This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Gần tết, nhiều anh em được thăm nuôi. Thân nhân, dù có khó khăn thế nào, tết sắp đến cũng cố gắng đến thăm người tù, mang theo chút quà để an ủi.
Những ngày ấy, tù được gọi thăm nuôi nhiều, trong số có Minh.
Minh là người “hớt tóc dạo”.
Có nghĩa rằng công việc của anh là hớt tóc cho tù. Mỗi ngày, anh vác cái ghế xếp lên một vai, vai kia mang môt cái bị, đựng “tông-đơ” (tondeuse) do trại phát và một cái dao cạo râu “tự biên tự diễn” – có nghĩa vật dụng do tù tự làm ra để dùng. Anh đi lòng vòng, hết đội nầy qua đội khác, hớt tóc cho tù. Có lẽ anh cũng được tụi nó tin tưởng mới cho đi lang thang một mình như vậy.
Ai chẳng hớt tóc, ai chẳng bị anh đè đầu ra hớt tóc, nên ai cũng biết anh. Anh bị mất gà, anh than vãn việc mất gà, nên việc anh bị mất gà, ai cũng biết.
Hôm vợ lên thăm, Minh được vợ cho một con gà sống, vợ biểu để ba ngày tết làm gà mà ăn. Nhờ công việc anh làm, anh có thể thoải mái đi lui đi tới, trong trại cũng như ngoài trại nên anh mới biểu vợ đem gà sống lên cho. Trong khi tết chưa tới, anh có thể gởi con gà sống ở Nhà Chăn Nuôi. Những người tù làm ở đó, anh cũng quen vì thường đến hớt tóc cho họ.
Thăm nuôi xong, vợ ra về, còn Minh gánh quà vào trại. Tới cổng, anh đặt gánh quà xuống, mở banh ra mọi thứ để cán bộ trực trại là cán bộ Lâm và cán bộ Viễn kiểm tra.
Cán bộ Viễn nêu lý do trại không cho nuôi gà nên tịch thu. Minh giải thích thế nào cũng không được, đành chịu mất gà.
Minh được anh em làm ở nhà bếp báo cho biết, tối hôm đó, cán bộ Lâm, cán bộ Viễn cùng mấy “cán bộ, cán xe” gì đó, làm thịt con gà của Minh, nấu cháo, xé thịt ăn với nhau vui vẻ lắm, Minh càng thấy tức, càng thấy thương vợ công khó đem gà cho chồng mà bị cướp mất.
Nếu như ở ngoài đời, bị mất gà, đứng chổng mông lên, ngó sang hàng xóm “mở vô lum” “bài chưởi mất gà” cũng đỡ tức chút nào. Ở trại tù, bị cán bộ cướp mất gà mà không nói được, cải gì cũng không được. “Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”. Lý của thằng cai tù bao giờ cũng mạnh hơn lý của người tù. Đó cũng là…
“Mặt trời chân lý chiếu qua tim” như Tố Hữu làm thơ… “cách mạng” vậy.
Minh đi hớt tóc từ đội nầy qua đội khác, nên bài ca tả oán mất gà của Minh cũng theo Minh mà đi từ đội nầy qua đội khác, và những “cái loa phát thanh” trong mỗi đội cũng vội vàng phát ra cho toàn đội cùng nghe chuyện “Cán bô Viễn cướp gà cải tạo.”
Thế rồi, nghe anh em khuyên, Minh làm đơn gởi lên trại trưởng, khiếu nại việc bị mất gà. Trung úy Nở, trại phó xử, biểu Viễn phải trả gà lại cho Minh. Viễn ra Nhà Chăn Nuôi xin một con gà. Trại có gà lớn nhưng muốn cho cán bộ Viễn gà thì phải xin phép trại trưởng. Viễn không muốn vì biết “trên” sẽ không cho. Cuối cùng, Viễn xin được ở Nhà Chăn Nuôi một con gà con bằng nắm tay. Con gà con bỏ ăn đã hai ngày nay, coi bộ sắp chầu Diêm Vương. Báo cáo gà con bị dịch chết thì dễ cho Nhà Chăn Nuôi. Viễn đem con gà bằng nắm tay đền cho Minh, thay cho con gà sống bự.
Hôm ấy, chủ nhựt, khỏi đi lao động. Buổi sáng, sau khi “mở chuồng” (tức mở cửa phòng giam), anh em tù tỏa ra, người xuống bếp xin nước sôi, người kiếm chỗ kín đáo thổi lò nấu ăn sáng. Phải tìm chỗ kín đáo vì sợ cán bộ bắt, tịch thu. Người khác chạy quanh sân hay vào trong hội trường tập thể dục.
Trong hội trường có tấm bảng.
Quá sáng một chút, bỗng anh em tù kháo nhau trên tấm bảng ở hội trường, ai đó dán một bài thơ về việc Minh bị mất gà. Bài thơ như sau:
Cán bộ Viễn cướp gà cải tạo,
Bắt gà về nấu cháo ăn chơi
Người đâu có kẻ lạ đời
Ban ngày cướp của của người tay không! (1)
Của đã mất đừng mong được trả
Lấy làm gì gà lớn nắm tay
Nhang ròng ba nén thắp ngay
Xí cô hồn, vái cho mầy thăng luôn
Để mày khỏi xưng hùng xưng bá
Khỏi ta đây cán bộ, cán xe
Cán xe, xe cán một bè
Ngàn năm bia miệng làm vè chưởi chơi. (2)
Mãi tới trưa, cán bộ trực trại mới biết bèn ra lệnh cho mấy ông tù làm “Thông tin Văn hóa” lột bài thơ đem nộp cho cán bộ. Bài thơ để được lâu, anh em tù xúm nhau đọc, coi bộ khoái chí.
Đến trưa, tôi và anh Lã Trung Tâm ngồi ăn chung. Anh ấy nói với tôi:
– “Tao biết đứa nào làm bài thơ đó!”
– “Anh tài khôn. Nó viết bằng tay trái, làm sao so chữ cho ra?!”
Anh Lã Trung Tâm cười, sung sướng:
– “Mày tự thú đó há! Mày không làm bài thơ đó, làm sao mầy biết viết bằng tay trái.”
Tôi cố chống chế:
– “Nét chữ ngoằn ngèo, ai không biết viết bằng tay trái.”
– “Tao hỏi mầy. Trại nầy ai biết làm thơ. Mày dạy Việt Văn thì mày biết làm thơ.” Anh ta cười, nói.
– “Chắc chi! Không phải ai dạy Việt Văn cũng biết làm thơ.” Tôi cải.
– “Tao mà như tụi nó, tao kiếm thằng nào biết thơ văn như mầy, tao điều tra. Nội cái kiểu nói bông lơn, cái gì cũng ví von bằng thơ là tìm ra dễ không.” Anh Lã Trung Tâm giải thích.
Tôi lại cố cải:
– “Tui có ví von thơ văn gì đâu?”
– “Có chớ sao không. Hôm cái thằng gì bệnh gần chết, trại cho gia đình đem xe lên đón về, chỉ chờ đem chôn, mầy nhớ mầy nói câu gì không?” Anh Lã Trung Tâm hỏi.
Tôi nói:
“Bậu ra cho khỏi tay choa,
Thì xương bậu nát thì da bậu mòn.”
– “Mày nhớ khi mầy đọc câu đó xong, Lê Chí Đồng vỗ vai mầy mà cười. Tao biết hai thằng phản động. Mày chối đằng nào?”
Tôi cười:
– “Tui không muốn vô cát-xô. Anh đừng nói nhiều nghe anh.”
– “Vậy là mầy nhận “tội” rồi nghe!” Nói xong, Lã Trung Tâm cười ha hả, đắc thắng!
Dziệt Cộng đến đem chúng tôi đi là “Công An Bò Vàng” (tên thường gọi hồi đó). Xe đưa chúng tôi đi là loại xe tải dân sự của Saigon vẫn thấy trước nay, có cả hơn chục chiếc, nên số lượng người đi chuyến nầy cũng đông. Loại xe nầy có mui thiếc, phía sau là cửa song sắt chứ không bít bùng như Molotova.
Chúng tôi, những người cùng đi từ Trảng Lớn phần nhiều “rơi rụng” dọc đường, số đông bị đày ra Bắc. Số còn lại chỉ còn mấy “ngoe” như Trần Phú Trắc, Bùi Xuân Toàn, Nguyễn Đạo, Đào Sơn Bá… và tôi.
Nhờ xe không đóng bít bùng nên chúng tôi theo dõi được đường đi. Xe hướng ra Xuân Lộc, hơi mừng vì Xuân Lộc cũng gần Saigon. Nhưng qua khỏi Xuân Lộc rồi, xe còn đi tiếp trên quốc lộ 1. Tới ngã ba Ông Đồn, xe quẹo vào hướng về phía ga xe lửa Gia Rây. Qua khỏi Gia Rây, xe lại đi nữa. Đoạn đường nầy không trải nhựa, bụi lên mù mịt.
Mù mịt như đường tù!
Bên nầy là núi Chứa Chan, ngọn núi từng nghe tên nhưng trước nay chưa thấy bao giờ. “Chứa chan, Chán chưa?”, “Chứa chan, Chan chứa?”, “Chan chứa, Chưa chán!” Có ai đó nói mấy câu như trên! Nói đi nói lại, khi xuôi khi ngược cũng là “Núi Chứa Chan?”
Tình cảm của người Việt khá nhạy bén.
Chứa Chan nguyên là một ngọn núi lửa, đỉnh núi là một cái hồ còn chứa nước, là dấu tích miệng núi lửa xưa kia. Từ một cái hồ còn chứa nước trên đỉnh núi, người xưa đã nói đi, nói lại, về một hồ nước, như một thứ tình cảm của con người với con người hay con người với thiên nhiên!?
Thời kháng chiến chống Pháp, có phải đây là nơi quân du kích ẩn núp. Thời chế độ cũ, trên đỉnh núi có căn cứ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên, đây là một cao điểm có thể quan sát và kiểm soát toàn vùng, Quân Đội VNCH không thể bỏ qua. Vai trò của nó, tương tự như núi Bà Rá ở Phướng Long, Bà Đen ở Tây Ninh vậy!
Trên con đường đi vào, bên phải là “Đồi Phượng Vĩ”. Có người đưa tay chỉ chỏ, giải thích: Hậu cứ của Trung Đoàn 54 hay 56 (tôi không nhớ rõ), thuộc Sư Đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo. Thấy bóng người trên đồi, nhưng chúng tôi không nghĩ rằng nơi đó nay là trại tù.
“Đồi Phượng Vĩ” đi đánh nhau với bọn vô sản mà còn lãng mạn tiểu tư sản dữ, làm như đây là sân Trường Đồng Khánh không bằng!
Xe qua khỏi đồi Phượng Vĩ.
Đi đâu nữa mà xa vậy?
Con đường rừng mới mở. Xe chạy gập ghềnh.
Hình như đây là khu trại mới. Có ngôi nhà lá với tấm bảng đề “Nhà Thăm Nuôi” ở bên trái. Vậy là về đây, hy vọng được thăm nuôi. Qua một đoàn đường bằng phẳng, không xa lắm, xe dừng lại.
Một lúc sau, Công An ra lệnh xuống xe, sắp hàng.
Anh “Công An Bò Vàng” nầy tên Bảy, người thì nhỏ mà họng thì to, la mắng, nạt nộ om sòm, khiến nhiều người sợ. Anh ta biểu mọi người sắp hàng một, anh đếm từng người, đếm đi đếm lại những mấy lần mà không xong, không rõ vì anh ta “hoc hành tí chút” nên “đếm không ra” hay vô ý đếm lộn.
Công An Bảy là người Nam, trốn quân dịch, từng theo làm “đệ tử” Trung Úy Việt Cộng Nguyễn Ngọc trước 1975. Ngọc, cũng làm cán bộ ở trại nầy, nguyên là cán bộ miền Bắc xâm nhập, làm tình báo, ngụy trang chạy xe ba gác ở Chợ Cầu Muối, chưa từng bị Cảnh Sát Công An VNCH phát hiện vì anh ta có đủ giấy tờ căn cước, thẻ trưng binh, giấy hoãn dịch… “Có tiền mua tiên cũng được” huống chi thứ mấy giấy tờ vớ vẩn nầy. Sau 1975, Ngọc và Bảy trở thanh Công An Bộ Nội Vụ, được điều về Giá Rây coi tù cải tạo. Được mấy năm, Công An Bảy “tự ý xuất ngũ” về làm lơ xe chạy đường Saigon – Tây Ninh. Nhiều anh em tù cải tạo tình cờ gặp anh ta, anh lủi mất. “Cán bộ Cách Mạng” cũng thấy “xấu hổ” khi làm “lơ xe”, không “ngon bằng làm Công An” đấy hay sao?!
Phía bên hàng rào cây là trại giam.
Đối diện là một đám thanh niên nam nữ tò mò ra đứng xem? Họ là ai?
Sau mới biết bên phía đó có trại giam đang xây, do Công Ty Xây Dựng Số 1 đảm trách. Những thanh niên nam nữ đó là công nhân của công ty nầy, phần đông là dân Saigon, còn trẻ lắm, không có ai từng tham gia chế độ cũ cả.
Sau một thời gian ngắn, gặp một vài người quen trong “Tổ Kỹ Thuật”, tổ đảm trách về kỹ thuật xây dựng như kỹ sư Hồ Phùng, một người cùng xóm, quen thân từ khi còn đi học, thẩm phán Đoàn Cảnh Thúy, mới hay rằng, đây là khu trại giam mới thành lập của bộ Nội Vụ Dziệt Cộng.
Xin nói rõ thêm về anh bạn Hồ Phùng nầy một chút.
Khi còn học ở trường Quốc Học, tôi ngụ ở Xóm Chợ Xép, phía trong Cửa Đông Ba. Xóm nầy có nhiều “quái kiệt”, quậy cũng dữ mà học giỏi thì “vô song”.
Hồ Phùng học sau Huỳnh Hữu Tuệ một lớp nhưng trước Huỳnh Hữu Ủy hai lớp. Hai ông họ Huỳnh nầy là con ông chú tôi.
Hồ Phùng học giỏi, “thi đâu đậu nấy”. Bẵng đi mấy chục năm sau khi tôi rời Xóm Chợ Xép, tình cờ gặp Hồ Phùng ở đây, trong trại Tù Cải Tạo. Vì anh là kỹ sư lâm nghiệp, nên Việt Cộng chọn anh vào “Toán Kỹ Thuật” lo việc lập kế hoạch phá rừng, trồng bắp, trồng mì, đắp đập, làm cầu, v.v…
Ông kỹ sư lâm nghiệp cũng trãi qua nhiều “tầng địa ngục”, mặc dù thời gian tù của anh chỉ hơn ba năm chút ít, đủ để chính phủ Mỹ chọn cho rời VN theo “Chương Trình HO” (gọi theo cách Dziệt Cộng, là “diện HO”).
Hồ Phùng qua Mỹ cuối năm 1989. Trong số anh em đồng nghiệp Thủy Lâm, Hồ Phùng làm lại nghề cũ: Thủy Lâm, cho tiểu bang Washington, miền Tây Bắc Hoa Kỳ, là nơi có tiềm năng lâm nghiệp nổi tiếng. Mỗi mùa hè là mùa cháy rừng (fire season) Hồ Phùng tình nguyện đi chữa lửa rừng (wildland firefighter). Nay tuổi đã lớn, kỹ sư Phùng làm việc trong các trại chữa lửa (Fire camp helper).
Tháng 6 năm 1975, cũng như tôi, anh vào Tabert, ăn cơm nhà hàng Continental, rồi lên xe Molotova mà lên “Trại Tù Binh Phiến Loạn Biên Hòa” (tên chế độ cũ). Chỉ ít lâu sau, gần ngày đưa ông Táo, lần đầu tiên anh được đi tàu thủy, lên HQ 403 ra “thăm” (?!) Phú Quốc. Cũng là lần đầu tiên anh ta đến đây. Chưa đủ thời gian để ngắm “đất nước ta rừng vàng biển bạc” thì anh lại xuống tàu HQ 502 để về Trảng Lớn, rồi lên Đồng Ban, cũng ở Tây Ninh. Thế rồi Hồ Phùng và các bạn được giao cho “Công An quản lý”, anh bị đưa về Z30-A, chuyển vô Trại-B.
Khi tôi chuyển về Trại-B Xuân Lộc, một buổi sáng thấy Hồ Phùng, vai mang bị, tay cầm cuốc xếp hàng “đi lao động”. Chúng chỉ kịp ngoắt tay nhau ngẩn ngơ mà thôi. Về sau thì có thể ngoắt tay nhau mỗi sáng khi ra sân tập trung, chuẩn bị nhận cuốc để cùng “lao động là vinh quang”.
Ít lâu sau, Hồ Phùng được tha. Khi đó, “trại đá” tức là trại bên cạnh, do xí Nghiệp Xây Dựng Số 1 xây chưa xong. Các nhà “biệt giam” ở phía sau cũng đang xây nửa chừng.
Phùng kể:
Một bữa nọ, Công An xuống trại hỏi ai biết đo rừng, đo đất, gọi là điền địa. Cùng đi tù, trong nhóm học Nông Lâm Súc, ai lại không biết Hồ Phùng là Kỹ sư Thủy Lâm, lại có làm cho Ty Điền Địa Gia Định nữa.
Được dịp khỏi vác cuốc và nhân cơ hội này móc kéo thêm vài anh em khác đồng nghiệp trước đây cũng khỏi vác cuốc, bắt đầu “công tác”. Toán này được giao cho một bản đồ tọa đồ ngày xưa và một cái địa bàn cũ.
Bấy giờ, không có giấy khổ lớn nên công an cắt một bao giấy xi-măng và một cây viết chì để vẽ bản đồ ranh giới hai bên đơn vị. Ngoài ra chặt hai ba cây để làm cây tiêu (jetons) để nhắm hướng. Sau khi dùng địa bàn nhắm hướng cho mấy cây tiêu thì toán chặt cây căn cứ vào đó chặt, đốn cách xa mỗi bên 5 mét.
“Khi cầm giấy tha do Trịnh Văn Thích ký xong rồi, tui đi một mạch, dù biết trong lệnh tha, ghi sai địa chỉ: Nhà tôi ở Thị Nghè, thuộc Quận Bình Thạnh, nhưng giấy tha lại ghi thuộc Quận Tân Bình. Về nhà đã, sai tính sau. Xin điều chỉnh, không chừng có khi không có giấy tha mà về, như trường hợp ông kỹ sư Khôi vậy.
Anh chàng Khôi là kỹ sư tốt nghiệp bên Tây về nước, được tha về sớm. Khôi hí hửng ôm khăn gói rời trại giam, đi được một đoạn đường thì Công An đuổi theo gọi trở lui. Về sau, khi nhiều người đã được tha về rồi, Khôi cũng không thấy gọi tên mình được tha lần nữa. Người ta “quên hồ sơ” kỹ sư Khôi hay vì anh ta du học ở Pháp, trở thành “tay sai của Đế Quốc Tư Bản” hay cái gì khác. Thôi thì “Giết lầm hơn bỏ sót”, cứ cho anh chàng kỹ sư Khôi ngồi thêm năm, bảy năm tù cho chắc chuyện.
Có một thời gian ngắn. Hồ Phùng cùng một toán vài ba người, gọi là “Toán Kỹ Thuật” đi chặt cây, phát quang, tìm đất, tìm gỗ quí…
Mục đích Trại Trưởng Trung Tá Dziệt Cộng Trịnh Văn Thích là cái gì?
Trước hết là “tư lợi”.
“Nhất phá sơn lâm…”
Chỉ ba bốn năm sau là Thích giàu có.
“Giàu đổi bạn…”
Y mua xe Fiat cho vợ bé, “ăn trắng mặc trơn”, đẹp như “tấm kính dựng”, người miền Nam;
“Sang đổi vợ” là thay cho bà nhà quê răng đen mõ quạ, xưa kia là “cô du kích” ngủ với cả chục thằng du kích trước khi về làm vợ Thích. Chuyện nầy, bọn Công An Z30-A đều biết cả đấy, chính “cán bộ” nói lại cho “tù Cải Tạo” nghe chớ không ai vô đây cả!
Thứ hai là mục đích “chiến lược”
Một, sau này Hồ Phùng nói cho tôi biết Trại Tù Z30-A làm ranh giới giữa trại tù do công an quản lý và một đơn vị không quân bên cạnh.
Hai, trại tù Cải Tạo Z30-A thành lập chưa được bao lâu, Công An cho một đội đi rừng, đội do Bùi Bá Dành làm đội trưởng, chuyên lo công việc phát quang một vòng đai quanh trại để kiểm soát và ngăn chận tù Cải Tạo trốn thoát.
Ba, nhìn vào bản đồ Miền Đông Nam Phần, người ta thấy một vùng rừng dày đặc nối tiếp nhau như sau:
-Vùng Mỏ Vẹt của Kampuchia, vượt biên giới, Cộng Sản có thể đến mật khu Ba Thu vùng Lương Hòa, Hậu Nghĩa; từ đây Dziệt Cộng xâm nhập phía Nam thành phố Saigon, như chúng đã thực hiện trong Tết Mậu Thân.
