Thung lũng tử thần

Phần1

Đặt tên cho một lòng chảo

LTG – Hồi đầu năm cháu nội tôi, Catherine Vũ 11 tuổi hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Thực ra, lúc tôi vào tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần. Ngày nay, chế độ lao tù ở Việt Nam có thể đã có nhiều thay đổi, nhưng tôi tin rằng mục tiêu của chế độ này cũng vẫn dựa trên nền tảng cũ: đàn áp và tiêu diệt khả năng đối kháng của con người trong chế độ toàn trị ở đất nước ấy. Tuy nhiên, tôi vẫn nhấn mạnh rằng loạt bài này chỉ phản ảnh cách nhìn của riêng tôi về một giai đoạn lao tù đặc biệt sau ngày miền Nam Việt Nam thất trận. Tôi viết là viết cho thế hệ con cháu tôi và chia sẻ với thế hệ con cháu của những bạn đồng tù khác, chứ không phải là bản lên tiếng, lên án hay cáo trạng gì cả và tôi không phản đối những cách nhìn khác. Cái tên này được các tù cải tạo vốn là những sĩ quan quân đội và các cấp chỉ huy trong công chức VNCH từ trưởng phòng trở lên và tù chính trị án nặng kể cả tử hình đặt cho một cái lòng chảo đặc biệt ở xã Xuân Phước thuộc quận Ðồng Xuân thuộc tỉnh Phú Khánh (tên gọi mới của tỉnh Phú Yên), nơi có trại cải tạo A-20. Từ ga xe lửa La Hai trên Quốc Lộ 1 muốn vào đến lòng chảo này phải vượt qua 60 cây số đường rừng, tức là phải vượt qua trạm cuối cùng nơi có một trại Lực Lượng Ðặc Biệt cũ thời chiến tranh cách A-20 khoảng 10 cây số, vượt qua một vòng đai gồm khu kinh tế mới và một vòng đai gồm gia đình công an và dân làng do Việt Cộng kiểm soát thời chiến tranh. Từ ga xe lửa La Hai vào đến trại, thân nhân các tù cải tạo phải lội qua rất nhiều con suối vào mùa mưa, trong đó nguy hiểm nhất là suối Lạnh, nước lên mấp mé bờ và chảy xiết. Về vị trí thì theo nhiều tù cải tạo rành về địa thế cho biết trại A-20 nằm trong một khu rừng già bên cạnh con đường mòn mới mà người Cộng sản gọi là Trường Sơn Tây bên này dãy Trường Sơn.
Theo lời kể của cựu trung úy bộ đội xe tăng của CSBV tên là Hội thì vào năm thứ hai của thập niên 1980, mẹ tôi đã suýt chết đuối tại con suối này khi cố lặn lội lên trại thăm tôi. Hội chính là người đã cứu bà khi mẹ tôi làm rớt túi bánh mì khô cụ đem lên trại cho tôi nhưng trại không cho gặp vì lúc đó tôi đã bị kỷ luật vô thời hạn trong xà lim cá nhân mà đám tù nhân chúng tôi gọi là “hộp” hay “chuồng cọp.” Hội vốn là chi đội trưởng một chi đội xe tăng T-54 từ Ðồng Hới vượt cầu Hiền Lương vào Huế rồi dừng lại ở Ðà Nẵng đầu Tháng Năm, 1975. Một năm sau, khi đang đóng quân và hoạt động tại Hòa Cầm, Hội bị bắt vì tội biển thủ, một loại tội gán cho hành động trộm xăng quân đội đem bán lấy tiền tiêu xài. Bị đưa ra tòa án quân sự và bị kết án 10 năm tù, viên cựu trung úy xe tăng này đã được giảm án vài lần vì thực ra tội tham ô này chẳng đáng gì so với những “anh lớn ăn cắp và biển thủ công khai” nhưng có ô dù che đỡ nên chẳng sao cả, theo như lời Hội nói. Tôi nghe câu chuyện này do chính Hội kể khi anh ta bị đưa vào biệt giam nơi tôi đang bị cùm vì anh ta liên lạc giúp đỡ các thân nhân đi thăm gặp qua đò ngoài giờ qui định. Ghi lại sự kiện này, tôi muốn nhấn mạnh đến một thành phần khác đặc biệt được đưa đến trại A-20 Xuân Phước để làm những công việc mà chúng tôi không được phép làm. Thành phần ấy là những tù hình sự gồm phần lớn có án tù vì tội danh cướp có vũ khí hay những cựu sĩ quan quân đội CSBV tham ô, biển thủ. Họ được phân bổ các công việc thuộc “diện rộng” mà ban quản trại gọi là diện “tự giác” vì được tin tưởng là thành phần này sẽ không trốn trại.

