AM   KHUẤT

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

AM   KHUẤT

Hồ Đình Nghiêm

Bóc đi một tờ lịch, giữa đêm hay đầu ngày, con người vò đi hai mươi bốn giờ mà trái tim đã đập qua, đã sống với. Quá khứ nhăn nhúm rơi vào sọt rác và hiện tiền đang tối đen hay ửng sáng? Theo trình tự, sau Tư sẽ là Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín… Bây giờ tháng mấy có khi được diễu nhại “bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?”

 Một thai nhi sau chín tháng giam giữ sẽ được phóng sinh. Có khi “em bé” chui ra cửa mình sớm hơn thứ định kỳ nọ bởi vô vàn lý do. Tháng ba ấy, trong trùng trùng những lý do, trên đỉnh đèo Hải Vân, Công Huyền Tôn Nữ Lam Hồng chạy từ Huế vào Đà Nẵng đã đẻ rớt một cô bé bảy tháng tuổi. Mây mù, sương sa, khói xăng, tiếng động cơ, máu, nước mắt… Tất thảy tắc nghẽn, dồn cục trên con đường ngoằn nghèo xuôi đổ. Biển dưới vực sâu, chân đèo phía nam mang địa danh Nam Ô mà không là Nam Mô A Di Đà Phật.

 Hai ngày sau, Lam Hồng đặt được bàn chân run rẩy xuống bệnh viện Đà Nẵng. Bạc ác và lòng từ tâm của ai kia đã mang cô tới thứ bến bờ ngoài dự tưởng. Chết đi sống lại không hề là ngoa ngôn. Nước mắt chẳng còn để đổ ra không phải là thứ quá lời thêm mắm dặm muối. Và huyền nhiệm là thứ mà chúng sinh buộc phải sắc son tin, đắm đuối tưởng. Chúng sinh sống trải qua khổ nạn với ôm giữ duy một lòng thành: Hy vọng. Hy vọng chuyện gì? Tạm chưa tìm ra câu trả lời cho thứ vấn nạn quá tải kia. Huyền nhiệm Lam Hồng không chết, huyền nhiệm sơ sinh còn cất tiếng khóc giữa tai ương.

 Cô chọn tên cho cháu bé chưa? Bởi chúng tôi sẽ cấp cho cô tờ chứng nhận để làm giấy thế vì khai sinh. Tràng Hạt, đẻ tháng Ba năm Bảy lăm tại Hải Vân Đà Nẵng, chánh quán xứ Thần Kinh, cố đô Huế. Một nhân mạng hiện hữu giữa cõi ta bà với thứ sơ yếu lý lịch tạm bợ, khóc ằng ặc trong một thành phố tan tác cảnh chia lìa hoảng loạn trốn chạy. Có cần đào sâu đôi chút không? Mẹ đang ốm, thế bố Tràng Hạt đâu? Cha mang cấp bậc Thiếu úy, theo đơn vị ở phút dầu sôi lửa bỏng kẹt cứng ở biển Thuận An, cách nhà có nửa giờ lái xe Jeep nhưng vô phương xoay trở. Và cha bó tay làm hàng binh trước một thua cuộc chẳng tài nào lý giải.

 Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình. Bà ngoại của Tràng Hạt bế cháu, ru cháu bằng tiếng vỡ lòng nghe xót xa, bởi cháu là bướm, mai sau cháu nối gót bà, theo dấu mẹ, cháu cũng tái mặt máu mà rặn cục nợ ra. Lam Hồng ôm con thơ vọng trông hướng núi nhưng tin người cải tạo khuất mặt tù đày chẳng vọng gửi về biền biệt qua năm này tháng nọ. Thời điểm hiện tại mẹ bồng con chẳng thể hóa đá như truyền thuyết hòn vọng phu bởi thời buổi này người ta đục đá để kiếm miếng cơm. Ngũ hành sơn có thể biến dạng, sông kia rày đã nên đồng và Lam Hồng mang con liều mạng vượt biển, chui lắm lần nhưng mãi thất bại, đổ bể, lộ hàng. Huyền nhiệm hình như chỉ đến một lần trong đời. Và đời xác xơ dìm mẹ con Lam Hồng xuống tận nấc thang cuối. Thứ nấc thang mà người ta nhắm mắt hồ hởi tiến vững chắc, tiến vững mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Người ta xếp hàng cả ngày và người ta cam lòng với sự đi lui rất đỗi lạ thường: Từ người rơi xuống vượn. Lông lá, mòn khuyết nhân tính. Khỉ chi sơ tánh bổn ác.

 Lam Hồng làm trăm công ngàn chuyện để nuôi mẹ nuôi mình nuôi con, một cô sinh viên tốt nghiệp sư phạm Anh văn chưa kịp đứng trên bục giảng ngác ngơ vào trường đời với đức tin khù khờ ông trời độ. Một con cá ở hồ nước ngọt bỗng dưng bị vất vào mênh mông biển mặn thì trầy vi tróc vảy là điều hiển nhiên. Nhan sắc rơi nhanh xuống tàn phai, gái một con trông quáng gà đôi mắt. Khi chồng được tha về, chồng cất công truy tầm gạn hỏi và đến lúc tương phùng, cả hai đều không nhận ra nhau, dù đối tượng kia là thứ ảnh hình mình luôn khắc ghi vào tâm khảm. Một thứ cường toan nào đã đổ xuống thân phận họ, tàn phá đi khiến họ bị lão hóa tựa họ sống một ngày có hai- mươi-bốn-ngàn-giờ và họ đã thiệt thòi hy sinh trong sáu năm, bao ức triệu giờ? Tràng Hạt sáu tuổi và con bé rất ghét kẻ lạ kia tự dưng vào sống chung nhà mình. Đoàn tụ là nỗi vui của ai kia, chứ tôi đang sống yên ổn vậy cớ chi anh vác xác vào soán đoạt mọi thứ tôi đang có? Sáu tuổi chưa ý thức về cái chết, nhưng biết mười mươi về cơn đói khi chén cơm vốn đang lưng nay chỉ còn một nhúm lổn ngổn không sống chung hòa bình với sắn khoai. Bé cũng chưa hiểu do đâu bé có mặt giữa đời này nên bé hoài nghi tới chữ cha. Cớ sao bắt tôi gọi thằng đàn ông tiều tụy rách rưới kia là Ba? Tôi chỉ yêu mẹ và thương bà ngoại thôi, ngoài ra tôi cóc có biết một ai khác. Đừng hòng. Đừng bóc lột kiểu như người ta lộng kiếng chân dung một ông già râu dài lưa thưa và bắt mọi người phải thương yêu lão. Vô lý cũng chừng mực nào đấy thôi. Tình cảm là thứ phát xuất tự đáy lòng, một dâng hiến tự nguyện, sao lại đi ép uổng người ta chứ! Tôi thích màu xanh sao anh kề đao vào cổ bảo phải yêu màu đỏ. Yêu giả mạo, yêu tạm bợ thì nào có sắc son mà trông mong?

 Ngoại qua đời khi Tràng Hạt bắt đầu có kinh, bắt đầu nghe rạo rực từ những biến đổi tự cơ thể thanh xuân đang nhú mầm âm thầm. Lời nói cuối rót bên tai, đứt ruột: Ngoại tiếc chẳng sống lâu để có khi nhìn nhận ra ngày vui của Hạt. Ngoại cho con chiếc nhẫn này có hơi sớm… những lúc túng quẫn nhất ngoại cũng chẳng thể đành lòng cầm cố hoặc bán nó đi, bởi nhẫn ấy là vật gia truyền, gia bảo. Con đeo nó để nghĩ là tiền nhân, ba bốn thế hệ trước họ cũng đã từng đeo và mọi thứ đều tai qua nạn khỏi. Nhẫn là nhẫn nại, nhìn nhượng. Chữ nhẫn ấy giúp con chút hạnh phúc khi sống bên chồng như ngoại từng hạnh phúc. Sống thì phải tự tạo ra niềm tin, con ạ… Bàn tay lạnh, ngón co quắp. Đôi mắt khép hờ, có giọt nước ứa chảy ra. Nó tựa thứ hiệu lệnh, để khi nhìn thấy Tràng Hạt đã đổ xuống không biết cơ man nào là suối lệ. Khi buồn đau, có lắm kẻ đưa ra lời khuyên: Hãy khóc đi, khóc cho nhiều vào, rồi bạn sẽ nguôi ngoai. Đứa cháu tội nghiệp kia hoàn toàn khác, bởi càng khóc Tràng Hạt càng ngập lụt nỗi khổ tâm, càng thấy sự bất hạnh luôn là thứ đồng minh không hề tháo chạy, ôm siết, thiết thân, giăng bủa lên mái gia cư thiếu thốn của mình.

 Có người không khi dễ hoàn cảnh kiệt quệ của Tràng Hạt, người con trai ấy vẫn chuyên cần mang tới cho cô bạn gái một bầu khí quyển riêng. Anh sống có vẻ sung túc, có vẻ như ra đời dưới một thứ lý lịch tốt, hồng chuyên các thứ. Anh luôn sẵn tiền và anh mang Tràng Hạt tới chạm mặt những ngày vui lạ, anh tựa một hình nhân đại diện cho luật bù trừ để làm cơn mưa rãi xuống sự hạn hán mà Tràng Hạt luôn gánh chịu. Anh chở xe máy lên mộ bà ngoại đáp ứng lời yêu cầu của Tràng Hạt để cả hai thắp nhang quỳ xuống vái lạy như cô tin sự sánh đôi này có điều diệu kỳ từ bà ngoại đã ban phát cho. Tràng Hạt không bắt anh bạn phải thề nguyền chuyện gì cả, cũng như cô chẳng hề giải thích tình yêu là gì. Tuổi trẻ cô đã chứng nghiệm rõ cái mong manh của một phận người, đừng quan hoài vì sao hôm qua bác đi chăn trâu mà hôm nay bác thành đại gia. Vì sao chữ trinh đáng giá ngàn vàng lại có khi người ta rao trên trang mạng: “Ai đổi không, tớ đang cần một cái iPhone 5”.

 Như đông rồi sẽ sang xuân, như hài kịch sẽ kết thúc bằng một hôn lễ. Sợi chỉ hồng luồn chiếc nhẫn bà ngoại cho luôn đeo trước ngực đã tới lúc hoán đổi vị trí. Tay Tràng Hạt sẽ có ngón chứng minh trước cuộc đời: Tôi đang hân hoan từ giã thời con gái muộn phiền nhiều ẩn ức. Ba mẹ cô vẫn khen anh ấy, ba mẹ cô sẵn lòng để cho anh ấy lấy cô đi khỏi “túp lều tranh”. Mọi thứ diễn ra êm ả, sắp in thiệp hồng thì ba mẹ cô đổi ý. Họ phát hiện bố anh ấy là người năm xưa, vào dịp Tết, đã đích thân xử “bọn ác ôn”. Chôn không gớm tay già trẻ lớn bé cá mè một lứa dưới huyệt nông có tên gọi Bãi Dâu. Họ dứt khoát không làm sui gia với “ôn nớ”. Họ lập luận thà mà bộ đội chính quy, chứ thành phần nhảy núi lên xanh thì tráo trở lật lọng ngán lắm. Ôn nớ là kẻ tội đồ đó con nờ, chớ dây dưa, có tắm cạn nước sông Hương cũng không sạch thứ máu me ấy mô. Con nhớ cho chính ba mẹ từng thót tim vượt thoát được “sáu chữ vàng”: Thà giết lầm hơn bỏ sót.

 Huế còn xuân mà khí trời như đang vào chảo rang để già lửa. Đường vắng ngắt bởi không ai muốn đội thần hỏa mà đi. Ba mươi tám năm, đủ để một đứa xa xứ về lại cố hương lộn hồn lộn vía lạc tâm lạc trí đi quàng đi xiên trên những lối mà ngày trước mướt xanh kỷ niệm. Nước sông Hương không trong như quá vãng và màu nắng thì đỏ rực hơn xưa. Chẳng còn nón bài thơ tóc thề áo dài trắng, điền thế vào những Ninja dị hợm hộc tốc phóng xe máy như bị ma đuổi. Khi vẻ đẹp bị che đậy kín bưng, kín đến nghẹt thở, tựa một xác ướp, Tây ba-lô ở Phạm Ngũ Lão cũng chắc lưỡi cho sự cố An nam lắm ngược đời.

Tôi đi xe ôm lên dốc Từ Đàm, máy xe bỏng khét khi tìm ra địa chỉ. Bác điều khiển xe nói, từ đây đi bộ vô trong nớ không có xa mô, mình không nên khuấy động sự yên tĩnh của người ta. Tôi nghe lời bởi tôi cảm thấy dễ chịu khi đứng dưới một vùng bóng dâm im mát. Khi về thăm, tôi cố gắng xóa bớt dấu vết hình tích một Việt kiều, tôi đang mặc bộ bà ba màu nâu, dung dị. Trả một trăm ngàn cho cuốc xe ôm, có lẽ tôi bị chặt chém vì lỡ lộ thân phận. Tôi bị hớ nhiều bận nhưng không hề đau ruột bởi tôi tự an ủi, đó cũng là cách giúp người, chẳng mấy rộng rãi.

 Am nhỏ, nằm khuất tất như chẳng muốn hiện hữu. Trú thân trong am có sư nữ mà nguyên tên gọi trần tục của sư cũng đã nhuốm mùi phật tánh: Tràng Hạt. Khi chưa đoạn lìa chốn hung hiểm dưới kia, cô đã trao thân cho người con trai không thể làm chồng như lời tạ từ vĩnh quyết. Cô có thai, cô sanh nở trước khi cắt mái tóc thề để tìm quên trong khổ hạnh từ bi với áo nâu sòng. Tôi không thể sinh con nên chuyến về thăm nhà năm trước cơ duyên nào run rủi đã nhận đứa bé bạc phước kia làm con. Cháu con trai, tôi đặt tên Vô Ưu và cháu hiện ở Canada. Khỏe mạnh, mặt sáng lạng giống mẹ nó. Tôi thăm Tràng Hạt, chỉ thuần để vấn an cô, tuyệt đối dấu kín những gì tôi đang cưu mang, chẳng muốn đánh động sự phiền não cô muốn đoạn tuyệt. Tôi bỏ năm trăm đô vào thùng phước sương những mong am này vơi bớt vẻ tiều tụy ám tối đang vây bọc và tôi thầm nguyện sẽ nuôi dưỡng Vô Ưu trở thành một người hữu dụng. Cháu sẽ lớn khôn, tôi sẽ chuyên cần dạy tiếng Việt cho cháu và tôi có tham vọng viết lại câu chuyện này cho cháu đọc, để hiểu thấu bao oan khuất mà tiền nhân cháu đã phải đầu hàng trước nghịch cảnh.

 Mô Phật, bà giàu lòng từ bi quá. Tràng Hạt cúi đầu nói nhỏ. Tôi ôm lấy hình hài ốm yếu của vị sư nữ như giữa chúng tôi chợt hiện lên mối tình chị em. Không, phải nói là một ràng buộc nào đó hơn cả một sự cảm thông. Hơn cả một sẻ chia. Hơn tất cả những định nghĩa nào khác.

 Ve trú thân trên cây cối bao che am vắng đồng loạt cất tiếng. Chưa bao giờ, tiếng ve của Huế mùa hạ nghe buồn lòng như hôm nay. Bản chất âm hưởng của loài ve sầu là vậy, không khi nào chúng làm người nghe tìm nhặt chút bình an.

Hồ Đình Nghiêm

30 tháng 4 năm 2013

“Xưa em gắp miếng thịt gà!”

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 6 Nov 2023

“Xưa em gắp miếng thịt gà!”

Đoàn Xuân Thu

Thưa bà con! Giống như người Tàu ở Hong Kong, ở Macau, người Tàu ở miền Nam Việt Nam mình, nhứt là ở Chợ Lớn, đa số nói tiếng Quảng Đông (Cantonese), kế đến mới tới tiếng Triều Châu; chứ không nói tiếng Quan Thoại, (Mandarin), tiếng Phổ Thông, trừ ra những ai có đi học trường Tàu mới biết.

Dân Sài Gòn thường chê những người ưa nói Thánh nói Tướng; nói Trời nói Đất; nói không đâu vào đâu là: “Đồ nói Quảng nói Tiều!”

Bà con người Việt rặt ri mình vốn tánh xởi lởi, không xét nét nhỏ mọn, chi li: ai là người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam hay Khách Gia (người Hẹ) gì hết ráo. Mà gọi chung là: Các Chú, Chệt hoặc Ba Tàu.

(Đất lành chim đậu mà! Đến đây thì ở lại đây… Bao giờ bén rễ xanh cây… hết về…)

Đàn ông thì mình gọi là Chú Ba; đàn bà thì mình gọi là Thiếm Xẩm. Chú Thiếm hết ráo coi như ai cũng bà con hết trơn hết trọi hè!

Thưa sau nầy lưu lạc tới những nước nói tiếng Anh, câu chào hỏi đầu tiên là về thời tiết như Good morning! Good afternoon! Good evening!

Úc (vua làm biếng) chỉ G’day (Good day) khỏi cần sáng trưa chiều gì cho nó mắc công!

Người Việt mình thì chú trọng về sức khỏe về tinh thần cũng như về vật chất nên gặp nhau thì: “Độ rày có phẻ hông?”

Phẻ nầy cũng nhiều nghĩa, phẻ là có đau bịnh gì không? Mà phẻ cũng có nghĩa là làm ăn có đồng vô đồng ra đều đều hay không?

Riêng người Tàu (đâu cũng vậy): “Ăn cơm chưa?”

Có thể suốt từ thời lập quốc tới giờ, người Tàu bị nạn đói cơm rách áo hoành hành nên bị ám ảnh triền miên về cái ăn hay chăng?

Và chắc cũng chính vì vậy mà người Tàu luôn để cái thú ẩm thực đứng hàng đầu, “số dzách” Nên mới có câu: “Thực tại Quảng Châu, Y tại Hàng Châu, Thú tại Tô Châu, Tử tại Liễu Châu” (Cơm ngon ăn tại Quảng Châu, Áo đẹp may vải Hàng Châu, Vợ xinh đẹp cưới ở Tô Châu, Hòm chết chôn không bao giờ mục ở Liễu Châu).

Quảng Châu chính là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông đó!

Như vậy người Quảng (Đông) là trùm về ăn uống. Vô Chợ Lớn ghé một tiệm ăn là: “Hầm bà lằng kỷ tố?” (Tất cả hết bao nhiêu?) (broken Cantonese!), là phổ ky nó biết mình xạo… Dốt mà bày đặt nói tiếng của ngộ nhe! He he!

Ôi nhớ xưa! Tía của người viết có lần trúng xổ số kiến thiết quốc gia (giúp đồng bào ta xây cửa xây nhà)… bèn dắt lóc nhóc một đám vợ cùng con đi ăn cơm Tàu trong Chợ Lớn.

Gọi là ăn cơm thố (chưng cách thủy gạo trong thố). Canh hàng chục loại khác nhau, chỉ khác rau cải, heo gà nhưng có cùng chung một loại nước súp cho nó tiện, gọn bân hè!

Sau nầy, qua Úc, biết bao lần đi ăn đám cưới, trong thực đơn bao giờ cũng có món cơm chiên Dương Châu cũng từ Quảng Đông.

Khởi thủy đây chỉ là đồ dư thừa của bữa tiệc hôm trước được gom vô, chiên lại.

Cơm là cơm nguội, thêm lạp xưởng, trứng chiên, đậu Hòa lan, hành lá… còn dư được xắt lát rồi trộn với cơm mà chiên lên!

Bà con người Việt mình cũng có cái tánh tằn tiện như người Quảng đó thôi. Sau đám cưới, đám giỗ quảy gì đó, thịt thà còn sót lại đổ hết vô một nồi gọi là xà bần… để dành ăn dần… cho tới Tết Congo… mới hết!

Thưa mới đây tui đọc báo thấy bài về Elizabeth Phu, cố vấn cho Tổng Thống Mỹ về An ninh Đông Á đã tháp tùng Barack Obama trở lại đất Sài Gòn mà 36 năm trước đã từng là một thuyền nhân mới lên 3 tuổi…

Phu mà có báo viết là Phú nên người viết tò mò muốn tìm hiểu thêm. Thì ra là Phù, viết tiếng Mỹ nên bị văng mất cái dấu huyền thành Phu! Mấy tay nhà báo bá xí ba tú thêm vô dấu sắc thành Phú!

Họ Phù gốc Đường Sơn trong lục địa Trung Quốc, rồi ra đảo Hải Nam, sống cũng không nỗi nên phải tha phương cầu thực qua nước Việt của mình và các nước khác trong vùng Đông Nam Á!

Họ Phù coi tên lót rất quan trọng; vì cho biết người ấy thuộc đời thứ mấy, vai lớn nhỏ, có tôn ti trật tự đàng hoàng trong giòng họ.

Tên lót hiện thời là Phù Khí hay Phù Thọ là đời thứ 32. Phù Chí hay Phù Quốc là đời thứ 33. Tức cả ngàn năm nữa mới tới đời thứ 66 là hết.

Sau đó nếu chưa tận thế thì bà con họ Phù họp lại tại bản thổ là Đường Sơn để làm thơ, đặt tiếp… Cái chuyện đó còn lâu mà!

Nhưng lý thú hơn là, người Hải Nam, họ Phù, có món cơm lừng danh trên chốn giang hồ từ Hải Nam tới Hong Kong, Ma Cau, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai cho tới tận Singapore (coi món cơm nầy là quốc bảo). Đó là cơm gà Hải Nam.

Dân Hải Nam thì mùng Hai và Mười Sáu âm lịch thường cúng gà, cúng bà La Sơn Thánh Mẫu. Không có thịt gà là không thành yến tiệc!

Cơm gà là phải có gà. Mà gà Văn Xương mới được, thả trên đồi cho ăn hạt cây, sâu bọ và cùi dừa! Sau 4 tháng thì bắt về nuôi trong chuồng thêm 2 tháng nữa để vỗ béo bằng bã đậu phọng, gạo và khoai nấu lẫn với nhau. Gà ú nu nhưng ít mỡ, ít cholesterol.

Gạo tám thơm vo sạch đổ vào nồi, sau đó cho thêm một ít mỡ gà, tỏi phi thơm vào khuấy đảo cho đều, rồi đổ nước luộc gà vào nấu, khi nấu chín hạt cơm săn chắc, bóng dầu, chớ không có nở tòe loe, thơm phức…

Nước chấm được pha chế với nấm đông cô, tỏi băm nhuyễn, gừng cà nhuyễn, gia vị thêm tiêu, ớt đường, dấm, các vị mặn, ngọt, chua tùy ý thích mà nêm nếm!

Dưa chua ăn dặm thêm cho đỡ ngán gồm su hào, đu đủ và dưa cải…

Cơm gà Hải Nam theo đầu bếp họ Phù cũng tha phương cầu thực! (Bán cơm để có cơm mà ăn!). Đến mỗi nơi đổi một chút cho hợp với khẩu vị của người địa phương!

Đến Sài Gòn, vào Chợ Lớn, Cơm gà Siu Siu Hải Nam cũng danh trấn giang hồ trên đường Nguyễn Duy Dương (tức Thiên hộ Dương, một đầu lĩnh nghĩa quân kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười) gần Chợ An Đông.

Những dĩa thịt gà vàng óng, những dĩa cơm gà nóng bốc khói, một dĩa đùi gà thêm vài ba cái phao câu và một dĩa gồm gan, mề, lòng, mươi quả trứng non bé bé xinh xinh màu vàng ngậy!

Thực khách (hơi có tiền một chút) uống lave đầu con cọp hay bia 33 là cha thiên hạ rồi!

Nghề chặt thịt, ông chủ tiệm kiêm đầu bếp tiệm cơm đã quen tay, coi giống như là ông đang múa võ; còn hay hơn là Vương Vũ hay Khương Đại Vệ, Địch Long, Trần Tinh hay Sơn Điền Bảo Chiêu múa mã tấu Tàu hay kiếm Nhựt trong phim kiếm hiệp Hong Kong thuở ấy.

Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao chặt cái bụp trên bụng, phân hai. Rồi phập phập! Hai cái đùi gà văng ra. Bốn đầu ngón tay trái chặn cái đùi gà! Rồi Phập! Phập! Bốn ngón tay lùi tới đâu con dao phập sát tới đó. Phập! Phập! Phập! Xong!

Xúc bằng yếm dao những miếng gà đều đặn, sắp hàng gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên cùng với những chén cơm gà nóng vàng ngậy, bốc khói, thêm hai thứ nước chấm: một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn dấm.

(Nghề chặt thịt siêu đến nổi có thằng nhỏ bị tật nói lắp, tức cà lăm, đến: “Bán… cho tui… ui… một dĩa cơm gà… à…! Phập phập. Thằng nhỏ chưa dứt câu là mấy cái đùi gà đã xếp hàng ngay ngắn như lính sắp hàng chờ duyệt binh trên dĩa cơm còn bốc khói “Xong rồi Tửng! Hà cái lầy rinh về cho Tía mầy nhậu đi!”

Thưa bà con! Ông bà mình thường nói nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh! Bất cứ nghề nào mà giỏi là giàu có mấy hồi. Nhất là nghề ẩm thực. Chỉ cần vốn ít, ngày nào cũng xoay xong một vòng hết ráo. Sáng mua, bán tới chiều. Tối gom tiền lại, gấp 2, 3… hồi sáng!

Nên xin đừng nghĩ kiểu xưa là: “Sĩ, Nông, Công, Thương”. Anh thương mãi bao giờ cũng đứng chót mà trật bàn đạp…

Người Tàu tha hương giờ đi khắp thế giới nhiều đến nỗi bà con mình thường nói: “Đâu có khói là nơi đó có người Tàu!” Khói là từ bếp của một tiệm ăn nào đó của họ, vươn lên trời xanh mời gọi khách đường xa trong một buổi chiều đói bụng quá ta!

Ghé một tiệm cơm gà Hải Nam trên dọc đường gió bụi, ăn một mình. Gọi dĩa cơm, kèm theo một chai bia! Ăn xong, no bụng rồi mới xực nhớ là em yêu ở nhà phải ăn cơm với nước mắm kho quẹt quanh năm suốt tháng mà cảm thấy lương tâm mình cắn rứt! Nỡ lòng nào: Hột muối chia hai; mà cục đường anh lủm hết vậy cà? Làm ăn chí thú, nên dầu chiến tranh ì ì như vậy mà ông chủ tiệm cơm gà Hải Nam Siu Siu nầy phất lên thấy rõ.

Từ một cái quán nhỏ tí teo như trái dưa leo giờ ông hết nghèo, chơi trèo, mua một hơi 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương thành một nhà hàng bán cơm gà Hải Nam thật lớn.

Khá rồi nhưng vẫn không phụ nghĩa tình xưa, cái quán cơm Siu Siu thuở đầu hẻm, bàn ghế phải bày ở hàng hiên, vẫn còn nơi mà những khách quen từng lui tới biết chỗ để tìm về kỷ niệm, dắt em yêu hay má bầy trẻ cùng sắp nhỏ đi ăn thuở ấy.

Theo như người biết chuyện, nhà văn Nguyễn Tường Thiết (con trai út của nhà văn Nhất Linh) vốn là hàng xóm sát vách với tiệm cơm Siu Siu, bùi ngùi kể lại! Cho đến khi CS vào chiếm Sài Gòn, Chợ Lớn. Đánh tư sản mại bản hai, ba đợt. Những quán cơm gà của một đời cần lao, tay làm hàm nhai bỗng bay vào tay bọn cướp.

Tháng Sáu, năm 1978, ông chủ quán cơm gà Hải Nam Siu Siu và toàn gia đình vợ con đành đứt ruột bỏ tất cả để ra đi.

Ra khơi, tàu chìm. Gần trăm người trên tàu không một ai còn sống; chỉ sót một mình ông Siu Siu, bám vào một tấm ván theo sóng biển bập bềnh trôi, tấp vào bãi biển Bến Tre.

Ông Siu Siu sau đó nghĩ quẩn riết rồi… thành người mất trí. Không còn vợ con; không còn nhà cửa; không còn quán cơm Siu Siu ngày cũ.

Xưa ông bán cơm để làm người ta ăn no. Giờ cay nghiệt thay ông lại đói!

Phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống lây lất trước hàng hiên của chính căn nhà mình năm cũ.

Mất Sài Gòn là ông Siu Siu mất hết; là chết!

Quán cơm gà Hải Nam Siu Siu gần Chợ An Đông ngày xưa đã không còn nữa nhưng trong kỷ niệm của người Sài Gòn, của người viết đây, vẫn còn sống riết, bám chặt vào tâm tưởng!

Nhớ ngày nào đôi ta còn rất trẻ, mới quen nhau, anh dắt em yêu ra quán cơm Siu Siu (ngày cũ). Em yêu khẽ khàng vén nhè nhè tay áo dài, gắp miếng thịt gà vàng ươm từ trên dĩa, chấm miếng nước mắm gừng bỏ vào chén cho anh.

(Dẫu bây giờ sau biết bao năm mặn nồng hương lửa, giờ em chỉ gắp cho em. Còn anh? Anh đành gắp cho anh vậy!)

Nhưng kỷ niệm thời mới yêu nhau tràn về như sóng làm anh độ lượng mà tha thứ cho cái tật bỏ bê tình cũ của em yêu!

“Xưa em gắp miếng thịt gà. Gừng cay muối mặn tình già cũng (hổng quên!)” Hu hu!

đoàn xuân thu

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Lòng Mẹ

Đặng Chí Bình

Bài 33

Mặc tiếng nói của anh, giấc mơ của anh chạy vào tai tôi lộn xộn. Mắt tôi đang mải ngắm nhìn cái yên sau, chiếc xe đạp của anh. Bằng năm que gỗ loại ba phân vuông, dài một mét, anh khéo đóng ba miếng dọc, hai miếng ngang, trông như cái phên. Anh lựa buộc chặt vào trên cái yên sau, anh có thể chở đi lủng lẳng và chồng lên trên hơn hai chục bình nhựa sữa tươi. Mới đầu tôi không nhận được ra anh, tưởng một người đang đạp chiếc xe lôi thồ. Tôi chợt nhớ đến chuyện CIA gần hai tháng trước, tôi hỏi nhỏ anh:

– Anh còn gặp tên xích-lô ngày ấy không?

Anh Bưởi lắc đầu, cũng khe khẽ nói:

– Nghe Bình nói như vậy, tôi sợ quá! Có mấy lần gặp tên đó, nhưng tôi cố tránh.

Sờ tay vào túi, thấy gói thuốc nhức đầu của mẹ, tôi từ giã anh Bưởi, hẹn gặp lại sau! Mỗi người một cảnh đời, đều phải tất bật lo toan!

Về tới nhà, thấy yên ắng! Thầy mẹ tôi đều ở trong mùng. Tôi vén màn, nhìn mẹ tôi đang ôm đầu rên rỉ: “Mẹ không muốn sống nữa, con ơi?”. Lòng tôi càng muốn đứt ra từng khúc! Nước mắt đã làm mờ, hình dáng tiều tụy của mẹ tôi. Tôi chạy xuống bếp, mở vung nồi cơm thầy tôi nấu khi nãy. Nồi cơm vẫn còn nguyên, nhưng nhão như bánh đúc, có lẽ thầy tôi đổ nước hơi nhiều nên nát quá! Nhìn vào trong chạn, chỉ có thố cà ghém muối của cô Thu đưa sang hai ngày trước, chưa ăn hết. Trong chạn không còn mắm, muối gì. Tôi dọn cơm vội vàng cho thầy mẹ tôi, chính tôi sáng sớm mới chỉ có một củ khoai lang luộc, để đi làm. Tôi mang bát đũa của thầy mẹ, nồi cơm lên nhà, sắp xếp sẵn trên chiếc bàn con, như mọi khi. Tôi tranh thủ xúc vội một bát cơm, với ba quả cà xuống bếp, ăn lẹ để còn kịp đi làm chiều.

Tôi mở từng mùng, thầy mẹ tôi vẫn nằm yên, tôi khẽ khóa cửa rồi phóng xe ra phường, làm bổn phận một người mất quyền công dân với tổ mành trúc. Tay tôi nhịp nhàng, từ từ đưa từng cây trúc vào chiếc máy cưa con. Nhìn những đoạn trúc đều nhau, bắn rơi xuống chiếc rổ, tôi chợt nhớ đến một ước mơ những ngày tôi còn ở xà lim Hỏa Lò.

Tâm lý của con người, có nhiều khi, chính mình đôi khi cũng không hiểu bản thân mình. Ngày ấy, biết bao nhiêu lần đêm ngày nhớ thương về người mẹ, như đói thèm ăn, khát thèm uống. Tôi đã hình dung suy đoán, cái thịt ở rốn của mình là cái thịt cắt với cuống nhau của mẹ. Để phần nào coi như là đã được sờ thấy, cầm tận tay của mẹ; nên tôi đã sờ rốn của tôi nhiều lần, bất kể ngày đêm mỗi khi tôi nhớ tới mẹ tôi. Một ước mơ khi ấy như một đặc ân của Trời, của Chúa mà tôi không thể có, là được gục mặt vào đôi tay của mẹ mình, rồi có từ giã cõi đời lòng tôi vẫn thỏa mãn với cuộc đời.

Thế mà từ ngày về được gặp cha mẹ, chưa bao giờ tôi thực hiện, dù cũng đã có lần gục vào vai, vào tay mẹ, nhưng chưa lần nào có ý niệm là tôi đang thực hiện được giấc mơ ngày ấy ở trong tù! Tôi vẫn chưa thấy đầy đủ giá trị, những điều tôi đang có. Dứt khoát, chiều nay đi làm về, tôi sẽ thực hiện được cái ước mơ cao quý đó. Chỉ mới có ý định, chủ trương, còn hơn hai giờ nữa mới đến giờ về, mà tôi nhìn mọi người trong tổ mành trúc hôm nay, ai cũng dễ thương, ai cũng như có thêm nguồn sinh lực mới, của cuộc đời.

Tôi lửng thửng đạp xe về nhà, ngay từ xa, nhìn ngôi nhà tôi cũng cảm thấy hôm nay, tôi thương yêu ngôi nhà hơn. Mở cửa, thầy tôi đang lom khom chuẩn bị hút điếu thuốc lào, cũng như mọi khi tôi vừa dựng chiếc xe đạp, vừa lễ phép:

– Thưa thầy con về! Thầy lại hút thuốc! Thầy có nhớ đây là điếu thứ mấy trong ngày hôm nay, không ạ?

Thầy tôi quay lại nhìn tôi, như có vẻ lạ lùng, rồi người thủng thẳng:

– Điếu thứ hai!

Thấy thầy tôi có vẻ tỉnh táo, tôi hỏi luôn:

– Thầy ơi? Có bao giờ thầy nghĩ đến bỏ thuốc, không hút nữa không?

Thầy tôi đã bắt đầu rít thuốc, tôi vẫn thấy thầy tôi vẫn duy trì một ngày hút ba điếu, chỉ có thuốc lào là người không lẫn lộn.

Tôi vào trong, định vào chào mẹ tôi, lại nghe tiếng lách cách bát đĩa ở ngoài chiếc sân con, nhà bếp. Mẹ tôi đang mò mẫm rửa chén bát! Tôi đã định chào người như mọi khi đi làm về, nhưng hôm nay tôi muốn đứng yên, để ngắm nhìn người rửa chén đũa. Mẹ tôi ngồi trên chiếc ghế con, (chiếc ghế tôi đóng tạm bợ khi tôi mới về cho mẹ tôi) người đang xát xà bông từng cái bát, cái thìa, đôi đũa. Tuy chậm, nhưng người làm rất kỹ, từng những động tác nhỏ nhặt, hộp xà bông, miếng giẻ, vòi nước, cái rổ con úp bát, cho đến cái thau con. Tuy chỉ có ba bốn cái bát, mấy cái thìa, mấy đôi đũa, người lại chỉ sờ soạng và suy đoán. Bất cứ vật gì trong nhà phải để đúng chỗ cũ. Đã từ hơn một chục năm nay, các cô Xuân, Cô Thu, hai người con gái cứ thay nhau một tuần, đến tắm cho mẹ tôi một lần.

Hút thuốc xong, thầy tôi đã vào mùng đi nằm, tôi kiên nhẫn chờ cho mẹ tôi rửa vừa xong chiếc thìa cuối cùng. Mẹ tôi một tay sờ chiếc rổ, một tay cầm chiếc thìa từ từ đặt vào rổ. Tôi không thể kìm hãm được nữa, tôi đã bước đến nhẹ ôm lấy mẹ. Mẹ tôi tươi hằn mặt, ngửng quay lại như muốn nhìn tôi, nhưng đôi mắt của người đã hoắm vào, làm sao người nhìn thấy đứa con trai của người, bây giờ ra sao? Tôi kéo tay người vào vòi nước, rửa từng kẽ ngón tay. Đôi tay này ngày xưa, đã bao lần tắm rửa cho tôi, đã bế ẵm, ôm ấp tôi bao nhiêu đêm ngày. Thậm chí, cứt đái, mủ máu hôi thối cũng do bàn tay này, đã rửa ráy săn sóc cho tôi. Mẹ ơi!

Tôi đã dẫn mẹ tôi vào trong giường của người, tôi ra dọn dẹp hết những phần việc còn lại. Liếc nhìn chiếc chạn, thố cà muối vơi đi một nửa, như vậy các người chỉ ăn cà với cơm nhão. Nhớ kỳ này cô Thu đã không kịp mua cho, lọ mắm tôm như mọi khi. Mắm tôm chưng là món dễ ăn nhất, nhưng tôi chợt nghĩ, cô Thu cũng đang quằn quại với mấy đứa con nhỏ, chồng còn nằm trong Chí Hòa, những cảnh sống, trong xã hội dưới chế độ này, chẳng nên ai trách buồn ai. Mẹ tôi đang dò dẫm ra bàn uống nước, tôi đưa người trở lại giường, để người ngồi.

Mẹ tôi đang định tụt dép, để cho cả hai chân lên giường.. Không thể chờ được nữa, tôi định tối nay sau khi ăn cơm tối xong, tôi sẽ biến hóa giấc mơ ngày ấy, ở trong tù thành hiện thực. Tôi đã tiến đến cầm đôi tay cao quý của mẹ tôi, lật ngửa để trên hai đầu gối của người. Tôi nhẹ quỳ xuống nền, rồi gục đầu mũi tôi hà, hít mãi cái hơi thương nhớ, ngọt ngào, ruột thịt. Bàn tay mớm cơm, đút cháo nâng niu, ẵm bế tôi, ngay khi tôi mới lọt lòng ra chào đời. Tôi đang được hưởng ân sủng của người, tôi đang sướng vui nhưng sao nước mắt của tôi lại trào ra làm ướt cả tay. Để rồi mẹ tôi đã rút một tay ra, xoa đầu của tôi, lo lắng hỏi:

– Làm sao mà con khóc?

Trái tim của tôi đang bị dúm dó, vặn vò do những cái vòi của con Hồng Tuộc (Từ ngàn xưa biển cả có giống Bạch Tuộc, hay gọi là qủy trắng. Nó có hàng trăm cái vòi, chuyên hút máu loài hải sản. Thế kỷ 20, thế giới mới sản sinh ra một giống Hồng Tuộc “quỷ đỏ”. Nó ác độc và thâm hiểm, gấp nghìn lần hơn Bạch Tuộc. Giống Hồng Tuộc có hàng triệu cái vòi vô hình để chuyên hút máu người. …dân).

Mẹ tôi làm sao nhìn được, trái tim đang rỉ máu của tôi, nên người cười. Ôi! nụ cười! Nụ cười độc nhất từ ngày tôi gặp lại người. Tiếc rằng mắt mẹ tôi đã lòa, với nụ cười ấy, nếu mắt người còn, hẳn sẽ long lanh như những hạt kim cương, môi người vẫn còn cười như hoa nở mùa Xuân, người nói thong thả:

– Nghe mẹ? Con hãy lấy vợ đi!

Một câu nói làm thay đổi cuộc đời của tôi. Bất chợt, làm cho tôi bàng hoàng, nhưng để làm vui lòng mẹ, không còn nhìn được tôi, tôi đã nói như khẳng định:

– Con sẽ làm theo lời của mẹ!

Bẩy giờ tối, tôi mang cả lá đơn theo, để trình diện CA khu vực. Cô CA Ngọc Anh sau khi ký vào sổ trình diện hàng ngày của tôi; cô nhắc tôi thứ Bẩy này nhớ đi lao động XHCN. Tôi rút lá đơn “xin đi tù” nhờ cô thông qua, rồi ký vào. Cô đọc xong, quay lại, mở to mắt nhìn tôi, cô nhìn tôi như một người cô chưa hề gặp lần nào. Cô không hỏi han gì cả, cô ký vào rồi đưa lại cho tôi. Thái độ của cô hôm nay, cũng bần thần khác thường.

Sáng hôm sau, trước khi vào tổ mành trúc, tôi đưa lá đơn vào phường. Tên Trung úy Mậu, mặt vênh vênh chuẩn bị ra oai, y tưởng tôi đưa nộp tờ kiểm điểm. Y cắm cúi đọc, tôi có cảm tướng cái khí thế giương oai khi nãy, như đang xì dần ra phía dưới hậu môn của y. Y ngửng lên nhìn tôi, mắt y thu nhỏ lại, như con cua rốc bất chợt gặp con ếch “cồ”. Y lại cúi xuống đọc lần nữa, y nhìn tôi như không tin chính là tôi. Y nói dịu dàng như nói với người anh, hay người bạn, của y:

– Sao anh lại có ý nghĩ lạ lùng thế! Anh không nên giận ông bà cụ, ông bà cụ già rồi sẽ chết!

Trong bụng của tôi đang nghĩ: “Tôi kính yêu thầy mẹ của tôi như trời biển ấy chứ! Tôi chỉ thù ghét con Hồng Tuộc mà thôi!”

Tuy vậy, tôi vẫn nghiêm mặt, nói rành mạch:

– Tôi nhờ ông ký rồi chuyển lên, theo hệ thống cơ quan, tôi đã ghi.

Hôm nay sao y lại có vẻ ân cần, lịch sự như thế! Khi tôi cúi đầu chào y để sang tổ mành trúc, y còn đứng dậy đi ra theo đến cửa, cứ như đưa tiễn một người bạn, đến nhà y chơi.

Sáng thứ Bẩy LĐXHCN cũng như mọi khi, cả năm người chúng tôi, phải quét dọn chung quanh khu chợ Nam Hòa và cả mấy con đường ngang cái cổng, trước chợ. Ngoài những đống rác rưởi hôi thối, lại có mấy cái cuộn băng vệ sinh của phụ nữ, còn bê bết máu, đỏ lòm, ruồi nhặng bâu đầy. Có một tồ băng quấn, vướng chặt vào mấy song sắt của lỗ cống, máu trên tồ băng đã thẫm đen, không một anh nào chịu cho tay vào kéo tồ băng ra. Ai cũng rụt cổ, lắc đầu trước những con mắt của bà con đi chợ.

Các anh đều chung ý kiến, thà bốc đất cát, hay khuân vác nặng nhọc, các anh không nề hà, nhưng cái này, đều giừa cho nhau. Đã mấy anh dùng cào, que, gậy chọc nhưng cái băng cứ quấn chặt. Cô ả Ngọc Anh, đã thấy rõ từ đầu, dù ả đứng từ xa hàng chục mét.

Tôi liên tưởng đến giai đoạn tôi ở xà- lim “án chém” Hỏa Lò, để chống muỗi của cả khu 14 buồng xà-lim bâu vào cắn tôi. Các buồng khác ai cũng có thân nhân nên có màn cá nhân. Tôi từ Sài Gòn ra, đất nước chia đôi, nên chả có gia đình thân nhân. Để khắc phục cái khó khăn này, tôi đã có sáng kiến, kết hợp với sự kiên trì công sức của mình, để có kim, có chỉ và những mảnh giẻ chùi trong nhà cầu, Xà – Lim I dành cho cán bộ. Vì là nơi sâu kín, nên đa số là cán bộ phụ nữ hay đi vào, vì thế trong thùng giấy, giẻ chùi, ngoài cứt đái, còn có những băng vệ sinh của các bà.

Tôi không có tiếp tế nên làm sao có xà phòng! Dù cứt hay máu, chỉ tranh thủ cho vào vòi nước vò vội, lén giắt vào cạp quần mang về, buồng của mình (rửa ráy, cọ bô trong 5 phút). Vì sự sống và chết, làm sao tin có ngày về? Ý niệm bẩn hay sạch đã gạt ra ngoài, để có những cái túi chui đầu vào chống muỗi, túi tay, túi chân ban đêm trong sáu năm dài.

Vậy hôm nay, tôi làm hay không làm, chứ tôi còn ra vẻ kiêng bẩn, sạch, mỗi khi cuộc sống bắt buộc, phải đối diện, là giả dối. Vì thế, cho tới bây giờ, tôi vẫn thường đùa bỡn với bạn bè: Tôi là loại người, từ trong bãi rác đi ra, chứ chẳng cao sang

Thấy anh em ngại ngần, lúng túng, tôi đã dùng tay giải quyết dễ dàng, nhanh gọn. Không có gì sạch bằng nước và xà phòng!

Đêm hôm qua, ý tưởng lấy vợ cứ vấn vít lòng của tôi mãi. Chỉ vì cuộc sống “du” vào một hoàn cảnh cùng cực, tiền không có, bố mẹ mù lòa, già yếu, thân thì bị o- p ràng bố đêm ngày, nên chẳng bao giờ tôi nghĩ tới. Huống chi, trong cái thế này, trước sau tôi cũng phải ra đi, dù có phải chết cũng sẽ ra đi! Điều làm cho lòng tôi vơi đầy, như nước thủy triều là bố mẹ già của tôi, bao nhiêu giằng co, ngắc ngư, lưỡng lự. Đành rằng hai mươi năm trước đã bỏ cha mẹ ra đi biền biệt, nhưng khi ấy còn em trai, em gái, bố mẹ còn trẻ.

Hơn nữa, trước mắt, tôi vừa làm lá đơn xin trở lại nhà tù và đã nộp, hãy chờ con đường định mệnh của mình, ít ngày nữa rồi sẽ tính. Tối hôm qua sinh hoạt tổ của khu phố tại nhà ông Trùm Lộc, như mọi khi sau khi tôi đọc báo (Nhân Dân) xong, bà con chuyện trò, nghe tôi phàn nàn làm ở tổ mành trúc, hơn sáu tháng mà không có một đồng tiền lương nào, mà gạo cũng không. Họ mách tôi, sao không đi xin làm mộc ở các tổ mộc Phường, Quận, khi tôi có nghề mộc khá?

Ngày hôm sau tôi ra Phường gặp tên Mậu, đề bạt ý kiến với y. Lần này y lại mềm mỏng chuyện trò với tôi. Y tỏ ra rất thông cảm với hoàn cảnh sống của tôi. Y đã khuyến khích tôi, đi tìm những cơ sở làm mộc ở quanh vùng. Tôi cũng thăm dò y xem là tôi đã sắp được chấp nhận trở lại nhà tù chưa? Y cho biết lá đơn của tôi đã lên Quận rồi, được chấp nhận hay không phải hàng tuần, hàng tháng, trước mắt hãy đi tìm một công việc mà làm, rồi chờ. Sau mấy ngày dò dẫm, tìm tòi tôi đã được một tổ mộc thu nhận.

Tổ mộc Thành Công ở bên Chi Lăng Gia Định, do ông Huỳnh trên 50 tuổi làm tổ trưởng. Đặc biệt, ông Huỳnh có bàn tay phải bị ba ngón cụt: ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út. Bàn tay chỉ còn ngón cái và ngón trỏ, nhìn ông ta cầm bút như cái càng của con cua bể, đang cắp một con giun đất. Ông ta đã từng là một tổ trưởng, một tổ đặc công nội thành hàng chục năm trước đây.