-Cũng từ Vùng Mỏ Vẹt, Việt Cộng vào mật khu Dương Minh Châu. Từ Dương Minh Châu, Dziệt Cộng có thể đi Phước Long, Bình Long. (Từ phía biên giới Kampuchia, Việt Cộng cũng có thể vào hai tỉnh nầy), đi về vùng Trị An, La Ngà,- phía đông-bắc Saigon, liên kết với vùng Định Quán, (Quốc Lộ 15). Trong cuộc chiến tranh trước – 1945-54 – Việt Minh đánh bại quân Pháp ở Định Quán.
Từ Định Quán, Cộng Sản có thể tiến về Võ Đắt, Võ Xu. Cũng từ nơi đây, chúng vượt qua Rừng Lá để vào mật khu Mây Tàu.
-Nhìn chung, từ Khu Mỏ Vẹt của Kampuchia, Việt Cộng có một vùng rừng núi chằng chịt với nhau, ra tới biển đông ở Long Hải, Đất Đỏ. Đây là vùng Miền Đông Nam Bộ.
-Để ngăn chận hoạt động của Cộng Sản, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập các khu trù mật, định cư chia cắt vùng hoạt động của chúng.
Các khu định cư gồm có:
-Định Quán, Gia Kiệm, Võ Dõng… thuộc huyện Thống Nhất, (tên mới của Việt Cộng) không cho Việt Cộng mở được các trận đánh lớn trên Quốc Lộ 15 như cuộc chiến tranh trước.
-Khu định cư Phước Tỉnh (phía nam mật khu Mây Tầu) và Bình Tuy (Phía bắc mật khu nầy), thu hẹp vùng hoạt động của mật khu Mây Tầu. Không như vùng Cà Mâu, Chương Thiện, thuyền tầu của Việt Cộng không vào vùng bờ biển mật khu Mây Tầu được vì rất dễ bị dân chúng phát giác.
Việt Cộng không còn khu vực “tiếp tế hậu cần” ở Miền Đông Nam Bộ ngoài cánh đồng lúa ở Võ Đắt, Võ Xu và dân chúng thiên Cộng ở vùng Đất Đỏ.
Sau khi “tù Cải Tạo” về, tôi từng đi từ Trị An, La Ngà qua đến Sóc Lu, Võ Dõng, Gia Kiệm. Rừng ở khu vực nầy bị triệt hạ hoàn toàn, trồng ca-phê và cao-su, không còn rừng rậm nữa.
-Hai bên Quốc Lộ 15, từ Định Quán trở xuống ngã ba Dầu Giây, là vùng “khai thác trắng”, có nghĩa là phá sạch rừng.
Để làm chi?
Cộng Sản không tin tưởng đồng bào di cư vùng Giốc Mơ Gia Kiệm, Định Quán… phá sạch rừng để không còn nơi ẩn núp, hoạt động của “Phục Quốc”. Vùng nầy, nếu có “Phục Quốc”, họ sẽ được sự hỗ trợ, tiếp tế từ các khu vực đồng bào di cư nói trên.
Vị trí vùng núi Chứa Chan, khi còn chiến tranh, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa lập bản doanh một trung đoàn ở “Đồi Phượng”. Từ đó, các đơn vị quân đội có thể mở các cuộc hành quân chung quanh.
Tuy nhiê, nhờ địa thế là vùng rừng rậm, dù có một trung đoàn QLVNCH đóng ở đây, cũng không tiêu diệt Dziệt Cộng được. Đóng ở khu vực nầy, Dziệt Cộng đu đưa như đưa võng. Quân đội VNCH đánh phía nầy, bọn chúng chém về qua phía kia. Đánh phía Nam, Dziệt Cộng rút về bắc, hướng Phước Long, Bình Long. Đánh cả bốn phía thì không đủ quân, v.v…
Từ kinh nghiệm của chúng, những trại tù Dziệt Cộng lập ra đều ở trong rừng sâu, có tính cách chiến lược: Không cho những lực lượng chống Cộng như Phục quốc ẩn núp ở đó.
Tôi thuộc Đội 19, quản giáo tên là Chinh (không rõ họ), đội trưởng là Trương Đình Gòn; và người theo tôi suốt cả quãng đường ra đi từ trường Taberd là Trần Phú Trắc, anh bạn cũ từ hồi học tiểu học nay mới gặp lại là Trần Văn Diệm. Diệm và tôi gặp nhau, ai cũng mừng, chọn chỗ nằm bên cạnh nhau.
Những người sau nầy lần hồi quen thân gồm có ông Âu Văn Minh, cựu đại úy Cảnh Sát, chồng trước bà Bích Vân, vợ tướng Bùi Thế Lân, và chị bà Thẩm mỹ viện Bích Ngọc (Xem thêm ở bài “Rối loạn đường tiêu hóa”), Lê Văn Tân (thầy đấm bóp kiêm coi tướng, xem thêm bài cuối), Trần Vạng Phước, Nguyễn Quảng Thành (Trắc đặt tên là Thành gù) Đỗ Văn Kim (gọi là Kim voi, vì to con, quê ở Bình Dương), Huỳnh Văn Kim (gọi là Kim nhí, vì nhỏ con, quê ở Chợ Lớn, gốc Tầu), Lê Viết, Vũ Công Ruệ, “dân ri-cư”, cụ Lê Văn Ất; người có “gan cóc tía” là nhà thơ Nguyễn Hoàng Thu, tác giả tập thơ “Nét Gầy và Mây” – gầy như thi sĩ vậy – Lê Văn Cầu, Trần Đình Châu… mỗi người có một chuyện… vui.
Vũ Công Ruệ, nhân viên cục Trung ương Tình báo của ông tướng Bình, nhận nhiệm vụ “lọt” vô bộ tham mưu tranh cử của tướng Kỳ khi ông nầy tranh cử tổng thống năm 1971. (Người trong ban tham mưu nầy, tôi còn biết, – biết chớ không quen -, là đại úy không quân Nguyễn Đức Miễn, cử nhân luật).
Chính Ruệ là người cầm hồ sơ, đi với đồng bọn, đến Tối Cao Pháp Viện nạp đơn xin ứng cử tổng thống của tướng Kỳ. Về sau, thấy không “xơ múi” gì được, ông Kỳ rút lui.
Một nhân viên tình báo (thuộc phe ông Thiệu), lọt vô ban tham mưu phe tướng Kỳ, hoạt động như thế mà phe của tướng Kỳ mù tịt, không biết gì cả. Thế thì ông Kỳ không thua ông Thiệu thế nào được?! Khi Ruệ đi tù cải tạo, theo lệnh Dziệt Cộng, khai hết ra, y lại còn khoe việc ấy với nhiều người. “Chính chị chính em” của miền Nam như vậy đó, lo chống nhau hơn chống Cộng?!
Nhân viên tình báo, ngoài Ruệ, còn cụ Ất.
Khi còn ở quân đội, ông phục vụ ở đơn vị Công Binh Tạo Tác tại Huế, từng “thi đua dựng cột cờ cao” với Cộng Sản Bắc Việt.
Sau khi nước ta bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, ngang sông Bến Hai, mỗi bên bờ sông, ngang cầu Hiền Lương, có một cột cờ. Ban đầu, cột cờ miền Nam treo cờ vàng quốc gia, cao hơn cột cờ Bắc Việt, treo cờ đỏ sao vàng. Năm 1957, Bắc Việt thay cột cờ cao hơn miền Nam. Tức thì đơn vị Công Binh Tạo Tác của cụ Ất được lệnh dựng một cột cờ cao hơn cột cờ phía Bắc. Cụ Ất tham gia việc dựng cột cờ nầy, cột cờ làm bằng hộp sắt tròn đựng đạn 105 và 155 ly. Bắc Việt địch không lại, đành chịu thua.
Giải ngũ, cụ Ất về làm “tù trưởng” ở Cục Trung Ương Tình Báo. Gọi cụ là “tù trưởng” vì công việc của cụ là coi sóc tù, cho ăn, cho ngủ, chăm sóc y tế, và dẫn lên dẫn về giữa phòng khai thác tù nhân và phòng giam. Do đó, cụ biết hầu hềt những người bị bắt giam ở đây. Hỏi cụ Ất có tay Dziệt Cộng nào ở tù mà “ngon lành” không? Cụ lắc đầu.
Cụ Ất thuộc hạng người “xưa”, gốc “Rân ri cư”, còn “lói” ngọng, “nàm” gì thì phải “nàm” cho đàng hoàng, không “nàm” thì thôi. Thành ra chúng tôi bị ông cụ chê là “nao động nu nơ” (lao động lu lơ), có nghĩa là làm cầm chừng, “nấy nệ”, không chăm chỉ. Vì vậy, khi mệt, cụ tự động nghỉ tay tại chỗ, quản giáo Chinh không cự nự ông cụ. Cũng được mấy năm, cụ yếu sức, xếp vào hàng người già, được ở nhà quét phòng, quét sân, hốt rác, không đi lao động ngoài bãi nữa.
Mới vô trại có vài hôm đã tranh nhau chỗ nằm, vì nhà giam “quá tải tù cải tạo”.
Trần Đình Châu, người Huế, có ông cậu ruột là tỉnh ủy viên tỉnh Đồng Nai, nên thái độ “anh trọ trẹ” nầy đi tù cải tạo mà làm như “công chúa hạ giá”, xa cách, coi thường anh em trong đội. Lê văn Cầu, chỗ nằm sát bên. Hai người thường khiếu nại nhau vì chỗ nằm bị lấn qua lấn lại. Việc khiếu nại đưa ra họp đội xử. Anh chàng “Cầu Bắc kỳ, rân ri cư” thì khôn khéo, mềm mỏng, thường nhỏ nhẹ than vản bị chèn ép, bị thua thiệt. Châu thì thái độ xa cách, “hách xì xằng” nên việc thưa qua thưa lại chẳng đi tới đâu! Cũng may, chưa được vài tháng thì ông Châu được tha về nhờ ông cậu bảo lãnh cho.
Mỗi nhà giam dài khoảng ba chục mét, lợp “tôn ximăng”, vách ván. Sàn nằm bằng gỗ có hai tầng trên dưới, nhốt 3 đội, khoảng 120 người, chật ních. Cuối phòng có chỗ đi tiêu, đi tiểu. Mỗi chiều, ăn xong, kẻng đánh, tập trung trước cửa phòng theo từng đội. Công An trực trại điểm danh xong, cho vào phòng, khóa cửa lại.
Sáng, có kẻng đánh thức. Công An trực trại tới mở cửa cho tù ra, sắp hàng điểm danh. Sau đó, tù đi rửa mặt, “ăn điểm tâm” (khoai lang một củ, hay khoai mì một khúc, hoặc khoai mì xắt lát được nửa chén). Ăn rồi tập trung ở sân trại. Từng đội được gọi ra cổng đi “lao động là vinh quang, cuốc là số một”, hoặc lo “học tập tốt, lao động tốt để cách mạng xét cho sớm về sum họp với gia đình”, “an tâm học tập cải tạo”, v.v…
“Mỗi ngày như mọi ngày”, thường lao động luôn cả ngày thứ bảy, có khi cả ngày chủ nhựt, tùy theo “yêu cầu của cách mạng”, “mừng thắng nợi” gì đó, hoặc “mừng ba ngày “nễ nớn”, v.v…
Khi Phạm Tuân ngồi “póc ba-ga” để phi hành gia Gô-Rơ-Bátx-Cô của Liên Xô đưa lên không gian, nghiên cứu bèo hoa dâu trở về thì chủ nhật nào chúng tôi cũng phải đi cuốc đất “mừng thắng nợi” của “đồng chí Phạm Tuân”. Do bực mình và khổ cực, cứ một lát cuốc, cuốc xuống đất là chúng tôi kêu tên Phạm Tuân chưởi một tiếng. Bị chưởi đến thế mà thằng nầy vẫn sống dai!
Tới trại ngày đầu, qua ngày hôm sau, đội tôi đi lao động liền.
Việc trước tiên là đi khiêng cây rừng bên phía Trại Đá. Cây đã hạ xuống, thân to hơn cột nhà, chặt cành, nhưng còn nằm ngổn ngang, nay gom lại, đem đốt. Sau đó là đi đào gốc cây trong vòng rào trại. Cây đã hạ xuống rồi, chỉ còn gốc. Đội tôi được lệnh “bứng” các gốc cây ấy đi, lấp đất lại, bằng phẳng. Đào cả chục gốc cây, gốc nào gốc nấy to hơn người ôm, không phải là không nặng nhọc, khổ nhất là với những gốc cây có cái rễ cái to, đâm thẳng xuống đất, ngay giữa đám rễ cây um tùm
Diệm, cũng như tôi, cũng như phần đông anh em trong đội xuất thân “dài lưng tốn vải”, “học trò trói gà không chặt, buộc lạt không xong” nên khi lao động rất dễ gặp tai nạn, tự cuốc vào chân mình, dập chân, gãy tay, v.v…
Diệm là nạn nhân đầu tiên. Hôm ấy, anh ta và tôi khiêng một cái cây khá lớn. Đầu gộc là tôi, đầu ngọn dành cho anh ta. Vô ý khi bước xuống đống cây, tay anh đập nhằm một cành cây nằm sẵn dưới đất. Tay Diệm bị dập, máu chảy dữ. Diệm buông cây, la to: “Đau quá Hải ơi! Đau quá!” Thấy tay anh ta bị dập, quản giáo Chinh cho tôi đưa Diệm về Trạm Y tế của bác sĩ Trần Đình Đôn.
Bấy giờ thuốc cũ đang còn, Diệm được băng tay và cho thuốc, khỏi phải dùng Xuyên Tâm Liên là thứ thuốc sau nầy mới sáng chế ra, do “tính ưu việt của chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muốn nằm (ngủ).”
Cũng buồn về ông Diệm nầy tí chút. Cùng quê, học với nhau từ tiểu học, tới năm đệ lục, ông vô trường kỹ thuật Huế, rồi mỗi người một ngã, bây giờ mới gặp nhau. Hoàn cảnh Diệm rất đáng thương. Vợ sinh đứa con thứ hai thì qua đời vì giải phẩu, mặc dù anh của Diệm là bác sĩ Trần Văn Tích, cũng cứu nỗi cô em dâu, thành ra khi vô tù, bố anh phải lo chăm sóc cho hai đứa con nhỏ của Diệm. Thân sinh của Diệm là ông Thầy Thạnh, khi chúng tôi còn nhỏ, Thầy làm việc ở Ty Công Chánh Quảng Trị. Ông là người “thiệt thà” đến nỗi khi Diệm gởi thư về xin bố mua cho một đôi giày để “đi lao động”, ông ra Chợ Trời mua “hai chiếc giày một chân” nên Diệm không dùng được, chờ kỳ thăm tới lại phải gởi về.
Về trại nầy, chủ nhật mới được phát một chén cơm. Thường ngày ăn bắp, nấu luôn vỏ. Hột bắp cứng làm cho Diệm đau răng. Một đêm, thấy anh ta không ngủ, hỏi, Diệm bảo đau răng quá, ngồi cho bớt đau, bảo tôi: “Mày ngủ đi”.
Gần sang, Diệm thức tôi dậy, nói: “Tau ngồi lắc cái răng suốt đêm, bây giờ, tau nhổ ra được rồi, đỡ quá!”
Về sau, nhiều khi nghĩ tới việc Diệm ngồi suốt đêm lắc cái răng đau, để nhổ nó đi, tôi thấy sợ, thấy kinh hoàng vì cái chế độ “xã hội chủ nghĩa ưu việt” nầy. Hành động của Diệm không là ưu viêt hay sao?
Diệm là anh em chú bác (hay anh em ruột?) với bác sĩ Trần Văn Tích, có ông chú “tập kết” ở ngoài Bắc mới về Nam, đậu bằng “kỹ sư gạch chịu lửa”, đã làm đơn bảo lãnh cho Diệm. Vì vậy, Diệm thường nói: “Tau mới “gia đình cách mạng”. Mi có cha đi kháng chiến, chết trên chiến khu, nhưng ông chưa vô đảng, thành ra mi không được chi mô!”
Tôi buồn vì thái độ của bạn, không phải vì có “cách mạng” hay không “cách mạng”. Cha tôi theo kháng chiến chết bệnh ở Ba Lòng năm 1948. Anh cả tôi là Hồng Quang, chủ báo Ý Dân ở Huế, chống Pháp, bị Tây thủ tiêu năm 1950. Tôi ít thấy tự hào về cha, anh tôi tham gia kháng chiến chống Pháp. Những hy sinh ấy, đối với Cộng Sản chẳng là cái gì nên tôi không khai quá trình của cha và anh tôi trong lý lịch.
Tôi lại khai trong hồ sơ tôi có em là “Hùng móm”, đại đội trưởng 112, Tiểu Đoàn 11 Dù, hy sinh ở Cầu Lòn, gần ga xe lửa Quảng Trị, ngày 14 tháng 7 năm 1972. Nếu không khai, tôi thấy xấu hổ với em của tôi và “tội nghiệp” cho Hùng, đứa em út. Cái chết anh dũng của Hùng, với gia đình là sự vinh dự, nhất là với con cháu, không thể nào quên!
Chưa được bao lâu thì đội tôi bị sai đi phá rừng. Cây lớn, cây nhỏ hạ xuống hết, chất đống, vài bữa khô, châm lửa đốt, lấy đất trồng bắp. Tôi cùng khoảng 10 người khác thuộc nhóm hạ cây lớn, là những cây to bằng cột nhà trở lên. Những người còn lại thì hạ, chặt những cây nhỏ. Chúng tôi dùng loại dao mới rèn, có lẽ bằng loại “nhíp” xe hơi nên cũng bén, nhưng chặt lắm, dao sắc mấy cũng cùn.
Lê Văn Tân, chân bị thương ở xương, “cặp i-nôx bắt vít”, đi lại khó khăn nên được Đội Trưởng Trương Đình Gòn giao nhiệm vụ mài dao. Cứ gom lại năm bảy cây dao, đưa cho Tân xuống suối mài. Khi mệt quá, tôi cũng đưa dao cho Tân đi mài. Không có dao, ngồi nghỉ được một chút.
Một hôm, Tân thấy từ đống cây đang cháy có chú rùa, to bằng cái nón sắt của lính, từ trong đống lửa chạy ra. Tân vội vàng chạy tới, lật ngữa chú rùa, rồi bắt lấy, hy vọng hôm nay có món thịt rùa ngon, bù cho lâu ngày thèm thịt.
Tân lén đem về rùa trại, tính làm thịt.
Tôi nói đùa:
– “Ông không nên ăn thịt rùa. Rùa thuộc tứ linh, ăn vào gặp xui.”
Tân thiệt thà, hỏi lại:
– “Thiệt không?”
Tôi nói:
– “Sao không. Tui phục vụ ở miền Tây. Dân dưới đó, ông nào “điếc không sợ súng” mới dám nhậu rùa, cần đước. Rùa thuộc loại chậm chạp. Không sợ ăn vô lâu được tha về sao? Xui lắm!”
Gòn cũng nói:
– “Tui thuộc dân nhậu chì nhưng chẳng nhậu rùa bao giờ!”
Bản tính thật thà, Tân nghe lời tôi, nhốt rùa lại, sáng hôm sau “đi lao đông”, sẽ thả về rừng. Trước khi thả, Tân khắc vào mu rùa: Lê Văn Tân, đội 19.
Khi anh ta thả rùa ra, Vệ Binh, tức là mấy công an mang súng đi theo giữ tù, bắt được.
Vệ Binh và Quản Giáo gọi Tân lại, “khiển trách”:
– “Anh muốn báo tin cho ai núp lén trong rừng nầy mà ghi tên họ và số đội của anh vào rùa?”
Tân không trả lời được, bèn xin cán bộ đem rùa về trại. Hôm đó, Tân cũng còn sợ, không dám làm thịt rùa, nhưng sửa mấy chữ khắc trên mu rùa như sau: Lê Văn Txxx (xóa chữ â và chữ n). Chữ đội 19 thì anh sửa là 1937, năm sinh của anh, rồi lại đem vào rừng, thả ra.
Vài hôm sau, một anh ở đội khác, bắt được con rùa ấy làm thịt. Tôi hỏi Phan Thành Long, người cùng đội bên đó.
Long nói: “Tui có phụ làm rùa với thằng đó, cùng ăn với nó, thịt rùa ngon như thịt gà, có thấy xui gì đâu!”
Biết chuyện ấy, Tân nói với tôi, giọng không vui:
– “Tự vì anh mà tui mất ăn bữa thịt rùa!”
Tôi chỉ biết “cười trừ” chứ nói gì bây giờ!!!
Mùa mưa sắp tới, chúng tôi được lệnh cuốc đất, chuẩn bị gieo bắp. Năm đầu, đất tốt lắm, trái bắp to. Cũng không ít người lận trái bắp vào bụng, che áo lại, đem về nướng “cải thiện” cho… đỡ đói.
Được vài năm, đất bạc mầu, trái bắp chỉ bằng ngón chân cái. Còn gì để mà ăn, coi như…mất mùa. Xoay qua trồng mì, củ khoai mì nào to lắm, cũng chỉ bằng cán cuốc. Cũng coi như xong!
Có một loại cây không trồng nhưng mọc đầy, xanh um, rất tốt là cây thầu dầu mọc hoang. Khổ nỗi, trái thầu dầu rất độc, chỉ dành cho những ai không muốn ăn nữa thì ăn nó, để làm bữa ăn chót mà thôi!