Trại A-20 Xuân Phước có từ bao giờ và có bao nhiêu phân trại? Thật ra, khó biết được ngày chính xác trại tù cải tạo này được thành lập từ vì có nhiều câu trả lời khác nhau từ các nguồn tin. Nhưng theo lời một bạn tù cải tạo thuộc nhóm người di tản sang Guam rồi đòi trở về trên con tầu Việt Nam Thương Tín vào mùa Hè năm 1975 thì trại được xây dựng khi phần lớn số người di tản trở về từ Guam bị đưa vào cái lòng chảo này và bị bắt buộc phải phá rừng, xây dựng trại cuối năm 1975 và kéo dài sang đến các năm 1976-1977. Một số anh em này được thả dần dần, nhưng cũng có người vẫn còn bị tù cho tới năm 1985. Những tháng cuối năm 1975 khi bị đưa từ trại B-5 Tân Hiệp, Biên Hòa, về biệt giam khu ED ở nhà tù Chí Hòa để thẩm cung, tôi có liên lạc được với một số anh em từ Guam trở về trên chuyến tầu Việt Nam Thương Tín cũng bị biệt giam tại khu này. Một năm sau tôi được chuyển xuống phòng giam tập thể và có dịp sống với họ trước khi bước vào cuộc lưu đầy dài hạn ở các trại lao cải (các trại tù mà trong đó tù cải tạo phải lao động khổ sai).

Thời gian tôi sống trong biệt giam ở khu ED nhà tù Chí Hòa đã xảy ra một số các ngộ nhận, tức giận và có những lời lẽ quá đang đối với các anh em trở về trên chuyến tầu Việt Nam Thương Tín xuất phát từ các phòng biệt giam khác. Vào lúc ấy, tôi đã cho rằng đây là sự bất công vì khi chưa tìm hiểu nguyên nhân khiến họ dù đã di tản đến Guam, có người đã vào tới Camp Pendleton rồi lại đòi trở về thì không nên vội vã khi cùng đồng cảnh với nhau. Khi gặp lại cựu Trung Tá Trần Văn Nam, một trong những viên chức cao cấp của Bộ Chiêu Hồi cũng nằm trong số những người trở về, tôi hiểu được hành trình quay ngược lại đất nước của những tù nhân từ chuyến tầu Việt Nam Thương Tín bắt nguồn từ động lực của trái tim. Ông đã nói với tôi trong bữa cơm tù chúng tôi ngồi ăn chung tại phòng giam 14 khu ED: “Lúc bỏ đi mình như người bị tê liệt suy nghĩ. Nhưng sang đến Guam rồi, bình tâm trở lại nỗi day dứt thương gia đình bố mẹ vợ con còn kẹt lại, ăn một miếng cơm mà như một khúc gỗ chặn lại ở cổ họng, tôi không còn lựa chọn nào hơn là quay lại xứ sở mà tôi biết sẽ bị đày đọa. Nhưng thà là như thế.” Ông Nam bị “vác bao bố chỉ xanh” (bị lưu đày ở ngoài Bắc) năm 1977. Trong chuyến ra Bắc cùng với ông Nam có cựu Bộ Trưởng Thông Tin Nguyễn Ngọc An, Trung Tá Thạch chánh văn phòng của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và nhiều cựu viên chức cao cấp khác của chính phủ VNCH. Kể từ đó, tôi không còn dịp nào gặp lại họ nữa.

Vài năm sau, khi bị giải giao đến phân trại E thuộc trại A-20 Xuân Phước mà chúng tôi gọi là trại trừng giới, tôi có gặp lại vài anh em nhóm Việt Nam Thương Tín ở cả trại E (trại ngoài cùng) lẫn trại B (cách trại E khoảng 5 cây số). Một phần trong số anh em này lao động ở “diện rộng.” Hầu như không một ai trong số những anh em trên chuyến tầu định mệnh mà khi di tản có trọn vẹn gia đình bên cạnh. Có những người đi cả hai vợ chồng nhưng con bị kẹt lại, có những người cả gia đình di tản, nhưng kẹt lại mẹ già, nên đành để vợ con ở lại Guam còn mình phải quay về, có người di tản với gia đình nhưng không mang được hôn thê sắp cưới theo mà cuối cùng cũng phải theo tiếng gọi của trái tim mù lòa quay lại cố quốc cho trọn tình. Tôi chỉ sơ lược vài nét chấm phá về hoàn cảnh của những người bạn tù thuộc nhóm Việt Nam Thương Tín.