Tổ mộc Thành Công, thường nhận hàng gia công của các cơ quan như: giường, bàn, tủ, ghế. Ông Huỳnh có một chiếc Mobylette cũ, chuyên chạy đi quan hệ, giao thiệp các nơi. Tổ có chừng gần mười người thợ ở các khâu. Tôi nhận mức khoán đóng bàn, làm việc nếu chịu khó năng nổ lao động thì đủ ăn, và còn có điếu thuốc phì phèo. Tên trung úy Mậu ở phường, yêu cầu tôi phải có giấy ký nhận hàng ngày, làm ở tổ mộc. Và cứ 7 giờ tối phải trình diện công an khu vực mỗi ngày, như mọi khi.

Từ đấy, tôi cứ sáng đi, chiều về. Có một việc mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn còn thấy lòng nở hoa. Làm việc ở tổ mộc Thành Công được hơn một tuần, hôm ấy tôi lĩnh lương được hơn ba chục bạc, những đồng tiền đầu tiên tôi kiếm được, sau khi ra tù. Đạp xe về qua một bà hàng bán trứng vịt lộn, để thầy mẹ tôi và tôi đều được thường thức, được hướng cái đồng tiền đầu tiên này, tôi quyết định mua ba quả trứng vịt lộn, có đủ muối tiêu và rau răm.

Trên đường đạp xe về nhà, tay ôm túi giấy gói ba quả trứng còn nóng hổi, tôi có cảm tường như ôm niềm vui, niềm hưng phấn của thầy mẹ tôi, và của tôi trộn lẫn. Chiếc xe đạp của tôi, như nó cũng vui lây với tôi, nó chạy, nó đi một cách “phởn phơ” như muốn nhẩy cẫng lên ở ngoài đường. Khí hậu của Sài Gòn chiều tàn, cũng thật mát dịu. Lạ lùng là ngay tiếng chiếc chìa khóa mở cửa nhà, hôm nay nghe nó cũng ngọt ngào khác thường.

Thầy mẹ tôi vẫn còn nằm yên trong màn, các người không biết rằng, hôm nay con trai của các người đã kiếm được đồng tiền đầu tiên sau gần hai mươi năm bị tàn phế, bị cái vòi của con Hồng Tuộc, nó cuốn chặt cổ và hút máu ở tim. Cũng như mọi ngày, tôi nhẹ nhàng dọn cơm nước chuẩn bị sẵn sàng ra bàn. Tôi khe khẽ đỡ thầy tôi dậy để chuẩn bị ăn cơm, tôi lại vào đỡ mẹ tôi dậy. Tôi phải công nhận, hình như mẹ tôi có một cái linh cảm đặc biệt, mặt của người hôm nay thật tươi, người hỏi tôi:

– Hôm nay có cái gì, làm con vui thế?

Tôi quay lại nhìn kỹ, vào hai hố mắt sâu của mẹ tôi, cứ như mẹ tôi nhìn thấy nét vui của tôi thể hiện ra mặt, vẫn là đôi mắt nhắm nghiền, hõm sâu vào. Tôi đã định nói, nhưng tôi đã kìm lại nuốt xuống. Tôi muốn để các người ăn cơm xong rồi, mới thưa cái nguồn vui đó với các người. Cơm hôm nay ngoài món mắm tôm chưng cố hữu, còn có rau muống luộc tôi đã mua từ hôm qua.

Tôi đợi thầy mẹ tôi vừa bỏ bát đũa xuống, từ lúc về tôi đã vùi gói giấy ciment có ba quả trứng vào tro nóng, để nó duy trì cái ấm êm của thầy mẹ tôi và của tôi sắp tận hưởng. Tôi để nhẹ một tay lên vai mẹ tôi, và trang trọng:

– Thưa thầy mẹ, hôm nay con muốn thầy mẹ cùng hưởng với con cái đồng tiền đầu tiên, con kiếm được sau khi tù về.

Thầy tôi vồ vập hỏi:

– Con kiếm được……… ở đâu?

Tôi hiểu thầy tôi không tỉnh táo hoàn toàn, nhưng tôi vẫn thưa rõ ràng:

– Con đi làm ở tổ mộc, bên Gia Định, tuần đầu con lĩnh lương!

Mẹ tôi thì hiểu, nên mẹ tôi ngửng mặt lên cười, kỳ này mẹ tôi lại hay cười, đó là nguồn vui chính, lớn lao của tôi. Chắc tâm tư của người đã chuyển đổi tư duy, cách nhìn. Tôi nhớ đến một ý của Trần Trung Đạo. Tôi xin đổi hai chữ “thiên thu”: Đổi cả ngàn năm…tiếng mẹ cười! Tôi chạy lẹ xuống bếp lấy gói trứng lên, tôi lấy một quả lau sạch sẽ, với cái thìa con đưa cho thầy tôi. Tay thầy tôi run rẩy cầm lấy, tôi biết thầy tôi sẽ tự ăn được. Phần mẹ, tôi lấy một quả, tôi phải đập một đầu quả trứng rồi bóc ra đưa cho mẹ tôi húp. Mùi trứng thơm lừng căn buồng, nước trứng nóng hôi hổi.

Thầy mẹ tôi, xì xụp húp, tôi nghe cả thầy mẹ tôi đều hừ. . . .hừ khi các người nuốt cái nước thơm ngọt ấy xuống dạ dầy. Phần tôi từ ngày về tù, tuy đã có mấy lần được các cô chú ấy cho ăn bồi dưỡng, nhưng người tôi vẫn thấy thiếu đói. Vì thế, khi tôi phục dịch thầy mẹ tôi, tôi nghe rõ trong bụng tôi nó đòi, nó kêu ọ . . . . . . .ọ . . . .ọ . . . .liên hồi. Nhưng tôi đã ra lệnh cho chúng . . . ..”Hãy yên lặng, phải biết điều! Tao là chủ nhân chúng bay, nhưng tao còn phải phụng dưỡng thầy mẹ tao đã! Hãy nằm yên!” Chúng nó đã nghe lời tôi răm rắp!

Bây giờ, tôi mới ra lệnh cho chúng há hết cả miệng ra! Và tôi bắt đầu húp, bắt đầu rót cái nước tuyệt vời, xuống từng cái miệng bé xíu của chúng, tôi nghe rõ chúng đồng loạt kêu:

– Trời ơi! Sướng! sướng quá!

Biết chúng nó sướng lắm, vì chính tôi là chủ của chúng cũng đang sướng “rủn” hết, người ra đây này. Cho hay “trời cũng chiều người!” Cả ba quả trứng vịt lộn, “con” lớn cũng vừa phải, vì thế cái “nước” và trứng nó cũng đã ngon hết cỡ của nó. Bây giờ bắt đầu tôi ăn, miệng tôi nhai, tai tôi nghe ở dưới bụng những tiếng rầm rập, rõ ràng hình như tất cả con tì, con vị, trong con người của tôi, chúng nó rủ nhau ra hết. Chúng nó đang nhảy múa như ngày vào hội của đình làng, vừa đánh trống, vừa thổi kèn làm rung rinh cả người tôi.

Không thể để cho chúng nó vô trật tự, làm loạn. Tôi ra một cái lệnh tối khẩn:

– Đồng bào có nghe tôi nói rõ không? – Cùng một loạt trả lời “rõ “. Tôi nói tiếp: “đồng bào” ở trong bụng của tôi yêu quí, tuy trên danh nghĩa là tôi phục vụ, nhưng “đồng bào” ở trong bụng tôi, thực sự tôi là chủ. Vậy đây là miếng trứng vịt cuối cùng, toàn “dân” phải tập trung, lắng nghe lệnh của tôi. Tôi bảo đi là đi, bảo đứng là đứng, bảo nằm là tất cả đều phải nằm. Khi tôi bảo “sướng” thì tất cả đều “sướng” nó mới có tác động qua lại, cộng hướng để cho cái “sướng” bay lên chỗ cao nhất của nó.

Miếng trứng vịt cuối cùng, tôi vét và dốc ngược hết cả vào miệng, trước khi nuốt, tôi liếc nhìn thầy mẹ của tôi. Thầy mẹ tôi cũng dốc ngược cả cái, cả nước vào miệng, các người cứ ư ử ư ử rên rỉ. Mặc các người!

Tôi phải giải quyết với đám “đồng bào” của tôi đã. Lưỡi của tôi đã cứng “đơ” ra rồi, nhưng tôi còn kịp quát một tiếng thật to: “Sướng!” Tai tôi nghe có tiếng sáo cao vút của Thiên Thai và hàng bầy tiên nữ rủ nhau nhẩy múa khúc “Nghê Thường”. Thầy mẹ tôi, mỗi người đều chui vào mùng của mỗi người. Tôi cũng để mặc cho đĩa bát ở đấy, tôi lần từng bậc thang lên gác, rồi cũng chui vào mùng của tôi.

Năm giờ rưỡi chiều hôm sau, tôi đạp xe về đến nhà, từ xa tôi thấy bóng một phụ nữ thập thò trước cửa. Tôi đoán là em Xuân hay em Thu thăm thầy mẹ tôi, nhưng là chị Hai Công và thằng cháu Hoài Khanh trên Hồng Ngự xuống thăm thầy mẹ tôi. Chị em, bác cháu gặp nhau thật là mừng rỡ.

Đặc biệt lần này, chị Hai cứ hay nhìn tôi rồi mỉm cười, thấy chị cười thì tôi cũng cười để đáp lại, chứ tôi không hiểu hết ý nghĩa đôi mắt trìu mến, và nụ cười thương yêu của chị. Thì ra ở nhà chị và mẹ tôi đã chuyện trò bàn tán nhiều, về việc lấy vợ của tôi. Hai thím cháu đã quyết định, chiều mai sẽ có một bữa cơm đại gia đình, của chúng tôi. Ngay buổi tối đó, thằng Khanh phải sang báo cho cô Thu và cô Tuất chiều mai đến ông bà.

Phần tôi, vì là làm khoán, nên tôi đã xin ông Huỳnh về từ 3 giờ chiều mai (lúc khác làm bù). Hôm sau, buổi chiều nhà tôi ồn ào đông vui như một ngày Tết. Các em, các cháu chật một căn nhà, để chuẩn bị một bữa cơm sum họp của cả gia đình. Chỉ còn thiếu thím Lý và bốn cháu nhỏ mãi trên Hồng Ngự (nhưng đã có thằng Khanh, đại diện cho gia đình chú Lý). Chú Tuất làm ở xưởng Ba Son, 5 giờ chiều mới về tới, các cô chú đã mua hẳn một con gà trống hai ký để thịt, chứ có phải thường đâu! Phải nói từ ngày tôi về, ngoài những bữa các cô chú mời tôi đi ăn bồi dưỡng ở tiệm ăn, thì cũng chỉ hai, ba người là cùng

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Làm đơn xin đảng vào tù

Đặng Chí Bình

Bài 32

Mãi 8 giờ tối, tôi mới về đến Sài Gòn. Chưa dám về nhà, tôi thuê xích lô đạp về nhà em Xuân, bên Lăng Cha Cả hết 4 đồng. Nếu chân tôi không đau, thì tôi đi bộ dù năm mười cây số. Tôi lặc lè bước vào nhà, các cháu không nhìn ra tôi, tóc tai, râu ria bùm sum, quần áo lếch thếch lôi thôi. Em Xuân ở dưới bếp bước lên, nhìn tôi rồi miệng mếu xệu ôm chầm lấy, nói trong nước mắt:

– Anh ơi! Sao anh khốn khổ thế này?

Chú Tuất đi làm đêm, ở nhà chỉ có mấy mẹ con, một đứa lấy xe đạp sang báo cho ông bà. Tôi căn dặn nói cho ông bà, chưa để cho hàng xóm biết. Tôi mệt quá và thiếu ngủ, cô Xuân đun một thau nước nóng cho tôi ngâm rửa chân, vì buốt nhói quá! Tôi lên gác nằm ngủ cho lại sức, ngày mai còn đối ứng với CA phường, khu vực.

Sáng hôm sau, cô Thu đã đến sớm, cứ ôm tôi khóc sướt mướt như trẻ con ngày nào. Mắt em Thu sáng, nên đã khêu lấy ra được, ba cái gai chà-nà, ở hai bàn chân tôi. Tôi đã mang chúng mấy ngày trời, từ dưới khu rừng ở ghềnh Hào, Minh Hải về Sài Gòn. Cả một buổi sáng, cô chú Tuất và cô Thu, các cháu ríu rít mua bán đồ ăn, để gọi là bồi dưỡng cho tôi, sau 10 ngày trăn trở, quặt quẹo với chuyến vượt biên không thành. Gần chiều, tôi phải trở về bên bố mẹ và còn phải đi trình diện CA khu vực, lúc 7 giờ tối.

Sau khi thăm hỏi và chào thầy tôi, tôi vào trong mùng với mẹ tôi. Hai mẹ con không nói ra được một lời nào, chỉ ôm nhau hàng giờ, để cho những dòng lệ vàng đục, từ những cõi lòng dúm dó, quặt quẹo chảy ra. Cuối cùng mẹ tôi lần tay sờ lên đầu tôi thều thào:

– Con hãy dâng hết niềm khốn khó, nỗi khổ đau cho Chúa và mẹ Maria.

Gần 7 giờ tối, tôi mò đến nhà cô Ngọc Anh, thoáng thấy tôi bước vào buồng, cô trợn mắt nhìn tôi. Cái bánh “xèo” của cô hôm nay nhăn nhúm, mắt của cô càng trắng ra, gằn giọng:

– Sao anh không đi luôn, về đây làm gì nữa?

Mặt tôi xìu xuống, chảy dài ra, chậm chạp ngồi vào chiếc ghế bên cạnh, thiểu não:

– Cô hãy nhìn con người tôi cô đã rõ. Gần năm tháng nay, ngày nào tôi cũng đi làm, không có tiền mà cũng không có một hạt gạo nào. Chẳng lẽ tôi chỉ uống nước lã rồi đi làm? 43 – 44 tuổi rồi, mà còn ăn bám bố mẹ mù lòa già yếu. Cô là CA, người đại diện của Đảng và chính quyền của khu vực này, xin cô hãy xét cho điều kiện và hoàn cảnh sống, của tôi.

Theo lệnh của phường, tôi phải làm một bản kiểm điểm: Mười ngày đã bỏ đi đâu? Tại sao đi? Đi những chỗ nào? Viết chi tiết đưa cho CA khu vực ký, rồi đưa ra phường!

– Vẫn đi làm tổ mành trúc như mọi khi!

– Viết kiểm điểm vào buổi tối và sáng sớm!

– Phải nộp bản kiểm điểm trong ngày thứ sáu (hôm nay là thứ ba).

Họ không cho tôi ăn, mà còn không cho tôi thở nữa. Thôi! Mình là kẻ chiến bại, thì hãy nhắm mắt lại, cho kẻ thắng nó hành, nó đầy đọa.

Tôi cố gắng chắt lựa thời gian, ngày hôm sau, (thứ tư) tôi phóng miết xe lên nhà thằng Lợi. Không ngờ cháu Mỹ Linh và cháu Hữu Lực còn bị giữ lại ở đồn Cỏ May. Đêm hôm đó (ở bến bãi) lộn xộn thằng Lợi đưa con lên bờ. Ra ngoài mà đi đông nguy hiểm, nó chia làm hai. Nó chỉ một đường cho các cháu lớn ra đón xe về Sài Gòn, còn Lợi dẫn hai cháu nhỏ đón một chuyến xe khác để tránh CA nghi ngờ.

Các cháu lớn có mang theo một chiếc va-li đựng quần áo, một số hình ảnh, thư từ mang đi (vượt biên) để làm kỷ niệm. Chẳng hiểu CA khám xe hỏi, chúng nghi ngờ, chúng tách hai chị em ra hỏi, truy nên phải ra sự thật: Đi không được nên quay về v.v… Cũng may các cháu không nói gì tới bố, nên chúng còn để ở đồn Cỏ May, chờ bố mẹ đến lãnh (một hình thức xoay tiền).

Cháu Thủy và cháu Thắng, con của vợ chồng Đạt thì vẫn còn bị giam ở trại Gáo Dừa, ruột gan của tôi lại càng bị vặn vò thêm. Đành rằng tôi không có lỗi trực tiếp, nhưng có lỗi trong gián tiếp. Vì thế, mỗi khi có điều kiện tôi lại đạp xe lên vợ chồng thằng Lợi, vợ chồng Đạt thăm hỏi như một sự chia xẻ. Như tôi đã nhiều lần thố lộ ở trên, tôi không có khả năng, tài cán gì mà lại còn gián tiếp làm thiệt hại đến bạn bè. Tôi hiểu vợ chồng thằng Lợi, ruột còn đang rối như tơ vò, nên tôi cũng chưa dám nói gì, về chuyện phía bên kia, còn định thanh toán thằng Lợi. Nó sẽ càng buồn bực thêm, mà lại không thể giải quyết, trong hoàn cảnh này.

Nội dung bản viết kiểm điểm của tôi, chỉ quanh quẩn mấy ý chính: Là một đứa con đã 43- 44 tuổi rồi, bố mẹ mù lòa già yếu đã không hề giúp đỡ đấm bóp, cơm nước hầu hạ; lại còn ăn bám vào tiêu chuẩn gạo của bố mẹ, để rồi các người phải ăn cháo, bữa đói bữa no. Dù thương con nhưng khó khăn não nề quá, nên có lúc các người đã chửi mắng tôi. Tôi biết bố mẹ tôi là đúng, tôi là sai. Biết mình sai nhưng tôi không biết và không có khả năng để sửa sai, cho nên tôi phẫn uất lấm! Tôi muốn bỏ nhà ra đi, dù có khổ cực hay đói khát mà chết, tôi cũng xin bằng lòng. Ở với bố mẹ tôi vừa buồn …..vừa đau xót…..vừa nhục!

Đến ngày, tôi đem nộp lên phường, tên Mậu xem xong, xé ngay trước mặt tôi, bắt tôi về viết lại. Y nói:

– Viết những điều lăng nhăng, mà chưa thấy cái sai của mình. Nếu không viết đúng sự thật, y sẽ có biện pháp!

Tôi lại lủi thủi đi về, tranh thủ tối khuya ngồi viết lại. Tôi cũng chỉ có bằng ấy lý do chính, như tờ kiểm điểm trước. Ba ngày sau tôi lại phải lấy chữ ký của CA khu vực, của tổ khu phố, rồi mới đem lên phường nộp. Tên Mậu lại đập bàn, quát tháo là tôi viết lảm nhảm chưa thấy cái sai cái lỗi của bản thân, nó lại bắt tôi về viết lại nữa. Y bảo cho tới khi nào tôi thấy được cái sai, cái lỗi của mình mới thôi!.

Suốt ngày đi làm, ăn uống thì rau, mắm mà cũng không đủ no, tối về lại cặm cụi viết kiểm điểm. Đêm qua vừa buồn vừa mệt, tôi cứ trằn trọc đến 12 giờ, vẫn chưa chợp mắt được một chút nào. Đến khi vừa chợp ngủ được thì bất chợt, tôi nghe tiếng của thầy tôi la to:

– Giời ơi? Các ông phá nhà tôi à?

Mẹ tôi thì khóc nức nở kêu la:

-Ối trời cao, đất dầy ơi! Tôi có làm cái gì đâu, mà các ông lục lọi nhà tôi như vậy?

Tôi choàng ngồi dậy, có tiếng giầy đi lên gác, hai ba người đèn pin loang loáng. Tiếng giầy đi nặng trên gác, sàn gỗ làm rung rinh cả căn nhà, một tiếng nghe lạ hoắc:

– Tên Bình đâu?

Tôi hất màn chui ra, ngơ ngác, tên đó lại hỏi tiếp:

– Có người lạ trong nhà không?

Tôi cảm thấy nản lòng và phẫn uất quá rồi, nên tôi trả lời không cần văn hóa nữa:

– Các ông đang lục lọi trong nhà thì các ông biết, tôi làm sao biết!

Cả hai tên chiếu ngay đèn bấm, vào thẳng mặt tôi. Tôi đứng yên nhìn lại chúng mấy giây, rồi tôi đi xuống dưới nhà xem thầy mẹ tôi thế nào. Cả hai cái mùng của thầy mẹ tôi, chúng đều vắt lên, một tên sục xuống bếp, mở cả bể nước mưa ở ngoài sân. Chúng cầm một cái gậy dài chừng 1m50 chọc, khùa vào bể nước, làm đục ngầu, chúng hạch sách sổ hộ khẩu, một tên nhìn vào bàn thờ rồi hỏi trống không:

– Cả nhà theo đạo Chúa à?

Thầy mẹ tôi ngồi yên, tôi không còn kìm được nữa, muốn thế nào cũng mặc, tôi cũng không trả lời, tôi đã định nói: “Các ông nhìn bàn thờ mà các ông không biết gì, nên mới phải hỏi” nhưng tôi đành “nín thở qua cầu”.

Thầy mẹ tôi, mỗi người gục ở một góc giường, gần một giờ sau, chúng mới chịu đi ra, không một lời chào chủ nhà. Nhìn bộ điệu của cả năm tên, hai tên đeo súng ngắn, nhưng cả hai cũng không đeo lon nên chả biết là CA nào? Quận hay Thành? Tên nào tôi cũng chưa hề nhìn thấy bao giờ. Tôi đóng cửa rồi bỏ mùng xuống cho thầy tôi, một ông cụ già 77 tuổi rồi, còn lẩn thẩn nữa. Tôi cũng vào đỡ mẹ tôi nằm ra, và bỏ mùng lại cho cụ. Bà cụ mù lòa cũng không được nằm ngủ yên, tôi chỉ hiểu vì tôi, vì đứa con bất hạnh, bất tài này nên các cụ cũng phải khổ lây Từ đấy cho tới sáng, vừa hận vừa buồn nên tôi không tài nào ngủ lại được nữa, thỉnh thoảng nghe những tiếng thở dài não ruột của thầy, của mẹ tôi vẳng lên.

Sáng hôm sau, tôi vẫn phải dậy sớm để chuẩn bị ra phường đi làm. Tôi quá mệt nhọc, thấy cuộc sống của tôi được gần bố mẹ già, nhưng bị ràng bố cả ngày lẫn đêm, tôi nghĩ đến giai đoạn được ra tù. Khi ấy (năm ngoái) từ cán bộ, cho đến tù nhân đều được tương đối thoải mái hơn trước đây. Cụ thể, các cán bộ lén lút khoán chúng tôi làm đồ tư, chúng tôi có trà, thuốc lá, gạo thành ra không sợ đói khổ, như những năm trước đó.

Tôi chợt thấy, ở nhà bên bố mẹ già nhưng cũng không có thời gian để phụng dưỡng, đỡ đần các người, còn làm các người khổ lây như đêm qua. Bản thân tôi còn cực nhọc, đói thiếu hơn thời gian, tôi ở trong tù vừa qua. Một ý tường lóe lên trong đầu: Tại sao không xin trở lại tù? ở trong tù còn được cái thú “tự tôi xin vào tù” không còn phải đêm ngày lo lắng CA đe dọa, sẽ bắt vào tù Nghĩ như thế, tôi mần mò để viết một lá đơn có tình có lý, xin trở lại tù.

Nếu được CA chấp nhận, thì mình đã đạt điều mình mong muốn! Nếu CA không chấp nhận, thì họ đỡ hành mình, đỡ hơi một tí, họ lại đe dọa bất trở lại tù, (tôi nghĩ lúc ấy họ đe dọa sẽ không bắt mình đi tù còn sợ hơn). Sau mấy ngày suy nghĩ, tôi đã viết được một lá đơn xin đi tù. Nội dung lá đơn xin trở lại trại giam đi tù như sau:

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc lập tự do hạnh phúc

Kính gửi:

Cục Lao Cải (lao động cải tạo) trực thuộc Bộ Nội Vụ.

Thông qua:

– Sở CA thành phố Hồ Chí Minh

– Tiểu Ban Quản Lý Những Người Học Tập Cải Tạo Được Về.