Khi mùa mưa tới, ở những nơi đất rừng mới cuốc, có nhiều trùn đất. Những con cua nhỏ bằng ngón tay cái ra ăn trùn, bị chúng tôi nắm được, đem về nấu canh rau muống, “ngon đáo để” như có người khen vậy!
Tôi về trại nầy được mấy hôm thì cho viết thư. Lần thăm đầu tiên, gia đình lên thăm đông lắm: vợ tôi và các con, các anh chị và các cháu gọi bằng chú, bằng cậu. Những lần sau thì chỉ có nhà tôi và các con. Có khi vì bận học, chỉ có nhà tôi lên thăm hàng tháng, chỉ đôi khi thì vài tháng. Mỗi khi lên thăm, ngoài thịt cá làm khô, còn có gạo, mì gói, đậu mè, bánh kẹo… và “thuốc bổ”. “Thuốc bổ” là những tin tức người ta đồn thổi ở Saigon, như tin tướng Kỳ kéo quân về “giải phóng Saigon”, tướng Nam đang còn sống, chỉ huy “Mặt trận miền Tây”… Thật ra, những tin nầy là tin vịt, chẳng ai tin, chẳng mấy hy vọng, nhưng cũng có những anh em tù tin nó, như đang trôi giữa dòng nước lũ mà nắm được cọng lau.
Ở ngoài, những người bạn cũ, lâu lâu đến thăm gia đình tôi, như anh Đoàn Công Lập, cựu trưởng ty Cảnh sát Huế, hay nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng. Với những người nầy, họ nói thẳng là khuyên nhà tôi nên đem con vượt biên.
Anh Đoàn Công Lập trốn cải tạo, bị Công An từ Huế vào Saigon truy lùng. Họ bắt được anh, tra khảo đến nỗi khi cho gia đình nhận về thì anh đang hấp hối. Nhạc sĩ Trần Tử Thiêng vượt biên cũng bị bắt. Khi tôi được tha thì anh còn ở trong tù.
Đó là những thứ “thuốc bổ” mà không bổ chút nào cả.
Một năm nhà tôi lên thăm, tôi gởi về cho mẹ mấy miếng vỏ cây, tôi lấy khi đi phá rừng, thường gọi là cây vỏ, người xưa thường ăn nhém với trầu để miếng trầu được dẻo. Nhà tôi nhận mấy miếng vỏ cây mà mấy giọt nước mắt lăn trên má. Tôi hỏi:
– “Má mất rồi à?”
Nhà tôi cố giữ bình tĩnh, trả lời:
– “Không, má còn sống.”
Tôi biết nhà tôi dấu tin, sợ tôi biết tin thêm buồn rầu mà thôi. Tuy nhiên, tôi chẳng hỏi thêm. Hỏi thêm, biết rõ thêm có ích gì đâu! Tôi chỉ tiếc một điều, những người sinh ra tôi và nuôi dạy tôi khôn lớn như cha mẹ, khi họ qua đời, không có tôi bên cạnh. Nỗi đau đớn ấy là do đâu?!
Thời gian cay đắng nhứt là tết năm Kỷ Mùi (1979), nhà tôi dẫn các con vượt biên ở Bình Tuy bị bắt. Vậy là cha mẹ ở tù cả, nhà chỉ còn lại 6 chị em ở với nhau, đứa lớn nhứt mới 15 tuổi, con gái, phải lo chăm sóc cho các em và thăm nuôi cả cha lẫn mẹ ở trong tù.
Các con tôi vẫn dấu kín, không nói với tôi là mẹ bị tù./
Trường Sĩ quan SS-Junkerschule Bad Tolz của binh chủng Waffen-SS từng lừng danh với các khóa huấn luyện sắt đá: Khóa sinh có 15 phút để đào hố cá nhân, sau đó chiến xa Panzer sẽ càn lên vị trí. Trường Nhảy dù Fallschirmjager của Không quân Đức không kém gai góc: Mỗi tiểu đội khóa sinh phải rút chốt lựu đạn vừa đếm vừa chuyền tay cho đến khóa sinh thứ 10 thì cài chốt trở lại, với ý thức giây thứ 12 sẽ nổ. Có nghĩa không được làm rớt, cử động phải chính xác và nhanh chóng. Là những phương cách tạo đoàn kết đồng đội và trau dồi sự điềm tĩnh trước nguy hiểm. Trường Phi hành Tsuchiura của Sakai khác hẳn, mục đích huấn nhục là để tạo sự hung tợn ở quân nhân và thanh lọc các phần tử thiếu đảm lược. Ưu điểm của hồi ký Sakai là cho người đọc nhìn thấy bên trong các quân trường Nhật. Sakai không phủ nhận những phương pháp kỳ lạ như định vị sao Hôm hay chụp bắt ruồi giúp anh trở nên ưu tú. US Air Force và US Navy công nhận các phi công Nhật thiện nghệ hơn phi công Hoa Kỳ vào đầu cuộc chiến, cho đến khi Hoa Kỳ sản xuất thành công Radar thì đôi mắt thần ấy sẽ nghiền nát thế hệ của Sakai. Đặc điểm khác, hoa tiêu khu trục Nhật Bản không nhất thiết là sĩ quan như trong các Không lực Anh, Pháp, Mỹ hoặc VNCH. Sakai tốt nghiệp với cấp bậc Nitoheiso, tương đương Trung sĩ.
[Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 3
Chương 3
Quân lực Ðế quốc Nhật Bản chia ra làm hai binh chủng, Lục Quân và Hải Quân. Mỗi bộ tư lệnh đều có Không Lực riêng trong tay. Một Không Lực độc lập, không phụ thuộc Lục Quân hay Hải Quân không hề được nghĩ đến trước đó hoặc ngay cả trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Nhật Bản cũng không có binh chủng Thủy Quân Lục Chiến tự trị như Hoa Kỳ hoặc các cường quốc khác, tức binh chủng Thủy Binh được huấn luyện cho các cuộc hành quân vừa trên bộ vừa dưới nước.
Vào giữa năm 1935, tất cả các phi công thuộc Hải Quân được huấn luyện tại trường hoa tiêu phi hành ở Tsuchiura, cách Ðông Bắc Ðông Kinh 50 dặm. Mỗi khóa học có 3 lớp, một lớp dành riêng cho các thiếu úy xuất thân từ Hàn Lâm Viện Hải Quân ở Eta Jima, miền Tây Nhật Bản, một lớp dành cho các sĩ quan đang phục vụ, và lớp cuối cùng dành cho các thanh niên dưới 20 tuổi muốn khởi nghiệp Hải Quân của họ trong tư cách khóa sinh phi công.
Sau khi Nhật Bản khai chiến toàn diện với Hoa Kỳ, Hải Quân phát triển mạnh mẽ các căn cứ huấn luyện phi công, trong nỗ lực tuyệt vọng đào tạo hàng loạt phi công chiến đấu. Tuy nhiên, vào năm 1937, quan niệm huấn luyện phi hành ồ ạt này không hề được đặt ra. Phi công huấn luyện gồm toàn những người được chọn lọc kỹ càng, chỉ các ứng viên xuất sắc trên toàn quốc mới hy vọng được thâu nhận. Năm 1937, năm tôi theo học, chỉ có 70 người được chọn theo học lớp phi công trong tổng số 1,500 người dự thi. Khi tôi biết có tên mình trong danh sách 70 người được thâu nhận, nỗi vui mừng của tôi không thể nào tả xiết. Việc này có nghĩa là tất cả những tủi hổ trên đường học vấn ở Ðông Kinh của tôi được quét sạch, danh dự và kỳ vọng của gia đình đặt nơi tôi, được bảo toàn.
Kỳ nghỉ phép đầu tiên, tôi trở lại nhà của người chú ở Ðông Kinh với tất cả niềm vui sướng. Tôi không còn là một thiếu niên cứng đầu và bực tức, đối diện với vấn đề học vấn một cách đầy sợ sệt. Tôi đã trở thành một chàng thanh niên hai mươi tuổi, đầy kiêu hãnh, bảnh bao trong bộ đồng phục phi công hải quân mới toanh, với 7 chiếc nút đồng sáng chói, và mong muốn, mong muốn nhứt, nhận lãnh những lời khen ngợi của gia đình chú tôi.
Ánh mắt của cô em họ Hatsuyo hướng về tôi đăm đăm. Cô học trò bé bỏng ngày nào đã biến mất, nhường lại cho sự chững chạc, hấp dẫn của một nữ sinh trung học 15 tuổi. Cô em họ gây cho tôi ấn tượng mạnh. Hatsuyo đã đón tiếp tôi thân mật và nồng nhiệt hơn. Tôi nói chuyện rất lâu với người chú. Ông tỏ vẻ hài lòng, tất cả niềm kiêu hãnh đã trở lại trong ông. Quá khứ thất bại của tôi không còn vướng vấp chút nào. Chuyến viếng thăm này khiến tôi không quên được trong nhiều năm. Sau bữa ăn tối, chúng tôi ngồi trong phòng khách và nghe Hatsuyo dạo dương cầm. Nàng mới bắt đầu học trong vòng 3 năm trở lại. Nhưng tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, vì vậy tiếng đàn của nàng đối với tôi rất tuyệt diệu. Hatsuyo xinh tươi, thoải mái và thân ái, tất cả đã xóa sạch những ngày huấn luyện đầy gian khổ nhọc nhằn. Tuy nhiên, cuộc viếng thăm ngắn ngủi, và tôi sớm trở lại quân trường.
Căn cứ huấn luyện Tsuchiura tọa lạc bên cạnh một cái hồ rộng lớn, và tiếp cận một sân bay có 2 phi đạo, 3,000 mét và 2,500 mét. Nhiều nhà chứa phi cơ khổng lồ có thể chứa hàng mấy trăm phi cơ cùng lúc, và căn cứ luôn luôn hoạt động rộn rịp. Mỗi chương trình huấn luyện mới của Hải Quân là mỗi kinh ngạc đối với tôi. Những thứ kỷ luật mà tôi đã từng trải qua so với quân trường mới đến này không thấm vào đâu. Kỷ luật ở căn cứ Hải quân Sasebo nhiều khi còn dễ chịu hơn ở Tsuchiura. Ngay cả thứ kỷ luật sắt đá ở trường huấn luyện pháo thủ hải quân cũng ấu trĩ đối với trường phi công. “Một phi công khu trục phải hung tợn và cố chấp, trong mọi tình huống!” Là câu đầu tiên huấn luyện viên môn đấu vật nói với chúng tôi. “Ở đây, Tsuchiura, chúng tôi sẽ dạy cho các anh hai đặc tính này. Nếu không thâu nhận được, các anh sẽ không bao giờ trở thành một phi công giỏi.” Không để mất thì giờ và nhằm chứng tỏ cho chúng tôi thấy sự hùng hổ ấy cần thiết ra sao, hắn ta bất chợt chỉ ngay hai khóa sinh và ra lệnh cho họ vật nhau. Kẻ chiến thắng sẽ được phép rời khỏi đấu trường, kẻ thua cuộc chuẩn bị đấu với một khóa sinh khác. Thua cuộc chừng nào hắn ta phải đấu nhiều chừng nấy, hắn có thể lần lượt đấu với cả 69 khóa sinh. Và nếu thua hết, ngày mai hắn lại phải tiếp tục đấu nữa. Cái ngày mai đó, hoặc là hắn chiến thắng một người hoặc là hắn ôm gói ra khỏi khóa học. Ðối với những khóa sinh nào không muốn bị đuổi ra khỏi khóa phi công, các màn đô vật sẽ trở thành những màn tranh đua dữ dội nhất của họ. Thường thường hễ khóa sinh nào bị đánh gục đều bất tỉnh. Nhưng bất tỉnh không phải hy vọng được miễn trừ. Một thùng nước lạnh hoặc nhiều cách khác để làm hắn tỉnh lại, và cuộc đấu lại tiếp diễn. Sau một tháng huấn luyện căn bản trên mặt đất, chúng tôi bắt đầu những bài học phi hành vỡ lòng. Những bài học này dạy vào buổi sáng, các môn khác dồn cho buổi chiều. Sau bữa ăn chiều, chúng tôi học thêm 2 giờ nữa.
Nhiều tháng trôi qua, con số khóa sinh sút giảm hẳn. Khóa huấn luyện đòi hỏi khóa sinh phải hoàn hảo mọi mặt, và khóa sinh không thể nào tránh khỏi lỗi lầm nhẹ nhàng nhứt. Vì các phi công hải quân được xem là thành phần ưu tú nhứt của binh chủng hải quân, của ngay cả các lực lượng võ trang Nhật Bản, thì không có chỗ nào gọi là chỗ sai lầm dành cho họ. Trước khi giai đoạn huấn luyện 10 tháng hoàn tất, 45 trong số 70 khóa sinh bị loại khỏi trường. Thẩm quyền áp dụng kỷ luật thể xác dữ dội không đáng sợ bằng thẩm quyền loại bỏ khóa sinh, với bất kỳ lý do nào của các huấn luyện viên.
Ngay trong ngày mãn khóa, một trong những khóa sinh còn lại, bị sa thải. Một nhóm tuần tiễu nhìn thấy hắn bước vô một quán rượu bị cấm ở Tsuchiura để ăn mừng “ngày thành tài” của hắn. Khi trở về trường, hắn được lịnh trình diện hội đồng kỷ luật, và biện hộ bằng cách quỳ gối trước mặt các sĩ quan cán bộ. Nhưng lời biện hộ của hắn như đàn gảy tai trâu.
Hội đồng kỷ luật tìm thấy hắn phạm 2 tội không thể tha thứ được. Tội đầu tiên, mọi phi công đều biết: một phi công chiến đấu không bao giờ, vì bất kỳ lý do nào, uống rượu đến say khướt trong đêm trước khi bay. Ngày hôm sau chúng tôi sẽ có một chuyến bay theo đội hình, chuyến bay này được xem như một phần thực tập tốt nghiệp mà chúng tôi đã trải qua. Tội thứ hai, thường tình hơn nhưng nghiêm trọng không kém, không một binh sĩ hải quân nào làm giảm giá trị binh chủng của mình bằng cách bước vô một nơi có để bảng “cấm”.
Sự huấn nhục ở Tsuchiura có thể là đáng sợ nhứt so với các trường khác ở Nhật Bản. Một trong những môn huấn nhục hóc búa hơn hết: leo cột sắt. Cột này rất cao, chúng tôi phải leo lên tận ngọn và chỉ được nắm lơ lửng một tay. Khóa sinh nào bám không tới 10 phút mà để rơi xuống sẽ nhận ngay một cái đá chớp nhoáng và bị bắt leo trở lên. Cuối môn huấn luyện này, khóa sinh nào muốn khỏi bị loại trừ thì ít ra cũng phải bám lâu đến 15 hoặc 20 phút.
Tất cả các quân nhân trong binh chủng Hải quân Hoàng gia đều phải biết lội. Có nhiều khóa sinh người miền núi nên không biết lội như thế nào. Phương pháp huấn luyện rất đơn giản. Các khóa sinh cột dây quanh lưng rồi bị quăng xuống biển, một là họ lội được hai là họ chìm lỉm. Hiện thời tôi đã 39 tuổi rồi mà vết dây siết chặt vẫn còn để dấu lại trên thân thể tôi. Tôi có thể lội 50 mét trong vòng 34 giây. Ở trường phi công, lội khoảng cách đó dưới 30 giây là chuyện thường. Mỗi khóa sinh buộc phải lặn sâu xuống nước 50 thước và duy trì ít nhất 90 giây. Một người bình thường với tất cả nỗ lực, có thể nín thở được 40 – 50 giây, nhưng thành tích này được xem là trung bình đối với một phi công Nhựt. Riêng tôi có thể nín thở 2 phút 30 giây dưới nước.
Chúng tôi trải qua hàng nhiều trăm buổi tập lộn nhào để làm quen với cảm giác thăng bằng, giúp một phần sau này khi chúng tôi cho các chiến đấu cơ lộn nhào nhiều vòng trong bất kỳ cách thức nào. Có lý do đặc biệt để chúng tôi chú tâm vào các buổi tập này, vì một khi thấy chúng tôi lộn nhào đã thành thuộc, các huấn luyện viên ra lịnh cho chúng tôi leo lên một cái tháp cao và lộn nhào xuống mặt đất cứng. Trong lúc rơi xuống, chúng tôi phải lộn nhào 2 – 3 vòng trong không khí và đáp xuống bằng đôi chân. Ðương nhiên, nhiều lỗi lầm xảy ra với những kết quả thảm khốc. Môn lộn nhào này được xem là một phần huấn luyện thân thể quan trọng, đòi hỏi chúng tôi hoặc là phải thực hành chính xác và đầy đủ những gì mà huấn luyện viên đưa ra hoặc là bị loại khỏi khóa học. Môn đi bằng tay cũng được xem là quan trọng. Thêm vào đó là môn cắm đầu xuống đất và giữ thăng bằng thoạt đầu 5 – 10 phút, và cuối cùng khóa sinh có thể giữ thăng bằng đến 15 phút hoặc hơn nữa. Dần dần, tôi có thể giữ thăng bằng hơn 20 phút, trong thời gian này mấy bạn đồng khóa đốt thuốc cho tôi hút. Ðương nhiên, mấy trò xiệc này không chỉ có tánh cách luyện tập thân thể mà thôi, mà chúng còn giúp cho chúng tôi phát triển một cảm giác thăng bằng cả tinh thần lẫn thể xác đáng kinh ngạc, và có giá trị cứu mạng sống chúng tôi nhiều năm sau này. Mỗi khóa sinh ở Tsuchiura đều phải có thị độ sắc bén, việc này, dĩ nhiên, là một đòi hỏi tối thiểu khi mới bước chân vô quân trường. Lúc nào chúng tôi cũng phải học nhìn, để chỉ với một cái liếc mắt chúng tôi có thể biết các mục tiêu cách bao xa. Tóm lại, chúng tôi phát triển mọi kỹ năng giúp chúng tôi thắng thế phi công đối phương.
Một trong những môn học mà chúng tôi khoái nhứt là tìm tòi các ngôi sao vào ban ngày. Các huấn luyện viên thường nhấn mạnh rằng việc nhận diện một ngôi sao giữa ban ngày còn dễ hơn một chiếc phi cơ ở khoảng cách nhiều trăm thước. Và một phi công khám phá kẻ thù trước tiên rồi chuẩn bị vị thế tấn công thuận lợi, phi công đó có thể đánh “trăm trận trăm thắng”. Sau nhiều lần thực tập, công việc “săn sao” của chúng tôi trở nên thiện nghệ. Chúng tôi có phương pháp nhìn và định vị trí một ngôi sao đặc biệt một cách chính xác và nhanh như chớp. Các phi công chiến đấu Nhật Bản đều làm được. Ðôi khi để tự gây khó khăn hơn, chúng tôi quay đầu 90 độ rồi quay ngược lại và tìm ra tức khắc ngôi sao ban nãy.
Cá nhân tôi đánh giá cao điều học hỏi đặc biệt này, nó có vẻ xuẩn ngốc với những ai không biết đến những chiến pháp trên không, chết hoặc sống chỉ trong nháy mắt. Tôi biết như vậy trong suốt 200 trận không chiến của tôi, ngoại trừ 2 lỗi lầm nhỏ, tôi không bao giờ để vấp vào một cuộc tấn công bất thần bởi các chiến đấu cơ địch, tôi cũng không để mất một đồng đội nào bay bên cánh bao giờ. Những giờ rảnh rỗi trong suốt cuộc huấn luyện ở Tsuchiura, không lúc nào chúng tôi không tìm những phương pháp có thể thu ngắn thời gian phản ứng và cải tiến những cử động chính xác của chúng tôi. Một trong những phương cách ưa thích của chúng tôi là chụp bắt những con ruồi đang bay. Chúng tôi trông có vẻ đần độn trong lúc luyện tập cách này, nhưng chỉ sau vài tháng lũ ruồi bay ngang mặt chúng tôi đều bị túm gọn trong lòng bàn tay. Ðó là cách tự tạo những cử động chính xác không thể không có được trước cơ man những dụng cụ trong buồng lái hẹp của một chiến đấu cơ.
Phản ứng nhanh đã giúp chúng tôi thoát chết một ngày. Một lần bốn khóa sinh chúng tôi phóng xe gần trăm cây số giờ, rồi bất thình lình xe lạc tay lái và đâm vào kè đá. Cả bốn chúng tôi mở tung 4 cửa xe cùng một lúc và lăn ngay xuống đường. Tai nạn chỉ để lại vài vết trầy mà không ai bị thương, tuy đầu xe hoàn toàn bể nát.
Cho đến thế chiến, Nhật Bản chưa từng thất trận. Chiến thắng Mông Cổ, chiến thắng Mãn Thanh, chiến thắng Sa hoàng, chiến thắng Cao Ly rồi chiến thắng quân Trung Hoa của cả hai phía Cộng sản và Dân quốc. Tuy nhiên cùng với chiến công, là những dã man đối với tù binh. Trong chương thứ nhì, chỉ qua hai trang ngắn, Sakai phơi bày khía cạnh bạo ngược của quân đội Thiên hoàng. Thụ huấn đồng nghĩa với đánh đập. Hiếm quân đội nào cho phép sĩ quan đánh chết lính, phải nhìn thấy ở đây nguyên nhân tù binh thường xuyên bị xử trảm. Do tâm niệm Bushido khinh thường mạng sống.
