This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Hollandse Nieuwe là tên gọi của cá Haring đã cạo sạch vảy, lóc xương, chỉ còn hai miếng thịt nạc (filet). Hollandse Nieuwe có tên khác là Maatjesharing. Maatjesharing được gọi trại ra từ tên Maagdenharing, nghĩa là Haring còn trong trắng, tức con trống chưa có tinh trùng, con mái trong bụng chưa mang trứng. Nhưng trên thị trường và về mặt qui định về thực phẩm thì có sự khác biệt nhỏ giữa Hollandse Nieuwe và Maatjesharing. Chữ Hollandse Nieuwe chỉ được phép dùng để gọi cá Haring vừa được đánh bắt ngay trong mùa được phép đánh loại cá này, bắt đầu từ tháng Sáu cho tới tháng Mười. Một phần cá đánh được sẽ được ngâm dấm hoặc để nguyên con ngâm nước muối vừa phải hay lốc xương lấy filet muối thiệt mặng, để dành bán quanh năm, những cá này gọi là Maatjesharing. Haring thuộc giòng giống cá trích có tên gốc La-tinh là Clupea harengus, dưới ức màu bạc, lưng màu xanh dương. Cá Haring thường sống trong vùng nước lạnh từ Bắc Băng Dương xuống tới phía nam vùng vịnh Biskys và dọc theo bờ biển của vùng Groenland lên bắc Đại Tây Dương. Phía Đông bắc Đại Tây Dương là nơi sinh sống của loại cá Haring nhỏ con hơn các vùng khác. Chiều dài cá Haring tối đa 56 cm. Chất dinh dưỡng mỗi 100 gram là: 932 kJ (222 kcal), 16g dầu/mỡ, 18g protein v.v… Và có nhiều chất vitaminen: A1, B1, B2, B6, B12, C, D và E. Theo tài liệu nói về lá cờ Hòa Lan treo những nơi bán cá Haring và về những lá cờ nhỏ dán vô cây tăm cắm lên những miếng cá thì ngày đầu mùa, ngư phủ Hòa Lan đánh trúng cá Haring, đem về bến vào ngày thứ Bảy. Ngư dân làm lễ ăn mừng, họ treo cờ của vương quốc Hòa Lan khắp bến cá. Từ đó cho tới ngày nay những xe caravan bán Hollandse Nieuwe lưu động cũng treo cờ Hòa Lan mới toanh trên bốn góc mui đã trở thành tập tục. Trên kệ tủ kiếng để phía trước trên xe của người bán cá thường để một dĩa Haring cắt từng miếng nhỏ và mỗi miếng có ghim cây tăm, đầu tăm có dán một lá cờ Hòa Lan nhỏ xíu, đó là dĩa cá dành quảng cáo cho khách hàng ăn thử trước khi mua. Món Haring tươi sống chấm củ hành tây băm nhuyễn gọi là Hollandse Nieuwe đã trở thành món đặc sản của vương quốc Hòa Lan. Ai tới Hòa Lan vào bất cứ tiệm bán cá nào cũng thấy hình cá Haring đã được làm sạch, cắt bỏ đầu, lóc bỏ xương, chừa lại hai miếng thịt nạc để dính liền vô đuôi cá xếp ngay ngắn trong những chiếc khay, cạnh bên dĩa củ hành băm nhuyễn, trông vào phát thèm, chỉ muốn mua ngay một hai con ăn liền tại chỗ. Người nào không ăn được cá sống cũng có thể mua panaring, loại haring đã già và lớn con, đem về nhà chiên hoặc hấp. Ngoài ra có nhiều hãng chế biến Haring trộn xốt cà tô mát và dầu, đóng trong hộp thiếc và Haring ngâm dấm đựng trong những chiếc keo bày bán trong các siêu thị. Trong làng đánh cá ở Urk, Hòa Lan, hơn mười năm về trước, vào ngày thứ Bảy tuần lễ đầu tiên của tháng Sáu, ngư dân nơi đây có tục lệ dọn ra chợ những con Haring từ biển mới đem về còn tươi rói và một thau củ hành được xắt mịn. Họ làm sạch cá ngay chợ và bán cho người đứng ăn liền tại chỗ. Có gian hàng chủ bày trò thách với khách mua, ai ăn được 23 (hoặc nhiều hơn, tùy nơi quy định) con cá Haring thì người đó khỏi phải trả tiền, còn nếu ăn ít hơn thì phải trả số tiền cá đã ăn. Cũng có nơi vài ba người đấu với nhau, ai ăn cá Haring nhiều nhứt thì thắng người ăn ít hơn, người nào ăn ít thì coi như bị thua và phải trả luôn tiền cá cho người thắng cuộc. Mùa nầy Haring mập, thịt cá rất nhiều mỡ, vậy mà có ông to con bụng bự ăn từ 28 tới 30 con Haring. Mấy năm sau nầy tập tục thi đấu ăn Haring nơi đây không còn nữa, cho nên chợ cá đầu mùa cá tuy vẫn đông, vui nhưng bớt đi vẻ rộn ràng. Dân quý phái ở Amsterdam phần đông mua Hollandse Nieuwe đem về cắt ra từng miếng nhỏ, rắc củ hành băm lên rồi dùng nĩa ăn và những người bày tiệc cũng làm theo cách đó, nhưng ăn như vậy thì không đúng điệu ăn Hollandse Nieuwe. Muốn ăn Hollandse Nieuwe cho đúng điệu thì phải để nguyên con, dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái cầm chót đuôi cá, nhúng cá vô củ hành tây băm nhuyễn trở qua trở lại cho hành dính đều vô cá, sau đó mới đưa cao miếng cá lên không và ngước mặt lên trời, hả họng ra táp từng miếng, vừa ăn những miếng Haring béo ngậy vừa nhìn được trời xanh, mây trắng và hớp được cả không gian trong mát của ngày xuân….
Xin bạn đọc chớ hiểu lầm là người viết bài này nói chuyện cũ, mời các bạn ăn bánh trung thu ế, bán sale vì thực sự trăng đã bắt đầu khuyết, và Trung Thu đã qua rồi. Nếu bài này đến tay bạn đọc trước lễ Trung Thu thì chúng tôi sẽ bị lên án là xoá bỏ niềm vui của trẻ thơ, phá hoại văn hoá cổ truyền, nói chuyện tào lao khiến người ta ăn bánh hết ngon và không chừng bị các nhà sản xuất bánh Trung thu kiện ra toà nữa cũng chưa biết chừng.
Người ta thường gọi Tết Trung Thu là Tết của Nhi Đồng, nhưng theo nguồn gốc Tết Trung Thu bên Tàu thì không thấy chuyện nhi đồng ở đâu cả. Số là ông Vua Đường Minh Hoàng bên Tàu vào một đêm trăng rằm tháng tám thanh bình, tiết trời thật đẹp, trăng tròn sáng tỏ, gió mát hây hây, ngự chơi ngoài thành gặp một vị Tiên giáng thế, đầu tóc trắng như tuyết. Ông Tiên hỏi Vua Đường Minh Hoàng là có muốn lên thăm cung Quảng không. Ông Tiên hoá phép ra một chiếc cầu vồng từ mặt đất lên đến cung Trăng và mời nhà Vua bước lên cầu vồng, đi đến cung Trăng. Ở đây có phong cảnh tráng lệ hữu tình, có những nàng tiên nữ nhan sắc với những bộ xiêm y cực kỳ lộng lẫy, nhảy múa theo những nhịp điệu Nghê Thường vô cùng uyển chuyển. Nhà Vua ngơ ngẩn trước cảnh đẹp tuyệt vời của thiên giới nên khi trở về lại hạ giới rồi nhà Vua Đường Minh Hoàng đem lòng lưu luyến cảnh Cung Hằng, và để kỷ niệm ngày du Nguyệt điện đó, nhà Vua đặt ra Tết Trung thu. Trong ngày Tết này người ta uống rượu thưởng ngắm trăng và vì vậy Tết này còn gọi là Tết trông Trăng. Nhưng con buôn bên Tàu biết làm văn hoá, biết sáng chế một loại bánh gọi là bánh Trung Thu và tạo ra cho người ta một loại văn hoá biết mua bánh và đi biếu bánh Trung Thu, trở thành một tục lệ lâu đời khó dứt ra được. Từ “một nghìn năm nô lệ giặc Tàu” đương nhiên chúng ta phải mang nét văn hoá của Trung Hoa, nên hồi nhỏ tôi cũng đã thuộc làu bài hát” “Tết Trung Thu thắp đèn đi chơi .. ” và còn nhớ cái kỷ niệm Tết Trung Thu năm 1948 khi còn học lớp nhì (lớp 4), tôi được xếp hàng rồng rắn trước Phú Văn Lâu suốt một buổi sáng để chờ lãnh một cái bánh nhỏ bằng ba ngón tay, nói là của “Đức Nam Phương Hoàng Hậu ban cho” mà lấy làm sung sướng hãnh diện lắm! Mấy năm về sau khi lớn lên, tôi không nhớ rõ là có lần nào được “thắp đèn đi chơi” không và hình như chưa bao giờ sở hữu được một cái bánh nướng Trung Thu, thường thấy bán ở các cửa hiệu trong phố Tàu của tỉnh lẻ dành cho các quan chức hay lớp nhà giàu. Lớn lên, tôi thấy đêm Trung Thu có trẻ con ra đường chơi thật, cũng có lễ phát bánh kẹo ở các cơ quan công quyền, nhưng chỉ dành cho những học sinh giỏi và áo quần bảnh bao, còn bọn trẻ ở xóm nhà nghèo chỉ biết thắp đèn trong ống tre và lon sữa bò bị vứt bỏ, móp méo. Không nghe nói gì đến chuyện bánh kẹo Trung Thu. Lớn lên nữa, lúc trưởng thành, tôi nghiệm ra phần lớn trẻ con chẳng biết Trung Thu là gì và đây chỉ là một dịp cho lớp công chức, quan lại trao đổi ơn nghĩa, mua bán, biếu xén, đền ơn đáp nghĩa. Ở nhiều trường học, trẻ em được phát kẹo hay một cái bánh bột như tôi thời tuổi nhỏ, nhưng nhà các cấp chỉ huy từ tỉnh trưởng, xuống đến quận trưởng, trưởng phòng thì những chồng hộp bánh nướng, bánh dẻo Trung Thu không có chỗ để. Loại bánh này là loại quà quy ước giao dịch, nó không phải là món ăn ngon, bổ dưỡng, mọi người đều thích và để lâu được. Sau Trung Thu bánh lại được ban phát xuống cho nhân viên, thân cận, lính tráng trong tư dinh, còn trong các trại gia binh, thì đèn đóm hắt hiu, ông Trăng không buồn chiếu sáng đến trên những mái nhà tôn ám khói. Mỗi mùa Trung Thu đến, các hiệu bánh treo đèn kết băng đỏ, treo tranh vẽ các nàng tiên nga múa hát khúc Nghê Thường, những hộp bánh để trong những tủ kính đèn đuốc sáng choang, trông rất hấp dẫn, nhiều khi khách hàng phải nối đuôi nhau để chờ mua. Những người này mua bánh đem biếu người khác, người này lại đem biếu người kia, xoay quanh như loại đèn cù kéo quân. Có lần một vị tỉnh trưởng biếu lại tôi một hộp bánh khá đắt tiền, ông nói nửa đùa nửa thật: “Về nhà cắt ra thấy vàng thì trả lại cho “moi” nghe!” Bánh mang đi biếu phải là loại đắt tiền, mua loại rẻ tiền đi biếu là thiếu tôn trọng, khinh người, không chừng bị xem là coi thường cấp trên. Một hộp bánh Trung Thu, tính vật liệu, công cán, giá không đáng một, bán ra thành mười. Rút cuộc, mỗi mùa Trung Thu, dân chúng người Việt làm giàu cho một số con buôn người Tàu, làm một mùa ăn suốt một năm. Người Việt không có nghề gia truyền làm bánh Trung Thu ngon, mà nếu có làm được, thương hiệu mang tên Việt Nam cũng chẳng ai thèm mua. Hộp bánh phải mang chữ Tàu và có màu sắc Trung Hoa. Bánh này là loại bánh nguồn gốc từ Tàu, do người Tàu sản xuất, nhập cảng sang xứ mình cùng với văn hoá Tàu, không nhiễm văn hoá Tàu thì ai mua bánh Trung Thu làm gì. Tôi chưa đi Tàu nên không biết Trung Thu bên Tàu người ta có ăn Tết Trung Thu lớn như dân Việt Nam ở Saigon và cả ở Mỹ không? Tôi chắc chắn là không. Văn hoá đẳng ngọn bao giờ cũng nở rộ, phát triển hơn văn hoá đằng gốc, bằng chứng là lễ Valentine và cả Giáng Sinh ở Saigon coi bộ còn nhộn nhịp ồn ào, tiêu pha nhiều hơn cả ở Mỹ và Âu Châu nữa.