– Công An quận Tân Bình

– Công An Phường 6.

– Công An khu vực thuộc Phường 6.

Tôi là Đặng Chí Bình hiện được tạm trú ở nhà bố mẹ tôi là ông Đặng Chí Phúc và bà Nguyễn thị …..tại số 12/ 34/18 phường 6, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Xin quý ông cứu xét chấp nhận sự thỉnh cầu của tôi:

Tôi nghĩ không một ai ở một nước nào, lại muốn vào trong nhà tù cả, đây là hoàn cảnh và điều kiện sống của tôi.

Đầu 1962, tôi có nhận một nhiệm vụ của cục tình báo VNCH, ra Hà Nội để chống phá cách mạng. Nhưng tôi đã không làm gì, khi đến Hà Nội CM đã đưa tôi ra Tòa án Nhân Dân Thành PhốNội ngày 30- 12- 1967 xử phạt 18 năm tù giam và 5 năm mất quyền công dân.

1980 tôi đã được ra tù, tôi trang trọng cảm tạ ơn trời biển của Đảng và chính phủ. Khi tôi về tới miền Nam thì bố tôi đã 77 tuổi, lẫn lộn trí nhớ, hay yếu đau. Mẹ tôi 73 tuổi, đã lòa cả hai mắt 16 năm rồi. Bố mẹ tôi còn sống là do sự đùm bọc, giúp đỡ của bà con xóm giềng: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước hãy thương nhau cùng “.

Về địa phương, tôi đã thi hành mọi điều khoản được quy định với chính quyền, của một người tù được tha về. Bản án còn 5 năm mất quyền công dân của tôi. ở phường 6 hiện có gần năm chục quân cán của chính quyền VNCH cũ đi cải tạo được về. Hầu hết họ phải đi trình diện CA phường một tháng một lần, gần 10 người trình diện tuần một lần, một mình tôi duy nhất phải trình diện ngày một lần.

Gần 20 năm đi tù tôi đã tự hiểu, tuy cùng mất quyền công dân, cùng đi tù nhưng chính sách của CM đã đối xử với từng người hoàn toàn khác nhau. Như tôi đã đi tù: ở 6 năm một mình trong buồng kín, 4 mét vuông của xà- lim Hỏa Lò Hà Nội. Bị cùm ba năm rưỡi, lúc cả hai chân, lúc một chân trong cái cùm của thời thực dân Pháp.

Hiện nay, hàng ngày tôi phải đi làm ở tổ mành trúc 19/5, tám giờ mỗi ngày. Tôi đã làm hơn sáu tháng nay, không có tiền lương, cũng không có gạo. Tôi phải ăn bám vào bố mẹ mù lòa già yếu. Cuộc sống già yếu tật nguyền của bố mẹ không còn yên ổn vì tôi. Tôi tha thiết tự nguyện xin trở lại trong tù cho tới chết, tôi và bố mẹ tôi xin đội ơn hải hà của Đảng và chính phủ đã cưu mang tôi một lần nữa.

Thành kính

Ký tên,

ĐCB

Trưa hôm qua, tôi đi làm về, thầy tôi đang hì hục chẻ củi, nấu cơm ở dưới bếp, mẹ tôi ngồi ở trong màn đang ôm đầu. Mọi khi thì thầy mẹ tôi đã ăn rồi, tôi vội vàng nhấc mùng, trèo lên ngồi bên mẹ, ôm lấy mẹ tha thiết:

– Mẹ làm sao thế? Thầy mẹ chưa ăn cơm ạ?

Mẹ tôi bị đau đầu từ sáng đến giờ, nhưng hết thuốc rồi, thầy tôi chống gậy ra nhà ông lang Cảnh ở Ông Tạ từ 9 giờ sáng. Mãi 12 giờ mới nghe tiếng lọc cọc, thầy tôi chống gậy đi về, vẫn chưa mua được thuốc. Tôi không kịp xuống bếp xem thầy tôi loay hoay thế nào, tôi cũng chả thiết gì ăn với uống, tôi phóng xe vội vàng ra ngã ba Ông Tạ, để mua một liều thuốc nhức đầu cho mẹ tôi trước đã.

Lúc về, tôi gần rẽ vào đường Bắc Hải, rõ ràng tôi nhìn thấy anh Bưởi đang gò lưng đạp chiếc xe, kiểu mới tự chế: Theo anh Bưởi, chiếc xe Farovite hơn một chục năm, đã sơn lại hai lần, một người quen đã bán lại cho anh 70 đồng, trả góp hàng tuần 10 đồng.

Anh nhận được một công việc, đi giao sữa tươi cho các gia đình, đã đặt mua mỗi buổi sáng. Đi cất sữa, đi giao sữa bận bịu tối ngày, anh tằn tiện ăn cơm độn bo bo, với mắm cáy (món sở thích của anh). Mỗi ngày anh có thể để ra được 1 đồng 70. Sau khi kể cho tôi nghe thành tích, mặt anh Bưởi tươi hơn lên, đôi mất long lanh dưới chiếc riềm mũ vải, mầu xỉn hạt mít:

– Mỗi tuần tôi còn gần hai đồng để “vi vu” thuốc rê với đời, chỉ hơn một tháng nữa, chiếc xe này đã hoàn toàn là của tôi!

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 6 Nov 2023

Nỗ lực để sinh tồn

Đặng Chí Bình

Bài 31

Tính toán, cân nhắc rồi tôi âm thầm chuẩn bị, đôi dép không cần thiết, tôi bỏ vào một góc khuất, cởi chiếc quần “jean” rách, đã bạc màu, thắt chặt hai ống lên cổ. Cái giấy ra trại, cái nhẫn chị Lợi đưa, chiếc đồng hồ Seiko 5 của thầy tôi cho, tất cả tôi túm lại trong một cái túi nylon, đút gọn vào trong một cái túi con khâu ngầm trong quần đùi, rồi cài kim băng.

Nghĩ đến đôi dép để đấy không tiện, sau này CA khám thấy đôi dép, chúng nghi ngờ có người trốn, tôi đi đôi dép đàng hoàng. Trời đã cập quạng tối, tôi đến rủ mấy cậu Bạch, Thâu và Triết có theo tôi bơi vào bờ ngay từ còn ngoài biển v.v…? Cả ba cậu thấy tôi chuẩn bị, bằng những con mắt sợ sệt, e ngại, cuối cùng các cậu đều nói:

– Thôi! Anh ơi! Bị bắt một, hai năm về, tính chuyến khác, bây giờ xuống biển đêm, chả biết thế nào. Nguy hiểm lắm!

Tôi thật ngạc nhiên: Cậu Thâu và Triết đều gốc chài lưới, mà cũng rụt rè, sợ sệt như vậy. Tôi đã thấy một điểm sáng, từ trong chỗ đen ngòm lóe lên, như thế sắp tới đất liền rồi. Rồi ánh đèn bấm từ thuyền trước cũng lóe lên, biển lúc này tuy có động, sóng to, gió lớn hơn, lại có trận mưa đêm nữa, như vậy là càng tốt cho kế hoạch của tôi. Tôi phỏng đoán cách bờ chỉ khoảng một cây số hay một cây số rưỡi là cùng, tôi lại bơi bỏ xa chỗ đèn pin lóe lên, thì cho đến hai cây là hết cỡ. Tôi đã được ăn một bát cơm và một gói mì khô. Có nguy hiểm, nhưng xét cơ thể của tôi, có thể chịu đựng được cái lạnh ở dưới biển.

Tôi hỏi lại các cậu lần nữa, các cậu vẫn e ngại lắc đầu. Không thể chần chờ, bắt tay các cậu, tôi xuống vào chỗ người ta vẫn đi cầu phía khoang cuối. Xác định phương hướng, tôi tụt xuống biển, trừ ba cậu, cả thuyền không ai hay. Chìm nghỉm, sóng to gió lớn, tôi sải bơi theo sóng, áng chừng nửa giờ, tôi lặn sâu xuống, sờ chân xem có thấy đất chưa. Lặn đã hết cả hơi, chân tôi không hề chạm vào một vật gì. Tôi nhổm lên, nhìn vào phía trong, vẫn một mầu đen kịt, tôi cũng chẳng nhìn thấy hai con thuyền đâu, chỉ thấy sóng biển trắng đầu nhấp nhô.

Cứ xác định hướng ấy, bơi nữa (nếu không xác định đúng, mà lại bơi trở ra biển, thì tôi chẳng còn ngồi viết những dòng này). Tôi lại bơi nữa, cũng áng chừng nửa giờ, bỗng có một loạt súng AK 47 pằng. . . . . .pằng. . . pằng. . . ..vang réo vào tiếng gào của sóng. Tôi lặn vội xuống biển, tôi tưởng trong bờ CA đang nhằm bắn tôi, nhưng thấy yên. Tôi cũng thấy mệt quá rồi, vì sự sống, tôi cố bơi nữa, tay chân của tôi đã rã rời, tôi tưởng phen này đành buông xuôi tay chân cho hết một kiếp người nhiều cực nhọc.

Giữa lúc tôi nghĩ đến mẹ tôi mù lòa, bố tôi lẩn thẩn thì chân của tôi chạm đất, tôi đã đứng được lên, nhưng người yếu quá! Một cơn sóng đánh tôi đổ nằm ra, bây giờ cả tay tôi cũng đã chống sờ thấy đất cát, tôi cố lết vào thêm để có thể nằm ra được mà không có nước. Tay tôi vừa chạm vào mấy cành lá con con, tôi hiểu là loại “đước” con thường mọc ở bờ biển. Hai tiếng súng pằng . . . . . pằng . . . . . . . Lần này là của CKC réo vào không khí, từ ở phía phải.

Tôi suy đoán là lúc này cả thuyền đã bị bắt, sau khi CA tra xét biết là có người trốn, nên chúng tản ra các bờ để truy lùng. Vì nghĩ như thế, nên tôi vẫn cứ phải nằm ngâm trong nước biển lạnh hàng giờ nữa. Người tôi rét run, hai hàm răng đánh vào nhau cằm cặp, lúc này tôi mới chợt thấy cái quần jean buộc ở cổ đã gửi nó trong lòng biển, cả đôi dép cũng không còn. Quần đùi, chân không giầy, dép với một cái sơ mi mầu “gụ” đã sờn vai. Tuy tôi ở miền Nam từ 1954, nhưng chỉ ở Sài Gòn. Có một lần xuống Hồng Ngự thăm mộ người em mới đây, chỉ ở một đêm sáng hôm sau đã trở về. Nói chung ở những tỉnh khác của miền lục tỉnh, tôi chưa hề đặt chân.

Tôi có cảm tưởng như từ thuyền đổ bộ, xâm nhập vào để hoạt động tình báo, chống CS của 1981. So với đầu 1962 tôi đổ bộ vào Hà Tĩnh của miền Bắc, nhưng lần này khó khăn hơn vì không được trang bị quần áo, và lương thực.

Một điều tôi không ngờ, và chưa bao giờ thấy, đó là muỗi. Muỗi như những đàn ong, vo vo quấn lấy mặt, lấy cổ, lấy tay và lấy chân của tôi. Vỗ, đập, đuổi, người cứ phải giẫy lên khoa chân múa tay, để xua đuổi muỗi. Đứng cũng không yên, cứ như tập võ, múa Mai Hoa Quyền. Tôi chợt nhìn mấy cành đước, tôi bẻ hai cành, mỗi tay một cành, đập và xua đuổi muỗi. Tuy có khá hơn, đỡ mệt hơn là làm bằng hai bàn tay, tôi đành chịu trận để chờ trời sáng. Thật là may, khi mặt trời bắt đầu thò lên, thì những con muỗi cũng đi đâu mất tiêu. Miền Bạc Liêu, Minh Hải, tôi đáng ghi nhớ nhất là muỗi.

Vừa quan sát, vừa nghe ngóng tôi cứ tiến dần vào phía trong, vì có một chút kinh nghiệm hoạt động nên lòng tôi cũng có phần tự tin, khi vào miền đất lạ. Tôi suy đoán, trong vùng vì có người trốn vượt biên, nên ở các chặng đường có thể có CA để ý người lạ, nhưng chắc rằng chả quan trọng như tù trốn, tuy vậy, tôi vẫn luôn luôn để ý mọi hiện tượng trên đường đi. Thực sự, tôi cũng chẳng biết đi về đâu? Chỗ nào cũng sông ngòi hay rừng non. Mãi gần trưa, chân tay đã mỏi rời, tôi đã đến một con sông to, nước phù sa cuồn cuộn chảy, có chỗ rộng năm sáu chục mét, rải rác hai bên bờ có những chiếc vó rất to.

Tôi cứ theo bờ sông, đã có lúc tôi định bơi sang bên kia bờ, nhưng chưa biết hướng ấy đi về đâu? Điều cần là tôi phải gặp người, để lựa lời thăm hỏi. Nhìn phía trước có một căn nhà tranh con con ở mé sông, từ xa tôi thoáng thấy bóng một người đi vào. Đến gần, nhìn cái cửa phên tre khép hờ, căn nhà trơ vơ bên một bờ sông trống trơn, không có nhà cửa cây cối. Sát phía bên trong, là những ruộng bắp đã thu hoạch, sâu vào trong nữa là những cây rừng non. Chung quanh thật vắng vẻ, cạnh cái nhà nhỏ chỉ có một cái am con để một bát hương, nhưng đã tàn lạnh. Tôi chậm chạp lê chân tiến đến cánh liếp khép hờ, tôi lên tiếng cũng rề rà lửng thửng, tay đẩy cánh cửa liếp:

– Có ai …….không?

Thoáng nhìn thấy khẩu CKC dựng mé vách, một người mặc chiếc quần ka-ki xám, cởi trần chừng 35- 36 tuổi, tay đang cầm cuốn sách: “Thép Đã Tôi Thế Đấy” tôi hơi chột dạ, nhưng đã vào thì phải tiến tới.

– Chào anh! Nằm đây . . . . đọc sách là số “dách”!

Anh ta định cho chân xuống dép, với tay lấy cái áo sơ- mi nâu có cầu vai, tôi ngồi ghệ xuống chiếc giường tre, tay lắc lắc:

– Anh cứ nằm đi! Tôi xin ngụm nước uống thôi!

Anh ta vẫn đứng lên, vào góc buồng cầm cái ấm nhôm, rót ra cái chén ở chiếc bàn con. Anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân, chỉ qua ánh mắt tôi đã thấy anh ta đã đặt vấn đề. Đúng như vậy! Anh ta nhìn ra phía sông, nói một câu:

– Đêm qua, được báo có người vượt biên trốn!

Hơi điếng người, nhưng tôi vờ như chuyện đó, không có liên quan. Tôi cầm chén uống nước, rồi cũng nhìn ra phía sông, như nói với mình:

– Ồ! Chuyện ấy, bây giờ cũng bình thường thôi! Hôm qua họp rồi uống say quá, sáng nay một đồng chí chở tôi trên chiếc Mobylette, chết máy còn đang nằm với xe ngoài lộ. Chân đau tôi bỏ cả dép lại, khát nước và buồn ngủ quá, tôi mò vào đây. Đồng chí có biết sửa xe máy dầu không?

Anh ta quay lại nhìn tôi cười nửa miệng:

– Chắc anh hai đói, và buồn ngủ lắm?

Không gọi tôi là đồng chí, cũng không trả lời câu tôi hỏi, tôi vờ uể oải dựa vào vách, mắt lim dim nói rời rạc:

– Hôm qua . . . . . . .say . . . . . nôn hết . . . . .vừa đói . . . .vừa buồn ngủ!

Anh ta đẩy cửa buồng, không quên cầm khẩu CKC đi vào, nói vọng ra:

– Còn chút bánh canh, tôi mần nóng cho anh hai!

Tôi nói như ngái ngủ:

– Ờ, ờ , xin cảm ơn….đồng chí!

Nói rồi tôi ngả ngay xuống giường nhắm mắt, chừng bẩy, tám phút. Nghe tiếng cánh cửa buồng mở, tôi vẫn nằm yên, mũi thoáng có mùi rượu, rồi đập tay vào chân tôi, anh ta giục:

– Dậy! Anh hai . . . . . . . ăn cho nóng!

Tôi mệt nhọc chống tay bò dậy, có một chén rượu trắng và một tô bánh canh đang khói nghi ngút trên chiếc bàn con. Anh ta đã mặc quần áo chỉnh tề và đeo súng vào vai. Tôi như sáng mắt ra, nhìn tô bánh canh đang nóng, tôi cười với anh ta, rồi cầm chén rượu như đưa lên miệng định uống. Thực ra, để ngửi mùi rượu. Nhà quê trong lúc bất chợt làm gì ra thuốc mê? Nhưng tôi tỏ ý như chợt nhớ ra, để chén rượu ra mé bàn và cầm đũa:

– Hôm qua tại rượu, nôn hết, hôm nay không uống nữa!

Tôi ăn vồ vập, anh ta ngồi nhìn tôi ăn, rồi lại nhìn ra ngoài, về phía trái. Để cho bầu không khí bớt căng, nặng, tôi hỏi như quan tâm:

– Vụ bắp vừa qua, xã nhà thu hoạch, có năng suất không?

Anh ta thủng thẳng:

– Cũng được thôi!

– Miền Nam ta vẫn nổi tiếng cả nước, về thiên nhiên tôm cá. Trữ lượng thủy sản của con ngòi này, tôi vẫn nghe là cao nhất vùng này?

Anh ngồi nhìn tôi vừa ăn vừa hỏi, cái nhìn hơi nhíu nhíu con mắt của anh, như muốn nói với tôi: “Hãy lo thân anh bây giờ đi! Đừng hỏi vớ vẩn nữa!”

Nhưng anh ta vẫn tỏ ra như người hiếu khách:

– Con ghềnh Hào này, cũng như các con ghềnh khác vùng này thôi! Cuối nguồn phía Hộ Phòng, cao hơn phía trên này.

Để phòng hờ lạc hướng, tôi hất hàm ra sông:

– Thế bên kia là xã gì?

Tôi mừng, nắm được biết đây là ghềnh Hào, còn Hộ Phòng ở phía dưới là phía nào? Nhưng chưa tiện hỏi. ăn xong, bát bánh canh nóng, thật là ngon, sau này dù cả ở Mỹ cũng không có bát bánh canh nào ngon bằng (vì trong người đã có đủ chất). Tôi chậm chạp đưa bát đũa ngâm vào chậu nước có bát đĩa ở mé hè, rồi lặc lè lê bước đến mé vách cầm ấm nước, trở lại bàn rót nước uống. Tôi biết anh chẳng bỏ sót một cử chỉ nào của tôi, nhưng tôi vờ như không biết. Tôi cứ lẩm bẩm trong miệng: Ngon quá! Tuyệt quá! Xin cảm ơn. . …đồng chí!

Rồi tôi nằm vật ra tiếp tục ngủ. Chừng năm phút, anh ta đứng dậy nhìn tôi mê mệt gáy gỗ. Anh ta đến khóa cửa buồng, rồi đẩy cửa liếp ra ngoài. Ra ngoài chừng hai ba phút, anh ta lại trở lại, đứng bên ngoài nhìn qua cửa bếp vào chỗ tôi nằm, năm mười giây rồi mới vội vàng ra đi về phía trái.

Tôi bò dậy ngay, nhìn theo, phải chừng 7- 800 mét có một căn nhà con như cái điếm canh, lúc sáng tôi đã đi qua. Khi anh ta đi chừng 500 mét, tôi đẩy cửa liếp đi ra ngoài quan sát. Con sông nước đang lên to, nên có chỗ rộng bẩy, tám chục mét. Nước lên là từ ngoài biển vào, vậy phía dưới Hộ Phòng là phía phải, ngược với chỗ điếm canh. Tôi ra hẳn ngoài nhìn cho kỹ! Chung quanh tất cả trống trơn, sát phía phải bờ sông, có một cái am con, chỉ cao đến cổ người đứng, mỗi bề chừng khoảng tám, chín mươi phân. Từ trên bờ xuống mép nước dốc ngược đến 45 độ, bờ sông toàn sỏi, đá cuội và cát.

Phía trong, có những ruộng bắp (đã thu hoạch), trong nữa là rừng non, từ căn nhà tôi đang đứng vào đến chỗ rừng non cũng hơn 100 mét. Thoáng bóng tên đó từ điếm canh đeo súng đi ra, bóng hai tên nữa ra bắt tay rồi lại vào, tên đeo súng dáng vội vàng trở về căn nhà có tôi.

Tôi suy nghĩ: Từ sau vụ 1978 người Hoa ra đi bán chính thức (nộp vàng, kim cương, tiền). Miền lục tỉnh, CA hiểu những người vượt biên, thường có vàng hay kim cương hoặc dollars. Trước đây chúng bắt được vượt biên, năm, mười tháng hay một năm, tùy theo đút lót chúng sẽ tha. Bây giờ 1979- 80- 81, CA hay du kích tính ăn “mảnh”.

Nếu trường hợp nào đó, chúng vớ được vượt biên, bắt giong về đồn, vừa mất công lại chả được cái gì, nên chúng thường cho đi “mò tôm”, sông rạch miền Nam thiếu gì? Khi đó người vượt biên nộp vàng, nộp tiền chúng cũng giết. Nộp vàng xong, chúng vẫn giết, để khám của giấu đút trong người, và khỏi tố chúng sau này. Không có của đưa cho chúng, cũng bị thủ tiêu để chúng khám trong người (người vượt biên hay giấu của kỹ lắm). Chúng vừa khỏi mất công giong về đồn, chỉ cấp trên hưởng, chứ chúng có chăng chỉ một tờ giấy khen, giải quyết gì?

Tên đeo súng đã về gần tới nơi, tôi nhìn khắp không có chỗ nào ẩn nấp, dù bơi sang bên kia cũng không kịp. Tôi chạy ngay ra chỗ chiếc am, nơi mé sông: nhìn vào chiếc am con, có cái bệ ở giữa, để mỗi bát nhang. Nhang cắm năm, bẩy cái, nhưng đều đã từ lâu, hương tàn khói lạnh. Một người không thể chui vừa vào trong am.

Trời nắng chang chang, khoảng 1- 2 giờ trưa. Tên đeo súng, đẩy cửa liếp vào nhà, chừng 30 giây, chắc nó tưởng tôi chui rúc trong nhà nên sục sạo. Y xô, dập mạnh cánh cửa liếp chạy ra ngoài, ngơ ngác nhìn khắp chung quanh. Y đoán với thời gian, tôi không thể bơi sang sông, dù vậy y cũng chạy ra nhìn dọc theo dòng nước mênh mông, đang chảy cuồn cuộn. Chỉ có một cái am con độc nhất ở mé sông, y cũng chạy ra nhìn, rồi thò cổ ngó phía sau am, cũng không có. Y lại chạy ra phía bên kia nhìn cả ra sau chiếc am, cũng không người.

Chẳng lẽ một người có thể biến? Cho nên y chắc, chỉ còn một cách duy nhất, là đã chạy vào trong rừng! Vì đinh ninh như thế, y chạy vội về điếm canh, thổi còi để báo anh em (trước đây định ăn riêng, ăn mảnh). Y cũng quỷ quái, cứ chạy được một tí, y lại quay người lại. Nhưng nếu y biết được rằng, một người muốn quay đầu lại thì cái lưng, cái vai đã báo trước rồi. Vì thế y quay lại nhiều lần không thấy gì, cũng như khi nãy rõ ràng y đã nhìn bên này cái am, lại chạy ra nhìn phía kia cái am, mà cũng không thấy ai.

Ai đã từng khi bé chơi “ú tim” trốn tìm mà phải nhanh như máy thì, đều hiểu. Cái chính là bất ngờ, và chủ quan coi thường đối tượng, chứ nếu y cứ chạy hết cả chung quanh cái am, thì tôi sẽ lòi mặt chuột ra thôi. Lúc ấy tôi phải có “vỏ bọc” tại sao ra đấy làm gì? Thừa sức để trả lời: như cầu khấn, lễ bái hay tìm chỗ giải quyết đại tiện, sau khi ăn v.v. . . Tóm lại thời gian y về gọi mấy tên du kích, thì tôi đã lẻn vào rừng non, dù y có biết cũng không đuổi kịp. Y nhanh, tôi cũng nhanh, mà tôi lại chạy trước y hàng chục phút.