Cùng trong chương này, người đọc khám phá quyết tâm của Sakai vươn lên khỏi hàng binh sĩ và lộ ra khả năng của anh: Sakai phải là một thủy binh giỏi, một pháo thủ xuất sắc mới được phục vụ trên hai thiết giáp hạm nặng Kirishima và Haruna trang bị 4 pháo tháp 356 ly nòng đôi, tầm xa 30 hải lý. Sakai thăng cấp rất nhanh, từ Thủy binh cấp IV (Binh Tứ) lên Thủy binh cấp I (Binh Nhất) rồi Hạ sĩ khi vừa 18 tuổi, vỏn vẹn trong 2 năm. Phụ trách tác xạ hải pháo còn cho thấy Sakai có nhãn quan rất tinh tường vừa nhạy bén trong việc xác định mục tiêu, là những phẩm chất sẽ giúp anh trở nên phi công khu trục về sau.”
[Trần Vũ]
Nhiều kỳ – Kỳ 2
Chương 2
Tôi trở về nhà như là một sự điếm nhục cho gia đình tôi cũng như cho làng nước. Gặp nhiều vấn đề rắc rối, sự nghèo đói của gia đình tôi càng lúc càng trầm trọng. Má tôi và người anh lớn cắm cúi trên thửa đất nhỏ từ bình minh cho đến hoàng hôn. Cả hai người, và ba chị gái của tôi, ăn mặc quần áo tả tơi. Mái tranh, nơi tôi đã lớn lên, tiêu điều dột nát. Mọi người trong làng đã hân hoan đặt hết tin tưởng vào chuyến đi Ðông Kinh của tôi, họ chờ đợi chia sẻ sự thành công của tôi. Bây giờ, mặc dù tôi làm cho họ thất vọng, nhưng không ai buông thẳng một lời trách cứ nào. Tuy nhiên trong đôi mắt họ có bóng dáng của sự xấu hổ, và họ thường quay mặt để tránh làm tôi bối rối. Bởi thái độ này mà tôi không dám đi lại trong làng. Tôi không thể nào chịu đựng nổi sự trách mắng lặng lẽ của họ. Mong muốn chạy trốn khỏi nơi tủi hổ này trở thành mong muốn mãnh liệt trong tôi. Bấy giờ tôi nhớ lại tấm yết thị to tướng ở nhà ga Saga kêu gọi thanh niên tình nguyện gia nhập vào hải quân. Ðầu quân hình như là lối thoát duy nhứt cho một kẻ sống trong tình trạng khổ sở. Má tôi, từng chịu đựng sự vắng mặt của tôi trong mấy năm, đã than khóc trước quyết định ra đi một lần nữa của tôi. Nhưng bà không còn cách chọn nào khác.
Ngày 31 tháng 5 năm 1933, tôi đầu quân ở căn cứ hải quân Sasebo, và trở thành một thủy thủ 16 tuổi cấp bậc Thủy binh hạng IV (Yontosuihei). Căn cứ này cách phía Ðông nhà tôi 50 dặm. Tôi bắt đầu một đời sống mới của một thứ kỷ luật sắt, của một sự cứng rắn vượt xa cả những cơn ác mộng kinh hoàng nhất trong cuộc đời tôi. Và chính nhờ vào tâm niệm Bushido mà tôi đã tồn tại.
Chắc chắn rằng độc giả xứ ngoài sẽ khó tán thành thứ kỷ luật thép mà tôi phải chịu đựng trong Hải Quân. Các hạ sĩ quan không ngần ngại trong việc đánh đập tàn nhẫn tân binh mà họ thấy cần trừng phạt. Trong trường hợp tôi phạm kỷ luật hoặc lỗi lầm trong huấn luyện, đêm đến một hạ sĩ quan lôi đầu tôi ra khỏi giường hét lên: “Chống tay vô tường! Cúi gập xuống, tân binh Sakai! Tôi làm việc này không phải oán ghét anh, nhưng vì thương anh, muốn anh trở thành một thủy thủ giỏi! Cúi xuống!”.
Và hắn vung cây gậy thật dài đập xuống mông tôi. Ðau đớn khủng khiếp, và mạnh mẽ không thể tưởng. Không có cách nào khác hơn là nghiến răng để khỏi bật tiếng kêu la. Nhiều khi tôi bị đánh tới 40 gậy. Thường thường tôi ngất xỉu. Tuy nhiên hình phạt không thể bỏ qua vì lý do bất tỉnh. Viên hạ sĩ quan sẽ dội một thùng nước lạnh lên thân xác mềm nhũn của tôi, dựng tôi dậy, và tiếp tục áp dụng “kỷ luật”. Một tân binh phạm lỗi, tất cả 50 tân binh khác đều bị đánh. Do đó, mỗi tân binh đều tìm hết cách ngăn chặn đồng đội phạm lỗi. Mỗi lần bị đánh, chúng tôi không thể nằm ngửa trên giường. Hơn nữa, chúng tôi không được phép buông lời than oán, ngay cả một tiếng kêu trong đau đớn của mình. Ðể cho một người rên rỉ khóc than vì đau đớn hoặc tủi thân, mọi người sẽ bị đá hoặc lôi cổ ra khỏi giường để lãnh hình phạt.
Ghi chú Quân sự:
Thiết giáp hạm Kirishima hạ thủy 1913, võ trang 8 đại bác 356 ly, nặng 37 ngàn tấn, dài 222 thước, là sister ship của thiết giáp hạm Haruna, cả hai thuộc class thiết giáp hạm Kongo. Kirishima bị hai thiết giáp hạm Hoa Kỳ USS South Dakota và USS Washington bắn chìm ngoài khơi đảo Guadalcanal trong đêm 15 tháng 11-1942. Riêng chiếc Haruna bị các phi đoàn của Task Force 58 đánh chìm ngày 28 tháng 7-1945, gần Hiroshima.
Nếu không tình nguyện theo học khóa phi hành để trở thành phi công, Saburo Sakai đã thiệt mạng trên một trong hai chiến hạm này ở vị trí pháo thủ.
Lẽ dĩ nhiên sự đối xử như vậy làm cho chúng tôi oán ghét bọn hạ sĩ quan. Bọn này đa số đều 30 tuổi, và hình như không được lên cấp trong suốt cuộc đời binh nghiệp của họ. Ám ảnh quan trọng nhứt của họ là tìm cách khủng bố tân binh. Chúng tôi coi hạng người này như những con thú bạo dâm hèn hạ nhứt. Trong vòng 6 tháng, công việc huấn luyện khắc nghiệt đã biến chúng tôi thành bầy gia súc. Chúng tôi không bao giờ dám hó hé trước các mạng lịnh đưa ra, không dám tỏ ý nghi ngờ cấp trên. Chúng tôi không dám làm bất cứ cái gì khác hơn là thi hành lập tức mệnh lệnh của thượng cấp. Chúng tôi vâng lời như những người máy.
Công việc huấn luyện tan thành một khối lờ mờ sự tập dượt, học hỏi, và tập dượt, của những cây gậy vung lên liên hồi, của những chiếc mông ê ẩm luôn luôn, của thịt da bầm giập và mặt mày nhăn nhó khi ngồi xuống. Khi hoàn tất khóa huấn luyện tân binh, tôi không còn là một chàng thanh niên hăng hái và đầy nhiệt tâm như lúc rời khỏi ngôi làng nhỏ bé đi học tại Ðông Kinh nhiều năm trước đây. Ðường học vấn thất bại, sự tủi hổ của gia đình và kỷ luật huấn luyện, tất cả hợp lại đè bẹp tôi, tánh tự tôn tự đại của tôi bị hạ sát ván. Nhưng không bao giờ, trong suốt thời gian huấn luyện cũng như sau này, nỗi phẫn nộ sâu xa về sự tàn ác của bọn hạ sĩ quan giảm bớt trong tôi. Ra trường tôi được chỉ định làm thủy thủ tập sự trên thiết giáp hạm Kirishima. Tôi đã nghĩ, sau thời gian huấn luyện, sự đối xử tàn nhẫn sẽ giảm bớt đi. Nhưng không, và có thể nói tôi còn bị đối xử tệ hơn trước đây. Cách tốt nhất mà tôi phải làm: vượt khỏi số kiếp của một tên thủy thủ hèn mọn này. Mỗi ngày tôi không được rảnh rang tới một tiếng đồng hồ, nhưng tôi cũng đã sử dụng thời gian này học hỏi thêm. Mục đích của tôi là xin theo học khóa huấn luyện đặc biệt của Hải Quân. Như vậy, một anh lính tình nguyện mới có thể hoàn tất về kỹ thuật và chuyên môn, đủ điều kiện để thăng chức.
Năm 1935, tôi đậu kỳ thi tuyển vô trường huấn luyện tác xạ hải pháo của hải quân. Sáu tháng sau, tôi lên Thủy binh cấp I (Ittosuihei), và được chỉ định nhiệm vụ trên biển trở lại, lần này trên thiết giáp hạm Haruna, phụ trách một trong những pháo tháp 356 ly. Tình trạng của tôi khá hơn, sau nhiều tháng lênh đênh trên chiến hạm Haruna, tôi đã trở thành hạ sĩ quan với cấp bậc Hạ sĩ (Santoheiso).
Cho đến giữa thế kỷ 19, xã tắc Nhật Bản phân chia làm 276 lãnh địa do 276 lãnh chúa cai quản, với quân đội riêng là những võ sĩ Samurai. Các võ sĩ là giai cấp duy nhất có quyền mang kiếm, không phải lao động, không đóng thuế và không bị áp dụng hình luật phổ thông, thậm chí có quyền “thế thiên hành đạo” nếu bị giai cấp thứ dân bất kính. Cầm đầu các lãnh chúa là Mạc phủ Tokugawa, một chúa Trịnh của Thiên hoàng. Ngay khi đăng quang 1868, Minh Trị Mitsu-Hito ban hành Đại Hiến Chương còn gọi Khế Ước 5 Điểm: 1/ Xóa bỏ chế độ Phong kiến chuyển sang Quân chủ Đại nghị. 2/ Thâu thập tri thức của toàn thế giới. 3/ Thực hiện ý nguyện chính đáng của mọi tầng lớp. 4/ Sự tham gia của quần chúng vào việc nước làm nền cho thể chế Dân cử mới. 5/ Toàn dân bình đẳng. Không còn sứ quân Shogun, lãnh chúa Daimio, quý tộc Kugé, võ sĩ Samurai hay cùng đinh Rônin. Chấm dứt giai cấp.
Nếu Đại Hiến Chương thúc đẩy canh tân, thì kể từ đây cuộc sống của các võ sĩ trở nên lầm than. Các sử gia ước tính lên đến năm trăm ngàn võ sĩ phải quay sang làm ruộng. Gia tộc của Saburo Sakai nằm trong số những võ sĩ này, tuy quần quật nhưng vẫn không đủ sống. Các Samurai không còn chọn lựa nào khác là gia nhập Tân Quân đội Nhật Bản. Là chương nhập mở đầu hồi ký của Sakai. Một hồi ký mà các chương sau sẽ từng bước dẫn đưa vào khốc liệt của chiến tranh. Một hồi ký mà Sakai đã ghi lên trang bìa: “Viết cho những phi công khu trục đồng đội và đối thủ đã không bao giờ trở về.”
[Trần Vũ]
Nguyễn Nhược Nghiễm dịch thuật
Nhiều kỳ – Kỳ 1
Chương I
Trên hòn đảo chánh Kyushu (Cửu Châu) ở cực Nam Nhật Bản, thành phố Saga nhỏ bé nằm giữa lộ trình đưa đến hai trung tâm quan trọng, mà những năm gần đây đã trở thành quen thuộc đối với hàng nhiều ngàn người Mỹ. Ở Sasebo có căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ với hầu hết hạm đội đã tham dự vào cuộc chiến Triều Tiên, và từ các phi trường ở Ashiya, chiến đấu cơ và oanh tạc cơ Mỹ cất cánh bay ngang qua eo biển nhỏ hẹp Tsushima (Ðối Mã) để tấn công quân Trung Cộng và Bắc Hàn.
Các cuộc viễn chinh xuyên eo biển Tsushima không phải mới mẻ gì đối với thành phố Saga. Tổ tiên của chúng tôi đã từng có chân trong lực lượng Nhật Bản, phát xuất từ Saga, xâm chiếm Triều Tiên vào năm 1592. Hình ảnh của cuộc xung đột mới ở Triều Tiên không phải là không có trước đây. Cuộc chiến Nhật Bản – Triều Tiên thời Trung Cổ, năm 1597, đã bị đẩy vào nước bí sau khi triều đình nhà Minh tung lực lượng Trung Hoa vào Triều Tiên, giống như hành động của Trung Cộng ở cuộc chiến hiện đại.
Như vậy, giòng họ của tôi có một nguồn gốc binh nghiệp, và trải qua nhiều năm, tổ tiên của tôi đã trung thành phục vụ lãnh chúa Saga cho đến kỳ Trung Ương Tập Quyền vào thế kỷ XIX, tất cả lãnh chúa đều quy về tay Thiên Hoàng. Trong thời phong kiến, dân chúng Nhật Bản chia ra làm bốn giai cấp, giòng họ tôi được hưởng đặc quyền của giai cấp cầm quyền, đó là giai cấp Samurai. Sống cách biệt hẳn với các giai cấp khác, giới Samurai kiêu hãnh không quan tâm đến các vấn đề riêng tư, họ tận tụy với công việc điều hành chánh quyền địa phương, và luôn luôn chuẩn bị các biến cố đòi hỏi lòng dũng cảm chiến đấu của họ. Vị lãnh chúa sẽ đảm bảo đời sống của các Samurai, họ không cần chú ý đến gia sản hoặc lợi lộc nào khác.
Việc phế bỏ các giai cấp vào thế kỷ XIX như một cú đấm chí tử nện vào giới Samurai đầy kiêu hãnh. Chỉ một cú đấm, tất cả những đặc quyền trước đây của họ đều bay hết, và họ bắt buộc phải chuyển sang nghề buôn bán, hay nghề nông. Họ không thể nào thích nghi với đời sống mới. Có lẽ vì vậy mà hầu hết Samurai trở nên nghèo khốn, cố gắng tìm miếng ăn bằng những nghề lao động ti tiện nhứt, hoặc quần quật suốt ngày trên mảnh đất nhỏ bé của họ. Ðời sống của ông nội tôi không hơn gì các bạn hữu của ông. Khi rời nghiệp võ, ông được cấp cho một nông trại nhỏ. Ở đó, ông đã quần quật sống một cách thống khổ, và ở đó vào ngày 26 tháng 8 năm 1916, tôi chào đời. Ba tôi có 4 trai, 3 gái, tôi thứ ba.
Mỉa may thay, tôi lại bước trên con đường gần gũi với con đường mà ông nội tôi đã đi qua. Khi Nhật Bản đầu hàng Ðồng Minh tháng 8 năm 1945, tôi là phi công dẫn đầu các phi công hạ trên 10 phi cơ địch còn sống sót của xứ sở tôi. Tôi đã chánh thức đốn ngã 64 phi cơ địch trong các trận không chiến. Tuy nhiên, với sự kết thúc của chiến tranh, tôi bị sa thải khỏi Hải Quân Hoàng Gia Nhật Bản và bị cấm nhận bất kỳ công việc nào của chính phủ. Không một xu dính túi, không nghề không nghiệp, tôi không thể tìm được một việc làm thích hợp trong một thế giới mà tất cả đều đổ nát quanh tôi. Giống như ông nội của tôi, tôi đã sống bằng sức lao động chân tay, nhọc nhằn không kể xiết. Nhiều năm phấn đấu gay go, tôi tìm cách dành dụm đủ số tiền để mở một nhà in nhỏ và lấy đó làm sinh kế…
Công việc trồng trọt nhọc nhằn trên mảnh đất nhỏ bé của gia đình oằn xuống đôi vai của má tôi, người đã bỏ cả một đời cho 7 đứa con. Khi tôi lên 7, gánh nặng trên vai má tôi oằn thêm, vì người trở thành góa phụ. Những gì mà tôi nhớ về má tôi vào thời gian đó là hình ảnh một người đàn bà cần cù làm việc, còng lưng hết giờ này sang giờ khác trên thửa đất dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt, với đứa con gái nhỏ nhất đai trên lưng.
Người đàn bà ấy, không bao giờ tôi nghe hở môi than thở một lời. Bà là một trong những người can đảm nhứt mà tôi chưa từng thấy, một mẫu người vợ Samurai, kiêu hãnh và cứng rắn, nhưng không phải là không có một trái tim biết xúc động.
Thỉnh thoảng tôi bị bọn học sinh lớn tuổi đánh đập, tôi khóc sướt mướt trở về nhà. Những giọt nước mắt của tôi không làm má tôi động lòng, người còn nhíu mày và gay gắt nói: “Con không biết xấu hổ à! Ðừng quên con là con trai của một Samurai, con không được quyền khóc.”
Lúc còn theo học trường tiểu học trong làng, tôi chăm chỉ học hành và luôn đứng đầu lớp trong suốt 6 năm. Nhưng con đường học vấn xa hơn nữa của tôi quá mù mịt. Ðiều quan trọng là nếu muốn học cao hơn nữa, gia đình học sinh phải đài thọ tiền bạc. Dĩ nhiên, điều này quá khả năng đối với gia đình tôi, vì chỉ lo ăn, lo mặc cũng vẫn chưa đủ. Tuy nhiên, bất ngờ người chú bà con xa của tôi ở Ðông Kinh đề nghị lo liệu hết mọi khoản học phí của tôi. Gia đình tôi đã chấp nhận lòng tốt này không một chút đắn đo. Chú tôi là một viên chức có địa vị ở Bộ Thông Tin, và đề nghị của ông: ngoài việc nuôi ăn học còn nhận tôi làm con nuôi. Chúng tôi tiếp đón dịp may này với lòng biết ơn.
Khắp nước Nhật, lãnh địa phong kiến Saga là một trong những lãnh địa nghèo nhất. Trải qua nhiều thế hệ, giai cấp Samurai ở Saga đã sống một đời sống khắc khổ, và nổi tiếng nhờ kỷ luật bản thân nghiêm ngặt của họ. Saga là tỉnh lỵ duy nhứt xem Bushido, tức tâm niệm của giới Samurai, như là một giáo lý. Một trong những câu chánh yếu của tâm niệm này: “Samurai đã sống một đời sống như vậy, hắn luôn luôn chuẩn bị để chết.”
Trong những năm chiến tranh, những tâm niệm Bushido đã trở thành sách giáo khoa cho tất cả học đường Nhật Bản. Chúng đã thấm nhập vào tôi, và giúp tôi rất nhiều trong đời sống lúc còn đi học, cũng như những năm chiến đấu sau này.
Mọi thứ ở Ðông Kinh đều làm tôi ngơ ngác. Tôi chưa bao giờ biết qua một thành phố lớn nào hơn Saga, với 50,000 dân cư của nó. Sự ồn ào náo nhiệt ở thủ đô Nhật Bản khó có thể tưởng tượng nổi. Với tiếng động ầm ĩ suốt ngày, những tòa nhà vĩ đại và mọi hoạt động khác, có thể nói nơi đây là một trong những thành phố lớn nhất thế giới. Tôi cũng nhận thấy Ðông Kinh vào năm 1929 là một nơi chốn ganh đua trên mọi lĩnh vực, không chỉ các học sinh đã ra trường ganh đua một cách gay go để tìm chỗ làm, nhưng ngay cả các học sinh nhỏ cũng ganh đua ráo riết để giành giựt cho được một chỗ ngồi trong mấy học đường danh tiếng.
Những tưởng những gì tôi đã đạt được ở thôn quê đã là giỏi giang và dư sức có được chỗ học. Tôi tin vào sự phi thường của mình trong tư cách là một học sinh dẫn đầu lớp trong suốt cả 6 năm ở bậc tiểu học. Nhưng ở đây, tôi không bao giờ đối đầu nổi với các học sinh cặm cụi đèn sách ngày đêm, luôn luôn rình mò để đánh bại các bạn đồng lớp của mình. Các trường trung học chọn lọc ở Ðông Kinh đều tuyển chọn những học sinh xuất sắc của các trường tiểu học. Hơn nữa cứ 30 học sinh dự tuyển chỉ chọn 1 học sinh là cùng.
Ðó là điều không thể nào ngờ đối với một đứa trẻ nhà quê như tôi. Không khí náo loạn và xa lạ này đã khiến tôi ngơ ngác. Không hy vọng vô học trong các học đường danh tiếng, tôi đành ghi tên vô trường Aoyama Gakuin, do các nhà truyền giáo Hoa Kỳ thiết lập nhiều năm trước đó. Mặc dù trường này không nổi danh bằng các trường khác, nhưng nó cũng có chút ít tiếng tăm. Ðời sống của tôi trong gia đình người chú rất dễ chịu. Mặc dù chú tôi nghiêm khắc, ít chú ý đến con cái, nhưng mợ tôi và mấy đứa em bà con của tôi tỏ ra tử tế và thân mật. Trong không khí vui vẻ này, tôi lại bắt đầu những ngày của một học sinh trung học, với lòng đầy nhiệt thành và tham vọng. Tôi nhứt quyết phải luôn luôn đứng đầu lớp.
