Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 9 Nov 2023

 Định mệnh con người

Đặng Chí Bình

Bài 41

Chúng tôi năm anh chàng trong phe chiến bại, đang bị một cô gái trong phe chiến thắng “hành” ngày thứ Bẩy, Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa như mọi khi. Bỗng có tiếng ồn ào, quát tháo từ phía ngõ, khu Sơn Tây, chúng tôi đang quét và nhặt rác, thông những ống cống ở mấy con đường hẻm gần nhà thờ Nam Hòa, đều ngừng tay ngửng lên: Một cô gái tóc uốn, chừng 18 hay 19 tuổi, nước da trắng hồng, với bộ mặt tương đối khả ái. Toàn bộ thân hình của cô không hề có một mảnh vải, không phải cô gái nào cũng có một thân hình cân đối như cô. Cô rảo bước từ phía ngõ Sơn Tây đi đến, có mấy đứa trẻ con trai mươi, mười hai tuổi hò hét chạy theo nhìn, nhiều tiếng quát của người lớn là để gọi con cái họ, không được đi theo nhìn.

Tôi và mấy anh kia, cũng đều bàng hoàng đờ cả người ra. Quay lại phía cô công an Ngọc Anh, thì cô ả mặt đỏ như mai cua luộc, gục mãi đầu vào một cánh cửa sổ của một ngôi nhà. Tình thế bất ngờ!

Lẽ ra phía phụ nữ, những bà lớn tuổi, phải ra can thiệp, hoặc đưa vải hay khăn che cho cô ta. Nhưng chả có một ai ra giúp đỡ giữa khoảng 10- 12 giờ trưa, nếu ở gần nhà tôi, tôi sẽ gọi Hoa đưa tạm cái khăn, hay miếng nylon ra che cho cô ta. Tôi cũng không dám đến gần cô, để tìm hiểu vì sao lại có một sự việc “ngàn năm một thuở” như thế này?

Bố mẹ và nhà cô ở đâu? Khi đến dong nhà thờ, cô rẽ ra đường Bắc Hải để sang khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa cũ. Chúng tôi đang lao động có người chỉ huy, nên chả đi đâu được. Tuy chẳng một ai trong chúng tôi biết lý do, nguyên nhân, nhưng chắc bốn anh kia cũng như tôi, làm sao mà quên được:

Cái buổi “chết người” lao động ấy!

Ngàn năm chưa dễ đã ai………quên!

Nó độc lập với ý chí của con người, dù có muốn quên đi nhưng vẫn còn nhớ mãi. Tôi về kể chuyện lại cho Hoa, Hoa lại cười ré lên, như con gà tây gại ổ:

– Như vậy là anh vớ “bở” rồi!

Tôi chả biết đến “bở” hay “sượng” nhưng rõ ràng sự việc này, nó cũng luồn sâu bên trong là vấn đề xã hội. Từ sự việc này, nếu ai chịu suy nghĩ đều đã nhìn thấy, nhiều mặt của cái xã hội ấy.

Hôm nay đi làm về, vừa đến cửa Hoa đã chạy ra, mặt em tươi roi rói, em nói ríu rít:

– Vừa khi nãy có một anh chừng ba chục tuổi đi xe Honda vào, anh ta nói là anh em của một Biệt Kích nhẩy Bắc, muốn gặp anh? Tên anh ta là Vân.

Tất nhiên, tôi chả biết anh ta, vì tôi chưa gặp lần nào, có địa chỉ ở gần Cống Bà Xếp Hòa Hưng. Cứ để đấy, cuối tuần tôi sẽ đến thăm, xem sao? Không ngờ hôm sau gần 5 giờ anh ta lại đến. Tôi về đến nhà, ngoài cửa một chiếc Honda còn “láng coóng”, mới và đẹp hơn xe của chú Tuất, chồng em Xuân. Một cậu rất tư cách, tỏ là giới “lõi” của thành phố, cậu ta tự giới thiệu là Vân, em rể của Hoàng Văn Chương, một biệt kích ra Bắc 1968.

Cậu đã ra Bắc thăm Chương, cùng với cô Hoàng Thị Phúc, chị vợ. Cô Phúc cũng là em của Chương, như thế tôi hiểu: Hoàng Văn Chương, rồi cô Phúc và còn một người em gái nữa. Người em gái này là vợ của Trần Vân. Thái độ của Vân rất niềm nở, mới gặp mà như đã quen nhau lâu rồi. Ngay buổi chiều ấy Vân mời tôi cho bằng được ra một hiệu phở ở Ông Tạ, Vân mời cả Hoa, nhưng Hoa đã từ chối, phải ở nhà cơm nước, săn sóc ông bà cụ.

Nói chuyện với Vân, tôi biết nhiều điều mới của Sài Gòn dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Mấy ngày sau, Vân đã đèo tôi về nhà gặp vợ Vân. Vân ở mãi dưới Long An, nhưng thường xuyên đi về bà nhạc ở Hoà Hưng. Tôi cũng đã gặp cả cô Phúc là em của Chương, cô Phúc cũng đạt dào tình người. Tôi hiểu Trần Vân có một số khả năng, nhìn được một số kẽ hở của xã hội mới, nên cậu ta đã lách vào những kẽ trống đó để giải quyết cuộc sống của gia đình, mà còn thảnh thơi, thong dong.

Cậu ta chạy “mánh” thuốc lá, thuốc Tây; chơi thì có trọng điểm, theo cậu ta, màng lưới CA và quan thuế dầy đặc. Đã gọi là màng lưới, thì phải có mắt lưới và nút lưới, nút lưới là chỗ chốt của CA hay quan thuế. Vì thế, điều cần thiết là phải nhìn được ra đâu là mắt, đâu là nút, hơn nữa với những kỹ thuật thực hư, hư thực của CA và thuế quan, phải nắm vững chỗ nào, mắt trở thành nút và ngược lại. Thấy anh chàng Vân này tuy chưa có kinh qua về tình báo; chỉ do kiến thức thiên phú tự nhiên mà cũng tương đối sắc sảo, tôi khích lệ và bổ sung những chỗ tôi biết cho Vân.

Đi với Vân, tôi vừa học hỏi thêm kinh nghiệm lại có bồi dưỡng, bù đắp những ngày nắng hạn trước đây. Để thưởng thức một “pha” làm ăn của Vân, hôm đó sau khi trình diện xong, Vân và tôi ra Xa Cảng. Mối cũ của Vân, tôi ngồi sau xe Honda, ôm 900 bao thuốc lá ba số 5, trong một cái bao tải gạo cũ, luồn lách qua nhiều đường hẻm, đã đưa về nhà Vân an toàn. Theo Vân tiền lời của “cú” đó, có thể mua được một tạ rưỡi gạo.

Có lần cô Phúc một Honda, Vân đèo tôi trở lại thăm nhà hàng Thanh Thế, nơi 1962 tôi và bạn bè hay ra ngồi, vợ Vân bụng to; Hoa cũng bụng to nên phải ở nhà.

Đã mấy lần cô Phúc và Vân ca tụng một bà thầy tướng, ở một ngõ trong khu Đắc Lộ, nhã ý của hai người muốn mời tôi cùng đến xem một lần để thẩm định, tôi đều từ chối, phần vì tôi sống bằng sự nỗ lực, của chính bản thân tôi. Hơn nữa, mỗi lần xem giá 30 đồng cho một người, đành rằng do Vân và cô Phúc trả; nhưng tiền của ai thì cũng là tiền. Nếu có một chút ý thức tự trọng, thì tiền của người khác, cũng ý nghĩa như tiền của mình.

Tôi đã đánh giá Vân là người khá sắc sảo, bén nhậy, mà còn ca ngợi cô thầy tướng, nào là: không phải ngẫu nhiên mà nhiều người ở xa đến xem tướng phải nằm chực, nằm chờ vì vào nhưng giờ cô thầy không coi, hoặc vì đông quá v.v… Những người từ Lục Tỉnh lên, người từ Thanh Hóa, Nghệ An vào, anh cứ đi đến xem anh có “oversea” được không? Tôi đã từ chối nhiều lần, đưa ra nhiều lý do, không hiểu sao Vân và cô Phúc lại muốn tôi cùng đi xem?

Hơn một tuần sau, Vân cho biết, hôm qua cô Phúc và Vân đã đi xem rồi, bà thầy nói như người quen biết từ lâu với mình, biết rõ quá khứ, tương lai của một người. Một tuần có hai ngày bà không xem, dù trả gấp đôi hay gấp ba; đó là thứ Ba và thứ Bẩy. Tôi hỏi, thế Vân có hỏi tại sao bà thầy, lại không xem hai ngày ấy? Bà thầy đã nói: Bà cũng muốn coi, vì khách chờ lâu, nhưng bà nhìn được vận mệnh của người khác là do lộc, do ý của Thánh. Thánh đã dậy, bà chỉ biết tuyệt đối vâng lời!

Đến đây thì tôi đã hiểu Vân muốn tôi đi coi, một người đã đi tù hết cả tuổi xuân trong nhà tù, xem bà ta có biết không? Vả lại theo Vân, tôi cũng có những nhận xét tương đối về tướng số và bói toán. Thực sự tôi không hề biết về những món tướng số, tử vi, bói toán. Những năm tù ở trại trung ương, do tiếp xúc với một số thầy tướng, thầy ngải, thư, ếm bùa người dân tộc, người Kinh đều là loại danh tiếng, có cỡ Cộng Sản mới bắt vào tù. Tôi tiếp xúc với các vị, chẳng có một chủ trương gì, ngoài cái tính tò mò, và cũng tùy tiện, nghĩa là gặp chăng hay chớ, chứ chẳng để tâm làm gì.

Tôi lại chợt thoáng nhớ tới ngày 30-4-1975, những tờ báo Cộng Sản tha hồ huênh hoang nhiều chuyện, có một chuyện đăng ngay trên tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân. Chúng còn ra rả đọc ở trên đài phát thanh, khi chúng vào tiếp quản Dinh Độc Lập, một tổ ba người (tôi không nhớ tên), được lệnh đặc biệt lục tìm những tư liệu mật và tài sản giấu đút của Nguyễn Văn Thiệu. Chúng đã thấy ngay ở đầu giường của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, có ba quyển sách quý: Một cuốn về tướng số của con người, hai cuốn kia là tử vi phong thổ, nổi tiếng của thế giới và miền Nam.

Ngay ở trong tù, anh em chúng tôi nghe đến đấy, đều ồ lên cười đùa? Nhiều anh em tù miền Bắc đã nói: “Chắc ông Thiệu không chịu nghiên cứu kỹ, nên đã phải chuồn đi từ ngày 16-4″. Hầu hết những biệt kích chúng tôi đều cúi xuống, để tránh mắt mọi người.

Về vấn đề tâm linh, tín ngưỡng nó cũng có những cái chung: Cuộc sống càng cơ cực, lầm than; thất bại tràn lan, mạng sống quay cuồng trong bão tố, thì con người càng tìm đến thần linh để cứu giúp, che chở. Ngược lại, cơm no, áo ấm thừa thãi, muốn cái gì cũng đạt theo ý mình, thì càng lửng lơ xa lìa thần thánh. Dưới chế độ Cộng Sản vô thần, chúng coi thần thánh là kẻ thù, chúng đả phá tiêu diệt. Nhưng người dân quá cơ cực đói khát, thiếu thốn lầm than nên họ càng tìm đến, với thần linh.

Nó trở thành mâu thuẫn đến vô lý, của hai hệ thống xã hội. Thế giới tư bản tự do, hữu thần: Người dân thờ ơ, coi thần linh tôn giáo như một hình thức trang trí, làm cảnh. Thế giới Cộng Sản độc tài vô thần: Người dân thành kính đến với thần linh, tôn giáo, coi thần linh, tôn giáo như một cứu tinh của đời họ. Tôi nhớ đến một chuyện tướng số, thời gian tôi ở tù: Có một giai đoạn, khoảng 1969- 1971 ở trại trung ương số 1 Lào Cai.

Giai đoạn này tôi mới lên trại, chưa có tay nghề mộc khá, để có thể có năng suất kiếm một vài đồng, mua thuốc hút. Một đêm tôi nghĩ ra một cách “ma giáo” để kiếm thuốc hút. Tôi hiểu con người ta có nhiều cái riêng, nhưng cũng có nhiều cái chung. Anh thấy cái đó đẹp, người khác cũng thấy cái đó đẹp, anh thấy ăn cái đó ngon, người khác cũng thấy ngon. Trong cuộc sống anh sợ hãi cái đó, người khác cũng sợ hãi cái đó vậy v.v. ..

Phải chấp nhận: muốn kiếm tiền, hay sống bằng nghề nghiệp gì cũng phải mất tâm trí, công sức về cái đó, ít hay nhiều tùy theo. Nghề bác sĩ thì phải mất nhiều tâm trí, công sức hơn (học nhiều hơn) nghề sửa xe đạp. Chuyện tôi chỉ cần kiếm điếu thuốc hút ở trong tù, nên chỉ cần suy nghĩ qua loa một chút: Tìm một số điểm chung của con người, mới thoáng nghe lại tưởng là cái riêng. Phải khoét sâu vào tâm lý, và cũng phải biết chế ngự, giới hạn.

Tôi nói chuyện với mấy bạn nằm bên cạnh: Ngày xưa, nhớ hồi còn học trung học (tất nhiên ở Sài Gòn), do tình cờ tôi đọc được một cuốn sách của Pháp nhan đề: Định mệnh con người (L’ homme et sa destinée), tôi thấy họ vẽ những bàn tay với những đường chỉ tay, của mỗi người khác nhau. Từ những đường, những điểm khác nhau này, để người này có cuộc đời khác với người kia (ai mà chẳng quan tâm đến ngày mai của cuộc đời mình). Cuốn sách này được giới thiệu là của “Hội nghiên cứu về số phận của con người do một nhóm giáo sư đại học biên soạn”.

Mấy anh ngồi cạnh đều xôn xao giơ tay, để xem cuộc đời mình ra sao? (ở tù thì đời anh nào chả bế tắc). Tôi lửng lơ, tỏ ra không muốn mất thì giờ, vào những chuyện vẩn vơ, để rồi tôi đưa ra điều kiện: Thôi bây giờ thế này, tôi thì không biết gì về tướng số, tôi nhìn tay bạn, nó giống như trong sách điểm nào thì tôi nói theo: Chuyện tương lai thì chẳng ai kiểm chứng được, vậy chỉ là sự việc đã qua và hiện tại. Nếu tôi nói ba điều, mà các bạn không thừa nhận là đúng, thì tôi không xem nữa. Ngược lại, nếu bạn thừa nhận là đúng thì tôi phải được thường một điếu thuốc lá, hoặc là ba điếu thuốc lào? Ai đồng ý thì tôi bắt đầu! Nhiều anh đưa tay lại tôi đồng ý.

Tôi cầm tay một anh, mặt tôi tỏ vẻ mô phạm, đăm chiêu, xoay ngang, xoay dọc, xem từng đường chỉ tay: Đường đời, đường học vấn, đường tình duyên, miệng lại nói tiếng Pháp như minh giải. Rồi nói như quyết đoán theo sách: “Bàn tay này nội tâm rất nặng!” Anh đó hơi ngơ ngác chưa xác định được; tôi nói thêm thí dụ: Bạn gặp một sự việc, một người quen mới, một chuyển đổi mới v.v. . . Người khác chỉ nghĩ đến một chút rồi quên đi, bạn thì cứ vẩn vương trong óc, có khi đến đêm còn nhớ lại, anh ta xác nhận là đúng!

Tâm lý bị đánh lạc, hay bị dụ, bị mê hoặc là sách của Pháp. Tỉnh táo sẽ thấy đây là cái chung, của mỗi người. Câu thứ hai: “Lạ thật! Bàn tay này nặng tình với người thân hơn, là người thân đối với mình”. Người thân có nghĩa là cha mẹ, anh em, vợ chồng, bạn bè v.v. . . Nghĩ một lúc rồi anh ta thừa nhận là đúng! (cái này có đo được đâu nên thế nào cũng đúng). Sau khi được thừa nhận hai câu là đúng, tôi lại ngó nghiêng bàn tay, thậm chí phải kéo ra chỗ sáng, rồi nói như quyết đoán: Cứ những gò “thiên chường”, rãnh “nguyệt đàm” của bàn tay này, thì sách nói là một người có ý chí mạnh, làm bất cứ việc gì đều quyết làm cho xong; chỉ bất đắc dĩ chứ không muốn nhờ vả ai cả.

Người thì tôi nói: “bàn tay này có một lần tường chết, nhưng lại hóa giải được”, vì có một âm hồn phù trợ. Anh này suy nghĩ cho kỹ, 30 – 40 tuổi ai mà chả một lần thoát chết? Kể cả lúc mới đẻ v v. Nhiều người cùng nghe, và tôi tiếp tục có thuốc hút, mà hút một cách không phải đi xin. Người này bảo người kia, sang cả những buồng bên cạnh. Tâm lý của người đời, khi muốn ca tụng, thì cứ mở thêm ra. Lúc đó tôi lại quy định giờ xem, vì tôi đã có đủ thuốc hút, không cần mấy nữa. Vả lại, phải tỏ ra kênh kiệu như thế, nó mới càng có giá, người ta càng tin.

Nếu tôi chủ trương để kiếm sống bằng nghề “Ma giáo” này, thì phải dày công nghiên cứu, sưu tra như một nghệ thuật, rồi nghề dậy nghề, do thời gian càng điêu luyện. Như tôi đã nói từ đầu, đây là do “ma giáo” của tôi, phần vì tôi đã kiếm được cách có thuốc hút, vì tay nghề (mộc) khá hơn nên có năng suất. Phần khác là chính tôi, không cho phép tôi làm những việc như vậy nên tôi đã dứt khoát, không xem cho ai nữa.

Thế mà giờ đây Vân, lại muốn tôi đi xem tướng cái cô ở Đắc Lộ. Nể tình của Vân, một hôm tôi đồng ý để chiều lòng người bạn trẻ, và cũng xem trình độ, của cô thầy tướng Đắc Lộ này cao đến đâu, để hiểu biết thêm. Thế là một buổi hẹn, Vân và tôi, phóng chiếc Honda đến khu Đắc Lộ để gặp cô “Thầy”. Tôi đã giao hẹn Vân “để tôi hoàn toàn tự do, không được nói một tí gì về tôi cả”. Vân đồng ý, vì Vân muốn tôi đi, Vân phải chịu điều kiện của tôi.

Vào một căn hẻm, đến nhà cô thầy, bên ngoài có 7- 8 chiếc Honda và Mobylette xếp dựng theo hàng, 4- 5 chiếc xe đạp ở một góc. Căn nhà lợp tôn, hai buồng xây gạch và một buồng nhỏ vách gỗ. Trong nhà phía gian nhà gỗ, đàn ông, đàn bà lố nhố hơn một chục người nằm, ngồi. Qua dáng dấp và vài hiện tượng kết hợp, tôi đã hiểu là những người khách chờ cô “thầy” xem tướng ở những nơi xa về. Có một bà hơn bốn chục tuổi ghi sổ sách và điều hành đám khách hàng chúng tôi, thay cho cô “thầy”.

Căn nhà cũng như những nhà khác trong xóm, không có một miếng giấy hay tấm bảng nào, ghi là chỗ hành nghề của cô thầy. Vân dựng xe xong, bước vào trong nhà. Chúng tôi phải đến ghi tên chỗ cái bàn con, theo bà điều hành nhắc nhở, rồi bà ta dẫn đến một buồng xây phía trái. Dù có một tấm liếp che, tôi vẫn nhìn thấp thoáng thấy những người phía bên căn nhà gỗ.

Chừng nửa giờ sau, có tiếng xôn xao của mấy bà bên ấy: “Cô thầy đã tới!”. Tôi, Vân đứng lên, ngó ra, một cô chừng 29-30, mặc chiếc áo khoác mầu xanh đậm, tóc quăn bồng cao phía trước. Đôi mắt sáng, sắc như dao cau, một đứa bé gái chừng 10 tuổi, ôm cái tráp đi phía sau, từ phía trái căn nhà gỗ đi ra. Ngay từ xa tôi đã thấy mắt cô ta như điện, đã nhìn sang khắp chúng tôi, nhưng khi đi gần tới, lại coi như chưa nhìn thấy chúng tôi. Trong lúc nhiều người đứng lên lễ phép trang trọng chào cô thầy, tôi thoáng thấy một tên “áo vàng” đã đứng tuổi, cũng từ phía sau căn nhà gỗ đi ra, rồi rẽ vào một hẻm khác.

Tôi chợt nghĩ như thế CA và cô “thầy” phải “ăn có” với nhau, thì mới có số người lạ, nằm đêm tụ tập mới ổn được. Đột nhiên cô “thầy” chen vào giữa mấy ông bà bên căn nhà gỗ, cô chỉ tay vào một ông mặc chiếc áo sơ mi mầu gụ có cầu vai, giọng của cô thầy sang sảng: “Chuyến này, ông không đi được! Nguy hiểm tính mạng! Hôm nay tôi không xem cho ông, sang năm trở lại đây!”. Nói rồi cô “thầy” đẩy cửa đi vào căn buồng giữa. ông sơ- mi mầu gụ mặt trắng bạch, chới với định hỏi gì, nhưng cô “thầy” đã đóng cửa rồi. Tôi và mấy người xô đến hỏi han: Được biết, ông đó từ Vĩnh Long lên chiều hôm qua, đến nhờ cô thầy xem chuyến này đi có trót lọt không?

Điều lạ kỳ là; ông ta chưa gặp cô “thầy” mà sao cô đã biết là ông định đi “vượt biên” và còn nói đi không được, nguy hiểm nữa? Càng bàn tán thì sự việc càng thấy ly kỳ hơn, uy tín của cô “thầy” càng được dàn rộng và càng ngấm thẩm vào bên trong số người này. Trong lúc bà quản lý gọi một số người trước vào buồng cô “thầy”. Vân cứ trừng trừng nhìn tôi, miệng mỉm mỉm như muốn nói: “Anh đã thấy cái tài “thần thông” của cô thầy chưa?”.

Tôi không thể có ý kiến trong trường hợp này, hơn nữa công sức và thời gian đâu, để chuyện trò tìm hiểu với cái ông áo “sơ-mi mầu gụ” để hỏi ông, từ hôm qua ở đây ông đã nói chuyện với bất cứ ai về chuyện ông định đến xem về chuyện ra đi của ông? Không kể lý do, giai đoạn này, nếu không nói là hầu hết thì cũng chiếm đa số, những người đến đây xem tướng số, đều phải tính đến ít nhiều, về chuyện vượt biên? Điều đáng để ý là tại sao cô “thầy” phải làm cái kiểu “muốn tỏ tài” “thần thông” trước nhiều người?”.

Đến lượt tôi được gọi vào, từ đầu Vân đã giới thiệu Vân với tôi là hai anh em ruột, Vân đã xem rồi, thấy hay, thấy đúng nên về đưa ông anh lại coi. Nhân dịp người anh là tôi, mới ở trên trại định cư Cái Sắn về Sài Gòn chơi, do đấy cả hai chúng tôi đều được vào căn buồng giữa.

Mở cửa đã thấy mùi hương nhang ngào ngạt. Hơi đặc biệt, một bàn thờ đơn giản có bát nhang khói bay nghi ngút, trên có hai tấm tranh thờ, một là đức Trần Hưng Đạo, và một là ông Quan Công ở bên Tầu. Cô “thầy” ngồi bên trong một chiếc bàn con, đôi mắt long lanh như hạt sương trong ánh đèn. Theo ý tôi, Vân dẫn tôi đến chào cô “thầy” giới thiệu: “Đây là anh trai mới xuống chơi” rồi sang cái chõng tre phía vách bên kia ngồi.

Từ lúc vào, tôi như người có bệnh kinh niên, tôi vẫn vịn vai Vân, dáng đi và cử chỉ tỏ mệt mỏi, chậm chạp. Cô có cái thước nhôm 1/ 2 hình tròn có phân, ly để đo những đường chỉ tay, mặc cô đo tôi cứ nói chậm rãi:

– Tôi bị té từ trên mái nhà, gãy một xương sườn, một bên lá lách vỡ nát, tường chết. Bạn bè tôi đều nói, chỉ ở ngoại quốc mới chữa được bệnh của tôi. Tôi liều sẽ đi “vượt biên” tôi nhờ cô xem, có đi được không? Chết thì tôi không sợ (bệnh này chết khỏi đau đớn), nhưng tôi sợ nhất là ở tù, cô chú ý xem cho, bàn tay này có phải ở tù hay không?

Tôi cứ thủng thẳng nói, trong lúc cô đo, cô xem tay tôi. Để hỗ trợ cho việc đánh lạc hướng, tâm lý cô “thầy”; tôi ngoái sang chỗ Vân, hỏi nhẹ:

– Chú Vân ơi? Có phải tôi té, từ tháng 7/1973 phải không? Tôi chẳng còn nhớ năm nào?

Tôi hỏi như vậy, có nghĩa năm 1973 tôi vẫn ở miền Nam. Cô “thầy” đã thấy tôi lo sợ nhất là ở tù, cuối cùng cô đã nhấn mạnh để tôi tin tưởng:

– Không phải ở tù, chuyến đi trót lọt! Tương lai sẽ gặp nhiều thuận tiện, đời tôi ăn về hậu vận v.v. . .

Để xác định rõ ràng, tôi nói to cho cả Vân cùng nghe:

– Thưa cô, cô xem kỹ lại, bàn tay này có bị ở tù không?

Cô nói khẳng quyết là “không”.

Tôi còn “láy” lại:

– Có nghĩa bàn tay này không bao giờ sợ phải vào tù?

Cô nhìn tôi một lúc, rồi gật đầu, tôi vui ra mặt, thấy tương lai của mình như sáng sủa ra.

Vân hôm nay ra về, nét hả hê đã dàn đầy trên khuôn mặt. Dắt Honda ra tới ngõ, Vân còn ngoái lại nhìn căn nhà của cô “thầy” rồi quay lại nhìn tôi. Đôi mắt của Vân hấp him lóa ra mầu hoàng kim, cái mầu chắc nịch của tâm hồn. Tôi chẳng hỏi, nhưng tôi nghĩ rằng Trần Vãn, chẳng còn trở lại để gặp cô “thầy” nữa.

Trên đường về Vân có nhã ý hỏi tôi: Muốn ăn bất cứ món gì Vân sẽ phải ăn theo. Để đáp lại tôi, đã chiều theo ý của Vân, vừa lúc ấy Honda đã về ngang Ông Tạ. Cái mùi chả “Chó” nó phả ra đầy đường, từ ngày về tôi chưa một lần thực hiện được một ý thơ, của một người bạn tù:

Đã là trai…đất Bắc

Phải biết…… lúc ………lắc ………với ………..chả cầy.

Một cái chồi “hứng” đã ngỏng lên trong lòng, tôi đã đồng ý vào một hiệu “Cây Còn” gần chéo Ngã Ba ông Tạ. Tôi và Vân cùng tương đắc cái món “nghiền” của dân nhậu Bắc Hà, nên đã thả lỏng lòng thưởng thức “Mộc Tồn”. Cái món mà nhiều thế hệ cha anh, đến chết còn phải băn khoăn:

Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó.

Chết xuống âm phủ, còn có hay không?

Hôm nay tôi hân hạnh gặp cụ Lưu Linh nữa, nhưng tôi chỉ dám tiếp “cụ” xã giao, vì tôi còn phải gặp cô Ngọc Anh 7 giờ, và còn phải họp tổ dân phố, 8 giờ tại nhà ông trùm Lộc.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by7y Sơn râu 9 Nov 2023

Ra khơi lần thứ hai

Đặng Chí Bình

Bài 40

Gặp lại nhau, thật là vui, nhưng cũng chỉ là ly nước mía, hay nước chanh là hết cỡ. Tôi cũng đã mời Tuấn Nguyệt lại nhà tôi, và tôi cũng đã lại thăm nhà, chào ông bố của Nguyệt. Đều tự hiểu là chẳng có cơm nước gì, dù chủ nhà có muốn mời cơm, cũng không có khả năng. Qua Tuấn Nguyệt tôi biết thêm một số anh em khác, cũng đã được tha như Mạc Lịch, Tâm Bột, Trần Thế Khải, Kiều Duy Vĩnh .. Từ đấy thỉnh thoảng Tuấn Nguyệt ghé lại nhà tôi chơi, cũng như một số anh em Biệt Kích vậy. Người này liên hệ thăm hỏi để biết người kia.

Sang đầu 1982, số Biệt Kích càng ngày càng được về nhiều. Ngay trong anh em BK hầu như không có ai trong hoàn cảnh và điều kiện như tôi. Họ không có bố mẹ già mù lòa, họ không bị ràng bố và phải trình diện mỗi ngày như tôi. Nhiều anh em BK được tha về, hầu như ai cũng phấn chấn ra mặt, riêng tôi hẩm hiu lại xin trở vào trong tù.

Hôm nay tôi đi làm về đến nhà, Hoa bảo sang mẹ gặp, buổi trưa cậu Tập đến gặp mẹ lâu lắm! Tôi vội sang bên bà nhạc, cậu Tập cho biết: tối nay, 8:00 tôi phải sang nhà cậu ngủ, để sáng sớm mai có xe đón ra Vũng Tầu. Tôi vội về lo toan chuẩn bị những thứ cần thiết. Tôi trèo vào mùng thầy tôi, thấy tôi vào, người lồm cồm bò dậy, tôi đã ôm lấy thầy tôi và thì thào:

– Xin thầy giữ gìn sức khỏe, thầy cầu nguyện cho con đi được trót lọt.

Tôi đã bước chân xuống giường, tôi chợt nghĩ: “có thể rồi đây thầy tôi chết, hay tôi chết chả còn gặp nhau nữa, tôi đành lỗi đạo làm con”. Tôi quay lại ôm lấy thầy tôi thật lâu, như muốn nói thầm với người như vậy.

Tôi lại vào giường mẹ tôi, mẹ tôi đã hiểu chuyện từ lúc tôi chưa đi làm về, mẹ tôi cầm tay tôi, vuốt tóc tôi, người nói trong nước mắt:

– Mẹ muốn con ở bên mẹ, nhưng mẹ lại cầu xin cho con đi bằng yên! Con phải thương vợ của con, nó cũng đứt ruột để chồng ra đi!