Trước khi mấy tên đuổi vào rừng, cũng ra vẻ áp đảo tinh thần người chạy trốn, chúng bắn hai phát CKC vào rừng. Nhưng như tôi đã nói ở trên, tôi đã có một chút kinh nghiệm lặn lội ngoài Bắc với những bậc thầy của chúng rồi, nên làm sao chúng tìm được? Có chăng, là sự may rủi trong cuộc đời này, mà thôi!

Ngoài Bắc là phòng phản gián, những người đã được đào tạo có nghiệp vụ, những đồng chí du kích thì làm gì đã có nghiệp vụ? Chỉ là cái tinh khôn của tự nhiên mỗi người. Qua suy đoán, tên du kích đã đọc “Thép Đã Tôi Thế Đấy” và vài hiện tượng, chắc y cũng là một cấp chỉ huy của du kích? Y cũng không phải là không quái, khi nãy tôi đã cố ý đánh lạc hướng hỏi thăm cái xã bên kia sông. Vậy mà y cứ chú ý vào khu rừng non, nhưng ít ra y cũng đánh giá tôi chậm chạp, hơi lù đù v.v. . .

Phải nói tôi cũng rất vất vả chạy bán sống bán chết, ở trong rừng có nhiều chà-nà, chân tôi bị gai đâm mấy lần. Những cái nào rút ra được thì thôi, cái gai nào gẫy bên trong thì đành để vậy. Tôi hiểu cái kiếp sống của con người, chỉ cần sai chuyển một chút, thì cuộc đời đã hoàn toàn khác hẳn trong tương lai. Chỉ một vài giây thế này, thế kia đã thay đổi hẳn cả cuộc đời.

Đêm khuya hôm ấy tôi đã về đến Hộ Phòng, là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Minh Hải, mỗi ngày chỉ có một chuyến ca – nô chạy khách về thị xã Bạc Liêu do nước triều. Về tới Hộ Phòng vừa mệt vừa đói, tôi vào một hàng cơm, chân vẫn đau đi lặc lè vì gai (bây giờ lặc lè thật). Gọi một đĩa cơm thịt bò, ăn một tí đã sạch đĩa.

Tôi gọi một đĩa nữa, cô bé chừng 14 – 15 tuổi cứ nhìn tôi mãi, tôi ngạc nhiên với cái nhìn của cô, nhưng khi cô ta vào trong gặp bà má ở dưới bếp, thì tôi đã hiểu. Con người của tôi lúc đó vừa xanh xao, lôi thôi, lếch thếch, quần ngắn không giầy dép, mà lại ăn khác thường. Cô bé sợ là dân đói rách, ăn mày, ăn xin không có tiền trả, gọi đĩa cơm đầu cô ta đã ngần ngại rồi.

Tôi ăn như máy, lại gọi nữa thì làm sao cô ta không nghi ngờ? Tôi hiểu vậy, nên tôi lặc lè tiến xuống bếp gặp luôn bà má. Tôi nhã nhặn:

– Thưa chị Hai, tôi bị lỡ độ đường! Tôi bị lừa, hiện nay giá vàng bao nhiêu? Tôi có cái nhẫn hai chỉ?

Chị đó chừng 45 tuổi, ngẩng lên nhìn tôi chắc để thẩm định. Mắt của chị như được tráng lên một cái mầu xanh nâu, cái mầu của tha nhân, hòa hợp nghĩa tình, chị nói như chia xẻ:

– Bây giờ họ lừa lọc nhiều lắm? Những tháng trước nhiều người mất hết cả tiền, lang thang ngoài bến bãi! Vàng hôm nay 400 một lượng.

Chị vừa nói vừa cầm chiếc nhẫn tôi đưa, vừa hất hàm cho cô con gái làm đĩa cơm tiếp. Tôi hỏi chị ngay, thích ứng kịp thời:

– Một đĩa cơm mấy đồng hả chị Hai?

Chị đã nói liền là “hai đồng”.

Như thế, tôi chả phải rụt rè với cái bụng nữa. Khi cô bé đem đĩa cơm đến, tôi nhìn cô, mắt tôi hơi nhay nháy như muốn nói với cô bé: “Đừng thấy bộ quần áo đẹp mà ham!”

Chẳng hiểu cô có hiểu ý tôi không, cô lại đỏ mặt lên ngượng nghịu! Để thưởng công đã thoát được một “ca” may mắn! Tôi quay lại vẫy cô bé, nói nho nhỏ:

– Cho tôi một ly nước chanh đá!

Trước khi đi, cô bé còn quay lại nhìn tôi vài giây, như muốn bảo: “Lại còn dám gọi cả nước chanh nữa!”

Tôi chỉ mỉm cười, rồi gật gật. Khi chị Hai ra tính tiền, để tôi rời quán, chị đưa cho tôi 75 đồng. Tôi ngạc nhiên:

– Sao chị lại đưa nhiều thế?

Chị cười nói:

– Tôi trả cậu như ngoài tiệm, mà không phải trả tiền công nhẫn.

Chị đã đeo chiếc nhẫn vừa vào ngón giữa. Ngoài ra, tôi còn hỏi chị được nhiều điều, về những chặng đường, từ Hộ Phòng về Sài Gòn.

Đến Bạc Liêu, phải đi xe lôi đến bến xe đi Cần Thơ, rồi về Bắc Mỹ Thuận. Trên đường đi cũng nhiều cảnh, nhiều người và cũng nhiều tình huống, nhưng xin quý độc giả cho qua.

Tới Bắc Mỹ Thuận trời đã bốn năm giờ chiều, trước đây chỉ nhìn thấy trên bản đồ, bây giờ dòng sông Cửu, đã ở ngay trước mặt tôi. Tôi có ngờ đâu, nó lai rộng như thế, tôi cứ hình dung tường cũng như con sông Đáy, của dòng sông Hồng Hà ngoài Bắc, mà tôi đã quen thuộc.

Đúng là trên bến dưới phà, thật là tấp nập, người thì đông. Nhìn những anh chàng mặc đồng phục xanh, các cậu khoác trên cánh tay chiếc băng đỏ, chạy lăng xăng miệng nhai nhồm nhoàm, khách ngược xuôi trên xe dưới đường, hầu hết đều đăm chiêu, tư lự. Những cảnh bán mua, những tấm mía hoặc trái cây, cá biệt có con gà, con vịt thì lấm lét chụp giựt, nói lên những cảnh sống lam lũ, chạy vạy tơi tả ngược xuôi của miền trù phú nổi tiếng. Một cái vựa lúa khổng lồ của Đông Nam Châu Á. Không hiểu trước đây, khi VC chưa cướp trắng trợn được miền Nam, thì có cảnh như thế này không?

Có chăng chỉ có trời thì vẫn chẳng hề đổi thay. Đứng từ chiếc phà giữa dòng nước đục ngầu, mang những mầu mỡ từ Tây Tạng, Trung Quốc, Lào và chút ít của Cao Miên, về vun đắp cho miền đồng bằng này thêm phì nhiêu. Đã từ lâu tôi vẫn có ấn tượng trời là một chiếc vung khổng lồ, mầu xanh lam úp xuống trái đất này. Vì vậy, có lần nhìn những đám mây trắng nõn nà đây đó một vài cụm, tôi đã tưởng, nếu tôi ở gần tôi sẽ nhặt nốt mấy búi bông con con đó, cho cái mầu xanh “ái ân” ấy, nó đã đầy và cho thiên hạ cũng đã đầy, mà mình có mất cái quái gì đâu.

Hơi đặc biệt hôm nay, nắng chiều đã xiên khoai, đứng trên tầng phà cao, trời lặng gió. Nhìn những làn sóng lăn tăn, từ mãi phía bờ tây xa tắp. Nước nhấp nháy, lóng lánh do ánh chiều, tưởng như những chiếc vảy bạc, của cổ một con rồng khổng lồ, có chín cái đầu.

Tôi cứ mẩn mê quê hương với rồng tiên, phà đã sang bờ lúc nào. Chân đã bước lên bờ, mà đầu tôi còn ngoảnh lại, tiếc nuối nhìn một cái cảnh mà rồi đây, tôi không còn thể nhìn thấy nữa. Một câu hát lê thê, nỉ non rúc vào tai tôi, làm cho tôi đờ cả người ra:

 Nếu con không về….chắc mẹ…..buồn lắm…..!

Một tiếng hát khác nữa, ở trong đáy tâm tưởng của tôi, tự bật lại:

 Nhưng nếu con ……. về … …chắc mẹ …….còn buồn hơn…..!

Tôi chen lấn đám đông, dõi theo tiếng hát lúc này đã khè khè, như chiếc bễ lò rèn hết hơi. Kia rồi! Tôi không tin ở con mắt của tôi! Một anh mặc chiếc áo “treillis” đã cũ rách, đội chiếc mũ nồi mầu đỏ, đã trở thành nâu sậm, cả đôi chân của anh bị cụt sát háng. Anh nằm sấp trên một miếng gỗ, phía dưới lồi ra mấy cục. Hai tay của anh có hai miếng da trâu khô, anh di chuyển bằng hai cánh tay đó.

Anh chừng 42- 43 tuổi, khuôn mặt khắc khổ, cái môi dưới của anh bị mất một miếng, thành ra tiếng hát của anh tưởng rằng hết hơi. Anh chẳng xin ai, mọi người qua lại như không nhìn thấy anh. Thỉnh thoảng anh ngừng di chuyển, rồi cái giọng bi ai hổn hển lại cất lên được mấy câu:

Anh ra ….đi ……..trong một chiều … …sương ….âm …u…. !

Tôi cứ theo anh, nhìn anh xoay xở, tâm tư của tôi cởi ra, rồi lại buộc vào, với những tiếng thở dài không nín được. Tôi nhìn xuống đôi chân đất khập khiễng, vì đau và chiếc quần đùi mầu nâu non, đã phai và bẩn thành mầu bí ngô chín nửa chừng của tôi Tôi thò tay vào túi cố lựa ở trước quán cơm. Anh lại ngửng lên nhìn tôi, đôi con ngươi của anh, nắng nhạt buổi chiều làm xám lại như mầu hạt dẻ, cái mầu của nhiều đêm ngày vặn vò cắn xé trái tim anh. Tôi hỏi vội một câu, không cần lắm câu trả lời:

– Chân anh bị cụt lâu chưa?

– Em ở tiểu đoàn I dù, bị thương ở Cổ Thành Quảng Trị 72.

Choáng người, tôi lại hỏi vội một câu nữa:

– Có biết Đỗ Văn Tân không?

– Ở khóa 10 Thủ Đức, em ở khóa 26.

Anh lơ xe đã vời gọi khách, xe chuyển bánh, tôi rút ở túi quần còn 54 đồng rưỡi. Tôi không có gan đưa hết cho anh, tôi chia đôi, tôi lấy 27 đồng, đút cả vào chiếc gáo vỡ, bắt lẹ được tay anh! Tôi nói được một câu cuối:

– Cố gắng chịu đựng!

Tôi vội lên xe đò dù nhiều lúc phải nghiến răng vì cái chân bị nhói buốt! Tới lúc xe đò đã chạy, tôi mới trách mình sao lại không hỏi tên? . . . . . . . .Nhưng tôi lại nghĩ: hỏi để làm gì? Chính mình còn đang quay cuồng trong gió bão của quê hương, biết lúc nào rụng rơi?

Chuyện Xóm Tôi

Đỗ Trường 

01/07/2019

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Ảnh mang tính minh họa

Phần 1: Cuộc Gặp Bất Ngờ.

Trung tuần tháng sáu, cái nắng đã kéo nhiệt độ ngoài trời lên đến gần ba mươi độ. Praha như được dát vàng một màu, dưới bầu trời cao xanh thăm thẳm. Họa sỹ Quốc Việt mới từ Việt Nam sang nhìn hàn thử biểu giữa Quảng trường Con ngựa, cười tươi, hỏi bâng quơ: Kỳ lạ, ba mươi độ đi bộ giữa trời, mà gió cứ mát rười rượi ấy nhỉ? Đứng cạnh, nhưng tôi không trả lời, để anh tự cảm nhận. Rồi đưa anh một vòng quanh trung tâm thành phố. Trời đã về chiều, ánh nắng vẫn còn hắt ngược lên từ phía bên kia của con sông Vltava. Mới có mấy ngày, vậy mà dường như họa sĩ Quốc Việt đã nhớ đến quê nhà. Do vậy, sau khi tự xoa gối, bóp chân, anh bảo: Mình kiếm chỗ nào có không khí Việt, nhấc lên nhấc xuống tí ti cho khí thế. Vậy thì, chỉ có vào chợ Sapa thôi. Tôi trả lời anh như vậy. Quốc Việt đứng thẳng dậy, dù chân còn chút khập khiễng, vẫn: Nào ta đi.

Tôi không khoái lắm cái món ồn ào nơi đông người, nên rất ít khi vào khu chợ người Việt. Quốc Việt cũng không phải là người của rượu bia, có lẽ muốn vào cho đỡ nhớ quê, món ăn quê và để biết vậy thôi. Chả trách, mấy năm trước đây ông bạn bác sĩ Viên Văn Đoan, Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai, và vợ chồng Nguyễn Lân Việt, Hiệu trưởng Đại học Y khoa Hà Nội sang München dự hội nghị tim mạch thế giới có mấy ngày thôi. Vậy mà bố nào bố nấy Vali đầy mì tôm, cùng đồ ăn mắm muối tỏi hành. Như thể gói cả hương hồn Việt mang theo vậy. Cũng may, cạnh khách sạn có cái quán cơm phở mở từ sáng cho đến đêm của vợ chồng Dũng Yến, cũng bạn tôi. Vậy là, các bác sĩ, hội nghị viên không phải dùng đến cái khoản mì tôm. Hôm tôi sang, các bố chất cả mì tôm vào cốp xe của tôi, bảo: Ngon, quí lắm đấy, mang về ăn dần nhé…Khổ cái thân tôi mang về cũng dở, vứt đi thì tiếc. Bởi, cái món này, tôi cứ động vào là bị lão Tào rượt đuổi. Do vậy, cái tâm trạng của họa sĩ Quốc Việt có thể hiểu, và cảm thông. Bởi, cũng giống như mấy gã bác sĩ đi dự hội nghị, hay tâm lý ngày đầu đến Đức của tôi, từ trên ba chục năm trước vậy. Nên tôi chiều anh.

Chợ Sapa chiều tối, quán, nhà hàng, người ngồi ăn nhậu khá đông. Không khí y hệt nơi quê nhà làm Quốc Việt hứng khởi. Giữa trời Âu mà có không gian này, thật là tuyệt vời, Quốc Việt cứ lẩm bẩm, lẩm bẩm. Tôi ghé tai, sống lâu ở nơi đây, bác sẽ chán ngấy cái không khí này thôi. Quốc Việt im lặng. Anh không uống được nhiều. Tôi phải lái xe, nên chỉ giật cầm chừng vài vại nhỏ, rồi chuyển sang bia không độ cồn. Chán phè, tôi giục Quốc Việt cạn nhanh, rồi đi tìm mua mấy cái quần shorts để thay, bởi quần dài, áo hộp bí bức qúa rồi.

Tôi đang lúi húi ướm thử quần, bởi dường như nhãn mác, số cỡ dán đều đểu cả, chợt gã bán hàng gọi như reo lên: Anh Trường…Trường Độ. (Độ tên mẹ tôi)

Giữa trời tây, có kẻ réo đúng tên cúng cơm làm tôi giật cả mình, ngẩng đầu lên. Nhìn hắn một lúc, tôi cũng thốt lên: Tiến…Tiến Vân (Vân tên mẹ Tiến). Hắn ôm chặt lấy tôi, vậy là ba mươi mấy năm rồi, anh em mình vẫn còn nhận ra nhau. Tiến bằng tuổi em gái út tôi. Khi tôi sang Đức hắn và em tôi đang học cùng Trường cấp ba Lê Qúi Đôn ở Xã Đàn. Nhà tôi số 124 Đê La Thành (Ô Chợ Dừa) bên kia mặt đê là nhà Tiến…

Nhớ trước hôm sang Đức mấy tháng, tôi vừa chở một mớ đầu máy khâu từ Hải Phòng về, nghe tiếng bà Vân quát mắng Tiến ầm ĩ… Xóm Trại Tóc, với Trại Nhãn đồng nát, ve chai này, đánh chửi, đâm chém nhau là chuyện thường. Nếu có can ngăn, thì can ngăn cả ngày. Nhưng Tiến lớn lên và cùng học với em tôi, nên tôi lò dò sang. Thấy tôi, bà Vân ngừng chửi. Tiến nằm úp mặt vào tường. Tôi mấy lần lay hỏi, hắn vẫn không trả lời. Tiếng bà Vân rít lên trong kẽ chân răng:

– Cháu xem, nó có chịu học hành gì đâu, đến trường toàn tụ tập đánh nhau. Nhà trường gọi cô đến, thông báo sẽ đuổi học đấy.

– Sẽ đuổi, tức là chưa có quyết định đuổi phải không ạ?

– Vậy là người ta đuổi rồi chứ còn gì nữa hả cháu.

– Thôi cô cứ bình tĩnh, đừng mắng chửi nó nữa. Cháu vào trường hỏi xem thế nào đã.

Tôi quen cô Hạnh từ gã bạn Viên Văn Đoan, bác sĩ ở Bệnh viện Bạch Mai. Cô Hạnh ở Láng, dạy văn ở Trường trung học Lê Qúi Đôn. Năm ấy, cô cũng gần đến tuổi về hưu. Từ cô, tôi cũng quen nhiều thày cô ở trường Lê Qúi Đôn. Bởi, với đồng lương chết đói, ngày đó, ai cũng phải tìm thêm việc làm. Nghề may gia công thích hợp với mọi gia đình, nhất là các thày cô giáo. Do vậy, các thày cô hay nhờ tôi mua bán, sửa chữa máy khâu khi cần. Hơn nữa, các thày cô ở trường quí và thân thiết với tôi, bởi cái gã buôn lậu máy khâu như tôi, động đến văn học sử, cái chó gì cũng biết. Khi hứng lên, chuyện trò, hoặc tranh luận, đôi lúc các thày cô bị hạt bí, cười kết thúc bằng câu: Thằng ranh ma.

Khi tôi đến, cô Hạnh đang lững thững dắt xe ra cổng. Nhìn thấy tôi, cô cười, sao hôm nay rảnh rỗi thế này? Tôi hỏi cô về sự việc của Tiến. Cô trả lời, không chủ nhiệm lớp Tiến, nên không biết cụ thể thế nào. Tuy nhiên, cô dẫn tôi vào phòng giáo vụ. Cũng may, mấy thày cô ở đó, đều dính vào may hàng gia công, liên quan đến máy khâu, chỗ tôi quen cả, nên vui vẻ cho biết: Vụ việc không nghiêm trọng, nhưng xảy ra nhiều lần, từ mâu thuẫn của các khu, nhóm học sinh. Nhà trường nhiều lần nhắc nhở, cảnh cáo, song không hề chuyển biến. Tôi nhắc lại hoàn cảnh khó khăn của gia đình Tiến, mong các thày cô giúp em được tiếp tục học hành. Nghe bùi tai, các thày cô hứa sẽ giúp… Lúc tôi ra về, các thày bảo, Tiến và gia đình nên làm bản cam đoan, không để sự việc tiếp diễn, để nhà trường có cơ sở xử lý, kỷ luật. Và nhắc Tiến cứ đi học bình thường.

Tôi về, nói lại với Tiến và bà Vân. Bà mừng lắm: Thế cháu viết giúp cho cô và em bản cam kết nhé!

Tôi chuồn sang Đức được mấy năm, mẹ tôi chuyển về ở đường Tàu Bay. Hơn ba chục năm lưu lạc trời Âu, tôi chỉ về nước khi mẹ mất, và lúc sang cát. Và lần gần đây nhất, năm 2015 về Hà Nội được hơn một tuần, tôi buộc phải rời khỏi Việt Nam. Do vậy, tôi không có thời gian trở về cái xóm đồng nát, ve chai, dù ngôi nhà của chúng tôi chưa hề đổi chủ. Cái xóm, nghe tên, tưởng chừng ai cũng phải kinh sợ ấy, gắn liền với một phần tuổi thơ, và sự trưởng thành của tôi thực sự rất ấm tình người. Trải qua bao biến động, với những mở đường, qui hoạch bát nháo, vô tội vạ, song rất may mắn xóm tôi, người xóm tôi vẫn còn đó…

Tiếng hỏi của khách mua hàng cắt ngang dòng hồi tưởng của Tiến và tôi. Chọn được chiếc quần vừa khít cho họa sĩ Quốc Việt, tôi bảo Tiến: Cứ việc chăm sóc khách hàng. Anh phải đưa Quốc Việt về khách sạn, rồi sẽ quay lại ngay. Bởi, sáng mai anh Quốc Việt đi Wien sớm. Tiến cười khà khà, kiểu gì em cũng chờ anh.

Khi tôi quay lại, thành phố đã lên đèn. Các quầy hàng hầu như đã đóng cửa. Chỉ các quán ăn vẫn còn khí thế, tưng bừng. Tiến đứng chờ tôi ở ngay cửa kho. Vừa xuống xe, hắn đã kéo tôi vào một nhà hàng ngay trước mặt, khá đông khách và ồn ào. Tôi bảo, tuổi này ăn uống cũng phải nhìn trước ngó sau rồi, tốt nhất em kiếm chỗ nào yên tĩnh một chút, anh em mình còn chuyện trò được. Tiến vòng ra sau, đưa tôi vào Hồ Sen Quán. Ngoài balkon khá đông khách, nhưng bên trong Hồ Sen Quán còn một khu có khoảng không khá tĩnh lặng. Ngồi vào bàn, chợt làm tôi nhớ đến mấy năm trước. Cũng nơi này, rượu bia đã tưng tửng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo (Saigon) và nhà văn Trần Ngọc Tuấn (Praha) đọc thơ cứ như lên đồng vậy. Các thính giả sồn sồn nhập tâm, khoái cười cứ phe phé. Còn các cháu ú ớ tiếng Việt thụt ra, thụt vào ở cửa sau, cứ ngỡ hai bác đang lên cơn động kinh. Tôi ngồi nghe, quả thực, phục trí nhớ của hai ông nhà thơ, nhà văn này.

Vừa ngồi, chưa kịp gọi đồ nhậu, Tiến đã ực liền tù tì mấy ly rượu mạnh kèm bia. Nhìn kiểu uống, tôi biết tửu lượng hắn vào dạng cao thủ. Tôi bảo, chơi kiểu này, chút nữa làm sao về. Hắn cười: Không được, thì Taxi thôi. Mấy khi anh em mình có dịp như thế này.

Rượu vào lời ra, nhắc lại với nhau những kỷ niệm về gia đình, xóm giềng, làm cho tôi, một kẻ đường trở về nhà, về quê cứ còn xa vời vợi, càng thêm buồn, đành phải cắt ngang câu chuyện:

-Này Tiến, em có gian hàng ở chợ Sapa này từ khi nào vậy?

Tiến cười:

-Trước đây là của em. Nhưng từ ngày lấy bà vợ hai, và chuyển về Decín vùng biên Séc – Đức, em cho vợ chồng cháu gái đầu anh ạ.

-Đường tơ của thằng em giăng cũng dầy ra phết đấy nhỉ! Thế thì bà vợ cả đâu? Tôi cười đùa, ngạc nhiên và hỏi.

-Bị bệnh mất lâu rồi. Hạ (tên vợ em) mất được mấy năm, em mới lấy vợ khác. Tuần này, vợ chồng cháu đi nghỉ hè, em về trông hàng giúp nó thôi.

-Em có mấy cháu với Hạ?

Tiến ngập ngừng, hai mắt chớp chớp, nhìn ra khoảng trống trước mặt:

-Thật ra, cháu gái đầu không phải con ruột của em. Với Hạ, em chỉ có một cháu trai, hiện đang học năm cuối Đại học kỹ thuật Praha.