Không đầy một tháng sau, giấc mộng của tôi tan biến. Hy vọng dẫn đầu lớp như trước kia của tôi đã vỡ thành từng mảnh. Việc này hiển nhiên không chỉ do lỗi mấy ông thầy trường làng của tôi mà cũng do chính tôi nữa. Tôi nhận thấy có nhiều học sinh chưa bao giờ đứng đầu lớp hồi còn ở tiểu học lại học giỏi hơn tôi khi lên bậc trung học. Ðiều này khó tin, nhưng là sự thật. Bởi lẽ họ biết nhiều thứ mà tôi không biết cho dù tôi cố học ngày học đêm, tôi cũng không thể nào tiến bộ mau lẹ hơn họ được.
Kỳ thi đệ nhứt lục cá nguyệt chấm dứt vào tháng bảy. Hạng trung bình trong kết quả học của tôi khiến chú tôi thất vọng não nề, và gây nhiều chán nản, tôi biết sở dĩ chú tôi đài thọ tất cả tiền bạc ăn học cho tôi vì ông cảm thấy tôi là một đứa trẻ đầy hứa hẹn, có thể luôn luôn đứng đầu lớp. Sự bất mãn của ông không thể nào không nhìn thấy. Do đó, thời gian nghỉ hè, tôi cắm đầu cắm cổ lo học. Trong khi các bạn đồng lớp vui chơi, tôi miệt mài đèn sách, quyết định lấp đầy khoảng trống học vấn của mình. Nhưng niên học bắt đầu vào tháng Chín đã chứng minh các nỗ lực của tôi là vô ích. Tôi không đạt được một tiến bộ nào.
Việc học hành gặp hết thất bại này đến thất bại khác đã làm cho tôi tuyệt vọng cùng cực. Không những các môn học của tôi chỉ đứng trung bình trong lớp, mà ngay cả những môn thể thao tôi cũng thua sút mọi người. Rõ ràng có nhiều học sinh trưởng thành nhanh nhẩu, hoạt bát hơn tôi. Thay vì tiếp tục cố gắng để vượt qua các bạn đồng học xuất sắc trong lớp, tôi làm bạn với một số học sinh kém cỏi. Tôi cầm đầu bọn này, và sau đó tôi bắt đầu khai chiến với các học sinh lớn tuổi. Không ngày nào tôi không tìm cách đánh nhau với họ. Hầu như mỗi đêm tôi đều về nhà với mình mẩy bầm giập. Tuy nhiên, tôi đã giấu kín những cuộc phiêu lưu này một cách kín đáo. Cú đấm đầu tiên giáng xuống vào cuối niên học của tôi. Một bức thư của thầy học thông báo cho chú tôi biết tôi là một “học sinh cần phải lưu tâm”. Ðiều tốt nhất mà tôi có thể làm là bỏ qua những trận đấm đá không quan trọng, nhưng tôi không bỏ qua những phương cách chứng tỏ rằng tôi là một học sinh “tốt hơn” các học sinh lớn tuổi. Vì vậy, những bức thư của thầy dạy tôi tiếp tục bay về nhà nườm nượp, và cuối cùng, chú tôi được mời đến trường để nghe báo cáo trực tiếp về hành vi xấu xa của tôi.
Tôi chấm dứt niên học thứ nhì hầu như ở cuối danh sách. Như vậy, đối với chú tôi cũng đã quá nhiều rồi. Những bài “lên lớp” của ông càng lúc càng gia tăng thịnh nộ, và bây giờ quyết định của ông là không cho tôi ở Ðông Kinh nữa. Lời nói sau cùng của chú tôi: “Saburo, chú chán rầy la cháu rồi và chú thấy không thể làm gì khác hơn, có lẽ chú đã sai khi không kèm cặp cháu nhưng dù gì đi nữa, thì vẫn giống như chú đã khiến cho một người con của giòng họ Sakai đầy kiêu hãnh đi vào con đường quấy. Cháu nên trở về Saga.” Không biết làm sao hơn. Tôi không thốt ra một lời bào chữa nào, vì những điều chú tôi nói đều đúng sự thật. Tôi nhận tất cả phần lỗi về tôi. Nhưng tôi không để lộ vẻ gì gọi là tủi hổ khi phải trở về Saga. Tôi quyết định giấu kín nỗi lo lắng, nhứt là với con gái của chú tôi, Hatsuyo, cô em họ mà tôi rất yêu mến. Tôi lên đường, như là một chuyến về thăm gia đình ở Kyushu.
Tuy nhiên, đêm đó, khi xe lửa rời nhà ga Trung Ương Ðông Kinh trực chỉ 800 dặm đến Saga, tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi đã làm cho gia đình tôi thất vọng, và tôi cảm thấy sợ hãi khi phải trở về nhà.
Sau tết Dương lịch năm 1977, có hai người cùng quê, bạn học với “Hùng móm”, em út tôi, đến thăm. Họ cũng ở chung Khu 4, nhưng khác đội.
Người thứ nhứt là Nguyễn Ngọc Túc, cựu đại úy, làm việc trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên, nhà cách nhà tôi ở thị xã Quảng Trị chưa quá 100 mét, cũng trên đường Cửa Hậu (tên mới là Lê Văn Duyệt). Sau đó, anh tới thăm tôi một lần nữa, lại kéo theo Võ Bang, nhà cách nhà tôi chỉ có hai căn nhà vườn (khu vực nhà tôi phần đông nhà có vườn).
Túc đem theo mấy tờ Báo Ảnh Liên Xô. Tờ thứ nhứt, bìa in hình Mao Trạch Đông, đưa cả hai tay, nắm tay Nixon, Tổng Thống Mỹ. Trần Hưng cùng coi tấm hình với tôi. Anh ấy đùa: “Phải chú thích dưới tấm hình nầy câu “Thưa đại ca, cảm phiền giùm, nhà em bữa nay chỉ có cơm rau muống mà thôi.”
Hồi đó, mỗi ngày chúng tôi cũng chỉ có cơm rau muống. Có khi không có cơm, chúng tôi được phát bột mì hay bo bo Ấn Độ, rất khó nuốt.
Tờ thứ hai, có một bài bình luận của Cronin, nhà bỉnh bút của tờ báo nầy. Bài bình luận đưa ra chủ trương “Trung Lập Hóa Đông Dương”. Đó là lập trường của Liên Xô đối với Đông Dương hồi đó, đã được Brezhnev, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên Xô xác nhận trong bài diễn văn đọc tại đại hội lần thứ 25 đảng Cộng Sản Liên Xô.
Trần Hưng cũng đọc bài ấy, sau khi tôi xem báo xong trao cho anh.
Túc hỏi: “Liệu có trung lập hóa Đông Dương được không?”
Tôi chưa trả lời thì Trần Hưng nói ngay:
– “Không “anh” nào giữ được thì phải trung lập. Mỹ không giữ được, bỏ chạy. Liên Xô thì đang gồng mình mà nắm lấy, lâu ngày, tốn kém quá, cũng phải buông. Tầu thì ở ngay bên cạnh, không nghiêng vào nó tí chút, không thể yên được.”
Túc nói:
– “Anh có thấy hôm đại hội 4 của tụi nó không? Ghế đại biểu Trung Quốc không được đặt ở hàng đầu, lại bị bỏ trống. Tại sao vậy?”
– “Cơm không lành, canh không ngọt”. Tầu mà đã quậy thì mệt với nó lắm, phải khôn khéo mới được.” Tôi nói.
-“Khôn khéo là như thế nào?” Túc hỏi.
-“Khi tôi dạy “Mười năm bình định giặc Minh” cho học trò”, tôi nói: “Sử viết rằng, sau khi Vương Thông xin hàng, Lê Lợi tha cho về. Tuy nhiên, sau đó, Bình Định Vương cũng phải cho người sang Tầu “cầu phong”, có nghĩa là tuy thắng nó, nhưng cũng phải giàn hòa. Ba năm một lần sứ nước mình sang Tầu, phải mang theo hai người bằng vàng, gọi là “đại thân kim nhân” để thế mạng Liễu Thăng và Lương Minh, hai tên nầy bị chém chết ở Chi Lăng.”
-“Nước nó lớn quá phải không?” Bang hỏi.
-“Thường thì quanh những nước lớn, phải có những “vùng đệm”, là những nước nhỏ, làm cục kê giữa hai nước lớn hay hai thế lực hùng mạnh. Trong Hội Nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Tổng thống Mỹ Roosevelt giao các nước Đông Âu cho Liên Xô. Liên Xô thì giao Châu Á cho Mỹ. Liên Xô với Mỹ giao ước với nhau mà không cho Sir Wilston hay. Ông nầy giận lắm, thề có đến New York, sẽ không bao giờ nhìn vào tượng “Nữ Thần Tự Do”. Bây giờ Tầu mạnh lên, cũng phải có vùng đệm cho nó, không thì Mỹ-Nga-Tầu đụng đầu trực tiếp thì thế giới không yên.” Tôi giải thích.
Trần Hưng tiếp tục đưa ý kiến:
– “Trung lập là trung lập với quốc tế, giữa Nga, Mỹ và Tầu, chớ Việt Nam vẫn là chế độ Cộng Sản, mình có sống được hay không?”
Trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên, Túc là “đệ tử” chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, khi ông nầy làm Trưởng Phái Đoàn Việt Nam Cộng Hòa, tham dự các buổi họp ở Camp Davis trong phi trường Tân Sơn Nhứt.
Theo lời Túc kể, anh ta thường được chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp cho tiền để rủ mấy anh chàng sĩ quan Hungary, trong Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự đi chơi, để moi tin tức bên phía đó. Anh ta cũng móc nối được vài sĩ quan Ba Lan không ưa Cộng Sản.
Còn Võ Bang là đại úy Pháo binh, giữ mấy cây súng 105-ly án ngữ ở ngã ba Dầu Giây, chận đường Dziệt Cộng từ hướng Đà Lạt đánh xuống. Khi tướng Lê Minh Đảo được lệnh rút bỏ Xuân Lộc, phía sau lưng Võ Bang bị trống. Dziệt Cộng đánh riết tới, Bang bỏ súng mà chạy.
Nghe Bang kể chuyện ấy, tôi vừa kể chuyện cũ, vừa nói đùa: “Trận Hạ Lào, ông Thiết Đoàn trưởng Bùi Thế Dung; Thiếu tá Nô, Thiết Đoàn phó, Thiết Đoàn 11 lấy lý do về lấy thêm lính bổ sung, bỏ đơn vị bên đó mà về. Thiết Đoàn 11 như rắn mất đầu, không ai chỉ huy. Chi Đoàn 3/11 của Đại úy Hải, binh sĩ bỏ xe thiết giáp lội bộ mà về theo. Ông Thiếu Tá Hoàng Văn Giao, ở bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, nói đùa là “Lính kỵ đánh bộ.” Bây giờ ông bỏ mấy cây đại bác mà chạy thì gọi là gì?”
Bang thật thà nói: “Em mang theo chỉ có một cây súng Colt mà thôi.”
Túc đùa:
– “Vậy tau gọi mày là “pháo binh bắn súng Colt”, có được không?”
Câu nói đùa của Túc không làm cho chúng tôi cười được chút nào!
Tết Đinh tỵ năm 1977 là tết thứ 2 trong tù.
Khu 4 có tổ chức văn nghệ.
Tết năm nay không “vui” như tết năm rồi, mọi người thấy chán nản vì không biết ngày nào về nên hầu như “mặc kệ”, ai làm gì thì làm. Cha Cao (linh mục), tập họp một số đông tù cải tạo, thành lập một ban hợp xướng, tập hát một hai bài hát “cách mạng” gì đó.
Ông linh mục nầy du học về âm nhạc, ở bên Ý mới về, nên soạn bè hay lắm. Hôm trình diễn, một số đông người đi nghe.
Tôi biết thêm ông Hồ Đăng Tín khi ông còn học trường Khải Định, tên cũ trường Quốc Học. Khi đang học tại đó, ông có bản nhạc in ở bìa sau “Tập Văn Học Sinh Khải Định”. Bây giờ gặp ông ở trại nầy; ông can tội “trưởng Ban Quân Nhạc Bộ Tổng Tham mưu” (hay Tổng Thống? – tôi không nhớ) Ông cũng thành lập một ban hợp ca, tham gia văn nghệ tết năm nay. Ban hợp ca của ông không được hoan hô bằng ban hợp xướng của cha Cao.
Mấy ông cha tuyên úy vô tù, phần đông có tư cách. Tôi đi đào giếng chung với cha Hoạt. Tác phong của ông, làm cho tôi rất có cảm tình. Cha Thiên, – Hoàng Văn Thiên -, buồn cười hơn. Khi trại cấp than đá để nấu, thay vì củi cây cao-su như trước, cha Thiên trở thành “chuyên viên” úm lửa cho các lò nấu. Than đá, mỗi khi mồi cho cháy, khó khăn lắm, nên mỗi tối, phải úm lại, để sáng hôm sau lên lửa dễ dàng và nhanh.
Bấy giờ cha Thiên ở chung một đội với tôi, một vài lần ăn chung với thầy Ca, Nguyễn Đức Ca, cũng là một tuyên úy Phật giáo.
Ông Ca, khoảng hơn chục năm trước là học trò của tôi ở lớp đệ tam, tôi dạy Việt Văn. Tôi nhớ ông vì cả lớp chỉ có hai chú (đi tu Phật, còn nhỏ tuổi). Đó là chú Ca và chú Bình. Các chú tu ở Chùa Từ Đàm hay Báo Quốc, sau khi xong lớp Đệ Tứ, nếu có bằng Trung học, được vô lớp Đệ Tam trường Quốc Học. Có thể đó là trường hợp ông Tuệ Sĩ. Chú nào không đậu Trung Học hay không muốn học Quốc Học, thì xin vào lớp Đệ Tam Trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế, là trường tôi dạy hồi đó. Ông Nguyễn Văn Hai vừa làm Giám Đốc Nha Đại Diện Giáo Dục vừa làm Hiệu Trưởng trường Bán Công nầy. Ông là người được “Cậu Cẩn” tin cẩn, lại là “đệ tử” thầy Trí Quang. Vài giáo sư, như Hồng Quang Anh, dạy Toán, Tôn Thất Đát, dạy Anh Văn, lên dạy giúp ở Trường Hàm Long của Chùa Báo Quốc, nhưng Trường Bán Công trả lương. Còn các chú, các thầy còn trẻ, học trường Bán Công đều được miễn học phí, chẳng phải lo “Tiên học phí, hậu học văn” gì cả, như bọn học trò thường nói đùa.
Chú Ca học tới đâu tôi không biết. Khi vào trại tù cải tạo, anh em bạn tù nói rằng ông “Can tội đại úy tuyên úy”. Chú Bình sau nầy đậu cử nhân văn chương ở Viện Đại Học Huế, có thời làm Hiệu Trưởng trường Bồ Đề Huế, hiện giờ là ông sư Thích Thiện Hạnh.
Gặp tôi, ông thầy Ca không chào, không nhận ra thầy cũ hay ông cố ý lơ tôi? Có thể ông quên chăng! Thấy thầy Ca không nhìn tôi, tôi cũng giả bộ… quên luôn!
Hôm Trắc đi đâu về, thấy cha Thiên và thầy Ca ăn chung mâm, (thầy Ca đã bỏ ăn chay), vui tính, Trắc la to lên: “Hòa bình rồi anh em ơi! Mèo chuột ăn chung với nhau kìa!”
Cha Thiên chỉ cười. Thầy Ca thì cự nự Trắc rất nặng lời.
Trắc than: “Tui nói chơi một chút. Chi mà thầy làm dữ dzậy? Tui nói thiệt, người đi tu mà sân si như thầy, chết xuống âm phủ, bao giờ tui cũng được ở trên thầy một tầng. Thầy ở tầng thứ chín, tui ở tầng tám.”
Nghe Trắc nói đùa như thế, Trần Hưng nói: “Ông nầy hay đùa mà thông minh lắm.”
Tôi nói:
– “Kinh nghiệm dạy học cũng cho tôi thấy như thế. Những đứa hoang nghịch thường thông minh hơn mấy anh học trò ngoan ngoãn mà vô ơn lắm.”
Nói vô ơn cũng chỉ là một cách nói mà thôi. Tôi đi dạy, làm nghề thầy giáo, cũng chỉ là kiếm một “cái cần câu cơm” mà nuôi thân, nuôi em, nuôi vợ con, chớ có nghĩ tới ơn nghĩa gì đâu! Nghề nào cũng là nghề, ơn nghĩa hay bạc bẽo cũng chỉ là nghề kiếm ăn mà thôi!
Linh mục Phan Khắc Từ thường lên thăm cha Thiên. Đó là những lần thăm “đặc biệt”. Qua đó, tôi được cha Thiên cho mượn những tờ báo “Công Giáo và Dân Tộc” do cha Từ đem biếu cha Thiên đọc chơi.
Có lần tôi hỏi cha Thiên: “Công Giáo và Dân Tộc”, cái nào lớn hơn cái nào?
Cha Thiên trả lời tôi:
– “Ngang nhau! Người dân phải là của dân tộc và của tôn giáo!”
Tôi lại nói:
– “Cha trả lời hay. Nhưng tôi nghĩ không phải đó là quan điểm của “cách mạng”. Quan điểm họ khác nhiều lắm. Nói “Công Giáo và Dân Tộc”, chỉ là một cách nói mỵ dân khi họ chưa tiêu diệt được tôn giáo mà thôi. Trong thâm tâm họ, tôn giáo đã không có, mà dân tộc cũng không luôn. Không phải Dân Tộc mà Nhân Dân. Nhân Dân toàn thế giới là một, đã là chủ nghĩa Đại Đồng, Dân tộc gì nữa!”
Cha Thiên khẳng định:
– “Làm sao tiêu diệt tôn giáo được?!”
– “Được hay không là do chủ quan của họ, cũng như chủ quan của cha.” Tôi nói. “Nhưng sự đụng độ giữa Công Giáo, tôi nói là Công Giáo, – không hẳn là toàn thể các tôn giáo -, với Cộng Sản sẽ rất quyết liệt, sinh tử, một mất một còn trước khi Cộng Sản tiêu diệt các tôn giáo khác.”
– “Anh cho là vì Công Giáo có quan hệ với đế quốc, tư bản chớ gì?” Cha Thiên nói.
– “Không phải dzậy. Tôi muốn nói tới mục đích cuối cùng của Công Giáo và Cộng Sản. Mục đích của Cộng Sản là “Thế giới Đại Đồng”, còn Công Giáo thì không phải Thế Giới nầy là của Chúa, hay nói đúng hơn là của Giáo Hội La Mã, tức là “Đế Quốc Vatican” hay sao? Hai “Đế Quốc” có thể cùng tồn tại song song được không hay một mất một còn?”
Cha Thiên sẳng giọng: “Anh nói bậy! Giáo Hội nào muốn giành hết thế giới nầy. Nhân loại nầy là của Chúa thì phải trả lại cho Chúa chứ!”
Trắc đoán chừng tôi và cha Thiên sẽ tranh cải nhau làm mất lòng nên giả bộ gọi tôi rồi kéo tôi đi. Ra tới sân, Trắc nói:
– “Tui biết anh không ưa những người cuồng tín. Các ông cha, ông nào lại chẳng cuồng tín, nên tôi kéo anh đi cho rồi.”
Lúc đó, sẵn Hiền cũng ghé lại chơi.
Hiền nói:
-“Người ta đồn cha Từ là Việt Cộng phải không?”
-“Đã là cha thì Việt Cọng thế nào được! Chẳng qua là ở cái thế vậy mà. Một là mấy ông cha du học ở bên Tây, thường có khuynh hướng xã hội, không ưa Giáo Hội La Mã. Thứ hai, họ cũng như “Lê Lai cứu chúa” vậy, không ưa nhưng cũng phải làm sứ mạng Giáo Hội giao cho. Trong hoàn cảnh sống dưới chế độ Cộng Sản, ông cha nào cũng “thẳng đứng”, dễ gãy lắm. Phải có người mềm mỏng. Mấy ông cha cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau, chưa hẳn họ “thống nhất” một ý chí đâu!”
-“Rắc rối thiệt!” Hiền nói.
Tôi giải thích thêm:
– “Giáo Hội La Mã, hay “Đế Quốc Vatican”, theo tôi nghĩ là hiện thân của “Đế Quốc La Mã” ngày xưa. “Đế Quốc Vatican” ngày nay, theo đuổi một mục đích giống như Đế Quốc La Mã xưa vậy. Vatican thì nhỏ tí chút nhưng Giáo Hoàng làm vua khắp thế giới. Lãnh thổ “Giáo Hội La Mã” cũng khắp nơi, đâu cũng là “đất Chúa”, “nước Chúa”, “dân Chúa”, “quân Chúa”… khác gì Đế Quốc La Mã đâu! Dziệt Cộng nó không gọi là Giáo Hoàng mà gọi là Giáo Chủ là có chủ ý đấy! Tham vọng đó của Giáo Hội không hẳn là của Chúa Giê-su đâu, mà do mấy ông ngồi ở Vatican muốn dựng nên một “Đế Quốc La Mã mới”, bao giờ cũng mâu thuẫn với những người lãnh đạo đất nước, dân tộc, ngay cả với một người có đạo Thiên Chúa như cụ Diệm đi nữa.”
Trắc nói: “Đó! Nổi nóng, nói bậy đi.”
