





















Đặng Mỹ Dung
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi
Đặng Mỹ Dung
Chương 20
Nhà thờ Đức Bà ở Sài gòn là nơi tôi hay đến, tìm một nơi vắng lặng để suy nghĩ. Tôi không phải là một tín đồ Công giáo mà cũng không phải là một Phật tử. Tôi chẳng có một tín ngưỡng nào, trong khi hàng ngày phải đối diện với biết bao nhiêu thực tế phũ phàng, nào chiến tranh, nào chết chóc, luôn luôn ám ảnh mọi người, nên cũng không biết đặt niềm tin tôn giáo vào đâu. Dù không có một lòng tin như những tín đồ Thiên Chúa giáo, mỗi lần bước vô ngôi nhà thiêng liêng này, tôi bỗng cảm thấy an tâm rất nhiều. Nơi đây, tôi có thể nói ra và nghe được hết những gì chất chứa trong lòng tôi: những mong ước, tình thương yêu cho gia đình, cho đất nước.
Đôi khi tôi giận cả ông Trời, vì ông đã ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau thương, cực khổ của người dân Việt Nam. Thỉnh thoảng, tôi nhìn lên tượng Chúa Jesus trên cây thánh giá mà thầm khấn:
“Xin Chúa bảo vệ ba và anh Khôi con…”.
Không bao giờ tôi cầu xin Chúa cho hoà bình trở lại, hay đưa ba tôi về gia đình, vì ông ngoại tôi đã nhiều lần nhắc nhở: “Trời Đất hiền lành lắm, không có xía vô việc chánh trị vì chánh trị là tàn ác, lừa dối, xảo trá”.
Một chiều thứ sáu, tôi đến nhà thờ Đức Bà, thấy các con chiên ngoan đạo đang đứng sắp hàng chờ xưng tội. Tôi không có tội gì để xưng, mà chỉ muốn xin Chúa cho tôi có đủ can đảm và sức mạnh quyết định một việc có thể làm phật lòng má tôi và cả gia đình. Tôi biết tôi đã làm má tôi buồn lòng nhiều lần như hồi tôi còn đi học,. Vào những đêm trăng sáng chị Thuận về tôi lén chui khỏi mừng khi mọi người đã ngủ yên. Chúng tôi ra sân ngồi nói chuyện với con Mai Bắc Kỳ, con Lệ và thằng Tiểng ở cùng xóm, rồi còn bắc ghế cho Tiểng bẻ mận của nhà hàng xóm. Có lần Mai và tôi dám đổi ổi để lấy vú sữa trên bàn thờ của bà nội Tiểng. Nhưng đó chỉ là những chuyện con ranh nghịch ngợm, bỏ qua được. Bấy giờ là chuyện người lớn, chuyện làm ăn đàng hoàng.
Từ ngày lên Sài gòn, tôi thấy cuộc sống thành thị khó khăn hơn sức của tôi. Thành đô náo nhiệt, ồn quá, tôi không chịu được, nên muốn trở về Cần Thơ để đi làm cho Phòng V. Chị tôi đã xin cho tôi vào làm nhà in Đông Nam Á, lương thấp không đủ chung phần với các chị trong “công ty” của gia đình. Đã vậy, tôi lại không thích làm việc dưới quyền ông già quan liêu, khó tánh. Sau nhiều lần tìm việc khác không được, tôi đã ngỏ ý muốn trở về Cần Thơ, nhưng má tôi không yên tâm cho tôi ra khỏi nhà một mình. Tôi năn nỉ:
“Cần Thơ là đất của mình; nếu ở đó không yên, thì còn chỗ nào yên ổn hơn được?”.
Hai chị tôi hậm hực cho biết, nếu tôi trở về Cần Thơ là phụ lòng hai chị. Nhưng nếu vì hai chị mà tôi ở lại Sài gòn, thì tôi sẽ sống trong buồn bực, và lúc nào cũng bị mặc cảm, vì làm lương không đủ phụ với gia đình. Tôi quen sống nơi tỉnh nhỏ không ồn ào náo nhiệt, không thích ứng được với đời sống nơi đô thị ồn ào, chụp giựt. Thế nào tôi cũng phải trở lại Cần Thơ. Dù sao tôi hiểu rõ Cần Thơ hơn Sài gòn. Đời sống ở Sài gòn có muôn hình vạn trạng. Kể giầu người nghèo quá chênh lệch. Có những nhà sang trọng, cao chót vót. Trong khi đó, không thiếu những cái chòi cất tạm của những người nghèo từ dưới tỉnh chạy loạn lên. Dân Sài gòn ăn hối lộ như cơm bữa. Kiếm được việc phải mất tháng lương đầu tiên cho người giới thiệu … Biết không thể sống được ở cái đất Sài gòn đây dối trá, lưu manh, tôi quyết định trở về Cần Thơ, rồi mỗi tháng lãnh lương, sẽ gởi về cho gia đình. Tôi đã sống nhiều năm bên má để giúp đỡ má phần nào, bây giờ tới phiền hai chị tôi lo cho má.
Tôi rời nhà thờ Đức Bà, ghé mua hai chục hột vịt lộn đem về nhà “ăn lấy hên”. Trong bữa cơm, tôi nói với má và hai chị:
“Hồi chiều, đi làm về, con tới nhà thờ Đức Bà…”.
Mới nghe tới đây, hai chị tôi mắt sáng lên, vì tưởng tôi nghe lời hai chị mà vô đạo. Tôi mỉm cười nói tiếp:
“Con hỏi Chúa về quyết định của con và Chúa đã phán ‘Con cứ làm theo ý muốn của con.’ Vì vậy, con sẽ trở về Cần Thơ”.
Má và các chị đều giữ im lặng trước giọng nói cương quyết của tôi. Mấy ngày sau đó, má tôi đi chợ mua thức ăn để làm một bữa cơm tiễn đưa tôi. Hôm ấy có đủ mặt chị em trong nhà, nhưng thiếu tiếng cười, tiếng giỡn của mọi người.
Hôm tôi chia tay với mọi người, con chó của Hải Vân bỗng tru lên, khiến ai cũng ngạc nhiên.
Về đến Cần Thơ, tôi gặp may mắn liền, vì được đại uý Chánh cho tôi trở lại làm việc ở Phòng V. Sợ ông đổi ý, sáng hôm sau, tôi đi làm liền. Nhưng tôi lại gặp khó khăn trong việc tìm chỗ ở. Má muốn tôi ở nhà chị Yến và chị Hồng Nga trên đường Ngô Quyền. Tôi không muốn ở đó, vì tôi biết chị Hồng Nga là Việt Cộng. Chị là con gái thứ ba của cậu Tư. Người yêu của chị là anh Tảo, cũng là một cán bộ Việt Cộng, chết cách đây 5 năm. Chị không nghĩ đến chuyện chồng con nữa, mà dành hết cuộc đời cho tổ chức. Trong gia đình tôi, chị em bà con rất thương yêu nhau nên tôi biết chị Hồng Nga sẵn sàng cho tôi ở với chị. Các chị không từ bỏ đứa em nào, dù cho đứa đó không theo Việt Cộng mà còn đi làm việc cho Quốc gia. Tình máu mủ trước sau như một. Chỉ có dì Bảy là người không tha thứ, không chấp nhận đứa cháu nào từ chối phục vụ cho Mặt Trận. Hồi tôi còn nhỏ, chị Hồng Nga đã dạy tôi thêu thùa, làm thủ công, khi tôi học lớp nữ công gia chánh ở trường Đoàn Thị Điểm. Nhưng làm sao tôi có thể ở với chị được, khi tôi làm việc cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, còn chị “Chống Mỹ cứu nước”.
Lúc còn đi học, Mai Bắc Kỳ và tôi bị bạn bè trong lớp đặt tên “Trưởng ban lục lạo”. Các thầy cô mới từ Sài gòn hay tỉnh khác đổi về muốn tìm nhà trọ, đều phải nhờ hai đứa tôi. Ngay đến các sĩ quan, hay lính tráng cũng vậy. Bây giờ trở về Cần Thơ, tôi nhớ ngay tới một nhà trọ ở gần sân banh. Mới đầu, bà vợ không nhận cho tôi ở trọ, viện cớ bà chỉ cho mấy ông sĩ quan thuê thôi; “nam nữ thọ thọ bất thân”. Bà Năm suy nghĩ như vậy, nhưng tôi hứa sẽ khoá cửa kỹ lưỡng, sẽ nhìn trước ngó sau trước khi vào phòng của tôi. Vả lại, tôi chỉ là đứa con nít, ai mà để ý. Con gái của bà Năm nói: “Em ơi, em chưa biết mấy ông đàn ông xa nhà”. Nhưng chị thuyết phục ba má chị cho tôi ở, rồi biểu hết nhà trông chừng giùm tôi.
Bà Năm chủ nhà trọ trạc ngoài 60, tướng cao ráo, có dáng đi thong thả, phong luu. Bà mang kiếng gọng đen, tóc muối tiêu. Tiếng cười của bà trong vắt và trẻ trung như tiếng cười của một người con gái. Bà ăn trầu, nhổ nước cốt trầu vào một cái ống nhổ bằng đồng. Ông Năm hơi thấp hơn bà một chút, và lớn hơn bà Năm ba tuổi. Ông mạnh khoẻ, tráng kiện; mỗi bước đi của ông chắc nịch, đi như có mục đích. Ông Năm hút thuốc liền tay. Lúc bận sửa xe, ông để điếu thuốc ở gần, thỉnh thoảng ngưng tay, kéo một hai dài, rồi nheo mắt tận hưởng khói thuốc.
Gia đình ông bà Năm ở trong một nhà Tây lớn, có garage sửa xe. Những căn cho thuê, là nhà cao cẳng mới cất thêm ở phía sau. Dưới những căn nhà này có vườn rau, và sân sau có cả mấy chục sợi dây phơi quần áo. Bà Năm chỉ cho tôi nhà tắm của người ở trọ, nhưng chị Hai con gái của bà kêu tôi đừng xài những nhà tắm đó, mà xài nhà tắm của gia đình. Chị chỉ cho tôi chỗ giặt quần áo và cái bếp khổng lồ. Tôi có thể hình dung ra được cảnh tấp nập vào buổi chiều. Cái bếp đó làm cơm cho hai chục người, gồm mười bốn dân ở trọ và sáu người của gia đình ông bà Năm. Ở chung với ông bà có vợ chồng người con gái, người rể và hai đứa cháu ngoại.
Bà Năm cho tôi ở căn phòng ngay đầu cầu thang, bà cho biết không ai chịu ở phòng này, vì người ta đi lên đi xuống đều đi ngang qua đó. Bà lại nói như để an ủi tôi:
“Phòng này “chắc ăn nhứt” vì ở ngay phía ngoài, không ai dám chọc ghẹo con”.
Nhưng bà đâu biết, tôi tuy là gái Cần Thơ mà cũng dữ như sư tử Hà Đông; ai mà dám chọc ghẹo tôi. Phòng tôi nhỏ xíu, vuông vắn chừng 4 thước; cửa sổ nhìn xuống vườn rau. Giường nằm nhỏ như cái băng-ca, thể nào cũng có đêm tôi sẽ lọt xuống sàn nhà. Cái bàn viết chân cao chân thấp rung rinh. Cái tủ để quần áo cao hơn đầu tôi, nên tôi chỉ dùng hai ngăn dưới cùng. Tôi miễn cưỡng nhận căn phòng này làm nhà.
Tôi ngả lưng xuống chiếc “băng ca”, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi chị làm bếp gõ cửa cho hay đã tới giờ cơm chiều. Tỉnh dậy, trong khoảnh khắc tôi không biết mình đang ở đâu.
Người Mỹ có câu danh ngôn: “You can’t go home again”. Câu này thật đúng cho hoàn cảnh tôi lúc này. Tôi trở lại Cần Thơ trong buồn bã, trơ trọi, vì bạn bè đã đi hết. Thằng Tiểng đi lính. Hai người em bà con của tôi là Hàn Quang Truyền và Hàn Quang Thoạt, lên Sài gòn làm việc cho nhà thương Cơ Đốc. Lê Thị Bạch Tuyết lấy chồng Không quân, cũng đã lên Sài gòn rồi.
Cô giáo Thái Lan được đổi về Sài gòn, nên cả gia đình con Mai Bắc kỳ cũng dọn đi luôn. Chị Thuận về làm dâu nhà Huỳnh Võ. Chị lấy Thanh, con trai thứ năm của gia đình này. Bây giờ tôi phải kêu “thằng nhỏ” này bằng anh rể. Thế là “thằng nhỏ” lên “chức”, có phước lấy được chị tôi rất hiền lành, chung thuỷ. Chỉ có một điều là cộng sản luôn luôn có thành kiến với thành phần tư sản, nên dì Bảy của tôi không chấp nhận cuộc hôn nhân này. Ngày chị tôi về nhà chồng không có xe hoa, không có cả bà con hai họ.
Tôi rất buồn, khi trở về Cần Thơ mới biết tin này, vì sau ngày vu quy, chị bị dì Bảy ruồng bỏ, chị Thảo của chị muốn gặp em thì lén lút dì Bảy. Lúc mới về, tôi cũng không biết chị ở đâu. Còn chị Thảo, chị của chị Thuận, lại quyết tâm theo gót cha, đem hết tuổi thanh xuân dâng cho cách mạng.
Hồi đi học, tôi nuôi mộng trở thành một tráng sĩ, hoặc một nhà văn. Còn mong ước của chị Thuận rất khiêm nhường và giản dị. Chị chỉ muốn làm một người vợ hiền, một người mẹ hết lòng vì con. Hồi còn đi học, chị hay giành ủi những cái áo cưới màu hồng, mầu đỏ trong tiệm may của má, rồi chị mơ ước ngày đám cưới của chị, má tôi sẽ là người may áo cưới. Nhưng rồi Việt Cộng làm tan vỡ mộng ước của người con gái mồ côi cả cha lẫn mẹ này.
Nằm trong căn phòng nhỏ xíu, yên lặng, tôi nghe tiếng con thằn lằn chắc lưỡi. Tôi ghét thằn lằn cũng vì cái tiếng chắc lưỡi thở than buồn đứt ruột của nó, lại thêm những cục cứt tí tẹo, đen thùi mà nó rải vung vãi trên giường. Tôi lấy sợi dây thun bắn lên trần nhà, con thằn lằn rớt xuống đất một cái “độp”. Tôi không dám nhìn kỹ nó, chỉ lấy miếng giấy túm nó liệng ra cửa sổ.
Chiều thứ sáu, nằm một mình ở đây, tôi nhớ gia đình trên Sài gòn, Nhà tôi ở trên lầu, cạnh rạp hát Kim Châu trên đường Nguyễn Văn Sâm. Chắc giờ này má và Minh Tâm ra đứng ngoài balcon nhìn xuống đường xem người đi coi hát qua lại dập dìu.
Từ ngày ba tôi đi tập kết, má tôi khép mình không tiệc tùng, không ăn tiệc cưới, không đi coi hát. Má chỉ ở nhà chờ ba về, nên khi ở Sài gòn, má tôi hay đứng ngoài balcon nhìn người đi kẻ lại má cùng đủ vui rồi. Chắc giờ này, hai chị của tôi đi chơi với bạn trai. Tôi không biết Hoà Bình đang làm gì, nhưng tôi biết Hải Vân đang tập tạ. Tôi biết em lúc nào cũng mơ ước hai việc: học giỏi và có một thân mình tráng kiện. Nhà không nhiều tiền, nhưng Hải Vân được đi học Nhu đạo, được đi học vẽ. Vào buổi chiều thứ sáu quạnh hiu này, tôi cũng nhớ đến ba và anh Khôi. Nhưng tôi không hình dung được cái thế giới xa vời, sâu thẳm đó. Chúng tôi không những cách nhau vì con sông Bến Hải, mà còn khác biệt cả về tư tưởng lẫn đời sống. Có một điều tôi biết rõ về ba tôi: ông là một người yêu nước thương nòi, và lãng mạn. Lòng chung thuỷ của ông với má tôi không thua lòng trung thành của ông với Hồ Chí Minh. Ba tôi chưa bao giờ ra lịnh hay khuyên nhủ con cái làm điều gì, nhưng ông lúc nào cũng nêu gương sáng của một người đàn ông yêu nước. Ông quyến rũ không biết bao nhiêu thanh thiếu niên đi vào con đường của xã hội chủ nghĩa. Có lần tôi đến thăm bác Chín của tôi, người anh cùng cha khác mẹ của ba tôi. Trên giường bịnh, bác Chín cho tôi cho biết con nhà họ Đặng chúng tôi ai cũng yêu quê hương xứ sở, và tha thiết với gia đình. Anh em nhà họ Đặng khắng khít yêu thương nhau. Bác cũng cho rằng bác yêu và quý người “em Việt Minh” của bác lắm. Tuy nhiên, bác không chấp nhận sự lựa chọn của người em yêu quý này, sau khi em bác theo Cộng sản. Rồi bác nắm tay tôi và khuyên: “Bác không biết con theo bên nào, những con phải để tình phụ tử trên hết. Có như vậy, con mới nhận thức được sự khác biệt rắc rối trong gia tộc của mình”.
Một buổi trưa thứ Bảy, năm tháng sau ngày đến ở trọ nhà ông bà Năm, tôi ra sân sau phơi quần áo, bất ngờ thấy bà Năm nằm bất tỉnh dưới đất. Lúc đó ông Năm đi vắng, chị Tư nấu cơm vừa mới đi ra chợ Tham Tướng. Vì là ngày thứ Bảy, nhà vắng vẻ, các ông sĩ quan ở trọ đều về Sài gòn thăm gia đình, chỉ còn lại bà Năm và tôi. Có muốn cầu cứu cũng chẳng kêu ai lúc này, tôi đành luồn tay ôm lấy bà, bồng thẳng ra đường. Rất may là bên đường, dưới bóng cây xơ-ri, một ông già ngồi ngủ trên chiếc xe lôi. Đến lúc đó, tôi bỗng thấm mệt và mỏi tay, đành phải đặt bà Năm xuống, rồi kêu xe lôi inh ỏi. Ông già lái xe ôm tỉnh giấc, vội chạy về phía chúng tôi, ông giúp tôi bồng bà Năm lên xe.
Bà Năm bị đứt gân máu. Kết quả là bà bị bán thân bất toại và bị á khẩu. Không có bà quản lý, ông Năm quyết định định đóng cửa nhà trọ. Nhưng ông và con của ông vẫn muốn tôi ở lại. Họ coi tôi như người ơn của gia đình, nên không nhận tiền cơm tháng cũng như tiền trọ. Tôi cảm thấy áy náy không yên, về phòng ngồi và nghĩ miên man, chợt nhớ tới má tôi. Tánh đặc biệt của má, là không làm phiền hay nhờ vả ai. Người thích tự lập và rất sòng phẳng. Nếu mà biết tôi ăn và ở nhà ông bà Năm mà khỏi trả tiền, bà không bằng lòng. Tôi xuống nhà gặp ông Năm để cảm ơn và từ chối lời đề nghị của ông.
Nhưng tạm thời tôi vẫn ở đó, chờ tìm một nơi trọ khác. Mỗi chiều đi làm về, tôi vào thăm bà Năm. Tôi có cảm tưởng như bà vẫn chờ. Tôi thầm tự hỏi, không biết bà chờ đợi cái gì? Chờ đợi một phép lạ làm cho cơ thể bà phục hồi như xưa? Hay bà chờ đợi tử thần đưa bà đi, để bà thoát khỏi cái kiếp tàn phế buồn tủi. Đôi lúc tôi lại tự hỏi, nếu trưa thứ bảy ấy tôi không ra phải phơi quần áo ở sân sau, bà Năm có chết không? Cuộc đời của một con người sao mong manh quá! Bà đã gục ngã khi không có một người ruột thịt nào ở gần. Rồi tôi nghĩ đến má tôi. Người cũng đã lớn tuổi, đau ốm bất thường. Tôi nhớ tới cái đêm má tôi đau phải vô nhà thương Cần Thơ. Bất cứ lúc nào má cũng có thể bị lại. Rủi chị tôi không có nhà, em tôi đi học… thì ai sẽ lo cho má đây. Những cái “rủi” ấy làm tôi lo sợ. Thế là tôi quyết định trở về sống bên má.
Hôm sau, tôi cho Phòng V biết trước một tháng, là tôi lên Sài gòn. Tôi nói cho ông Năm biết tại sao tôi về Sài gòn.
Ông Năm cảm thông mà nói:
“Con đi thì ông nhớ; con về ở với má con là phải”.
Rồi tới ngày tôi thu xếp để về với gia đình ở Sài gòn. Một buổi tối, tôi bỗng có linh cảm rằng tôi sẽ không bao giờ trở lại Cần Thơ nữa. Tôi không giải thích được tại sao tôi lại có linh cảm như vậy. Nếu không trở lại Cần Thơ, chắc tôi cũng vĩnh viễn phải xa Bang Thạch. Suốt đêm hôm đó, tôi trằn trọc, bồi hồi nhớ mảnh vườn của ông bà ngoại tôi.
Tôi phải về Bang Thạch một lần nữa, trước khi lên Sài gòn với gia đình. Rủi mai này xa cách ngàn trùng, tôi cũng còn giữ được những kỷ niệm ấm áp của quê cha đất tổ trong tâm hồn. Tôi phải về thăm mả của ông bà ngoại, của cậu Năm Sắc, cậu Út Thế. Sẽ phải leo lên cây ổi gần mả của bà Mười một lần nữa coi có còn bị ma chó cắn không? Lần nào treo lên cây ổi đó cũng bị ma chó cắn bầm hai cái đùi; cả trăm lần như vậy. Tôi không tin cộng sản có thể bắt hồn tôi được, nhưng tôi lại tin có ma chó cắn chân tôi.
Sau khi chia tay với các nhân viên Phòng V, tôi lên đường đi Bang Thạch bằng xe đò. Đến bót 18, tôi xuống xe. Cảnh quen thuộc đầu tiên mà tôi gặp, là cây cầu ván dẫn vô chợ Bang Thạch. Cái chợ quen thuộc trong trí nhớ. Hồi nhỏ, mỗi lần về thăm bà ngoại, chị em chúng tôi đều chơi trò của tôi. Tôi bắt chị Thuận hay chị Thảo lấy khăn bịt mắt tôi lại trước khi bước lên cầu. Rồi chị nắm tay tôi dẫn đi trong chợ. Tôi nghe được những tiếng nói, mùi hương quen thuộc. Trong chợ có ba tiệm hàng xén, nhưng tiệm của ông Sáu Èm có mùi đường thẻ nặc nồng, và mùi cá mặn nghe mà chảy nước miếng. Hai tiệm kia thì cá mặn để phía trong, đi ngang không nghe mùi cá. Chị Thảo dẫn tôi tới một ngôi nhà mà tôi nhận ra ngay, vì sờ vô vách, tay liền đụng mấy lỗ mắt cao; đó là Nhà Việc, nơi cậu Hai Trứ làm xã trưởng. Chị Thảo bắt tôi mở khăn ra, rồi cả đám con nít vô Nhà Việc chào cậu Hai.
Tôi ghé qua tiệm ông Sáu Èm mua gói đường cát cho dì Bảy. Có mấy người trong tiệm nhận ra tôi là con gái cô Tám Phàm. Ai cũng đon đả hỏi thăm sức khoẻ má tôi. Ông Sáu Èm chờ khách hàng ra khỏi tiệm mới hạ giọng hỏi nhỏ: “Có tin gì của ba không cháu?”. Câu trả lời của tôi làm ông chau mày thất vọng.
