Anh Mười Ké!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Anh Mười Ké!

Đoàn Xuân Thu

Thú thiệt với bà con là trình độ học vấn của tui, nói theo kiểu trong nước bây giờ, rất là hạn chế. Chớ hồi xưa nói dễ hiểu hơn là tui học ít, là trình độ Bình dân học vụ. Mà tui học ít thiệt! Hết lớp 5, thi đậu bằng Tiểu học, biết đọc, biết viết là tui nghỉ. Vì Tía tui nói rằng: “Ðọc thông, viết thạo ở trường là đủ rồi. Con còn phải học hoài, học mãi, học đến rờ râu râu rụng, rờ rún rún rung rinh; con sẽ còn học ở trường đời. Ðó mới là cái học thực tế, mới là đáng kể. Còn bằng cử nhân, tiến sĩ chỉ là tờ giấy photocopy, chỉ cần điền tên vô là có ngay lập tức nên nước ta bây giờ có tới cả trăm ngàn Giáo sư Tiến sĩ.

Phần nhà mình có con trâu cày mà nó ốm o, gầy mòn quá! Vì không có đứa nào chăn dắt hay cắt cỏ đủ cho nó ăn. Thôi nghỉ học, về chăn trâu đi nhé! Sau nầy có cái gì không biết con cứ hỏi vợ con hoặc hỏi ‘Google’!

Thời đó chưa có máy vi tính, nhưng Tía tui thiệt là người thông tuệ, nhìn xuyên thấu cả tương lai nên đưa ra một lời khuyên rất chí lý cho tui.

Nhưng thân nam nhi chi chí; cái gì bí mà đi hỏi vợ hoài; tất có ngày sẽ bị nó khinh khi. “Ăn cái giống gì mà ngu như con bò tót thế hả anh?” Mất mặt bầu cua lắm đó! Vậy là ngộ biến phải tòng quyền, trước mặt em yêu tui giấu dốt bằng cách đi hỏi bạn nhậu của tui! Phần chữ cũng có câu rằng: “Học Thầy không tầy học bạn!”.  May mắn thay, tui có một anh bạn nhậu mà tui hằng ngả nón cúi đầu, tâm phục, khẩu phục, tôn xưng, kêu ảnh bằng sư phụ. Vì cái não của anh bự chà bá. ‘Memory’ của ảnh ít nhứt phải trên ‘64 bit’. Trên (tức cái đầu) ảnh thông Thiên văn. Dưới (tức cái mông) ảnh tường Ðịa lý. Chính giữa, (tức cái bụng) thì ảnh rành Sử ký.

Tên của ảnh là Tất Hữu Giang! Ðúng là cái tên tiền định như cái sông Tiền Ðường của Thúy Kiều vậy. Ảnh dịch Nôm, Tất Hữu Giang là ‘Tất Có Giang’. Gặp ai khét tiếng, có chức (xin đừng nói lái), có quyền, có danh, có phận là ảnh đòi có giang tất tần tật.

Cái chủ nghĩa ăn theo, cái thói dựa hơi, thấy sang bắt quàng làm họ nầy nó đang nở rộ như nấm gặp mưa rào trong và ngoài nước nên tụi tui đặt cho ảnh cái biệt danh là ‘Mười Ké’.

(Ké là ngồi chầu rìa ngoài sòng bài, thấy tụ nào đang lên, đang hên thì mình bỏ tiền theo tụ đó. Nó ăn bạc trăm thì mình ké theo ăn được bạc chục)

o O o

Tuần lễ rồi, đọc được cái tin nầy thấy cũng hay hay nhưng vẫn còn hồ nghi là thiên hạ nói dóc. Tui bèn mời Sư phụ Mười Ké đi nhậu để vấn ý, coi ảnh nghĩ thế nào?

“Nhà văn lừng danh Nguyễn Huy Thiệp hồi còn sinh tiền có rất nhiều bạn nối khố. Những người bạn thân thiết đó đã từng đèo ông trên xe đạp cà tàng. Ông Thiệp ngồi sau bọt-ba-ga, ôm eo ếch thiệt chặt cho khỏi té. Sau một khúc chạy ngoằn ngoèo hình chữ chi, hai người xuống xe, bá cổ quàng vai, anh một cốc, chú mầy một cốc ‘quốc lủi’ trên hè phố Hà Nội.

Nghe vậy, anh Mười Ké cười hé hé, phán rằng: “Tin tụi nó viết là chú ngây thơ. Ðó là những tên theo chủ nghĩa cơ hội ăn theo!” “Nghĩa là chúng thấy ông nào khét tiếng bỗng ngã lăn đùng ra chết; thì dù có quen biết hay không, cứ nhận đại là bạn nối khố của mình ngày xưa. Vì ổng đã chết nhăn răng, chết thẳng cẳng rồi thì đâu thể mở mồm ra mà đính chánh tới lui: “Nó là thằng nào? Tui có biết nó đâu! Ðừng cho nó mượn cắc nào nhe mấy cha! Coi chừng bị gạt!”

Cái sách thấy sang bắt quàng làm họ là sách của tui. Chính vì thế tui mới có cái tên Mười Ké đó chớ. Nhưng nói thiệt với chú em là cái đám lòng tong cá chốt, nhân cơ hội để ăn theo nầy không kể số gì so với thằng Tèo Ðía, người bạn chí cốt làm chung sở với Mười Ké nầy đâu.

“Tèo là một nhân viên siêng năng, giỏi giắn, hòa đồng và tốt bụng, nhưng Tèo luôn làm lơ tất cả các cuộc họp mặt ăn nhậu mừng công của công ty.

Cuối cùng, Sếp gọi Tèo đến yêu cầu giải thích lý do tại sao Tèo không thể chan hòa với những người cùng phận ‘cu-li’ như mình?

“Xin lỗi Sếp” Tèo nói: “Tại tui rất bận rộn với tất cả những người bạn nổi tiếng của tui. Rồi ở nhà, tui còn thay tã cho con, giặt đồ, rửa chén cho vợ thì tại sao tui lại phải bỏ thời giờ vàng ngọc còn ít ỏi của mình ra để gặp những người không nổi tiếng chớ?”

Nghe vậy, vẻ chế nhạo, Sếp hỏi: “Là cu-li làm sao chú mầy quen được với ai nổi tiếng?”

Tèo nhún vai: “Sếp không tin thì cứ kể đại một tên đi. Tui cá với Sếp là tui sẽ quen người đó”

Sếp của Tèo, một cách vô tội vạ, nêu ra một cái tên, “OK! Tèo! ‘Mít tơ’ Ðàm?”

Tèo Ðía nhếch mép. “Ồ vâng! Thưa Sếp, ‘Mít tơ’ Ðàm đã từng làm chung một tiệm hớt tóc với tui. Tui chuyên cạo mặt; còn nó chuyên lấy ráy tai cho khách. Tui có thể chứng minh với Sếp điều đó!”

Vì vậy, từ Hà Nội, cả hai bay vô Sài Gòn và gõ cửa biệt thự triệu đô của ‘Mít tơ’ Ðàm. “Tèo! Rồng đến nhà tôm! Rất vui được gặp lại bồ! Vô nhà, tụi mình lai rai vài chai bia Sài Gòn xanh đi!”

Dù rất ấn tượng nhưng Sếp của Tèo vẫn tỏ ra nghi ngờ, Sếp nghĩ rằng Tèo biết được ‘Mít tơ’ Ðàm chẳng qua là do ngẫu nhiên, may mắn.

“Không, không dám may mắn đâu! Sếp chỉ cần nêu thêm một tên của bất kỳ ai khác”

“Người đẹp nội y xóm rẫy Vĩnh Bình!”

“Nội y là quần lót. Tui biết chớ sao không? Tui đã từng với em đi gánh nước đêm trăng cạnh đình làng. Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài; dè đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây. Lâu rồi nhưng trái tim của tui vẫn còn rỉ máu đây nè!”

“Ðía vừa vừa thôi cha nội! Da em trắng như sữa tươi, còn chú mầy mặt nám da nhăn! Ðỉa mà đòi đeo chưn hạc!” “Sếp không tin hả thì mình ghé Quận Chín thăm em chút đi!”

Bấm chuông cái biệt thự bành ky nái. Chờ một hồi không thấy ai ra mở cửa nên Sếp cười khẩy: “Té ra chú mầy chỉ có cái ba đía là ăn trùm thiên hạ”. Nào ngờ ngay lúc đó một chiếc xe Huê Kỳ ngừng nghe cái kịt. Hoa hậu xóm rẫy run lẩy bẩy bước ra, khóc tấm tức: “Trời ơi! Tèo ơi! Bấy lâu nay anh phiêu dạt phương nào? Em đăng báo tìm trẻ lạc mà hổng có ăn thua! Em đang buồn vì bọn đạo chích mới nhập nha, khoắng của em bộ sưu tập đồng hồ 13 tỷ. Nào ngờ lúc tang gia bối rối như thế nầy người xưa lại hiện về như mộng mị. Thôi vô nhà đi, em nấu bún mắm Vĩnh Bình cho anh ăn để khuây khỏa bớt nỗi nhớ thương em? Còn đây là ông nào? Anh kêu ổng đi chỗ khác chơi đi. Em muốn chỉ hai đứa mình đêm nay thôi nhé?”

Tèo thoái thác bữa nay anh hơi bận! Phần đâu bỏ Sếp của anh cho được nè. Ðể tuần tới huỡn, anh sẽ ghé rồi đôi ta mặc tình mà tâm sự”.

Sếp bây giờ cũng hơi ngán ngán Tèo rồi. Nhưng nghĩ những nhân vật đình đám trong giới ‘showbiz’ nầy là đồ lô-can không đáng kể!

“Sếp còn chưa tin hả! Cho thêm tên một ai khác đi! Ðồ ngoại cũng được!” “Kim Chính Ân!” Tèo nói: “Tui biết Kim Chính Ân trong nhiều năm lúc còn ở Thụy Sĩ.”

Ðể chứng minh Tèo không bố lếu, bố láo, cả hai bay đến Bình Nhưỡng. Kim Chính Ân đang đứng trên lễ đài chứng kiến quân đội CS Bắc Hàn với hỏa tiễn tầm xa rầm rộ duyệt binh qua Quảng trường Kim Nhựt Thành.

Sếp nghĩ: Lần này Tèo sẽ không thành công. Nó không thể lọt vào mắt của lãnh tụ CS Bắc Hàn cho được!

Nhưng nửa giờ sau, Tèo xuất hiện với Kim Chính Ân trên lễ đài. Lúc Tèo quay lại mới hay rằng Sếp của mình lên cơn nhồi máu cơ tim đang được các nhân viên cấp cứu vây quanh.

“Chuyện gì đã xảy ra?” Sếp của Tèo nhìn lên và nói: “Khi chú mầy xuất hiện trên lễ đài thì một ông đứng bên cạnh tớ hỏi: “Thằng mập như con heo đó là thằng nào mà nó lại đứng bên cạnh ông Tèo vậy chú?!”

Anh Mười Hổ

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Anh Mười Hổ

Chiều cuối năm Tân Sửu, năm Trâu, tui nghỉ cày. Anh Mười Hổ, bút hiệu là Ông Ba Mươi, điện hỏi tui mùng 3 Tết có huỡn không? Tui hỏi: “Chi vậy?”. “Nhậu để mừng năm mới chớ chi?”.

Anh Mười còn “điều tra xét hỏi” thêm là coi tui đã chích ngừa đầy đủ hay chưa? Tui nói rồi. Em bác sĩ gia đình đẹp như tài tử Củng Lợi bên Tàu đã lụi tay (tui khoái lụi mông hơn, đã, mà hổng đau) của tui trước sau ba mũi”. “Vậy thì được! Chớ không chích không chơi!”.

Tui chọc quê anh Mười Hổ: “Là cọp, lại sợ con Omicron nhỏ xíu hay sao?”. “Ối voi nó vật còn chết, cọp mà nhằm nhè gì?”.

Sau đó, anh còn dặn thêm: “Chiều mùng 3 Tết, thằng Vằn, con tui, đi làm về, tui kêu nó tạt ngang qua, rước chú Ba luôn. Ðúng 5 giờ chiều nhớ nhe!”.

Ðầu năm được mời nhậu mở hàng nên tui khoái chí tử. Hên quá, năm nay có mối nhậu dài dài. Uống suốt năm mà không tốn đồng xu, cắc bạc nào, há không khoái lắm ru?

Cửa nhà anh Mười Hổ đã mở sẵn, rước khách quý vào nhà, tui khỏi cần bấm chuông lâu lắc. Thấy cái bản mặt của tui, anh Mười xá xá. Vì ăn nhậu thời ôn dịch không cho phép được bắt tay nhau.

Anh Mười nói vọng vô sau bếp: “Mun à! Có chú Ba Xạo đến chúc Tết”. Chị Mười Hổ, nhũ danh Trần Thị Mun, đon đả ra chào. Xong kêu con gái: “Vện à, con dọn cháo gà ra cúng lẹ lẹ lên để tía mầy với chú Ba nhậu chơi.”.

Tui hỏi anh Mười Hổ, nhà anh sao ngộ ghê? Chồng tên Hổ, vợ tên Mun. Con trai tên Vằn, Con gái tên Vện. Nhà anh Mười giống hịt một gánh xiệc hay cái chuồng cọp trong sở thú.

Anh Mười Hổ ngửa cổ nốc cạn một cái sec Jack Daniel’s rồi rỉ rả cắt nghĩa như vầy: “Chẳng qua, tui sanh giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần, năm 1950, năm nay 72 tuổi, cũng là năm tuổi. Chính vì Dần hết ráo, từ đầu tới đít, từ trong ra ngoài; nên tía tui đặt tên tui là Hổ. Nguyễn Văn Hổ. Hổ là con cọp đó. Hồi xưa đi hỏi vợ, con Mùi, con Hợi đâu đứa nào chịu ưng tui. Tụi nó nói: “Em là dê, là heo về với anh Hổ, anh ăn thịt em sao? Cuối cùng, tía má tui phải trầu cau tới miệt U Minh Thượng mà cưới con Mun cho tui đó chớ. Em Mun chỗ nào cũng đen vì là con gái lớn lên ở rừng. Nơi U Minh, Rạch Giá thì quá sơn trường, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Thấy cọp đua hoài nên em nói: “Mười Hổ nhằm nhè gì? Một trăm hổ em còn chưa sợ!”.

Chị Ba Mun nghe ông cố nội của chỉ kể lại: “Thưa thớt lắm. Sông Cái Lớn, Gò Quao này nhiều khi chèo ghe suốt ngày mà không gặp một nhà nào. Kỳ dư toàn là rừng. Trên bờ có cọp, dưới sông có sấu. Chèo ghe ban ngày, chừng vài trăm thước là thấy sấu nổi trước mũi ghe. Trời chạng vạng, ông Mun, ông Vằn, ông Vện rống, rung rinh mặt nước.

Rượu vô lời ra. Hổng lẽ để anh Mười chiếm đài phát thanh rồi còn chê tui dốt đặc cán mai, chỉ biết nhậu, không biết gì hết ráo về xứ sở quê mình, nên tui chen vô: “Nghe ông bà mình kể lại: Xem được lễ khai thị chợ Bến Thành mới, “Tân Vương Hội”, dài ba ngày đêm 28, 29 và 30/3/1914 một lần chết cũng sướng. Cả 100 ngàn người Sài Gòn và các tỉnh đổ về rầm rộ, đông hơn chợ Tết. Có múa lân, biểu diễn võ nghệ, nhạc bát âm và có cả ban nhạc của nhà binh Pháp. Tối có hát bội, pháo bông, xe hoa, đèn xanh đỏ giăng xung quanh chợ sáng trưng như ban ngày. Ðặc sắc nhứt là có màn cô Năm Vuông, con ông Hai Ất, thầy võ đất Tân Khánh, Bà Trà, Tân Uyên, ở Thủ Dầu Một đánh nhau với cọp dữ. Ðánh từ ban mai mãi đến giờ ngọ mới chấm dứt. Cuối cùng, con cọp bị cô Năm Vuông dùng ngọn lao đâm ngay yết hầu chết ngắc. Con đánh cọp ngay giữa cái đất Sài Gòn. Cha đánh cọp trong rừng vang danh cả nước. Bây giờ vùng đất rừng bên cạnh làng võ Tân Khánh, Bà Trà vẫn còn mang tên là “Truông Bà Năm Vuông”. Và địa phương cũng có thành ngữ: “Cọp Bàu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh”. Võ Tòng Tân Khánh là chỉ ông Hai Ất đó đa!”.

Anh Mười Hổ nghe xong, gục gặc cái đầu thán phục nói: “Cô Năm Vuông giỏi võ như Võ Tòng. Võ Tòng giết cọp tại đồi Cảnh Dương; còn cô Năm Vuông giết cọp ngay trước mặt bàn dân thiên hạ, ngay tại cái chợ Bến Thành. Ai ai cũng biết”.

Tui bèn nói: “Ðó đó đa! Cha con ông Hai Ất đánh cọp là có thiệt. Nhiều người chứng kiến. Chớ còn cái vụ Võ Tòng đánh cọp là do ông Thi Nại Am đặt dóc trong truyện Thủy Hử mà thôi. Ông Thi Nại Am viết rằng: “Gần đây, trên đồi Cảnh Dương này xuất hiện một con cọp rất lớn, nó đã ăn thịt nhiều người. Vậy hành khách ai qua đây cũng nên chờ tập hợp đông đảo và chỉ có thể qua đồi vào ba giờ Tị, Ngọ, Mùi. Xin chớ quên mà uổng mạng. Vậy mà Võ Tòng hơi xỉn xỉn, coi lời cảnh cáo như pha, cứ phăng phăng qua đồi Cảnh Dương. Cọp ra vồ bị Võ Tòng đánh chết ngắc”.

Sự thực là: Võ Tòng người Sơn Ðông đã xuất gia thụ giới, song chẳng tuân thủ giới luật nào cả. Từ tửu sắc tới tiền bạc, ngay cả việc giết người, Võ Tòng coi cũng như pha. Tóm lại Võ Tòng là một tay bán trời không mời thiên lôi! Võ Tòng sống nghề mãi võ, phiêu lãng giang hồ, rày đây mai đó. Tới Hàng Châu được quan tri phủ là Cao Quyền rất khâm phục. Võ Tòng được Cao Quyền phong cho chức đề hạt. Cao Quyền đắc tội với các nhà quyền quý ở Hàng Châu nên bị bãi quan. Võ Tòng cũng bị huyền chức làm một chức quan nhỏ trong nha môn nên đem lòng oán hận.

Quan phủ mới của Hàng Châu là Thái Cùng, con trai của Thái sư Thái Kinh ở kinh đô. Dựa vào thế lực cha mình, Thái Cùng làm đủ chuyện càn quấy, ức hiếp dân lành. Vốn người nghĩa hiệp, thấy Thái Cùng bức hiếp dân lành, Võ Tòng nấp ngoài cửa nhà họ Thái, đợi khi Thái Cùng vừa ra ngoài cửa thì lập tức xông ra giết chết. Võ Tòng cũng bị lính nha môn bao vây bắt sống. Trong nhà lao, Võ Tòng bị Thái Kinh sai người dùng cực hình giết chết. Dân Hàng Châu cảm kích mang xác Võ Tòng về chôn tại cầu Tây Lãnh rồi lập một bia đá bên trên “Mộ của nghĩa sĩ đời Tống, Võ Tòng”.

Thái Cùng còn có biệt hiệu là Thái Hổ nên khi Võ Tòng giết chết Thái Cùng để trừ hại cho dân, người ta mới ca ngợi Võ Tòng đã “đánh hổ”.

Sở dĩ dân Tàu gọi mấy tay tham quan ô lại, chuyên bức hiếp dân lành là hổ, là do truyện Hà chính mãnh ư hổ trong sách Lễ Ký mà ra.

Chuyện rằng: “Khổng Tử khi sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn thấy một người đàn bà khóc ở ngoài đồng, nghe thê thảm lắm. Người nói rằng: “Người đàn bà này xem như trong nhà có trùng tang”. Rồi sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa rằng: “Ở đây lắm hổ, bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, bây giờ con tôi lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ạ!”. Thầy Tử Cống hỏi: “Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác?”. Người đàn bà nói: “Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc tàn bạo như các nơi khác”. Thầy Tử Cống đem câu chuyện thưa lại với Ðức Khổng Tử. Ðức Khổng Tử nói: “Các ngươi nhớ đây: Chính sách hà khắc khốc hại hơn là hổ!”

o O o

Như vậy để ôn cố tri tân: Bên Tàu, Võ Tòng giết Thái Hổ, một tay tham quan ô lại để cứu lương dân. Cô Năm Vuông và thầy võ Hai Ất, đầu thế kỷ 20, đã giết cọp cũng để bảo vệ lương dân.

Cọp trong rừng, người ta giết hoài cũng hết. Giờ phải đưa hổ vào danh sách động vật sắp tuyệt chủng để bảo vệ. Ai giết cọp để nấu cao hổ cốt là bị ở tù.

Nhưng bọn tham quan ô lại là hổ báo với lương dân, diệt con nầy thì lại lòi ra con khác. Vậy mà cứ đánh trống thổi kèn: “Ðất nước ta chưa bao giờ được như hôm nay?”, thiệt là giễu dở!

NÔN RA MÁU     

Truyện trên Net

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

NÔN RA MÁU     

Có anh nông dân hút nhiều thuốc lào viêm phổi. Một bữa nặng quá ho ra máu. Người nhà thấy thế đưa đến trạm xá.

Đến nơi ông bác sỹ già trực bảo:

– Nó làm sao.

– Dạ…nôn ra máu bác sỹ ạ.

Thế là ông hý hoáy ghi vào sổ khám bệnh:    

– Lôn ra máu…

Rồi ông nói ráo hoảnh:

– Lên Huyện, nặng lắm!

Đến huyện bác sỹ trực nhìn qua sổ y bạ càu nhàu:

– Mẹ, ngu quá, có dấu huyền cũng không đánh vào, “lôn” là cái khỉ gì mà ra máu.

Rồi quát, lên tỉnh ngay sau khi thêm cho một dấu huyền to đùng vào chữ “lôn”.

Đến tỉnh bác sỹ trực chửi tục:

– Cái bọn thất học, dùng từ bố láo, học mãi mà không biết gọi một từ “âm hộ” cho có văn hóa. 

Rồi quát:

– Y tá đâu, sắp đẻ rồi, băng huyết này…

Xe băng ca chạy rầm rầm quýnh quáng, không ai nhìn bệnh nhân, cô y tá đẩy xe vào phòng cấp cứu, thò tay khám giữa hai chân “sản phụ” rồi hét lên:

– Đẻ ngược rồi, em đã túm được một chân đứa bé…

Cạn lòng

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Cạn lòng

Portrait of a Poet
Paolo Picasso

Chúng tôi đoán không lầm hình như thời gian gần đây sức sáng tác của ông có vơi đi?

Vơi nỗi gì? Ngắc ngoải gần chết đấy chứ lị.

Mắc phải bệnh gì mà ghê gớm thế?

Tháng trước, đang đi, chỗ có đặt tượng Lê-nin đấy, vô cớ một thằng dở hơi chạy xe điên nó đâm không khoan nhượng vào người tôi cô ạ. Nằm thẳng cẳng, thấy sao luôn. May phước chẳng theo ông bà, nếu không thì lắm đứa thối mồm lại rêu rao: Ôm chân tượng đài lãnh tụ mà chết.

Kết quả?

Tôi gọi xe ôm, nhìn mặt một đứa tử tế, bảo chở gấp vào bệnh viện. Nó tử tế thật, lấy giá mềm, không nỡ chặt chém. Đợi hơn tiếng, bác sĩ khám nghiệm linh tinh rồi chứng nhận tôi dính 35 phần trăm thương tật.

Có phải nằm viện không, mất bao lâu?

Mất hai hôm và bay biến gần ba triệu đồng.

Hai hôm. Thế nào cũng có bài thơ ghi lại cảm xúc khi va vấp hoạn nạn?

Thơ phú gì cho buổi ấy. Rêm mình và hận đời đen bạc quá lắm.

Vậy thì ông làm thơ trong trạng thái nào? Ông tự ngăn mình không được lạm dụng thơ văn để chuyển tải lời nguyền rủa?

Hỏi thế thì hoá ra cô ít đọc thơ tôi? Tôi từng chửi vung vít trong lắm bài thuộc dạng thất ngôn. Chửi cạnh chửi khoé thôi, chả dại nêu đích danh thằng nào cả. Con người cũng tựa mưa nắng cô nhỉ, vui thì ca ngợi vẻ đẹp mà buồn thì bêu rếu cái ác cái đểu.

“Em dong buồm trắng ra khơi, sóng xô đồng vọng cuộc chơi đầu hàng”. Trong tập thơ mới này ít thấy những bài lục bát của ông?

Lý do là tôi tính gom riêng những bài lục bát cho tập sau. Tính là tính vậy chứ chẳng biết có bận sau không. Mấy ngày trong nhà thương nó xúi tôi mang cái ý tưởng, rằng mọi thứ thảy đều tạm bợ. Tôi rất tâm đắc câu nói của ai đấy, một người ngoại quốc, nôm na như thế này: Mỗi tối lên giường, chúng ta không đảm bảo rằng mình còn sống tới bình minh, nhưng chúng ta vẫn để chuông báo thức cho ngày mai. Đó là sự hy vọng.

Ông có vẻ bi quan? Ông có nuôi niềm hy vọng nào không?

Nếu tôi lạc quan, cô có gọi tôi là kẻ ngoài hành tinh không? Tôi hy vọng là thọ được tới tuổi 58.

Có bước ngoặc quan trọng vào hạng tuổi đó?

Nói cô đừng cười, một lão thầy bói rất uy tín nắm lấy tay tôi và bảo thế này: Ông sẽ lấy vợ lần thứ hai, người ấy kém ông đúng thập niên, 48 tuổi.

Ông tin vào những thứ siêu nhiên vô hình?

Đâu phải riêng tôi, cả xã hội này đều vậy mà cô. Nếu không, sao bỗng dưng đẻ ra lắm nhà ngoại cảm thế? Chết mất đất, chết dấm chết dúi, chết trên ba chục năm, vậy mà nhà ngoại cảm đi xăm xăm vào rừng chỉ đích danh một nắm xương tàn cô quạnh nằm dưới ba tấc đất. Giời ơi, mấy sếp chúa duy vật nghe thế phải xiêu lạc thần trí ngay. Hơn cả máy dò mìn với lại radar các thứ.

Trước, tôi có nghe ông gặp chuyện buồn. Giờ, ông có đôi phần nguôi ngoai?

Tôi cố quên nhưng nguôi ngoai chẳng tìm tới tôi cô ạ. Đọc báo tôi thấy thằng cha đại gia gì đấy nó bỏ tiền đúc tượng ba bà vợ cũ từng phụ bạc nó đặt trong góc vườn. Sáng sáng nó ra đứng đái trước mặt ba bức tượng. Trời, sao nó chơi ngông và nó thù dai tới mức đó. Là thương gia thành đạt, nếu nó nổi hứng nhảy vào địa hạt thơ văn thì xem như chết một cửa tử. Bọn chúng mình có mà bốc đất!

Ông nói vậy có ý gì?

Ý tôi là ngày nay muốn làm nhà thơ đâu khó khăn gì. Bộ cô chưa nghe người ta từng bảo là con dân Việt ai cũng có máu thi sĩ sao?

Con đường dẫn ông vào thế giới thi ca có suông sẻ không? Hình như thoạt đầu ông từng gây nên xì-căng-đan.

Cô đã nhắc thì tôi cũng nên vui miệng kể ra. Đó là bài “Thân Thể”, tôi gửi cho một tập san văn chương nhưng bị ném vào thùng rác. Tôi gặp tay thư ký toà soạn bôi trơn cho lão một phong bì dày cộm. Thế là ổn, bài thơ moi ra từ thùng rác được chễm chệ nằm trong số báo chủ đề “Thơ Hậu hiện đại” của các nhà thơ đương đại. Ôi chao, sao tôi ghét thậm tệ cái chữ đương đại này quá, y như là đồ hàng nhái của Trung quốc.

Ông còn nhớ mặt ngang mặt dọc bài thơ ấy không?