Trước năm 1975 tại miền Nam, cứ sắp đến Trung Thu là dân chúng không có đường ăn, vì bao nhiêu đường các nhà sản xuất bánh Trung Thu Chợ Lớn đã đầu cơ tích trữ hết, Bộ Kinh Tế cũng bị gian thương thao túng. Tháng 6-1974, Saigon khan hiếm đường trầm trọng, bản thân tôi, một người lính có đơn vị ở Saigon cũng không mua được một gói đường nhỏ để uống cà phê, nói gì dân chúng ở thôn quê. Chạy ra tiệm “chạp pô” người Tàu mua 100gr đường trắng về, quậy vào ly cà phê đen thì ly cà phê thành cà phê sữa, vì gói đường đã bị pha bột mì, trong lúc đó Saigon có cả một công ty đường đồ sộ và đường vẫn được nhập cảng từ ngoại quốc về. Bánh Trung Thu bán đầy trong các khu phố lớn, hình như chỉ đành cho lớp người giàu có trong xã hội, con nhà nghèo không thấy bánh Trung Thu, ngoài loại bánh “hậu Trung Thu” phơi bụi đầy ở các bến xe, là loại bánh kém phẩm chất, rẻ tiền. Mỗi mùa Trung Thu đến, trong gia đình không thấy ai lo gì cho con trẻ, mà người lớn chỉ tính toán cần mua mấy cân bánh đi biếu ai trong dịp Trung Thu này và chính gia đình cũng nhận đuợc bánh Trung Thu bà con mang đến biếu. Không có bánh mang đi biếu cấp trên và cả lo cho nhân viên cấp dưới thì lòng không yên, vì đã lỡ ảnh hưởng loại văn hoá Tàu rồi. Số tiền bỏ ra để mua một hộp bánh Trung Thu quá cao so với chất và lượng của một hộp bánh, từ món “thập cẩm” có lạp xưởng, hạt dưa, hạt điều, vi cá, jambon, xá xíu, gà quay, hải sâm, tôm càng … rất “tạp pỉ lù”, đến hạng xoàng là đậu xanh một hoặc hai hột vịt. Nhất là từ khi chúng tôi lớn lên, chưa nghe ai phát minh ra được cái máy bóc hột dưa, mà chỉ nghe “các chú” có tài “phun hột dưa”, nghe cũng đã thấy kinh hoàng. Loại bánh Trung Thu này chắc hiện nay tại hải ngoại chúng ta cũng không để cho các con của chúng ta ăn, vì ngẫm lại có bổ béo, quý giá gì đâu! Vậy thì văn hoá Trung Thu còn lại dành cho ai, người lớn hay trẻ em. Đồng ý các cơ sở thương mãi thường làm ăn phát đạt theo những mùa lễ lược, nhưng liệu người Việt chúng ta chi phí cho ngày Lễ Mẹ, Lễ Cha hay Lễ Tạ Ơn có bằng số tiền bỏ ra để theo cơn sốt mua bánh Trung thu mỗi năm để phục vụ chuyện biếu xén cho người khác hay không?
Đó là lễ Nhi Đồng hay cho các ông các bà? Ở Việt Nam cũng như từ ngày sang Mỹ, chưa bao giờ tôi chịu xếp hàng mua bánh nướng cho ai, không phải vì thói vô ơn, mà cảm thấy đó là chuyện vô bổ, làm giàu cho con buôn … văn hóa Trung Quốc.
Dù thời gian 45 năm đã trội qua, mỗi lần nhắc dến Huế, tỏi nghe như tiếng “Tết” và tiếng “Mậu Thân” đi liền theo sau đó. Tôi có mặt ở Huế từ ngày 28 tháng Chạp và rời Huế vào chiều ngày 23 tháng Giêng, năm Mậu Thân trên một chuyến tuần giang của Hải Quân Mỹ, từ bến tàu Toà Khâm trước trưởng Trung Học Kiểu Mẫu Huế dể vào Đà Nẵng. Khi từ vùng Chợ Cống chạy về lánh nạn trong khuôn viên trường học, nhìn về phía Thành Nội, tôi đã thấy cảnh lữa cháy bốn góc thành trong đêm, cũng như nhận chịu hơi bom cay, theo gió thổi bạt về phia bên này tả ngạn song Tương và chứng kiến những xác người được chôn vùi sơ sài trong khu vườn của ngôi trường học. Nói tôi là nạn nhân là sống sót cũng có phần đúng. Khi chưa chạy về được nơi tạm cư lánh nạn thì Việt Cộng đã có lần dứng trước của nhà, nơi đền thờ của An Thường Công Chúa. chúng không vảo nhà lục soát nhưng đứng ngoài sân quát nạt: “Tất cà ai trong nhà ra hết!” Gia đinh ông chú già, đản bà, trẻ con dều ra tập họp trước sân, trừ hai đứa chúng tôi, cậu em, một sĩ quan thuộc Trung Đoàn 1 Bộ Binh và tôi. sau nhữg ngày đói khát, lo sợ rã rời, đang nằm ngủ mê mệt dưới gầm giường, lọt giữa những bao cát chống pháo kích, không nghe, không biết gì cả. Nếu vào lúc ấy, chúng tôi thức giấc hay tỉnh táo, sẽ có phản ứng ra sao? Nếu vào lúc ấy, chỉ một tiếng gọi: “Ba ơi” của một trong những đứa con tôi, thì tôi đã không còn hạnh phúc, may mắn hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết những dòng chữ này. Tôi xin nói thêm, tuyệt vọng và sợ hãi nằm trong hầm trú ẩn, tôi cầm cái máy thu thanh nhỏ áp thẳng vào tai, vào khoảng ngày mồng năm Tết, nghe qua đài phát thanh quân đội Saigon, hai phóng viên Phạm Huấn và Dương Phục đang tường trình về mặt trận Chợ Lớn, để thấy mình chưa hoàn toàn tuyệt vong và may ra có thể sống sót. Phải một thời gian dài sau khi Việt Cộng rút ra khỏi thành phố người ta mới tìm ra hầm chôn tập thể đầu tiên. rồi từ đó những hố chôn tập thể khác ở ngay trong thành phố, ra ngoại ô, rồi ở xa hơn như Khe Đá Mài. Tất cả các nạn nhân đều bị trói khuỷu bằng tre lạt, dây diện thoại, nhiều người xương sọ bị vỡ, phần lón nguyên ven, hay trong tư thế tuyệt vọng vì bị chôn sống. Nhân chứng Phan Văn Tuấn, năm Mậu Thân mới 16 tuổi là một học sinh trường Bồ tề Iuế, về sau là sĩ quan Pháo Binh VNCH, hiện sống tại Sydney- Úc, người đã bị Việt Cộng bắt đưa đi lảm công tác lấp đất chôn người, trong lần được ký giả Nam Dao lại Adclaide phỏng vấn, đã lên cơn hoàng loạn khóc nửc nở vì những ấn tượng không phai mờ, ám ảnh anh trong nhiều năm.
Sau khi về Saigon và tên Việt Cộng cuối cùng ra khỏi Huế, tôi đã có dịp trở lại dây một đôi lần theo Ủy Ban Truy Tầm và Cải Táng Nạn Nhân Tết Mậu Thân để chứng kiến những chuyện có thật như trên. Bản thân tôi cũng được Tổng Cục CTCT giao công tác trở lại Huế để sưu tập tài liệu thàm sát Mậu Thân, để có thể hoàn thảnh một tập sách tương tự như Bạch Thư. Cách sắp xếp của tôi là tiếp xúc với những gia đình của nạn nhân điển hinh, lấy hình ảnh lúc còn sống, tiểu sử nạn nhân, sau đó lấy đúng hình ảnh của nạn nhân đã bị thảm sát, thi thề đã đánh số sau khi được đào lên với giây trói hay sọ bị vỡ, ghi nhận chi tiết do Ủy Bạn Truy Tầm cung cấp, ghi số thứ tự từ 1 dến 100. Tiếc thay, tập sách (hay tờ trình) với đầy đù hình ành minh chứng. được đệ trình lên Tổng Cục Trường, đã bị bỏ quên trong một xó xỉnh nào đó, mà với một sĩ quan thuộc cấp như tôi không có quyền thắc mắc. 45 năm sau, Việt Cộng còn ca tụng cái gọi là chiến thắng Mậu Thân, và đổ tội cho hơn 6,000 cái chết của dân Huế là do bom đạn, phi pháo của phía Việt Nam và Mỹ tản sát. Chúng trả lời làm sao về những cái chết của các giáo sư y khoa Tây Đức, những linh mục, sinh viên, học sinh, người buộn bán và ngay cả những viên chức chính phủ VNCH bị “bom đạn” Mỹ giết lại được người cách mạng” chôn cất từ tế trong mấy mươi hầm tập thể trước khi rút lui.
Truy Tầm và cải táng có sự chứng kiến của các phái đoản ký giả quốc tế thường trực chẳng bao giờ tìm thấy trong các hầm tập thể này một đôi dép râu hay một cái nón cối, hoặc tai bèo! Vậy mà 45 năm sau vụ thảm sát này, những tên đồ tể tắm máu đồng bào Huế còn can đảm dựng lên một cuốn phim 12 tập, phỏng vấn những nhân vật gian trá, để lừa dối lớp trẻ mới lên và cả lớp người nhẹ dạ, u mê dưới bóng tối của chế dộ cộng sản rằng hoàn toàn khỏng có vụ gọi là “thảm sát Mậu Thân”. Một trong những “nhân chứng” được đạo diễn cuốn phim đối gạt này phóng vấn là NS Trịnh Công Sơn dã nói rằng “quân đội Bắc Việt Nam vô cùng nghiêm túc kỷ luật, khóng hề có chuyện thàm sát! “(1) Dù quen biết với Trịnh Công Sơn và gia đình ông, tôi phải đau lòng tiết lộ rằng, Trịnh Công Sơn và gia đình đã chạy lánh nạn Cộng Sản từ vùng Phú Cam về tá túc ở trường Trung Học Kiểu Mẫu và đã được an toàn, sống sót như tôi. Được may mắn an toàn tại trường Kiểu Mẫu, ông biết gì về “quân đội Bắc Việt Nam” khi vào Huế mà phát biểu. Theo tôi, nếu Trịnh Công Sơn ở lại ngội nhà trên đường Nguyễn Trường Tộ hay chạy vào nhà thờ Phú Cam thì chắc chắn ông sẽ chịu số phận như 6,000 nạn nhân đồng bào bị chôn ở Huế. Cộng sản gian dối và luôn luôn lặp lại gian dối, ngay cả những điều mà chúng biết là gian dối vì nhu cầu tuyên truyền chính trị và ngay cả vì nhu cầu miếng ăn. Cuốn phim “Mậu Than 1968″ do bà Lê Phong Lan bỏ tiền túi ra thực hiện, nhưng khi làm xong thì đài Truyền Hình CSVN đã mua ngay để chiếu trong dịp Tết Quý Ty 2013. Tết Mậu Thân, gia đình nào ở Huế lại không có tang chế, Bảy năm sau, xương mục người nhân chưa tan rã hết, Việt Cộng vào, nhưng đau buồn và nước mắt, đồng bào Huế đành phải nuốt ngược vào lòng. Ằn ngang, nói ngược, “một lời nói là một đọi (bát) máu” như một thành ngữ của Huế, liệu cái chế độ vừa tàn ác vừa gian trá ấy còn sống bao lâu nữa giữa những lời nguyền rủa của người sống và nỗi oan khuất của người chết.