Khi vừa bước khỏi chợ Bang Thạch, tôi có cảm tưởng như nửa khung trời vừa sụp đổ trước tôi. Cây cầu ván bắc từ chợ qua đồn 18 không còn nữa. Bây giờ chỉ có cây cầu khỉ lắc lơ với ba khúc tre nối đuôi nhau làm tay vịn. Cái đồn kiên cố đã bị đập vỡ tan tành, không còn người lính gác cầu, gác chợ như trước kia. Tôi nín thở đi qua cây cầu khỉ. Bên dưới nước ròng, nên tôi không thấy được bóng tôi, vừa đi vừa sợ té xuống sình. Hai bên đường đất trước kia cây cối xanh tươi, bây giờ cây khô trụi lá, cỏ mầu vàng. Chiến tranh đã lan rộng khắp nước, nhưng có bao giờ người ở thành phố biết được chiến tranh đã tàn phá xóm làng của mình như thế nào không?
Trời ơi! Bang Thạch trong điêu tàn khiến lòng tôi tan nát. Còn đâu những vườn trái cây xanh mướt, ngọt ngào! Bang Thạch của thời thơ ấu nay còn đâu.
Đặng Mỹ Dung
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi
Đặng Mỹ Dung
Chương 19
Chị Kim, chị Cương ở lại Cần Thơ một tuần để săn sóc má. Hai chị tôi biết má đang ở trong tình cảnh đơn chiếc, nhưng má lại muốn các chị lên Sài gòn làm việc để lo cho tương lai, hơn là ở với má; má không muốn hai chị nối nghiệp nghề thợ may của má. Hai chị về ở lâu mới hiểu rõ cuộc sinh hoạt của gia đình, thấy tận mắt má cực khổ, gian lao như thế nào, để trông nom tiệm may và lớp dạy may. Má giao cho tôi việc tìm thêm học trò, giao hàng, lấy hàng và cung cấp kim chỉ, vải vóc, dụng cụ cho tiệm may…
Trong một buổi cơm vào ngày Chúa Nhựt, ngày mà học trò của má về quê thăm nhà, hai chị tôi bàn với má, là cả nhà dọn lên Sài gòn. Ba chị em đi làm, tiền lương cộng lại, tài chánh sẽ rộng rãi hơn;, má nên nghỉ nghề may. Suốt ngày hôm đó, mọi người đều nói đến “lên Sài gòn” nhiều lần.
Lòng tôi náo nức không yên khi nghĩ đến chuyện bỏ Cần Thơ lên ở hẳn trên Sài gòn. Dù cho chuyện đó là chuyện rất hay, nên làm, để má tôi được nghỉ ngơi, nhưng tôi vẫn quyến luyến Cần Thơ, nơi chôn nhau cắt rún. Tôi vẫn nghĩ rằng Cần Thơ là của tôi hay ngược lại, tôi là của Cần Thơ. Đã vậy, tôi đang có việc làm mà tôi yêu thích đến độ thỉnh thoảng lại tự hỏi đây là thệt hay mộng?. Việc làm rất vừa ý tôi; lương lại cao hơn một cô giáo. Phải công nhận rằng tôi đã được người Quốc Gia tin tưởng, điều mà tôi mong mỏi, cố gắng để đạt được trong xã hội nầy. Không phải vì đồng lương không, mà nó là một sự lựa chọn lý tưởng, để bà con của tôi biết, tôi chọn đứng về phía Quốc Gia. Nhưng nghĩ đi thì như vậy, nghĩ lại thì một mình tôi và lý tưởng không đủ để gánh vác nổi gia đình. Không lẽ để má tôi vất vả cực nhọc hoài. Cả nhà bàn đi tán lại mà chưa đi đến một quyết định nào. Má tôi hứa với hai chị là sẽ suy nghĩ kỹ.
Ông bà không còn, về thăm lăng mộ ông bà cũng không dám về vì tối thì Việt Cộng chiếm, sáng thì Quốc Gia đi bố; má tôi thôi buồn nên má tôi quyết định dọn lên Sài gòn ở với hai chị.
Trước khi từ biệt nơi chôn nhau cắt rún, tôi đi qua tất cả những con đường của Cần Thơ để nhìn nó lần cuối. Tôi cũng muốn về thăm mộ ông bà ngoại, để hưởng lại chút hơi ấm từ mảnh vườn đã nuôi sống má và chị em tôi khi chúng tôi mới từ trong bưng biền trở về vùng quốc gia. Nhưng dì Bảy đã cấm không cho tôi về, khi dì biết tôi làm cho Phòng V Quân Đoàn IV và đã hiến máu cho một thương binh quốc gia.
Hồi mới về Bang Thạch với ông bà ngoại, mỗi lần nhớ ba và anh Khôi, tôi lại nhắc tới những vùng đã sống trong bưng biền như: Ong Vèo, Ba Ngọn, Kim Qui, Cảng Chú Hàng… Thấy tôi nhắc hoài tới những địa danh đó, ông ngoại tôi khuyên tôi không nên sống trong dĩ vãng, mà hãy để dĩ vãng sống trong lòng mình. Sau này tôi mới hiểu lời khuyên đó. Nhờ vậy mà tôi thấy mình may mắn; tôi nhớ chuyện đã qua, nhưng không tiếc nuối những gì đã đánh mất trong đời. Tôi nghĩ mình không có mất cái gì hết, ngược lại, dĩ vãng đó làm cho đời sống của mình thêm phong phú.
Tôi gặp đám bạn trước khi chia tay. Họ tặng tôi một món quà trong hộp thiếc bọc giấy đỏ. Bạn tôi ai cũng biết tôi thích màu đỏ. Tôi thích mặc áo mầu đỏ; tập vở phải có bìa đỏ; ngay cả thước trong cặp tôi cũng sơn màu đỏ. Họ trêu tôi là “Việt Cộng” vì màu đỏ, nhưng họ biết ý nghĩa màu đỏ của tôi. Sở dĩ tôi thích mặc áo mầu đỏ là vì tôi tưởng niệm mấy người bạn trai cùng trường chết trận. Rồi từ đó, mầu đỏ đối với tôi có ý nghĩa những giòng máu chảy trên quê hương của người lính Việt Nam Cộng hoà.
Về nhà, tôi mở hộp thiếc, mới biết các bạn tôi tặng tôi hộp đất lấy ở liếp vườn bông mà hồi học đệ thất chúng tôi vun xới.
Hồ Đình Nghiêm
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Bệnh đàn ông
Hồ Đình Nghiêm
Lệ Hoa biểu anh cởi quần. Quần tụt xuống lưng chừng ở đầu gối, vướng víu. Ô hay, cởi tuốt luốt luôn cả quần lót nữa chứ lị. Giọng sắc, đầy quyền uy, vang vọng trong bốn bức tường nhỏ. Mức độ gây nhiễu sóng phải vượt khỏi 80 decibel, nó át đi tiếng còi xe cứu thương hay xe cứu hoả vừa ré kêu vừa chạy vụt ngang bên ngoài toà cao ốc.
Mang vào tay đôi găng cao su mỏng manh, người sở hữu cái tên nghe như của một đào hát đẩy anh nằm sấp xuống tấm nệm nhỏ có trải tờ giấy trắng nhăn nhàu, sột soạt. Đó không hẳn là chiếc giường thông thường, nó lạ mặt trông như miếng đệm mà ở nhà bạn lôi nó ra dùng để ủi áo quần. Trước khi “ủi” anh, Lệ Hoa dùng đầu gối của bà để banh hai chân anh mở rộng ra. Bà mặc chiếc váy ngắn và qua xúc giác, anh cảm nhận rằng da thịt bà rất mát, mát hơn cả ống kem bà vừa nhặt lấy để bôi chất nhớt nhát rít ráy kia vào mông anh. Với chút thô bạo, có thể nói vậy, chẳng từ tốn chút nào, bà đã thọc một hoặc hai ngón tay vào hậu môn. Cơn đau thốn như đâm lên tới tận ngực bởi sự thăm thú kỳ lạ ấy. Hình như khi đi ở tù, ma mới sẽ được ma cũ tiếp đón nồng hậu bằng phương cách nọ. Trên bầu trời mênh mông người ta luôn sợ hãi một cái lỗ đen bất thần hiện ra, nhưng những cái lỗ đen nhỏ nhít khác luôn có sức quyến rũ, dằn vặt người ta, ám ảnh và xúi đầu óc mụ mị tìm đủ mọi cách để xâm phạm lấy, chiếm đoạt nó. Ở 63 tỉnh thành của xứ sở này hằng ngày vẫn có đôi ba kẻ hăm hở đi ở tù vì can tội hãm hiếp. Đàn bà cũng song hành vào bóc lịch vì căm hận, lỡ xuống tay thiến đi cái bu-gi từng gây máu lửa kia. Không có lửa làm sao có khói? Người ta rầu rỉ tự biện hộ.
Khói lửa đến với anh khoảng mươi bữa trước khi cùng lũ bạn cũ kéo nhau đi nhậu nhẹt ăn mừng đoàn viên bốn mươi năm tình cũ. Anh cứ phải đi giải thuỷ miết, thấy không ổn chút nào bởi cái lê thân lắc nhắc nọ một thằng bạn đã phán: Mẹ! Vậy là mày dính chấu rồi. Nó rộng lòng bày đường chỉ lối, cái mà mày băn khoăn duy nhất, đó là cái phong bì ngó sao cho tử tế. Nhập gia tuỳ tục, qua lễ nghi, giờ này anh lọt thân được ngồi trong cái clinique hiện đại này.
Không nói năng, Lệ Hoa ra hiệu và dùng tay lật người anh nằm ngửa ra, bà ngó chăm vào dương vật rồi khởi sự dùng tay mân mê nó. Anh nhắm nghiền đôi mắt, cảm giác khó cắt nghĩa đang phủ chụp xuống người. Đó không hẳn là một sự hổ thẹn, người anh bắt đầu nóng, râm ran, châm chích. Năm ngón thay đổi vị trí, ngũ chỉ thần công đang bò xuống nựng nịu hai hòn dái hổ ngươi trốn trong cái bìu èo uột. Cố ngăn chận những ý nghĩ ám tối, anh thử nhớ lại thời điểm làm tình gần đây nhất, dọn lòng để đón đợi những câu hỏi gay cấn nhưng Lệ Hoa chẳng màng đá động tới. Bà không phải là bác sĩ phụ trách giải đáp tâm tư cho những đôi vợ chồng hiếm muộn con cái. Đi đái có dễ không? Anh thưa: Cũng không mấy khó, có lúc buồn tiểu tới nơi lại phải đứng đợi khá lâu mới được thông nòng. Một đêm đi đái mấy lần? Dạ, khoảng ba lần. Khoảng cách mỗi lần? Độ chừng hai ba giờ. Được, kéo quần lên đi. Có từng nghe qua chữ Prostate lần nào chưa? Dạ chưa. Nôm na đó là tiền liệt tuyến, là bệnh của đàn ông, hiểu không? Đại trượng phu vượt qua ngũ thập đa phần đều mắc phải, đều bị nó đón đầu. Tôi nghĩ ông nên đi xét nghiệm MRI rồi làm biopsy một lần cho rõ trắng đen. Trước mắt, tôi giới thiệu ông đi thử máu, tuần sau chúng ta gặp lại nhau.
Anh nắm lấy bàn tay phải mà Lệ Hoa vừa đưa ra, bắt chặc trước một tạm biệt kiểu cách. Tay thôi mang găng nhưng nó chẳng nuột nà mềm mại như vẫn có trên đôi tay của một nữ nhân. Trước khi bước vào phòng khám anh đã chuẩn bị tinh thần để đón nhận bao xấu xa tồi tệ về sức khoẻ anh đang rước phải, cái anh thiếu trang bị là anh không tưởng được vị bác sĩ chẩn bệnh lại là một người nữ. Một madame nhan sắc khá mặn mòi, ngoài bốn chục mà eo thon ngực nở, và… mát tay. Có thể do phần hành công việc buộc phải táy máy sờ soạn lung tung khiến bà hơi bẳn gắt chút đỉnh. Một người suốt ngày cứ ngắm chim cò thiên hạ biểu sao khiến họ vui thú được, nhất là chim cò nọ đang có vấn đề, mang cùng vẻ mặt xìu xìu ển ển tựa nhau. Cá mè một lứa, phải ướp muối chứ không tươi để vặn mình vặn mẩy sừng sộ nhảy đành đạch một cách thất thế.
Anh bước xuống đường ăn khớp với tiếng chuông reo phát ra từ cái điện thoại thông minh ẩn kín trước ngực. Anh về nước không lâu, đâu khoảng nửa tháng nhưng cái iPhone 6 này anh mới tậu ba hôm trước đây. Vật bất ly thân ban đầu thì đãng trí để một anh quái xế chạy xẹt ngang giật mất tiêu khi vừa mới nói được vỏn vẹn hai âm: A-lô. Bên kia đường truyền của sóng là ai? Chả biết. Chỉ biết ba hồn bảy vía đã lộn lui để khỏi hoa mắt nhìn thằng diệu thủ thư sinh nhăn răng cười khi nó ngoái đầu trông con mồi lạc hậu đứng chôn chân không phản ứng như một kẻ ngoài hành tinh.
Lần này thì rõ là có kinh nghiệm xương máu, nói a-lô khi đã dựa thân áp sát người bên một thân cây vững vàng chưa bị đốn hạ trên con đường nhiều bóng nắng. Chú xong rồi chưa ạ? Cháu mang xe lại đón. Sao lại là cháu? Thế ba đâu? Ông già nhậu oắt cần câu biểu cháu làm Lê Lai liều mình cứu chúa. Sau câu pha trò là tràng cười khúc khích nghe rất đỗi êm tai. Loan thích cười và môi miệng kia luôn đẩy ra ngoài cái cung bậc dòn dã đầy sức sống đè lên và át mất sự hợp âm bát nháo giữa hiện trường một quán ăn, một cuộc nhậu thường không dưới mười chiến hữu tranh nhau ăn nói. Anh từng nhận xét và Loan nói không suy tính, tại sự có mặt đường đột của chú khiến vậy, bình thường Loan ít cười, quanh đây có gì vui thú đâu mà cười?
Không quá mười lăm phút, Loan cỡi chiếc xe gắn máy nhiều phân khối thắng đứng bên thân cây. Biết vậy thì chú gọi chiếc taxi e tiện cho Loan hơn. Chú sợ điều gì? Đừng khi dễ, cháu chạy xe xịn lắm à nghen. Vừa nói Loan vừa trao cho anh cái nón bảo vệ đầu. Leo lên đi, chỉ cần ôm cháu cho thật chặt thì sẽ an toàn xa lộ. Loan không ốm chẳng mập nhưng người tròn trịa đầy nữ tính. Lưng áo thun có chỗ mồ hôi ngấm chưa kịp bốc hơi, anh áp mặt vào đó rồi không dưng nói ra cái ước muốn vừa hình thành: Giá mà chạy xe một lèo ra tuốt ngoài Vũng Tàu, thèm vọc nước biển quá. Thèm thật không? Ngoài biển, chú thèm gì khác? Thèm một thứ cảm giác căng thẳng, thèm gây án chẳng hạn. Ví dụ? Nếu Loan chạy xe ngon lành hãy đi sát vào một đối tượng nào đó để chú giật giây chuyền hoặc đồng hồ hoặc máy tính bảng các thứ… Khó tin quá, một Việt kiều lợi dụng vỏ bọc ngon cơm để đi trộm cướp lẻ tẻ đã bị sa lưới vào tay các an ninh phòng chống tội phạm. Báo chí giật tít như vậy, nghe không sướng, không đẳng cấp. Anh mơ màng: Thế nào là đẳng cấp hơn?
Người Loan thơm, cơ thể tự phát tiết ra hương mùi chớ không do mỹ phẩm tác động. Gió trên đường có can dự vào để bào mòn đi nhưng dẫu sao thì mũi anh đang cắm sâu cái khứu giác ở một vị trí quá đỗi thuận lợi. Ngất ngây một hương đồng cỏ nội mà đi tơ tưởng tới miệt biển mặn muối để dầm mình thì quả là hư đốn, đáng bị khiển trách. Chú đói bụng không? Thích ăn những gì? Chưa thấy đói, hai ba tiếng nữa hẳn tính cái bỏ bụng. Vẫn nuôi ý định đi săn lùng một cảm giác lạ? Vẫn, nhưng hoang mang sợ bị phát hiện bể ổ. Quên hỏi chú về bệnh tình. Bác sĩ bảo sao? Cũng tạm, qua hạng tuổi năm chục, con người không mắc thứ này cũng bị yếu đi đôi ba bộ phận trên người lỏng lẻo. Đố Loan, có biết bệnh đàn ông là gì không? Trả lời đúng thì chú tính sao? Phần thưởng là gì? Câu trả lời vắn tắc là ưa dòm gái, càng hở hang càng chú mục vào. Ưa có bồ nhí, ưa thói trăng hoa, ưa chung chạ dù biết người ấy đã có chồng, ưa hẹn hò, ưa ngủ chung, ưa ngoại tình. Xưa nay đàn ông đều duy có mỗi chứng bệnh ấy. Sai, sai hoàn toàn. Tuần sau chú sẽ đi xét nghiệm máu, sẽ chui vào nằm trong cái máy hệt như một cỗ quan tài. Kết quả nó đưa ra: Có phải bạn đang mắc căn bệnh đàn ông. Loan có hay đi giải thuỷ lắc nhắc không, năm canh trường mà lục đục dậy những ba bốn lần. Nếu y bon thì xem như Loan dính phải bệnh đàn bà. Hai vợ chồng cùng mang chung một căn bệnh thì loan phượng kia chỉ có đứa hy sinh chịu vất vả chút đỉnh: Em có dậy đi tiểu thì cho anh biết để gửi ké với. Chú nói tầm bậy gì đâu không. Bệnh đàn bà chỉ tập trung vào hai nơi: Ung thư vú hoặc ung thư tử cung. Hai thôi cũng đủ nát ngọc tan hoa rồi. Phải chi trần thế xúi con người giản lược bớt rắc rối, chỉ Sinh rồi tới Lão rồi chấm dứt bằng Tử có phải sướng thây không? Có chữ Bệnh chen chân vào sao nghe u ám cuộc đời vô hậu!
Xe chạy tới khách sạn nơi anh mướn ngụ thì thắng đứng. Loan nói, không riêng chú, cũng có người muốn thử cảm giác mạnh. Buông cháu ra, bước xuống đợi cháu đi gửi xe. Nghe chú nói sao tự nhiên buồn tiểu muốn chết. Nhân viên phục vụ trong khách sạn 3 sao này đã quen mặt Loan những lần cô đi cùng mấy ông bạn già tới kêu anh đi nhậu. Trong trí họ thằng chả Việt kiều nọ vừa tìm ra được cô cháu gái thất lạc đã lâu và cảnh đoàn tụ nào cũng khiến người ta cảm động. Chả xa xứ hồi còn trai tơ, cháu gái hậu phương chưa có cơ duyên chào đời; giờ chả về tóc đã đổi màu phong sương và con bé xa mặt cách lòng bi chừ đã ngồn ngộn điện nước đầy đủ. Nó lanh lợi soi đường chỉ lối, nó can trường làm hướng dẫn viên du lịch dắt thằng chả đi dã ngoại lia chia, mỏi gối chồn chân thì về đây mà tắm rửa nghỉ ngơi đặng tính toan tới phương án khác. Tình chú cháu thì ngàn đời êm ả như thủ túc, đùm bọc quyết không cho môi hở răng lạnh vậy!
Khi lên tới phòng Loan lật đật đi đái thật. Giải thuỷ xong sẵn trớn thoát y, lăng ba vi bộ có ba bước là sang bồn tắm. Tiếng những móc khoen nơi tấm màn ny lông xô động kêu lãnh lót khi được kéo căng ra, ngăn chia làm hai lãnh thổ một bên khô ráo và bên kia tuôn ra từ vòi sen xào xạc tiếng mưa rơi ào ạt úng thuỷ dầm dề. Mưa ngoài trời làm người ta hoá thân thành con chuột lột vắt ra nước nhưng mưa trong phòng tắm khiến thân người ta chóng khô như thể muôn đời thuỷ chẳng tài nào cứu hoả. Loan bước ra, ngùn ngụt ngọn lửa thắp cháy quanh người, đi tới đâu bỏng rát tới đó. Chẳng phải vô cớ mà những thằng thanh niên Tây tà ngọng nghịu nói không tròn lời: Oh! So hot baby…
Bác sĩ khám xong có biểu chú mua thuốc uống không? Không, ừ nhỉ, sao bà ấy không chịu ghi toa cho con bệnh cà? Bà chứ không phải ông à? Ừ, lại đẹp gái, lại chưa già. Kỳ cục vậy, thế bả bỏ băng qua giai đoạn kiểm tra súng ống của chú à? Có chứ, làm như đàn bà thì phải mắc cở ấy, bả lạnh lùng sờ soạn, mân mê, nắn gân đủ kiểu. Bả phê bình hay khuyên nhủ điều gì không? Không, thiệt hú hồn!
Loan tới sát bên giường, từ tư thế ngồi anh bị Loan xô té nhào xuống mặt nệm. Tuy không mấy lớn nhưng rõ ràng đó là một cái giường hẳn hoi, chẳng kiểu cọ thay đổi dáng như đằng phòng khám bệnh. Điều này đồng nghĩa với việc Loan sẽ không “ủi” được anh, Loan chỉ toàn quyền “hấp, tẩy, nhuộm” hoặc xâu chỉ luồn kim. Anh bị lột truồng ra. Tủi hổ thật, trên năm mươi người ta có rất nhiều thứ cần che dấu. Người ta bỏ lại tuổi trẻ bên nẻo đường khuất xa, tiếc nuối thời oanh liệt mình trần trai tráng ưỡn ngực phóng người xuống sông vùng vẫy thoả thích với vai u thịt bắp. Người ta đã chẳng thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông.
Loan trút bỏ chiếc khăn tắm lớn khỏi thân để khỏi vướng víu khi năng nổ lao động sờ mó y như bà bác sĩ Lệ Hoa vừa làm. Hình như chú hơi bị thiếu vitamin Đê. Là sao? Đê là mẫu tự viết tắc cho động từ ấy, lý ra bà ta nên ghi toa cho chú mua vài viên Viagra. Lần anh thì anh thôi nhắm trít mắt lại, anh quan sát Loan và phát hiện mái tóc bên dưới của cô cháu có cắt tỉa gọn gàng trông rất nghệ thuật. Một loại nghệ thuật ấn tượng, rất hiện đại, rất bắt mắt. Khi người ta bỏ công trau chuốt tới vật thể gì, hiển nhiên người ta sẽ kiếm cách phô bày nó cho người dưng thưởng ngoạn. Bây giờ chú giả làm bác sĩ đi và cháu là bệnh nhân có vấn đề ở cửa mình. Loan rên lên, hãy khám cháu đi, hãy sờ soạn thăm dò cháu đi, bằng tất cả những gì chú có, mắt mũi môi miệng lưỡi tay…Đừng vội vã, hãy thong dong. Điện thoại di động của chú đâu? Chi vậy? Chú không muốn ghi lại hình ảnh này sao?