Nói cho ngay là nếu muốn viết lại những trang sử đặc biệt của những người đã bỏ nước di tản trước hay trong ngày 30 Tháng Tư, 1975 đến Guam rồi phải quay trở lại quê nhà vì nhiều nguyên nhân tình cảm gia đình khác nhau, thì vẫn còn nhiều nhân chứng hiện cũng đã được tái định cư lại ở nước Mỹ, nhưng đây không phải là mục tiêu của loạt bài này. Cá nhân, tôi vẫn quí những anh em tù Việt Nam Thương Tín vì thực ra cái giá mà họ phải trả bằng cuộc sống lao tù trong các nhà tù cộng sản sau khi từ Guam trở về dù có bị nhìn theo lăng kính nào thì hành động bất chấp đến hiểm nguy cho cá nhân họ để quay lại với gia đình cũng còn có giá trị văn hóa nhất định của người Việt Nam. Cho nên, bây giờ tôi quay lại câu chuyện của tôi, của chúng tôi, những người tù tại một trong số những trại tù được xếp vào loại khắt khe nhất trên toàn cõi Việt Nam vào giai đoạn ấy.

Tổng quát về chế độ lao cải ở Việt Nam, tôi có thể vạch ra một chu kỳ khép kín như thế này: tù cải tạo được đưa vào những khu rừng già, phát quang, tự tay dựng trại để “tự quản” nghĩa bóng tức là tự nhốt mình, phải lao động để làm ra “của cải vật chất” để tự nuôi sống và có thể góp phần nuôi sống cả đám cai tù nữa. Trong thời gian lao cải, nếu người tù nào “cải tạo tốt” sẽ được thả, người tù nào chưa tốt hay chưa “an tâm cải tạo” thì phải tiếp tục cải tạo cho đến khi tốt thì mới được “tha ra khỏi trại.” Tôi xin nhấn mạnh ở đây một lần nữa là trong loạt bài này tôi dùng đúng thứ chữ nghĩa che đậy hành động bóp chẹt bao tử để tẩy não tù nhân của nhà cầm quyền Hà Nội. Trong những văn bản nói về các trại cải tạo với các nhà báo nước ngoài, Hà Nội thường dùng chữ “re-education camp” và họ dịch nguyên ngữ là “trại cải giáo.”