– “Tui không nói bậy! Quả đất tròn, Giáo Hội bảo vuông, rồi bài bác Newton, (1) bỏ tù Galilé (2), cắt lưỡi Erathosthène thì giải thích làm sao? Không phản động, không lạc hậu, không bảo thủ thì làm sao có cuộc “Cách Mạng Tôn Giáo” của ông Calvin, ông Luther, (3) làm sao có Anh Quốc Giáo, Thanh Giáo, Protestant. Napoléon bảo Giáo Hoàng có muốn thì cứ qua Paris mà đội mão, ban phép thánh cho ông ta. Ông không chịu phải qua Vatican như các ông vua châu Âu khác khi lên ngôi. Vì Vatican lợi dụng danh Chúa nên Nietzche (4) phải tuyên bố rằng “Chúa đã chết”. Chúa chết rồi, đừng lợi dụng Chúa làm chi nữa. Đừng đem thần quyền vào thế quyền.” Đang bực mình vì cha Thiên, tôi nói một hơi.
– “Sao anh cay cú vậy?” Hiền nói.
– “Tui cay cú? Thiệt không? Có lẽ cũng như những người Huế khác, tui là nạn nhân của ông Ngô Đình Thục.”
-“Anh đả kích những người cuồng tín, trong khi anh lại cuồng tín trong việc đả kích. Anh không thấy anh là người cuồng tín, cuồng tín theo cái anh nghĩ. Lại mâu thuẫn rồi đó.”
Tôi làm thinh, vì nghĩ Hiền nói có lý!
– “Thôi, bình tĩnh đi. Tui hỏi anh, rõ ràng là có sự đụng độ giữa Giáo Hội La Mã với Cộng Sản, nhưng cái đó có ảnh hưởng gì tới dân tộc mình?” Trắc hỏi.
– “Bọn mình, người dân, có hai bà mẹ. Một là “Bà Mẹ Tôn Giáo” và một bà nữa là “Bà Mẹ Dân Tộc”, như Giáo Sư Lý Chánh Trung giải thích vậy. Hai cái yếu tính đó làm nên con người Việt Nam. Phía Công Giáo thì muốn giành lấy đứa con mà loại bà “Mẹ Dân Tộc” ra, vì với họ, Chúa là trên hết chứ không phải Dân Tộc trên hết. Còn Cộng Sản, chủ nghĩa Mác là trên hết, “Thế Giới Đại Đồng” là mục đích cuối cùng. Bị kẹp trong hai cái gọng kềm đó, dân tộc sẽ tiêu ma, người Việt sẽ tiêu ma. Mấy ông thấy không? Tui có lý do để chống Cộng Sản và chống Giáo Hội La Mã. Tui chống Giáo Hội La Mã chớ không chống Chúa Dê-su. Đó là hai mặt khác nhau. Tui cũng như ông Calvin, ông Luther hay tui theo chưn ông Nietzche thì cũng vậy. Tui cũng chống mấy ông thầy chùa, nhưng tui tin Phật. Tui chỉ “qui y Phật, qui y Pháp” mà thôi, “quy y tang” thì còn lâu. Tăng như ông thầy Ca đội mình thì không những đuổi đi chỗ khác chơi mà còn phải đuổi ra khỏi nơi tu Phật!”
&
Khi có đợt đưa “tù cải tạo” đi Bắc, các linh mục đều bị đưa đi hết. Riêng cha Thiên thì được ở lại. Sau nầy được tha, ngồi trên tầng ba nhà cô em gái, nhìn xuống nhà thờ Vườn Xoài của cha Từ bên kia con hẽm 429, đường Trương Minh Giảng cũ, tôi thấy cha Thiên đi lui đi tới trong sân. Có phải cha Thiên đang ở nhà thờ nầy? Thường khi gặp bạn tù cũ, tôi rất vui, nhưng tại sao biết cha Thiên ở nhà thờ nầy mà tôi chẳng bao giờ ghé thăm. Tôi không ghét cha Thiên, thật lòng, tôi nói rõ ra như thế, nhưng quả thật tôi không ưa những người cuồng tín dù của bất cứ tôn giáo nào! Nhiều khi tôi tự suy nghĩ về mình. Có phải tôi là người cuồng tín trong việc chống lại những người cuồng tín? Tôi tự mâu thuẫn tôi hay đời nầy lắm chuyện buồn cười???!!!
Nhân dịp tết nầy, trại tổ chức đấu bóng chuyền giữa các khu. Khi đội bóng chuyền Khu 2 sang đấu bóng với đội Khu 4, tôi đi tìm xem có ai quen không thì may mắn gặp Hoàng Xuân Định. Định nói:
– “Moa có đấu bóng chuyền đâu, giả bộ tham gia để sang đây đi tìm bạn bè chơi.”
Gặp Định, tôi mừng lắm. Định học trước tôi một lớp khi trường Nguyễn Hoàng (Quảng Trị) mới “khai thiên lập địa” năm 1951, nghĩa là lúc đó chưa có tên Nguyễn Hoàng mà chỉ là Trrường Trung Học Quảng Trị. Chúng tôi vui chơi với nhau suốt mấy chục năm dài. Hôm đó, Túc, Bang cũng đến chuyện trò với chúng tôi.
Định là em chú bác tướng Lãm. Tướng Lãm và gia đình thì di tản hồi 30 tháng Tư rồi, nhưng các em ông, em ruột cũng như em chú bác, em rể… như anh Thiệu, anh Đạm, Lê văn Tịnh (chồng của Xuân Tuyết), gọi tôi bằng cậu, đều ở lại “đóng tiền đi ở tù” cả. Chuyện nầy không vui gì!!!
Năm 1977, trại Suối Máu có hai đợt chuyển tù.
Lần thứ nhất, một số được chuyển đi Trảng Bom. Phần đông tù binh là những sĩ quan cấp thiếu úy, trung úy, trong số có đại úy họa sĩ Nguyễn Cang, đại úy họa sĩ Nguyễn Uyên, thuộc cục Tâm Lý Chiến chế độ cũ. Ông nầy có chỗ nằm kế cận tôi. Ông ta hy vọng về sớm vì có người anh đang làm bộ trưởng hay thứ trưởng bộ tư pháp ở Hà Nội, đơn bảo lãnh đã làm xong rồi.
Đợt thứ hai, chuyển ra bắc, phần đông là cấp đại úy. Có thể kể thêm một số tù binh cấp tá, nhưng ở các khu khác, như Khu 1, Khu 2 hoặc Khu 3. Tôi ở Khu 4, chỉ nghe nói mà không rành ai bị đưa đi.
Đi chuyến nầy, đội tôi có Huỳnh Văn Khánh, Trần Hưng, Nguyễn Quốc Trương. Những người quen biết thì có Võ Bang, Nguyễn Ngọc Túc, anh em Trần Hữu Tín, Trần Hữu Xiêm như tôi đã giới thiệu. Ban đầu, nhiều anh em tưởng được đưa đi lao động để được tha về sớm như đợt đi Trảng Táo vừa rồi, nhưng sau khi tập trung xong, thấy bộ đội khám xét rất kỹ, xe cộ đóng mui kín mít thì ai cũng đoán chừng người đi sẽ gặp khó khăn. Không ngờ họ bị đưa đi Tân Cảng để xuống tầu thủy ra bắc, xa xôi mịt mù, biết có ngày về không!!!???
Khi về trại Suối Máu, mỗi tối chúng tôi đều được xem TV. Đời tù buồn tẻ, được xem TV, dù chỉ là tuyên truyền, nhiều người cũng thấy vui.
Cứ hai ba đội chung tiền nhau mua một cái TV, dĩ nhiên TV cũ, giá rẻ. Tuy cũ, nhưng TV cũng còn tốt, ít khi xảy ra “sự cố” bất thường nên cũng không đến nỗi bực mình. Nếu TV có nổi chứng, chỉ lằn ngang lằn dọc thì có “Hoàng chấm phết”, chuyên viên của chúng tôi sửa chữa. Qua bàn tay rành rọt của anh, TV lại hoạt động bình thường. Gọi là “Hoàng chấm phết” vì anh bị thương ở một chân nên đi đứng không bình thường.
Bộ đội dành một gian trong các gian nhà tôn để làm nơi xem TV. Nhờ đó, dù trời mưa, chương trình xem TV cũng không có gì trở ngại.
Cái TV để ở đầu gian nhà, trên một cái kệ cao, quay mặt về hướng trống. Dĩ nhiên phòng xem TV không có ghế. Mỗi người đi xem tự đem theo một cái đòn hoặc một cái ghế xếp tự mình đóng lấy hay của ai cho. Có người khéo tay, đóng một cái ghế xếp có lưng dựa, ngồi dựa ngữa mà xem cũng thoải mái chán. Cơm chiều xong, điểm danh xong, bảy giờ tối chương trình TV bắt đầu thì anh em tụ lại phòng TV để xem. Có khi vào đó thì người ta ngồi dầy đặc, nhất là ở những chỗ tốt, vừa tầm xem và nghe được rõ. Có anh đến sớm hơn nhưng nhiều khi người ta đã đặt ghế, đặt đòn dày đặc để xí phần.
Khoảng mùa hè năm 1976, sau khi “Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất” họp ở rạp Rex Saigon xong màn trình diễn, đội bóng tròn Tổng Cục Đường Sắt ở Hà Nội vào Saigon đá trận đầu tiên để “mừng thắng lợi”. “Mừng thắng lợi” là do quản giáo nói như thế, và trại cho phép mở TV để xem đài truyền hình Saigon trực tiếp chiếu cho xem trận đấu. Dân ghiền bóng đá bắt đầu bàn tán xôn xao, nhiều ông làm “thầy bàn”, làm “tham mưu”. Có người nói:
– “Xem làm mẹ gì! Làm sao mà Saigon thắng được Hà Nội, có chỉ thị rồi. Cái gì xã hội chủ nghĩa cũng “ưu việt”. Đã ưu việt thì miền Bắc không thể thua miền Nam. Coi làm gì cho bực mình.”
Lê Thành Công, bạn tôi, nói đùa:
– “Cứ coi việc đi ỉa cũng đã thấy ưu việt rồi. Ỉa xong còn hốt đem bón rau. “Hiện đại” lắm đó nhá.”
Tuy có người nói thế nhưng cũng lắm người xem. Mới cơm trưa xong, “Hoàng chấm phết” đã loay hoay dời TV ra cửa giữa bên hông nhà, hướng TV ra khoảng sân trống giữa hai gian nhà. Người ta đoán chắc trận nầy, anh em xem TV đông lắm. Đưa TV ra cửa hông để rộng chỗ anh em ngồi xem.
Một số anh em khác thấy chỗ đặt TV chói nắng bèn lấy hai ba cái poncho nối lại với nhau làm màn che cho tối bớt, dễ thấy hình trên TV hơn.
Ba giờ chiều trận đấu mới bắt đầu nhưng mới hơn 1 giờ, chỗ sân bóng xem TV đã dày đặc người và đòn, ghế. Có người đặt ghế rồi, nhưng vẫn không yên tâm sợ người ta dời mất chỗ bèn ra ngồi ngay chỗ cho yên tâm. Người lui tới nói cười xôn xao.
Ồn ào nhứt là cựu Đại úy Trương Văn Tuyên, hiện ở Montréal.
Ông nầy người Bắc di cư, xuất thân Quốc Gia Hành Chánh, bị động viên, trước kia, khi còn mang “lon” trung úy, đã có thời làm quận trưởng một quận ở Quảng Ngãi, đánh nhau với Việt Cộng khá dữ, “nợ máu”, – nói theo theo kiểu Việt Cộng -, cũng không ít; nói theo kiểu người miền Nam thì anh ấy là “anh hùng diệt Cộng”. Tuyên thuộc loại bạo phổi, học tập không chịu “giác ngộ”, hễ nói tới Dziệt Công thì anh ta đã kích ào ào, đếch sợ thằng ăng-ten nào cả. Giữa sân xem đông người, anh ta cứ oang oang.
– “Coi thì coi nhưng tao chắc chắn là đội Quan Thuế không được thắng. Có lệnh rồi đó, hễ thằng nào đá lọt banh vào “gôn” tụi Hà Nội là có giấy gọi đi học tập cải tạo ngay. Đ.m. Ngu hay sao mà thắng để rồi đi ở tù.”
Có người góp ý, giả bộ hỏi để anh ta nói nghe cho vui:
– “Trận nầy có Tam Lang. Ông liệu Tam Lang có dám đá hết mình như thường lệ không?”
Giọng Tuyên cứ oang oang:
– “Dám! Thằng nầy đứng tiền vệ hay lắm. Nhưng trận nầy, bọn Bắc Kỳ đem banh xuống, nó đứng qua một bên mà nói “Xin mời ông đá vào “gôn” dùm chúng cháu.”
Có người nói:
– “Tụi nó là Bắc Kỳ! Còn anh là gì! Bắc kỳ cục chắc!”
Mọi người cười ồ!
Tuyên cố giải thích:
– “Tao đâu có Bắc Kỳ mầy. Tao là… “Rân Ri Cư”. Anh ta cười, nói đùa.
Nguyễn Hoàng Trương, dân Bình Định, cùng đội với tôi, nói thật to cố ý cho mọi người nghe:
– “Nó là cam Bố Hạ thành bưởi Biên Hòa rồi.”
Thiên hạ lại cười.
Khi vào trận được ít phút, đội Đường Sắt đem banh xuống, Tam Lang ra chận, lại hỏng, Trương Văn Tuyên la toáng lên:
– “Đ. mẹ thằng Tam Lang. Thấy không! Thấy không! Nó đâu có dám chận banh. Có chỉ thị rồi!”
Bên đội Đuờng Sắt, có Điểm, mang số 7, chạy biên khá nhanh. Anh ta đem banh xuống nhanh bên cánh trái, ai nấy hồi hộp, lại nghe Trương Văn Tuyên la to lên:
– “Chặt giò thằng ấy đi. Thằng đó nguy hiểm lắm.”
Vừa nghe, anh em vừa cười vì những câu nhận xét của “Nhà bình luận bóng đá chống Cộng Trương Văn Tuyên”. Đá càng lâu, người xem càng thấy chán vì trận đấu không cân sức, coi như một bên thì đá thẳng cẳng, đá bạo, ăn hiếp, đá kiểu “chém đinh chặt sắt”, một bên thì bị trói chân mà còn sợ gọi đi “cải tạo”.
Sự việc diễn ra lộ liễu quá khiến người ta thấy khó chịu, bất mãn. Số “bình luận gia bóng đá kiểu Trương Văn Tuyên” càng lúc càng đông, khiến cho chỗ ngồi xem càng thêm ồn ào như cái chợ. Khi có một đường banh Saigon bị thua hay mất banh một cách vô lý thì nhiều tiếng ồ đồng loạt vang lên kèm theo những tiếng chưởi tục.
Tới 5 giờ trận đấu kết thúc, Saigon thua một bàn. Mọi người chán nản ra về, uể oải, mệt mỏi và buồn bực. Đâu đâu cũng nghe những lời bình luận khách quan có, chủ quan cũng có nhưng không thiếu khôi hài. Xem một trận banh, sự dàn xếp có tính chính trị hiện ra một cách quá lộ liễu, trắng trợn. Điều ấy chạm đến lòng tự ái của người miền Nam, những kẻ thua trận, cọng thêm với thân phận tù, người ta thấy qua đó, ngày về xa hơn, buồn hơn!
Cũng tại cái sân đó, sau khi mọi người ra về hết, trở thành nơi anh em đội tôi ngồi ăn chiều mỗi ngày. Trong bữa ăn, dư âm trận đấu bóng đá vẫn còn, nhiều anh em lại bàn bạc sôi nổi.
Tôi đang ngồi ăn chung với Nguyễn Thụy Hiền, nói to cho nhiều anh em cùng nghe:
– “Đ. m. Con tau sau nầy nhứt định tau không cho nó làm cầu thủ đá banh.”
Trần Phú Trắc, ngồi cách tôi hơi xa, nói:
– “Bộ anh thấy đá banh như hồi chiều nên anh chán chớ gì?”
Tôi cười:
– “Đâu phải lý do chính trị. Ông coi có thằng cha nào đá banh mà người ta gọi bằng anh hay bằng ông không. Giữ “gôn” hay là “thằng Rạng”, tiền vệ hay là “thằng Tam Lang”, tiền đạo hay là “hằng Đức”, “thằng Vinh”. Có ai gọi “ông Tam Lang”, “ông Rạng đâu”. Tau đâu có muốn người ta gọi con tau bằng thằng.”
Mọi người cùng cười.
Họa sĩ Nguyễn Uyên nói:
– “Ông không đá bóng, người ta cũng gọi ông là “thằng điện chạm vậy!”
Mọi người lại cười to.
Hiền nói:
– “Vậy nhưng mấy ông ấy là thần tượng của đám trẻ con đó. Mấy chả đi đâu, bọn trẻ chạy theo rần rần. Đứa nào nắm tay “anh Rạng” yêu mến của chúng được một cái là tối ấy nằm ngủ mơ.”
Tuyên cười, hỏi:
– “Ông cũng từng nằm mơ hay sao mà ông rành vậy?”
Một hôm, TV chiếu vở tuồng “Cô gái và người lái xe”, Tú Trinh đóng vai cô gái. Xem phim, tôi dè chừng Trần Phú Trắc chưa quên người cũ, bèn nói đùa với Trắc:
– “Bữa nay không có Khả Năng nên không có ai ôm Tú Trinh mà run nữa nghe!” (1)
Trắc trả lời tôi, cười mà như mếu:
– “Thôi mà anh! Phận mình bây giờ là tù rồi!”
Lúc ấy, chúng tôi chưa biêít Khả Năng cũng đi “tù Cải Tạo”.
Tự nhiên tôi thấy buồn, nói với Trắc và Hiền:
– “Hai tiếng phận tù làm người ta đau lòng lắm! Bao nhiêu tình đời tới một chữ tù thì coi như năm sáu chục phần trăm “thuyền ra cửa biển”.
Lại một hôm xem vở tuồng “Gánh Cỏ Sông Hàn”. Vốn không thích cải lương, nhưng chúng tôi tối tối cũng đi xem TV để giết thì giờ. Hôm sau, đi cuốc đất ngoài suối, phía trước cổng trại Suối Máu để trồng rau muống, chúng tôi vừa gom cỏ đem đốt, vừa nói đùa với nhau: “Bữa nay “Gánh Cỏ Sông Hàn” nha!”
Trung úy Đoan, Dziệt cộng, quản giáo, người dẫn chúng tôi đi cuốc đất nói:
– “Các anh nói “Gánh Cỏ Sông Hàn” là nói con ngựa không quên chủ cũ chứ gì?!?”
Chúng tôi nhìn nhau, không nói gì. Trên đường về, Trắc đi bên cạnh tôi, lúc trung úy Đoan ở xa xa, bèn nói:
– “Anh thấy không! Mình thì nói chơi mà tụi cán bộ Cộng Sản thì sâu sắc vậy đó.”
Chương rồng (2) cười cười ý nhị:
– “Thiếu sâu sắc chính trị cũng là một lý do để mất nước đó ông ơi!”
Sau khi hái rau đợt 1 (Cộng sản gọi là thu hoạch), Chương rồng, tổ trưởng, biểu chúng tôi cuốc vào bên hông gốc rau rồi cạy vừa cho gốc rau vừa bị bứng nhẹ lên một chút, xong hạ gốc xuống và tưới nước lên. Quản giáo Đoan hỏi tại sao làm như thế, Chương rồng giải thích:
– “Cuốc cho rễ rau bị đứt một chút thôi. Vì đứt, rễ rau sẽ mọc rễ mới, như cành cây bị chặt nó sẽ nẩy ra chồi mới vậy. Nhờ thêm rễ, rau sẽ mọc mạnh.”
Nghe giải thích, quản giáo Đoan phải nói: “Các anh thông minh thật! Tôi làm nông nghiệp nhiều nhưng chưa nghe ai lý luận như anh.”
Tới ngày hôm sau nữa, đang tưới rau thì có lệnh tập trung về sớm. Quản giáo Đoan phát hiện anh Quang nhân khi đi tưới rau hôm nay, đã trốn trại. Trong khi chúng tôi tập trung chuẩn bị ra về, quản giáo Đoan đi dọc bờ suối, hy vọng Quang có núp vào bờ suối nào đó không. Chương rồng thấy vậy, nói:
– “Thằng Quang nó không ngốc như anh bộ đội nầy đâu. Nó lên xe lam đi Biên Hòa lâu lắm rồi, khi tụi mình còn cuốc rau kia.”
Quang, gốc Trinh sát Dù, đâu có trốn trại theo kiểu quản giáo Đoan nghĩ. Anh ta chuẩn bị khá kỹ. Sáng hôm nay, đi tưới sau, trời hơi lạnh, Quang mặc hai áo. Trong là cái áo trắng, ngoài áo trận. Vừa mới tản hàng, Quang xin “đi ngoài” bên kia suối. Một chốc, anh ta lại xin “đi ngoài” lần thứ hai. Lúc nầy, ai cũng lo làm việc. Quản giáo Đoan đang theo dõi chúng tôi cuốc đất. Quang từ bên kia suối, đi thẳng ra hướng Quốc lộ 1. Gần tới nơi, anh ta cởi cái áo trận dấu dưới bụi lau rồi bước ra bên đường, xe lam Hố Nai – Biên Hòa trờ tới, anh ta nhảy vội lên xe, như một người khách đi đường. Xe chạy mất.
Thế là xong. Vài anh em thấy Quang trốn, chận xe, lên xe rõ ràng nhưng không ai hô hoán, chờ tới khi trên đường về trại mới kể cho nhau nghe!