Hây nghe bốn cau thơ này của Hoàng Phủ Ngọc Tường:
“Những chiều bến Ngự giăng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang!
(Địa Chỉ Buồn)
Còn ai đó nữa, nếu không là những linh hồn oan khuất của 1luế Mậu Thân đang kêu gào đòi nợ máu!
Hải quân Thiếu tá TJ Nguyen* đang theo học chương trình Cao học khoa học quản lý (MSM) tại Trường Cao học Hải quân (Naval Postgraduate School – NPS), chuyên ngành về phân tích hệ thống nhân lực. Ông mong muốn được học tại NPS từ khi còn là một sĩ quan Hải quân trẻ, và giờ đây ông đã có cơ hội được học lên cao hơn. Ông thấy may mắn và biết ơn khi theo học ở đây, vì ông nhận thấy có những thiếu sót trong các đơn vị cần được hỗ trợ hết mức. Là một sĩ quan ngành nhân sự, vấn đề này rất quan trọng đối với ông và ông hy vọng rằng những nghiên cứu của ông có thể giúp tìm ra giải pháp cho vấn đề này trong tương lai
Trường Cao học Hải quân (NPS) là một đơn vị thuộc Hải quân với nhiệm vụ đào tạo hậu đại học, do Hải quân Hoa Kỳ điều hành, toạ lạt tại Monterey, California, Hoa Kỳ. Trường tập trung hoàn toàn vào quốc phòng, đào tạo các nhà lãnh đạo quốc phòng với năng lực trí tuệ để đáp ứng các thách thức chiến lược và tác chiến trong môi trường an ninh năng động và phức tạp. Để cạnh tranh và chiến thắng trước các đối thủ ngang tầm trong thế kỷ 21, chương trình giảng dạy, nghiên cứu và đổi mới của Hải quân phát triển những Sĩ quan giỏi nhất của Quốc gia và cung cấp các giải pháp tác chiến. Đội ngũ giảng viên chuyên gia, giàu kinh nghiệm trong các vấn đề liên quan đến quốc phòng và an ninh, phát triển và nâng cao khả năng nhận thức của các Sinh viên Sĩ quan và Học giả giàu kinh nghiệm tác chiến thông qua giáo dục hậu đại học liên ngành và nghiên cứu nhằm hỗ trợ kiến thức, kỹ năng và giải pháp tiên tiến.
HQ Thiếu tá TL Nguyen, gia nhập Hải quân vào tháng 10 năm 2007, ông mang cấp bậc Hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 4, Công binh lưu động Hải quân (NMCB-4), còn được gọi là Seabees, là một Tiểu đoàn kỹ thuật có khả năng khai triển nhanh chóng, đồn trú tại căn cứ Hải quân Ventura County, Port Hueneme, California. Ông phục vụ đơn vị đến tháng 8 năm 2009.
Từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 12 năm 2014, Trung sĩ TL Nguyen phục vụ Lực lượng Hải quân trừ bị (USNR) tại Chicago, Illinois.
Sau thời gian phục vụ Lực lượng Hải quân trừ bị, TL Nguyễn được theo học chương trình Sĩ quan Hải quân trứ bị (NROTC) tại Đại học University of Illinois Chicago. Sau khi tốt nghiệp, HQ Thiếu uý TJ Nguyen được tuyển chọn thụ huấn ngành Phi công và xuyên huấn loại trực thăng MH-60S Seahawk. Ông trở thành phi công trực thăng và phục vụ tại các Phi đoàn Trực thăng hơn 6 năm, từ 1 tháng năm 2015 đến tháng 12 năm 2014.
Nhiệm kỳ tiếp theo, HQ Đại uý TJ Nguyễn chuyển sang ngành nhân lực (Human Resources) Hải quân, ông phục vụ tại Naples, Campania, Ý Đại Lợi. Và hiên nay HQ Thiếu tá TJ Nguyen đang theo học chương trình Cao học khoa học quản lý (MSM) tại Trường Cao học Hải quân Hoa Kỳ.
HQ Thiếu tá TJ Nguyen được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân chọn đề cử thăng cấp Thiếu tá vào ngày 1 tháng 5 năm 2024 và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện xác nhận thông qua ngày 24 tháng 9 năm 2024. Sau đó, ông được chính thức thăng cấp Thiếu tá ngày 1 tháng 12 năm 2024
Huy hiệu trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ của en.wikipedia.org
HQ Thiếu tá TJ Nguyen tốt nghiệp các Văn Bằng: Văn bằng Cao học khoa học quản lý – MSM, phân tích hệ thống nhân lực, Trường Cao học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), Sẽ tốt nghiệp năm 2027; Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh – MBA, Đại học Western Governors, năm 2022; Văn bằng Cử nhân khoa học – BS, Kỹ thuật cơ khí, Đại học Illinois Chicago, năm 2014.
HQ Thiếu tá TJ Nguyen là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Dat Duong, Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận, Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải; HQ Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.
Chú thích: *Họ và tên từ tài liệu, TJ Nguyen/Nguyen Thong John Tri, họ và tên Việt, Nguyễn Thông Trí.
Hải quân (HQ)* Đại tá Tuấn Nguyễn là 1 trong 26 Đại tá ngành tác chiến và yểm trợ Hải quân (Line Officer) đã được Tổng thống đề cử thăng cấp Phó Đề đốc (Rear Admiral (lower half) ) sau khi được Hội đồng thăng cấp Hải quân ( Flag Officer Selection Board) chọn đề cử thăng cấp Phó Đề đốc cho tài khoá FY-25. Hồ sơ đã được chuyển đến Uỷ ban Quân vụ Thượng viện ngày 8 tháng 1 năm 2024, theo thông báo từ congress.gov/nomination, defense.gov/New và mynavyhr.navy.mil. HQ Đại tá Tuấn Nguyễn hiện là Sĩ quan kế hoạch, Chỉ huy trưởng phối hơp an ninh hàng hải phục vụ tại Bộ tư lênh Đệ Thất Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ, Yokosuka Nhật Bản.
Sau khi được chính thức thăng cấp, ông sẽ là Phó Đề đốc Hải quân gốc Việt thứ hai và là vị tướng gốc Việt thứ sáu trong Quân đội Hoa Kỳ. Năm vị tướng Hoa Kỳ gốc Việt trước ông gồm có: Thiếu tướng Lapthe C. Flora, Phụ tá Tư lệnh Vệ binh Quốc gia Arlington, Virginia; Thiếu tướng William H. Seely III, Chỉ huy trưởng Trường An ninh Quốc gia và Chiến lược Tài nguyên Dwight D. Eisenhower; Thiếu tướng John R Adwards, Giám đốc Chiến lược Quốc phòng, Hội đồng an ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc, Washington, D.C; Phó Đề đốc Nguyễn Từ Huấn, nguyên Chỉ huy phó an ninh mạng kỹ thuật điện tử, Bộ tư lệnh kỹ thuật hàng hải Hải quân Hoa Kỳ (NAVSEA), hồi hưu ngày 7 tháng 10 năm 2022. Và Thiếu tướng Lương Xuân Việt, nguyên Tư lệnh Lục quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản, hồi hưu vào tháng 6 năm 2021.
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn là một trong năm Trung tá Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt được thăng cấp Đại tá năm 2018, cùng năm với HQ Đại tá Cao Hùng, ngành chiến tranh đặc biệt Hải quân; Bùi H Quan, Y sĩ Hải quân; Trịnh Hiền, Bác sĩ nha khoa Hải quân; Tuanh C. Halquist, Bác sĩ nha khoa Hải quân.
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn sinh tại Vũng Tàu, Việt Nam, ông định cư tại tiểu bang Chicago và tốt nghiệp Đại học tại Tiểu bang California. Trước khi gia nhập Hải quân Hoa Kỳ, ông làm việc cho hảng Rockwell International aerospace program và hảng Unocal Oil refineries tại Southern California. Ông gia nhập Hải quân Hoa Kỳ mang cấp bậc HQ thiếu úy ngành công binh Hải quân ( Navy Seabee Combat Warfare ) năm 1996. Năm 2006, ông chuyển sang ngành giao tế ngoại giao và Cộng đồng của Hải quân trong vai trò Sĩ quan giao tế ( Foreign Area Officer (FAO) ). Thời gian này, ông là Sĩ quan giao tế Cộng đồng phục vụ tại phòng nhân viên Hải quân tại Millington, Tennessee. Tháng 10 năm 2016, ông được biệt phái sang phục vụ tại trung tâm an ninh Á Châu – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye ( Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies), tại đây ông là Sĩ quan trong chương trình hợp tác an ninh quân sự với các Quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ**.
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn, Chỉ huy trưởng phối hợp an ninh hàng hải, Đệ thất Hạm đội thảo luận với các Sĩ quan cao cấp Hải quân Ý Đại Lợi (CINCNAV) tại Rome (Ảnh của c7f.navy.mil).
Ông có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giao tế ngoại giao trong vực khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Ông từng là Sĩ quan phục vụ cộng đồng/Sĩ quan xử lý thường vụ phụ trách xây dựng căn cứ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Singapore. đây là nơi đồn trú của Lực lượng đặc nhiệm 73 tiếp vận Hải quân của Đệ Thất Hạm đội, và Hải đội 7 Khu trục hạm; Sĩ quan giao tế Hải quân Hoa Kỳ tại các Quốc gia Cam Bốt, Phi Luật Tân và Việt Nam kiêm Gíam đốc kế hoạch và chính sách Quốc tế cho Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương; Sĩ quan phụ tá cho Tùy viên cao cáp Quốc phòng Tòa đại xứ Hoa Kỳ tại New Delhi, Ấn Độ. Ông từng phục vụ tại đơn sị II yểm trợ xây cất Hải quân tại Port Hueneme, California, LA; Chỉ huy trưởng Hải quân khu vực tây Bắc Bangor, Washington; Và phục vụ trong lãnh vực kỹ thuật cơ khí Hải quân tại Northwest, Bremerton**
Đại tá Tuấn Nguyễn hoàn tất Văn bằng Cử nhân khoa học cơ khí tại Đại học California tại Santa Barbara; Văn bằng Cao học khoa học cơ khí tại Đại học Loyola Marymount; Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh tại Đại học Southern California. Ngoài ra ông đã thụ huấn và tốt nghiệp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân tại Fort Leavenworth, Kansas và trường Tham mưu và chiến tranh hỗn hợp tại Norfolk, Virginia. Ông còn là Hội viên hiệp hội quản trị chuyên nghiệp**.
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn và Đề đốc Giancarlo Ciappina, Hải quân Ý Đại Lợi (Ảnh của Trung sĩ Caitlin Flynn, Hải quân Hoa Kỳ, ngày 16 tháng 4 năm 2024),
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: Huy chương the Defense Meritorious Service Medal, 2 huy chương the Meritorious Service Medal, 3 huy chương the Navy Commendation Medal, 2 huy chương the Joint Service Achievement Medal và 2 huy chương the Navy and Marine Corps Achievement Medal**.
Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ tính đến tháng 1 năm 2024, có 2 Phó Đề đốc ( Đại tá Tuấn sẽ được chính thức thăng cấp sau khi được Uỷ ban Quân vụ Thượng viện bầu chọn), 18 Đại tá đương nhiệm
(13 vị hồi hưu và 1 vị qua đởi ), khoảng 60 Trung tá và trên 120 Thiếu tá (không tính sĩ quan cấp Úy). Riêng Sĩ quan cao cấp Hải quân tên Tuấn cũng có 6 vị, đó là HQ Đại tá Phạm Ngọc Tuấn, ngành tình báo Hải quân
(hồi hưu); HQ Đại tá Hoàng Ngọc Tuấn, ngành Quân y hải quân (hồi hưu); HQ Trung tá Đặng Quốc Tuấn
(hồi hưu), HQ Trung tá Nguyễn Anh Tuấn (hồi hưu) và HQ Thiếu tá Trần M Tuấn (hồi hưu) và HQ Đại tá Tuấn Nguyễn, ngành giao tế Hải quân***.