Tôi ngồi ôm mẹ, gục đầu vào vai mẹ im lặng cho nhiều nỗi niềm, chảy ra theo dòng nước mắt. Biết bao nhiêu chuyện phải nói, phải dặn dò mẹ, nhưng tôi chỉ nói được với mẹ, một lời:

– Tất cả mọi sự, con xin dâng và vâng theo thánh ý Chúa!

Cũng như với thầy tôi, sẽ chẳng còn hy vọng gặp lại mẹ nữa. Mẹ tôi thì già yếu, bất cứ lúc nào người ra đi, còn tôi thì trăm thứ bấp bênh trước mặt. Tôi đi trình diện rồi tôi và Hoa đèo nhau sang nhà cậu.

Tôi đã dặn kỹ mẹ và Hoa, từ sau 7 giờ chiều mai cho tới ngày hôm sau, nếu cô công an Ngọc Anh có đến hỏi tôi, thì đều nói: Khoảng 5:30 chiều, người cháu ở Hồng Ngự xuống báo bà Hai Công sắp chết. Nó vội vàng chạy đến cô để xin phép, nhưng nói là không gặp cô, nên nó đã đi ngay với người cháu. Đại cương là cứ nói lửng lơ, không xác định, diễn tiến tuỳ theo để mặc tôi giải quyết! Trong thực tế tôi đã đi từ sau lúc trình diện, ngày hôm qua.

Buổi tối ở nhà cậu mợ Tập, tôi đã minh định với cậu mợ Tập: “Vợ chồng cháu xin ghi lòng nhã ý của cậu mợ . Về chuyến đi này cháu xin nói rõ: Nếu cháu chết ở biển cả, xin Chúa trả đền cho cậu mợ, hoặc trong muôn một vợ con của cháu có điều kiện nào, trang trải món nợ này cho cậu mợ. Nếu cháu đi đến nơi, cháu sẽ thanh toán đủ số vàng, mà cậu đã đưa cho họ. Không may mà cháu bị bắt, là phần số của cháu, còn liên lạc được với cậu mợ, vả lại cháu luôn nghĩ rằng: Nếu lòng cậu mợ tính toán như cháu vừa thưa, chắc chắn cậu mợ đã không nhường, chuyến đi này cho cháu”

Đêm hôm ấy, tôi ngủ với em Hòa, còn Hoa ngủ với mấy con gái của cậu mợ. Bốn giờ sáng còn tối đất đã có người đến đón, xe đậu mãi gần chỗ chợ cá cũ (Trần Quốc Toàn), Hoa bịn rịn cứ quấn quít bên tôi, tôi đã đèo Hoa ra tận chỗ xe đậu.

Cả một đêm, Hoa không chợp mắt được một phút, tôi cho một tay lại sau, cầm tay Hoa. Lòng tôi như sóng biển trong cơn giông, dạt dào, gào thét thương vợ và đứa con chưa chào đời. Trên xe đàn ông, đàn bà, trai gái đã có hơn một chục người. Tôi chẳng muốn người khác chú ý mình, tôi ngừng xe ở một gốc cây bên này đường, Hoa và tôi đã ôm nhau một lúc thật lâu, để rồi ngực và vai tôi đã ướt cả. Tôi khẽ xoa và vỗ nhẹ bụng vợ tôi, như nói thầm:

– Con ở lại nhé! Bố đi sẽ đón con đi sau!

Tôi đã lên xe và xe đã chạy, tuy trời chưa sáng hẳn, nhưng tôi nhìn rõ Hoa đang gò lưng lại, đạp theo chiếc xe tôi đang ngồi, để cứ mờ dần, rồi mất hút vào phố phường. Tôi nói như tự nói với mình: “Em ơi ? Có mệt không em? Cái bụng to, tròn như thế mà đạp xe khỏe thật! “

Hơn 2 giờ trưa xe mới đến đồn Cỏ May, vì chiếc xe còn đón một vài người nữa ở chợ Cầu Ông Lãnh, lúc sáng nay. Xe đi qua đồn Cỏ May, mãi đến một con rạch thì chiếc xe rẽ vào. Xe ngừng trước một đám nhà tranh, tôn như một xóm nhỏ của làng quê Mười lăm, mười sáu người lục đục kéo xuống, lúc đó đã hơn 6 giờ chiều. Họ dẫn vào một căn nhà lợp tôn vách gỗ, trong nhà chỉ có vài chiếc giường ọp ẹp. Một cái bàn mộc đã loang lổ mực tím, với mấy chiếc ghế đã thứt thẹo, do gánh nặng thời gian. Chiếc bếp nhỏ lợp rạ vẫn le lói ánh lửa, có một bà mặc nâu sồng, khăn mỏ quạ đang cời than, tỏ là một gia đình người di cư nghèo từ 1954. Mỗi người còn đang nhớn nhác tìm chỗ đứng, ngồi thì cái bà tóc quăn, mặc áo cánh trắng khi sáng đôn đốc người lên xe vào nói, và chỉ tay sang cái nhà bên cạnh:

– Mời các ông, các bà 6 – 7 người sang bên kia, cho rộng chỗ nằm!

Ồn ào một lúc, một số người quen nhau đã sang căn nhà lợp rạ. Trời tối dần, phần tôi đi ra ngoài quan sát địa hình, cảnh vật. Theo bà tóc quăn thì đêm nay ngủ ở đây, chờ thuyền lớn vào theo con nước, có thể 2- 3 giờ sáng chưa biết chừng. Có một cậu chừng 25- 26 tuổi, da bánh mật, đầu húi “cua”, ngay từ trên xe, cậu ta gặp mắt tôi, mặt cậu tươi lên, miệng cậu vừa như cười, vừa như mấp máy, mặt của cậu toát ra là một người hiền lành, chân thật.

Như tôi đã có chủ trương từ trước, tôi không muốn tỏ ra một hiện tượng gì khác thường, để người chung quanh để ý. Vì thế, tôi muốn làm quen với cậu lấm, nhưng tôi vẫn giữ im lặng, giữ nét mặt tư lự hợp lý như mọi người, đều nghĩ về gia đình, người thân của mình. Bây giờ thấy cậu giở ra một miếng nylon đen đã cũ, tìm một góc nhà, định trải ra nằm. Lúc cậu gặp lại mắt tôi, tôi đã mỉm cười như chào, rồi tiến đến chỗ cậu. Cậu đã ngồi dịch lại một chút như ý “xin mời”. Tôi đã ngồi xuống bên cạnh và khẽ hỏi:

– Cậu đi có một mình?

Cậu gật đầu và khẽ “dạ”. Tôi đã biết cậu người Nam, và chúng tôi đã quen nhau, cậu tên là Chánh, bố là sĩ quan cấp tá đi “cải tạo” ngoài Bắc từ tháng 7/1975 . Phần vì chẳng nên vội vàng quen biết lúc này, phần khác ai còn tâm hồn đâu, mỗi người đang đầy ắp, mối ưu lo cho mình.

Trời đã tối, góc này chỗ kia đã có người móc đồ riêng ra nhai, ăn nhóp nhép. Khoảng 8 giờ, bà tóc quăn đi vào, theo sau có một bé gái chừng 12- 13 tuổi, bê một rổ cơm đi vào, còn đang bốc khói và một chồng bát con. Mùi cơm chắc làm nhiều người chảy nước miếng, vì chính tôi, từ trưa chỉ có hai quả chuối tiêu, ở Biên Hòa, gần chợ Đồn khi xe nghỉ máy. Bà tóc quăn nói: “bà con ăn tạm bát cơm với cá khô”, nói rồi bà ta ra ngay.

Đã có kinh nghiệm trong tình huống này, nhiều người còn nhìn nhau ngập ngừng. Phải thực thi lời dậy của cổ nhân: “ăn cỗ đi trước lội nước đi sau”. Tôi kéo tay cậu Chánh ra, lấy mỗi người một cái bát xúc cơm, gắp mấy con cá “cơm” khô, rồi về chỗ, dùng đũa “trời” mà ăn. Miệng nhai nhưng đầu tôi phảng phất nghĩ suy: Đây là một hình thức nhà “ếm” người. Để đêm thuyền vào đón, hoặc người đón dẫn đi ra thuyền, nhưng họ tương đối tử tế, những người không có đồ mang theo là đói.

Trời lại tối đen như mực, khoảng 10 giờ, cũng đã nghe một vài tiếng “gáy” khọt khẹt đây đó. Tôi chợt nghĩ “cẩn tắc, vô ưu; lo xa thì không gặp khó khăn gần”. Nếu như CA họ đã ngửi thấy hơi, mình chưa hiểu “bến, bãi” mua hay giao thiệp thế nào nằm một “rọ” thế này, đêm CA đến vây là bắt gọn. Tôi quay sang “lay” vai cậu Chánh, nói nhỏ, trao đổi với cậu nội dung như trên, và tôi đã nói với cậu như một quyết định. “Thà chúng ta chịu khổ cực một chút, nhưng an toàn hơn”:

– Anh em mình ra chỗ bờ dậu găng, chui vào trong bụi nằm tạm chờ, nghe ngóng. Nếu họ đến đón thì chúng ta vào nhập bọn, còn bộ đội CA đến, thì chúng ta rút, lủi chạy!

Cậu Chánh đã đồng ý, nên đêm hôm ấy làm sao tôi chợp mắt? Tôi ngồi nghe ngóng tiếng đêm thâu, của không gian vùng Chu Hải Bà Rịa. Ngoài những tiếng lá cây xào xạc, tiếng dạt dào của sông nước xa xa vọng về, thỉnh thoảng có tiếng chó cắn, tiếng gà gáy của những xóm làng quanh vùng vẳng đến. Một điều tôi hơi lạ lùng, rõ ràng tôi nghe thấy mấy hồi cú “rúc” như tiếng oan hồn đêm thâu gọi “tử thần” của vùng Vũng Tầu, Bà Rịa. Tôi cứ tưởng đồng bằng hay ven biển, thì làm gì có tiếng cú kêu?

Dòng tư tướng của tôi trong bụi găng giữa đêm thâu, đã nhiều lần nhẩy nhót về Sài Gòn. Về người mẹ hiền mù lòa, bệnh tật của tôi, về người bố lẫn trí. Tự nhiên, tôi nắn tay, sờ chân xương thịt của tôi là truyền nhân của người. Về người vợ trẻ thương yêu cùng giai cấp nghèo, như tôi và về đứa con ngọc quý hơn sáu tháng vẫn còn nằm trong bụng (không biết trai hay là gái). Do một vài ngôi sao đêm to nhất nhòm xuống và ánh của chiếc đèn biển, từ một chiếc cột cao trên chỏm, cái đồi trọc phía trước, tôi đã nhìn thấy lúc chiều. Cảnh vật, nhà cửa chỉ còn mờ mờ trong trí tưởng là chính. Cậu Chánh thỉnh thoảng cựa quậy và thở dài, tôi thông cảm với cậu.

Tôi đã phải hàng mấy năm, đêm ngày trong cùm, xích, xê dịch, nằm, ngồi, trở mình, ỉa đái khó khăn bao nhiêu. Như thế này thì đã thấm tháp gì. Hơn nữa, gió mát lồng lộng, khí hậu trong lành. Như vẫn thường ăn cơm muối rang, nay được ăn với thịt cá. Sướng như cưỡi ngựa ấy chứ! Tôi chỉ có nhớ và thương bố mẹ vợ con, lẫn với một chút niềm lắng lo CA, bộ đội đến vồ. Tôi hiểu mình đã xin đi tù, giờ đây có bắt thì cũng đi tù, nhưng ở hai tư thế khác nhau rõ rệt.

Có tội bị bắt vào tù và tự nguyện vào tù đã thấy khác hẳn nhau, ngay ở trong lòng mình rồi. Nó khác ngay trong con mắt của mình, khi nhìn những tên cán bộ của trại tù.

Do mắt không nhìn rõ cảnh vật, nên đôi tai đã phải tăng tần số, để nghe tiếng động. Quá nửa đêm, có lúc trời lặng gió, tôi nghe thấy cả những tiếng giun, tiếng dế nỉ non chuyện trò, tiếng mấy con cóc cọ kẹ, gại lưỡi gọi trời mưa. Để rồi vừng Đông rạng dần, còn tôi lại hư đốn, chợp luôn vào giấc Nam Kha. Có lẽ, cái tần số cảnh giác của thần kinh, tự thấy tạm an toàn, nên đã thổi còi hụ tan giờ “giới nghiêm”.

Đến khi cậu Chánh đã lay vai, tôi mới bò nhổm dậy. Nhìn đồng hồ 4:30 như thế tôi cũng chợp mắt, được gần một giờ. Thảo nào, người tôi thấy sảng khoái hẳn lên, tôi chui ra khỏi bụi găng, rồi vẫy tay cho cậu Chánh. Tôi khẽ lách, nhẩy qua một luống rau dền cơm, vào phía sau ngôi nhà hôm qua, mọi người còn đang ngủ yên ắng! Có thể đêm qua ai cũng thấp thỏm, nên giờ đây đều hãy còn ngủ trả.

Tôi rủ cậu Chánh làm vài động tác thể dục buổi sáng. Trời trong xanh, nhưng cũng thật nhiều mây trắng, có chỗ mây chồng lên nhau lổm ngổm như những trái núi mầu xám bạc. Phía dưới những tầng mây, chỗ thì xám, chỗ thì mầu sữa đặc, nhưng phía trên thì trắng toát, thậm chí, phát ra hào quang rừng rực, có lẽ mặt trời đã mò lên ở chân trời phía Đông!

Dưới này thì ánh sáng nhàn nhạt, nhưng nếu những máy bay nào đi lên trên mây, thì vẫn thấy mặt trời nắng chói. Bầu trời vẫn còn những khoảng trống, không có mây. Mầu xanh, cái mầu xanh êm như lụa, tôi không có khả năng để diễn tả hết được cái đẹp kỳ diệu, cái đẹp hùng vĩ của bầu trời lúc này. Hẳn các quý vị ai cũng đã hơn một lần đã chiêm ngưỡng, bầu trời xanh mây trắng buổi sớm mai như tôi!

Cái mầu hài hòa kỳ vĩ lộng lẫy này, tôi đã nhìn thấy ở đâu? À đúng rồi cái mầu xanh của áo khoác ngoài Đức Mẹ Maria đồng trinh với cái mầu trắng của áo dài phía trong. Mầu xanh càng làm nổi mầu trắng và ngược lại, như mầu xanh của da trời với mây trắng, nó hài hòa, nó bao dung, và linh thiêng mãi mãi.

Người tôi đờ đẫn ngắm trời xanh mây trắng như xuất hồn, một tiếng trong vắt kéo dài rồi rung lên như phím tơ: Tì…tì….te te . . . . .té té . . . . . . .của một con chim lạ đậu trên cây bưởi Biên Hòa phía trước cổng. Tôi tỉnh hẳn, quay lại cậu Chánh cũng đang dõi mắt về phía tiếng chim lạ. Không ngờ cũng có người say mê như mình, tôi kéo tay cậu len lén nép vào dậu găng. Mò gần đến cây bưởi, hình như con chim càng kêu hót nhiều kiểu, như ca ngợi bầu trời êm ả sớm mai, vùng Chu Hải Vũng Tầu?

Chả lẽ nó liếc nhìn thấy hai chúng tôi, đang lò dò đến gốc cây bưởi, nên biểu diễn thêm khúc nhạc mê hồn?

Tôi đã nhìn thấy rồi? Đúng là con chim lạ, tôi chưa hề nhìn thấy bao giờ, mỏ trắng, đầu và cổ đỏ chót, hai cái cánh mầu cánh chả ấp lấy cái thân mầu trắng, đặc biệt, cái đuôi tím sậm, dài ngoẳng. Mỗi lần cất tiếng hót….tí tí ..tẹ….tè…tè tè…thì cái đuôi lại quay ngang, rồi ưỡn lên một cái.

Tôi và cậu Chánh đều ngây ngất, không dám cả thở mạnh sợ động, nó bay đi, làm sao có điều kiện, hoàn cảnh để gặp lại con chim ấy lần thứ hai? Thoáng bóng cô bé bưng rổ cơm tối hôm qua, đi về phía chúng tôi, tôi đã định chạy lẹ ra kéo cô bé vào bóng cây găng, nhưng không còn kịp nữa, con chim khỏa cánh bay sâu vào vùng Hải Sơn. Nó bay đi, vẫn còn hát tiếp tẹ tẹ … tí tí…. tè tè…. Cô bé cũng thoáng thấy con chim bay đi, và chúng tôi vẫn còn ngoái nhìn theo. Cô bé cũng nhìn theo con chim, nhưng miệng thì lại hối hả:

– Các chú vào để chuẩn bị ra xe?

Nhìn đồng hồ mới 5: 15, tôi và cậu Chánh đều tự hiểu, là chuyến đi đã trục trặc không thành. Bà tóc quăn căn dặn: cứ hai hay ba người một toán đi cách xa nhau, lần lượt trở ra tỉnh lộ, tự túc đón xe trở về Sài Gòn. Chuyến đi không được hôm nay, bà ta không nói lý do, nếu có ai hỏi thì tùy theo mỗi người là ra thăm bạn bè, bà con ở Chu Hải hay Hải Sơn v.v. . .

Với tôi thì sự việc đã tương đối rõ, để khỏi những rắc rối bất ngờ. Tôi đeo chiếc tay nải cố hữu theo những hướng, đường tôi đã biết để trở về. Tôi định quay vào rủ cậu Chánh cùng về cho vui, nhưng khi tôi vào trong nhà, chả thấy cậu ta đâu. Một mình tôi trở về Sài Gòn, để sớm gặp lại bố me, vợ, và con (còn trong bụng).

Trong lúc ngồi xe trở lại thành Đô, tôi nhớ đến cậu Chánh, rất tiếc do những tình huống đặc biệt, nên tôi đã không hỏi để biết cậu ở đâu, và bố của cậu bị ra Bắc tên là gì? Với cái nhìn một vài thái độ của cậu, tôi hiểu là sáng hôm sau cậu cũng đã biết chuyến đi ấy, chẳng có tầu, thuyền gì cả. Nhưng hiện nay, là người tị nạn trên xứ người, do những đẩy xô của dòng đời sau 22 năm (1982- 2004) tôi đang ngồi lần giở lại một quãng đời trong hố thẳm của thời gian, không biết bây giờ cậu ở đâu? Như thế nào? Còn ở trong nước hay đã ở hải ngoại? Nếu cậu còn hiện hữu, chắc cậu cũng không thể quên được cái đêm hôm ấy, chúng ta trong bụi cây găng già và con chim lạ vùng Chu Hải, Bà Rịa?

Hai giờ chiều hôm ấy tôi đã trở về đến nhà, mẹ tôi cho biết cô Ngọc Anh 8 giờ tối qua đã đến đây tìm con, mẹ đã nói như lời con dặn, cô ấy dặn:

– Hôm nay con về phải đến cô ấy ngay.

Tôi tranh thủ tắm rửa, thay quần áo rồi phóng xe sang tổ mộc Thành Công, ông Huỳnh đã từng là đặc công của Sài Gòn, qua nhiều lần tôi trao đổi. Phần vì thực tế, từ sau khi miền Bắc đã chiếm được miền Nam cho tới nay, ông ta đã nhìn rõ một phần sự thật. Phần khác với những cái hiểu biết của tôi, ông ta thắc mắc, nghi hoặc chưa rõ điều gì; tôi chỉ cần trình bày sự thật, chính điều này, ông Huỳnh đã dần dà có thiện cảm với tôi. Đến nay, ông sẵn sàng giúp tôi trong điều kiện của ông. Tôi sang gặp ông, trình bầy tôi phải đi Hồng Ngự đột xuất thăm bà chị v.v . . . Đến nơi, bà chị đã gặp được bác sĩ ở bệnh viện Tam Nông giải quyết đúng phương pháp, và cho thuốc đúng bệnh nên đã khỏe lại chờ ngày cho trở về nhà v.v …

Tôi cũng xin ông cấp cho cái giấy xác nhận, tôi có đến xin ông nghỉ, để đi Hồng Ngự. ông Huỳnh còn giúp tôi là CA phường 7 Phú Nhuận, xác nhận trưa nay tôi đã về lao động tại tổ mộc. Có giấy này, thì dễ dàng nói chuyện với cô Ngọc Anh.

Trưởng CA phường 7 là bạn thân của ông, từ những ngày hoạt động trong nội thành. Tôi đã chuẩn bị những giấy tờ cần thiết, chuẩn bị cả tư tưởng cho một ngày thiếu trình diện, để đến gặp cô Ngọc Anh. Gặp cô, sau khi đưa hai tờ giấy của tổ mộc Thành Công và của trưởng CA phường 7 Phú Nhuận cho cô. Tôi tưởng sẽ phải trả lời những câu hỏi hạch sách và thái độ lôi đình của cô như mọi khi, nhưng cô đã không hỏi han, hay thốt một lời. Mắt của cô nhìn tôi vài giây như đọng lại, mi mắt của cô hơi hạ xuống, rồi lại từ từ giương lên như nhìn một bến sông chiều muộn, gần cửa biển lộng gió. Nhìn cô ký cho tôi cả ngày hôm qua, tự nhiên một nhánh tư tường ngông cuồng, của một người trai tạt ngang, tôi gọi khẽ:

– Cô Ngọc Anh!

Đôi mắt mầu lam nhạt quay, quét khắp người tôi, rồi đọng lại như đóng cọc nơi cổ tôi. Con ngươi của cô chuyển dần thành mầu nho chín, trong nắng chiều giữa hạ, tiếng nói thập thò như muốn lôi kéo, mùa thu về của tôi.

– Tôi muốn . . . . .bắt tay cô!

Con ngươi của cô tròn lại, rồi dẹp ra khép lại, tay cô như đầu con sẻ tơ, ngước mỏ lên, rồi tiến dần về phía tôi. Tôi đã đường hoàng nấm chặt lấy đầu con sẻ, như một lời cảm ơn. Tôi đứng dậy ra về, với một hơi thở ra thật dài.

Trên đường về, những ánh đèn trong những ngôi nhà lồi ra thụt vào, như những chiếc lưỡi trắng vàng, lè ra ngoài con đường hẻm. Cảnh vật mập mờ như dáng hình của mấy sơn nữ, vừa ngụp lặn trong dòng suối mơ, đang thay đồ bên triền dốc, một ngọn đồi có nhiều sim tím. Chân bước thấp, bước cao, có lúc nhẹ “hẫng” như vừa nhắp một men rượu lạ, chưa một lần hít hơi.

Nhưng một mùi hương ngọt ngào quen thuộc, đã xồng xộc chui vào khứu giác, làm cho tôi ngơ ngác đến lạ lùng. Càng bước tới, cái mùi ngọt ngào, ngây ngất đã nhiều lần kéo, lôi tôi vào động hoa vàng, càng đặc quánh lại. Để rồi hai cánh tay mềm tròn lẳn, đã vòng xiết chặt lấy cổ tôi. Mùi hoa thiên lý đang thì, của làn tóc huyền óng ả của em Hoa, đã vít chặt hai lỗ mũi của tôi. Lạ quá! Có bao giờ em ra đón tôi ở mãi ngoài này?

Bữa cơm hôm nay có mấy món lạ, chẳng hiểu em tôi xoay xở ở đâu, như một chút lòng của người vợ mừng đón người chồng của mình trở lại, và hẳn cô nàng cũng tự hiểu, sẽ có những giờ phút nắm tay nhau nhún nhẩy vào thăm động hoa vàng!

Một bát canh hoa bí đỏ nấu lẫn với mấy ngọn bầu, em xin ở nhà cô bạn trong xóm Nghĩa Hòa, một dĩa trứng vịt tráng, già lửa vàng ngậy thơm ngứa cả mũi, từ khi tôi bước vào nhà. Do Hoa lỉnh về nhà, xin mẹ được một quả trứng, bữa cơm hàn huyên đầy ắp nghĩa tình phụ mẫu, phu thê, tường rằng chuyến đi sẽ khó lòng gặp lai.

Đôi mắt em Hoa, nhìn như chà xát, như dội nước nóng vào cái tay cầm đũa của tôi. Có thể Hoa nhìn theo ý riêng của Hoa, nhưng tôi có cảm tường cái tay ấy rát ràn rạt, vì dám cầm vào tay của một cái vòi của con Hồng Tuộc? Tôi lên gân, nắm chặt cứng lại, như nắm chặt cái vòi, bắt nó co lại, rụt hẳn vào, để đợi ngày.

Con của tôi, chẳng có cái gì để bồi dưỡng, nhưng cứ mỗi ngày mỗi lớn, nó làm cho cái bụng của mẹ nó gồ cả vạt áo lên. Hôm nay lĩnh lương, tôi đã ghé đến hàng bà Thản, bán trứng vịt lộn Hiền Vương. Đã từ lâu, từ ngày có vợ tôi đến bà mua trứng “bồi dưỡng” thường là bốn hột. Hôm nay, tôi lại bảo bà lấy cho năm cái bà ngước mắt lên, quét ngang vào mặt tôi một cái, như đàn cò đêm, cả vào mặt chị Hằng. Tiếng nói rặt vùng Cai Lậy, của bà reng rẻng cất lên, như tiếng nồi cám heo sôi già:

– Bữa nay sông Bến Nghé nước chảy ngược dòng, cậu đòi những hai?

Chẳng muốn thanh minh với bà Thản, nên tôi chỉ mỉm cười để bà tự thưởng thức câu nói đùa vui của bà. Thẳng người, khoan thai cỡi lên “ông già” lắm mồm, để rong ruổi về Nam Hòa. “Ông” này đã kêu ca cọt kẹt hơn nửa tháng rồi, nhưng tôi vẫn khuyến khích” ông” hãy chịu đựng, tôi chưa có thời gian và cũng chưa có tiền mua bốn cái má “thắng” và lau dầu. Đã từ lâu tôi đã gọi là “ông” vì tuổi đời như tôi hoặc hơn, một “ông” có phí phách, dù cũng phải thiếu thốn ngược xuôi, tần tảo hết lên Quận, xuống Phường như tôi để trình diện với các cơ quan quản lý. Dù mưa dầm hay bão giật “ông” cũng lần mò đi trong nước bùn, cống rãnh ngập tràn, dù cho nắng rách vai, đỏ tóc “ông” vẫn cùng tôi đi đến nơi về đến chốn.

Đức tính đặc biệt nhất của “ông” là không tố cáo ai, đã hơn hẳn những người bệ vệ, kính trắng, xách cặp da nhưng xun xoe, luồn cúi, tố giác cả bạn bè, anh em để lấy thành tích, trèo lên chỗ ngồi cao, để lừa lọc đám dân đen. Dù bết bát, bệnh tật như thế nhiều lần “ông” vẫn sẵn sàng cõng thêm cả vợ tôi. Tiếng cọt kẹt của “ông” hôm nay nghe như “ông” hoan hô đồng tình với năm quả trứng vịt lộn, đang chễm chệ ở trên vai tôi tuy “ông” thấy tôi có tiền bồi dưỡng, mà lại không có tiền chữa bệnh cho “ông”?

Đã từ bữa bồi dưỡng lần trước, ông bà nội khuyến khích tôi; lần này phải bồi dưỡng cho đứa cháu “đích tôn” của ông bà, nghĩa là Hoa sẽ được, hai trứng vịt lộn.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 22

Sau bốn tháng làm việc trong văn phòng ở Rex, tôi được sở đổi qua làm cho Brink BOQ. Ông xếp ở Brink là một trung úy hải quân Mỹ trẻ tuổi, tên là Richard Satter. Ông Satter đã được học tiếng Việt trước khi sang Việt Nam, nên khi làm việc tại Brink ông quyết định nói tiếng Việt với hơn sáu chục nhân viên người Việt. Tiếng Việt của ông có tiếng bể, tiếng gãy, thiếu sót rất nhiều. Tôi nói với những người làm chung sở rằng có lẽ khi ngủ mơ ông cũng nói tiếng Việt. Nhân viên Việt Nam ít người hiểu ông, vì ông đã dùng sai chữ, lại phát âm không đúng, người ta không kiên nhẫn để tìm hiểu ông định nói gì. Khi nào phòng ăn vắng khách, ông tới trước quầy thu ngân để nhờ tôi dạy thêm tiếng Việt. Rồi tôi trở thành cô giáo của ông xếp.

Trung úy Satter là một học trò ngang bướng, lúc nào cũng thích ra lịnh, dù ông làm học trò. Học tiếng Việt và cai quản câu lạc bộ, đối với ông đều quan trọng như nhau. Là nhân viên của ông, lại nhỏ hơn ông một tuổi, nên tôi đành chịu lép vế. Vì vậy, làm cô giáo mà tôi chẳng có một chút quyền hành gì với học trò. Nhưng tôi cũng có một niềm vui, là ông “học trò” này rất thông minh và có khiếu về sinh ngữ, học tới đâu nhớ ngay tới đó. Ông thường tìm hiểu nguồn gốc của mỗi chữ, hay mỗi câu nói, hoặc tiếng địa phương. Chẳng hạn, tại sao có người nói là “về”, lại có người “dìa”. Tại sao có người nói “vâng”, lại có người “dạ”, tại sao “ “muỗng” lại là “thìa” v.v… Có lần tôi dậy bài học đi chợ, ông bắt tôi phải đi chợ với ông ngay. Tôi đành phải đưa ông đi chợ Sài Gòn, để ông thực hành bài vừa học. Đến khu bán cá, ông hùng hồn nói: “Tôi muốn mua thằng cả lóc”. Mọi người cười rộ lên. Người ta nhìn tôi chằm chặp, làm tôi mắc cỡ muốn độn thổ. Đâu có ai biết tôi là cô giáo của ông; tôi nghĩ người ta tưởng tôi là bạn gái của anh chàng lố bịch này. Tôi vội đứng xích ra xa, ông trung úy kêu tôi lại gần, để dạy ông cách trả giá. Chỉ tiếc tôi chưa kịp “hành nghề” cô giáo, bà già bán cá đã khen ông học trò của tôi là dễ thưong, và tặng không ông hai con cá. Ông Satter tức lắm, vì không được thi thố tài năng. Đến khi chúng tôi sắp ra khỏi chợ, ông bỗng gọi một người đang đi vô, để cho họ hai con cá, quay ngược trở lại hàng cá. Tôi không chịu theo ông, viện cớ ông đã nói giỏi tiếng Việt, có thể mua bán một mình. Tôi đợi ông ở ngoài cửa chợ. Nửa giờ sau, ông trở ra, mỗi tay xách một “thằng gà” và một “con gà”.