Để tôi châm một điếu thuốc, thong thả đọc cô nghe. Phải mà có cốc rượu cầm tay nhỉ. Mẹ, mấy thằng bác sĩ làm hỏng chuyện cả. Chúng nạt nộ bố nó: Ông kiêng đi nhé, thích đi bắt tay với Các Mác Lê Nin đấy phỏng? Chừa đi, nhớ? Hút thuốc thì “tha hồ mây trắng bay” .Đây, bài thơ siêu thực đầu đời của tôi nó như thế này:

nói thân Em không phải chỉ là thân Em
nói thân Em không phải chỉ quan hệ xác thịt với anh
nói thân Em không phải toàn bộ vấn đề thân Em
nó chỉ có một cái chỗ
cửa mình với hai cái vú.

Khi họ ném vào thùng rác họ có thông báo lý do cho ông biết không? Đại loại như ngửi không vô, tỉ dụ như tối như hũ nút hoặc mang âm mưu hiểm độc bôi bẩn hội nhà văn…

Cô mà nói thêm thì không khéo mà mang tội phạm thượng đấy. Bài này tôi ăn cắp ý tưởng siêu việt trong đoạn diễn văn kinh điển của ngài Nguyễn Phú Trọng. “…nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa”.

A, thảo nào! Tờ báo văn học ấy đăng cũng phải phép thôi, đọc lên nghe rất… hậu hiện đại. Thế ông còn bài thơ nào ấn tượng như vậy không?

Chán khối. Gò đống. Hằng hà. Gạt đi không hết. Ngẫm ra chúng ta phải nên mang ơn các vị lãnh đạo cô ạ. Cứ bình tâm và kiên nhẫn nghe họ nói, thế nào cũng nhặt ra được đôi điều thú vị, những thứ mà người bình thường như chúng ta không tài nào nghĩ ra. Nhờ vào họ mà đám bình dân đẻ được từ mới: Biết chết liền! Những nhà thơ đương đại của chúng ta, nói tình ngay, cần phải trau dồi cái sự cố “biết chết liền” ấy. Anh làm thơ mà như phép giải một bài toán đố thì bỏ mẹ rồi. Phải sương khói, phải mù mờ, phải đánh đố dư luận, phải chơi trò bịt mắt bắt dê mới thống khoái.

Ông nghĩ sao về lần phát ngôn mới đây của Đại tướng Bộ trưởng bộ quốc phòng: “Không phong tướng, anh em tâm tư”?

Cá nhân tôi, tôi cho đó là câu nói chứa đầy sự nhạy cảm. Chữ “tâm tư” ấy hay chứ không đùa đâu. Chúng ta chẳng nên đòi hỏi một quan võ phải ăn nói có thoa mỡ ở mồm như bọn quan văn. Riêng trong giai đoạn nhiễu nhương này thì chữ “tâm tư” nó mang một nội hàm cực khủng. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, chẳng phải đó là phương châm của bọn làm thơ siêu thực sao? Tôi ủng hộ ông ấy, ở cái tính thật thà không lấp liếm man khai trình độ học vấn như đại đa số đảng viên.

Nếu có người dí súng vào bụng ông buộc ứng khẩu ngay một bài thơ ngắn, trong nhất thời ông sẽ xổ ra bài gì?

Sao cô ác với tôi thế? May mà trời sinh tôi ra làm kẻ dại khờ luôn bị tập thể hiếp đáp. Giai cấp bị bóc lột xin có mấy câu ngẫu hứng:

Du là đi
Chẩn là đoán
vừa đi vừa đoán
nói trẹo quai hàm
là có dân chủ.

Tuyệt! Giả như có rượu ở đây tôi buộc ông phải cụng ly với tôi ngay.

Thôi nhé. Đừng phỏng vấn linh tinh nữa nhé. Nói thêm ra tôi sẽ bị quy chụp là chao đảo đánh mất lập trường rồi hệ quả bị cô lập, tứ cố vô thân.

Họ đồn đoán rằng vợ ông đã bỏ đi, thôi sống chung cùng ông? Thú thật là tôi không tin những gì họ thêu dệt…

Tôi rất “tâm tư” về chuyện đó cô ạ. Tôi hằng tin có lửa ắt phải có khói, đứa làm thơ như tôi suốt đời rớt mồng tơi bởi hắn cố giữ đôi tay không nhúng chàm. Thời bây giờ bắt bà ấy phải làm vợ ông Tú Xương nghĩ cũng xốn lòng. Bà ấy xuôi Nam mưu cầu một cuộc sống sáng lạng cho bản thân thì tôi không đủ tư cách để níu chân van nài bà ấy ở lại, làm thế là chà đạp vào sự tự do dân chủ của riêng cá nhân bà ấy. An ủi là phút lên đường bà ta không gửi lại tiếng chì tiếng bấc mắng nhiếc các thứ. Bà ấy chỉ đọc khẩu quyết, nhại lời ông Nguyễn văn Bình làm thống đốc ngân hàng: “Dân có vàng thì dân giàu, nhà nước giữ vàng của dân thì nước sẽ mạnh”. Ngày nào giàu mạnh tôi sẽ quy cố hương san sẻ cùng ông bổng lộc, tạm thời căn hộ này tôi giao khoáng cho ông tuỳ nghi hành sử. Chỉ có vậy thôi. Bà ấy tự tay ghi xuống cái dấu chấm vào bài trường thi chưa hoàn thành của tôi. Căn nhà lạnh không bằng hồn đầy gió, giấc ngủ neo triền dựng bóng cảm hàn.

Thơ ông đấy à? Khi về già, điều gì ám ảnh ông nhất?

Sự hối tiếc. Hối tiếc đủ điều, quả thực là tôi thiếu học thức, nhân cách, sự đối chọi với cuộc sống… Có nhà văn nổi tiếng ở Nam Mỹ nói thế này: Tôi chỉ có duy một niềm hối tiếc, là khi tôi chết tôi chẳng được chết cho tình yêu. Nói bỏ lỗi, nếu ngày nào bọn xâm lược phương Bắc tràn qua biên giới gây hấn, tôi sẽ xin được ôm súng ra án tuyến đầu, chết cho quê hương e phải nên xem đó là thứ “anh em họ tâm tư”.

Chúa ơi, tôi can ông đừng vẽ chuyện. Ông liệu mà giữ mình và giữ mồm, ra đường nhớ ngó trước trông sau. Bớt làm thơ thời cuộc kẻo xe điên lại thay phiên húc vào người.

Cô về đấy à? Có dư thời gian không, chúng ta ra ngồi cái quán đầu ngõ đánh chén.

Ông khao tôi hay sao? Tiền bạc rủng rỉnh thế cơ!

Ậy, chú bán thịt chó ấy luôn vui vẻ mỗi bận tôi ghi sổ, tình đồng chí vẫn bất diệt.

Ừ, thì bất diệt. Nhưng tôi chả dại xơi thịt chó, ông nghe có tâm tư không?

Hả. Tâm tư, tâm tư. Và dại khờ nữa chứ. Đi xe cẩn thận, nón bảo hiểm đâu? Mà này, chớ thông báo cho ai hay về cuộc trao đổi giữa chúng ta hôm nay, một chiều nhọ mặt người.

Vâng ạ. Chào ông. Hồi nào lấy vợ hai nhớ tống cho tôi cái hồng thiệp.

Hồng thiệp hay sổ đỏ?

Thôi đi bố!

Hồ Đình Nghiêm

Bảy ngàn chữ

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Bảy ngàn chữ

Hồ Đình Nghiêm

Tôi từng có dịp thất thần lên núi, từng có khi về đứng choáng ngộp trước biển. Bầu trời ở hai chốn đó mang vẻ lạ lẫm khác nhau, nhưng tựu trung chúng váng vất chút hoang dã, mênh mang chút hăm doạ.

Vuông trời trong Đại nội thì khác hẳn, mây bay ngang tự dưng vấn vương sắc tím; trời đang lững lờ xanh trong không dưng phải chịu phủ dụ, tráng lên đó một tí vàng vua chúa một tí lục của rong rêu. Thứ sắc màu trông cũ kỹ, nửa ấm áp nửa kia là thoáng rợn da. Khái niệm sáng trưa chiều luôn bị đánh lừa, thời gian nhích qua đây làm người ta ngờ vực về một vó câu luôn hăm hở trôi bên ngoài cảnh giới. Trôi đi trôi đi, để lại sự hoài cổ lay động trên cây ngô đồng đứng trầm mặc giữa cổng Hiển Nhơn nối tới điện Thái Hoà.

Tôi chở o đi và vô trong nội là mệnh lệnh o ưa truyền đạt. Huế nhỏ, đồng ý, nhưng không vì thế mà người ta bức đầu vò tóc nghĩ chẳng ra một đích tới. Bộ hết chỗ chơi hay răng? Tôi có cảm tình với o và làm mất lòng kẻ khác là điều chẳng ai muốn. O mang tên một loài hoa và tôi hơi choáng khi nó trùng tên với mạ tôi. Chỉ khác họ, kỳ dư chữ lót cùng hương sắc của hoa thì y trang. Và nói có trời chứng giám, tôi là đứa con rất mực hiếu thảo chưa từng làm mạ phật lòng. Đồ con quỉ! Mạ tôi có khi ngầy ngà, nhưng tôi tin đó là lời mắng yêu. Quỉ sứ! Đôi khi o rủa xả và tôi nhăn răng cười nghe hạnh phúc lẫn khuất sát bên lưng. Thú thật, tôi đành làm đứa bất hiếu để giữ vững lập trường, ấy là nhan sắc của mạ tôi chẳng thể sánh cùng o được. Tôi mang cái ý nghĩ, chả biết đúng không, là càng sinh sau đẻ muộn chừng nào thì con người càng sáng lạng đẹp đẽ hơn tiền bối. Xem ảnh xưa, đọ ảnh mới thì phát hiện người trong ảnh hiện đại ngó mát con mắt hơn. Văn minh đã tác động, đã biến đổi thân phận chúng sinh. Nhưng ngược lại văn minh cũng tước đoạt đi phần nào đức hạnh có đầy trong lòng phụ nữ thế hệ mạ tôi. Nhiều khi thấy o làm đày làm láo, nói cạnh nói khoé thì e rằng o mà gặp phải mạ tôi thì sẽ bị bà cụ sửa lưng cho. Tôi mà sửa lưng thì o la lên: Quỉ sứ, làm người ta nhột bắt chết! Thiệt dị òm!

Đại nội buổi chiều luôn êm ả. Chim chóc hiếm quý về ẩn mặt trên cây cao hót vang rân lời tình ca thanh cao mát như chè đậu ngự thơm như chè hột sen. O sẽ làm chúng thôi hát hò khi dùng một vật nhọn để khắc tên vào thân cây mưng mủ. O ra đề và tôi không cách gì giải được bài toán đố dễ ợt ấy: Bao nhiêu cây khắc tên hai đứa và bao nhiêu cây có trái tim thành sẹo? Có khi vì muốn chôn dấu niềm bí mật, o đã cả gan leo lên một thân cây nhiều nhánh hí hoáy ghi tháng ngày lưu niệm. Tôi đứng bên dưới đám cỏ rạp mình với tư thế và nhiệm vụ của Thường Sơn Triệu Tử Long liều mình cứu ấu chúa. Tôi ngó mông đít của o và cầu trời cho o làm trái sầu riêng rụng sau hè để tôi ôm lấy, để tôi làm sáng tỏ vấn nạn rất mực hồi hộp: giữa hai đứa ai là kẻ bể đầu u trán, rách áo sút quần.

O mặc đồ bộ, áo quần tự cắt may không cần chuẩn không cần chỉnh. Vải chim cò mua ngoài chợ chẳng cần hỏi ý thằng quân sư theo hầu. Thứ y phục kia rõ là dùng để diện trong nhà, để mặc ngủ. Để ngầm thanh minh thanh nga: Bậy nà, mô có, đi chơi với bồ răng lại cẩu thả tới mức nớ. Đừng vu oan giá hoạ! Bộ đồ đó có khi o mặc để đi ra thị tại môn tiền náo cấp bách mua đường sữa diêm quẹt thuốc lá. Khôn, đến chốn lao xao; dại, tìm nơi vắng vẻ. Khôn hay dại đều phục sức tuềnh toàn nhất y độc quỡn, ngó quen con mắt. O ở với anh chị, nhà họ khá rộng, ngăn phân nửa mặt tiền dùng bán cà phê. Tiệm họ có khách, đông đảo buổi sáng, thưa thớt ban trưa, chộn rộn giấc tối. Khách đủ hạng bậc, đa phần là công chức, sinh viên học sinh, lèo tèo đôi ba ông lính xa nhà, vì công vụ phải mang thân ra trấn nhậm tuyến đầu, áo phong sương va vấp gió Lào bụi bặm Cổ thành bùn lầy sông Thạch Hãn. O và người chị đã có một con vô tình là đích nhắm của bọn khách lai tạp vui chân lân la kéo ghế. Quán có treo bức tranh xấu vụng thuở đầu đời của tôi, nhưng cái bảng hiệu tôi kẽ sơn sắc lẻm thì chín người hết chục đều trầm trồ tán dương. Mạnh miệng nhất là o: Suốt cả cuộc đời, tui dám cá, không có ai viết tên tui đẹp ác ôn như ri cả! Bắt buộc rồi, tôi nói thầm, bởi mấy khi mà được viết tên mạ mình ra, trịnh trọng, màu sắc, to đùng, dĩ nhiên tôi phải le lưỡi ra mà nắn nót. Làm môn bài dựng bảng hiệu cho người dưng hạ hồi phân giải, trước mắt thấy công việc có nhuốm mùi linh thiêng. Mạ ơi chớ đánh con đau, để con bắt ốc hái rau mạ nhờ, nghĩ lại quả là chuyện nhỏ, bì chi lại với chuyện phục vụ thẩm mỹ, treo lên, ngó sáng rỡ cả khúc đường luôn ủ ê bóng tối.

Tôi thường ngồi đồng ở quán ấy, ngồi thế thôi, tựa một kẻ nhác chơi chứ không mang tà ý được thủ vai vế một cây si đang hồn lìa khỏi xác. Người đàn ông chủ quán ngờ vực tôi mê mệt vợ anh ta, có lẽ. Ông ta đánh ra một hư chiêu bằng cách biểu cô em tới cà khịa. Hai bà Trưng, chị ngồi rung đùi xem em hí lộng dương oai điệu võ. Mi phải thắng vì chiến trường này thuộc đất ta, lại nữa sau lưng mi có cả một hậu phương hùng mạnh vững chắc. Ta sẽ đích thân mang đao ra trận tiền hồi nào mi thân bại danh liệt. Lộng ngôn cho oai phong lẫm liệt chứ bản mặt cái thằng uống ly cà phê đá nhỏ chút xíu mà phải mất ba giờ đồng hồ mới xong kia coi bộ cũng sáng láng, trầm ngâm như táo bón chứ đâu lộ vẻ nham hiểm thủ đoạn gì cho cam. Mình bán buôn, họ là khách quen, mi nhớ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. O là gái Huế trời bắt đẹp, o không phải gái Bình Định cầm thương cỡi ngựa múa roi vung quyền nên phút đầu ra quân o xuội lơ ngồi xuống ghế bàn giao vũ khí tự nguyện ký kết hiệp ước hoà bình.

Sau này kể lại sự tình, o ta thán: Răng tui hiền khô rứa không biết! Rồi hoành đao: Nhưng tuyệt đối hắn không dễ bị ăn hiếp. Rất cứng rắn để phân định đâu là lý đâu là tình. O tâm sự, ba mạ tui vẽ đường cho hươu chạy: Thứ nhất bác sĩ thứ nhì kỹ sư thứ ba chuyên gia kinh tế. Tui định hướng về đường một chiều: Thứ nhất văn sĩ thứ nhì nhạc sĩ thứ ba hoạ sĩ. Nghe bồ học Mỹ thuật tướng tá nghệ sĩ nên… có nói năng chi cũng thừa. Tôi la lên trong lòng, hoan hô đồ bất hiếu, nhờ em mà thế giới này bớt chật chội bớt ngột ngạt bớt nhung nhúc những bác sĩ kỹ sư.

Chúng tôi đi trong không gian vua chúa cận thần ngày cũ lùng sục một chỗ ngồi xét thấy bình yên, thoáng đãng. Giữa những dãy tường thành kiên cố vây bọc luôn lai vãng một hương mùi có vẻ không thực, thoạt biến thoạt hiện. Không chính xác là mùi long não, nó gần với thứ mùi luôn ngự dưới đáy rương. Nó cất giữ những cổ vật để khi nhìn thấy nét tàn phai, điều khiến bạn mềm lòng chính là thứ mùi ẩm mốc, nó đi qua bao thời gian trong câm nín và nó đang tan rã vào hư không. Nó lưu trong khứu giác bạn lời hờn trách nhẹ, xa vắng về cái vô tâm mà bạn lỡ phải lựa chọn khi tiến bấp bênh tới trước.

Tôi ngắt cho o một cành hoa dại run lên giữa đám cỏ mọc đầy hoa mắc cỡ trong khi o trải khăn và bày thức ăn ra. Căn cước bọc nhựa, thẻ sinh viên trong túi quần là thứ vật bất ly thân, hầu như tôi luôn moi ra để trình cho nhân viên công lực khi họ làm nút chặn rà soát an ninh thành phố. Vậy mà tôi không nhìn thuộc ngày tháng năm sinh. O nói, hôm nay o dậy lúc năm giờ sáng để thong thả tự làm bánh nậm, rửa lá chuối, khuấy bột, làm nhân tôm thịt, gói rồi hấp trong nồi nước chưng cách thuỷ. Hơi phá lệ, hơi cầu kỳ bởi giản dị hôm nay là ngày sinh nhật của tôi. Tôi đứng yên một khoảnh khắc vì bất ngờ, vì cảm động rồi như do ma quỉ xúi dục tôi dang rộng vòng tay để ôm chặt lấy o. Tôi gọi thầm tên o cũng là tên mạ tôi nhiều lần trong tâm. Nếu là hoàng thượng tôi sẽ cởi long bào, ném xuống đất cho được thong dong, rồi bồng o mang đặt lên ngai vàng. O anh minh như thế thì những oan trái khuất lấp của dân sẽ được mắt xanh ngó ngàng tới, hỏi han, ân cần để gia ơn.

O mang theo đủ đầy bộ sậu để chu toàn buổi picnic đầy bất ngờ. Bánh o làm muôn năm sẽ không dở bởi ngoài những nhu liệu căn bản để làm nên bánh còn được o pha trộn lòng thương yêu vào, kín đáo, ý tứ, dịu dàng. Tôi hỏi, tại sao Huế có thành ngữ “con yêu bánh nậm”? Yêu tinh hay yêu thương? O nói o không biết, ngay cả đó là lời tuyên án hay mỹ từ dùng để tán dương. Khi nghe ai quở “đồ con yêu bánh nậm” thì chắc là ẩn chứa sự chê bai, ác ý. Tôi nói, trong các thứ bánh, tôi yêu bánh nậm nhất. Mỏng lét, ít nhân nhuỵ, rác ngập đầu mà bụng vẫn chưa no, có thể buồn miệng ăn luôn cả người dậy sớm để làm ra nó. Thay vì mắng quỉ sứ như thường nhật, o hát nhỏ bài Happy birthday. Đôi khi chim không về, chim thôi hót bởi vì dưới mặt đất kia vừa có ai ngân nga một cung bậc trong vắt, sóng sánh làm chao lòng người. Chim xa rừng thương cây nhớ cội, người xa người tội lắm người ơi. Chim thôi hót cũng do lẽ chim biết dự báo một hoạn nạn sắp đổ về qua tiếng vọng của bom đạn tự rừng sâu. Chim lặng lẽ bay, người lặng lẽ dấu kín những nỗi niềm.

Chiến tranh lan rộng làm thu hẹp vùng đất đặt chân, và ứng xử duy nhất buộc phải xảy đến là người ta mang mạng sống mỗi cá nhân vắt giò lên cổ làm cuộc Nam tiến. Ba chân bốn cẳng mà vượt đèo cao núi lớn. Tiệm cà phê chưa thực sự cửa khoá then cài nhưng tên quán, tên o, tên mạ tôi tuồng như có suy suyển chợt vẹt hư hao móp méo thôi phát hào quang. O giữ tôi lại, biến tôi làm một thành viên tham dự phiên họp kín. Anh chị o quyết định bồng con dại vào Đà Nẵng, trở ngại họ gặp phải là o không chịu đi. Lý do vững chải o đưa ra, đi cũng đồng nghĩa là chịu mất cái quán này. Cam tâm không? Đi, đành lòng qua cầu rút ván, hay đi còn mong ngóng một trở về? Không ai trả lời được câu hỏi sáng suốt kia. Và tôi, vô tình làm đứa để cho anh chị o đặt để niềm tin. Họ trao cho tôi một bao vải, thứ dùng đựng cát để che chắn đạn pháo, họ bảo số tiền chứa trong này không nhỏ, có thể cầm cự sống thở nguyên tháng, hãy chăm sóc bảo vệ lấy o, sống chết có nhau đồng kham cọng khổ. Người chị o nhìn tôi như muốn xác tín lại lần chót một hy vọng không trông nhầm người. Giao trứng cho ác là điều bất khả. Vào thắp nhang bàn thờ ôn mệ mà khấn cầu. Anh rể bắt tay tôi, người chị ôm siết o, đứa bé ngủ mê mệt trên tay bà giúp việc. Và tối đó một chiếc xe nhà binh ghé lại, mang họ xuôi Nam. Mái tóc rối bung của người chị bay ra ngoài ô cửa ngoái nhìn, đêm nội thành sương xuống pha màu sữa đục. Tất cả lặng câm, kể cả động cơ gắn ở chiếc xe màu cứt ngựa đang vụt biến kia.

O khoá chặt cửa nẻo, trước sau. O không tắt đèn, để minh định nhà vẫn còn người sống thở bên trong. O sợ bóng tối, trong muôn một, nó là đồng minh của cô đơn và ở một mặt nào đó, nó xúi dục người ta làm chuyện rồ dại, trao vào lòng ta sự can đảm đến mù quáng. Trai đơn thân gái lẻ bóng, khi có dịp kề cận trong gang tấc, muôn đời họ ưa lẫn vào bóng tối, ước ao bóng tối phủ chụp lên xác thân, nhưng bây giờ chưa phải là thời khắc đó. O biểu tôi giả làm người khách cuối cùng ngồi yên trên ghế để o đóng vai cô hàng nước pha cà phê mang ra. Chúng tôi là hai diễn viên tồi tệ chẳng biết cách nhập vai. Sau cùng, hết hoang mang o mang ra một gói thuốc, ngồi ghế đối diện và chúng tôi cùng thở khói chung một điếu chuyền tay. Mắt o đen láy, khói thuốc như biết làm cho nhãn tuyến kia ướt át, sâu thẳm. Đang chuột sa hủ nếp, đang rơi vào kho thực phẩm phồn thịnh nhưng chúng tôi thích san sẻ, uống chung tách cà phê đen, làm ngắn cụt mau bề dài điếu thuốc. Thảng hoặc o ho lên, tiếng khô, thảng hoặc o vén tóc nhét bên tai, thảng hoặc o ngắm lên bức tranh tôi vẽ, thảng hoặc o lắng nghe một tiếng động vụt qua bên ngoài cánh cửa ngăn chia. Nhưng trong ngần ấy thời khắc của canh khuya o tuyệt không nhìn vào mặt tôi. Xúc giác chúng tôi nhìn nhận ra chỉ là khoảnh ngắn khi chuyền tay điếu thuốc. Khói la đà váng vất trên vuông bàn như ý nghĩ tôi dật dờ sẽ làm gì đêm nay.

Tôi nói đến phiên tôi làm chủ o làm khách và tôi sẽ thực thi châm ngôn của người nước ngoài: Khách là thượng đế. O oải, hết hứng thú, nhác chơi. O bảo, đi theo o để chỉ bày một vài nơi chốn. Đây là chỗ tắm rửa, đằng sau tấm màn là chỗ tiêu tiểu. Đây là bếp. Đây là chỗ tui ngủ ngáy. Giường này của anh chị tui. Bồ sẽ ngủ ở đây.

Trên vách có treo tấm ảnh chụp lấy hai vợ chồng, có lẽ trước ngày cưới. Cạnh đó máng cái đồng hồ mặt tròn và kim chỉ giờ đang rơi tới số 4. Có thể nó đã chết, đã rối giây tóc. Hai cây kim thôi xê dịch, thời khắc sững yên. Nếu nó sống thì bốn giờ sáng không phải là lúc hối thúc người ta đi ngủ. Bình thường, đó là khoảnh khắc mà người ta đang chìm trong mộng đẹp, người ta hưởng thụ điều không thực đó, nướng thân trên chăn ấm nệm êm cho đến khi gà trống rướn cổ lên gáy sau vườn nhá nhem. Mặt trời lên, người ta bần thần ngồi dậy, ngác ngơ trong mùng tối để hiểu vỏn vẹn một điều, mình còn sống, mình chưa thầm lặng ra đi trong đêm. Một kiếp người, có được bao nhiêu đêm người ta an lòng sống trong giấc mộng? Tôi không ngủ, tôi đang tỉnh thức, có nghĩa là tôi biết tôi đang thực sự chìm vào một cơn mơ. Tôi ở gần o quá, dưới một mái nhà và chỉ có o và tôi. Tôi chưa bao giờ có điều kiện để tâm sự cùng o, ít ra là nói cho o nghe niềm bí bật: Tên o mang trùng hợp với tên mạ tôi, người tôi yêu quí suốt đời, thuỷ chung, bất biến. Hơn cả đường mía lau, hơn cả nước trong nguồn chảy ra, hơn cả trời biển.

O bảo, o đi tắm khi đến bên tủ lục soạn áo quần. Này quần lót, này áo nịt ngực lần lượt ló dạng trên tay. Tôi ngó thấy, cắc cớ nghĩ, sao con gái họ khổ thân đến thế? Ngay cả khi ngủ họ cũng phải trang bị bao nhiêu khê là vật cản trở, máu huyết làm sao lưu thông vận hành êm đẹp? Họ trần như nhộng có phải là da dẻ được mượt mà thông thoáng hơn không? Chưa kể là lỗ chân lông có điều kiện xả bớt những bức bối suốt ngày bị giam giữ. Cơ thể họ thơm tho hơn và họ có thể phát hiện những đổi thay trên da thịt mình. Và… và…

O đóng kín cửa phòng tắm. Nghe được cái móc sắt vừa gạt qua ngấc an toàn. Một khẩu súng e cũng tựa thế, bóp cò không được khi bị khoá chốt. Đạn sẽ vãi ra khỏi nòng hồi nào anh mở khoá, buồn tay anh gạt nó qua ngấc tự động, 15 viên bay ra trong tích tắc để hậu quả ghi nhận có biết bao kẻ từ chết tới bị thương… Tôi ngồi xuống chiếc giường được chỉ định, suốt đời tôi chưa bao giờ được ngả lưng xuống cái mênh mông tựa thế. Tôi quen ngủ giường cá nhân chật chội mình ên không thể xâm phạm. Giường này dành cho hai người, một đôi vợ chồng. Con nít thì ngủ nôi nên chắc chiếu chẳng ngấm mùi nước tiểu. Hai chiếc gối căng phồng và tôi lựa chiếc gối sát vách để kê đầu. Thường, nam nhi đại trượng phu vẫn nằm ngoài để che chắn bảo vệ. So ra tôi thích chỗ nằm của người nữ hơn, chưa kể người nữ ấy là chị ruột của o. Nếu o thơm như múi mít thì người chị phải sở hữu mùi sầu riêng. Nếu o là lê thì chí ít chị o phải là lựu bởi giản dị chị o từng là đèn mà o từng là trăng. Tôi úp mặt xuống gối ngửi lấy thứ hương mùi bồ kết vương vấn. Mái tóc dài kia đã bay tới ngang đâu? Đá Bạc? Đèo Phước Tượng? Cầu Hai? Xe leo lên Hải Vân với biển gào dưới núi?

Lơ mơ tôi nghe bước chân o rón rén vào chỗ nằm. Cách lắm vật cản trở nhưng với khoảng cách đó người nằm bên kia sẽ nghe rõ mồm một những gì thằng người nằm bên này ú ớ mê sảng. Tôi hỏi vọng qua, chương trình ngày mai của tụi mình sẽ như thế nào? Có vào Đại nội đè mấy cây trinh nguyên mà khắc ghi? Quỉ sứ. O pháo kích qua. Mình đâu có thể nhận biết tin tức của họ, hỉ? Chẳng rõ họ vào Đà Nẵng có bình an không?

