This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tui quen anh Mười Sử hồi còn ở trong nước lận. Anh Mười là người có ăn học, tốt nghiệp Ðại học Sư phạm đàng hoàng. Ảnh dạy môn Sử Ðịa nên có cái biệt danh là Mười Sử.
Sau 75, tui bị đuổi về quê chăn trâu thì anh Mười vẫn còn được ‘Vi Xi’ cho lưu dụng, cho ảnh tiếp tục dạy thêm một khoảng thời gian nữa. Không phải tụi nó tốt lành gì mà để câu giờ, chờ cái đám sinh viên Luật, Văn khoa chuyển qua học Sư phạm. Xong xuôi đâu đó, nó nắm đầu thầy Mười Sử đuổi cũng giống hịt tui thôi. Vì Việt Cộng nói mấy tay giáo Ngụy, nhứt là dạy Sử Ðịa rất phản động! Không thể nào cải tạo được nữa. Cách đây 47 năm, nếu không là giáo mà là lính, nghe nói không cải tạo được nữa là 100% phải dựa cột. Mấy bữa chiều mưa rỉ rả, dắt trâu ngoài đồng về ngang nhà, anh Mười Sử hay kêu tui ghé vô đụt mưa, tiện thể lai rai ba sợi, nói dóc chơi! Chuyện tình như trúng số độc đắc của anh Mười Sử trong lúc cả nước ăn độn bo bo, nó ẩm ướt ‘ca dao’ lắm nhe. Có lần học trò mời anh Mười đi ăn đám gả, đám vu quy. Khách đến phụ nấu nướng đêm nhóm họ toàn là đàn bà, con gái nên ảnh dắt tui theo cho đỡ khớp. Khuya hơi ngơi tay một chút, thì mấy anh chưa vợ, mấy chị chưa chồng xúm lại cái bàn gần bếp vừa lai rai, nối dòng lá thắm để sớm se chỉ luồn kim, kẻo ‘ế chồng’ bất tử!
Một em bèn thử tài Sử Ðịa của thầy Mười như vầy: “Thấy thầy hay chữ, em đây hỏi thử đôi lời. Ðường từ Châu Ðốc, Hà Tiên. Kinh nào chạy thẳng nối liền hai nơi? Thầy Mười biết nói nghe chơi! Còn lỡ không biết? Một lời chịu thua!”. Gặp tui, thua là cái chắc. Nhưng anh Mười là dân cự phách, giáo sư Sử Ðịa trường làng chớ bộ. Dễ gì chịu thua nè?!
Anh Mười bèn tằng hắng lấy giọng, đáp lại rằng: “Nghe em hỏi tức, anh đây nói phứt cho rồi. Ðường từ Châu Ðốc, Hà Tiên có kinh Vĩnh Tế nối liền hai nơi”. Em đưa vạt áo bà ba lên miệng nhai nhai rồi ỏn ẻn gật đầu nói: “Ðúng vậy!”. Anh Mười nghe người đẹp ụt ịt như cái hột mít, xấu hoắc hè nhưng bù lại giàu nứt đố đổ vách, khen khoái quá, hỉnh mũi, méo mó nghề nghiệp giảng thêm rằng: “Cả 100 ngàn lượt dân công, binh lính đào bằng tay. Kinh Vĩnh Tế dài tới 87km, rộng 30m và sâu 2.55m. Ðào ạch đụi mất tới 5 năm. Từ 1819, thời Gia Long, tới năm 1824, thời Minh Mạng mới xong.
Sách xưa có ghi: Công đầu là của ông Thoại Ngọc Hầu chỉ huy. Bà Châu Thị Vĩnh Tế đã giúp chồng nhiều việc nên mới được vua lấy tên bà đặt cho con kinh đào dài hết biết này!
Anh Mười nhấn nhấn: “Tui nói ra điều nầy không có chủ ý phủ nhận công lao của ông Thoại Ngọc Hầu và bà Châu Thị Vĩnh Tế. Nhưng đời mà! Sự thực bao giờ cũng là: “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô!”. Bởi công việc đào kinh ở chốn đồng không mông quạnh, nhiều sơn lam chướng khí, nên việc ăn uống, thuốc men thảy đều thiếu thốn. Số dân phu chết vì thú dữ như sấu, rắn rít; chết vì kiệt sức, bịnh tật nhiều lắm. Rồi số người bỏ trốn bằng cách vượt thoát qua sông Vàm Nao rồi bị bỏ mạng cũng nhiều. Vì thế kinh đào xong, ông Thoại Ngọc Hầu có làm bài tế cô hồn kinh Vĩnh Tế, dưới thể thơ song thất lục bát, khóc những người lính không bỏ mạng ở sa tràng mà lại bỏ mạng lúc đào kinh, đọc lên nghe oái oăm, bi thiết lắm:
“…Đào kênh trước, mấy kỳ khó nhớ?
Khoác nhung y chống đỡ biên cương.
Xông pha máu nhuộm chiến trường
Bọc thây da ngựa, gửi xương xứ này
Quê cách trở, lấy ai hộ tống,
Sống làm binh, thác chống quỷ ma.
Than ôi, ai cũng người ta,
Mà sao người lại thân ra thế này?
…Giờ ta vâng lệnh bệ rồng,
Dời ngươi an táng nằm chung chốn nầy.
Chọn đất tốt thi hài an ổn,
Cảnh trời thanh vui nhộn cùng nhau.
Hằng năm cúng tế dồi dào,
Tràn trề lễ trọng dám nào để vơi…”.
Bài biên khảo bằng mồm về Kinh Vĩnh Tế của anh Mười Sử thao thao diễn thuyết thiệt là hay. Nhưng cử tọa là mấy em, tóc dài em cài hoa thiên lý không thèm để ý nghe gì hết ráo?! Ai nấy cũng đều ngáp dài ngáp vắn.
Thức khuya để thả dê nhưng coi bộ không êm, tui nháy mắt anh Mười ra sau hè nói nhỏ: “Ðám nhóm họ để rủ ra bụi chuối, se chỉ tình ta, mà cha lại đi giảng bài Sử địa? Thiệt làm ‘ọt rơ’ hết trơn, hết trọi hè!”
Anh Mười Sử có vẻ giận lời phê bình như tát nước vào mặt ảnh của tui. Nên từ đó về sau, mỗi chiều mưa, dắt trâu về ngang lối cũ, anh Mười không còn kêu tui vô nhà đụt mưa và nhậu nữa. Hai đứa tui xa nhau từ độ ấy.
Rồi mãi tới 20 năm sau, mới biết ảnh lấy được em hỏi câu đố đó, tức chị Mười bây giờ. Gia đình bên vợ giàu cho được mấy cây vàng để ảnh chỉ vượt biên qua tới Mỹ. Anh Mười Sử hay không bằng hên, đúng là thằng cha đẻ bọc điều.
Tui bèn gởi thơ coi ảnh còn giận tui hông? “Chuyện đã hai chục năm rồi! Giận gì?” Ảnh trả lời. Vậy là hai đứa tui lại ‘tao đàn, mầy đàn’. Lại Bá Nha, Tử Kỳ như năm cũ dẫu cách nhau tới hơn hai chục giờ bay.
Khi viết bài có dính về Sử Ðịa là tui hỏi ảnh, một cuốn bách khoa toàn thư chạy bằng rượu cho nó gọn; để khỏi mất công tra cứu trên Google!
Hôm rồi nè; tui đọc trên báo mạng, có một ông viết vầy: “Ngồi trên xe, chạy dọc theo kinh Vĩnh Tế lúc hiện ra, lúc mất… Lòng tôi bất chợt nhận ra con ‘kênh’ do công lao của ông Thoại Ngọc Hầu và người vợ chính là bà Châu Thị Vĩnh Tế với cái Tâm lớn, cái Tầm nhìn xa, cái Trí thật rộng… Những dãy nhà phố cao tầng khang trang, những nhà máy xay xát lúa, những cánh đồng ruộng mênh mông uống dòng nước phù sa, những con thuyền, ghe tàu lớn nhỏ giương hai con mắt to tròn, vẽ màu đỏ rạng rỡ trước mũi, đang ngày đêm xuôi ngược chở đầy hàng hoá của miền Tây sông nước đi khắp nơi…Cuộc sống phồn vinh, sôi động được bắt nguồn từ đây, tất cả những hy sinh, những công ơn to lớn đó…”
Ðọc xong thấy ngứa miệng quá, nên tui hỏi anh Mười Sử nghĩ sao? Thì anh Mười trả lời tui hai chuyện như vầy: Một là: Kinh Vĩnh Tế chớ không có cái vụ hồi ‘Kinh’, hồi ‘Kênh’ gì hết ráo. Tiếng địa phương là phải tôn trọng như nó có! Nhứt là cái ‘địa danh’. Phải là ‘Kinh Vĩnh Tế’ chớ không phải là ‘Kênh Vĩnh Tế’. ‘Kinh Xáng Xà No’ chớ không được quyền viết ‘Kênh Xáng Xà No’ cho được. Không thể tự tiện muốn viết sao thì viết.
Hai là: Việc đào kinh là do Bộ Binh (Bộ Quốc Phòng) của triều đình nhà Nguyễn thời Vua Gia Long đề ra mục đích chánh là phòng thủ biên cương. Cũng như kinh Bảo Ðịnh đào trước đó. Nói đào kinh là vì kinh tế như các nhà biên khảo Ba Ke 75 nói là tán phét!
Lúc đó, đồng bằng sông Cửu Long bao la! Dân số không bao nhiêu! Ðất giồng làm còn không xuể! Thì đào kinh để làm thuỷ lợi, để có thêm đất điền để làm cái giống gì? Ai làm?
Mãi thời Tây, di dân từ ngoài Bắc, ngoài Trung vào, việc đào Kinh Xáng Xà No, Kinh Quản Lộ, Kinh Phụng Hiệp (Ngã Bảy) v.v. mục đích chính mới là kinh tế.
Tui hoàn toàn đồng ý với anh Mười Sử là viết một bài về địa phương chí cũng giống như viết một bài Sử về miền Thất Sơn Châu Ðốc. Phải cẩn trọng như nhà biên khảo Sơn Nam mới đặng. Nếu viết ẩu là: đào Kinh Vĩnh Tế là do cái tâm, cái tầm, cái trí…của một quan võ (về kinh tế) thì cố tình viết không chánh xác?
Cộng thêm cái chuyện chế độ CS bây giờ luôn có ác cảm, không ghi công gì cho triều Nguyễn suốt 300 năm ở phương Nam? Ðó là sự lập lờ trong lịch sử. Nên tránh! Viết sử không có cái vụ khi thương trái ấu cũng tròn. Khi ghét trái bồ hòn cũng méo! Viết Sử là chụp hình chân dung! Có sao để vậy! Không được dùng ‘photoshop’ để chỉnh sửa theo chánh kiến của riêng mình. Quen thói lập lờ lịch sử suốt bấy lâu nay bằng cách tán phét thì kỳ lắm đó nhe!
“Màu tối mù lau vách đá Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ Rồi đi biệt Để hờn trên đỉnh gió Ta ở đâu? Cánh mỏng phù du”. (Tuệ Sỹ)
Anh không lạ khi nghe tin, bởi anh biết sức viết của cô. Cái anh chẳng ngờ là cô gom chúng lại, tự bỏ tiền in thành một tập truyện. Lúc này đây, khai sinh ra hai ba trăm trang giấy, dán keo, đóng bìa, cắt xén, tựu trung là hình thành một cuốn sách; hình ảnh ấy thấy hiếm và váng vất chút bất ổn. Dĩ nhiên anh chẳng thể nói lên cái cảm nhận quái gỡ đó. Bởi nói, chính anh là đứa buồn phiền chứ chẳng phải cô. Chúng ta sống trong giai đoạn kỳ cục hết sức. In ra cuốn truyện đầu tay nào phải là một việc làm phi pháp cho cam!
Anh cũng chẳng rõ cụm chữ “tiền mất tật mang” nhằm áp dụng vào trường hợp nào thành ra anh không nên mang ra so sánh. Có tác phẩm, trình làng một cái tên, điều ấy chả nhẽ lại bị chấn thương? Anh là đứa rất ngại kê gạch giữa đàng làm khó dễ một niềm vui đang vận hành suông sẻ. Anh thành thật, đồng thời cũng biết đóng kịch. Suốt tuần, mỗi khi gặp cô, anh vẫn khai mở những nụ cười. Anh muốn cô nhìn nhận rằng anh cũng lăng xăng hòa chung trong cái happy ending kia.
Cô muốn lôi anh vào cuộc và anh muôn đời là tên lính yếu đuối “hàng sống chống chết”. Rất cảm động, cô bảo: mình muốn tạo một kỷ niệm, ông có thể viết ngắn một cảm nhận hoặc minh họa đôi ba phụ bản. Anh thuộc loại hàng binh an tâm cải tạo và thành quả là “bảng báo cáo” dài hai trang chữ viết tay gò dũa ý tưởng khi tiếp cận cõi văn của một người viết mới. Cô hoan hỉ khen anh có văn tài nhưng đề nghị nên để tên thật chứ ba chữ Một Độc Giả thì có vẻ như nhặt từ lưới xuống. Phản hồi treo trên mạng thường ngó không sướng bởi tính hư ảo khuất mặt của nó, chẳng danh chính ngôn thuận. Cô phán. Và anh lại dong tay đầu hàng. Tên cha sinh mẹ đặt của anh trôi dạt qua nhiều bến đục bến trong, khởi đi trên những cuốn sổ điểm danh viết mực xanh suốt thuở học trò vụng dại, nằm trong học bạ, đánh máy chữ oai vệ trên thẻ sinh viên, thẻ căn cước (có lăn tay và dấu vết dị hình ghi ở mặt sau) rồi giấy chứng thực kẻ vô tổ quốc (tên họ bắt đầu rơi rụng mất dấu sắc huyền hỏi ngã), rồi thì thẻ bọc nhựa cam đoan rằng cái bản mặt lạc hồn của thằng người ấy đích thực là công dân xứ lá phong, nó thành Cà-na-điên đấy chứ chẳng phải chơi (khi không lại đổi ngược họ tên)… Trôi, ba chìm bảy nổi, trôi đắm, dật dờ và sau rốt tạt vào, nằm đường bệ trong cuốn truyện vừa lay-out xong của cô, ở những trang cuối (lần này thì nguyên vẹn hình hài thứ tên cúng cơm thời khởi thủy). Anh nói với cô tới chữ vận mệnh, tên của mỗi người dường như mang sẵn một duyên số.
Anh phụ cô việc đóng gói bao bì dán băng keo trong cẩn trọng. Y như xẻ chia một nửa người của cô ra, tẩm liệm rồi chuẩn bị xuất dương sang Đài-loan. Bên ấy in rẻ, bao trọn gói, từ a tới z, giá thành mỗi cuốn là 4 đô-la. Trẻ lên ba cũng biết làm phép tính, 12 thằng giặc Mỹ xâm lược bị bộ đội giết đi 4, đố em còn lại mấy đứa? Dạ thưa cô, nếu trời thương, sách bán chạy, chuyến này cô làm cách mạng để triệt tiêu thành ngữ dân gian ác miệng “từ chết tới bị thương đếm không xuể”. Và thành ngữ này chết đi tất yếu sẽ có thành ngữ khác hiện hữu: Bận sau cứ thế mà làm, điếc không sợ súng toàn thắng ắt về ta!
Oan cho cô, cuộc chơi này chẳng dính dáng tới chuyện tiền bạc được mất. Cô có ưu điểm: Thường đãng trí việc tính toan. Anh gần cô, thích cô do anh sợ những người con gái xem đồng tiền là thước đo mọi giá trị. Một người viết văn như cô mà còn ôm đồm thêm lãnh vực toán học thì hỏng. Hỏng hoàn toàn, vì xưa nay hai chiến tuyến ấy không cách gì hòa hợp được, anh nghĩ vậy. Một bên sống trong mộng tưởng, hư ảo, phù du và bên kia sống giữa suy tính trần trụi, những so đo rạch ròi công thức hơn thua.
Cô hẹn anh ở quán ăn, gọi là thế cho một phủi tay mãi bận bịu. Đánh chén, mừng đi xong nửa chặng đường. Cô có gọi rượu chát, thứ dùng để khai vị, và thật bảnh khi ngón tay cô chỉ vào những món nặng tiền in lệch lạc trên tấm thực đơn. Cô biết tính anh, hơi thụ động, nên cô toàn quyền lựa chọn và quyết định kia có hơi hào phóng. Hai nhân mạng nhưng thức ăn có thể chứa căng bốn cái bao tử. Chữ “tả páo” có thể sẽ nói ra sau bữa ăn và dứt khoát cô dúi mấy hộp đồ ăn dư vào tay anh. Bỏ phí tội trời, nuốt cũng được ba bốn hôm, dại gì, nhỉ? Chưa khi nào anh ngó ra vẻ linh hoạt của cô hôm ấy, cô sẽ là nhà văn và trong khi chờ đợi sự chứng thực từ bá tánh, nhiệm vụ của anh là phải chia vui. Anh nâng cốc rượu sóng sánh màu đỏ như máu sắp đông để cụng vào ly cô. Tiếng thủy tinh va nhau, anh nghĩ e khi hai trái tim có điều kiện để chạm vào nhau, bất quá nó cũng sẽ phát ra ngần ấy tiếng. Trong trẻo, vui tai và ngân lên một âm hưởng chẳng thể diễn đạt thành lời. Nói chung là rung động. Thứ rung động làm mắt cô trông long lanh hơn thường nhật. Cô không đẹp, khách quan để nói chùng vụng như thế. Duyên ngầm hoặc mang một nét dễ nhìn cũng lẫn trốn đâu đó. Anh chiêm nghiệm về vẻ đẹp khuất tất, nó sẽ hiển hiện nếu ta để tâm. Một cái gì lấp ló e ấp luôn quyến rũ hơn một bông hoa đã mãn khai. Và anh chợt phát hiện thứ đức tính có ở cô. Về cách thức cô thổ lộ, nó phá đi bao ngần ngại để mang ta đến gần, thân cận với bao đằm thắm ý nhị. Hầu như thứ ấy nằm ở dạng bù trừ bởi thượng đế khi nhào nặn ra, chẳng một ai được vẹn toàn, mất cái này được cái khác. Chớ bao giờ bạn dùng chữ “giá mà” hoặc “phải như”, bạn sẽ suốt đời cô đơn vì cách đặt vấn đề xem ra bất khả. Người ta đã có sẵn thành ngữ để chỉ đích danh hạng người như vậy: Được voi đòi Hai Bà Trưng.
Trời chưa khuya khi hai đứa rời nhà hàng. Trời không lạnh, những bông tuyết nhỏ bay vu vơ trước khi tan biến giữa muôn trùng bóng tối. Cô nói, có lẽ mình nên rảo bộ một lát để đốt cháy năng lượng vừa dung nạp quá mạng. Anh đi sát vào người cô để nếu lề đường trơn trợt giá băng cô sẽ có thứ để vịn đỡ, gượng chống. Một chút rượu thấm vào máu khiến bước chân cô trông chẳng được vững chãi. Trong cuốn Rừng Na Uy, nhà văn Haruki Murakami đã viết ra những tiểu tiết lý thú, cô nói, chẳng hạn như đôi nhân tình dắt nhau đi suốt buổi chiều, mỏi chân họ ngồi xuống trên một ghế đá, người con gái chỉ tay về cái ống khói liên tục nhã ra từng luồng trắng đục nặng nề hơn cả mây trôi. Đố anh họ đang đốt thứ gì? Đó là ngôi trường nữ mà em đang theo học. Nhìn vẻ đăm chiêu của người bạn trai, cô gái đưa ra lời giải: Họ đang đốt những cái bông băng vệ sinh dính máu tháng, trường nội trú ấy có không dưới 500 thiếu nữ, bao lâu thì khói sẽ thôi thoát ra nơi cái ống cao ngất trời xanh ấy? Cô thôi kể chuyện sau khi đặt một dấu chấm: Tuyệt cú mèo! Cô bắt đầu nắm lấy cánh tay anh để gió thôi lòn lách giữa hai đứa. Có gì cần sẻ chia không? Cô hỏi, tóc rối bên vai áo ngự hàn. A hèm, tuần trước có gặp lại người bạn cũ, anh nói chậm như bước chân vô định, cậu ấy sau khi nắm bắt một vài thông tin đã ngồi yên, gần như thiền giả: Lạ, tớ am hiểu thuật tướng số, mặt mũi cậu là thứ chứng minh rõ về những sai lạc ám vào hoàn cảnh cậu. Nói khác đi, đời cậu phải sáng lạng hơn những gì cậu đang có. Nói xong, anh cảm thấy áy náy tựa một kẻ say rượu không làm chủ được miệng lưỡi mình. Nó gần là một than van và anh thì chẳng mấy cảm tình với những kẻ vô cớ tự mình làm yếu đuối lấy mình. Anh từng đọc những truyện cô viết, thế giới cô bày ra những nghịch cảnh và thường thì nhân vật tôi trong đó luôn chiến thắng bằng những hành động có khi đi gần tới sự hủy diệt. Cô cứng rắn, hiểu ở một góc cạnh nào đó, thường những người nhan sắc kém họ vin vào thứ gì đó để ứng xử, mặt khác họ buông thả với tất cả cái lạnh lùng. Văn, có thể không là người, nhưng viết được những dòng chữ ấy ra, cũng dễ xúi mình nghĩ nó phản chiếu ít nhiều một tâm tình người viết đã dàn trải. Thứ kinh nghiệm đó, anh không có, anh thích đọc một cuốn truyện nhiều hư cấu, xa sự thật, càng nhiều hoang tưởng càng tốt.
Rất hoang tưởng, cô bảo anh vào cái apt. cô thuê để ngủ đêm nay khi anh đưa cô về tận cửa. Cô thấy lạnh, cô đưa cảm tưởng, bổ túc thêm, như thể ngộ độc thực phẩm. Hơn nữa, trời trở, để ông về một mình đường xa thấy ngại quá. Cô run tay với chùm chìa khóa lập cập và mở cánh cửa kính mờ đục hơi ẩm một cách khó nhọc. Tấm tapis dơ bẩn in dấu những vệt tuyết tan, căn chung cư tịch lặng với ngọn đèn thắp sáng thường trực chói chang nỗi thọc mạch. Gió nhốt bên ngoài và cô đi dáng tự tin dẫn lối vào cái hành lang thâm sâu giữ chặt hơi ấm. Vẫn là sự xao động quen mặt mỗi bận anh tới nhưng nó gia tăng bội phần do bởi cái khác biệt giữa ngày và đêm. Chưa bao giờ anh bước chân vào lộ trình này vào buổi tối, quen thuộc đã vừa giã từ và anh nghe mệt nhịp tim với lạ lùng đột ngột ùa ra chào đón. Hai ba lần cửa được mở, chẳng phải vì điều đó mà người ta sẽ nắm giữ được bí mật. Bí mật có khi chôn sâu trong đầu óc, chỉ có duy thứ máy đọc sự thật mới thông hiểu. Và ngu ngơ, có khi là một dằn vặt, lúc khác mình nên tri ân. Anh đang ngu ngơ, một cậu bé con được mẹ nắm tay dắt tới trường học buổi ban đầu cũng mang vẻ choáng ngộp tựa anh.
Cô pha cho anh một cốc cà phê đậm đặc như kiểu muốn anh tỉnh thức vùng thoát mê muội. Cà phê đen uống vào lúc 11 pm nó ngon khủng khiếp, người uống sẽ dễ ngủ sau đó bởi cái phản ứng của nó chưa kịp tác hại. Giống như uống Viagra, bác sĩ khuyên: Ông cụ nên xơi nó nửa giờ trước khi xung trận. Ba mươi phút dài dằng dặc ấy, như một thiên thu, cụ ông sẽ phải làm gì để đốt thời gian? Đấy là một công án. Thiền giả như anh chậm rãi cởi giày, cởi áo tìm an lạc nơi động từ nhấm nháp chất đen expresso. Thư giãn nghe tiếng nước chảy thoát ra từ phòng vệ sinh. Ngoài hương liệu cà phê mũi anh luôn hít thở hô hấp một mùi kỳ hương dị thảo luôn chờn vờn trong căn phòng quét vôi hồng. Rèm cửa treo màn vải nâu, đèn để bàn sáng với công suất dịu dàng. Những cuốn sách đưa gáy ra đứng chen vai trên giá gỗ. Chiếc bàn khá lớn đặt ở góc, nơi hứng đỡ giàn computer, máy in, điện thoại và lỉnh kỉnh những thứ máy móc dây nhợ rắc rối khác. Đó là nơi hằng đêm cô ngồi vật lộn với chữ nghĩa, ngồi thầm lặng, ngồi lẻ loi, ngồi đối mặt với một thế giới đầy ảo tưởng và cô tin, thế giới đó mang cô thoát ra khỏi cái đời sống tịch lặng này, đánh đổi những mất ngủ, những ríu mắt, những bần thần, dẫu biết ngày mai hư không vẫn còn trên đôi tay.
Cô bỏ anh đi không lời từ biệt, như người ta viết truyện không màng tới một kết thúc, buông thả, ai muốn hiểu sao thì hiểu, người đọc thế tác giả để tự tìm một dấu chấm hợp lý. Điện thoại reo tiếng đục, lát sau có giọng nói: Số này hiện không còn hiệu lực. Anh đi ngang chỗ cô ngụ và thấy chủ nhân yết bảng cho thuê. Trong phút bốc đồng anh lưu số điện thoại người chủ vào iphone, anh gọi và được họ đồng ý cho thuê một năm mà chỉ phải trả 11 tháng tiền mướn. Anh từ chối những tu bổ hoặc họ sẽ quét lại lớp sơn mới ngó cho tươm tất. Anh không thích tươm tất, ít ra trong hoàn cảnh này. Anh muốn ngửi lại, trọn vẹn những hương mùi cũ. Cô đi, nhưng chắc chắc trong căn phòng nhỏ bé ấy còn rơi rớt những thứ cô chẳng thể mang theo.
Cuốn truyện của cô được đón chào khá ấm áp trong thời “gạo châu củi quế”. Chữ bông lơn đó anh dùng để nói với cô với một chú thích: Người ta mặn với internet hơn, người ta làm biếng bỏ tiền mua sách đọc trong lúc thiên hình vạn trạng ở thế giới ta bà tả pí lù miễn phí kia bao giờ cũng rộng mở. Hư đốn cũng có mà nghiêm trọng cũng có. Bịt miệng cũng có trói người cũng có lột truồng cũng có trấn nước dân chủ nhận chìm tự do thì vô số kể nếu cho con chuột đụng mũi tên vào hai chữ VN. Viết, có nên động lòng tới những phần số kém may mắn hơn ta? Nhà văn và thi sĩ, chẳng phải họ luôn dấu kín một trái tim mềm yếu? Chẳng lẽ cứ say cùng trăng và mơ cùng gió suốt kiếp sao? Hôm ấy anh có uống bia với người bạn biết coi tướng số, anh ghé cô và trong cuộc đối thoại, vui miệng anh đã lỡ lời như thế. Cô giận anh, nhưng anh hoàn toàn tin rằng, cô bỏ đi chỉ vì một nguyên cớ đại sự hơn. Cô đi tìm một nửa mãi thất lạc của cô chẳng hạn. Cô lấy chồng hoặc dọn tới một chốn đìu hiu để lấy chất liệu viết tiếp tác phẩm khác? Không chính xác nhưng thực sự thì cô đã vắng mặt chốn này mất rồi. Cô đang là nhà văn nữ, giao tiếp rộng, tự dưng lắm bằng hữu, cô có cả triệu lý do để dời đổi một cảnh sống mà không việc gì phải thông báo cho ai hay. Đột ngột bao giờ cũng là điều lý thú, cô từng nói với anh vậy.
Đồ đạc không nhiều, anh làm chim thiên di trong khoảnh khắc, chẳng mỏi cánh. Anh sẽ chung đụng thế giới hoang lạnh mà cô đã từ chối. Theo trí nhớ, anh bày biện những vật thể của mình trùng khít vào vị trí cô định đoạt trước đây. Này giường này nệm này tủ này bàn này sách này vở. Anh bỏ công lùng sục nhưng chả còn chứng tích cô để lại, hệt một thám tử chuyên lo trọng án anh chỉ nhìn ra đôi ba sợi tóc của cô, một cái khăn khô quắt để quên trong phòng tắm, hết. Mang cho chó đánh hơi, liệu sự tinh tường của chó đặc nhiệm có lần ra tung tích? Mà tìm ra để làm gì cơ chứ, khi một kẻ đã cứng lòng quay lưng. Khi người đã quyết định, cách hay nhất là bạn câm lặng đối phó với chất chồng những dấu hỏi người để lại. Anh không đối phó, anh lỡ nghiện cà phê cô pha. Lóng rày anh uống nhiều, siêng ghé starbucks và đêm về thường mở mắt mường tượng ra dáng cô đi khật khưỡng vào bồn cầu giải thủy. Cô có kể chuyện, bà hàng xóm thường dặn con thơ, chớ nên nghịch bốc tuyết vàng. Anh chậm hiểu, không ngờ xứ này cũng có kẻ mang bệnh tiểu đường. Hay đó là thành quả của một bợm nhậu? Khi say, ta có quyền đái ngoài lộ ở đêm khuya thanh vắng. Vấn đề là anh có đủ can đảm để moi cái vật đáng ghét kia ra khỏi quần khi hàn khí bên ngoài đang chỉ dưới 20 độ âm. Tuyết vàng, như vậy là nhân tạo bởi dễ hiểu điều ấu trĩ: nước đái bà Trời luôn trắng ngần. Trắng nhức nhối, trắng buốt xương, trắng đau lưng mỏi chắc.
Có hôm, trong hộp thư, chen với các thứ biên lai đòi nợ ghi tên anh (muôn năm không bỏ dấu) lạc loài lá thư xanh viết tay cái tên họ cô đủ đầy văn phạm tiếng Việt nhuần nhuyễn. Người gửi là một ông nội nào đó ở tuốt bên Paris. Par avion, dĩ nhiên, nhưng không khẩn cấp nên thư chậm lụt chẳng rơi vào tay khổ chủ. Lịch sự tối thiểu cũng tạo cho anh chút lần khân nhưng sau rốt anh là đứa có thể chai mặt đứng đái đường đêm hôm khuya khoắt mình ên với Tào Tháo bên lưng. Anh vào phòng, thảy lá thư đặc biệt xuống bàn, dằn lòng đi pha một cốc cà phê đen. Từ từ, đi đâu mà vội, chuyện gì cũng còn có đó, anh phát tiếng để nghe hồi âm tiếng vọng của cô đơn. Chưa khi nao, anh thèm được làm nhà văn như hôm nay, để thử xem nó sẽ viết xuống những xáo trộn nào vừa dấy lên trong lòng.
Anh đọc đúng ba lần lá thư với thứ lời lẽ dễ làm xiêu lòng kẻ đón nhận. Bức thư mà đọc xong, nó có hấp lực xúi người đọc phải hồi âm. Anh thay mặt cô, anh tập tành viết văn và anh viết thẳng vào máy vi tính: Anh Nguyễn thân mến, thư anh đến lúc tôi đang chuẩn bị đi xa. Anh có thể gọi đó là hình ảnh của con chim trốn tuyết. Tôi ghét mùa đông, nói chung là sự lạnh lẽo. Anh có thể nói tôi cường điệu nhưng chất thép có trên con dao bén là thứ mà tôi nghĩ anh cũng không ưa khi ngó thấy. Đe dọa, rợn cảm, ngọt cắt da, mùa đông Paris có mang đủ những thứ ấy không? Tôi trốn lạnh, những ấm áp có trong thư anh, tiếc thay nó không làm xáo trộn được cái cơ hàn mà tôi đang hứng chịu. Thú thật cùng anh, tôi có quen một người ở cùng thành phố tôi ngụ, là người viết nên cái bạt in trong cuốn truyện của tôi, chắc anh có để mắt qua. Anh ấy giúp tôi nhiều thứ, kể cả việc qua hình ảnh anh, tôi đã viết nên những trang văn mụ mị gần như bị đồng nhập. Tôi đã ngủ với anh ấy, tôi muốn tự mình khám phá ra những cõi miền mà tôi chưa hề đi thực tế. Chúng tôi làm tình và đớn đau thay việc làm nọ khiến chúng tôi bị đẩy rời ra. Tôi khóc trên chăn nệm, chẳng phải nước mắt đổ ra cho hoan lạc mà nó chảy xuống chỉ vì một tỉnh mộng. Tôi cứ ngỡ sự dâng hiến, cách đi sâu vào nhau của hai thân thể sẽ tạo ra một chấn động khiếp đảm đến mê đắm, nhưng mọi thứ chỉ là hư tưởng. Andre Gide nói:” Sắc màu của sự thật là cái xám ngoét”. Tấm màn xám kia vừa phủ chụp quanh tôi. Tôi phải tìm cách thoát ra mà không gì hơn là một chuyến đi xa. Tôi sẽ ghi nhớ địa chỉ của anh, để biết đâu có ngày buồn chân tôi sẽ thăm thú Paris, sẽ hẹn anh ở quận 13 và chúng ta vào ngồi quán ăn mang tên ấn tượng: “Ớt”. Ngày mai tôi lên đường, không một ai hay. Tôi không thích nhìn cảnh tiễn đưa, sự bịn rịn luôn làm hành lý mình thêm nặng. Tôi biết ít nhất sẽ có một người vô cùng thất vọng cho thái độ của tôi. Tôi cũng không mong người ấy hiểu. Trao thân, có khi chỉ nên giải thích là một hành động ơn đền oán trả. Và oán thì nên cởi chứ không nên buộc. Anh đồng ý không? Tôi đang tự do và tôi nghĩ anh và tôi cũng chỉ nên đứng ngay trên một lằn ranh nào đó thôi. Tôi dẫm qua giới hạn một lần nên tôi hiểu rõ cái thất thoát đớn đau của một giọt nước làm tràn ly. Mong anh vui, khỏe. Ký tên.