Không biết bỏ hai con gà này vô đâu, tôi đành đề nghị đem về nhà tôi cho dì giúp việc làm thịt. Nhưng về đến nhà tôi mới biết ý kiến này sai bét; vì ông đi theo tôi về nhà, khiến đám con nít hàng xóm bu lại nói chuyện với “ông Mỹ”.

Rồi từ đó ông Satter trở thành người bạn của gia đình tôi. Khi nào nhớ nhà, ông lại tới nhà tôi cho khuây khoả. Gia đình ông ở New Hampshire bên Mỹ, nên về cuối năm ông thường nhắc tuyết. Tuyết khắp mọi nơi: trên nóc nhà, trên đồi, trên sân cỏ, và cả những nơi ông truợt tuyết. Khi nhắc đến quê hương, mắt ông lại mơ màng nhìn vào xa xôi. Đôi khi tôi ngầm ganh tỵ với ông, khi tôi bằng ông cũng trạc tuổi tôi, mà sao ông có tuổi thơ tươi đẹp như vậy trong khi tôi lận đận đủ mọi bề. Tôi mơ ước được đi học lại, cũng như ông trung úy Mỹ mong cho hết nhiệm kỳ ở Việt Nam, để trở về New Hampshire tiếp tục học đại học.

Cuối năm 1966, Hải Quân bàn giao tất cả câu lạc bộ cho Lục Quân quản trị; ông xếp của tôi được về Mỹ. Tôi mất ông học trò, Brink BOQ cũng mất đi bầu không khí vui vẻ, sang trọng của Hải quân. Vào dịp đó, BOQ Splendid có chỗ trống, tôi liền xin đổi đến đó để được gần nhà hơn một chút.

Xếp mới của chúng tôi là một ông chuẩn uý chừng 45 tuổi. Ông làm việc không ngừng. Ông lại nghĩ là ông có bổn phận phải “chăn” đám nữ nhân viên trẻ chúng tôi. Ông cấm chúng tôi đi chơi với sĩ quan Mỹ. Ông nhắc nhở chúng tôi: đi với họ rồi hết hạn trở về Mỹ, các cô ở lại một mình. Lỡ có cô nào mang một “bầu tâm sự”, thì thật là một tai hoạ.

Ông cũng cấm nhân viên dưới quyền không được nhờ các sĩ quan mua hàng trong PX.

“Nếu các cô muốn gì trong PX cứ ra chợ trời là có hết”. Ông mỉa mai.

Nhân viên đều kính trọng và tuân lệnh của ông. Ông rất tử tế và thành thật với tất cả mọi người.

Tôi còn độc thân, lại khá tiếng Anh hơn những người cùng làm; ông xếp thay đổi giờ làm việc của tôi mấy lần, để đáp ứng nhu cầu của những người có gia đình, bận bịu con cái. Cuối cùng ông cho tôi làm supervisor của 5 cô giữ két.

Một trong những việc làm của tôi, là bán phiếu cho sĩ quan để họ dùng phiếu đó trả tiền ăn uống. Tất cả các câu lạc bộ Mỹ vào thời đó không xài tiền Mỹ kim, vì nạn chợ đen. Suốt hai tuần lễ liền, một đại uý Hải quân trẻ, ngày nào cũng ghé qua quầy tôi mua phiếu 10 Mỹ kim, đi thẳng vào bar uống rượu, rồi không thấy ông ghé phòng ăn bao giờ. Ngày qua ngày, ông đại uý ốm đi. Bộ đồ bay của ông mỗi ngày một rộng hơn. Tôi thắc mắc, ông không ăn, chỉ uống rượu thôi, làm sao có đủ sức khoẻ để bay.

Một hôm, ông lại mua một phiếu 10 đồng để uống rượu. Tôi cất 10 Mỹ kim vô tủ, nhưng không đưa phiếu cho ông, nói:

“Ông đi ăn trước đi, rồi tôi sẽ đưa phiếu cho ông đi uống rượu”.

Đôi mắt xanh như nước biển Thái Bình của ông nhìn vào mắt tôi, làm tôi choáng váng, vội nhìn xuống bàn. Ông nói:

“Tôi không thích ăn một mình”.

“Thì ông rủ mấy bạn nhậu của ông đi ăn với ông”.

“Ồ, mấy thằng đó xấu như ma. Nếu cô hứa mai đi ăn trưa với tôi, chiều nay tôi sẽ vào phòng ăn ngay cho cô vui”.

Ông vừa nói vừa nhìn chằm chặp vô mắt tôi, hai bàn tay gõ nhẹ lên bàn, như hối thúc tôi phải trả lời ngay. Tôi lúng túng đáp:

“Tôi không thể đi ăn với ông được”.

“Tại sao?”.

“Tôi không được phép đi ra đường với người Mỹ”.

“Lịnh của ai?”.

Vừa lúc đó, ông chuẩn uý Lugent, xếp của tôi, vô phòng ăn và đi lại bục cashier của tôi. Tôi chỉ ông, đáp:

“Lịnh của ông nầy”.

Ông đại uý bèn nhìn thẳng mặt ông Lugent, rồi đột ngột hỏi:

“Ngày mai, ông cho phép cô này đi ăn trưa với tôi nhen? Tôi hứa sẽ trả cổ về đây an toàn và nguyên vẹn”.

Ông Lugent cười, đưa tay sửa cặp kiếng cận thị dầy cui của ông, và có vẻ hơi lúng túng, đáp:

“Đại uý Krall cứ hỏi thẳng cô ấy coi!”.

Đại uý Krall trịnh trọng nói:

“Tôi thề sẽ nhịn đói cho tới khi cô chịu đi ăn với tôi. Bấy giờ, xin cô đưa phiếu cho tôi”.

Tôi lúng túng không biết nên phản ứng thế nào. Đại uý Krall vừa làm cho ông xếp của tôi khó chịu, lại vừa làm tôi sượng sùng. Giá lúc ấy có thể độn thổ được, tôi đã chui ngày xuống đất. Tôi lúng túng nói để ông đi cho khuất mắt:

“Sợ ông chết đói, tôi nhận lời đi ăn trưa với ông, ngày mai”.

Hôm sau, tôi đến sở sớm 2 tiếng, mặc cái áo đẹp hơn áo đi làm hàng ngày. Tôi vừa bước chân lên thềm của BOQ Splendid, Đại uý John Krall đã đứng khoanh tay dựa lưng ở cửa, một chân trên vách tường, một chân dưới đất. Ông nhanh nhẹn dẫn tôi lại chiếc xe Jeep mui trần đậu ngay trước cửa, gần chỗ người quân cảnh Mỹ đứng gác. Mặt tôi nóng hơn vỉa hè buổi trưa nắng đó. Tôi vừa bối rối, vừa vui vừa sợ, vừa tự trách mình đã nhận lời đi ăn với người lạ, ngang hơn cua. Rồi tôi thầm tự hỏi, tại sao lại mặc đẹp, trong khi người ta chỉ mặc bộ đồ phi công rộng thùng thình? Nhưng dù thế nào, tôi vẫn nghĩ đến cặp mắt xanh như Thái Bình Dương. Đôi mắt làm cho mặt ông sáng rỡ lạ kỳ.

Tôi ngồi trên xe Jeep mà cứ phấp phồng sợ người quen bắt gặp. Nhưng tôi lại nhớ ngay ra rằng, ở cái đất Sài Gòn này tôi có quen ai đâu mà sợ. Rồi tôi lại nghĩ tới các em tôi. Rủi Hải Vân trông thấy tôi ngồi cạnh một sĩ quan Mỹ thì sao? Có thể thằng nhỏ sẽ đòi hối lộ: “Chị biểu anh chàng sĩ quan Mỹ practice tiếng Anh với em đi”. “Không được, cưng ơi. Chị chỉ đi ăn trưa bữa nay thôi để cứu mạng anh ta, không có lần thứ hai đâu. Kiếm thằng Mỹ khác để practice tiếng Anh cưng nhe”. Đại uý John Krall vừa lái xe vừa bắt tay tôi, rồi từ giới thiệu:

“John, John Krall”.

Tôi đang ngầm nổi sùng, cũng không biết tại sao lại nổi sùng. Tôi cầm thẻ của sở Mỹ đưa lên cho John biết tên tôi. Ông liền nói:

“I already know your name. Cô Dung”.

Ông phát âm tên tôi thật đúng. Tôi liền hỏi:

“Tại sao ông nói tên tôi đúng quá vậy?”.

“Biết mà”. Ông trả lời bằng tiếng Việt lơ lớ.

Tôi nói một tràng tiếng Việt, vì nghĩ rằng ông cũng giỏi như người học trò cũ của tôi là Richard Satter trước kia. Nhưng John lắc đầu tỏ vẻ không hiểu. Ông đề nghị tôi gặp ông hàng ngày và dậy ông tiếng Việt. Tôi trả lời liền: “Không có chuyện đó ông ơi”. Nhưng ông không hiểu.

Xe vừa tới cổng Cercle Sportif thì tôi cảm thấy bực mình, vì tôi ghét cái gì có dính líu tới thằng Tây. Ở cái thủ đô Việt Nam này, hết chỗ ăn trưa sao, mà lại chui đầu vô tiệm của thằng Tây?. Nhưng ngay sau đó, tôi lại nghĩ rằng, thà chui đầu vô đây còn hơn là chạy dông dài ngoài đường phố. Tôi đã từng thấy nhiều cô gái Việt đi với Mỹ. Họ ngồi đầy trong các nhà hàng, như tiệm Đô Thành trên đường Hàm Nghi, hay tiệm Mỹ Cảnh bên bờ sông Sài Gòn.

Sau lần ăn trưa hôm đó, tình cảm của tôi đối với đại uý phi công John Krall đã thay đổi rất nhiều. Vì thế, tôi nghĩ rằng nếu John có mua hai ổ bánh mì thịt, rồi rủ nhau ra ngoài đồng cỏ ngồi ăn, tôi cũng sẽ đi theo ông hết ngày này qua ngày nọ.

Vào mùa thu năm 1967, Hải Vân bỗng trở thành phát ngôn viên của trái tim tôi. Nó tuyên bố:

“Chị Dung yêu rồi. Đừng có ai lo chị ế chồng nữa. Chị làm cách mạng, yêu một anh chàng Mỹ mắt xanh. Em ghét Mỹ lắm, nhưng cái anh chàng Mỹ này là phi công, nên cũng OK”.

Cho tới lúc này, John chỉ biết sơ về gia đình tôi, vì mỗi lần anh hỏi, tôi lại nói lảng sang chuyện khác. Nhưng tôi biết, đã đến lúc tôi phải, hoặc là nói thật về ba tôi, hoặc là tôi cắt đứt liên lạc với John. Đằng nào thì mối tình này cũng phải chết yểu. Có thể anh đại uý phi công Mỹ sẽ hết hồn, khi biết ba tôi là một cán bộ cộng sản. Không chừng anh xin về Mỹ sớm hơn thời hạn. Nhưng làm sao tôi có thể nói dối với người tôi yêu được. Thì thôi, đành phó mặc cho ông trời; tôi không nên ôm cái bí mật này nữa. Tôi quen với John cũng gần một năm rồi, chớ đâu phải mới hôm qua, hôm kia!

Hôm đó, tối thứ Sáu, John đến nhà rước tôi đi ăn ở nhà hàng La Cigale, trên đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Chúng tôi vui vẻ nói cười suốt buổi. John còn lên yêu cầu cô nhạc sĩ đàn violon cho tôi nghe bài Greensleave. Trong lúc chúng tôi ngồi chờ ăn tráng miệng, John nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói:

“Cô không bao giờ nói về ba cô cho tôi nghe?”.

Tim tôi thắt lại. Bây giờ phải nói gì đây? John vô cùng quan trọng đối với tôi. Nhưng tôi không trả lời anh ngay mà xin phép vô toilet rửa tay. Đóng cửa lại, tôi nhìn tôi trên kiếng, tìm một câu trả lời. Tôi nhớ, đã có lần một người trong gia đình cho là tôi “muốn chết”, vì tôi nhứt định không bao giờ chịu nói ba tôi chết, khi có ai hỏi tới Người. Các chị tôi nói “ba chết” một cách dễ dàng. Bây giờ, khoảng cách giữa tôi và câu trả lời đó chỉ có một bức tường. Chắc là tôi sẽ chết thiệt chớ không phải “muốn chết”, vì tôi không thể nói dối được với John.

Khi tôi trở về bàn, John đứng dậy kéo ghế cho tôi. Anh im lặng chờ tôi trả lời. Khi bão tố nổi lên trong lòng tôi, thì vẻ mặt anh vẫn tươi vui như đứa con nít trong ba ngày Tết. Tôi bối rối cầm ly rượu chát uống cạn, rồi vội vàng nói thật nhanh:

“Ba tôi hiện đang ở ngoài Hà Nội. Ông là đảng viên cao cấp Đảng Cộng Sản. Nếu anh không muốn gặp tôi nữa, tôi sẽ hiểu”.

Nhưng John bình tĩnh vừa cười vừa nói:

“Tại sao tôi lại muốn làm cái việc dại như vậy?”.

Rồi anh hôn lên ngón tay trỏ của anh, đặt ngón tay đó lên trán tôi. Đó là một cử chỉ quen thuộc anh vẫn thường làm, khi anh gặp tôi ở sở, trước mặt đông người.

Đám mây đen bao phủ thế giới nhỏ bé của tôi từ lâu, hôm nay bỗng tan biến nhanh chóng. Tôi say sưa nói về Ba tôi. Từ 1954 cho tới năm 1967, tôi không kể cho ai nghe về Ba tôi và anh Khôi. Nhưng tối nay, một đại uý phi công Mỹ có đôi mắt xanh như biển Thái Bình, phải ngồi im lặng nghe tôi nói! Thỉnh thoảng, trong khi kể, tôi ngừng lại, tìm trong mắt anh một tia nghi ngờ, nhưng không thấy. Anh chăm chú nghe như nghe một chuyện thần thoại, một chuyện khó tin nhưng có thật. Mà nghe thì cứ nghe, còn có dám chấp nhận không lại là chuyện khác. Chấp nhận, có nghĩa là tiếp tục đi bên cạnh tôi suốt cuộc đời này.

Với anh John, tôi có thể vui cười, nghiêm trang, bướng bỉnh, hay ngây thơ một cách tự nhiên. Bay giờ, ngoài An Ninh Quân Đội, chỉ có anh biết về gia đình tôi, mà tôi không sợ bị phán đoán hoặc nghi ngờ, hoặc bị vu oan cho cái tội làm tay sai cho Việt cộng, đặc công, nằm vùng.

Tôi chợt nhớ tới lời em trai tôi có lần đã nói: “Anh Mỹ kiểu này thông minh hơn em, chị ơi”. Thỉnh thoảng tôi thấy John kèm toán, lý, hoá cho nó. Thì ra hai người đã thích nhau nhưng tôi không biết. Có một lần, hai chị em đi chơi với John ở ngoại ô, Hải Vân hỏi mượn xe Jeep của John để “chạy thử một vòng”. Tôi biết em tôi chưa biết lái xe. Tôi nhìn nó, thì nó nói nó không biết lái xe cho nên nó mới mượn xe để học lái. Nửa tiếng đồng hồ sau, Hải Vân trở lại, mặt sáng trưng “em lái được rồi đó”. Chừng đó John mới hiểu, và mới hết hồn vì đã đưa xe của nhà binh cho thằng nhỏ chưa biết lái xe. Tôi không dám kể lại cho má chuyện này, mà Hải Vân cũng không méc tôi đi chơi với John.

Đêm đó, John và tôi là hai người khách cuối cùng của nhà hàng La Cigale. Vợ chồng ông Tây đi tới bàn chào chúng tôi để họ đóng cửa. John vội nâng ly, nói:

“Tôi sẽ không đi hỏi cưới ông bố cộng sản của cô, nhưng tôi rất muốn cưới con gái của ông. Làm ơn “dạ“ cho tôi nhờ”.

Tôi không rõ anh đã học được ở đâu cái câu nói đó.

Đêm hôm đó và nhiều đêm tiếp theo, tôi thức giấc khuya, rồi băn khoăn tự hỏi: “Đây là thật hay là mộng”. Rồi tôi từ trả lời: “Mà dù cho là mộng, rồi nó cũng sẽ biến thành sự thật ”. Tôi tin như vậy, vì nhiều mộng của tôi đã thành sự thật. Nhưng tôi là con người lệ thuộc gia đình rất nhiều, vì thế tôi không thể không hỏi ý kiến má, dù má lúc nào cũng sẵn sàng cho chúng tôi tự do quyết định cuộc đời chúng tôi.

Vào một buổi trưa nóng nực của mùa xuân Sài Gòn, má và tôi ngồi nói chuyện trên bậc thềm trước nhà, trong khi mọi người đang ngủ trưa. Hai mẹ con nói đủ mọi thứ chuyện, bắt đầu từ chuyện thời tiết, so sánh giữa Sài Gòn với Cần Thơ. Rồi chuyển sang chuyện chánh trị. Mà chánh trị là thể nào cũng có Ba tôi. Má nhắc lại lời của ông ngoại, cho rằng các cậu và Ba tôi bị Hồ Chí Minh và đàn em của ông ta lừa gạt. Các cậu và Ba đều là những người yêu nước, thật thà, chỉ biết chống Tây để giành độc lập cho nước nhà. Cũng theo ông ngoại, cộng sản phá vỡ nền tảng luân lý gia đình, rồi sẽ đưa Việt Nam đến suy tàn… Má cũng biết Hải Vân có ý định gia nhập Không quân. Khi tôi đang loay hoay tìm cách đổi hướng câu chuyện sang vấn đề hôn nhân giữa tôi và John, nói lòng vòng mà không nói được hết ý trong lòng mình, má tôi nhẹ nhàng nói:

“Tụi con lập gia đình với ai cũng được, miễn đừng có lấy chồng vì tiền, thì Ba không trách ai được”.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 21

Vốn liếng Anh văn của tôi chỉ đủ để coi phim câm của Mỹ. Vậy mà chị Kim, chị Cương của tôi cứ khuyên tôi, hay nói đúng hơn là ép tôi, phải xin việc ở một sở Mỹ. Thật ra, cả nhà sợ tôi ngồi không lâu thì chán Sài Gòn, rồi lại bỏ đi lần nữa. Mà đúng vậy, chỉ mới ở có mấy ngày, tôi đã bắt đầu chê Sài Gòn đủ thứ. Nào là nóng nực, nào là bụi bặm, nào là ồn ào quá… Người bán hàng ở chợ Sài Gòn dữ dằn quá, khiến tôi không dám đi chợ một mình, sợ không biết trả giá, sẽ mua lầm, hoặc trả giá thấp quá sẽ nghe chửi. Tôi không ưa Sài Gòn chút nào, nhưng tôi lại không muốn xa má tôi. Vì vậy, tôi đành phải kiếm việc làm.

Chị tôi giới thiệu cho tôi một lớp học Anh văn, học phí chừng 1,500$, thời gian học khoảng ba hay bốn tháng. Tôi liền cho chị biết: “Em không có 1,500$ đâu, mà cũng không có tới ba tháng để học”. Hai chị hứa sẽ cho tôi học phí, và khuyến khích tôi nên dành thì giờ để học, vì ba bốn tháng qua đi rất mau.

Vào thời gian đó, chị Kim có người bạn trai; đó là thầy Vũ Hoàng. Thầy Hoàng dậy Anh văn ở một trường trung học. Chị tôi nhờ thầy kèm thêm cho tôi và Hải Vân ở nhà. Vì chị Kim, thầy đồng ý dạy tôi sau giờ tan trường của thầy. Rồi thời gian học Anh văn qua mau. Thầy Hoàng là một giáo sư tuyệt vời; tôi tiến bộ rất nhanh. Chỉ tiếc rằng sau này, khi đi làm cho Mỹ, tôi mới biết giọng của thầy là giọng Anh, hơi khác chút ít với giọng Mỹ. Thật ra, sự khác biệt này cũng chẳng có gì quan trọng. Nếu tôi tìm không thấy WC, cứ vô đại Toilet hay Bathroom cũng xong. Nói cho ngay, tôi thích giọng Anh của thầy Hoàng hơn. Học Anh văn của thầy, tôi còn học được chút giọng Bắc kỳ của thầy nữa. Tôi không quên ơn thầy Hoàng, nên khi biến cố 30 tháng 4-1975 xảy ra, tôi đã đi kiếm thầy ở nhiều nơi như Guam, Wake, Phi Luật Tân, nhưng mãi cho đến bây giờ tôi vẫn chưa biết thầy ở đâu.

Sau bốn tháng học Anh văn, tôi theo chị Kim đến sở Mỹ xin việc làm. Chị dẫn tôi đến phòng nhân viên trong Chợ Lớn. Chị phải điền giùm tôi cả chục tờ giấy, trong khi tôi ngồi thừ ra như người ngoài cuộc. Làm đơn xong, chúng tôi phải tới nơi khác để lăn tay, để lập hồ sơ điều tra lý lịch. Tôi phải công nhận rằng chị Kim rất kiên nhẫn, nên tôi cứ phải xin lỗi chị đã mất quá nhiều thì giờ cho tôi, trong khi trong bụng tôi nguội ngắt, không hứng thú gì khi nghĩ tới đi làm sở Mỹ. Chắc chị vừa thông cảm cho một đứa em thất nghiệp, vừa muốn chiều một đứa em nhõng nhẽo, nên không phàn nàn, trách móc gì.

Sau khi lăn tay và nộp đơn, tôi được biết họ sẽ điều tra lý lịch rồi mới quyết định có mướn tôi hay không. Nhìn cô thơ ký nhận đơn, tôi đã thấy chán. Tôi nói với chị tôi là thế nào cô thơ ký cũng lấy đơn của tôi để lót ghế ngồi. Thơ ký gì mà vừa tiếp khách nhai kẹo cao su, vừa giũa móng tay dài đỏ chói.

Chị tôi cười:

“Cưng không mê đi làm sở Mỹ, nên chê nọ chê kia”.

Tôi liền đáp:

“Tại em tốn cả ngày trời lo làm đơn, thì ít nhứt con nhỏ cũng phải sốt sắng nhận đơn của em chớ”.

Chị tôi cười vị tha.

Nhưng nói vậy thì nói, tôi cũng phải lo đến chuyện điều tra lý lịch. Hồi đi làm cho Quân đoàn IV, tôi được Đại uý Nguyễn Đạt Thịnh nâng đỡ. Bây giờ tôi không quen một ai ở cái đất Sài Gòn này ngoài hai chị của tôi và thầy Hoàng. Làm sao tôi có thể qua mặt của tình báo Mỹ được? Tôi vụt nhớ tới Đại uý Trần Duy Bính, người đã giúp tôi giữ được việc ở phòng V. Nếu lý lịch của tôi được Đại uý Trần Duy Bính thông qua, chắc không một nhân viên tình báo Mỹ nào mà không chấp thuận. Tôi cũng còn nhớ, trước khi rời Cần Thơ, tôi có đến sở 4 chào từ biệt Đại uý Bính. Ông rất vui vẻ và tiếp đón tôi niềm nở. Ông còn cho tôi địa chỉ em trai ông là Trung úy Trần Duy Hinh, đang làm việc ở Sài Gòn. Ông dặn tôi nên liên lạc với Trung úy Hinh khi có chuyện cần. Nhớ tới đây, tôi lên tinh thần, vì tôi tin rằng lý lịch của tôi mà do anh em của Thiếu tá Bính cung cấp thì thằng Mỹ, thằng Tây nào cũng sẽ tin tôi là một công dân gương mẫu của Việt Nam Cộng Hoà.

Hôm sau, tôi đi taxi đến Cục An ninh Quân đội trên đường Trần Hưng Đạo để gặp Trung úy Hinh. Một người lính quân cảnh đưa tôi vào phòng đợi ở cạnh văn phòng của Trung úy. Chắc ông Hinh không bao giờ có khách, nên tất cả các ghế bằng nhựa màu cam trong phòng chờ đợi đều phủ một lớp bụi dầy.

Một người đàn ông, mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, vẻ nghiêm nghị, bước ra đón tiếp tôi. Vừa thấy nụ cười của ông, tôi biết ngay ông là em Đại úy Trần Duy Bính. Sau khi tôi tự giới thiệu, Trung úy Hinh mời tôi vô văn phòng, rồi hỏi tôi cần ông giúp việc gì? Tôi cho ông biết về chuyện điều tra lý lịch, vì tôi đang xin việc ở sở Mỹ. Tôi cũng nói thêm, rằng anh của ông ở Cần Thơ biết rất rõ về trường hợp của tôi. Nghe tôi nói xong, Trung úy Hinh không hỏi thêm chi tiết gì nữa, đưa cho tôi một tờ giấy, bảo tôi ghi tên tuổi tôi, và sở Mỹ mà tôi đang xin việc làm. Trước khi chia tay, ông cho biết ông sẽ gọi xuống Cần Thơ để nói chuyện với ông Bính, và nếu không có gì trục trặc, ông sẽ giúp tôi có đầy đủ giấy tờ điều tra lý lịch. Tôi đi về, nhớ giọng nói Bắc kỳ trầm ấm quyến rũ của ông trung úy, và hy vọng ông sẽ gọi anh của ông ở Cần Thơ cho tôi.

Ba tuần sau, tôi được biết cuộc điều tra lý lịch đã hoàn tất. Rồi tôi được phòng nhân viên của sở Mỹ gửi đến khách sạn Rex để phỏng vấn. Khách sạn Rex có một phòng là câu lạc bộ của sĩ quan Mỹ. Tại đây, tôi gặp ông Hiệp, người phỏng vấn tôi. Nhưng ông đã làm tôi thất vọng, vì ông cho biết hiện câu lạc bộ không tuyển người làm việc. Tôi rất ngạc nhiên, vì phòng nhân viên trong Chợ Lớn đã cho biết câu lạc bộ Rex đang cần một người làm cashier, và một người phụ văn phòng kế toán. Nhưng rồi mấy tuần sau đó, ông Hiệp gọi tôi lại, cho việc làm trong phòng kế toán.

Đúng là “ghét của nào trời trao của đó”. Tôi vốn dốt toán nên sợ toán, ghét toán. Khi còn đi học, đêm đêm, ác mộng của tôi là những bài toán. Bây giờ đi làm, tôi lại làm ngay nơi phải dùng đến toán. Hàng ngày, tôi ngồi bên cuốn sổ dầy cui, rồi cộng, trừ, nhơn, chia… Nào tiền lương của nhân viên, nào tiền thu vô, tiền chi ra… Những con số cứ nhảy loạn, cứ múa may trước mắt tôi. Chúng còn theo tôi vào cả những giấc ngủ ban đêm nữa. Nhưng nhờ có nó tôi mới được lãnh lương mỗi tháng hai lần.

Tôi nhớ, mỗi lần tôi than thở khi gặp khó khăn rắc tôi, ông ngoại tôi lại khuyến khích tôi bằng câu: “Làm người khó, làm chó dễ, cháu muốn làm gì?”. Vậy mà cũng có lần, vì làm biếng, sợ khó khăn, tôi đã liều nói với ông tôi: “Thôi, bữa nay ông cho cháu làm chó đi”. Ông nhìn tôi một lúc, tỏ vẻ thất vọng, rồi dịu dàng nói: “Hễ muốn làm chó, cháu phải đi bốn chưn, rồi được ăn, được ngủ, được vui chơi, khỏi học bài, khỏi làm việc trong nhà, được chị em và cả ông bà hầu hạ suốt ngày”. Tôi mắc cỡ không dám đòi làm chó nữa.

Nhớ lại lời ông ngoại, tôi không còn thắc mắc về chuyện đi làm khó khăn nữa. Tôi tự an ủi rằng đi làm sở Mỹ để sống, chớ không phải sống để đi làm cho Mỹ, rồi thứ sáu lãnh lương. Việc làm không có lý tưởng chút nào.

Năm 1966, má tôi 50 tuổi. Nhiều đêm, tôi xót xa nghĩ đến cảnh cô đơn của má. Tôi nhìn lại quãng đời của má, từ ngày ba má có anh Khôi cho tới ngày ba đi tập kết, tôi không nhớ má có bao giờ được vui trọn một ngày không? Rồi từ khi má đau, phải đi bệnh viện Cần Thơ, cho đến ngày cả gia đình chuyển hết lên Sài Gòn, tôi không thấy má vui như những người bạn của má. Vậy mà má không hề than thở một lời, hay oán trách hoàn cảnh, hay giận hờn ba. Thì thôi, chị em tôi cũng phải tế nhị, không trách móc ông già trước mặt má.

Sau nhiều năm chị em tôi sống xa cách nhau, nay mới được sum họp, chúng tôi muốn tận hưởng niềm vui ấm cúng của sự sum họp này. Cuối tuần, trước khi đi chơi với bạn, hai chị tôi dẫn tôi đi ăn sáng, rồi về nhà quây quần bên cạnh má. Không khí gia đình thật êm đềm.

Tôi tiếp tục đi làm sở Mỹ. Hải Vân mua được chiếc xe Honda, có tiền đóng học phí lớp Nhu đạo. Em học trường Bồ Đề. Bạn thân của em là mấy cậu nhỏ ở gần trường bên chùa Bà Lai. Ali là bạn thân nhứt của em. Ali thường chuyền từ nóc nhà này sang nóc nhà khác, trong đó có cả nóc chùa và rạp hát Kim Châu, để tới gặp Hải Vân.

Nhưng chỉ có tiếng cười, tiếng vui đùa của năm đứa con gái, tiếng đàn guitar của Hải Vân, làm cho má tôi vui thôi.

Bỏ bú

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Bỏ bú

Hồ Đình Nghiêm

 Anh đón nhận đứa bé với tất cả vẻ cẩn trọng. Như tư thế trước đây của Audi, anh ôm nó bằng hai vòng tay, để đứa bé tựa đầu vào vai anh, tiếp tục giấc ngủ, ngủ như một baby.