Tôi đổi thế nằm, đâu mặt qua bên kia biên giới. Bây giờ giống như thể đường một chiều, tin nhắn chỉ phát ra từ đây thôi. Ai cũng tìm cách đi vào chứ có ai mà đi lộn lui. Khoảng yên lặng phủ chụp xuống, ngay cả ngọn đèn vàng sáng loá giữa phòng cũng đang thao thức. Ngủ nghê gì được, vấn đề là tôi không biết o đang nằm với tư thế nào? O nhắm mắt hay mở rộng hai hàng mi? Tôi chép miệng, không hiểu sao đâm nhớ và thèm ăn bánh nậm kinh khủng! Bên kia có tiếng vật mình, trăn trở. Có nhớ câu hỏi “con yêu bánh nậm” là gì không? Nói bá vơ, nói tầm bậy tầm bạ chứ có thể bánh nậm nhằm ám chỉ cái vật ấy đó. Cái vật gì? Quỉ sứ, đừng giả bộ ngây thơ cụ. Không biết thì tự tra khảo lấy một mình đi.

Và rồi Huế chết. Chúng tôi thoi thóp trong nhà nên nhà không bị hôi của phá cho tan hoang. Cảnh vật thay đổi hoàn toàn như thể chúng tôi bạc tình ngoảnh mặt húp xong chén cháo lú. Huế lạ mặt và Huế thù hận, điều ấy kéo chúng tôi lại gần hơn, ôm ấp nhau để vơi bớt tuyệt vọng. Phượng ra hoa nhưng hoa nhường sắc đỏ cho cờ xí giăng mắc, phủ ngộp. Màu đỏ tượng trưng cho sức mạnh của cách mạng và màu đỏ là màu có khả năng đốt cháy hết dưỡng khí. Người ta đâm kiệt quệ, người ta đâm nghi ngờ lẫn nhau và người ta bán đi những vật thiết thân quý giá kể cả đạo đức. Chúng tôi sống mỏi mòn từng ngày ngóng đợi tin tức vợ chồng anh chị của o gửi về nhưng bặt tăm.

Một đêm rằm, sau khi tắm gội xong, o bày trái cây hoa quả lên bàn thờ, pha trà rót nước lọc rồi đứng thành khẩn cúi đầu với tay khum ôm giữ ba cây nhang. O thì thầm o lâm râm o khấn nguyện rồi o vẫy tay biểu tôi đứng sát bên o. Tôi sẽ tái lập những động tác o đi tiên phuông, bắt chước đừng sai trật.

Biết hôm nay là ngày chi không? Ngày rằm. Ừ, chỉ đúng có phân nửa. Nửa kia là ngày sinh nhật tui. Tôi nuốt nước miếng, không có bánh nậm để ăn mừng hè? Thắp đuốc tìm không ra! O ngó sâu vào mắt tôi, mí mắt không máy động, như thể một kẻ đang theo học thuật thôi miên. Trước bàn thờ ông bà ấm áp hương đèn o nhón chân quàng tay vào cổ tôi để ghì giữ uỷ thác một nụ hôn. Mùi hoa sen thơm ngọt, thanh khiết thực ra phát xuất từ nụ hôn vĩnh cửu nọ. O ở gần đống bùn là tôi mà người o vẫn thanh cao, vẫn vẹn toàn một hương sắc.

Ưa ăn bánh nậm không? Một câu hỏi, chỉ vỏn vẹn năm chữ mà nó làm thay đổi được hai số phận. Chúng tôi làm tình trên chiếc giường có sẵn hai gối, dưới lưng trần chúng tôi là chiếc chiếu có nhuộm phẩm hình long phụng quấn quýt vây bọc chữ song hỷ. Chiếu cũ, đã nhạt màu nhưng chính o vừa bôi đỏ lại cái chữ trừu tượng đó. Đỏ, là màu cách mạng. Đỏ, cũng là màu máu trinh nguyên thoát ra từ một cửa mình chưa từng bị xâm phạm. Một đàng là dùng bạo lực để san bằng mọi rào cản hòng chiếm đoạt mục tiêu trong mù quáng. Một đàng là tự nguyện dâng hiến, sắt son một lòng tin yêu của tình nghĩa vợ chồng. Tôi dùng lưỡi liếm cạn những giọt nước mắt của o. Tôi không đủ tỉnh táo để truy nguyên nước mắt ứa ra do hoan lạc hay do một đớn đau chẳng thể bày tỏ. Vị mặn của giọt lệ kia gần tượng hình là hạt muối. Và chẳng phải vô cớ mà ông bà mình rêu rao: Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

Tôi ôm o, hạnh phúc như đứa trắng tay ôm được rương bảo vật. Và cái ý nghĩ sẽ mọc lên trong đầu thằng người ấy là gì? Nếu không phải là nó sẽ dùng mọi biện pháp để bảo vệ thứ tài sản hiếm hoi kia. Chữ “tôi yêu em” sẽ chẳng có giá trị, bởi rơi vào trường hợp của tôi, bạn sẽ bất lực không biết dùng từ gì để diễn đạt. Ngày cũ, tôi có đọc báo Phổ Thông, trong mục tìm tòi thú vị, họ đăng tải: Theo sự bỏ công tra cứu của những nhà khoa học, cái kết quả đưa ra có thể gây mất lòng một số quý bà, đó là trung bình đàn ông họ sử dụng 7000 chữ trong một ngày, trong khi đàn bà thì lên tới 20.000 chữ.

Tôi thương o ở thêm cái khoản o rất mực ít nói. Hai đứa chúng tôi cọng lại, bình quân mỗi ngày nói khoảng 5000 chữ. Bạn phải nên chúc mừng chúng tôi, vô can không ưa ngồi lê đôi mách. Hay bạn lại mắng mỏ chúng tôi: Chế độ này chỉ có đảng viên hoặc bọn dư luận viên mới mang tật già mồm. Mẹ nó chứ, hai đứa bây biết đéo gì mà nói. Tập câm họng là hơn, con ạ! Cẩn tắc vô ưu.

Chúng tôi cẩn tắc. Chúng tôi rón rén. Chúng tôi dọ dẫm. Chúng tôi biết lễ độ. Chúng tôi tập ứng xử, tập thích nghi. Nhưng mà ưu phiền như mạng nhện bủa vây, không tha cho, không bỏ sót. Vợ chồng anh chị o do hồng phúc được định cư tại Mỹ. Họ có chụp ảnh gửi về nhưng tiếc là o bạc phận chẳng được ngắm lấy để xuýt xoa. Tôi viết thư hồi âm, dự định xả oá dùng hơn 7000 chữ để tả tình tả cảnh, để minh hoạ một tình huống, một cảnh sống, một trường hợp éo le. Tôi le lưỡi phong kín phong thư. Keo ngọt lơ lớ mà nhớ vị mặn giọt nước mắt ai. Thư mỏng tang đem ký gửi cho con rùa bưu điện. Tôi chỉ đủ sức mạnh để viết được 7 chữ ngay ngắn: Vợ tôi đã chết. Bị xe đụng.

Tôi lập trang thờ cho o, tươm tất. Phía sau, để trám bức vách rạn vỡ gạch vôi, tôi treo tấm bảng hiệu quán cà phê ngày cũ án che. Ngày ba bữa thắp nhang tôi đều thấy mạ mình đứng đó han hỏi chuyện trò tâm đắc cùng o. Hai người đàn bà tôi yêu thương nhất trần đời. Nhưng, họ sống ở cảnh giới khác, xa cách tôi. Đó là bi kịch. Dẫu càm ràm tới bảy triệu chữ, cũng còn thiếu khi khô hơi bể phổi đi than van, trần tình.

Hồ Đình Nghiêm

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 42

Ngày 9 tháng 12, 1977 Lance lên 7 tuổi. Sáng nay tôi dậy sớm, trét kem lên mấy cái bánh ngọt cho Lance đem đến trường chia với bạn trong lớp. Con tôi đâu có biết nó là vị cứu tinh của tôi trong những giờ phút rối beng nầy. Tôi còn dẫn Lance ra công viên Regent Park gần nhà liệng banh, thảy Frisbee, đi cầu tuột khi rỗi rảnh.

Tội nghiệp má tôi: bà không tìm được một thú tiêu khiển nào. Má tôi ngồi trong nhà may cái áo, cái khăn, nấu nồi cơm. Suốt ngày chỉ có bấy nhiêu việc làm, trong khi dệt tương lai với ba tôi ở một nơi nào tự do, không có bóng hình Cộng sản đe doạ. Chúng tôi chắc chắn 99% là ba tôi sẽ qua Luân Đôn, nhưng không biết chừng nào. Đó là câu hỏi mà Bộ Tư Pháp hỏi Bill ngày một, vì họ phải bắt Trương Đình Hùng và Ronald Humphrey càng sớm càng tốt, phòng khi động tĩnh, hai tên gián điệp nầy chuồn đi mất.

Đại sứ Võ Văn Sung gọi cho tôi biết là ba tôi đã rời Hà Nội tối hôm qua để bay qua Moscow. John và tôi gặp Rob và Bill, cho họ hay ngay để họ chuẩn bị. Điều nầy chứng tỏ toà đại sứ Hà Nội tại Luân Đôn chỉ là văn phòng đại diện cho Hà Nội chớ chưa có đại sứ. Mọi tin tức quan trọng về chuyến đi của ba tôi đều được thông qua đại sứ Võ Văn Sung. Đây cũng là một chi tiết quan trọng cho CIA. Toà đại sứ chưa có đại sứ, thì vấn đề canh gác an ninh cũng chưa được hoàn hảo, nhờ vậy CIA có thể cho chuyên viên của CIA “bảo trì” toà đại sứ với những máy móc tối tân của ngành gián điệp.

Một hôm, sau khi họp xong với FBI và CIA, trên đường về nhà, tôi đi ngang tiệm Selfridge’s, cửa tiệm đã chưng bày hàng hoá Giáng Sinh. Tôi sực nhớ, lễ lộc năm nào cũng là những dịp buồn im lặng trong đời tôi. Ngày chúng tôi theo ba tôi vô vùng kháng chiến, trong khu không có Tết, chỉ có mừng sinh nhật Hồ Chí Minh, mừng thắng trận, mừng đồng chí của ba tôi từ ngoài Bắc vô Nam mà thôi. Rồi năm 1954, ba tôi đi tập kết, hẹn “Tết ba sẽ về”. Mười chín năm sau, Tết đến rồi Tết đi, hứa hẹn rồi lỗi hẹn. Tóc của má tôi thay màu; bướm không bay trong bụng mỗi lần tôi nghe Tết đến nữa. Mai vẫn nở. Tôi lớn lên rồi, đám con trai vẫn rủ chúng tôi ra vườn hái mai đem về lấy hên cho năm mới. Nhưng gần hai mươi năm, không có cành mai nào đem may mắn tới. Tết Mậu Thân, tôi và má tôi mua hai chậu mai để trước cửa thềm nhà, thì đêm giao thừa súng nổ, đạn bay, Việt Cộng tấn công. Tôi nhớ hoài, đêm đó nắm dưới sàn mà má tôi nói: “Mình có trồng một vườn mai cũng không may mắn nổi với Việt Cộng đâu”. Lâu lắm rồi, với tôi, lễ Tết là biểu tượng của thất vọng và phản bội.

Giáng Sinh tới, thành phố tập nập người đi mua sắm; xe taxi không có, còn xe bus thì chật cứng, nên tôi đi bộ về nhà. Nhưng đúng hơn, tôi chưa muốn về nhà, hay là không dám về nhà gặp má tôi. Biết nói gì đây, khi tôi biết trong bụng má tôi vừa mừng vừa trách, tại sao tôi đồng ý hợp tác với FBI. Làm con, tôi đâu dám ngồi xuống nói cái câu “Tự do nó có cái giá của nó”. Má tôi đã sống nhiều, đã qua biết bao nhiêu thử thách, khỏi cần nhắc, má tôi cũng biết giá trị của tự do. Tôi đi bộ về phía nhà thờ Saint Marks. Đêm nào tôi cũng cầu trời, xin Chúa cho tôi sức mạnh, cho tôi trí tuệ để vượt qua những khó khăn. Vì vậy, tôi không gì tốt bằng vô ngay nhà của Chúa cầu nguyện; tôi là khách, chắc Chúa sẽ sẵn sàng giúp tôi. Bốn mươi lăm phút sau, tôi rời nhà thờ, đi thẳng về nhà, vừa đi vừa nhớ lại đôi mắt dịu hiền của đức mẹ Maria lúc nãy trong nhà thờ nhìn tôi.

Chiều hôm đó tôi gọi “đồng chí” Lại Xuân Chiều, cho ông biết là ba tôi sẽ rời Sài gòn sáng thứ Bảy. Ông sửng sốt vì tại sao tôi biết lịch trình của ba tôi trước ông. Lợi dụng lúc ông còn đang lúng túng, tôi cho ông biết là vợ chồng tôi sẽ ra phi trường đón ba tôi. Nhưng ông không đồng ý, nói liền:

“Không. Đó là bổn phận chúng tôi phải ra phi trường đón khách của toà đại sứ. Ngay bây giờ, chúng tôi không có phương tiện chuyên chở, nhưng chúng tôi sẽ đi mượn xe”.

“Sao làm rắc rối như vậy? Chúng tôi sẵn có xe nhà, anh để chúng tôi rước ông cụ!”. Tôi nói.

Tôi không muốn làm phiền anh đồng chí nầy, nhưng theo kinh nghiệm mấy tháng nay với cán bộ Cộng sản, chuyện gì tôi cũng phải tranh đấu dù nhỏ nhặt, chớ không thì sẽ bị nắm đầu nắm chóp khi có đại sự. Tôi không để Lại Xuân Chiều xỏ mũi bắt tôi theo họ “cho đúng lệ nhà nước”.

Bên kia đầu dây, không nghe “đồng chí” Chiều trả lời, nhưng tôi kiên nhẫn đợi.

“Như vậy không đúng luật của chúng tôi, nhưng tôi không biết tính sao cho ổn”. Chiều nói.

“Tôi xin hứa sẽ đưa ông đại sứ của anh về nhà an toàn. Tôi hứa khi rước ông đại sứ về tới nhà, tôi sẽ gọi cho anh hay. Nhờ anh cho tôi số điện thoại của toà đại sứ Việt Nam ở Mạc Tư Khoa đi?”.Tôi đổi sang chuyện khác thật nhanh, để ông không kèn cựa vấn đề ai rước ba tôi ở phi trường. Mắc mưu tôi, “đồng chí” Chiều hỏi:

“Chị không có số đó sao?”.

“Để không mất thì giờ đi tìm, anh cho tôi số điện thoại bên đó đi, để tôi hỏi cho chắc chắn giờ chuyến bay của ba tôi”.

o O o

Tối hôm sau, Rob và Bill lại tới nhà tôi nữa, mặc dầu hai bên đã thoả thuận trước, là kể từ ngày biết ba tôi rời Sài gòn, CIA và FBI tuyệt nhiên không được lui tới nhà tôi. Sở dĩ chúng tôi đi đến quyết định đó, là vì chúng tôi tin rằng nhân viên của toà đại sứ Hà Nội tại Luân Đôn sẽ cho người thăm dò khu nhà tôi ở và có thể luôn cả nhà tôi, để giữ an ninh, để bảo vệ ông đại sứ của họ. Tôi cũng nói với Rob và Bill rằng, theo kinh nghiệm của tôi, các nhân viên tình báo của Việt Nam có một đặc điểm khá hơn tình báo Mỹ, là họ không bị lệ thuộc vào phép tắc và khuôn khổ. Họ chơi theo luật rừng. Khi ba tôi đến ở với chúng tôi, họ sẽ có thể chợt đến nhà tôi bất cứ lúc nào. Vì vậy, hai ông không nên lảng vảng gần nhà tôi.

Mọi người đều đồng ý như vậy, nhưng bỗng một hôm có tiếng gõ cửa. Lance ra mở cửa, rồi kêu lớn:

“Daddy, Rob và Bill muốn gặp ba nè!”.

Tôi giận tái mặt, hỏi Rob:

“Nếu có người của Hà Nội đang ở đây thì chuyện gì sẽ xảy ra?”.

Hai người nhìn nhau mà không trả lời. Sau đó ông cho biết ông không bằng lòng khi bị “cấm cửa” không được gặp tôi hàng ngày trong thời gian có nhiều chuyện quan trọng đang xảy ra. Ông muốn, hàng ngày tôi phải trực tiếp báo cáo với ông, cho tới khi ba tôi rời khỏi Luân Đôn. Tôi cho đó là một đòi hỏi hầu như không thể thực hiện được, vì tôi sẽ còn phải tiếp đãi ba tôi, mấy người trong gia đình tôi, và có thể cả những nhân viên của toà đại sứ Việt Nam nữa. Làm sao tôi có thể lén mọi người để gặp Rob mà “trực tiếp báo cáo”. Như vậy, không những có hại cho công tác mà còn nguy hiểm cho gia đình tôi nữa. Tôi đề nghị một giải pháp, là hàng ngày chồng tôi đi làm sẽ gặp hai ông Rob và Bill để tường trình mọi chuyện.

Rob cực lực phản đối ý kiến đó, viện lẽ tôi là người làm việc với ông, không phải John. Tôi biết rằng ông tha thiết mong được cùng bay về Mỹ với người đào thoát quan trọng. Tôi cho ông biết, tôi cũng mong như vậy. Nhưng ông không thể chầu chực ở nhà tôi hàng ngày, như một đứa con nít ngồi chờ ngoài cửa, mong ông già Noel trong ngày lễ Giáng Sinh. Đó là điều phi lý và ngây thơ. Nhưng Rob không phải là người để thuyết phục, khăng khăng không chịu nghe, mà còn lớn tiếng với tôi.

“Rob, – tôi nói với một giọng bực mình – tôi nhường anh một yard thì anh lấn một dặm. Khi ba tôi ở đây, anh không thể tới tìm tôi hàng ngày được. Tôi sẽ ráng thu xếp để thông báo cho anh và Bill biết kịp thời những chuyện đang xảy ra. Anh không nên ra tối hậu thơ cho tôi. Từ giờ phút nầy, tôi lo hết mọi chuyện và sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Rob chửi thề, rồi lớn tiếng với tôi:

“Đây là lệnh của người chỉ huy công tác. Lệnh của tôi!”.

John mời Rob ra khỏi nhà.

Rồi hai người bỏ đi dù công việc chưa giải quyết xong.

Đêm hôm đó, sau cuộc tranh luận, tôi nghĩ rằng tôi đã làm việc suôn sẻ với hai người trong thời gian qua; đối với tôi không ai là cấp trên, mà ba người là đồng nghiệp. Tôi hiểu rõ địa vị của tôi và của họ. Sau khi họ bỏ đi, tôi hỏi chồng tôi:

“Sao hồi nãy anh không binh em?”.

“Anh kêu Rob và Bill ra khỏi nhà, suy nghĩ rồi mai nói chuyện với anh. Em đâu cần anh binh vực. Rob nó giận run, nó bị cà lăm. Em là “rồng Việt Nam”, ai ăn hiếp được mà đòi binh”.

“Nếu em muốn liên lạc thẳng với xếp của hai thằng khỉ đột nầy ở Washington thì phải làm sao?”.

John đáp:

“Em phải viết “thơ trần tình” cho họ”.

“Nhưng làm thế nào để gởi cho đúng người mình muốn gởi”.

“Em cứ viết đi, rồi kêu hai thằng đó chuyển”.

Tôi nghi ngại hỏi:

“Viết thơ méc họ mà kêu họ gởi là cái gì? Họ có giấu đi không?”.

John trấn an tôi:

“Họ không dám đâu”.

Vậy là tôi ngồi xuống, viết một “thơ trần tình”, ghi rõ là gởi hai ông Rob và Bill “để tường”, và nhờ hai ông chuyển cho đô đốc Stanfield Turnerr, giám đốc cơ quan CIA.

“Vì sắp tới là ngày ba tôi sang đây, sự căng thẳng mỗi lúc một tăng thêm đối với những người liên hệ, cả ở London lẫn Washington. Tôi hiểu rằng việc thông tin cấp thời và đầy đủ cho những nhân vật ở Washington là quan trọng. Chúng ta đều có cùng một mục đích và lợi ích chung nên cùng mong muốn chương trình của chúng ta thành công tốt đẹp. Cho tới lúc nầy, chúng ta có thể hãnh diện là kế hoạch và sự thực hiện đã sắp đạt tới mục đích mong muốn.

Chúng tôi đặc biệt cảm ơn Bộ Tư Pháp đã dành nhiều thời gian cho phép ba tôi, có thể cả anh tôi, có cơ may được xa nước Việt Nam Cộng sản. Chúng tôi cũng không quên cảm tạ Cơ quan Tình báo đã hết lòng giúp đỡ và quan tâm tới những lúc dễ dàng và khó khăn trong công tác.

Thơ nầy có hai mục đích. Thứ nhứt và cũng quan trọng hơn hết là cám ơn tất cả những người có trách nhiệm vì đã hết sức trong công tác mới đây, đó là việc ba tôi sắp tới London. Mục đích thứ hai, xin quý vị lưu ý tới sự ép buộc của hai đại diện của quý vị ở London đối với tôi và gia đình tôi, đó là hai ông Robert Hall và William Fleshman.

Trong buổi họp mặt tại nhà tôi ngày 10 tháng Chạp vừa qua, chúng tôi đã phải lớn tiếng với nhau khi hai ông ép tôi phải trực tiếp báo cáo hàng ngày trong thời gian ba tôi đang ở đây.

Sau khi tôi cho họ biết rằng tôi không thể bỏ ba tôi để đi báo cáo hàng ngày với họ được, thì họ nói rằng họ muốn nghe tất cả những gì ba tôi nói và phải chính tôi trình lại với họ mới được, chớ họ không muốn chồng tôi giúp tôi trong việc nầy. Ông Hall đã nặng lời với tôi. Ông cho biết ông không muốn nghe chồng tôi báo cáo vì có thể sai lầm do sự thông dịch. Lý do đó không xác đáng đối với tôi và cuộc tranh luận trở nên tồi tệ với những lời nói nặng nề. Xin hiểu cho rằng những ngày ba tôi mới tới rất quan trọng đối với tôi. Chồng tôi hoàn toàn có đủ khả năng thay thế tôi chuyển tin tức cho hai ông vì chúng tôi là một…”

Rồi tôi đề cập tới chuyện Rob và Bill đột ngột tới nhà tôi khi chúng tôi thoả thuận rằng hai ông sẽ không nên tới nữa. Tôi viết:

“Nếu ba má tôi và con tôi đang ở nhà mà hai ông tới bất ngờ thì sẽ có thể gây nên một biến cố tai hại. Con trai tôi sẽ chạy ra cửa và sẽ nói lớn: “Ông Rob má ơi!”. Điều nầy sẽ làm cho người trong nhà vừa bực mình vừa ngạc nhiên. Vậy xin quý vị hãy ra lệnh cho hai ông nên bình tĩnh và kiên nhẫn. Ông Hall hay dùng áp lực với tôi, bình thường thì tôi chịu được và chấp nhận. Nhưng bây giờ tôi nghĩ rằng áp lực đó sẽ có phản ứng ngược”.

Tôi xin các vị cao cấp cho tôi được “tự do hoạt động và đừng kiểm soát tôi nhiều quá!”. Cuối cùng, tôi khen hai ông Roll và Bill là “những người tốt và cho tới lúc nầy chúng tôi vẫn là bạn. Tôi nghĩ rằng áp lực của hai ông đối với tôi chính là áp lực mà quý vị ở Washington đòi hỏi. Vậy xin quý vị hãy kiên nhẫn và tôi đoán chắc rằng kết quả của việc làm của tôi vẫn tốt đẹp như hai năm rưỡi vừa qua. Sự tính toán sai lầm sẽ có thể làm tôi hối tiếc suốt đời. Xin quý vị hay tin tưởng ở tôi và chồng tôi như quý vị đã tin tưởng chúng tôi trong quá khứ. Câu chuyện thần tiên nầy có thể kết thúc tuyệt vời.”

o O o

Nhờ số điện thoại mà Lại Xuân Chiều đã cho, tôi kêu sang Moscow. Một phụ nữ Nga trả lời tại toà đại sứ Việt Nam. Khi tôi nói bằng tiếng Việt, ngỏ ý muốn nói chuyện với một nhân viên người Việt của toà đại sứ, thì bà ta nói bằng tiếng Nga một câu gì đó. Tôi nhắc lại lời yêu cầu bằng tiếng Anh, thì bà ta nói “Không”. Tôi hỏi thêm bà có biết tiếng Anh không, thì bà cúp điện thoại.

Tôi lập tức kêu lại số đó; vẫn tiếng bà ta trả lời. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

“Xin bà cho tôi nói chuyện với một người Việt Nam”.

Bà hiểu, nên cho tôi số của “uỷ ban tiếp tân”. Lần nầy thì một người Việt Nam trả lời. Tôi cho biết tôi kêu từ Luân Đôn. Ông ta hỏi lại:

“Luân Đôn là ở đâu?”.

Khi biết tôi đang ở Anh Quốc, ông ta có vẻ thích thú lắm, không hỏi tôi là ai, mà hỏi kêu có chuyện chi. Tôi nói, tôi muốn biết Đại sứ Đặng Quang Minh hiện ở đâu. Ông liền trả lời:

“Đại sứ đang đi trượt băng với các bạn. Bà có thể nói chuyện với ông ở “nhà khách” chiều nay ạ”.

Sau đó ông cho tôi số điện thoại ở “nhà khách”.

Mới đầu ông không hỏi tôi là ai. Sau khi cho số điện thoại của “nhà khách”, ông mới thắc mắc. Tôi ngập ngừng không muốn trả lời, nhưng tôi thầm nghĩ, tại sao phải giấu? Cả hai chục năm nầy, tôi vẫn muốn cho mọi người biết tôi là con của ai, nhưng không dám nói, sợ bị bắt, sợ bị mất việc, sợ bị đủ thứ. Trong những năm học trung học, tủi cho thân phận không có cha, buồn buồn tôi hay ngó lên mái ngói đỏ của phòng hiệu trưởng, muốn leo lên đó để la lớn cho cả tỉnh Cần Thơ biết tôi con nhà ai. Muốn lắm, nhưng ai mà dám làm như vậy, vì năm phút sau đó Công an sẽ bắt giam tôi trong khám liền, và không còn ai nghe được tiếng tôi nữa. Nhưng bây giờ thì tôi đã có thể nói ngay với tổng thống Hoa Kỳ ba tôi là ai. Vì vậy, tôi mau mắn trả lời nhân viên toà đại sứ:

“Thưa ông, tôi là con gái của ông Minh”.

Nói xong, tôi sung sướng vô cùng tận!

Lát sau, tôi lại kêu cho Uỷ ban tiếp tân để hỏi coi bao giờ ba tôi tới Luân Đôn. Một người khác trả lời. Ông ta có vẻ thận trọng, lịch sự hơn:

“Thưa bà, bà có thể cho tôi biết tôi đang được nói chuyện với ai không?”.

Tôi lại phải hãnh điện giới thiệu:

“Thưa ông, tôi là con gái của ông Minh”.

Người ở đầu dây bên kia im lặng một hồi lâu, nhưng tôi biết ông ta vẫn còn đó. Một lát sau mới có tiếng hỏi:

“Bà nói bà là con gái của ông Minh? Và bà kêu từ Luân Đôn?”.

Tôi xác nhận là đúng như vậy, thì ông ta lại hỏi:

“Con thật của ông Minh à?”.

Tôi cười sung sướng, rồi đáp:

“Dạ, đúng là con thật. Không phải con giả”. Tôi cười như đã quen nhau rồi.

Bây giờ thì ông ta tin tôi, nên nói:

“Tôi là bạn học cùng lớp của anh Khôi ở Mạc Tư Khoa. Chúng tôi rất thân nhau. Tôi sắp về Việt Nam và sẽ gặp anh của chị”.

“Anh may mắn hơn tôi, vì anh sắp được gặp anh tôi, còn tôi thì không được!”.

Ông hỏi tên tôi, tôi cho biết ngay. Ông liền reo lên:

“A, chị là cô em nghịch như con trai”. Như tôi nghe được tiếng reo vui của anh ta bên kia đầu dây.