Anh tắt máy, chẳng dò lại những dòng chữ viết. Anh tắt đèn, lên giường nằm và dọn giấc ngủ muộn bằng vuông khăn đắp mặt. Chiếc khăn ngày nào cô bỏ quên trong phòng tắm, chiếc khăn lưu giữ một hương mùi, hình như sau đêm làm tình vội vã, cô đã vào rửa ráy và lau khô chỗ kín bằng vuông đắp mặt này. “Khóc mùa hè mà khô cả đại dương”. Anh nhẫm đọc câu thơ Tuệ Sỹ trong lúc đợi mộng dữ đón đường.
1. Với vận tốc trung bình, không nhanh chẳng chậm, khoảng cách giữa đi và đến, lộ trình phải trả là 45 phút. Đã từng thử nghiệm qua hai lần, sự sai biệt chẳng mấy nhiều, sớm muộn dôi ra hoặc trễ hụt chừng hai ba phút. Ba Dao dừng xe, tắt máy, vén tay áo, đồng hồ nhảy số 5:15. Mùa này sương xuống nhiều, lây lất một màu sữa đục giăng đầy, phủ choàng. Nếu chạy xe vào con đường mòn này lần đầu, sẽ không mấy ai nhìn ra dáng đứng xiêu đổ của một cái chòi lá xác xơ tàn tạ nằm thu mình sát con nước trôi chậm từng đám lục bình. Chim không kêu, gió chẳng phát tiếng khi thổi qua, cánh đồng đầy cỏ dại thực sự chưa thức giấc.
Ba Dao chống xe, rút từ dưới yên ra cây dao dài gần 50 phân, nắm ở tay rồi đi men bờ đê. Trước đây chòi này dùng cho người chăn lùa vịt làm chỗ nghỉ, ăn trưa hoặc ngủ tạm một giấc; nay bỏ hoang. Nơi nào bị phụ bạc bỏ quên, nơi ấy vắng dấu chân người. Vắng thôi chứ không hẳn là chẳng ai lai vãng, thời này ngay cả thâm sơn cùng cốc cũng có người định cư, bị đuổi dồn vào cảnh màn trời chiếu đất. Nơi đây, nếu quỡn, chân tạt vào cũng do có chút công chuyện xúi vậy, bình thường người khôn người dại gì thảy đều thích tìm tới chốn lao xao.
Trong chòi có trải manh chiếu rách, Ba Dao ngồi xuống lấy thuốc ra châm lửa thở khói. Đầu điếu thuốc đỏ thắp giữa màn sương tựa một tín hiệu lập loè, chỉ vài ba hơi khói đã có chiếc xuồng nhỏ vừa trườn tới dưới lòng con nước quánh đen, dừng mái chèo phóng ra dấu hỏi. Xong? Ba Dao đáp vọng xuống: Hoàn tất. Cả hai cùng đứng lên, Ba Dao vói người thảy xuống cái điện thoại thông minh, vật bất ly thân của nạn nhân, mở sáng màn hình sẽ thấy phút giây tổn thọ sau cùng của đứa ấy. Này, chụp lấy. Một xấp tiền được gói vuông vắn trong bao ny lông vừa rơi đúng vào hai tay của Ba Dao. Biến, bận sau có nhờ cậy sẽ tìm địa điểm khác để liên hệ. Kẻ kia nói trong khi chèo xuồng xẻ rách con nước lặng lờ, đâm sâu chìm đắm vào dòng sữa đục. Đồng hồ đeo ở cổ tay chỉ 5:28. Ba Dao cởi chiếc áo gió màu đen ra trải trên mặt chiếu, tháo găng tay, cởi khẩu trang, nhặt thêm cục đá rồi gói cùng cây dao vào thân áo, Ba Dao rút từ túi quần ra sợi dây, cột tém kỹ lưỡng thắt gút đôi ba bận. Ôm gói đồ bên hông bước cheo leo ra tận giới hạn cuối nhìn xuống dòng nước bên dưới. Hít hơi sâu, Ba Dao ném cật lực ra giữa dòng. Tỏm. Trông cá cá lặn trông sao sao mờ. Trông vào đồng hồ: 5:33.
Ba Dao bước trở lại lộ trình cũ, thu gói tiền vào dưới yên xe, khởi động máy nổ, chạy chậm ra hương lộ. Ở ngã ba giao tiếp với quốc lộ, Ba Dao cho xe chạy ngược hướng cố quận, nếu đường sá hanh thông chẳng sinh ra cảnh xe điên gây ra tai nạn dây chuyền, hắn sẽ đặt chân vào thành phố lân cận khoảng 7 giờ sáng, theo dự tính.
2. Tìm gặp người mang ngoại hiệu Một Mắt không mấy khó, bởi người dân sống trong chu vi ba khu phố này từng nghe qua cái tên ấy, ít nhất một lần. Muốn tránh vòng vo và hiệu quả chỉ cần chạy xe qua cầu Nhị thiên đường, mua vài tấm vé số gọi là trao đổi thông tin, xong người bán vé số dạo sẽ chỉ đường tới quán cà phê Nhất Dạ.
Người đàn bà quan sát, thực ra gã trung niên mặt mày rám nắng da dẻ sần sùi ấy còn đủ hai mắt, chỉ có điều lưỡng mục bất đồng. Một mắt lớn một mắt nhỏ, mắt lớn ngó vô mặt người đàn bà trong khi mắt nhỏ ngó lơ ra con đường chan đầy nắng, bụi và chật ứ tiếng động. Người đàn bà gọi cà phê sữa đá phần mình, chỉ tay vào người ngồi ghế đối diện: Mang cho ảnh chai bia ngoại. Bà vẫn đội trên đầu chiếc nón đan bằng lát, rộng vành. Không tháo gương mát ra khỏi mắt. Giữ nguyên, chỉ lột bỏ khẩu trang: Xin lỗi, tôi gọi anh là Một Mắt thì nghe có vô lễ không? Gã trung niên cười lớn, khàn đục. Giọng cười có thể làm cho bụi bặm trên mặt gã vơi bớt phần nào. Có nghĩa là giãn nở, mất đi chút đỉnh vẻ cộc cằn bặm trợn. Bà chị gọi đúng như những gì quần chúng gọi. Chẳng thêm bớt, kêu đích danh thì xem như quá lịch sự rồi. Chị có điều gì nan giải mà cất công đi tìm thằng Một Mắt này?
Thức uống mang ra, phục vụ viên quay lưng, người đàn bà khuấy mạnh tay ly cà phê sữa đá. Hành động như biểu lộ cơn giận sắp trút. Tôi nhờ anh xử một người, một tên đàn ông cũng trạc tuổi anh. Một Mắt thắp lửa một điếu thuốc, rít hơi sâu. Mức độ tàn phế? Chị cần tôi nói ra giá biểu không? Bất khiển dụng cả hai tay là bốn triệu, hai chân cũng đồng giá. Thiến đi của quý thì lấy chị đúng hai triệu. Chấn thương sọ não thì… Không, không, tôi muốn thấy cảnh người ta cử hành tang lễ cho nó. Bảy triệu, có đủ không anh? Một Mắt đặt chai bia xuống mặt bàn. Bảy triệu thì ngon ăn, nhưng chị tìm lộn người rồi, mặc dù chị gọi đúng tên thằng Một Mắt này. Tôi có mẹ già, bà ăn chay trường suốt và quy ước của thằng hèn này là không giết người. Khiến cho nạn nhân tàn tật thì dù sao chúng cũng còn nương nhờ vào bác sĩ vực dậy, chôn xuống ba tấc đất lạnh nghĩ cũng hơi ác.
Anh từ chối việc ra tay vậy thì xin anh chỉ giúp tôi một người có thể lo việc, có được không? Chuyện nhỏ, nhưng tôi buộc lòng phải lấy của chị hai trăm năm chục ngàn, lệ phí của việc môi giới. Nắm tờ giấy giới thiệu của thằng Một Mắt, tôi tin là hắn sẽ thuận lòng xắn tay áo đảm đương. Hiện tại hắn đang ở địa phận khác, chị có ngại tốn công tốn của không? Xe đò, tàu hoả các thứ.
Ai thế anh? Làm ăn có trơn tru êm đẹp? Có ưa hét giá không? Tình cảnh này phải xúi tôi trèo đèo vượt suối thôi. Ngoại hiệu hắn là Ba Dao, hành sự vén khéo tươm tất do chủ trương cẩn tắc vô áy náy. Mang tên Ba Dao do bởi giết người hắn chưa khi nào phải bồi tới nhát thứ tư. Tôi có người mẹ suốt đời ăn chay thì so ra hẳn còn thấp kém. Mỗi tuần Ba Dao dành riêng ngày chủ nhật để đi nhà thờ xem lễ. Nghe giang hồ đồn hắn chưa hề lỗi hẹn. Để khỏi trông nhầm người, chị nhìn vào ngực hắn, luôn đeo một cây thánh giá đúc bằng 5 lạng vàng.
3. Anh Tư Quang nuôi ba thủ hạ trung thành: Hai đứa biết kung-fu giỏi đánh đấm và một đứa giàu chất xám làm quân sư. Hai cương một nhu, hai quan võ một quan văn. Muốn “nhập nội” đứng sát thân Tư Quang chẳng hề là điều đơn giản, bởi hai quan võ từng đưa lời cảnh báo: Trước tiên hãy bước qua xác của ta. Tóm tắt, hai tên lộng ngôn kia có bị trầy trụa sứt mẻ chút gì thì sự tình nó xúi thế, riêng bụi bám trên y phục Tư Quang thì vẫn chưa có ai phủi đi. Việc ấy chừng nan giải. Phàm đã ăn cơm chúa thì bề tôi phải múa suốt ngày. Xưa nay vẫn vậy. Võ múa đã đành, há lẽ văn đứng vòng tay không múa theo. Sự tình căng thẳng, quân sư đưa diệu kế tỉ như “bất chiến tự nhiên thành” hoặc ném một hòn cuội nhỏ mà chết cùng lúc hai con chim lớn. Gặp lúc an ổn thái bình, quân sư khăn áo chỉnh tề, túi chêm nhiều ngân lượng, điều khiển xe máy tìm tới những quán cà phê đèn mờ, rung đùi ngồi thu thập thông tin, trả tiền bo hào sảng, tuyệt không sàm sỡ cùng đội ngũ xiêm y sơ sài vào ra ỏng ẹo điện nước đầy đủ, no căng. Uy tín cũng là một thứ võ công thâm hậu vậy! Thế mới phát sanh lời bàn: Ngó dzậy mà hổng phải dzậy!
Muốn hanh thông việc mần ăn. Quân sư nói cùng sếp. Luận theo cổ thư bên Tàu, tháng bốn lần phải ăn nằm với gái còn trinh nhằm giải hạn. Trước giúp cơ thể cường dương, sau loại bỏ tống khứ bao chuyện xấu vây bủa. Tôi vừa hay biết đường dây: Mạo hiểm bước đi lần đầu, gái đẹp miền quê 15 tuổi giá chỉ 5 triệu. Gái ven đô 16 tuổi giá bảy triệu. Người đẹp nội thành học sinh 17 tuổi chưa mất trinh giá 10 triệu. Tư Quang nhắm trít mắt cười: Lời ngươi nói thật hợp bụng ta. Ôi, lao vào cuộc chiến êm ả này ắt ta phải cần lắm thứ phụ kiện. Tôi cũng đã lần ra chỗ chuyên cung cấp chất bổ dưỡng lẫu dê, cao hổ cốt, xám xập dị, nhất dạ lục giao sinh ngũ tử, viagra các thứ. Không cần trường kỳ trong uống ngoài thoa cũng nhất định thắng lợi ắt về ta. Thật sao? Chung cuộc trời sanh ra Tư Quang này chỉ nhằm năng nổ đi giải phóng gái ngây thơ thành phụ nữ ba đảm đang ngay tắp lự. Rồi một ngày kia, không chừng mà ta được đôn lên giữ chức chủ tịch… hội phụ nữ. Tư Quang cười, áng chừng xem trong máu ta cũng có đôi phần chất khôi hài trộn lẩn, tếu táo.
Quân sư được bề trên tín cẩn giao sứ mạng làm chim xanh, trâu cưa sừng để lùa bắt bò lạc về. Không nên dẫn tới biệt phủ, quan huyện dặn dò cùng lúc đã vừa trao tay chiếc chìa khoá hòng mở êm thắm cánh cửa bắt nơi căn hộ riêng tư kín cổng cao tường màn che trướng rũ, bà nhớn bà bé vợ hai vợ ba của quan có nằm mộng cũng chẳng ngờ. Ổng đâu rồi? Dạ, ngài bảo việc cơ quan bù đầu giải quyết chưa xong, đơn từ kiện tụng độ rày nhiều lắm ạ, chất cao như núi, nom chóng mặt lắm ạ.
Ghé chân vào tụ điểm “giải trí lành mạnh”, khách hào hoa chơi bảnh nọ được đón tiếp nhiệt tình. Nồng hậu vượt quá mức suồng sã, đôi bàn tay không thể không đi hoang, tha hồ ngứa rồi gãi cho đã. Đầu óc nhiều chất xám chẳng vì men bia dâng tận miệng đánh cho gục bao mưu mô. Tại sao bưng chén cháo ngon ta không nhắm qua, mút trước chút đỉnh nhỉ? Đâu phải cứ hễ là quan lớn thì mãi quen thói ăn trên ngồi trốc? Ngồi mát ăn bát vàng!
Quân sư ham bù khú gục mặt giữa hương hoa ám muội nên quân sư chẳng ngó ra có kẻ đang chú mục ngầm theo dõi. Tuy mang danh hiệu cà phê đèn mờ, nhưng mờ không có nghĩa là tiết kiệm điện. Cũng có đôi ngọn sáng xanh quét tia vằn vện qua lại, vô tình nó liếm thân kẻ ngồi thu mình rất mực đơn côi, thắp vàng cây thánh giá treo giữa ngực, tựa hồ một thanh kiếm nhỏ chúc ngược đầu.
4. Khi người ta làm việc ám muội, ví như lén vợ đi chơi bời, thường người ta chỉ vác mạng không cho nhẹ gánh hành trang, cho êm thắm, tránh chộn rộn. Tư Quang khác, phận làm chủ một huyện đường, Tư Quang hẳn phải khác thiên hạ. Thích khách đột nhập vào, giường đắt tiền Hong Kong buông mùng ở đó nhưng đứng gần bên chân giường vẫn có bóng hai đứa đầu trâu mặt ngựa nguyện theo chủ trương ba không: Không thấy, không nghe, không biết. Ba không với chủ nhưng ba có với ong ve ruồi muỗi. Có thấy đứa điếc không sợ súng, có nghe bước chân hắn rón rén, có biết sự tình e bất an. Bằng động thái của đứa chăm tu luyện võ công, thoáng cái chúng vây lấy cái bóng dạ hành từ đâu vừa chợt lách thân qua cửa. Không nói chẳng rằng, quyền cước cật lực vung ra ngay, thi triển liên hoàn ba bốn chiêu thức hiểm ác. Thích khách chẳng đi tay không, thích khách nổi tiếng nhờ vào con dao từng gây nên tên tuổi: Ba Dao. Dao hoa lên, xé gió, huê dạng, quay mòng. Gió gây ra tiếng rú đớn đau. Máu hắt từng giọt lấm tấm vào mùng xanh khiến mặt nệm chao đảo. Giường sản xuất ở Hong Kong khi xuất xưởng đảm bảo một chuyện, cho dù có bốn cặp cùng giao hoan, tấm nệm lót lưng 8 đứa ấy vẫn êm ru bà rù. Vậy thì chao đảo là do nỗi sợ tạo ra, thắt tim, về nơi cực lạc theo con đường khác, máu đổ thành suối thay vì mây mưa qua loa, nhỏ giọt. Đứa con gái bé bỏng để mình trần vén mùng chạy ra đứng vào góc, run rẩy, tóc rối nùi. Xa cục diện giao tranh sinh tử nhưng bắp chân nó vẫn có máu hoen. Máu của chính nó, máu từ cửa mình ứa ra nhằm vĩnh biệt thời con gái.
Ba Dao vẫn thuộc nằm lòng câu: Mãnh hổ nan địch quần hồ. Cái mà Ba Dao quên là quần hồ cũng có nhiều thứ hạng. Hai con sói này trung thành với chủ quá, một dạ không sờn lòng dù bị dồn tới chân tường. Một con bị gục, một con chấn thương, chừng đó cũng đủ để Ba Dao nhận biết chân khí tổn hao, sức cùng lực kiệt. Lần đầu, ngoại hiệu Ba Dao đã mất linh. Chưa khi nào Ba Dao phải vung tới trăm dao. Đứa chấn thương kia đã liều mạng đưa tay ra, chẳng nao núng chộp lấy lưỡi dao đỏ lòm ấy, cắn răng đoạt chất thép lạnh rồi hoành dao đâm ngập cán vào bụng Ba Dao. Giang hồ giải thích: Sinh nghề tử nghiệp, chơi dao có ngày đứt tay. Nhãn quang bắt đầu mù mờ, ai như dáng đứng thằng quan huyện vừa bước xuống khỏi giường, hả hê vì tai qua nạn khỏi. Hạng người như nó có chăm đi chùa xin xỏ cao xanh ngó xuống? Giỏi chân tới giáo đường nguyện cầu được ban phước lành? Nhìn mặt mà bắt hình dong, nó chỉ là hiện thân của quỷ sứ, vô thần. Ba Dao đổ gục người, cái thánh giá thôi nằm yên trước ngực, đoạn lìa sự bao che, ấm áp, tin cẩn. Vẳng tiếng người đàn bà quỳ bên Ba Dao trong thánh đường nói: Giết một tên gian ác, trừ khử đứa chuyên hại dân, tôi nghĩ Chúa sẽ theo phù hộ anh. Và Chúa, người đã giúp tôi vượt qua bao gian khó để quỳ bên anh giờ này. Cá nhân tôi chỉ đại diện cho số đông đàn bà con gái từng bị bức hại, thần linh sẽ đứng sát cánh bên phận bạc chân yếu tay mềm chúng tôi…
Ba Dao chết không nhắm mắt. Mắt trừng mở vì giữa đời này vẫn bày ra sự thật phủ phàng: Kẻ ác vẫn thắng đứa hiền lương. Quan to vẫn ngang ngược ức hiếp dân lành. Và mai kia mốt nọ, báo chí sẽ hân hoan khi đăng tải về cái chết của một sát thủ, không quên ghi chú hàng chữ quan trọng: Xã hội nhờ thế mà trong sạch phần nào. Thế nào là dơ bẩn? Thế nào là trong sạch? Thế nào là thanh liêm? Thế nào là tham nhũng? Ba Dao không đủ sức thông hiểu, nếu giang hồ nổi lên một nhân vật mang biệt hiệu Triệu Dao thì hoạ may! Ơn Chúa, chánh đạo sẽ thắp sáng cuối đường.
Although I served in the Justice Department under Attorney General Griffin Bell, I had no personal involvement in Magic Dragon or the prosecution of Ronald Humphrey and David Truong. It was sometime after my retirement that a friend called and asked if I would represent Yung in her largely unsuccessful effort to get the CIA to declassify her manuscript. My friend commented that she was being very badly treated by the agency, and needed help desperately. Both of those comments were true.
The effort to get enough of the manuscript declassified to permit publication took an exceedingly long time and involved obstacles that no one should have to confront. As it is, the story told by Mrs. Krall in this book is the truth, but it is by no means the whole story. The CIA continues to classify a good deal of information that could be divulged with no harm to our nation’s security.
Before briefly recounting the effort to get the manuscript declassified, let me recall my reaction when I finished reading it for the first time, I had three questions. What has happened to these people since 1978? What kind of a person is Yung Krall, and how important, and how successful, was her work? How does the Truong-Humphrey fit into the history of espionage against America?
After a lengthy trial, during which Mrs Krall was the principal government witness and was subjected to extensive, gruelling cross-examination, the jury convicted Ronald Humphrey and David Truong of espionage on July 8, 1978. Each was sentenced to fifteen years’ imprisonment. After serving his time, David and his wife are living abroad—not in Viet Nam. I do not know what has become of Ronald Humphrey since his release from prison.
Mrs. Krall’s father, Dang Quang Minh, remained in the Foreign Service of the Socialist Republic of Vietnam until he suffered a stroke and died in 1986.
Her brother Dang Van Khoi, escaped from Viet Nam that same year, and lives in the United States. Mrs. Krall and her husband, son, and mother are living in the Atlanta area, where Yung devotes herself to helping refugees from Communist and war – ravaged countries.
Judge Bell practices law in Atlanta, and continues to serves America in various capacities. John Martin still oversees all espionage investigations and prosecutions for the Department of Justice. Bill Fleshman retired from the FBI and then served as chief investigator for the House Armed Services Committee. The CIA refused to provide me with any information about Rob Hall, so I was unable to obtain his thoughts about this case.
From the information I have been able to acquire, I have concluded that Mrs Krall’s work in the operation directed against the Vietnamese Communists, here and abroad – most of which is not detailed in this book – was both important and successful. The details of that part of her story will probably never be seen in the light of day. We do know that it is exceedingly dangerous work. Bill Fleshman told me that he was always torn as to know how far to let Mrs. Krall go operationally, because of the great personal danger she regularly faced. In the same vein, John Martin calls her a genuine hero and describes her willingness to take the witness stand and testify truthfully in this case an act of unbelievable courage.
John Martin also told me that the harm to this country that Ronald Humphrey was able to do, given his top-secret clearance and extensive access to critical national security information, was incalculable. The potential harm was so great, in the eyes of the FBI and Justice Department, that the espionage operation absolutely had to be shut down, even if it meant the end of Mrs. Krall’s work as a CIA agent. The CIA felt so strongly to the contrary prosecuting this case and did what it took to make it happen.
Given the fact of a lengthy public trial, why has it taken so long, and been so difficult, for this story to be told? The answer lies in the CIA’s obsessive attachment to secrecy for its own sake, even when that secrecy borders on the irrational. Every word of the manuscript was initially classified secret. When Mrs. Krall filed a request under Freedom of Information Act for records pertaining to her work, she was sent a few news paper clippings about the trial; the agency claimed that every word of every other document was properly classified. Although the CIA’s regulations express respect for the First Amendment, and say that the burden of proof on the secrecy issues is on the agency, not the author, the reality is completely opposite.
Only to the extend we could prove, to the agency’s reluctant satisfaction, that various basic facts about Mrs. Krall’s works had already become public, at the trial or otherwise, would the agency declassify the relevant section of the manuscript. The public record copy of the exhibits at the trial had disappeared seemingly after I sought access to it, and the agency refused to share any of its trial materials with me. Statements by members of the prosecution team in the case, that certain information had in fact come out at trial, were not enough. For the most part unless it was in the portion of the trial record that I was able to locate, the information remains classified, except where the FBI was able to exert constructive influence.
Former CIA director James Woolsey has said that the agency must find a way to overcome its unvarying tendency to keep everything secret – at a minimum, to enable it to claim credit for its successes. The shameful way Yung Krall was treated in this case suggests that it has not even begun to go down that path. The American people, not just Mrs. Krall, deserve much better treatment, and deserve to know more about what the CIA does in their names.
I know that Yung has no regrets over the great risks she ran in her service to our country, and I share the deep respect and affection that Judge Bell, John Martin, and Bill Fleshman have for this remarkable woman, daughter, wife, and mother. I, too, have come to view her as a genuine American hero.
Quinlan J. Shea, Jr. Columbia, Maryland April 1995
LỜI BẠT
Mặc dù có làm việc ở Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ dưới quyền của Bộ Trưởng Griffin B. Bell, song cá nhân tôi không dính líu và can dự vào vụ Con Rồng Kỳ Diệu / Magic Dragon hay vụ án truy tố Ronald Louis Humphrey và David Trường. Mãi một thời gian sau hưu trí, có một người bạn gọi điện thoại cho tôi hỏi xem tôi có thể đại diện cho Yung Krall trong nỗ lực chưa đạt được kết quả buộc cơ quan CIA chấp thuận cho giải mật bản thảo cuốn sách của bà. Bạn tôi cho biết rằng cơ quan này đối xử quá tệ với bà Krall, và bà đang trong tuyệt vọng chờ giúp đỡ. Cả hai nhìn nhận đó đều thật.
Nỗ lực nhằm đạt mức độ để bản thảo được giải mật đủ để cho phép bà Krall xuất bản sách đã đòi hỏi một thời gian quá dài và những sự cản trở mà chẳng ai muốn đối đầu. Đã đành câu chuyện do bà Krall kể lại trong sách của mình là sự thật, song vấn đề còn ở chỗ khác kia. CIA vẫn một mực giữ thông tin có thể phổ biến đặng làm sáng tỏ vụ án nầy nhưng không phương hại đến nền an ninh quốc gia của chúng ta.
Trước khi kể lại vắn tắt nỗ lực yêu cầu bản thảo cuốn sách được giải mật, tôi xin nói lại phản ứng của mình, sau lần đầu đọc xong cuốn sách đó. Tôi có ba câu hỏi. Chuyện gì đã xảy ra cho những nhân vật này từ năm 1978? Yung Krall là người thế nào, và công tác của bà quan trọng cỡ nào, thành công ra sao? Vụ Trường-Humphrey ăn nhập gì với lịch sử tình báo chống Mỹ?
Sau cuộc xét xử kéo dài, trong đó bà Krall là nhân chứng chính của Chính phủ Hoa Kỳ, và đã chịu đựng những cuộc cật vấn căng thẳng, mệt nhoài, ngày 8 tháng 7, 1978, bồi thẩm đoàn đã kết án Ronald Louis Humphrey và David Trường tội gián điệp. Mỗi người lãnh 15 năm tù ở. Sau khi mãn án, David Trường và vợ sống ở nước ngoài—không phải ở Việt Nam. Tôi không hay tin gì về Ronald Humphrey sau ngày ông mãn án.
Thân phụ của bà Krall, ông Đặng Quang Minh, ở lại Bộ Ngoại giao của Cộng hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam cho đến khi ông qua đời năm 1986 vì đột quỵ. Anh của bà là Đặng Văn Khôi, thoát khỏi Việt Nam cũng vào năm đó, và sống ở Hợp Chủng Quốc Mỹ. Bà Krall cùng chồng, con, và bà thân sinh hiện ở vùng Atlanta, nơi bà tự nguyện giúp những người tỵ nạn từ các nước Cộng sản và bị tàn phá vì chiến tranh.
Thẩm phán Bell ở Atlanta hành nghề luật sư và tiếp tục phục vụ nước Mỹ với nhiều chức vụ khác nhau. John Martin vẫn giữ trách nhiệm công tác điều tra và truy tố gián điệp cho Bộ Tư Pháp. Bill Fleshman về hưu ở FBI, và trở thành Trưởng ban điều tra của ủy ban Quân lực Hạ Nghị viện Hoa Kỳ. CIA từ chối không cung cấp cho tôi bất kỳ một tin tức về Rob Hall, nên tôi không sao biết được cảm nghĩ của ông về vụ này.
Từ những thông tin tôi thu thập được, tôi đi đến kết luận là việc làm của bà Yung Krall trong công tác nhằm chống lại Cộng sản Việt Nam, tại đây cũng như ở hải ngoại—mà hầu hết không nêu lên chi tiết trong sách này—, cả hai đều quan trọng và thành công. Những chi tiết của phần đó của câu chuyện của bà dám sẽ không bao giờ được nhìn thấy ánh sáng ban ngày. Chúng ta thừa biết đó là một công tác quá ư nguy hiểm. Bill Fleshman đã nói với tôi là ông luôn luôn cảm thấy bứt rứt khi chẳng biết đưa bà Krall đi bao xa vào điệp vụ, bởi tính chất nguy hiểm quá lớn mà bà phải thường xuyên đối đầu. Cùng trong tâm trạng đó John Martin đã xem bà đích thực là một anh hùng, và mô tả việc bà tự nguyện đứng ra làm nhân chứng và đưa bằng cớ xác thực trong vụ án nầy, là một hành động quả cảm ngoài sức tưởng tượng.
John Martin cũng đã từng nói với tôi về tai hại mà Ronald Humphrey đem lại cho đất nước này, trong cương vị của ông lúc bấy giờ, khi cho phép ông ta được tiếp cận và thâm nhập rộng rãi các thông tin đầy nguy cơ đối với an ninh quốc gia, là không sao lường hết. Dưới con mắt của FBI và Bộ Tư Pháp, cái tai hại tiềm tàng này lớn đến mức là phải chấm dứt ngay một cách tuyệt đối điệp vụ này, cho dù công tác của bà Krall với tư cách là nhân viên tình báo của CIA phải gián đoạn. CIA phản đối mãnh liệt, đến độ Thẩm phán Bell phải đích thân giải quyết, ông nhìn thấy tầm quan trọng của vụ này, và đã làm tất cả những gì cần thiết để khởi tố.
Đành rằng vụ án công khai kéo dài, nhưng tại sao lại mất nhiều thì giờ, quá khó khăn để câu chuyện này được nói lên? Câu trả lời nằm trong sự ám ảnh của CIA về quan điểm bảo mật cho chính cơ quan này, ngay cả khi ranh giới của bí mật là vô nghĩa. Thoạt đầu mỗi chữ trong bản thảo cuốn sách đều bị phân loại mật. Khi bà đệ đơn đúng theo Luật Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Act) đòi tất cả tài liệu liên quan đến công tác của bà trước đó, thì bà chỉ nhận được một ít mẩu tin cắt từ những bài báo tường thuật về vụ án; cơ quan CIA nại cớ rằng từng chữ từng câu trong hồ sơ của bà đều được mật hóa đúng theo qui định. Mặc dù CIA ghi rõ qui định của cơ quan là tôn trọng Đệ nhất Tu chính Án (The First Amendment), và cho rằng trọng trách bảo vệ chứng cớ thật thuộc thẩm quyền của cơ quan CIA, chớ không thuộc tác giả cuốn sách, thực tế là hoàn toàn ngược lại.
Chỉ tới mức độ nào đó mà chúng ta có thể chứng minh được, cho cơ quan CIA hài lòng, rằng một vài sự kiện cơ bản khác nhau so với công tác của bà Krall đã trở thành công khai qua việc xét xử, thì cơ quan CIA sẽ giải mật những đoạn liên quan trong bản thảo. Hồ sơ công khai biên bản về các giấy tờ đã trình vụ án biến mất, dường như sau khi tôi tìm cách tham khảo, và cơ quan CIA đã từ chối không chia sẻ với tôi bất kỳ một tài liệu nào. Ý kiến buộc tội của các thành viên công tố trong khi xử án đã nói lên một vài thông tin, là không đầy đủ. Trừ phi thông tin nào đó nằm trong biên bản hồ sơ của vụ án mà tôi có thể tìm ra ở đâu đó, còn hầu hêt đều ở trong phần bị mật hóa, chưa kể đến những đoạn mà CIA đã sử dụng ảnh hưởng để có được.
Cựu giám đốc CIA James Woosley đã nói rằng cơ quan này phải tìm cách vượt qua xu hướng bất di bất dịch của mình để giữ tất cả cái gì cũng bí mật—ít ra, nói lên được những thành quả của mình. Cung cách cư xử xấu tệ đối với bà Krall trong trường hợp này cho ta thấy cơ quan CIA chưa bắt đầu đi vào con đường đó. Nhân dân Mỹ, chứ không chỉ một mình bà Krall, xứng được đối xử tốt đẹp hơn, và đáng được biết nhiều hơn về những gì cơ quan CIA đã làm khi nhân danh họ.
Tôi biết rằng Yung không hối tiếc khi vượt qua bao nguy hiểm trong việc phục vụ đất nước chúng ta, và tôi chia sẻ sự tôn trọng sâu sắc cùng cảm tình sâu đậm mà thẩm phán Griffin Bell, John Martin, cũng như Bill Fleshman đã dành cho người phụ nữ, người con gái, người vợ, và người mẹ kiệt xuất này. Tôi cũng vậy, đã nhận ra bà đích thực là một anh hùng của nước Mỹ.
Quinlan J. Shea, Jr* Columbia, Maryland, Tháng Tư 1995
* Quinlan J. Shea., hồi hưu năm 1986 sau một thời gian dài phục vụ xuất chúng trong chánh phủ. Ông phục vụ trong Quân đội và Bộ Tư Pháp với những công tác lớn lao trong ngành bảo vệ luật pháp và tình báo.
Chúng tôi đã được gặp ba tôi và đã hỏi bằng nhiều cách muốn ông trở về sống với gia đình và đã bị ông từ chối. Má tôi đã yêu cầu được gặp con trai của bà, và lời yêu cầu cũng đã bị bác bỏ. Không còn gì để làm hay để nói nữa.
Bill Fleshman hăm hở sửa soạn về Washington với vẻ mặt của một người thắng cuộc khi từ biệt chúng tôi. Trong khi đó, lần đầu tiên Rob và tôi cảm thấy cùng một phe với nhau – những dự tính, những mục đích của tôi và CIA sắp sửa bị huỷ bỏ hết, khi bị đưa ra công khai trước toà án. Tôi muốn chia sẻ với Rob cái cảm giác của người bị thất bại, nhưng không có lời nào nói lên được cảm tưởng đó. Một bầu không khí trống rỗng bao phủ chúng tôi khi tôi gặp Rob lần chót tại Reeve House.