Có những trại lao động cải tạo (lao cải) đưa ra một nội qui cấm dùng chữ “tù cải tạo” mà phải dùng chữ “trại viên.” Bản thân, khi bước vào khu biệt giam của nhà tù B-5 Tân Hiệp Biên Hòa, nơi tạm giam một số cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn thuộc Ðoàn 59 người của VNCH, một số xã trưởng từ miền Trung di tản vào miền Nam bị truy đuổi và bắt giữ sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 và một số sĩ quan bị bắt làm tù binh trong trận đánh cuối cùng tại Long Khánh, tôi và một số anh em khác đã được một cán bộ tên là Bé nhắc đi nhắc lại tư cách “trại viên” trong khi tay tôi bị trói và vài phút sau đó hai chân bị cùm cứng bằng chiếc còng tự chế gắn chặt vào bệ nằm trong phòng biệt giam cá nhân. Gần đây có một khán thính giả nghe tôi nói trên màn ảnh truyền hình đã gởi e-mail đưa ý kiến là chúng tôi không nên dùng chữ tù cải tạo hay trại cải tạo mà cứ dùng thẳng là tù nhân hay nhà tù. Vị khán thính giả này nói cũng có lý. Nhưng nếu dùng hai chữ này thì người ngoài có thể đồng hóa chúng tôi với những tù hình sự (trộm cắp, cướp, hiếp dâm, buôn bán ma túy, tham ô, biển thủ…) nên tôi dùng chữ tù cải tạo hay trại cải tạo để đề cập tới một kiểu nhà tù được đặc biệt thiết lập nhằm nhốt và hành hạ những người thua trận. Cá nhân, tôi hiểu cuộc tranh luận về chữ nghĩa sẽ không bao giờ có kết thúc và vì thế nếu thấy tiện thì chúng tôi sử dụng, ngoài ra không có một hậu ý nào khác. Vì theo tôi, vấn đề quan trọng không phải là chữ nghĩa che đậy mà là nhà cầm quyền Việt Nam đề ra mục tiêu cải tạo và áp dụng những biện pháp trừng phạt về thể xác cũng như tinh thần tàn bạo thật đấy, nhưng liệu họ có cải tạo được chúng tôi theo ý họ muốn không, nhất là về khoản bản năng đối kháng. Sự tranh luận và những đánh giá về bản năng đối kháng mà chúng ta đọc được phần lớn là dựa trên cảm tính và lập trường chính trị chứ chưa có một cuộc điều tra nào mang tính chất tâm lý chuyên môn được thực hiện trong số những nhân chứng còn sống ở hải ngoại. Nhưng nếu căn cứ vào sự kiện có những người tù cải tạo chân ướt chân ráo về tới nhà khi được thả ra là đã tìm đường vượt biển ra nước ngoài hoặc khi có chương trình nhân đạo HO nhận những thành phần cựu tù cải tạo từng bị đẩy vào các trại cải tạo ít nhất là 3 năm định cư ở Hoa Kỳ thì chỉ có một số rất ít những người lựa chọn sự ở lại để “góp phần xây dựng đất nước,” còn phần lớn đều lựa chọn sự ra đi đã là những minh chứng cho thấy sự thất bại của chính sách cải tạo con người của chính quyền Việt Nam cộng sản. Cho nên khi những năm gần đây xuất hiện một số những hoài nghi hay cáo buộc người này người nọ bị tẩy não, tôi cho rằng đó là những cáo buộc vô căn cứ và coi nhẹ những chịu đựng và đau khổ mà người tù cải tạo phải trải qua, không nên duy trì mãi những ý tưởng ấy. Nó vừa bất công, vừa không có chứng cớ thuyết phục.



Người chụp ảnh chim thiên đường

baotreonline.com

Dương Hùng

March 24th, 2023

Công trình chụp ảnh chim thiên đường của nhiếp ảnh gia người Mỹ Tim Laman đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu và bảo tồn loài chim này. Laman mong muốn những bức ảnh chụp chim thiên đường của mình sẽ truyền cảm hứng để mọi người quan tâm và chăm sóc hơn nữa cho các loài chim.

Ðược biết, từ năm 2004 – 2012, Tim Laman đã dành tổng cộng 554 ngày tại New Guinea – một hòn đảo nằm phía nam Thái Bình Dương, giáp với Papua New Guinea và Indonesia – để chụp 40,000 bức ảnh về loài chim thiên đường trong nỗ lực bảo tồn và đóng góp thêm cho các nghiên cứu khoa học về loài chim này. Laman đã thành công khi là người đầu tiên ghi nhận lại hình ảnh của tất cả loài chim thuộc họ chim thiên đường (hiện nay đã xác nhận được 45 loài). Công trình của ông có những đóng góp rất quan trọng cho các nghiên cứu thêm về loài chim này.

Red Bird-of-Paradise Waigeo Island, West Papua Indonesia

Laman cũng là người đồng sáng lập dự án ‘Chim thiên đường’ thuộc Phòng nghiên cứu điểu học tại Ðại học Cornell, Mỹ. Các thước phim và hình ảnh của ông đã giúp xác định được một giống chim thiên đường mới.

Khoảnh khắc ấn tượng về một con chim thiên đường lớn trong buổi hoàng hôn giữa rừng rậm New Guinea mà Laman “bắt” được cũng đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho chiến dịch bảo tồn rừng nhiệt đới tại New Guinea, khi nơi này bị đe dọa bởi các hoạt động khai thác gỗ, mỏ, dầu cọ, cùng sự xâm lấn của nhiều cơ sở hạ tầng khác.

“Chim có mặt ở bất kỳ đâu, từ Nam cực, Bắc cực cho đến vùng nhiệt đới. Nếu chúng ta có thể bảo vệ môi trường sống cho các loài chim, nghĩa là chúng ta cũng đang bảo vệ môi trường sống cho mọi loài khác”, Laman nói.

“Tôi sẵn sàng dấn thân vào những nơi không thoải mái”, Tim Laman nói về nỗ lực để chụp được những bức ảnh đắt giá..