Đến đây thì anh chợt nhớ ra rằng hiện tôi đang ở xa, nên vội nói:

“Mình đang nói chuyện qua đường dây viễn liên, tôi không nên dài dòng. Ông cụ hiện đi chơi trượt băng với mấy người Nga. Lúc khác xin chị gọi lại cho bác”.

“Tôi muốn biết chừng nào ba tôi sang đây?”.

“Tôi không nhớ số chuyến bay của ông, chỉ biết trưa Thứ Hai ông sẽ rời Mạc Tư Khoa, chị ạ”.

Tôi biết bấy nhiêu cũng đủ rồi. Tôi cảm ơn anh ta và chúc anh được hạnh phúc khi về Việt Nam.

Nhân viên văn phòng của hãng máy bay Aeroflot ở Luân Đôn cho biết mỗi ngày chỉ có một chuyến bay từ Mạc Tư Khoa tới Luân Đôn vào xế trưa và hạ cánh ở phi trường Heathrow lúc 9 giờ tối. Tôi nghĩ rằng tôi đã kêu hai cú điện thoại, có thể làm cơ quan KGB lén nghe đã rồi, nên không muốn kêu thêm nữa. Vợ chồng tôi quyết định tối Thứ Hai sẽ ra phi trường để đón ba tôi. Nếu tối hôm đó ông chưa tới, thì chúng tôi sẽ tiếp tục đi đón ông tối hôm sau. Chừng nào gặp ông mới thôi.

Sáng thứ Hai, John vẫn đi làm như thường lệ. Rồi sau bữa cơm tối, tôi để Lance ở nhà với bà ngoại, vợ chồng tôi lấy taxi ra phi trường. Chúng tôi phải đợi rất lâu, vì máy bay từ Mạc Tư Khoa tới trễ hai giờ năm mươi phút. Rồi thêm nửa giờ nữa mới thấy hành khách đi ra. Nhưng không có ba tôi.

Tối thứ Ba, 13 tháng Chạp, chúng tôi lại ra phi trường nữa. Chuyến bay từ Mạc Tư Khoa lại tới trễ hai tiếng. John và tôi nhìn đám khách của hãng Aeroflot lẻ tẻ đi về phía các nhân viên quan thuế. Tôi bắt đầu thất vọng khi đám hành khách ra đã gần hết. Bỗng tôi nhận thấy một dáng người quen thuộc, một người mặc bộ đồ xanh, đội nón nỉ mà tôi đã từng thấy ở Paris năm rồi. Ba tôi là người cuối cùng ra khỏi máy bay.

Khi đã thấy ba tôi, những gì chung quanh tôi tan biến đi hết. Tôi chỉ chăm chú vô ba tôi và khả năng có thể thuyết phục ba tôi bỏ Cộng sản để sống hạnh phúc với má tôi.

Bỗng ba tôi đứng dừng lại, đưa mắt nhìn quanh phi trường đông nghẹt khách. Tôi nắm lấy tay John rồi kéo anh đi theo tôi. Vừa nhìn thấy tôi, ba tôi buông cái xách tay bằng da xuống đất, dang hai tay để đón tiếp tôi. Ông ôm tôi thật chặt, rồi quay sang ôm người con rể mà ông chưa từng gặp. Ông thốt kêu bằng tiếng Việt:

“Con!”.

Sau đó, ông quay sang tôi hỏi:

“Người của ba đâu con?”.

Tôi hiểu rõ ông muốn nói gì, liền chỉ John và tôi nói:

“Người của ba đây chứ còn ai nữa?”.

Ông nói rõ hơn:

“Anh tài xế và mấy nhân viên toà đại sứ đâu?”.

“Con biểu họ đừng tới đón ba, vì con đã nhận trách nhiệm lo cho ông đại sứ rồi”.

Tôi cũng hơi buồn, vì ba tôi chỉ quan tâm tới nhân viên toà đại sứ thôi.

Ông tỏ vẻ bực mình, nói:

“Đáng lẽ con không nên làm như vậy. Ba đã báo toà đại sứ ở Mạc Tư Khoa phải báo cho Luân Đôn biết. Họ phải ra phi trường đón ba, con à”.

“Ba ơi, ba đâu có đi công tác, ba đi thăm gia đình mà”.

Tôi ráng làm ba tôi vui, nên ôm ngang lưng ông, kéo ông về khu lấy hành lý, vui vẻ nói giỡn:

“Thưa đồng chí, bây giờ đồng chí là thượng khách của con!”.

Ba tôi nói với John bằng tiếng Việt, như một nhà ngoài giao thích nói tiếng mẹ đẻ với người ngoại quốc:

“Ba cám ơn con đã thương yêu con gái của ba và cháu ngoại của ba; và ba cũng xin đặc biệt cảm ơn con đã săn sóc má của Dung giùm ba”.

Ông nói chậm chạp và rành mạch.

John nói với tôi bằng tiếng Anh:

“Em thưa với ba rằng anh rất hãnh diện được làm một phần tử của gia đình em”.

Ba tôi lắng nghe từng tiếng John nói, rồi mỉm cười với anh. Nhưng hình như ông đang suy nghĩ việc gì khác.

Ông nhíu mày, hỏi tôi:

“Chắc má sẽ buồn khi không thấy anh Khôi con đi cùng với ba?”.

Tôi siết chặt tay ba tôi, rồi đáp:

“Má sẽ mừng lắm khi gặp ba, nhưng con hy vọng ba đã đặt sẵn câu trả lời về chuyện nầy với má”.

Ông gật đầu:

“Ba sẽ giải thích cho má biết tại sao anh Khôi không thể cùng đi với ba được”.

Tôi chọc ba tôi:

“Ba cần có đồng minh ba ơi. Ba có muốn con có mặt khi ba nói chuyện với má không?”.

“Không, con không cần phải giúp ba, vì má con là người hiểu ba nhứt trên đời nầy”.

Đôi mắt ba tôi dường như đang nhìn về một nơi xa xăm, có thể là ngôi làng mà ông đã sống cùng má tôi và hoạt động cách mạng. Cũng có thể là ba nhớ Việt Nam rồi. Tôi liền nói:

“Ba à, ba có thể thực hiện điều mong ước đó nếu ba từ bỏ đảng của ba”.

Tôi đã vi phạm lại hứa với John là chỉ đề cập tới vấn đề nầy khi nào đúng lúc. Nhưng quả thật, tôi bỗng cảm thấy lúc nầy là đúng lúc, vì tôi nghĩ rằng tôi sẽ có ít thời giờ riêng với ba tôi, chỉ có lúc nầy cũng là thuận tiện nhứt.

Có thể tôi tính sai. Đôi mắt của ba tôi tức thì trở nên nghiêm nghị. Ông tằng hắng, rồi gằn giọng nói:

“Con à, chuyện nầy không phải là chuyện để con nói giỡn”.

Tôi biết mình đi quá xa không còn chỗ nào trở lại, nên tôi lấy hết can đảm nói luôn:

“Con đâu có nói giỡn. Con nói thiệt mà ba! Con hết lòng mong muốn ba về hưu, để có thể sống với má cho tròn những năm tháng còn lại của cuộc đời. Con có ý định nầy ngày lần gặp ba lần đầu tiên ở bên Nhựt kia. Rồi khi gặp ba ở Paris, con cũng có ý định y như vậy. Nhưng lúc đó không thuận tiện, vì ba đang háo hức về thăm Việt Nam sau ngày giải phóng. Bây giờ ba đã hưởng niềm vui thắng lợi của ba, và ba đã vui mừng cho Việt Nam, cũng như đã thất vọng khi thấy cuộc giải phóng đi lạc đường, lạc lối”.

Ông nhìn tôi bằng đôi mắt đầy thất vọng, nói:

“Con à, sẽ không bao giờ thuận tiện để con nói tới chuyện nầy đâu. Ba yêu cầu con từ nay đừng nhắc tới nữa”.

Tôi buồn bã nói:

“Nghĩa là ba không bao giờ thương con, và cũng không muốn ở gần con, phải không?”.

Ba tôi hôn lên lên trán tôi, rồi dịu giọng:

“Như vậy là con không thương ba mới đúng. Con nên biết rằng chuyến đi của ba như thế này rất đặc biệt. Trong lịch sử của đảng, trước ba chưa có ai được phép đi như thế nầy. Ba đã được đảng tin cậy. Các đồng chí ở Hà Nội đã cho phép ba đi ngay cho kịp, vì con đã làm cho mọi người tin rằng có tình trạng cấp bách. Gia đình mình ở trong một hoàn cảnh không đơn giản. Vậy con không nên toan tính làm chuyện gì để người ta phải thất vọng vì gia đình mình. Ba rất cảm động và vui sướng khi biết con yêu thương ba, con muốn được sống bên cạnh ba. Nhưng ba yêu cầu con đừng bao giờ đòi ba từ bỏ đảng, điều đó khiến ba đau lòng, vì con đã coi ba tầm thường như những người khác”.

Tôi vẫn chưa chịu, nên nói thêm:

“Ba không thể chọn lựa cả hai được. Hoặc ba về ở với má, hoặc ba theo đảng, bỏ rơi má. Ba đã hy sinh cả cuộc đời ba cho đảng. Trong khi đó, má cũng đã hy sinh cả một thời xuân sắc để chờ đợi ba. Bây giờ đã đến lúc ba nghĩ tới má và gia đình thân yêu của ba. Bốn mươi sáu năm, nửa thế kỷ, ba sống với đảng, xây dựng đảng vững mạnh như ngày nay. Bây giờ gia đình nầy cần ba để chúng con được trọn vẹn có mẹ có cha, mấy đứa cháu có đủ ông bà. Chắc ba thất vọng về con, vì thấy con ích kỷ?”.

“Nói chung thì chúng ta đều ích kỷ. Chúng ta được quyền ích kỷ, con à”.

John vừa chạy đi kiếm va-li của ba tôi nhưng chưa có. Anh khuyên chúng tôi nên ngồi nghỉ, vì họ chậm trễ trong việc chuyển hành lý. Chúng tôi ngồi xuống mấy cái ghế trống. Tôi trở lại chuyện bỏ đảng về với gia đình, y như một người bán hàng rong vẫn lải nhải mời mọc dù chủ nhà đã đóng sập cửa lại rồi.

“Mấy năm sau khi ba đi rồi, con đã đủ trí khôn để nhận ra rằng lý thuyết Cộng sản hay như chuyện thần tiên, nhưng khi đưa vô thực tế thì lý thuyết đi một đàng, thực tế đi một nẻo. Con rất buồn khi hiểu được điều đó. Và, con cũng buồn cho ba lắm vì con biết ba của con. Trước khi ba là Cộng sản, ba là người Việt Nam, ba là Việt Minh. Con biết từ đáy lòng ba, ba thành thật mơ ước một nền hòa bình và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam. Bạn hữu của ba, bạn của má con, các cô, các dì, các chị con, đã cho con hiểu rất rõ về ba. Vì vậy, con biết ba đã dâng hiến cả cuộc đời ba cho dân tộc, không phải chỉ riêng cho đảng. Trong một bức thơ ba viết cho con sau ngày thống nhứt đất nước, có câu: “Một con én không thể đem mùa xuân trở lại được”. Chắc ba còn nhớ?”.

Hồi đó ba tôi tỏ vẻ thất vọng vì “Giải Phóng” đã làm cho người dân miền Nam buồn chán, nhưng ông quyết định cố gắng hết sức để thay đổi cho tốt đẹp hơn. Ông thừa nhận, ông không có đủ quyền hành trong tay; ông cần các đồng chí có cùng chung sự suy nghĩ mà hành động như ông.

Ba tôi ngồi im lặng nghe tôi say sưa nói.

Mắt ông lộ vẻ tức giận dù ông vẫn giữ im lặng. Rất may, lúc đó John trở lại, làm cho tình hình căng thẳng giữa ba tôi và tôi dịu xuống. Anh đã lấy được hành lý của ba tôi. Chúng tôi đi ra ngoài ngay, đón taxi về nhà.

Khi xe rời khỏi phi trường, ba tôi nhìn thẳng phía trước, rồi gỡ kiếng ra cầm tay mân mê. Đó là dấu hiệu ông đang tức giận vì lời đề nghị và chỉ trích thẳng thắn của tôi. Ông giữ im lặng một lúc, rồi hỏi tôi:

“Con nói hết chưa?”.

Tôi gật đầu. Ông nói bằng một giọng bình tĩnh và ôn tồn:

“Trước hết ba cảm ơn con đã rộng lượng đề nghị ba về ở với con. Thứ hai, ba muốn con ghi nhớ điều nầy suốt đời, là ba rất yêu anh Khôi và em Hoà Bình của con, nhưng con là niềm hãnh diện của ba. Ba rất vui khi được con lo lắng, săn sóc. Ba cũng rất hãnh diện khi biết con quan tâm nhiều đến dân tộc ta. Con cởi mở và cứng rắn, đồng thời con cũng dịu dàng. Con là một người đàn bà đặc biệt. Ba thương con vì con vẫn có nhiều tình thương cho đồng bào ta, dù con đã có quốc tịch Mỹ và là vợ của một sĩ quan Mỹ, mẹ của một đứa bé Mỹ. Nhưng ba biết được con vẫn yêu nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Ba sung sướng về con lắm. Ba không muốn thay đổi con dù theo phương hướng nào”.

Ngưng một chút, ba tôi nhìn tôi với một vẻ bằng lòng, rồi tiếp:

“Ba chỉ muốn con ghi nhớ tận đáy lòng con một điều, là con hãy vui mừng khi thấy ba của con vẫn có nghị lực và ý chí, quyết đem lại hòa bình vĩnh cửu cho đất nước của chúng ta”.

John ngồi cạnh tôi cũng lắng nghe cuộc nói chuyện, nhưng chắc chỉ hiểu được phân nửa thôi. Anh bỗng lên tiếng:

“Hãy từ tốn với ba, nghe Nhà (tên lóng chỉ có John gọi tôi). Nên nói chuyện về má, về anh Khôi. Hỏi ba coi mấy ngày ở Moscow có dễ chịu không. Hỏi ba cuối tuần rồi đi trượt băng với các bạn có vui không? Hỏi ba có mong gặp má không. Đừng nói về chuyện Việt Nam, cũng đừng nhắc chuyện chánh trị. Bây giờ không phải là lúc nói mấy cái chuyện đó”.

Tất nhiên là John nói đúng. Tôi hối hận đã không đủ kiên nhẫn chờ dịp khác để nói. Nhưng cũng chỉ vì tôi cảm thấy thời gian dành cho tôi có thể nói chuyện riêng với ba tôi ít quá. Lúc nào cũng có một ông già râu ria vô hình quay cho đồng hồ chạy lẹ hơn cả nhịp đập của tim tôi. Vì vậy, nếu tôi không nói ra những điều ấp ủ trong lòng, e sẽ chẳng bao giờ có dịp nói với ba tôi.

“Con đã cào, đã cấu, đã tìm mọi cách, đã vượt Thái Bình Dương, rồi vượt luôn Đại Tây Dương mà vẫn không được có ba. Có lẽ, cuối cùng con phải bắt cóc ba, ba ơi”.

Ba tôi sửng sốt vì câu nói đó. Ông xích ra xa tôi, rồi nhìn đường, ông hỏi:”Còn bao lâu nữa thì tới nhà?”.

“Dạ, chừng hai mươi phút nữa, thưa ba!”. Tôi đáp.

“Vậy thì muộn quá”.

“Má sẽ đợi suốt đêm để chờ mình ba à”.

Ba tôi giữ im lặng chứng năm phút, hai tay vẫn mân mê cái kiếng, tỏ vẻ suy nghĩ. Cuối cùng ông lại lên tiếng:

“Con à, ba hy vọng con hiểu vị thế của ba hiện nay. Tối nay, sau khi tới nhà, gặp má con, ôm hôn thằng cháu ngoại của ba một cái, rồi ba sẽ ra đi ngay”.

Tôi hốt hoảng kêu lên:

“Con không hiểu ba nói gì!”.

Tôi quay sang John, dịch lại lời ba tôi vừa nói cho anh biết. Anh xua tay cho biết anh vẫn theo dõi câu chuyện và khuyên tôi nên nghe lời ba tôi.

“Nếu con chịu nghe ba nói, con sẽ hiểu”. Ba tôi nói tiếp, “Ba là một nhà ngoại giao thâm niên, ba cũng là một trong những người đặt ra nguyên tắc nầy. Nếu ba không sống theo nguyên tắc thì ba không có quyền đòi hỏi nhân viên dưới quyền của ba theo đúng nguyên tắc. Rất giản dị là ba phải về ngủ ở nhà của toà đại sứ sau một ngày công tác. Theo nguyên tắc, ban ngày ba sẽ tới với má con và các con, rồi ban đêm ba phải về ngủ ở nhà của toà đại sứ”.

Ông nói một cách thản nhiên, coi đó như một luật thiên nhiên trong trái đất. Tôi hiểu rõ ràng những lời ông nói, những vẫn giận cành hông.

“Ba có biết tại sao các chánh phủ Cộng sản trên thế giới phải đặt ra nguyên tắc gắt gao cho đảng viên của họ không? Vì họ không tin tưởng ngay cả chế độ của họ, giống như một anh chồng có tánh ghen tương, nhốt vợ trong tủ áo, sợ thả lỏng thì con vợ sẽ trốn đi mất tiêu”.

Ba tôi chỉ cười. Ông hiểu ý tôi, nhưng tôi biết ông giữ vững lập trường của ông.

Chúng tôi về tới nhà khoảng mười một giờ rưỡi khuya. Chưa kịp gõ cửa thì má tôi đã mở ra và bật đèn của sáng choang. Với vẻ mặt rạng rỡ, bà bước ra ngoài đón chúng tôi. Bà mặc áo bà ba mới, trong bà trẻ hẳn ra và đầy sức sống.

Khi chúng tôi vô nhà. John và tôi đi thẳng vô bếp, nhường phòng khách cho ba má tôi. John nói nhỏ với tôi:

“Đáng lẽ má phải ra dáng bịnh hoạn, chớ không nên ra ngoài đón ba như vậy, rủi VC nó thấy thì sao!”.

Tôi nghe thấy mùi cháo thơm, nên mấy phút sau quay trở ra phòng khách để mời ba tôi vô bếp. Tôi yêu cầu ông nhắm mắt lại. Ông hít một hơi rồi reo lên vui vẻ:

“À, đây là món cháo anh rất thích. Có mùi gan gà và hành lá nữa”.

Tôi dọn cháo ra bàn ăn trong khi ba tôi lên lầu rửa mặt. Tôi bỗng nghe giọng ngái ngủ của Lance từ trên lầu vọng xuống:

“Ông ngoại. Sao ông tới trễ quá vậy?”.

“Ôm hôn ông ngoại, rồi đi ngủ đi, nghe. Mai ông sẽ tới!”. Ba tôi hôn túi bụi lên mặt lên tóc của Lance.

Sau khi ăn cháo gà, ba tôi mở va-li, nói:

“Ba đem cho con mấy thứ lặt vặt hương vị Cần Thơ mà con thích”.

Nói xong, ông mỉm cười. Tôi vồ ngay lấy mọi thứ: bánh tráng ngọt, bánh phồng, mứt me, kẹo dừa, kẹo chuối. Ba tôi khoe với má tôi mấy hộp trái cây; đó là sản phẩm của hãng làm đồ hộp mà chị Thúy Xinh người con nuôi của ba tôi làm giám đốc. Trong khi chúng tôi đang vui vẻ, tôi thấy đồng hồ đã chỉ một giờ ba mươi sáng. Tôi hơi bối rối cho má. Tôi biết ba tôi không thể ngủ đêm ở nhà chúng tôi được, mà phải về nhà riêng của toà đại sứ. Phản ứng của má tôi không như tôi lúc nãy. Bà bình tĩnh sắp xếp lại túi xách cho ba tôi, rồi đề nghị chúng tôi đưa ba tôi đi ngay kéo quá trễ. Bà chỉ muốn cho ba tôi có một đêm ngủ ngon sau cuộc hành trình mệt mỏi. Như vậy, có phải chứng tỏ vợ hiểu chồng hơn con hiểu cha không? Tôi tự hỏi mà bối rối.

Sau khi ba tôi kêu điện thoại cho nhân viên toà đại sứ để báo cho họ biết ba tôi sắp tới, John và tôi chuyển hết hành lý của ba tôi lên xe, rồi cùng nhau đi trong đêm tối. Đường đi không xa, chỉ chừng năm phút là tới. John ngồi đợi ngoài xe, tôi mang xách tay của ba tôi vô nhà. “Đồng chí” Chiều ngái ngủ ra mở cửa, mặc bộ pyjama.

Trong nhà nóng một cách ngột ngạt; có lẽ máy sưởi mở đến 80 độ. Sau khi dẫn chúng tôi tới phòng ngủ của khách, “đồng chí” Chiều chúc ba tôi ngủ ngon, rồi trở về phòng của ông. Ba tôi sai tôi mở cửa sổ cho thoáng và mát. Trên giường có hai tấm mền, ông cất đi một. Tôi liền nói giỡn:

“Ba thấy chưa? Nếu ba ngủ ở nhà con, không ai dám nướng ba nóng như ở đây”.

“Ba quen với khí hậu lạnh ở Mạc Tư Khoa rồi, dù mùa đông ở đó rất khắc nghiệt. Thôi, con về đi, đừng bắt chồng con đợi lâu quá. Sáng mai, sau khi ăn điểm tâm, đến đón ba nghe. Ba cần thảo luận một vài vấn đề với mấy anh em ở đây trong bữa điểm tâm”.

Khi tôi định đi ra của, ba tôi nói:

“Trước khi con về, ba muốn nói với con là ba mừng cho con, vì chồng con rất tốt”.

“Cám ơn ba”.

Nói xong, tôi ôm hôn ông rồi đi ra ngoài trời đêm giá lạnh, để ba tôi ở lại với những người bạn Cộng sản của ông.

Trên đường về, tôi nhìn lên bầu trời tối đen, cám ơn đấng thiêng liêng nào đó ẩn sau đám mây đen. Tôi thất vọng vì ba tôi không chịu ngủ trong nhà tôi, nhưng tôi cũng mừng vì ông đã được ra khỏi nước để gặp chúng tôi. Đó là diễm phúc trời cho rồi.

Tôi đã lớn lên trong một hoàn cảnh mà tôi không mong ước bất cứ người nào khác phải chịu đựng như mình. Nhưng qua biết bao khó khăn, tôi cũng hãnh diện vì đã vượt được hết, cho đến ngày hôm nay. Tôi đã thừa hưởng được ý chí mạnh từ ông ngoại, và tôi đã tranh đấu cho những nguyên tắc riêng của mình, cho quyền lợi và cho chính cuộc đời mình, trong một xã hội mà tôi tin rằng nó là của tôi. Đồng thời, ông ngoại tôi cũng dạy tôi phải chấp nhận nhu cầu và quyền lợi của người khác, nghèo cũng như giàu. Nhưng ông tôi không dạy tôi phải chấp nhận tình trạng của hai người yêu nhau tha thiết, mà phải sống xa nhau vì lý tưởng, như ba má tôi. Tôi không thể chấp nhận điều nầy được.

Đêm hôm đó, tôi muốn nói chuyện với má tôi về những khó khăn trong dĩ vãng, về những giấc mộng dở dang hiện tại và về tương lai bắt trắc. Nhưng khi chúng tôi về tới nhà thì bà đã đi ngủ. Tôi rón rén đi tới phòng ngủ của má tôi, thấy bà nằm quay lưng ra ngoài và ngủ ngon lành. Dù sao tôi cũng cảm thấy yên tâm, vì bà không muốn đợi tôi về để bàn tới chuyện mà bà không thích.

Tôi có cảm tưởng tôi như một con cá nhỏ lội ngược dòng. Những biến cố ào tới như thác lũ, khiến tôi không sao đối phó kịp. Ý nghĩ ba tôi sẽ trở về Việt Nam làm tôi hoảng sợ.

Mấy ngày sau, ba má tôi có nhiều thời gian sống bên nhau. Má tôi đi đâu ba tôi đi theo đó: lúc vô nhà bếp, lúc lên lầu, lúc xuống nhà. Hai ông bà nói chuyện với nhau không ngừng, hầu hết nói về bạn cũ trong vùng giải phóng. Có lúc hai ông bà cười vui vẻ với nhau. Lại có lúc ngồi im lặng, không biết hai người nghĩ gì? Nghĩ gì cũng được, miễn hai người ngồi nghĩ bên nhau là tôi sung sướng lắm rồi. Những ngày nầy, ba má tôi vui tươi, hạnh phúc lắm.

Tôi nghĩ rằng ba tôi đã rất tế nhị, không nhắc tới sự kiện má tôi chẳng có vẻ gì là đau ốm dù rằng tôi viết trong thơ gởi ông Lê Duẩn, là má tôi đau nặng có thể chết.

Hai ngày sau khi ba tôi tới, tôi để ba má tôi ở nhà một mình, dắt Lance “đi shopping”. Đúng hơn là tôi đi gặp Rob và Bill. Tôi biết hai ông rất nóng lòng, như ngồi trên đống lửa, muốn biết những chuyện gì đang xảy ra ở trong căn nhà nhỏ của chúng tôi. Tất nhiên là không có gì nhiều để báo cáo, vì cho tới lúc nầy chỉ có chuyện cá nhân, không có một dấu hiệu nào về việc ba tôi sẽ đào thoát.

Cũng như tôi, họ đều tỏ vẻ thất vọng, vì anh Khôi tôi không được đi. Bây giờ thì bầu không khí giữa họ và tôi không còn căng thẳng như trước nữa. Có thể lý do mà họ bớt gay gắt với tôi là vì họ sắp được gặp những người thân yêu của họ. Hai cơ quan FBI và CIA đều cho họ biết vợ con họ sẽ có thể sang Luân Đôn đón lễ Giáng Sinh với họ. Cám ơn Thượng đế đã cấu tạo ra người vợ ngay từ thuở khai thiên lập địa.

John cho Lance được nghỉ học để cháu ở nhà chơi với Ông Ngoại, dù ngày nghỉ lễ Giáng Sinh cũng sắp tới. Tôi cũng lấy làm lạ khi thấy Lance thích được ông ngoại ôm vào lòng. Thường thường Lance không thể ngồi yên được hai phút, vậy mà bây giờ Lance ngồi hàng giờ bên cạnh ông bà trong khi ông bà chuyện với nhau. Lúc thì Lance bầy đồ chơi ra, lúc thì vẽ hình cho ông ngoại xem. Thỉnh thoảng ba tôi kéo cháu lại gần để hôn. Lance hỏi tôi Thứ Năm cháu có thể dẫn ông ngoại tới trường để khoe với bạn không? Mỗi tuần, ngày thứ Năm nào Lance cũng đem đồ chơi vô khoe với lớp. Má tôi hỏi:

“Cháu sẽ nói về ông như thế nào?”.

Lance đáp:

“Cháu sẽ nói với mọi người ông làm việc cho chánh phủ Việt Nam, và ông là ba của má cháu”.

Ba tôi lại hỏi:

“Nếu ông không đi, cháu đem cái gì để khoe với các bạn?”.

“Cháu sẽ mang tôi trường cái máy bay trực thăng”.

Vừa nói Lance vừa khoe với mọi người máy bay trực thăng cháu tự làm lấy bằng những miếng cây trong hộp đồ chơi. Tôi nói:

“Con hãy đem máy bay trực thăng đi. Trời lạnh quá, ông không đi với con được”.

Sau đó tôi nói với ba tôi, khi được gặp ông ngoại ở Nhựt, cháu khoe với một bà ở toà đại sứ Mỹ, ông nó là “Cộng sản tốt ở Việt Nam”.

Ba tôi thích lắm.

Tôi không thể diễn tả được cảm giác kỳ diệu của tôi khi được cùng ba má tôi chuyện trò vui vẻ. Tôi nhìn tôi trên kiếng, sờ lên mặt, rồi thầm nói với mình: “Đây là thật, không phải chiêm bao”.