 Tóc hoe vàng, thưa thớt, mỏng mịn. Môi ướt, thỉnh thoảng cười chùng vụng dù đang chìm vào giấc sâu. Mụ bà dạy, họ bảo thế. Nếu môi kia mếu máo hẳn đang bị bà mụ quở trách. Và Audi dĩ nhiên sẽ chẳng biết được điều “mầu nhiệm” kia. Audi tin vào giấc mơ, mộng đẹp hoặc mộng chẳng lành. Anh ngờ vực, nhỏ nhít thế sao lại sớm tựu thành một cơn mê sảng?

 Da thịt đứa bé thơm ngọt mùi sữa mẹ, tựa hương một giống hoa luôn ngậm sương ở chốn khuất lấp. Mùi cỏ mới cắt nơi khoảng sân sau tuy nồng đậm nhưng chẳng phủ lấp được sự tinh khiết có nơi con bé. Trẻ nít luôn là trang giấy trắng, nếu đúng thế thì càng già cỗi con người sẽ bị bôi bẩn đường ngang nét dọc vết cào xướt. Ngày tháng dự phần nhỏ, tác hại phần lớn do bởi những tiếp xúc với đồng loại. Họ trao cho ta chút niềm vui và soán đổi bộn bề bao khổ lụy. Mưu toan là hóa chất phun tưới lên hoa quả, sum suê những độc hại nằm dấu mình. Và khi ấy, đứng bên kẻ gần đất xa trời, người ta nhận biết một điều, thân thể kia hôi hám ngập ngụa bụi trần!

 Audi trở ra bằng hai tách cà phê có ở đôi tay. Da trắng, mỏng, thấy những đường đi xanh thẩm ngoằn nghèo của động mạch chạy bên dưới, và trên là lớp lông măng như bụi phấn  che đậy bớt cái trần trụi. Hai mươi tám tuổi, một con, Audi mang nét phiền muộn của một gái đồng trinh tuổi bốn mươi. Tuy vậy anh chưa nhìn thấy sự bẳn gắt lộ hình ở Audi dẫu có khi anh bỡn cợt điều mất lòng. Cô thích đón nghe anh bông lơn, cô bảo những đứa ưa bày trò thường dễ chơi hơn những thằng người nghiêm nghị. Sự đạo mạo làm cô oải, boring. Anh từng cắc cớ: Người bạn có mấy vòng?  Ba, vòng một vòng hai vòng ba. Ngực, eo, mông. Vậy thì vòng số bốn nó trốn đi đâu? Há? What? Không phải là logo của Audi có bốn vòng sao? Bốn vòng đều đặn, rất hấp dẫn. Audi cười phá ra, chẳng sợ kinh động giấc ngủ con thơ và với đôi tay rắn rỏi cô đã kẹp cổ anh lại dúi đầu vào vòng số một. Khi đó mặt anh mát rượi, rít rát, anh nghĩ tới cốc cà phê pha sữa mẹ hiện bán rất đắt ở London. Lúc nhỏ anh bú sữa mẹ và đáng phàn nàn một điều, con nít ranh thường vô tâm, nó đã quên ráo trọi những hương mùi quyến rũ kia. Quên cho tới gần năm mươi mới được tiếp cận, phát hiện trong buồn tủi, kèm theo chút tiếc nuối.

Cà phê đen, chỉ muỗng đường, không thêm gì khác. Vào giấc trưa, thường thì chẳng hề là thứ nước uống thích hợp. Nhưng anh biết, trong tủ lạnh kê góc bếp nhà Audi chẳng còn thứ gì hợp khẩu vị. Nước suối, nước bưởi và bịch sữa 4 lít 2% chất béo. Chung đụng và sánh đôi là những lu hủ nhỏ nhắn chứa nhiều vitamin dành cho người chưa mọc răng đang ngủ yên trên vai anh. Đi lui tới khép nép dưới bóng dâm hà tiện, cuối cùng anh buộc lòng phải ngồi ké né xuống chiếc ghế mây. Đứa bé cựa mình thức dậy, nó mở mắt nhìn anh, sự ngơ ngác có trên gương mặt làm cảm động, làm anh muốn hôn nó, như thế một lời chào. Nó ngó quanh, mắt hơi nheo vì sân cỏ ngập vàng màu nắng. Một con sóc uốn cong thân để đùa cợt với những chiếc lá vừa rơi, động tác hệt như con mèo xuẩn ngốc cố bắt chụp chiếc đuôi luôn ngo ngoe của chính mình. Con sóc vụt chạy lên cây, và sau cùng thì con bé òa khóc. Ôi, tội nghiệp con chưa? Kẻ lạ nào đang ẳm con thế? Mẹ đây honey.

 Bầu vú căng sữa, tròn vin, trắng bóng. Xuất hiện và có khả năng nuốt ngay tiếng khóc. Đứa nhỏ chúi mũi chúi lái vào đó, mắt lim dim ngước nhìn anh biểu lộ niềm hạnh phúc như thể nó hiểu rằng mình nó là độc tôn, chẳng tài nào anh hưởng được.

 Anh nâng tách cà phê lên, uống chậm rãi. Không ngon miệng, nhạt mùi, đắng chát là đằng khác. Con sóc đã trở lại khoảng sân, nó nhón bước bộ tịch như chùng vụng, cúi đầu xuống đánh hơi chăm chỉ trên từng đoạn đã di chuyển qua để sau rốt cào lia bới lịa xuống đất rồi khum tay dâng tận miệng thứ hạt gì đấy mum mum nhai khới liên tu kỳ tận. Có thể là hạt đậu phụng, kích cỡ lớn bằng đầu vú Audi. Anh ngó hai mẹ con, ăn uống no say xong, người mẹ sẽ kéo áo xuống, vỗ lưng cho nó phát tiếng ựa, sẽ đặt nó nằm ngửa cởi miếng dán sột soạt và thay cho nó chiếc tã Pampers mới. Nó sẽ chới với đạp hai chân vào khoảng không, nó sẽ đút năm ngón tay bụ bẫm vào miệng và từ đó vỡ ra những tiếng trong trẻo, vui tai dù khó hiểu. Luôn luôn, trước khi nói được chữ mẹ, cha, “mụ bà” sẽ dạy nó thứ ngôn ngữ riêng, như thể tập sự uống lưỡi. Audi sẽ hôn vào người nó, chọc nhột và hai mẹ con sẽ là hai con sóc đùa nghịch nhau không biết chán. Anh thấy thừa thải, như con chó nhìn tới loài động vật kia với đôi mắt khoan dung. Mèo thì có thể tìm cách thư giãn bằng cách chạy tới chơi trò cút bắt, đốt cholesterol lưu thông kinh mạch, hạ huyết áp.

 Buổi trưa yên tĩnh, thiêm thiếp gió nhẹ di chuyển lặng lờ trên đám lá cây phong, tiếng nút sữa của đứa bé, và xa khuất thỉnh thoảng tai nghe động cơ gào rú có ở cái máy cưa đang làm gãy đổ những thân cành. Âm thanh len lỏi đi qua hàng dậu thưa, xao xác trên thảm cỏ vừa cắt và tất cả chừng ấy thứ làm mắt anh ríu lại. Anh ngồi xuống ghế, cưỡng chống cơn buồn ngủ bằng cách cố tìm kiếm có bao nhiêu hạt nốt ruồi đậu ở da thịt để trần của Audi. Khuôn mặt, cổ, phần bụng, bên eo và một phần cánh tay. Hình như trước đây anh có đếm chúng, tới số 12 thì buộc phải chấm dứt, chưa giải xong phép tính đơn giản kia. Lúc đó anh ngồi bên giường có Audi nằm nghẹo cổ nhìn suốt dãy hành lang trơn bóng và luôn chộn rộn ở bệnh viện, khu hộ sản. Cái ghế nhựa, anh tưởng sẽ ngồi chết cứng ở đó trong sự ngầy ngật của đợi chờ. Nhưng không, một bà y tá nói khi đẩy chiếc giường gắn bánh xe vào căn phòng vừa mở toang cửa: Có lẽ bà nhà cần sự hiện diện của ông. Ông có thể đứng phiá trên đầu nằm trong khi chúng tôi đở đẻ. Anh ngó xuống cái xanh xao tựa một kẻ chết đuối ám trên gương mặt Audi, tay cô vẫn bấu chặt và anh nghĩ cách hay hơn cả là đừng tháo gỡ niềm trông mong kia. Anh đã đi vào căn phòng lạnh toát và chói chang ấy. Một trong bốn người đứng sẵn ở đó đã trao cho anh chiếc áo thụng thịnh giống hệt họ, một khẩu trang và hai bao giấy dùng để bao bọc lấy đôi giày của anh. Anh răm rắp nghe theo những gì họ bảo, trong gương phản chiếu anh nhìn ra chẳng có sự khác biệt nào, ngoại trừ họ lần lượt đi rửa tay, lau khô rồi mang vào tay đôi găng cao su. Tay anh tuôn đầy mồ hôi, anh nắm chặt vào thanh sắt đầu giường khi bắt đầu nghe chân run, mỏi.

 Anh muốn nói điều gì đó cho Audi nghe nhưng chẳng biết tìm lời. Anh vụng về tựa một con gà mắc đẻ, dáo dác. Bà nhà rất giỏi chịu đựng, tôi nghĩ mọi thứ sẽ êm đẹp. Một người trấn an anh khi anh thử vén một ít tóc đi lạc xuống trán Audi, anh vuốt ngay ngắn những sợi lòa xòa rồi thu giữ chúng sau vành tai Audi. Người ta đã ngộ nhận, chả có thời giờ để han hỏi. Anh chưa hề đứng dưới đôi chân dang rộng của Audi nên anh chẳng thể là người đang gieo cho cô nỗi đớn đau kia. Mặt Audi tươm đầy mồ hôi khi hít hơi sâu và bặm môi rặn nhọc mệt cho lần vượt cạn. Anh không là cha của hài nhi nhưng anh cảm nhận rõ nỗi bất an tựa hồ chiếc ghe chở anh ngày cũ đang lướt qua những tảng đá ngầm, lườn ghe rung lên khi thần chết thăm dò bằng những móng vuốt sắc nhọn cào vào mảnh gỗ sắp mục nát. Ghe mang anh cùng 18 người tới bến bờ tự do như nỗi huyền nhiệm không có được sự giải thích. Và sau cùng thì tiếng khóc cất lên. Tại sao loài người khi mở mắt đón chào cuộc đời này không hề bằng tràn cười hoan lạc? Khóc vì phận người hay hoảng sợ niềm trống trải đang khiến cơ thể đỏ tím, tái run. Cắt cuống rốn, lau qua quít rồi họ đặt nó lên bụng Audi. Chúc mừng ông. Người bác sĩ nói. Chúc mừng em. Anh nói với Audi và nhìn theo đường lăn của giọt nước vừa thoát khỏi đôi mắt xanh. Nước ối, nước tiểu, máu đã phọt ra ở chỗ khác và hiện tại có người đang phụ trách việc lau chùi, bông băng nhém chặt tựa đập chắn ngăn thủy triều.

 Anh ngó chừng nó giùm chút, tôi đi vào phòng tắm dội qua miếng nước rồi hẵn đi. Audi nói. Đã mấy tháng rồi, hình như vòng bụng chưa kịp đàn hồi, và người đàn bà trong thời gian hậu sản sẽ chẳng thể làm cho có eo trở lại. Không phải nhìn bằng mắt để phát hiện, tắm xong, mặc vào người chiếc áo, Audi bước ra và nhờ anh kéo lại cái zipper chạy dọc sống lưng. Eo ôi, phải nín thở, phải tốn tiền tậu loạt áo mới rồi! Cô than. Rồi hỏi: Ngó được không? Anh thành thật: Cũng ok. Dầu sao nó còn biết nhường nhịn so với hai vòng còn lại. Qủi! Lúc nào cũng tìm cách hạ bệ người ta! Cô mắng yêu khi lùa những ngón tay vào tóc anh. Có thích tìm hiểu vòng số bốn không? Hả? What? Nếu thích, hãy kéo cái zipper xuống, hãy cởi từ tốn mọi vướng mắc, chậm rãi cẩn trọng bao giờ cũng thú vị hơn vội vàng hộc tốc. Và lúc này đây chúng ta tạm quên con bé đi, hãy chú tâm cho nhau mà tiếng khóc mè nheo của nó chẳng thể phân lìa chúng ta ra. Hơn ai hết, anh gây vào lòng tôi sự qúy mến. Ôm chặt lấy tôi. Anh xứng đáng là người tôi đặt hết niềm kỳ vọng.

* * *

 Với cuốn sổ nhỏ kẹp cây viết chì nắm trong bàn tay, người mặc sắc phục cảnh sát ngồi xuống chiếc ghế mây. Trưa âm u như tức giông, khoảng sân chôn cất sự lặng lẽ dưới đám cỏ mọc cao. Ông dùng cà phê nhé? Vâng, xin vui lòng. Người cảnh sát sửa lại dây nịt, dùi cui và súng ngắn lỉnh kỉnh luôn can dự vào thế ngồi, không thoải mái, cứng ngắt. Tóm lại, y phục và đồ nghề linh tinh kia tạo ra một vỏ bọc, nhìn ngó, khó có thiện cảm. Ngay cả nụ cười tươi của ông ta cũng khiến kẻ thưa chuyện phải ái ngại. Cuốn sổ mở ra, hàng chữ viết tháo: Người Việt, nam, 48 tuổi, độc thân. Kẻ mướn phòng, 750 đô một tháng…

 Ồ cám ơn. Người đàn bà mang tách cà phê tới với một tay kẹp nách đứa nhỏ. Đứa bé có đôi mắt to, không nháy khi ngó ông bạn dân. Làm phiền bà quá. Không sao. Bà là người phát hiện? Đúng vậy. Tôi gõ cửa rất lâu, sau cùng tôi tìm chìa khóa và mở nó ra. Ông biết đó, là người cho thuê phòng tôi phải thủ riêng cho mình một cái chìa. Bà tới đòi tiền thuê? Không, đã đầu tháng đâu. Hai hôm không nhìn thấy ông ấy… tôi muốn nhờ anh ta cắt cỏ giúp. Ông ấy từng làm việc đó? Phải, rất vui vẻ, tự nguyện. Từng sốt sắng chở hai mẹ con chúng tôi đi bệnh viện, chợ búa các thứ. Cuộc sống ông ấy ra sao? Khép kín, ít ra ngoài, dường như luôn cô đơn. Nói chung ông ta là hạng người mà tôi luôn an tâm khi kề cận.

 Người cảnh sát ghi một vài chữ vào cuốn sổ. Ông uống hết cà phê và đặt tách xuống mặt bàn nhỏ kê giữa hai ghế. Bà có thể cho tôi vào ngắm qua chỗ ông ấy ở? Ồ, dĩ nhiên. Ông đi lối này.

 Không có nắng, căn phòng giam chật bóng tối. Người đàn bà mở sáng ngọn đèn. Chẳng có gì lạ, những kẻ độc thân thường bất cẩn bày ra cái luộm thuộm như vậy. Chiếc giường nhỏ, gối chăn xộc xệch. Một kệ sách. Cái TV màn hình vừa phải, chẳng lớn. Bàn gỗ vuông, có thể dùng để dọn cơm và cũng có thể làm bàn viết. Cuốn vở khoảng hai trăm trang ghi chật chội những hàng chữ viết tay, mở lưng chừng, như thể đó là nhật ký hoặc bản thảo một cuốn truyện chưa hoàn tất. Người cảnh sát kiếm ra một cái bao ny-lông rồi dùng chiếc đũa gạt cuốn vở vào trong đó. Điều gì đập vào mắt bà trước tiên? Ông ấy nằm vắt nửa người trên giường, qụy chân dưới sàn nhà, miệng há rộng. Bà có đụng vào người không? Không, tôi linh cảm điều xấu, hốt hoảng chạy về nhà mình nhấc phone gọi 911.

 Bà có nói là ông ấy vui tính? Có tâm sự gì với bà không? Ý tôi muốn hỏi là bà biết nhân vật trong tấm ảnh đặt trên kệ sách ấy? À, tôi nghĩ bà đó là người vợ bất hạnh của ổng. Bà mất trong khi chuyển bụng sinh con. Ông ta cho biết là nếu sống ở đây thì chuyện ấy sẽ không thể xẩy ra. Mỗi khi ẳm con tôi, ông ta đều liên hệ, nhớ về ngày tháng cũ đau buồn ở quê nhà. Cám ơn sự hợp tác của bà. Bà tính làm gì với căn phòng này? Tôi chưa biết, thú thật là lúc này tôi chưa tỉnh trí. Ông ấy mất, tôi rất buồn đau.

 Người đàn bà bồng con không tiễn đưa ông cảnh sát. Bà đứng bên một thân cây nhìn ra con đường vắng. Yên lặng quá. Bên góc sân, chỗ khuất lấp, ló ra phần đuôi một khối sắt đen trầy trụa lớp sơn. Chiếc xe Audi đời 2001 nằm câm lặng và vĩnh viễn nó sẽ thôi gào rú từng hồi. Nhớ không con, nó từng hộc tốc chở mẹ đến nhà thương với bàn chân con quẫy đạp trong bụng mẹ. Mẹ đợi chờ con khôn lớn, muốn nhắc nhở con về tấm lòng của ông nhưng chúng ta đã chẳng còn cơ hội. Dẫu sao thì mẹ còn lưu giữ một tấm hình chụp ông ấy. Ông bế con và cả hai đều nở rộng nụ cười thật trong sáng. Có con sóc xù lông từ cao cúi đầu bò xuống chậm rãi, đứa bé vung tay và miệng chảy nước phát ra những tiếng ầu ơ.

 Trời tức giông. Trời sẽ đổ mưa. Mưa hỗn loạn giấc chiều hay mưa đằm thằm rãi đều trên cơn ngủ muộn? Cỏ mọc cao và vuông sân thiếu bóng ai lao động chuyên cần. Thôi, xin cho anh được làm mây trôi về cố hương. Dù chỉ là phù vân, anh nhé!

Hồ Đình Nghiêm

Bia không ôm

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Bia không ôm

Hồ Đình Nghiêm

 Con đường mang tên một vị thánh. Saint Nicholas. Thành phố này có không dưới ba mươi vị. Ông thánh, bà thánh nằm đó đây, cắt ngang nhau, chồng lên nhau, nối tiếp nhau và đa số quần tụ trên vùng đồi cao.

 Xe buýt nặng nề leo dốc, máy nổ lớn và cảnh vật bên ngoài trôi qua từ tốn, quen mặt. Những ngọn đèn luôn thắp sáng trước một tảng màu diêm dúa có treo hình cô gái khỏa thân đứng cheo leo trên mái che, những bậc cấp uốn lượn dẫn lên một dãy sân tennis có rào lưới chắn bên ngoài. Xe sẽ dừng ở trạm đổ, nơi ngã tư luôn tụ gió và cái bảng đường mang tên St-Nicholas đứng run chân dưới ụ đất vun nhiều cỏ dại với hoa vàng lưa thưa.

 Lữ đi lại trên lộ trình này không biết bao nhiêu lần. Mỏi mòn tới độ có thể ngồi ngủ gà ngủ gật một giấc ngắn để khi mở mắt ra, xe buýt vừa tấp sát vào lề, thả Lữ xuống đúng nơi chốn, cũ một lập trình. Lữ yêu cái màu xanh nhợt nhạt đong đưa bóng trải bị thu bé giữa hai hàng cây rậm lá, con số 40 nằm trên tấm bảng trắng nhằm lưu ý quý vị lái xe chớ nên đạp ga chạy vội mà làm chi. Cuối đường rồi cũng tới với nắng chan hoặc mưa vụng trút.

 Lữ đọc trên mặt báo địa phương một cột tin nhỏ: Thử nghiệm ở bến xe đò, cho phát thanh nhạc giao hưởng cổ điển để thế rock’n roll luôn gào thét, trong vòng tuần lễ, mức độ cướp giật và những hành vi phạm pháp gia giảm hẳn. Lữ kể lại cho Vân nghe khi cả hai ngồi bệt trên cỏ trong một buổi chiều yên ả và đứng gió. Nhà hàng xóm không còn gửi ra tiếng cười đùa của con trẻ, sợi dây căng phơi áo quần có máng tấm drap dài lết phết, dật dờ như cánh buồm nhác chơi của con thuyền lạc phương hướng giữa biển lặng. Trôi từ đâu lại mơ hồ tiếng dương cầm dìu dặt, vướng víu trên những bụi hoa cúi đầu bên hàng rào thấp. Những nốt nhạc rời đi, ẩn chứa thứ nỗi niềm khiến người nghe phải vọng tưởng ra nhiều điều.

 – Tại sao Lữ kể chuyện đó ra? Vì nghe được tiếng đàn rã rượi?

– Cũng có thể, nhưng sau hết nó mang chút liên quan. Những người trú ngụ trên con đường mang tên một vị thánh hình như có ảnh hưởng đôi phần. Hiền lành, ít nói và hơi khép kín.

– Đừng tưởng tượng.

– Ở quê nhà người ta sống bất an trên những địa danh Cách mạng tháng tám, Đồng khởi, Xô viết Nghệ tĩnh chưa đủ để chứng minh?

 Lữ ngưng nói, phân tâm vì tiếng đàn không dưng dừng lại, câm bặt. Những câu chuyện giữa Lữ và Vân đôi khi cũng tựa tiếng đàn khuất mặt ấy. Trỗi lên vu vơ, không đầu đuôi, gần mà xa, để ngưng đọng trong tẻ nhạt.

– Vân thích nhạc khích động không?

– Chẳng thích nhưng vẫn nghe. Người mình giống như bộ máy xe hơi vậy, chạy hoài ở một tốc độ tựa nhau là điều cần tránh, làm yếu bộ máy ấy đi. Chiều nào cũng nghe từ nhà hàng xóm vọng ra tiếng nhạc trầm buồn, thú thật Vân cũng hơi oải.

– Thử vào nhà mở một đĩa nhạc rậm rật lên xem không khí có thay đổi?

 Vân đứng lên, quay người đi tới cửa, chiếc váy màu vàng như vệt nắng cuối chiều rút vội vào khung đen án che. Lữ vén tay áo nhìn xuống mặt đồng hồ, thời gian luôn đi mau cho những đôi tình nhân, nó cũng vội vã không kém với riêng Lữ. Tấm bảng ấn định 40 cây số một giờ cắm ngoài kia vô tình đã là cái cớ để Vân ứng xử trong vận hành tình bạn giữa hai đứa. Song hành chậm chạp, không dẫm chạy trên đường biên, chưa đến lúc chúng ta phải gia tăng tốc độ. Người lái xe biết tuân thủ những biển báo quy định, kẻ ấy chẳng bao giờ gặp tai nạn?

 Vân trở ra, cô đi chân trần, tay cầm lon nước ngọt và cánh cửa mở đàng sau thủy chung vẫn tĩnh yên không một âm thanh khuấy động.

– Uống nước đi. Ba má Vân sắp về rồi.

Lữ chẳng đón nhận thức uống, Lữ đưa tay ra chỉ để bao phủ những ngón của Vân. Rờ rịt, rồi cảm nhận cái lạnh giá băng đang lan truyền. Có những đôi nhân tình không cần phải thốt bye, see you…một trong hai đứa sẽ tự hiểu thời điểm để quay lưng. Ba má sắp về là ảnh hình của cánh cửa sẽ đóng chặt, là lời chào tạm biệt không tiện nói ra.

 Lữ bước giữa lối mòn xuôi về bờ lề xi-măng, Lữ sững ngó tấm bảng đóng cọc trên bãi cỏ của một công ty địa ốc mua bán nhà cửa. Với Lữ, đó là bóng dáng chiếc xe xăm xăm chạy vào ngõ cụt và rồi thì nó chết máy liền khi.

 Lữ giật chuông làm hiệu khi xe buýt chạy qua hình vẽ sáng đèn cô gái tóc vàng khỏa thân. Lần này thì có một thay đổi nhỏ. Lữ đọc ra hàng chữ bóng lộn nhảy múa: “Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng liên tục xuất hiện trên bục với vô vàn tiết mục đặc sắc. André kính mời”. Đường này mang tên gì hở ông André? Ông làm cách mạng và thay tên đường Lucifer rồi chăng? Hay đường Satan?

 Xe dừng để hoán đổi khách, kẻ lên người xuống. Những xác lá vàng không yên thân luôn xô giạt, trời sang mùa và Lữ co ro dẫm vào lối quen.

– Xin lỗi, có phải anh là người Việt?

Lữ quay mặt lại, người con gái luôn ngồi nhấp nhổm thắt thỏm hoang mang cũng đã xuống tới và đang chạy đuổi kịp Lữ.

– Anh biết đường Nicholas có nằm gần đây không?

– Là con đường chúng ta đang chôn chân.

Mặt cô gái ửng đỏ, nhưng mà Lữ biết là do thời tiết mang lại chứ chẳng phải ở nguyên nhân nào khác. Tay cô nắm một vuông giấy, không là bản đồ, nhưng thỉnh thoảng cô vẫn ngó vào đó.

– Ở đây có vẻ kín cổng cao tường. Anh biết nhà số 911 nằm ở đoạn nào không?

– Biết. Tôi đang đi tới con số khẩn cấp nằm lòng ấy.

– A, hay quá. Anh là gì của Vân?

Người con gái reo lên, vỡ ra thứ tiếng trẻ con ngồi trong cửa hàng McDonald’s cạo tấm vé trúng được cái hamburger free. Cô đi sát vào Lữ với sự cả tin rất hồn nhiên.

– Chỉ là bạn. Còn cô?

– Là láng giềng khi xưa ở Việt-nam. Tôi mới qua và Vân hứa sẽ tặng cho một đống đồ dư thừa.

 Lữ bước khoan thai, khác với lệ thường. Chậm chân cũng chỉ háo hức chờ nghe thêm những tin tức khác. Thứ tin thường lạ lẫm của người đang xào xạc chân khua vạn dặm khởi từ gốc gác của sự đến. Lữ nhớ tới những buổi uống bia cùng bè bạn diễn ra trong căn nhà trọ chôn thấp hơn mặt đường tựa một cái hầm tránh bom đạn. Khói thuốc đặc quánh, ngọn đèn vàng hiu hắt trên đầu, độ lượng cho thêm nhiều bóng đen ngồi quây quần xôm tụ: Mấy ông à, chỉ còn chờ đợi chuyện lạ đến từ những cô gái chân ướt chân ráo vừa ở quê nhà sang tới. Tình yêu, tui thấy đó là món hàng treo đàng sau cửa kính với giá tiền cao ngất ngưỡng trời ơi đất hỡi! Có đứa gằn giọng: Biết người ta ngu ngơ chưa kịp hoàn hồn thì bèn nhào tới chơi trò lợi dụng sao cha nội? Bất lương cũng vừa phải thôi chớ!

– Trời lạnh quá! Người con gái nói khi so vai rụt cổ.

– Chưa đâu. Lạnh này chỉ mới là lạnh nháp thôi, bữa nào nó mới thiệt tình bước tới, để có muốn than van cũng không xong khi cứng miệng chẳng mở lời được.

– Anh đang đe nẹt hù dọa đấy hở?

– Không, cô chưa nghe bài hát của dân tình chốn Québec này đó thôi. Mon pays c’est hiver. Mùa đông, trời ạ, bạc trắng cả tấc lòng trong sáu tháng nửa năm.

– Anh đã trải qua bao nhiêu cái bạc trắng nọ?

– Tôi chẳng nhớ chính xác. Hình như hai mươi sáu, hai bảy gì đó.

– Gia đình anh đều sang tuốt đây?

– Không. Tôi, chỉ một mình ên. Không rõ tôi may mắn hay bị chịu hình phạt lưu đày.

– Sao anh lại nói vậy? Tôi và Vân là hai đứa bạn thân, mỗi khi nhận được quà hoặc xem ảnh Vân gửi về, anh biết tôi đã từng ước nguyện điều gì không? Giá mà được gặp lại Vân, tôi sẽ chịu làm tôi mọi cho ai có công mang tôi đi.

– Và bây giờ? Người nào đã có được chức ông chủ diễm phúc kia?

Người con gái cười thành tiếng. Cô đã cởi bỏ được chút co ro trong bộ dạng.

– Tôi đi theo diện bảo lãnh. Tôi có ông anh trước kia du học ở đây. Vân chưa từng nói cho anh nghe về một người mang tên Bảo?

 Lữ lắc đầu. Bảo, cái tên nghe xa lạ nhưng cũng thật quen thuộc. Gọi dạ bảo vâng. Hay bão với dấu ngã, như đường ta đi nhiều giông bão quá.

 Khi bước hẳn khỏi lề đường, tiếng đàn dương cầm nhặt khoan xô tới. Bùi ngùi, Lữ nhấn chuông rồi nép người sau lưng cô gái, mái tóc dài rối ấy gây cho Lữ thứ cảm nhận mơ hồ về bàn chân đứng của mình chẳng thể thích hợp với nơi chốn. Váng vất chút lạc lõng, lúng túng hơn cả người vừa từ Việt-nam sang tới.

 Người mở ra cánh cửa dầy nặng là Vân. Lữ đọc được trong mắt Vân tràn đầy cả niềm vui, và nó chỉ phủ lấp tới người con gái. Hai người ôm nhau, òa vỡ những tiếng cười tròn trịa, và rồi thì xô đẩy nhau, tựa hạnh phúc quá thì ta chỉ có mỗi một động tác nọ để chia sẻ; chẳng biết làm gì hơn.

– Tao đâu ngờ nhà mày đẹp đến dường này, không có anh đây dắt lối dám tìm hoài chẳng ra.

– Anh Bảo có lại không?

– Dĩ nhiên rồi, biểu tao đến trước trò chuyện với mày, còn anh thì đi mướn chiếc xe van để tha đồ đoàn cho dễ.

 Vân nói Lữ đóng cửa kẻo gió lùa, lạnh. Tiếng đàn bị nhốt bên ngoài và trong nhà, Lữ nhìn ra nỗi trống vắng của những vật thể bị dời đổi. Mẹ của Vân từ nhà bếp đi lên, nhìn Lữ thăm dò rồi quay sang han hỏi người bạn của Vân. Qua đối đáp, Lữ biết ngoài tình láng giềng xưa cũ, hai gia đình họ vừa thắt chặt thêm mối liên hệ khác.

