, 966 Potrero Grande Dr, Rosemead, California 91770. Photo: Phạm Xuân Cầu

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ VỚI GS HOÀNG TIẾN BẢO

Một nhược điểm khá phổ quát khi viết về một danh nhân là người viết thường đưa vào phần liên hệ tới mình. Biết rất rõ như vậy, nhưng không tránh được vì nghĩ rằng điều ấy cũng góp phần giúp bạn đọc nhìn rõ hơn “chân dung” của nhân vật. Và danh nhân ấy là GS Hoàng Tiến Bảo.

Khoảng cuối 1989, tôi đang vất vả với những ngày tháng “cải tạo tự nguyện” – nói theo ngôn từ của Vũ Văn Dzi, cũng là bạn đồng môn YKSG 68. New York lúc ấy, thời tiết rất khắc nghiệt. Hè thì rất nóng ẩm. Đông thì cực lạnh với tuyết giá. Giữa lúc đó tôi nhận được một phong thư lớn của Thầy gửi từ vùng nắng ấm California. Đó là 4 trang giấy in Bài diễn văn của GS Hoàng Tiến Bảo trong buổi lễ khai mạc Hội nghị Quốc tế Y sĩ Việt Nam Thế giới Tự Do kỳ II [từ ngày 5 đến ngày 06/08/1989] tại Anaheim Convention Center, California.(6) Nơi trang đầu là mấy dòng thủ bút với nét chữ thân yêu của Thầy: “Thân tặng bác sĩ Ngô Thế Vinh, một trong những đồng nghiệp tiêu biểu nhất cho bác sĩ Việt Nam thế giới tự do.”

Như từ bao giờ, Thầy vẫn rộng lượng, không kiệm lời khen với đám môn sinh. Với tất cả sự khiêm cung, tôi hiểu rằng đây như một khích lệ và cũng là lời nhắn nhủ của Thầy là hãy sống sao cho xứng đáng, để rồi ra, ngoài sự nghiệp bản thân còn phải nghĩ tới một tương lai chung vai cùng hơn 3 triệu người Việt trên khắp 5 châu, mà Thầy coi như một vận hội lớn, một tiềm năng vô giá để xây dựng lại một quê hương Việt Nam Văn Hiến.

Sau đây chỉ là bản tiếng Việt cô đọng nói lên “tầm nhìn / vision” của Thầy, một di dân lúc ấy ở tuổi 69 nhưng vẫn đau đáu hướng về Quê Hương Đất Nước còn lầm than dưới chế độ cộng sản.

Hình 12: Bài diễn văn của GS Hoàng Tiến Bảo trong buổi lễ khai mạc Đại Hội Kỳ II Hội Y Sĩ Việt Nam Tự Do ngày 5 đến ngày 06/08/1989 tại Anaheim Convention Center, California. Tư liệu Ngô Thế Vinh

SỰ THÁCH ĐỐ CỦA GIỚI Y SĨ VIỆT NAM TỰ DO

Tôi hân hạnh được Ban tổ chức Đại Hội Kỳ II Hội Y Sĩ Việt Nam Tự Do chỉ định nói trước quý Bạn trong dịp khai mạc Hội nghị này. Tôi không đủ từ ngữ để diễn tả mối xúc động khi thấy được trong hội trường này nhiều đồng nghiệp và bằng hữu, trong số đó có rất nhiều người tôi chưa được gặp lại trong khoảng 5, 10, 15 năm và có thể lâu hơn thế nữa.

Cho dù trong không khí lễ hội của hôm nay, tất cả Y sĩ Việt Nam chúng ta ít nhất đã một lần trong đời là dân tỵ nạn, với cả nỗi buồn vô hạn khi nghĩ tới bạn bè và đồng nghiệp của chúng ta đã bất hạnh ra đi vĩnh viễn, họ đã hy sinh mạng sống trong khi phục vụ ngành Quân Y Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, hay họ đã chết mỏi mòn trong các “trại tù cải tạo” trên khắp Việt Nam sau 1975 chỉ vì họ đã từng chiến đấu cho tự do của xứ sở.

Mỗi bác sĩ Việt Nam trong Thế giới Tự do, đều có một câu chuyện để kể là: khi nào, bằng cách nào và tại sao chúng ta phải rời bỏ quê hương thân yêu. Và động lực cơ bản của mỗi người trong chúng ta là đi tìm tự do thoát khỏi sự áp bức. Cho mục đích tối hậu đó, một số trong chúng ta đã phải trả giá rất đắt bằng mạng sống của chính họ.

Đối với tất cả chúng ta, tái lập cuộc sống mới trên một đất nước cưu mang chúng ta không phải là điều đơn giản. Hơn thế nữa, đó là một tiến trình dài và đau đớn.

Trong khi một số đã vượt qua được nhiều thử thách, phấn đấu thành công để trở lại y nghiệp, một số khác thì vẫn đang còn xa tiến tới mục tiêu đó.

Trên những chặng đường ấy, đã có một số ân nhân hỗ trợ chúng ta bằng những giúp đỡ vô giá, một số vị ấy đang có mặt ở đây hôm nay, và cả với nhiều vị khác không có mặt, chúng tôi bày tỏ sự biết ơn.