Ba má tôi nói đủ mọi thứ chuyện, rồi nhắc đến sự ra đi của những người thân yêu. Ba tôi nhắc đến ông nội, ba nội. Tôi đã thấy ba tôi chùi nước mắt cho má tôi, khi ông bà nhắc tới Hải Vân, em tôi. Nhưng hai người cũng có lúc cãi lộn. Đề tài tranh luận bao giờ cũng là chánh trị. Cả hai cùng giữ vững lập trường của mình, một thì tích cực bênh vực Cộng sản, một thì chống cộng kịch liệt. Đó là lý do đã khiến hai người phải xa cách bấy lâu nay. Tôi nghĩ rằng các cuộc tranh luận ấy đều có lợi cho cả hai. Má tôi thì cần nói ra nỗi niềm riêng bà đã ôm ấp hai chục năm nay. Còn ba tôi cũng nên biết nỗi lòng của một người đã bị mất nước và mất tất cả vì Cộng sản.

Má tôi hỏi ba tôi về số phận của miền Nam. Ông trả lời rằng: “Thời gian xây dựng lâu dài hơn là thời gian phá hoại. Nước Việt Nam cần có nhiều thời gian để hàn gắn”.

Má tôi không thoả mãn với những lời hứa hẹn như vậy. Bà nói:

“Làm sao anh có thể đem lại hoà bình, khi mà đảng Cộng sản của anh mở chiến dịch chống lại nhân dân? Dân của tôi no ấm, miền Nam của tôi phồn thịnh, rồi đảng của mấy ông cáng xã hội chủ nghĩa vô họng người ta, dân của tui mới đói, mới rách”.

Ba tôi đáp:

“Anh công nhận là miền Nam phong phú, nhưng chỉ một số nhỏ được đặc ân mà giàu có, còn đa số thì trắng tay”.

“Cả ngàn năm nay, thời nào cũng có người giầu, kẻ nghèo. Tôi bảo đảm đảng của anh sẽ làm nên lịch sử, bằng cách tước đoạt hết của cải của mọi người, san bằng mọi “bất công” trong xã hội, quay lại đảng viên ai nấy giầu có như nhau”.

Ba tôi nhẹ nhàng đưa tay lên che miệng má tôi, rồi ông lắc đầu nhìn bà bằng đôi mắt van xin bà hãy ngưng cuộc tranh luận, vì lập trường của hai người hoàn toàn khác biệt; hãy tận hưởng những giây phút quý báu bên nhau.

Bên nhau, ba má tôi cũng có những giờ phút êm đẹp. Ông ngồi yên lặng bên cạnh bà để xem bà vá áo sơ mi cho ông, may quần áo ngủ mới, và đơm lại mấy nút áo không giống nhau. Những lúc thấy mắt má tôi vui và nụ cười rạng rỡ trên mặt ba tôi, tôi thầm tự nhủ: “Nếu chẳng may hôm nay mình chết, chắc mình sẽ biến thành một thiên thần sung sướng nhứt”.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 41

Hải Quân và CIA đã hợp tác với nhau, với sự đồng ý của chồng tôi, đổi anh qua Luân Đôn làm việc, vì những hoạt động giữa tôi và CIA tại nước Mỹ trái nguyên tắc. Trong thời gian qua, cứ ba tháng CIA phải xin gia hạn với Bộ Tư Pháp, cho phép CIA và tôi hoạt động trong nước Mỹ. Gởi tôi ra nước ngoài để hoạt động là thượng sách.

Tháng 7 năm 1977, má tôi và Minh Tâm về Atlanta, Georgia với chị tôi. Xe truck tới dọn nhà, đóng thùng bàn ghế, 90% đồ trong nhà đem gởi trong kho; khi nào chúng tôi đổi về Mỹ sẽ lấy ra. Khi qua Luân Đôn, Hải Quân sẽ cho chúng tôi mướn bàn ghế xài trong thời gian ở đó. Con chó Moon Joe của Lance tạm thời gởi cho vợ chồng của một người bạn nuôi giùm trong thời gian chúng tôi đi vắng. Tội nghiệp con tôi, khóc một trận lúc chia tay con chó. Nhưng rồi Lance cũng tạm quên con chó, khi nó biết ở Luân Đôn có tiệm bán đồ chơi Hamleys lớn nhứt thế giới; vậy là từ ngày đó Lance cứ theo hỏi “chừng nào mình đi Luân Đôn?”.

Hải Quân đã đưa chúng tôi đi nhiều nơi, sống nhiều chỗ, nơi nào cũng là nhà, nơi nào cũng sống gần gũi với những gia đình Hải Quân, những người đặt tổ quốc trên hết, sống với nhau trong tinh thần phục vụ và bảo vệ đất nước. Nhưng chuyến công du ở Luân Đôn lần nầy để lại nhiều kỷ niệm cho gia đình tôi, mà tới chết cũng không quên được. Đây cũng là nơi một lần nữa thử thách lòng yêu nước, yêu tự do và chung thuỷ của gia đình tôi. Nơi đây, tôi đã trưởng thành qua những chông gai, thử thách, ngoài tưởng tượng của một người con gái lớn lên trong vùng giải phóng.

Một tuần sau khi chúng tôi dọn vào một căn nhà xinh đẹp ở số 8 Regal Lane vùng Regent Park, nhà của một sĩ quan Không Quân người Anh đang làm việc tại toà đại sứ Anh ở Washington, chồng tôi dẫn Lance ghi tên để Lance đi học lớp ba ở American School of London. Một đêm, tôi chiêm bao thấy Rob và Bill tới nhà hỏi tôi có chịu ra toà làm chứng khi Bộ Tư Pháp truy tố Trương Đình Hùng không? Sáng thức dậy, tôi kể cho John nghe; anh cười tôi, vì tôi làm gián điệp từ ban ngày cho đến trong giấc ngủ.

Một tuần sau. Bill Fleshman và Rob Hall đến gõ cửa nhà tôi. Vừa thấy Bill, tôi nói:

“Anh đừng có nói với tôi là người ta muốn bắt David Trương” (tên Mỹ của Trương Đình Hùng).

Tôi mở cửa, không chào hai người.

Cả hai cùng sửng sốt.

“Trời ơi, tôi thức hết nửa đêm để lựa lời tới đây nói chuyện với bà. Bà làm cho công việc của tôi dễ dàng quá! Tôi tới đây chính là với sứ mạng đó”.

Chúng tôi mời Rob và Bill vào nhà. Tôi chưa muốn nghe hung tin nầy, nên chần chờ làm cafe. Khi mọi người ai nấy đã có ly café của mình rồi, thì Bill tằng hắng, bắt đầu cho biết là Bộ Tư Pháp gởi hai anh cùng hai luật sư của CIA và Bộ Tư Pháp tới gặp tôi, nói rõ cho tôi biết họ cần tôi hợp tác trong việc truy tố Trương Đình Hùng và Ronald Louis Humphrey, nhân viên cơ quan USIA.

Cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài không hơn 20 phút. Rob và Hill hẹn sẽ gặp lại chiều đó ở một căn nhà bí mật của CIA; khi đó tôi sẽ gặp hai người luật sư của CIA và FBI. Tôi muốn có thì giờ để suy nghĩ và chuẩn bị tinh thần, nên tôi dời lại đến sáng hôm sau. Bill đồng ý.

Đêm đó tôi thao thức đến 2 giờ sáng. Sự lựa chọn nó lớn hơn tôi bằng nhiều hình thức. Nó không giản dị như đứng giữa thiện và ác, giữa tự do và Cộng sản, hay giữa thuỷ chung và phản bội. Tôi biết, nếu tôi hợp tác với Bộ Tư Pháp thì từ đây về sau bí mật về tôi sẽ bật mí. Nhưng điều tôi lo nhứt, là an ninh của bà con ruột thịt của tôi ở bên nhà. Ba tôi và anh Khôi ở trong tay của Cộng sản. Rồi chuyện gì sẽ xảy ra cho họ? Trằn trọc hoài, cái gối nóng hổi, tôi trở nó không biết bao nhiêu lần nhưng không ngủ được. Sợ ngày mai không đủ sức đi họp, tôi uống một viên thuốc ngủ, nằm chờ giấc ngủ, mà cũng không biết nên làm gì và làm được gì đây.

Sáng hôm sau, chúng tôi tới căn nhà bí mật của CIA có tên là Reeve House, như những villa xinh xắn có tên. Chúng tôi được giới thiệu với luật sư Tony Lapham, cố vấn luật pháp cho CIA, ông John Martin, luật sư của Bộ Tư Pháp. Tới giờ nầy tôi mới biết giới luật sư thường hay nhiều lời. Hai ông nói vòng vo, chung quy cho tôi biết là Bộ Tư Pháp cần sự hợp tác của tôi. Ông Tony Lapham nói câu thòng để tôi hiểu ý của CIA, là mọi quyết định ở trong tay tôi; họ không bắt buộc tôi. Nhưng ông John Martin của Bộ Tư Pháp lại cho tôi biết rằng, không có tôi làm chứng thì họ không thể đưa hai tên phạm tội nầy ra toà được.

Làm sao mà tôi quyết định tại chỗ được, dù tôi biết bốn người nầy nóng lòng chờ tôi quyết định. Hai người luật sư cho biết, họ chỉ ở Luân Đôn hai ngày nữa thôi. Tôi nghĩ đây là mánh lới của hai người, muốn dồn tôi vào ngõ bí, để vội trả lời mà không kịp suy nghĩ. Họ nóng như lửa, nhưng tôi nguội như tro tàn. Chuyện họ công tác ở Luân Đôn hai ngày nữa hay một tháng nữa, không phải là vấn đề của tôi. Tôi cáo từ và hẹn hôm sau gặp lại.

Hồi nhỏ, mỗi lần gặp khó khăn, tôi thường hỏi ý kiến của ông ngoại. Ông tôi hay trả lời:“Làm sao mà lương tâm cho phép thì làm”.

Sau khi rời Reeve House, John đưa tôi đi ăn trưa trong toà đại sứ Mỹ. Đó cũng là nơi anh làm việc. Tôi hỏi John tôi nên làm gì, nên hay không nên ra toà làm chứng cho Bộ Tư Pháp. John cố làm cho tôi vui với giọng nói nửa đùa nửa nghiêm nghị:

“Cô ơi, cô phải sống với sự quyết định của cô cho tới già. Vì vậy, nếu để anh quyết định giùm thì không công bằng. Những hãy nhớ, em đi đến quyết định nào thì chồng của em cũng ủng hộ em 100%”.

Tôi nhìn John mà không cười nổi.

Nhớ có một lần hồi còn ở Mỹ, Bill Heshman có hỏi, nếu phải đưa Trương Đình Hùng ra toà, tôi có dám đứng ra làm chứng không? Tôi trả lời gọn lỏn:“Không, nhất định là không”. Phải chi bây giờ tôi cũng có thể trả lời bốn người nầy như vậy thì dễ quá. Nếu tôi không hợp tác để đưa Trương Đình Hùng ra toà, tôi còn triển vọng gặp lại ba tôi sau nầy, và có thể một ngày không xa má tôi sẽ được gặp lại anh Khôi; hơn nữa, thằng Cộng sản gian ác cũng không biết gì đến việc tôi muốn tiêu diệt chế độ Cộng sản.

Lại một đêm trằn trọc, tôi trở cái gối không biết mấy chục lần. Sợ đánh thức John nên tôi lén qua nằm chung giường với Lance. Nếu ngày mai tôi trả lời với họ là “Không, nhứt định không”, thì hai người gián điệp nầy có thể tiếp tục làm nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Mỹ. Những người hoạt động cho CIA ở hải ngoại sẽ bị lộ diện. Riêng những điệp viên của CIA ở Việt Nam trong thời chiến còn bị kẹt lại Việt Nam sau 1975, họ sẽ bị bắt, bị tra khảo, đánh đập tàn nhẫn. Tôi rùng mình khi nghĩ đến điều nầy. Ronald Humphrey đã cung cấp cho Cộng sản Hà Nội danh sách của những người nầy qua tài liệu mà Trương Đình Hùng đã đưa cho tôi và đã được FBI chặn lại. Luật sư của Bộ Tư Pháp đã lặp đi lặp lại cho tôi biết, chỉ có tôi làm chứng, khai Trương Đình Hùng là người trao cho tôi những hồ sơ tối mật thì hai người gián điệp mới bị kết án; còn nếu tôi từ chối thì hai người không có tội vạ gì hết.

Biết được trách nhiệm của mình nặng nề như vậy, liệu tôi có thể trốn được bổn phận được không? Lớn lên trong một gia đình mà người lớn ai cũng biết làm người, ai cũng có trách nhiệm, ai cũng làm tròn bổn phận: bổn phận với đất nước, với dân tộc, với gia đình, với người chung quanh; tôi không biết hành động gì khác hơn những tâm gương sáng đó. Đến khi đi lấy chồng, lại gặp người đàn ông có trách nhiệm; anh làm tròn bổn phận công dân, bổn phận làm chồng, làm con, làm cha.

Tôi quyết định là sẽ hợp tác với Bộ Tư Pháp cho tới cùng, nhưng nhứt thời, tôi không cho chồng tôi, FBI, và CIA biết quyết định nầy. Tôi cần thêm thì giờ, chớ không thể nào trả lời dứt khoát với Bộ Tư Pháp bây giờ được. Không phải cần thì giờ để suy nghĩ, mà cần thì giờ để hoạt động. Tôi cần gặp ba tôi một lần nữa để hỏi ba tôi, có khi nào ông nghĩ tới việc hưu trí, rời Việt Nam, tìm một nơi dưỡng già với má tôi? Tôi muốn tranh luận lần nữa, tìm cách cho gia đình tôi đoàn tụ. Còn anh Khôi, tôi phải biết anh Khôi có được an toàn không, một khi cả thế giới biết em của anh là gián điệp của CIA. Nếu anh sẽ bị liên luỵ, thì tôi phải tìm cách đưa anh ra khỏi Việt Nam trước đó.

Tôi gặp ông John Martin hôm sau, tha thiết nói cho ông biết nguyện vọng của tôi là gặp ba tôi một lần nữa; hay ít nhất cho anh Khôi trốn qua Mỹ đã, sau đó tôi sẽ sẵn sàng ra làm chứng. Tôi nghĩ, dù sao ba tôi cũng sẽ không gặp khó khăn, vì ông được sự tin tưởng từ cấp trên xuống cấp dưới; ông còn là người hữu dụng của đảng: có thể ông không bị liên luỵ vì tôi. Phần anh Khôi, tôi phải bảo vệ anh tới cùng.

Cuối cùng, tôi quyết định cho FBI và CIA biết nguyện vọng của tôi: cứu ba tôi và anh tôi trước khi bắt Trương Đình Hùng và Ronald Humphrey. Họ gởi điện văn về Washington báo tin mừng nầy, nhưng họ cho đó là “điều kiện” chớ không phải là sự hợp tác. Riêng đối với tôi, họ muốn dùng danh từ gì cũng được; tôi không quan tâm và cũng không giận họ. Tôi là người đã đòi hỏi họ phải có bổn phận “quét dọn sạch sẽ sân sau nhà”. Bây giờ họ lại than phiền là tôi đặt điều kiện để gây khó khăn cho họ. Tôi nhớ câu danh ngôn ông ngoại bắt chúng tôi thuộc lòng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Để giữ cho ba tôi và anh tôi an toàn, giờ phút nầy không có núi nào mà tôi không dám trèo, cũng không có một sông nào mà tôi không dám qua.

Tôi không ra điều kiện nào với FBI, nhưng tôi cần sự yểm trợ của họ, để ba và anh tôi được an toàn thôi. Tôi yêu cầu CIA hãy tìm cách gởi tiền về Việt Nam cho anh Khôi tìm đường vượt biên. Khi FBI đồng ý, thì CIA giành phần đó, bởi vì khi anh Khôi đào thoát được, họ sẽ khai thác anh Khôi. Một sĩ quan tên lửa, một người cựu sinh viên du học ở Liên Xô, khó khăn bao nhiêu để giúp anh đào thoát, CIA cũng hỗ trợ, để sau nầy khai thác nguồn tin đó. Bây giờ tới phiên tôi bối rối, vì không biết gởi tiền cho anh Khôi bằng cách nào đây? CIA cho biết, vì Sài gòn mới mất, đường dây liên lạc với Việt Nam bị gián đoạn hết, người của họ bị kẹt mà họ còn không tìm được, thì vấn đề nầy họ chỉ trông cậy vào tôi thôi.

FBI và CIA gởi điện văn cho Bộ trưởng Bộ Tư Pháp, ông Martin Bell, và ông giám đốc của CIA là ông Stanfield Turner về diễn tiến nầy.

Tuần trước, anh Huỳnh Trung Đồng có nói là anh sẽ đi công tác Sài gòn trong vòng một hai tuần. Vì thế, anh cứ gọi hối thúc tôi đem gói đồ của Trương Đình Hùng nhờ tôi đem qua chỗ anh, để lâu sẽ “mất thời gian tính”.

Gói tài liệu còn giữ lại tại Bộ Tư Pháp, sau khi họ được phép mở tất cả những bao thơ của Hùng đưa cho tôi. Tôi không biết và cũng không muốn biết trong đó có những tài liệu gì, chỉ biết đó là những tài liệu tối mật của chánh phủ Mỹ mà thôi.

FBI ở Washington chuyển gói tài liệu của Hùng đưa cho tôi, trừ những tài liệu có tên tuổi những gián điệp Việt Nam của CIA còn kẹt lại Việt Nam, và gián điệp của CIA hoạt động ở hải ngoại.

Rob yêu cầu chồng con tôi tháp tùng với tôi đi Paris kỳ nầy để che giấu hoạt động tình báo, làm như chúng tôi là một gia đình làm ăn bình thường, chồng con rảnh rang đi xem viện bảo tàng của Paris.

Sau khi John, tôi và Lance ăn điểm tâm, chúng tôi chia tay hẹn nhau trưa đó hai cha con đi xem Louvre, còn tôi thì tới toà đại sứ Hà Nội để gặp đại sứ Võ Văn Sung, nhờ ông thuyết phục chánh phủ của ông cho ba tôi qua Luân Đôn thăm má tôi, vì bà đau nặng. Đại sứ Võ Văn Sung hứa là sẽ chuyển tin về cho người cao nhứt trong chánh quyền Hà Nội. Tôi rời toà đại sứ với hy vọng tràn trề.

Trở về khách sạn, người concierge đưa cho tôi cái note. Thì ra Phan Thanh Nam cần gặp tôi gấp. Lên phòng thì John và Lance đi chơi chưa về, tôi vội viết giấy để lại cho hai cha con biết, tôi phải đi gặp Phan Thanh Nam.

Phan Thanh Nam cần gặp tôi gấp, là muốn nhờ tôi đưa thơ về cho Trương Đình Hùng. Ngoài bao thơ, Nam chỉ ghi một chữ “Tâm”, một tên giả khác, như những lần ông đi ghi trên bao thơ trao cho Hùng. Sau khi tôi cho Nam biết tôi sề về Luân Đôn trước khi về Mỹ, thì Nam lấy thơ lại, xé bỏ bao thơ, đề địa chỉ của một người đàn bà Mỹ ở đường S tại Washington. Tôi nhìn qua địa chỉ nầy, rồi cho Nam biết tôi rành vùng đó, tôi có thể đem thơ đưa cho người đàn bà đó, nhưng Nam giựt mình và nói rằng:

“Cháu dán con tem Mỹ rồi bỏ vô thùng thơ giùm chú là xong”.

“Bà ta có biết sẽ làm gì khi nhận được thơ nầy không?”.

Ông gật đầu. Tôi lại nói:

“Cháu đoán thơ nầy lá thơ quan trọng”.

“Thơ nào của chú cũng quan trọng hết”.

Tôi nói để dò xét ông:

“Nếu vậy để cháu trao tận tay bà cho chú”.

“Không, không! Đừng làm vậy!”. Ông nói mà nhìn tôi như muốn lấy lại cái bao thơ”

“Theo chú, cháu không cần trao tận tay bà, chỉ cần dán tem rồi bỏ vô thùng thơ là được rồi”.

Mấy giây sau như đã qua cơn khích động, Phan Thanh Nam giải thích:

“Cháu không nên gặp cô nầy. Cháu đừng hỏi tại sao, nhưng chú có lý do của chú”.

Vừa nói ông vừa nhìn cái bóp mà tôi vừa mới cất lá thơ vô, như có ý muốn lấy lại.

Một sự im lặng khó thở trong căn phòng rộng, trong đó chỉ tôi và Phan Thanh Nam. Trên vách tường, “Bác Hồ” nhìn tôi.

“Chiến tranh tới trên đất nước mình là chiến tranh gì hả chú Nam?”. Tôi hỏi.

“Chiến tranh đã chấm dứt rồi Mỹ Dung à. Bây giờ là đến giai đoạn xây dựng lại đất nước. Những người như cháu là tài sản của tổ quốc”.

“Cháu sẽ cố gắng hết lòng”. Tôi nói mà sợ con thằn lằn trên vách nó nghe, nó xấu hổ. Nam tiễn tôi ra cửa, chúng tôi bắt tay từ giã. Khi cánh cổng gỗ khép lại, tôi vội bước nhanh ra cửa.

o O o

Thời gian ở Paris, tôi luôn luôn nghĩ đến cách nào gởi tiền ở anh Khôi vượt biên. Lúc đầu, khi CIA hỏi cần chẳng bao nhiêu để vượt biên, tôi nói nhiều lắm là 3.000 dollars, đó là trường hợp có vai ba chuyến vượt biên bị bể. CIA thì nói họ nghĩ anh Khôi cần nhiều tiền hơn để hối lộ chánh quyền; họ ra lịnh gởi 10.000 dollars. Tôi cãi lại: nếu được nhiều tiền quá, anh Khôi mua hết công an rồi ở lại Việt Nam, chớ anh không đi nữa vì anh thương ba tôi lắm.

Nhưng CIA thắng, và họ cho biết họ sẽ đưa 10.000 dollars. Bổn phận của tôi là tìm cách gởi về cho anh. Vậy mà hồi còn ở Việt Nam, từ Việt Cộng tới Quốc gia, nhiều người cho rằng CIA đi trên nước, bước trên mây; từ trên máy bay phi công Air America của CIA nhìn xuống biết được con rắn đực hay rắn cái nữa mà! Mà thôi, Việt Nam của tôi có biết bao nhiêu chuyện hoang đường. Biết vậy cho nên khi lớn lên tôi không tin những gì qua “nghe nói”. Trong thực tế, đây là Paris, đây là vấn đề sanh tử của anh tôi, thì nó là bổn phận của tôi, chớ không phải của CIA.

Khi Rob tới khách sạn tối đó để gặp chúng tôi, tôi ngồi xuống về ra một khuôn hình 8×10, dầy 1 inch. Tôi trình bày với Rob và John là khuôn hình làm bằng gỗ dẹp, cưa làm đôi theo bề đọc; cưa xong khoét để vừa đúng 100 tờ giấy 100 dollars, gói trong giấy nylon, sau đó dán kín lại, mà không thấy đường hở nào trên bốn bề của khuôn hình. Sau đó dán một bên hình của ba, bên nọ hình của má. Xong đâu đó, phết lên chừng mười lớp vernis, vừa bóng, vừa chắc khuôn hình. Khi anh Khôi nhận được khuôn hình, thể nào anh cũng rủa con em vô duyên: tại sao khuôn hình như vậy, vì chưng lên, thấy hình ba thì không thấy hình má. Rồi lạy trời cho anh lanh trí như con em của anh, biết cái khuôn hình nầy ngụ ý gì. Tôi sẽ nói với anh Huỳnh Trung Đồng: đây cũng là ngụ ý sự ngăn cách của ba má.

Trước khi gởi hình đi đóng khung và giấu tiền bên trong, CIA yêu cầu tôi viết cho anh Khôi một câu ngắn: “Hãy trốn khỏi Việt Nam ngay”.

Trước khi vợ chồng tôi rời Paris về Luân Đôn, tôi ghé qua trụ sở Hội Việt Kiều Yêu Nước giao cho anh Đồng khuôn hình của má tôi gởi tặng anh Khôi, một bộ pyjama má tôi may và 4 chai thuốc bổ cho ba tôi.

Đó là lần cuối cùng CIA và tôi liên lạc với anh Khôi. Ba năm sau đó chúng tôi cũng không biết anh Khôi có lanh trí mà tìm ra số tiền trong cái khuôn hình đó không? Nhưng một hôm, má tôi được thơ từ Paris gởi qua, tên người gởi là Xuân Mai. Xuân Mai là người con gái yêu anh hỏi hai người trên dưới 16 tuổi. Anh Khôi giả dạng là chị Xuân Mai. Chị viết: “Cám ơn em đã gởì chị khuôn hình đẹp, nhưng lỡ tay, chị đã làm nó bể làm đôi”.

Tôi mừng không thể tả, nhưng tức mình là, tại sao có một số tiền khổng lồ trong thời buổi đó mà không trốn! Cho tới 11 năm sau, năm 1986, gia đình tôi mới được gặp lại anh Khôi sau 32 năm xa cách.

o O o

Mùa thu tới, nhưng chúng tôi vẫn chưa được tin tức gì vì việc ba tôi được phép qua Luân Đôn thăm má tôi. May mắn là tôi còn bận dẫn Lance ghi tên nhập học vào ngày 8 tháng 9. Chỉ hai ngày sau, thì FBI và CIA gọi tôi về Washington. D.C, để hội họp với Bộ Tư Pháp, chuẩn bị cho cuộc ra toà sau khi FBI bắt Trương Đình Hùng và Ronald Humphrey. John phải thay đổi giờ làm việc để đưa rước Lance từ nhà tới trường, tội nghiệp thằng con tôi, ngày tựu trường lo sợ, hồi hộp chưa dứt, thì mẹ vắng nhà; hai tuần lễ, hai cha con đi ăn nhà hàng đủ hai tuần. Nhưng cũng nhờ dịp nầy mà Lance học cách thức cầm nĩa, cầm dao cho lịch sự. Khi tôi về, Lance kể lại là Lance nợ ba nó 2 dollars, vì cứ mỗi lần làm rớt khăn ăn xuống đất thì bị phạt 10 cents. Cuối cùng thằng nhỏ biết khôn, nên ngồi trên nửa cái khăn suốt bữa ăn, thì khăn không rớt xuống đất nữa.

Trong những cuộc hội họp, bàn thảo với CIA và FBI, chúng tôi đi đến quyết định phải cho má tôi biết sự thật, là khi tôi làm cho FBI, tôi làm nhiều việc khác, ngoài việc thông dịch thơ từ cho họ. Tôi đã nghĩ đến vấn đề nầy từ lâu, bởi vì má tôi đẻ tôi ra, má tôi nuôi tôi, má tôi đùm bọc, che chở tôi, từ mới lọt lòng, làm sao mà má tôi không nghi ngờ việc làm của tôi. Nhưng bà không hỏi, thì tôi không nói.

Từ Washington. D.C, bay xuống Atlanta chỉ mất khoảng hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng cầm giấy đừng chờ lên máy bay mà ngao ngán không muốn đi, vì ngại núi e sông. Ngại núi, vì phải gan dạ lắm để nói hết sự thật với má tôi. E sông, vì e rằng sự việc làm cho má tôi buồn, má tôi lo sợ cho sự an toàn của ba tôi. Éo le thay, một bà già tỵ nạn Cộng sản lại lo lắng cho an ninh của người chồng là đảng viên cao cấp của Cộng sản. Nhưng chúng tôi biết, má tôi không có lo sợ vẩn vơ. Mối lo sợ của má tôi có tên, có tuổi, có lịch sử, có bằng chứng trong sách vở của đảng Cộng sản Việt Nam: một khi họ không tin tưởng người của họ, thì họ thủ tiêu.

o O o

Khi tôi và má tôi vừa tới nhà ở Luân Đôn, chưa kịp mở va-li, thì nhận được điện thoại của đại sứ Võ Văn Sung. Ông ân cần cho biết, Hà Nội đã trả lời là họ cho ba tôi tới Paris, rồi má bay qua thăm ba tôi, chớ họ không cho ba tôi sang Luân Đôn. Ông hỏi chúng tôi có khả năng đưa má qua Paris không? Ông chỉ là người đưa tin, nên tôi không có phép trách móc ông, nhưng ước sức tôi muốn nói: “Chỉ có Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới có việc người đau đi gặp người mạnh để được thăm hỏi”. Nhưng tôi cắn răng không dám nặng lời, chỉ nói cho biết là tôi phải hỏi bác sĩ của má tôi, xem bà có đủ sức đi xa vậy không? Trước khi dứt cuộc điện đàm, đại sứ Võ Văn Sung rất tử tế với tôi, khi ông nảy ra một ý kiến rất hay: ông khuyên tôi nên viết thơ cho Bộ Ngoại Giao Hà Nội, kèm theo một cái thơ của bác sĩ cho biết má tôi không thể bay qua Paris.