Chỉ đột ngột nói ra thế thôi, cả hai tuyệt chẳng muốn rời bỏ một hiện trường đang vấy sẵn những nhàu nát trên tấm khăn trải nệm. Lời đề nghị ấy nên quên đi, bởi vô tình nó gieo vào đầu óc một hình ảnh tồi tệ: Sẽ dùng thước phim nọ để làm tiền làm tội nhau trước khi hai đứa tách rời đi ngược hướng. Thuỷ chung Loan vẫn ngồi trên người anh, cô chủ động dắt anh vào cuộc lữ mụ mị thần sắc của ta bà thế giới. Loan hướng dẫn anh nhập cuộc vào chuyến hành hương mà muốn lên tới đỉnh ta buộc phải đánh rơi bao toan tính đắn đo bên triền vực tăm tối. Chú có yêu Loan không? Anh nói: Yêu. Anh thở hắt ra và cơ thể Loan từ tốn đóng lại những miệng núi lửa. Cô hỏi: Chú sướng không? Anh nói: Sướng. Lát nữa mình đi ăn, đúng không? Đúng. Ăn xong chú tính làm gì? Không biết. Loan thì sao? Cháu sẽ lấy của chú một triệu. Lại đi shopping à? Không, đi tới chỗ xăm hình nhờ họ trổ cái tên chú ở chỗ này. Loan chỉ vùng bình nguyên mượt mà nằm dưới lỗ rốn khá xa. Có nên không? Anh hỏi với chút ngần ngại. Tommy, đâu ai hay biết đó là cha căng chú kiết nào mà lo. Chú cũng lạ kỳ, qua xứ người thiếu gì tên gọi hay ho khi không đè Tommy mà chọn, phát âm làm liên tưởng tới nhãn hiệu mì ăn liền hiệu con tôm. Loan cười, vẫn là thứ âm thanh rộn rã của những hòn ngọc va chạm nhau. Đôi khi đói lòng, mì con tôm cũng nên liệt vào danh sách những món ăn ngon miệng. Cám ơn con tôm bé nhỏ của cháu. Loan hôn anh và dùng tay nghịch lấy cái biểu tượng của giống đực. Ngày hôm nay, chẳng hiểu sao nó phải trần thân hứng chịu biết bao trận đụng độ, đi qua dưới bao hòn tên mũi đạn, chui sâu vào địa đạo Loan mà chưa nghe ai ca ngợi nó là anh hùng chính hiệu. Mỉa mai thay, mai hậu khi xét nghiệm về căn bệnh đàn ông, chính nó sẽ khạc ra máu, công bằng như đàn bà khi có tháng. Kinh nguyệt Loan có vận hành suông sẻ không? Sao chú hỏi câu nghe lãng xẹt? Tháng tới nếu nó đình công bãi thị thì đích thị là cháu mang thai. Chú ngán không?
Dẫu biết siêng đi đái một cách vô cớ anh vẫn thèm khát một cốc nước ngọt mát lạnh để uống một hơi cho lại thần hồn. Tự dưng trong đầu anh mường tượng ra hình ảnh một phi cảng chộn rộn tiếng động, chuyến bay dài xuyên lục địa mang anh về lại chốn nương náu quen thuộc, ở đó anh còn chống chọi cuộc đời thêm những 15 năm mới hết xí quách, mới bất lực, mới ăn tiền già, mới lui cui sân trước vườn sau. Một bức tranh ảm đạm hiện tới. Một toàn cảnh nhiều sắc xám can dự. Nhưng khi ẩn mình vào đó, người ta ý thức được cái vận hành đầy an toàn. Không rụng một sợi lông. An toàn tuyệt đối. Anh sẽ ngồi ngắm biết bao cơ man là gái đẹp tóc vàng sợi nhỏ diễu hành ngang qua. Mê man. Anh là thành viên trong khối NATO. No Action Talk Only. Bó tay chẳng hành động được gì. Xin chớ trách móc thằng cha già dịch. Ấy, bệnh đàn ông mà. Thấy gái đẹp không dòm cũng phí.
Dậy mặc áo quần đi ăn chú. Loan nói. Ăn xong, xâm mình xong, lần này cho chú nằm trên. Hãy chơi cháu đi, cho bỏ những ngày cơ cực. Loan pha sự dâm đãng nhuộm kín trơn tru từng con chữ. Anh vật Loan xuống, anh thầm thì: Anh yêu em.
Hồ Đình Nghiêm
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Bá tánh
Hồ Đình Nghiêm
Trung úy Hùng không cao nhưng thuộc hạng người vạm vỡ. Qua bộ đồng phục cảnh sát có độn áo chống đạn bên trong, mắt kẻ phàm tục cũng hiểu thằng chả từng qua nhiều lớp tu luyện kung-fu. Dĩ nhiên, Hùng là người Việt. Ổng nói giọng Nam, mặt khá điển trai, chừng ngoài 30.
Trước khi làm việc, ông tâm sự: Tôi rất nản khi cấp trên giao cho tôi phải hoàn thành vụ nầy. Vì sao nản? Vì tôi không thích đón nhận những tai tiếng xấu xa do người đồng hương gây ra. Tôi từng bắn cụt giò một tên tội phạm và tôi đã dằn vặt nhiều ngày vì thằng con trai ấy là người Việt. Trước, tôi chỉ huy đồn 36 ở phía Đông thành phố, nơi đa phần là dân da màu cư ngụ, sau này họ điều tôi về đây chỉ vì một lý do: Khu vực nầy mỗi lúc một đông người Việt, và như thế chúng ta có thể nói chuyện trực tiếp không cần qua miệng một thông ngôn. Anh hiểu không? Theo kinh nghiệm, tôi cho là khi người ta tâm sự, dẫu vụn vặt, những dốc lòng đó chẳng xa sự thật bao nhiêu, nhất là nó không bị hàng rào khác biệt ngôn ngữ quấy phá. Nói suông sẻ chứ không nói ấp úng bởi mãi tìm từ tiếng Tây tiếng u.
Anh hút thuốc phải không? Thường thì nghiêm cấm bởi phòng hỏi cung này quá chật, không cửa sổ, nói chung là bí, nhưng tôi phá lệ để cho anh tìm được chút thoải mái. Hãy thư giản. Nếu muốn, tôi sẽ xuống cafeteria mua cho anh một ly… Trung úy Hùng sửa lại khẩu súng ngắn, đen đủi dị hình máng ở thắt lưng trước khi ngồi trên một góc bàn. Phòng kê độc chiếc ghế nhựa và chiếc ghế ấy muôn đời không phải là nơi cho vị cảnh sát tọa mông. Hùng ngó xuống thằng thanh niên ngồi cứng nhắc trên ghế. Như bao thằng khác, hắn đặt hai cánh tay trên bàn, ngón xoắn lại với nhau, thảng hoặc cúi mặt tẳn mẳn moi đất đen bám sau móng tay. Một, để cố giữ bình tĩnh. Hai, đang bận suy nghĩ lao lung. Ông bạn dân ho khan, đằng hắng: Tấm ảnh này chụp đã lâu, có ghi ngày tháng. Để xem, vậy là bảy tháng trước. Bảy tháng, dung mạo chẳng thay đổi nhiều ngoại trừ dao kéo của thẩm mỹ viện can dự vào làm cho biến dạng đi. Và đây là ảnh mới nhất, lưu trữ trong cái iphone 4 của cô ấy. Anh nhận diện rồi nói cho tôi biết tên của cô ta.
Một. Tôi là Nguyễn văn Một. Tôi không biết cô này là ai cả. Tấm ảnh cũ thì xem có hơi ngờ ngợ, hơi quen quen, dù không nhớ đã thấy qua một lần ở đâu đó. Anh Hùng, à Trung úy Hùng, Trung úy biết đó, tôi làm việc trong một tiệm disco, phục vụ bán rượu, mỗi tối, nhất là cuối tuần, tôi phải chạm mặt cả ngàn cô gái đủ mọi sắc tộc. Ánh đèn mờ ở quầy rượu không giúp gì cho trí nhớ tôi, ngoại trừ những cô tóc vàng mang vào người một cái gì thật ấn tượng. Trung úy Hùng cắt ngang, đưa tay phủi sạch một vệt dơ bám vào quần. Anh Một hình như là dân vượt biển, phải không? Một làm thinh, kéo tấm ảnh lại gần. Hình này, xem nào… Ồ, không chừng là Thị. Tôi chẳng xác tín được bởi thời gian đi mau quá. Cái gì? Cô gái mang tên Thị à? Dạ phải, Thị, như câu “hu thị thị rớt bị ăn mày” ấy. Tựa một loại trái có mùi rất thơm. Nói tiếp đi, những gì còn nhớ. Dạ, năm ấy, trước khi Hồng-kông bàng giao lại cho Trung quốc, tôi ở trại tị nạn khu vực Cửu-long, lúc ấy, một chủ nhật xấu trời có mưa sa, tôi co ro chứng kiến một hình ảnh lạ, phải nói là kì cục, một đoàn xe sang trọng bóp còi inh ỏi từ ngoài cổng trại có giăng kẽm gai chạy thẳng vào, băng qua khoảng sân đọng vũng bùn lầy và dừng lại có thứ lớp trước một vuông cửa tối đen bẩn thỉu của dãy nhà A-4. Một chú rể bản xứ với sự trợ giúp của đám bạn ồn ào tiếng Quảng-đông đã vào tận hang ổ để rước về một cành hoa lưu lạc made in Duỵt-nàm. Cô dâu là Thị. Cô khoảng 18 tuổi, người Bắc, nghe đâu nằm ở trại tị nạn đã 3 năm mà không được một phái đoàn nào tiếp kiến phỏng vấn. Ở chỗ giặt giũ áo quần tôi nghe cô nói: Đéo mẹ, ngay cả bọn Đan Mạch cũng đéo thích bà. Chúng xem bà như mụ già nằm chai người, ế chảy. Cơ khổ! Lầm to lầm to. Bà ngon hơn chúng mày tưởng… Tôi để ý tới cô ta vì thứ ngôn ngữ nghe thật lạ tai, cô ưa dùng những chữ mà bọn chúng tôi gọi là tiếng Đan Mạch. Đéo, đếch, cái hĩm nhà bà đây nầy, được có mỗi con buồi chứ đâu có cái đếch gì khác… Đại khái là vậy, nói không ngượng miệng. Thứ nữa, Thị sở hữu một thân hình đẹp, phải gọi là rất xếch-xi. Chỉ có thế, tôi ngỡ cô định cư ở Hồng-kông. Trung úy có tin người giống người không? Một sự trùng hợp, nhầm lẫn ngoài ý muốn.
Tôi là Trần văn Hai. Tôi đứng bếp cho một tiệm phở bên Vancouver, nâng cao tay nghề xong tôi “mu” về đây tự mình mở quán. Người trong ảnh này có thời gian đến xin việc, thẻ an sinh xã hội mang tên Tràng An, 27 tuổi. Cô khai, thời còn bên nhà cô nấu phở rất ngon, tôi thử cho cô thi thố tài năng và quả tình cô không man khai. Quán tôi đông khách từ ngày có Tràng An. Cô ta đòi lên lương 20 đồng một giờ, tôi đồng ý. Vì công việc, chúng tôi sớm tối gần gũi nhau và xin thưa thật chúng tôi đã quan hệ với nhau. Vụng trộm chưa được một năm thì vợ tôi phát hiện, giải pháp êm đẹp nhất là cô cuốn gói ra đi với 25 ngàn tiền mặt nằm trong xách tay. Tôi không biết tin tức Tràng An từ dạo đó, hai năm trước. Giờ đây, thỉnh thoảng nhớ vu vơ. Chuyện gì đã xảy tới cho cô ấy. Mất tích, tù tội hay án mạng?
Trung úy Hùng kéo ghế. Tuy làm bằng nhựa, chân ghế cũng phát tiếng nghe ê răng khi bị kéo lê trên nền xi-măng. Ngồi xuống đi. Phạm văn Ba phải không? Dạ. Thằng đeo khoen tai tóc dựng đứng ké né ngồi vào chỗ chỉ định.
Hắn buông thỏng hai tay thu cất dưới bàn. Y phục tuyền màu đen, từ trên xuống dưới, ngoại trừ một đốm màu đỏ tươi dính chặt ở bắp tay. Phạm văn Ba chắc tốn bộn tiền để xâm vào da thịt hình một trái tim rướm máu bởi vô số gai nhọn ràng buột, bức bối. Cái ví da đựng giấy tờ tùy thân của Ba nằm sau túi quần được nối với thắt lưng bằng một sợi dây xích, lủng lẳng, rối rắm và… ngó gai con mắt. Da dẻ Ba xanh tái tựa hồ Ba là truyền nhân của bá tước Dracula, sợ quang minh chính đạo. Hắn không dám ngó mặt Trung úy Hùng như thể ở trán ông quan hai cảnh sát có xâm hình một chiếc thánh giá. Nói tóm, bao bọc quanh thân Phạm văn Ba là thứ gì đó mà phát hiện đầu tiên của mắt nhìn là sự thiếu thiện cảm. Một thằng punk đi lạc chốn, cô đơn cùng cực. Trung úy Hùng ngắm con mồi, hắn đẹp trai quá, sáng láng, có vẻ con nhà giàu học giỏi. Trung úy Hùng, theo thói quen, ngồi lên góc bàn, ra vẻ thị uy. Và nhập đề: Ba biết tiệm cho thuê DVD “4U” chứ? Dạ biết. Khách quen? Dạ, quen biết gì đâu, thường ghé xem có gì mới lạ. Biết tên chủ nhân không? Dạ biết, nghe bà vợ anh ấy gọi là Mình. Tầm bậy. Minh, không có dấu huyền. Minh cũng có thể gọi vợ là mình ơi vậy. Qua đây lâu mau? Dạ, hai mươi năm rồi. Có nghĩa là má ẳm qua hả? Dạ không, dì bế qua, má em mất khi đẻ ra em. Nói tiếng Việt giỏi hé? Dạ, bị dì em siêng dắt tới chùa trau dồi tiếng Diệt. Thôi được, tôi có ghé tiệm anh Minh cách đây hai hôm. Tôi biểu Minh nên hợp tác với cảnh sát và cậu ấy cho tôi xem danh sách của ba người Việt thường đến thuê phim. Tôi gạt hai đối tượng kia ra vì họ đứng tuổi, chả có gì đặt nghi vấn. Phạm văn Ba là kẻ còn lại, tôi ghi được tất cả những phim Ba đã mướn, kể cả ngày tháng. Khiếp, bạn giải trí với mức độ chóng mặt, gần như chỉ cách khoảng đôi ba hôm. Và điều đáng nói là bạn chỉ xem phim bạo động hoặc phim đen 3X. Trong danh mục phim người lớn mà bạn mượn tôi để ý tới phim “Hãy đi sâu vào và làm tôi khóc”. Vì sao? Vì cái poster in hình cô gái đó rất giống với tấm hình này. Tôi nói nãy giờ Ba có hiểu không? Cần xổ ngoại ngữ không? Dạ hiểu. Dạ không cần.
Trung úy Hùng thảy xuống bàn hai tấm ảnh cũ. Một của Thị, một của Tràng An. Có thể tuy hai mà một. Ba biết ai đó không? Dạ biết, dì dắt đi ăn phở để tìm hương vị quê hương nơi xứ lạnh tình nồng và em đã thấy cổ. Em kêu chị, cổ nói đừng gọi thế đéo sướng. Chị khen em đẹp giai, chị ghi cho em số phone rồi nói, nhớ gọi em nhé, anh giai… Rồi sao nữa. Rồi em muốn tìm hiểu. Rồi hai đứa hẹn nhau. Hỏi tên, chị bảo, gọi là Honey đi, cho mùi. Rồi Honey xúi em đi thuê phim để thêm hưng phấn. Khoan, khoan… Trung úy Hùng ngắt lời. Cô ấy tự nguyện hay Ba phải chi trả mỗi lần lên giường. Phải trả tiền chứ chú, à Trung úy. Cô nói lý ra không nên dây tới tiền bạc, đếch lãng mạn, nhưng cô hiện đang thất nghiệp. Cô nấu phở ngon lắm chú, à Trung úy. Thế Ba tốn bao nhiêu? Tùy thuộc vào sự buồn vui của Honey. Khi thì 250, có lúc cô đòi 300. Nói chung là chẳng có giá nhất định, Honey bảo cô không hề là một cô điếm. Mà sao Trung úy hỏi em kỹ thế? Có chuyện gì xẩy ra cho Honey sao? Tiền đâu mà Ba sẵn thế? Ông cậu em hiện là đại gia quy hoạch đất đai ở Việt-nam. Cậu thương em mồ côi mẹ sớm nên gửi cho ngàn đô hằng tháng. Đại gia là gì hả Trung úy? Có phải là Thiếu úy xong tới Trung úy xong tới Đại gia? No. Fuck. Đại là to, gia là nhà. Chỉ biết ngần ấy thôi, ngoài ra tớ bù trất, chả đủ chất xám để thông hiểu. Thôi, Ba về đi, buổi nói chuyện của chúng ta coi như chấm dứt. Thay mặt đồn cảnh sát 42 cám ơn sự hợp tác sốt sắng của Phạm văn Ba.
Trung úy Hùng đứng bấm chuông. Hôm nay ông mặc đồ dân sự, xuềnh xoàng giản dị lè phè. Có vậy mới thấy cái vỏ bọc luôn quan trọng, hèn gì người ta ưa bình phẩm: Cha chả, thằng này diện bộ đồ ăn nói trông thiệt le lói! Cởi bỏ đồ ăn nói ra, Hùng bình thường và tầm thường như vạn thằng đàn ông khác. Chuông gióng hồi thứ ba thì cửa mở, đứa con trai nheo mắt vì ánh sáng bẳn gắt của trưa hè đang dội ngập sân, chôn vùi hình thù chậu hoa lớn trong biển nắng. Mày còn nướng người trên giường sao? Chủ nhật mà anh, sinh hoạt phải thay đổi chớ. Mày đã nghe cuốn băng thu âm chưa? Đã. Vì thế mà trăn trở suốt đêm. Anh thấy sao? Tao thấy mày hên. Chả có đứa nào biết rõ thân phận con bé. Chỉ biết có mỗi việc là nó ưa dây tới chuyện xác thịt. Vụ nó bị xây xát phải nằm bệnh viện thì sao? Tao đã đóng hồ sơ với thứ kết luận: sau khi điều tra, đương sự bị đánh ghen và đương sự chẳng có ý định thưa gửi kiện cáo gì ráo. Nhắm dễ ăn không anh? Tao đã dằn mặt thằng côn đồ kia, bảo nó thăng khỏi thành phố, chớ héo lánh. Bắt chúng nó cũng dễ, chỉ sợ phải dẫn về đồn lập biên bản, như vậy câu chuyện thêm phức tạp, dấu đầu lòi đuôi. Bao lâu nó xuất viện? Tối nay em đến rước nó. Mày cũng tìm cách biến khỏi chốn này đi, cùng nó ém vào thị trấn xa khuất nào đó. Tình hình lắng dịu, tao hú mày về.
Trung úy Hùng đến mở tủ lạnh, khui bia ngữa cổ tu hơi dài. Em để tiền trong cái phong bì dấu dưới đám rau quả ấy. Con bé giao dịch với bọn trồng cỏ hơn hai năm, ký gửi trong sổ tiết kiệm được sáu chục ngàn. Phong bì ấy đựng tiền mặt. Em đếm rồi, cả thảy hơn hai chục xấp.
Hùng đóng cửa tủ lạnh, nhét cái bao thư màu vàng sau lưng quần, gần chỗ khẩu súng ngắn ẩn mình. Mày nhớ những gì tao từng căn dặn chưa? Có việc nan giải gọi tao ở cái cell phone. Tao đề nghị mày lái xe về chốn cũ rồi hẳn lấy vé máy bay sau, cho mặt con bé nhạt bớt vết trầy trụa. Đừng sử dụng phương tiện xe hỏa hoặc xe đò. Tao tạt về sở một chút.
Mở cửa, Hùng đứng ở tam cấp đeo kính rayban vào mắt, vặn vẹo thân hình qua lại. Buổi trưa, hai đầu đường vắng ngắt, êm thắm.
Thủ tục xuất viện rất đơn giản, vả lại, nạn nhân Huỳnh thị Trinh Nữ chỉ ê ẩm ba sườn, chợt da cùi chỏ và hai mũi kim khâu bên trên mày trái. Mắt bớt sưng, đi lại bình thường, bắt đầu buồn miệng: Xong cả rồi anh? Xong tất. Yên ổn từ nay về sau? Ừ, yên hàn vô sự. Mẹ kiếp, thằng ấy có võ anh ạ và phường vũ phu, ra tay tàn độc đau đéo chịu được. May mà mồm em to, em rống lên và dân tình chộn rộn, có thằng Tây con mặt bô giai chạy tới giải hạn, nó xốc ngực em đứng dậy, ma đàm sao rồi, ma đàm có ô-kê không? Ma đàm con bà mày, tao còn xuân thì mày xốc nách tao mày không cảm nhận gì sao?
Thằng đàn em Trung úy Hùng dìu Trinh Nữ tới chỗ đậu xe. Thương em thật lòng không? Hỏi lãng xẹt, không thương cớ sao cùng vào sinh ra tử với cưng? Khi nằm trên giường bệnh, em nghĩ tới anh, cầu mong sao anh là bến đỗ an toàn, sau chót của em. Đếch dám tơ tưởng gì hơn.
Xe gài số, lùi lại, xém đụng phải thằng thanh niên đang khởi động máy nổ chiếc xe gắn máy trông bụi bặm. Hắn mặc tuyền một màu đen, vừa càm ràm vừa bước tới cửa xe. Ủa, Honey, lâu ngày không gặp, em mới mướn được cuốn phim nóng thuộc hàng siêu khủng. Phim ảnh làm đéo gì giờ nầy? Có thấy người ta đang tàn tạ hay không? Honey honey! Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu, hở Trinh Nữ!
Hồ Đình Nghiêm
Đặng Chí Bình
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Cái áo nhân dân
Đặng Chí Bình
Bài 36
Sau buổi nói chuyện với cô Hoa, tôi đã về trình bày chi tiết lại với thầy mẹ tôi. Mẹ tôi mừng ra mặt, người tươi như có một nguồn sinh lực mới, người sai tôi đi mời mợ Út vào để người nói chuyện.
Mợ Út vừa vui, vừa ngạc nhiên: Vui vì tôi đã chịu lập gia đình, lớn tuổi mà còn lận đận, long đong mãi. Ngạc nhiên vì so với bốn đám kia thì tôi có điều kiện để bay, nhẩy sau này nhiều hơn, nhưng một khi đã nói: Đời là kỳ diệu, vợ chồng là duyên số thì xin ngừng lại đây.
Chuyện lấy vợ của tôi cũng không đơn giản, bình thường. Tôi còn bị mất quyền công dân năm năm, cho nên tôi phải chạy lên Thành, xuống Quận; ra Ủy Ban Quản Lý Những Người Học Tập Được Về, vào Phường còn phải đến báo cáo cả cô Ngọc Anh, công an khu vực nữa. Không phải một lần mà xong, chúng bắt tôi chạy đi, chạy về nhiều lần. Hạch hỏi, cả những điều tôi không hề nghĩ tới, như:
– Anh quen với cô Hoa này do đường dây nào?
– Anh có chủ trương gì với cô Hoa sau này?
Tôi nóng cả người lên, tôi đã định trả lời theo cái ngang bướng cố hữu khi bị ép đè là: “Tôi có chủ trương sẽ đẻ con với cô Hoa! Và sẽ phong cho cô ấy, chức Nội Tướng sau này”.