Trên xe taxi về nhà, tôi cố gắng quên chuyện đã qua. Trước mắt là chuyện bây giờ, hôm nay và ngày mai. Tôi nghĩ tới Trương Đình Hùng. Từ đây về sau, cơ quan truyền thông sẽ biết đến anh với cái tên David Trường. Tôi hình dung vẻ mặt sửng sốt của anh khi bị bắt, rồi tưởng tượng ra cảnh anh bị giải từ nhà tù ra toà án. Hùng sẽ nở nụ cười gượng trước những ống kính của các phóng viên nhà báo và đài truyền hình, nụ cười của một kẻ tự cho mình là đã hy sinh cho một lý tưởng. Và tôi cũng nghĩ tới phản ứng của ba tôi ở Sài Gòn, khi ông hay tin động trời về đứa con gái của ông. Ông sẽ nghỉ một ngày ở nhà để sống biệt lập trong căn biệt thự của ông. Ông sẽ thiền, sẽ nằm bất động như vài lần ông đã nằm ở tư thế đó tại nhà tôi.
Chúng tôi rời Luân Đôn ngày 12 tháng Giêng năm 1978. Bây giờ nghĩ lại, đó là ngày lý tưởng để từ giã Luân Đôn. Hôm đó, lò sưởi căn nhà mướn của tôi bị hư, nhà lạnh cóng, trong khi tuyết bao phủ khắp nơi và mặt trời ẩn trốn sau những đám mây u ám từ nhiều ngày đó. Trời lạnh lẽo cũng như sự lạnh lùng của má tôi. Tuyết rơi suốt dọc đường đưa gia đình tôi ra phi trường Heathrow. Từ đây, nước Mỹ là nhà…
o O o
Với tâm hồn của người du mục, John và tôi đã chịu đựng được những cuộc di chuyển và thay đổi liên tục của gia đình Hải Quân. Khi trở về Washington, chúng tôi ở tạm trong một khách sạn gần hai tuần lễ để tìm nhà ở vùng Springfield, Virginia. Bộ Tư Pháp khuyên chúng tôi không nên lấy đồ trong kho về xài, vì có thể sau phiên toà, chúng tôi sẽ phải di chuyển tới một nơi an toàn hơn. Khi kiếm được một ngôi nhà để mướn, chúng tôi phải mướn đồ đạc, bàn ghế. Chúng tôi đi PX của quân đội để mua nồi niêu xoong chảo và các thứ linh tinh cần thiết khác. Má về ở với em tôi ở Alexandria, Virginia. Trong khi John đi làm, Lance vô học lớp Ba, trường gần nhà, đi bộ tới được. Trong khi đó, ngày ngày tôi phải ra Alexandria, để thảo luận với luật sư của Bộ Tư Pháp và CIA, chuẩn bị cho ngày ra toà.
Trong thâm tâm, má tôi vẫn tin rằng anh Khôi sẽ không trốn khỏi Việt Nam khi mà ba tôi còn ở đó. Bà mong Bộ Tư Pháp trì hoãn cuộc khởi tố càng lâu càng tốt: biết đâu có một phép lạ nào đưa tới.
Nhưng chả có phép lạ nào hết. Cuối cùng, Bill Fleshman cho tôi biết người ta sẽ bắt David Trường và Ronald Humphrey vào ngày 31 tháng Giêng, 1978. Buổi tối 30, tôi rước má tôi về nhà tôi ngủ để có nhau.
Khi tôi sửa soạn cho Lance đi ngủ, má tôi gài nút áo cho cháu xong thì ngước lên nhìn tôi, má nói:
“Con có một ngày nữa thôi, rồi con sẽ hối hận”.
Tôi đáp:
“Con sẽ không có gì để hối hận, má à. Như má, con cũng đâu có muốn chuyện nầy xảy ra. Con đã làm việc với thằng Hùng, giả bộ là đồng chí của nó, đóng kịch là đồng loã với nó suốt gần một năm trời. Con đã ăn sáng, ăn trưa với nó, con đã uống trà trong nhà của nó. Có một lần nó hết tiền, con cho nó năm đồng bạc để đi xe bus. Con tội nghiệp nó như con tội nghiệp những người tù tội khác”.
Má tôi vẫn lạnh lùng, không nhìn tôi.
“Má, đây là nhà của mình, quê hương mới của mình. Con tin tưởng một cách mãnh liệt là con có bổn phận phải bảo vệ nước nầy. Hồi đó, mình sống trên đất Việt Nam mình không có làm gì để bảo vệ đất nước, giỏi nhứt là không làm Việt Cộng thôi. Việt Nam như cái cây bị người ta bẻ hết trái mà không ai vun xới, nên mình mới mất miền Nam. Bây giờ…”.
Má tôi có vẻ giận, bà cắt lời tôi:
“Con không nên dạy đời má như vậy”.
“Má đừng làm khó con nữa. Mấy tháng nay con như người sống dưới địa ngục kể từ ngày Bộ Tư Pháp đặt chưn vô nhà tụi con”.
Bà nói:
“Con có dịp từ chối họ mà”.
Tôi không tin má tôi muốn nói như vậy. Tôi chưa kịp nói gì, thì bà tiếp:
“Má thấy má vô dụng trong cái nhà nầy rồi. Hay là con để má đi Atlanta ở với chị Kim và Minh Tâm đi”.
Thú thật, nghe má tôi nói vậy, tôi nhẹ trong lòng vô cùng. Thật ra, ở Washington má tôi không giúp gì được cho tôi, ngày nào hai mẹ con gặp nhau rồi cũng bàn đi bàn lại; tôi bị má rầy, má trách đúng lắm. Tôi muốn tránh mặt má tôi, nhưng trốn đâu trong căn nhà mướn chỉ có ba cái phòng ngủ, ngoài sân thì tuyết phủ đầy đường. Xa nhau sáu trăm dặm, may ra tránh làm khổ nhau. Ý định nầy tôi cũng nghĩ tới trước đó, nhưng không dám đề nghị, sợ má giận là tôi “đuổi” má.
Nhớ lời ông ngoại tôi dạy: “Làm người khó, làm chó thì dễ”. Làm người Việt Nam càng khó hơn ngoại ơi!
“Dạ, con sẽ mua vé máy bay cho má đi xuống chị Kim. Nhưng con muốn má biết là má đã nghĩ không đúng khi má nói: má vô dụng ở đây. Lúc nào con cũng cần má, má à. Con dệt chiếc chiếu nầy cho con thì con nằm lên nó; nó êm thì con nhờ, nó có gai có góc thì con chịu. Con đâu có mượn ai nằm lên giùm con được”.
“Má xoa lưng cho con đi, rồi viết chữ từ A tới Z cho con ngủ”.
O o O
Tôi thức trắng đêm, nghĩ hoài đến những thử thách, gay go sắp tới. Khoảng sáu giờ rưỡi sáng, tôi nhón gót ra khỏi giường rồi đi vô bếp pha cafe. Ngoài sân, có một lớp tuyết mỏng mới rơi đêm đó. Tuyết phủ lên những mảng băng từ nhiều ngày trước. Bốn bề yên lặng, tôi nghe nhịp đập của tim tôi. Một vài miếng tuyết dầy rơi từ nóc nhà xuống cái bàn ngoài sân và trên nắp thùng rác, làm tôi giựt mình.
Ý kiến má tôi đi Atlanta là ý kiến hay. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy bức bí, hồi hộp một cách kỳ lạ khi tôi tới gần má tôi. Tôi hoảng sợ khi nghe tiếng chân của bà đi xuống nhà bếp. Tôi làm bộ chăm chú vô việc pha cafe và thay giấy lọc để khỏi phải nói chuyện với bà. Nhưng rồi bà lên tiếng trước:
“Tối hôm qua má ngủ không được”.
“Con cũng vậy, suốt đêm con nghĩ hoài tới Trương Đình Hùng”.
Bà hỏi:
“Nếu chuyện đó làm con khổ tâm, tại sao con làm?”.
Tôi miễn cưỡng trả lời:
“Tại con phải làm”.
Sau khi Lance đi học, John đi làm, má tôi về phòng, kéo màn cửa sổ che lại rồi đi nằm. Tôi mở va-li, lấy ra mấy bộ đồ để ủi, giết thì giờ.
Khoảng mười giờ rưỡi, John về nhà. Tôi hơi ngạc nhiên thấy anh về sớm, nhưng mừng quá, vì tôi sợ cái yên lặng ngợp thở trong căn nhà nầy rồi. John rủ tôi đi chợ mua với thứ lặt vặt.
Chúng tôi mời má tôi đi cùng, nhưng bà từ chối, viện cớ là trời lạnh. Quá trưa một chút, trên đường về nhà, tôi mở radio nghe tin tức, thì ngay lúc đó người xướng ngôn viên đọc bản tin Trương Đình Hùng và Ronald Louis Humphrey vừa bị bắt. Tôi chưa bao giờ gặp Humphrey. Hùng chỉ cho tôi biết ông ta là “một người có thẻ đặc biệt để lên từng lầu thứ bảy (của Bộ Ngoại Giao) và có thể lấy bất cứ tài liệu nào chúng ta muốn”.
Thay vì thấy lòng nhẹ nhõm và vui mừng vì thành công, tâm tư tôi tràn trề sự thương xót cho Hùng. Tôi nhướng to hai con mắt để nước mắt khỏi trào ra. John đưa khăn tay cho tôi. John biết tôi sẽ xúc động hơn, vì vậy anh mới bỏ sở về nhà với tôi. Nếu không có người chồng hiểu tôi, bao bọc tôi như John, ai cứu má và hai em tôi trước ngày Cộng sản cướp miền Nam? Ai nâng tôi khi tôi ngã, ai cười tôi khi tôi không biết kể chuyện cười?
“Dễ nhứt là mình tránh làm những việc phải!”. Tôi than thở
“Không, không phải vậy. Làm sao sống được với lương tâm của em, nếu em từ chối Bộ Tư Pháp bây giờ? Em sẽ cảm thấy như một con lừa”.
Tôi mỉm cười trong nước mắt:
“Trên thế gian nầy không thiếu gì con lừa; có thêm một con nữa cũng chẳng chết ai”.
Chồng tôi nghiêm giọng:
“Đứng có nói bậy như vậy. Em đã tự hạ giá em. Việc em làm là một việc trọng đại. Thời gian sẽ cho em hiểu việc em làm cho đất nước nầy”.
“Nghe cổ lỗ sĩ quá! Em có cảm tưởng mình là một người non dại đang làm một việc cũ rích cho chánh phủ”.
Anh nói:
“Tốt nhất là em nên im lặng, đừng nói gì nữa, nếu không muốn anh nổi giận”.
Nghe giọng anh, tôi biết anh đã nổi giận rồi.
Sáu giờ chiều hôm đó, má tôi coi tin tức dài truyền hình, bà giữ im lặng, không thèm nói với tôi một lời. Tôi không coi truyền hình, bỏ lên lầu đọc chuyện cho Lance nghe. Tôi thầm tự hỏi, tôi sẽ phải nói gì với con tôi, nếu thằng nhỏ nghe tin tức về chuyện tôi dính dấp vô, hoặc thấy hình tôi trên báo trong buổi xử án!
Cho tới giờ phút nầy. Lance vẫn tưởng má nó là một người buôn bán đồ sứ bên Paris. Chuyện gì khó quá mà John thế tôi được, tôi đùn cho anh. Thôi thì để chừng nào cần cho Lance biết, ba nó nói chuyện với nó giùm tôi vậy.
Tin tức báo chí và truyền hình cho biết David Trường bị bắt tại một sở lựa thơ trên đường K vùng Tây Bắc, Washington. Có lần Hùng nói với tôi rằng anh chọn việc làm trong một sở nhỏ. Việc lựa thơ là việc rất tầm thường, để che mắt mọi người cho anh làm “việc lớn”. Còn ông Humphrey bị bắt ở một công sở quan trọng hơn, đó là trụ sở của cơ quan Thông Tin Hoa Kỳ. Người ta cũng nêu tên một số đồng loã nhưng không bị bắt, như: Huỳnh Trung Đồng, chủ tịch Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Paris; Phan Thanh Nam của toà đại sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Paris, và đại sứ Đinh Bá Thi, trưởng phái đoàn Việt Nam Cộng sản tại Liên Hiệp Quốc ở New York.
Cho đến lúc nầy, Bộ Tư Pháp chưa tiết lộ danh tánh của những người hoặc những nhân viên mật vụ tham dự cuộc điều tra, kể cả tôi. Không một ai thuộc phe Cộng sản nghi ngờ tôi. Sự che giấu lý lịch của tôi có thể coi như hoàn hảo đến độ Nguyễn Thị Ngọc Thoa, đồng chí của David Trường vội gởi thơ khẩn cấp qua Luân Đôn cho tôi để báo động, khuyên tôi không nên về Mỹ và nên có một luật sư để che thân. Chị cũng khuyên tôi nên đốt hết mọi giấy tờ liên lạc giữa tôi và Hùng, cũng như với chị và những hội đoàn Việt Nam. Cuối thơ, chị nhấn mạnh: “Đừng về Mỹ!”
Huỳnh Trung Đồng cũng gởi một bưu thiếp bí mật bắt tôi huỷ mọi giấy tờ hoặc tài liệu “liên hệ giữa cô và chúng tôi”, ông ra lịnh cho tôi “không được tới gần toà đại sứ và các nhân viên. Đừng để cho bất cứ ai biết cô là con gái của ông ấy”.
Là một điệp viên, tôi coi những lời cảnh cáo đó như mội lời khen cho thành tích của mình. Điều đó chứng tỏ rằng tôi không để lại một dấu vết nào chứng tỏ tôi theo phe “tư bản” hoặc tôi là một tên “phản động”.
Mãi tới ngày 17 tháng Ba, báo chí mới biết “Keyseat” là ai, khi luật sự của David Trường đệ trình toà án một bản yêu sách, hỏi về lập trường và động cơ của tôi. Trong bản yêu sách, ông ghi địa chỉ của tôi ở số 8 Regal Lane, Regent Park, London. Đó là địa chỉ cuối cùng của tôi mà Hùng biết.
Hôm sau Lance đi học về, nói với tôi rằng cô giáo của Lance đưa hình tôi trong tờ báo, hỏi có phải người làm chứng trong vụ án là má của Lance không. Lance trả lời cô giáo: “Chắc là đúng vì chỉ có một Dung Krall đã ở nhà số 8 Regal Lane, London thôi”. Vợ chồng tôi đã mất nguyên một buổi tối để giải thích cho đứa nhỏ mới bảy tuổi hiểu về những hoạt động của má nó trong hai năm qua. Nó lắng nghe cẩn thận, rồi cuối cùng nói:
“Vậy là má làm cho FBI! Con thấy Bill Fleshman có bộ dáng của FBI”.
Tôi và John nín cười muốn bể bụng.
Tôi không rõ con tôi hiểu việc nầy tới mức nào, nhưng chúng tôi cố gắng cho Lance biết rằng, từ nay trở đi, cẩn thận giữ mình là điều quan trọng. Chúng tôi dặn Lance không bao giờ ra khỏi sân trường trong giờ học, không được đi theo người lạ.
Sau buổi nói chuyện đó mấy ngày, có kẻ cạy cửa lẻn vô nhà tôi khi chúng tôi đi vắng. Khi về, tôi thấy đèn treo trên nóc trên bàn ăn bị bể, mảnh thuỷ tinh văng tứ tung trong phòng. Trên bàn ăn có chữ “phản bội” viết nguệch ngoạc bằng mực đen trên tấm giấy có gạch hàng.
Tôi giận hơn là sợ, liền gọi cho John biết. Sau đó tôi gọi ông Don Marsland, người giám sát của chiến dịch “Magic Dragon”. Chỉ trong vòng có mấy phút, John về tới nhà; nhân viên FBI cũng tới ngay sau đó. Cả xe cảnh sát cũng hú kèn chạy tới. Nhà biến thành một nơi công cộng. Các điều tra viên lấy dấu tay trên nắm cửa, mặt bàn, tủ lạnh, bếp. Tôi phải trả lời liên tục những câu hỏi mà tôi biết chẳng có liên quan gì cho cuộc điều tra. Điều mà tôi lo ngại hơn hết là con tôi. Vì vậy, tôi yêu cầu mọi người cố gắng làm cho xong việc trước khi con tôi đi học về. Tôi không muốn Lance lo sợ. Tôi muốn con tôi sống một cách vô tư, bình thường như những đứa con có cha mẹ bình thường hơn tôi.
Chiều hôm đó, tôi nói dối với Lance là tôi đã vô ý làm bể cái đèn khi tôi cuốn sợi đây điện cho ngắn lại để ba cháu không bị đụng đầu mỗi khi ngồi xuống đứng lên tại bàn ăn, vì trước đó John cũng đã bị đụng đầu vô cái chá đèn mấy lần rồi. Lance tin tôi ngay và còn chọc tôi:
“Vậy thì má phải để dành tiền để mua cái đèn khác, thường cho chủ nhà”.
Thằng nhỏ nói đúng, vì đây là nhà mướn; làm hư đồ trong nhà thì phải thường cho chủ. Tôi gật đầu đồng ý với con.
Don Marsland cho chồng tôi biết chung quanh nhà tôi sẽ có người canh chừng suốt ngày đêm, ông ta đoán rằng kẻ xâm phạm có thể trở lại. Một người khác được biệt phái tới để coi chừng Lance ở sân trường vào giờ ra chơi.
Hai ngày sau đó, tôi đi bộ với Lance tới trường. Trường chỉ cách nhà có vài đoạn đường ngắn. Nhưng tới ngày thứ ba, Lance phản đối:
“Con lớn rồi, con đi học một mình được mà”.
Tôi đành để Lance đi một mình. Tôi biết mình đã vô tình truyền sự lo sợ của mình qua thằng nhỏ. Tôi không thích nó cứ phải lo sợ nhìn trước nhìn sau, lúc đi tới trường.
Một tuần sau, một việc kinh hoàng xảy tới cho gia đình tôi. Tan học rồi mà mười phút sau Lance không về nhà như thường lệ.
Tôi ráng chờ thêm năm phút nữa, rồi lao mình ra khỏi nhà, chạy dọc theo con đường quen thuộc mọi khi. Tới trường, tôi chạy vô sân chơi kiếm Lance, phòng vệ sinh của con trai thì vắng lặng, văn phòng hiệu trưởng cũng vắng. Người gác dan cũng giúp tôi kiếm cháu. Không có một vết tích nào của Lance, kể cả hộp đựng cơm trưa có vẽ hình người Nhện. Tôi như người mất trí.
Tôi lại chạy về nhà, hy vọng trong tuyệt vọng sẽ thấy con mình ngồi trên ghế dài ở phòng khách, coi hí hoạ trong truyền hình. Nhưng căn nhà vẫn trống trơn. Tôi kêu điện thoại cho hai bà mẹ của hai đứa bạn của Lance, nhưng cả hai đều cho biết họ không thấy Lance. Lúc đó là đúng một giờ mười lăm phút sau giờ tan học. Tôi cố lấy lại bình tĩnh để kêu cho chồng tôi. Anh cho biết anh sẽ về nhà ngay. Tôi trở lại trường kiếm Lance một lần nữa.
Giờ đó, sân chơi vắng về. Tôi đi vòng quanh sân, trong khi tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực và đầu tôi quay cuồng. Người gác dan thấy tôi, hỏi:
“Bà vẫn chưa kiếm được thằng nhỏ à? Sao bà không báo cảnh sát?”.
Tôi rất sợ phương pháp điều tra của cảnh sát. Họ có thể hỏi tôi: Lance có phải là một đứa nhỏ hư không? Nó có hay bỏ trốn đi không? Nó có hay bị cha mẹ đánh không?
Tôi không biết làm gì nữa, đành trở về nhà. Trên máy truyền hình trong phòng khách, có một bức hình Lance chụp ở trường học bên Luân Đôn. Đó là một tấm hình Lance sún răng cửa như tất cả mấy cậu bé bảy tuổi. Tôi cầm lấy tấm hình rồi quỳ xuống sàn, ôn lại giây phút cuối cùng hồi sáng nay trước khi Lance đi học. Lance đòi ăn bánh mì nướng, nhưng nhà đã hết bánh mì, Lance muốn nước cam, nhưng tôi cho cháu nước chocolat nóng để “con được ấm”, tôi nói với Lance như vậy. Lúc tôi đánh thức cháu dậy đi học, Lance xin ngủ thêm năm phút nữa, nhưng tôi không cho. Tôi ôn lại những điều tôi đã làm con tôi thất vọng sáng nay. Tôi bật khóc, rồi nói lớn:
“Lance ơi, về nhà với má đi. Má sẽ cho con bánh mì nướng, cho con nước cam và tất cả những gì con thích!”.
Thình lình cửa cái mở tung ra. Lance xuất hiện ngày giữa cửa, như nó vừa nhảy ra khỏi bức hình mà tôi đang ôm. Vẫn cái áo jacket màu kem bằng nhung kẻ, vẫn cái áo chemise trắng, vẫn nụ cười răng sún. Lance hớn hở nói lớn:
“Hi Mom!”.
Trong giây khắc, tôi giận điếng lên. Nhưng tôi vội nuốt vô bụng, chạy ra cửa. Chắc Lance không hiểu tại sao tôi bồng nó lên, ôm ghì lấy nó, rồi vừa khóc vừa cười, vừa ngạc nhiên. Lance cho biết lý do về trễ:
“Con có một thằng bạn mới, ba nó là Không Quân mới dọn tới. Nhà nó ở ngay sau nhà mình. Má có thấy căn nhà màu xám kia không? Nhà nó đó. Hôm nay xe chở đồ tới, họ mở đồ ra. Tụi con được coi đồ chơi của nó. Vui lắm, má ơi!”.
Tôi chẳng vui chút nào! Mặt mày hớn hở, Lance vừa nói vừa lôi tay tôi, chỉ cho biết nhà thằng bạn mới.
Tôi hoàn hồn, đi hâm soup cho Lance ăn. Ráng bình tĩnh, nhỏ nhẹ mà dặn Lance rằng, từ nay trở đi, khi tan học nó phải về thẳng nhà, nó phải xin phép mới được đi chơi nhà bạn. Bạn là ai? Ở đâu? Tôi cố gắng giấu nỗi lo sợ của tôi, để đầu óc non nớt của con tôi không bị xáo trộn. Nhưng tôi cũng không giấu nổi thằng nhỏ nhạy cảm nầy.
“Chuyện gì xảy ra vậy?”. Lance hỏi hai ba lần.
Cuối cùng tôi đành phải nói thật, là suốt hơn một tiếng đồng hồ vừa qua, tôi đã tưởng tôi có thể chết, vì nó không về nhà đúng giờ. Thấy con buồn hiu, tôi lại hối hận. Tự do cũng quan trọng với mấy đứa con nít. Tôi không muốn tước đoạt những quyền đó của con tôi. Tôi làm điệp viên cho CIA, tôi phải chịu nghịch cảnh, chớ con tôi vô tư, vô tội.
Khi John bỏ sở từ ngoài Pentagon hấp tấp chạy về mấy phút sau đó. Lance ngồi ở phòng khách coi TV một cách vô tư. Như tôi lúc nầy, anh cũng nổi giận, tắt TV và la con một trận. Lance bối rối khóc, vì cũng như những đứa trẻ khác, Lance đã quên chuyện vừa xảy ra, nhưng Lance cũng hứa với ba nó là từ nay nó sẽ đi thẳng về nhà sau khi tan học, trở thành thói quen. Lance đã giữ đúng lời hứa đó cho tới năm ra trường trung học. Đi thưa về trình, và luôn luôn giữ đúng giờ. Cũng như Lance, tôi giữ lời hứa: Lance muốn ăn món gì là có món đó. Bây giờ con tôi sống xa nhà, vài tháng gọi về cho biết: “Con hết chả giò, con hết thịt nướng”.
o O o
Giữa tháng Tư, tôi nhận được một lá thơ, ngoài bao thơ đề tên tôi. Tôi mở ra đọc ngay:
Gửi Mỹ Dung
Tôi nhờ một người bạn gởi thơ nầy cho cô. Rất tiếc là tôi không thể đích thân gặp cô để thảo luận sâu xa hơn để cô hiểu về lập trường của chúng tôi (những người có trách nhiệm ở trong nước).
Làm con của ba cô, ít nhứt cô phải biết điều đó. Danh dự và quyền lợi của quê cha đất tổ phải được đặt lên trên tất cả mọi thứ. Khi ra toà làm chứng, cô trở thành kẻ phản quốc. Có đã đọc sử nên biết rằng chúng ta xử tử kẻ phản quốc để trừng phạt. Không phải chỉ một tên phản quốc bị trừng phạt mà cả ba đời nhà nó.
Cô có mẹ, có chú bác, cô dì, có anh chị em, tất cả mọi người đều là nạn nhân của tội ác ngu dại của cô.
Tuy nhiên cô còn đủ thời gian ngưng lại việc tai hại đó. Tôi sẽ không liên lạc với cô nữa. Cô không được trình thơ nầy cho người Mỹ coi. Tôi hy vọng cô có thời gian suy nghĩ kỹ để ngưng lại.
Cuối thơ, chỉ ghi “một người bạn của ba cô”.
Tôi đưa lá thơ cho một nhân viên FBI và dịch sang tiếng Mỹ cho ông ta.
Bây giờ chúng tôi phải kiếm cách bảo vệ Lance cẩn thận hơn trước. Giúp nước không có nghĩa là để mặc cho con gặp nguy hiểm. John và tôi quyết định gởi cháu tới ở nhà chị thứ tư của tôi là chị Cương. Anh Wray, chồng chị, hiện đang trú đóng tại căn cứ Fort Huachuca, tiểu bang Arizona, và tôi nghĩ rằng nhà ở trong căn cứ quân sự là nơi an toàn nhứt – có thể an toàn hơn toà Bạch Ốc.
Tôi cầu cứu với chị Cương thì chị mừng lắm. Tôi nghe đám cháu của tôi reo hò khi má nó cho biết Lance sẽ xuống Arizona ở đi học.
Chồng tôi gọi ông chỉ huy trưởng của Fort Huachuca, trình bày trường hợp của gia đình tôi, và nhờ ông chú ý con của chúng tôi về việc nhập học cũng như an ninh của nó. Sau khi họ sẵn sàng nhận công tác đó, chúng tôi giải thích cho Lance biết, rằng tôi sẽ rất bận rộn khi ra toà làm chứng và ba cháu vẫn phải đi làm, nên chúng tôi nghĩ rằng đây là dịp tốt để Lance chơi với mấy người anh chị bà con.
Kenneth bằng tuổi Lance. Hai chị của nó là Therese và Christina lớn hơn Lance bốn năm tuổi. Lance hớn hở nhận lời ngay. Hai ông Bill Fleshman và Don Maryland đều ủng hộ ý kiến đó. Không những vậy, họ còn thu xếp cho một nhân viên FBI gặp chúng tôi ở phi trường Tucson để lái xe đưa chúng tôi tới tới Fort Huachuca, cách phi trường chừng hai tiếng lái xe.
Rời mùa đông lạnh lẽo ở Virginia, Lance có vẻ thích thú khi thấy trời nắng của Arizona. Ngồi trên xe do một thám tử của FBI lái, Lance xin quay cửa kiếng xuống để được hưởng nắng ấm, rồi kêu lên:
Ông thám tử của FBI chắc cũng mệt vì những câu hỏi của Lance:
“Có rắn độc ở sa mạc không? Ông có dám ăn xương rồng nếu bị lạc trong sa mạc không có nước uống?”.
Ấy là chưa kể tại những thắc mắc về chính ông ta, như:
“Ông có phải là nhân viên FBI không? Tại sao ông không đeo súng? Ông Bill Fleshman, bạn của má, lúc nào cũng đeo súng, chỉ khi sang London thì Bill không đeo súng”.
Nhưng may quá, mới đi được nửa đường thì Lance ngã ra ngủ.
Chị Cương, anh Wray và ba đứa con của chị tôi vui mừng khi Lance tới tỵ nạn nhà anh chị. Lance hoà nhập một cách tự nhiên với mọi người. Sáng hôm sau, chúng tôi dẫn Lance tới trường xin đi học, và Lance có một nhận xét:
“Đây là trường thứ ba trong năm nay của con, nhưng con vẫn thích lắm”.
Chị Cương và tôi nhìn nhau. Chị ứa nước mắt. “Tội nghiệp cháu tôi quá!”, chị nói.
“Đừng lo dì Cương. Lance thích Arizona lắm”.
Tôi cho Lance biết tôi sẽ phải trở về Washington. Lance tỏ vẻ bình tĩnh, chỉ dặn tôi nhớ kêu điện thoại cho cháu mỗi tuần một lần vào chiều Thứ Sáu, sau khi đi học về. Lance còn nhấn mạnh:
“Con không có tiền để kêu ba má, mà con nghĩ rằng con cũng không có quyền xài điện thoại của uncle Wray kêu đi xa. Vậy má phải kêu con đó nhen”.
Tôi long trọng hứa chắc với Lance, tôi sẽ kêu Lance mỗi chiều Thứ Sáu.
Lance chợt hỏi:
“Mommy, có phải má cũng đi xa ba má của má hồi má bảy tuổi không?”.
“Không, tới chín tuổi má mới đi xa”.
“Má có khóc không?”.
“Má quên rồi. Nhưng nếu con khóc cũng không sao”. Tôi nuốt nước mắt trả lời con tôi.
“Má đừng lo”.
Tôi cho Lance biết bà ngoại sẽ xuống đây thăm gia đình dì Cương. Nghe vậy. Lance mừng lắm, vì lúc nhỏ, Lance đã quen hơi quen tiếng của má tôi, qua nhiều dịp được ở chung với bà ngoại.
Mười mấy năm sau, nhờ chị Cương nói, tôi mới biết má tôi không cốt ý xuống thăm gia đình chị Cương mà má nóng ruột cho Lance, tội nghiệp nó, nên mới xuống Arizona ở ba tháng với nó.
o O o
Cuộc xử án bắt đầu ngày 1 tháng Năm, 1978. Lúc đó chúng tôi đã dọn ra khỏi căn nhà mướn và khách sạn Ramada Inn trên đường Seminary là nơi tạm trú của chúng tôi. Chiều Thứ Sáu nào tôi cũng kêu điện thoại cho Lance như đã hứa, rồi khóc cả tiếng đồng hồ sau khi nghe tiếng của con. Má tôi đã tới Arizona và kêu tôi đừng gọi Lance thường, vì mỗi lần nói chuyện với tôi xong, cháu lại kiếm cớ để lánh mặt mọi người, như vô phòng tắm khoá cửa lại, hay làm bộ đi ngủ. Còn nói giọng người lớn với chị bà con của nó:
“Đừng ai làm phiền tôi. Tôi cảm nặng rồi”.
Ngày Mother’s Day, tôi điện thoại cho má tôi, rồi nói chuyện với Lance sau đó. Lần nầy thì Lance than là nhớ nhà. Rồi vừa nói vừa khóc trong điện thoại:
“Mothers Day là ngày ngu lắm tại vì Mommy không có đây”.
Trong khách sạn Ramada chúng tôi tạm ở để chờ ngày ra toà, một hôm, khi John đã đi làm, tôi nằm trên giường, nhìn loanh quanh trên trần nhà. Cách trang trí trong phòng tẻ nhạt. Mấy bức tranh đóng chặt vô tường. Đèn cũng đóng đinh trên mặt bàn. Máy truyền hình cũng khoá chặt xuống sàn… như tôi cũng bị đóng đinh, kết cứng với Bộ Tư Pháp. Tôi nghe rõ nhịp đập của tim tôi, nghe được cả mạch máu rần rần trên gối. Tôi thấy vẻ mặt không bằng lòng của má tôi. Tôi thấy đôi vai xương xẩu của ba tôi, mái tóc hoa râm đi theo cuộc đời của người làm cách mạng.
Tôi tự hỏi không biết ông có sự thanh thản nơi ông ở, để hiểu tại sao tôi làm những việc nầy không? Tôi mong đảng của ông không bóp méo việc tôi làm, như họ đã bóp méo sự thật về cái chết của em tôi. Ba tôi vẫn tin Hải Vân bị “Mỹ giết”. Tôi mong rằng, sau khi gặp tôi kỳ rồi ba tôi đã biết, tôi cũng như ông, lý tưởng là động cơ thúc đẩy những hành động trong đời sống của tôi. Ba tôi thương tôi và đã yêu cầu tôi làm theo “tinh thần và danh dự của một người Việt Nam”. Tôi cảm thấy tôi không còn là người Việt Nam nữa. Ngày mai tôi sẽ bước vô phòng xử của toà án, tôi sẽ phải nói tất cả sự thật: đường dây gián điệp Việt Nam sẽ bị tiết lộ. Tôi sẽ làm tất cả để bảo vệ quyền lợi của nước thù địch lớn nhứt của ông. Tôi sẽ làm theo tinh thần của một công dân Mỹ.
Tôi không muốn bị làm rộn, nên đi ra cửa máng tấm bản “Xin đừng làm rộn” vô nắm cửa bên ngoài, rồi trở lại giường nằm.
Tôi nghĩ tới cuộc viếng thăm của Bill Fleshman ngày hôm qua. Ông mời tôi đi ăn trưa. Dù ông không nói gì nhiều, tôi cũng hiểu ông được lịnh của ông Griffin Bell, bộ trưởng Bộ Tư Pháp tới thăm dò coi thái độ của tôi ra sao. Khi ông đưa tôi trở về khách sạn, trước khi chia tay, tôi nói:
“Anh về nói với ông chánh án Bell là “Keyseat” vẫn còn ở đây. Tôi không có trốn đi đâu đâu”.