Gần tới trại, khi quản giáo ở phía sau khá xa, Chương giải thích:
– “Dân biệt kích. Tụi nó học biết bao nhiêu khóa, đánh bao nhiêu trận, mấy bộ đội lớ ngớ nầy, bị qua mặt dễ như không!”
Có nhiều lần trên chương trình TV mấy ông Việt kiều, phần đông ở Pháp, về thăm quê hương nói chuyện với đồng bào. Ông nào giọng điệu cũng giống nhau, cũng “nhân dân ta anh hùng”, “đảng ta vinh quang”, “kiên cường đánh Pháp, đuổi Mỹ”, v.v…
Hôm ấy, có ông họa sĩ Lê Bá Đảng, (3) quê ở Quảng Trị, nghe nói rời đất nước hồi còn trẻ, đi lính Tây, lính thợ gì đấy; ngày xưa, khi tôi còn nhỏ thấy người ta gọi là lính ONS (Ouvrier-Non-Special). Ông họa sĩ Lê Bá Đảng cũng lên TV, ca ngợi Cộng Sản, ca ngợi nhân dân ta, v.v… Ông ta nói:
– “Nước ta có nhiều anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Hai Bà Triệu…”
Có lẽ ông ta lịu miệng mà nói Hai Bà Triệu chớ không đến nỗi dốt mà cho rằng lịch sử có tới những Hai Bà Triệu.
Nguyễn Thụy Hiền, nguyên là học sinh chương trình Pháp, không rành lịch sử Việt Nam, ngồi bên tôi thật thà hỏi:
– “Anh Hải, anh dạy sử địa biết nước ta làm gì có hai bà Triệu?”
Tôi chưa kịp trả lời thì “thầy đồ Nho” Trần Hưng (4), dân “Bình Định hay lo”, cựu đại úy, nói đùa:
– “Có chớ sao không. Anh Hải dạy sử nhưng có biết đâu. Nầy, hai bà Triệu thì một là Bà Triệu Ẩu, hai là Bà Triệu Tả…”
Thiên hạ lại cười.
Tôi nói:
– “Mấy ông đừng ghét họ. Ở Pháp vô đảng Cộng Sản cũng như trong Nam hồi xưa vô dân Tây vậy. Vô để khỏi bị đàn áp, chèn ép. Vô dân Tây thì Tây nó sợ. Vô đảng Cộng Sản Pháp để được Cộng Sản nó bảo vệ cho. Các đảng chính trị bên Pháp chẳng có đảng nào bênh vực kiều dân. Tụi Pháp kỳ thị quá cha tụi Mỹ.”
Khoảng sau tết, một buổi sáng, vài anh em ở Khu 4 nhìn sang đầu nhà phía sau của Khu 3, có một người treo cổ. Bên Khu 4 la lớn lên, chỉ chỏ, khi đó bên Khu 3 mới biết phía họ có người tự tử. Sau đó, có bộ đội xuống, tháo giây đem xác chết đi. Trưa lại, tôi nghe nói người tự tử là thiếu tá Phê, không rõ binh chủng, đơn vị nào.
Hồi mới tới Khu 4, nghe bên Khu 3 kể lại khi học 10 bài chính trị, linh mục Phan Phát Hườn, giám đốc Nha Tuyên úy Công giáo chất vấn Dziệt Cộng dữ lắm mà họ không trả lời được.
Cha Hườn hỏi họ đây là đi ở tù hay đi học tập. Học tập thì phải có ngày khai giảng, ngày bế giảng, không thể có chuyện học tập tốt thì về. Tốt theo tiêu chuẩn nào? Còn tù thì phải có án. Bao giờ thì xử án để biết án tù bao lâu?
Thay vì trả lời, Dziệt Cộng bắt cha Hườn, đem đi mất!
Thế là xong!
hoànglonghải
1)-Trước 1975, tờ báo Sân Khấu in hình bìa Khả Năng ôm Tú Trinh, dưới ghi chú: “Khả Năng run vì sợ ông cò Bình Chánh.” Hồi ấy Trần Phú Trắc làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận Bình Chánh, là bạn của Tú Trinh.
2)-Lê Văn Chương, khóa 17 Võ Bị, người chơi đàn Guitar nổi tiếng ở Đà Lạt, thường biểu diễn chơi đàn một tay cho chúng tôi nghe. Trên đường di tản Quốc Lộ 7, anh bị thương ở ngón chân cái, không được điều trị nên bị gân rút, ngón chân cái tự nhiên ngóc cao đầu lên như đầu rồng. Do đó, Trần Phú Trắc đặt cho anh ta biệt danh là “Chương Rồng”.
3)-Vài người kể cho tôi nghe, mấy năm sau, ông Lê Bá Đảng cũng chán đảng lắm. Về thăm quê, làng Bích La Đông, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, cùng quê với Lê Duẫn. Ông bỏ tiền thuê người vận chuyển mấy tảng đá to đem về để ở đầu làng, nói là để xây cổng làng, nhưng ông bỏ đó, không xây, cứ hẹn lần hẹn lữa hoài. Người làng ai hỏi đá của ai để đó, ông bảo là “Đá Đảng”.
4)-Anh em chúng tôi gọi anh Trần Hưng là “thầy đồ Nho” vì anh đang học thêm chữ Hán, viết chữ Nho rất đẹp, trình độ Hán Học cũng cao. Lúc ấy, tôi học chữ Hán với anh. Tôi không gọi anh ta là “thầy đồ Nho” mà gọi theo tiếng Tàu là “Chi-Pụ” (Sư phụ).
Mấy đêm nay Quang treo võng nằm ngủ, không ngủ đất như các bạn. Sự thao thức về công việc đang chuẩn bị làm Quang khó ngủ, trăn qua trở lại, có thể gây phiền phức cho bạn, và cũng có thể làm họ đặt dấu hỏi, tại sao Quang không ngủ được êm như mấy hôm trước kia.
Có thể họ nghi ngờ Quang âm mưu trốn trại. Điều đó không có gì lạ. Ai chẳng muốn trốn trại nếu có dịp. Quang không sợ họ sẽ “báo cáo với bộ đội” rằng họ nghi anh muốn trốn trại. Chỉ những ai tư cách tệ lắm, không đáng làm người, mới có những hành động chó má như vậy, làm “ăng-ten” cho địch. Còn phần đông thì đám tù binh nầy biết thương nhau. Nghe tin ai trốn được, người ta mừng.
Đối với Quang, việc trốn trại là dứt khoát. Tháng trước gia đình lên thăm, vợ Quang nói: “Phải đi anh à! Cố gắng mấy cũng không ở được với họ.” Vợ Quang chỉ nói chừng đó, không nói nhiều được vì khi thăm nuôi, có “vệ binh” canh chừng.
Phòng bên nầy là nơi anh gặp vợ, các con và cha mẹ. Phòng bên kia, qua một tấm ván gỗ, có thể có một người nào đó đang rình nghe gia đình anh nói gì. Quang cúi xuống nhìn qua phía dưới tấm vách ván. Dưới đó có một khoảng cách với mặt đất. Quang thấy phía bên kia có đội “dép râu”. Vậy là chắc rồi còn gì. Người rình bên kia đang nằm hay ngồi trên giường lắng nghe gia đình Quang nói gì, đôi dép để dưới đất. Anh ta không mà không ngoan.
Đoán chắc như thế, Quang đưa ngón tay lên miệng ra dấu, và chỉ qua phòng bên kia. Ai nấy đều biết, mặt sợ hãi. Cái “chế độ rình rập” nầy khó sống thật. Không phải “cách mạng” rình rập “ngụy”. Chính họ cũng “rình rập” nhau như thế. Không bao giờ họ tin nhau, không có sự thành thật, chân thành. Vậy mà họ cũng ở với nhau được. Tài thật. Câu thơ của Trần Dần, Quang nghe đọc đã lâu, khi học Việt Văn với ông thầy năm Đệ Tứ, lại hiện ra trong trí Quang:
Xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.
“Già rô” còn không tin “Già Rô”! Vậy thì ai tin ông ta? Một chế độ mà người dân không tin lãnh tụ chắc chắn không phải là chế độ có Tự Do, Dân Chủ được.
Đó là động cơ quan trọng nhất để Quang có quyết định trốn trại. Trốn trại rồi sẽ vượt biên. Việc thăm nuôi củng cố thêm ý định trốn trại của Quang. Hôm đó, Quang nói với vợ: “Anh sẽ về!”
Quang không giải thích gì thêm. Vợ Quang cũng không hỏi sẽ về như thế nào. Chồng của cô “tin tưởng một cách tuyệt đối vào chính sách trước sau như một của cách mạng” hay sao? Cô không tin vậy. Cô hiểu chồng, nhưng không dám hỏi thêm. Phòng bên có kẻ đang rình.
Quang chuẩn bị trốn trại khá kỹ, suy nghĩ về việc ấy một cách cẩn thận, “ăn chắc”. Chỉ mới tuần trước, “Dũng Long Biên” trốn trại một cách ngoạn mục, ngay trước mặt bộ đội, như một màn ciné 007, khiến ai nấy thích thú, bàn qua bàn lại mãi.
“Dũng Long Biên” tham gia tổ trồng rau muống ở đám đất
bên cạnh Suối Máu. Cái tên nghe đã ghê! Con suối ở phía bên kia Quốc Lộ 1. Bên nầy là Trại Tù. Trước kia là Trại Tù Binh Việt Cộng Suối Máu, là nơi giam cán binh Cộng Sản bị bắt. Nay là nơi giam các sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trình diện họ tập theo lệnh Ủy Ban Quân Quản Saigon. Họ “đổi chỗ” cho nhau.
Người canh tù thì nay làm người tù. Người tù trở lại làm người canh tù.
Mỗi khu, trại có 5 khu, có trồng một đám rau muống bên bờ suối, để trại “cải thiện”. Do đó, mỗi sáng, có một tổ “Cải Tạo Viên” được bộ đội dẫn từ Khu ra đám rau muống để “thu hoạch”, bón phân, tưới rau…
Khi toán tù nhân từ cổng trại đi ra, bộ đội chận xe và người trên Quốc Lộ lại để toán tù qua đường. Khi họ qua xong, bộ đội cho giao thông trở lại như cũ.
“Dũng Long Biên” ở trong đám tù thuộc Tổ Rau. Hai tay anh ta xách hai thùng tưới tưới nước. Khi “Dũng Long Biên” ra tới gần nửa đường lộ, một chiếc xe Honda 67 do một thanh niên cầm lái vượt đám đông đang đứng chờ, trờ tới. “Dũng Long Biên” nhảy lên yên sau. Chiếc xe Honda phóng đi, rất nhanh. Hình ảnh “Dũng Long Biên” nhảy lẹ lên xe và tiếng rú của ống khói xe làm cho người ta mới giật mình, chưa rõ chuyện gì thì chiếc xe đã chạy được một đoạn khá xa.
Bấy giờ mấy “chú bộ đội” mới biết có người trốn trại. Họ đưa súng lên trời, nổ mấy phát. Không ai biết họ bắn chỉ thiên để báo động hay không dám bắn ngang vì sợ trúng dân. Nhưng trước khi có tiếng sung nổ, người ta nghe tiếng động của hai cái thùng tưới từ tay “Dũng Long Biên” buông ra, rớt xuống mặt đường nhựa cứng. Có lẽ “Dũng Long Biên” cũng hồi hộp không kém mọi người, xe đã chạy một đoạn đường, anh ta mới nhớ ra tay anh còn cầm hai cái thùng tưới, chưa kịp buông.
Cảnh trốn trại hồi hộp và hấp dẫn ấy là câu chuyện được bàn qua tán lại tới những mấy ngày. Không biết mấy “chú bộ đội” nghĩ như thế nào, nhưng với đám tù binh, những người chứng kiến tận mắt hay chỉ được nghe lại, coi như được xem một màn ciné hấp dẫn mà ít lâu nay, chẳng được xem ở ngoài đời.
Bấy giờ có không ít lời bàn của “Mao Tôn Cương thời đại”. Có người thạo tin cho biết “Dũng Phi Long” là chồng đã ly dị của nữ danh ca Thanh Lan. Chương, tổ trưởng Tổ Rau chúa chúng tôi khen: “Một đứa trốn trại hay hơn tài từ ciné, lấy một con nhỏ hát hay nhất xứ, bỏ nhau uổng thiệt!”
Trắc cười: “Người ta là danh ca mà anh gọi nó là “con nhỏ”, nghe đâu có được.”
Chương cãi bướng: “Danh ca cũng còn nhỏ tuổi hơn “moa”, “moa” gọi con nhỏ là được rồi.”
Câu cãi bướng của Chương làm ai nấy đều cười. Người ta có thiện cảm với Chương vì anh là thiên tài đàn ghi-ta đấy.
Việc “Dũng Long Biên” trốn trại làm Quang phải suy nghĩ không ít. Vậy là bọn bộ đội phải cẩn thận hơn, nghiêm nhặt hơn khi dẫn tù đi tưới rau. Nó có nghĩa là việc trốn trại của Quang sẽ khó khăn hơn. Quang phải tính toán, chuẫn bị kỹ hơn.
Trước hết, không thể thiếu một cái gì. Một sĩ quan Biệt Cách Dù, trước khi “nhảy toán” phải kiểm soát rất kỹ lưỡng. Một toán 6 người, không thể khi nhảy xuống rừng rậm rồi mới nhớ ra: “Chết rồi! Quên cái… nầy, hay quên cái… kia”. Không được quên một cái gì hết, cái hộp quẹt, hộp xăng đặc, thậm chí cây kim băng… Không ai có thể tiếp tế cho toán một cái gì khi họ hoạt động đơn độc giữa rừng già. Mối quan hệ với thế giới bên ngoài, chỉ là “vô tuyến”. Thậm chí nhiều khi cắt đứt hoàn toàn, cả “im lặng vô tuyến”.
Việc trốn trại của Quang phải như vậy. Hơn thế nữa, bây giờ chỉ có một mình Quang, không có đồng đội.
Kể từ chân, Quang mang giày “bata”. Giày “bata” chỉ khó khăn khi xuống suối là phải cởi ra. Nhưng hôm nay, Quang không xuống suối, Quang phải trốn rước khi công việc “canh tác” bắt dầu. Trên đường đi trốn, mang giày bata, ít ai nghi ngờ gì.
Quang lựa môt cái quần kaki mầu vàng sẫm. Quần nầy không làm cho bộ đội nghi ngờ mà khi trà trộn trong dân chúng, không ai để ý gì.
Quang phải mặc một cái áo sơ mi trắng. Dân chúng không ai nghĩ người mặc áo sơ mi trắng là người trốn trại tù. Nhưng với bộ đội, mặc áo sơ mi trắng đi tưới rau bị chúng nghi “là cái chắc”. Mấy hôm nay, cuối xuân, nhưng buổi sáng trời còn lạnh. Ngoài cái áo trắng, Quang mặc cái áo “trây-dy” của lính chế độ cũ. Quang bẻ cổ áo trắng xuống, bẻ cổ áo “trây-dy” cao lên, gài nút cổ, vì lạnh. Hoàn toàn, không ai biết, bên trong cái áo lính là cái áo trắng.
Mũ, dễ thôi. Quang dùng cái mũ lưỡi trai màu xanh biển, vợ mới đem cho hôm thăm nuôi.
&
Thế rồi Quang sắp hàng đi tưới sau.
Sau khi trung úy Đoan vào trại dẫn tù đi tưới rau, ra tới cổng Khu, tổ trưởng Tổ Rau Lê Văn Chương đứng đầu toán, ngó lên chòi cao, cất mũ, báo cáo với “chú bộ đội” đang ngồi canh vắt vẻo trên ấy:
-“Báo cáo anh, 11 người đi tưới rau.”
Anh vệ binh trên chòi ngoái cổ ra đếm hàng tù binh. Sau khi đếm đủ số người, anh ta ra lệnh: “Cho đi.” Thế là đám tù lục tục kéo nhau đi ra, người quang gánh để “thu hoạch rau”, người mang thùng tưới nước. Ra khỏi cổng, họ ghé vào bờ tường ngôi nhà bên đường, mỗi người chọn một cái cuốc. Dĩ nhiên, cuốc phải để ngoài vòng rào trại, không để bên trong bao giờ. Bộ đội biết rõ cuốc là một vũ khí lợi hại, nếu tù nổi loạn. “Cách mạng” không tin bọn “ngụy” bao giờ. “Cải tạo viên” thường leo lẻo cái miệng “Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối khoan hồng nhân đạo của cách mạng”, nhưng vác cuốc đánh vào đầu “cách mạng” thì lúc nào cũng có thể xảy ra.
Trên đường đi, Quang than “Tôi cứ đau bụng hoài”. Nghe thế, tổ trưởng Lê Văn Chương trả lời, nói hơi to: “Coi chừng ông bị kiết. Mấy bữa nay tụi nó kiết dữ lắm”.
Ra gần tới ruộng rau, Quang đi chậm lại, nói với Trung úy Đoan:
-“Báo cáo anh! Tôi xin đi ngoài!”
Đoan bảo: “Anh đi đi.”
Quang quay lại nói với anh vệ binh đi sau cùng: “Báo cáo anh, tôi qua bên kia suối đi cầu.”
Anh vệ binh gật đầu!
Tổ trưởng Lê Văn Chương dẫn hết cả toán đi dọc theo suối, xa về đằng kia. Anh ta biểu mọi người sắp hàng ngang, dọc theo luống rau. Chương cầm một cái cuốc, nói: “Các bạn làm theo tôi. Cuốc sâu về phía bên kia gốc rau, không xa lắm, không gần lắm. Xong, cạy lưỡi cuốc lên một chút, rút cuốc ra, lát cuốc tiếp bên cạnh lát trước. Xong, bọn mình cho phân xuống, ít thôi vì loại phân nầy nóng. Tưới nước xong thì về.”
Trung úy Đoan hỏi:
-“Cuốc lên như thế để làm gì?”
Chương giải thích:
-“Rau nầy cắt hai lứa rồi, đã già. Nay phải làm trẻ lại. Cuốc như thế cho rễ rau đứt ra. Rau sẽ mọc rễ mới, mạnh hơn. Cọng rau mới to, xanh hơn. Đây là vớt lần chót, lứa sau trồng rau mới, không xài gốc rau nầy nữa.”
Đoan nói, thật thà:
-“Nhà tôi làm nghề nông, chưa từng có ai suy nghĩ và làm như các anh. Các anh thông minh thật.”
Vậy rồi Tổ Rau lúi húi làm việc, mong cho xong để về.
Xong việc, như thường lệ, Tổ Rau tập họp. Trung úy Đoan đếm người.
Thiếu một người.
Vì muốn về sớm nên ai nấy láo nháo hỏi xem anh chàng nào vắng mặt, ham hái rau hoang hay đi đâu chưa về. Thông thường, khi công việc xong, mọi người xuống suối rửa tay chân. Nhân tiện, có người hái một nắm rau trai mọc hoang bên bờ suối, đem về nấu canh. Vì thế, có người la to:
-“Còn ai dưới suối không? Nhanh lên mà về.”
Không nghe, thấy gì cả. Trung úy Đoan đi xuống suối tìm. Một lúc sau, anh ta lên, nói: “Không có ai cả. Vậy là có người trốn trại rồi.”
Lê Văn Chương kiểm điểm từng người trong tổ, xong, nói to với Trung úy Đoan: “Vắng mặt anh Quang.”
Những người trong toán rau lại bàn tán lao xao. Hơn mười phút sau, xem không thấy còn ai đâu nữa, Trung úy Đoan ra lệnh: “Đi về”. Anh ta sợ trong khi mọi người đang giao động vì có người trốn trại, tình trạng lộn xộn có thể xảy ra, không kiểm soát được.
Khi vệ binh dẫn Tổ Rau rời khỏi chỗ canh tác, Trung úy Đoan đi ngược trở lại con suối, đi dọc bờ, như cố ý kiếm tìm.
Thấy vậy, Lê Văn Chương cười, nói nhỏ với mấy người đi bên cạnh:
-“Quang đâu ở dưới suối mà tìm. Nó lên xe Lam ra Biên Hòa rồi. Dân Biệt Cách Dù, không trốn trại ngây thơ như Trung úy Đoan nghĩ đâu. Nó trốn ngay trước mắt mọi người mà không biết.”
Trắc hỏi:
-“Ông thấy nó trốn?”
Chương cười: “Sao không?’ Rồi Chương giải thích:
-“Nó giả đi cầu bên kia suối. Khi bọn mình tới đằng kia cuốc rau thì nó từ bên suối đi ra lộ, tỉnh bơ. Ra gần tới nơi, nó cởi cái áo lính ra, làm như người dân thường. Vừa lúc đó có chiếc xe Lam từ Hố Nai chạy tới. Quang sợ trễ xe, liền chạy vội ra đường, ra dấu cho xe dừng lại. Anh ta lên xe, như khách đi đường…”
Nguyễn Thụy Hiền, vốn là người thật thà, nghe kể câu chuyện như vậy, không tin, hỏi:
-“Nhắm bộ ông vạch kế hoạch cho nó trốn trại chắc?”
Chương nói:
-“Chút nữa về nhà kể tiếp. Nói đây không tiện.”
Vừa lúc đó, người đi đầu toán thấy có cái áo lính của Quang bỏ lại bên bụi cỏ cao, bèn nhặt lên, nói to: “Áo thằng Quang! Áo thằng Quang!”