Tôi trân quý lời chỉ dẫn của đại sứ Võ Văn Sung, nhưng viết thơ cho Bộ Ngoại Giao Hà Nội là chuyện đại sự. Rồi đây, mười tám cái tai, 200 con mắt sẽ biết, sẽ nghe chuyện của đồng chí Đặng Văn Quang rồi đồng chí nầy phê bình, đồng chí kia soi mói, thì phiền cho ba tôi lắm. Lại tới phiên tôi bảo vệ ba tôi. Thay vì, viết cho Bộ Ngoại Giao, sao tôi không viết thơ cho bạn chí thân, cho đồng chí của ba tôi, lại là người lớn nhứt nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lúc bấy giờ.

Đêm đó, chờ cho mọi người an giấc, nhón gót trở xuống nhà dưới, tôi viết thơ. Thơ viết bằng viết mực trên giấy pelure.

“Kính gởi bác Lê Duẩn, bác Nguyễn Cơ Thạch và ba kính yêu,

Sức khoẻ của má cháu càng ngày càng tệ vì thận bị nhiễm trùng như cháu đã cho ba cháu hay trong thơ trước. Cháu đã thức nhiều đêm suy nghĩ và rất lo rằng rủi ba cháu qua gặp má cháu quá trễ thì làm sao đây?

Cháu mong rằng những ngày cuối trong đời của má cháu phải là những ngày đẹp nhứt trong đoạn đời nầy của bà, có nghĩa là má cháu được ở cạnh ba của cháu. Cháu mong hai bác tạo cơ hội cho ba cháu gặp má cháu càng sớm càng tốt.

Thưa ba, kể từ ngày ba cưới má con cho đến ngày ba tập kết ra Hà Nội năm 1954, chắc ba cũng nhớ là má con không bao giờ hỏi một điều gì ngoài khả năng của ba. Nhưng lần nầy, thay mặt má con, con xin cấp trên của ba một đặc ân. Trong thâm tâm, con tin tưởng rằng má con xứng đáng được gần ba và anh Khôi.

Ba với bác Ba Duẩn đã cùng nhau có những hy vọng lẫn thất vọng, cùng ước mơ cho đất nước thanh bình, cùng đau buồn vì những giấc mộng lớn cho dân tộc không thành: cũng như hai vị đã sát cánh nhau trong những tháng năm đen tối nhứt của đất nước, rồi cũng cùng nhau vui mừng trong thắng lợi vẻ vang. Từ đáy lòng cháu, cháu tin rằng bác Ba sẽ không từ chối người bạn chí thân và gia đình của một đồng chí, đồng tâm một khi bác biết được tình cảnh của gia đình nầy và vì vậy mà cháu viết thơ nầy cho bác.

Thưa ba,

Con gởi thơ nầy cho hai bác và cho ba mỗi người một bản. Con mong sẽ được gặp ba thật sớm. Chúng con đã chuẩn bị tiền vé máy bay khứ hồi cho ba. Xin cho con biết con gởi tiền mua vé máy bay về đâu.

Con gái của ba.

Đặng Mỹ Dung”

Tôi suy nghĩ rất kỹ, không nhờ anh Đồng chuyển thơ nầy về Hà Nội, vì anh Đồng không dám “làm phiền” các ông lớn. Tôi không nhờ đại sứ Võ Văn Sung, vì đại sứ đã khuyên tôi viết thơ cho Bộ Ngoại Giao; tôi không nghĩ đó là thượng sách. Tôi không dám nhờ ông chuyển thơ, vì tôi làm trái với nghi thức của Bộ Ngoại Giao. Mà nghĩ cho cùng, tôi đã làm trái nghi thức của cả cái đảng và cái nhóm Cộng hoà xã hội chủ nghĩa rồi.

Tôi quyết định gởi thơ đó qua New York, kèm theo một cái thơ ngắn má tôi viết cho đại sứ Thi, cám ơn ông và nhờ ông chuyển thơ về Hà Nội hộ chúng tôi, với nguyện vọng của má, là được thấy mặt anh Khôi.

Sau đó, ngày 13 tháng 11, tôi được thơ của anh Huỳnh Trung Đồng báo cho biết anh vừa công tác ở Sài gòn về. Anh có đến thăm ba tôi, nhưng ông không có tin tức gì từ Hà Nội về chuyến đi thăm má tôi ở Luân Đôn. Anh nhỏ nhẹ khuyên tôi nên nhớ là trong lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có ai đi ra ngoại quốc thăm vợ con. Anh viết:

“Thơ của má cô đã tới tay người tối cao trong đảng rồi. Dĩ nhiên, sự quyết định là do chủ tịch nhà nước và ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Theo tôi hiểu thì nhà nước cho phép má cô về Việt Nam và bác có thể ở đó bao lâu cũng được”.

Đọc xong thơ anh Đồng, má tôi hứ một cái rồi nói:

“Tao không có bước chân về Việt Nam, một khi Cộng sản còn. Đừng có nghĩ tới chuyện chôn tao bên bà mầy như tụi con tính, hồi đó tới giờ”. Má tôi giận hậm hực.

Thơ anh Đồng tiếp:

“… bây giờ thì những người có trách nhiệm đang bàn tính về chuyến đi của ba cô. Trong thơ, tôi chỉ được nói có bấy nhiêu thôi, mong cô hiểu cho tôi. Ba của cô lo lắng về bịnh tình của má cô lắm. Cô cũng nên biết rằng, nếu ba cô đi thăm má cô được, thì bác chỉ đi một mình mà không có anh Khôi cùng đi. Nhứt định là đảng và nhà nước không cho phép rồi đó. Tôi phải nói trước với cô, ba cô biết luật lệ của đảng, chỉ ngại là cô và má cô không hiểu luật, rồi buồn ba cô; bác lo ngại về vấn đề nầy lắm cô Dung à…”

o O o

Đời sống ở Luân Đôn của những gia đình người Mỹ làm trong toà đại sứ Mỹ như một cuộc du lịch nước Anh dài hạn. Gia đình tôi thì cứ bị hai cái bóng ma FBI và CIA đi tới đi lui hoài làm bất an. Giữa tháng 11 thì Rob và Bill trở lại Luân Đôn gặp chúng tôi. Kỳ nầy họ không có mục đích rõ ràng, nên khi hai người bất ngờ tới gõ cửa, mở cửa ra, không chào hỏi, tôi cười chua chát nói:

“Tôi không có chỗ nào trốn hết, bởi vì một là Liên Xô hai là Mỹ quốc”.

Bill cười gượng như anh bị tôi nói trúng tim đen.

Trong chuyến đi nầy, hai ông không có việc gì làm, vì tất cả đứng khựng lại để chờ tin từ Hà Nội. Họ đi chơi, đi ăn, đi nhậu, đi xem thắng cảnh, mua sắm quà Giáng Sinh cho vợ con, cho ngày giờ qua mau. Chúng tôi cùng nhau đi ăn vài lần, rồi hai người trở về Washington tay không.

Rồi việc gì tới phải tới. Một buổi sáng, tôi được cú điện thoại của đại sứ Võ Văn Sung, gọi tôi từ Paris, kêu tôi liên lạc với toà đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Luân Đôn.

Đã nhiều lần Rob dặn tôi, khi nào bắt liên lạc với một đảng viên mới của Cộng sản Hà Nội, tôi phải báo trước cho anh biết. Nhưng sáng đó, tôi chỉ có số điện thoại để gọi Rob khi khẩn cấp; mà gọi điện thoại cho toà đại sứ Cộng sản Việt Nam đâu phải là trường hợp khẩn cấp, nên tôi không báo tin cho Rob hay trước, tự tiện gọi thẳng tới toà đại sứ Việt Nam ở đường Victoria.

Chắc nhân viên trong toà đại sứ nầy nhàn nhã lắm. Vừa mới nghe tên Mỹ Dung thì người đàn ông trả lời điện thoại biết ngay tôi là ai và tôi gọi có việc gì. Ông mời tôi đến văn phòng của ông để nói đến “vấn đề khá quan trọng nầy”.

Tại toà đại sứ, người đàn ông tiếp tôi trong điện thoại cũng là người đón tôi tại cửa. Ông tên là Lại Xuân Chiểu, một “sĩ quan thông tin”. Bắt tay ông mà tôi không giữ được nụ cười, khi nhìn ông và so sánh ông với cái tên cải lương của ông.

Ông Lại Xuân Chiểu cho tôi biết là ông đã nhận được điện văn từ Hà Nội về việc ba tôi sẽ qua London thăm má tôi sau công vụ ở Moscow. Tôi không dám thổ lộ sự mừng rỡ vô hạn, cũng như thất vọng, vì ông không có nhắc đến tên anh Khôi.

“Cơ quan của chúng tôi rất hồ hởi được giúp đỡ gia đình chị theo khả năng của anh em chúng tôi”.

“Chị sẽ trả tiền vé máy bay cho chuyến đi của đồng chí Minh bao nhiêu? Có thể, chị cũng nên biết trước là chánh phủ sẽ không thể trả tiền vé máy bay”. Lại Xuân Chiểu hỏi.

“Có thể có một sự hiểu lầm lớn. Tôi chỉ yêu cầu ông chủ tịch nhà nước và ông bộ trưởng Bộ Ngoại Giao khuyến khích ba tôi đi, và cho phép ba tôi đi. Tôi không có xin nhà nước trả tiền cho chuyến đi của ba tôi. Đây là xin phép, chớ tôi không có xin lòng từ thiện của các ông”.

“Thế thì chúng ta không có vấn đề gì… vì chúng tôi không phải lo đến vấn đề tiền bạc”. Lại Xuân Chiểu nói.

“Tôi cũng nghĩ, chúng ta không có vấn đề gì lo lắng”. Tôi lặp lại câu nói của anh ta mà giận trong bụng.

“Tôi xin báo với chị là sứ quán của chúng tôi đây sẽ tiếp đón, phục vụ đồng chí Minh khi ông đến London”. Lại Xuân Chiểu trịnh trọng nói.

“Anh Chiểu, cảm ơn sự rộng rãi của anh, nhưng vợ chồng tôi sẽ tiếp đón, lo hết cho ba tôi. Chúng tôi muốn xử sự như đây là chuyện gia đình”. Tôi nói.

“Chị không hiểu, sự an ninh của đồng chí Minh tại Luân Đôn là trách nhiệm của chúng tôi. Chúng tôi đã được lệnh giúp đỡ gia đình chị mọi điều. Về tiền về máy bay của ba chị, thì tính thế nào đây?”.

Tôi muốn hỏi anh ta: “hỏi gì mà hỏi lãng xẹt vậy”, nhưng tôi uốn lưới bảy lần rồi trả lời:

“Tiền thì tôi có sẵn sàng”.

“Chúng tôi biết cách mua về máy bay rẻ nhứt!”. Vẻ mặt của đồng chí Lại Xuân Chiểu thay đổi từ một cán bộ Cộng sản nghiêm chỉnh thành một anh mua bán Dollar vụng về.

“Tôi không nên làm phiền anh trong việc nhỏ nhặt nầy. Tôi đã hỏi qua tiền vé máy bay với hãng Aeroflot. Chừng 900 pounds đi từ Moscow tới Luân Đôn. Tôi có thể mua vé ở đây, rồi ba tôi lấy vétừ Moscow, khi ba tôi tới đó”.

Chiểu không chịu thua:

“Chị đưa tiền cho tôi, tốt nhứt là Đô La Mỹ. Tôi sẽ báo cho Bộ Ngoại Giao, và bên ấy có người mua vé máy bay tại Hà Nội, trả bằng tiền Việt Nam. Làm như thế, chúng ta không mất một đồng ngoại tệ nào”.

Nghe anh nói, tôi mắc cỡ cho một đại diện của cái chánh phủ mà ba tôi phục vụ, đứng đây kèn cựa với tôi về lời lãi vài ba trăm dollar cho đảng của họ. Tôi muốn chấm dứt cuộc gặp gỡ nầy ngay đó, nên tôi đáp:”Sao cũng được, thưa anh”. Vậy mà trước khi ra khỏi cửa, cán bộ Lại Xuân Chiểu còn nói vói thêm: “Chị đem dollar Mỹ, chị nhé!”.

Tuần sau, tôi gọi cán bộ Lại Xuân Chiểu, cho hay tôi sẽ đem tiền đến cho ông. Tôi có đủ $2.000 dollars Mỹ, nhưng sáng đó tôi đi theo John ra toà đại sứ Mỹ đổi ra tiền Bảng Anh của Anh quốc. John hỏi tôi làm chi cho mất thì giờ vậy? Tôi làm cho bõ ghét, vì không muốn Việt Cộng bên nhà mua bán dollar một cách hạ tiện như vậy. Dĩ nhiên, cán bộ Lại Xuân Chiểu nhận số tiền đó với vẻ thất vọng, nhưng không nói lời nào.

Vào thời gian nầy thì Rob và Bill đã trở về Washington, nên tôi viết thơ báo tin cho họ biết mọi việc được sắp xếp theo chương trình; bây giờ chỉ chờ để biết ngày nào ba tôi tới Moscow thôi. Tôi cũng có viết thêm cho Rob và Bill, nhờ hai anh đến gặp tận mặt ông Griffin Bell, xin với ông làm mọi thủ tục dễ dàng để sẵn sàng rước ba tôi sang Mỹ cư ngụ, trong trường hợp má tôi và con cái thuyết phục được ba tôi hưu trí, ở lại dưỡng già với vợ con. CIA cho biết là họ sẽ có máy bay sẵn sàng đưa ba tôi qua Mỹ khi ba tôi bằng lòng.

Suốt đời, tôi muốn ba má tôi được sống trong một mái nhà, như ông ngoại bà ngoại của tôi ngày xưa ở với nhau đến đầu bạc, răng long, như cha mẹ của bạn bè tôi, như người bình thường. Mấy tuần nay, mọi sắp đặt được diễn tiến nhanh chóng và gần như việc gì cũng theo ý muốn của tôi, cho nên tôi yêu đời một cách lạ thường. Tôi lên giường nằm kế bên má, rồi hai mẹ con mơ ước căn nhà nhỏ, yên tịnh của ba má. Tôi không biết ba có chịu ở với con cái không, hay là ba chỉ muốn ở với má và Minh Tâm, đứa con mà ba chỉ biết mặt khi nó vừa mới ba tháng thì ba đi tập kết rồi. Chúng tôi nằm tính sắm sửa cái gì trong căn nhà đó, từ cái bàn cái ghế, cho tới cái bình trà với mấy cái chung nhỏ cho ba tôi uống trà quạu. Tôi còn nghĩ tới mùa đông phải mua cái mền điện cho ba.

Tình thương cho ba không phai đi với thời gian và không gian trong suốt hai mươi năm, chỉ sợ mỗi người thờ phượng một lý tưởng, đó mới là ngăn cách sâu hơn con sông Bến Hải. Ba tôi yêu thương hết bảy đứa con; thương mỗi đứa mỗi cách khác nhau. Anh Khôi là đứa con trai đầu lòng; anh là kết quả của những tháng năm trăng mật. Chị Kim giống tánh ba nhiều; như ba, chị dễ bị xúc động, chị tế nhị, chị giầu tình cảm. Chị Cương tánh cương quyết, nói là làm, trọng kỷ luật, trong sạch, ngay thẳng, Tôi giống ba từ gương mặt tới tánh tình. Tôi nghĩ đến người chung quanh và đất nước, nhưng ba cũng biết, tôi với ba thờ hai ông trời khác nhau. Ba tôi không những thương yêu Hải Vân mà còn thán phục nó; nhưng ba cũng chưa biết nghĩ thế nào về sự chọn lựa của em khi nó trở thành phi công của QLVNCH. Hoà Bình được ngự trị ở một chỗ đặc biệt trong trái tim của ba tôi, từ lúc nó còn bé. Khi tôi nhắc đến Hoà Bình, mặt ba tôi rạng rỡ; lắng nghe như để biết và thấy hết đứa con yêu của ông trước mặt. Ba tôi ví tình thương của ba cho Hoà Bình như “một giòng sông dài vô tận, có bầu trời xanh, có hoa nở tươi thắm triền miên”. Ba chỉ biết Minh Tâm có ba tháng, mà ba tháng đó ba bận rộn chuẩn bị đi tập kết, khi ra Hà Nội, ba đổi tên Đặng Văn Quang thành Đặng Quang Minh. Tôi nghĩ rằng ông đổi tên như vậy với ý tạ lỗi vì ông không ở bên cạnh để dạy dỗ Minh Tâm.

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Post by Sơn râu 16 Nov 2023

Ngàn giọt lệ rơi

Đặng Mỹ Dung

Chương 40

Tôi suy nghĩ nhiều đến câu nhắn nhủ của đại sứ Đinh Bá Thi đến Trương Đình Hùng: gởi “những thứ đồ” lên New York. Đến lúc nầy thì chúng tôi biết, Trương Đình Hùng chuyển tài liệu của Mỹ cho Cộng sản Hà Nội bằng hai con đường ngoại giao. Một là qua tay của Phan Thanh Nam ở Paris; bây giờ qua tay phái đoàn Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc.

Tôi phải biết rõ Trương Đình Hùng hơn, mới dám khẳng định anh ta là gián điệp. Vì vậy, tôi phải tích cực hơn, khi anh cần đến tôi trong công tác của anh. Tôi cũng nhớ lại lời đề nghị của Huỳnh Trung Đồng ở Paris. Anh khuyên tôi nên thành lập Chi Hội Washington, D.C, của Hội Việt Kiều Yêu Nước ở Mỹ. Muốn lập, tôi cần tìm hiểu cơ cấu và nội quy của Hội Việt Kiều Yêu Nước đang hoạt động ở Mỹ, mà chủ tịch toàn quốc là Nguyễn Văn Lũy. Như vậy, tôi phải gia nhập Chi Hội Việt Kiều Yêu Nước Washington, D.C; sau đó Huỳnh Trung Đồng sẽ cử tôi làm chủ tịch Chi Hội. Dĩ nhiên đó là chuyện hoang đường. Làm gì mà tôi có đủ kiên nhẫn lập hội. Cũng không có cái mặt nạ nào mà tôi mang được, để đứng ra đóng vai mình là “Việt Kiều Yêu Nước”.

Khi tôi cho Hùng biết ý kiến của Huỳnh Trung Đồng để dò phản ứng của anh, thì anh không đồng ý ngay. Với tư cách của một cán bộ có nhiều kinh nghiệm, Hùng nói:

“Nếu chị muốn tiến thân trên con đường nầy, chị đừng dính líu với những hội viên của Hội Việt Kiều Yêu Nước. Họ chỉ là những người cơ hội chủ nghĩa và gây rối thôi”.

Hùng không hoạt động với hội. Anh còn cho biết anh bất hoà với ông chủ tịch Nguyễn Văn Lũy, nhưng anh không quan tâm chuyện “nhỏ nhặt” nầy, vì anh giao thiệp thẳng những người cấp trên. Tuy nhiên, anh vẫn giữ một số bạn là hội viên, và những người nầy sẽ cho anh biết chuyện bên trong của hội. Nhiều lần Hùng khuyên tôi không nên dính líu với hội, chỉ nên làm những việc mà Nam đã giao phó. Tôi nghĩ, Hùng tưởng tôi là mật vụ của Nam đang dò xét và kiểm soát những hoạt động của anh ta.

Tôi cứ trà trộn với các hội viên của chi hội trong vùng Washington. Tôi gặp họ trong những ngày cuối tuần và cả những buổi hội họp ngày thường của họ nữa. Ông chủ tịch Nguyễn Văn Lũy bên San Francisco lại bắt đầu tỏ vẻ bực mình, vì ông không kiểm soát được tôi. Nhiều lần ông Nguyễn Văn Lũy gởi cho tôi đơn gia nhập hội, nhưng lần nào tôi cũng từ chối. Tôi viết thơ cho ông, nói cho ông rõ tôi ủng hộ ông, và sẽ tham dự buổi họp ông khi nào thuận tiện. Như vậy sẽ an toàn cho hội cũng như cho tôi, hơn là tôi trở thành một hội viên chánh thtrc, vì tôi tiếp xúc thẳng với những nhân vật của chánh phủ Hà Nội và những cán bộ ngoại vận.

Huỳnh Trung Đồng khéo léo khuyên ông Lũy không nên thắc mắc nhiều về tính cách độc lập của tôi. Sau đó ông Lũy mới viết thơ cho tôi nói rằng bây giờ ông đã hiểu địa vị của tôi với “nhà nước”. Không những thế, ông còn viết thêm: “Sự liên lạc của chị với chúng tôi rất quan trọng. Xin cứ tiếp tục liên lạc với chúng tôi và chúng tôi hy vọng được gặp chị ở bờ biển phía Tây”.

Ông Lũy tưởng rằng nhiệm vụ của tôi là báo cáo cho chủ tịch Huỳnh Trung Đồng biết mọi hoạt động của Việt Kiều Yêu Nước ở Mỹ, nên được ông đón tiếp gần như một thượng khách khi tôi bay qua San Francisco gặp ông. Ngay cả khi tham dự buổi họp của địa phương, tôi cũng được mọi người trọng vọng vì các hội viên đều nghĩ rằng tôi là người được Paris cử tới thanh tra và dò xét hội đoàn.

Mùa thu năm 1976, tôi tới San Francisco. Ông Lũy mời tôi dự buổi họp tại nhà ông với ban chấp hành của Hội Việt Kiều Yêu Nước. Họ cố gắng kéo tôi vô cuộc tranh chấp giữa họ với chi hội vùng Washington. Tôi phải nói mấy lời nhận xét vô thưởng vô phạt chẳng hạn như:

“Họ đang chờ đợi sự chỉ dẫn của quý vị. Lính tráng cần cấp chỉ huy”.

Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Mỹ là cây cầu cho hội viên gia nhập các hội ái hữu của Mỹ. Họ là những cán bộ yểm trợ cho ban ngoại vận của chánh quyền Hà Nội. Lúc đó họ đã bắt đầu tuyển mộ các khoa học gia Mỹ và những chuyên viên khác rất có ích cho nền kỹ thuật tồi tệ của Việt Nam, cùng một số lợi ích khác nữa. Ông Lũy tin rằng tôi nhận chỉ thị của đại sứ Võ Văn Sung và chủ tịch Huỳnh Trung Đồng ở Paris, nên ông cố gắng trình bày và báo cáo mọi chuyện mỗi khi gặp tôi, hay nói chuyện trên điện thoại với tôi. Ông cho tôi biết tên của những người tham gia tổ chức chống chiến tranh trước đó, và hiện tại họ liên hệ với nhiều chương trình khác nhau, có sự yểm trợ của một số kỹ sư Mỹ, nhằm ăn cắp kỹ thuật của Mỹ cho Việt Nam.

Trong một chuyến đi San Francisco, có Bill Fleshman của FBI và Rob Hall của CIA cùng đi, tôi có dịp được thấy một kết quả của hội Việt Kiều Yêu Nước nầy. Ông Lũy tổ chức một buổi họp tại gia để chào mừng Tiến sĩ Edward Cooperman, một nhà vật lý học ở đại học Fullerton, tiểu bang California. Ông cùng Việt Kiều Yêu Nước đứng ra tổ chức một “Uỷ Ban Khoa Học Kỹ Thuật Việt-Mỹ” gồm bảy mươi người, nhằm bảo trợ những ai muốn đi Việt Nam làm việc trong ngành nghiên cứu y khoa và các cơ quan giáo dục.

Cooperman vừa đi Việt Nam về. Trong buổi họp, ông loan báo sẽ mời mọi người xem hình ảnh cuộc viễn du ấy tại một địa điểm không được tiết lộ. Tôi muốn báo cho ông Bill Fleshman, nhân viên FBI, biết ngay cuộc họp bí mật nầy. Tôi đang nghĩ cách để có thể tiếp xúc với ông, thì từ trong nhà, một thanh niên người Việt Nam đi ra. Anh ta loay hoay mở cửa một chiếc xe classic, mui trần, màu đỏ, hiệu Thunderbird. Tôi trầm trồ khen chiếc xe của anh ta đẹp, tỏ ý muốn lên xe đi một vòng. Chuyện thấy người ta có chiếc xe đẹp, xin đi một vòng, là chuyện trẻ con.

Hình như đứa bé nghịch ngợm đó trong tôi không chịu rời tôi dù lúc đó tôi đã ba mươi tuổi rồi. Anh ta vui vẻ nhận lời ngay. Khi anh lái xe dọc theo bờ biển, tôi nhờ anh ghé vô một nhà thuốc tây để mua kem đánh răng. Vì xe mui trần, chỗ lạ, nên tôi biết thế nào anh ta cũng muốn ngồi chờ tôi để giữ chiếc xe quý. Đúng như vậy. Tôi vô tiệm một mình, mua cây kem đánh răng, trả thêm một đồng cho người bán hàng để được xài điện thoại của tiệm. Tôi cho Bill biết chuyện đang xảy ra, nhưng chưa biết địa điểm chiếu film ở đâu. Tôi đề nghị FBI nên theo dõi bằng trục thăng. Bill trả lời gọn khô:

“Đừng lo!”.

Anh cho biết hiện đã có người đang theo dõi buổi họp. Họ ngồi trong một xe “van” đậu bên kia đường nhà ông Lũy. Do đó, họ cũng có thể biết mọi người đi đâu.

Tôi trở ra với cây kem đánh răng, rồi chúng tôi chạy trở lại nhà của ông Lũy.

Chín giờ rưỡi, ông Lũy bảo mọi người lên mấy chiếc xe “van” và xe hơi được chỉ định để đến địa điểm xem hình chiếu về Việt Nam. Không ai được đi xe riêng. Tôi leo lên phía trước xe “van”, thấy tiến sĩ Cooperman đã ngồi sẵn ở đó với người Việt Nam trẻ, có lẽ là đồng chí, vì hai người nói chuyện có vẻ thân mật. Tôi liếc thấy xe “van” của FBI chạy theo, những một một lát sau tôi không thấy xe đó đâu nữa. Rồi tôi thấy trên trời một trực thăng bay theo đoàn xe của chúng tôi. Đoàn xe tới một trường học. Chúng tôi vô phòng hội lớn của trường để xem phim.

Từ hồi sớm tới buổi chiếu film, những sinh hoạt có vẻ hứng thú cho điệp viên, nhưng buổi tối bắt đầu chán ngắt. Tối hôm đó tôi phải ngồi “chịu trận” cố gắng coi cho hết những hình ảnh Cooperman chụp ở Việt Nam. Tôi đoán, ông chỉ được phép chụp những nơi nào có lợi cho giải phóng mà thôi. Tôi được xem đất nước Việt Nam toàn một màu xanh mướt với những nụ cười của mọi người được “giải phóng”. Cờ đỏ đầy đường, hình ảnh Hồ Chí Minh chen chúc trong thành phố, cổng làng, trong nhà người dân. Có một em sinh viên trong nhóm, chắc là cảm tình viên của Việt Kiều Yêu Nước, khều người bạn trai, nói nhỏ:

“Có hình bác Hồ trong nhà vào thời điểm nầy như có bùa hộ mạng hả anh?”.

Tôi thầm nghĩ, con bé nhỏ mà khôn ghê.

Tiến sĩ Cooperman nói sơ qua về các buổi họp với các khoa học gia ở Hà Nội, và hứa sẽ cố gắng giúp đỡ Việt Nam sự yểm trợ của những thân hữu của ông.

Khi mọi người ra khỏi phòng hội, tôi ngạc nhiên thấy sáu “đồng chí” người Ba Tư đứng gác ở bên ngoài cửa. Ông Lũy giải thích rằng, nếu không có người canh cửa, buổi họp thường bị “bọn phản động” phá rối, có khi gây ẩu đả. Bọn phản động là các sinh viên miền Nam Việt Nam và những người tỵ nạn.