Bill cười gượng gạo, có vẻ mắc cỡ, vì tôi biết được ý nghĩ của họ.
Chị Cương của tôi có lẽ là người đã nâng đỡ tinh thần tôi nhiều nhứt trong giai đoạn thử thách nầy. Hôm tôi từ giã chị và Lance, chị kéo tôi ra riêng mà nói:
“Cưng cứ làm cái gì mà tim cưng cho là đúng. Đừng vì FBI, cũng đừng làm cho ba đau lòng vì cưng giận ba. Chỉ có một mình cưng sẽ phải sống suốt đời với sự quyết định của cưng mà thôi. Chị không thể nào biểu cưng làm hay đừng làm”.
Tôi không biết chị tôi đồng ý hay bất đồng ý với việc làm của tôi. Chị xử sự rất đúng; quyết định nầy của tôi và do tôi mà thôi.
Tôi nhớ hồi còn ở Luân Đôn, Rob cho biết sẽ giữ an ninh cho gia đình tôi bằng một khẩu súng máy. Bây giờ ở đây, trong căn phòng của khách sạn, tôi có cây súng của James Bond-Walther PPK với hai bì đạn, tổng cộng là mười viên. Một bì đã nằm sẵn trong cây súng. Tôi nghĩ tôi không cần súng lục hay súng máy. Nhờ có sự yểm trợ tfch cực của các nhân viên FBI tham dự chiến dịch “Magic Dragon”, từ ngày trở về Mỹ, tôi cảm thấy hoàn toàn an ninh. Tôi biết CIA không vui gì khi tôi đã nhận lời ra toà làm chứng. Như vậy là tôi không còn giúp ích gì cho họ được nữa, mà ngược lại tôi đã làm gián đoạn nhiều kế hoạch của họ. Khi tôi vừa trở lại Washington từ Luân Đôn, văn phòng của đô đốc Standfield Turner, Giám đốc CIA, cho biết đến giờ phút chót nầy cũng chưa trễ, nếu tôi muốn từ chối ra toà làm chứng.
Sự “lựa chọn” mà họ đề nghị cùng với vẻ chán nản của Rob, khiến tôi có cảm tưởng tôi phản bội CIA. Nhưng mối quan tâm ấy không thể sánh với mối lo sợ cao hơn cái núi của tôi, khi nghĩ tới ba tôi. Họ sẽ làm gì để trừng phạt ông vì đứa con gái đi “lạc đường”? Cảm tưởng của ông ra sao khi tin tức về tới Việt Nam? Tôi biết hành động của tôi sẽ huỷ bỏ mọi cơ hội của bất cứ ai trong gia đình muốn gặp lại ba tôi và anh Khôi tôi trong tương lai. Má tôi đã trách tôi đưa cuộc đời anh Khôi vô vòng nguy hiểm, và đẩy tuổi già của ba tôi vô vòng tăm tối.
Tôi lấy một tấm hình nhỏ của ba tôi từ trong bóp ra, nhưng tôi không đủ can đảm để nhìn. Tôi không khóc được, mà tôi ráng quên đi cái điều tai hại tôi có thể gây cho ông. Tôi nhớ có lần ông đã nói:
“Con là con, ba là ba”.
Lớn lên, không ai trách tôi về những tội ác mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Cộng sản Hà Nội đã gây nên trên đất nước tôi. Vì vậy, tôi hy vọng rằng chánh phủ mà ba tôi đang phục vụ cũng sẽ coi tôi như người khác biệt với ông, không bắt ông chịu trách nhiệm về hành động của tôi.
Nghĩ vậy cho đỡ sợ, đỡ lo tạm thời, chứ làm sao mà so sánh con gái của một gia đình yêu nước với một lũ cộng nô.
Tôi nằm vật lộn với những ý nghĩ dồn nén trong tôi, mà cảm thấy mình cô đơn. Cô đơn như hai tên gián điệp đang nằm trong khám chờ ngày hầu toà.
Tôi chưa bao giờ gặp Ron Humphrey. Lần đầu tiên tôi thấy mặt ông là một bức hình trên mặt báo khi bị bắt, hai tay bị còng và các nhân viên FBI bao quanh, trong đó có mấy anh nhân viên FBI là bạn tôi.
(Hình BVCV sưu tầm trên internet)
Tôi tội nghiệp cho Humphrey, như một con vật mắc bẫy. Là nhân viên của toà đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông gian díu với một người đàn bà Việt Nam, lúc vợ chồng ông ở Sài Gòn. Ông là một viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ông chỉ là một người dính dấp vô một việc vượt quá sức của ông. Qua cuộc điều tra, được biết, sau tháng Tư năm 1975, ông tìm đủ mọi cách để đưa người đàn bà ấy ra khỏi Sài Gòn. Cuối cùng, ông liên lạc với toà đại sứ Hà Nội tại Đông Đức, và từ đó cái giá chuộc tự do cho người tình vụng trộm của ông, là phản quốc. Lúc tôi gặp Trương Đình Hùng, thì Cộng sản đã cho người đàn bà đó và hai đứa con qua Mỹ, nhưng họ giữ lại đứa con trai làm con tin để đòi thêm tài liệu mật.
Tôi tội nghiệp cho người ngu dại, chỉ mong ông được an bình trong tay Thượng đế, vì tôi biết rằng chỉ có Thượng đế mới có thể cứu rỗi ông sau khi tôi ra toà làm chứng.
(Hình BVCV sưu tầm trên internet)
Tôi tội nghiệp cho David Trường hơn, vì tôi nghĩ rằng quá uổng cho một người trai trẻ, con nhà giầu, học giỏi, vì tham vọng mà phải ngồi tù. Anh cống hiến tuổi trẻ của anh cho lý tưởng. Hùng sanh trưởng trong một gia đình thượng lưu ở Sài Gòn. Có lần Hùng nói gia đình anh là gia đình đầu tiên lái chiếc xe Mercedes. Trong thời gian hoạt động cho Cộng sản, mê theo lý tưởng của mình, nên bộ đồ tốt nhứt của Hùng cũng do các bạn ở Paris mua tặng để Hùng có một bộ đồ cho xứng hầu có thể trà trộn vô khu Quốc Hội Mỹ lấy tin tức.
(Hình BVCV sưu tầm trên internet)
Hùng là một người lạnh lùng, tính toán và tàn nhẫn. Tôi không bao giờ quên sự lãnh đạm của anh đối với cha mẹ anh. Ông Trương Đình Dzu đã viết thơ cho Hùng do anh Huỳnh Trung Đồng đưa cho tôi đem về cho Hùng. Ông yêu cầu Hùng xin cấp trên của anh ta cho ông bà được xuất ngoại chữa bịnh.
Nhưng Hùng đã từ chối mà không cần suy nghĩ trước mặt tôi, như đó là việc anh đã dự tính trước. Rồi anh giải thích lý do từ chối đó:
“Các ông ấy (giới chức Cộng sản) sẽ nghĩ gì về tôi, nếu tôi xin cho ba má tôi rời khỏi Việt Nam? Nước nhà đã được giải phóng, thì những người Việt Nam yêu nước phải ở lại để cùng xây dựng đất nước”.
Nghe Hùng nói, tôi toát mồ hôi. Khi lấy lại bình tĩnh, tôi đề nghị Hùng nên nghĩ lại; tôi sẵn sàng nói chuyện với Phan Thanh Nam, nếu anh ta bằng lòng nhờ Phan Thanh Nam giúp đỡ. Nhưng Hùng nhấn mạnh rằng, ngoài tôi ra, không ai được biết lời yêu cầu của ba má anh ta. Trương Đình Hùng đặt sự tín nhiệm và thể diện của anh ta trước con mắt của Cộng sản cao hơn sự sống còn của cha mẹ.
Có quá nhiều người bị ảnh hưởng bởi sự quyết định của tôi. Trước hết là đại gia đình của tôi; rồi tới anh chàng người Mỹ phản quốc để lấy một người đàn bà; và một anh chàng tham vọng, sẵn sàng hy sinh người khác để đạt tới mục đích riêng của mình.
Nằm trên giường, tôi bỗng có ý nghĩ điên rồ. Tôi vùng dậy, mở bóp ra coi. Trong đó có bốn mươi lăm Mỹ kim, bảy mươi lăm đồng Phật lăng Pháp, một nắm tiền lẻ của Anh, và một thẻ tín dụng American Express. Nếu tôi muốn trốn, với số tiền nầy tôi đi được tới đâu? Tôi không thể lái chiếc xe Thunderbird mà chúng tôi đang chạy, vì đó là xe mướn; người ta có thể kiếm ra chiếc xe trong vòng năm phút. Tôi không thể đi taxi tới Vienna ở tiểu bang Virginia để trốn trong khách sạn Wolf Trap, nơi mà không ai có thể kiếm ra tôi, nhưng tiền đi xe taxi tới đó cùng đã hết bốn mươi lăm Mỹ kim rồi. À, mà tôi cũng có thể dùng thẻ tín dụng của tôi để trốn trong một phòng khác ngay trong khách sạn nầy mà không ai biết. Tôi có một cái tên giả, thẻ giả, tên là John Hopkins để ghi tên vô khách sạn nầy!
Trong một cơn bốc đồng, tôi lấy một túi xách ra và bắt đầu liệng vô đó một đôi giầy, quần áo lót, hai bộ đồ. Trong cơn hối hả chuẩn bị đi trốn, bỗng có tiếng gõ cửa. Năm tiếng, rồi ngừng, thêm hai tiếng nữa. Tôi biết đó là chồng tôi vì đúng “mật hiệu”.
Tôi lẩm bẩm: “Nè, chưa trốn mà bị phát giác rồi!”.
Tôi mở cửa cho anh vô. Khi nhìn thấy cái túi xách trên giường, anh ngạc nhiên hỏi:
“Em làm gì vậy?”.
“… Cất quần áo vô tủ”.
“Vậy hả!”.
Anh thản nhiên nói và không hề có một chút nghi ngờ gì về cơn rối loạn tâm thần của tôi mà anh đã tình cờ cứu tôi. Anh vui vẻ nói:
“Thay đồ đi cô! Mình xuống dưới nhà uống nước”.
Tôi nhìn khinh bỉ cái túi xách, rồi vô phòng tắm để thay đồ. Tôi nghĩ về người đàn ông mà tôi kết hôn.
Có người đeo bùa hộ mạng. Tôi không có bùa mà có John. Anh luôn luôn đem may mắn lại cho tôi, sẵn sàng bảo vệ và ủng hộ tôi. Tôi hiểu rằng một mình tôi không thể thành công. John luôn luôn ở cạnh tôi khi tôi cần đôi vai vững mạnh để nương tựa. Không những vậy, anh còn cho tôi quyền tự do khi tôi muốn quyết định lấy một mình.
Tôi mắc cỡ, không dám cho anh biết sự thật tôi đang làm gì khi anh tình cờ về nhà buổi trưa đó.
Tôi cũng đã học “thân ở đâu thì tâm ở đó”, nhưng trong giờ phút kinh hoàng ấy, tâm trí của tôi cứ nghĩ tới ngày ra toà, mong tới ngày chót của cuộc xử án nầy, để được sống một đời sống bình thường với gia đình. Chừng đó tôi mới cho John biết anh đã cứu tôi ra khỏi cơn kinh hoàng trước một ngày tôi ra toà làm chứng “trong tâm thức của một người Hoa Kỳ”.
Ghi ơn Ông Bà Ngoại cho cháu cội nguồn Nhớ ơn Ba Má đã chắp cánh cho con bay Tri ân các Chiến Sĩ hy sinh vì đại nghĩa
Cha Mẹ đã khuất núi, tôi sống bằng lá gan của Cha và trái tim của Mẹ trong tình thương của Con Rồng Cháu Tiên
Ngày Chúa Nhựt 18 tháng Chạp, chúng tôi đề nghị cả gia đình đi picnic ở vùng quê ngoài thành phố Luân Đôn để ba má tôi có dịp thay đổi không khí. Nhưng tôi ngạc nhiên khi ba tôi từ chối. Ông đề nghị cứ đưa Lance đi chơi vui vẻ, ông thích ở nhà hơn.
Tôi không hiểu tại sao ba tôi lại từ chối cuộc đi chơi để cùng sinh hoạt chung với gia đình. Cuối cùng, má tôi kéo tôi vô phòng riêng của bà để giải thích cho tôi biết. Buổi tối đi đón ba tôi ở phi trường, trên đường về, tôi đã nói giỡn với ba tôi là tôi “bắt cóc” ông nếu ông không chịu ở lại với má. Ông đã hốt hoảng, và từ hôm đó tới nay, ba tôi không biết tôi nói thật hay nói chơi. Bây giờ chúng tôi nói tới chuyện đi về miền đông quê, xa toà đại sứ Việt Nam, thì ông sợ tôi làm thiệt.
Tôi hối hận vô cùng vì đã làm ba tôi bất an trong mấy ngày nầy. Nhưng tôi vẫn nuôi dưỡng cái ước mơng tách ba tôi khỏi nước Việt Nam. Mỗi lần nghĩ tới chuyện đó thì tâm tư tôi rộn ràng, tim tôi đập tứ tung. Nhưng tôi không có ý đồ gì trong chuyến đi picnic nầy. Má tôi đã phải năn nỉ ba tôi nhiều lần như vậy; cuối cùng cũng thuyết phục được ông đi với chúng tôi.
Ba tôi miễn cưỡng đi, nhưng ông không thoải mái chút nào trong suốt buổi đi chơi. Khi chúng tôi ngưng lại bên một cánh đồng, ông không muốn ra khỏi xe, và có thể ông cũng không muốn nhúc nhích, nếu Lance không nắm tay ông năn nỉ:
“Ông ngoại. Lance muốn chơi với ông”.
Mắt ông không ngừng ngó quanh cánh đồng suốt buổi picnic đó, như có ý đề phòng một nhóm người bất thình lình xuất hiện từ bờ cây bụi cỏ để bắt cóc ông. Phải chi tôi đừng nói tới hai chữ “bắt cóc”, rồi chờ khi có dịp thuận tiện ở một địa điểm tốt, sẽ thực hiện điều đó. Tôi tâm sự với má tôi thì bà la tôi liền:
“Con à, không bao giờ có dịp nào thuận tiện hay địa điểm nào tốt để làm chuyện đó với ba con nghe chưa”.
Chúng tôi phải rút ngắn buổi đi chơi ngoài trời, vì ba tôi tỏ ra quá lo lắng. Sự căng thẳng tinh thần đã làm ông mệt mỏi, nên khi vừa về tới nhà, ông lên phòng Lance nằm nghỉ.
Tôi hối hận vô cùng. Không ngờ lời nói của tôi đã ảnh hưởng mạnh tới tinh thần ba tôi như vậy. Có thể suốt những ngày thăm viếng gia đình tôi, ông đã lo lắng, chứ không phải chỉ buổi picnic hôm nay. Tôi nói với má tôi là tôi biết mình có lỗi với ba nhiều quá. Bà khuyên tôi nên xin lỗi ba tôi.
Tôi bước vô phòng của Lance, thấy ba tôi nằm bất động trên giường, nhìn tôi mà không nói gì. Tôi lên tiếng:
“Ba à, tại con quá tuyệt vọng nên đã nói bậy. Có lẽ vì con ngu mới nuôi ảo tưởng, mới xây nhà lầu trên cát; và cũng chỉ vì con thương ba má quá. Vậy con xin ba tha lỗi cho con. Con phát ngôn bừa bãi để ba phải lo lắng!”.
Ông nằm tay tôi siết mạnh, rồi nói:
“Ba tha lỗi cho con rồi”.
Ông không muốn nhắc lại chuyện cũ nữa, ông lật gối qua mặt kia, rồi nằm xuống lại, như muốn ngủ tiếp. Tôi ra khỏi phòng, nói với John, tôi cần đi bộ một lát.
Gió tháng Chạp thổi vô mặt tôi lạnh buốt khi tôi đứng trên cây cầu ở công viên Regent. Hai ông bà già người Anh nắm tay nhau đi qua cầu. Bà già phải chống gậy. Ông già nhấc nón lên chào, khi hai ông bà đi qua tôi. Tôi hình dung ba má tôi được sống bên nhau như hai ông bà nầy, nhưng tôi đã biết không còn hy vọng gì nữa. Tôi thèm thuồng nhìn theo họ cho tới lúc họ quẹo sang đường khác.
Trên đường về nhà, tôi dừng lại trước nhà thờ St. Marks, nhìn lên khung cửa kiếng nhiều màu và cứ hỏi:
“Tại sao thương yêu mà đau quá vậy?”.
Khi tôi về tôi nhà, ba tôi đã dậy và đang đọc cuốn Solar Energy (Nhiên Liệu Mặt Trời) của John. Thấy tôi, ông cười nhưng nụ cười không tươi như trước đó.
Có lần ba tôi tâm sự:
“Ba thèm địa vị của má, vì má may mắn được nuôi dạy các con. Ba chỉ có the được thấy các con lớn lên trong tưởng tượng mà thôi. Ba đã vẽ hình tất cả các con, tuyệt đẹp trong sự tưởng tượng của ba”.
Nói gì bây giờ. Tốt hơn là nghe ba tôi tâm sự, để ông trút hết nỗi lòng hai chục năm nầy không thổ lộ được với ai.
Đêm hôm đó, khi tôi đưa ba về nhà, tôi nấn ná trong phòng ngủ của ông lâu hơn mọi khi. Tôi ước mong có một điều gì đó có thể khiến tôi làm, hoặc nói để ông đổi ý, hoặc có một phép lạ nào trong đêm Giáng Sinh làm việc đó thay tôi. Nhưng cuộc đời với ba tôi không có phép lạ, không có nhiệm mầu. Chỉ có tình yêu, chỉ có bổn phận, chỉ có tổ quốc, và chỉ có kẻ thù. Đời của ba tôi có chiến tranh, có hoà bình, hy vọng, đau thương, vui tươi và buồn phiền, nhưng không có nhiệm mầu. Tôi làm giường cho ông, lấy quần áo dơ mang về nhà giặt, và cứ lăng xăng bên cạnh ông mà không làm gì, nói gì hết. Cuối cùng ông hỏi:
“Con đang nghĩ gì vậy?”.
Tôi lắc đầu rồi vội hôn ba tôi, chào từ biệt.
Đường về nhà lúc sau nửa đêm trông như một cảnh trong một phim huyền bí. Sương mù bao phủ cây cối, và lác đác mấy ngọn đèn đường toả ánh sáng mờ ảo vô những toà nhà vách đá. Trong khi lái xe, tôi bỗng cảm thấy tức giận. Giận chính tôi, giận thế giới, giận hoàn cảnh đã đưa gia đình tôi vô thế kẹt nầy. Mấy tháng trước, má tôi hỏi tôi sẽ làm gì, nếu ba tôi từ chối trở về sống với gia đình? Tôi không thể trả lời câu hỏi đó. Tôi đã nói với bà như sau:
“Con không trả lời câu hỏi đó được đâu. Cũng như con không trả lời khi ai hỏi con sẽ có cảm giác gì, nếu con rớt từ từng lầu thứ 25 xuống đất”.
Đáng lẽ tôi nên nói với má tôi: “Con xin phó thác mọi việc cho ông Trời”. Không biết lúc nầy tôi có được ở trong bàn tay yêu thương của ông Trời không nữa? Tôi muốn tin là có.
Về tới nhà, tôi ăn mấy cái bánh và uống ly sữa mà tôi và Lance đã để trên bàn mời ông già Noel rồi đi ngủ. Tôi nghĩ rằng nhiệm mầu của Giáng Sinh đã ban cho gia đình tôi được sum họp vui vẻ dưới một mái nhà ở Luân Đôn. Những ước mong khác có được thì tuỳ thuộc ở ba tôi, và cần thêm nhiều phép lạ bùa mê lắm mới khắc phục được lý tưởng mà ông đang theo, và sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp đó.
o O o
Một buổi trưa, tôi và má tôi ngồi nói chuyện, má nói:
“Ba thương con, ba thương hết tụi mình, đừng bao giờ nghi ngờ điều đó, nhưng ông phải đeo đuổi sự nghiệp của ông”.
“Má à, con muốn thử thời vận mình một lần nữa, xin ba nghĩ kỹ lại”.
Má tôi nói:
“Ba con hãnh diện về việc cuộc đời của một người tiên phong đi làm cách mạng. Ba tin là người ta còn cần tới ông. Ở Mỹ sung sướng với ai kia, chớ không phải với ba. Ba sẽ khổ lắm, rồi ba sẽ chết héo chết mòn khi ông trở thành một người không có quê hương, xứ sở. Mình cũng như nhiều người khác, sống ở đâu cũng được. Còn ba con thì không làm sao sống xa cái khuôn khổ của ông. Thôi, để yên cho ba con”.
Tối hôm đó, sau bữa ăn, ba tôi và tôi nói chuyện riêng rất lâu. Chúng tôi ngồi xếp bằng trên giường của Lance. Tôi nắm lấy hai bàn tay ba tôi như muốn trút hết tâm tư của mình. Tôi nói:
“Ba à, con muốn ba biết là ba đã đem tới cho chúng con cái lễ Giáng Sinh tuyệt vời chưa bao giờ có trong đời chúng con. Ba đã làm cho má con vui. Con cảm ơn ba đã chung vui với chúng con và cho Lance được cái diễm phúc được biết ông ngoại. Cám ơn ba chấp nhận thằng rể của ba vô trong gia đình mình!”.
Ba tôi lắng nghe rồi nói:
“Ba cũng cám ơn gia đình con cho ba có mặt ở đây. Ước gì cảnh sum họp nầy kéo dài vô tận để nghe má con cười, để thấy má con vui”.
Ba tôi nhìn ra một nơi xa xăm, rồi ông nói một câu ngắn gọn:
“Ba phải trở về nước của ba”.
“Ba à, ba đã theo lý tưởng của ba quá lâu rồi; ba hiến đời ba cho đảng Cộng sản, cho dân tộc và đất nước. Bây giờ ba không thể sống cho gia đình của ba được sao? Tình thương của ba cho má, ba phải giấu mấy chục năm nay, thì bây giờ ba đâu còn phải giấu nữa”.
Ông nói bằng một giọng chắc nịch:
“Ba cũng muốn những điều như con muốn. Nhu cầu của chúng ta không khác nhau; của má con cũng vậy. Ba thương con, ba chung thuỷ với má con. Nhưng điều con đòi hỏi ba, thì ba không thể chiều con được”.
Đôi mắt ông như có lửa giận, vì một lần nữa tôi nhắc lại chuyện hưu trí, ở lại với má tôi. Ông nói tiếp:
“Ba đã dạy con của ba phải trung thành, phải là người có tín nhiệm. Ba muốn làm gương cho những điều giáo huấn đó”.
Tôi ra giọng năn nỉ:
“Con đâu có đòi ba phải phản bội họ. Con chỉ muốn ba chia sẻ cuộc sống với tụi con, sống với má cho tới già, bỏ qua chính trị, bỏ qua đảng Cộng sản luôn”.
Ba tôi bình tĩnh nói:
“Con yêu cầu ba bỏ nước mình đi, rồi tới ở một nước đã từng là thù địch của ba. Con nghĩ lại coi như vậy có được không, con gái của ba?”.
Tôi đáp ngay:
“Ba à, con đã nghĩ về chuyện nầy lâu lắm rồi; con nghĩ kỹ lắm. Con đâu có đòi ba phải sống ở Mỹ. Ba lựa một nước nào khác. Một nước trung lập, hay bất cứ một nơi nào mà ba được quyền thương yêu gia đình của ba, nơi nào mà ba được tự chủ, tự do”.
Ông ngắt lời tôi:
“Ba là người Việt Nam, sanh trưởng tại Việt Nam và ba sẽ chết ở Việt Nam với đồng bào của ba”.
“Thưa ba, con đâu có nói tới chuyện chết chóc. Con chỉ nói tới chuyện sống, tới chuyện chia ngọt sẻ bùi với những người thân yêu của ba. Ai cũng muốn có ba bên cạnh, như đất cần mưa, như cá cần nước”.
Ba tôi có vẻ dịu đi một chút, cúi xuống hôn lên tóc tôi, rồi nói:
“Được con của ba thương ba, là danh dự lắm”.
“Ước gì trong một giây phút ba biến thành con, để ba có thể hiểu tại sao con mong mỏi ba trở về sum họp với gia đình”.
“Ba không cần là con, ba cũng có thể hiểu tấm lòng của con. Có nhiều lần ba cần các con, cần má con lắm… Đó là những lúc ba ráng tưởng tượng các con khôn lớn như thế nào, các con đang làm gì, các con ra sao, đời có tử tế với con của ba không? Đó là những lúc khó khăn nhứt cho ba. Nhưng bổn phận của ba đối với đất nước vẫn trên hết!”.
“Làm con của ba là niềm hãnh diện, nhưng làm con của ba khó quá, vì tụi con không sống nổi theo sự đòi hỏi của con nhà cách mạng. Con nghĩ chiến tranh đã chấm dứt, đã trở thành dĩ vãng. Bây giờ chúng con có quyền đòi lại ba, đòi lại những gì của riêng chúng con đã bị mất”. Tôi vừa nói vừa cố gượng cười.
Ba tôi cũng mỉm cười, rồi nói:
“Mình có thể làm cho tình gia đình mình phong phú mạnh mẽ hơn với thái độ không vị kỷ. Hãy giúp đỡ nhau đối phó với hoàn cảnh hiện tại của gia đình, đi tới một sự hiểu biết rộng rãi hơn”.
Chúng tôi ngồi trong im lặng một lát.
Ba tôi có vẻ đăm chiêu khi nhắc tới chuyện trở về miền Nam sau tháng 4-1975. Ông nói:
“Ba về nhà sau khi Sài Gòn được giải phóng, không một người bạn nào cho ba biết vợ con ba đã đi Mỹ. Rồi ba về Cần Thơ. Khi tới giữa chợ Bang Thạch, bạn hữu của gia đình ra chào mừng ba, nhưng không một ai nhắc tới má con. Cuối cùng về nhà của ông ngoại bà ngoại, dì Bảy mới cho biết má con đã đi Mỹ, các con đã yêu cầu má đi. Trong mấy ngày liền, ba đau đớn lắm. Ba rất hổ thẹn mà thú nhận rằng ba không đáp ứng sự mong mỏi của vợ con. Nhung rồi ba cũng mừng, là ba không mất hẳn gia đình của ba”.
Nói tới đây thì má tôi bước vô phòng. Ba tôi ngồi xích một bên để nhường chỗ cho má. Rồi ông nói tiếp:
“Khi ba mười sáu tuổi, là một người trẻ trung làm cách mạng, ba đã hiểu rằng bảo vệ tổ quốc không phải là một việc làm hay một nghề nghiệp mà là một bổn phận và danh dự của một người dân. Trong lúc đất nước lâm vào nguy biến, làm cách mạng là một điều quan trọng hơn bất cứ việc gì khác trong đời ba. Người làm cách mạng tin vào lý tưởng mình đang theo, tinh thần phải vững mạnh, vì vậy gia đình là chủ yếu cho người làm cách mạng. Người làm cách mạng cần có một gia đình vững chắc bên cạnh để yểm trợ cho mình về mọi phương diện.
Ba đã tin tưởng như vậy và ba quyết định rằng người vợ tương lai của ba cũng là một người bạn đời của ba, người có thể làm cho tinh thần mình lên cao và ý chí mình luôn luôn vững mạnh. Người vợ của ba sẽ sanh con cho ba và nuôi dưỡng chúng nên người, dạy con ba yêu nước, yêu dân tộc. Ba để tâm tìm kiếm người đàn bà đó. Ba đã tưởng ba sẽ phải sống cô đơn tới già. Nhưng rồi, năm hai mươi sáu tuổi ba gặp cô em gái của một đồng chí. Ba yêu cô đó ngay. Và, như một phép lạ, cô có đủ mọi đức tánh của một người vợ mà ba mơ ước. Ba thưa với ông bà nội rằng với giòng giống của hai gia đình như vậy, ba tin rằng sau này ba sẽ có những đứa con tuyệt vời. Ông nội bèn chánh thức hỏi cô gái đó cho ba”.
Tôi thấy niềm vui trong đôi mắt sáng long lanh của ba tôi khi người hồi tưởng lại thời trai trẻ của mình.
Ba tôi mỉm cười rồi tiếp tục kể:
“Hoàn cảnh đất nước chúng ta hồi đó không cho phép ba được sống bên cạnh má con, nhưng má con lúc nào, kể cả bây giờ cũng là người gần gũi với ba, hiểu ba nhứt. Ba có thể hiểu được tình yêu và lòng chung thuỷ của má con. Những năm xa nhà, ba nhìn ánh phản chiếu của một giòng sông im lặng và biết rằng ba không cô đơn. Khi bọn Pháp bắt giam nhiều người làm cách mạng, mối lo sợ lớn nhứt của các đồng chí của ba là con cái sẽ bơ vơ và gia đình sẽ tan nát. Nhưng trong tận đáy lòng ba, ba biết gia đình ta vẫn yên lành và con của ba vẫn được má chăm lo, nuôi dạy. Như vậy, các con thấy rõ là các con rất may mắn mới có bà mẹ như má”.
Buổi trưa đó má tôi rầy cho tôi một mẻ:
“Con đã làm ba buồn, má không thích như vậy. Mình không có giúp ích gì được cho bên nhà cũng như người ở lại bằng cách chửi Cộng sản trước mặt ba mày. Đừng có hành hạ ba. Đừng có giận cá chém thớt. Cái chế độ đó ra đời không phải để đem hạnh phúc cho dân, mà họ làm giầu làm mạnh cho đảng thôi. Không có ai cứu nước Việt Nam được, luôn thằng Mỹ cũng chịu thua.
Con không được lớn lên với ba, nên cứ tưởng ba còn trẻ. Trong trí nhớ của con, ba trẻ trung, ba là Việt Minh chống Pháp nhưng bây giờ ba con không còn trẻ nữa. Thôi, để ba về Việt Nam cho ổng đem theo những kỷ niệm vui của cuộc viếng thăm nầy. Đây là lần cuối cùng mình gặp ba. Má yêu cầu con lên xin lỗi ba”.
Trong gia đình, ai cũng biết tôi là đứa bướng bỉnh, cứng đầu; vậy mà sau khi má tôi dứt lời, tôi ngồi xuống đất khóc. Má tôi khóc.
Má tôi nhìn ra cửa sổ rồi nói thêm:
“Má biết con đau đớn lắm, nhưng con còn trẻ, thời gian sẽ làm cho con khuây khoả. Trong khi đó, ba con già rồi, ba không có thời gian để hàn gắn vết thương nào. Đừng để ba mầy khổ, tội nghiệp ba”.
Trong phòng của Lance, ba tôi nằm nghiêng, lưng quay ra cửa. Tôi ngắm kỹ ông, thấy rõ xương vai dưới lớp áo trắng mỏng. Tôi nghĩ rằng má tôi nói đúng về cảm nghĩ của chúng tôi với ông. Tôi chưa bao giờ trông thấy ba tôi già như lúc nầy. Đối với tôi, ông luôn luôn là một người Việt Minh cương nghị, đầy nhiệt huyết của một nhà cách mạng chống Pháp. Bây giờ ba tôi già ốm yếu, với mái tóc hoa râm. Đây là lần đầu tiên tôi thấy ba tôi già. Nhưng tuổi già của ông lại khiến tôi không đồng ý với má tôi, là để ông trở về Việt Nam; tôi càng muốn giữ ông ở lại với chúng tôi.
Hồi còn nhỏ, tôi thường nghe má tôi ao ước sớm được săn sóc ba tôi, muốn làm những món ăn ngon cho ông, muốn may quần áo, muốn nâng khăn sửa túi cho ba. Bà muốn cùng ông hưởng những giây phút sung sướng khi Hải Vân được khen thưởng mỗi cuối năm học. Bà muốn ông đi gặp ông hay bà hiệu trưởng khi ba nhận được giấy khiển trách về tội Hải Vân nghịch phá trong trường. Tôi thì lúc nào cũng chỉ mong ba tôi trở về gia đình, để tôi không bị mang tiếng là đứa con không có cha. Khi lớn lên, tôi vẫn cần có ba tôi. Nhưng lúc nầy, khi bước vô phòng, tôi chỉ muốn săn sóc ông.
Tôi bỗng cảm thấy bầu không khí bao bọc chung quanh ba tôi và tôi trở nên mong manh quá, chỉ một bước hụt là tất cả sẽ đổ vỡ tan tành.
Tôi rụt rè để nhẹ tay lên cánh tay ông. Ông quay lại ngay. Ông nhìn tôi bằng đôi mắt hiền lành, bao dung như giữa chúng tôi chưa hề tranh luận gây go. Ông bình tĩnh, trìu mến nhìn tôi.
“Ba ơi, con xin lỗi đã làm ba buồn”.
Ông trả lời ngay:
“Ba đã tha thứ cho con rồi, nhưng từ nay con đừng nhắc lại chuyện đó trước mặt má nữa. Con chỉ làm má buồn thôi”.
Ngưng một chút, ông tiếp:
“Con à, mình chỉ nên nói chuyện vui với nhau thôi. Trước khi thay đổi đề tài, ba muốn con biết rằng ba rất hãnh diện về cách giáo dục của má trong việc nuôi dạy con của ba, dầu rằng ba đã từng mong mỏi các con hiểu cho lý tưởng của ba”.