Nhưng thôi, phải nín thở qua đò, thì mới có thể làm được những việc mình muốn, nên tôi đã trả lời, ngoan ngoãn ngây thơ:
– Thưa ông, chủ trương nào cơ? Tôi chỉ muốn lấy cô ấy làm vợ thôi!
Chỉ có cô Ngọc Anh làm cho tôi ngạc nhiên. Một buổi tối, tôi đến trình diện xin chữ ký của cô mỗi ngày, hôm nay sau khi làm những điều thường nhật xong, tôi nói luôn:
– Thưa cô, tôi và cô . . . . . . Hoa sẽ chuẩn bị tiến đến hôn nhân, vợ chồng!
Con ngươi của cô đang là mầu xanh lam hình bầu dục, cô ngửng lên nhìn tôi. Con ngươi của cô mở to dần thành tròn, rồi ưỡn ra, chuyển thành mầu nâu. Không nói một lời, cô quay ngoắt vào trong.
Thấy vậy, tôi đứng lên, khẽ chào, rồi tôi ra về. Mợ Út đã vào nhà tôi nhiều lần, cùng với mẹ tôi, có cả bà Chức. Các bà đều đã chuẩn bị sấp xếp vào ngày Chủ Nhật này, có cả ông Chức từ trên Phương Lâm về. Như một ngày chính thức dạm hỏi, để rồi ấn định ngày cưới, ngày vào Cha cho một lễ cưới đơn giản theo điều kiện và hoàn cảnh của gia đình đôi bên ở giai đoạn ấy. Vợ chồng Lợi và Đạt hoan nghênh tích cực, chuẩn bị cho đám cưới của tôi.
Mấy ngày sau, chị Hai Công ở Hồng Ngự đã xuống và chị đã thực hiện lời chị nói là, cho tôi một cây vàng lá Kim Thành. “Tiền vào nhà khó, như gió vào nhà trống”. Phải thừa nhận lạng vàng của chị Hai, đã giải quyết những khó khăn chính, trong giai đoạn này của tôi.
Tôi nhớ có một bữa cơm họp mặt mấy bạn bè trên nhà thằng Lợi trước ngày đám cưới của tôi. Bữa cơm hôm ấy có năm sáu người bạn hoặc liên quan họ hàng: Anh Trần Đình Lộc(anh rể của Lợi) Đạt, Lợi, tôi, ông Long và anh Bùi Văn Đệ. Bữa cơm họp bạn bè giữa năm 1981, đã hằn vào tiềm thức của tôi.
Những ai ở Sài Gòn trong giai đoạn này, đều đã thấy: Hầu hết cuộc đời của mỗi người, đều không biết ngày mai sẽ ra sao? Đầy trăn trở, lắng lo; đầy thấp thỏm ngơ ngác nhìn ngày mai với những khó khăn, chất chồng trước mặt. Vì thế bữa cơm này, dù tâm trạng mỗi người khác nhau, nhưng đều muốn uống mà không cần kìm giữ. Trong sáu người này, người nhiều tuổi nhất có lẽ là ông Long, ông đã từng là một người điều hành kỹ thuật, của một cơ xường mộc xuất khẩu của Sài Gòn trước và cả sau 1975.
Trong khi người nào cụ Lưu Linh cũng đã đến thăm, có nhiều chuyện được đề cập. Tôi hiểu tuy là bạn bè nhưng mỗi người đều có những nỗi niềm riêng, tôi cũng có niềm riêng. Tôi còn có một cái tôi tin rằng, khác với năm người kia. Tôi có muốn gặp cụ Lưu Linh, nhưng cái túi nó đã ngăn tôi lại, hôm nay có điều kiện, nên tôi đã nói chuyện với cụ hơi lâu, hơi nhiều. Bỗng nghe thằng Đạt nói như sừng sộ:
“Ông Hồ có tên trong tự điển Larousse”.
Rồi tiếng ông Long cũng sôi nổi:
“Ông Hồ Chí Minh tuy có một số điểm sai, nhưng chúng ta phải thừa nhận, ông ta đã cả một cuộc đời yêu quê hương dân tộc”
Anh Đệ ngồi mãi phía cuối bàn, cũng khàn khàn lên tiếng:
“Rất tiếc, nếu ông Hồ còn sống, thì người dân không khổ cực như bây giờ “.
Tôi nghe, và tôi cũng không hiểu tại vì sao các bạn lại đưa cái đề tài HCM ra, để tranh luận? Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn ngồi im, cho hồn đưa võng với cụ Lưu Linh. Tôi hiểu mấy người bạn của tôi, đều là người Bắc di cư. Cùng ở dưới chế độ VNCH và đều đã là công chức dưới chế độ đó, đều không ưa gì CS, mà còn nhận định về Hồ Chí Minh như vậy, thì còn nói chi đến người dân khác!
Nghe như vậy, nhưng lòng tôi còn rối rắm nhiều sự việc, sáng mai phải đưa bản kiểm điểm lên tiểu ban Quản Lý Những Người Học Tập Được Về. Họ có tha thứ, chấp nhận cho tôi được gia hạn ba tháng, tạm trú nhà bố mẹ của tôi không đây? Tuần trước, tiểu ban QLNNHTCTĐV gửi giấy gọi lên, bắt tôi làm kiểm điểm đã vi phạm thời gian tạm trú. Lý do, khi tôi lên Thành CA, sáu tháng trước trình diện. Tôi có xin gia hạn tạm trú, nhưng CA Thành đã bảo vấn đề tạm trú, đã giao về địa phương. Tôi hiểu địa phương là phường 6; phường của tôi ở, và CA khu vực, mà hai nơi này thì hàng ngày tôi đều có mặt trình diện rồi.
Đầu tôi đang cúi gầm, tâm sự với cụ Lưu Linh thì ông Long đã gọi tên tôi:
– Anh Bình đã ra Bắc, tù nhiều năm, cho chúng tôi nghe ý kiến của anh đi!
Cả cái thằng chó chết Đạt cũng thúc vào:
Anh Bình có đồng ý ông Hồ có công với dân tộc, với đất nước không?
Tôi đã ngất ngưỡng rồi, nhưng bạn bè muốn tôi có ý kiến, vậy thì cứ nói thật, những suy nghĩ trong lòng:
– Tôi đã say, nhưng các bạn muốn tôi có ý kiến, xin các bạn thông cảm, tôi không có khả năng lý luận và ăn nói. Do đấy, tôi chỉ nói những cảm nghĩ và sự việc bản thân đã trải qua:
Khi tôi còn nhỏ ở trong vùng Việt Minh, nên tôi đã là nhi đồng cứu quốc. Tôi đã chơi đùa nhiều với các anh bộ đội của “Bác Hồ” suốt những năm 1945 đến 1950. Năm 1950 tôi ra Hà Nội, 1954 vào Nam, rồi 1962 ra miền Bắc. Do những bối cảnh của quê hương, do những thúc đẩy của dòng đời, tôi đã nhận một nhiệm vụ nhỏ bé ra Hà Nội để chống Cộng Sản.
Dù tôi đã được nghe, được diễn giải chủ nghĩa Cộng Sản từ đệ I, II, III IV Quốc Tế diễn tiến cho tới Tito của Nam Tư (thời gian ở lớp học số 2 Jean Jacques Rousseau).
Một mình tôi xông vào bức màn sắt, mò về Hà Nội để đi thực tế. Trong đáy con tim của tôi vẫn còn dành một góc nhỏ, lòng mến mộ HCM. Thật là một điều mâu thuẫn, nhưng đấy là sự thật! Rồi tôi bị bắt.
Sáu năm trong xà- lim, cũng là thời gian tôi có điều kiện soi rọi lại những sự kiện của cuộc đời, và của quê hương. Ở các trại trung ương, là thời gian tôi vừa tiếp xúc với nhiều những thành phần đối lập, với chế độ Cộng Sản, lại vừa có điều kiện, đọc những sách triết, lý luận của Cộng Sản (do chính CS xuất bản), cái món ăn tinh thần, tôi vẫn ngán ngẩm, và lười đọc trước đây. Như một món ăn mình không thích, nhưng đói và cái thế phải ăn mãi thành quen, rồi thành thích.
Vậy mà mãi tới năm 1978 – 1979 Việt Nam đánh sang Căm-pu-Chia; Trung Cộng dạy cho Việt Nam một bài học. Nhiều đêm tôi mần mò trăn trở, khắp các nước Cộng Sản, rồi về. đến cá nhân Hồ Chí Minh.
Đất nước ta bị thực dân Pháp đô hộ chính thức từ 1858. Dân trí tiến lên theo cái đà chung của toàn thế giới. Vì thế, từ 1900 đến 1925 biết bao nhiêu thanh niên Việt Nam, đều thấy cái nhục mất nước, mong ra nước ngoài tìm được một giải pháp cứu nước. Họ, tùy theo điều kiện, người thì sang Tầu, sang Nhật, Anh, Pháp v.v. . . Nơi nào có những manh mối đường hướng, chủ trương, phương pháp hay tốt . Để từ đấy hy vọng đuổi được thực dân Pháp đi.
Biết bao nhiêu phong trào, đoàn thể, đảng phái đi khắp nơi trên thế giới: Như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Cường Để, Nguyễn Văn Tiến, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thế Truyền v.v…- trong đó có Hồ chí Minh.
Tất cả những người thanh niên yêu nước, thương nòi đầy nhiệt tâm này đã bôn ba nhiều nước, tiếp xúc với nhiều phong trào tiến bộ ở bất cứ một nước nào, hy vọng giải phóng được đất nước của mình. Việc làm của các thanh niên này phải được hoan nghênh, toàn dân Việt chúng ta; cho tới các thế hệ sau này vẫn ghi ơn các vị.
Thời gian và sự việc đã cho chúng ta thấy, do cái trào lưu tiến bộ của loài người, đã đến lúc các loại thực dân kể cả Anh, Pháp, Bồ, Nhật v.v…… trước sau đều phải từ bỏ tham vọng Đế Quốc, Thực Dân của mình (Mỹ tiến bộ, đi đầu tiên) Hẳn các bạn cũng đã nhìn thấy, ngay những nước láng giềng chung quanh của ta. Nói như vậy, có nghĩa các vị thanh niên của ta không cần phải bôn ba, cực nhọc đi tìm phương cứu nước, thì nước ta cũng sẽ được độc lập. Và như thế, chúng ta đã không biết ơn các vị thanh niên đó hay sao?
Không! Việc làm của các vị vẫn đúng, vẫn được chúng ta, những thế hệ sau biết ơn. Như trên tôi đã nói là do cái trào lưu tiến bộ của loài người. Ngay những tên thực dân sừng sỏ, cũng không thể biết trước được, huống chi các vị thanh niên ấy.
Nhận xét một con người, ta phải nhìn từ nhiều mặt, nhìn với con mắt khoa học, biện chứng. Một người có lòng tự trọng, có nghĩa trọng người khác, thì không thể lừa dối bạn bè, lừa dối người thân, không thể làm được một công việc hèn hạ, đáng khinh. Một người miệng và lòng khác nhau, coi quyền lợi cá nhân trên tập thể, trên cả dân tộc. Sẵn sàng lậy van quy lụy kẻ thù, chỉ cần đạt được mục đích, bất chấp phương pháp thủ đoạn.
Do thời gian đã dài, ngày nay nhiều tài liệu mật của Liên Xô (cũ) của thực dân Pháp đã được bạch hóa, báo chí Pháp và thế giới đã trình bày. Khi HCM đến Pháp (1911) đã làm đơn xin theo học Trường Thuộc Địa, để sẽ trở thành một người phục vụ trung thành, cho mẫu quốc nhưng đã bị Bộ Thuộc Địa Pháp từ chối. Anh ta đi thăm hỏi, tìm tòi, nghe ngóng khắp nơi. Ngày nay ở đâu nước nào có một cái đường hướng tạo lập được một lực lượng quần chúng như phong trào Đông Du (Nhật), Tam Dân (Tôn Dật Tiên), Mặt Trận Bình Dân, hay Cộng Hoà v.v. . . Anh chàng tên Minh thấy, sau này dù có đuổi được thực dân Pháp, thì người lãnh đạo cũng chỉ có một nhiệm kỳ 4 hoặc 5 năm mà thôi. Rồi chàng thanh niên đó đã gặp chủ nghĩa Marx kết hợp với của Lénine. Anh ta say sưa học tập và nghiên cứu.
Tuy anh ta hiểu, đi theo con đường của đệ III của Marx+Lénine, người dân sẽ nghèo khổ, nhưng mục đích của anh ta đã đạt Nếu đuổi được thực dân, hoặc lật đổ được một chế độ, thì anh ta sẽ ngồi ở cái ghế đứng đầu ở trong nước, mãi mãi. Một hình thức của một ông vua, một ông Hoàng Đế tuy không thể làm ngai vàng. Nhưng chỉ khi nào chết mới thôi, như ở Âu Châu: Lénine; Staline; Caucescu; Honoker; Fidel Castro. Á Châu: Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. Đặc biệt Kim Nhật Thành còn truyền ngôi lại cho con trai nữa.
Đến đây, ai cũng đã thấy: Những lãnh tụ CS là những người có chủ nghĩa cá nhân cao nhất, núp sau cái bình phong tập thế, là nhân dân.
Điều này cũng lý giải Cộng Sản phải thanh toán gián tiếp hay trực tiếp, tất cả những cá nhân hay đoàn thể, không phải là Cộng Sản. Cũng đã lý giải, ngay từ khi còn chính phủ liên hiệp, cho đến ngày nay biết bao nhiêu cá nhân bị hạ sát, bị thủ tiêu.
Với cái hiểu biết hạn hẹp của cá nhân tôi: HCM là một người không có tim, không có tình cảm, đầy thủ đoạn. Một con người bằng gỗ, bằng đá. Cụ thể: Bất cứ một bài báo, một bài viết nào của HCM, không bao giờ nhắc đến, hay nói đến:
– Cha mẹ, anh chị em (Ai mà chả có cha mẹ?).
– Bạn bè. Dù là một tên trộm cướp, một tên vô lại cũng có bạn bè!
– Vợ con, người tình. Ngày nay không những ở trong nước, thế giới bên ngoài đều rõ: Không những HCM có vợ, mà còn có nhiều vợ, nhiều người tình.
Còn nữa, có lẽ trên thế giới này, là độc nhất, vô nhị. Tự mình lấy một cái tên giả để viết ca tụng đạo đức, tài ba của chính mình. Như tên T. Lan, rồi Trần Dân Tiên. Các anh có thấy nực cười không? Trần Dân Tiên (tức HCM) viết: ” . . . .Tôi hồi hộp, sung sướng, bồn chồn khi được bác Hồ cho gặp, bác tiếp chuyện tôi (Chế Lan Viên đã nói trong hội nhà văn năm 1978. Trần Dân Tiên là chính bác Hồ). Đến đây, nếu chịu suy nghĩ một chút, thì ai cũng hiểu.
Một người như thế thì có thể làm bất cứ điều xấu xa nào. Lừa lọc, lật lọng trắng trợn, giết người; nếu cần giết cả vợ con, bố mẹ, anh em để đạt cái mục đích thâm sâu của mình. Mà quan điểm của tôi:
– Một người bất cứ ở thành phần nào, tuổi tác nào chỉ một lòng vì dân, vì nước kể cả mạng sống của mình, tôi xin tôn trọng kính nể, chết thì tôi tôn thờ.
– Một người cũng bất cứ ở thành phần nào, tuổi tác nào, coi mình là trên, Tổ Quốc quê hương bên dưới, làm hại đồng bào, bán nước, bán đất cầu vinh. Sống tôi gọi là “tên”, là “thằng”. Chết, ‘tôi phỉ nhổ đến muôn đời. Và từ đấy, tôi đã gọi HCM là “tên”, là “thằng”. Dù cho y mấy trăm tuổi, muôn đời như “tên” Trần ích Tắc, Lê Chiêu Thống v.v. . .
Xin trở lại bữa cơm họp bạn ở nhà Nguyễn Hữu Lợi, gồm 6 người của năm 1981. Hiện nay 2005, trừ ô. Nguyễn Phan Long còn ở VN. Năm người kia thì 3 ở Hoa Kỳ là Trần Đình Lộc, Bùi Văn Đệ và tôi. Hai người ở Australia là Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Hữu Lợi. Bằng phương tiện khác nhau, thời gian khác nhau nhưng đều đã ở hải ngoại. Điều này đã nói rõ: Đời là kỳ diệu!
Sau bữa cơm, tôi đã rủ, mời cụ Lưu Linh cùng về. Chiếc cầu Kinh chiều nay trắng quá! Tôi ngừng lại, ghé ra thành cầu. Sao lạ lùng thế! Từ trên cao của thành cầu nhìn xuống, hôm nay nước xanh ngắt một mầu lam mát mắt. Tôi nhìn thấy cả mặt một anh chàng “ngố ‘ cũng đang nhìn tôi. Tôi cứ ngạc nhiên ngắm nhìn anh ta mãi. Trông mặt mũi anh ta, tôi cũng thấy cảm tình, gần gũi dễ mến. Cho tới khi tôi tỉnh dần, rồi tỉnh hẳn, để biết anh chàng “ngố” đó cũng chính là tôi.
Trời trong xanh, không một làn gió, cảnh vật yên ắng của một buổi chiều êm ả. Một vài tiếng quang quác như tiếng chào hỏi của một đàn vạc vừa bay ngang, làm tôi phải ngửng đầu lên nhìn theo. À . . .thì ra bầu trời hôm nay không có một vẩn mây. Cái mầu lam xanh yêu đương ấy, đã nhuộm cả mặt nước dưới chân cầu.
Tôi đã ghệ chiếc xe đạp vào thành cầu, rồi đứng lên, kiễng chân. Tôi đã thấy nhiều mây trắng lắm dưới chân trời. Tôi có cảm tưởng cái vung xanh kỳ vĩ của bầu trời, đã lắc lư rúng động sao đó. Bao nhiêu những miếng bông gòn trắng rải rác, đã tụt hết xuống riềm chiếc vung, thành từng đống.
Con sông Thanh Đa nằm phơi mình ưỡn ẹo, hai bên bờ cây lá xanh um trườn ra, như những vết mực đen loang lổ. Cụ Lưu Linh cũng đã từ giã tôi, để đi về một phương trời. Tôi cũng nhấn mạnh bàn đạp, để kịp giờ trình diện của ngày hôm nay, với CA.
Đặng Chí Bình
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Mộng đời nở hoa
Đặng Chí Bình
Bài 35
Hôm nay tôi quyết định, mua một lon Heineken và một điếu thuốc lá lẻ đầu lọc. Tôi sẽ lên căn gác vắng, để tự hưởng một mình để bù lại những tháng năm, nằm trong miệng của con Hồng Tuộc của thời đại.
Tôi nhẹ nhàng đút cẩn thận lon Heineken vào trong chiếc túi “rết” phía sau lưng, chiếc túi hàng ngày nó vẫn ngồi trên lưng tôi đi lao động ở tổ mộc Thành Công Trong khi tôi nắn nót quấn cái khăn chung quanh lon bia để đút vào túi, tôi nhìn cái túi “rết” mầu núi mùa Đông, như muốn hỏi nó: “Cậu có thấy hãnh diện, từ ngày về với tôi, hôm nay “đặc trách” cậu được mang một thứ nước tuyệt vời để phục vụ “hạnh phúc” của chủ nhân?”
Cô bé bán thuốc lá lẻ hôm nay cũng đặc biệt: bao thuốc lá Dunhill còn ba điếu, cô lấy lại một điếu rồi đưa cho tôi cả bao. Xin cảm ơn cô bé nhé! Trang trọng nhẹ nhàng đút bao thuốc vào túi ngực, áo sơ-mi.
Đẩy chiếc xe đạp ra đường, tôi thấy mọi người nhìn tôi bằng con mắt khắc thường. Mặc! Tôi nhẩy “phắt” lên chiếc yên xe rồi nghênh ngang, dõng dạc thẳng lưng, nhấn bàn đạp. Đi qua Cầu Bông, rất đông người đang chen chúc nhìn xuống dưới triền sông.
Tôi thấy họ lạ thật, họ lạnh lùng thờ ơ thật! Họ không biết rằng trong chiếc túi “rết” ở trên lưng tôi, có một lon Heineken! Trong túi áo sơ-mi trước ngực của tôi, có một bao thuốc lá Dunhill nổi tiếng của Anh, còn những hai điếu. Phố phường, bà con có biết không?
Tôi muốn mọi người chung quanh phải chia xẻ với “hạnh phúc” niềm vui của tôi. Ngay mảnh mặt trời, đã ngả về Tây còn như muốn đẩy lưng tôi, để tôi mau về tới nhà mà “hưởng thụ”. Trước mặt, hai vẩng mây trắng, trông như đôi bàn tay nõn nà của cô Thùy Trang đang vời . . . vẫy. Ghét ơi . . . là ghét! Tôi chẳng . . . Tôi lại cúi gầm xuống, chân nhấn mạnh bàn đạp.
Về tới nhà mới gần ba giờ. Nhà vắng lặng, chắc thầy mẹ của tôi đang nghỉ trưa! Tôi cố cẩn thận không gây một tiếng động, tôn trọng giấc ngủ của các người. Tôi cứ thong thả, đường hoàng chuẩn bị, cho cái phút giây hạnh phúc của tôi. Tôi chợt nghĩ:
“Tại sao không tắm một cái?”
Đã hai ngày rồi, mà chỉ 15 phút thôi, người sẽ sảng khoái, tỉnh táo, để đón nhận cái “thú vị” từ trước đến giờ chưa nếm mùi. Nghĩ thế là tôi làm liền!
Sau khi tắm rửa sạch sẽ chuẩn bị xong. Khe khẽ tôi ôm lon bia và bao thuốc lên gác. Khi đi qua màn thầy mẹ, tôi đã liếc nhìn vào từng màn, các người vẫn nằm yên ắng. Tôi mở to hai cánh cửa sổ, chiếc cửa sổ duy nhất nhìn sang phía nhà bà Tường, qua một cái ngõ hẹp, rộng chừng hai mét. Ngồi đây vừa thoáng mát, lại vừa được ngắm một miếng vuông phía Tây Nam, của mảnh mặt trời chiều. Tôi khẽ khàng trang trọng, đặt lon bia Heineken và bao thuốc Dunhill gần sát cửa sổ.
Tôi ngồi xếp chân bằng tròn, mắt tôi cứ đăm đăm nhìn lon bia, và bao thuốc. Óc tôi lần dở lại những trang đời xa cũ: Thuốc lá Dunhill, trước 1962 tôi đã từng hút nhiều lần. Nhưng bây giờ cảm nhận lại, mắt tôi nhắm nghiền vài giây. Tôi quên tiệt mùi vị của nó đi rồi! Được hãy chờ đấy, đừng có hấp tấp mất hết cả ý nghĩa. Tôi liên tưởng đến một ý, tôi đã quên mất xuất xứ: “Anh không biết trân quý những cái anh đang có, thì anh không được hưởng cái tuyệt vời của nó”.
Ngay từ lúc mua ở Hàng Xanh, tôi đã đọc, nhìn nhiều lần chữ Heineken rồi. Bây giờ tôi vẫn thèm đọc nữa. Bia hơi thì tôi đã được thưởng thức. Thưởng thức ngay từ những ngày trước khi đi vào vùng bão tố. Những bia lon, lại là bia của ngoại quốc, bia của Hòa Lan thì làm sao mà tôi hình dung, tưởng tượng được?