Dự đoán trong 87 Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt đương nhiệm (53 hồi hưu, 2 qua đời) có thể sẽ có vị được thăng cấp Chuẩn tướng/Phó đề đốc vào năm 2025. Có một số vị Đại tá đang giữ những cương vị Chỉ huy quan trọng trong các Quân chủng Hải, Lục, Không quân và Thủy quân lục chiến Quân đội Hoa Kỳ. Họ là những ứng viên sáng giá để trở thành những vị tướng trong tương lai!
Người Việt Quốc Gia hải ngoại tại Hoa Kỳ và trên toàn Thế giới vô cùng hãnh diện về sự cống hiến của tất cả những Quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân lực Hoa Kỳ, những Hậu duệ ưu tú của Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa mang giòng máu Việt làm rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam.
Chúc mừng Tân Phó đề đốc Tuấn Nguyễn.
Chú thích: *ghi theo cấp bậc HQ Đại tá Hoa Kỳ (Navy Captain); **chi tiết cá nhân viết theo tài liệu năm 2019; Sĩ quan ngành giao tế Hải quân là một trong các ngành Sĩ quan yểm trợ tác chiến Hải quân ( Restricted Line Officers).
Nguồn tài liệu: congress.gov/nomination; defense.gov/New; mynavyhr.navy.mil; c7f.navy.mil/Media/News; Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies; bienxua-HQ đại tá Hoa Kỳ gốc Việt Tuấn Nguyễn.
Posted on March 13, 2018 by dongsongcu Post by Sơn râu 5 Jun 2026
HQ đại tá Tuấn Nguyễn (ảnh của apcss.org)
Hải quân đại tá Tuấn Nguyễn là một trong năm trung tá hải quân Hoa Kỳ gốc Việt được Tổng thống Trump đề cử thăng cấp đại tá vào tháng 5 năm 2017, và đã được Thượng viện chấp thuận. Các HQ trung tá được đề cử gồm có: Cao Hùng, ngành chiến tranh đặc biệt hải quân; Bùi H Quan, y sĩ hải quân; Trịnh Hiền, bác sĩ nha khoa hải quân; Tuanh C. Halquist, bác sĩ nha khoa hải quân và Tuấn Nguyễn, ngành công binh hải quân chuyển qua ngành giao tế hải quân.
HQ đại tá Tuấn Nguyễn sinh tại Vũng Tàu, Việt Nam, ông định cư tại tiểu bang Chicago và học hành tại tiểu bang California. Trước khi gia nhập hải quân Hoa Kỳ, ông làm việc cho hảng Rockwell International aerospace program và hảng Unocal Oil refineries tại Southern California.
Binh nghiệp:
Đại tá Tuấn Nguyễn gia nhập hải quân Hoa Kỳ mang cấp bậc thiếu úy ngành công binh hải quân năm 1996. Năm 2006, ông chuyển sang ngành giao tế ngoại giao (FAO) và cộng đồng của hải quân trong vai trò sĩ quan giao tế. Thời gian này, ông là sĩ quan giao tế cộng đồng phục vụ tại phòng nhân viên hải quân tại Millington, Tennessee.
Tháng 10 năm 2016, ông được biệt phái sang phục vụ tại trung tâm an ninh Á Châu – Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies), tại đây ông là sĩ quan trong chương trình hợp tác an ninh quân sự với các quốc gia Đông Nam Á và Ấn Độ.
Ông có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giao tế ngoại giao trong vực khu vực Á Châu-Thái Bình Dương. Ông từng là sĩ quan phục vụ cộng đồng/sĩ quan xử lý thường vụ phụ trách xây dựng căn cứ tiếp vận hải quân Hoa Kỳ tại Singapore. đây là nơi đồn trú của lực lượng đặc nhiệm 73 tiếp vận hải quân của Đệ Thất hạm đội, và hải đội 7 khu trục hạm; Sĩ quan giao tế hải quân Hoa Kỳ tại các quốc gia Cam Bốt, Phi Luật Tân và Việt Nam kiêm gíam đốc kế hoạch và chính sách quốc tế cho tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương; Sĩ quan phụ tá cho tùy viên cao cáp quốc phòng Tòa đại xứ Hoa Kỳ tại New Delhi, Ấn Độ. Ông từng phục vụ tại đơn sị II yểm trợ xây cất hải quân tại Port Hueneme, California, LA; Chỉ huy trưởng hải quân khu vực tây Bắc Bangor, Washington; Và phục vụ trong lãnh vực kỹ thuật cơ khí hải quân tại Northwest, Bremerton. Các khóa sinh đang thụ huấn tại trường sĩ quan công binh hải quân (ành của Civil Engineer Corps Officers School on Facebook).
Học vấn:
Đại tá Nguyễn hoàn tất văn bằng cử nhân khoa học cơ khí tại Đại học California tại Santa Barbara; Văn bằng cao học khoa học cơ khí tại Đại học Loyola Marymount; Văn bằng cao học quản trị kinh doanh tại Đại học Southern California. Ngoài ra ông đã thụ huấn và tốt nghiệp tại trường chỉ huy và tham mưu lục quân tại Fort Leavenworth, Kansas và trường tham mưu và chiến tranh hỗn hợp tại Norfolk, Virginia. Ông còn là hội viên hiệp hội quản trị chuyên nghiệp.
Thăng thưởng:
HQ Đại tá Tuấn Nguyễn được ân thưởng các loại huy chương cao quý như: the Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal (two), the Navy Commendation Medal (3), the Joint Service Achievement Medal (2), and the Navy and Marine Corps Achievement Medal (2).
Sĩ quan hải quân gốc Việt:
Sĩ quan gốc Việt phục vụ trong hải quân Hoa Kỳ tính đến tháng 3 năm 2018, có 17 đại tá, khoảng 50 trung tá và trên 100 thiếu tá ( không tính sĩ quan cấp úy ). Riêng sĩ quan cao cấp hải quân tên Tuấn cũng có 6 vị, đó là HQ đại tá Phạm Ngọc Tuấn, ngành tình báo hải quân; HQ đại tá Hoàng Ngọc Tuấn, ngành quân y hải quân; HQ đại tá Tuấn Nguyễn, ngành giao tế hải quân; HQ trung tá Đặng Quốc Tuấn ( hồi hưu ), HQ trung tá Nguyễn Anh Tuấn ( hồi hưu ) và HQ thiếu tá Trần M Tuấn ( hồi hưu ).
Nguồn tài liệu: Daniel K. Inouye Asia-Pacific Center for Security Studies; Congress.gov; Navy Personnel Command; Civil Engineer Corps; Đại tá Bác sĩ Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt Hoàng Ngọc Tuấn; A South China Sea Game Changer? By Captain Tuan Pham, U.S. Navy.
– Không phải vết máu, dầu ô liu đây, tẩy băng dính có thể đi hết.
– Vậy thì ông làm lấy đi coi! Băng dính không ăn thua gì cả.
– Có lẽ. Hẳn là ông biết hơn tôi. Ông có cái gì cho mượn mặc tạm trong khi chờ đợi?
Người thợ may vào lấy ra một cái quần ca rô và một cái áo trắng.
– Phải mất bao lâu hở? Tôi đợi lấy để cưới vợ.
– Một giờ.
Graber thay quần áo.
– Một giờ nữa tôi lại lấy!
Con căng-gu-ru nhìn y, ra vẻ ngờ vực. Hẳn là lão muốn y đứng đợi trong tiệm.
– Đồ quân phục của tôi cũng đủ để làm tin. Ông không lo tôi trốn mất đâu.
Không ngờ lão ta mỉm cười.
– Quân phục là của Nhà nước. Nhưng cậu cứ đi đi. Và nên cắt tóc đi. Nếu cậu cưới vợ thì cắt tóc cũng không đến nỗi là xa xỉ.
– Ông nói phải!
Graber bước vào phòng hớt tóc. Thợ hớt tóc là một người đàn bà.
– Chồng tôi ở ngoài mặt trận. Tôi phải làm thay. Ông cạo râu à?
– Cắt tóc. Bà cắt tóc được chứ?
– Trời! Mở tiệm mà không biết cắt tóc sao? Ông có gội đầu không? Đây có thuốc gội săm bông.
– Được rồi, bà cho săm bông.
Bà trần lực ra làm việc. Chỉ trong nháy mắt là xong, rồi bà ta đổ thuốc vò đầu cho sùi lên một đống bọt lớn.
– Ông dùng dầu chải tóc không, tôi có thứ dầu từ Ba Lê gởi sang.
Graber rùng mình khi thấy bóng mình trong gương. Hai tai nom như cách rời hẳn đầu vì tóc cắt sát da.
– Ông chải dầu không?
Y nhớ đến những viên dầu thơm của Binding bèn hỏi:
– Mùi nó thế nào?
– Thì mùi dầu chải đầu chứ còn mùi gì nữa?
Graber đưa hộp dầu lên mũi. Chỉ có mùi mỡ đã hôi. Thời kỳ chiến thắng khuân của về nhà đã xa rồi. Y sờ tay lên đầu. Một túm tóc dựng đứng.
– Vâng, nhưng bà cho ít dầụ thôi.
Y trả tiền và ra đi.
Con căng-gu-ru thấy y trở lại thì càu nhàu. “Ông trở lại sớm quá”.
Graber không nói gì. Y ngồi xuống đấy xem ủi chiếc quan. Khí trời nóng làm y buồn ngủ. Thình lình chiến tranh như đã xa rồi. Ruồi bay vo ve, bàn ủi xèo xèo trên vải phun nước, căn phòng tỏ ra cái không khí yên ổn làm ăn.
– Đây chỉ có thể được như thế thôi!
Lão đưa cho một chiếc quần cứng ngắc và nóng, vết loang chỉ còn mờ mờ và nồng nặc mùi thuốc hắc. Graber mặc vào không nói gì cả.
– Ai cắt tóc cho cậu đấy!
– Một người đàn bà chồng đi lính.
– Coi như cậu cầm kéo mà tự cắt lấy. Để yên coi.
Lão cầm cái kéo bự cắt một mớ tóc rối bù.
– Nom thế này hơn chứ.
– Ông tính bao nhiêu, ông?
– Không gì hết. Quà cưới tặng cậu đấy.
– Cám ơn ông. Gần đây có tiệm bán hoa không?
– Đến phố Spichern sẽ thấy một tiệm.
Tiệm bán hoa còn mở cửa. Hai người đàn bà đang mặc cả một vòng hoa đám tang. Người bán giải thích :
– Khi nào có nụ thông thật thì vẫn đắt hơn.
Một người đàn bà nhìn nhà hàng bực tức, hai má phình rung động.
– Giá cắt cổ, bắt chẹt thế ai chịu được; thôi đi hàng khác.
Hai bà vênh mặt ra đi. Chị hàng định dồn cho một vố nữa, nhưng chợt thấy Graber bèn quay lại.
– Ông dùng hoa hay vòng tang. Tiệm tôi nhỏ nhưng có những vòng hoa kết cành thông rất khéo.
– Không phải để đi đám.
– À ra vậy! – Chị hàng chưng hửng.
– Tôi muốn một bó hoa.
– Hoa huệ?
– Không phải hoa huệ. Mua hoa đám cưới.
– Hoa huệ dùng cho đám cưới hợp lắm. Huệ tượng trưng cho ngây thơ và trinh bạch.
– Hẳn rồi, nhưng bà có hoa hồng không?
– Hồng mùa này à? Ông nói lạ? Bây giờ nhà kiếng để trồng rau cả rồi!
Graber đi quanh tiệm và kiếm được một bó thủy tiên khuất sau một vòng hoa hình chữ vạn.
– Đây, bà cho tôi bó này.
Chị hàng lắc bó hoa cho hết nước.
– Nhưng rất tiếc rằng phải gói bằng giấy nhật trình, trong nhà chỉ có giấy ấy thôi.
– Được, không sao.