Ba tôi đổi đề tài:
“Thôi, mình xuống nhà xem đồ chơi mới của Lance đi. Không biết ông già Noel đêm hôm qua cho nó cái gì”.
Ông sửa lại quần áo cho ngay ngắn, rồi đi xuống phòng khách ở dưới nhà để gặp mọi người trong gia đình.
Tôi còn nán lại trong phòng và nằm lên đúng chỗ ba tôi vừa nằm lúc nãy để nghe hơi ấm của ba tôi. Rồi tôi thầm hỏi: “Không được gần ba hai mươi lăm năm trước, mà bây giờ cũng không; vậy lúc nào, hả ba? Ba ra đi khi con ‘quá nhỏ để hiểu tại sao’, mà bây giờ con già rồi, con vẫn còn mập mờ về mục đích và sứ mệnh ngày ra đi của ba”.
Lần đầu tiên tôi muốn buông xuôi hết mọi thứ, và không hiểu sao ý nghĩ nầy làm tâm hồn tôi nhẹ như bay. Kệ FBI, CIA, Bộ Tư Pháp. Kệ luôn ông Griffin Bell bộ trưởng Bộ Tư Pháp, dù ông đã trông cậy tôi làm nhân chứng trong vụ án Trương Đình Hùng. Tôi mệt mỏi làm người đáng tin cậy. Tôi cảm thấy cô đơn trong sự lựa chọn nầy. Tôi cũng mệt mỏi, chán nản chuyện nài nỉ, thuyết phục ba tôi làm nhiệm vụ của ông với vợ con và gia đình.
Trên vách tường trong căn phòng tôi đang nằm, má tôi có treo một bức tranh của Đức Mẹ Maria bồng chúa Hài Đồng. Đức Mẹ nhìn tôi. Tôi vội ngoảnh đi chỗ khác để tránh đôi mắt nhắc nhở của bà, trong khi vẫn nhớ lời hứa của tôi mấy tháng trước. Đó là lời hứa với hai người đại diện của FBI và CIA ngay tại nhà tôi:
“Tôi sẽ ra toà làm chứng, nếu và khi nào Bộ Tư Pháp cần tới tôi, nhưng chỉ khi việc làm của tôi không phương hại tới địa vị và sự an ninh của ba tôi và anh tôi thôi. Tôi xin long trọng hứa với hai anh như vậy. Đó là bổn phận công dân của tôi. Tôi đã nêu ra kế hoạch nầy, và tôi sẽ chấm dứt nó một cách trọn vẹn”.
Đó là lời hứa của mấy tháng trước, còn bây giờ thì sao? Dường như cũng chẳng có gì quan trọng hết. Nếu ngay đêm nay tôi kêu điện thoại cho Rob và Bill để cho hai ông biết rằng tôi đã thay đổi ý kiến, thì lịch sử có gì khác không? Có ai quan tâm không? Tôi thầm nghĩ như vậy, khi tôi nằm trên giường.
Tôi nhìn tôi trong kiếng treo trên vách tường một hồi lâu. Đó là khuôn mặt của một người đàn bà đang tự thuyết phục mình nên bỏ cuộc. Tôi chống cự với người đàn bà trong kiếng, vì tôi biết tôi phải sống với sự quyết định nầy, từ đây cho đến ngày tôi nhắm mắt.
o O o
Đêm hôm đó, đêm 25 tháng Chạp, tôi lái xe đưa ba tôi về cư xá của toà đại sứ. Về nhà thì John và Lance đã lên giường nhưng chưa ngủ. Tôi nghe hai cha con kèn cựa với nhau về chuyện gãi lưng. Lance đề nghị:
“Nếu Daddy viết chữ từ A đến Z trên lưng con, tối mai con sẽ đi trên lưng ba hai phút”.
John đáp lại ngay:
“Không, con đi lên lưng ba trước, ba sẽ viết chữ sau”.
“Nhưng Daddy luôn luôn ngủ mất tiêu khi con đi lên lưng, rồi Mommy nói ‘Để Daddy ngủ đi, Lance‘ “. Lance nhại giọng của tôi.
John nài nỉ:
“Đi lên lưng ba đi, con”.
Lance hỏi:
“Daddy muốn con đi lên lưng bao lâu?”.
“Càng lâu càng tốt”..
“OK. Xong rồi đó”.
Tiếng cười của hai cha con từ trên lầu vọng xuống nhắc cho biết tôi may mắn vô cùng. Từ ngày Lance ra đời, tôi ao ước sao tôi có thể đem niềm vui lại cho ba má tôi như niềm vui Lance mang tới cho vợ chồng tôi. Chúng tôi có nhiều chị em quá, nên má tôi quá vất vả mới nuôi nổi chúng tôi. Bà đã cố gắng không ngừng, đầu tắt mặt tối để lo cho chúng tôi nên người.
Má tôi ngồi trên giường nhìn ra cửa sổ, phía đường Regent Park; ánh sáng từ Camden Town chiếu lên mái những toà nhà xưa bên kia đường. Bà cầm trong tay một tấm hình nhỏ, đó là hình mới nhứt của anh Khôi, ba tôi mới đem qua. Anh tôi mặc áo sơ mi dài tay và quần màu xám. Ảnh chụp tại phi trường Tân Sơn Nhứt; anh đứng trước một máy bay lớn của Mỹ C-130. Trông anh khoẻ mạnh và đẹp trai như thuở nào.
“Má không biết thằng Khôi nó sống ra làm sao? Mình có còn quan trọng đối với nó không? Hay nó là con bác, con đảng rồi?.” Má tôi lau nước mắt bằng tay áo bà ba “Má thắc mắc về anh Khôi quá. Không biết tụi Cộng sản có làm gì nó không? Họ có hại gì tới tinh thần nó không?”
Tôi an ủi má tôi:
“Má à, ảnh sống với mình mười bảy năm trời, ảnh là người tốt. Con nghĩ Cộng sản không thể huỷ hoại con cái trong gia đình mình được đâu, trừ khi người đó muốn như vậy”.
Má tôi vẫn tỏ vẻ lo lắng:
“Muốn sống còn, con người ta phải ngả theo trào lưu của xã hội, rồi quên hết phải quấy con ơi”.
Má tôi nhìn hình anh Khôi một lần nữa, rồi lồng vô cái khuôn hình nhỏ.
Căn phòng nhỏ bé trở nên im lặng một cách khó chịu. Tôi nghe như trận bão trong lòng tôi bắt đầu trở lại. Ước gì đêm nay tôi nằm chiêm bao thấy được ông ngoại, để ông chỉ cho tôi gỡ cái rắc rồi nầy.
Tôi tin rằng nếu tình thương của ba tôi dành cho chúng tôi không tăng thêm thì cũng không tàn lui. Tình yêu của cha mẹ là bất diệt và vô điều kiến. Tôi đã từng nói với tôi rằng, làm con của ba má tôi không phải dễ, vì mọi người phải thấy rõ sự phức tạp trong mối liên hệ của mỗi người trong gia đình. Chúng tôi phải hiểu và chấp nhận tình trạng hiện tại, nếu không, mình sẽ tự xây những bức tường ngăn cách giữa mình với những người ruột thịt, máu mủ.
Đêm hôm đó, sau khi hai cha con John ngủ, má và tôi xuống dưới nhà để tiếp tục nói chuyện. Tôi ngạc nhiên, thấy thái độ của má tôi đã thay đổi. Ba đứng về phe ba tôi và yêu cầu tôi đừng nói gì làm ông buồn.
Suy nghĩ một lát, rồi, lần đầu tiên, kể từ ngày ba tôi tới Luân Đôn, tôi nói tới chuyện tôi làm việc cho hai cơ quan tình báo và phản gián:
“CIA sẵn sàng đưa ba sang Mỹ ngay nếu mình bằng lòng. Rob nói với con như vậy”.
Má tôi liền cảnh cáo:
“Ba con sẽ tự tử, nếu con làm như vậy”.
Tôi lại nói ngay:
“Con nghĩ con nên nói cho ba biết con đang hoạt động cho CIA”.
Má tôi lắc đầu, khoát tay hốt hoảng.
Tôi giải thích:
“Con thì nghĩ, ba nên biết như vậy trước khi ba trở về Việt Nam. Con không muốn giấu ba một điều gì. Mà ba cũng cần biết để đề phòng”.
Má tôi chậm rãi nói:
“Con cứ làm điều gì mà con thấy cần phải làm, cũng như ba con vậy. Con đừng có nghĩ con có tội vì con chống cái đảng của ba. Con dính líu với CIA cũng không làm mất uy tín của ba con đâu, nhưng liên hệ giữa ba con và con sẽ chấm dứt kể từ đây”.
“Con không biết xử sự làm sao má à?”. Tôi nói yếu xìu.
“Má biết. Cái gì ba không biết thì không ai hại được ba. Má biết, má không thể cấm con làm việc cho CIA, cũng như má không thể đòi ba con bỏ Cộng sản được. Con hiểu lòng trung thành nó ảnh hưởng con người đến mức độ nào rồi”. Má tôi nhìn tôi trách móc. Bà chỉ tay vô mặt tôi, nói tiếp:
“Con là người hiểu điều đó hơn ai hết”. Tôi biết má tôi phiền tôi làm về việc hợp tác với CIA và Bộ Tư Pháp.
“Con cảm ơn sự thẳng thắn của má, nhưng mà con vẫn nghĩ con phải cho ba biết việc làm của con”.
“Biết sự thật?”.
“Dạ”.
Bà nghiêm giọng nói với tôi:
“Con đã ráng hết sức của con. Con đổ mồ hôi, nước mắt vô việc nầy với họ. Con còn muốn tự tay con bắt hai thằng gián điệp, bây giờ sắp thành công. Con không muốn để nó lọt lưới, phải không?”.
“Dạ phải”.
“Vậy thì con đừng nói gì với ba hết. Ông không kiếm cách cứu thằng Hùng, nhưng ba mày phải cứu chú Thi. Ông sẽ cố gắng che chở, bảo vệ cho Bộ Ngoại Giao khỏi bị mất mặt. Ông cũng sẽ bảo vệ quyền lợi của chánh phủ Việt Nam. Như vậy thì con với mấy người bạn FBI, CIA của con chỉ còn nước nhìn nhau mà khóc thôi!”. Má tôi nói câu nào rõ câu đó.
Tôi cãi bướng:
“Con nghĩ nếu con cho ba biết sự thật, có thể ba thay đổi ý, rồi ba ở lại đây luôn”.
Trong khi nói, tôi phải giữ vẻ mặt bình tĩnh, vì chính tôi cũng nghĩ “ngu ơi là ngu”. Má tôi khuyên:
“Con phải giữ kín chuyện của con, tránh cho ba con khỏi che đậy, khỏi nói láo với đảng của ổng về con gái cưng của ổng. Ba con phải ở trong địa vị của một người vô tư, vô tội, một người bị con gạt, không biết gì hết, để yên thân ba. Con hiểu không?”.
Bà nghiêm giọng nói tiếp:
“Con không thấy ba con cẩn thận sao con? Ông không bao giờ hỏi mấy thằng rể làm gì, không bao giờ muốn biết cấp bậc của thằng John. Ba có hỏi má về chồng của chị Kim, chồng của chị Cương, nhưng ba chỉ muốn biết hai người đó có tốt với con gái của ổng không thôi? Ba con không bao giờ hỏi tụi nó làm nghề gì hoặc giàu hay nghèo. Như một người tù binh, tốt hơn hết ba chỉ cần biết tên của con, tuổi của con, ngoài ra ba không nên biết gì về con hết”.
Má tôi nhìn tôi một hồi lâu rồi cười, nụ cười vị tha, trìu mến. Bà có vẻ hài lòng. Tôi phục má tôi, trong hoàn cảnh nầy mà bà vẫn giữ được tính hài hước. Tôi nhìn bà, rồi hứa:
“Dạ, con nghe lời má. Con hy vọng má đúng”.
Bà tỏ vẻ bằng lòng, tin tưởng lời hứa của tôi, rồi đi ngủ.
o O o
Ba tôi sẽ rời Luân Đôn ngày Thứ Ba, hai mươi bảy. Vì vậy, ngày cuối cùng, ông muốn tôi đưa ông tới toà đại sứ Việt Nam. Ông muốn cám ơn các nhân viên toà đại sứ đã tiếp đãi ông tử tế. Nhưng ông cũng muốn tôi đi theo để gặp những người đã từng làm việc dưới quyền ông khi ông là đại sứ lưu động ở các nước vùng Bắc Âu những năm 1970.
Toà đại sứ chưa có đại sứ chánh thức. Ông Trần Hoàn mới được chỉ định, nhưng theo lời “đồng chí Chiều” thì Bộ Ngoại Giao sẽ cử ông ta làm đại sứ.
Khi chúng tôi tới toà đại sứ, ba tôi gặp riêng ông Thi bốn mươi lăm phút để thảo luận về chuyện hành chánh. Ông Thi là người tạm thời lãnh đạo toà đại sứ, chờ Bộ Ngoại Giao chính thức bổ nhiệm một đại sứ.
Trong bữa ăn điểm tâm, hai vị còn nói tới thời gian cùng làm việc ở Oslo và Copenhagen, nhắc lại những đồng chí cũ hiện nay giữ chức vụ gì và ở đâu, ở Việt Nam hay hải ngoại. Tôi mừng là ông Thi đã không hỏi nhiều về tình trạng sức khoẻ của má tôi, chắc chắn ông cũng được thông báo là má tôi “bịnh nặng”.
Cả ông Thi lẫn ba tôi đều khuyến khích tôi nên liên lạc thường xuyên với toà đại sứ để quen biết các nhân viên sau khi ba tôi đã về nước, ông Thi vui vẻ nói:
“Chúng tôi là gia đình của chị”.
Gần trưa, ba tôi và tôi rời toà đại sứ để các nhân viên có thể về chung cư ăn cơm trưa. Chúng tôi vừa bắt đầu đi bộ dưới bầu trời xám ngắt của Luân Đôn, thì mưa lác đác rồi với những cơn gió lạnh buốt. Chúng tôi phải kiếm taxi để đi. Trong khi đứng chờ ở một góc đường, nhìn những xe taxi có khách chạy vụt qua, tôi nắm tay ba tôi. Vì tôi siết mạnh quá, ba tôi bị đau ngón tay cái; đó là ngón tay bị gẫy khi mật thám Tây tra tấn ba tôi mấy chục năm về trước. Để thử lòng ba tôi một lần nữa, tôi nói:
“Ba à, con chưa bao giờ nói với ai chuyện nầy: năm con mười hai tuổi, con hay nghĩ tới Thượng đế, rồi con coi ba như Thượng đế của con. Nhiều lần con tự trấn an rằng “dù ba không ở gần con, nhưng ba vẫn ở bên con, như Thượng đế luôn luôn ở bên cạnh mọi người”. Con khắc phục được con sông Bến Hải, 1.600 cây số cũng không làm cho ba xa con được”.
Ba tôi mỉm cười và tỏ vẻ bằng lòng.
“Ba muốn con hiểu điều nầy”, ông nói, “Ba con có trách nhiệm với nhiều người ở Việt Nam, trong đó có anh Khôi của con. Nếu con giữ ba ở lại đây, ba sẽ chết dần, chết mòn. Như vậy, ba cũng không ích lợi gì cho con của ba nữa”.
Một lần nữa, trong khi nói với tôi, mắt ông nhìn về một nơi xa vắng.
Tôi giận ba tôi, vì ông một mực từ chối tôi. Bỗng tôi có ý định xúc phạm ông cho đã nư, đã giận. Tôi nói:
“Có thể ba không bao giờ muốn sống gần tụi con; sao ba không nói thẳng cho rồi!”.
Ba tôi cãi lại liền:
“Ba không nói vì điều đó không đúng sự thật. Con hãy nhìn thẳng mắt ba để nghe ba nói, rồi ghi nhớ suốt đời. Con cũng nên nói lại cho chị em con và con cháu con cũng biết. Ba của con rất yêu con, yêu má con và các anh chị em con. Ba đã yêu như vậy trong quá khứ, và ba còn yêu mãi mãi trong tương lai. Ba đã phục vụ đất nước hơn bốn mươi sáu năm; ba vẫn tiếp tục phục vụ cho tới ngày đất nước không còn cần ba nữa. Nếu ba không trở về Việt Nam, ba sẽ chỉ là một người bỏ cuộc, một người đào ngũ. Lúc đó con có còn hãnh diện về ba nữa không?”.
Ba tôi nhìn tôi chằm chặp để chờ câu trả lời của tôi. Tôi mạnh dạn đáp:
“Con đâu có xúi ba đào ngũ. Con chỉ muốn ba về hưu để ở với gia đình. Để cho những người khác làm chánh trị trên sân khấu của Việt Nam”.
“Bây giờ ba hỏi ngược lại con. Ba đã nghĩ vợ chồng con và Lance về sống ở Việt Nam. Ba sẽ không ép các con vô đảng Cộng sản. Ba muốn các con về làm việc cho chánh phủ Việt Nam thôi. Chuyên môn của John về năng lượng mặt trời rất cần cho nước ta ngày nay. John sẽ được trả lương cao, và các con sẽ có một biệt thự riêng để ở, có kẻ hầu người hạ. Con nghĩ sao?
Tôi ớn lạnh vì đề nghị khủng khiếp của ba tôi, và ông biết ông đã thắng cuộc. Ông nói:
“Nào, bây giờ thì con hiểu tâm can của ba rồi. Minh đâu có khác gì nhau. Mình là con nhà họ Đặng, và mình sống theo nguyên tắc đạo đức riêng của từng người”.
“Con hãy cười vui khi ba trở về Việt Nam, và tin rằng ba của con lúc nào cũng xứng đáng với sự tin cậy của con. Ba sẽ hết lòng phục vụ dân tộc của chúng ta”.
Tôi vùi mặt tôi vô vai ông để chùi nước mặt bắt đầu chảy xuống má. Tôi nghẹn ngào nói:
“Những hy vọng, những lo sợ kinh hoàng, những tuyệt vọng của người dân miền Nam Việt Nam là những hy vọng, những lo sợ kinh hoàng và những tuyệt vọng của chính con, ba à”. Trời lạnh run, tôi vừa nói vừa đánh bò cạp.
Ba tôi đã quen cái lạnh ở Liên Xô, cho nên cái lạnh của Luân Đôn không làm cho ba tôi khó chịu. Ông bình tĩnh nói:
“Ba hiểu ý con”.
Đúng lúc đó, khi mưa bắt đầu nặng hạt, một xe taxi trống trờ tới. Chúng tôi vội vàng vô xe để về nhà. Ba tôi lau những hạt nước mưa đọng trên tóc bằng cái khăn tay má tôi mới tặng ba trong ngày Giáng Sinh.
o O o
Trong buổi họp mặt gia đình tôi hôm đó, má tôi bắt tôi không được nói tới chuyện chánh trị, Việt Nam, Cộng sản, tư bản… hay bất cứ vấn đề gì có thể gây tranh luận. Suốt buổi chiều, tôi nấu nướng những món ba tôi thích. Trong khi đó, ba tôi chơi với Lance ở phòng khách, gần lò sưởi. Ông dậy cháu ông vẽ, rồi ông còn ngồi cho cháu vẽ chân dung ông. Khi Lance vẽ xong, John nhìn bức hình, nói:
“Con có hoa tay như ông ngoại”.
Ba tôi có ý định ở chơi lâu với gia đình buổi tối cuối cùng, nên đã gọi cho người quản gia để báo tin ông sẽ về trễ. Ông đã vui với chúng tôi tới quá nửa đêm. Tôi nghĩ rằng “lệnh cấm” của má tôi đã khiến cho bầu không khí của buổi tối đó êm ấm. Ba và John nói chuyện về nhiên liệu mặt trời sẽ được sử dụng nhiều trong tương lai; ba tôi cũng hiểu rất nhiều về địa hạt nầy.
Tuy nhiên, đêm hôm đó cũng có một chút buồn, khi ba tôi kể lại chuyện gặp cô tôi, em ruột của ba. Sau ngày “giải phóng”, ba tôi tạm trú trong khách sạn Majestic ở Sài gòn. Một hôm, nhân viên trục ở quầy phía trước báo cho ba tôi biết có người muốn gặp ba tôi. Ông xuống ngay và thấy một người đàn bà lạ hoắc, ông tự hỏi: “Bà già nầy là ai đây?”
Vừa thấy ba tôi, người đàn bà đứng dậy đưa hai tay chờ ôm lấy ông. Ông giựt mình hỏi:
“Xin lỗi, chị là ai?”.
Người đàn bà oà lên khóc, ôm lấy ông, sụt sùi nói:
“Anh ơi, em, em là em… của anh đây!”.
Lúc đó ba tôi mới nhận ra có Sáu Trong, em của ba, từ Ba Càng lên Sài gòn tìm anh. Ba tôi thứ Năm, cô thứ Sáu, cô nhỏ hơn ba tôi khoảng mười tuổi.
Lúc tôi rửa chén, ba đi theo nói chuyện. Đây là lần đầu tiên ba tôi nhắc tới những vấn đề rắc rối của anh Khôi với chánh quyền Hà Nội mấy năm về trước.
Ba tôi lúc nào cũng quan tâm tới anh, nhưng chính anh lại gây cho ba tôi nhiều chuyện khó khăn, phiền phức. Khi ở Hà Nội, theo lời ba tôi kể, anh quan hệ với nhiều phụ nữ, khiến các đồng chí cao cấp của ba tôi chau mày. Có người đã cố gắng thuyết phục anh sửa đổi, học tập để trở thành một người có hạnh kiểm tốt, ngõ hầu có thể được thu nhận vô đảng Cộng sản, nhưng anh làm ngơ. Điều nầy đưa ba tôi vô cái thế rất khó xử.
Trong thời còn chiến tranh, một nữ mật vụ của công an ngầm được lịnh điều tra anh Khôi, giả bộ làm người tình của anh. Một đêm, sau khi anh ngủ thiếp đi, cô mật vụ gắn máy nghe lén dưới giường và bàn viết của anh. Bất chợt anh thức giấc, bắt quả tang nên nổi nóng đánh cô ta. Anh bị đưa ra toà về tôi “nhục mạ một nhân viên nhà nước”. May mắn cho anh, ông chánh án lại là bạn của ba tôi và ông tin lời của anh Khôi, khai không biết tình nhân là “nhân viên nhà nước”. Nhờ vậy, anh không bị kết tội về hành vi chánh trị.
Ba tôi tiếp tục:
“Anh của con đã lớn, ba không thể bắt buộc nó phải nghe lời ba. Nó có làm gì, thì vẫn là con của ba; ba không thể giận nó lâu được”.
Ba tôi thương anh Khôi quá, nên đã tha thứ mọi lỗi lầm của anh dù những lỗi lầm ấy làm ông mắc cỡ. Tôi lại phân tách rằng, cũng có thể trong tâm thức của ba, anh Khôi là hiện thân của một người dân muốn sống tự do; anh như một luồng gió sạch, lành mạnh trong đời sống của ông. Anh Khôi là cái gì thật, rất bình thường, trong cái thế giới giả tạo của xã hội chủ nghĩa. Anh như con cá cần nước, con hổ nhớ rừng; nếu mất anh Khôi, ai nhắc nhở ba ngoài kia người dân cũng muốn sống.
Đêm hôm đó, chúng tôi không khóc khi ba tôi từ biệt. Ba má tôi đã nói chuyện riêng với nhau thật lâu trước khi ba tôi ra đi. Ba tôi ôm chặt từng người từ trong bếp, rồi ra phòng khách ông còn ôm má tôi lần nữa. Ông hôn Lance và ôm ghì thằng cháu của ông lâu thật là lâu. Ông bắt tay John, rồi ôm anh và nói:
“Cám ơn con của ba. Khi nào tình thế giữa hai nước thuận tiện hơn, ba sẽ mời con về thăm Việt Nam”.
“Anh ráng kiếm cách cho Khôi qua đây nhen!”. Má tôi nói câu cuối cùng.
Ba tôi im lặng, đội nón lên, rồi cầm lấy cái túi xách từ tay bà, đi ra cửa mà không ngoảnh lại nhìn.
Tôi lái xe chầm chậm về nhà trọ của toà đại sứ, mà muốn con đường dài hơn chút nữa.
Đường xa vắng vẻ và yên lặng trong đêm khuya. Lúc đó gần một giờ sáng. Cái túi xách để dưới chân ông. Trong túi có hai bộ quần áo ngủ mới, hai áo sơ mi và mấy cái quần xà lỏn má tôi mới may cho ông. Ngoài ra còn hai cái sơ mi mới của anh Khôi nữa.
Chúng tôi đánh thức ông quản gia dậy, ông mở cửa cho chúng tôi vào, rồi lặng lẽ đi ngủ lại ngay. Tôi muốn giúp ba tôi thu xếp hành trang, nhưng ông từ chối và nói:
“Ba quen xếp hành lý một mình, vì xếp lấy thì ba mới dễ tìm đồ ba cần”.
Cuộc sống của ông đã khiến ông quen làm như vậy. Mọi thứ phải theo khuôn khổ, hạn chế trong một giới hạn nào đó. Cái trật tự ấy khiến ông thoải mái trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tôi thắc mắc, ba tôi sống với những thôi quen và trật tự đó quá lâu, không biết ba tôi còn có thể hoạt động bình thường không, nếu được tự do. Ông có sẵn sàng tìm tự do nếu không bị Cộng sản kiềm chế không? Tôi cần tìm hiểu ba tôi một chút nữa. Tôi ngồi xuống mép giường rồi nắm lấy tay ông, hỏi:
“Ba, bây giờ không đúng lúc, cũng không đúng chỗ, nhưng con muốn hỏi ba một điều”.
“Cứ hỏi đi”.
Tôi hít vô một hơi dài, rồi đánh liều như người chơi thể thao phóng từ đỉnh núi xuống một giòng sông. Hên thì sống, mống thì chết, tôi hỏi:
“Nếu con công khai chống lại chánh phủ của ba thì ba có bị ảnh hưởng gì không?”.
Ông có vẻ bực mình, nuốt nước miếng, rồi đáp:
“Ba là một thành phần của Chánh phủ mà con vừa nói tới”.
Tôi nhấn mạnh:
“Con chống Chánh phủ, chớ không phải chống ba!”.
Ông nói bằng một giọng lạnh lùng:
“Con là con, ba là ba. Ba không chịu trách nhiệm những hành động của con”.
“Nói một cách khác, nếu con công khai chống Hà Nội, ba có bị khiển trách gì không? Con muốn biết rõ điều nầy”.
Ông có vẻ giận dữ, lắc đầu, nói sang chuyện khác:
“Bây giờ trễ rồi, sáng mai ba phải dậy sớm vì ba phải tham dự một buổi họp ở toà đại sứ”.
Ở trại “tù cải tạo” nầy có nhiều điều thật buồn cười đến đau xót. Cả chục gian nhà nằm trong vòng rào thứ nhất. Nhà cầu, nhà xí hay cầu tiêu, hay nhà ỉa, như các nói của Bộ đội”, gọi thế nào cũng được lại nằm trong vòng rào lớn, nhưng lại ngoài vòng rào nhỏ.
Khi đi cầu, anh em ít khi dùng giấy lau đít vì kiếm không ra giấy. Có trường hợp như anh Bùi Thành Trai được quản giáo khen là người “chịu khó nghiên cứu triết học Mác – Lênin” vì anh đã nhờ quản giáo mua một lượt mấy cuốn sách bàn về chủ nghĩa Cộng Sản. Loại nầy giá rẻ lắm.
Anh ta có nghiên cứu gì đâu!
Khi quản giáo khen Bùi Thành Trai chịu nghiên cứ chủ nghĩa Mác, cả đám đang đứng trong hàng cười rúc rích. Anh ta cả đời đọc chưa hết trang sách đã ngáy khì khò rồi, nghiên cứu cái gì được!
Bùi Thành Trai mua sách để lấy giấy làm cái việc vệ sinh ấy. Anh em khác không tiền hay tiếc tiền thì mỗi lần đi cầu, xách theo một cái loon sắt hay một cái chai bia lớn đựng nước.
Thấy người ta xách cái chai đi ngang qua, họa sĩ Nguyễn Uyên nói đùa với tôi: “Đi nhậu! Xách bia đi nhậu đấy!” Nói xong, Nguyễn Uyên cười nham nhở, hề hề!
Ra tới cổng hàng rào trong, người tù đứng lại, ở tư thế “nghiêm”, bỏ cái chai xuống đất, cất mũ, ngó lên cái chòi cao, có “chú bộ đội” chưa đầy 20 tuổi, ngồi canh, “vách đốc củ tỏi” trên đó, nói lớn:
– “Báo cáo anh! Tôi đi ngoài.”
Khi còn do “bộ đội quản lý trại giam”, “tù cải tạo” gọi bộ đội bằng anh, dù là sĩ quan cũng vậy. Ở trại do Công an quản lý, không được gọi bằng anh, phải gọi là cán bộ. Cấp chỉ huy thì gọi bằng ban, có nghĩa là ban tham mưu hay ban gì đó, không phải là ban cua hay ban sởi (bệnh sởi).
Gặp “chú bộ đội” dễ tính, chờ anh ta trả lời “đi đi” thì mới đi. Chưa có lệnh đi mà đã đi có thể bị khiển trách, bị mắng, bị đuổi vào hoặc bị dọa bắn… Chỉ dọa thôi chớ chưa bắn lần nào.
Gặp “chú bộ đội Bắc kỳ” từng “đứng lên đánh đổ bọn cường hào ác bá” thì “chú bộ đội”, chỉ mới là “vệ binh”, chưa vào hẳn “giai cấp thống trị”, đã có thái độ không khác gì với giai cấp đã từng bị đánh đổ, chưa thành chuột đã “bắt chước chuột ỉa bếp”. “Chú bộ đội” bắt bẻ:
– “Đi đâu mà gọi “nà” đi ngoài. Muốn trốn trại hả? Đi ỉa thì báo cáo “nà” đi ỉa. Nhớ không?”
Anh “tù cải tạo” nói “báo cáo nhớ”, cho xong chuyện. Thế là được nghe hai tiếng “đi đi!”
Anh ta đội nón lên đầu, cái chai cầm tay đi ra nhà cầu. Khi đi cầu xong rồi, về gần cổng, cũng phải đứng lại, thế “nghiêm”, bỏ mũ và cái chai không xuống, quay mặt về hướng chòi, nói “báo cáo anh! Tôi vào”.
Chờ “chú bộ đội” bảo “vào đi!” mới được vào. Gặp khi “chú bộ đội đang ngủ gà ngủ gật, không nghe “báo cáo” thì người đi cầu đứng nghiêm chờ cũng… hơi lâu!
Gặp “chú bộ đội” nhiễu sự, nếu báo cáo là “đi ỉa” hoặc đi cầu, “chú” lại bắt bẻ:
– “Ăn nói gì mà bất “nịch” sự thế”. Không được “lói” “nà” đi ỉa. Phải gọi “nà” đi ngoài. Nghe không?”
Thế là trái nghịch với “chú bộ đội” trước, nhưng anh tù cải tạo cũng cứ “báo cáo anh! Tôi nghe!” không cần thắc mắc. Thế cho xong để được đi…ỉa.
Anh bạn Cường của tôi gặp trường hợp khá buồn cười. Tại anh ta đãng trí hay hôm đó bị tào tháo đuổi gấp quá nên khi “báo cáo anh”, anh bạn tôi quên… cất mũ. Vậy là “chú bộ đội” nổi sùng vì cái tội vô lễ không cất mũ. “Chú bộ đội” “giáo dục” sự “vô lễ không cất mũ” bằng cách:
– “Đứng đó, không đi đâu hết!”
Anh bạn tôi đành đứng đó, như trời trồng, mặt mày nhăn nhó, khó chịu, vặn vẹo thân mình. Anh ta chẳng dám đi ra mà cũng chẳng đi vào vì “chú bộ đội” bảo “đứng đó”. Hồi lâu, “bài học tập giáo dục” đứng nghiêm tại chỗ chấm dứt. “Chú bộ đội” nói:
– “Đi đi!”
Anh bạn tôi bèn nói:
– “Báo cáo anh, tôi xin vào đi… tắm.”
Nói xong, không cần “chú bộ đội” nói thêm gì nữa, anh ta ba chân bốn cẳng chạy nhanh ra giếng, mượn gầu của người ta đang múc nước ở đó mà dội ào ào lên người, không cần cởi quần áo.
Câu chuyện anh ta xin vào đi… tắm trở thành đề tài cho anh em vui cười, chọc quê. Có lần, Cường bực mình nói:
– “Đ. má nó. Tao hận cái thằng bộ đội nầy suốt đời.”
Không biết về sau, nếu khi Cộng Sản hô hào “Hòa hợp hòa giải”, anh ta có thể quên câu chuyện ỉa… trong quần để hòa hợp với họ được không!?
Nhà cầu nầy mới xây, theo kiểu Tây, nghĩa là chỗ ngồi thì trên cao, phân người rơi vào những cái thùng sắt đặt bên dưới.
Hằng ngày, những cái thùng phân ấy được lôi ra, đổ xuống hố, vài ba tuần, có khi phân chưa kịp “hoai” thì đã được moi lên, đem bón rau muống để “làm giàu quê hương, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.