Theo Tim Laman, 1,000 video về màu sắc và màn khiêu vũ trước khi giao phối của chim thiên đường từ kho lưu trữ của ông đã giúp các nhà khoa học có được một “phân tích rất chi tiết về sự tiến hóa trong việc giao phối của chim thiên đường” mà không cần phải đi đến New Guinea.

King Bird-of-Paradise (Cicinnurus regius) male performing open wings display.
King Bird-of-Paradise (Cicinnurus regius) male.
King Bird of Paradise (Cicinnurus regius) male performing dancing display.
Red Bird-of-Paradise display at their tree-top lek. Waigeo Island Nature Reserve, Raja Ampat Island, West Papua, Indonesia.
Red Bird-of-Paradise display at their tree-top lek. Waigeo Island Nature Reserve, Raja Ampat Island, West Papua, Indonesia.
Red Bird-of-Paradise Waigeo Island, West Papua Indonesia
Lesser Bird of Paradise (Paradisaea minor) male displaying high in the rain forest canopy at his display site (lek).
Greater Bird-of-Paradise (Paradisaea apoda). Adult male in static display. Badigaki Forest, Wokam Island in the Aru Islands, Indonesia.
Young male Paradise Riflebird (Ptiloris paradiseus) performing a practice display.
Red Bird of Paradise (Paradisaea rubra) male performing practice display at tree-top lek. Endangered Species (IUCN Red List: NT).
Red Bird of Paradise (Paradisaea rubra) male performing a practice display at his display site, known as a lek, high in the canopy of the forest on Batanta Island, Indonesia. Photographed from a canopy blind. IUCN Red List: NT
Adult male King of Saxony Bird of Paradise (Pteridophora alberti) performing a bouncing practice display that waves his head plumes.
Blue Bird of Paradise (Paradisaea rudolphi) male performing a practice courtship display.

Salt harvest begins at dawn in the Mekong Delta province of Bac Lieu

VN ExpressPosted on May 13, 2020, by Vietnamese

Bạc Liêu là một trong những nhà sản xuất muối lớn nhất cả nước, với hoạt động sản xuất chủ yếu là thu hoạch muối ở các huyện Đông Hải và Hòa Bình. Làm việc trên chúng là một công việc vất vả và đòi hỏi cao.

Thu hoạch muối bắt đầu lúc rạng sáng ở tỉnh Bạc Liêu Đồng bằng sông Cửu Long: Diêm dân ở huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu một ngày làm việc lúc rạng sáng khi mùa hè đến và bắt đầu thu hoạch.

Nhìn từ trên cao, những cánh đồng muối hình chữ nhật xếp hàng như những khối nhà ở xã Long Điền, tỉnh ven biển. Nơi thường được biết đến là cánh đồng muối Đông Hải. Nhiếp ảnh gia Trần Minh Lương ở thành phố Cần Thơ gần đây đã đến thăm đồng muối và chụp được những bức ảnh cận cảnh và trên không.

Tầm nhìn bao quát cánh đồng muối gần bờ biển.

Làm việc trên chúng là một công việc vất vả và đòi hỏi cao. Đầu tiên người lao động phải trữ nước, chuẩn bị và giải phóng mặt bằng cho quá trình phơi. Sau đó nước mặn được đưa vào ruộng.

Bạc Liêu là một trong những nhà sản xuất muối lớn nhất cả nước, với hoạt động sản xuất chủ yếu ở các huyện Đông Hải và Hòa Bình.

Có hai phương pháp để làm muối, quy trình truyền thống trong đó nước mặn được đặt trên đất khô để kết tinh thành muối đen dưới ánh nắng mặt trời, và quy trình hiện đại đòi hỏi một tấm thảm và tạo ra muối trắng sau khi bay hơi. Loại thứ hai có giá cao hơn trên thị trường.

Ở Bạc Liêu, muối được thu hoạch mỗi năm một lần vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Năm 2019-2020, sản lượng 50.000 tấn, trong đó có 4.700 tấn muối trắng, trên 1.670 ha đất.

Anh Trần Văn Nghĩa ở ấp An Điền, xã Long Điền, một diêm dân hơn 35 năm kinh nghiệm cho biết: “Năm nay được mùa hơn. Vì thời tiết nóng hơn, thuận lợi hơn nên quá trình sản xuất nhanh hơn và có lãi hơn ”.