Các đồng nghiệp thân mến, tôi hãnh diện được cùng quý vị có mặt ở đây hôm nay, như những bác sĩ Việt Nam trên Thế giới Tự Do:

– Có những vị, đang cố gắng vượt qua những khó khăn vô lường để có thể khoác trở lại trên mình chiếc áo blouse trắng

– Có những vị, đang là y sĩ hết lòng phục vụ những người bệnh trên khắp thế giới.

– Có những vị, đang phục vụ với cương vị điều hành các trung tâm y khoa hay Y tế Công cộng trên thế giới

– Có những vị, đang phụ trách giảng dạy trong các trường Y khoa danh tiếng ở Âu châu, Úc châu và Bắc Mỹ

– Có những vị, trong nước Mỹ đã không từ nan phục vụ những bệnh nhân trong các nhà tù cho dù với mức thù lao thật khiêm tốn

Ngay nơi địa phương này, các đồng nghiệp Việt Nam đã hành nghề nơi các quận hạt như Los Angeles, Orange County cung cấp những chăm sóc y khoa có phẩm chất tới các cộng đồng tỵ nạn người Việt trong vùng. Nhiều bệnh nhân người Việt gặp phải trở ngại hàng rào ngôn ngữ, cùng với những chấn động tâm lý do đột ngột phải thay đổi môi trường sống, họ mong muốn được tới với các bác sĩ Việt Nam.

Như quý vị đã biết, Việt Nam là một nước nhỏ sát với biên giới Trung Quốc, là một quốc gia khổng lồ của Á châu với dân số đông nhất thế giới.

Tổ tiên chúng ta đã từng bị Tàu đô hộ trong suốt mười thế kỷ. Trong khi Trung Quốc đã đồng hoá được Mãn châu, Tây Tạng, một nửa nước Mông Cổ nhưng họ chưa bao giờ thành công sáp nhập được Việt Nam.

Do tổ tiên chúng ta đã có viễn kiến: bành trướng để sống còn.

Ngày nay, chúng ta những người Việt ở hải ngoại đang tiếp tục theo truyền thống ấy với một cách khác. Định mệnh của chúng ta là lưu vong để sống còn – Exile for Survival.

Nhiệm vụ của chúng ta là bảo vệ tự do trên vùng đất mới bên ngoài ranh giới quê nhà.

Tôn Dật Tiên, năm 1911 lật đổ được triều Mãn Thanh, ông gốc là người Hoa ở hải ngoại.

Trong cuộc chiến tranh 6-ngày giữa Do Thái và Ai Cập, Do Thái mặc dầu thắng lợi nhưng họ đã bị tổn thất tới 3 / 4 không lực của họ do bị các hoả tiễn SAM 2 của Liên Xô bắn hạ. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, số máy bay ấy được thay thế bởi chính những người Do Thái sống lưu vong ở Âu châu và Bắc Mỹ.

Những người Ba Lan lưu vong cũng đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc tranh đấu của Công đoàn Đoàn Kết đưa tới những thành tựu hôm nay.

Người Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt là giới y sĩ, Chúng ta sẽ làm những điều giống như Lech Walesa (Chủ tịch Công đoàn Đoàn Kết Ba Lan), Walesa đã nói với đồng bào của ông tại cảng Gdansk cách đây 8 năm rằng: “Cuộc tranh đấu sẽ lâu dài và khó khăn, nhưng chúng ta sẽ chiến thắng, sẽ biến quê hương chúng ta thành một xứ sở của mơ ước.”

…

Với chúng ta, đó là Giấc Mơ Tự Do cho tất cả Người Việt Nam Nơi Quê Nhà.

Hoàng Tiến Bảo

Ngày 5 tháng 8 năm 1989

Anaheim, California

Đến ngày đó, khi Giấc Mơ Tự Do của Thầy thành hiện thực, mộ phần của Thầy sẽ được đám môn sinh đưa về an táng ở một nơi thực sự là Quê Nhà.

NGÔ THẾ VINH

USC 1987 – Long Beach 21/01/2021

Tưởng niệm 13 năm ngày Giỗ Thầy

_______

THAM KHẢO:

1/ Nhật Ký Đời Tôi, Hoàng Tiến Bảo

[tư liệu Phạm Xuân Cầu]

2/ Một Đêm Vui, Những Ngày Vui, Hoàng Tiến Bảo. Hai mươi năm Hội ngộ (1974 –1994).

Tuyển tập Y khoa 67-74 [tư liệu Bạch Thế Thức]

3/ Tìm Lại Thời Gian Đã Mất, Tưởng Nhớ Một Vị Danh Sư, GS Y Khoa Phạm Biểu Tâm.

Ngô Thế Vinh, Chân Dung VHNT & VH, Việt Ecology Press 2017

4/ When Doctors Are Patients. Pinner M., Miller B.F.

W.W, Norton and Co. New York 1951

5/ Ngày Dài Nhất trong đời bác sĩ. Hoàng Hôn – Hoàng Tiến Bảo.

Diễn Đàn Sinh Viên Quân Y Hiện Dịch https://www.svqy.org/2020/5-2020/ngay/ngay.html

6/ Đại Hội Kỳ II Hội Y Sĩ Việt Nam Tự Do. Tập San Y Sĩ số 102 – Tháng 5-1989

[tư liệu Thân Trọng An]