Graber trả tiền rồi đi ra. Chẳng bao lâu bó hoa trong tay làm cho y khó chịu vì người qua lại nhìn y với con mắt chê bai. Có gì đâu, y cầm bó để cho hoa chúc xuống đất. Mấy bông hoa rung rinh theo bước đi trên hình một người đang phùng má trợn mắt gào thét. Đó là viên chủ tịch Tối cao Pháp viện. Bài báo trên tờ nhật trình gói hoa ghi là vụ hành hình bốn công dân Đức về tội đã không tin ở sự chiến thắng của nước Đức. Người ta không dùng đến máy chém vì còn nhân đạo quá, chỉ dùng búa chặt đầu cho tiện. Graber vò nát tờ nhật trình ném xuống đất.
***
Nhân viên tòa thị chính đã không lầm; phòng hộ tịch bây giờ ở chỗ tập thể thao của một trường học. Viên chánh sở ngồi dưới những hàng dây chão trơn và có nút. Phía dưới cột vào tường. Sự trang hoàng duy nhất trong phòng là một bức hình Hitler và phù hiệu chữ vạn với con chim đại bàng của dân tộc Đức.
Phải ngồi đợi. Một người lính già vào trước, đi theo là một bà lớn mập, ngực đeo một cái khánh vàng hình chiếc thuyền buồm. Người lính ra vẻ cảm động lắm, người đàn bà mỉm cười vô tư vô lự.
– Nhân chứng việc giá thú. Nhân chứng của ông đâu?
Người lính nói lắp bắp một câu; y quên không dẫn theo người làm chứng.
– Tôi cứ tưởng đám cưới quân nhân không cần nhân chứng.
– Thì cũng phải có thủ tục tối thiểu chứ!
Người lính quay lại hỏi Graber:
– Anh có thể làm chứng cho chúng tôi không? Anh và cô đầy. Chỉ việc ký tên thôi.
– Được lắm chứ, xong rồi lại đến lượt chúng tôi nhờ anh làm chứng. Chúng tôi cũng không có người làm chứng.
– Ai mà nghĩ đến chuyện chứng tá được!
Viên chánh văn phòng ra vẻ phật ý vì phải làm việc này, vội nói:
– Người công dân phải nhớ bổn phận công dân chứ! Ông có ra mặt trận mà không mang súng không?
Anh lính già ngơ ngác :
– Dẫu sao thì người làm chứng cũng không phải khẩu súng.
– Tôi không hề nói người làm chứng là khẩu súng, đấy chỉ là so sánh. Người làm chứng của ông đâu?
– Anh này và cô này.
Ông ta nhìn Graber hằn học. Rõ ràng là giản dị hóa đến mức ấy làm ông ta bối rối.
– Căn cước đâu?
Graber nói:
– Đây. Chúng tôi cũng đến để lập giá thú.
Ông lấy sổ ra, miệng còn nói lí nhí. Họ tên…
Graber và Elisabeth được ghi vào sổ.
– Ký tên vào đây.
Cả bốn người cùng ký.
– Tôi nhân danh Quốc trưởng chúc mừng cô dâu chú rể. Chứng đâu?
– Ổng và bà đây. – Y chỉ cặp vợ chồng người lính già.
Ông ta chỉ lắc đầu.
– Tôi chỉ có thể chấp nhận một người thôi.
– Sao vậy, chúng tôi cả hai người làm chứng cho họ.
– Nhưng bấy giờ hai người còn độc thân. Bây giờ thì hai người đã là vợ chồng rồi. Luật đã xác định rằng hai người làm chứng phải độc lập đối với nhau.
Graber không thể cho rằng người công chức chế giễu y hay ông ta chỉ làm đúng luật.
– Ở đây có ai, tôi nhờ làm chứng thứ hai. Một nhân viên trong sở chẳng hạn.
– Không phải việc của tôi. Nếu không có người làm chứng thì không làm hôn thú được.
Graber nhìn quanh, thấy một người tóc đã hoa râm có vẻ như đã nghe rõ chuyện: “Nếu ông muốn tìm một người chứng thì tôi giúp cho ông”.
Người ấy đến đứng bên Elisabeth. Ông công chức nhìn mặt không nói gì cả. Rồi ông bảo đưa giấy căn cước.
Người ấy lẳng lặng lôi ra một tờ giấy thông hành đặt xuống bàn. Ông ta cầm lấy với vẻ ghê tởm rồi mở ra coi. Bỗng dưng ông ta giật mình, đứng nghiêm và chào:
– Hitler muôn năm! Chào ngài cố vấn!
Ông kia trả lời:
– Hitler muôn năm! Thôi bây giờ bỏ cái trò hạch sách ấy đi. Ông làm khó dễ một người lính mà không biết thẹn?
– Vâng! Mời ông ký vào đây.
Garber bây giờ mới biết người làm chứng là một nhân vật quan trọng trong quân đội. Người chứng thứ nhứt là một binh nhì. Người ấy bắt tay Graber và Elisabeth, rồi bắt tay cặp vợ chồng kia. Người công chức bước vào phía trong, lúc trở ra mang theo cuốn Mein Kamp đưa cho mỗi cặp vợ chồng một cuốn.
– Của Quốc trưởng tặng!
Ông ta nhìn theo hút người kia mà gầm lên:
– Bây giờ họ lại mặc đồ dân sự nữa!
Hai cặp vợ chồng men theo mấy món dụng cụ thể thao trong trường để kiếm lối ra.
Graber hỏi người lính già:
– Bao giờ đi?
– Mai.
Anh ta nháy mắt:
– Chúng tôi muốn làm phép cưới từ lâu. Tội gì tặng cho Nhà nước món tiền phụ cấp. Vạn nhất tôi có mệnh hệ nào vợ tôi cũng không đến nỗi hai bàn tay trắng.
– Phải rồi.
Anh ta mở bị ra:
– Anh đã giúp chúng tôi. Tôi tặng một hộp óc heo này, ăn rồi cho biết có ngon không. Đừng cho ai biết nhé. Tôi định đem cho thằng cha ấy, nhưng sao mà nó khả ố thế!
– Đừng thí cho nó một tí gì cả.
Graber cầm lấy hộp xúc xích.
– Tặng anh cuốn sách này. Tôi không có gì khác mừng anh.
– Nhưng họ cũng cho tôi một quyển rồi.
– Không sao. Hai cuốn càng hay, một cuốn để anh dùng còn một cuốn để chị dùng.
Anh lính già cầm quyển sách:
– Giấy tốt đấy chứ. Anh không muốn giữ à?
– Tôi không cần. Ở nhà có một cuốn bìa da thếp vàng.
– Vâng, thế anh cho tôi! Thôi, từ biệt!
– Chào anh!
Graber trở lại với Elisabeth.
– Anh không nói gì với Binding vì không muốn ảnh làm chứng. Anh không muốn có tên người mật vụ vào giấy má trong nhà. Ấy thế mà bây giờ lại có tên ông chúa trùm mật vụ. Ấy đó, thành tâm thiện ý của người ta có hậu quả là như vậy!
Nàng cười.
– Nhưng anh đã đánh đổi cuốn thần thư của chế độ này lấy hộp óc heo. Thôi cũng có bù trừ rồi!
Họ đi qua chợ. Người ta đã đặt lại tượng Bismarck lên tru nhưng chỉ còn có hai chân. Một đàn chim liệng quanh nhà thờ thánh Marie. Graber nhìn Elisabeth. “Bình thường thì mình phải là người sướng nhất trên đời”, y nghĩ vậy. Nhưng sự thật y chỉ thấy ngạc nhiên hơn là sung sướng.
Họ nằm dài trên một khu vườn gần tỉnh. Khí trời thoang thoảng hương xuân. Hoa anh thảo và hoa tím đã điểm màu tươi trên lớp rêu xanh. Gió xuân nhẹ thổi. Thình lình Elisabeth nghểnh mặt lên mà rằng :
– Ngoài kia có cái gì thế nhỉ! Một động tiên, lá cây lấp loáng như vàng bạc! Hay là mình ngủ mê?
– Thật đó chứ không mê đâu.
– Cái gì thế?
– Thiếc và nhôm cắt thành từng băng nhỏ như giấy thiếc gói sô-cô-la.
– Che kín cả cây. Ở đâu ra đây vậy?
– Phi cơ thả xuống nhiều lắm. Để phá sóng vô tuyến điện thì phải. Làm thế không cho địch tìm được căn cứ. Băng thiếc gây rối loạn sóng điện khi nó rớt lần lần từ trên không trung xuống. Anh không biết gì về chuyện ấy cả.
– Tiếc quá nhỉ. Trông như là cây Nô-en. Ấy thế mà ở đây vẫn còn dấu vết chiến tranh! Mình đã tưởng xa chiến tranh rồi.
Hai người không thể rời mắt khỏi cảnh thần tiên. Cây cối chung quanh rung rinh trước gió, nhẹ đưa những sợi tóc bạc chói sáng dưới ánh nắng. Một đêm kinh hoàng, la khóc, chết chóc và điêu tàn đã phủ lên cây cối cảnh tượng lặng lẽ và mong manh kia, gợi cho người ta nhớ lại những kỷ niệm xa xưa, những tối sum họp yên vui, những chuyện cổ tích làm say mê hồi tấm bé.
Nàng ôm chặt lấy chàng:
– Thôi chúng ta quên chiến tranh đi, chúng ta cứ tưởng tượng họ trang hoàng cây cối để mừng chúng ta.
Graber lấy trong túi ra cuốn sách của Pohlmann cho :
– Chúng ta không thể đi chơi trong tuần trăng mật, nhưng thầy Pohlmann đã cho anh cuốn sách này, những bức ảnh nước Thụy Sĩ. Một ngày kia chúng ta sẽ sang Thụy Sĩ để xem phong cảnh mà ngày nay không được biết tới.
– Thụy Sĩ, một nước sáng trưng ánh đèn như anh nói đó phải không?
Graber mở cuốn sách ra.
– Hình như bây giờ không còn thế nữa. Ở trại họ nói rằng người ta đã yêu cầu Thụy Sĩ phải che kín hết đèn đóm. Thụy Sĩ đành phải nghe theo.
– Sao lại có tối hậu thư ấy?
– Chúng ta không phản đối gì Thụy Sĩ khi nào chỉ có chúng ta bay trên trời Thụy Sĩ thôi. Nhưng bây giờ phi cơ oanh tạc của địch cũng bay qua Thụy Sĩ. Như vậy là những thành phố sáng trưng đèn điện sẽ là những dấu hiệu rất tốt cho họ.
– Thế là hòn đảo ánh sáng cũng tắt nốt?
– Phải. Nhưng ít ra chúng ta cũng chắc chắn rằng hết chiến tranh có sang Thụy Sĩ thì nước này cũng không bị tàn phá. Nước Thụy Sĩ sẽ còn nguyền vẹn như trong những bức hình này. Nếu là hình chụp nước Ý, nước Pháp hay nước Anh thì khác.
– Nước Đức cũng vậy.
Họ lật từng trang cuốn sách.
– Núi. Bên Thụy Sĩ chỉ có núi thôi à, không có gì khác nữa?
– Có chứ, đây, em coi Thụy Sĩ về phía nước Ý.
– Locarno… Ở nơi đây đã họp một hội nghị về hòa bình, người ta quyết định không bao giờ gây ra chiến tranh nữa phải không anh?
– Hình như thế.
– Họp có lâu không?
– Không. Đây này, trông vùng Locarno, cây dừa nhà thờ, hồ Majeur, đảo mọc đầy hoa, chan hòa ánh sáng yên vui…
– Tên phành phố nhỏ này là gì?
– Porto Ronco.
– Được rồi.
Nàng vừa nói vừa nằm ngả ra.
– Chúng ta nhớ lấy tên thành phố ấy để sau đi chơi. Lúc này em chán ngán không muốn đi đâu cả.
Graber gập sách lại. Y ngắm khu rừng bạc một lát rồi vòng tay qua vai Elisabeth. Y cảm thấy sự có mặt của nàng như một luồng sinh khí nồng ấm, nhưng cái làm y thấy rõ hơn cả là gai thông lẫn dưới đám cỏ mềm ở dưới đất. Một đóa hoa hồng bên má chàng lớn dần, lớn mãi, che khắp chân trời, y nhắm mắt lại…
***
Gió đã yên, cái tối hấp tấp tràn đến. Một tiếng nổ lớn ở xa xa. Trong lúc thiu thiu ngủ Graber nghĩ thầm: “Sửa soan trọng pháo! Ta ở đâu đây? Ngoài mặt trận?” Sự hiện diện của Elisabeth bên mình làm y tỉnh cơn mê “Ở đây cũng có trọng pháo à? Có lẽ họ tập bắn?”.