Sau 12 đến 18 ngày, nước mặn thoát ra các tụ điểm bay hơi và để lại muối. Sau đó công nhân cào muối thành từng ụ vào sáng sớm hoặc chiều mát. Các ụ đất được để yên trong ba đến bốn giờ để rút hết lượng nước còn lại và sau đó được xe cút kít đưa đến điểm trung tâm.

Công nhân ruộng muối sử dụng xe cút kít để vận chuyển muối.

Những chiếc giỏ tre cũng được sử dụng để đựng muối. Chúng nặng 40 kg và đôi khi trượt khỏi tay nắm, khiến muối bám lại người lao động. “Những người làm nghề muối luôn mong những ngày nắng nóng để những công việc cào, gánh muối gian khổ này ít nhất cũng có lãi”, anh Linh, một người gánh trên lưng thúng muối cho biết.

Những vựa muối này là công sức lao động chung của cả tập thể. Theo họ, muối đen được bán cho thương lái với giá 800-900 đồng (3-4 xu) một kg và muối trắng với giá 1.200-1.400 đồng.

Bình minh trên cánh đồng muối Đông Hải.

Năm 2013 Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho muối Bạc Liêu. Muối được sử dụng trên khắp Việt Nam và được trưng bày tại nhiều hội chợ thương mại quốc tế.

Một túp lều nhỏ (giữa) làm nơi trú ngụ cho công nhân trong mùa gặt.

Hơn một thế kỷ qua, Bạc Liêu gắn liền với hình ảnh những người công nhân đồng muối. Bảo tàng Bạc Liêu đã đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di sản văn hóa đối với ruộng muối của tỉnh.

Cuộc sống không lối thoát của người vô gia cư ở Tokyo

Theo Tri Thức Trực Tuyến

Post on 20/2/2020

Hàng chục người vô gia cư ở trung tâm thành phố Tokyo bị cơ quan an ninh yêu cầu rời đi trước khi Thế vận hội Olympic diễn ra để giữ bộ mặt cho thành phố.

Ở trung tâm thành phố Tokyo, nhiều người vô gia cư đang sống trong những chiếc lều tạm dưới gầm cầu. Dù là nước phát triển, Nhật Bản có tỉ lệ dân số nghèo khá cao. Tuy nhiên, quốc gia này lại không có nhiều chính sách phúc lợi xã hội và quỹ từ thiện hỗ trợ người nghèo. Ảnh: AP.

Mỗi tối, tại ga Shinjuku, một nhóm người vô gia cư thường tụ tập để ngủ tại đây. Lo lắng rằng hình ảnh của của Nhật Bản sẽ bị ảnh hưởng xấu, chính phủ nước này đang buộc họ phải rời đi trước khi Thế vận hội Olympic năm 2020 diễn ra. Ảnh: AP.

Người vô gia cư ở Tokyo thường ngồi trên vỉa hè ở trong và ngoài các ga tàu cùng với một bát ăn xin. Ảnh: AP.

Người đàn ông vô gia cư này đang ăn tối trong một thùng giấy được dựng lên như “gian phòng” của riêng anh. Ảnh: AP.

Toshihiro Maruda, một người đàn ông vô gia cư 59 tuổi, đang thay quần áo ngay tại ga Shinjuku. Ảnh: AP.

Dãy lán tạm của người vô gia cư nằm dọc sông Kama, ngay cạnh tòa nhà thương mại ở Kawasaki, phía tây thủ đô Tokyo, Nhật Bản. Ảnh: AP.

Người đàn ông này đã quen với việc sống tại lán của mình ở khu trại của người vô gia cư dọc ven sông Kama, Kawasaki. Ảnh: AP.

Người vô gia cư coi khu vực Kawasaki, Tokyo như nhà. Họ ăn ở, sinh hoạt một cách thoải mái tại đây dù cho cuộc sống có phần tạm bợ, thiếu thốn. Ảnh: AP.

Ông Ito chia sẻ bữa tối muộn với người bạn già – cũng là người vô gia cư – trước khi họ xuống ga Shinjuku ngủ. Ảnh: AP.

Ban ngày, ông Ito cũng ngồi ngoài ga Shinjuku cùng với bát ăn xin của mình như bao người vô gia cư khác. Ông không biết cuộc sống của mình rồi sẽ ra sao khi bị yêu cầu rời khỏi thành phố trước thềm Thế vận hội. Ảnh: AP.