Cũng xin chờ một chút! Hôm nay tôi sẽ cho phép cơ thể của tôi được thưởng thức cái mùi vị đặc biệt, từ bé đến giờ chưa một lần được biết mùi.
Bất chợt tôi đập hai tay vào 2 đầu gối của tôi một cái mạnh. Tôi giật thót người, quay lại nhìn xuống gác! Tư tưởng của tôi cứ đắm chìm vào bia, vào thuốc từ nãy, khi chợt nhớ ra đã không lấy cái hộp diêm quẹt, hút thuốc ở dưới nhà lên.
Như choàng tỉnh, nên đã vỗ vào đầu gối, rồi lại chợt nhớ thầy mẹ đang ngủ, mà mình vỗ mạnh tay quá. Thành ra cứ luẩn quẩn, loanh quanh, luýnh quýnh, như sắp được nếm của lạ!
Thôi hôm nay tạm tha cho cái tính lẩn thẩn, lính quýnh, loáng quáng này một lần. Lần nữa thì không tha mà còn bắt viết kiểm điểm. Ta sẽ xé nhiều lần trước mặt, bắt viết lại, và còn bắt trình diện hàng ngày nữa. Là chủ nhân, ta sẽ hành cho mi mê tơi, ta có trăm nghìn cách, bắt mi phải phục tùng làm nô lệ trâu ngựa, suốt đời cho ta.
Mới chỉ nhìn, chưa uống và cũng chưa hút mà đã say! Ghét bia và thuốc quá đi thôi!
Đã ngâm nga từ nãy, không chịu được nữa rồi. Tôi cầm lon bia khẽ bật cái móc: Một tiếng xịt dài làm tôi nhớ ngay đến con voi ở sở thú năm 1958.
Hôm đó tôi và thằng em trai Công Lý vào sở thú xem voi và hổ. Bỗng một tiếng xịt dài ở hậu môn con voi làm nhiều người quay lại. Rồi một mùi ung ủng của thịt thiu xông ra, làm cho mọi người phải bịt mũi. Nhưng tiếng xịt hôm nay nghe thì giống, nhưng cái mùi của nó thì đê mê làm ngất ngây lòng tôi. Tôi không thể giữ được tay tôi ngừng lại, tay tôi đã đưa lon bia vào miệng rồi, ừng ực mấy hơi liền. Sau khi đã ngất ngưỡng được trên nửa lon, bấy giờ tôi mới sờ đến cô nàng Dunhill. Ngày xưa tiền bối Vũ Hoàng Chương, gặp cụ Lưu Linh thế nào tôi không biết, nhưng hôm nay tôi đã hân hạnh gặp cụ. Cụ Lưu Linh vẫn trẻ mãi không già, như nàng Xuân mới lớn.
Mùi bia, mùi thuốc đầy ắp căn gác trống, hồn của tôi đã thập thò mấy lần định lẩn ra ngoài, nhưng tôi đã kìm lại. Nhìn làn khói xoay tròn, rồi ngoằn ngoèo bò ra ngoài cửa sổ, mầu khói thuốc đã lẫn lộn vào mấy tảng mây trời. Khói lắt léo giẫy dọn, mây thì nằm yên nhưng đều bị ánh hoàng hôn nhuộm vàng hết. Mặt trời muộn, đã nhuộm vàng cả mấy mái tôn, mái ngói; cả một nửa cây điệp to tướng, trong khu nhà thờ Nam Hòa.
Mắt tôi lơ mơ thoáng một bóng trắng, dưới chiếc giếng giữa nhà bà Tường và nhà tôi, tôi tưởng là hoa mất. Tôi ghé sát ra song cửa nhìn xuống, đúng là một cô gái, mái tóc đen huyền buông xõa xuống bờ vai. Đôi tay của nàng, đang kéo gầu nước đổ vào chiếc thau nhôm, có mấy cái khăn đen trắng. Giữa khe hở của hai lọn tóc phía sau lưng cô, là chiếc cổ trắng ngần. Cô chừng 22- 23 tuổi, không hiểu cô là con cái nhà ai ở trong xóm này? Tôi chưa hề trông thấy bao giờ, từ khi đi tù về”
Động óc tò mò, nên tôi tỉnh hẳn, nghĩ đến hàng rào sắt có cây mai tốt tươi (chưa một lần nở hoa) ngay sát chiếc giếng, chỉ cách khoảng 1 mét 50.
Tôi lẹ làng xuống dưới nhà, liếc vào gương, vuốt lại mái tóc, rồi ra sân bếp bên cạnh cây mai, hàng rào sắt chỉ cách chiếc lưng của cô hơn một mét. Tôi đã nhìn rõ! Thừa nhận da của cô thật trắng, nhưng chỉ nhìn thấy phía sau lưng. Tôi suy đoán, chắc chắn khi xong, cô phải đứng lên, quay vào nhà.
Hai tay chống nạnh hai sườn, ngực tôi hơi ưỡn ra, trong thâm tâm, một sợi chỉ nhỏ lờ mờ, tự nhủ: Bốn đám mình đã đến nhà; dù không trâm anh thế phiệt, cũng là loại nghiêng nước, nghiêng thùng mà cũng đều đã chấp nhận. Vậy thử xem cô nàng này, mặt mũi ra sao?
Kiên nhẫn đứng chờ, tôi đinh ninh, cô này khi ngửng lên, nhìn thấy một chàng trai (hai con mắt) đứng lừng lững ngay phía sau lưng, cô ả sẽ đỏ mặt, rồi lúng túng. Tôi đã vận dụng con mắt của nghề nghiệp, chỉ không, chứ cô đã nhìn, dù nhìn ngang (nhìn bằng trường của con ngươi) cũng không thể qua mắt tôi được.
Nhưng, cho tới lúc cô ả đứng dậy, xách gầu, mang thau đi vào một cái cửa sau, của một ngôi nhà quay mặt ra phía xóm nhà thờ, cô không hề liếc nhìn, mặt nghiêm trang, dù cô đã quay cả ra phía sau lưng. Một luồng hơi anh ách dồn lên ngực tôi, tôi quay vào nhà định tiếp tục lên gác. Thấy mẹ tôi đã ngồi dậy trong mùng, cái luồng anh ách hãy còn nóng trong lồng ngực. Tôi sà vào màn mẹ, hỏi ngay:
– Mẹ ơi! Mẹ có biết phía sau nhà, có một cô gái chừng 22- 23 tuổi có nước da thật là trắng, mẹ có biết con cái nhà ai không mẹ?
Bà cụ hơi ngạc nhiên, vì đã hàng nửa tháng nay, tôi đi tìm vợ hết đám này đến đám kia, tôi chẳng nói năng gì. Bây giờ, lại hỏi về một người con gái, ngay phía sau nhà? Bà cụ ngồi im, đăm chiêu một lúc, rồi mặt người tươi lên, mỉm cười:
– Đấy là con của bà Chức, vẫn sang với mẹ, mà con đã gặp. Tại sao, con lại hỏi mẹ thế?
Con bà Chức! Cái bà đã hai lần chuyện trò với tôi, vẫn gọi thầy mẹ tôi là ông bà cụ, và bà đã xưng em khi nói chuyện với tôi? Tôi nhớ lại, chính cái bà đã đi xe đạp sang nhà em Xuân, báo cho biết là buổi sáng hôm ấy, tôi đã về. Mẹ tôi quay lại, còn cười nữa:
– Con có thích, mẹ sẽ nói cho?
Để đường hoàng, nhìn xem mặt cô này, tôi nói với mẹ tôi:
– Con thường không có nhà, khi nào bà ấy sang, mẹ cứ nói dạm thử, con sẽ sang nhà bà ấy chơi, mẹ nhé!
Chừng bốn năm ngày sau, một buổi tôi đi làm về, mẹ tôi từ trong màn nói vọng ra:
– Bà Chức nói, hôm nào con ghé sang nhà bà chơi!
Trong khi hôm kia, hôm qua phía nhà cô Thùy Trang và cô Hương nhắn mợ Út: “Sao không thấy anh ấy xuống chơi! ” .
Một buổi chiều, còn mươi mười lăm phút nữa, tôi mang sổ trình diện đến nhà cô Ngọc Anh, tôi lúi húi sửa lại cái xích xe đạp, chuẩn bị cho ngày mai đi làm. Một tiếng rao hàng quen thuộc, khàn khàn như tiếng con ngạn đực gào, gọi vợ con:
– Lạc rang ……..nóng…….. dòn…….. đây……
Tiếng rao cất lên đã phá tan cái tĩnh lặng của một xóm chiều, nhiều tần tảo sở xoay với hai bữa cơm độn bo bo của mỗi ngày. Dạ dầy, sau một ngày lao động cực nhọc nó đã vặn vò, không còn một chút nguồn sống, nên chỉ nghe tiếng rao, mũi đã đánh hơi thấy mùi lạc rang thơm lừng. Lòng vừa muốn được thưởng thức những hột lạc dòn ngậy ấy, vừa muốn giúp đỡ phần nào ông già bán lạc, còn khốn cùng hơn tôi. Nhưng cái túi của tôi đã ngăn lại, một cách hữu hiệu. Tôi đành phải theo nó, dù vậy tôi vẫn mở cửa bước ra ngó ông già. Một tay ôm thùng lạc, một tay chống chiếc gậy tre, vót nhọn.
Nhìn chiếc lưng gầy đeo chiếc áo lính mầu xám, đã trở thành mầu lá úa, vá chằng chịt. Áo đụp miếng nâu, miếng đen, như nó đang đeo theo nỗi vơi đầy của người dân đen, quằn quại trong nanh vuốt của nhà nước chuyên chính vô sản có nhiều tài bịp bợm.
Tiếng rao mất hút dần về phía cuối chợ Nam Hòa. Con đường hẻm rộng rãi, tráng xi – măng nhiều rác bẩn, lá bánh, giấy vụn, vỏ chuối, giẻ rách, lá khô thối rữa, gió vun rải rác từng đống to nhỏ. Những căn nhà hai bên lớn, bé, hai lầu, ba lầu, những mái bằng, mái ngói, cửa lớn, cửa nhỏ, nhưng đều đóng im ỉm như nhà của bố mẹ tôi. Trên những ban công, những chiếc chuồng to, nhỏ đóng ghép bằng tôn, bằng gỗ thùng và bằng các- tông nhặt nhạnh để nuôi gà, thỏ, vịt thậm chí cả heo. Cứt gà, cứt heo văng vấy lên những bức tường, mầu sơn tươi còn sót lại, những áo, quần, màn, chăng vắt phơi đây đó. Tôi hình dung đường thời gian của con hẻm này:
Trước 1962 tôi đi ra ngoài Bắc, đường hẻm này là đất, cát. Nhà gỗ, nhà tôn, nhà xây lẫn lộn, to, nhỏ, lồi ra, thụt vào, có nhiều cây trứng cá. Những buổi chiều tôi hay nằm trên chiếc phản đầu hè, để học hay đọc sách. Nắng, mưa hai mùa, sớm chiều, những nàng gió vào lả lơi, với những chàng trứng cá. Những anh chàng và những cô nàng có xức nước hoa hay không, nhưng thực sự con ngõ này, nếu không có mùi hương của các chàng trai và những cô nàng, thì là những cái mùi, nhè nhẹ trong lành của thiên nhiên như mùi của cây, của cỏ, của đá và của đất.
Nhưng bây giờ, cũng con ngõ này, lẫn vào trong không khí, nếu không là mùi của phân heo, gà, vịt, thì là mùi của lá thối, hay mùi ủng của cống rãnh.
Cuối 1980 tôi trở về, nhà hai ba tầng xây san sát, đã nói lên một thời phồn thịnh còn vang bóng. Nhìn con ngõ, tôi hình dung như một người gặp thời làm ăn phát đạt sung túc, mặt tươi roi rói như hoa mùa xuân. Bây giờ gặp phải thời mạt vận, buôn thua, bán lỗ, thất cơ, lỡ vận, suốt đêm ngày vật lộn với cái dạ dầy, nên mặt nhăn nhúm, lúc nào cũng buồn rười rượi, mà còn phì ra những cái hơi, vừa chua vừa thủm nữa.
Chiều hôm qua, sau khi cơm nước, rửa chén bát xong, tôi đã trèo vào mùng với mẹ để chuyện trò nỉ non. Tôi đã nói với mẹ, hôm nào bà Chức sang; hay khi mẹ đi chầu, gặp ở nhà thờ, mẹ hãy nói dùm con chiều thứ Bẩy này, con sẽ sang để thăm gia đình.
Mẹ tôi đã gặp bà Chức ở nhà thờ, và bà đã đồng ý chiều thứ Bẩy. Cái buổi chiều thứ Bẩy hôm ấy, tôi cũng chuẩn bị quần áo sạch sẽ, để sang thăm nhà cô nàng, và để nhìn rõ cái mặt, của cô nàng; dám coi thường đấng “mày râu”
Nhà nàng cứ tưởng… …..ở đâu?
Cạnh ngay cái giếng ……..phía sau….nhà mình.
Cũng giống cô nàng của bác Nguyễn Bính ngày ấy:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi…..
Cách nhau cái giậu mồng tơi…….. xanh rờn.
Dù đứng ở sân bếp, cạnh cây mai tôi cũng nhìn thấy cái cửa xanh xanh phía sau nhà nàng. Tôi vẫn đường hoàng cuốc bộ vòng ra phía nhà thờ, để vào phía trước nhà.
Bà Chức đang ngồi khâu vá ở một cái bàn, bà bỏ giỏ khâu vào phía trong, rồi niềm nở; sau khi tôi hơi cúi đầu nhã nhặn chào bà:
– Chào anh! Anh sang chơi!
– Không ngờ nhà bà lại ở ngay phía sau, từ ngày về, hôm nay mới sang thăm gia đình.
Bà Chức cầm cuộn chỉ đút vào chiếc giỏ, quay lại:
– Tôi vẫn sang bên ông bà luôn, hàng xóm, láng giềng.
Đã chuyển đổi hơi khác đi rồi, tôi nói đã không có chủ từ, bà Chức đã xưng “tôi” không còn xưng “em” như mọi khi, và đã gọi bố mẹ tôi là ông bà, thay vì thường gọi ông bà cụ. Điều này là tự nhiên, tự hiểu của cuộc đời. Chắc bà ấy và mẹ tôi đã bàn thảo, trao đổi; nhất là từ ngày tôi về có bao giờ lại sang nhà hàng xóm? Đi trình diện với CA và lo ăn tối ngày, tâm hồn nào để ý đến hàng xóm?
Trong câu chuyện với bà Chức, điều chính yếu là cám ơn bà ấy và xóm giềng đã giúp đỡ bố mẹ mù lòa, già yếu của tôi, trong khi tôi không có ở nhà. Bà Chức cười vui, không khí cởi mở, bà quay xuống bếp gọi:
– Hoa ơi! Đem nước mời “anh” con!
Đúng cô nàng hôm múc nước ở giếng rồi, cô nàng chỉ e lệ cúi đầu, chứ không có lời chào, đứng rót nước, rồi xuống bếp.
Như tôi vẫn biết và vẫn tin: “Đời sống kỳ diệu, khôn lường!” Không một ai biết được ngày mai của mỗi người. Ngay một người tử tội, ngày mai sẽ bị bắn ở pháp trường, có trường hợp vẫn sống, mà còn sống lâu nữa! Có rất nhiều sự việc không thể lý giải. Đã bốn đám tôi và mợ Út đi đến, họ cũng nồng nhiệt đón nhận anh chàng thất cơ, lỡ vận, phó thường dân xác xơ nghèo, nhưng nó không thấy thân quen, gần gũi. Họ còn có nhã ý sẽ lo cho cả hai vợ chồng “vượt biên” khi đã là con cái của họ rồi. Bà Chức bỗng đứng dậy nói:
– Anh ở nhà chờ tôi một chút, tôi ra đây có tí việc.
Nói rồi, bà quay xuống bếp cao giọng:
– Hoa ơi! Con lên nói chuyện với “anh”, mẹ ra đây một tí!
Cô Hoa lên nhà, lần này không dám nhìn tôi; thái độ lúng túng, rụt rè, khác hẳn với khi nãy. Tôi đứng dậy, nhìn vào một chiếc ghế đối diện, nói nhẹ nhàng:
– Mời cô . . . . .ngồi nói chuyện!
Câu đầu tiên tôi hỏi cô Hoa là: “ông đâu, đi vắng hay ở đâu?”
Trong suốt câu chuyện, tôi được biết: Ba (tức ông bố) ở trên Phương Lâm, ba người con trai là em của cô, có nhà làm ruộng, làm vườn ở trên ấy. Cô học vừa hết lớp 11 thì mất nước, khi ấy cô 18 tuổi, cô đã phải đi thủy lợi hai lần, mỗi lần một tuần, đã nếm mùi đoàn thể của Việt Cộng.
Hiện nay cô đi làm cho tổ ngòi bút Đức Thành. Điều làm cho tôi “mềm” lòng nhất, là đã có mấy lần, cô ấy đã dẫn mẹ tôi từ nhà thờ về nhà. Để biết được ý của cô, đồng thời muốn biết một vài quan điểm của cô về xã hội, về đất nước và cuộc sống v.v. . . tôi đề nghị một buổi chiều, ra bờ sông Sài Gòn nói chuyện, cô đã trả lời rất là hợp lý:
– Em đồng ý lắm, nhưng phải hỏi ý kiến của mẹ em đã.
Cũng vừa lúc ấy thì bà Chức trở về, tôi cũng đã thưa thẳng ý kiến trên với bà. Bà tỏ vẻ rất vui và bà đã nói một câu, tôi vẫn còn ghi nhớ tới bây giờ:
– Em nó đi với anh, tôi không có ngại ngần gì?!
Để cho mát, tôi xin hẹn 7 giờ 15 chiều. Sau giờ trình diện, tôi đã đèo Hoa ra bờ sông. Buổi đi chơi này, tôi và Hoa đã trao đổi, thẩm định nhiều lãnh vực, để hiểu tương đối về nhau.
Tôi muốn có một chút khái niệm, về ngành giáo dục của miền Nam trước 30-4-1975, nên tôi đã hỏi cô Hoa học trường nào? Cô đã theo học một cái trường rất lạ: Trường Nhân Chủ, tôi hiểu dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì có rất nhiều trường tư. Trường Nhân Chủ ở đường Nguyễn Văn Thoại, sau Việt Cộng đổi lại là trường Nguyễn Thái Bình.
Giai đoạn tên Nguyễn Thái Bình bị bắn chết, ở ngoài Bắc khi ấy VC có dư luận (cán bộ) cũng không ưa tên NTB này. Nhưng ở trong Nam, Việt Cộng cần lấy chính trị, nghĩa là nó cần mua những người nhẹ dạ khác, cho nên chúng ra vẻ ghi công như trường hợp Nguyễn Văn Trỗi.
Giữa Quốc Gia và Cộng Sản về lĩnh vực này khác nhau rõ rệt:
– Quốc Gia: Bất cứ ai đã đem lại lợi ích, cho quê hương dân tộc ở bất cứ lãnh vực gì, chúng ta đều ghi ơn tôn kính như một danh nhân của dân tộc.
– Cộng Sản: Bất cứ lãnh vực gì, chính trị phải đặt lên hàng đầu: Phải có tính Đảng, tính giai cấp, cho nên chúng có đặt tên phố hay một công trình nào đó, hoặc đề cao một cá nhân là để mua, để đánh lừa những người nhẹ dạ, trong nước cũng như ngoại quốc. Chứ người đó, chưa hẳn đã làm lợi cho dân, cho nước.
Sau khi thấy có thể cùng đi một đường, cùng nhìn về một hướng, tôi cởi cái bọc “anh ách” hãy còn nóng hổi ở trong lòng, với cô Hoa. Tôi đã cầm tay Hoa, nhẹ nhàng hỏi:
– Thế cái buổi chiều hôm ấy, ngoài giếng em không nhìn thấy anh ư?
Hoa hơi bóp ngón tay tôi, rồi nói nhẹ như gió xuân đầu mùa:
– Em không nhìn, nhưng em biết!
Ngạc nhiên, tôi hỏi cho bằng thỏa, để rồi em Hoa phải thú thật là đã để ý đến tôi, từ mấy tháng trước.
Một buổi họp liên tổ Dân Phòng, bà Vinh với bà Chức (mẹ Hoa) đi họp về nói chuyện tên Long to lớn, thường ngang tàng hống hách trong xóm. Y mượn của anh Bình cái kính, dùng xong rồi đút vào túi, coi như quên. Anh Bình đường hoàng đến rút cái kính, rồi về chỗ ngồi, không nói năng gì. Bà Vinh còn nói: “Con ông bà cụ ít nói, nhưng không dễ bắt nạt.” Em ngồi học, nghe được, rồi em cứ nghĩ đến anh.
Tôi đã cảm ơn em Hoa, cho tôi biết một sự thật.
Mắt tôi lơ đãng dõi theo hai con thiên nga, đang sóng đôi bay về phương trời. Tâm tư của tôi lại chạy ngược về buổi chiều, gặp cụ Lưu Linh hôm ấy, tôi kéo đầu Hoa lại gần. Nói với Hoa, mà mắt tôi vẫn ôm chặt đôi thiên nga, đã mờ dần xa vút:
– Nếu hôm ấy, em không nhìn anh bằng một giác quan đặc biệt, thì đã không có buổi hẹn hò hôm nay. Và em có đồng ý với anh rằng: Đời là kỳ diệu?
Hoa đã bóp chặt tay tôi hơn, rồi gục đầu vào tay tôi, thầm thì:
– Em đồng ý!
Và cũng trong buổi tối hôm ấy, chúng tôi quyết định, tiến tới hôn nhân.
Đặng Chí Bình
Post by Sơn râu 7 Nov 2023

Tìm bạn đời
Đặng Chí Bình
Bài 34
Đặc biệt từ hôm qua, mẹ tôi đã sai tôi ra đường Bắc Hải, để mời mợ Út, cùng vào ăn cơm hôm nay. Tôi xin sơ lược về mợ Út của tôi: Mợ Út chỉ hơn tôi hai, ba tuổi, mợ là vợ của cậu Út, có bốn người con, mợ là họ hàng phía bên mẹ của tôi. Khi tôi đi tù về thì cậu Út đã chết từ khi nào, và mợ đã tái giá với một người khác mà chúng tôi thường gọi là chú Hiệp. Chú Hiệp và mợ Út, sống với bốn người con riêng của mợ Út ở đường Bắc Hải.
Từ ngày tôi về, thỉnh thoảng tôi vẫn ra thăm hỏi sức khỏe mợ Út và chú Hiệp, các em Quang, Tuấn, Thu và Phương (hiện nay mợ Út + chú Hiệp và các em đều đã ở Califomia, Mỹ). Mợ Út là người thành thị, từ Hà Nội cùng di cư vào Sài Gòn 1954, mợ giao thiệp rộng và ăn nói dễ vừa lòng người. Hôm nay, mẹ tôi sai tôi đi mời mợ, điều chính yếu là nhờ mợ mối lái tìm, cưới vợ cho tôi. Bữa cơm của đại gia đình hôm ấy, mọi người đều tán đồng và ủng hộ, việc tôi cưới vợ là đúng với ba lý do:
1) Tôi đã lớn tuổi rồi.
2) Tỏ với chính quyền VC, tôi an cư lạc nghiệp, chí thú làm ăn, sống với bố mẹ già.