Elisabeth trỗi dậy:
– Ở đâu thế? Họ ném hay họ bay đi?
– Không phải phi cơ.
Tiếng gầm lại nổi lên. Graber lắng tai nghe.
– Chẳng làm gì có bom với súng. Cơn mưa đấy.
– Mưa bây giờ thì hơi sớm.
– Mưa gió không theo luật lệ nào cả.
Những cái chớp thứ nhất bắt đầu xuất hiện. Chớp có vẻ rụt rè yếu ớt so với lửa sáng bom đạn của người tạo ra. Cả tiếng sấm cũng có vẻ hiền lành so với cuộc dội bom của phi cơ nhào xuống tấn công.
Những giọt mưa thứ nhất rơi xuống. Họ chạy qua khoảng rừng thưa đến nấp dưới cây to. Rồi tiếng mưa ào ào xối xuống lá như tiếng ồn ào của một đám đông vô hình. Dưới bóng răm cây cối, Graber trông thấy mấy sợi dây thiếc và nhôm trên cây rơi xuống vướng trên tóc người yêu, như một màng lưới trên đầu, chớp làm sáng lên coi rất kỳ dị.
Họ ra khỏi rừng đến núp trong một cái trạm, ở đây đã có nhiều người đứng trú mưa. Có một vài người lính mật vụ trẻ tuổi chú ý nhìn Elisabeth.
Phải đợi nửa giờ sau mới hết mưa.
– Bây giờ không biết mình ở phương nào, đi lối nào ra?
– Bên tay phải.
Họ đi qua đường, bước vào một lối đi có bóng mát. Một toán người đang làm việc, họ mặc đồng phục có rạch, đang đặt một ống dẫn nước.
Elisabeth bỗng chạy lại gần họ, nhìn từng người như để tìm ai. Graber nhìn thấy áo họ có số, chắc là người bị giam trong trại tập trung. Họ lặng lẽ làm lụng không hề trông lên. Đầu họ trông như đầu người chết, quần áo rộng thùng thình vì người họ chỉ còn da bọc xương.
– Làm gì thế? Cấm lại gần!
Elisabeth làm như không nghe tiếng. Nàng chỉ rảo bước đi nhưng vẫn cúi xuống nhìn những khuôn mặt hốc hác.
– Bà kia! Đến gần đấy làm gì? Điếc hả?
Người lính mật vụ vừa la vừa chạy lại, Graber hỏi:
– Cái gì thế?
– Cái gì à? Anh có điên không?
Graber thấy một người nữa hấp tấp chạy lại. Y không dám gọi Elisabeth vì biết rằng nàng không chịu đi. Y bảo người lính mật vụ:
– Chúng tôi kiếm vật đánh rớt.
– Cái gì? Kiếm cái gì?
– Đánh mất cái trâm, hình cái thuyền có nạm ngọc. Tối hôm qua đi qua đây. Chắc là rơi ở lối đi này. Ông có thấy chăng?
– Cái gì?
Graber lặp lại, y trông thấy Elisabeth đã xem mặt hết nửa toán người bị giam.
– Chúng tôi không thấy gì cả.
Người ấy trả lời. Người kia nói:
– Chỉ đặt chuyện, giấy má đâu?
Graber lẳng lặng nhìn anh ta, những muốn cho một cú đia-réc nằm đo ván. Có lẽ anh ta chưa đến hai mươi tuổi. Y nghĩ: “Cũng kiểu người như Steinbrenner, Heini”.
– Không những tôi có đủ giấy tờ mà tôi còn là bạn thân của cố vấn Hildebrandt. Anh có biết Hildebrandt là ai không?
Anh ta bật cười:
– Ai nữa? Cả Quốc trưởng nữa chắc?
– Không, tôi không nói Quốc trưởng.
Elisabeth đã đi hết khắp lượt. Graber thong thả ấy trong túi ra cuốn sổ gia đình.
– Đem đèn đến đây coi. Ông ấy vừa làm chứng việc hôn nhân của tôi ngày hôm nay. Như thế đủ chưa?
Anh ta cắm cúi xem tờ giấy. Người kia cũng ghé nhìn qua vai.
– Đúng chữ ký của ông Hildebrandt, tôi biết. Nhưng không được ở đây. Tôi rất tiếc ông mất cái trâm.
Elisabeth đi thong thả trở lại. Graber nới:
– Nếu đã cấm thì chúng tôi cũng không kiếm nữa, lệnh là lệnh.
Y muốn từ giã hai người, chạy đến với Elisabeth, nhưng một anh chạy theo và nói:
– May ra chúng tôi có thể tìm được, có thể làm cách nào để gửi cho ông?
– Ông cứ gửi cho ông Hildebrandt, giản dị lắm.
Anh ta kính cẩn vâng vâng dạ dạ và hỏi Elisabeth:
– Bà có tìm thấy không?
Nàng như mới tỉnh giấc mơ. Graber đỡ lời:
– Anh vừa nói với mấy ông đây về chuyện mất cái trâm tối hôm qua. Nếu họ tìm thấy họ sẽ gửi ông Hildebrandt.
Nàng ngơ ngác nói:
– Cám ơn!
Anh ta chăm chú nhìn mà rằng:
– Bà có thể tin chúng tôi, chúng tôi biết rõ thói phép trong hàng ngũ mật vụ.
Elisabeth liếc mắt nhìn toán tù nhân. Anh ta trông thấy vội thưa:
– Nếu thằng khốn nào đó mà bỏ túi thì liệu hồn, chúng tôi có cách làm cho họ phải nhả ra ngay!
Elisabeth rùng mình.
– Tôi không chắc là đánh rơi ở đây, có thể đánh rơi trong rừng. Có lẽ trong rừng thì đúng hơn.
Anh ta cười gằn.
– Không biết đâu mà nói được.
Graber đứng cạnh một cái đầu cạo nhẵn thín của một người đang gò lưng cúi sát đất. Y thọc tay vào túi áo lấy một gói thuốc lá để rớt xuống chân người tù, đoạn nói với anh ta:
– Cám ơn lắm. Ngày mai chúng tôi trở lại rừng, chắc là rớt ở trong rừng.
– Dạ không có chi. Hít Le muôn năm! Xin có lời mừng ông và bà dịp lễ cưới.
– Cám ơn.
***
Họ đi thong thả cho đến lúc không thấy những người bị giam giữ. Trời đã sáng sủa, từng đám mây dài lấp lánh màu xà cừ, nom như chim hồng hạc tung cánh bay.
– Bây giờ em mới biết em làm liều thật!
– Không sao, bây giờ ai cũng thảng thốt như thế cả. Sống trong cảnh liên miên hết nạn nọ đến nạn kia ai mà bình tĩnh được.
Nàng gật đầu.
– Câu chuyện cái trâm và ông Hildebrandt của anh khá đấy chứ. Anh nói láo một cách thần tình.
– Thế đây! Mấy năm gần đây dân ta chỉ học được có một ngón lòe bịp thế thôi. Thôi đi về đi. Bây giờ có giấy tờ hợp lệ để ở với em rồi. Anh đã bỏ trại lính, từ giã Binding để về nhà mình! Ngày mai sẽ xài một món xa xỉ là sáng dậy thật trễ để em lo liệu kiếm cơm cho cả nhà.
– Ngày mai em không đến xưởng, được phép nghỉ hai ngày để lấy chồng.
– Thế mà bây giờ mới nói!
– Em định đến mai mới nói để anh ngạc nhiên sung sướng.
Graber lắc đầu.
– Thôi em ạ, chúng ta không có thì giờ để hưởng cái ngạc nhiên sung sướng. Chúng ta cần hưởng ngay từng phút. Phải bắt đầu ngay từ bây giờ. Còn gì trong chạn để ăn không? Hay phải qua nhà Binding trước khi về nhà?
– Còn kha khá để ăn tối nay và sáng mai.
– Được rồi. Vậy sáng mai chúng ta được phép làm ồn ào trong bữa cơm sáng. Ta có thể hát hết các bài quân hành. Nếu mụ Lieser đưa bộ mặt khả ố ra chúng ta đưa cho mụ coi cuốn sổ gia đình mới tinh có chữ ký của ông Hildebrandt.
Nàng mỉm cười.
– Có lẽ mụ sẽ không nói gì cả. Hôm kia, mang gói đường sang cho em, bỗng dưng mụ nói rằng anh là người đứng đắn. Không biết sao mụ lại đổi thái độ như thế!
– Thật không ngờ. Có lẽ mình lại hối lộ mụ. Đó là điều thứ hai mà người ta dạy chúng ta trong khoảng mười năm gần đây.
Hồi chiều Edy và Rischar rủ tôi đi nhậu, hai đứa muốn giới thiệu tôi với vị linh mục bên In-đô mới qua thực tập trên hội quán. Khi xe bus của hội quán xuống cảng đón, trên xe thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đã ngồi chật ém. Chúng tôi lên sau phải chen mông mới ngồi lọt. Mùa hè hơn bảy giờ chiều trời vẫn còn nắng chói chang, nóng nực mồ hôi tươm như mỡ. Thấy không thoải mái, tôi nhảy xuống và kêu hai đứa đi trước, tôi thả tà tà lên sau. Đi bộ là thói quen của tôi, hơn nữa đi chơi phải thảnh thơi chớ có đâu ngồi ém như ém mắm.
Lúc nhỏ ở quê nhà tôi thường đi chùa, dạo đó tôi đọc được kinh Phật và vài ba cuốn sách thiền nhưng lãnh hội chẳng được bao nhiêu. Hồi mới nhập cảnh Hòa Lan, khai lý lịch lại, trong phần tôn giáo tôi điền đạo Phật. Từ đó trở đi ai hỏi tôi theo đạo nào, tôi không ngần ngại trả lời tôi theo đạo Phật. Sau khi làm thủy thủ tôi đi đó đi đây, thường lênh đênh trên biển khong chùa chiền, không kinh Phật. Bù lại ghé nhiều hải cảng, tôi gặp những người truyền giáo, các vị nầy có mặt khắp nơi, vừa giảng kinh vừa hướng dẫn và giúp đỡ thủy thủ những lúc gặp khó khăn. Nhờ họ mà tôi có kinh thánh, sách, báo tiếng Việt, mặc dầu sách rao giảng về nước thiên đàng, nhưng đã giúp tôi đỡ buồn trong những tháng ngày lênh đênh trên biển. Đọc riết rồi thắm, đoạn nào hay tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Có lẽ vì thấy tôi nghiền ngẫm kinh thánh nên hôm nay Edy và Rischar muốn rủ tôi lên hội quán ‘đàm đạo’ với vị linh mục của tụi nó chăng.
Tại tụi nó không để ý đó thôi, vì những người tôi thường gặp là những nhà truyền giáo do tổ chức của đạo Tinh Lành hoặc Thiên Chúa đưa ra. Những phòng truyền giáo (Seamen’s Mission) sinh hoạt rất lành mạnh; có thư viện chứa sách, báo và thánh kinh được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngoài ra còn có phòng điện thoại, phòng thể thao. Trong ba có bán bia nhưng không nặng độ. Những hải cảng lớn, có phòng ngủ dành cho thủy thủ lở chuyến tàu, hoặc trên đường về mà chưa tới chuyến bay.