– Hồng, qua phòng bên này đi, tao đã lựa sẵn phần dành cho mày đây.

– Ừ, thích gì thì cứ lấy. Có dọn nhà mới thấy, đồ đoàn đâu mà lắm thứ. Còn cậu này thì sao?

 Câu nói đuổi sau lưng Vân, vọng dội trong phòng kín. Lữ đứng yên một đống ra đó, là món đồ đã buộc kín giây nhợ và nếu vất được thì có lẽ là thứ đáng dụt bỏ trước tiên. Vân sẽ dọn tới một khu vực khác, căn nhà này rộng quá so với gia đình Vân và nó vừa có người mua với giá cao. Bởi thế Vân ưa làm một buổi tiệc nhỏ gọi là tiếp nhận bạn mới tiện thể giã từ nơi chốn cũ. Một bữa tiệc mà kẻ đến sớm được tiếp đãi với ngộ nhận: Quét nhà ra rác, thích gì thứ cứ lấy. Nếu thích Vân tôi lấy có được không?

 Có thứ mùi lạ chờn vờn, nó cứu Lữ thoát khỏi sự bức rức khi mẹ Vân vội chạy tới nơi phát ra hương mùi. Thịt đút lò già lửa, nồi thịt hầm trào bọt, gà nướng khét? Dẫu là món gì thì khi nấu nướng ta cũng nên dọn lòng mà ân cần lân la với ông Táo, còn hơn phó mặc nó cho củi lửa để khoanh tay thẩm định tên thực khách đứng xớ rớ kia.

Còn lại một mình, Lữ bỏ ra ngoài trời với đôi chân thèm được sãi bước. Lữ bước xuống khỏi triền cỏ ẩm, trông xuôi ngó ngược con đường đang bắt đầu làm mặt lạ với Lữ, chẳng có lý do gì để mai này Lữ dẫm chân lên nó, giết qua những cuối tuần nhạt trôi, chẳng định hình. Một cô gái tóc nâu đang khom mình móc sợi dây dài vào cổ con chó đen. Người và chó tuồng như đang chuẩn bị một cuộc đi dạo. Chó luôn vẫy đuôi, còn người thì lần hồi gài kín những hạt nút áo. Lữ bước lại gần, rất đỗi buồn miệng:

– Hèn gì tôi không nghe được tiếng đàn. Cô chơi piano rất hay, ý tôi muốn nói, tiếng đàn như mang theo nó một cái gì đó, khó cắt nghĩa.

Người con gái ngước đầu lên, những sợi tóc mềm và màu mắt xanh đang như thẫm ánh chiều tà. Những ngón tay suông dài luôn xoa vào đầu con chó có bộ mặt hiền từ.

– Cám ơn. Sao ông biết tôi chơi đàn?

– Tôi cũng không biết, có lẽ do ở linh tính, tôi chưa một lần nhìn trộm qua cửa kính.

– Tôi cũng vậy. Biết láng giềng là người châu Á, nhưng chưa bao giờ tôi trông ra mặt ông.

 Cô gái nói tiếng Pháp chậm, rõ. Và Lữ, khi sử dụng ngoại ngữ anh dễ dàng dối gạt, láo khoét hơn là dùng tiếng mẹ đẻ. Buồn cười một điều là Lữ ít khi đỏ mặt nếu ba hoa bằng tiếng Tây.

– Tôi làm việc bù đầu, sáng đi chiều về và có thể cái thời khóa biểu ấy không trùng với sinh hoạt của cô. Tôi tên Lữ.

 Lữ cà khịa. Cố phát âm thật rõ một cái tên “đậm đà bản sắc dân tộc” khi nhìn xuống con chó. Ở bên nhà, ba anh có nuôi một con giống thế và đặt tên Lu.

– Tôi tên Christine. Hình như ông sắp phải dọn đi nơi khác?

– Đúng thế. Tôi sẽ lấy vợ và ba má tôi quyết định mua một căn nhà nhỏ hơn để ở, phải xa vùng đất dễ mến này rồi.

– Xin chia vui cùng ông.

– Điều ấy cũng có nghĩa là trong tương lai tôi sẽ phải chịu hy sinh, đánh đổi lấy cho mình một sự mất mác.

– Lấy vợ, đơn giản là làm phép cọng chứ ai lại làm toán trừ như ông nói.

– Tôi hết nghe thầm vụng tiếng đàn thánh thót của cô.

 Christine cười, bán diện được ánh sáng thoi thóp tô đường viền và hậu cảnh là khúc đường đang có lá rơi, thứ hình ảnh dường như chỉ có trên màn ảnh rộng, có nghĩa là mang đầy hư ảo.

– Cô chuẩn bị dắt chó đi dạo?

– Có rỗi việc thì đi cùng tôi, nếu ông muốn.

– Tôi có người anh. Ông ấy đã khiến lỗ tai tôi biết thẩm thấu, xiêu đổ bởi âm nhạc của Stravinsky. Le sacre du printemps. Tôi cũng mang cảm tình cho những đoạn của Brahms và chính cô là người nhắc nhớ tôi về những kỷ niệm cũ. Có phải vì thế mà tiếng đàn trở nên mê hoặc khi tình cờ mình được nghe?

– Có lẽ vậy, bởi vì tài nghệ của tôi chỉ tới ngang một âm vực nào đó thôi, vấp váp, chưa thoáng đạt. Hầu như tôi chưa hề đón nhận một lời khen, ngoại trừ ông.

– Ở xứ tôi có thành ngữ: Hát hay không bằng hay hát. Cô hiểu ý tôi không?

– Ông có thường đọc nhật báo hoặc theo dõi tin tức trên đài truyền hình?

– Loan tải về tin gì? Một cuộc thi thố tài năng piano?

– Không. Ông thấy căn nhà sơn màu xanh lục bên kia đường? Nửa tháng trước xảy ra án mạng ở trong đó.

 Lữ nhìn qua ngôi nhà, nó đang bị chôn bằng vô vàn xác lá chẳng ai vun quén. Những cánh cửa gỗ đóng kín, thân cành cây leo bám chằng chịt như muốn xâm thực toàn bộ mặt tiền vôi lở. Âm u và có khả năng nhốt chặt tất cả những hoài nghi.

– Mình quay về chưa?

– Ông thấy khó chịu phải không? Tôi đến thăm người bạn và đã tới nơi, ông về một mình nhé, cám ơn đã đi cùng tôi một đoạn đường.

 Lữ đốt một điếu thuốc, bởi chẳng còn ai để chuyện vãn. Điếu thuốc tàn lụn khi Lữ về đứng ngay lối vào. Lữ sẽ bước tới, sẽ ngồi xuống bàn tiệc, sẽ mang vụ án rùng rợn từ căn nhà màu lục về, thong thả kể tới cái chết của cô gái tuổi xuân xanh, thi thể trần truồng và cảnh sát tình nghi đó là hậu quả của mối tình tay ba. Mọi người sẽ tái mặt, sẽ nghi ngờ tên tường thuật. Có đứa sẽ hỏi, cớ sao anh kể chuyện ấy ra trong ngày vui này, bộ hết trò rồi sao, anh có hậu ý gì?

 Ô cửa gương nơi nhà bếp sáng đèn, nó tựa một cái TV màn ảnh nhỏ. Tuy không lớn nhưng nó đang tải khúc phim tình thật rõ nét, thật chi li và đoạn phim ấy buộc chân Lữ phải cắm đứng trên cỏ. Đôi trai gái ôm siết thân để hôn nhau sát bên tủ lạnh, bàn tay đứa con trai lùa sâu vào trong váy rộng của cô gái. Những con dao nằm gần, từ bé đến lớn thảy đều run rẩy, chớp sáng thứ màu lạnh ngọt của kim loại. Thằng con trai chắc tên Bảo, Lữ tin vậy, vì mặt nó rất giống cô em, mang tên Hồng. Còn đứa con gái thì nửa quen thuộc nửa xa lạ đối với Lữ. Không tin được là Vân, sao Vân lại đành lòng nhắm mắt táo tợn đánh rơi con tim luôn tính toan.

Lữ bước ra đường, đi một mạch tới ngã tư luôn tụ gió bốn hướng đổ về. Sau giờ hành chánh, vã lại cuối tuần, lịch trình những chuyến buýt sẽ chạy thưa ra. Buồng điện thoại công cọng sáng ngọn đèn xanh, tái mét. Lữ băng qua con lộ có vẻ vắng ngắt xe cộ, hun hút, thênh thang. Năm mươi xu và bảy con số lần lượt được nhấn vào. Chuông reo, tiếng chuông vọng vào tai đứt khoảng, rời rã. Kêu cho tới hồi chấm dứt sự thúc hối.

– A-lô…

– Tao, Lữ đây. Mày bận không?

– Có chuyện gì sao?

– Đếch có chuyện gì cả. Nếu không bận thì tới chỗ thằng André ngồi với tao.

– André nào?

– Hơn hai mươi vũ nữ trần truồng. Biết chốn ấy chăng?

– A. Thằng này có tiến bộ đó chớ. Được lắm.

– Mất bao lâu?

– Cúp máy là dọt ngay. Tới liền, tới liền.

 Đường tới chỗ đồi trụy xuôi đổ, ngược với xe buýt mỗi khi leo lên thảy đều gầm rú với khói đen. Nếu mọi lối đi đều buông xuôi đổ thân như thế này thì cơ thể nhẹ nhàng đỡ nhọc biết mấy mà kể.

Lữ đưa năm đồng cho tên mặc com-lê thắt nơ đen trịnh trọng đứng chực sau cửa. Hắn dềnh dàng đi dẫn lối, vai u thịt bắp lồ lộ dù không cần phải cởi quần áo ra minh chứng, chủ tiệm sẽ ngầy ngà. Ai cho mày khoe của chốn này, ưu tiên cho nữ quyền, biết không con? Cám ơn, chúc một đêm tốt lành. Hắn nói. Những cái răng trắng hếu lộ ra dưới ánh đèn ma mị. Thứ lân tinh phủ chụp để biến những động vật đi lại kia hóa kiếp thành đàn đom đóm lập lòe chợt sáng chợt tối. Nhạc kích động mở hết công suất làm những cái loa to dềnh dàng phải đàn hồi thì thụp 1000 W vỡ bờ, điếc con ráy. Một con đom đóm cái thơm nức mũi lượn tới, cọ quẹt vào người Lữ bằng thứ rung động tình cờ.

– Uống gì hả ông anh?

– Bia, xin vui lòng.

– Có tới hai mươi nhãn hiệu khác nhau…

– Thứ gì cũng trôi.

Lữ nói gần như hét bên đôi bông tai phát sinh mùi hương trần tục. Cô ở trần theo nội quy phải tuân và cô sở hữu cái báu vật đẹp trên mức trung bình. Cô có dáng đi mà nếu mang vào người hai bình nước không đậy nắp thì buộc lòng thủy sẽ hao, nước chảy khô dòng mới chịu thôi. Lữ nhớ lời bình phẩm của đứa bạn có tật ngứa tay ưa tìm hiểu người lạ chốn lạ: Chốn này thua bên mình ở một điểm. Bia mà không ôm. Vào đó thì xem như ngồi trên giếng mà khát nước, ông láng cháng cầm lòng không đậu để tháy máy tay chân thì nó quẳng xác ông ra ngoài đường ngay, đôi một cái rầm chẳng vị nể mình mẩy đui què mẻ sứt.

 Ở trên bục nhảy đặt giữa căn phòng có đứa con gái vừa lăn lộn vừa tháo bỏ miếng vải nhỏ, thua cả cái khăn mù-soa, nó ném cái vật che thân tối hậu kia vào mặt một thằng đàn ông đang hả miệng ra ngó. Nạn nhân cười khoái trá khi nhặt được, trùm vào đầu, cột ở cổ, lau ở mặt, hôn ở mũi và sau rốt ngồi thừ người ra, như thể bị chuốc bùa mê thuốc lú. Lữ mường tượng tới bàn tay của thằng Bảo khi lùa sâu vào chiếc váy Vân mặc. Lữ trả tiền chai bia vừa mang tới với bàn tay tự dưng run rẩy.

– Có bán bia ôm không?

Mái đầu cúi thấp, ngang tầm Lữ ngồi để lắng nghe rõ hơn. Ấm áp, thơm tho.

– Cái gì? Nhãn bia của nước nào? Chưa hề nghe qua.

 Lữ quay đầu, nhớn nhác. Đứa bạn vẫn chưa đến. Hắn từng nói, bia nội địa ở Việt-nam uống khá lắm. Hắn có vẻ thông hiểu nhiều chuyện. Tết này, cái thằng người rành đường đi nước bước kia lại có mặt tại Sài-gòn, hắn sẽ lò dò đi thăm thú những tụ điểm trá hình lành mạnh. Hắn sẽ… tới bến. Mẹ mày, có sung sướng thì cũng chừng mực nào đấy thôi. Hãy nhìn tao mà noi gương. Lữ sững mặt ngồi ngó những cánh bướm di động vây quanh. Hoang mang, chấp chới.

Hồ Đình Nghiêm

Bia đá

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Bia đá

Hồ Đình Nghiêm

 “Trăm năm bia đá cũng mòn

Bia chai cũng bể chỉ còn bia ôm”

Ca dao Việt-nam đương đại

 Mới sáu giờ, mặt trời đã rụng xuống sau chùa. Cây cao niên và tường rêu ngói ẩm như biết thu hút bóng tối. Tà dương dâng tràn. Những chân mây tím thẫm thôi bay, những bóng điện bắt đầu thắp sáng, lung linh phố phường phía bên kia sông. Sông là giãi lụa xanh uốn lượn ôm lấy chùa, đò trôi ngang thảng hoặc nhưng tuyệt chẳng một lần cập bến. Chùa đoạn lìa với mọi thứ, hoặc mọi vật đều chẳng muốn phá vỡ nỗi tịch lặng của chùa chiền. Buổi chiều, do đó, ngây dại một nỗi buồn. Trầm tịch bóng hoàng hôn xâm thực từ tốn cái khuôn viên luôn chôn chặt thứ không gian đầy u ẩn.

   Muốn xuống sông lấy nước, những chú tiểu phải bước đủ bốn mươi chín bậc cấp bằng đá. Gánh nước lên theo lộ trình cũ và con tim co thắt có khi đếm lộn, mệt mề dốc đứng vã mồ hôi. Những tảng đá trũng khuyết như minh chứng giùm: Đã có biết bao sư rời chùa với viên mãn một quá trình tu tập. Sông không bao giờ cạn, cũng như việc học vốn vô đáy, bởi thế chữ viên mãn chỉ là một cách nói đầy ước lệ. Ai cũng hiểu núi này cao thì ắt hẳn sẽ có núi khác cao hơn, trùng điệp.

  Khi dứt tiếng chuông chiều, nghe lời dặn ban sáng của sư trụ trì, chú tiểu An Lạc đi hết chiều dài khoảng sân cát hai bên nhờ nhợ từng bụi hoa trắng mọc cách khoảng như đứng chỉ đường. Một bóng đen ngồi trên tảng đá lớn, chẳng vọng động như người với đá chỉ là một, dính liền tựa hình khối một bức tượng. Ngồi đâu lưng nhưng biết nguồn cơn của làn gió nhẹ vừa xô tới. Nói mà chẳng quay đầu:

  – Con ngồi xuống, kề cận bên ta.

  – Dạ.

  – Con ở đây được mấy năm rồi?

 – Dạ, hơn mười năm.

  – Hai năm trước, vì cứu người thầy đã bơi qua dòng sông. Con còn nhớ không?

  – Con còn nhớ. Lúc ấy trời vừa sáng, và hình như đang mùa mưa lũ. Trời lạnh.

  – Ừ, đã hai năm. Sông nước ngoài kia vẫn thế mà sức khỏe thầy thì tuồng như hao hụt, xuống thấp, gần cạn kiệt. Nói dại miệng chứ giờ này nhác trông có ai sẩy chân vùng vẫy dưới sông e thầy bất lực chỉ có nước đứng hô hoán. Con có biết bơi không?

 – Dạ không. Hoặc đúng hơn con chưa thử qua. Sông chỉ đẹp ở bề mặt, phía dưới nó chứa đầy những hiểm nguy. Phải không, thưa thầy?

 – Giải thích thì phải dài dòng, phải lấy sở học mà minh chứng. Tạm thời, con hiểu như vậy cũng chẳng có gì sai trái. Bản thân của sự vật đều luôn có ở đó hai mặt. Sáng, tối. Đẹp, xấu. Hiền lành, dữ tợn…

 Sắc màu nhờ nhợ đã rút đi, bóng tối vây chặt lấy họ. Sông trôi dưới kia như con mãng xà đen đúa yên lặng trườn mình ngang qua. Biết chắc đó là sông vin nhờ vô con đò có thắp ngọn đèn dầu di động đốm lửa đỏ quạch chòng chành theo tay chèo ngược gió. Chú tiểu ngó theo, cho đến khi đốm sáng khuất lấp sau đám lau sậy mọc rậm tựa một tấm màn tre. Hai năm trước, sư trụ trì đã thất bại trong việc cứu người. Chẳng tường tận nguyên nhân, nhưng sau đó mọi người nhìn ông đóng cửa căn phòng hậu liêu để tự nhốt mình ngồi diện bích cả tháng trời. Tịnh khẩu, không nói năng. Sự im lặng như một sám hối, đồng thời khiến người ta nghĩ tới điều gì thật khúc mắc của nội tình. Nghĩ trong lòng nhưng chẳng một ai đưa ra câu hỏi.

  – Con đã qua phía bên kia sông lần nào chưa?

  – Dạ chưa.

 Chú tiểu trả lời. Thị trấn bên ấy như một thế giới khác, xa xăm. Giờ này thì nó lung linh đèn đuốc tựa một bức tranh nửa hiện thực nửa như ảo ảnh.

 – Thế mười năm loanh quanh ở đây con chưa hề một lần rời chùa?

  – Dạ có chứ. Nhưng chỉ đi xuống chợ phía dưới chân núi. Con theo mấy anh gánh rau quả đi đổi gạo muối. Mùa hè nào chùa mình cũng thu hoạch được nhiều hoa màu.

  – Ư, phải. Thế thì con lãnh hội được điều gì ở mỗi một lần xuống núi?

 – Con không hiểu ý thầy…

 – Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tiếp xúc với người bên ngoài con thấy sao?

 – Hình như đa số họ chẳng mấy thiện cảm với bọn con. Ở chợ, con nghe họ nói những điều chướng tai, không hay.

  – Chuyện gì?

 – Họ bảo tất cả những cặp trai gái, những đôi vợ chồng lên đứng chụp ảnh với cảnh chùa thảy đều bị li tán chia lià đổ vỡ sau đó. Chùa mang điềm bất thường cho lứa đôi.

  – Thật sao? Họ còn ác khẩu điều gì khác?

 – Có người nói hoàng hôn nghe tiếng chuông chùa thì bỏ đũa chẳng buồn ăn cơm, đêm nằm trằn trọc những muốn nổi loạn đi làm chuyện xằng bậy Tiếng chuông vang dội đi xa, rót vào lòng người những thông điệp ám tối, xúi dục tựa ma qủi. Chùa từng là nơi ẩn náu an toàn cho bọn sinh viên tụ tập, lên Trường sơn, đi theo mặt trận giải phóng…

  – Mô Phật! Đất nước tuy yên tiếng súng nhưng lòng dạ con người giờ này tao loạn đến mức không tưởng nổi. Mạt pháp!

 – Còn chuyện này thầy cho phép con mới nói ra.

 – Ngần này tuổi, thầy đã trải qua biết bao điều gần như oan uổng. Thảy đều nghiệp chướng. Con chớ ngại ngần.

 – Họ đồn đãi với nhau thầy là nhà sư quốc doanh. Con không hiểu chữ quốc doanh, nhưng mơ hồ nhận ra đó là chữ chẳng mấy đẹp, đầy ác ý.

  Nhà sư cúi đầu, tay lần chuỗi hạt, giây lát sau thở dài:

  – Thầy yêu qúi vô cùng câu nói của Thích ca: “Cái cuộc đời mà mình luôn bất bình này chưa chắc đã hiện hữu, niềm đau khổ hằng dấy lên trong tâm cũng vì mộng tưởng mà ra!” Con hãy nhớ lấy một điều, có những lời mình phải trân trọng cất giữ trong hồn, cũng như có những lời mình phải biết bỏ ngoài tai, cố quên đi. Hôm nay đây thầy gặp riêng con để chỉ nhờ con giúp thầy một chuyện. Con là người nhỏ tuổi nhất trong chùa nhưng là người thầy đặt nhiều lòng tín nhiệm. Có những sự việc mà thành đạt được, căn nguyên là do ở tính hồn nhiên. Con có sẵn lòng giúp thầy không?

  – Thưa thầy, trong tất cả những bài học con gắng sức thông hiểu thì giúp người có lẽ là bài học đầu tiên. Xin thầy cho phép con được trả chút công ơn thầy từng cưu mang dưỡng dục.

 – Con xuống núi, đường đi khổ ải nhiều chông gai và cạm bẫy, con có sờn lòng không?

  – Đó là một cách thực hành những điều mình đã học. Qua đó con sẽ trưởng thành. Xin thầy hãy cho con cơ hội.

  – Tốt. Thầy không nhìn lầm người. Thầy đã viết sẵn một lá thư. Thầy đã vẽ sẵn một bức họa đồ. Cảnh vật, địa hình có thể sẽ đổi khác, cho nên để con dễ tiếp cận mục tiêu, thầy có ghi chú thêm những thông tin, những chi tiết. Bấy lâu dè xẻn được một số tiền, thầy sẽ trao hết cho con lận lưng làm hành trang ngày mai đi dọ hỏi giùm thầy tung tích một người thất lạc từ hơn hai mươi năm. Một tháng trời cả đi lẫn về, liệu thời gian ấy có đủ cho con không? Một tháng. Bởi thầy biết cơ thể của mình chẳng thể chịu đựng lâu hơn. Thầy tự gia hạn sự có mặt ở cõi trầm luân này đúng ba mươi mốt ngày. Thầy đợi chờ tin vui từ con. Gắng giúp thầy mở rộng nụ cười lần cuối.

  – Con xin gắng sức.

 – Thầy thật băn khoăn, bất an vì đã đặt lên vai con thứ trọng trách quá nặng nề. Thầy đặt tên cho con là An Lạc. Con hiểu hai chữ ấy không?

  – Dạ hiểu.

 – Không bao giờ con làm ta thất vọng cả. Con là người học trò yêu mến nhất mà ta có. Con muốn hỏi điều gì không, hở An Lạc?

 – Thưa thầy, điều duy nhất con muốn hỏi là mười năm trước, ai là người mang con đến gửi chùa này?

  – Con muốn truy tầm lí lịch? Ừ, thầy xin trả lời. Đó là một người đàn ông. Ông hứa sẽ trở lại nhưng mãi bặt tăm. Ông ấy là cha con, ông nhờ thầy chăm sóc bởi quanh ông chẳng còn ai. Ông đã khóc khi quay lưng rời chùa.

  – Ổng đi đâu?

  – Cha con là sĩ quan. Ông thua trận, ông lẫn trốn một thời gian và sau rốt ông quyết định đi trình diện chính quyền mới. Đã mười năm, thầy nghĩ cha con đã chết, bởi người ta, không ai có thể chịu đựng một bản án vô thời hạn ở chốn rừng thiên núi độc. Nếu điều đó sai thì còn tình phụ tử. Một kẻ làm cha… Con hiểu không? Có điều gì khuất tất mà mình chẳng thể ngờ được. Đau khổ lắm! Đoạn trường lắm! Thôi con chuẩn bị đi ngủ là vừa, lấy sức cho ngày mai.

   An Lạc mỗi ngày ăn hai bữa. Mỗi bữa một vắt cơm chấm mè rang muối. Trước khi ăn đọc một câu chú, một đoạn kinh và đưa tay rà soát cái ruột tượng mà thầy cẩn thận khâu vá cho đúng với số đo trên cơ thể An Lạc. Dấu kín trong người tựa một trang kinh huyền nhiệm. Chú lấy am miếu hoang tàn mà nghỉ ngơi, nương nhờ vô nghĩa trang vắng tẻ mà ngủ ngáy. Chú nguyện với Thổ địa, sẽ chịu  muôn vàn đớn đau trong chuyến xuất hành này miễn đánh đổi được một kết quả như lòng mong mỏi của thầy. Ngày thứ ba, theo bản đồ thầy vẽ, An Lạc đến được thị trấn Đông Tây. Chỗ này phát triển sầm uất, nhà cao cửa rộng, những bảng hiệu sáng đèn chớp nháy rậm rật và luôn sôi động cuốn hút đủ mọi âm thanh. Tiếng rao hàng, tiếng chửi rủa tru tréo, tiếng người lớn cười, tiếng con nít khóc, tiếng động cơ xe gắn máy nổ chát chúa… Ở chùa không khí trong lành, tịch lặng ngưng đọng; ở cõi ta bà này nhiều bụi bặm và quá loạn mùi đồ ăn hỗn tạp chiên xào củi lửa, khói dật dờ vây đầy lối đi xanh xám mù mờ. Người ở phố thị nên ăn vận có phần diêm dúa, bước ra từ tường cao cổng kín xiêm y màu mè toàn hàng độc tuồng muốn khoe của, lại có hạng khố rách áo ôm, vô gia cư, đàn đúm lại mà ăn ngủ vỉa hè coi cảnh màn trời chiếu đất là chuyện hẳn nhiên chẳng quan hoài tới nghịch cảnh, không để tâm tới số phần rớt mồng tơi. Cho nên bức tranh phồn hoa đô hội kia tuyệt đối không hài hòa, xấu xa sự cách biệt hố sâu giữa hai giai cấp. Nhìn vào biết ngay chân tướng ai là kẻ thắng đứa nào là kẻ xuội lơ đầu hàng. Áo màu lam hai ba chỗ vá, bụng chẳng bao giờ no cơm đạm bạc, An Lạc tự biết phận mình cũng gần như thành phần bị bóc lột, cho nên chú lẫn tránh những lối có đồn bót cửa quyền có cơ quan nhà nước bài trí sự hung hãn của họ qua sắc màu đỏ thắm. Chú sợ bạo lực, thậm chí những điều nhỏ nhặt cũng làm lòng chú hoang mang, tỉ như bắt gặp hình ảnh con chim hoảng loạn bị nhốt trong lồng chật, dáo dác tiếng kêu nghe ai oán, não lòng.

  Dò đúng với bản đồ, An Lạc dừng chân ngó người đàn ông ngồi thu lu bên cái tủ nhỏ bày bán những bao thuốc lá ngoại quốc. Sau lưng ông, căn nhà mở rộng cửa và đó là một tiệm ăn đang hồi đông khách.

  – Thưa chú cho con hỏi. An Lạc nhỏ nhẹ gióng tiếng dò chừng.

  – Muốn xin một chỗ ngồi bán vé số phải không?

 – Dạ không. Con chỉ xin hỏi cô Phạm thị Thuận Hóa có còn ở trong ngôi nhà ấy không?

  – Chẳng biết. Quán nhậu đó toàn cả bọn đàn ông ăn tục nói phét. Dường như chốn ấy không phải là nơi đàn bà lai vãng. Chủ tiệm tên Nguyễn Thần Kinh chứ nào có ai là Thuận Hóa? Có lộn chỗ không?

 An Lạc tần ngần, dõi trông, tỏ vẻ rối trí.

  – Không tin, có thể mạnh dạn vào trong ấy mà hỏi.

 – Thưa chú, họ đang ăn thứ gì vậy?

  – Có đi học không? Hay mù chữ? Chẳng thấy chữ viết to đùng bay bướm nơi tấm bảng ấy sao? “Cờ Tây. Ở đây chuyên trị Cầy tơ”.

  – Cầy tơ là giống gì?

 – Chú em người miền nào trôi sông lạc chợ tới đây? Người Kinh hay dân tộc thiểu số? Họ ăn nhậu thịt chó đấy. Cầy là tuất là khuyển là chien là dog là gâu gâu. Không chó thì là gì?

  – Tội lỗi! Chó mà cũng bị làm thịt nữa sao? Thật là bất nhân!

  – Thôi đi ông thánh. Nó ngon tới độ nhức răng. Ngon hết biết! Dân nhậu đang hoảng vì chúng khan hiếm dần. Người ta xực cho tới hồi chúng tuyệt chủng luôn.

  – Khi Phật rũ bỏ mọi thứ, ngồi tham thiền nhập định dưới gốc cây Bồ đề, trong muôn loài, chó là con vật đến bên Phật sớm nhất.

  – Thôi đi ông cụ non. Ý cụ nói gì chúng cháu đếch hiểu.

  – Có nghĩa là trong muôn loài, chó là con vật thiết thân nhất, có thiện cảm với loài người. Trung thành, một dạ thương yêu chủ có khi hơn cả người đối với người. Và con người thì đã thui chột cảm tính, đánh mất tánh bản thiện Tội lỗi!

  – Thưa tiá. Tiá ngôn ở đây thì chẳng sao, chớ bước lên ba bậc cấp của quán nhậu ấy mà ăn nói linh tinh kiểu đó chúng úynh cho bỏ mẹ. Đánh đến rách cái lai quần vẫn cứ hồ hỡi đánh. Có sáng mắt sáng lòng thì sớm đi cho con nhờ.

 Người đàn ông xua tay như đuổi tà trong khi có kẻ mặt đỏ từ trong quán bước ra:

 – Lấy cho tôi bao ba số đại ca.

 – Hôm nay bảnh vậy? Mua nguyên bao.

 – Ừ, của đút lót, mình hút thế chó nào được. Nghe qua tên Mắt Bò chưa?

 – Sao đây? Một thứ thực đơn hay bảng hiệu một tiệm nhậu?

  – Làm gì có. Mắt Bò, cái tay này tuổi trẻ tài cao, đang khuấy động võ lâm đây.

 – Ủa, sao ngồi hóng tin ở đây mà tôi lại chẳng hay biết.