&
Chúng tôi được chia thành từng đội ở trong các nhà số 2, số 3, số 4, v.v… Nhà 1 đã có người ở trước, tại đây có hai “nhân vật” đặc biệt, một là “Hùng Con”, dân “Bắc Kỳ ri-cư”, như người ta thường đùa với nó, hai là “Quảng Què”, dân Saigon lâu năm, nhân vật nào cũng có thành tích lạ lùng như sau:
Gọi là “Hùng Con” vì anh ta nhỏ tí chút, cở bằng đứa bé 11 hay 12 tuổi, nhưng theo anh ta thì anh đã lớn tuổi. Có lần anh ta nói:
– “Em cháu mới lấy chồng!”
– “Uở, mầy chừng đó mà có em gái lấy chồng. Sao nó lấy chồng sớm thế?” – Có người hỏi.
– “Không! Cháu lớn rồi, cháu gần 20 tuổi, bởi vì “Mỹ Ngụy” chích thuốc làm cho cháu không lớn để cháu dễ đi vào những chỗ đánh nhau lấy tin cho họ nên cháu mới nhỏ con vậy.” “Hùng Con” giải thích.
Lắm người không tin, mắng nó:
– “Mày nói tằm bậy! Mỹ Ngụy nào mà làm thế. Mày nghe Việt Cộng tuyên truyền đấy! Biết chửa? Người ta thiếu gì phương tiện tình báo.”
“Hùng Con” nói:
– “Thật ra, cháu cũng không biết đâu! Khi “cách mạng” bắt cháu điều tra, họ nói vậy nên cháu tin như vậy!”
Có người nói to, cười:
– “Chết cha rồi! Tin Dziệt Cộng là đời mày tiêu luôn. Mày ở tù là phải.”
“Hùng Con” láu cá nói:
– “Cháu thì tin chút ít nên bị bắt còn mấy chú tin nhiều nên đóng tiền để đi ở tù.”
Thấy nó nói vậy, nhiều anh em bỏ đi. Có người nói: “Thằng láu cá!”
Thật ra thì “Hùng Con” có làm tình báo cho Sư Đoàn Dù. Hồi Mậu Thân, nó khoảng tuổi giống như tuổi người ta đoán bây giờ, được một đơn vị Dù nào đó đang hành quân ở An Phú Đông, nhờ nó đi vào xóm nhà dân, giả làm người chạy nạn để dò xét binh lính Cộng Sản còn núp lén trong đó.
“Hùng Con” “hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”, được thưởng tiền, được giới thiệu về sư đoàn để tiếp tục công việc do thám ở nhiều nơi khác, giúp cho Dù nhiều trận đuổi Việt Cộng chạy có cờ. “Hùng Con” được phong làm “Hạ Sĩ Danh Dự” và được tướng Dư Quốc Đống nhận làm con nuôi. Đấy là anh ta nói vậy, không biết trúng trật vào đâu nhưng có điều thật là sau ngày 30 tháng Tư, “Hùng Con” bị bọn “Dziệt Cộng nằm vùng” tố cáo. Bộ Đội tới tận nhà bắt “Hùng Con” đem đi điều tra, xong cho vô tù, trại Suối Máu.
“Hùng Con” có một màn biểu diễn rất hay làm mọi người để ý, thích thú.
Tối tối, “Hùng Con” sang các nhà khác chơi, xin một điếu thuốc lào. Thằng bé 11 tuổi hút thuốc lào thành thạo như một dân ghiền điệu nghệ. Nó cầm cái điếu, thổi vào nõ cho tàn thuốc còn sót lại bay ra; xong, hai ngón tay nhỏ của nó xe xe viên thuốc lào cho thật tròn, gọn, đặt vào nõ. Nó lấy ngón tay ém viên thuốc cho chặt, một tay thì cầm đóm lửa đang cháy, một tay từ từ đưa cái điếu lên miệng, đặt ngay ngắn vào giữa hai hàng môi. Nó rít một hơi thật dài. Ngọn lửa bị sức hút kéo vào nõ, đốt cháy hết thuốc trong nõ. Tiếng nước trong điếu kêu lên sọc sọc, giòn giã. Xong, “Hùng Con” đặt điếu xuống, nhẹ nhàng nằm ngữa người xuống chiếu, nhắm mắt lim dim. Có người nói to: “Phê! Phê! Nó phê (1) rồi đó.”
“Hùng Con” vẫn nhắm mắt, miệng nở nụ cười thật tươi. Nhìn nó, ai cũng vui và lần sau, “Hùng Con” chưa kịp xin, người ta đã gọi nó cho thuốc hút. Không chắc người ta thương nó, nhưng người ta muốn xem một hoạt cảnh ngộ nghĩnh. Một thằng bé 11 tuổi hút thuốc điệu nghệ còn hơn cả người lớn, những anh mới tập hút thuốc lào. Người lớn có thể say, có lần té vì đứng dậy khi vừa hút xong. “Hùng Con” thì khác. Kéo xong hơi thuốc lào, bao giờ nó cũng nằm ngã xuống chiếu, nhắm mắt để thưởng thức cái “phê” của thuốc lào.
Khỏi đi “lao động”, hằng ngày “Hùng Con” vui chơi từ nhà nầy qua nhà khác. Đôi khi “Hùng Con” cũng thuật lại những trận đánh ngày trước “Hùng Con” có tham dự, nhất là những trận đánh hồi tết Mậu Thân. Có khi, “Hùng Con” kể: “Dziệt Cộng nằm chết đầy đường, máu chảy lênh láng. Không có chỗ để cháu đặt chân đi qua. Cháu sợ muốn chết, nhưng cháu vẫn đi. Đã có lệnh sai đi thì cháu đi.”
Có lần, một anh chàng tinh nghịch nói:
– “Mầy nói mầy hai mươi tuổi. Mầy nói láo. Để tao coi cu mầy có lông chưa.”
Nói xong, anh ta xông tới. Mọi người cười hô hố, hưởng ứng. “Hùng Con” giận, bỏ đi. Không bao giờ “Hùng Con” trở lại nhà đó vì “mấy chú bất lịch sự.”
Một năm sau, khi tôi rời trại đi nữa thì “Hùng Con” vẫn còn đó.
Có người nói “Không thể giam tù một thằng bé con lâu như thế!” Có người lại nói: “Dziệt Cộng mà lớn bé gì. “Lao động là vinh quang” tuốt, chẳng chừa thằng nào.”
&
Nhân vật thứ hai là “Quảng Què”. Gọi như thế vì anh ta tên Quảng và què một chân. Anh nầy tuy lớn tuổi nhưng không lễ phép như “Hùng Con”. Với ai, “Hùng Con” cũng gọi bằng chú, bằng bác và xưng cháu.
“Quảng Què” chẳng thèm gọi ai bằng anh hoặc bằng ông. Anh ta cứ gọi trổng: “Ê! Xích ra!”, “Ê! Đưa đây!” tùy theo trường hợp. Anh ta làm như mọi người đều có chung một cái tên “Ê”
“Quảng Què” thuộc thành phần thương phế binh, giải ngũ từ trước 1975, khi cái thời “huy hoàng của thương phế binh” được “anh râu kẽm” (2) ủng hộ, xúi bậy đã qua. Tuy nhiên, cái dư âm thương phế binh biểu tình, giành đất, làm nhà, đòi hỏi nọ kia khiến người ta ngán vẫn còn.
Với cái “hào quang” đó, “Quảng Què” trở thành cái bang ở chợ Thái Bình, ngang ngược lắm, ai cũng sợ.
Sau ba mươi tháng Tư, anh ta xoáy đâu đó được một cái ví trong chỉ có ít tiền và một cái “Chứng Chỉ Tại Ngũ” tên là Nguyễn Quảng, cấp bậc đại úy. Họ tên thì trùng với anh ta, nhưng cấp bậc chức vụ thì không. Trước khi bị thương và bị cưa chân, cấp bậc của “Quảng Què” là “binh nhì”, chức vụ là … “khinh binh”. Anh ta nhớ mang máng như vậy.
Mới “đứt phim” (3) được nửa tháng, anh ta đang hành hiệp ở chợ Thái Bình, giựt cái bót của một chị phụ nữ. Chị ta hô hoán lên. Mấy “chú bộ đội” cùng mấy chú “cách mạng ba mươi” (4) bắt “Quảng Què” đem về trụ sở phường.
Cán bộ Dziệt Cộng hỏi:
– “Anh là lính “ngụy”, có giấy tờ gì không? Nếu thật là lính “ngụy” sẽ được đưa đi học tập.”
Nghe nói “học tập”, “Quảng Què” nghĩ ngay tới quân trường, chỗ đó anh ta có đi học và học lâu hơn ở nhà trường khi anh ta còn nhỏ.
Ở quân trường thì lính ăn uống cực khổ, ngày nào cũng chỉ có cơm, cá mối, rau muống luộc hoặc canh su, canh cải. Nghe nói người ta học ra sĩ quan ăn uống sướng hơn. KBC Thủ Đức sang hơn nhà hàng. “Bốn người một mâm”. Thịt gà, thịt heo, thịt bò ê hề (5). Bây giờ “Qủng Què” được đi học tập với sĩ quan. Vì vậy, Quảng Què chìa ngay ra cái “Chứng Chỉ Tại Ngũ” của đại úy Nguyễn Quảng.
Cầm cái “Chứng Chỉ Tại Ngũ”, cán bộ hỏi:
– “Anh tên là Nguyễn Quảng?”
– “Dạ! phải!”
Cán bộ lại hỏi:
– “Cấp bậc đại úy?”
Quảng Què cũng ừ luôn để được “đi học” chung với sĩ quan cho được ăn uống sung sướng, đầy đủ, như ở “trường Thủ Đức”.
Thế là anh ta bị đưa vào trại Suối Máu. Vô tới đây thì Quảng Què mới biết mình đi ở tù.
Tù Dziệt Cộng thì khổ sở không thể nào kể xiết. Vậy là “Quảng Què” có ba, bốn mối hận: Hận ông trời bắt anh ta què, hận chế độ cũ bắt anh ta đi lính, hận dân chúng hô hoán khiến bộ đội đến bắt anh ta đi tù, hận “cách mạng” đã bỏ tù anh.
Anh ta kêu oan rằng anh chỉ là binh nhì, không biết tại sao người ta ghi anh là đại úy. Bộ đội ghi nhận, nhưng cho rằng anh khai dối với “cách mạng”. Tội khai gian là tội lớn nhưng cũng hứa sẽ giải quyết.
“Sẽ” có nghĩa là việc chỉ có thể xảy ra ở “thì tương lai”, còn khi nào thì chưa “cụ thể”. Hai năm rồi mà “thì tương lai” vẫn chưa tới.
Tuy vậy, anh ta cũng được “cách mạng” chiếu cố.
Trước hết là kêu anh ta lên văn phòng làm việc, khơi sâu mặc cảm giữa sĩ quan và binh lính để giao cho “Quảng Què” công tác theo dõi những phần tử phản động, phát biểu linh tinh, âm mưu trốn trại, v.v… “Cách mạng” sẽ khoan hồng cứu xét, sớm cho về sum họp với gia đình. Không biết “Quảng Què” có thực hiện công tác gì không nhưng lời hứa thì coi như hứa… chùa. Hai năm rồi, chưa thấy gì.
Buổi chiều, dãy nhà bếp chỉ còn lại vài ba anh em lui cui hâm nấu món ăn gì đó trên những cục than đang tàn dần trong bếp, “Quảng Què”, tay cầm nạng, tay cầm gầu nước, không nói một lời báo động cho ai, tạt nước vào bếp cho lửa tắt hẳn, bỏ ghét những người có đồ ăn đem nấu nướng.
Nước tạt vào tro than nóng kêu xè một tiếng lớn, bụi bay lên mù mịt. Có người bỏ đi, cũng có người cự nự. “Quảng Què” không những thấy mình sai còn chưởi thề, nói năng thô lổ. Thấy thái độ “Quảng Què” như vậy, người ta cũng đành thôi. Người ta biết “Quảng Què” chẳng biết phù thịnh phù suy gì chi rắc rối.
Những người chung trại với anh ta bây giờ là ngang hàng với cấp chỉ huy của anh ta ngày xưa. Ngày đó, anh sợ họ khiển trách, phạt tạ, v.v… Bây giờ họ sa cơ thất thế, anh ta làm vậy cho bỏ ghét. Chỉ là bỏ ghét! Cái ghét đó được “đường lối và chính sách” của “cách mạng” “bồi dưỡng” thêm cho thật sâu sắc và triệt để..
&
Lần thăm nuôi đầu tiên, “Quảng Què” cũng gởi thư về cho vợ, bảo lên thăm và tiếp tế lương thực cho anh ta. Vợ anh ta ở Saigon, trại Suối Máu ở Biên Hòa nên đường đi thăm gần, xe đò cũng tiện.
Bộ đội đặt một cái bàn ngay cổng nhà thăm nuôi, có khối trưởng hay đại diện khối ngồi bên cạnh để giúp dò tên “cải tạo viên” được thăm.
Khi vợ “Quảng Què” đến thăm, bộ đội hỏi:
– “Chị thăm ai?”
– “Dạ, tui thăm anh Quảng.”
Anh bộ đội dò tên trong danh sách, lại hỏi:
– “Chồng chị là anh Nguyễn Quảng có phải không?”
Vợ Quảng Què xác nhận:
– “Dạ phải! Chồng tui là Nguyễn Quảng.”
“Chú bộ đội” lại hỏi:
– “Anh Nguyễn Quảng là đại úy phải không?”
– “Không! Chồng tui là binh nhì.”
“Chú bộ đội” xác nhận:
– “Ở đây không có anh Nguyễn Quảng nào là binh nhì. Chỉ có anh Nguyễn Quảng đại úy.”
Vốn quê mùa, vợ “Quảng Què” thật thà nói:
– “Chắc là anh Quảng đi học tập lâu ngày, nay lên đại úy!”
Dĩ nhiên, “chú bộ đội” không tin như vợ “Quảng Què”, hồi lâu mới tìm ra anh khai gian cấp bậc, cố “xác minh” một lần nữa:
– “Có phải chồng chị bị què phải không?”
Chị vợ nhanh nhẩu:
– “Dạ đúng! Đúng chồng tui què một chân.”
Nhờ “xác minh” cái chân què đó, chị vợ được vào khu thăm nuôi.
Mới thấy vợ, “Quảng Què” tức giận:
– “Mày ở nhà lấy thằng nào mà bụng mầy to vậy?”
Chị vợ ra dấu biểu chồng im. “Quảng Què” tức tối chống nạng quày quả đi vào, không cần thăm. Chị vợ chạy theo nói nhỏ:
-“Không phài có bầu anh ơi! Mì! Mì gói!”
Té ra vì “bộ đội” không cho gia đình tiếp tế mì gói, sợ trốn trại, nên khi viết thư gởi về nhà, người viết thư giúp khéo léo báo cho vợ “Quảng Què” biết là “Quảng Què” cần có mì gói nhưng phải kín không cho bộ đội thấy. Vợ “Quảng Què” lanh trí lận hai chục gói mì vào bụng, làm như người có bầu.
Việc “học tập lâu ngày lên đại úy” và vợ “Quảng Què” có bầu trở thành câu chuyện vui của nhiều người.
“Quảng Què” không được thăm nuôi nhiều vì vợ anh ta nghèo. Mỗi lần đi thăm, vợ “Quảng Què” tiếp tế cho chồng cũng ít ỏi.
Vừa thiếu ăn, vừa tức tối và ganh tị vì những người khác được thăm nuôi nhiều đồ ăn, lại quen thói chôm chỉa từ trước, nên bây giờ “Quảng Què” “hành hiệp” ngay trong trại giam.
Ban đầu thì người ta không biết, sau tìm ra thủ phạm. Quản giáo bắt “Quảng Què” làm tờ kiểm điểm, nhưng cái chứng tật “Quảng Què” đã quen, nên anh ta cứ bị anh em bắt tội ăn cắp nhiều lần.
Cuối cùng, trong một buổi lên lớp toàn trại 4, trong phần khen thưởng, vài cá nhân, vài tổ được bộ đội khen “học tập tốt, lao động tốt”, riêng “Quảng Què” thì bị “cảnh cáo trước toàn trại”.
Anh ta bị gọi lên trình diện trước anh em, ông đại úy chính trị viên đọc lệnh như sau:
“Nay cảnh cáo có ghi hồ sơ học tập anh Nguyễn Quảng, cấp bậc: đại úy, chức vụ: khinh binh…”
Cả trại cùng cười về mục cấp bậc và chức vụ trái khoáy như vậy.
Thời gian một năm ở tù tại Suối Máu, chúng tôi chỉ được thăm nuôi một lần. Nhà tôi và 6 đứa con đều được gặp nhau ở khu vực dành cho tù cải tạo và gia đình, cùng với tất cả tù cải tạo T4. Các ngày khác thì dành cho các T1, T2, T3…
Hôm T2 được thăm, đội tôi đi tưới rau phía ngoài bờ suối.
Khi ra tới cổng, thấy thân nhân vào cổng đông lắm. Có người đi xe hơi lên thăm tù.
“Chương Rồng” hỏi:
– “Ai mà giờ nầy còn đi xe hơi, sang vậy?”
Có người giải thích:
– “Bà Nga, vợ ông Trung tá Lê Ngọc Trụ. Ông Trụ chết trong vụ trực thăng Mỹ “bắn lầm” ở trường Phước Đức trong Chợ Lớn, nay bà lấy một ông đại úy đang ở T2.”
Tôi nhớ cô nầy, là em vợ ông Nguyễn Đôn Dương, chủ nhà sách Gia Long ở Huế. Khi còn đi học, tôi hay tới nhà sách nầy, gặp em ông Dương là Nguyễn Đôn Hà, bạn học, sau nầy cùng binh chủng Thiết Giáp.
Nghe nói ông Trụ thuộc phe ông Kỳ. Khi ông Kỳ làm thủ tướng, ông Trụ làm Cảnh Sát Trưởng quận 5. Trong chế độ cũ, làm Cảnh Sát Trưởng ở một quận toàn “chú Ba xì thẩu”, vợ đi xe hơi thì có gì lạ mà phải hỏi!
hoànglonghải
(1) Nói tắt chữ effet, có hiệu quả, kết quả, tiếng Pháp.
(2) “Anh râu kẽm” hay “tướng râu kẽm” là tiếng báo chí hồi 1964, 65 dùng để gọi Nguyễn Cao Kỳ. Khoảng năm 1970, 71 vì mất ăn Kỳ dùng thương phế binh để phá Thiệu.
(3) Đứt phim, tiếng lóng, để gọi ngày 30 tháng Tư.
(4) “Cách mạng ba mươi”, tiếng lóng để gọi những người mới theo Cộng Sản sau khi đứt phim.
(5) KBC của trường Bộ Binh Thủ Đức là 4.100. Bốn ngàn một trăm, đọc trại để đùa là “Bốn người một mâm”
“Dạ, dạ, thưa anh… Dạ, dạ, em, em…” Gãi cổ Gãi tai: … anh quên ngủ quên ăn nhiều quá!
(Cũng những thằng nịnh hót – Hữu Loan)
Tháng 6 năm 1976, tôi lại bị đưa đi, chưa biết đi đâu.
Lên xe Molotova lần nầy thì vẫn đông, nhưng những bạn bè cũ từ Trảng Lớn ra đi “rơi rụng” cũng nhiều, phần đông đều được đi “thăm lăng bác Hồ”. Nhiều khi tôi nhớ thương Phạm Ngọc Hiền, Phạm Quang Chiểu, Trần Hữu Bảo, Hoàng Hữu Chung! Họ bị đày đi “Si-bê-ria của Việt Cộng”, biết bao giờ về, có ngày về hay không hay bỏ thân nơi núi rừng Việt Bắc?
Tôi “biết” Việt Bắc theo sách Địa Lý Việt Nam mà tôi đã từng học rồi dạy học trò. Trước đó, tôi cũng “biết” Việt Bắc qua các tiểu thuyết mà tôi “ngốn” không ít, đến nỗi mẹ tôi cầm cuốn Tự Điển Pháp Việt của Đào Duy Anh ném vào tôi vì tội “ham đọc tiểu thuyết bỏ học.” Cuốn tự điển dày lắm, may tôi phóng kịp qua cửa sổ chạy mất tiêu.
Việt Bắc là “Mắt Thần” hay “Lệ Hằng Phục Thù” của Trường Xuân, “Ai hát giữa rừng khuya” của Lan Khai, “Vàng và Máu” của Thế Lữ hay “Thần Hổ” của TCHYA, “Trường Đời” của Lê Văn Trương. Nhớ lại những “tiểu thuyết đường rừng” ấy mà không biết bạn mình đang ở đâu, gian khổ như thế nào, “ma thiêng nước độc” như thế nào?! Hy vọng họ sẽ sống còn, bởi như Trần Phú Trắc thường “khẳng định” và cười với tôi: “Nhưng không chết người trai khói lửa”.
“Ăn theo” tôi kỳ nầy chỉ còn Đào Sơn Bá, đại úy cảnh sát đặc biệt; Trần Phú Trắc, đại úy, Huỳnh Văn Khánh, đại úy quân cảnh.
Kỳ chuyển trại nầy cũng khá kỹ, có nghĩa là mui xe đóng bít bùng, chẳng thấy được gì bên ngoài cả. Cuối xe, một vệ binh cầm Aka đạn đã lên nòng. Thấy anh đóng khóa an toàn nên tôi đoán chừng vậy. Người trong xe chật ních, lẫn lộn với hành trang, không nhúc nhích gì được.
Dù ở trong xe bít bùng nhưng vài anh em đoán hướng xe chạy, nói to: “Về Saigon! Mấy ông ơi!” Biết là về Saigon nhưng người nào ngu lắm mới hy vọng được đem về Saigon để tha.
Xe chạy khoảng gần nửa ngày thì ngừng, mở mui và có lệnh xuống. Nhìn quanh, có người nói to: “Trại Suối Máu”.
Lần đầu tiên tôi nghe hai tiếng Suối Máu.
Ghê thật!
Máu chảy thành suối! Trận đánh nào xảy ra ở đây mà ghê thế! Lịch sử hai tiếng Suối Máu như thế nào?! Té ra tên Suối Máu nầy có từ lâu. Trước 1975, đây là “Trại tù binh Cộng sản”.
Đường từ cổng đi vào phải đi qua ba khu trại giam 1, 2 và 3 bên tay trái. Một số “tù cải tạo” ra đứng sát hàng rào nhìn chúng tôi. Có người quen biết từ trước nhận ra nhau nhưng không dám gọi to cho nhau.
Bên tay phải là nhà thờ, chùa. Dĩ nhiên, “tù cải tạo” không ai được đi nhà thờ, đi chùa. Còn cán bộ Cộng sản thì vô thần, vô tôn giáo, đã được giáo dục rằng “tôn giáo phản động”. Có ai đi lễ bao giờ. Chùa, nhà thờ đều hoang phế. Phật, Chúa cũng không ở được với Dziệt cộng đâu, cũng đã “vượt biên” cả rồi, chẳng còn vị nào ngồi lại trên tòa sen hoặc trên thánh giá!
Khi mới vào trại tù cải tạo, thỉnh thoảng đọc báo “Quân Đội Nhân Dân”, thấy không ít bài đã kích đạo Thiên Chúa. Hồi có cuộc di cư năm 1954 thì họ nói rằng các linh mục bảo với con chiên: “Chúa đã vào Nam”. Giáo dân nên vào Nam với Chúa.
Tới 30 tháng Tư thì Cộng Sản gọi là “Chúa đã đi Guam”, nên “di tản” theo Ch úa. Có câu thơ đùa:
Ngày xưa Chúa đã vào Nam,
Ngày nay Chúa lại đi Guam mất rồi.
Trong trại, chúng tôi thường đọc báo “Quân Đội Nhân dân” do bộ đội đem xuống cho. Ngoài ra, “Saigon Nhật báo”, báo “Tin sáng” của Ngô Công Đức, khi thăm nuôi, gia đình có mang theo cho vài tờ, hoặc lấy từ trong các giấy gói quà. Người viết thường chỉ có một chiều, một bài bản, đọc “chán thấy mẹ”.
Tương đối những bài viết của Thành Tín (tức là ông Bùi Tín) đăng trên báo Quân đội Nhân dân là có một ít kiến thức, hiểu biết tình hình miền Nam ít nhiều, hơn các người khác, và ít “đường một chiều”. Báo Tin Sáng, phần nhiều chỉ là “nâng bi lập công” như anh em tù cải tạo nói vậy.
Nghĩ tới “anh chàng” báo Tin Sáng nầy, là người tôi từng có cảm tình, đã gặp một lần ở văn phòng của anh ta ở đường Nguyễn Huệ, khi tôi đến nhờ giúp cho một ông anh rể họ bị ông thị trưởng Đà Nẵng chiếm nhà, tôi thấy ái ngại cho anh ta. Một người như thế mà có đủ “sĩ diện” để làm cái nghề “nâng bi” thì cũng “buồn tình đời” thật đấy!
Anh ta mong được cái gì ở chế độ mới?
Không lý một “trí thức”, một “tiểu tư sản thành thị” như Ngô Công Đức, “con chủ điền”, lại là một người “theo đạo Thiên Chúa”, “cháu giám mục Nguyễn Văn Bình”, lại không biết Cộng Sản là cái gì hay sao?
Những “lý do đặc biệt” như tôi vừa nói ở trên, là những điều Cộng Sản không bao giờ cho anh ta “nhập chung môt bọn” với Cộng Sản được!
Anh ta biết cả đấy, nhưng vì một miếng đỉnh chung đã làm lu mờ cái nhãn quan của anh ta hay sao: Một chức “dân biểu” là nhỏ quá, “Ơn Trên” phải cho anh ta một cái gì cao hơn, một cái ghế bộ trưởng Dương Văn Minh dành cho anh ta chẳng hạn. Tiếc một điều, trên đường từ Pháp về để nhận cái ghế bộ trưởng do Dương Văn Minh chia cho, vì máy bay của hãng Air France bay chậm quá, nên khi anh ta về tới Saigon thì Trần Văn Trà đã ngồi trong Dinh Độc Lập, thành ra cái ghế được dành cho anh ta trở thành cái ghế “Bộ trưởng không bộ nào”.
Sau 1975, mặc dù Trần Bạch Đằng không mặc váy, anh ta vẫn “núp dưới cái váy của Trương Gia Triều”. Trương Gia Triều làm sao chống lại nỗi Lê Đức Thọ, nhất là khi “Công Đoàn Đoàn Kết” của Lech Walesa được “Giáo hoàng Giăng Pôn Hai” và Tổng Thống Reagan hỗ trợ tích cực (1) để đánh đổ chế độ Cộng Sản của Tướng Wojciech Jaruzelski thì Thọ thấy hãi trước sức mạnh của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. Thế là Thọ vạch cái váy của Trần Bạch Đằng mà lôi đầu Ngô Công Đức ra, đóng cửa báo Tin Sáng, biểu Ngô Đức Đức về làm sơn mài.
Khả năng của Ngô Công Đức chỉ làm được ông chủ hãng sơn mài, không thể vói tới cái ghế bộ trưởng được.
Một “đồng chí của Ngô Công Đức” cũng “chui như chuột không kém gì anh ta.
Một hôm, người ta thấy có một mục nhắn tin trên báo Tin Sáng như sau, cho thấy có con chuột (cái) ló mặt ra khỏi hang. Nội dung: “Kiều Mộng Thu, tìm một người anh theo kháng chiến, tập kết năm 1954. Xin liên lạc về với gia đình theo địa chỉ… gì đó ở Long Xuyên”
Cô dân biểu “Nàng Kiều lá đổ” bây giờ không còn gọi “Anh Châu ơi” nữa, không biết có tìm được người anh tên Phong không? Phong là tên do tôi bày đặt cho gia đình “Nàng Kiều lá đổ”, đặt cho ông anh của “Nàng Kiều thời đại”. Tôi dựa theo cuốn tiểu thuyết trinh thám “Lê Phong Phóng Viên” của Thế Lữ. Thám tử Lê Phong trong tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ bị Phạm Cao Củng ghẹo, đề nghị nên đổi tên ra Lê Phong vì hay bắt hụt, bắt gió, bắt không trúng “địch thủ” như cầu thủ “đá gió” vậy.
“Người anh” của “Nàng Kiều lá đổ” chỉ là người “anh gió” mà thôi! “Nàng Kiều lá đổ” tưởng tượng ra một “người anh tập kết” để hù thiên hạ, nổ với thiên hạ rằng cô ta cũng “gia đình cách mạng”, bằng vài phát đại bác đạn rơm chơi. Có phải đó là trò hù thiên hạ của mấy “ông to bà lớn ưa nổ” chế độ cũ hay chăng?!
Trương Ngọc Thu là một cô học trò sắc đẹp trung bình, lãng mạn, đa tình, ưa làm thơ tình, và ưa đặt tên “cải lương”: Đã Kiều, còn Mộng, còn Thu?!
Cô Thu ưa lấy chồng làm quan, dù quan hơi “già”. Nhân vật đó là ông phó tỉnh trưởng Nguyễn Chánh Sắc, đảng Đại Việt. Thế rồi chán cảnh “Đêm đêm bên cạnh chồng già”, cô Thu Mộng Kiều đi làm chính trị, vừa làm chính trị vừa cặp kè kè với ông trung tá con ông Thượng Thư thời vua Khải Định mang “ngù vai, đội nón dấu có chóp vàng”. Khi ông trung tá ngồi tù vì vụ gián điệp Trần Ngọc Hiền, nàng Kiều mỗi ngày đổ không biết bao nhiêu nước mắt, “gọi thầm tên anh”: “Anh Châu ơi!” như báo chí hồi ấy hay đem ra làm trò vui!
Người ta cũng bàn tán về việc nhờ ông Trí Quang mà nàng kiều lá đổ, – tác giả tập thơ “Lá đổ trên mười đầu ngón tay” – quê ở bên bờ sông Bassac phù sa đỏ lòm đắc cử dân biểu ở miền sông Hương núi Ngự.
Hồi ở trại Trảng Lớn, Phan Hải thường lên khu bộ đội chuyện trò, cho biết có một anh trung úy bộ đội theo đạo Thiên Chúa. Anh ta có cái thánh giá nhưng phải dấu tuốt dưới đáy ba-lô. Anh ta sợ bị đồng đội phát hiện! Dĩ nhiên. Anh ta dấu đồng đội nhưng không dấu với “tù cải tạo”.
&
Anh em chúng tôi được đưa vào một khu mới: Khu 4. Trước 1975, chỗ nầy là khu thể thao của trại tù binh. Bây giờ “trường cải tạo” phát triển nên khu thể thao biến thành khu “nhà trường” của “tù cải tạo”.
Khu 4 gồm một chục gian nhà “tôn” mới được nhà thầu dựng lên, cái nằm ngang, cái nằm dọc, trông giống khu lao động Saigon cũ, tuy nhà tôn ở đây có dài hơn. Gian nhà “tôn” đầu tiên, tách riêng với toàn bộ nhà Khu 4 bằng một hàng rào chăng giây kẽm khá kỹ.
Bên gian nhà ấy là nơi điều trị bệnh nhân. Một người nằm trên giường, bụng to như bụng trâu. Người ta thường nói là bệnh cổ trướng; có người gọi là viêm gan.
Cổ trướng và viêm gan có bà con gì với nhau?! Tôi mù tịt về y khoa!
Một người đứng sau tôi, có lẽ tới đây trước tôi mấy tháng, nói: “Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đó.” Nhiều người “à” lên vui mừng!
Người vừa nói tỏ ra rành chuyện: “Bác sĩ nói chắc không qua khỏi. Kim Cương có lên thăm ông ta!”
Nguyễn Uyên, họa sĩ, đứng bên tôi nói: “Bác sĩ Dziệt Cộng thì biết gì. Khám tầm bậy không!” Người lúc nãy cải chính: “Bác sĩ “của mình”, không phải “cách mạng”. Có anh chưởi thề: “Cách mạng cái con cặ…”
Nói xong, anh ta cười hề hề. Mấy người khác cũng cười theo… Thấy vui vui, tôi bỗng hát hơi to một chút, cũng mong ông nhạc sĩ nghe được cho vui: “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…”
Nguyễn Thụy Hiền, đại úy giải ngũ, từ quân lao Gò Vấp được tha hai năm nay, người tôi mới quen, nói đùa: “Anh hát tầm bậy không! Sao lại “đi về đâu”. Anh phải hát “Chiều mưa biên giới anh đi về… đây!” Đang nằm chình ình ở đó mà còn hỏi “đi về đâu” nữa. Không chừng về dưới đó.”
Họa sĩ Nguyễn Uyên, đại úy cục Tâm Lý Chiến, cự nự: “Người ta sắp chết mà mấy ông còn đem ra đùa. Bậy! Bậy quá.”
Mọi người tản đi.
Người miền Nam có nhiều cái buồn cười. Tình nguyện đi lính, chọn những binh chủng đánh giặc thật dữ: Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên, Sói biển, Nhảy Dù, v.v… nhưng lại phản chiến hay thích phản chiến, ưa hát bài ca của Nguyễn Văn Đông.
Ngay “Hùng móm” em tôi cũng vậy. Ra trường, cố chọn cho được Nhảy Dù, sợ bị người ta chê, không cho đi Dù. Mậu thân, “loon” thiếu úy mới toanh, đánh một trận nổi tiếng gan lì ở Vạn Kiếp rồi về giữ Bộ Tổng Tham Mưu ở trại Trần Hưng Đạo. Tôi cũng mới nhập ngũ, lính mới tò te ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, cuối tuần đi phép. Hai anh em đi dạo phố Lê Lợi, Hùng ghé quán nhạc mua một tập nhạc của Trịnh Công Sơn vì trong đó có bài “Cho Một Người Nằm Xuống”, một bài hát phản chiến: Trịnh Công Sơn khóc Lưu Kim Cương.