Về chuyện ẩu đả nầy, tôi đã chứng kiến một lần. Hôm đó chúng tôi ở phòng hội của một trường đại học ở San Jose xem phim tuyên truyền của Cộng sản Hà Nội. Đó là phim “Đại thắng mùa Xuân” do chính tôi đem từ Paris về, theo đề nghị của chủ tịch Huỳnh Trung Đồng. Một người tỵ nạn Cộng sản Việt Nam ném một trái lựu đạn khói vô phòng họp. Khi mọi người hốt hoảng bỏ chạy, một người Ba Tư cao lớn được ông Lũy chỉ định hộ vệ tôi đã nắm tay tôi đưa tôi chạy ra phía sau trường. Nơi đây, tôi trông thấy cả một nhóm người Ba Tư. Sau đó, tôi được biết sự kết hợp chặt chẽ giữa những người Việt thân Cộng với người Ba Tư ở Mỹ. Người hộ vệ tôi hôm đó nói với tôi:

“Các bạn giúp chúng tôi về vấn đề di trú, thì chúng tôi bảo vệ các bạn khỏi bị bọn vô lại tấn công”.

Nói chung, Lũy thù ghét “đế quốc Mỹ”, không ưa người Mỹ, dấn thân và hy sinh cuộc đời, phục vụ Cộng sản. Tôi nghĩ hồi còn nhỏ ông cũng đã được cha mẹ yêu thương. Tình yêu đó vẫn còn nằm trong một góc của trái tim ông. Để tưởng nhớ người mẹ đã già mà ông tin vẫn còn sống ở Hà Nội, ông mở nhà dưỡng lão ở Montana, California. Ông chăm sóc cho các ông bà già như họ là cha mẹ ruột của ông. Các bữa ăn đều được ông nghiên cứu và nấu nướng cẩn thận cho hợp với người già. Ông còn quan tâm đến cả những khó khăn của họ, để tìm mọi cách cố gắng giải quyết giùm họ.

Ông Lũy rất ghét và không tin Trương Đình Hùng, đến cái độ ông chụp mũ Trương Đình Hùng đang hoạt động tình báo cho Mỹ; nên ông phải đề phòng để khỏi bị lôi thôi vì Hùng.

Tôi cười và nói thầm: “Đúng là Hùng đang hoạt động tình báo, những cho Chánh phủ Cộng sản ở Hà Nội, chớ đâu phải bên kia. Tôi mới là người hoạt động cho ‘bên kia’, ông ơi!”

Sau khi bị loại ra khỏi cấp chỉ huy mới của phe Giải Phóng, Nguyễn Thị Ngọc Thoa dọn về Santa Monica ở với chồng. Trương Đình Hùng và tôi bắt đầu gặp nhau thường xuyên. Anh tò mò về việc xuất nhập cảng của tôi, một việc làm để che giấu hoạt động tình báo. Rồi có một lần Hùng đòi tôi phải cho hắn biết tôi buôn bán gì, và lấy vốn ở đâu? Tôi cho anh ta biết việc mua bán của tôi cần rất nhiều vốn, vì đồ sứ và pha lê rất mắc tiền. Bà nội của chồng tôi đã để lại cho đứa cháu duy nhứt rất nhiều tiền khi bà mất. Nhờ vậy, chúng tôi có đủ khả năng tài chánh để buôn bán.

Sau khi nói cho Hùng biết như vậy, tôi cười thầm và ước gì bà nội chồng của tôi giầu thiệt! Không biết Hùng có nghi ngờ gì tôi, hay đó chỉ là tánh tò mò của anh ta, nhưng Hùng hay hỏi về đời tư và những hoạt động của tôi. Đó cũng là một điểm lợi cho tôi, vì tôi có thể hỏi ngược lại Hùng những điều như anh muốn biết về tôi. Một hôm, tôi thử dò anh để biết anh muốn gì trong tương lai. Nếu hai chánh phủ Hà Nội và Mỹ thiết lập bang giao, anh có muốn trở thành trưởng ban tình báo của toà đại sứ không? Tôi biết, anh đang cố gắng tìm một địa vị quan trọng trong chánh quyền mới.

Hùng sốt sắng trả lời:

“Về hoạt động tình báo ở nước nầy, tôi là người xứng đáng nhất”.

Hùng còn tử tế nhắc nhở tôi:

“Đó là lý do mà chị và tôi không nên dính líu với Việt Kiều Yêu Nước nữa”.

o O o

Vào mùa Xuân năm 1976, tôi giữ liên lạc chặt chẽ với Trương Đình Hùng hơn. Anh còn có cái tên là David Trường. Năm ngoái, sau khi chuyển một số sách lớn và tài liệu của Hùng cho Huỳnh Trung Đồng, rồi lại chuyển thơ của Đồng cho Hùng, tôi thành một cán bộ giao liên tin cẩn của cả hai người.

Vào giữa tháng Ba năm 1976, Huỳnh Trung Đồng viết cho tôi một lá thơ với nhiều tin vui. Anh vừa mới từ “thành phố Hồ Chí Minh” trở lại Paris. Anh có đến thăm ba tôi. Anh cho biết anh được thẻ đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam. Trong thơ, tôi nghe được niềm vui, sự phần khỏi và hãnh diện của ông chủ tịch

“Trong lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam, cho đến nay, tôi là cán bộ đầu tiên và duy nhất đang lãnh đạo hội Ái hữu người Việt ở hải ngoại được cái vinh hạnh nầy”.

Tin Đồng trở thành một đảng viên Cộng sản Việt Nam chắc sẽ khiến các nhân viên CIA ở Paris và các chuyên viên phân tích ở Langley quan tâm đặc biệt. Nó không phải là một sự kiện đơn giản, chỉ có ý nghĩa tầm thường rằng Huỳnh Trung Đồng đã được mang thẻ đảng viên. Địa vị và nhiệm vụ của anh phải quan trọng đến thế nào đối với nhà nước Việt Nam trước và sau năm 1975.

Cũng trong lá thơ nầy, Đồng yêu cầu tôi ráng hết sức bay qua Paris vào tháng Năm để gặp các đại biểu của các tổ chức Việt kiều khắp thời gian, gồm có: London, Rome, East Germany và Mỹ. Còn một điều hấp dẫn nữa, theo ông, thì thủ tướng Phạm Văn Đồng có thể sẽ nói chuyện với các đại biểu trong hội nghị nầy. Lạ một điểm, là anh biểu tôi cho Trương Đình Hùng biết, nếu tôi có thể đi được.

Tôi không phải nói tới lần thứ hai, cả Rob lần Bill đều nghĩ rằng tôi nên đi Paris, vì có ích cho cả CIA và FBI. Thế là tôi phải sửa soạn đi Paris ngày 22 tháng Tư.

Cũng ngày hôm đó, tôi cho hai ông biết tôi đã gặp David Trường để báo cho hắn biết tin tức qua lá thơ của Đồng. Tôi chăm chú nhìn Hùng để dò xét phản ứng của anh ta, nhưng dường như Hùng đã biết tin đó trước tôi rồi. Anh cũng biết cả tin thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ sang Paris. Nhưng điều quan trọng hơn hết, là Hùng cho tôi biết sắp có buổi họp giữa một phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ với một nhóm từ Hà Nội quá. Tôi không tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng sự thật tôi chưa biết tin nầy; mà tôi chưa biết thì CIA cũng chưa biết.

Trong bữa ăn trưa hôm đó, Hùng nói với tôi, anh sẽ nhờ tôi mang một số tài liệu sang Pháp. Kỳ nầy anh nhắc đi nhắc lại cẩn thận, dặn tôi là trao tài liệu cho Huỳnh Trung Đồng, đừng trao cho Phan Thanh Nam. Hùng còn khoe với tôi là ở Washington, hoạt động tình báo rất dễ dàng, nếu mình biết tiếp xúc đúng người. Hùng có biết một người Mỹ “có thể lên lầu bảy của Bộ Ngoại Giao và muốn lấy gì cũng được”.

Đây là cái tin có thể làm cho ông Giám đốc FBI Clarence Kelley và ông thứ trưởng ngoại giao Warren Christopher chạy vắt giò lên cổ trong những tháng sắp tới. Cái tin nầy cũng đưa nghề phản gián của tôi đi qua một khúc quanh thật chông gai.

Ba ngày trước khi tôi bay qua Paris, tôi lái chiếc xe Bronco ra ngoài Washington để lấy “đồ” mà Hùng nhờ tôi đem qua Paris. Tôi ghé ngay trước cửa sở của anh ở đường K; ba chiếc xe chạy sau tôi là xe của FBI theo dõi. Hùng đưa cho tôi một bao thơ lớn màu vàng, thật nặng; bao thơ nầy Hùng dặn đưa cho Huỳnh Trung Đồng; và một bao thơ nhỏ dài, đưa cho Phan Thanh Nam. Bữa sau, Hùng lại gọi tôi, muốn tôi trở ra phố gặp anh “cùng chỗ, cùng giờ” để lấy thêm một món nữa. Hùng nói lý do làm tôi đi qua đi lại nhiều lần, vì anh thận trọng, không muốn tôi giữ trong xe nhiều tài liệu trong một chuyến. Trong bao thơ kỳ nầy, anh không muốn tôi giữ qua lâu trước ngày tôi lên đường đi Paris

Thì thôi, 12 giờ 15 ngày 21 tháng 4 tôi trở lại đường K. Lần nầy tôi đi bằng chiếc xe khác. Tới phiên tôi cẩn thận, vì tôi nhớ có lần Hùng nói, anh có gặp một thằng Liên Xô trên bậc thang đi lên quốc hội, và “mấy thằng Liên Xô đòi hỏi quá nhiều”. Tôi nghĩ, trong kiếp làm gián điệp, Hùng có đổi chác với một thằng gián điệp Liên Xô; còn trong những bao thơ Hùng trao cho tôi những tài liệu mật của an ninh quốc gia Hoa Kỳ.

Tôi vừa đưa cho Bill Fleshman những bao thơ của Hùng, vừa nói:

“Anh đừng hỏi tại sao tôi biết nó là tài liệu mật; giác quan thứ sáu của tôi hay lắm”.

Fill bắt đầu xúc tiến mọi thủ tục để xin Bộ Tư Pháp cho phép FBI mở thơ của Trương Đình Hùng chuyển cho Cộng sản ở Paris. Sáng 22 tháng 4, tôi thất vọng vô cùng khi Bill Fleshman đem tất cả bao thơ trả lại cho tôi, vẫn còn dán kỹ như hồi Hùng đưa cho tôi. Anh cho biết bánh xe hành chánh chạy chậm quá, không kịp trước khi cho tôi lên đường đi Paris.

“Thì tôi hồi chuyến đi nầy. Có ai nói tôi phải đi tối nay đâu?”.

Không biết FBI nghĩ sao, mà Bill khuyên tôi nên đi theo lộ trình. Hai giờ chiều đó, tôi có mặt tại phi trường Dulles, trong khi ngồi chờ máy bay, tôi nghe máy phóng thanh kêu tên tôi, yêu cầu tôi đến quầy bàn giấy của Pan Am. Tôi đi lại thì thấy Rob đứng sắp hàng, tay không có xách va-li nhưng cầm tờ báo. Tôi bước vô đứng xếp hàng sau lưng anh. Anh đưa xem đồng hồ và lầm thầm nói: “Bỏ chuyến bay nầy. Đi taxi về nhà nhanh lên!”

Về tới nhà, thì mấy phút sau Rob và Bill ghé qua, lấy lại ba cái bao thơ, rồi dặn tôi ở nhà chờ lịnh trên. 4 giờ 45, Rob cho biết anh và Bill sẽ đem “đồ” trả lại cho tôi. Anh kêu tôi gọi bỏ vé máy bay Pan Am để đi TWA vào 6 giờ 20 tối đó.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, tôi học được nhiều bài học của má tôi và của người tỵ nạn. Một trong những bài học quý giá đó, là học được tánh thích ứng trong mọi hoàn cảnh. Tôi trả lời Rob “Đi thì đi”, trong khi Rob xin lỗi luôn miệng, vì suốt ngày đó họ đã quay tôi như cái chong chóng.

Tôi đến Paris, trời sáng còn lạnh thấu xương. Đây là lần thứ nhì trong đời, tôi có mặc cảm như người phạm pháp, khi đứng chờ hải quan xét va-li. Lần thứ nhứt, là từ Sài gòn về Mỹ năm 1974, tôi lén đem qua Mỹ cây Lá Cẩm; kỳ đó qua lọt, nhờ vậy mà sau nầy nhiều người Việt Nam ở Hawaii trồng Lá Cẩm, xôi Lá Cẩm bắt đầu xuất hiện trong bếp của những chị bạn khéo tay tôi ở Hawaii. Hôm đó tại phi trường Orly, hầu như tất cả mọi người, trừ mấy ông bà già, đều phải mở hành lý cho nhân viên quan thuế kiểm soát. Trong khi loay hoay mở cái va-li lớn và nặng trĩu trước mặt nhân viên quan thuế, tôi suy nghĩ lung tung để kiếm một lý do giải thích về hai bao thơ đầy những bí mật quốc gia. Tôi sẽ khai, tôi là sinh viên về khoa học chánh trị, nghiên cứu về nhân chủng học và Việt Nam là môn chánh của tôi. Nếu không tin, họ có thể làm khó dễ tôi. Lúc đó, tôi phải kêu điện thoại khẩn cấp cho CIA; chúng tôi chưa bao giờ đề cập tới chuyện khẩn cấp nầy.

Bao nhiêu lo lắng từ nãy giờ uổng sức, vì nhân viên hải quan chỉ hỏi biên lai của cây thuốc lá Black Russian tôi mua cho đại sứ Võ Văn Sung; tôi nghe anh Thái nói ông thích thuốc lá hiệu đặc biệt nầy.

Một tiếng đồng hồ sau, taxi đậu ngay trước cửa khách sạn Intercontinental. Người gác cửa mau mắn tới mở cửa taxi cho tôi ra phía sau đón lấy va-li của tôi từ tay người tài xế. Tôi mệt lả người, nhưng phải ghé qua cái quầy để ghi tên, lấy phòng. Mùi thơm từ phòng ăn bay ra làm tôi đói bụng. Ăn thì tôi chờ được, nhưng bây giờ tôi cần đi ngủ, vì suốt 24 tiếng đồng hồ tôi làm việc không ngưng.

Gián điệp cần ngủ kỹ mới tỉnh táo để chuẩn bị tinh thần. Trước mặt những cán bộ Cộng sản, tôi là “phe ta” của họ, tôi phải suy nghĩ như họ để nói bằng ngôn ngữ của họ. Như con cắc kè, tôi chuyển từ một người con gái Việt Nam da vàng ngạo nghễ qua một người đầy tớ của đảng và nhà nước.

o O o

Một giờ trưa, Rob gọi điện thoại. Anh hỏi:

“Tôi có đánh thức bà không vậy?”.

“Có chớ sao không!”. Tôi trả lời quạu đeo. Hồi con ở nhà với má và chị em, ai cũng biết cái tánh xấu của tôi, nên mỗi lần tôi nhờ bất cứ ai trong nhà đánh thức giùm, không ai thèm nhận việc đó. Mà tôi hay nói “đưa nào dại lắm mới đánh thức cọp”.

Nhưng rồi tôi thức dậy, sửa soạn để bắt đầu công tác. Theo quy tắc, Rob luôn luôn gặp tôi xem có gì thay đổi bất thường trong chương trình của tôi không. Hai mươi phút sau đó, tôi gặp anh vài ba phút rồi tôi bắt đầu chuyến đi Paris bằng một bữa ăn trưa trong một quán café xinh xắn ở Rue de Rivoli; sau đó gọi taxi đi thẳng tới gặp Phan Thanh Nam.

Trước khi ra khỏi phòng, tôi đã tìm nơi an toàn để giấu ba cái bao thơ. Cái duyên, là nhờ khách sạn đang sửa chữa, máng quần áo có một lỗ trống nhỏ đủ để người thợ điện bò vào mở miếng ván tạm đậy lỗ trống trong bức tường, thì phía trong tối như như đêm, dây điện chẳng chịt. Tôi nghĩ, hôm nay là ngay Chúa Nhựt không có thợ nào làm việc. Tôi để ba cái bao thư trong đó, rồi đậy lỗ trống lại, rồi đem quần áo trong va-li máng đầy lên.

Tôi cố ý chớ không phải vô tình mà không báo cho Phan Thanh Nam biết giờ nào tôi đến gặp ông. Ông chỉ được báo khoảng thời gian từ 20 tới 25 tháng Tư tôi sẽ tới Paris. Tôi muốn biết Nam làm gì trong một buổi chiều Chúa Nhựt. Nếu ông vắng nhà, thì tôi có thể gặp bất cứ ai trong cơ quan đó. Bây giờ, ai sống trong cơ quan nầy cũng đã biết tôi rồi; may ra ghé vô đó để nghe chuyện thâm cung bí sử trong lúc đợi ông về. Nhưng cái duyên chưa tới, mà tôi chỉ làm Nam giựt mình khi tôi nhấn chuông, ông ra mở cửa thấy tôi. Trong tay ông còn quyển “Cộng Sản học”.

Chắc ông cũng như tôi, bỏ qua những lịch sự trong cách giao thiệp hàng ngày: tôi không gọi ông trước khi tôi tới, thì ông cũng không hỏi qua loa về sức khoẻ gia đình tôi, mà ông rối rít hỏi tôi có làm những công tác ông giao phó không?

Tối hôm đó, tôi gọi Huỳnh Trung Đồng, cho anh biết tôi đã tới Paris. Không như Phan Thanh Nam, Huỳnh Trung Đồng luôn luôn lịch sự, hoà nhã. Anh hỏi thăm sức khoẻ má tôi, gia đình tôi. Anh hỏi tôi đi đường xa có mệt lắm không. Sau đó anh mới hỏi chừng nào tôi đến gặp anh. Tôi cho anh biết, sáng hôm sau tôi sẽ ghé qua hội quán gặp anh. Anh ngập ngừng hỏi tôi:

“Cô tới sáng sớm. Vì … vì chúng tôi cần tài liệu đó lắm”.

Tôi hẹn gặp anh 10 giờ sáng.

Sáng hôm sau tôi sửa soạn xong, chun vô cái cửa sau lưng tủ áo, lấy gói tài liệu bỏ vô cái bóp có máy ghi âm.

Nhiều lần vợ chồng tôi đi săn, anh John dậy tôi bí quyết săn nai. Trước hết là phải ăn điểm tâm, phải kiên nhẫn, chú ý tới những thói quen của bầy nai như: nó ra ăn giờ nào, uống nước ở đâu. Phải ngồi trên cây chờ nai có khi cả năm, sáu tiếng đồng hồ mà không được nhúc nhích. Hôm nay, tôi không có săn nai, mà săn cán bộ Cộng sản, xem “chúng tôi” của Huỳnh Trung Đồng là những ai. Tôi chờ họ ngồi đâu vào đó, rung đùi chờ tôi, chừng đó tôi mới thấy được hết mặt mấy ông quan cách mạng. Vì thế, tôi chần chờ một lát, ghé qua mua tờ báo, tìm một tiệm café, ăn điểm tâm, chuẩn bị tinh thần.

Tôi tự dặn mình rằng, tôi đang là một công tác cho an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, một việc làm nguy hiểm, chứ không phải tôi là du khách ghé qua Paris để tận hưởng mùa Xuân Paris. VC, Cộng sản, KGB, phản gián Tây có thể theo dõi tôi từng giờ từng phút. Họ có thể chụp hình, họ có thể giả dạng ăn cướp, ăn mày, mà giựt bóp tôi. Dù vậy, tôi luôn luôn đi đứng tự nhiên, không để bị chú ý. Uống café xong, tôi thong thả gọi taxi tới hội quán của hội Việt Kiều Yêu Nước.

Sáng nay, trước cửa trụ sở của hội Việt Kiều Yêu Nước vắng hơn mọi khi; không có sinh viên và mấy ông bà già Việt Kiều Yêu Nước, dù trong trụ sở có nhiều người hơn mọi khi. Con chó vàng thường nằm ngủ trước cửa hội quán, hôm nay có vẻ ngồi đứng không yên. Nó đứng chặn cửa nên tôi không dám bước vào, người quản gia phải đá bên hông nó, nó mới tránh đường cho tôi đi vô.

Huỳnh Trung Đồng dẫn tôi vô phòng học tập, có ba người đàn ông trạc 40, 50 và một người đàn bà cũng trạc tuổi đó. Tất cả mặc đồng phục màu xám sậm, nhìn vào là biết màu Xã-hội Chủ-nghĩa Hà Nội liền. Tất cả đều đeo hình Hồ Chí Minh trên ngựci. Anh Đồng giới thiệu mọi người, cuối cùng là “chị Vân”. Được biết trước kia chị là phụ tá của bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian hội đàm Paris. Thì ra, chị nầy đã phục vụ bà Bình, đã làm việc và sống trong cái villa mà ba má tôi đã đến đó ở một lần. Chị đón bắt tay tôi, và nói:”Tôi kính trọng bác Năm, ba cô lắm. Bác dạy tôi rất nhiều”.

Trên vẻ mặt hân hoan của mọi người, tôi biết tất cả đang chờ một điều gì, một cái gì, mà bây giờ nó đã đến. Tôi nghĩ họ chờ tôi; đúng hơn, họ chờ tài liệu của Trương Đình Hùng do tôi đem tới. Tôi trao cho anh Đồng cái bao plastic đựng ba cái bao thơ.

“Em có đem quà cho anh đây”!

Vừa nói tôi vừa bấm cái nút “on” của máy ghi âm trong bóp của tôi. Anh Đồng nhanh nhẹn nhận lấy bọc plastic. Anh nói: “Cô đến thật là đúng lúc”. Anh liền đưa cho một trong những cán bộ cái bao thơ dầy nhứt. Ông như một đứa trẻ mở quá Giáng Sinh, trong khi ba người kia hăm hở chờ. Anh Đồng dẫn tôi qua phòng khác để họ làm việc. Tôi thấy chị Vân trợn mắt rồi kêu lên: “Trời ơi, chắc chúng ta phải mất ít nhứt năm tiếng đồng hồ để chuyển ngữ đống tài liệu nầy!”

Tôi vừa đi theo anh Đồng vừa cười thầm: “Chị có muốn lần sau thông dịch viên của FBI dịch cho chị trước khi tôi đem qua không?”.

Anh Đồng không ngớt cảm ơn tôi. Anh còn cho biết là anh sẽ báo cáo với “những người có trách nhiệm bên nhà” sự đóng góp “to lớn” của tôi.

“Chừng nào phái đoàn của mình gặp phái đoàn của Mỹ?”. Tôi hỏi.

“Sắp sửa. Khi nào thuận lợi cho bên ta thôi. Chúng ta sẽ được báo trước. Cô tới quá kịp thời, đúng lúc”. Vừa nói anh vừa quay lưng lại chỉ vào bốn người cán bộ đang chia nhau những tài liệu của Trương Đình Hùng gởi qua cho họ. Tôi chưa bao giờ thấy anh Đồng cười; vậy mà hôm nay anh vui ra mặt.

“Vậy thì bên mình sẽ nói cái gì với họ hả anh Đồng?”. Tôi ngây thơ hỏi anh.

“Chung quanh vấn đề Mỹ phải giữ lời hứa của tổng thống Nixon”. Huỳnh Trung Đồng nhắc lại việc bồi thường chiến tranh với ba tỷ rưỡi dollars sau khi chiến tranh chấm dứt. Anh tiếp tục “…để hàn gắn vết thương của chiến tranh gây nên!”.

Tôi nói thầm:“Vết thương chiến tranh trên xứ mình gây tổn thất gấp trăm ngàn lần ba tỷ rưỡi dollars mà Hồ Chí Minh gây ra, chớ Nixon nào gây ra mà đi đòi tiền Mỹ?”.

Mỗi lần Cộng sản và những người phản chiến nhắc đến những đổ vỡ, những thiệt hại do chiến tranh gây nên, họ đều có một lập luận giống nhau. Tất cả đều đổ lỗi cho “đế quốc Mỹ”. Đã một lần tôi nói với ba tôi, là suốt thời gian chiến tranh, miền Nam ở trong thế thủ để bảo vệ mảnh đất tự do, trong khi Hà Nội ở thế tấn công. Liên Xô và Trung Cộng viện trợ, xít cho Hà Nội nhuộm đỏ miền Nam. Vậy thì ai là người gây thiệt hại trong cuộc chiến nầy? Ba tôi chỉ nói: “Con không hiểu”.

Tôi trả lời ba tôi:

“Con là con nhà họ Đặng, nhưng được họ Trần nuôi dạy, chớ đâu phải cháu ngoan của bác Hồ, nên con hiểu nhiều lắm, ba ơi!”.

Tôi biết ba tôi thương tôi lắm, và tôi là người làm rắc rối cho ông còn hơn “đế quốc Mỹ”.

Phan Thanh Nam muốn xài tôi như người ta xài trái chanh, trong khi Huỳnh Trung Đồng thì cư xử với tôi như người ta vun vén cây chanh. Ở anh Đồng, cái thiện nó có trong tâm anh, nhưng cái ác nó ở trong hành động của anh. Mà tôi biết, sau khi trở về Việt Nam nhận thẻ đảng viên của đảng Cộng sản, anh trở lại Paris hai vai mang nặng nợ nước nhiều hơn thời kỳ “chống Mỹ cứu nước”. Huỳnh Trung Đồng chưa sống dưới chế độ Cộng sản một ngày nào trước 75. Suốt thời gian chiến tranh, anh phục vụ MTGP tại Paris; về Việt Nam một tháng, khi trở qua Paris, anh như người bị mất hồn.

Anh kể cho tôi nghe, anh xuất thân từ một gia đình khá giả ở miền Nam, nên anh được du học. Chị của anh là một quả phụ. Sau tháng 4-1975, chị phải “dâng hiến” tài sản cho nhà nước, không còn nơi nương tựa, nên dọn về ở với ba của chị. Cũng là dịp ông đau nặng không còn tiền, không đủ “tiêu chuẩn” đi nằm nhà thương. Khi về nhà, thấy tình cảnh gia đình thê thảm quá, anh tới gặp ba tôi, nhờ ông giới thiệu với chánh quyền trong thành phố, nâng cao tiêu chuẩn của ba anh lên bậc “có công với cách mạng” (có công vì ông là ba của Huỳnh Trung Đồng). Ngay sau đó, ba của anh Đồng được đưa vào nhà thương chữa trị. Anh không ngớt nhắc đến sự giúp đỡ của ba tôi.

Trong khi tôi chỉ trích nhà nước, anh Đồng khéo léo: “Rồi đâu sẽ vào đó!”.

Hôm đó, anh Đồng cho tôi cái giấy mời để được đi xe bus cùng với Việt kiều ra phi trường đón thủ tướng Phạm Văn Đồng. Chuyến công du nầy, trước tiên là thiết lập tình hữu nghị với nước Pháp. Ông cũng sẽ gặp các đại biểu của tất cả hội Việt Kiều Yêu Nước ở mọi nơi, để mở đầu cho chiến dịch ngoại vận. Những hội viên, những đại biểu nào mà trước đó không thể về Việt Nam được một lượt với Huỳnh Trung Đồng, vì lý do họ chưa có đủ giấy tờ để du lịch – trường hợp những người tỵ nạn mới, chưa có thẻ xanh, trong đó có những sinh viên du học- sẽ được gặp thủ tướng trong chuyến công du nầy.

Tôi nhận cái giấy của anh Đồng, nhưng tôi không có ý định leo lên xe bus ra phi trường phất cờ đỏ sao vàng đón ông, mà tôi cần thấy sắc thái của ông thủ tướng già để báo cáo với CIA mà thôi. Có giấy mời đó, tôi được đi vào toà đại sứ để dự buổi tiếp tân, nhưng tôi lại đứng sắp hàng với mấy trăm người trước cửa toà đại sứ. Ông Phạm Văn Đồng ra trước cửa toà đại sứ nói vài câu chào mừng Việt kiều, hai tay nắm vào nhau đưa lên cao, cặp mắt không có thần, mặt nặng như chì, không nhếch mép cười với những tiếng vỗ tay của đám người chờ sắp hàng hơn một tiếng đồng hồ, trong đó có tôi, có Việt kiều đã sinh sống trên đất Pháp suốt đời, có lính Lê dương, có mấy người Corsicans dẫn theo mấy bà vợ Việt Nam. Ông Phạm Văn Đồng nói, tình bạn giữa hai quốc gia rất quan trọng cho hai dân tộc Việt-Pháp; vì vậy chuyện cũ bỏ qua, lỗi lầm tha thứ hết. Tôi lầm bầm trong bụng “Tây nó bắn, nó giết, nó đâm, nó dầm dân tộc Việt Nam, ông không hề hấn gì, ông bôi bỏ lịch sử đó để đi ăn mày được, chớ Việt Minh của tôi không tha thứ, cũng không quên tội lỗi của đồ thực dân nầy đâu!”.