Magical Photographs of Fireflies from Japan’s 2016 Summer

JOHNNY WALDMANJULY 7, 2016

Mỗi năm khi mùa hè đến, tất cả chúng ta đều mong chờ những điều khác nhau. Một số người trong chúng ta đi đến bãi biển, những người khác đến núi để cắm trại. Một số người mong chờ những thú vui sử thi như dưa hấu và nón đá. Nhưng đối với một nhóm nhiếp ảnh gia chọn lọc ở Nhật Bản, Mùa hè báo hiệu sự xuất hiện của đom đóm. Và trong khoảng thời gian rất ngắn – thường là tháng 5 và tháng 6, từ khoảng 7 đến 9 giờ tối – những nhiếp ảnh gia này đã đến các địa điểm bí mật trên khắp Nhật Bản, với hy vọng chụp được những con côn trùng ma thuật thắp sáng màn đêm.

Photo by Yu Hashimoto

Mỗi năm khi mùa hè đến, tất cả chúng ta đều mong chờ những điều khác nhau. Một số người trong chúng ta đi đến bãi biển, những người khác đến núi để cắm trại. Một số người mong chờ những thú vui sử thi như dưa hấu và nón đá. Nhưng đối với một nhóm nhiếp ảnh gia chọn lọc ở Nhật Bản, Mùa hè báo hiệu sự xuất hiện của đom đóm. Và trong khoảng thời gian rất ngắn – thường là tháng 5 và tháng 6, từ khoảng 7 đến 9 giờ tối – những nhiếp ảnh gia này đã đến các địa điểm bí mật trên khắp Nhật Bản, với hy vọng chụp được những con côn trùng ma thuật thắp sáng màn đêm.

Photo by Hiroyuki Shinohara.

Một điều khiến những bức ảnh này trở nên kỳ diệu là chúng chụp được những góc nhìn mà mắt thường không thể nhìn thấy. Các bức ảnh thường là ảnh tổng hợp, nghĩa là chúng kết hợp từ 10 đến 200 ảnh trong cùng một khung hình. Đó là lý do tại sao có thể trông giống như bầy hàng nghìn con đom đóm đã xâm chiếm khu rừng, trong khi thực tế thì ít hơn nhiều. Nhưng điều đó không làm giảm giá trị của những bức ảnh này, những bức ảnh đòi hỏi kiến ​​thức nội bộ, thiết bị, kỹ năng và sự kiên nhẫn.

Đom đóm chỉ sống được khoảng 10 ngày và chúng cực kỳ nhạy cảm. Chúng phản ứng tiêu cực với bất kỳ dạng ánh sáng và ô nhiễm nào, khiến việc tìm kiếm chúng trở thành một nửa trận chiến. Ở đây, chúng tôi trình bày cho bạn một số lựa chọn yêu thích của chúng tôi từ mùa hè 2016. (Được cung cấp từ Spoon & Tamago)

Photo by Yasushi Kikuchi.

Photo by soranopa.

Photo by miyu.

Photo by hm777.

Photo by hm777.

Bên cầu biên giới

Bên cầu biên giới 
Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi 
Sông nước xa xôi, 
Mây núi khắp nơi 
Không tỏ một đôi lời...

Trường Sơn nhón gót trông Lào Hạ

Mù cuối chân mây sắc lá rừng

Sừng sững Bắc phương thành núi dựng

Đụng đầu dội ngược gió mây Xuân (thơ Lê Nguyên Ngữ)

Phố núi cao phố núi đầy sương…

Photos by Sơn Lu

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương…

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên


Miscellaneous photos

Sources: from Calsonic team members

Joe Nam Sei Liu / Tomoya Sato

Toru Aioki/ Tom

Third from Left to Right: Wayne Brawn, Neville Gall/ Roberto Sosa

Left to Right: Erick Nicolaidis/ Trina Thomas/ Peter Irish/ Mark Aberdee/ Jasbir Singh/ David Yu/ Unkown

Left to Right: Wen Wang/ Peter Irish/ Mike Walding

Joe Nam Sei/ Tomoya Sato

Jasbir Singh/ Peter Irish/ Eddy

Carolyn Adams/ Nicole Tamburo/ Peter Irish/ Binh le

Kham Vien/ Eddy

Eddy/ Trina Thomas/ Peter Irish

Mark Krezlewski/ Steve Moris