  – Thằng này con vô thừa nhận, hồi trước nó ở viện dục anh, chẳng học hành, kiếm cơm bằng cách đi làm ở lò sát sanh. Ôi, chuyện này dài, kể hết cũng khô hơi luôn.

  – Cứ kể nghe chơi. Đánh đổi bằng điếu thuốc. Này, hút đi.

  – Ừ, tôi thích sòng phẳng. Anh biết lò sát sanh rồi chứ gì? Là nơi chuyên hạ heo bò, xẻo thịt bán cho chợ búa. Bò là con vật kỳ lạ, nó linh cảm biết trước cái chết đang gần kề và nó khóc anh ạ. Cái thằng mang hỗn danh Mắt Bò kia động lòng hay sao thì mình chẳng rõ, hễ thấy con bò nào khóc thì nó đưa tay ra chùi rồi lại dụi vào mắt mình. Cứ thế ròng rã lao động mười năm trong lò sát sanh, giờ này hai con mắt nó biết nhìn xuyên thấu qua thế giới khác.

 – Là sao? Chuyện hoang đường kỳ ảo thế?

  – Nó thấy sự chuyển dịch đi lại người của cõi âm. Tóm tắc, nó thấy ma như cơm bữa. Ngán chưa? Người đời không tin. Người đời trắc nghiệm và nó phán không sai trật một mảy may.

  – Chẳng hạn?

 – Chẳng hạn ông cố hoặc bà nội anh chết tự thuở nào. Anh chỉ còn giữ hình ảnh của tiền nhân ở trong mấy cuốn album, anh cắc cớ tìm nó, bảo mày có ngon tả hình dáng ông cố bà nội tao coi. Nó nhắm mắt trong phút giây rồi nói rành rọt tựa hồ nó từng xem mấy tấm ảnh cũ kỹ kia. Y phục cắt may kiểu cọ ra sao. Dấu vết dị hình trên mặt như thế nào. Chột, sẹo, nám, tàn nhan nốt ruồi, râu ria, tay chân mình mẩy nói ngọn ngành không chừa một phân ly. Đúng y bon.

  – Nó ờ đâu giờ này?

  – Giờ này nó ở trong ngôi nhà to nhất đường Hai tháng Chín. Đời nó phất và nó sắp thành đại gia. Và có lẽ nó sẽ mang cái tên khác. Mắt Bò thì nghe kinh, mấy em người mẫu chân dài nghe cũng thấy ớn.

  – Chuyện thấy ma qủi mà cũng mang lại sự sang giàu sao cha nội?

  – Sao không? Ngoài Hà-nội người ta có tiền đô từng va-ly, người ta vào tìm nó hỏi thăm con em họ trong chiến tranh chống Mỹ xác thân vùi dập chỗ nào? Ôi dào, kinh doanh kiểu đó phải thuê người hiền lành như chú em này ngồi đếm bạc giúp nó. Đếm mỏi tay.

   An Lạc hỏi:

 – Nếu tìm người thân thất lạc hai mươi năm mà người ấy chưa chết thì liệu ông Mắt Bò có biết cách chỉ đường không?

  – Em hỏi câu gì ngặt nghèo thế? Nó có phải công an đâu. Nó không chơi với người sống, nó mặn người chết hơn.

  Ông bán thuốc lá bình phẩm:

 – Trường hợp thằng Mắt Bò thuộc loại ngoại lệ. Nó đâu có mong mỏi cái ngày giàu sang này. Có nghĩa là nó chẳng rắp tâm lựa chọn, mặc cho cuộc đời đẩy đưa. Nếu được chọn lựa, tao lựa nước mắt con gì đó bôi vô mắt mình để chỉ mong có biệt nhãn nhìn xuyên thâu áo quần của chị em phụ nữ đi qua lại dập dìu trên con đường này.

  – Tội lỗi!

   Người bán thuốc cười ré lên.

 – Sao mày ưa xài chữ ấy thế? Xã hội này ai cũng mang tội ngập đầu, ai cũng xuống tới bảy tầng địa ngục. Ma qủi ngon cơm hơn bọn mình, bởi họ chết ở cái thời điểm thanh bình ngày xa xưa. Mày hiểu không? Mày mặc áo lam như kiểu gia đình Phật tử, vậy chớ mày biết câu đời là bể khổ tình là giây oan không?

 – Thôi, chào chú con đi.

  – Phải. Đi tìm thân nhân là vừa. Đứng láng cháng ở đây cả mày lẫn tao đứa nào cũng phải nực gà, nổi nóng.

 Trời xuống sắc, hoàng hôn chờ chực đàng sau những cao ốc, đợi những ngọn đèn đường sẽ đồng loạt cháy đỏ. Thành phố này quá lớn rộng và An Lạc thấy chúng sinh, thấy bản thân đều nhỏ bé, tựa giọt nước mắt rơi vào lòng biển cả, tựa hạt bụi xô giạt trong gió, tựa chiếc lá trong rừng thu đổi màu. Tung tích của Thuận Hóa cũng thế, là con cá nằm dưới một dòng sông mênh mông chảy chẳng bến bờ. Giờ này, chữ duyên trong nhà Phật là chữ có khả năng mang tới niềm tin cho An Lạc. Chú biết chắc cuối cùng chú sẽ đối diện với người mà chú hằng khấn nguyện xin được gặp mặt. Khi người ta trang bị một lòng thành để đi tìm, họ vượt qua những gian khó và họ sẽ nhìn thấy điều ẩn khuất chờ đợi. Đó là một sự trả công tất yếu.

 Ngày thứ năm, theo thông tin của một người đàn bà giặt chiếu bên sông, An Lạc lên đò trôi nổi tới thị trấn Bắc Nam. Chú đã rút từ ruột tượng tờ bạc thứ ba dùng để trang trải vào những việc chẳng thể dè xẻn, tằn tiện. So với những phố phường từng bỏ lại sau lưng, thị trấn này xô bồ, đông đúc và hỗn tạp hơn vạn lần. Người da trắng, người da màu, dân ngoại quốc tứ xứ cũng chen vai thích cánh đi đứng loạn xị giữa phố. Sành điệu và ma mãnh gấp trăm lần An Lạc. Trong đám đông nếu có ai muốn kiếm ra một đứa người nước ngoài, họ sẽ đồng loạt đưa tay chỉ vào bộ mặt ngơ ngác của An Lạc: Nó đấy. Nếu không đúng, hẳn nó vừa từ dưỡng trí viện trốn chạy ra. Nó hiện thân của thứ quá khứ mà ta muốn chôn vùi. Nhìn nó, ta buộc lòng phải hồi tưởng lại vết cắt thương đau của năm 75. Hoảng loạn, tả tơi. Mặt cắt không còn hột máu. Tán loạn, đổ vỡ, phân lìa, ly loạn. Trù dập, tù tội, cưỡng bức. Một vết thương không bao giờ thành sẹo. Đã bao nhiêu năm trôi qua, sao tự dưng giữa đời sống đương đại văn minh vật chất này lại lòi ra một thằng người “cũ kỹ” dường ấy?. Sao nó có thể sống sót? Sao nó có thể bắt kịp với thời đại? Ngôn ngữ nó dùng cũng thế. Nhỏ nhẹ, lễ độ, phép tắc. Những thứ mà chúng ta đã đánh rơi theo chiều dài lịch sử, từ đổi mới cho tới kinh tế thị trường.

  – Dạ thưa thím, cho con hỏi cô Thuận Hóa có phải thuê nhà ở đây không?

  – Dạ thưa bác, làm ơn chỉ giùm con lối nào để đến đường Cách mạng tháng Tám?

 – Dạ thưa anh, em nhận sự ủy thác của một người và em hứa chu toàn công chuyện để người ấy an lòng đi vào giấc ngủ ngàn thu.

  – Dạ thưa cô, để con gánh nước giúp cô. Con quen việc ấy rồi. Con không lấy tiền trả công đâu. Chi xin cô chỉ bày ngõ nào đến đường Nam kỳ khởi nghĩa.

 Ngày thứ tám, An Lạc đứng trước một cánh cửa đóng kín. Cửa đen đúa, chạng vạng làm nó thêm thẩm màu. Gõ đi, cửa sẽ mở. An Lạc nhớ, hình như câu đó nằm trong Thánh kinh. Ngay tình mà nói, kinh Phật hay kinh Koran, thảy đều có những điểm trùng hợp tựa thế. Đã là kinh sách, chẳng ai nhẫn tâm rao truyền xúi dục những điều sai lầm cho chúng sinh. Biên tập lại, hoàn chỉnh nốt những điều tốt lành, càng xa những điều hoang tưởng càng qúy. Người ta đọc, trí tuệ được khai mở và tùy nhân duyên phẩm hạnh đức độ của từng người, họ tiếp nhận chúng, thực hành và giúp bản tính ngày một hoàn thiện. Không nở bề ngang cũng mạnh bề dọc. An Lạc gõ. Từ nhẹ nhàng đến mạnh tay. Khoảng năm phút thì cửa mở. Phía ngoài tối, phía trong thắp sáng ngọn đèn néon dài tám tất, tô một đường viền rạng ngời quanh cơ thể người con gái. Người ấy tay còn nắm chốt cửa, cô vẫn đứng án lối chờ đợi tiếng xưng hô của người khách đường đột.

  – Dạ thưa chị cho em hỏi có cô Thuận Hóa ở nhà không?

  – Em là ai? Nhìn em, đoán chắc là kẻ vừa vượt ngàn dặm đến đây. Em tên chi?

  – Dạ thưa em tên An Lạc. Dạ đúng, em trú thân ở một nơi xa xôi, hẻo lánh.

  – Vậy chớ em tìm Thuận Hoá với mục đích chi? Duyên do đâu mà em biết có một người mang tên Thuận Hoá?

 – Có người nhờ cậy, có người bày đường, có người mong mỏi ngóng tin, có người viết thư cho cô Thuận Hoá. Xin chị giúp em, có cô Thuận Hoá đó không?

  – Chị là Thuận Hoá đây. Tên đó chị đã xoá sổ, tự khai tử, giờ này chị tên Mộng Hằng. Chị thật ngỡ ngàng khi đã quá lâu mới có người thốt lên hai chữ Thuận Hoá. Thuận Hoá tựa như Sài-gòn vậy, thay tên đổi họ mất rồi. Ấy chết, vào nhà hẳn nói.

   Người con gái đóng cửa. Nhà nhỏ, có vẻ như cô sống một mình. Đồ vật không nhiều, có vẻ như cô chẳng mấy khá giả. Ngọn đèn xanh lét trên trần soi xuống vóc vạc cô làm An Lạc chẳng dám quan sát lâu. Cảm nhận có điều gì bất an đứng chờn vờn đâu đó. Cô mặc đồ ngủ, mỏng như giấy quyến dùng vấn thuốc lá, chẳng có nội y

gì cả. Lơ đễnh hết biết. An Lạc nuốt nước miếng, người nóng như thể đứng sát lò nướng bánh mì. Sao chủ nhân không chảy mồ hôi, tỏ vẻ khó chịu. Quen với khí hậu bất thường đó ư?

 – Em có vẻ khát, để chị rót nước em uống. Em biết uống bia không?

  – Tội lỗi! Thưa chị, cho em ly nước lạnh thì em mang ơn.

 – Kỳ cục. Em xuất thân từ đâu mà ăn nói dường như khác thường.

  – Đây là lá thư em vượt ngàn dặm đường để mang tới cho chị đây. Vất vả khó nhọc như tảng đá trên vai giờ đây được trút bỏ xuống. Em rất hạnh phúc khi được đứng gần chị bởi cứ tưởng sẽ mất nhiều thời gian mới tìm gặp mặt. Chị hãy đọc lá thư phong kín này rồi chị sẽ thông rõ ngọn ngành, đầu giây mối nhợ.

 – Đưa đây. Chị sẽ đọc. Nhưng trước tiên chị có một đề nghị chẳng biết An Lạc có đồng tình không? Em nên lui nhà sau để tắm rửa kỳ cọ bụi đường, chị biết An Lạc đã kinh qua nhiều gian nan. Người ta nói: Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện, điều ấy không sai nhưng cần bổ túc thêm, là cơ thể đó cần phải sạch sẽ. Đúng không?

 – Dạ, đội ơn chị. Em tính bày tỏ nguyện vọng nhưng lại sợ chị mắng. Em xin phép được tắm táp.

 – Lui đây, chị chỉ chỗ. Cái khóa nước nằm kia, cái vòi sen trên ấy. Trước khi mở nước An Lạc nhớ kéo tấm màn ny-lông lại. Trong hộp nhựa đó có đựng cục xà phòng. Cái khăn lông này chị mới thay, sạch, đừng ngại. Chớ sợ tốn nước, cứ xài thoả thích. Chị lên đọc lá thư đây.

 An Lạc thực thi theo những điều chị Thuận Hoá bày vẽ. Lần đầu tiên, chú tiếp cận với những thứ lạ lùng. Ở chùa, khi tắm, chú lội xuống sông, sâu tới ngang thắt lưng. Đứng giặt áo quần, dùng nó để quất từng luồng nước vào cơ thể. Hoặc không thì sau sân chùa, gần cội mai già có giếng nước mát, múc từng gàu lên, nhắm mắt dội xuống cơ thể nẩy nở của thằng con trai vừa kịp vỡ tiếng.

  An Lạc mở hộp nhựa, trong đó cục xà phòng màu hồng có khắc nông hình dáng con chim bồ câu. Hương mùi nhẹ toả và khi chà xát vào da thịt nó trơn tuột nổi bong bóng những luồng gợi cảm khó giải thích. Mùi thơm của nó mang đầy sự tăm tối u mê, bắt chú phải mân mê hưởng thụ thứ thống khoái chợt ùa tới. Chú sờ dương vật mình và kinh hãi thấy nó thay đổi khác thường. Nó như hăm he muốn đòi hỏi, vượt thoát điều cấm kỵ trái khuấy. Tội lỗi! An Lạc lẩm bẩm. Chú phải tự đánh thắng lấy bản thân. Chú tắt nước và chú nguyện sẽ sớm rời khỏi chốn này, về chùa chóng ngày nào tốt ngày đó. Nơi đây đầy bất trắc, chú chẳng an tâm, sợ quá trình tu tập của mình sẽ chóng bị hủy diệt.

   Đêm ấy, khi thức trên giường, đầu An Lạc nhức đau như bị ai dùng gậy đánh lén vào trán. Cơ thể rã rời tựa hồ vừa bơi qua sông rộng. Giường nệm êm ái thơm tho và hiện tại nó nhăn nhàu xộc xệch tả tơi. Nó là tấm gương soi rọi, qua đó An Lạc nhận biết toàn thân chú đang trần truồng. Từ đỉnh đầu đến gót chân, thần kinh nối liền ngang dọc thảy bải hoải, mạch máu chạy tán loạn rần rần, chuyên chở thứ cảm giác nửa mệt mỏi nửa mê say thích thú. Đầu óc An Lạc mụ mị, chú thực không nhìn ra chân tướng của sự vật, của nguồn cơn, của tỉnh thức hay mộng ảo chiêm bao. Trên đầu giường có thắp ngọn đèn vàng bóng nhỏ yếu watts, luồng sáng ấy như biết đổi hướng tập trung soi rọi vào cơ thể Thuận Hoá. Cô từ nhà vệ sinh bước ra. Không một mảnh vải dính da và đích thị cô là nguyên nhân, làm dấy lên trận động đất khốc liệt thật hoang đường. An Lạc nằm bưng mặt, thổn thức. Chú biết người chú vừa bị tổn thương, cái giống vật biểu tượng cho con trai đã thực sự sức mẻ. Chú khóc, từ nhỏ tiếng cho đến òa vỡ chất ngất. Chiếc gối có thêu hàng chữ mộng đẹp đã sũng nước mắt người con trai mười bốn tuổi đương thì.

  – Sao lại khóc? Hãy nhớ cho mình đã vừa hoá thân thành thằng đàn ông rồi. Một thằng đàn ông, nó không có quyền nhỏ lệ trước mặt đàn bà. Em hiểu không?

  – Chị đã làm gì tôi?

  – Chị biết em mệt mỏi nên giúp em ngủ ngon bằng cách cho em uống thuốc ngủ.

  – Rồi sau đó? Chị biết tôi là người tu hành sao nở ra tay bức hại đời tôi?

  – Bức hại. Ai bảo thế? Đã không mang ơn người ta còn dở thói ăn quàng nói xiên. Muốn ngủ với gái trẻ đẹp như chị người ta phải tốn bao nhiêu em biết không? Em là An Lạc, hãy khai tử cái tên ấy đi, chị gọi em là Khoái Lạc. Đã sướng chưa?

 – Tội lỗi. Có lẽ khi về chùa tôi sẽ không dám xuống tắm sông, sợ xác thân này làm ô uế dòng sông thơ mộng kia mất.

  – Mô Phật. Em càng nói chị càng yêu mến em. Chi đọc truyện Liêu trai thấy ma nữ muốn trẻ mãi không già thì chỉ có cách tìm trai tân bắt về để hút lấy dương khí. Cũng như trong Tây du ký, ma nữ hồ ly tinh đều thèm khát được ăn thịt Đường tăng. Chúng nó bảo thịt da kẻ tu hành đều bổ dưỡng, ngon không bút mực nào tả xiết. Em là kẻ tu hành, chị rất muốn mình được là ma nữ. Cuộc đời này chẳng có gì vui thú, chúng ta sum vầy đêm bảy ngày ba thì có chết xuống địa ngục cũng cam lòng.

  – Giết người có nhiều cách, xin chị đừng giết tôi bằng kiểu lạ lùng kinh khủng ấy. Nếu còn sót chút từ bi trong lòng xin chị hãy cho tôi sớm về chùa. Viết cho thầy tôi một lá thư để chứng minh là tôi có tìm đúng người thầy ngóng tin. Tội lỗi. Cứu người hơn xây am, xin chị cho An Lạc này một lối đi.

 – Em biết ông sư trụ trì trên chùa ấy là ai không? Là bố chị đấy. Trong thư ông cũng dùng lời lẽ lâm ly y như em vậy. Một người cha vô trách nhiệm như thế không nên đón nhận sự hồi âm. Đừng tơ tưởng. Ông vất mẹ con chị bơ vơ giữa cuộc đời điên đảo này, muốn sinh tồn chị phải làm nghề bán bia ôm. Em hiểu chữ bia ôm là gì không? Sớm ngày mai em về chùa, hãy thoát y trước mặt ông ấy. Em chính là lá thư mà ta đã cào cấu ngang dọc vết xước trên da thịt tối nay. Là ẩn ngôn, là thông điệp mà khi xem qua ông sẽ ngộ. Đời có vay có trả, chị nguyện sẽ ở đây tới mãn đời đợi ngày trở lại của em. Muốn chém muốn giết muốn làm tình làm tội làm mưa làm gió tùy ý. Đời ta bất hạnh từ nhỏ, xác thân này nằm trong vòng tay của biết bao thằng đàn ông. Ta không cạo đầu xuống tóc nương thân vào cửa Phật cũng là chuyện lạ!

  Mất ba ngày di chuyển, An Lạc về lại đường xưa lối cũ. Cảnh vật vẫn thế chỉ có lòng người luôn đổi thay, biến tướng. Sông kia vẫn vậy, êm đềm chẳng gợn sóng chỉ có tâm người mãi vọng động những sân si vô thường. An Lạc đứng dưới bậc thềm lòng chưa quyết có nên tìm gặp thầy để loan tin. Khi sự hồn nhiên vuột mất tâm thức ta còn đó nỗi dằn vặt khôn nguôi, nghe chuông đổ lòng những thêm bấn loạn khó nắm giữ niềm an lạc thảnh thơi. Râu ria mọc lún phún dưới cằm, An Lạc trông già đi, đến độ khi soi bóng xuống nước, sông kia vốn hững hờ cũng phải cau có bề mặt, sóng đồng tâm loang ra. Không phải đâu. Sóng ấy có do bởi một người vừa xuống múc nước làm khuấy động đó thôi. Người ấy múc đầy hai thùng nước, quay đầu lại rồi đực mặt khi ngó thấy An Lạc:

  – Ủa, em đã về rồi ư?

  – Dạ phải. Em mới về.

  – Mất bao lâu? Trông em giờ này đã trưởng thành như một kẻ lạ, một người của phố phường.

  – Thầy vẫn khoẻ?

  – Ô hay. Anh thật sơ ý! Đáng trách, đáng trách! Em xuống núi hai hôm thì thầy trở bệnh. Mọi người cố giữ bình tĩnh để tìm ra hai phương án: Thứ nhất, khẩn cấp đưa thầy xuống bệnh viện tỉnh. Thứ hai, đánh điện kêu cứu Thượng tọa Đại đức. Lại phải biểu quyết lần nữa sau khi nghe nhà thương loan tin phải mang thầy vào bệnh viện chuyên khoa để mổ tim. Sau khi biểu quyết, mọi người thống nhất với ý kiến của Thượng tọa: Muốn đấu tranh với thần chết buộc lòng chúng ta phải cho thầy ăn nhiều thịt cá cùng chất bổ dưỡng. Thầy ngã mặn, điều ấy cần cho sức khoẻ. Cơ thể phải chứa nhiều vitamin mới có sức chống chọi với phẩu thuật, với bệnh tình.

– Và thầy đã phá giới?

 – Bắt buộc. Thực đơn nghe lâm ly bi đát, ngày hai bữa phải uống sữa ăn trứng gà cá saumon Alaska hấp với đậu Hòa-lan, thịt bò bíp-tết cùng khoai tây nghiền với bơ. Tráng miệng bánh kem caramel hoặc sữa chua. Đầu bếp do cái ông gì đó chuyên nấu cho khách sạn ba sao dưới phố. Cẩn thận và bí mật không nên để lộ ra bên ngoài. Đệ tử chúng mình tối tối gia tăng giờ trì chú tụng kinh mong thầy sớm bình phục. Chùa này thiếu mặt thầy thì chẳng còn gì để nói. Thôi, hãy theo anh lên chùa.

  – Em chưa lên được. Anh không thấy chuyện này kỳ cục sao?

 – Sao vậy? Kẻ tu hành chẳng nên chấp nê những điều nhỏ nhặt. Tùy hoàn cảnh, mình phải biết co giãn để đi cho hết con đường sạn đạo. Ông Lão Tử có nói:”Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa?” Em đang nực cười hay sao đây?

  – Đạo ấy là đạo gì?

  – Đạo trường tồn. Nghệ thuật sống.

 – Anh giải thích chẳng được minh bạch. Em phải đi nhìn mặt thầy. Nhà thương nào hả anh?

  – Bệnh viện Trung ương.

 Trong ruột tượng còn sót chút tiền. Điều đó làm An Lạc chẳng ngần ngại, xẳng xái là đằng khác. Chú đi xuống núi như điệu bộ một cậu học trò vất sách vở xuống đất để đi săn đuổi những cánh bướm bay chập chờn trên đồi cỏ mượt. Lòng chú đã đổi, âm thầm chú nào hay. Nghe thầy ngã mặn thay vì lo âu, chú lại thấy sảng khoái. Chú đã ngủ với đàn bà, có thánh mới hiểu được cơ thể sung mãn giờ này đang thay da đổi thịt từng phút giây. Cứ nhắm mắt trong chốc lát, chú lại thấy rõ mười mươi đường nét có trên cơ thể Thuận Hoá. Tóc cô ta như rong rêu làm rối trí kẻ đang bơi. Ngực cô ta mềm mại, hạ thể cô ta ướt át; và toàn thể đó là thứ gì hoàn chỉnh nhất mà tạo hoá đã tốn công nhào nặn ra. Không có nước, cá chết. Không có đàn bà, có lẽ trái đất này sẽ hiu quạnh tựa như ngày tận thế.

  Giữa đường, có cặp tình nhân cho xe gắn máy chạy chậm lại. Người điều khiển xe thắng đứng, chống một chân, tắt máy và cả hai cùng rời khỏi nệm xe.

 – Này bạn hiền, chúng tôi nhờ tí việc.

 Người đàn ông nói với tay vẫy. Sau lưng, lấp ló một mặt hoa da phấn. Người đàn bà cười, nụ cười thân thiện. Nụ cười kéo bước chân An Lạc lại gần.

 Trong tay người đàn ông đong đưa chiếc máy ảnh:

  – Mái chùa cong vút đâm lên trời xanh. Có thấy không? Uy nghi thật. Em hãy đứng sát bên anh. Rồi, nhờ bạn chụp cho bọn tôi một tấm ảnh.

  – Hai ba pose càng tốt. Người đàn bà thêm thắt, tay ôm cứng một bên hông nhân tình.

  – Trước khi chụp tôi xin thành thật đưa ra lời cảnh báo.

 An Lạc ngó lên mái chùa, nương thân trong đó nhưng chưa một lần chú để tâm ngắm bóng dáng đồ sộ của nó, nhất là đứng ở vị thế của ngoại giới như lần này.

 – Xin nghiêng mình lắng nghe. Người đàn ông đùa cợt.

 – Chưa có lứa đôi nào hạnh phúc khi lên đây chụp ảnh. Họ trở về, gây gỗ, mắng nhiếc và chia tay. Anh chị nghĩ sao?

 – Cóc nghĩ gì cả. Cứ bấm máy đi. Nhớ hô một hai ba để bọn tôi chuẩn bị nụ cười.

 Ánh flash nháy lên.

 – Tuyệt vời. Cám ơn bạn hiền. Đừng quan ngại. Áp phe mười lăm ngàn thôi. Đám cưới giả. Bảo lãnh sang Mỹ thì đường ai nấy đi. Hạnh phúc là điều bọn chúng tôi sợ hãi nhất. Chùa có linh thiêng đừng bắt bọn tôi phải sống keo sơn như đôi uyên ương. Mẹ kiếp. Đám cưới giả! Ngực cô dâu cũng giả. Rốt cuộc thì cõi ta bà này cái gì cũng láo lếu khốn nạn!

 Tiếng xe gắn máy rú lên, phun khói lui sau rồi chạy vòng vo theo con đường độc đạo uốn lượn quanh sườn núi. Màu trắng của chiếc áo người đàn bà mặc phất phơ, ở xa trông tựa như tờ giấy vàng mã cúng người khuất mặt lặng lẽ bay trong chiều.

 Chuông chùa mệt mỏi gióng tiếng. Trầm, nặng, đục đuổi theo chân An Lạc đang sải bước.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Tình mẫu tử xoắn vò

Đặng Chí Bình

Bài 39

Trong tình trạng đen tối như thế của giai đoạn ấy, thì chuyện cậu mợ Tập nhường chuyến đi lại cho tôi, là một cơ hội của đời tôi. Hơn nhiều người đã hiểu, đã biết: Trong đời của một người, cơ duyên (duyên may) chỉ đến một hay hai lần, nếu người đó không biết nắm lấy, để nó vuột đi, đôi khi lại có tác dụng ngược. Nghĩa là cái cơ duyên đó lại làm cho đời người ấy khốn đốn tơi bời.

Vì đời là kỳ diệu!

Như vậy, ai cũng đã thấy, nếu tôi không nhận, mới là chuyện “trái khoáy” của cuộc đời. Theo ý cậu mợ Tập, nếu tôi đồng ý ra đi, thì một buổi hai vợ chồng tôi xuống gặp cậu mợ bên đường Trần Quốc Toản, sau này là đường 3 tháng 2. Chúng tôi đã nhờ mẹ, cho cậu biết và xin một ngày chúng tôi sang thăm cậu mợ.

Đêm ấy hai vợ chồng tôi cũng biết bao nhiêu tâm tư chồng chéo trong lòng.

Trong cuộc sống biết bao nhiêu chuyện không theo ý của mình, mà phải theo một cái khuôn thước hoàn cảnh và điều kiện khách quan. Chẳng một ai mới cưới một người vợ trẻ đã bỏ vợ lại để ra đi, và càng chẳng một ai, người con gái mới lấy chồng lại muốn để cho người chồng của mình ra đi. Ra đi vượt biên ở những giai đoạn ấy có hàng chục tình huống xẩy ra, tù đày, xuống lòng biển, cướp biển bắt v.v. . . Còn một cái có thể ở cả những trường hợp đi thoát, đi được, nhưng người ra đi đã ôm cầm thuyền khác, điều này lại không phải là cá biệt.

Như vậy tâm trạng của Hoa, vợ thương yêu của tôi, sẽ trăn trở như thế nào? Nhất là trong bụng đã có mầm mống của tôi hai ba tháng, kẻ ở người đi: “chia đàn, xẻ lứa”? Tôi phải hiểu để cảm thông với những trận giông bão trong lòng của Hoa. Chồng mới cưới, mới bén mùi thương yêu đã ra đi với hàng chục tình huống. Hầu như ra đi, không có ngày trở lại, bụng mang dạ chửa, tay làm hàm nhai (Tay trắng như chưa bao giờ trắng thế?). Chồng ra đi, còn để lại một trách nhiệm ý thức liên đới, cha mẹ già yếu, mù lòa. Hoa ơi! Nghĩ đến đây, anh chỉ biết xin cúi đầu lắng nhận cái lồng lộng của tình em, sự chịu đựng truyền thống, em đã được thừa hướng, của người phụ nữ Việt Nam. Con xin cảm tạ Trời, Chúa đã ban cho con một người vợ là Hoa.

Một buổi chiều, sau một ngày lao động căng thẳng, tôi uể oải nhấn chiếc bàn đạp của chiếc xe, cũng mắc nhiều bệnh, vì tuổi nó cũng đã về chiều. Mở khóa vào nhà, cũng như mọi khi, thoáng bóng thầy tôi nằm trong màn, dù thức hay ngủ tôi vẫn lên tiếng chào: “Thưa thầy, con về”, rồi vào gian trong chào mẹ, nhưng mẹ tôi không có ở nhà. Loáng lên, tôi thấy có vấn đề, lại không thấy em Hoa. Nhớn nhác, tôi xuống bếp, bếp cũng lạnh vắng như “chùa bà Đanh”, vừa quay lên nhà, tai thoáng có tiếng động trên sàn gác, tôi giồ lên, thì cũng là lúc có đôi bàn chân mềm, của em Hoa thò đi xuống. Tôi được biết từ sáng, Hoa đã đưa mẹ vào nhà thương Hồng Bàng.