– Nghĩa là trước em, Hạ đã có một đời chồng?

Không trả lời tôi ngay, mặt hắn chùng xuống, cục yết hầu căng lên, lăn đi lăn lại. Hắn lắc lắc cái đầu cho xuôi cục nước, dường như đang chẹn ngang họng:

-Không phải! Chúng em quen, yêu nhau từ thuở trung học. Hạ là em họ bên vợ của Nguyễn Đức Thịnh cảnh sát khu vực, thuộc tổ khối nhà mình. Sau vụ ôm thằng giựt lựu đạn liều chết trong xóm, Thịnh được phong anh hùng, lên Trưởng công an phường Ô Chợ Dừa. Mấy năm sau, không rõ dính vào vụ gì, Thịnh bị tước quân tịch đuổi về địa phương. Chắc anh còn nhớ?

-Nguyễn Đức Thịnh thì nhớ. Còn sự việc Hạ thế nào, em có thể nói rõ hơn chăng?

-Quá khứ, và nỗi đau đã chôn vùi từ mấy chục năm trước. Nếu anh muốn biết, thì sự việc phải khơi lại từ đầu…

Qúa nửa đêm, máy bay đáp xuống phi trường Moscow. Nhóm người vượt biên dưới danh nghĩa tham dự Hội chợ nông nghiệp đang ngáo ngơ nơi cửa ra, chiếc xe thùng từ đâu trờ tới. Một gã trung niên dáng vẻ trí thức, cử chỉ nhã nhặn mở cửa xe, mời mọi người lên. Xe quay đầu, lao nhanh về phía ngoại ô. Tháng 4, trời chớm bước sang hạ. Cỏ cây cựa mình thức dậy, trải một màu xanh ngút tầm mắt người. Con đường cứ thấy dài hun hút, gục đầu vào vai Tiến, bất chợt nghĩ đến căn nhà bố mẹ thế chấp, đặt cược cho chuyến đi làm Hạ rùng mình.

Xe dừng lại trước cửa căn nhà cuối cùng của ngôi làng nhỏ. Nơi đây khá đẹp và yên tĩnh. Có lẽ, nghe tiếng xe, người đàn bà tập tễnh ra mở cửa. Căn nhà cũ, nhưng khá sạch sẽ. Trước khi vào nhà, gã đàn ông thu tất cả hộ chiếu và bảo:

-Công đoạn và trách nhiệm đưa người sang đến Nga của chúng tôi đã xong. Còn đến Ukraine và Slowakia thuộc đường dây khác. Tất nhiên, chúng tôi sẽ lo ăn uống, nhà cửa đến khi nào có xe đến đón mọi người.

Đêm đầu, chẳng ai ngủ được, quây quần cả bên chị cụt chân. Trò chuyện mới biết chị tên Dung quê ở Thanh Hóa. Đất đai, ruộng vườn nhà chị bị thu hồi để làm nhà máy xi măng, hay phân bón gì đó. Tiền đền bù rẻ như bèo, việc làm không có, chị đành tạm biệt chồng con tìm đường xuất ngoại. Chị ngập ngừng kể trong nước nước mắt. Chị sang Nga vào mùa đông. Một mùa đông có thể rét nhất châu Âu từ mấy chục năm qua. Con đường vượt qua rừng tuyết, suối tuyết, rồi đến những đồng tuyết từ Ukraine sang biên giới Slowakia kéo dài đến mấy tuần. Lạnh đến nỗi chân chị không còn cảm giác. Vậy mà, vào đến biên giới Slowakia, bị lính biên phòng phát hiện, truy đuổi. Chị và một số người bị bắt. Khi đưa chị đi khám, bác sĩ mới phát hiện một bàn chân của chị đã bị đóng đá. Họ buộc phải lập tức cắt bỏ. Ở bệnh viện nghỉ ngơi, an dưỡng, tập đi một thời gian, chị bị trục xuất trở lại Ukraine, rồi về đến Nga. Con đường chết chị đã tìm đến, nhưng không hiểu sao chị vẫn sống. Đang lúc nửa sống, nửa chết như vậy, chị gặp được một người cùng làng, cựu du học sinh. Gã tận tình giúp, và gửi chị cho đường dây quen biết này. Công việc của chị nấu nướng, giặt giũ, vệ sinh dọn dẹp và tập luyện phục chờ đến hè nắng ấm. Tiệp, Đức vẫn là nơi đến của chị…

Mấy chục con người được lùa vào chiếc xe thùng kín mít. Ngày cũng như đêm xe chạy không ngừng nghỉ. Khi đến được vùng biên Ukraine và Slowakia, to khỏe như Tiến mà mặt cũng xanh như đít nhái, cắt không ra giọt máu. Phụ nữ trên xe dường như chỉ còn thoi thóp thở. Sức khỏe có thể hồi phục sau vài ngày nghỉ ngơi. Nhưng điều kinh sợ hơn đối với những thân phận khốn khổ đang trốn chạy trước sự đểu cáng, tàn nhẫn của kẻ dẫn đường có cùng chung một giống nòi và quê hương. Đã được chị Dung cụt, và những người đi trước cảnh báo sự nguy hiểm của chặng đường này. Do vậy, cũng như những người đồng hành, Tiến và Hạ luôn trong tâm trạng phập phồng, lo sợ.

Tháng 5, màn đêm buông xuống dường như chậm hơn. Giữa rừng già, trời không khô nóng như ở nơi quê nhà, song mấy chục con người lèn trong một căn nhà, thì quả thực vô cùng ngột ngạt. Đàn ông, con trai nằm tràn cả ra hành lang và khoảng sân trước cửa. Gần sáng, trời dịu mát, tất cả chìm sâu vào trong giấc ngủ… Bất chợt, tiếng kêu thét của Hạ, và mấy cô gái trẻ làm cho Tiến mọi người giật mình, bật dậy. Trời còn tối, loang loáng dưới ánh đèn Pin, Tiến nhìn thấy, cửa sau đã bị bật mở. Bốn, năm thằng đang ghì kéo Hạ và hai cô gái bên cạnh.

-Các ông làm gì thế này? Tiếng ai đó giật hỏi.

– Đưa đi phục vụ sếp.

– Các ông là người dẫn đường, hay kẻ cướp hiếp dâm?

Nói hết câu, Tiến trườn lên, giật Hạ ra khỏi tay gã cầm đèn Pin. Gã xoay người đạp mạnh. Bị trúng bụng Tiến ngã đè lên mấy người nằm phía sau. Chưa cảm thấy đau, Tiến vùng dậy, lao thẳng vào. Gã cầm đèn bị ngã bổ ngửa ra phía sau, làm chiếc đèn Pin văng trúng vào mặt tên đứng bên cạnh. Bị đau, hắn vội thả tay cô gái, ôm mặt, ngồi thụp xuống. Gã cầm đèn bò dậy, vừa rút súng trong bụng, Tiến cua được cái then gài cửa quật đúng vào tay. Súng rơi xuống đất. Ba, bốn tên đồng bọn đều rút súng chĩa thẳng vào Tiến, và mấy người đứng cạnh. Thấy vậy, mọi người đều bỏ chạy ra rừng, chỉ còn lại Hạ và hai cô gái. Tiến không bị bắn chết, nhưng gẫy mất mấy cái xương sườn, sau một trận trả thù hội đồng, trong tiếng khóc van xin của Hạ…

Trời sáng hẳn, mọi người mới quay trở về. Trong nhà chỉ còn mình Tiến nằm bất động ở cửa sau. Được mọi người chăm sóc, lúc sau Tiến đã tỉnh lại. Với những vết thương này, Tiến không thể bình phục trong vài ba tháng tới. Vậy là con đường đi của Tiến càng kéo dài thêm. Tuy nhiên, với Tiến lúc này, không phải sức khỏe của mình, mà thân thể bị giày vò, tâm hồn đau đớn của Hạ mới là quan trọng nhất.

Đến trưa, chúng chở thực phẩm cùng Hạ và hai cô gái về. Nhìn các cô tơi tả, rũ như tàu lá, ai cũng thương cảm. Và như không có việc gì xảy ra, lũ đầu trâu mặt ngựa thảy mấy hộp thuốc giảm đau vào người Tiến:

-Mày chưa chết được đâu. Uống đi cho mau lành, nhắm mắt lại, đừng làm những chuyện bao đồng, dại dột nữa. Gia đình đang trông ngóng mày đấy…

Hạ buộc phải ở lại phục vụ bọn đầu trâu mặt ngựa, và chăm sóc Tiến. Để vượt qua được nỗi đau, sự tủi nhục ấy, quả thật nhiều lúc tưởng như quá sức chịu đựng của họ. Khi khỏe trở lại, Tiến có ý định trả thù, song đều bị Hạ can ngăn. Mùa thu năm ấy, Hạ và Tiến được bọn chúng bố trí vượt vào Slowakei, rồi đến Praha trót lọt.

Tiến không bất ngờ, khi bác sĩ thông báo Hạ đã mang thai. Và cái thai quá lớn không thể nạo bỏ. Không loại bỏ được mầm sống này, nghĩa là nỗi đau, nỗi ám ánh mãi mãi không thể cắt bỏ trong lòng Tiến cũng như Hạ.

Ra đi, hay ở lại với Hạ? Tuy không nói ra, song sự mâu thuẫn luôn day dứt trong lòng Tiến. Rồi tiếng trống tựu trường, với những kỷ niệm thuở học trò hồn nhiên và bao dung đã kéo Tiến ở lại với Hạ.

Mấy chục năm từ làm thuê cho đến tự hàng nghề, Tiến và Hạ mới có cơ ngơi như ngày nay…

Hồ Sen Quán dường như đã đến giờ đóng cửa, tôi buộc cắt ngang dòng suy nghĩ của Tiến:

-Anh phục tấm lòng độ lượng, bao dung của thằng em!

Tiến nói như thể phân bua:

-Cũng không hẳn như vậy đâu. Khi Hạ đột ngột bị bệnh mất, em mới nhận ra, quyết định của mình là đúng. Và sự bao dung, yêu mến hết lòng của em với cháu đầu, chỉ từ khi Hạ mất. Trước đây, mỗi lần chỉ cần va chạm nhỏ với Hạ, nhìn thấy cháu, trong lòng em lại nhói lên, chỉ muốn đạp đổ tất cả, rồi ra đi anh ạ…

Đêm muộn, vậy mà ngoài kia trời vẫn còn sáng đục. Dường như, có một vệt nắng cuối ngày không chịu tắt, còn nằm vắt qua bầu trời. Như một sự đồng cảm, tôi đứng dậy, bóp nhẹ vào vai Tiến để ra xe:

-Anh tin, những mâu thuẫn trong nội tâm của em về người đàn bà mà mình yêu thương. Đó là suy nghĩ rất thực của mỗi một con người, trong một cái xã hội đầy rẫy những bon chen, tính toán và lọc lừa này. Anh nghĩ, có rất ít thằng đàn ông vượt qua được những định kiến, rào cản, để làm được như em.

Leipzig ngày 30-6-2019

Đỗ trường

Cái Bẫy

Đỗ Trường

08/08/2019

Post by Sơn trâu 5 Nov 2023

Cái Bẫy

Đỗ Trường

08/08/2019

Đã lâu lắm rồi, châu Âu mới có một mùa hè nắng và nóng đến vậy. Trời đã vào đêm, vậy mà dường như, hơi nước bốc lên từ con đường Beton vẫn còn những vệt mờ mờ xuyên qua khung cửa kính trước mặt. Cửa ra của sân bay Leipzig đã vắng người. Nguyễn Bình An có vẻ sốt ruột, kiễng chân, nhoài người, nhòm vào phía trong, văng tục:

-Thằng bỏ mẹ này, có lẽ mang hàng lậu, tiền bẩn bị Hải quan, Công an tóm cổ lại thật rồi.

Từ phía sau, tôi nói vọng lên trấn an:

-Nếu quả vậy, thì nó đã bị tóm ở phi trường Paris, London, chứ đâu đến lượt cái sân bay tỉnh lẻ này. Cái loại quái thai, quyền lực nghiêng ngả, lắm của, nhiều tiền như nó, thiếu gì kẻ đóng thay chết thế. Tội gì, nó phải làm như vậy.

An quay lại, ngồi xuống cạnh tôi lẩm bẩm:

-Thằng này, đâu chỉ có mấy cái tội đó. Những mưu mô, cạm bẫy, bè phái tranh giành quyền lực, bòn rút ngân khố, dẫn đến kẻ thù của nó ở khắp mọi nơi. Nhiều khi biển khơi sóng lớn vô can, nhưng lại chết ngay ở cái ao tù nhỏ bé đấy. Và sự quả báo cũng muôn hình vạn trạng, sớm muộn khác nhau mà thôi.

Gã bạn này của An chức tước không lớn lắm, tên tuổi cứ khuất lẫn ở đâu đó, nhưng ở vị trí đắc địa, có quyền sinh sát. Do vậy, uy thế vây cánh chìm nổi rải khắp nước, dẫn đến bổng lộc, múc máy được nhiều. Nếu An không bị thu giấy phép lái xe mấy tháng, vì can tội bia rượu, thì có lẽ hắn không nhờ tôi lái xe ra sân bay. Bởi, hắn biết, tôi rất kỵ những thành phần này.

Ngước mắt nhìn, thấy An tần ngần định nói tiếp, tôi bảo:

-Thành phần này, ông nghĩ làm quái gì cho nhức đầu. Thằng nào bị bắt, bị làm thịt thì sạch sẽ xã hội chừng đó.

An trừng mắt nhìn tôi, rồi đột nhiên giọng chùng xuống:

-Dù nó đã trở thành kẻ nào đi chăng nữa, thì tình bạn của tôi vẫn vậy. Tuổi thơ của chúng tôi cùng trải qua những ngày đánh bi, đánh đáo. Rồi lớn lên với những tháng năm đói khát ở Trường An Ninh. Có lẽ, tình bạn của tôi vẫn ở lại với nó bởi những hoài niệm ấy…

***

Nguyễn Bình An sống tình cảm, có tính hòa đồng cảm thông, do vậy dường như ngành an ninh, cảnh sát không hợp với hắn. Vào năm 1983, An được làm tổ trưởng liên ngành đi tịch thu tài sản của người dân ở Hà Nội, theo cái chỉ thị quái đản Z30. Lúc đầu hắn rất hăm hở. Mấy ngày sau, thấy sự chán chường hiện trên khuôn mặt, và hắn còn cho đó là sự sỉ nhục. Buổi tối cuối tuần, An đã ngắc ngư ở đâu đó, rồi thất thểu đi bộ tìm tôi. Thấy lạ, tôi hỏi: Xe pháo đâu, mà rũ rượi như thế này? Hắn không trả lời, ngoắc tay, rủ đi uống tiếp.

An không phải là đệ tử lưu linh, song chẳng hiểu thế quái nào, hôm nay rượu gạo hắn cứ liên tục nhát một. Sợ hắn đổ kềnh kếnh cang, tôi liền úp cốc, hỏi:

-Việc chó gì, mà tâm trạng bất ổn thế này?

Hắn hất tay tôi, rồi ngửa cốc định rót tiếp:

-Có nói, ông cũng đếch hiểu tâm trạng lúc đó của tôi đâu.

Tôi úp tay vào miệng cốc:

-Khoan rót. Chưa nói, làm sao ông biết, tôi không hiểu. Và dù hiểu, hay không hiểu, thì ông cứ tuôn mẹ nó hết ra, có phải nhẹ nhõm, thanh thản hơn không.

An đặt chai rượu xuống, nhìn tôi với đôi mắt ngân ngấn như có nước, rồi rỉ rả kể:

Sáng hôm qua, tổ tôi nhận lệnh sục vào một quán cà phê ở Quan Thánh. Như có linh cảm, tôi lùi lại đứng vòng ngoài, để thằng tổ phó dẫn quân sục sạo. Lúc sau, nghe có tiếng phụ nữ vật vã van xin: Các anh thông cảm, bao cà phê này là tài sản, vốn liếng cuộc sống của cả gia đình. Các anh lấy đi, chắc chắn mẹ em sẽ chết, bởi không còn tiền thuốc thang…

Lúc đầu, tôi không định vào. Nhưng tiếp đó, nghe tiếng rên rỉ, van xin trong tiếng nấc, tiếng ho của bà cụ, tôi (bị xúc động) chịu không nổi, nên đi vào.

Thật ra, quán cà phê là hiên nhà, thông với phòng khách của gia đình. Trông (bô nhếch) không khác gì quán chè chén của mấy bà bán vỉa hè. Ngách phòng khách có một căn phòng nhỏ tạm bợ, dường như mới được cơi nới. Nơi đó, có một chiếc giường duy nhất dành cho bà cụ đang cơn thập tử nhất sinh. Và bao cà phê hạt chừng bốn chục cân được kéo ra từ gầm giường ấy. Không hiểu sức lực từ đâu, khi tôi vào, thấy bà cụ đang xoay người giơ tay quờ quạng, như muốn túm, níu lại, dù khoảng cách với bao cà phê còn rất xa. Dưới đất, người phụ nữ run rẩy, ngồi chặn trước cửa, mặt cúi gằm xuống. Thằng tổ phó, thấy tôi, hắn lắp bắp gì đó, làm người phụ nữ ngẩng đầu lên, và quay lại. Tôi giật mình, quyển sổ trên tay rơi tuột xuống đất. Lùi lại mấy bước, tôi kêu: Cô Ngọc, cô Ngọc…Rồi như vô thức, tôi quay đầu, định bỏ chạy. Cô Ngọc sững lại một giây, rồi hỏi: An… An đúng không? Em làm gì ở đây? Lúc này, tôi đang muốn tìm cái lỗ nào đó để chui xuống, nên không còn tâm trạng trả lời. Từ xám ngắt, khuôn mặt Cô Ngọc chuyển sang đỏ ửng, và một chút bối rối, rồi đứng phắt dậy: Em đang làm nhiệm vụ phải không? Tôi ấp úng, đứng trước cô vẫn như đứa học trò mắc lỗi bị phạt năm nào.

Cô Ngọc là giáo viên chủ nhiệm mấy năm học cấp 3 ở trường dân tộc nội trú của tôi. Khi chúng tôi sắp đến kỳ thi tốt nghiệp, cô được chuyển về Hà Nội, dạy ở một trường trung học, thuộc ngoại ô thành phố. Tuy là người Hà Nội, song cô rất yêu thương, tận tình dạy bảo và bao dung những thằng học sinh miền núi, tỉnh lẻ như chúng tôi. Khi về Hà Nội học, tôi đã mấy lần đi tìm cô, nhưng do nhầm lẫn địa chỉ, nên không tìm được. Rồi không ngờ bảy năm sau, không tìm mà gặp, trong cái hoàn cảnh cô và trò đều muốn độn thổ này.

Thấy tôi đứng như trời trồng, cô bảo: An cứ tiếp tục làm nhiệm vụ của mình đi. Tôi càng bối rối. Chưa biết xử trí thế nào, thì thằng tổ phó kéo thốc tôi ra ngoài, rỉ tai:

-Hoàn cảnh cô giáo của ông quả thực khó khăn, do vậy, tịch thu (không nỡ), không được, không tịch thu thì càng không được. Bởi, ở đây không chỉ có ông và tôi. Và ngoài kia nữa, còn rất nhiều tai mắt đang rình mò chúng ta. Bây giờ, có lẽ ông không nghĩ được gì đâu. Theo tôi, chỉ còn cách duy nhất, tạm tịch thu nửa bao, gọi là có tang vật. Về gặp sếp, hoặc bằng cách nào đó, ông xin lại, trả cho cô giáo.

Không còn cách nào khác, tôi trở vào nhà, nói với cô Ngọc hướng giải quyết như vậy. Cô cười. Tiếng cười mềm nhũn, như xát muối vào lòng tôi, khi cô cứ xuýt xoa: Làm vậy, có ảnh hưởng gì đến em không…ảnh hưởng gì đến em không… Tôi trả lời: Không, một cách vô thức. Có lẽ, câu trả lời này, cho tôi và cô đỡ ngượng ngùng thôi. Chứ quả thật, tôi chưa biết sự việc sẽ diễn ra như thế nào.

Đầu giờ chiều, dường như sếp vừa ăn nhậu ở đâu đó về, mặt mũi có vẻ tưng bừng lắm. Biết lúc này, tính nết của sếp dễ dãi, mát mẻ nhất, tôi lựa lời trình bày sự việc. Lúc đầu, sếp cứ tưởng chuyện trăng hoa ong bướm, nên cứ gật đầu lia lịa. Khi đến đoạn xin lại tang vật, trả cho khổ chủ sếp giật mình, tỉnh rượu ngay, mắt nhìn tôi trừng trừng: Không được. Việc này, đâu chỉ có ngành an ninh cảnh sát quyết định được. Cái chỉ thị Z 30, nó không chỉ cắt đầu mày, mà nó còn thiến cả đầu của tao nữa đấy. Đừng đùa với lửa trong lúc này.

Rất ngán ngẩm, tôi rời phòng sếp. Nhưng nghĩ đến hoàn cảnh cô giáo Ngọc, và giữ lời hứa của mình, chiều nay, tôi mang chiếc xe đạp (tài sản đáng giá nhất) cắm ở ngoài chợ giời. Cảnh giác, quan sát chắc chắn không có kẻ rình mò, tôi mới dám vào nhà cô Ngọc. Đưa cho cô, tôi bảo đó là tiền bán cà phê.

Tôi ngắt lời An:

-Ông hơi bị nhanh nhẩu đoảng. Bởi, cô Ngọc khó có thể tin đó là tiền bán cà phê.

-Tất nhiên, cô Ngọc không tin. Bởi, cô biết tài sản, tiền bạc đã bị nuốt rồi, thì làm sao mà nhả ra được. Nếu có xin xỏ được, thì làm chó gì nhanh như vậy. Nên cô trả lại tiền. Tuy nhiên, tôi vẫn để lại, rồi chuồn đi uống rượu cho đến bây giờ. Quả thực, nếu tôi không mang tiền đến thì bà cụ nhà cô Ngọc chỉ có con đường chết. Bởi, sau khi khám nhà, tịch thu tài sản, quán cà phê không thể hoạt động. Và nếu có hoạt động, thì khách nào dám đến…

Một tuần sau bữa nhậu chán chường ấy, An không đến tìm tôi. Thấy lạ, tôi đến đơn vị hắn hỏi. Đồng đội của hắn bảo: An bị bệnh đau đầu, chóng mặt cả tuần nay, nhưng bác sĩ chưa tìm ra căn nguyên, hiện đang nằm ở Bệnh viện 198. Nghe xong, bất chợt, tôi bật cười, suýt nữa phát ra thành tiếng: Thằng cha này đóng kịch giỏi. Tiếng cười vô duyên làm gã đồng đội của hắn ngớ cả người, tưởng tôi lên cơn điên. Có lẽ, chẳng phải riêng tôi mong cho hắn nằm viện đâu, mà còn rất nhiều thằng mong như vậy, nhưng với mục đích, chủ ý khác nhau mà thôi. Bởi, cái chức tổ trưởng liên ngành, quyền hành ngang ngửa với những ông đội cải cách ruộng đất ngày xưa. Oai phong béo bở, thơm như mít như vậy, thằng nào chẳng khoái, chẳng nhòm ngó, đang xếp hàng chờ đến lượt…

Thấy tôi thiu thiu gà gật, miệng còn tủm tỉm cười, An huých cùi chỏ vào mạng sườn:

-Ngủ rồi, còn cười cái chó gì nữa.

-Chẳng hiểu thế quái nào, cái thời ông cầm đầu bọn liên ngành đi cướp bóc người dân, trở về luồn vào quấy phá giấc ngủ bù của tôi.