Còn cái Hội Quán ở Hamburg, phải chi trên bảng hiệu đừng đề thêm chữ Mission và trước sân đừng treo cờ truyền đạo thì trông đỡ chướng mắt hơn. Ở những phòng truyền giáo người ta trang hoàng căn phòng nhỏ vừa đủ để cầu nguyện, trên tường treo thánh giá, hoặc tượng chúa Jêsus vừa sạch sẽ vừa tôn nghiêm. Còn ở đây họ dành ra hết một từng lầu. Trong căn phòng rộng được chia ra nhiều ngăn, mỗi ngăn dành cho một tôn giáo; bàn thờ Phật có lư hương, chuông và treo ảnh phật Thích Ca cạnh bên tượng phật bà Quan Âm. Ngăn dành cho đạo Hồi có bục quì và chiếc bàn vừa đủ để cuốn kinh Koran khổ lớn, dầy cộm. Bên góc trong treo tượng chúa Jêsus với quyển thánh kinh lật ngữa nằm trên kệ. Ngoài ba mối đạo lớn ra, còn có hình ảnh thần thánh khắp nơi được sưu tầm treo ngăn nắp trên một bức tường. Vì ít người lai vãng nên không khí trong phòng lạnh lẽo, ẩm uớt và phảng phất mùi mốc meo, thoạt nhìn thấy giống phòng triển lãm hơn là nơi thờ phượng.
Đi đây đi đó tiếp xúc với nhiều hạng người, chứng kiến những trò đời bịp bộm. Vì vậy đối với tôi ba cái chuyện mượn đạo tạo đời, buôn thần bán thánh không khác nào chuyện các cô gái bán dâm. Mấy năm nay đi đi lại lại cảng nầy, cũng thường ghé hội quán, nhưng tôi chẳng thấy vị linh mục hay ông cha nhà thờ nào léo hánh tới truyền đạo. Toàn một nhóm người bày biện bán buôn. Treo cờ truyền giáo, bán rượu, bia, bán tạp hoá…và có cả phụ nữ bán dâm. Tôi không hiểu mục sư từ In-đô bay qua đây học hỏi cái ‘đạo’ gì trên đó?
Tuy nhiên phải công nhận hội quán ở cảng Hamburg sinh hoạt rộng ràng, vui vẻ hơn những phòng truyền giáo. Khi tôi bước vào, thủy thủ đông nghẹt, mùi thuốc lá, bia rượu pha lẩn mùi dầu thơm con gái ngây ngấy. Lúc nào mấy anh Phi-luật-tân cũng rậm đám; tiệc tùng, ăn uống, nói năng ồn ào. Trên bàn của thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea đầy bia, rượu và thức ăn, cạnh mỗi anh một em gái Phi-luật-tân trẻ trung môi son, má phấn ngồi ăn uống rất tận tình, có em phì phèo thuốc lá. Các em nầy đến từ hộp đêm bên kia bờ sông Elbe, sinh hoạt thường ngày của các em trong những căn phòng đèn màu hồng của khu St. Pauli. Khi nào mấy anh thủy thủ không đủ thời gian qua chơi với các em, chỉ cần một cú điện thoại, thì các em sẵn sàng tới vui với các anh vài giờ. Nhìn các anh bày tiệc tại đây, tôi cũng đoán được chiếc Blue Sea sẽ khởi hành nội trong đêm nay.
Trong lúc tôi đứng ngó dáo dác tìm chổ nhập bọn, Edy tới đập lên vai tôi, tôi day lại, nó liền chỉ tay vô phía trong góc phòng:
– Anh vô trong kia kìa.
Tôi đi theo Edy tới chiếc bàn thấp trong góc, ghế ngồi là bộ sa-long bọc nhung, bia rượu đã sẵn và có mấy cô gái ngồi tiếp chuyện. Người đàn ông có gương mặt hiền hậu ngồi vắt chéo chưn, day người ra ngoài làm như không dính dáng gì trong bàn tiệc. Thấy tôi tới anh ta bỏ chưn xuống, đứng dậy bắt tay. Edy giới thiệu anh là mục sư và gả thanh niên bận đồ đen tay trái đeo đồng hồ dây mạ vàng, tay phải đeo chiếc lắc vàng và trên cổ dây chuyền cũng vàng tên Frank, trong tương lai Frank sẽ thành linh mục. Sau màn giới thiệu mục sư kéo ghế mời tôi ngồi cạnh ông. Edy ngồi ngồi xuống băng nệm cạnh Bilia, lani ngồi kế Rischar, Frank ngồi bên Erika và Erika ngồi kế tôi. Bilia và Lani người Phi Luật Tân hai người nhỏ thó, ốm tong ốm teo, Erika người Đức mập thù lù, mấy cô đóng đô trong hội quán nên tôi đã lờn mặt.
Erika day ngang nói với tôi:
-Từ ngày biết xếp tới nay, chưa bao giờ xếp mời tôi một ly bia.
Nếu tôi đoán không lầm, tuổi Erika khoảng trên bốn mươi, vì cô tô lên mặt lớp phấn dầy cộm nhưng không dấu được những nét nhăn hai bên khoé mắt, môi thoa son nhưng không còn bóng mộng, răng vàng khói thuốc và nụ cười luôn héo hắt. Khi nào cần những món cần thiết tôi nhờ cô mua dùm, hoặc nhờ láy xe đưa ra phố, được cái lúc nào cô cũng sẵn lòng. Kể ra tôi cũng không công bằng với Erika lắm. Trước kia cô có rủ tôi về nhà ngủ miễn phí, nhưng nghĩ tới cảnh tối nằm ôm cái đống thịt bủng xì bủng xịt, nặng gần cả tạ của cô ta, tức thì cái thằng đàn ông của tôi nó thụt mất tiêu như rùa rút cổ. Thật ra không phải tôi keo kiệt đến đổi không dám mời cô một ly rượu, ăn vài cây xúc xít. Ngặt một điều, cách mời của thủy thủ khác hơn những người thường. Mỗi khi nhập bọn mạnh thằng nào nấy mua bia, rượu để đống lên bàn, mỗi người tự lấy bia khui rồi giơ chai lên hô một tiếng, đồng lượt ngước cổ chổng chai tu. Tôi bưng chai lên:
– Vậy thì bây giờ tôi mời cô.
Thấy tôi cầm chai lên cụng với Erika, mấy người ngồi chung bàn cũng đưa chai lên ngang mài rồi hô lên một tiếng, ngữa cổ, chổng chai nốc bia ừng ực. Khi để ly xuống, Frank day qua hỏi tôi:
-Anh có đạo không?
Ngồi chỗ nầy khơi chuyện đạo tôi cảm thấy kỳ khôi, tôi nghĩ ra câu trả lời cho Frank đừng phăng vô chuyện đạo nữa:
– Có, tôi đạo Phật nhưng sống theo kinh thánh.
Nghe tôi trả phân hai, Frank không nói được thêm gì. Tôi day qua ông mục sư, hỏi:
– Qua đây ông thấy thế nào?
Ông đưa ngón tay cái ra gặt gặt:
– Tốt thôi.
-Như vầy ông thấy tốt sao?
-Sao lại không?
Tôi nghĩ ông chưa hiểu hết ý tôi, nên tôi khoa tay một vòng, lập lại câu hỏi:
-Truyền đạo như vầy ông thấy tốt sao?
Mục sư chưa kịp trả lời, thì Rischar chen vô:
-Nếu đi tới đâu cũng Chúa không thôi, chắc thủy thủ mỗi khi thèm đàn bà phải tự giải quyết lấy.
Nhìn cái điệu bộ của nó, ngã người vựa ra sau băng nệm, nắm nắm tay để ngang dạ bụng cong người lại làm dấu sụt vô sụt ra… Mấy cô ngồi cạnh bên cười ha hả. Tôi đương hớp bia cũng không nín được cười, làm bia tràn lên mũi sặc văng tùm lum, cái sặc của tôi làm mọi người im bặt. Bây giờ Frank mới nói:
-Nếu mầy thủ dâm thượng đế sẽ giết mầy.
Cái ông con chưa thành mục sư, mở miệng ra là muốn truyền đạo. Tự dưng Erika day qua tôi, cô đưa tay ra dấu cứa ngang cần cổ, nói:
– Vậy thì thượng đế sẽ giết xếp trước.
– Tại sao? Tôi hỏi:
– Hồi biết xếp tới giờ tôi chưa thấy xếp đi với ai hết. Nếu xếp không thủ dâm thì xếp sẽ làm gì mỗi khi thèm đàn bà?
Không đợi tôi trả lời, cô ta chộp tay vô giữa háng tôi bóp mạnh một cái, may nhờ cái quần Jean dầy ngăn cản bàn tay thô bạo cô ta, bằng không tôi bị dập dái như chơi. Ông mục sư ngồi ngó cái bầy chiên con của chúa cử chỉ lố lăng, thô bạo, nói năng tục tằng. Nhìn qua tôi, ông lắc đầu mĩm cười… hết ý!
Năm nay Âu châu tranh giải bóng đá. Bên phòng thể thao ghế xắp hàng ngang giống như rạp hát. Đặt biệt có gắn máy thu hình, màn ảnh được phóng đại chiếu lên chiếm gần hết bức tường. Những người ham mộ đá banh không thể bỏ qua, tới giờ họ ùa sang phòng bên theo giỏi trận đấu. Những người không khoái đá banh thì rút vô phòng coi phim con heo. Trong ba bây giờ lèo tèo vài mống ngồi trên hàng ghế cao cẳng trước quày rượu, vừa uống vừa trò chuyện với cô gái ốm nhôm ốm nhách đứng trong quày.
Bàn chúng tôi cũng kéo nhau coi đá banh, còn tôi với ông linh mục ngồi lại. Chúng tôi vừa uống rượu vừa trò chuyện. Mục sư cho tôi biết, ông sẽ qua hội quán bên Anh thực tập vào tuần tới, sau đó ông về In đô mở một hội quán ở Jakarta và một ở Batam đúng theo tiêu chuẩn Âu châu.
Nghe những dự tính của ông, tôi không thắc mắc nữa, mục sư cũng phải làm kinh tế mới có tiền nuôi vợ, nuôi con chớ. Tôi hỏi sang câu chuyện:
– Ông mở hội quán như vầy không bị chánh quyền In-Đô cấm sao?
-Không, không ai cấm hết, mình làm, mình đóng thuế đàng hoàng thôi.
Câu chuyện được chuyển sang tình hình xã hội ở In Đô. Chuyện Hồi giáo chơi xỏ đạo Tinh Lành; chuyện chánh quyền phần đông là Hồi Giáo, chuyện dân chúng In-Đô sống trong cảnh nghèo đói và chuyện tham nhũng, hối lộ khắp nơi….
Không khí trở nên náo động khi hai đội banh đá hết hiệp đầu. Bà con ùa ra, người mua bia, người đi toilet… Trong khi chờ trận đấu tiếp tục, họ xôn xao bàn tán chuyện đá banh. Có nhóm đánh cuộc, phe nào thua phải trả tiền bia, rượu. Còn thủy thủ đoàn bên chiếc Blue Sea sắp sửa khởi hành, các anh tụ ra bãi đậu xe. Sau khi anh tài xế hối thúc liên hồi mỗi anh ôm mỗi em hôn vội hôn vàng hôn tới tấp rồi mới chịu buôn ra. Cuộc chia tay vui như đốt pháo, khi xe lăng bánh tiếng hô rân giả từ và cả chục cánh tay đưa ra vẫy vẫy.
Trận banh kết thúc đã gần mười một giờ, đúng ra mười một giờ hội quán đóng cửa. Nhưng những hôm có đá banh họ mở cửa trể hơn thường ngày. Những đám đông lúc nào cũng vậy, khi sắp kết cuộc người ta bắt đầu rời rạc, kẽ lo mua sắm, người lo điện thoại…
Tôi trong toilet đi ra định tới từ giả bạn bè về tàu. Chợt thấy Frank đứng trước máy bán condom tự động treo trên tường cạnh chậu rửa tay, anh rút một hơi ba bao. Thấy tôi ra anh lắc lắc cái đầu cười gượng, nói:
-Mấy đứa trong nầy dơ lắm, phải cẩn thận mới yên tâm.
-Dĩ nhiên rồi.
Frank đem condom phát cho Edy và Rischar mỗi thằng một gói, còn một gói anh nhét túi quần. Nhìn Frank tôi nghĩ tới một điều này này, trong tương lai, thủy thủ tàu buôn ghé cảng Jakarta và Batam, lên hội quán sẽ thấy những mục sư được đào tạo bên Âu châu về nước vừa giảng đạo vừa bán bia, bán rượu và bán… condom.