Khoảng 9: 30 (sáng) thầy tôi mở cửa, gào to với hàng xóm:

– Các ông, các…… bà …..ơi!

Bà Chức và một vài người chạy sang. Mẹ tôi đã nôn ra nhiều máu, người đang xỉu trên giường, mỗi người một tay, nắn cổ, xoa dầu, đỡ bà cụ ngồi dậy.

Bà Chức, nhanh nhẹn chạy sang tổ ngòi bút Đức Thành gọi Hoa; rồi bà Chức và Hoa đã thuê chiếc xích-lô đạp, chở bà cụ vào nhà thương Hồng Bàng cấp cứu.

Hoa đã mệt nhọc từ sáng với bà cụ trong nhà thương, mới về hơn một tiếng, quá mệt lả, nên chả thiết làm hay ăn uống gì. Tôi tranh thủ gầy nồi cơm, rồi chuẩn bị cùng với Hoa trở lại nhà thương, mãi bên Chợ Lớn. Dưới đất, trên giường đây đó còn những vệt máu của mẹ tôi, chưa dọn lau sạch, tuy tôi cũng mệt, nhưng bụng chả thiết uống, ăn gì. Vả lại, có muốn ăn cũng chả có gì mà ăn.

Nghĩ đến mẹ tôi đang rờ rẫm một mình trong một căn buồng nhiều người lao bệnh khác, như tôi vừa nhai xong một nhúm muối rang. Tôi muốn phóng xe ngay, sang nhà thương Hồng Bàng, nhưng nhìn Hoa đang chậm chạp đi xuống bếp, để giải quyết vệ sinh, tôi lưỡng lự vài giây. Tôi đã vậy, nhưng còn Hoa, người vợ thương yêu của tôi đã có bầu? Mệt nhọc từ sáng với mẹ tôi, nếu không tỉnh táo giải quyết lần lượt sự việc, có nhiều khi sự việc lại kéo dài thêm ra, trầm trọng thêm. Nếu quá sức, người mẹ đã vậy còn đứa con trong bụng?

Nồi cơm đã ghế, đảo 5-10 phút nữa chín, Hoa phải ăn một bát cơm nóng. Tôi đổ thêm một ít mắm cáy của mẹ Hoa mới cho hôm qua, thêm lẫn vào chiếc soong con mắm tôm chưng, hai loại mắm đảo lộn với nhau. Chưng nóng sôi lên thành một món ăn ít người được thưởng thức. Vừa xong thì cơm cũng đủ chín, Hoa cũng từ nhà cầu ra, hai chúng tôi mỗi người một tay, một chân, lấy sẵn bát đũa, thìa lên bàn cho thầy tôi, rồi mỗi người xới lẹ một bát cơm thưởng thức vội, với món ăn tôi vừa sáng chế.

Hai vợ chồng vừa nhìn nhau, vừa nhồm nhoàm nhai miếng cơm với mắm, tôi chợt nghĩ đến một ý:

Dù nghèo mà vui…..Hỏi ai không hé môi cười… …

….

Tôi yêu ….quê tôi, yêu lũy tre dài… …đẹp xinh …

Rồi miệng nhai, tai tôi nghe rõ mồn một bài hát “Tôi Yêu ” hình như của ông Trịnh Hưng sáng tác thì phải, từ trong hố sâu của ký ức. Tiếng hát đu đưa réo lên ở một chiếc loa phóng thanh, trong khu chợ Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn một buổi chiều muộn nắng nhạt, khi nhiều gia đình đã quây quần bên mâm cơm năm 1958.

Tôi yêu …..quê tôi…..yêu mãi ….bây giờ càng yêu… …

Yêu con sông xanh……dâng cát …..hoe vàng bên đình……

Yêu trăng buông lơi…..trên má cô nàng…..dệt tơ….

Và yêu cánh đồng vời xa… ….. ngàn tay dâng mùa thái hòa

Yêu anh, yêu em……. Yêu nước…..yêu trời gần xa

Và yêu….mối tình nở hoa….ngàn năm …..không hề phai nhòa.

Tôi mắm môi, mẩm lợi đèo Hoa sang Chợ Lớn cho kịp trước giờ nhà thương đóng cửa. Đến cổng cũng là lúc ông già gác cổng đang đẩy cánh cổng khép lại để khóa. Tôi hộc tốc cùng Hoa xông vào, ông già nhìn tôi và Hoa đang chạy phía sau với vẻ mặt của con ngan vừa “tè”, ông nói như tiếng mưa rơi mùa hè :

– Đã đến giờ rồi, anh ơi!

Vừa thở hổn hển, mặt tôi vừa dài ra, nhăn nhúm lại:

– Thưa bác, tôi vừa đi làm về tới nhà, mẹ tôi bị ngất đưa vào đây, xin bác thông cảm cho đứa con trai nghèo thăm người mẹ.

Ông già ngừng tay đóng cổng, mặt của ông tỏ vẻ ái ngại:

– Tôi thông cảm cho anh, còn cháu thì không được!

Tôi biết ông ta lầm, nên nhã nhặn nài nỉ:

– Thưa bác đây là vợ của tôi… cũng đã mang bầu…..

Ông mở cổng rộng ra, nhưng mắt của ông cũng mở to, tưởng chỉ còn lòng trắng, để nhìn hai chúng tôi như một chuyện không bình thường của quê hương nhiều máu lửa. Khi tôi đi qua cổng, ông già đã để tay lên tay tôi, trên ghi dông xe như muốn kéo lại để ông cởi cái nút băn khoăn trong lòng của ông về một đôi vợ chồng, mà ông lại tưởng là cha và con.

Nhưng rồi ông lại nở một nụ cười hiền hòa, đẩy tôi đi, như đã tự tìm được câu giải đáp: Trong một đất nước không may gặp phải cái nạn “hồng tuộc” để gây ra một cuộc chiến tranh dai dẳng ác liệt suốt một giải Trung Nam Bắc liên tục 30 năm. Hết chống thực dân xâm lược, lại làm nồi da để nấu, hầm thịt của mình. Cho nên nó đã đẻ ra nhiều chuyện không bình thường, mà đây là một. Khi đã có quá nhiều chuyện không bình thường, thì đương nhiên nó trở thành chuyện bình thường. Có nghĩa chuyện của vợ chồng tôi, cũng chỉ là, một câu chuyện bình thường của quê hương nhiều súng đạn, lửa, bom của chúng ta.

Tôi đã hình dung từ trước, nhưng khi nhìn thấy mẹ tôi, tôi đã không nhìn rõ người, vì nước mắt của tôi giàn ra mà tôi đã không kìm giữ được. Họ đã cắt tóc mẹ tôi chỉ còn hơn một phân. Người nằm, mắt người lúc nào cũng nhắm, không thể biết được người thức hay ngủ, nếu người không động đậy tay, hoặc chân. Cái mặt của người khắc khổ càng bé choắt lại.

Ngày xưa, mẹ tôi là người đẫy đà, tầm thước duyên dáng đã được nhiều bạn hàng và họ hàng trêu đùa, ca ngợi, nhất là đôi mắt. Đôi mắt mà thầy tôi vẫn bông đùa với chúng tôi, mỗi lần nàng Xuân của dân tộc ghé thăm gia đình tôi: “Mẹ chúng mày có đôi mắt thu hồn người”, thế mà giờ đây, một tấm thân khô gầy, tiều tụy chỉ vì những tai ương của cuộc đời đã dập vùi, dầy vò mẹ tôi.

Cái tai ương mở đầu, lại chính đứa con trai cả, yêu quý của người gieo. Người con trai ấy đã bất ngờ bỏ ra đi, không một lời từ giã mẹ mình, để lại cho người những đêm dài thấp thỏm, khắc khoải nhiều nước mắt.

Người con trai khi đó do bầu nhiệt huyết, tâm hồn trắng trong của tuổi trẻ, thẩm thấu cái nhân sinh quan của cụ Nguyễn Công Trứ: Chí trai ngang tàng vẫy vùng ngang dọc bốn phương trời. Không những cụ có tài về quân sự mà còn uyên bác về kinh tế, xã hội. Trong văn học sử nước nhà, khó tìm được một người: Tri, ngôn, hành hợp nhất. Vì thế ngay khi còn niên thiếu, học trung học đệ II cấp, tôi đã thuộc làu nhiều thơ văn của cụ. Chỉ nghĩ và làm những điều mình muốn, ở những phương trời có lửa và có máu. Chàng trai ấy, đâu nghĩ đến cái nỗi lòng của người mẹ, chờ con:

Chờ con lúc canh khuya……

Người con ….đã ra đi ….. vì ….nước!

…..

Để rồi …….. biền biệt ……… mất tiêu.

Tôi hơi một chút se lòng, lắt lay trong đạo lý làm con, mập mờ, sáng tối giữa hiếu và trung. Mẹ tôi đã khóc thương con nhiều, nên người đã lòa cả đôi mắt từ 1964. Còn thằng con trai thứ hai lớn lên, cũng đi vào quân đội để cứu nước, cuối cùng đã bị một tên du kích hạ sát để trả thù, lúc đang ngủ ở giữa cánh đồng, trên Hồng Ngự năm 1976 để lại một đàn con sáu đứa côi cút và người mẹ cũng đã bước sang thuyền khác. Người có hai đứa con trai, thì cả hai đứa đều bỏ người lại, để ra đi không trở về.

Cuộc đời của người và gia đình càng chìm sâu vào vũng lầy trong hang tối, để đến bây giờ từ lao tâm, người đã trở thành lao phổi, trầm trọng mà không có thuốc men để chữa chạy. Tôi cứ ngồi yên nhìn mẹ tôi nằm, dòng suy tường của tôi cứ cuồn cuộn vặn vò trong đầu, nó đã vắt kiệt và đẩy dần nước ra ngoài mắt tôi

Đặt một tay lên bàn tay gầy của người. Tôi chỉ nói được một tiếng “mẹ”, bao nhiêu nỗi niềm như đút chặt cổ họng, làm tôi không nói ra lời. Mẹ tôi tuy nằm, nhưng người không có ngủ, như “thần giao cách cảm” người biết ngay là tôi. Nước mắt của người đã giàn ra, môi của người mím lại rồi thốt ra, cũng chỉ có một tiếng “con”. Tay của người xoay lên cầm nhẹ tay tôi, người vẫn nằm yên, nhưng trong hai hố mắt của người nước càng giàn ra nhiều hơn. Tôi phải lấy khăn lau mắt cho người và cũng chiếc khăn ấy, lau cả cho tôi. Nhìn lên Hoa, mắt cũng đỏ hoe, tôi chợt nhớ đã đến giờ về để trình diện.

Hoa ở lại với mẹ, 5 giờ sáng mai tôi đưa cơm nước sang, hẹn Hoa ở ngoài cổng nhà thương, vì giờ đó chưa mở.

Tôi sẽ dậy từ 4 giờ, nấu cơm, để kịp chuẩn bị đưa sang nhà thương, rồi phóng xe sang tổ mộc Thành Công, bên Phú nhuận. Tôi còn phải sang bà mẹ vợ, nhờ mẹ đến tổ ngòi bút Đức Thành, xin cho Hoa nghỉ để chăm lo mẹ lòa, trong bệnh viện.

Sau khi tôi đi trình diện về, ở nhà tối hôm nay chỉ có hai bố con tôi, nhìn đôi mắt chậm chạp lờ đờ của thầy tôi, tình phụ tử từ dưới đáy con tim của tôi đã trỗi dậy. Mới 7: 30, tôi chạy vội ra cửa hàng bà Lân để mua thêm hai hào cà ghém nén, món cà tuy mặn, nhưng thầy tôi vẫn thích từ ngày xưa.

Sau khi bà xúc cho gần một chục quả cà, tôi nhìn mấy con cá khô, tôi biết thầy tôi cũng thích mà tôi cũng thèm, nhưng tôi cứ ngần ngừ. Bốc đồng, tôi định bảo bà ấy bán cho hai con, chợt nhớ Hoa đã dặn gom cho đủ 12 đồng để đong thêm 7 kg gạo thiếu. Vì đã đổi bo bo để lấy gạo, vừa không muốn ăn bo bo lại vừa thích ăn cá kèo, thì làm sao mà đạt? Năm hào cà nén, đã là phóng tay rồi. Tôi bước ra tới cửa thì bà Lân lại gọi giật vào:

– Cậu cứ cầm lấy hai con cá về mà ăn! Tôi không lấy tiền đâu!

Tôi đã trợn mắt nhìn bà Lân “bà này đọc được tâm tư của tôi ư?”. Nghèo, nhưng lòng tự trọng của tôi vẫn trỗi lên:

– Cám ơn bà, tôi đủ rồi!

Bà ấy cầm luôn hai con cá, gói vào miếng giấy báo đưa vào tay tôi:

– Cậu cứ cầm về đi, tôi còn mang ơn bà cụ nhiều lắm!

Sau này, tôi nhớ lại, có lần tôi hỏi mẹ tôi thì được biết: Khi mắt của mẹ tôi còn sáng bán vải ở chợ, người giữ (làm chủ) nhiều bát “hụi”, không những rộng rãi, nhân nhượng với bà Lân, mẹ tôi còn là người đỡ đầu cho con trai của bà ấy.

Sáng hôm nay, cũng như mọi khi, tôi dậy từ 3: 30, để lo cơm nước đưa sang cho mẹ và em Hoa. Đặc biệt hôm nay, có chừng nửa lạng bột sắn dây, loại này giai đoạn ấy rất quý và hiếm của bà Cần trước cửa nhà, đưa cho tôi chiều qua, dặn đưa vào cho bà cụ. Thứ này rất mát, rất tác dụng với bệnh lao phổi.

Ngoài ra, chiều qua tôi có mua được một bó rau lang, tôi đã luộc để lại cho thầy tôi mươi ngọn, tôi ăn mươi ngọn, còn gói đem sang cho Hoa và mẹ. Ở nhà thương mẹ uống thuốc bị nóng, thiếu rau tươi, Hoa cũng cần vì bụng chửa, tôi cũng cần “bồi dưỡng” cho con tôi đã 4- 5 tháng rồi. Chả biết con trai hay con gái, kinh nghiệm của cô Thu, cô Xuân và mấy bà hàng xóm, bụng chửa tròn như quả dưa hấu, đứt đuôi là con gái. Nhưng theo mợ Út và ông lang Diệm phía trước nhà thờ, bụng óng lên như mít Tố Nữ thì có chạy đi đằng trời, cũng là thằng cu tí! Tôi chẳng biết nghe ai, con trai hay con gái, cũng là của quý như ngọc, như vàng của tôi. Bây giờ tôi cứ phải bồi dưỡng cho con tôi đã. Con thông cảm cho bố nhé! Bố không có tài, lại đang bị con Hồng Tuộc nó ràng bố, nên bố chỉ có rau lang, để bồi dưỡng cho con thôi.

Vừa đạp xe, đầu óc mông lung, vừa nghĩ đến bồi dưỡng, mà đã nhìn thấy cổng bệnh viện Hồng Bàng rồi. Mới 4: 45, còn 15 phút nữa, mới tới giờ Hoa ra cổng.

Nhìn chéo phía bên kia cổng, một mảnh vườn con, với chiếc ghế để không, tôi vòng sang đấy ngồi chờ. Mới còn tinh mơ, đã có hai chú bướm trắng đậu vào hai bông Thược Dược. Hai cánh “khỏa” chậm chạp như một ông tiên, đang phe phẩy chiếc quạt lông ngỗng. Tôi khẽ nhón bước, lách vào bụi râm bụt, tiến lại gần hai anh chàng hay cô nàng bướm. Thôi, cứ cho một chàng và một nàng đi, cho họ hạnh phúc mà mình có thiệt hại gì đâu?

Một con phía cuối cánh, gần đuôi có mầu xanh nước biển, một con cũng phía cuối, lại có mầu vàng nghệ, tôi cứ cho con vàng nghệ là một anh chàng đi. Anh chàng thò mãi cái vòi như sợi chỉ nâu, chọc vào hết chẽ này, lại chẽ khác của nàng Thược Dược mới nở. Hai chiếc cánh cứ ấp vào rồi lại mở ra, thỉnh thoảng cái bụng con, cong cong của con bướm có điểm chút màu xanh biển, cũng có vẻ tham lam lắm. Chiếc vòi của nàng ngoặt ngoẹo lách vào chẽ này, lại quặt sang chẽ khác của bông hoa. Hai chiếc râu con phía trên đầu, cứ lắc lắc mở dài ra, rồi lại cuộn vào cứ như đang bơm bánh xe đạp bị hết hơi. Cánh của cô nàng cũng từ từ mở ra khép vào giống như anh chàng mầu nghệ, có thể anh chàng và cô nàng đã chắc dạ, nên lại lẳng lơ vờn đuổi nhau sang mãi bên kia vườn.

Cũng kỳ khôi, từ nãy tâm trí của tôi chỉ chú ý đến đôi bướm trắng mà không để ý đến một khóm huệ, phía sau chiếc ghế tôi ngồi, có hai con chuồn chuồn nâu gắn vào nhau! Nhìn thoáng, tôi có cảm tường là một chiếc trực thăng thu nhỏ. Chúng không biết có tôi ngồi ngay đấy, tôi khẽ xoay người đầu cúi thấp, mò gần lại xem chúng làm gì mà lạ vậy? Thảo nào, mới khi vào ngồi ghế, lẫn vào mùi thược dược rõ ràng có một mùi lạ. Bây giờ tôi mới hiểu, đó là mùi đài các qúy tộc của huệ trắng, thứ hoa thường để dâng hiến Đức Mẹ và Phật Bà Quan Âm. Nó vừa trâm anh, thế phiệt lại vừa hòa nhã, khiêm tốn, đạo đức, thế mà mấy chú chuồn chuồn mới bảnh mắt, đã rủ nhau đến làm trò.

Rất là lạ, đuôi của một con phía dưới lại cong tớn lên, gắn vào phía sau đầu của một con, ôm phía trên. Con phía trên quay ngược đầu lại, thò mãi cái đuôi dài xuống phía dưới, gắn vào bụng của con phía dưới: Chẳng biết chúng làm cái trò gì mà rắc rối vậy? Tôi đã giơ tay lên định chộp cả đôi, để nhìn cho rõ, nhưng tôi chợt nghĩ, dù là một sinh vật nó cũng có buồn, vui, sướng khổ, tôi không có quyền làm gián đoạn hay phá quấy, cuộc sống của chúng nó.

Nghĩ thế, tôi đã hạ tay xuống để cho cái mũi, tự do hà hít cái hơi thiên kim của nàng huệ trắng, đang phì ra cái hơi ngát, ngây ngất của tiểu thư. Làm cho tôi quên béng là phải đứng yên và thở nhẹ, để ngắm nhìn đôi chuồn chuồn. Tôi đã đứng thẳng người lên, làm cho hai chú chuồn chuồn đang ôm nhau, cất cánh sang mảnh vườn bên cạnh. Lúc chúng ôm nhau bay đi, lại càng giống một cái trực thăng bà già, mà tôi đã nhìn thấy nhiều lần.

Tôi đang định dẫn xe đạp theo sang mảnh vườn bên ấy, thì đã thoáng thấy bóng em Hoa trong cổng bệnh viện, phía bên kia đường đang vẫy. Như chợt tỉnh một cơn mê, của anh chàng Từ Thức :

Rằng xưa…..có gã …..từ quan …… ….. lên non

Tìm động …….hoa vàng …… với …..tiên!

Tôi vội dẫn xe đưa các thứ sang cho em Hoa, đến nơi, chưa kịp hỏi thăm mẹ, em Hoa đã hỏi tôi rồi:

– Anh làm gì . . . . . . mà em gọi . . . . . . em vời mãi?

– Xin lỗi em! Đêm qua anh ít ngủ, nên hơi mệt? Mẹ …. đêm qua, có ngủ được không em? Cả em nữa?

Chợt nghĩ đến con của tôi, như có một sinh khí luồn vào người, tôi tươi mặt:

– Thế còn con của anh, nó có ngủ yên không?

Hoa đỏ mặt rồi ứ. . . .ứ, tay cầm các thứ đi vào, chẳng trả lời một câu hỏi nào của tôi. Tôi cũng đã đến giờ phóng xe sang Phú Nhuận.

Buổi chiều, tôi lúi húi vo gạo, đặt nồi cơm để chuẩn bị sang với mẹ. Đã hơn một tuần, mẹ tôi đã đỡ nên ngày mai nhà thương sẽ cho mẹ tôi về nhà, uống thuốc Bắc. Mấy hôm trước, một ông bác sĩ trẻ trưởng khoa, hỏi tôi và Hoa có một loại thuốc trị vi trùng lao của Tiệp rất hữu hiệu, chúng tôi có đủ tiền lo cho bà cụ không? Với giá tiền ấy, chẳng khi nào chúng tôi nghĩ tới, chứ đừng nói là chúng tôi có, nhà chạy gạo, chạy củi từng ngày làm gì có tiền mua loại thuốc như vậy.

Có thể Chúa và ông Trời đã thương gia đình chúng tôi hay sao, vài ngày sau, mẹ tôi lại tỉnh táo, như có một phép lạ tiếp sức, hàng ngày nhà thương cũng cho mẹ uống thuốc lá Đông y là chính.

Buổi tối, tôi đi trình diện về, vừa bước vào nhà, thầy tôi chỉ chiếc ghế như bảo tôi ngồi. Tôi ngồi đưa đôi mắt ngạc nhiên nhìn thầy tôi, hôm nay người có những thái độ khác thường. Người mở tủ, trịnh trọng lôi ra một chiếc hộp con đánh vẹc- ni đã cũ, từ mãi góc trong cùng của chiếc tủ cũng xấp xỉ tuổi đời với thầy tôi. Người mang chiếc hộp ra chiếc bàn con, nhà vẫn ăn cơm. Chiếc hộp chỉ có cái móc, không có khóa, người ngồi xuống mở hộp, tôi đoán chắc người có món gì quý người cho tôi đây? Người cầm ra một cái lọ con mầu tím xanh, người đưa cho tôi mặt người tươi lên, nói dịu dàng:

– Con giữ lấy . . . . . . mà dùng?

Tay tôi cầm, nỗi ngạc nhiên của tôi càng lớn hơn, rõ ràng là lọ mực Wateman của thời trước 1975. Lọ mực còn đầy nguyên chưa mở, vậy người đưa cho tôi để làm gì? Dù tôi biết là thầy tôi đã hơi lẫn trí, nhưng tôi vẫn băn khoăn. Để thầy tôi vui lòng, tôi nhận và cũng trịnh trọng:

– Con cám ơn . . ..thầy!

Thầy cho mực để đi học? Rõ ràng tôi đã bốn mươi mấy tuổi, lại đang là phó thường dân, chạy ăn từng bữa, còn đang làm đơn xin vào nơi địa ngục của đời, thì còn học hành cái gì? Vậy người cho lọ mực để tôi bán lấy một hai đồng? Hợp lý và rốt lý nhất là tinh thần của người không còn sáng suốt, nên người đã làm như vậy!

Tuy thế, chiều ngày hôm sau, mẹ tôi và em Hoa ở nhà thương về, ngoài những chuyện khác, tôi vẫn còn đưa chuyện lọ mực Waterman ra hỏi ý kiến Hoa và mẹ. Hoa và mẹ cũng ngẩn người ra chịu chết, cuối cùng cũng chỉ còn cho là thầy đưa lọ mực trong một lúc mà óc thầy không còn sáng suốt.

Phần tôi đã nhiều lúc tôi định hỏi thẳng thầy tôi, nhưng tuy thầy tôi đã lẫn trí, nhưng người vẫn còn cái uy với tôi. Cái uy nó đã có từ những ngày tôi còn bé, còn niên thiếu, những ngày khổ cực tập luyện võ nghệ, đấm đá cây chuối, đấm đá cột nhà, bao cát. Khổ luyện về mùa Đông cũng như mùa Hè hàng chục năm, từ ba bốn tuổi đã phải đứng Trung bình tấn, Đinh tấn, Xà tấn, Chảo mã tấn.. trong những bài quyền thuật, hay có binh khí cho mãi tới 14-15 tuổi. Rồi những trận đòn nên thân của thầy, nên tôi cứ rụt rè không dám hỏi, vả lại tôi đã đinh ninh là một việc làm của một người không còn bình thường, nên tôi đã bỏ qua.

Tôi nhớ lại hôm kia, tôi đang gò lưng đạp chiếc xe già trên đường Trương Minh Giảng, thì gặp Tuấn Nguyệt. Cũng như năm ngoái gặp Lộc Vàng, những người của Hà Nội, của miền Bắc, giờ đây lại gặp ở Sài Gòn. Tuấn Nguyệt bị ghép cái tội phản tuyên truyền, phản cách mạng, chẳng có án ung gì mà chỉ “tắc bọp”. Loại tù tập trung ba năm ở miền Bắc XHCN hầu như ở đại đa số người tù, người thì ba lệnh, bốn lệnh, năm lệnh v.v…

Mỗi lệnh là ba năm, rất ít người được cái may mắn là một hay hai lệnh, thì được về.

Tuấn Nguyệt cũng ở cái lệnh thứ ba, tại phân trại A, trại trung ương số 2 Phong Quang ( Yên Bái ), thời gian này, (cuối 1974) tôi đã gặp Tuấn Nguyệt. Anh có bố di cư vào miền Nam 1954, ông đã già, không di tản, Tuấn Nguyệt liên lạc lại được với bố. Năm 1976 Nguyệt được tha đã về sống với bố, Nguyệt lấy vợ, cả hai vợ chồng cũng vất vả ngược xuôi để kiếm miếng ăn. Hiện nay Nguyệt cũng chả có công việc gì làm; lông bông thỉnh thoảng ăn bám ông bố già, Nguyệt cũng khoảng tuổi của tôi, hiện nay cảnh sống cũng tương tự như tôi, chỉ có khác là người tù địa phương (những người ở miền Bắc đi tù như Trần Nhu, Nguyễn Chí Thiện, Lý Cà Sa, Vũ Thư Hiên). Chứ không phải như tôi, của chính quyền miền Nam ra Bắc, anh không bị mất quyền công dân và quản chế như tôi.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Chuyển đổi tư duy

Đặng Chí Bình

Bài 38

Dẫn xe ra khỏi tổ mộc Thành Công, phố phường, cảnh vật hôm nay tươi ra roi rói, như trong lòng tôi lúc này, vợ và cháu gái đến tìm tôi! Đã mấy chục năm nay có ai hỏi tìm, thăm tôi đâu? Hôm nay cảm giác của tôi khác thường. Như vậy tôi cũng là một người như mọi người! Và tôi cũng có hạnh phúc giống người khác, điều mà đã mặc nhiên từ lúc nào, tôi không còn dính dáng gì đến cái hạnh phúc của cuộc đời này.

Tôi nhớ lại, cái tâm trạng đó, rõ nét nhất là cái buổi sáng hôm ấy, sau sáu năm ở trong buồng kín, tên cảnh sát khoá tay dẫn tôi sang toà án nhân dân Hà Nội để xử. Tôi nhìn đường phố Hoả Lò, tôi nhìn phố Hàng Bông Ruộm, dòng người và xe cộ ngược xuôi. Nhiều người ngước lên hoặc ngoái lại nhìn tôi, một tên tù gầy gò xanh tái bị khoá hai tay, do một tên cảnh sát đeo súng, lầm lì giong phía sau. Phía người dân, họ chẳng còn lạ gì với cảnh cùm khoá này, trong cái xã hội Cộng Sản. Nhưng phía tôi, tâm trạng của tôi: Tôi có cảm tưởng như nhìn một loài người khác, một xã hội khác, tôi không còn dính dáng, liên quan gì với họ.

Nhưng hôm nay, vợ tôi và cháu Lan đã lấy lại cho tôi cái cảm giác tôi còn dính dáng, còn liên quan đến cái xã hội này, những người đang ngược xuôi trên đường phố là đồng bào ruột thịt của tôi. Tôi nhìn em Hoa và cháu Thanh Lan cứ ríu rit cười đùa nhởn nhơ, tôi như muốn nói: “Em yêu và cháu thương có biết rằng em và cháu vừa chuyển đổi tư duy của một người đấy!” Tôi xin cảm ơn em thương yêu và cháu ngoan với tư cách một người Việt Nam.

Một ngày khác thường, một ngày vui như thế này, nếu tôi có điều kiện, tôi sẽ đưa em và cháu vào một nhà hàng nào đó, như thể hiện một tấm lòng với một tấm lòng.

Sờ vào túi, nhớ lại chỉ có 3 đồng rưỡi từ hôm kia còn lại, tôi đã định tối hôm nay sẽ bàn với em Hoa, hai vợ chồng sẽ chuẩn bị nấu một bữa cà ghém có thịt ba rọi, xào cháy cạnh với đủ mùi gia vị: ngổ hương và lá tía tô. Món tủ, món sở thích của mẹ.

Mặt của tôi ngẩn ra, đã cho tay vào túi lại đành rút ra. Đi qua một xe nước mía, tôi chợt nghĩ: Nếu uống nước mía loại 2 thì được, loại nhiều đá, ít mía chỉ ba hào (cắc), loại 1 những 5 hào cơ. Nhìn trán cháu Lan lấm tấm mồ hôi tôi ghé sang, hơi kéo “ghi-đông” xe về phía xe nước mía. Tôi hỏi cháu Lan có mệt để cho bác đèo bác gái? Nhưng cháu muốn tỏ nhã ý nói: “Bác đã yếu, phải làm mộc cả ngày, ăn uống lại không đủ chất, hơn nữa cháu còn có ý định ghé thăm ông bà ngoại.”

Cơm nước xong, từ cửa sổ trên gác, nhìn em Hoa đang loay hoay rửa chén bát, tôi nghĩ đến nguồn vui hôm nay, chả có cái gì liên hoan chào mừng. Mỗi người mới có một ly nước mía loại 2! Tôi quay lại lấy chiếc quần đùi, lẹ làng xuống dưới nhà. Nhìn làn tóc huyền óng ả, thấp thoáng, che chiếc cổ trắng ngần, tôi cúi xuống, nhẹ áp mũi tôi vào hít hà cái mùi ngọt ngào à nói khẽ vào tai em Hoa:

– Hôm nay vợ chồng mình lại đánh cờ!