-Tôi cũng đang muốn quên cái thời bi thương và khốn nạn ấy. Tuy nhiên, cũng cần phải cảm ơn nó đã giúp tôi đủ can đảm từ bỏ tất cả, để chuồn sang Đức cày thuê cuốc mướn. Mà này, thằng bỏ mẹ ấy, hình như bây giờ mới bò ra kia…

Nhìn theo hướng tay An chỉ, sau cửa kính thấy một gã thấp đậm, bụng to như đàn bà chửa, làm cho đôi chân ngắn tũn lại, Từ xa nhìn đôi chân khuỳnh khuỳnh chữ bát của hắn đang vạt đi, vạt lại, tôi cứ ngỡ một con cua đang bò.

Tay bắt mặt mừng, vẫn chất giọng sếp từ Việt Nam sang, cứ oang oang như chốn không người. An cười cười bảo tôi: Đây là Trần Văn Tân tức Tân Cháy, nguyên Phó cục trưởng thanh tra thuộc…Tân Cháy xua tay, không để An nói hết: Thôi ông cắt mẹ cái chương trình ấy đi. Rồi Tân Cháy quay sang tôi: Trường, Đỗ Trường phải không? Đã nghe, đã đọc ông. Trông cũng còn ngon ra phết nhỉ.

An hỏi làm gì, mà bây giờ mới mò ra. Tân Cháy bảo, Vali bị thất lạc. Phải trình báo, họ đã tìm thấy. Ngày mai mới đến nơi, họ sẽ chở thẳng đến nhà ông. Mấy thằng Hàng không Đức quả là nhanh và nhiệt tình. Trong lúc làm việc, chúng cứ xin lỗi, cảm ơn liên mồm. Ở Việt Nam ít được nghe, sang đây nghe nhiều những cảm từ này thấy lạ, đôi khi, thấy rách việc ông ạ.

Vừa bước chân lên xe, Tân Cháy đã hỏi:

-Dạo này làm cái quái gì cũng nhọ. Các ông xem có chỗ nào giải đen không?

Tưởng gã hỏi về vấn đề ăn uống kiêng kỵ, đen đỏ, nên tôi trả lời:

-Ở đây làm quái gì có thịt chó mà giải đen.

Gã cười:

-Chó mèo gì, ông nỡm, cái khoản kia kìa!

An bảo:

-Ông không bao giờ bỏ được cái tật ấy. Bây giờ đưa ông đến Nhà Đỏ nhé!

-Nhà Đỏ thì nói làm gì. Phải là những bạch kim, mắt xanh, da trắng ở độ trăng tròn mới đỉnh. Đạn dược không thành vấn đề.

-Thế thì ông về Việt Nam nhé! Ở đây không có. Nếu có, trước sau cảnh sát nó xích cổ ông lại.

-Chả lẽ, ở đây không có hoa tiêu, dẫn mối và bảo kê?

-Tôi không biết, và cũng chưa nghe.

Tân Cháy thở dài:

-Thế thì cuộc sống buồn chết đi được. Cả triệu Euro trong tài khoản của tôi mang sang đây định mua bất động sản, thành lập công ty, để hợp thức hóa việc ở lại Đức, theo sự hướng dẫn của văn phòng luật ở Berlin, có lẽ phải suy nghĩ lại. Nếu ở Đức buồn tẻ như vậy.

Tôi hơi bị khó chịu, dù câu nói của Tân Cháy có thể là thật tình:

-Nhiều tiền như vậy, ông tìm đường sang Đức làm chó gì?

-Nếu ở Việt Nam mà bình yên, dù có phải mai danh, ẩn tích thì tôi cũng chẳng lọ mọ sang đây làm quái gì. Ông không biết chúng đang xây lò đốt nhau hừng hực đấy sao. Chẳng biết khi nào mình phải chui vào cái lò bát quái đó. Thôi cứ chuồn trước là thượng sách.

An quay sang gã:

-Già rồi, ông bỏ bớt cái thú tính ấy đi. Cái bả hồi ở Trường An Ninh vẫn chưa tởn sao?

Tân Cháy im lặng. Nhìn sang, tôi thấy mắt gã mở trừng trừng dội ngược lên trần xe. Vỗ vai, tôi đùa hỏi gã:

-Tên Trần Văn Tân đang ngon lành, làm thế quái nào ông có cái Spitzname Tân Cháy. Nghe có vẻ bà con, họ hàng với ông Hỏa, bà Hỏa thế nhỉ?

Tân Cháy chớp chớp mắt, rồi co người ngồi thẳng lại:

-Cái tên cúng cơm này, chẳng hề liên quan gì đến ông bà Hỏa cả. Nhưng nó cũng là một giai thoại đấy, và có ngay từ thuở tôi và Nguyễn Bình An đang là sinh viên Trường An Ninh. Này, ông An hãy kể lại thật vô tư, và chính xác, có khi cho Đỗ Trường hứng thú viết được cả cái truyện ngắn chứ chẳng đùa.

An cười:

– Tên Tân Cháy, nó gắn liền với cái bẫy tình, sau này là bẫy người của các ông. Những mưu mô quái quỷ, dẫm đạp lên nhau ấy, đã kể thì phải nói toạc ra hết. Ông có đủ can đảm nghe lại không?

Chẳng biết, trên máy bay, hay lúc chờ làm thủ tục vali thất lạc Tân Cháy đã khật khừ bia, rượu hay chưa, nhưng giọng có vẻ cứng cỏi, khí thế lắm:

-Chuyện thường xảy ra ở huyện nhé! Tôi đã hạ cánh an toàn, chẳng ngại bố con thằng nào cả. Cái xã hội từ trên xuống dưới lọc lừa nhau, chứ chẳng riêng thằng chó nào. Thằng nào nhiều mưu, đủ mạnh thì thắng vậy thôi. Ông cứ việc kể tuốt tuồn tuột ra…

***

Cái đói cứ xoắn lấy Tân. Có lẽ, chưa bao giờ gã phải chịu những cơn đói triền miên, đói hoa mày chóng mặt, đói quên cả học hành. Khi còn ở trên quê, hay ở trường nội trú tỉnh cũng đói, song gã còn có thể vào rừng kiếm một thứ gì đó ấn vô bụng. Chứ ở Trường An Ninh, giữa phố phường Thủ Đô, làm chó gì có rừng để gã vào tìm rau, tìm củ. Do vậy, gã buộc phải chui vào chuồng lợn, chuồng heo để tìm cơm cháy, của nhà bếp vừa thải xuống đó. Và cũng từ cái chuồng heo này, kết cho gã một mối tình, có thể nói đi vào “giai thoại“ truyền miệng trong giới sinh viên.

Thật ra, Cao Hồng Hạnh không xấu đến nỗi… như các sinh viên đàn anh thường lấy ra gán ghép, trêu đùa. Nhưng Hạnh mắc phải chứng bệnh hở van dạ dày, dẫn đến mồm miệng và hơi thở có mùi rất khó chịu. Do vậy, dù làm công việc quản lý dạ dày của sinh viên, và là cháu ruột của một sĩ quan cấp cao, quyền uy ngoài Bộ, song chàng sinh viên nào đến với Hạnh chỉ được một thời gian ngắn, rồi không đủ can đảm quay trở lại. Tuy chưa đến cái tuổi các cụ cho là quá lứa lỡ thì, nhưng nhìn Hạnh ngày càng khô cằn. Tân quen Hạnh đang ở hoàn cảnh như vậy, và trong một lần xuống nhà bếp sinh viên rình lấy cơm cháy.

Chỉ có vài lần, Hạnh dành riêng phần cơm và những rá cơm cháy cuối ngày cho Tân cùng bạn bè, vậy mà không rõ bọn thối mồm, độc miệng nào đã đồn thổi, gã khoái cỡi máy bay bà già. Ban đầu có một chút mặc cảm, mấy ngày gã không dám gặp Hạnh. Dù nàng cứ kè kè cái cặp lồng cơm thịt thơm phưng phức đi tìm gã khắp nơi. Có vài ngày như vậy, mà cái dạ dày cứ réo lên ùng ục, dường như gã không còn sức lực, tinh thần để theo kịp giáo trình học hành và luyện tập. Có thể nói, cũng là kẻ chịu khó đọc Marx, đôi lúc gã cũng nhận ra sự mâu thuẫn, và cảm thấy phân vân, dao động. Nhưng có câu này của Marx, gã khoái: “Vật chất quyết định ý thức“. Nó điểm đúng vào tâm lý, thực tế làm cho gã thức tỉnh, đảo lại ý nghĩ, nhận thức của mình trước những quan niệm cũ rích. Do vậy, với gã lúc này, cái dạ dày quan trọng hơn, tiếng tăm, và sự đồn thổi của bọn rách việc. Từ đó, quan hệ có tính hai chiều giữa gã và Hạnh ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng. Vậy là, cái tên cúng cơm Tân Cháy, vận vào gã từ đó.

Buổi tối cuối tuần, sân trường vắng vẻ. Sau bát mì khuya, Hạnh kéo Tân Cháy ra góc tối đằng sau nhà ăn đứng chuyện trò, tâm sự. Trời oi nồng, cũng như mọi khi, Tân Cháy vô tư cởi phanh cúc áo. Hạnh ngả đầu vào vai gã, tay cầm tờ báo quạt phành phạch: Trời có lẽ sắp mưa anh ạ. Gã chưa kịp trả lời, không hiểu từ đâu ánh đèn pin rọi thẳng vào mặt. Dường như, Hạnh bị giật mình, làm rớt tờ báo xuống đất, hai tay ôm chặt lấy gã. Tân Cháy chưa kịp định thần, đã thấy mấy tay bảo vệ vây xung quanh, và quát:

– Hai người đứng yên, giữ nguyên hiện trường. Học viên an ninh gì mà có lối sống buông thả thế này.

Tân Cháy lùi lại, đẩy Hạnh ra xa:

-Chúng tôi đứng chơi, có làm gì đâu.

Đèn pin rọi sang Hạnh, áo quần xộc xệch. Nút áo tuột đâu mấy chiếc, dưới quần khóa chưa kịp cài:

-Quần áo thế này, bảo chưa làm gì hử? Về văn phòng lập biên bản.

Mặc cho Hạnh và gã giải thích, xin xỏ, song cái biên bản quan hệ trai gái buông thả, ảnh hưởng nghiêm trọng hình ảnh người học viên an ninh nhân dân vẫn được lập ra.

Tân Cháy chưa kịp hoàn hồn, mấy ngày sau Phòng tổ chức và Phòng giáo vụ gọi lên. Sau khi đe nẹt, rồi xoa nắn, gã có hai con đường để chọn lựa. Nếu là sự chơi bời, buông thả, có thể bị đình chỉ học, trả về địa phương. Song nếu là quan hệ yêu đương nghiêm túc, đi đến hôn nhân, sẽ chỉ nhận mức độ kiểm điểm, cảnh cáo trước phòng, khoa mà thôi.

Dù biết đó là cái bả, một kịch bản tồi, song con đường thứ hai, buộc Tân Cháy phải chọn. Và đám cưới của gã với Cao Hồng Hạnh diễn ra một cách chóng vánh, làm cho bạn bè, đồng đội của gã không khỏi ngạc nhiên. Thôi thì cũng mừng cho gã. Từ nay, gã cứ việc cơm no bò cỡi. Bạn bè gã bảo vậy. Mà chẳng mừng sao được, khi ra trường bạn bè cùng khóa, người lên rừng, kẻ phải xuống biển, gã được bắn một phát về Bộ. Tuy nhiên, không có ai có thể hiểu được nỗi hận trong lòng gã.

Mười mấy năm trong ngành dù sau lưng có ông chú vợ, gã cũng không làm nên công trạng gì. Tước thì có chức thì không, nên gã đâm chán nản. Nhân ông chú vợ được chuyển ra Văn phòng chính phủ, gã cũng xin chuyển ngành, làm Trưởng phòng ở Cục thanh tra thuộc một Bộ gã đã từng theo dõi mảng an ninh. Từ đây, gã có quan hệ chặt chẽ với các Giám đốc, Tổng giám đốc trên khắp cả nước, nhất là từ khi Mỹ bỏ cấm vận. Tiền bạc, đất cát từ đâu rót về cứ đều đều làm cho gã đổi tính, đổi nết. Mưu mô, cạm bẫy của gã giăng ra đố con mồi nào chạy thoát. Những kịch bản gã đã dựng không thể ai bắt bẻ, hoặc chọc khe. Khi gã thành công nhử Tổng giám đốc ở phía Bắc sập bẫy, đi nghỉ mát dài hạn, để đồng bọn một Tổng giám đốc ở phương Nam có cơ hội trèo lên chiếc ghế Thứ trưởng, thì ngay sau đó gã có quyết định lên Phó cục trưởng thanh tra. Một chức vụ có thể nói, không lớn cũng không hề nhỏ, song ở vị trí đắc địa, ngứa mắt chọc thằng nào, thằng ấy đi điếu. Chẳng vậy, trong một lần khật khừ với mấy thằng bạn thời trẻ trâu, gã rỉ tai: Tao thừa tài lực để ngồi vào cái ghế cục trưởng, thứ trưởng, nếu muốn. Nhưng những thứ đó ở cái Bộ này chỉ là hư danh, chết thế mà thôi. Cái tao cần là quyền lực, bởi ở đất nước đang lộn tùng phèo, không biết thằng bé sợ thằng to, hay thằng ngồi trên sợ thằng ngồi dưới. Thằng nào cũng có cái Thóp để bóp cả. Nên, tao chỉ làm cục phó cho đến khi giải nghệ…

Xe đã về tới trước cửa nhà, câu chuyện Nguyễn Bình An kể về Tân Cháy phải dừng lại, dù chưa đến hồi kết. Tuy vậy, Tân Cháy vẫn cười ha hả, khen An có trí nhớ tuyệt vời.

Lê Thu Đông vợ An là bạn học thời trẻ trâu, và cũng là đồng nghiệp của An và Tân Cháy sau này, vẫn còn chờ cơm. Trời đã về sáng bữa nhậu vẫn chưa tàn. Song tôi vẫn phải tạm biệt vợ chồng An- Đông và Tân Cháy quay về Leipzig cho kịp giờ làm việc. Xe sắp chuyển bánh, thấy Tân Cháy chân trần chạy ra giựt cửa xe, ghé tai thì thầm:

-Nếu có hứng thú viết lách gì đó, đề nghị Đỗ Trường nhớ đổi cho cái tên nhé.

– Tỉnh rượu rồi hay sao, mà lại co rúm người vào như vậy.

-Một phần như vậy, nhưng cái chính canh bạc chưa đến hồi kết.

Tôi đùa:

-Ông cẩn thận, không lại bị xích cổ về như Trịnh Xuân Thanh, thì đi mò tôm đấy.

Gã cười:

-Vụ thằng Thanh cũng là một kịch bản. An ninh, mật vụ Đức, họ thừa biết, nhưng mắt nhắm mắt mở để các bố diễn xuất thôi. Do vậy, vụ án này không bao giờ có hồi kết, rồi sẽ đi vào quên lãng.

Nhận định, này của Tân Cháy dường như cho tôi một sự đồng cảm. Tôi gật đầu, và cũng chúc gã công việc xuôi chèo mát mái cùng với Công ty luật ở Berlin vào tuần tới.

Leipzig ngày 8-8-2019

Đỗ Trường

Chú Tư Mạnh

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Chú Tư Mạnh

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 7 30, 2018

Truyện kể của ĐỖ DUY NGỌC

Những năm đầu của thập niên 80, sau năm năm lưu đày ở Củ Chi, tôi được về thành phố dạy một trường cấp ba ở gần nhà. Mỗi tuần chỉ có 12 tiết dạy của ba lớp cuối cấp, chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông. Rảnh rỗi dù thời gian này, cả nước đang đói. Nhưng tôi vốn vô lo, đến đâu hay đến đó, quanh quẩn với đồng lương chết đói, sống tạm qua ngày. Chẳng biết làm chi cho hết giờ, lại bày đặt chơi chim. Chơi ở vườn Tao Đàn, sáng sáng xách lồng chim, đạp xe ra, tụ nhau lại đấu láo và nghe chim hót. Và cũng từ đó thành lập một nhóm cùng ngồi với nhau. Người cao tuổi nhất nhóm là chú Tư Mạnh, hồi đó cũng khoảng năm mươi. Chú cao to như Tây, ăn mặc chải chuốt và thanh lịch như công chức cao cấp thời trước. Giọng rặt Nam bộ và hành xử cũng khá hào phóng với mọi người. Gia đình chú thuộc loại giàu có, hồi đó đa số đều đi xe đạp hoặc xe gắn máy cũ mèm, chú chơi xe Honda đời mới do đám viễn dương đem về bán, chiếc nào cũng giá mấy lượng vàng. Đôi khi cuối tuần, chú lại đến bằng xe hơi Peugeot có tài xế lái. Lúc đầu, ai cũng tưởng chú là cán bộ có chức vụ về hưu, nhưng dần dần hỏi chuyện hoá ra không phải. Chú là dân buôn bán từ xưa đến giờ. Chuyên bán vàng. Lúc đó nhà nước cấm dữ lắm, nhưng nhu cẩu xã hội vẫn có, nên chú vẫn tiếp tục nghề xưa, dù là mua chui bán lậu. Chú có đến ba căn nhà, toàn mặt tiền đường lớn, mà cái nào cũng to. Tụi tui cứ thắc mắc không hiểu với tài sản như thế mà sao gia đình chú lại thoát được mấy lần đánh tư sản khốc liệt vậy? Hoá ra là chú có người em ở rừng về, làm chức gì lớn lắm trong uỷ ban thành phố, nên tài sản chú được an toàn mà nghe đâu lại càng nhiều hơn khi có sự trợ thủ đắc lực của chú em. Sáng nào cũng vậy, chú đều chơi dĩa bò kho bánh mì có bốn miếng thịt lớn, chú bảo chú rất thích món này, ăn hoài không thấy ngán. Thường thường, chú ăn hai miếng, còn hai miếng bà chủ đã biết ý, luôn gói lại đưa chú mang về cho hai con chó Fox bé tí tì ti. Thời đó đói ăn, cả tháng làm giáo viên như tôi mới mua tiêu chuẩn được nửa kí thịt heo bạc nhạc với mỡ, nên thấy chú ăn sáng như vậy, tụi tôi thấy chú quá sang trọng, nên dù ngồi với nhau, tiếng nói của chú vẫn có giá trị hơn hẳn. Người giàu sang lúc nào cũng thế, giữa mọi người họ vẫn có vị thế cao hơn một bậc, bởi họ nhiều tiền hơn đương nhiên tiếng nói của họ được vị nể hơn. Chúng tôi càng nể chú hơn nữa khi gặp hai đứa con của chú. Chú có hai đứa con, trai lớn gần ba chục, cô con gái nhỏ khoảng hai lăm, hai sáu tuổi. Cả hai đều rất lễ phép và cũng vừa lập gia đình. Mỗi lần đi đâu xa hoặc cuối tuần về quê chồng quê vợ, con chú đều ra tận nơi sân chim để chào và xin phép chú về thăm cha thăm mẹ. Lần nào cũng cúi đầu, khoanh tay chào hết mọi người khi đền cũng như lúc đi. Chú hãnh diện về điều này, mà tụi tôi cũng đồng ý về sự hãnh diện đó của chú. Cái thời buổi nhiễu nhương, ông thằng thay đổi tá lả thế này, nề nếp gia phong lộn tùng phèo mà còn được những đứa con như thế thì hãnh diện là quá đúng rồi!

Nhưng hoá ra là đóng kịch cả, là mưu mô cả. Lần hồi, các màn kịch cứ he hé và lần lượt diễn ra, tụi tôi nhiều khi không tin được, không ngờ cuộc đời lại có nhiều chuyện khốn nạn đến thế. Khi xã hội Việt Nam bắt đầu mở cửa là lúc màn kịch bắt đầu.

Đầu tiên là căn nhà ba tầng ở Bùi Thị Xuân, căn nhà lâu nay giao cho anh con trai lớn ở và bán buôn. Một ngày đẹp trời vợ chồng anh về thưa với vợ chồng chú là anh ta muốn sửa sang lại để biến thành khách sạn, bởi bắt đầu sẽ có khách du lịch về, doanh nghiệp qua, đón đầu như vậy mới thắng lớn được. Nghe bùi tai quá, vợ chồng chúng nó từ xưa đến nay ngoan ngoãn, biết lo làm ăn, chưa hề làm mất lòng hai vợ chồng chú. Thế là sang tên cho chúng để chúng chúng mở doanh nghiệp, xin giấy phép xây cất. Lại còn cho chúng mượn 300 lượng vàng làm vốn. Hai vợ chồng an tâm phần thằng Hai. Chúng nó làm ăn thành công thì mình lo chi tuổi già, xem như chia gia tài trước cho chúng. Giải quyết nhẹ bâng.

Lại đến cô con gái, cũng một đêm mát trời, con gái nằm gãi lưng cho mẹ vừa thủ thỉ: Vợ chồng con cũng đã lớn rồi, ba má cho chúng con ra riêng đặng lo cho tương lai. Ba má giao cho tụi con cái nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu đang cho thuê, tụi con dọn về đó mở tiệm vàng, bây giờ nhà nước cho tư nhân mua bán vàng, làm ăn tốt lắm. Ba má vẫn ở nhà này, tuổi già cần yên tĩnh mà ở chung thế này nhiều khi các con của con quấy quá làm phiền ba má. Nói nghe lọt tai quá, nghĩ cũng hợp lí quá, sang tên nhà, đưa thêm 300 lượng làm hàng bán. Lúc đưa vàng, vợ chồng chú bắt phải có mặt con rể, hai vợ chồng cùng ký giấy mượn của vợ chồng chú 200 lượng, còn 100 lượng kia cho hai đứa bây làm vốn. Thế là xem như xong chuyện của hai đứa con, hai vợ chồng chú vui vẻ để lại tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc.

Đùng một cái, anh con trai lớn không biết làm ăn hùn hạp với ai, phải cầm cố nhà cửa, khách sạn. Rồi một ngày cả nhà trốn mất. Vượt biên. Khách sạn bị tịch thu, cửa khoá to đùng với tờ giấy dán chéo ghi: Vượt biên, phản quốc với mấy dấu đóng đỏ lòm. Chú Tư Mạnh ốm mấy tháng, vợ chú lên cơn đau tim phải vào cấp cứu. Thôi! Của đi thay người, chỉ mong gia đình nó đến nơi bình an. Nhưng rồi, tin đến chẳng bình an, anh con trai chỉ đi ra được đến bãi là bị gài bắn chết ngay tại chỗ để bọn dân quân, công an cướp vàng. Cô vợ và đứa cháu bay ra được tàu lớn, nhưng rồi bão đánh chìm đâu đó ngoài biển sâu. Vợ chồng chú suy sụp hẳn, chú vật vờ như mộng du, thương con, thương cháu đến đứt cả ruột. Một năm sau, không chịu thấu nỗi đau, không dằn nổi những cơn đau tim, vợ chú qua đời. Đến thắp nhang cho thím, nhìn thấy mái tóc mới qua mấy đêm đã bạc trắng của chú, chúng tôi xót xa cho bi kịch dồn dập đổ xuống gia đình của chú. Cô con gái và chàng rể quấn khăn tang lo hậu sự, nước mắt vẫn lả chã nhưng trong đầu cũng đang tính chuyện mốt mai. Thế rồi khi tro cốt của vợ chú an vị ở chùa, ngày cúng thất đầu tiên, hai vợ chồng cô con gái vẫn còn mang áo tang đề nghị với chú: má mất rồi, ba tuổi đã lớn, ở đây một mình chẳng có ai chăm sóc gần gũi, gia đình mình giờ chỉ còn con với ba, ba bán căn nhà này đi, cho chúng con mượn thêm, làm ăn bây giờ hơn nhau ở chỗ vốn nhiều mới mong thắng lớn, về ở với vợ chồng con, để con được săn sóc ba tuổi về già, lúc đau ốm, đỡ buổn lo, quạnh quẽ. Nghe đúng quá mà. Bây giờ chỉ còn mình nó, không ở với nó thì ở với ai? Một mình giữ tiền chi cho nhiều, đưa cho chúng làm ăn, có phải là sinh lợi hơn sao. Nỗi buồn chưa lắng xuống, nên chú Tư giao việc bán mua cho vợ chồng cô con gái, dọn về ở cùng con. Thế là cuối cùng, chú chỉ còn độc ngôi nhà này.