3) Có người phụng dưỡng đỡ đần cha mẹ mù lòa, già yếu của tôi, nếu như một mai . . . ..? Tôi muôn vạn nẻo đường? Trong đó có cả một nẻo về lòng đất nữa!
Mợ Út, tên thực là Vân, rất sốt sắng sẽ đảm nhận việc tìm kiếm một người. Người đó sẽ đồng hành đi chung cuộc đời với tên bất tài, bất hạnh này, mợ Út căn dặn tôi: “cuối tuần ra mợ “.
Những cháu nhỏ, chưa có ý thức, thì không nói làm gì, các em Thu, cô chú Tuất, chị Hai Công hưng phấn ra mặt. Từ lâu, trong lòng của mỗi người, tuy không thể hiện ra ngoài; rất băn khoăn, thấp thỏm không yên, cảnh bố mẹ mù lòa già yếu, mà không có một ai sống bên cạnh để giúp đỡ, những khi “tối lửa, tắt đèn”. Những ngày “mưa tạnh, gió hòa” lại có những ngày “mưa giông, sét giật” thì làm sao?
Riêng cuộc đời của người em, người anh lận đận, may mắn sống sót từ trong cơn “lốc” của quê hương trở về. Tuy tuổi đã trên nửa đời, với nhiều “di chứng” của cơn “lốc” vẫn đang bị những cái vòi của con Hồng Tu ộc quấn chặt khấp người ngày đêm. Những chiếc vòi “vô hình” này đã thẩm hút cơ thể của tôi, chỉ còn da bọc xương.
Chị Hai Công, đã gọi riêng tôi xuống bếp, chị cầm tay tôi, nước mất đoanh tròng:
– Chị thương cậu lắm? Mười ngày nữa, chị sẽ xuống cho, tặng cậu một cây vàng? Không được nói cho các cô biết.
Tôi đã lên nhà chị ở Hồng Ngự, một căn nhà tranh vách đất nghèo nàn. Vậy mà chị lại có một cây vàng để cho tôi, tôi hiểu lúc này (1981), một cây vàng không phải là nhỏ trong cái lúc mà tình người đã bị con Hồng Tuộc làm cho cạn khô. Tôi đã ngồi xuống chiếc ghế con ở bếp, hai tay tôi ôm đầu, hàng giờ để thẩm nhận dần cái tình thương yêu lồng lộng của chị Công.
Cuối tuần đó, tôi mò ra mợ Út, chú Hiệp theo lời dặn. Mợ nhìn tôi rồi nói như thật, như đùa:
– Năm nay cháu đã 44 – 45 rồi, mợ nhìn cháu, chỉ ngoài 30 thôi!
Tôi hiểu, mợ tôi muốn cho tôi một liều thuốc, để yêu đời, tôi cười và cũng nói vui lại với mợ:
– Mợ lại cho cháu đi “trực thăng” rồi! Dù vậy, cháu cũng xin cảm ơn mợ!
Miệng trả lời mợ Út như vậy, nhưng trong lòng tôi cũng có những suy nghĩ chủ quan: Tôi luôn năng động thể dục, thể thao, bơi lội, lại có sáu năm nằm yên một chỗ thực hành phương pháp A (tập II Thép Đen) nên có phần trẻ lâu. Cụ thể đã có nhiều bạn bè nói đến, từ ý nghĩ chủ quan này tôi đã nói thắng với mợ Út nội dung:
– Với khả năng nhìn sâu, xét kỹ của mợ về con người, cháu tin nơi mợ lấm! Nhưng cháu cũng xin đưa ra những ý nghĩ của cháu về vấn đề này như sau. Thực sự cháu sẽ lập gia đình, nhưng chưa phải bây giờ, như bữa cơm ở nhà cháu: cháu phải lấy vợ. Vậy cháu đề nghị thế này: Vấn đề tiên quyết trong cuộc hôn nhân này: Cháu bị tù 18 năm, rõ ràng không phải chuyện riêng của cá nhân cháu, mà tù trong chế độ VC với cái tội ” Hoạt động, gián điệp ” thì hầu như không được tiếp xúc hay nhìn thấy ai.
Vậy cô nào, đối tượng bất cứ là ai, có đồng ý trừ cho cháu những tháng năm, cháu nằm trong nhà tù CS hay không, có như thế thì cháu mới bàn đến chuyện hôn nhân. Nếu “đối tượng” đồng ý trừ, thì cháu năm nay mới có hai mươi mấy, huống chi (tôi nửa đùa, nửa thật) cháu nói vui theo lối “hình dung”: ông trời ban cho loài người, phụ nữ cũng như nam giới, mỗi người một sợi “tơ đồng”, tượng trưng cho cái thời hoa mộng của mỗi người. Một người đàn ông 44- 45 tuổi ở ngoài đời, thông thường, cái dây tơ đồng của người ấy đã “gẩy” nhiều lần, nếu không nói là gẩy quá nhiều nên đã “rão” ra rồi. Bây giờ có đem ra gẩy thì nó kêu “bùng bục, rè rè” Ngược lại cái giây “tơ đồng” của cháu chưa hề gẩy lần nào, vậy nếu bây giờ có điều kiện gẩy, thì nó phải “thánh thót, lanh lảnh” như buổi ban đầu hoa mộng của mỗi người!”.
Mợ Út và chú Hiệp nghe tôi trình bày, đều cười như nắc nẻ, chú Hiệp còn nói đùa thêm:
– Cậu lý luận, hình dung kiểu này thì dù cho cô nào khó tính mấy, rồi cũng sẽ trừ cho cậu. Vì họ cũng cảm thấy, như có phần đóng góp cho cái đất nước, khổ đau của chúng ta, không may gặp phải con Hồng Tuộc. Trên thế giới, bất cứ một nước nào gặp phải con Hồng Tuộc, gặp nhiều thì dân khổ nhiều, gấp ít thì dân khổ ít.
Ngày Chủ Nhật, đã có hẹn với chú Hiệp, mợ Út; sau khi đi lễ về tôi phóng xe ra đường Bắc Hải.
Theo mợ Út ở ngoài đầu đường Bấc Hải, có cô Hoàng Thúy 37 tuổi, hiện là giáo viên cấp Hai trường Nguyễn Qúy Cáp, bố là “chef” một nhà ga xe lửa, ở Nha Trang đã chết trong chiến tranh. Hiện nay cô Thúy sống với mẹ già 65 tuổi và người em trai theo nghiệp bố, đang làm trong ngành hỏa xa của chế độ mới. Cũng theo mợ Út, nhà cô Thúy rất gia phong, nền nếp đạo đức cô và mẹ cô thường đi lễ nhà thờ Thánh Tâm. Mấy ngày trước mợ Út đã nói sơ về tôi với gia đình cô Thúy, hôm nay họ muốn tôi ra để chuyện trò, như để nhìn và ra mất buổi đầu.
Vì ngay ở đầu phố, nên tôi và mợ đều đi bộ đến nhà cô Thúy, ngôi nhà của cô Thúy hai lầu, cũng khá khang trang. Bà cụ và người em trai cô Thúy chừng 30 tuổi, tiếp đãi chúng tôi tỏ ra có văn hóa, lịch thiệp. Cậu Thành, em cô Thúy đã hỏi tôi rất nhiều chuyện ở trong tù, cậu tỏ ra rất thích thú những cảnh phản gián Hà Nội theo dõi v.v… Vì trước đây cậu đã đọc Z 28 của Người Thứ Tám. Khi cô Thúy đưa nước ra mời khách, mợ Út đã kéo lại ngồi với mợ để nói chuyện.
Bà cụ và cậu Thành tỏ ra một vài ý: Nếu cưới hỏi xong thì bà cụ sẽ lo cho vợ chồng “oversea” (Vượt biên) v.v. . . Chúng tôi nói chuyện khoảng hơn một giờ, thì xin phép ra về.
Buổi chiều mợ còn dẫn tôi ra đường Thoại Ngọc Hầu, đến nhà cô Mai, sinh viên Văn Khoa năm thứ 2, năm nay cô 23 tuổi. Trên đường về nhà, mợ Út đã hỏi ý kiến tôi về cô Hoàng Thúy, tôi cũng thưa với mợ vài nét có tính cách phiến diện: tỏ ra là một gia đình có học, có văn hóa. Họ tiếp đãi chuyện trò ân cần không kênh kiệu, khách sáo. Dù vậy, xin cứ để ít ngày nữa, vội gì.
Khi tôi về nhà, thầy tôi thì không để ý, nhưng mẹ tôi như nôn nóng đợi chờ, tôi mới bước vào nhà, mẹ tôi đã hỏi vọng ra từ trong màn:
– Làm sao con? Liệu có xong không?
Nghe mẹ tôi dồn dập hỏi tôi chỉ thấy lòng tôi như ăn mấy cục muối mặn. Hình dung, thương cảm cho nỗi niềm của mẹ tôi, nếu mắt người không bị lòa, thì đây là việc của người. Chính người sẽ đo lường thẩm định người con dâu của người, nhưng giờ đây chỉ ngồi một chỗ âm thầm trong bóng đêm để đợi, để nghe, để xin một sự “bố thí” của dòng đời cho người. Tâm tư của tôi như vậy, nên tôi đã trèo lên ngồi cạnh người, tường thuật tỉ mỉ, chi tiết sự việc cho mẹ tôi. Tôi hiểu đây là một cách, để nỗi “ẩn ức” trong lòng của người vơi đi được phần nào.
Buổi chiều, mợ Út không đi được xe đạp, nên tôi đã phải “đèo” mợ ở yên sau. Hai mợ cháu mò mẫm lách dòng người đến nhà của cô Mai. Ông bố và bà mẹ cô Mai là nhà giáo, dù là dậy các cháu ở bậc tiểu học trong xứ đạo (giáo làng). ông bà gốc gác ở Cẩm Thủy, Thanh Hóa, vì chúng tôi vào nhà bất chợt, nên cô Mai đang ngồi với mấy em nhỏ, ở cái bàn trong góc nhà. Ông bố tên là Thăng, khoảng trên năm chục tuổi. ông bà Thăng tỏ ra chất phác, cuộc đời của ông bà gắn bó nhiều với luỹ tre, với xóm làng. Chỉ một thoáng nhìn cô Mai nhưng cô đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Đôi mắt của cô tròn và đen như hai hột nhãn lồng, mái tóc cuối Xuân, đầu Hè như co, như duỗi trên chiếc áo sơ- mi mầu nâu non của cô. Đặc biệt, trong khi tôi và bà mợ ngồi tiếp chuyện với ông bà Thăng, tôi đã nhìn thấy hai cái hột nhãn lồng ấy nhiều lần, ở một cái khe cửa phía nhà trong.
Ông bà Thăng hỏi rất nhiều sự việc: tại sao ra ngoài Bắc? Họ hàng, thân nhân quê quán, và về bố mẹ của tôi v.v. . . Tôi cứ sự thật trình bày, cũng hơn một giờ, chúng tôi xin phép ông bà đi về. Ông bà Thăng vồn vã, như đã thân quen lâu ngày:
– Bây giờ anh đã biết nhà, khi nào có thời gian cứ xuống chơi với các em!
Trên đường về nhà, bà mợ lại hỏi như sau buổi đến nhà cô Hoàng Thúy. Lẽ ra, tôi chưa muốn nói về ý nghĩ của tôi, nhưng nghĩ đến tâm sức của bà mợ, đã mấy ngày nay vất vả vì tôi. Tôi dịu dàng nói chân thành với bà mợ:
– Mợ hỏi, cháu thấy khó nói, khó diễn tả, xin nói dễ hiểu thế này: “Cháu có thiện cảm với cô Mai hơn là cô Thúy”.
Mợ Út nói, còn hai đám nữa ở xứ Đắc Lộ và bên đường Hoàng Văn Thụ. Một người hẹn chiều thứ Bẩy tới, nhưng một người ở đường Hoàng Văn Thụ, thì ngay 8 giờ tối thứ ba này. Tôi không nghĩ mợ Út lại quen biết nhiều thế! Đã nhờ mợ, thì cứ phải đi theo mợ, và cũng là đi theo sự may rủi. Truy cho cùng của sự may rủi, là định mệnh của đời mình rồi còn gì. Vì cuộc đời kỳ diệu khôn lường.
Từ ngày trở về miền Nam, quá nhiều sự việc dồn dập, nhưng chính vì ngày đêm CA, không cho tôi thở nữa nên rất nhiều sự việc, tôi không còn tâm hồn nào mà nghĩ tới. Thời gian này, do những thúc bách như đã trình bày, nên tôi đi tìm vợ. Một hôm chợt từ trong hố sâu của đĩ vãng, váng vất nổi lên hình bóng một người của trước năm 1962. Đó là cô Thu Nga, con của một người bạn thân của mẹ tôi, ở khu Bàn Cờ mà dạo ấy, mẹ tôi đã tâm niệm Thu Nga sẽ là cô con “dâu” hiền của bà cụ.
Phải nói, nếu không vì ngày ấy lòng tôi quá nhiều sôi nổi với quê hương dân tộc, cộng với cái chí ngang dọc, vẫy vùng của người con trai còn đỏ thắm nên tôi đã gạt hết, gạt cả những hình bóng diễm kiều, của giai nhân sang bên cạnh. Để tôi bay theo gió, theo mây, để rồi đã rụng vào mồm của con Hồng Tuộc.
Tối hôm nay, ngoài chuyện phải trình bày, tường thuật tỉ mỉ sự việc đến nhà cô Mai, (dứt khoát không thể quên hai hột nhãn lồng) tôi sẽ hỏi mẹ tôi về cô Thu Nga ngày ấy, bây giờ ra sao? Tất nhiên sẽ cũng như cô T. T.KH: (tôi không thích gọi là bà).
Nếu biết rằng….tôi đã lấy ….chồng…
Trời ơi!….người ấy có…… … buồn không?
Có còn thương đến loài……hoa vỡ…
Tựa trái tim phai…..tựa…..máu hồng!
Thưa cô Thu Nga, thương thì vẫn thương! Nhớ thì vẫn nhớ! Nhưng tôi không buồn vì là . . . . . . tôi tự nguyện. Và chính lòng tôi muốn hỏi cô:
Nếu biết rằng … … …. tôi đã ở tù
Trời ơn Người ấy có …..buồn không?
Có còn thương nhớ người … … … năm… … cũ…
Vùng vẫy bên trong…. miệng ……..Tuộc Hồng?
Ngày thứ Ba, tôi lại đèo mợ Út sang bên khu Lăng Cha Cả, đường Hoàng Văn Thụ, cô này có một cái tên rất là “lai láng, dập dờn”: Thùy Trang. Bố cô là một Thiếu Tá trong binh chủng Thiên thần Mũ Đỏ, hiện ở trại tù Hà Nam Ninh, chưa biết ngày về. Ông có hai trai, hai gái, cô Thùy Trang là thứ nhì, 26 tuổi, người em Út cũng là gái 20 tuổi rồi, người anh trai cả hơn 30 tuổi đã có gia đình và một con nhỏ. Người anh trai này tên là Dương đang là sinh viên sĩ quan cửa Thủ Đức, được ba tháng thì đứt phim nên không phải đi tù.
Bà mẹ của cô Trang đã gần 60 tuổi, năm 1980 cả hai mẹ con đã mò mẫm ra trại Nam Hà, để thăm nuôi chồng và cha. Qua mợ Út tôi còn được biết, hai chị em cô Thùy Trang đã đi vượt biên hai lần rồi, nhưng không thoát, có lần bị bắt giam hơn bốn tháng, phải đút vàng mới được tha về.
Tóm lại đây là một gia đình của phe ta, cái phe đã không đứng bằng chính đôi chân của mình, mà hay đứng dựa, đứng vịn vào người khác, nên đã chiến bại. Và nó mới đẻ ra, những nông nỗi nhiều nhiều sau này, cho người cùng phe.
Bà mẹ và anh chàng Dương cũng tiếp đãi chúng tôi nồng hậu, anh Dương và bà cụ tỏ ra tương đối hiểu biết về những thủ đoạn gian ác, lật lọng của VC. Tôi hơi ngạc nhiên, sau tôi mới hiểu: gia đình gốc ở xã Lưu Phương Phát Diệm, Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Phát Diệm khu tự trị đã một thời làm cho Hồ Chí Minh điên đầu.
Bà cụ và anh Dương có nhã ý mời chúng tôi ăn bữa cơm gia đình buổi chiều tối, vì đối với mợ Ut thì có thân quen. Phần vì 7 giờ tôi phải đi trình diện, phần khác tôi còn định ra Phường xin con dấu, để sáng mai lên quận xin gia hạn ba tháng tạm trú ở nhà bố mẹ. Tôi đã nói riêng với mợ Út, rồi tôi đưa luôn lý do trên ra để từ chối bữa ăn. Lúc này tôi thấy bà cụ hướng lên gác gọi to:
– Trang! Có chùm trái vải của chú Trung ở dưới vườn cho hôm qua, con đưa xuống đây để mời bà Vân (Út) và anh Bình ăn vải đầu mùa!
Tôi nghe tiếng “dạ” êm và ngọt, như mùi trái Lạc Tiên, ngày còn bé tôi và chị Hai Công hay ra vườn dâu để lục lọi, tìm kiếm. Rồi thoáng bóng một đôi chân, mềm mại đi xuống gác. Gặp mắt tôi, cô hơi cúi đầu như chào, đôi bàn tay rụt rè bầy những chùm vải ra một cái đĩa trên bàn.
Nhìn đôi bàn tay, tôi có ý nghĩ: Đôi bàn tay này chắc cũng đã làm phiền những giấc ngủ, của những anh chàng nào gặp chúng lúc ban ngày. Nhưng cái đầu và mặt của cô hơi một chút khuyết điểm, sống mũi của cô hơi gẫy lõm vào như hình chữ V gioãng. Cái cằm của cô hơi ngắn, thành ra nếu nhìn thoáng, tường rằng cô móm. Bộ mặt của người anh lại tương đối hoàn chỉnh, con trai đâu cần bộ mặt bằng con gái. Thế mà, ông trời cũng thường hay lắt léo chéo cẵng gà, có thể cô Thùy Trang cũng được “bù trừ”. Giọng nói của cô nhiều lúc nghe như tiếng khánh, tiếng ngọc chạm nhau, lý luận của cô cũng rất mạch lạc, vững chắc dễ thuyết phục người nghe.
Khi chúng tôi chào, bắt tay từ giã ra về, anh Dương và chính cô Thùy Trang, đã thỏ thẻ ngập ngừng:
– Có dịp mời bà và anh ghé sang chơi! Em rất thích nghe chuyện tù của anh Bình!
Tôi chỉ biết cám ơn toàn bộ gia đình đã niềm nở đón tiếp như người quen, lại được thưởng thức những trái vải đầu mùa, thực là may mắn! Trên đường về, tôi có nhận xét với mợ Út, gia đình này tuy ở Phát Diệm nhưng cháu thấy có vẻ hơi đài các, còn cô Thùy Trang, có thể cô phải va chạm cuộc sống nhiều nên tỏ ra khá sắc sảo, tinh nhanh.
Tôi vẫn tin vào sự kỳ diệu của đời, có những cái đúng bây giờ nhưng sau này lại không còn đúng nữa, hay ngược lại! Chính vì vậy tôi thường nghe nhiều ở cửa miệng người già là “vợ chồng là duyên số”. Để rồi, tôi sẽ cảm nghiệm trong những ngày tới.
Mợ Út và mẹ tôi, thấy đã đi đến ba đám, xem ý tôi vẫn: con cá vàng bơi lội trong hồ, nên cái “côn”, “gas” lúc đầu đã hạ dần xuống. Nghe mợ Út còn nói thứ Bẩy này đến một nhà ở khu Đắc Lộ, gần hồ bơi Cộng Hòa. Cô này tên Hương, mợ lại khen, ca ngợi là một cô gái được nết lại được người, rất đảm đang, đã có mấy lần đi buôn hàng chuyến cà phê đường Ban Mê Thuột với mợ Út. Thì tôi cứ đến gặp cô Hương đó đã, vội gì?
Chiều hôm qua, một việc làm cho tôi bần thần, thấp thỏm có lúc tự trách, nhưng có lúc lại thôi. Đi làm về, khi tôi mệt nhọc đạp xe về đến ngang cổng khu Tân Chí Linh, rõ ràng từ xa, qua dáng dấp là cô Mai đang đi gần lại, vì ngược chiều nhau. Đúng rồi, hai hột “nhãn lồng” nhưng cô không nhìn thấy tôi, sắp ngang qua tôi thì cái mũ mầu gạch non trên đầu của cô bị gió hất tung xuống đường. Tôi đã đạp xe qua hàng chục mét. Tôi ngừng xe ngoái lại chiếc mũ bay xuống mé đường, cô Mai cũng đã ngừng, dắt xe trở lại để lấy cái mũ. Tại sao tôi lại lưỡng lự không nhặt cái mũ cho cô Mai? Phải chăng khi ấy tôi chưa phân định kịp giữa lịch sự, lịch thiệp (galant) với “nịnh” để làm vừa lòng một đối tượng. Nếu ở cái sau, tôi cứ thấy thấp thoáng có chữ “hèn” nên tôi đã ngần ngại, nhặt chiếc mũ cho cô Mai?
Rồi cũng đến ngày thứ Bẩy, buổi sáng đó tôi lại phải đi Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa, trưa về cơm nước tắm rửa gần ba giờ, tôi đã xách xe ra mợ Út (vì mợ dặn trước). Lần này không hiểu sao mợ lại căn dặn tôi nhiều việc như: Cô Hương này rất quý trọng mợ Út, nên mợ cũng thương qúy cô Hương. Hôm nay, có cả người anh rể cô Hương cũng đến để tiếp, và cũng muốn xem cái anh chàng “đồng hao” của mình thế nào! Mợ vẫn nói “Cái mặt và dáng dấp của cháu, nhiều lắm là 35 tuổi, vậy cháu nhớ khi nói chuyện với gia đình cô Hương, cháu đừng nói đi tù 18 năm, mà nói đi tù 10 năm thôi. Chứ họ không tin, chả lẽ bị tù chính trị ra Bắc mới có 16-17 tuổi thì ai tin được?” (tôi suy đoán chắc mợ Út đã giới thiệu tôi 35 tuổi).
Hẹn 7:30 tới nhà cô Hương, vì 7 giờ tôi đem sổ cho cô Ngọc Anh ký, nên tôi đạp xe ra chở mợ Út, để đi luôn.
Trời đã cập quạng, chim đã bay về tổ, khách lữ hành cũng rảo cẫng, chúng tôi loay hoay tìm số nhà một lúc. Một trong những căn nhà mới xây cùng một kiểu cho công nhân viên chức mua, của chế độ cũ. Trong sân, dưới tàng cây trứng cá đã có hai chiếc xe Honda, một thanh niên chừng 26 – 27 mặc sơ- mi trắng quần đen, bỏ trong thùng. Anh ta tự giới thiệu khi bắt tay, là anh rể của cô Hương, đến đây để đón tiếp và chuyện trò với tôi. Anh ta kéo tôi ngồi xuống mấy chiếc ghế ở góc sân, anh đưa bao thuốc lá Samitt đầu lọc ra mời tôi. Tôi hiểu giai đoạn ấy thuốc lá đầu lọc là loại sang, ăn chơi. Trong khi bà mợ vào trong nhà, tỏ ra đã quen biết nhiều với gia chủ.