Trước khi nhập ngũ, Hùng rất thích hát những câu như “Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng…” Hà Thanh hát những bài hát nầy của Nguyễn Văn Đông thì tuyệt, trước nay chưa ai bằng. Nhưng thằng em út của tôi cũng “mâu thuẫn không ai bằng”.
Té ra có một điều dễ hiểu. Họ không thích chiến tranh, nhưng hăng hái tham gia Quân Đội VNCH để bảo vệ tự do.
Nguyễn Thụy Hiền hỏi tôi:
– “Anh Hải, người ta nói Kim Cương hoạt động cho Cộng Sản có phải không?”
– “Hoạt động mẹ gì!” – Tôi nói. “Con mẹ ấy chính cống là Dziệt Cộng. Hồi Nguyễn Văn Đông làm chánh văn phòng hay bí thư gì đó cho tướng Nguyễn Văn Là, y thị bắt cặp với Nguyễn Văn Đông để vào ra Tổng Nha Cảnh Sát lấy cắp tài liệu chuyển ra bưng. Sau nầy nó cặp với Nguyễn M., cũng để tái diễn cái việc tình báo đó.”
Hiền hỏi:
– “Ông M. nầy làm gì?”
– “Trưởng khối Đặc Biệt ở Tổng Nha. Ông biết không, mấy thằng chả nầy bậy lắm.” Tôi nói.
– “Bậy sao?” Hiền hỏi.
– “Thằng cha M. khoe với nhân viên ông ta có con cu bự nên Kim Cương mê lắm. Té ra nó có cần cu đâu! Nó vào ngủ với thằng chả ngay trong Tổng Nha là để chôm tài liệu. Thằng chả cứ nghĩ vì cái củ cải mà nó mê. Mất nước là phải!” Tôi giải thích.
– “Anh làm cảnh sát ở dưới ruộng, sao mà biết rõ trên nầy vậy?” Hiền nói.
– “Hồi đó thì ai biết gì. Sau 30 tháng Tư mọi chuyện mới tá hỏa ra. Một đám ở Trảng Lớn với mình là sĩ quan khối Đặc Biệt. Mấy ngày sắp đứt phim, tụi nó lôi tài liệu ra đốt mà khóc. Coi như thế là xong! Tới đó, trong Tổng Nha nhiều ông mới lộ ra nhiều điều mà trước nay câm như hến. Người ta sợ mấy ông lớn ghét, trả thù.” Tôi giải thích.
– “Vậy chớ Kim Cương tình nghĩa gì mà lên thăm Nguyễn Văn Đông!” Hiền lại hỏi.
– “Lòng con người ta phức tạp lắm, không biết hết được. Yêu nhau mà coi thường nhau, lợi dụng nhau. “Trong khi chắp cánh liền cành, Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên.” Đọc xong câu Kiều, tôi cười.
Tới đó, Hiền mới tin tôi. Thật ra, Hiền nhỏ hơn tôi ít ra cũng gần mười tuổi, thấy tôi hay làm “thầy bàn” nên tin tôi lắm. “Bàn trật hay trúng nghe cũng… vui.” Hiền nói với tôi vậy!
Tôi hỏi Hiền:
– “Bữa kia ông có xem tuồng “Lá sầu riêng” của Kim Cương không?”
– “Tối đó tôi bị bệnh, không coi TV. Tuồng nầy có hay không?” Hiền trả lời.
– “Hay hay không để nói sau, nhưng bây giờ Kim Cương “giác ngộ” rồi!” Tôi nói.
– “Giác ngộ đạo Phật?” Hiền hỏi.
– “Đạo Phật cái con khỉ! Cô ta “giác ngộ chủ nghĩa Mác”. Cái đó mới nhục cho Kim Cương.” Tôi nói.
– “Tôi chưa hiểu, anh giải thích rõ đi.” Hiền đề nghị.
– “Như thế nầy nè!” Tôi nói. “Tuồng nầy của Kim Cương viết trước năm 1975, nhưng đặt tên tác giả là Hoàng Dũng, con của cô ta. Hồi xưa, Kim Cương mê Anh Tứ dữ lắm, không rõ có đẻ đứa con nào không? Nội dung tuồng có hai người yêu nhau, một cô gái nhà quê miền Nam, yêu một thanh niên nhà quê miền Nam. Anh thanh niên giã từ người yêu lên Saigon học, để ít lâu về làm thầy giáo làng. Hứa hẹn hai người sẽ cưới nhau sau khi học xong.
Dzậy rồi dòng đời đưa đẩy, hai người không lấy được nhau. Người con gái làm lẻ một ông phú hộ thôn quê, sinh một đứa con gái; còn anh chàng kia ra làm thầy giáo, rồi cũng có vợ, sinh một cậu con trai. Cuối cùng, hai người đều góa bụa. Trời xui đất đẩy, họ lại gặp nhau, gã con cho nhau. Anh xui chị xui cũng bắt tay nhau, vui vẻ, âu yếm nhìn nhau nhưng “không trào máu họng”!.
Các tác phẩm cũ, tiểu thuyết hay tuồng tích, thường có kết quả nhân hậu như thế. Đó là truyền thống người Việt, ưa một kết cục có sum họp, có đầm ấm, có thương yêu, như truyện Kiều chẳng hạn, dù cô Kiều phải lưu lạc 15 năm.
Bây giờ theo Dziệt Cộng, Kim Cương bèn thay đổi cái kết cục đó khác đi. Bậy vô số.”
– “Bậy vô số là sao?” Hiền hỏi.
– “Bậy vô số” là chữ của ông Võ Phiến, là bậy lắm, bậy vô cùng. Kết quả vở tuồng bây giờ bị Kim Cương sửa lại, hai đứa con của hai người ấy không lấy được nhau, mà hai người ấy cũng không còn là “anh xui, chị xui” nắm tay nhau vui vẻ. Bậy vô số.”
– “Vì sao?” Hiền lại hỏi.
– “Kim Cương bị nhuộm đỏ lòm, viết tuồng theo cách “đấu tranh giai cấp”. Ông giáo làng bây giờ là một nhà tư sản, giàu có. Giàu có là thuộc giai cấp “bóc lột nhân dân lao động”, làm sao kết sui gia với chị nông dân nghèo khổ. Nông dân nghèo khổ là “giai cấp tiên tiến, là đội tiên phong của đảng”.
– “Vậy thì có chi thắc mắc?” Hiền nói.
– “Ngòi bút. Viết như thế là “bồi bút”. Tại sao lại phải sửa. Viết rồi là không sửa. Nó có “tính thời gian” của nó. Kim Cương có muốn phục vụ Dziệt Cộng thì viết tuồng khác. Sửa như thế, người ta gọi là “bẻ cong ngòi bút” để phục vụ “hệ tư tưởng Mác, đấu tranh giai cấp”. Đáng chê lắm.”
– “Hồi xưa, người ta cũng phải viết theo cách phục vụ cho vua chúa vậy. Tui học chương trình Pháp, không rành văn chương Việt Nam nên không cải lý với anh được.” Hiền bày tỏ.
– “Tui hiểu, tui hiểu. Ví dụ như “Chinh Phụ ngâm”, trong đó, ca tụng người lính phục vụ cho vua. “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.” Hình ảnh đẹp quá chớ gì? Nên người ta đi lính phục vụ cho vua. Nhưng đi đánh giặc, giữ gìn an ninh, chống ngoại xâm không là phục vụ cho đất nước hay sao? Ông nhớ rằng, “trung quân, ái quốc” hay “trung hiếu tiết nghĩa” là cái luân lý của người xưa, của dân tộc. Người ta có soạn tuồng hát trong đại nội, hay hát ở thôn quê, hát đình, hát miễu thì cũng viết như Đồ Chiểu “Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Đó là tiêu chuẩn văn hóa người Việt thời kỳ đó, đâu có phải đó là tiêu chuẩn do ông vua bày đặt ra. Có thể nó có lợi cho ngai vàng của vua, nhưng văn hóa đó là của dân tộc. Người viết truyện, soạn tuồng, chọn tiêu chuẩn cho tác phẩm của họ là tiêu chuẩn của văn hóa dân tộc, đâu có phải phục vụ cho ông vua nào, triều đại nào.
So việc làm đó của tổ tiên với việc làm của Kim Cương bây giờ hay Tố Hữu nó khác nhau lắm chớ. Tiêu chuẩn Dziệt Cộng đưa ra cho văn nghệ sĩ viết sách, soạn tuồng là “đấu tranh giai cấp”, là “cải cách ruộng đất” là “Giết! giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ, Cho ruộng đồng mau tốt, thuế mau xong.”
Văn hóa người Việt Nam không có chuyện “Giết! giết nữa.” Đúng không? Bà Bảy Nam là người mộ đạo Phật, khi bả biết con bà đi theo cái đám “Giết! giết nữa!” thì bà vui hay buồn? Kim Cương lo phục vụ cho đảng mà quên chữ hiếu đối với mẹ.”
– “Nghe anh nói, tui muốn gặp con mẹ Kim Cương để chưởi vào mặt nó cho bớt tức.” Hiền nói, đúng là dân Nam bộ nóng tính, bộc trực.
Rồi lại có lệnh “biên chế”. Anh em chúng tôi đi hết, nào Phạm Ngọc Hiền, Phạm Quang Chiểu, Phạm Xuân Lý, Trần Hữu Bảo, Nguyễn Văn Tiếp, Hoàng Hữu Chung, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Văn Quí, v.v…
Về sau, nghe tin mấy anh em nầy đi “Thăm lăng “bác” Hồ”, tức là tiếng gọi đùa những anh em bị đày ra Bắc. Một số còn lại gồm tôi, Trần Phú Trắc, Đào Sơn Bá, Lê Quang Dung, Nguyễn Đạo thì xuống “trại Bombata”.
Gọi là “xuống trại” vì trại chúng tôi đang ở là ở trên đồi, gần cửa vào trại Long Giao. Nay thì xuống một trại ở dưới thung lũng, cũng thuộc trại Long Giao. Đây là căn cứ của lính Mỹ hay Úc gì đó, tôi cũng chẳng tìm hiểu.
Xuống trại dưới nầy thì gặp ngay Bombata, một anh sĩ quan bộ đội Dziệt Cộng đểu và “mất dạy.”
Số anh em cũ của chúng tôi nay chỉ còn mấy ngoe như tôi kể tên ở trên, còn lại phần đông anh em lạ, ở đây đã mấy tháng rồi.
Căn phòng chúng tôi được đưa vào ở là một căn trại gia binh chế độ cũ. Nền nhà, vách, v.v… dơ dáy. Dơ dáy vì không phải nó là trại gia binh mà vì trước khi chúng tôi đến là nơi giam “tù hình sự”. Vẽ bậy, viết bậy và viết đứng đắn cũng có, đầy trên vách.
Bá nói với tôi: “Tui thấy đằng vách kia kìa, có tên Chế Linh. Chắc anh ta có bị giam ở đây.” Có thể ban đầu, tù hình sự do bộ đội bắt nên giam ở đây. Nay “ban quân quản” giao lại cho công an nên họ bị đem đi rồi.
Sự kiện chúng tôi để ý lúc nầy là “Hội nghị Hiệp thương Thống nhứt”. Có người nói: “Thống nhứt rồi, có lẽ mau được về!” Đâu có dễ vậy, phải không?
Tối tối, tôi nằm nói chuyện với Đào Sơn Bá (hiện đang ở Boston). Bá hỏi tôi: “Nhắm có về sớm như người ta nói không anh?”
Tôi nói:
– “Hồi đầu tháng 5/ 1975, bà Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng bộ ngoại giao (chính phủ Cộng hòa Lâm thời Miền Nam Việt Nam) đi Algerie. Bả xin thế giới giúp cho một triệu cái cuốc. Bả còn nói hai miền Nam Bắc còn nhiều khác biệt, phải năm năm nữa mới có thể thống nhứt đất nước được. Cái tui thắc mắc là bả thì nói 5 năm mà nay mới 1 năm đã thống nhứt rồi. Có chuyện chi đây?”
Bá hỏi:
– “Theo anh nghĩ thì có chuyện chi?”
– “Theo “moa” nghĩ thì bọn miền Nam như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Hữu Thọ không phải là “Cộng Sản ròng” như Đỗ Mười, Lê Duẫn. Phần đông họ là dân trí thức tiểu tư sản, “theo kháng chiến” rồi theo Cộng Sản chớ không phải vì thích chủ nghĩa Cộng Sản. Bọn ngoài Bắc dựng bọn trong Nam lên để làm mặt trận là làm bình phong. Bây giờ không cần nữa thì phải loại ra, mà phải loại sớm. Để lâu, bọn trong Nam mọc chưn mọc rễ ra khó loại hơn. Đó là lý do thống nhứt cho lẹ lẹ.” Tôi giải thích.
– “Đám miền Nam về vườn hết sao?” Bá hỏi.
– “Đâu có! Để thưởng cái công “cầm cặ… chó đái”, họ được cho một chức gì đó, ngồi chơi xơi nước. Không thuộc giai cấp “ba đời đi ở, bốn đời làm thuê” mà.” Tôi giải thích.
– “Rồi mình có hy vọng chi về sớm không?” Bá lại hỏi.
– “Mình không biết. Theo kinh nghiệm của mình, mình lưu lạc từ Trung tới Nam rồi thì mình nghĩ quyền hành ở trong tay đám Nam Kỳ dễ sống hơn. Với Bắc kỳ khó sống lắm “ôông” ơi!”
&
Chúng tôi gánh hậu quả vụ “Út Bạch Lan trốn trại.” Út Bạch Lan, Biệt Kích Dù, cùng khóa Võ Bị với “Hùng móm”, em út tôi.
Truớc khi chúng tôi về trại nầy khoảng hai bữa, “Út Bạch Lan trốn trại”. Anh ta chui qua mấy lớp hàng rào kẽm gai, dầy đặc cả mìn chiếu sáng và mìn chống người, ngay dưới chân cái tháp canh ngày đêm có bộ đội ngồi gác trên ấy.
Hàng rào và tháp canh nầy, có từ hồi lính Úc tới đóng đồn ở đây, đặc công còn không vào được mà anh ta chui ra dễ như chơi.
Người ta còn kháo nhau, Út Bạch Lan còn chơi khăm “bộ đội”, bỏ lại cái áo trắng trên hàng rào, làm như báo cho tụi nó biết “Tao ra ở lối này nè!”
Út Bạch Lan thuộc một khối chúng tôi vừa tới, trưởng khối là ông Nguyễn Bảo Tụng, nhà chơi tem nổi tiếng miền Nam, trước 75 nhiều lần lên TV nói về chuyện chơi tem cho khán giả nghe chơi.
Quản giáo khối nầy là một trung úy “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, gọi như thế cho đúng với chữ nghĩa thời Việt Nam Cộng Hòa, để phân biệt với Dziệt Cộng là dân trong Nam nhảy núi hay vào bưng.
Mỗi ngày anh trung úy cộng sản tập trung điểm danh chúng tôi. Câu anh ta thường đe dọa khi điểm danh là “Không được trốn trại”. Buổi tối, sau giờ kẻng đánh là “Không được bước chân xuống khỏi thềm nhà. Ra khỏi thềm nhà là vệ binh của tôi chúng nó bắn ngay. Chúng nó được “nệnh” không được bắn vào đầu, chỉ bắn vào chân cho què thôi. Nhưng chúng nó bắn dở “nắm”. Nó nhắm vào chân nhưng “nại” trúng vào đầu đấy. Rõ chưa?”
Chúng tôi phải hô “rõ” thật to trước cách nói xỏ lá của nó; nó mới chịu.
Mỗi khi nó điểm danh, trưởng khối Nguyễn Bảo Tụng đứng bên cạnh nó, nhìn về phía chúng tôi. Khi nó nói cái câu xỏ lá như trên thì ông Tụng thường nhìn tôi, mĩm cười. Tôi cũng nhếch mép cười, không hướng về phía ông Tụng và dĩ nhiên không cho tên trung úy cộng sản thấy.
Thái độ hung hãn và bất thân thiện, nếu không muốn nói rất ghét chúng tôi, trông giống như một nhân vật trong một cuốn phim Bulgary, tên nhân vật đó là “Bombata”, nên anh em thay vì gọi tên, họ gọi là Bombata. Vì vậy, cho tới nay, tôi vẫn không biết tên thật y là gì!
Bombata biểu ông Tụng cắt tù canh đêm, hễ thấy ai trốn trại thì hô hoán lên báo động cho bộ đội biết. Mỗi phiên hai người tù canh chung. Một hôm, tôi chung phiên với “ông thầy chùa Phát”. Ông Phát nguyên là đại úy tuyên úy, nay không còn ăn chay và cũng chẳng thấy kinh kệ hay Phật pháp gì cả.
Hôm ông canh với tôi, tôi nói: “Hộp quẹt tôi bị hư rồi, làm sao hút thuốc?”
Thầy chùa Phát nói:
– “Anh cứ lấy thuốc ra hút. Hễ gần hết điếu, mình mồi qua điếu khác.”
Tôi nói:
– “Hút vậy hao quá! Thầy có hộp quẹt không?”
Ông ta trả lời không!
Thế là tối hôm đó, tôi đem ra 3 gói thuốc “Basto Xanh” do vợ gởi cho. Cứ hết điếu nầy, tôi và ông thầy chùa vì sợ khuya rồi, biết xin lửa ở ai, mà canh đêm, không có thuốc hút thì buồn lắm, hút liền tù tì điếu nầy qua điếu khác, miệng nóng và đắng nghét.
– “Vậy mà ông ta nói với tôi ông không có hộp quẹt?”
– “Anh tin thằng chả?” Trắc hỏi. “Ông thầy chùa nầy ghê lắm. Cần tiền thì ông cũng bán cả Phật như không!”
Một hôm, Bombata dẫn năm sáu anh em chúng tôi đi đốn cây ở phía dưới Long Giao một chút, trong một khu rừng nằm bên cạnh trục lộ từ Long Khánh đi Phước Tuy, có mấy vệ binh vác súng đi theo.
Cứ hai người đốn và khiêng về một cây dài khoảng 5 thước, gốc bằng bắp chuối. Không nặng lắm nhưng đi đường xa cũng mệt.
Tới một cái quán bên đường, chúng tôi xin nghỉ chân, vào quán xin nước uống. Thằng Bombata chấp thuận.
Chủ quán là một bà cụ già, khoảng 60 tuổi, vui vẻ lấy nước cho chúng tôi uống. Cụ còn nói: “Anh nào muốn uống nước ngọt thì uống đi, tôi không tính tiền đâu!” Chẳng ai uống mà cũng không mua vì sợ bà cụ không tính tiền cũng kỳ. Quán chỉ bán vài chai nước ngọt, mấy nãi chuối, ổi, đu đủ, v.v…
Đang ngồi nghỉ mệt, bà cụ nói đùa một câu: “Bây giờ khỏi đi đánh giặc, chỉ đi học không thôi, khoẻ há?” Rồi cụ cười, cái cười phải là rất ý nghĩa.
Chúng tôi sợ thằng Bombata, chỉ nhìn cụ cười lại mà không nói gì.
Trước khi ra về, chúng tôi xin phép thằng Bombata mua ít nãi chuối đem về trại. Nó bằng lòng. Bà cụ tính mỗi nãi chuối có 1 đồng (tiền mói đổi của Cộng Sản).
Thấy rẻ, Bombata cũng vào mua ba nãi. Bà cụ tính ba nãi mười đồng. Bombata thắc mắc:
– “Tại sao chị bán cho những người kia một đồng mà bán cho tôi những hơn ba đồng?”
Bà cụ hỏi lại:
– “Anh là chủ quán hay tui? Tui là chủ, tui muốn bán sao tui bán.”
Bombata tức lắm, nó nói:
– “Chị chưa giác ngộ, còn phản động “nắm”! Tôi sẽ phản ảnh với địa phương.”
Bà cụ cười mỉa:
– “Tui chấp đó. Thuở đời nhà ai, tui chừng nầy tuổi mà gọi tui bằng chị. Tui đáng tuổi bà nội. Chắc tụi nầy dưới đất chui lên.”
Biết không làm gì được bà cụ, Bombata quăng mấy nãi chuối lại, hằm hằm bảo chúng tôi khiêng cây về.
Về tới “nhà”, Bá vẫn chưa quên câu chuyện bà cụ trả lời “Bombata”. Bá hỏi tôi:
-“Tại sao thằng Bombata gọi bà cụ bằng chị. Nghe kỳ quá.”
-“Tại vì người ta có “một cha cung trên trời”. Bọn chúng có một “bác chung” cho cả nước. Ai cũng là “cháu của bác” thì già trẻ, lớn bé, cha con, mẹ con đều là anh em cả thì gọi nhau anh, chị em. Vậy là đúng chính sách đấy.”
Bá nói:
-“Hèn chi tụi thấy tụi cán bộ gọi nhau là anh anh em em, không lịch sự chút nào cả. Phải là có máu mũ bà con hay bồ bịch gì đó mới gọi là anh em chứ!”
-“Văn hóa ông nói là “văn hóa tư sản”, “văn hóa tiểu tư sản.” Văn hóa mới của tụi Bắc Kỳ là “văn hóa vô sản”, “văn hóa Chí Phèo”, giống nhau thế chó nào được.” Tôi trả lời.
Thằng Bombata “hành hạ” ông Nguyễn Bảo Tụng đến tội nghiệp.
Vì Út Bạch Lan ở trong khối của ông nên sau khi Út Bạch Lan trốn trại, nó đặt ra nhiều biện pháp rất nghiêm nhặt: Không cho nói chuyện với người ngoài tổ. Vì vậy, tôi chỉ có thể nói chuyện với Đào Sơn Bá, cùng tổ. Tôi và Trắc, trong đời tù cải tạo, đi chung với nhau từ đêm đầu tiên ở Taberd, 24 tháng 6 năm 1975 cho tới bây giờ. Không biết bao nhiêu lần chúng tôi ở chung, ăn chung, chơi chung, đào giếng, trồng rau, trồng sắn (mì) chung, v.v…
Trắc thấy tôi, cười một cái rồi nói “Nhưng không chết người trai khói lửa” rồi đường ai nấy đi. Trong suốt thời gian tù cải tạo sống bên nhau, mỗi khi gặp khó khăn, Trắc thường nói đùa với tôi câu hát ấy. Sau nầy, qua tới Mỹ, lần đầu tiên gọi điện thoại cho tôi, Trắc hỏi: “Biết ai đây không? “Nhưng không chết người trai khói lửa…” Trắc nói chưa xong thì tôi đã la lên: “Trắc, tui tìm ông quá trời!..”
Chúng tôi đoán chừng tên quản giáo buộc ông Tụng theo dõi bọn tôi để báo cho nó hay những “biểu hiện xấu”.
Chúng tôi cũng đoán chắc ông Tụng không thể làm như vậy được. Vì vậy mà thằng Bombata làm khó làm dễ ông quá lắm!
Chỉ một việc Út Bạch Lan trốn trại mà nó hành hạ ông già Tụng đến thảm. Nó bắt ông Tụng viết báo cáo về việc Út Bạch Lan trốn trại đến cả chục lần, lần nào nó cũng bảo rằng chưa đạt. Đạt có nghĩa là ông Tụng cũng như anh em biết Út Bạch Lan âm mưu trốn trại mà không báo cáo cho “cách mạng” hay. Ối trời! Ai mà biết ai “âm mưu trốn trại”. Ai có khùng mới “phổ biến” việc mình muốn trốn trại cho người khác biết. Mà dù có biết, chẳng ai báo cáo. Việc ấy, ai làm được?!
Mỗi ngày một lần, ông Tụng phải cầm tờ báo cáo đọc cho nó nghe. Không hiểu tại sao nó không cầm tờ báo cáo tự đọc lấy mà bắt ông Tụng phải đọc. Có thể nó đọc chữ quốc ngữ không thông chứ chữ ông Tụng viết rất đẹp và khá rõ. Ông thuộc loại học trò trước 1945, thầy giáo dạy tập viết kỹ lắm.
Khi ông đọc báo cáo, nó bắt ông phải ngồi dưới đất, theo kiểu nước lụt, thông tục gọi là “ngồi chò hỏ”; còn nó ngồi trên sập, “vách đốc củ tỏi”, như mấy ông lý trưởng, chánh tổng ngày xưa.
Trong cái “tư thế” như vậy, ông Tụng khó chịu lắm, nhưng ông làm gì được nó. Nó từng hăm nhốt ông vào “cát-xô” vì tội tán trợ Út Bạch Lan trốn trại. “Anh biết trước nó trốn nhưng anh không báo cáo. Tôi sẽ “xử ní” anh.”
Chưa nhốt ông vào cát-xô là điều may cho ông, nói gì tới chuyện khác. Vả lại cách làm của Bombata như thế cũng là một hình thức khủng bố ông Tụng.
Cùng đơn vị trước đây với ông Tụng có ông cựu đại úy Lượm. Ông Lượm thường tự hào mình là con chủ điền. Có lần ông nói: “Cha mẹ tôi giàu, con khó nuôi, nên mới đặt tên tôi là Lượm. Lượm đâu đó về nuôi, chớ không phải do ông già bà già đẻ ra, sợ ma bắt.”
Không mấy khi tôi nói chuyện với ông Lượm. Tôi không thích những người gọi cha mẹ là “ông già, bà già.” Gọi như thế là thiếu tôn kính cha mẹ, là cách nói của giới bình dân.
&
Khi thằng Bombata điểm danh xong, về rồi, tôi thường ngồi nơi cửa sổ phòng tôi nhìn về phía bên kia đồi.
Tôi chờ mặt trời xuống. Bây giờ đang mùa hè!
Mặt trời như một khối lửa, khi chạm tới đỉnh đồi phía xa xa, nó tóe ra trăm ngàn tia lửa đỏ, rực cả một chân trời, phản chiếu vào mầu mây. Cao trên mây chút nữa là mầu đen của một cảnh trời chiều sắp tắt, trông buồn lắm. Cảnh ấy làm cho tôi nhớ thời niên thiếu khi tôi còn ở quê nhà, ngồi bên nầy bờ sông Thạch Hãn, nhìn mặt trời sắp lặn sau dẫy Trường Sơn. Chỉ khác một điều, những ngọn đồi ở đây không cao, không trùng điệp và hùng vĩ như những ngọn núi ở dãy Trường Sơn.
Trong những buổi chiều lặng lẽ và u buồn như thế, ông Tụng hay ra đứng bên cạnh tôi, nói bâng quơ vài câu chuyện.
Tò mò một chút ít về tem. Có lần tôi hỏi ông:
– “Bác Tụng nè! Câu sấm nói “Voi bò trên giấy” là ứng với tờ giấy hai giác (hai mươi xu, hai giác là gọi theo cách xưa của người Trung; người Bắc gọi là hai hào) thời Đông Dương. Hồi đó, tôi nhớ cũng có con tem vẽ hình mấy con voi. Vậy câu sấm có ứng với mấy con tem không?”
Ông Tụng giải thích:
– “Tờ giấy bạc hay con tem không quan trọng, cái ý chính của câu sấm là nói tới “thầy tăng” là “thằng Tây” sắp đi đời.” (1)
Tôi lại hỏi:
– “Bác có nghĩ thầy tăng là mấy ông thầy chùa không?”
– “Làm gì có!” Thầy tăng là thằng Tây. Câu sấm nói lái.” Ông Tụng giải thích.
– “Tui không nghĩ câu sấm nầy là của ông Trạng Trình đâu. Nếu là ông Trạng Trình, mắc chi ông phải nói lái. Nói lái như vậy là để đánh lạc hướng mật thám Tây. Như vậy là câu nầy mới đẻ ra hồi Tây.” Tôi nói.
– “Cũng có thể đấy!” Ông Tụng nói. “Tôi chơi tem mấy chục năm, chưa ai hỏi tôi rắc rối như anh!” Ông Tụng vừa cười vừa nói.
– “Bác có bực mình không? Bác nên nhớ tui là “dân trọ trẹ” mà!”
– “Bực mình thì tôi đã không ra đứng đây nói chuyện chơi với anh cho vui. Tôi khổ tâm vì cái thằng trung úy bộ đội nầy. Nó chưa bằng tuổi con tôi mà nó mất dậy quá!”
– “Thời thế mà! Hàn Tín còn luồn trôn giữa chợ!”
Rồi tôi đọc câu đối của Ngô Thời Nhiệm “Gặp thời thế thế thời phải thế!”
Bỗng ông Tụng hỏi tôi:
– “Anh ở Huế có biết Như Hà không?”
– “Như Hà nào? Hà-Lãng-Hổ à? Bà ấy là chị thằng bạn tui.”
– “Tôi lập hồ sơ vụ án Hà-Lãng-Hổ. Hồi đó cho tới 30 tháng Tư, tôi làm việc ở Biên Hòa.”
Ông Nguyễn Bảo Tụng, người gốc Bắc, không rõ tỉnh nào. Trước là Hiến Binh. Sau chế độ Ngô Đình Diệm, Hiến Binh giải tán, một số chuyển ngành Cảnh Sát, một số chuyển qua Quân Cảnh. Ông thuộc ngành Quân Cảnh Tư Pháp, chức vụ cuối cùng của ông trước 30 tháng Tư là Đại Đội Trưởng Đại Đội Quân Cảnh Tư Pháp Quân Khu 3, đóng tại Biên Hòa.
Khi vụ án Hà-Lãng-Hổ xẩy ra, ông làm việc ở Đại Đội Quân Cảnh Tư Pháp đó, nhưng không biết đã làm đại đội trưởng hay chưa. Ông là người lấy cung, điều tra vụ án nầy.
Tò mò, tôi muốn thêm chút ít về một vụ án, mà Ngô Thị Như Hà, nhân vật chính là chị của Trần Quang Quy, bạn học của tôi.
Năm 1954-55, tôi và Trần Quang Quy học chung một lớp, chuẩn bị thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Chúng tôi là bạn thân. Bà Hà chuẩn bị thi Tú Tài 1.
Hồi đó, nhà Quy tại “Villa Elizabeth” nằm trên đường Duy Tân, là đường nối liền từ đầu cầu Trường Tiền xuống An-Cựu. Ngôi nhà nầy sau thuộc phạm vi “Khách Sạn Duy Tân” của Cậu Cẩn.
Tôi ăn cơm tháng gần trong hồ Tịnh Tâm, khu vực không có điện, tối mù mù, phải dùng đèn dầu hỏa. Học bài khuya, hao dầu, nhắm bộ bà chủ không vui lòng nên cứ tối tối, tôi qua nhà Quy học chung.
Cũng không phải là học trong nhà. Bọn tôi ra ngồi ở gốc đèn điện đường. Ngồi cột đèn nầy một chút thì qua cột đèn kia. Thỉnh thoảng, thấy chó chạy hoang thì lấy đá vụt chơi. Gặp mấy o bán chè thì hát “Con mèo chạy quanh tấm ván” nhại theo câu rao hàng của mấy o là “Chè đậu xanh đậu ván.” Có một câu nhại tục hơn, nhưng mấy ông lính mới xài câu đó, chúng tôi là học trò, không dám (2).
Gặp cảnh sát đi tuần sau giới nghiêm, 12 giờ đêm, thì phải trốn cho lẹ vì đôi khi, mấy thầy cảnh sát bắt được, nếu không thông cảm thì “Bị bác bếp Bình bắt bỏ bót ba bốn bữa.” Không “ba bốn bữa” đâu! Sáng hôm sau đã thả ra, vừa mất học bài, vừa trễ một buổi học ở trường.
Nhà Quy ở là nhà Tây, có nhiều phòng.
Ông thân Quy, thiếu tá Trần Thành, dân Quảng Bình, cùng quê với Cậu nên sớm làm trung đoàn trưởng đóng gần Huế.
Thỉnh thoảng ông mới về nhà. Quy có phòng ngủ riêng. Bà Hà cũng có phòng riêng. Nó cười cười, dặn tôi không được vào phòng bà Hà: “Phòng con gái, dơ lắm.”
Nó nói vậy. Tôi hiểu mờ mờ về cái dơ đó. Tuy thường đến đây, tôi chưa bao giờ thấy bà Hà tại nhà. Chỉ có một lần, khi chúng tôi đang ngồi trong lớp, bà Hà đạp xe đạp tới, gọi Quy ra, nói chuyện gì đó. Cả lớp, nhất là Nguyễn Đình Thống, anh ca sĩ Hoàng Lan của Đài Phát thanh Huế, trầm trồ “Chị thằng Quy đẹp ghê!” Vậy thôi.
Năm tôi học ở Khải Định, sau nầy là Quốc Học, tôi không thấy bà Hà lần nào, mặc dù, mấy lớp trên tôi, con gái còn học chung với con trai bên Khải Định vì trường Đồng Khánh chưa mở những lớp Đệ Nhị Cấp.
Nghe nói bà Hà đã đi dạy Trung Học, sau khi đậu tú tài 1. Hình như có một năm bà ấy về học lại lớp đệ nhứt, chung với bà Tường Loan.
Trên “Tập văn Học sinh Quốc Học” năm ấy, hai bà nầy đăng thơ gởi qua gởi lại cho nhau, làm như đôi tình nhân.
Tôi chỉ nghe nói, không đọc thơ họ hay đọc rồi mà quên. Nói như thế là thật tình, thơ không hay lắm. Nếu thơ hay lắm, – tôi nói là hay lắm -, có lẽ tôi đã thuộc vài câu.
Khi tôi đã đi dạy rồi, một người bạn đồng nghiệp, rất thân, bạn học với Tường Loan kể cho tôi nghe một câu chuyện như sau:
Một hôm, anh bạn tôi tới tư thất viện trưởng, nhà số 1, ở đầu đường Trương Định, là nhà của cha Luận, để mượn sách.