Lúc đầu, ông con rể bố trí cho chú ở lầu một, lên xuống cho dễ. Phòng này trước đây cháu ngoại của chú ở, bây giờ nó dọn lên phòng trên. Phòng tiện nghi, có cửa sổ, có máy lạnh, giường nệm êm, chú tự nghĩ thế cũng tốt, cũng là nhà của mình mà. Chú lại ra chơi chim với nhóm, dù không thường xuyên lắm. Tóc chú trắng xóa, khuôn mặt buồn không còn vui vẻ như trước, nhưng hàng ngày vẫn dĩa bò kho bốn miếng thịt, ăn hai miếng đem về hai miếng cho hai con chó Fox bé tí tì ti.

Nhưng cuộc sống vẫn chưa yên. Hai vợ chồng cô con gái bắt đầu kiếm chuyện. Đầu tiên là mấy con chim. Trước đây ông con rể khi ra chỗ chơi chim thường xách lồng ra xe cho chú, lặt cào cào cho chim ăn, hàng ngày phụ trách vệ sinh mấy lồng chim cho chú. Bây giờ ông con rể ngạo ngược bảo chim cò bẩn cả nhà, trưa nghỉ một tí cũng không yên bởi tiếng hót lanh lảnh của nó. Chú Tư tắm chim, phơi nắng cho chim, hắn đi ngang đá lồng lăn lông lốc và bảo: chật chội, vướng víu quá! Bực cả mình! Đôi mắt chú ngày càng buồn, miệng chú càng ngày càng ít nói. Rồi từ lầu một, chúng dời chú lên phòng sân thượng, ông con rể bảo cho chú lên đấy để chú tiện gần gũi với chim, để chim phía dưới mất vệ sinh, thức ăn rơi ruồi bu, kiến đậu, lông chim bay ảnh hưởng sức khoẻ của mọi người. Chú bằng lòng với sự sắp xếp của nó, dù mỗi lần lên xuống cầu thang, chú phải nghỉ thở mấy lần. Hồi còn ở dưới, đến bữa cô người làm hoặc cháu ngoại còn lên mời chú xuống nhà ăn cơm. Từ hồi lên trên này, chúng chẳng kêu, chẳng báo. Khi nào đói, chú lặng lẽ lần mò xuống ăn. Thức ăn lỏng chỏng như đồ thừa, nhiều lần ngồi ăn, chú rớt nước mắt. Chú thèm được một bữa cơm gia đình sum họp, đầy tiếng nói cười với những ánh mắt thương yêu. Mất hết rồi! Chẳng tìm đâu thấy nữa. Hàng ngày, chú xách lồng chim ra ngồi với chúng tôi chốc lát, đó là niềm vui còn sót lại trong ngày của chú, chú xem chúng tôi như người nhà, nên những chuyện buồn, bất hạnh của chú, chú đều kể cho chúng tôi nghe. Chú vẫn còn ăn món bò kho, nhưng không gói thịt về cho chó nữa vì chúng cũng đã bị cậu con rể đá chết rồi.

Nghe tin chú bệnh, nhóm chúng tôi đến thăm chú. Bước qua cửa, chúng tôi được đón bằng cái nguýt dài của cô con gái, cái ánh mắt bực bội của chàng con rể. Chúng chẳng chào một tiếng, chẳng hỏi một câu làm chúng tôi ngỡ ngàng, sao con người biến đổi một cách lạ kỳ như vậy? Chú Tư đón chúng tôi nơi phòng khách, kế bên cửa sổ nhìn ra sân, chú không dám nhìn thẳng mắt ai, ánh mắt như muốn xin lỗi, ngượng ngùng. Ngồi chưa nóng đít, anh con rể vừa nhả khói thuốc vừa nói vọng vào từ ngoài sân: Ba đưa mấy chú lên lầu, lát nữa tui có khách. Chú Tư nhìn ra, ánh mắt một thoáng như toé lửa, rồi hạ nhiệt ngay, cụp xuống đầy uất hận. Thấy không tiện, tụi tôi rút, ra về cũng không có một lời chào. Ai cũng chép miệng: Tội nghiệp chú Tư..

Cuối năm 92, nhóm chúng tôi tản hàng, anh Ba cộng hoà đi HO chuyến áp chót, anh Nam mắt kiếng đi diện đoàn tụ gia đình, tôi bỏ dạy sau một màn ác chiến với tay hiệu trưởng vừa nhậm chức, tôi rời bục giảng, mở công ty, chen chân làm doanh nghiệp. Công việc bận rộn, chẳng còn thời gian đâu mà chim với cò, nên cũng chẳng có dịp để gặp chú Tư Mạnh. Đôi khi gặp đám chơi chim ở Tao Đàn, hỏi thăm tin tức về chú, có người bảo gặp, có kẻ bảo không, định bụng bữa nào ghé thăm chú một bữa. Tình cờ một hôm đi qua nhà chú, thấy người ta đập xây cao ốc mới, hỏi thăm mới biết nhà đã thay chủ, không biết gia đình chú dọn đi đâu, có người bảo đã đi hết ra nước ngoài. Tôi bặt tin chú Tư từ đó, lòng vẫn mong chú khoẻ, hi vọng ở nước ngoài, có viện dưỡng lão, chú được vào đó cũng đỡ khổ thân.
*******

Tết Nguyên Đán năm 2005, thay vì tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trẻ bị bệnh ở khoa Nhi bệnh viện Ung bướu như mọi lần, công ty chúng tôi đổi hướng đi đến thăm những người già ở nhà dưỡng lão Thị Nghè. Thấy các bé còn nhỏ đã mắc bệnh nan y, thương cho chúng chưa hưởng gì ở cuộc đời đã mang bệnh chờ chết, đau xót lắm. Nhưng dù sao các cháu khi bệnh, đứa nào cũng có mẹ, hoặc cha, hay ông hay bà thay phiên chăm sóc. Còn ở đây, trong thế giới người già, là nỗi cô đơn cùng cực. Hầu hết các cụ ở đây đều không có gia đình, người thân, hoặc bị con cháu bỏ rơi. Họ cô độc trong những ngày tháng cuối của cuộc đời, họ chờ đợi trong vô vọng những ánh mắt thương yêu của người thân, họ khát khao được nhìn mặt, cầm tay cháu con, nhưng không bao giờ toại nguyện. Họ chậm chạp trong sinh hoạt và chậm chạp đến lần với cõi chết. Những căn phòng ẩm ướt, những áo quần chẳng lành lặn, những gói, những bao không biết đựng gì để đầy trên giường, dưới chân họ. Họ mừng khi thấy chúng tôi đến, họ vui khi nhận được quà, nhưng ánh mắt vẫn nặng trĩu nỗi muộn phiền. Ở cuối phòng, có một cụ già cứ lấy tay che mặt khi chúng tôi trao quà, tránh ánh mắt của tôi.
Tôi xong việc của mình, định ra, bỗng ông cụ buông tay, vươn cánh tay vẫy vẫy. Ông cụ gầy gò, da bọc xương, hai xương vai nhô lên như hai mảnh nhọn, bụng trương lên như trống. Tóc lơ thơ rụng gần hết, mắt đục lờ với khuôn mặt nhăn nhúm, vàng khè. Trên khuôn mặt đó, tôi tìm thấy một nét quen thuộc của ai đó mình đã từng gặp trong đời. Tôi chưa nhớ ra.
Ông cụ vẫn vẫy, tôi đi ngược trở lại và ông nắm lấy bàn tay tôi, nói nhỏ: Anh Ngọc phải không? Có còn nhớ tôi không? Tôi Tư Mạnh đây. Tôi giật mình, gai ốc bỗng rờn rợn, trời ơi! Chú Tư Mạnh đây sao. Cuộc đời sao vậy trời. Sao chú lại ở đây, sao chú ra nông nỗi này?

Tôi ngồi xuống ôm chặt lấy chú, chú cũng ôm tôi và chú khóc, nước mắt ướt đẫm vai tôi và tôi cũng khóc theo chú. Hai người ôm nhau khóc một hồi, có ông cụ giường bên nhìn tôi với ánh mắt chẳng có chút thân thiện: Con cháu, anh em gì mà bỏ rơi ông cụ mấy năm liền, giờ còn khóc lóc gì? Chú Tư xua tay: Không phải, không phải đâu, người quen thôi mà.
Chúng tôi ra ngoài sân, ngồi trên ghế đá nói chuyện. Tôi hỏi chú hay là mình qua bên đường uống cà phê. Chú gật, ánh mắt thoáng chút vui. Tôi xin phép cán bộ dẫn chú ra ngoài. Hai chúng tôi băng qua đường, chú đi khập khiễng, tôi phải dìu chú đi. Tôi hỏi chú muốn ăn gì không, chú nhìn tôi, ngập ngừng: Tôi…thèm ăn dĩa bò kho… dĩa bò kho bốn miếng thịt và ổ bánh mì thật dòn. Tôi chảy nước mắt ngồi nhìn chú ăn, chú ăn ngon lành, miếng thịt trệu trạo trong cái miệng móm mém gần hết răng của chú.
Và rồi chú kể cho tôi nghe tại sao chú có mặt ở đây mấy năm nay.


****
Anh biết không, con Hiếu, con gái khốn nạn của tôi, anh còn nhớ nó chứ? Tôi đặt nó tên Hiếu mà nó bất hiếu ác nhơn. Nó lấy hết tiền của tôi rồi lừa cho tôi vào đây. Hồi đấy, sau cái lần tôi bệnh mấy anh em vào thăm, thấy chúng nó tồi tệ quá mức rồi, tôi chịu hết nổi nên nói với vợ chồng nó trả vàng cho tôi để tôi đi kiếm chỗ khác ở, dứt tình cha con. Nhưng chúng lật lọng, bảo chẳng nợ gì tôi. Tức quá tôi thưa, tôi còn đủ giấy tờ mà. Toà xử chúng phải trả nợ cho tôi. Chúng lần lửa mãi, và có trả tôi một lần mười cây vàng, hẹn cuối năm thanh toán hết. Rồi bỗng dưng hai vợ chồng nó thân thiện, săn sóc tôi dữ lắm. Mua đồ này thức nọ cho tôi ăn, sắm áo quần mới cho tôi mặc, đối xử với tôi rất nhẹ nhàng. Tôi nghĩ, thôi thì con mình đã biết suy nghĩ lại, gia đình, thân thuộc tôi chẳng còn ai, có đứa em trai thì bệnh ung thư chết mấy năm rồi. Làm cha mẹ phải biết tha thứ cho con. Được mấy tháng thì một hôm nó nói mời cả nhà đi du lịch Nhật Bản, tôi vui lắm, hăm hở sửa soạn đồ đạc để đi đến mười ngày. Nhưng đến phút chót, lấy cớ có việc đột xuất, cả nhà nó ở lại, đành bỏ vé, nên tôi đi một mình. Đi du lịch cùng đoàn nên có bạn có bè cũng vui. Hôm đầu điện thoại về, còn nghe nó trả lời, hôm sau cũng còn, nhưng đến hôm thứ ba thì gọi mãi không được. Tôi sốt ruột nhưng cũng đành chờ cho đến ngày cuối, do vậy chuyến du lịch bỗng mất vui. Nào ngờ khi về đến nhà thì cửa đóng im ỉm, bấm chuông mãi thì có người thò đầu ra mắng, cái mặt lạ hoắc. Hỏi anh ta là ai? Anh ta hỏi vặn lại tôi là ai? Tôi bảo tôi là chủ nhà, anh ta cười hô hố bảo tôi điên, rồi bảo anh ta đã mua căn nhà này rồi, đừng có kiếm chuyện. Tôi như từ cung trăng rớt xuống, mồ hôi ra lạnh cả người và nằm thẳng cẳng giữa lề đường. Hàng xóm thấy vậy chở tôi đi nhà thương, đến khi tỉnh, được mọi người kể mới biết gia đình nó đi Mỹ định cư cả tuần lễ nay rồi, ai cũng tưởng tôi đã cùng đi với chúng nó. Thế ra nó lừa tôi, nó giả vờ thương yêu tôi để tôi mất cảnh giác, nó lừa tôi đi du lịch để nó giao nhà và ra đi. Nó cướp hết số vàng mà vợ chồng tôi cho nó vay. Nó khốn nạn thế đấy, nó mưu mô hiểm ác vậy đấy. Thế là tôi trở thành kẻ vô gia cư. Còn ít vàng tôi để ở nhà, chắc nó cũng lấy đi rồi, tôi chẳng có cách nào để sống nên khi hết bệnh ở nhà thương, chính quyền đưa tôi vào đây ở mấy năm nay.

Tôi nghe mà bàng hoàng, không tin nổi nếu như không gặp chú Tư ở đây. Tôi không ngờ trên đời lại có những đứa con như vậy. Rồi cuộc đời nó có an lành để sống không? Con cái chúng sẽ nghĩ gì khi biết được cha mẹ chúng đã đối xử với ông chúng như thế? Tôi thật sự khiếp hãi khi nhìn thấy con người ta vì đồng tiền mà bán cả lương tri.
Tôi khuyên chú đi bệnh viện vì thấy chú yếu quá, nhưng chú bảo chú không muốn chữa bệnh, chú chỉ mong được đi mau để khỏi phải đau khổ và dằn vặt. Chú xin tôi một điều là gắng đến thăm chú và khi nào chú mất, làm ơn đem tro cốt của chú để vào chùa cùng nơi với vợ chú.

Đó lại là lần cuối cùng tôi gặp chú, chủ nhật sau tôi ghé chú thì chú đã đi rồi, trên tay tôi vẫn còn mang cặp lồng món bò kho bốn miếng thịt mà chú ưa thích. Tôi lặng lẽ mang hủ tro cốt của chú vào chùa, làm thủ tục để cạnh hủ tro của vợ chú, từ nay hai vợ chồng sẽ mãi gần nhau và chú đi được vậy cũng là điều giải thoát cho một kiếp người. Mong chú đến nơi không còn khổ đau, gian dối và lừa lọc. Mong chú yên nghỉ nghe chú Tư Mạnh.
Saigon. Tháng bảy. 2015
DODUYNGOC

Chiếc vé lên tàu

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 17, 2018

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Chiếc vé lên tàu

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 8 17, 2018

Cầm chiếc vé của tuyến đường sắt trên cao Hà Đông – Cát Linh, người Việt Nam nào còn ưu tư với vận nước đều cảm thấy căm phẫn và bị sỉ nhục. Một tuyến đường vừa giá quá cao phi thực tế, vừa thiếu thẫm mỹ, công nghệ lạc hậu, kéo dài thời gian xây dựng và lại đã có lúc phô ra cái lối trịch thượng, coi thường Việt Nam thông qua các bảng hiệu chỉ dẫn toàn chữ Tàu với chữ Việt nhỏ hơn ở dưới. Sự việc lùm xùm này rồi cũng rơi vào im lặng.

Bây giờ, tàu bắt dầu vận hành chạy thử lại lòi ra cái vé lên tàu. Tuyến đường xây trên đất Việt, để phục vụ người Việt, dù anh có cho vay tiền, thực hiện theo công nghệ của anh thì anh cũng chỉ là kẻ làm thuê cho đất Việt. Người Việt là chủ của công trình này, dù phải chấp nhận những thua thiệt bởi thói gian manh ngàn đời trở thành bản chất của Trung Hoa. Người Việt vẫn là chủ nhân của công trình, đó là sự thật không thể chối cãi.
Cái vé lên tàu bé tí toàn chữ Tàu trên và chữ Việt dưới, chữ nhỏ hơn. Cầm cái vé lên tàu, ta có cảm tưởng đang di chuyển trên đất Trung Hoa và ta là du khách.

Người Trung quốc đã thể hiện tư tưởng đại Hán ngay trong chiếc vé cỏn con này. Họ xem thường chúng ta và những người Việt có lương tri cảm thấy bị sỉ nhục khi cầm trên tay chiếc vé này. Họ làm chủ đất nước này bao giờ thế? Kiếm được khối tiền từ dự án này rồi lại trở thành chủ nhân của công trình này sao? Việt Nam là chủ công trình, có lãnh đạo là người Việt. Nhưng họ đang ở đâu? Họ lãnh lương, chia chác bổng lộc từ dự án, nhưng nhắm mắt làm ngơ, ngậm miệng ăn tiền, trở thành tay sai của những nhà thầu Trung Quốc. Khi xảy ra sự việc đều trả lời rất tiếc, sẽ khắc phục… Đều là lời nguỵ biện. Kẻ làm chủ trở thành tay sai đắc lực cho kẻ làm thuê, chuyện tréo ngoe chỉ có trong hàng ngũ quan chức Việt. Bất cứ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài nào hoạt động, làm ăn trên đất Việt cũng phải chấp hành luật pháp Việt Nam.

Cái vé tàu bé xíu ấy nhưng nó thể hiện chủ quyền của một quốc gia. Chúng chiếm biến đảo, chúng ung dung ra vào đất nước này với thái độ nghênh ngang và ngạo ngược, chúng xem đất nước này như một tỉnh tự trị của chúng, chúng đổ bao thứ độc hại vào mâm cơm của người Việt, chúng lèo lái, nhúng tay vào đường lối chính trị của quốc gia, chúng lũng đoạn kinh tế …Đó là những việc lớn, ai cũng thấy, nhưng chúng cũng không từ những việc nhỏ để chứng tỏ âm mưu của chúng. Chiếc vé này là một minh chứng. Là người Việt, chúng ta phải có thái độ rõ ràng với việc này. Phải biết lòng tự trọng bị xúc phạm, phải thấy chủ quyền của đất nước đang bị xâm phạm để có cách hành xử với lũ bá quyền này. Không thể chấp nhận những cách thức ngạo ngược, coi thường dân Việt như thế này.

Hỡi những tên đang nhắm mắt nhận tiền để trở thành công cụ trong tay chúng, các người phải học để biết nhục, phải biết xấu hổ khi đứng trước cháu con, phải biết ngẩng đầu vì mình đang là chủ kia mà. Sao lại để chúng lộng quyền đến thế?

Từ chiếc vé lên tàu, ta thấy rõ một đám người có quyền lực nhưng hèn hạ và cam tâm làm con rối như thế nào. Ai đang là chủ của mảnh đất này? Âm mưu của lũ bá quyền thì thâm hiểm và chẳng lúc nào ngừng. Nhưng những người Việt liên quan thì thờ ơ, vô cảm, tắc trách trong công việc được giao phó.

Từ đó trong suy nghĩ lại có lo âu. Đất nước này sẽ đi về đâu? Không lẽ trong tương lai, mỗi người dân Việt phải trang bị cho mình thêm một ngôn ngữ là tiếng Tàu?
Buồn và căm phẫn.
13.8.2018
DODUYNGOC

Chén cơm chiên ngày Tết năm 1976

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 1 26, 2019

Post by Sơn râu 5 Nov 2023

Chén cơm chiên ngày Tết năm 1976

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 1 26, 2019

Tết năm 1976, vợ tui chưa về, tui ở Sài Gòn trên căn gác nhỏ ở hẻm 220 Trương Minh Giảng với mấy người bạn cùng quê. Trong đó có nhân vật tui viết trong truyện Bước không qua số phận. Nhân vật trong truyện tên Nhân. Đã qua gần mười tháng sau ngày bộ đội miền Bắc vào tới Sài Gòn. Đồng hồ, mắt kính, quần áo, giày dép lần lượt ra đi ở chợ trời. Rồi đến sách vở cũng ra vỉa hè đổi lấy bữa cơm. Đã đến thời gian đói. Bữa có bữa không, có nhiều ngày nhịn, có bữa chỉ có củ khoai. Bạn bè bắt đầu tản mát, mỗi đứa đi một phương kiếm ăn. Tui chẳng biết đi đâu, bám trụ căn gác gỗ có cầu thang gãy. Trước 75 tui đi làm cũng có lương cao, thuê căn phòng lớn trong ngôi nhà nhiều phòng ở số 220/100. Bộ đội vào, phường ra lệnh tiếp quản ngôi nhà vì chủ đã di tản, chuyển tui qua căn gác này. Bạn bè thấy thế đi theo nên diện tích căn gác nhỏ xíu mà có lúc chứa cả chục thằng, kể cả hai cặp vợ chồng thằng bạn mới cưới vợ. Chen chúc nhau sống trong lặng lẽ.

Bình thường khi có chút tiền, tui mua gạo nấu ăn chung với Nhân. Món ăn thường xuyên là trứng vịt. Luộc chín, cắt làm tư, ngâm vô chén nước mắm dằm ớt thật cay. Mỗi bữa mỗi thằng ăn một phần tư hột vịt, như vậy, cái hột vịt luộc hai thằng ăn được hai bữa cơm sáng chiều. Được như vậy là ngon rồi, khỏi phải nhịn đói. Thế mà có giai đoạn gạo cũng chẳng có mà nấu, hột vịt cũng chẳng có mà ăn. Đói vàng cả mắt, người xanh như tàu lá, đi liêu xiêu thấy gì cũng thèm. Lúc đó tui đang sinh hoạt trong đoàn kịch của Hội Văn nghệ Thành phố, hôm nào cũng tập kịch ở ngôi nhà của mẹ ông Tổng thống Thiệu chỗ 81 Trương Minh Giảng. Trưởng đoàn văn nghệ lúc đó là chị Kim Hạnh, vốn là trưởng đoàn Văn nghệ Vạn Hạnh trước 1975, sau này chị chuyền qua làm báo. Lúc đó gần Tết, không biết ai biết chuyện tui đang đói, mấy người trong đoàn họp lại quyên góp mua gạo cứu đói cho tui. Sau này nghe kể chị Kim Hạnh bảo tui sĩ diện lắm nên nếu đưa trực tiếp tui sẽ không nhận đâu, do vậy bọn họ phải lên kế hoạch. Những người thực hiện kế hoạch này giờ đa số ở nước ngoài cả. Đó là Châu Bảo, Bích Nguyen đang ở Mỹ, Tô Công Tròn đang ở Pháp, Dục đã mất ở Úc. Họ canh tui vừa ra khỏi nhà là chạy lên để bao gạo, chai nước mắm và mấy món linh tinh nữa ngay góc cầu thang. Họ trốn ở mấy góc hẻm chờ tui đi về mang gói quà ấy vào nhà rồi mới tản hàng. Tui không quên gói quà ấy dù đã hơn bốn mấy năm rồi. Tình cảm của các bạn quý báu biết bao vì lúc đó ai cũng nghèo và khó khăn. Nhờ mấy kí gạo đấy, Tết năm 1976 tui có gạo ăn. Có gạo nhưng chẳng có tiền để sắm đồ ăn, Tết nên cũng chẳng kiếm được công việc gì để làm, cũng chẳng còn ai buôn bán để bán mua. Ngày mùng một Tết, vét trong lon guigoz còn muỗng mỡ, tui xé sách làm củi, tui chiên cơm. Năm đó còn pháo nổ ì xèo, trưa mùng một tui ngồi ăn chén cơm chiên mà nước mắt ướt cả mặt. Tui ngóng về Đà Nẵng, nơi đó Ba Mạ các em tui đang hân hoan đón Tết, dù đất nước đã bắt đầu nghèo, nhưng gia đình tui chắc chắn vẫn có những món ăn không thiếu của ngày Tết. Còn ở phương xa này, tui đón Tết bằng món cơm chiên độc nhất, chỉ có chén cơm chiên với mỡ và nước mắm. Tui tủi thân, thương thân mình nhưng vì hoàn cảnh cũng không dám về nhà vui Tết với gia đình.

Mấy mươi năm qua rồi, bao nhiêu dâu bể, bao nhiêu đổi thay. Ba Mạ mất, anh trai mất rồi vợ mất, anh em xao xác bốn phương trời. Bữa nay, lại một cái Tết nữa đang đến, bỗng dưng nhớ chén cơm chiên của cái Tết đã xa lăng lắc. Nhớ đến tình cảm của những người bạn một thời.
26.1.2019
DODUYNGOC