Những câu chuyện xã giao trao đổi với anh chàng “anh rể” làm cho tôi đã hơi ngại ngần trong cách xưng hô. Thôi thì cứ “anh, tôi”, dưới ánh điện từ trong. nhà chiếu ra mập mờ sáng tối, chẳng thể nhìn được nét ngượng ngùng trên nét mặt của tôi.
Đến khi trong nhà đã chuẩn bị xong, mợ Út thò mặt ra gọi niềm nở: “vào trong này cháu”.
Trong phòng khách, đèn sáng choang, một ông chừng 46 – 47 mặc bộ Pyjama đã sờn cổ. Qua cách tiếp đón, bắt tay chứng tỏ là chủ nhân của ngôi nhà. Ngay lúc này, tôi đã mất hết tự nhiên, đành rằng tôi gọi người đó là ông. Nhưng tôi lúng túng không biết xưng cháu, hay xưng con, chả lẽ xưng tôi khi định đến hỏi vợ là con gái của người ta? Vì vậy trong khi chuyện trò, tôi toàn là dùng những câu không có chủ từ. Ví dụ như khi ông ta hỏi:
– Anh đã được ra tù từ bao giờ?
– Dạ thưa ông, được gần 7 tháng rồi ạ!
– Ông bà cụ của anh có khoẻ không?
– Dạ . . . . .cám ơn Chúa, bố mẹ . . . . .khỏe ạ!
Nói chung, bao nhiêu cái chủ động tháo vát mọi khi của tôi, hôm nay chúng bỏ nhà đi chơi sạch. Mặt của tôi cứ nóng lên, nhất là khi một bà từ trong nhà đi ra, tươi cười cầm tay mợ tôi, trông bà chỉ trạc tuổi của tôi 44- 45 tuổi. Khi được ông giới thiệu: “Đây là nhà tôi”. Tôi cũng đứng dậy hơi cúi đầu, miệng lí nhí:
– Xin chào . . . . .bà ạ!
Tôi và mợ Út ngồi một ghế sofa, ông bà đó ngồi một sofa đối diện, một cái bàn kính thấp hình chữ nhật dài ở giữa, mặt nhìn mặt rõ mồn một. Ông bà ta cứ chằm chằm nhìn thẳng mặt tôi, ngược lại, tôi chưa dám nhìn xem bộ mặt của ông bà ta ra sao? Mặt tôi cứ nóng lên phừng phừng, lợi dụng lúc ông bà quay đi; tôi bấm lưng mợ Út nói nhỏ như cầu cứu:
– Về đi thôi! Mợ ơi!
Mợ coi như không nghe thấy lời “cầu cứu” của tôi, mợ vẫn say sưa bàn tán vào câu chuyện với bà . . . ..đó. Ông bà hỏi tôi rất nhiều chuyện, từ khi còn đi học ở trong Nam, cho tới khi ra Bắc và lại đi tù (tất nhiên 10 năm). Cảnh bố mẹ, anh chị em v.v… Tôi toàn bị động trả lời ngập ngọng, nhất là khi biết bà ấy còn kém tôi một tuổi. Trước bốn con mắt của ông bà ngồi đối diện, người tôi như ngồi trên nồi rang. Mục đích là đến hỏi con gái của người ta mà lại xưng “tôi” thì làm sao “ổn”, xưng “cháu” hay “con” thì cái miệng của tôi không thể thồt ra lời.
Tay tôi cầm chén nước trà từ lúc đầu; để che lấp những lúc mất tự nhiên, tôi lại đưa chén nước lên miệng nhấp, nước đã hết từ lâu. Cái chén đã nóng lên do “nhiệt” ở tay tôi chuyền vào, mà tôi vẫn chưa dám bỏ chén nước xuống bàn, cho tới khi bà ấy quay vào trong nhà gọi rất trìu mến:
– Hương ơi! Đưa nước thêm ra đây con!
Tôi nghe tiếng “dạ” êm như gió mộng trong nắng Xuân, từ trong bếp vọng ra, tôi biết cô Hương “đối tượng” của tôi sắp ra. Tôi cũng còn biết bốn con mắt như tia đèn bấm, đang chòng chọc quan sát mặt tôi, khi con gái của họ ra “trình làng”. Tôi đã được biết cô Hương năm đó 18 tuổi, tôi chỉ thoáng bóng dáng một giai nhân có bộ tóc dài óng ả, xuống quá dưới mông. Cho tới bây giờ tôi cũng chưa biết mặt mũi của cô ta ra sao? Tôi có dám nhìn lên mặt của cô ấy đâu!
Tôi chỉ được nhìn đôi bàn tay của cô, khi cô nhẹ nhàng rót thêm nước vào các chén, và tôi lại được liếc nhìn “suối tóc mơ” một lần nữa khi cô quay vào nhà trong. Cho tới khi tiễn chúng tôi ra cửa, ông bà còn vồn vã căn dặn:
– Bất cứ khi nào có thời gian, anh lại đây chơi với các em, chuyện trò như trong gia đình.
Cho tới khi ra sân, ra cổng bắt tay với người “anh rể hờ một giờ” lòng tôi còn xốn xang xúc động.
Từ hôm tôi có ý định cưới vợ, đây là đám thứ tư, đối tượng nhiều tuổi nhất là cô Hoàng Thúy 37 tuổi, đối tượng ít tuổi nhất là cô Hương “suối tóc mơ” 18 tuổi.
Tôi một người con trai đã 44-45 tuổi đời, bị dòng đời đẩy xô vào trận cuồng lưu, đến nay là một người tù, bị quản chế chặt chẽ ngày đêm. Bố mẹ thì mù lòa già yếu, cơm gạo thì bữa đói, bữa no. Không những “tay trắng” mà còn là những bàn tay “nhơ bẩn” có quá nhiều vết đen, trong chế độ này.
Ai cũng nhìn thấy vì sao, cả bốn đám đều nồng nhiệt đón nhận? Do tôi đẹp trai? Do tôi ăn nói hay, tán hươu, tán vượn giỏi? Dù một em bé mới lớn, mới hiểu biết cuộc đời cũng thấy là hoàn toàn không phải! Về phương diện này có khi còn ngược lại. Như vậy vì sao?
Đặt câu hỏi thì ai cũng thấy nguyên nhân sáng tỏ như ban ngày: Nó ẩn tàng, nó cuốn chặt, nó luồn lỏi vào bên trong sự việc. Tôi đi tìm vợ được người ta chấp nhận là: ý thức và tinh thần hoài . . .Ngô, hay hoài Quốc Gia của người dân.
Tôi hiểu: Muốn trong lòng người dân có cái tinh thần hoài…..này, phải mất nhiều xương máu, công sức của các bậc cha anh, máu xương của nhiều người đã nằm xuống. Khối óc và bàn tay của nhiều người, nhiều thế hệ để được lòng dân “hoài” này. Chế độ VC hiện nay càng hà khắc, độc tài, chà đạp tự do, dân chủ thì lòng dân càng “hoài” Quốc Gia. Cũng như cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Khuyến, bà Huyện Thanh Quan v.v… thậm chí đã làm công chức, làm quan cho triều Nguyễn, mà tâm hồn vẫn còn hoài nhà Lê. Tôi xin cúi đầu cảm tạ công ơn của quý vị đã đóng góp cho Quốc Gia, để tôi được hướng thành quả ngày nay.
Trong những câu chuyện trao đổi ở nhà các cô, dù có nói về gia cảnh, về chuyện làm ăn – Là những phương diện, tôi không bằng ai – Nhưng phải nhận rằng, thân nhân của các cô, có thể ở cả các cô nữa, đều ít nhiều ấp ủ trong tâm tư lý tưởng quốc gia.
Sáng ngày Chủ Nhật tôi lại phóng xe sang nhà vợ chồng Lợi, tôi tường thuật sơ lược chuyện tôi đi hỏi vợ, cho vợ chồng nó nghe. Vợ chồng Lợi thích nhất là cái cảnh tôi “ngậm hột thị” ở nhà cô Hương 18 tuổi ở Đắc Lộ. Thằng Lợi vừa cười, vừa nói:
– Tao cứ hình dung cái mặt của mày lấm lét “đíu” dám nhìn mặt cô em. Mày càng “khổ” thì ông, càng “sướng”!
Buổi trưa tôi đạp xe về qua Hàng Xanh, đã nhiều lần lên nhà Lợi trở về, cứ đi qua ngã ba Hàng Xanh là tôi dẫn xe đạp lần mò đến trước cái tháp, người bán hàng đã xếp chồng những bia lon, thành một cái tháp hình tam giác. Tôi ngẩn ngơ hàng chục phút, ngắm nghía những lon Heineken, những lon Coca-cola, Budweiser của ngoại quốc. Đời tôi từ Nam chí Bắc chỉ mới được thường thức bia hơi, bây giờ đi tù về lại có cái loại bia lon của Mỹ, của Nhật, của Hòa Lan. Như vậy, không biết bên trong mùi vị, nó như thế nào? Có khác với bia hơi không
Chỉ vì khả năng trong túi không có đủ tiền, nên nhiều lần chỉ được đứng ngắm nhìn, tưởng tượng. Rồi dẫn xe đi, đầu còn ngoảnh lại nhìn cái tháp bia lon, như một loại hàng xa- xỉ không phải của mình. Nhưng hôm nay, tôi long trọng xin báo cho cái tháp tam giác ấy rõ, tôi đã có chủ trương! Chủ trương từ mấy ngày hôm trước rồi! Chị Hai Công khi trở về Hồng Ngự đã đút vào túi của tôi 50 đồng.
Đặng Mỹ Dung
Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi
Đặng Mỹ Dung
Chương 18
Hai giờ sáng, trời không trăng, tối đen như mực. Nhờ ngọn đèn đường leo lét dọc đường Võ Tánh, tôi chạy hết con đường dài mà tìm không được một chiếc xe lôi nào. Tôi đành liều đập cửa nhà chú “Đức xe lôi” trong hẻm ông Cả Đài, để xin chú đưa má tôi vô nhà thương. Khi chú còn lui cui đi tìm đôi dép, tôi phải chạy bay về nhà, dặn dò chị Thuận nhớ cho hai đưa em ăn đúng giờ để kịp đi học. Sau cùng, tôi viết mấy chữ nhờ một học trò của má trông nom giùm khi má phải nằm nhà thương. Má tôi đau bụng, nhắm mắt, nằm rên khe khẽ, hai tay ôm chai nước nóng trên bụng, còn chai thuốc cốm trị bao tử cũng nằm lăn lóc trên giường.
Luật lệ nhà thương không cho “con nít” vô phòng khám. Tôi đành đứng chờ bên ngoài, trong bụng nóng như lửa đốt. Lần đầu tiên tôi giận ba tôi. Bây giờ ba ở đâu? Ba “chống Mỹ cứu nước”, bỏ mặc vợ con sống lây lất. Trong cơn nguy ngập, tôi ước gì có ba ở cạnh má, ba sẽ biết cách xoa dịu nỗi đau đớn của má. Tôi nhớ hồi năm tuổi, tôi chơi dao rồi bị đứt tay thật sâu, mỡ lòi ra, vậy mà tôi không khóc, chỉ vì ba xức thuốc đỏ lên vết thương, băng lại rồi hun lên ngón tay tôi một nụ hun dài. Nhờ nụ hun này, vết thương lành rất nhanh mà lại không có thẹo. Tôi nhớ hoài nụ hun đó. Sao bây giờ ba không ở bên cạnh má, để má khỏi cơn đau ngặt nghèo này?
Tôi đứng ngồi không yên ngoài hành lang, chỉ cách má tôi có một cái cửa, mà sao tôi thấy xa vời vợi như hai miền Nam-Bắc cách nhau con sông Bến Hải. Mỗi lần nghe tiếng má rên, tôi nôn nóng muốn nhào vô, bất chấp cả luật lệ nhà thương, nhưng tôi phải tự kiềm chế, không thôi người ta ghét lây qua bịnh nhân. Tôi phải đợi một hồi rất lâu; cửa phòng mở lớn, hai cô y tá đẩy một cái giường sát, má tôi nằm trên. Vừa thấy họ, tôi hoảng sợ, tưởng má tôi đã “làm sao”. Những khi định thần nhìn kỹ thấy tấm mền trắng chỉ đắp tới ngực, chớ không che kín mặt. Lúc đó tôi mới hoàn hồn, vội chạy theo má, nắm lấy tay bà, gọi khẽ:
“Má, con nè, má! Má có nghe tiếng con không?”.
Má tôi chỉ đáp lại bằng một tiếng rên khẽ. Hai cô y tá đưa má tôi tới một phòng khác, rồi chuyển má sang một chiếc giường nhỏ hơn, không có bánh xe. Trước khi bỏ đi, một người chỉ cái nút bấm trên tường, nói:
“Chỉ nhấn nút này chừng nào má đau dữ dội thôi nhen”.
Tôi tự hỏi: “Còn trận đau nào dữ dội như trận đau hồi khuya nữa sao”.” Tôi vái trời cho tôi khỏi phải dùng tới cái nút này. Họ tắt đèn, rồi đẩy cái giường cũ ra khỏi phòng.
Má tôi nằm thiêm thiếp, nhưng tay chân động đậy không yên, miệng thì nói mê sảng không thành tiếng. Tôi nắm tay má, rồi nói:
“Má, má còn đau lắm không?”.
Má vừa rên rỉ vừa nói:
“Má sợ quá, con ơi!”.
Trong giây phút đó, tôi tưởng như cái cột trụ cuối cùng của nhà tôi trở thành một đống gạch vụn. Từ ngày ba tôi ra đi, chị em chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào má. Má là người can đảm, không bao giờ than thở, chẳng sợ bất cứ ai, vừa làm cha vừa làm mẹ, nuôi đám con thơ, cho ăn học nên người. Bây giờ má nằm nhà thương, đớn đau vì cơn bịnh, và lo sợ cho mạng của chính mình.
Má tôi nói, giọng khàn khàn yếu ớt:
“Con đánh dây thép cho chị Kim, chị Cương, Hải Vân hay má đau”.
Hai chị của tôi mới sang được căn phố trên lầu rạp hát Kim Châu. Bác Phạm Ngọc Thảo là đồng chí cũ của ba tôi, nên đã nhiệt tình giúp đỡ cho hai chị được nhận vào làm cho Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Việt cộng đã vỡ mộng về tôi, nên sau đó họ nhằm Hải Vân. Đã nhiều lần các cán bộ Việt cộng nửa khuyên, nửa bắt ép cho Hải Vân vô bưng đi học. “Để có một đứa con nối gót anh Quang”, họ nói như vậy. Nhưng má tôi phản ứng ngược lại. Mùa thu năm đó, má cho Hải Vân lên Sài gòn ở với hai chị Kim, Cương.
Tôi quỳ xuống đất, kề miệng, nói nhỏ bên tai má tôi:
“Má phải mạnh. Lát nữa con vô sở, xin lãnh lương sớm để thuốc thang cho má”.
Mắt nhắm nghiền, má đưa tay sờ soạng kiếm tay tôi, nắm chặt:
“Con phải coi sóc tiệm may, đừng để mấy chị học trò phải gánh vác hết, tội nghiệp người ta”.
“Má đừng lo cái tiệm, con biết coi trong coi ngoài; con săn sóc mấy đứa nhỏ nữa, má yên tâm”.
Lúc đó, tôi sẵn sàng hứa bất cứ cái gì cho má tôi yên lòng. Nhưng má tôi có đòi hỏi gì nhiều đâu.
Rồi cơn đau trở lại. Người má tôi cong lại, hai đầu gối co lên ngực. Nhưng má tôi cắn môi chịu đựng, không rên rỉ. Tôi bấm nút chuông nhiều lần; chừng năm phút sau, một cô y tá nhanh nhẹn nước vô. Cô bắt mạch, rồi chích cho má tôi một mũi thuốc. Trước khi ra khỏi phòng, cô khuyên tôi đừng quá lo; sáng bác sĩ sẽ vô coi bịnh cho má.
Chỉ mấy phút sau, má tôi ngủ thiếp đi, hơi thở điều hoà. Tôi đoán người ta vừa chích thuốc giảm đau cho má. Tôi thở ra nhẹ nhõm, ngồi dựa lưng vô vách tường cạnh chân giường. Tôi chợt nhớ lại những lời dặn dò của ông ngoại lúc ông còn sống: “Tụi cháu phải nghe lời má, phải săn sóc má thay ông”. Chị em tôi đã nhiều lần hứa với ông là chúng tôi sẽ vâng lời ông. Nhưng giờ tôi muốn nói lại với ông: “Ngoại ơi, bây giờ chỉ có ông trời mới giúp được nổi má cháu thôi!
Ngày xưa mỗi lần đi công tác xa, ba tôi dặn anh Khôi, chị Kim, chị Cương phải “săn sóc má cho tới ngày ba đi công tác về”. Bây giờ, chỉ có mình tôi với má, tôi biết làm sao đây?
Hừng sáng hôm sau, dưới đường Bã Đậu, tiếng xe cộ qua lại tấp nập, ồn ào; tiếng người vẳng lên cũng không đánh thức má tôi dậy được. Đến giờ làm việc, tôi phải xuống văn phòng làm tờ nhập viện cho má. Trước khi rời khỏi phòng, tôi cẩn thận đưa tay lên mũi má nghe ngóng. Tôi mừng khi thấy má thở đều. Tôi an tâm ra đi. Tôi không tới văn phòng bịnh viện ngay, vì tôi nhớ đến bà bạn học cũ của má tôi, hiện đang làm y tá ở đây. Trong khi đau ốm phải vào nhà thương, mà có bạn làm y tá, còn quý hơn có bạn làm tổng thống. Tôi đi thẳng tới nơi làm việc của cô Tám Quan, y tá trưởng. Khi biết má tôi mới nhập viện đêm qua, cô hứa lo hết mọi việc cho má tôi.

Tôi an tâm chạy ra bưu điện gởi điện tín cho hai chị tôi. Từ ngày các chị xa gia đình, tôi gởi điện tín hai lần, hai lần đều báo hung tin hết. Lần thứ nhứt, ông ngoại tôi qua đời. Lần thứ hai bà ngoại ốm nặng, sắp mất. Lần này là lần thứ ba, báo tin má tôi nằm bệnh viện. Chắc chắn sẽ làm hai chị lo lắm. Tôi viết: “Má đau nặng, tụi em cần hai chị về gấp”
Chị Kim, chị Cương và Hải Vân về tới Cần Thơ chiều hôm sau. Hai chị và em của tôi đâu có biết họ là vị cứu tinh của tôi trong mấy ngày đó. Mấy tháng trước, một người quen của má tôi bị xuất huyết trong bao tử, tưởng là không có gì quan trọng, ai dè hai tháng sau bà chết. Khi má tôi bị đau bao tử, cái chết của bà kia ám ảnh tôi hoài, suốt ngày đêm, nhưng tôi không dám cho ai biết, sợ bị quở là nghĩ bậy. Trong khi đó, Hoà Bình cứ đòi tôi dẫn nó và Minh Tâm vô thăm má, nhưng tôi sợ hai đứa còn nhỏ quá, thấy má đau lại vô tình nói những lời xui xẻo. Nhưng nếu tôi không cho vô, hai đứa lại càng nghi ngờ má đã chết rồi. Đáng lẽ làm chị, tôi phải bình tĩnh và can đảm để làm gương cho em; vậy mà tôi cũng lúng túng, yếu mềm như con mèo ướt. Trong hai ngày vừa qua, mỗi lần thấy hai đứa nhỏ khóc, tôi lại quay mặt đi chỗ khác để giấu nước mắt. Mỗi lần hai đứa nhỏ hỏi: “Má có chết không chị?”, tôi nghẹn ngào không biết trả lời ra sao vì chính câu hỏi đó cũng thỉnh thoảng hiện ra trong óc tôi. Hoà Bình khóc hoài, rồi không chịu đi học.
Khi hai chị tôi về, mọi việc được thu xếp tạm ổn định. Hoà Bình buông tôi ra mà đeo theo chị Kim, vì chị là thần tượng của nó thuở nhỏ. Chị Cương kiên nhẫn, dịu dàng với Minh Tâm, làm cho nó vui lên mà tạm quên má. Tối hôm đó, hai chị ở nhà với hai em, tôi vô nhà thương mướn cái ghế bố để ngủ cạnh má. Tôi không có kinh nghiệm gì về việc nuôi người bịnh, cách làm việc của bác sĩ và y tá trong nhà thương. Cô Tám Quan cho biết bác sĩ nghi má tôi có sạn ở mật. Họ cho má tôi uống thuốc giảm đau bao tử, thuốc trị bao tử, và đã lấy máu để thử nghiệm. Bao giờ có kết quả mới biết chắc bệnh gì. Có Tám Quan kề tai tôi nói nhỏ:
“Con cứ yên tâm. Có cô đây, người ta săn sóc má con chu đáo lắm. Má con có bề gì, khi ba con về ổng bắt thường cô thì cô chết!”.
Đêm thứ tư trong nhà thương, má tôi ngủ yên nhứt, không còn nghe tiếng rên rỉ nữa. Còn tôi thì cũng mệt quá nên ngủ như chết. Đến nửa đêm má tôi kéo áo đánh thức tôi dậy, rồi vừa cười vừa nói:
“Đức Mẹ nói mà sẽ hết bịnh con ơi. Đức Mẹ để tay lên bụng má, rồi chỗ đau biến mất”.
Má tôi chỉ tay lên tường, nơi có treo hình Đức Mẹ Maria, mà mấy hôm ay tôi không để ý. Tôi ngái ngủ, nói:
“Con mong chiêm bao của má thành thiệt”.
Má tôi có giọng tin tưởng, đáp:
“Thiệt con à. Không phải chiêm bao đâu”.
Sáng hôm sau, tôi không đi mà chạy xuống cầu thang, nhảy lên xe lôi, về nhà báo tin lành cho gia đình biết, đặc biệt là cho hai chị Kim, chị Cương, vì từ lâu hai chị đặt hết lòng tin vào Đức mẹ Maria. Khi tôi kể xong, hai chị liền quỳ xuống, làm dấu thánh và đọc kinh Kính Mừng.
Bác sĩ nói rằng má tôi hết bịnh là một sự “mầu nhiệm”, mà chính ông cũng không hiểu tại sao. Má tôi phải nằm thêm hai ngày nữa mới được về nhà. Trước khi rời phòng, má tôi bước tới vách tường để tay lên hình Đức Mẹ, rồi nói:
“Cảm ơn Đức Mẹ”.
Hai chị tôi đồng tình nhìn nhau.
Hồ Đình Nghiêm
Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Ao nước lã
Hồ Đình Nghiêm
“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”- Ngạn ngữ.
1.
Trước đây tôi là lính tác chiến. Cấp bậc cuối cùng: Đại úy. Tôi ở tù thiếu hai tháng là đủ bảy năm. Giờ này tôi là thường dân, nghề nghiệp không nhất định và sống một mình chẳng thân thiết với ai. Ông nói sao? Gia đình? Ba Má tôi mất sớm, tôi có hai đứa em, một gái một trai. Lập gia đình chưa? Tôi? Không phải đùa chứ những câu hỏi của ông làm tôi nhớ tới mấy tay cán bộ quá. Nghiêm chỉnh trả lời, thành thật báo cáo với ông là tôi đã lập gia đình rồi. Theo ông thì đời người nên lập gia đình bao nhiêu lần thì vừa đủ? Tôi giỡn chơi đó. Ông nhìn tôi là biết được cái vô sản mà tôi đang có, kể cả sức lực. Tóc tôi đã bạc quá nửa đầu và khi soi mặt xuống suối nước, tôi nghĩ đời mình nên lật qua một trang khác, ở cái trang mà phía dưới cùng có in chữ “Chung”. Tôi không bi quan, nếu bi quan tôi đã chết trong tù rồi. Một người sắp chết, những lời trăn trối của hắn ta dĩ nhiên phải thành thật, đúng không? Ông đã từng chứng kiến cảnh người bị xử bắn ngoài pháp trường chưa? Họ nhét giẻ vào mồm con vật khốn nạn kia bởi vì họ sợ những tay súng đang nhắm vào mục tiêu sẽ run lên khi nghe phải một sự thật từ phía nạn nhân kêu gào lần cuối. Không cần phải dõng dạc hoan hô phía này, đả đảo phía nọ, hắn ta chỉ than: “Em ơi!”. Có vậy thôi. Ông tưởng tượng đi, nghe có nát lòng không?