Vào sân, anh bạn tôi thấy ngay cửa giữa, sau bức màn phía sau phòng khách, phía dưới màn còn hở là cái áo đen và hai chân cha Luận, bên cạnh là hai chân một người đàn bà. Chỉ thấy hai chân vì phần trên đã bị tấm màn che khuất.
Tò mò, người bạn tôi đạp xe ra phía cửa sau. Té ra lúc đó, bà Hà đang đứng khâu lại bức màn. Cha Luận đứng bên cạnh. Hai người đang nói chuyện với nhau, vui vẻ lắm!
Khu nhà phía sau, có nhiều phòng. Những người ở lại nhà cha Luận, như bà Hà thì ngủ ở những phòng sau đó, không ngủ lại trên gian nhà chính.
Bọn sinh viên Huế, không ít người biết bà Hà là con nuôi của cha Luận.
Có một điều vui nữa, theo người bạn kể, cha Luận thường cho những “học trò cưng” của ông mượn sách về đọc. Ông có một tủ sách lớn, sách mua từ bên Tây về.
Mượn sách về phải rọc sách mà đọc. Điều đó cho thấy cha Luận có nhiều sách nhưng lại ít đọc.
Chuyện nầy cũng khá buồn cười. Năm bà Hà họcĐệ Nhứt gì đó, một buổi sáng, bà Hà không đi học. Bà đau bụng! Mấy người bạn cả trai lẫn gái rủ nhau đạp xe lên ga xe lửa Huế, thăm bả vì bả thuê nhà ở trên ấy. Vô tới nhà, hỏi thì bà nói đã đỡ đau nhiều, nhờ hồi khuya có gọi điện thoại cho cha, cha đã lên thăm và có xức dầu cho bà rồi.
Cha xức dầu cho bà Hà đau bụng, xức ở đâu? “Nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò”, dĩ nhiên là chúng tôi có rất nhiều “lời bàn Mao Tôn Cương” và tiếng cười vì việc xức dầu ấy!
Giữa năm 1974, tôi đang ở Hà Tiên, nhân viên của tôi đi học ở Cần Thơ, không biết sao lại gặp Trần Quang Quy. Biết tôi ở Hà Tiên, Quy theo họ về tôi chơi, ở lại một đêm.
Sáng hôm sau, tôi xin máy may trực thăng bên biệt Khu 44 cho Quy quá giang về Cần Thơ. Khi ấy, Quy mang “loon” trung úy, đang phục vụ tại Cần Thơ.
Bữa đó, ăn cơm xong, tôi bảo lính xếp hai cái giường bố trong văn phòng của tôi để chúng tôi nằm bên nhau nói chuyện chơi.
Tôi lại tò mò hỏi Quy về vụ Hà-Lãng-Hổ mà báo chí đã đăng tùm lum, khi tôi còn ở Saigon. Lúc nầy, hình như bà Hà làm chủ thẩm mỹ viện Như Hà trên đường Phan Thanh Giản, Saigon.
Quy kể:
“Bà Hà có cái xe Fiat trắng, đẹp lắm; ngày ngày đưa đón con đi học ở Taberd. Thiếu tá Đinh Viết Lãng cũng có một chiếc Fiat giống y chang vậy, cũng đưa đón con đi học mỗi ngày như bà Hà.
Để ý xe ai giống xe mình, rồi để ý đến người lái xe, mối tình ngang trái bắt đầu, rồi làm thơ gởi qua gởi lại cho nhau. Chuyện lãng mạn của những người còn trẻ, giàu có, tư sản.
Khi câu chuyện tình bể ra, muốn giàn xếp cho yên, cha Luận can thiệp.
Cha yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu đổi Thiếu tá Lãng về Cần Thơ, để hai người xa nhau, không có cơ hội gặp gỡ.
“Vậy mà rồi hai người cũng cứ lén lút gặp nhau. Thiếu tá Hổ theo dõi, bắt gặp hai người đưa nhau đi chơi trên xa lộ Saigon – Biên Hòa.
Hổ chận xe bắn chết thiếu tá Lãng, đạn lạc, chết luôn cả cậu em Như Hà ngồi ở băng sau.”
Hỏi về chuyện bà Hà mở thẩm Mỹ viện, Quy cho biết bà Hà đi học thẩm mỹ ở Nhật, cũng do cha Luận giúp đỡ.
Ông Tụng lại kể chuyện vụ án Hà-Lãng-Hổ với tôi.
Tôi hỏi:
– “Giết chết hai mạng người, một cố sát, một ngộ sát mà chỉ bị án treo. Khó hiểu không?”
– “Nói chung thì tội cho bà Lãng và mấy đứa con. Thiệt thòi nhất.” Ông Tụng nói.
– “Bà không khiếu nại gì hết trơn?” Tôi hỏi.
– “Họ giàn xếp.” Ông Tụng giải thích. “Bà Như Hà cam kết chăm sóc nuôi nấng các con của bà Lãng cho đến khi khôn lớn.”
– “Tình trạng như bây giờ, ai ở ai đi! Bà Hà còn giữ lời cam kết không?” Tôi hỏi.
– “Tôi cũng không rõ!” Ông Tụng nói.
Nhớ cha Luận là cha nuôi bà Hà, tôi hỏi:
– “Có ai giàn xếp vụ nầy không? Cha Luận có can thiệp gì không?”
– “Như Hà không khai được một lời, chỉ ngồi khóc. Mọi việc cha lo liệu hết.” Ông Tụng giải thích.
– “Khai như thế nào mà chỉ bị tù treo. Tui không hiểu được.” Tôi nói.
Ông Tụng giải thích:
– “Trong lời khai ghi như thế nầy”. Ông Tụng kể lại: “Khi thiếu tá Hổ chận xe lại, chỉ rút súng ra là để hăm dọa và tự vệ vì thiếu tá Lãng cũng có mang súng. Thiếu tá Hổ hỏi thiếu tá Lãng: “Tại sao mày ngoại tình với vợ tao?” Lãng nói: “Tao ngoại tình với vợ mày. Mày không thấy xấu hổ sao mà còn hỏi…” Đó là câu nói khiêu khích của Lãng làm cho Hổ nóng lên, mất bình tỉnh, nên nổ súng bừa.”
– “Ai làm chứng? Bà Hà làm chứng, ông Hổ khai, cũng như không!” Tôi nói.
Nghe câu đó, ông Tụng chỉ cười. Một chốc, ông Tụng nói: “Tướng bà Hà là dâm lắm.” Tôi cũng làm thinh, nhớ hồi đi học, bọn học trò chúng tôi được ông Lê Hữu Mục cho chia phe cải nhau “Kiều đa tình hay đa dâm, hay cả đa dâm đa tình?” Chúng tôi cải nhau dữ dội, chẳng đâu ra đâu!
Một lúc sau, tôi nói với ông Tụng: “Xã hội nào cũng có hai giai cấp chính. Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị. Người Tây có nói: “giai cấp thống trị là giai cấp thượng lưu.” Họ cấu kết với nhau để bảo vệ quyền lợi của họ.”
Ông Tụng hỏi:
– “Theo anh nghĩ, “cách mạng” nói họ xây dựng một xã hội không có giai cấp. Họ có làm được không?”
Tôi nhìn ông Tụng, nói nhỏ: “Đừng nghe những gì…” rồi tôi cười, không nói tiếp nữa. Dĩ nhiên ông ta nhớ hết cả câu và biết rõ ai nói lên cái chân lý đó.
&
Từ đó về sau, mỗi chiều, nói chuyện với nhau, chúng tôi không nói chuyện Hà-Lãng-Hổ nữa. Hà-Lãng-Hổ là tên vụ án do bao chí hồi đó đặt ra.
Chúng tôi trở lại việc chơi tem. Tôi hỏi ông Tụng:
– “Bác Tụng! Bác có tin sấm không? Sấm Trạng Trình!”
– “Cũng có, nhưng không tin lắm.” Ông Tụng trả lời.
– “Tôi nói bác đừng phiền tôi. Bác có đạo, tin Chúa, tin Kinh Thánh. Tôi nghĩ, kinh Thánh, cũng như sấm, nhiều khi nói sai, hoặc tam sao thất bổn. Có khi các đệ tử của Chúa giảng kinh Thánh sao cho có lợi cho bản thân họ, chứ không cần có đúng kinh Thánh hay không! Hình như kinh Thánh nói năm hai ngàn tận thế. Ba mươi tháng Tư là coi như miền Nam tận thế trước thiên hạ.” Tôi nói.
Ông Tụng cười:
– “Anh nói buồn cười thật. Sấm truyền không thể so với kinh Thánh, thứ hai, Ba mươi tháng Tư mà tận thế sao?”
– “Kinh Thánh, sấm Trạng Trình, sấm giảng của ông Huỳnh Phú Sồ, ai tin cái nào thì cho cái đó đúng hơn, cao hơn, đó là thường tình. Còn với những người bị bắt đi cải tạo, gia đình ly tán, phiêu lạc, trời có sập, có tận thế cũng tới đó là cùng.”
Không trả lời tôi, ông Tụng chỉ cười.
Tôi lại hỏi:
– “Bác có con tem bà Nam Phương không?”
– “Tôi có những mấy con. Bà đội khăn vàng, khăn hoàng hậu.” Ông Tụng nói.
Tôi cười:
– “Hồi xưa chỉ có hoàng hậu, hoàng thái hậu mới đội khăn vàng. Bây giờ mấy cô dâu Huế cô nào cũng đội khăn vàng. Vợ tui, khi đám cưới cũng vậy. Bà nào cũng muốn làm hoàng hậu.” Rồi tôi nói đùa: “Vợ tui là hoàng hậu của tui.”
Tôi nhớ có đọc một bài viết của ông Đoàn Thêm, kể chuyện khi ông Bảo Đại bên Pháp về, ra thăm Hà Nội, kiều nữ Hà Thành nhiều người nhắm ngôi hoàng hậu, nhưng sau đó, ông cưới bà Nguyễn Hữu Thị Lan. Tôi thuật lại câu chuyện đó với ông Tụng.
Ông Tụng nói:
– “Con gái Hà Nội đẹp lắm, đẹp hơn bà Nam Phương nhiều, vậy mà chẳng cô nào lọt mắt hoàng đế.”
Tôi nói:
– “Tôi không nghĩ ông Bảo Đại yêu bà Nguyễn Hữu Thị Lan mà cưới. Ông ta háo sắc mà bà Nam Phương thì không đẹp. Bà có duyên nhưng hai mắt nhỏ quá, phá tướng. Người thương thì gọi lá “mắt phượng”; người ghét thì cho là “mắt ti hí” Bác nghĩ phải không?”
– “Vậy tại sao ông Bảo Đại cưới bà?”
– “Chính trị. Chính trị mà.” Tôi nói. “Đám cưới nầy là do ông Charles (3) dàn dựng. Ông ta có công dạy dỗ ông Bảo Đại, lo vợ, lo con. Dĩ nhiên, công việc của ông Charles là một công tác đặc biệt, được Thực dân Pháp giao phó, nhắm vào quyền lợi nước Đại Pháp (4), đâu phải vì quyền lợi của người Việt Nam.”
– “Bà Nam Phương lấy ông Bảo Đại thì nước Pháp được lợi gì?” Ông Tụng hỏi.
– “Trói ông Bảo Đại lại. “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” (5) Người Huế có tinh thần yêu nước, ai không biết như thế! Sau khi ông Bảo Đại cưới vợ thì ông “nằm im”, chỉ chăm việc nhảy đầm, săn bắn, vui chơi. “Năm cụ khi không rớt cái ình” (6) xong rồi thì ông Bảo Đại rớt theo.” Tôi nói.
Ông Tụng hỏi:
– “Anh nói “năm cụ khi không rớt cái ình” là chuyện gì?”
– “Là năm ông thượng thư già bị ông Bảo Đại cho về hưu, lập một nội các mới, nhiều người trẻ. Trong số, trẻ nhứt là ông Ngô Đình Diệm, mới 32 tuổi.”
– “Thế rồi tại sao ông Diệm xin từ quan?”
– “Vì nội các mới đặt vấn đề với Tây, yêu cầu thi hành đứng đắn các hiệp ước đã ký với triều đình An-Nam. Ông Bảo Đại còn trẻ, tinh thần còn hăng, muốn đem cái sở học từ bên Tây về để canh tân nước nhà cho kịp đà tiến hóa với năm châu. Tụi thực dân Pháp ngửi thấy mùi “phản động” đó, triệt tiêu ngay bằng một “mụ” đàn bà.” Tôi giải thích.
Một lúc, tôi nói tiếp:
– “Tui nhớ hồi tui chưa đi học, đã nghe bài hát:
“Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu
Đèn khai hóa rọi khắp toàn cầu
Ngọn đường thông thương ngàn dặm
Xe tàu điện, tàu nước, tàu bay…”
Lời ca thật ngô nghê…”
– “Chưa đi học mà nhớ tới giờ cũng hay đấy!” Ông Tụng vừa cười vừa nói.
Phấn chấn vì lời khen của ông Tụng, tôi nói tiếp:
– “Tôi còn nhớ một bài nữa “Kìa, núi vàng bể bạc, có sách trời, sách trời định phận. Một dòng ta gầy non sông vững chặt…” chỉ nhớ chừng đó, đoạn sau tôi quên mất. “Sách Trời Định” là “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của Lý Thường Kiệt đấy.”
Ông Tụng nói:
– “Bài anh hát là bài “Đăng Đàn Cung” là bài dùng để rước vua.”
– “Tôi không biết, nhưng hồi Tây, sau bài Marseillaise thì học trò hát bài nầy. Tôi cứ tưởng là bài quốc ca nhà Nguyễn.”
– “Cũng có thể đấy. Tôi học trường Tây nên khi chào cờ chỉ hát Marseillaise mà thôi. Sau đó hát bài “Maréchal! Nous voila! Devant toi, le sauver…” Ông Tụng nói.
Một lúc, tôi lại hỏi ông:
– “Bác có biết những bài kêu gọi Đông du, Duy tân như “Á tế Á”, “Hải ngoại huyết thư”, “Lưu cầu huyết lệ tân thư” của cụ Phan Bội Châu không?”
– “Tôi chỉ biết sơ thôi, tôi có đọc sử.” Ông Tụng trả lời.
Tôi đọc:
“Phen nầy cắt tóc đi tu,
Tụng kinh Độc lập ở chùa Duy Tân.
Đến ngày khấn vái ân cần,
Cầu cho ích quốc, lợi dân mới là,
Tu sao cho mở trí dân nhà,
Tu sao độ được nước ta phú cường.”
Hồi ấy, tôi cứ thắc mắc, không biết chùa Duy Tân nằm ở đâu?”
Cả ông ta với tôi đều cười.
Một lúc ông Tụng than:
– “Coi như ông Diệm là “đồng chí” với ông Bảo Đại. Vì vậy mà ông bị kẹt.”
– “Còn nữa bác. Ông Bảo Đại lập “Ủy ban Cải cách”, cử ông Diệm làm thư ký hay tổng lý gì đó, đại khái là một cái chức gì đó, tôi không nhớ, chỉ dưới quyền ông Bảo Đại mà thôi.
Ông Bảo Đại muốn cải cách cái gì? Tây nó coi đó như là sự chống đối. Vậy thì phải trói tay ông ta lại chớ. Ông Diệm không từ chức cũng không được. Đó chỉ là một cách nói. Ông Diệm đi rồi, còn lại toàn là một đám người dễ bảo. Cưới cho ông Bảo Đại một bà vợ, với một triệu đồng tiền Đông Dương làm hồi môn. Thế là xong. Có bài bản cả đấy. Thành ra, tôi cho rằng ai bôi lọ ông Diệm, cho rằng vì tranh chức thượng thư không lại với Phạm Quỳnh mà xin từ chức là xuyên tạc lịch sử.”
– “Lâu lâu nghe anh nói chuyện lịch sử triều đình Huế cũng hay. Theo anh thì bà Nam Phương là người như thế nào?” Ông Tụng hỏi tiếp.
– “Nầy, bác coi nhé. Học trường đạo nầy, du học bên Tây nầy, dòng dõi “Huyện Sĩ theo Tây Đại Việt Gian nầy”, “dân Tây” nầy, quê “Nam Kỳ thuộc địa” nầy. Bác biết quan trọng nhứt là điều gì không?” Tôi nói.
– “Điều gì?” Ông Tụng hỏi.
– “Đạo Thiên Chúa. Với một con người như bà ấy, bà đặt quyền lợi giáo hội La Mã lên trên quyền lợi dân tộc Việt Nam. Bà “dân Tây”, “Nam kỳ thuộc địa”, đâu có thuộc “nước An-Nam”. Đưa tôn giáo vào chính trị là vậy. Nước ta, đưa thần quyền vào thế quyền là chủ trương của giáo hội La Mã khi họ bắt tay với bọn thực dân xâm lăng, cai trị nước ta. Đến khi bà Nam Phương lên ngôi hoàng hậu, lúc ấy, từ trung ương đến địa phương, thế lực giáo hội đã quá rõ ràng. Vì vậy, ở nước ta, quyền lợi thực dân Pháp liên kết chặt chẽ với quyền lợi của giáo hội.” Tôi nói, một hơi.
Giọng ông Tụng vẫn từ tốn:
– “Theo tôi, anh nghĩ hơi xa rồi đấy!”
– “Có thể bác không đồng ý với tôi, cũng là điều thường tình. Nhưng kính mến bác nên tôi nói thẳng và nói thật những gì tôi suy nghĩ từ trước tới nay./
hoànglonghải
(1)-Câu sấm là:
Bao giờ cỏ mọc trên chì,
Voi bò trên giấy đi đời thầy tăng!
(2)-Câu tục mấy ông lính tráng thường chọc mấy “o” là “Đè đầu hôm tới sáng.”
(3)-“Jean Eugène Charles” nguyên khâm sứ Trung kỳ, Toàn quyền Đông dương tạm thời 1916-1917. “Bạn” của vua Khải Định, thay mặt nhà vua chăm sóc việc học hành cho Bảo Đại khi ông nầy du học ở Pháp. Sau khi ông Bảo Đại thôi học trở về Huế, ông Charles cũng qua Việt Nam, tiếp tục “chăm sóc” cho nhà vua, “sắp đặt” việc vợ con cho vua.
(4)-“Nước Đại Pháp”, ấy là cách nói “nịnh” nước Pháp, cũng giống như sau nầy, chế độ Cộng Sản Hà Nội gọi “Trung quốc Vĩ đại” hay “Liên xô Vĩ đại” vậy.
(5) Nguyễn Giản Thanh, thường được gọi là Trạng Me; 1482–?) là trạng nguyên khoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục, người làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me) huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.
Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, lại ra làm quan với nhà Mạc, được cử đi sứ sang Trung Hoa để cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, khi mất được tặng tước hầu.
Lúc Nguyễn Giản Thanh còn đi học, thầy học là Đàm Thuận Huy, thấy học trò sắp ra về thì trời đổ mưa to, học trò không về được, thầy bèn ra vế đối để thử tài học trò:
“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách” (Mưa không có then khóa mà có thể giữ được khách).
Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân” (Sắc đẹp của người đàn bà, không phải là sóng, nhưng dễ nhận chìm người).
Thầy Đàm Thuận Huy nói:
Câu đối này thật hay và thật chỉnh, văn khí này có thể đậu Trạng nguyên, nhưng về sau coi chừng việc sắc dục làm hại sự nghiệp.
Tương truyền, Nguyễn Giản Thanh chỉ đậu bảng nhãn còn Hứa Tam Tỉnh (làng Ngọt) đậu trạng nguyên. Trong buổi lễ ra mắt vua, các tân khoa phải làm một bài phú dâng tặng vua và hoàng thái hậu (mẹ của vua). Hoàng thái hậu thấy Hứa Tam Tỉnh dung mạo xấu xí thì không ưng lắm, trong khi đó Nguyễn Giản Thanh khuôn mặt khôi ngô thanh tú nên bà muốn ông làm trạng nguyên. Vua vì muốn chiều lòng mẹ nên đánh giá bài phú của Nguyễn Giản Thanh cao hơn và trao danh hiệu trạng nguyên cho ông. Do đó dân gian có câu “Trạng Me đè trạng Ngọt”.
(6) Toàn bộ bài thơ nầy, theo một người bà con, chị là con gái cụ cử Hoàng Đức Cự, bạn đồng song với ông Tuần Chi (Nguyễn Đình Chi – chồng bà Tuần Chi, thường gọi là bà Tùng Chi, xưa là hiệu trường Đồng Khánh, mẹ vợ tướng Trần Văn Trung) đọc cho tôi chép lại như sau:
Năm cụ khi không rớt cái ình
Đất bằng sống dậy chốn thần kinh
Bài không đeo nữa xin dâng lại
Đàn chẳng ai nghe, khéo dở hình
Liệu thế không xong, binh chẳng được.
Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh
Công danh như rứa là hậu hỉ
Đại sự xin nhường kẻ hậu sinh.
Trong “Thuyền ai trước bến Văn Lâu” của giáo sư Nguyễn Lý Tưởng”, chép lại theo “Hương Bình Thi Tập” của cụ Hoàng Trọng Thược, có khác vài chữ như sau:
Câu 2: Đất bằng sóng dậy đất thần kinh
Câu 7: Công danh thôi thế là hưu hỉ
Câu 8: Đại sự xin nhường lũ hậu sinh
Cũng trong sách nói trên, tác giả chép lại theo “Giai
Thoại Làng Nho” của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc như sau:
Năm trụ khi không ngã cái ình
Đất bằng một tiếng thảy đều kinh
Bài không đeo nữa xin dâng lại
Đàn nọ ai nghe, khéo dở hình
Liệu thế không xong, binh chẳng được
Liêm đành giữ tiếng, lễ đừng rinh
Công danh như thế là hưu hỉ
Đại sự xin nhường lũ hậu sinh.
Năm cụ, tiếng Huế thường dùng để gọi các quan, những người lớn tuổi như cụ Ngô, cụ Hồ (năm 1945, 46), cụ Huỳnh, cụ Phan, v.v… là 5 ông thượng thư tại chức khi vua Bảo Đại còn ở bên Pháp.
Năm cụ rớt chức thượng thư gồn có:
Câu 3: Nguyễn Hữu Bài, rớt chức thượng thư bộ Lại
4: Tôn Thất Đàn, thượng thư bộ Hình
5: Phạm Liệu, thượng thư bộ Binh
6: Võ Liêm, thượng thư bộ Lễ
7: Vương Tứ Đại, thượng thư bộ Công.
Con cháu ông Nguyễn Hữu Bài, tước quận
công, bây giờ còn ai, tôi không biết, nhưng các ông như giáo sư Tôn Thất Thiện, Phạm Biểu Tâm, Võ Văn Hải, là con cháu các cụ thượng thư ở Huế, tôi không rõ có quan hệ giữa các ông nói trên với các cụ “rớt cái ình” như thế nào!
Anh Mười Nhịn râu quặp. Thiên hạ chê, cười. Ảnh chống chế rằng con sư tử Hà Ðông rất sợ anh. Anh nói gì là chị ấy làm ngay phăng phắc! Lãnh lương về, ảnh biểu chỉ: “Cất đi!”. Là chỉ bèn riu ríu nghe lời ảnh đem cất tiền vô túi áo khỉ của chỉ!
Anh Mười Nhịn triết lý vụn như vầy: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng nhiều tiền hơn. Hạnh phúc gia đình, quan hệ vợ chồng cũng không là ngoại lệ.
Hãy nhìn qua nước Bắc Triều Tiên! Kim Chính Ân tự Ủn, mặt như con heo ‘nọc’ cũng ‘sắm’ được con vợ đẹp quá chừng?! Nếu, Ủn không có quyền và có tiền thì còn lâu chú mới rớ được cọng ‘lông’…chưn của em nhá!
Xưa giờ ai cũng biết: “Tiền là Tiên, là Phật. Là sức bật tuổi trẻ. Là sức khỏe tuổi già. Là cái đà danh vọng. Là cái lọng che thân. Là cái cân công lý. Có tiền là hết ý !!!”
Mấy anh Mít mình thường hay nói: “Tiền là Tiên, là Phật. Là sức bật con người. Là nụ cười người ấy!” Mấy em Úc cũng nói y chang như vậy: “No money! No Honey!”
Vì: Em sẽ lấy một anh chàng nghèo kiết xác, nghèo mạt rệp, nghèo rớt mùng tơi hay em kết hôn với một người, ít nhứt đi cày phải có đủ tiền cho em sống sót để mà yêu chớ? Tình yêu đâu có cầm bán được để có tiền mua thực phẩm?”
Anh Mười Nhịn nói: “Khi đã thành vợ thành chồng, nghĩa là ván đã đóng thuyền, khi người nữ chiếm được chính quyền làm chủ tình thế. Vợ chúa chồng tôi là thôi rồi Lượm ơi! Chớ hồi còn là tình nhân, em cũng dám ‘chi’ lắm!”
Giống Lan /Lệ Thủy căn dặn Ðiệp/Trọng Hữu rằng: “Ðây chút tiền mọn từ lâu em dành dụm, trao anh làm lộ phí đường xa. Mai mốt đây khi danh phận rỡ ràng, xin chớ phụ phàng tình xưa duyên cũ!”.
Lan đầu tư vô Ðiệp giống như giờ em Lan mua ‘Bitcoin’, tiền ảo vậy mà! Xui cái là Lan bỏ ống nhầm người vong phụ, em bị ‘bankrupt’ (khánh tận), buồn quá bỏ đi tu rồi chết ngắt!
Từ bài học táng mạng vì tình của Nguyễn Thị Lan, xác thân còn đó hồn tan lâu rồi, nên mấy em thời buổi nầy thực dụng như là Mỹ. Không tiền thì chẳng có anh yêu gì ráo trọi! Ai mà không ‘yêu’ tiền? Vì yêu người là một chuyện; lấy người làm chồng là chuyện khác?!
Lúc mới đượm sơ sơ; chưa tới mức nồng nàn hương lửa ba sinh, em đã đem bàn tính ra, khỏ chữ tình ‘cóc cóc’ để xem binh đường nào có lợi? Thủ hay dương? Câu rê hay câu nhấp? Còn lập gia thất rồi, xuất giá tòng phu thì ngu sao không ‘thủ’ cẳng tiền riêng cho nó chắc ăn!
Như trong các gia đình người Nhựt, vợ cầm tiền. Tháng tháng, chồng đưa vợ tiền để trả tiền nhà, tiền bill, tiền chợ. Vợ đưa lại chồng tiền túi, chừng 30,000-yen khoảng 300 đô Mỹ gọi là ‘kozukai’ đề phòng ảnh ra đường đạp bánh tráng mà có tiền đền.
Sau khi chi dụng cho gia đình, còn dư chút đỉnh, thì em giấu vào một nơi bí mật, phòng những ngày mưa. Mà ngay cả ông chồng cũng không biết nó nằm ở đâu và được bao nhiêu rồi?! Tiếng Nhựt gọi cái hành động thủ cẳng đó là: ‘heso kuri’. (Cái vụ này giống chuyện con vợ tui đó nhe!)
Mà đâu phải vợ Nhựt hay vợ tui, vợ Mỹ cũng thế! Theo tạp chí Time, chuyện vợ giấu tiền để riêng không phải là chuyện mới mẻ gì. Nó có từ thời tạo thiên lập địa, thuở từ cái đám cưới đầu tiên của nhân loại.
Một cuộc khảo sát 1,000 phụ nữ có đi làm vào năm 1995, 13% các bà giấu tiền riêng. Mà bà nào trải qua hai ba đời chồng rồi thì còn thủ kỹ hơn nữa. Theo thống kê 71% quý bà ở với đời chồng thứ hai có giấu tiền riêng.
Em giấu; ngu gì anh không giấu?! Nên mấy ông Nhựt, dù là truyền thống võ sĩ đạo, danh dự là trọng, chuyện gì cũng quang minh chính đại, đường đường chính chính, cũng giấu như thường. Mấy thằng chả cũng bỏ một số tiền bí mật cho riêng mình trong tủ có khóa ở sở làm. Tiền đó dành để đi nhậu, bù khú với bạn cùng sở. Nhậu cho tới chiếc xe lửa cuối cùng trong đêm say, ‘quỷnh củ tỉ’ mới lết về nhà.
Tiền giấu vợ xài cho đã chớ không ‘quờ quạng’ giấu tiền như ông Úc ‘thòi lòi’ ở Sydney. Chẳng qua thằng chả bán chiếc xe ‘Toyota Supra sport’ được 15 ngàn đô Úc. Thay vì giấu dưới tấm nệm trong phòng ngủ hay chôn ở sân sau thì ông giấu vô lò nướng ít khi dùng. Xui cho ông là vợ ông lại xài cái lò để nướng gà cho hai đứa con ăn. Bà nướng gà và nướng luôn số tiền ông giấu. Khi khói bốc lên mù mịt nghe ông la trời. Tiền ổng nói để trả thêm vào tiền nhà cho nhà ‘bank’. Bà mới biết nên khóc ròng!
Nếu những gì ông nói là thật; thì giấu vợ làm quái gì? May phước là tiền Úc làm bằng giấy ‘polyme’ chứ không phải bằng ‘plastic’ như đồng Gia kim của Gia Nã Ðại. Chứ bằng ‘plastic’, gặp nóng, nó chảy tiêu hết; thì ông ‘húp cháo rùa’ rồi.
Ngân hàng Trữ kim Úc Châu kêu ông ra ngân hàng Westpac, nơi cho ông mượn tiền mua nhà, xin giúp đỡ. Nếu tiền cháy dưới 20% ông nhận lại đầy đủ. Cháy trên 20% còn bao nhiêu phần trăm thì nhận lại bấy nhiêu phần trăm còn lại của giá trị số tiền bị cháy. Thôi của đổ, hốt lại được đồng nào hay đồng nấy vậy ông ơi. Cho bỏ cái tật giấu tiền với vợ nha ông!
Còn ở Florida, USA, một bà cụ 90, góa chồng cũng khá lâu. Nhớ chồng yêu và những ngày mặn nồng năm cũ; bà đem cuồn ‘film’ đựng trong hộp, quay cảnh sum họp gia đình hồi năm nẳm, đến Walmart gần nhà để nó chuyển từ ‘film’ nhựa ra DVD cho bà giữ làm kỷ niệm. Walmart gởi cho ‘Yes Video’ ở Georgia làm. Ở đó người ta khám phá ra 3,100 đô Mỹ giấu ở trong hộp đựng ‘film’ và muốn trả lại cho bà cụ may mắn này.
Năm 1996, chồng bà, ông Mickey Weiner về hưu được hai tháng thì mất. Hồi sinh tiền, ông thường nói là muốn dành tiền để đi Do Thái. Ông mất đi mà ước vọng chưa thành. Thương người ‘cày tới chết’!
Còn anh Mười Nhịn là ‘cu li’, lương ba cọc ba đồng, có đồng nào là xào đồng nấy, chỉ đủ tiền đưa cho vợ trả tiền nhà, tiền bill, tiền chợ, có dư cắc nào đâu mà giấu vợ… để năm nay ba đau, năm sau má ốm mà có cớ ‘phịa’ với má thằng cu để bay về Việt Nam bia ôm, bia iếc.
Vả lại Mười Nhịn vốn là ông chồng ngoan ngoãn: “Nhớ người yêu trút ống cho anh ăn học, nguyện trọn một đời không vong phụ đổi thay?”
Không những không ‘vong phụ đổi thay’ mà Mười Nhịn còn cung kính với vợ mình. Ảnh nói: “Nhỏ má nuôi tui. Nấu cơm cho tui ăn; giặt áo cho tui mặc. Má dạy dỗ tui. Lớn lên con vợ tui cũng làm y hịt như vậy. Vợ nuôi tui. Vợ dạy tui. Thì tui đối xử cung kính với Má bầy trẻ y hịt như đối xử với Má tui là hành động hợp lý phải không nè?
Rồi mới đây nè! Kỷ niệm 50 năm ngày cưới, hai vợ chồng Mười Nhịn tổ chức một bữa tiệc mà bàn ăn trang hoàng toàn bông hồng vàng để ăn mừng ‘đám cưới vàng’ của đôi trẻ.
Ăn uống no say, em yêu, tức con vợ tui, bạn từ thời thơ ấu của chị Nhẫn, vợ anh Mười Nhịn, và vài em khác đã gãy đổ tình ta đến đôi ba lần, muốn học hỏi kinh nghiệm của vợ Mười Nhịn. Sao con đường tình lận đận em đi lại bền lâu đến thế? Có phải nàng tên Nhẫn mà chàng tên Nhịn, vợ chồng nhẫn nhịn với nhau không?
Vợ Mười Nhịn cười khè khè: Nhẫn không phải là kiên trì, chịu khó gì đâu! Nhẫn đây là: tàn nhẫn. Tàn nhẫn đến mức thằng chả phải đầu hàng. Phải nhịn không chỉ một lần mà mười lần cũng phải nhịn hết ráo, cho trời yên, bể lặng, cửa nhà êm ấm.
Mình đối xử với chồng như một cục vàng. Vàng là kim loại mềm, dễ uốn! Dễ uốn nhưng mình đừng quá tay làm anh yêu bị gãy nhé! Hãy dịu dàng, kín đáo xét tài khoản ngân hàng, tìm biết mật mã ‘Facebook’ của anh yêu. Chớ tin ai kể cả chồng của ta. Nhưng cũng phải biết tha thứ cho chồng khi chính chúng ta đã làm sai!”
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.