&
Chiều hôm đó, như thưòng lệ, lãnh phần ăn xong, nhiều người trong Đội 3 dọn cơm ra ăn. Người thì bưng môt cái tô, người thì dọn ra trên cái bàn gỗ tạp, hai ba ngưòi ăn chung, có tô canh rau muống hoặc rau trai. Những người trong Tổ Rau thường được Trung úy Đoan “bồi dưỡng” cho mỗi người một nắm rau, để thưởng công họ trồng trọt, chăm bón.
Ăn gần xong, Hiền hỏi Chương, ngồi ở phía bên kia:
-“Ông Chương kể tiếp chuyện ông làm đạo diễn cho cuốn phim “Quang trốn trại đi.”
Chương nói:
-“Ông nói vậy chết tui. Nhưng tui biết nó… trốn trại.”
-“Sao ông biết?” Trắc hỏi.
-“Từ sáng, khi chuẩn bị đi, tui đã nghi. Quang có vẻ khác lạ nhưng làm ra bộ bình tĩnh. Bộ đội thì không biết, nhưng phe ta thì biết ngay. Khi nó kêu đau bụng. Tui nói to cho Trung úy Đoan nghe “Ông bị kiết” để y khỏi nghi nếu Quang xin đi cầu. Khi ra tới bãi, Quang đi cầu phía nầy, tui dẫn anh em đi xa phía kia. Vậy, Quang mới dễ trốn.”
-“Khi nó trốn, anh thấy không?” Trần Hưng hỏi.
-“Thấy sao không! Tui biểu mấy ông sắp hàng hướng mắt về phía suối. Tui đứng ngược lại, hướng nhìn ra lộ. Tui thấy Quang đi ra, rất bình tỉnh, cởi áo lính vụt vào bụi, cũng rất bình tĩnh. Nhưng khi chiếc xe Lam chạy tới, Quang phải chạy cho kịp xe. Lúc ấy y mới vội. Tui phục thầm anh Biệt Cách Dù trốn trại mà làm như người đi thăm ruộng. Tiếc thiệt!”
-“Tiếc cái gì?”
-“Tui mà không làm Tổ trưởng Tổ rau, tui có thể trốn trại như Quang. Lỡ một dịp may.”
Sau câu chuyện trốn trại của Quang, có người tiếc cho Chương, một thiên tài “Tây Ban Cầm”. Anh ta đánh đàn Tây Ban Cầm một tay, sinh viên Đại Học Đà Lạt, xuất thân khóa 17 Võ Bị, Trưởng phòng 3 bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân Quân khu 2.
Trần Phú Trắc gọi đùa anh là “Chương Rồng”. Trên đường di tản theo Quốc Lộ 7, Chương bị thương ở bàn chân phải, không chữa trị đúng cách nên ngón chân cái của anh ngóc đầu lên, như cái Đầu Rồng./
Chiều cuối năm, anh Tư Ếch ghé tệ xá. Em yêu xào cho một dĩa bê thui đậu phộng với bún tàu; vì uống bia, mồi không cần có nước. Mời anh Tư Ếch ra nhà xe vừa nhậu vừa bàn luận chuyện văn chương.
Gắp miếng thịt bê, chấm nước tương có ớt xắt, anh Tư Ếch đưa vô miệng nhai sừn sựt. Nốc gần nửa lon bia nghe cái ót, đài phát thanh của Tư Ếch nóng máy bắt đầu lên sóng: “Tui tên Ếch, thứ Tư, dân Mỹ Tho.”.
Tui ngứa miệng chen vô: “Mỹ Tho là thủ phủ, cửa ngõ của Miền Lục tỉnh Nam Kỳ”. Anh Tư Ếch nạt ngang làm tui mất hứng: “Tầm bậy! Mỹ Tho là thủ phủ của tỉnh Ðịnh Tường. Mỹ Tho cùng với Gia Ðịnh và Biên Hòa thành ba tỉnh Miền Ðông”.
“Còn 3 tỉnh Miền Tây là: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.” “Chính vì vậy mới có cái vụ Tây chiếm ba tỉnh Miền Ðông. Ông Phan Thanh Giản lui về Miền Tây giữ thành Vĩnh Long. Giữ không được nên ông mới uống thuốc độc quyên sinh đó”
“Ủa? Vậy mà tui thấy trong Chợ Lớn có đường Lục Tỉnh chạy vô Bến Xe Miền Tây nên tui cứ tưởng Lục tỉnh là 6 tỉnh Miền Tây chớ?”.
Anh Tư Ếch, giọng thầy đời, rầy tui: “Quê mình mà địa lý anh không thông; sử ký anh không biết lại dám vỗ ngực ta đây là người yêu nước?” Bị xài xể quá tay, tui nín khe luôn, để thằng chả mặc sức ba hoa chích chòe.
Anh Tư Ếch giảng rằng: “Thời Việt Nam Cộng Hòa mình gọi Nam Kỳ Lục tỉnh là Nam Phần. Thời CS nó gọi Nam Bộ.
“Viết văn thời nào phải dùng địa danh của thời ấy. Không được viết lung tung. Như nhà biên khảo Sơn Nam từ thời VNCH mà gọi ổng là “Ông già Nam Bộ” là gọi tầm bậy.”
Nhân nhắc tới ông Sơn Nam, tui kể vài cái giai thoại cho anh nghe chơi. Xin lỗi hồi nãy tui hơi quá lời với anh.” Tui trả lời đẩy đưa: “Ôi chuyện nhỏ! Ðừng để bụng. Thùng bia của tui. Dĩa bê thui của vợ tui. Cái miệng của anh. Anh muốn ăn, muốn nhậu, muốn nói gì thì nói. Mình ở xứ tự do mà! Xin anh cứ tự nhiên” Tui xỏ ngọt đau như vậy nhưng thằng cha Tư Ếch lù đù nầy đâu sức hiểu, nên giả tiếp tục lải nhải: “Giai là đẹp, Giai nhân là người đẹp. Thoại là câu chuyện, chuyện thần thoại. Giai thoại văn học là chuyện về các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, nhà văn học có tiếng tăm.
Ðó là về người; còn câu chuyện có thể là có thật; mà cũng có thể là phịa. Cũng có thể là thật một phần; rồi phịa một phần. Do truyền miệng, viết lại tất nhiên sẽ bị tam sao thất bổn.
Phần chúng ta có tập quán quá giang, ăn theo, hưởng xái, thấy sang bắt quàng làm họ. “Ổng là bạn vong niên của tao. Tuần rồi, tao dắt ổng đi uống bia ôm ở ngã ba Chú Ía …bla bla…
Nên giai thoại là: vàng thau lẫn lộn! Thiệt giả bất minh. Vì vậy: Giai thoại: Ai nói? Nói với ai? Nói ở đâu trong hoàn cảnh nào? Nói lúc nào không quan trọng. Quan trọng là cái giai thoại đó muốn nói cái gì?
Anh Tư Ếch bèn kể cho tui nghe một cái giai thoại về cách dùng chữ Miền Tây của nhà biên khảo Sơn Nam.
“Một ông đạo diễn viết: “Ði hái bông súng nấu canh chua”. Ông Sơn Nam gạch chữ hái, thay vào chữ nhổ. “Trời ạ, một thằng Huế như tôi làm sao biết được người ta chỉ nhổ chứ không hái bông súng. Hái chỉ có cái bông thì lấy gì để nấu canh?”
Tui bèn xía vô, xin ‘xạo xạo’ thêm một chút. Chưa nhổ thì gọi là cây bông súng, nó còn cái bông. Nhổ lên ăn để ăn cái cọng không có bông. Theo tui, không phải khác biệt về tiếng địa phương như ông đạo diễn Huế nầy nói đâu. Vì ngoài Trung, ngoài Bắc cũng có động từ nhổ chớ sao không? Bà Hồ Xuân Hương có câu thơ: “Cột nhổ đi rồi lỗ bỏ không”. Ðơn giản là ông đạo diễn nầy dùng chữ trật lất thế thôi.
Anh Tư Ếch quả là dân cà chớn chống xâm lăng. Ảnh cà khịa ông đạo diễn đã rồi ảnh quay qua cà khịa ông nhà thơ. Ông nhà thơ viết bài: ‘Phải lòng con gái Bến Tre”. Bài thơ nầy được phổ nhạc, hát rùm từ trong nước ra tới hải ngoại.
Là dân Mỹ Tho giáp mí với Bến Tre, anh Tư Ếch không chịu cái chữ ‘phải lòng’ của ông nhà thơ xứ Quảng có vẻ coi thường con ghệ Bến Tre của ảnh quá?! Dân ngoài Trung không hiểu chữ ‘phải lòng’ trong quê Tư Ếch. Nếu một mình thì gọi là khoái em. Phần em khoái mình thì cái đó gọi là chịu đèn.
Theo tự điển, động từ ‘phải lòng’ là phải có hai người, trai và gái khoái lẫn nhau! Bậu có cái lòng của bậu. Qua có cái lòng của qua. Ðem hai cái lòng đó đọ vừa khớp với nhau mới gọi là phải lòng.
Còn chỉ mới rượt theo em Bến Tre xuống Phà Rạch Miễu, tính dê hỗn! Mà em đẹp cỡ Phi Nhung chắc có kép lâu rồi đâu có huỡn mà phải lòng với mấy cha?
Rồi chữ ngoe nguẩy nữa. Anh Tư Ếch cũng hổng chịu luôn.
Khi một người con gái hờn mát chuyện gì đó mới ngoe nguẩy. Ngoe nguẩy không phải là làm điệu, làm duyên như ông nhà thơ đã nghĩ!
Rồi từ Sài Gòn xuống Bến Tre là đúng. Vì bà con Lục tỉnh Nam Kỳ luôn lấy đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ làm điểm đứng.
Mỹ Tho cách Bến Tre 11 cây số, bà con mình nói qua Bến Tre; chớ không nói xuống bao giờ. Còn nếu nói điểm xuất phát là Sài Gòn thì không ai xuống Bến Tre hơn 100 cây số mà đi xe thổ mộ tức xe ngựa cả!
Rồi dùng chữ Phà ở đây cũng trật lất. Thời đó, đi xe ngựa làm gì có chiếc Phà mà là chiếc Bắc!
Thế nên làm thơ, đặt lời cho bản nhạc về cái vùng đất mình chưa rành thì nên kiếm Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Sơn Nam mà học. Xin mấy ông đừng phang ẩu nữa được không nè? Chuyện chữ nghĩa không thể giỡn chơi cho được!
Giảng bài xong. Dĩa mồi đã hết. Thùng bia chỉ còn vỏ lon bia. Ðêm đã khuya. Ðài phát thanh vẫn phát. Phát thanh viên Tư Ếch vẫn đía. Thính giả vẫn ngồi đó, mắt nhắm híp, tui đã ngủ tự thuở nào. Ðêm cuối năm, tui mơ về quê cũ.
Là bạn văn của tui, anh Mười Vạch phụ trách mục “Vạch lá tìm sâu” của một tờ báo mạng chuyên về văn học. Ảnh chổng khu làm để tập thể dục cho cái não tuổi già lâu lú lẫn; chớ đâu có ai trả đồng xu, cắc bạc nào. Làm công quả, công chùa như vậy ảnh cũng giúp bà con mình mở mang kiến thức rất nhiều. Vì anh Mười Vạch chịu khó đọc rất nhiều tài liệu để cãi nhau với tác giả.
Mà cãi nhau là chuốc lấy lôi thôi hè. Do đó các nhà phê bình văn học ra đường, mắt bao giờ cũng ngó láo liên như thằng ăn trộm vì sợ bị chúng đánh bất tử. Có độc giả hiền hơn chỉ hăm he: “Ông có ngon về Việt Nam đi! Công an sẽ ưu ái mời ông uống nước trà”.
Tui nói: “Ðời mà anh! Ai cũng thích uống nước đường! Vì nó ngọt. Ai cũng thích được ca tụng. Vì lời nịnh hót dễ lọt lỗ tai, vì nó rất du dương. Không ai muốn bị vạch lá tìm sâu cho dù bài viết của họ có đầy sâu. Cá nhân tui cũng vậy. Tui khoái nghe anh chê người khác. Ðừng chê tui là được. Vì chê tui, tui cũng nổi nóng như thiên hạ thế thôi!”.
o O o
Tuần rồi, anh Mười Vạch kêu tui đến nhậu chơi để nghe ảnh “vạch lá tìm sâu”. Tìm ra cái thói kiêu ngạo CS, cái dã tâm của CS Bắc Việt muốn tiêu diệt phương ngữ miền Nam, buộc phải đồng hóa với phương ngữ miền Bắc. Muốn con không gọi cha mình là ba mà phải gọi là bố. Không muốn mình gọi người lớn tuổi hơn mình là anh mà phải gọi là bác. Anh Mười Vạch có nhắc tới cách xưng hô của các nhân vật trong tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng nhứt của Sơn Nam là Hương Rừng Cà Mau. Ảnh nói chữ dùng đã hay mà ý nghĩa cũng thâm thúy quá.
Cái hương rừng đó là tình người với đất, tình người với nước, tình người với bà con xóm giềng, với chồng, với vợ, với người yêu, với bạn bè văn nghệ. Cái tình bạn văn chương giữa phóng viên báo Chim Trời và Tư Có trong truyện Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư. Nó lịch sự. Nó chân tình. Nó hay lắm. Giờ hơi khó kiếm!
Tui bèn ngắt ngang lời của ảnh: “Bá Nha Tử Kỳ thời nào cũng hiếm. Mà cãi nhau, xỏ xiên nhau như Sào Phủ Hứa Do thì nó có hà rầm”.
Mà hề gì, tui nói, Bá Nha Tử Kỳ hiểu nhau cũng chơi. Sào Phủ, Hứa Do xỏ xiên nhau cũng chơi tuốt luốt. Bịnh gì mà cữ! Người nầy phải khác người kia. Nếu giống hịt nhau như bản photocopy thì chán chết.
Anh Mười Vạch gật gù: “Ờ! Chính vì thế ở Mỹ chuyện gì mà họ đồng thuận trên 50 phần trăm là mừng rồi. Chính vì không đồng thuận mới nảy ra tranh luận. Tranh luận mới đẻ ra cách giải quyết hay hơn. Nước Mỹ nhờ sự khác biệt nên phát triển ào ào. Còn các nước độc tài như Nga, như Tàu thì một nhúm nhỏ đưa ra bắt toàn dân phải đồng thuận. Cự cãi là nó nhốt. Chủ nghĩa độc tài hủy diệt cá nhân. Chủ nghĩa độc tài thiết lập một trại lính nên chậm tiêu và chậm tiến”.
Thấy Mười Vạch cứ vòng vo tam quốc, chạy vòng vòng như đèn kéo quân, tui sốt ruột nên hối: “Nhập đề trực khởi đi! Tốn dầu đèn quá”.
Bị tui nhảy vô họng, anh Mười Vạch có vẻ hơi quê quê, cầm ly rượu lên quất nghe cái ót cho thấm giọng rồi tằng hắng, nói: “Anh chắc biết hồi xưa nhà văn Ngọc Linh chuyên viết truyện dài đăng báo nhiều kỳ (Feuilleton) với tựa rất thơ như Buổi chiều lá rụng, Mưa trong bình minh… chớ? Nhà văn sống nhờ nhuận bút. Sau đó, ổng gom lại in sách bán kiếm được thêm một mớ. Mấy hãng phim mua bản quyền truyện dài để làm phim rất là ăn khách. Ngọc Linh là thư ký tòa soạn của tuần báo Nhân Loại năm 1956, lúc ông chỉ mới 21 tuổi. Rồi làm chủ nhà xuất bản Phù Sa nữa. Ông kiếm bộn bạc. Ra đường, Ngọc Linh ăn mặc bảnh bao, chải chuốt, quần áo láng cón, đầu bi-ăng-tin bóng lưỡng, chạy Vespa.
Rồi tháng Tư năm 75 tràn tới như cơn lốc. Nó cuốn phăng tất cả. Tiền tài, danh vọng về lại con số không, ông phải làm lại từ đầu khi đã ngoài 40 tuổi.
Năm 1982, để kiếm sống, nhà văn Ngọc Linh quay qua soạn tuồng cải lương Nàng Hai Bến Nghé. Nghệ sĩ Mỹ Châu vai Nàng Hai và nghệ sĩ Hùng Minh bự con, cao lớn vai Barber, đại úy Thủy quân Pháp bị nghĩa quân Trương Ðịnh dùng mỹ nhân kế (Nàng Hai) phục kích giết chết gần chùa Khải Tường.
o O o
Anh Mười Vạch nói: “Tui dân miền Tây có máu Lục Vân Tiên: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng. Thấy việc nghĩa mà không làm thì con người như thế không đáng mặt anh hùng, thậm chí đó là kẻ tầm thường. Viết văn cũng vậy, thấy người khác viết trật lất mà mình ngại đụng chạm, không lên tiếng phê bình thì đừng cầm bút viết văn”.
“Ai viết trật vậy anh?”, tui hỏi. Anh Mười Vạch trả lời: “ông Lê Văn Nghĩa chớ ai?” Tui lại hỏi ông Lê Văn Nghĩa là ai vậy? Ổng viết trật chỗ nào, trật nhiều hông?
Ðang mặt mày đỏ ké như con gà nòi đá độ, anh Mười Vạch quất cạn ly Jack Daniel’s cho hạ hỏa, rồi mới giảng cho tui nghe là: “Ông Lê Văn Nghĩa sinh năm 1953, tại Chợ Lớn, ông học tiểu học trường Bình Tây, học trung học trường Petrus Trương Vĩnh Ký. Thời học sinh, ông tham gia phong trào học sinh sinh viên đô thị, bị chính quyền quốc gia đày ra Côn Ðảo. Sau 75, ông Lê Văn Nghĩa có lý lịch đỏ lòm. Ông là “Bố già”, là “Trưởng lão Cái bang”, là “anh Hai Cù Nèo” của tuần báo Tuổi Trẻ Cười.
Khác với những tay khác vô học, ông Nghĩa có học hành đàng hoàng dưới mái trường công lập nổi tiếng nhứt miền Nam của chánh phủ quốc gia. Nhưng ông lại thờ ma CS.
Nhà văn VC Lê Văn Nghĩa dám viết là: “Tôi nhớ có lần tôi đến thăm ông Ngọc Linh tại căn nhà trong hẻm đường Bùi Hữu Nghĩa, quận 5. Ông ngồi uống trà, ngậm tẩu, phía sau lưng ông là một tủ lớn chứa đầy sách tiếng Pháp. Tôi tỏ ý khâm phục thì ông cười nói: May là tao đã bán bớt để ăn rồi, không thì còn nhiều nữa”.
Lê Văn Nghĩa bị Ngọc Linh xỏ ngọt (vì chế độ của chú mầy làm cho tao đói) mà ông Nghĩa nghe cứ vô tư. Lại viết ra khoe nữa. Thiệt là ngây ngô thấy ớn hè.
Cười khè khè xong, anh Mười Vạch bèn vạch lá tìm sâu. Ảnh trích hai chữ “ngậm tẩu” để làm cái cù nèo ngoéo giò ông Hai Cù Nèo chơi. Chỉ hai chữ “ngậm tẩu” tưởng nó nhỏ. Nghĩ kỹ lại thì nó lớn lắm đó!
Sanh đẻ ở Chợ Lớn, học ở Sài Gòn, tức ông Nghĩa là dân Nam Kỳ rặt. Vậy mà dùng động từ “ngậm tẩu” để diễn tả việc hút thuốc của nhà văn Ngọc Linh còn Nam Kỳ rặt hơn ông nữa làm tui thấy lạ quá?
“Ngậm tẩu” là tiếng của người Bắc. Miền Nam không nóí “ngậm tẩu” bao giờ. Nếu gắn một điếu thuốc vô một cái ống nhỏ rồi đốt hút, chúng tôi gọi là: hút píp (pipe). Nhồi hơi chặt chặt sợi thuốc lá vô cái tẩu rồi dùng ống quẹt đốt hút, chúng tôi gọi là: hút ống vố.
Nhà văn Ngọc Linh Nam Kỳ rặt, ông nhà văn VC Lê Văn Nghĩa phải viết ông Ngọc Linh hút ống “píp” hoặc hút “ống vố”. Chớ ông không “ngậm tẩu” bao giờ. Dân giá sống mà ông dám hóa phép cho ổng thành dân rau muống đâu có được nè!
Ở đây không phân biệt vùng miền gì ráo trọi nhe. Mà đâu phải ra đấy. Là nhà văn lớn, hội viên Hội Nhà Văn tuốt ngoài Hà Nội mà ông Hai Cù Nèo dám viết cẩu thả, viết chó thả rông như thế, là không có đặng. Làm vậy tụi nó nói mình nịnh Ba Ke 75 đó!
Tui chen vô: “Thì kêu ông Hai Cù Nèo suy xét lại”. Anh Mười Vạch chép miệng: “Ông Hai Cù Nèo đã ngỏm cù nèo rồi còn đâu”.
Thiệt là tiếc! Tiếc vì mất một người bên kia chiến tuyến để tranh luận chuyện xài phương ngữ như thế nào trong văn chương tiếng Việt cho đỡ buồn khi tháng Tư đen một lần nữa lại về trên đất quê mình mà mình lại không còn cơ hội. Thiệt buồn quá xá hà!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.