Vợ tôi? Ông nóng lòng muốn biết? Thôi thì cũng nên kể ra, một lần cho nguôi ngoai. Xin thưa cùng ông là cô ấy nhỏ thua tôi sáu tuổi. Chúng tôi lấy nhau năm 74, khi ấy cô vừa ra trường và được bổ nhiệm dạy môn Vạn vật ở ngôi trường trung học nằm ngoài thành phố. Cho dù ông là kẻ có trí nhớ tồi tệ cách mấy hẳn ông cũng chẳng quên được năm 75. Phải thế không? Chúng tôi như hai diễn viên trong rạp xiếc đang đèo nhau đi trên giây mà không biết. Ngắn ngủi quá những tràng pháo tay. Chưa tới một năm. Sao kỳ vậy? Những lời chúc trăm năm hạnh phúc tuy là có gian dối thật nhưng tệ lắm nó phải kéo lê được một đoạn dài hơn là ba trăm hai mươi chín ngày chứ? Tôi có ngớ ngẩn không? Có ích kỷ không trong khi mọi người mặt cắt chẳng còn hột máu? Tan hàng. Đứt phim. Vợ tôi khóc. Chúng tôi tự lừa dối nhau để trấn an. Học tập đâu có lâu lắc gì, còn ngắn ngày hơn thời gian huấn luyện ở quân trường. Thôi về đi, anh đi… Và tôi đi, lầm lủi đi, câm lặng đi, bịt mắt mà đi. Đi lao lung, đi xuống từng bậc cấp của địa ngục… Ông xem phim “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” chưa? Ông thấy tên tài tử Anthony Quin khóc chưa? Đoàn tù tôi có nhiều đứa khóc còn “tới” hơn thế nhiều. Ông đừng nói là đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất nhé. Phản động đấy! Nước mắt có phải là lệ thủy không? Trời ơi! Chữ mút mùa lệ thủy sao mà đầy tính sang tạo thế! Sáng tạo và oan nghiệt…
Thăm nuôi à? Có chứ. Cô ấy đi cả chục lần, tôi đoán vậy, nhưng chỉ chính thức gặp mặt nhau có hai lần. Một ở Hàm-tân, một ở tuốt ngoài Bắc. Ông hiểu cho, một cô gái thị thành, một cô giáo sư lớp đệ Lục mà phải thân cò lặn lội như vậy thì hết nước! Tôi đang mang thân tù tội mà khi nhìn cô ta, tôi lại có cảm tưởng ngược lại. Ai đày đọa ai đây? Lòng tôi tan hoang và miệng tôi như có ai khóa cứng, niềng lại… Thôi, tôi không nên nói nhiều. Tôi nghĩ là ông đã nghe nhàm quá rồi những trường hợp, những hoàn cảnh na ná như vậy. Nụ cười của Mona Lisa ai cũng khen đẹp khiến tôi nhìn riết thấy xấu. Tôi kể chuyện buồn của cá nhân tôi biết đâu lại mang tội với anh em, những người mà nỗi đau của họ viết tới ngàn trang cũng chưa đủ chạm đáy. Ông bảo sao? Vợ tôi giờ này ở đâu? Huế Nha-trang Đà-lạt Sài-gòn Cần-thơ… Ở đâu đó, tôi không biết đích xác. Tôi ra tù và chưa hề nghe thấy tin tức… Tình người? Có phải ông vừa nói tới hai chữ ấy? Ông hiểu gì về tình người? Để tôi kể cho ông nghe một hoạt cảnh. Ở ngoài Bắc về, đoàn tù chúng tôi là những con mắm chất vào mấy toa tàu nêm cứng. Tàu Thống nhất chạy chậm khi vào ga Truồi. Bình minh, ánh sáng chiếu từng đường sọc qua những khe hở. Trái với ma cà rồng, những khe sáng đó rất cần thiết đối với bọn tôi. Ngoài kia, sương đọng trên cỏ, ướt lai láng trên những bẹ lá chuối. Dọc theo một mô đất uốn lượn, tôi thấy có đôi nam nữ đi sánh vai nhau. Họ đang trò chuyện, trao đổi điều gì đó mà hai tay luôn vung vẫy để diễn tả thêm. Hình như họ là công nhân đang trên đường tới chỗ lao động. Họ ngước nhìn tới con tàu và bỗng chốc cả hai đồng loạt đứng sửng người lại. Ông đoán thử họ phát hiện được điều gì nghiêm trọng để khiến họ chùn bước? Không quá một phút cả hai đều đổ xô chạy hối hả tới sát bên toa tàu, họ vội vàng mở toang túi xách ra và bao nhiêu lương thực chứa trong đó thảy đều biến thành vũ lượng hải hà rơi vung vãi tới phía bọn tôi. Nắng sớm mai vỡ sáng trên gương mặt hân hoan của họ, đi đường viền hào quang trên thân thể họ, trên bộ áo quần có nhiều miếng vải vá. Và thú thật với ông, suốt cả cuộc đời tôi, chưa bao giờ tôi thấy có đôi nhân tình nào mang nét đẹp lạ thường như họ cả. Họ đói bụng trưa hôm ấy, năng suất lao động sẽ kém đi, nhưng ngược lại lòng họ no nê một thứ “thực phẩm” khác. Có đúng vậy không? Tình người. Chịu. Tôi không lý giải được. Tôi cảm thấy đau khổ, cảm thấy mình là đứa có tội và tôi bị hình ảnh của đôi nhân tình nọ dằn vặt suốt cả lộ trình xuôi về quê cũ.
2.
Tôi tên An. Ông thấy đầu con hẻm kia có hàng chữ viết lên tường vôi không? Cái chỗ ấy luôn hôi khai và chữ cấm đái dường như càng lúc càng nhạt nhòa. Ba Má nào mà không thương con, họ đặt tên tôi và cầu mong mai này tôi hưởng được một cuộc sống an lành. Họ giống như chủ nhân căn nhà đầu ngõ, cắm cúi viết chữ cấm đái và hậu quả thì lại bất ưng. Mà có phải đêm tối gì cho cam, có buổi trưa tôi thấy một ông nội vừa huýt gió vừa uốn éo người để dùng cái vòi kia vẽ rồng vẽ rắn lên tường. Tôi là đàn bà, lý ra thằng chả phải biết mắc cỡ mà vội thu cái vật khó nhìn ấy đi ngay. A, không. Chả còn quay tới hướng tôi để mong cho tôi ngó thấy. Vậy đó, bây giờ người ta sống trân tráo và chữ liêm sĩ là gì, hỏi mấy đứa đang cắp sách đến trường xã hội chủ nghĩa chúng khó mà giải đáp cho vẹn toàn. Tôi nghĩ ông bà mình là những kẻ tiên tri đầy nhu nhược. Họ mơ mộng và sự kỳ vọng ấy cứ tiếp tục kế thừa cho đến giờ này. Không gián đoạn, chẳng ngơi nghỉ. Ở mấy nước Tây phương có ai đặt tên cho con bằng những chữ được tra cứu cẩn thận trong từ điển không? Hôm kia, con bạn tôi vừa đẻ thêm đứa thứ hai. Đứa đầu con trai, mang tên kẻ cựu thù: Nguyễn Mỹ Quốc. Nó bảo là tao ước ao sớm qua được bên nước Mỹ đoàn tụ với Bố mẹ. Lần này thì con gái, cháu có tên Nguyễn thị Hòa Bình. Ô hay, con này khéo đùa, đất nước ta chưa thật sự hòa bình hay sao?
Ông nói gì? Tôi có con chớ. Tại sao không? Cháu đã được tám tuổi rồi. Tôi đặt tên cho nó là Vô Úy. Ông hiểu nghĩa chữ đó không? Chẳng có úy với tá tướng gì ráo, chỉ toàn một đoàn tù mà người này giống người kia như hai giọt nước. Ông bỏ qua nhé, tôi chỉ khôi hài đen thôi. Ông bảo sao? Phải, trước đây tôi từng là giáo sư trung học đệ nhất cấp, không phải dạy môn Việt văn đâu, tôi dạy Vạn vật. Nhưng mà tạm quên chuyện ấy đi, nói ra thêm hổ thẹn. Lý lịch một con mẹ bán bún bò ngồi đầu đường xó chợ như tôi đây mà có khi từng đứng trên bục để giảng dạy đám học trò đệ Lục thì nghe như chuyện thần thoại hoang đường. Giờ này tôi đã quên hết ráo sự cấu tạo của thân cây. Cái gì gọi là diệp lục tố. Tại sao cây luôn vươn mình về phía có ánh sáng? Vân vân và vân vân. Những thứ ấy nên quên đi là phải. Cái mà mình luôn trăn trở là tại sao nên ngồi ở ngã tư này thay vì đằng ngã ba kia. Vì sao mình cho thằng này thiếu nợ mà lại cạy mặt con mẹ kia ra. Phải tư duy động não nên biếu xén anh công an này điếu thuốc ba con 5, nên bỏ thêm nhiều thịt vào tô bún cho gã cán bộ nọ. Vậy đó. Quy luật sống của con người nó không giống như loài cỏ cây. Con người thì ưa chúi đầu về phiá bóng tối. Ông hiểu không? Những gì xẩy ra trong bóng tối cũng mang lại một kết quả như ý hơn là nó được diễn ra trần trụi dưới ánh sáng mặt trời. Trồng cây mười năm trồng người trăm năm. Đúng thế không? Khốn nạn thật! Nói ông tha lỗi cho, trồng làm gì cho chật đất. Ở xứ sở này họ đã từng bứng đi tận gốc rễ biết bao là tài năng…
Ông ăn bún không? Tôi làm cho ông một tô hỉ? Mấy người ở trong xóm đằng kia luôn hoài nghi, chẳng biết dòng họ nhà tôi ba đời nấu bún hay tôi chỉ là tay nghiệp dư mới đổi đời. Có đứa lân la: Tui ngậm đắng nuốt cay đã lâu, nay ăn tô bún cô vào thấy giận hờn cuộc đời trôi đi đâu mất tiêu! Có nhiều cái ba xạo làm mình ghét, có những dối gạt làm mình mát lòng. Tỉ như những lời tán tỉnh của bọn đàn ông, biết tụi nó chẳng thật lòng mà sao con gái chóng chui đầu vào cạm bẫy thế! Ông đừng đùa, tôi làm gì có được ba thứ kinh nghiệm máu me đó. Tôi kể ông nghe chuyện này xem thử ông nghĩ sao về đàn bà con gái. Ngày xưa, có con mẹ đó lấy chồng đâu gần được một năm thì uyên ương gãy cánh. Ông chồng Đại úy họ còng đi học tập cải tạo mất đất. Con mẹ kia đầu tắt mặt tối giữa cái đời sống từ ngửa bị lật úp bất ngờ. Tôi không kể ông cũng biết là cái lon Đại úy của người chồng tác hại như thế nào trên đời sống mới của con mẹ kia. Nó bỏ thành phố cũ đi lưu lạc mười phương. Nó trốn kỷ niệm hay nó lánh phong ba thì cũng đồng một nghĩa. Đúng đắn hơn là nó phải tự bương chải để sống còn. Trôi nổi đâu được ba bốn năm như vậy, một hôm nó tình cờ gặp phải một thằng đàn ông. Lý ra tôi nên dông dài về cái nhân vật đặc biệt này cho ông rõ. Nhưng thôi, chỉ xin tạm vắn tắt ở đây những chi tiết quan trọng: Hắn ta là người đứng trong hàng ngũ phe chiến thắng. Hắn quen biết nhiều, có thế lực và lạ lùng thay khuôn mặt hắn mang những nét trùng hợp với ông chồng Đại úy. Đó có phải là lý do giản dị nhất để giải thích tại sao con mẹ này sớm gần gũi với tên đàn ông kia? Hay do bởi tên kia có biệt tài ăn nói? Hay do bởi một thiếu phụ xuân thì đã từ lâu quên bẵng mùi đàn ông? Con mẹ đáng thương đó có hai lần nổ lực đi thăm nuôi chồng. Tôi dùng chữ nổ lực là có hơi khiêm nhường. Ngày xa xưa, người ta lều chõng trèo đèo lội suối để về kinh thi Hương thi Hội quái qủy gì đó thì có thấm vào đâu so với đội ngũ đàn bà có chồng con tù tội ngày hôm nay. Chẳng có chi mang ra so sánh được cả. Rừng rú nếu có cọp beo thì chắc beo cọp kia cũng động lòng mà không nỡ giở thú tính ra để sát hại những kẻ bị trời đày nọ. Cuối cùng thì con mẹ kia vào gặp được chồng. Nói làm sao đủ phút giây đó? Thảm thương! Ông chồng thì thầm: Hãy quên anh đi, đừng tự đày đọa mình mà làm gì. Đừng cất công thất tha thất thểu lộn hồn lộn viá nữa, cố tìm một người đàn ông tử tế mà sống yên nửa đời còn lại… Họ có chính sách “nhân đạo” là dành ít thời gian cho những cặp vợ chồng được thỏa đáng chuyện xác thịt nhưng ông chồng Đại úy xem đó là hành động của bọn thú vật. “Mình đừng bôi mặt bôi mày diễn thêm những vở tuồng khôi hài cho bọn chúng xem”. Chấm hết. Con mẹ kia đi về, tả tơi trên sạn đạo xa ngái. Câu nói “xem như anh có lỗi với em và mong em tha thứ” chất đá trong lòng bả. Và sau này, sống với thằng đàn ông thứ hai, bả vơi mất dần những mặc cảm phạm tội. Bả tự tra vấn lấy mình để nghĩ rằng ở đời chẳng có gì toàn vẹn cả, nhất là tự dưng ông trời đã bù đắp cho bà một người đàn ông y hệt như ông chồng cũ. So với bạn bè cùng tham dự một trò chơi liều lĩnh, con mẹ đó tựa như một kẻ trúng số ở lô an ủi. Ngày qua tháng lại, bả có thai và bả đau chẻ người để sinh con. Mọi chuyện xẩy ra có vẻ bình thường, cho tới một hôm… cho tới một hôm… bả tình cờ biết được một sự thật điếng hồn. Ông còn nhớ chuyện kể về sự tích trầu cau không? Chuyện ra sao nhỉ, tôi đã khuấy quên những tình tiết. Hình như nó thảm sầu và nghiệt ngã quá lắm, phải không ông? Dẫn tới cái chết, đi vào kết thúc bằng biến thân thành cây này lá nọ và cục đá dị thường kia. Nói tới đá mới chợt nhớ ra, ông có biết là hiện nay ở đất nước giàu mạnh văn minh tiến bộ này đã thực sự biến mất vĩnh viễn cái gọi là “Hòn Vọng Phu”. Tụi làm nghề đục đá, đào đá, đẻo đá, bán đá đã ăn tươi nuốt sống nó rồi. Nó đã tiêu vong. Vọng phu, vọng phu. Buồn quá mạng! Ông nghĩ sao?
Thôi, tôi thu dọn đồ đoàn để trở về kẻo thằng Vô Úy đợi, tội nghiệp. Giữa trần gian lớn rộng này đây tôi chỉ còn có mỗi mình nó. Nó cóc có sợ ai thì đó là điều tôi mãi mong. Nhưng tôi thì mãi sợ nó, mãi đợi chờ cái ngày nó sẽ tra khảo vặn vẹo: Má, má, chớ tiá tui đâu mà sao hổng thấy. Ổng còn sống hay ổng đã chết. Khai lý lịch thì nên để ổng ở về phiá nào, vàng hay đỏ?
3.
Tôi học ở Đại học Văn khoa Huế. Nghe bạn bè xúi bậy, bỏ tương lai, bỏ tuổi xuân, bỏ thành phố, theo mặt trận lên Trường sơn năm 68. Nhà tôi nghèo, cha mẹ mất sớm. Ông anh đầu là Sĩ quan của chế độ miền Nam. Bà chị kế lấy chồng lúc vừa đôi tám và hiện ở Mỹ, thủ đô tỵ nạn. Cơ quan tôi đang công tác là Ty thông tin văn hoá. Mấy năm gần đây tôi có viết vài ba cái truyện ngắn và đó là loạt truyện mà trên đánh giá chúng mang mầm phản động. Vì sao? Vì tôi thẳng ruột ngựa quá. Tôi không biết hư cấu, tôi dốt lòn lách. “Có sao nói dzậy người ơi” là thứ phương ngữ giết người. Xã hội ta không ưa những kẻ thật thà. Bộ mày tính bêu rếu chế độ à? Trắng mà nói cho ra đen, đó là tính ưu việt của nền văn hoá nước nhà, cứ an tâm đi dưới những tấm bảng chỉ đường của Đảng. Tôi sống rất chật vật, cũng may bà chị ở Mỹ còn đoái lòng ngó xuống, nghĩ tình ruột thịt để thương hại gửi tiền về “cứu trợ nạn lụt”. Bia đang uống này, thịt cá chất tươi đang cải thiện cuộc nhậu hôm nay cũng do mấy “đồng cứng” của bà chị tôi rãi mưa xuống sa mạc. Bia đổ vào mồm rồi, không nói phét được thì xin kể chuyện tiếu lâm mà nghe: “Có con nhím nọ cô đơn đi lang thang trong rừng, đang rượi buồn bất chợt ngó thấy có cái bàn chải thật lớn nằm lăn lóc xơ cứng bên triền cỏ mượt. Cậu ta mừng vui vô hạn, khẩn trương chạy tới để hồ hỡi leo vội lên trên. Loay hoay trèo lên trụt xuống một hồi liền đỏ mặt sau đó mà lí nhí: Chà, ở đời ai mà chẳng có khi nhầm tưởng!”
Đang ngồi trước mặt ông hôm nay là một con nhím tua tủa những gai nhọn. Hắn nhầm lẫn đôi phen và lầm lỗi bộn lần. Làm hết chai bia này đi, lâu lắm rồi tôi chẳng có ai để thù tạc. Tôi đã sống một cuộc sống chẳng ra gì cả. Tôi vắt kiệt tuổi xanh của mình để đánh đổi những hoài nghi chẳng bao giờ đi đến cuối sự minh bạch. Tôi tự hỏi những diễn viên ở trên sân khấu khi chấm dứt vở tuồng, họ bước xuống lại đời thường họ sẽ đối xử với nhau ra sao? Họ có thật lòng với nhau hay cứ ngỡ đối phương đang đeo mặt nạ và điều đó buộc mình phải phòng thủ? Bia uống được quá phải không ông? Bia này thuộc loại xuất khẩu đấy. Nồng độ cao nhưng uống vào chẳng thấy đắng. Người ta bảo mật ngọt chết ruồi, bia không đắng dễ vật nguời ra. Ừ thì cũng đúng, nhưng chỉ phần nào thôi. Tôi biết quanh đây có những con ruồi chẳng bao giờ thấy đủ ngọt về cái hủ mật mà chúng đang chấm mút. Khi anh không chết vì bội thực dĩ nhiên cái bao tử anh cứ cảm thấy đói mãi. Tôi đang cưu mang nhiều ý tưởng để viết nên một cuốn truyện dài. Trong lúc này đây, tôi cho văn chương là một cứu cánh, là phương tiện. Nói một cách hồ đồ và kém thơ mộng, văn chương chính là cái thau hứng đầy mật đắng mỗi khi tôi nôn thốc tháo, hay chính nó là chung rượu lớn giúp tôi vùi đầu vào một cơn say? Tôi trả thù cuộc đời bằng chữ viết. Tôi làm bảng kiểm điểm tự khai bằng tiểu thuyết. Tôi chẳng cần độc giả, tôi ghi tên thật không dùng bút hiệu và tôi cầu mong cho anh chị tôi có dịp đọc lấy nó. Vậy là đủ. Ông nhớ cho điều này, có nhiều áng văn bất hủ mà khi ông này viết ra chỉ cốt gửi riêng mình bà kia đọc phải, thế thôi, chẳng nuôi mộng mị to lớn gì cả. Chẳng biết tôi có đủ sự tỉnh táo và can đảm viết nó ra mặt giấy không? Một cuốn tiểu thuyết đồi trụy, loạn luân… “âm mưu thâm độc do Mỹ ngụy cài lại”… Ôi! Sao cái đầu bỗng dưng nặng nề… Để đếm xem có bao nhiêu ngọn đèn… Ủa, nhậu đi chứ ông, đừng ái ngại là vách có tai, chúng tựa cá mè một lứa với chủ nhân, tất cả đều điếc đặc cả rồi, chúng lặng yên ở đó như đã từng, chẳng tội tình gì vác thân đi báo cáo cho ai kia. Trước đây tôi ghét câu nói “ác khẩu”: Cái cột điện nếu có chân cũng bỏ trốn. Giờ này ngẫm lại thấy thấm thiá. Địt mẹ mày, sao mày không bỏ ta mà đi, sao mày còn đứng đó dãi dầu nắng mưa? Mày chiếu làm gì thứ ánh sáng nhợt nhạt xuống mặt đường loang lỗ bóng tối và mày ngoan ngoãn để cho người ta tròng vào thân mày những khẩu hiệu vẽ vời chuyện giả tưởng…
Người đàn ông đứng lên, những chai bia đồng loạt lăn quay trên chiếu lát. Hắn bước ra sân, chếnh choáng khi trạc quần đứng đái. Hắn cúi mặt nhìn xuống vũng nước sủi bọt. Đất nồng mùi. Hắn vác mặt ngó lên trời cao. Trời mùa hè, xứ nhiệt đới đầy sao không vẩn mây. Nóng rít rát, thăm thẳm đen. “Thiên địa ơi. Anh ơi. An ơi. Chớ tội tình chi mà tất cả chúng ta phải chịu đọa đày! Ngày xưa, giả như anh chiến thắng thì câu chuyện sẽ dẫn tới đâu? Có tốt đẹp hơn không? Còn An. Tại sao lại là An mà không vấp phải một người đàn bà nào khác? An hãy trở về cho tôi khấn đầu gọi là chị. Chị An ơi, chị hãy lộn lui và chính chị ra tay giải phóng em cho cốt truyện nó có hậu. Hãy cầm dao mà thiến đi cái vật dư thừa suốt đời mãi đeo lủng lẳng bên mình một thằng đàn ông hèn mạt. Thiến đi. Hãy chặt bỏ không nương tay những giây mơ rễ má luôn vướng viú để được thong dong, cho giản dị cuộc đời…”
Hắn ngã vật xuống đất, nằm co quắp trên vũng nước đái đang ngấm rút mất dấu. Ở xứ sở này, đất quen thẩm thấu xương thịt, máu, nước mắt, nước đái và vô số những chất tạp nhạp khác. Đất hận thù. Đất đói khát.