Đêm vui chơi trên hội quán coi như tàn. Bilia và lani đêm nay chộp được Edy và Rischar, nên hai cô lẹ làng đứng dậy điện thoại gọi tắc xi. Erika biết phận ế ẩm của mình, cô đứng dậy dọn dẹp ly tách trên bàn. Tôi bắt tay từ giả ông mục sư và Frank rồi quay gót. Khi tôi bước ra cửa, xuyên qua ánh đèn trước sân, nước trên trời trúc xuống rào rào làm ướt đẩm cỏ cây hoa lá. Bổng nhiên trời mưa dầm dề như vầy thì làm sao tôi thả bộ xuống tàu được. Đành quay trở vô nhờ xe bus của hội quán, nhưng phải chờ vì chưa có chuyến xe.
Trong khi chờ đợi tôi kêu một ly bia và leo lên ngồi trên chiếc ghế cao cẳng trước quầy rượu. Nhân viên hội quán tắt hết đèn các phòng bên ngoài, chỉ trong ba còn đèn sáng. Ông mục sư theo những người hết phận sự ra xe về trước. Mấy cô gái Phi-luật-tân của các anh bên chiếc Blue Sea để lại vẫn còn ngồi tụm nhau bên chiếc bàn tròn, các cô nói cười dòn tan. Ngót hơn hai chục năm qua tôi thường tiếp xúc với dân Phi-luật-tân. Nhưng tôi không hiểu bằng cách nào mà các cô gái nầy có mặt khắp nơi trên thế giới. Đi tới đâu tôi cũng thấy hộp đêm của Phi-luật-tân. Lúc ra ngoài làm ăn các cô đi từng nhóm. Trai thủy thủ, gái giang hồ quấn quít với nhau mỗi khi găp mặt, cùng chia sẻ vui buồn và thụ hưởng những gì hiện có.
Trên bước lãng du, đôi khi tôi cũng có gặp vài cô gái Việt Nam làm trong những hộp đêm của người ngoại quốc. Nhưng khi tiếp chuyện, biết tôi là người đồng hương, các cô liền lánh đi đâu mất. Tôi không nghĩ các cô khi dể tôi không đủ tiền bao. Có lẽ vì tự ái dân tộc, nên gặp đồng hương các cô mặc cảm không dám hết mình với nghề nghiệp. Giữa thời buổi các thầy tu còn phải tìm đủ mọi cách moi tiền bá tánh. Trong khi đó các cô bán thân mình cho thiên hạ mua vui, thì lại sợ mang tai mang tiếng, làm ô danh nòi giống. Chụp giựt như mấy cô gái Phi luật tân kia có khi còn phải đói meo. Huống hồ các cô, mần ăn cái kiểu đó thì làm sao mà khá nổi.
– Chào ông!
Tôi day qua thấy người con gái Phi-luật-tân, tôi chào lại. Sẵn trớn cô ta bắt chuyện hỏi tôi là người nước nào. Tôi nói tôi người Viêt Nam. Cô chìa tay ra bắt và chỉ tay lên bắp tay nói Việt Nam và Phi-luật-tân giống nhau, ý cô ta nói màu da của tôi và cô giống nhau. Bây giờ tôi mới nhìn thẳng cô gái, mặt tròn trịa, hai má bầu bĩnh, đánh phớt lớp phấn mỏng màu hồng, môi son màu tim tím. Cô bận chiếc áo thung màu trắng cổ rộng, áo choàng cũng màu trắng và chiếc váy màu đen. Khi cô cười khoe hàm răng đều như hột bắp, trông duyên dáng quá chừng. Tôi chưa kịp mở lời tán tỉnh, cô ta đã cất tiếng hỏi tôi:
-Đêm nay ông đi với em. Ok.?
Cô vừa hỏi vừa giơ hai tay câu cổ tôi ghì mạnh, ưỡn lên cho phần trên cặp ngực phồng ra cổ áo, mùi dầu thơm ngào ngạt làm lòng tôi rạo rực. Tôi giơ tay bợ chiếc vú tròn, mềm mại và nắm vừa bàn tay. Hai tay cô gái vẫn bấu cổ, hai mắt tự tin nhìn thẳng mặt tôi, chờ câu trả lời.
Chậc! Mới hồi chiều trời trong vắt, chín mười giờ nắng vẫn còn vàng và đường đi khô ráo, không có dấu hiệu chuyển mưa. Đợi tôi sắp sửa ra về thì mưa như trúc nước, làm tôi phải trở vô hội quán. Rồi chợt nhiên xuất hiện một cô gái đẹp như thiên thần tới câu tôi cứng ngắc như vầy. Quả thật, nếu mọi chuyện trên cõi đời nầy đều do bàn tay của thượng đế sắp đặt, thì tôi cũng sẵn sàng chịu theo sự sắp xếp Ngài.
Tôi xin khoe với quý bạn là tôi vừa đi ăn phở về. Hàng ngày đã ăn cơm nhà, lâu lâu đổi món ăn bát phở, tôi chắc các bạn cũng thông cảm. Ở Little Saigon này muốn ăn phở ngon thì phải xếp hàng, nhất là đối với những tiệm phở có tiếng. Ở Việt Nam người ta nói XHCN là “xếp hàng cả ngày”, nhưng sang đây mới thấy Mỹ là “sư” xếp hàng. Ở các tiệm ăn, người ta không xếp hàng rồng rắn như ở chỗ trả tiền trong tiệm buôn hay ở các chỗ “fast food”, nhưng đứng ngồi lố nhố trông rất thiếu thẩm mỹ không khác gì mấy quầy vé số, có để cái radio trực tiếp các cuộc xổ số ở Saigon, khoảng sau năm 1980. Mấy hôm nay trời quá lạnh, khách ngại đứng ngoài trời, tràn cả vào trong tiệm, cạnh cả bàn của người đang ăn. Đang húp bát phở, nhìn lên thấy cái giây nịt bụng bằng da của một người, nhìn cao hơn nữa thì thấy có đôi mắt đang nhìn thẳng vào mặt mình, tự dưng đâm ra ngượng về cái mồm của mình đang nhai.
Hôm nay là một ngày thứ bảy, ngủ nướng, dậy trưa, đến tiệm phở đã một giờ chiều, nhưng còn thấy khách đứng chờ lố nhố bên ngoài rất đông. Đi một mình, vào ghi danh thì nhận ra mình được xếp hạng 16. Đang thất vọng muốn về, thì gặp một ông bạn già cũng đi ăn một mình, cho biết đứng đợi đã 45 phút, nhưng cũng sắp được “xướng danh” rồi. Từ khi đỗ xe cho đến khi được vào ngồi bàn, đã mất 45 phút. Từ khi được ngồi cho đến lúc bát phở được bưng ra, lâu hơn nửa giờ nữa. Tôi thấy một bà cụ ở bàn cạnh bên vào sau, cụ đang móc một cái nón len dang dở trên tay. Tôi mỉm cười với cụ và khen cụ có nhiều kinh nghiệm, cụ bà cười hiền nói với tôi:”Tuổi già vừa có kinh nghiệm, vừa thừa kiên nhẫn, ông ạ!” Tôi nghĩ ngày xưa, tôi phải đợi bao nhiêu năm mới được cái sướng đi Mỹ, bây giờ bốn mươi lăm phút hay một giờ để được cái khoái ăn một bát phở nóng cũng chẳng sao. Hai chúng tôi ăn bát phở xong, uống tách cà phê, nhưng không thấy nhà hàng đem nước trà ra, bèn gọi trà, nhưng biết ý nên hỏi: “Nước trà có tính tiền không?”
Nhà hàng cho biết: “Trà nóng $0.75.” Tôi nói với bạn là tôi vốn ghét cái lối tính tiền nước trà để móc túi thêm khách, thà tô phở tính thêm $0.50, khách không hề phàn nàn, nhưng tính tiền trà thì chỉ phát sinh ra ở một vài tiệm mới đây thôi. Người bạn tôi nói: “Không sao! Tôi có tiền đây! Thay vì mình bỏ tiền “tip” $2.00, bây giờ uống hai tách trà $1.50, còn lãi $0.50, sao mình không uống trà cho ấm bụng!”Anh ban tôi có lý. Không trả tiền nước trà, nhà hàng níu áo, nhưng không ai bắt buộc khách phải trả tiền “tip” khi ăn xong, xem như mình là người bên Sydney mới sang Cali lần đầu, chưa quen với phong thổ. (Úc không có thói quen cho tiền “tip”)
Miền Nam trước năm 1975, trong tiệm ăn không ai tính tiền nước trà. Khách vào tiệm, việc trước tiên là rót trà mời khách, sau đó mới hỏi khách đặt món ăn. Chúng ta đi, mang theo lối sống ấy. Ở Nam Cali, cách đây khoảng 10 năm, nhóm kịch trẻ “Cup O’ Noodle” đã “đùa” ông Tony Lâm lúc đó là chủ nhà hàng Viễn Đông, với cử chỉ và lời mời: “Mời trà! Nước trà đây!”Ai cũng biết là ông Lâm rất hiếu khách, khách vào tiệm, ông mời trà liên tục từ lúc vào cho đến lúc đứng dậy đi ra. Đó là văn hoá của những người tử tế. Chúng ta cũng biết trà ở các nhà hàng cho khách uống không phải là trà Thiết Quan Âm, Ô Long hay Kim Ngân Trà … mà là loại trà xổi bán kí lô, không đáng giá bao nhiêu đến phải tính tiền. Nhưng đến thời mà “không xin, không cho, chỉ bán,” phát sinh từ cái thời quái thai “bao cấp”thì người ta chủ trương kiếm được càng nhiều càng tốt, với suy nghĩ, ai vào ăn bát phở, tô bún mà để miệng … mỡ đi ra.
Từ ngày các tay tài phiệt trong nước bung ra làm ăn ở Mỹ, thì theo phong tục “ở ngoài ta”, nước trà bắt buộc phải tính tiền, không như người Việt, lâu nay không nói chuyện trà đã hoàn toàn miễn phí, mà khách ăn còn được mời chén chè hay ly nước mát để mời khách trở lại. Tô phở đắt thêm năm bảy chục xu, khách hàng ít khi lưu tâm miễn là phở ngon, nhưng du nhập lối tính tiền từ chút giá trụng, chén hành trần … có vẻ thiếu chút lòng hiếu khách. Ly trà là sự tử tế đón khách, sự giao tiếp đầu tiên. Chắc bạn còn nhớ ở các quán “cóc” Saigon”, năm ba ông khách ngồi uống cà phê buổi sáng, tán chuyện gẫu, ly cà phê đã cạn, nhưng bình trà vẫn được chủ châm đều, vui vẻ xem nhưng chuyện đương nhiên. Lửa trên bếp đang đỏ, ấm nước vẫn sôi đều, chốc chốc chủ quán lại châm nước vào bình trà, không tính toán đó là bình trà thứ mấy. Tôi đến Mỹ đã hai mươi năm, mà mãi đến gần đây mới thấy quán xá có nơi bắt đầu tính tiền trà, vậy là họ bắt đầu đuổi theo chúng ta đến nơi rồi.
Trong khi thiên hạ bàn chuyện quốc gia đại sự, tôi lại nói chuyện đi ăn phở, bàn chuyện ly trà, không đầu không đuôi, không biết có lẩm cẩm không? Vả lại, sáng nay đi ăn phở, tưởng vui, hoá ra mang thêm mấy chuyện bực mình. Từ nhà; lái xe đi về ăn tô phở, chờ đợi, xếp hàng tính ra mất hơn hai tiếng đồng hồ, quả là không bỏ công cho một tô phở, cũng gọi là ngon, nhưng không phải quá đỗi cần thiết đến phải bỏ công lao và thời gian như thế. Ăn phở phiền thật, sợ xương hầm nhiều cholesterol, sợ bột ngọt, thì thôi cứ “cơm nhà” cho xong. Thế mới biết tuổi già, răng yếu, cơm nhà thì thích nhão, mà giờ ra đường thấy phở sáng mắt cũng ngại ăn.
(Viết nhân buổi đi ăn tại một tiệm phở mới khai trương).
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.