Mặt em đỏ như gấc chín, quay lại đắm đuối nhìn tôi. Em đã tự hiểu như một thói quen ngất ngây êm ả mà Thượng Đế đã ban cho một đôi vợ chồng. Tôi vào đi tắm trước, và em sẽ tắm sau để chuẩn bị cho “cuộc cờ”.

Công việc chồng chất vây quanh, quấn chặt vào người, ăn uống, cũng chỉ có rau, mắm rồi lại cà tương. Đôi khi, bữa cơm cũng có con tôm, con cá, miếng thịt, thì từ thầy mẹ đến chúng tôi, đều hí hửng như có chất tươi ở trong tù. Đó là cảnh sống hiện nay của chúng tôi, nhưng từ lâu đã trở thành một thói quen. Hãy gạt hết qua một bên, mọi trở ngại khó khăn vây quanh, chú trọng hưởng cái trước mặt! Cuộc sống đã cho tôi hiểu: “Không biết trân quý những cái mình đang có, thì mình sẽ không được tận hưởng cái tuyệt vời của nó”.

Đã trở thành nền nếp hơn một tháng nay rồi, từ ngày tôi và Hoa cùng trẻo lên chung một chiếc “thuyền đời”, mỗi một lần đánh cờ thì tôi được bồi dưỡng một quả trứng gà tươi của cửa hàng bà Khản trước cửa chợ Nam Hoà. Lên gác, mảnh mặt trời chiều đã chìm hẳn từ lâu, chéo phía Đông một mảnh trăng gầy đang nhìn vào cửa sổ. Tắt đèn đi, trong căn gác trống, ánh sáng mơ hồ mập mờ, càng tạo cho “cuộc cờ” thêm hương vị. Chẳng cần quay lại, tôi đã biết em thương của tôi đã lên gác, cái mùi ngọt ngào ngan ngát nhè nhẹ quên thuộc, đã phả kín căn buồng.

Bỗng cái mùi ngầy ngầy ấy sực đậm hơn, đôi vai của tôi bị một cái gì vừa mềm, vừa cứng đè trĩu xuống, rồi hai thỏi ngọc ngà của đôi cánh tay đã quấn chặt cổ, làm tôi tưởng không thở được. Tôi đâu có chịu thua, tôi sẽ cho cô nàng biết sức mạnh của chiếc dây đàn từ bé tôi mới được “gảy” vói cô hơn một tháng nay. Tuy tôi ít “gảy” nhưng khi tôi đã “gảy” thì trời “long” đất “lở”, cho tả tơi gỗ đá, cho rung chuyển cả căn nhà, để rồi chỉ có chắp tay mà lạy….xin tha!

Khi người “anh hùng” vùng vẫy chiến đấu đã ngã ngựa, em Hoa mới ghé sát tai thỏ thẻ:

– Anh có biết tối hôm qua, mẹ gọi em vào mùng, hỏi em cái gì không?

Tôi biết “tỏng” Hoa nói như vậy để tôi sẽ vồ vập hỏi Hoa là mẹ hỏi gì? Nhưng đừng “hòng! Tỉnh bơ tôi thong thả nói:

– Anh đã biết rồi! Mẹ cũng hỏi anh!

Hoa cuống quít hỏi:

– Mẹ hỏi sao?

– Em đưa ra ý kiến trước, thì em nói trước; anh sẽ nói sau!

Hoa ngồi hẳn dậy, nói ngập ngừng:

– Mẹ hỏi em: “Đã một tháng rưỡi, gần hai tháng… có thấy người khác thường không?”

Em trả lời mẹ là “em không thấy gì cả”!

Tôi nhìn Hoa với đôi mắt thương yêu nhiều hơn vì em của tôi, vợ của tôi thật “ngây thơ và hiền”. Tôi nhớ câu: Hạnh phúc cho những ai lấy được vợ hiền, lòng tôi cũng nhen nhúm lên một niềm thích thú: Mình thua cuộc đời, về nhà chỉ bắt nạt được “vợ”. Nhưng tôi lại chợt nhớ, khi còn ở các trại tù chung, các bác giả thường nói: Khi vợ có con, vợ bắt “nạt” lại mình, càng nhiều con càng bị “nạt” nhiều.

Tôi nghĩ đến mẹ tôi, hẳn người mong ngóng lắm để tôi sớm có con, vì tôi đã lớn tuổi rồi. Tôi lại lan man nghĩ, có thể gần hai chục năm, tôi ăn uống đói khát, dơ bẩn, hầu hết là bo bo, ngô, khoai, sắn, cả nấm độc, đến lá cây rừng …cho nên tôi không còn bình thường nữa chăng? Tôi trở mình, kéo em Hoa lại gần:

– Rồi mẹ bảo sao hở em?

Thái độ của Hoa như được hưng phấn, sôi nổi, khoe một thành tích:

– Mẹ dặn em ra gặp bà Ngôn bán thịt, đặt mua một quả cật heo, đem về xẻ đôi lấy hết cái trăng trắng bên trong, nó rất hôi. Rồi ướp hành, tỏi với muối và đem nướng khô cho anh ăn. Buổi chiều, em đã đặt rồi, sáng mai anh sẽ có ăn.

Chẳng biết thế nào, tôi chỉ được ăn năm, sáu lần cật heo. Nửa tháng sau, em Hoa cứ nôn oẹ sáng chiều, để rồi mẹ tôi cười tủm tỉm lẩm bẩm: nó đã “có” rồi!

Ngày hôm sau, sáng nào cũng vậy, Hoa dậy sớm nấu cơm. Sau khi nắm cho tôi một nắm cơm với ít mắm tôi chưng, Hoa chuẩn bị cơm nước cho thầy mẹ xong, tôi và Hoa bắt đầu đi làm mỗi người mỗi ngả, chỉ có buổi chiều là bữa cơm sum họp gia đình.

Hôm nay, sau khi cơm nước xong, Hoa và tôi chuẩn bị: Thầy tôi một ly nước vối nóng, mẹ tôi một ly nước lá thuốc cho bệnh phổi của mẹ, dáng mặt khắc khổ, mẹ tôi chậm rãi:

– Các con ngồi xuống đây, mẹ muốn nói chuyện với các con.

Thấy thái độ của mẹ hơi khác thường, chúng tôi kéo nhau ngồi lại. Thầy tôi, sau khi kéo điếu thuốc lào, cũng đến ngồi một ghế. Tôi đứng lên, đến bên mẹ, nhẹ vuốt bàn tay nhăn nheo của mẹ, thì thào:

– Có chuyện gì thế hả mẹ?

Mẹ không nói gì, nhưng hai dòng nước từ đôi mắt lòa từ từ chảy xuống má. Miệng người méo xẹo đi, nói ngập ngừng thổn thức:

– Mẹ đã kêu van Chúa và mẹ Maria nhiều đêm ngày, cho mẹ được nhìn thấy con trai của mẹ bây giờ ra sao một lần. Mẹ khao khát, thèm ước đêm ngày. Vợ chồng con lam lũ cực nhọc, mẹ đứt ra từng khúc ruột. Phải chi, Chúa không bắt tội mẹ, thì các con đâu có khổ cực như bây giờ!

Nhìn đôi mắt hõm sâu, còn ướt của mẹ, má mẹ hóp lũm vào, càng làm giồ đôi xương quai hàm, hằn rõ từng chiếc xương dưới làn da nhăn nheo, Bệnh lao phổi đã hút hết thịt, làm cho mặt mẹ teo lại. Tôi hình dung lại bộ mặt của mẹ 19 năm xưa, ngày tôi về gặp mẹ buổi chiều cuối cùng trước khi lên đường vào đất địch trong ngôi nhà thờ Nam Hòa.

Dạo ấy nhà thờ còn là tôn là gỗ, tôi cũng đã cầm đôi bàn tay mềm mại của mẹ, đôi mắt của người nhìn tôi, khi ấy tôi đã có cảm nghĩ: “Trên thế gian này không có một ngôn từ nào nói hết được cái đẹp, cái bao la lồng lộng của đôi mắt người mẹ”. ….Nghĩ đến đây, tôi không muốn, nhưng nước mắt của tôi đã giàn ra, làm cho em Hoa cũng nước mắt vòng quanh. Kéo ghế sát lại gần mẹ, tôi cầm tay mẹ áp vào má, tôi nức nở:

– Mẹ ơi! Con nghe nói khoa học ngày nay, có thể đổi thay được mắt. Trước bàn thờ Chúa linh thiêng, con xin tự nguyện kính biếu một mắt cho mẹ, để mẹ nhìn thấy con và con cũng nhìn thấy mẹ cho đến trọn đời.

Mẹ vuốt đầu tôi, như ngày tôi còn bé, mặt người có sắc tươi hơn lên, miệng người nói mà như cười:

– Mẹ sắp về với Chúa rồi! Con còn phải kiếm gạo để nuôi cháu của mẹ.

Thầy tôi thở dài, rồi lụ khụ đứng lên, lần vào giường, tôi cũng đỡ mẹ tôi đến giường của người, trong khi Hoa ra rửa chén bát. Tôi lấy cuốn vở để chuẩn bị đi trình diện CA khu vực. Hôm nay, là tối thứ Năm còn phải đến sinh hoạt tổ khu phố tại nhà ông Trùm Lộc, lúc 8 giờ tối hàng tuần.

Hôm nay tôi đi làm về, Hoa đã vẫy tay nói nhỏ:

– Mẹ bên nhà, bảo anh sang, mẹ nói cái gì ấy!

Chúng tôi sắp xếp vội vàng cho gọn ghẽ công việc nhà, rồi cùng xin phép thầy mẹ để sang nhà ông bà nhạc, một lúc rồi về ngay.

Chúng tôi đã được gặp mẹ của Hoa, nội dung, mẹ Hoa cho biết: Bên nhà cậu mợ Tập (em ruột của mẹ Hoa), trước đây, có một tổ chức vượt biên quen biết cậu. Họ lấy khách chỉ là quen biết để an toàn kín đáo. Khi đó cậu mợ có ý định cho người con trai tên là Hòa (em họ của Hoa), mỗi người đi phải đóng ba cây vàng. Là chỗ thân quen nên ai cũng đã đóng vàng rồi, để họ có sở phí lo cho chuyến đi.

Bốn tháng trước, cậu Hòa đã đi một lần, nhưng trục trặc nên chưa đi được, nay cậu Hoà quen biết một cô gái nhà nền nếp, cậu thay đổi ý kiến là sẽ cưới vợ, rồi sẽ đi sau.

Cậu mợ Tập cũng là loại có tiền, lại quen biết giao tế với chính quyền mới, thấy người cháu rể mới là tôi, trong hoàn cảnh ngặt nghèo về quản lý của chính quyền. Nhã ý của cậu mợ Tập là sẽ nhường lại suất đi cho tôi, theo cậu mợ, người cần đi đích đáng là tôi, đích đáng hơn là con của cậu. Mẹ của Hoa hỏi ý kiến tôi, để bà còn sang nói chuyện với em trai và em dâu là cậu mợ Tập.

Trong đám cưới của tôi, đã nhiều lần tôi tiếp chuyện với cậu mợ Tập, sau chuyến đi không thành do người bạn thân Nguyễn Hữu Lợi khổ công tổ chức. Di hại của chuyến đi là hầu hết người đi còn đang ở trại giam Gáo Dừa. Ngay hai đứa con của vợ chồng Lợi, ở đồn Cỏ May còn chưa lo xong cho chúng về, vợ chồng Lợi còn đang liểng xiểng về chuyến tổ chức cho tôi đi. Tôi tự hiểu, trong hoàn cảnh của tôi, không còn một hy vọng gì để ra đi nữa. Tôi đã được nghe, được biết nhiều chuyện vượt biên trầy trật, đầy cam go. Ngay ở Ngã Ba ông Tạ, có ông bà chủ một hiệu vàng lớn, từ ngày mất nước đã lo vượt biên, chạy trốn Cộng Sản nhiều lần. Nhiều lần bị bắt phải lo vàng chuộc, đút lót, tốn phí cũng phải vào tù hai ba lần.

Đến nay (cuối 1981) hết cả tiền, ông ta như người ngớ ngẩn lang thang dật dờ trong những nhà họ hàng, quen biết. Trong dân chúng, sau sáu năm trong bàn tay sắt bọc nhung của Cộng Sản đã hiểu, đã thấm, mức độ khác nhau. Hầu hết ai cũng muốn ra đi. Tôi có cảm nghĩ: Nếu được đi tự do, mấy con chó, mèo, gà vịt, trâu bò cũng ra đi. Nghĩa là con vật cũng muốn ra đi, huống chi con người? Nên nó mới đẻ ra nhiều những tổ chức thật, giả, lừa lọc Phía Cộng Sản cũng có nhiều phương pháp công khai, bí mật ngăn chặn và để xoay tiền và vàng.

Thép đen – Quyển IV

Đặng Chí Bình

Post by Sơn râu 8 Nov 2023

Hợp duyên đời

Đặng Chí Bình

Bài 37

Ngày Chủ Nhật, mợ Út và tôi đã sang nhà ông bà Chức, tôi đã được gặp ông Chức từ trên Phương Lâm về. Tôi cũng đã được gặp một số anh chị em của cô Hoa, cuối cùng đám cưới sẽ được cử hành vào ngày 28 tháng 9, như thế chỉ còn hơn hai tháng nữa.

Phải nói, do tình thương yêu đùm bọc của bà con bạn bè, nên đám cưới được chuẩn bị dù giản dị, trong điều kiện và hoàn cảnh của giai đoạn ấy, nhưng cũng tạm đủ những truyền thống, tập tục của quê hương. Tôi cũng cật lực, chạy ngược xuôi với các ban ngành của địa phương, từ thành xuống đến công an khu vực. Tôi không thể quên được nghĩa tình của họ hàng, bà con, bạn bè:

– Anh chị Hiền ( anh họ của tôi ) đã cho mượn một cái giường đôi một tháng.
– Mẹ của anh Mai Văn Học (một biệt kích nhẩy toán ra Bắc mới được tha), nhận sẽ mua cau tươi cho đám cưới.
– Cô Thu và cháu Thanh Lan, đi lo đặt mua một số bánh phu thê (xu xê) và bánh cốm.
– Cô Oanh, bạn của cháu Thanh Lan đã cho mượn một bộ quần áo, và giầy của người anh trai mới cưới vợ.
– Con trai (Hùng), con gái, con rể (Vợ chồng Uy+ Lý) của anh Nguyễn Huy Lân (toán trướng toán Boone chưa được về) đến chuẩn bị nhà cửa, giúp đỡ tôi trong đám cưới.

Để xác định rõ ràng, tôi ra phường hỏi rõ ông Nguyễn Quốc Văn chủ tịch phường và ông trung úy Mậu trưởng CA, về lá đơn tôi xin trở lại tù, bây giờ ra sao? Đã được chấp nhận chưa? Theo ông Văn và ông Mậu, lá đơn của tôi đã chuyển lên Thành rồi, được chấp nhận hay không, các ông ấy cũng không biết. Tôi định lên hẳn đường Trần Hưng Đạo, CA thành để hỏi cho ra sự việc. Tôi tin rằng, tôi chỉ mất công thăm hỏi với sự nhã nhặn đúng mức, thì rồi tôi sẽ tìm ra được diễn tiến của sự việc, nhưng tôi chẳng còn một thời gian nào cả, để kiếm miếng cơm hàng ngày, tôi đã làm việc cật lực. Kỳ này điện thành phố bị tắt thường xuyên (thành phố thiếu điện) vì thế tôi lao động bất kể ngày đêm, kể cả thứ Bẩy, Chủ Nhật, cứ khi nào có điện, tôi lại lao vào cưa, bào, đục, xẻ.

Mệt nhọc và căng thẳng tinh thần; tôi đâm ì mặc cho ra sao! Thế nào cũng chấp nhận. Tôi đã hình dung chuẩn bị tư tưởng, nếu đang đám cưới mà có lệnh đưa tôi trở lại tù, tôi cũng sẵn sàng ra đi, vì tôi đã tự nguyện. Trước mắt tôi cứ gạt điều đó ra một bên, để tâm trí vào việc chuẩn bị lo cho đám cưới. Dù gì cũng phải tôn trọng cô Hoa nữa, mới chạm vào đời tôi một chút, mà đã để cho cô phải lao đao với tôi?

Theo ý của các cô Thu, Xuân và chị Công, đám cưới dứt khoát phải chụp hình, ít nhất là ở nhà thờ. Giai đoạn này chụp hình hãy còn nhiều khó khăn, nhất là hình màu thì thật là tốn phí, ai cũng nói, nó là những tấm hình kỷ niệm của một đời người.

Tôi cũng hiểu như vậy, chỉ vì hoàn cảnh và túi tiền, cuối cùng tôi quyết định chỉ chụp bốn tấm hình màu ở nhà thờ với cha Bình (đầu người bạc trắng, dù người còn trẻ) giá 100 đồng, là tiền công của tôi làm mộc 10 ngày cật lực, ở tổ mộc Thành Công thuộc phường 7 Quận Phú Nhuận. Tôi đã nhẩm tính, dự trù một số người tôi sẽ mời tham dự đám cưới trong thời gian quản chế, mất quyền công dân, rồi tôi làm một lá đơn xin phép ngày tổ chức đám cưới tại nhà vào khoảng bốn chục người. Lá đơn xin phép không những ra Phường, mà còn phải ra tiểu ban QLNNHTĐV và quận Tân Bình.

Khi vào gặp tên Bội, trong tiểu ban QLNNHTĐV, y lấy bút đỏ gạc con số 40 mà viết số 20, y nói:

– Sao đám cưới lại đông thế?

Tôi nghĩ ngay anh em họ hàng trong nhà cũng đã hai chụcngười rồi, vậy y không cho mời khách ư? Người tôi lại ngứa ngáy, tôi định nói những lời phản đối. Y lại nói tiếp:

– Những người không phải anh em ruột thịt đều là khách, chỉ giới hạn hai mươi người, nếu anh không chấp hành, anh sẽ phảichịu trách nhiệm.

Tôi nhìn y trừng trừng, miệng tôi không cười, nhưng tôi cườibằng mắt, như muốn nói với y: “Tôi đã làm đơn chịu trách nhiệm rồi, tôi còn coi ra gì cái trách nhiệm này”, thấy y có vẻ không hiểu cái cười mắt có lồng ý của tôi, nên tôi nói thẳng:

– Thưa ông hơn hai tháng trước, tôi đã làm đơn xin tự nguyện trở vào tù rồi mà?

Y cau mặt, quay ra hỏi tôi:

– Anh làm đơn khi nào?

Tôi chợt ngạc nhiên, nên nói mà như hỏi:

– Hơn hai tháng trước! ở dưới phường ông Văn nói đã nộp lên quận, lên thành rồi?

Đầu y hơi nhúc nhích như lắc, miệng y hỏi tiếp như không tin:

– Tại sao anh làm đơn, xin trở vào tù?

Nhìn y chừng hơn bốn chục tuổi, không đeo lon nên tôi không xác định được. Giọng Nghệ An của y nghe như giã gạo; nhưng từ tốn hơn khi nãy, nên tôi điềm đạm nói sơ lược lý do:

– Thưa ông, từ ngày tôi đi tù về, tôi đã tích cực chấp hành mọi quy định với địa phương: tôi đã lên thành, và tiểu ban quận trình diện nhiều lần. Hàng tuần mỗi thứ Hai ra trình diện tại phường, mỗi ngày tôi trình diện CA khu vực để xin chữ ký, hàng ngày tôi phải lao động tại tổ mành trúc 19/5 bên cạnh phường 6. Hơn bảy tháng tôi không có gạo, không có lương, bố mẹ của tôi già yếu, mù lòa. Tôi phải ăn bám vào các người, làm cho các người càng thiếu đói, khổ cực. Tôi đã nỗ lực làm lại cuộc đời nhưng cho tới nay, tôi không còn muốn sống nữa. Mẹ tôi 74 tuổi mù lòa từ 17 năm, nay người lại mắc thêm bệnh phổi thường nôn ra máu, tôi đã phải đưa người vào bệnh viện Hồng Bàng mấy lần. Không còn một lối nào để tôi sống, nên tôi đã làm đơn xin Đảng và nhà nước, cho tôi được trở lại nhà tù, tôi xin tự nguyện ở tù cho tới hết đời.

Y ngồi nghe tôi từ tốn trình bày, mặt y nhợt trắng ra, không xám đen như lúc đầu, y hỏi như băn khoăn thắc mắc:

– Thế, sao bây giờ anh còn lấy vợ?

Tôi trả lời ngắn gọn:

– Để nếu được Đảng và chính phủ ra ân cho tôi vào tù, thì có người đỡ đần bố mẹ tôi!

Y đứng dậy, hơi hất hàm nói nhẹ nhàng:

– Thôi, anh về đi, lo cho ông bà già! Đừng bi quan quá!

Tôi cầm tờ giấy cho phép tổ chức đám cưới ra về mà lòng nặng trĩu. Đi qua rạp ciné Đại Lợi cũ, cạnh đấy là một building to lớn, nay đã trở thành nhà tù. Một thoáng tôi liên tưởng về miền Bắc: Nhà tù đã mọc lên khắp nơi, cả những nơi vui chơi, du hí của quần chúng cũng trở thành một trại giam. Có bao giờ những người đi làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám, đánh đuổi thực dân Pháp, ngồi suy ngẫm: Để lôi kéo toàn dân đứng dậy, với hai khẩu hiệu chính:

– Người cày có ruộng.
– Phá nhà tù để xây trường học.

Bây giờ thực tế nhìn vào xã hội, đã đảo ngược hai khẩu hiệu trên.

– Người có ruộng trở thành làm thuê.
– Phá trường học để xây nhà tù.

Hẳn các quý vị đã nhìn thấy những cái lắt léo, lật lọng của những người chủ trương. Còn lý do thì vô vàn: Ngược thành xuôi, ngang thành dọc, phải thành trái:

Mất mùa là tại thiên tai.
Được mùa là tại thiên tài Đảng ta.

Sau nhiều những chuẩn bị lo toan, và sự giúp đỡ của bà con, họ hàng và bạn bè, ngày cưới cũng đã đến và đi qua. Tôi cũng đã thực hiện được bốn tấm hình mầu, ở nhà thờ Nam Hòa với cha Bình, cùng bạn bè thân thuộc.

Đã chấp nhận trở lại nhà tù, nên tôi chẳng cần phải mời một ai trong chính quyền. Duy nhất có ông Trùm Lộc, mời ông ấy không phải vì ông ấy là tổ trưởng của khu phố, mà là vì thân tình xóm giềng hàng mấy chục năm với bố mẹ tôi. Thế mà trong lúc đám cưới đang ăn uống, tên công an khu vực Ngọc Anh cũng mò đến cửa, làm cho nhiều bạn bè, bà con nhớn nhác nhìn ra, tôi coi như “pha”.

Nhưng con người phải có văn hóa, tôi đã nhã nhặn ra mời y thị, vào chung vui ngày cưới của tôi. Y thị không nói một lời, nhìn tôi một lúc bằng đôi mắt mầu nâu già, rồi lặng lẽ bỏ đi.

Cuối cùng thì cũng như mọi người:

Cái đêm hôm ấy, đêm gì….. ?
Bóng dương lồng đóa trà mi….chập chùng!

Một điều làm tôi đắn đo, nhưng rồi tôi không thể không nói đến, dù bạn bè đã cố nài kéo tôi phải gặp lại cụ Lưu Linh, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn giữ một chủ trương. Tối nửa khuya, sau khi khách khứa ra về hết, tranh thủ lúc chị Công, cô Xuân, cô Thu và Hoa (giai nhân của ngày hôm nay) đang loay hoay dưới bếp, tôi lên gác một mình, ngồi vào chiếc giường duy nhất anh chị Hiền cho mượn. Tôi ngồi im lặng năm phút nhắm mắt, để gọi là một chút nào, nhớ về cô Thanh Vân người năm cũ, cô đã bước lên xe hoa từ cuối 1969, đến nay đã 12 năm rồi. Lòng tôi chẳng trách cô, mà còn mừng cho cô:

Đừng trách nhau…..Đừng ái ngại nhau….
Thuyền yêu không ghé….bến sầu….
Như đêm thiếu phụ…….trên lầu …..không trăng.
Hãy như chiếc sao băng….băng mãi.
Để lòng buồn …..buồn mãi … ….không thôi.

Dù sao tôi vẫn biết ơn cô suốt đời.

Phải thừa nhận, khi cùng một giai cấp, thì có nhiều những cảm nghĩ tương đồng, tôi và Hoa:

Tôi nghèo, mà Hoa cũng nghèo.
Chúng tôi vẫn nguyện như keo suốt đời

Sau ngày cưới, chúng tôi vẫn không giảm đi niềm khó khăn, nỗi chật vật. Tôi vẫn ngày ngày gò lưng đạp xe sang Phú Nhuận làm ở tổ mộc. Hoa cũng vẫn ngày ngày đi làm ở tổ ngòi bút Đức Thành. Nghe Hoa nói tổ ngòi bút có chừng hơn bốn chục nhân công, hầu hết là đàn bà con gái. Tôi cũng như Hoa đều năng nổ, cố gắng làm việc, cũng chỉ đủ để nuôi bản thân mình.

Một buổi chiều như mọi khi tôi đi làm về, thoáng qua cánhcửa sổ khép hờ, dưới bếp Hoa đang tắm rửa và gội đầu cho mẹ tôi. Tôi đã đứng như dán chân xuống ở cửa, trái tim của tôi như to dần lên, giãn nở ra, miệng tôi lẩm bẩm: “Con xin cảm tạ Chúa và mẹ Maria đã ban cho con một người vợ, biết thương yêu, đỡ đần bố mẹ mù lòa già yếu của con”. Buổi tối hôm đó ở trên gác tôi cũng không quên cảm ơn Hoa, đã vì tôi. Có những buổi tối khuya tôi và Hoa, trên căn gác trống ngồi bên cửa sổ, ngắm nhìn chị Hằng hàng giờ. Chúng tôi nghèo, và ý thức trách nhiệm với bố mẹ già, nên chúng tôi trang trải “Honey Moon” của chúng tôi, bằng những đêm khuya, dựa lưng vào nhau cùng nhìn và tâm sự với chị Hằng. Hoặc với những anh chàng mây và những cô nàng gió thỉnh thoảng đi qua. Đôi khi có những đêm chúng tôi bàn tán chỉ cho nhau, chị sao Mai và chàng sao Hôm, còn hàng chục vì sao nữa do chúng tôi đặt tên, mà chúng tôi thường gặp, đã trở thành bạn bè.

Có một điều khác thường, từ ngày cưới Hoa về, tối nào lúc 9 giờ, thầy mẹ tôi, tôi và Hoa đều ngồi đọc kinh chung buổi tối. Một điều mà trước đấy, thầy tôi một giường, mẹ tôi một giường, còn tôi thì nằm trên sàn gác một mình, đều tự đọc kinh riêng rồi đi ngủ.

Vào một buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi và Hoa ở trên gác đang bàn bạc, về một số khó khăn của ngày mai, thì nghe có tiếng một cô gái réo gọi ở dưới nhà:

– Chị Hoa có nhà không?

Tiếng của mẹ tôi, dõng dạc rõ ràng:

– Cô hỏi ai?

– Cháu muốn hỏi, là chị Hoa có nhà không ạ?

Mẹ tôi có vẻ hơi bực dọc:

– Ở đây không có ai tên là Hoa cả!

Hoa đang định chạy xuống dưới nhà, nhưng tôi đã kéo tay lại. Tôi đã hiểu mẹ tôi, người vẫn duy trì cái lễ giáo, gia phong ngày trước. Cô gái cũng chắc đã chợt hiểu như tôi, nên cô ta đã lại lên tiếng:

– Cháu muốn hỏi chị Bình ạ?

– Cô chờ một chút nhé! Chị ấy có nhà đấy!

Rồi tiếng mẹ tôi gọi vọng lên gác:

– Chị Bình ơi! Xuống có ai gọi chị đây này!

Từ đây, tôi và Hoa đã hiểu ý của mẹ tôi, tôi và Hoa đã đồng một quan điểm từ ngày nên nghĩa vợ chồng: Thầy già lại lẫn lộn, tâm trí của thầy không còn bình thường, mẹ thì mù cả đôi mắt, bây giờ lại mắc thêm bệnh phổi, sớm muộn lúc nào đó, Chúa sẽ gọi về. Chúng ta bổn phận là con cái, bất cứ ngày đêm, tâm niệm làm sao cho các người vui, chúng tôi cũng tự nguyện nhắc nhở nhau, giữ trọn đạo làm con.

Một buổi chiều, tôi đang cắm cúi thẳm một cái vai bàn gỗ trò, anh Vinh thư ký của tổ mộc chạy vào nhìn tôi, nói như trêu đùa:

– Có hai giai nhân đang tìm anh Bình kìa!

Mấy người trong tổ đang thao tác cũng ngừng tay, cười rẻ lên. Biết là anh Vinh đùa vui, vừa thở, tôi vừa nói:

– Nhân với nho gì? Có con bò trắng răng năng . . .

Ông Huỳnh ở ngoài sân bước vào, cắt ngang câu nói, ông nghiêm mặt nhìn tôi:

– Có hai cô gái nào, tìm anh Bình!

Tưởng đùa hóa ra thật, tôi chạy vội ra sân. Tôi thật ngỡ ngàng, Hoa và cháu Thanh Lan, hai bác cháu đèo nhau xe đạp, mò mẫm mãi sang đây. Vừa ngạc nhiên vừa vui, hết luôn cả mệt. Tôi hỏi như “phè” niềm vui trong lòng ra ngoài:

– Làm sao, em và cháu lại biết anh ở đây? Anh có nói cho em biết địa chỉ này đâu?

Hai bác cháu cười rúc rích, như gà giò đuổi nhau:

-Ở đâu mà không tìm được!

Dù còn gần một giờ nữa, mới tới giờ nghỉ, tôi vào văn phòng nhã nhặn xin cho về sớm, vì nhà có chuyện. Tôi vẫy cả hai bác cháu vào chào ông Huỳnh và người trong tổ. Tôi cũng giới thiệu với ông Huỳnh, vợ và cháu của tôi.