Phạm Văn Đồng xuất hiện có mấy phút rồi trở vào bên trong toà đại sứ.

Chuyến công tác nầy, tôi ở Paris 18 ngày. Mười tám ngày Xuân đẹp hơn trong những tác phẩm đã ca ngợi mùa xuân ở Paris, nhưng tôi chỉ được hưởng nó khi tôi biết cách làm cho ngày dài hơn 24 tiếng đồng hồ, vì tôi làm việc từ 10 giờ sáng tới 12 giờ khuya. Tôi tìm gặp người tỵ nạn, tâm tình với người Sài gòn vừa chạy qua Paris. Tôi gặp Cộng sản Hà Nội, tôi thăm dò tình ý người của MTGPMN . Tôi được tới nhà những người Việt Nam đã sinh sống ở Paris, đã nhiệt tình ủng hộ MTGP qua nhiều giai đoạn, nhưng sau 1975 họ mới thấy rõ bộ mặt thật của Cộng sản Hà Nội. Những anh chị em nầy lập thành một nhóm để cùng nhau tẩy chay chế độ mới. Trong khi đó, hàng ngày tôi phải liên lạc, báo cáo với CIA. Nhưng không vì vậy mà Paris không mùa xuân.

o O o

Trong thời gian tôi công tác ở Paris, ở nhà, FBI điều tra rối rít để tìm ra danh tánh người bạn Mỹ của Trương Đình Hùng, người mà anh đã một lần khoe với tôi là ông ấy có thể lên lầu 7 Bộ Ngoại Giao lấy tài liệu mật cho anh ta.

Thời điểm đó Bộ Tư Pháp không được phép mở thơ, không được nghe lén, không được đặt máy ghi âm người bị điều tra, nếu người đó là công dân Mỹ hay thường trú nhân. Chỉ khi nào cơ quan điều tra có đủ bằng cớ, thì cuộc điều tra mới được tiến hành đến giai đoạn nầy.

Trường hợp của Trương Đình Hùng, FBI và Bộ Tư Pháp đã ra toà xin phép điều tra anh bằng cách nghe lén điện thoại của anh, những toà không cho. Sau đó, ông bộ trưởng Bộ Tư Pháp là ông Griffin Bell trình lên tổng thống Jimmy Carter. Hai ông cùng là người xuất thân từ tiểu bang Georgia. Ông Griffin Bell Bell lớn tuổi hơn tổng thống Carter, là một vị luật sư nổi tiếng thế giới, giầu kinh nghiệm. Ông đã từng phục vụ nhiều tổng thống nước Mỹ trong thời gian ông Carter còn là sĩ quan Hải Quân. Tổng thống Carter đã mời ông Griffin Bell giữ chức bộ trưởng Bộ Tư Pháp khi ông đắc cử tổng thống. Ông Griffin Bell đích thân đến Toà Bạch Ốc gặp tổng thống Carter để trình bày một vấn đề có liên quan đến an ninh quốc gia. Tổng thống Carter lắng nghe và cho phép Bộ Tư Pháp mở cuộc điều tra Trương Đình Hùng với những kỹ thuật của ngành phản gián. Đây là lần đầu tiên Toà Bạch ốc cho phép ban phản gián dùng máy móc và nhân lực để điều tra thường trú nhân và người có quốc tịch Mỹ.

Bill Fleshman cho biết Trương Đình Hùng xài điện thoại liên miên, cho nên người thông dịch viên của FBI phải làm việc ngày đêm. Chỉ có mấy ngày nghe điện thoại của Trương Đình Hùng, FBI lấy được tên của người bạn Mỹ của Hùng. Ông ta tên là Ron. Một hôm, Hùng biểu Ron tới gặp anh ở chung cư anh đang ở. Tên Mỹ là tên Ron cũng như người Việt Nam tên Hồng, tên Cúc, tên Hùng, tên Dũng…; bây giờ FBI phải biết Ron họ gì mới tiếp tục điều tra xem người bạn đó của Hùng là ai?

Tối 13 tháng Năm, nhân viên FBI ngồi trong xe “van” ngang cửa chung cư của Hùng ở, thì thấy có một người Mỹ đi vô. Một lát sau ông đi ra và đi bộ. Những chiếc xe của FBI bố xua ra một cách kín đáo, theo gót ông đi thẳng vô Bộ Ngoại Giao. Nhân viên ra vào Bộ Ngoại Giao phải ký tên vào sổ ngoài cổng có lính gác. Khi ông Mỹ ký tên xong, thì một chiếc xe khác trờ tới, cũng đưa thẻ, cũng ký tên vào sổ, nhưng thẻ đó là thẻ của nhân viên FBI. Người nầy yêu cầu người gác cho xem tên của người vừa ký để vô cửa. Đó là Ronald Louis Humphrey, nhân viên của U.S. Information Agency. Ông ghi là ông lên văn phòng trên lầu 7. Bingo!

Sau đó, Bộ Tư Pháp cho phép ban phản gián của FBI gắn máy chụp hình trong văn phòng làm việc của ông. Gắn máy ghi âm luôn trong apartment của Trương Đình Hùng.

Cuộc điều tra bắt đầu diễn ra trong khi tôi vắng mặt nên tôi chỉ biết được sau ngày tôi trở về Mỹ. Họ còn cho tôi biết người bạn của Trương Đình Hùng là một nhân viên cao cấp Bộ Ngoại Giao, cấp bực GS-14. Ông có “top secret clerance”.

Trước khi tôi rời Paris, Phan Thanh Nam đưa cho tôi một bì thơ dán kín. Ông bộ trưởng Bộ Tư Pháp được tổng thống Carter cho phép mở thơ đó. Phan Thanh Nam viết: “Tôi hoan nghinh cách anh sắp đặt công việc làm ăn… Đôi khi cũng phải dùng tới sự lừa đảo và dối trá nhau”. Chúng tôi không hiểu Nam khuyến khích Hùng lừa đảo ai, dối trá với ai, nhưng khi Hùng mở thư, anh vừa đọc vừa mỉm cười.

Hùng cười tươi hơn, khi tôi cho anh biết là sự đóng góp của anh tối quan trọng; anh đưa tài liệu cho tôi đem qua Paris, vừa kịp thời, vừa giúp ích cho cuộc hội nghị giữa Mỹ và Hà Nội. Tôi nói lại cho anh biết, anh Huỳnh Trung Đồng nhắn với anh, là anh nên tiếp tục công tác hăng say. Anh Đồng cũng dặn anh “phải giữ sức khoẻ”.

Khi tôi nhắc đến “giữ gìn sức khoẻ”. Hùng liền hỏi tôi có luật sư không? Khi tôi trả lời là không, thì anh khuyên tôi nên có sẵn một luật sư giỏi. Anh còn nói là trong “nghề nghiệp” của tôi và anh, nên có một luật sư phòng khi hữu sự.

Một hôm, anh mời tôi đến nhà anh vào ngày Chúa Nhựt uống trà. Chúa nhựt đó là Father’s Day, John dẫn Lance đi câu cá, nên tôi rỗi rảnh. Nhà của Hùng ở đường F ngoài Washington, D.C. Căn phòng anh ở sạch sẽ, yên tĩnh. Trong phòng không có cây, không có hình, không bông hoa, mà chỉ có sách và báo chí. Thế giới của anh ở không có màu, không có sự sống, không có tiếng động, chỉ trừ một lát sau, tiếng nước sôi trên cái ấm nước anh nấu để pha trà là tiếng kêu quen thuộc.

Tôi nhìn quanh căn phòng của một người sống đời sống bóng tối, chờ hào quang, đời sống của một điệp viên Cộng sản. Tôi nghĩ đến Hải Vân em tôi, và cuộc sống đầy ý nghĩa của em trước khi em tử nạn. Trong giây phút đó, cái thiện của con người tôi muốn bước ra nắm tay Hùng, biểu anh hãy bỏ tất cả. Hãy rước ba má của anh ra khỏi Việt Nam. Tôi muốn nói, anh nên ra khỏi cái thư phòng, đi tìm việc làm xứng hơn với học vấn của anh. Cha mẹ anh đã nuôi anh khôn lớn, cho anh du học, hao tốn biết bao nhiêu tiền, nuôi biết bao là hy vọng. Tỉnh dậy đi Hùng, không thôi anh sẽ thức với cơn ác mộng!

Chúng tôi ngồi uống trà. Tôi cố không khơi chuyện về việc làm của anh, bởi vì tôi biết phòng anh đang ở bây giờ đã có gắn máy ghi âm. Nhiều đêm tôi nằm nghĩ, làm gián điệp không phải là nghề của tôi, mà là cái nghiệp, bởi vì tôi cứ bị cái thiện và cái ác vật lộn với nhau trong lương tâm hoài, làm cho tôi mệt trí quá.

Tôi báo cho Hùng biết là chồng tôi vừa được sự vụ lịnh đổi qua London. Tôi không đọc được ý nghĩ trên mặt Hùng về việc tôi sẽ rời Washington, mà anh lại dặn tôi trước khi rời Washington, anh nhờ tôi lấy thêm tài liệu đem qua Paris giùm anh.

Hùng gặp tôi vào buổi tối sau giờ làm việc để đưa cho tôi tài liệu. Ban đêm một mình ra Washington rất nguy hiểm, nên anh vô Virginia gặp tôi. Chúng tôi gặp nhau tại bãi đậu xe trước cửa The Hetch Cơmpany trong Landmark Shopping Center. Hùng bưng ra một bọc loại bọc giấy ở chợ, đầy giấy tờ trong đó.

Sau khi nhận gói hồ sơ rồi, tôi định chia tay Hùng, thì anh đề nghị ghé vô một quán nước uống café và nói chuyện trước khi chia tay. Khi chia tay, Hùng bắt tay tôi và chúc tôi bình an. Giòng máu Con Rồng Cháu Tiên trong cơ thể làm cho tôi trắc ẩn trong lòng. Hùng là người Việt Nam dù anh làm gián điệp cho Cộng sản, anh cũng mang giống máu da vàng. Tôi thương hại Trương Đình Hùng vô cùng, vội choàng tay lên vaii Hùng, rồi nghẹn ngào nói:

“Hùng giữ gìn sức khoẻ nhen. Hết giặc rồi, hứa với tôi là Hùng nghỉ ngơi. Lên Boston thăm anh Ngô Vĩnh Long như Hùng mơ ước đi hoài mà chưa đi được đó”.

Tôi chạy ra xe của tôi trong khi Hùng đứng nhìn theo.

Tôi cảm thấy tội lỗi với một người vừa chia tay tôi, một người đứng nhìn cho tôi lên xe an toàn, rồi anh mới lên xe anh. Trong khi đó, tôi liếc thấy có vài ba chiếc xe của toán FBI gần đó. Tôi cố tình chạy hết tốc độ để không phải suy nghĩ tới hoàn cảnh éo le, để lương tâm không cắn rứt, để thương hại Hùng.

Như đã hẹn trước với FBI, tôi chạy về Springfield, Virginia, đậu sau lưng khách sạn Holiday Inn. Bill Fleshman và toán nhân viên FBI mở cửa bốn chiếc xe, đi đến gặp tôi. Tôi đưa gói đồ cho Bill rồi nói:

“Mấy anh muốn làm gì thì làm với mấy hồ sơ nầy! Tôi không muốn thấy mặt nó nữa”.

Tôi lái xe về nhà. Trời không mưa, nhưng mắt tôi ướt.

Từ Hải và cuộc phiêu lưu của đời chàng

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

  Tháng tám, mùa Thu năm Dậu, binh lửa khắp bốn phương, Hà Đô rực cháy ta lánh mình về ở Thạch Quận, nơi ấy núi đồi trùng điệp, khí lạnh căm căm. Nhân khi thong thả, có kẻ cho mượn một cuốn văn vần rách nát đọc giải khuây. Câu chuyện đời nàng họ Vương đã muôn phần éo le oan trái thời nhiễu nhương tao loạn, thật đau lòng rơi lụy; lại thêm lời thơ như ngọc chuốt, ta tuổi còn thơ cầm nước mắt không đang. Đến như Từ Hải đường đường một đấng mà cũng sa cơ làm ta xót xa tấc dạ.

Ta hỏi: Áng văn của ai mà trác tuyệt. Đồ trẻ ranh miệng còn hôi sữa biết gì mà nói, tuổi mày còn chưa được phép đọc nửa kể gì đàm luận, khúc Đoạn Trường Tân Thanh này là của Tố Như Tiên Sinh viết ra đã hơn một trăm năm. Từ buổi ấy ta lấy sách đó nằm lòng đọc đi đọc lại đến nỗi nhập tâm. Bao nhiêu dâu bể sống lên trong buổi nhiễu nhương bức rứt, đứng ngồi không yên, cảnh tang thương diễn ra như giấc mộng, tuồng đời lắm cảnh nhố nhăng khiến ta mỗi ngày một thêm yêu tay giang hồ Từ Hải, lòng những không yên tự hỏi: đời người anh hùng quả vậy chăng? Một đêm kia, ta đang đọc sách bên đèn trên lầu vọng nguyệt bỗng thấy một người oai phong lững lững vén màn đẩy cửa, đi vào ngồi xuống tràng kỷ đối diện với ta, xưng tên là Từ Hải. Vừa mừng  vừa lo, không biết mình tỉnh hay mê? Ta hỏi: Ông còn sống sao? Từ đáp: Ta vẫn còn sống, cảm vì thanh khí nên mạo muội đến hầu chuyện, uống với nhau chén rượu nhạt, hát với nhau một vài câu, chắc tiên sinh cũng chả chấp gì mà không cùng nhau vui ít phút nhất nửa ta cũng muốn kể lại cùng tiên sinh một vài sự thực của đời kẻ giang hồ này… Ôi câu chuyện ngày nào còn thảng thốt như một giấc chiêm bao, thực giả, giả thực nhiều lúc củng làm ta choáng váng chẳng biết ra sao. Khi tỉnh dậy ta vẫn còn nghe như tiếng ai trầm buồn bóng ai thấp thoáng, tiếng cười giọng nói như còn phảng phất. Từ đó đến nay câu chuyện vẫn còn in trong dạ đã nhiều phen cầm bút viết ra, nhưng giấy bút vẫn chừng như nguội lạnh, bao đêm trường thao thức nhiều khi muốn đoạn tuyệt với bút nghiên.

Giấy mực còn có nghĩa gì nửa? chữ nghĩa thánh hiền mà làm chi? Đêm qua ta lại thấy Từ Hải về đứng bên thư án hỏi: Tiên sinh còn nhớ kẻ hèn này không? Ta nói: Còn nhớ, quên sao được… Từ Hải trừng mắt nhìn ta: Sao tiên sinh không vứt bỏ bút, đốt bỏ sách mà cầm lấy một con chủy thủ? Ta buồn rầu: Con chủy thủ từ chàng Kinh Kha đến nay đã thất truyền, còn chăng là những con chủy thủ giả trong giới lục lâm. Từ Hải quát lên: Tiên sinh không còn một mũi nhọn nào khác sao? Ta lặng đi, đến khi nhìn lên thì không còn thấy Từ đâu nửa.

Đêm nay nằm nghe tiếng súng vẳng đưa vào kinh thành, trời đất u ám, ta nghe như tiếng quát của Từ Hải còn vang dậy. Ta thấy cần phải trả cho xong một món nợ nên ngồi vào thư án, thắp ngọn bạch lạp mà viết lại câu chuyện đời của Từ Hải này, một là để gởi cho vong linh của Từ Hải. Sau là để tạ ơn với Nguyễn Du tiên sinh đã cho một kẻ sống 200 năm sau được gặp một tay giang hồ cự phách.

Từ Hải dời bến lên tìm tửu điếm. Trời nhá nhem tối qua mấy con đường trong phủ vẫn không thấy một tửu điếm nào, mải cho tới cửa đông thành mới thấy mợt quán rượu lớn ngoài cửa có treo đèn lồng liền bước vào gọi rượu, chủ quán ngó vào mặt Từ Hải rồi từ chối:

_Ở đây không bán rượu anh sang cửa Bắc mà uống.

_Sao cửa tiệm bán rượu mà không bán rượu là thế nào. Nhà ngươi sợ ta không có tiền sao?

Vừa khi đó có hai người khách bước vào quán kêu rượu, chủ quán bỏ Từ Hải chạy vào kêu kẻ hầu mang rượu ra. Trông hai người kia có vẽ sang trọng hơn. Từ Hải đập bàn hét lớn:

_Tụi bay khinh ta không đáng uống rượu sao?

_Có lẽ anh ở xa mới tới nên không biết rằng nơi đây chỉ bán rượu cho các quan mà thôi. Anh sang cửa Bắc uống với tụi phu phen và lái buôn ở bên đó thì hơn.

Từ Hải nghe nói máu giận trào hông nhào tới thoi tên chủ quán một cái nhào vô tường té xỉu. Hai người khách ở bàn trong đứng dậy. Người cao lớn tiến ra chưa kịp nói nửa lời đã bị Từ hải đá chúi ngả vào gầm bàn. Người khách còn lại ra vẽ văn nhân đứng ở phía bên kia bàn nói ra:

_Nhà ngươi sao dám phạm vào quan Thái Úy, muốn chết hay sao?

_Thái gì, có thái thịt, mi muốn ta thái nó ra từng miếng mà nhậu nhẹt chơi không. Mi muốn sống hãy ngồi xuống, ngồi xuống, ta ra lệnh.

Người khách run sợ ngồi im. Từ Hải tới vực tên kia dậy rồi đặt ngồi trên ghế cùng tên chủ quán.

_Quán này dành cho các quan mà, toàn quan lớn cả, thằng thuyền chài này xin làm một tên lính hầu rượu cho phải phép. Tửu bảo đâu mang rượu ra đây.

Lũ hầu run sợ mang rượu ra, Từ Hải cầm cả vò đổ lên đầu tên Thái Úy và chủ quán.

_Uống đi mời các quan…ngàn năm một thưở kẻ hèn mọn du côn này mới có cơ hội để hầu rượu quý quan. À, quan lớn, mời quan lớn.

Người khách ngồi im như đã chết. Từ Hải đẩy một vò rượu qua nhưng khách vẫn ngồi im.

_Sao quan lớn, hay ngài không muốn dùng thứ rượu này. Tửu bảo hãy cho ta thứ rượu tăm Sơn đông ra đây, hãy hâm thật nóng. Tửu bảo mang rượu ra. Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay quệt áo ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

_Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu ly này mới được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.

_Dạ thưa không có heo.

_Có thịt người không?

_Dạ… dạ…

Từ Hải hít mũi đánh hơi rồi xô ghế đứng lên đi thẳng xuống nhà bếp. Từ thấy có mấy đảnh thịt treo liền vớ lấy.

_Cái gì đây tụi bây?

_Dạ thịt cầy

_Thịt cầy thì tao không ăn được sao? Hay thịt cầy chỉ dành cho các quan lớn quan nhỏ nhà mày?

Từ Hải mang mấy đảnh thịt lên vừa ngoạm vừa uống rượu. Tên Thái Úy và chủ quán đã ngúc ngoắc cái đầu. Người khách vẫn ngồi im.

_A ha, quan lớn chê rượu Sơn đông à. Vậy thì có một thứ rượu chính hiệu Việt đông đây, kẻ hèn xin cam đoan là rượu tốt để dâng lên ngài dùng thử.

Vừa nói Từ Hải vừa đứng lên hai chiếc ghế giang chân tụt quần ra và lấy chiếc bát cầm ở tay mà đái vào. Xong xuôi Từ Hải bước vào giữ đầu người khách mà đổ vào miệng. Hắn kêu ằng ặc như một con heo bị chọc tiết. Kẻ trong quán ngó ra xanh mặt. Ăn uống no say Từ Hải đứng dậy kêu tửu bảo:

_Lúc các quan lớn trở dậy chúng bây nói lại rằng: Từ Hải, một tên chèo thuyền du côn ở bến Việt đông rất mong được hội ngộ quý quan…

Từ Hải chếnh choáng hơn men trở về bến miệng lảm nhãm văng tục. Lủ tửu bảo kinh hồn đứng ngó nhau, bởi cái tên Từ Hải làm họ rụng rời. Ở cái đất Việt đông này cái tên Từ Hải ai là chẳng nghe đến một hai lần bởi những hành tung của Từ Hải. Từ là một con người thuyền chài dưới bến, có võ nghệ, người đen đủi xấu xí, nhưng xử sự là một tay anh chị hào phóng. Hồi chưa có Từ Hải ở phủ Việt đông bọn du thủ du thực lưu manh phá phách thật khổ sở, chúng làm đủ mọi việc nhơ bẩn. Một tay Từ Hải đã làm cho bọn này khiếp sợ, kẻ thì bỏ đi tìm đất khác kiếm ăn, kẻ cải tà quy chánh làm đàn em Từ Hải, cho nên người ta gọi Từ Hải là “trùm du côn”. Từ Hải thấy chuyện gì chương tai gai mắt là chẳng bỏ qua giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh, lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo chẳng bao giờ thu cho mình một chút lợi nhỏ quanh năm đóng một chiếc khố rách. Bởi thế ai cũng kính nể, mến chuộng. Từ chỉ vui với đàn em và nghề chài lưới nể ai mời mọc trả ơn chàng thì nhận uống một bữa rượu suông cho say mà lấy làm thích. Uống rượu ngà ngà Từ Hải huyên thuyên hát và gảy đàn như một tài tử  nhàn du hạnh phúc. Viên quan ở đó có ý mến cho gọi đến sung vào lính. Từ Hải làm ngơ và từ chối: “Thưa quan lớn con chỉ là con nhà thuyền chài” Nhưng cũng vì những hành tung của Từ Hải mà bọn quyền thế thù ghét đã nhiều phen định hãm hại.

Chẳng bao lâu viên quan cai trị cũ bị đổi. Viên quan mới hống hách thêm vào bọn sai nha quấy phá. Những chuyện đo nhiều phen làm Từ Hải tím mặt bầm gan. Rồi bổng đâu có một tin sét đánh tới tai dân chài: Viên quan ra lịnh trưng dụng tất cả thuyền bè để chở đá về Bắc kinh xây dựng hoàng cung. Đó cũng là vì viên quan muốn lập công với triều đình. Lệnh vừa ban ra dân chài lo sợ cho đời sống. Họ chỉ còn biết nhìn nhau khóc. Lời ta thán kêu ca tưởng thấu tới trời. Từ Hải liền tụ tập mọi người kéo tới cửa phủ để kêu xin. Nhưng cửa phủ đóng kín, lính canh nghiêm ngặt không cho vào. Chẳng những thế lính canh còn được lệnh đánh đuổi lũ dân đen. Những ngọn roi đã quất xuống. Từ Hải cáu giận quát lên:

_Sao lại thế được không có dân chúng bây làm quan với ai? Chúng bây muốn chết không có đất chôn phỏng?

Từ Hải liền trở về. Đêm hôm đó liền tụ họp mọi người lại tìm cách đối phó. Từ Hải bàn cùng mọi người xem phải làm thế nào. Nhưng rồi chẳng biết phải làm sao.

_Tại sao chúng ta lại phải chịu mãi sự bất công? Chúng ta đâu phải súc vật để chúng nó làm sao nên vậy. Bà con cô bác nghĩ xem. Tôi chỉ muốn bằm cho chúng nó mấy nhát rồi ra sao thì ra.

_Nhưng sức chúng ta yếu.

_Không, chúng ta không yếu nếu chúng ta hợp sức với nhau. Tại sao chúng ta lại không chống cự?

_Anh định rủ bà con làm loạn hay sao?

_Làm loạn là thế nào? Ai lại không muốn yên ổn làm ăn? Nhưng bây giờ người ta có cho mình sống như thế không? Sưu cao thuế nặng, nay mai việc khác ăn không ngon, ngủ không yên. Kẻ trên không đoái đến dân chỉ lo thụ hưởng, chất chứa bạc vàng, xây dinh thự, đàn ca hát xướng. Kẻ dưới cậy quyền hà hiếp dân chúng. Miếng ngon của lạ bị cướp, vải lụa bị thu không còn mảnh khố che thân. Gái đẹp bị mang đi rồi thải ra cho làm đĩ… Bao nhiêu việc đó ai không thấy, có mắt tai để đâu mà không biết. Vậy thì ai làm loạn? Thời như thế này đã chẳng phải là loạn hay sao? Chúng ta không muốn loạn, không làm loạn mà chỉ muốn hành động để được sống yên…Nay chúng ta chỉ còn mấy mảnh thuyền nát, gạo không còn một hột, tiền không còn một trinh, sống chỉ nhờ vào cái thuyền, nay lại trưng dụng để đi chở gạch xây nhà cho quan ở, như vậy thì khác nào chúng giết dân chài. Chúng ta bị chăt cụt tay chân… Lẽ thiệt hơn như thế tôi nói để bà con cô bác hay. Chẳng lẽ lại ngồi nhìn nhau mà chờ chết hay sao?

_Nhưng nếu chúng ta không chống nổi triều đình?

_Sao lại không? Chưa hành động mà đã sợ thất bại là làm sao? Chẳng qua ở đời này ai cũng một lần chết. Như vậy chọn cách chết nào tốt đẹp cho cuộc sống thì thôi chớ. Được thì sống, thua thì chết là lẽ thường tình…Ai theo tôi?

Câu hỏi cuối cùng đầy vẻ quyết liệt làm cho mọi người im lặng. Cả một vùng bến nước đắm vào nỗi hoang mang lo lắng. Những chiếc thuyền đứng im, người ta chỉ nghe thấy những tàn đuốc rơi xuống mặt nước sèo sèo. Từ Hải đưa mắt nhìn vào hơn hai trăm chiếc ghe chài châu đầu vào nhau thành một vòng tròn. Trong nền đêm ánh đuốc soi chập chờn vào những khuôn mặt đen bóng khắc khổ. Những mái tóc bạc chen vào những mái tóc xanh. Những con mắt tư lự, đôi môi ním lại uất ức. Họ đã đồng thanh theo Từ Hải. Sau khi các thuyền bè đã tản ra Từ Hải tụ anh em lại bàn tính mọi việc. Sáng hôm sau Từ Hải loan báo cho dân chài biết hết, trưa mọi người sẽ rời bỏ bến kéo đi, đám thanh niên lựa lấy những chiêc thuyền tốt giữ lại còn bao nhiêu dồn lại một chổ rồi phóng hỏa đốt hết, lửa cháy rực trời cả bến Việt Đông, dân phủ náo loạn kéo xem. Quan Phủ nghe tin mang lính ra thì chỉ nhìn thấy những mảnh ván trôi lều bều trên mặt nước, dưới bến không còn một chiếc thuyền liền bắt người tra khảo nhưng chẳng ai cung khai điều gì. Tức giận viên phủ quan sai chém đầu mười kẻ bêu xác trên cửa thành và tuyên cáo lùng bắt đám dân chài nhưng họ đều đã đi mất tăm. Từ Hải dẫn đàn thuyền ẩn vào khu rừng lau ở giáp phủ Việt Đông với Uyển thành. Sau biến cố ở Việt đông viên quan vội vàng viết biểu về triều. Minh Thế Tổ lúc đó đang tin dùng lũ hoạn quan. Bao nhiêu quyền bính ở cả trong tay bọn dua nịnh nên kỷ cương nát bét. Giặc giả nổi lên tứ tung không làm sao đánh dẹp được. Dù vậy việc ở Việt đông lại được chú ý vì công việc xây dựng một hành cung trở thành quan trọng. Nhưng khi quân đội tới nơi củng chẳng có ai mà đánh ngoài việc cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà.. dân chúng thêm phần cực khổ, thanh niên phẫn uất bỏ đi theo Từ Hải thêm đông. Ngày thao luyện võ nghệ. Đêm đêm giong thuyền đón chặn những thuyền buôn lấy lương thực, đón bắt những lính tuần, cướp phá những kẻ quyền thế giàu có, cùng những tên quan hà hiếp dân lành. Tiếng tăm Từ Hải mỗi ngày một vang động khắp cả vùng Sơn đông. Nghe đến tên Từ Hải bọn quan lại đều run sợ. Chẳng bao lâu Từ Hải đã chiếm được một vùng ven biển làm bản doanh, thanh thế mỗi lúc một lừng lẫy. Những kẻ bất mãn với triều đình, những kẻ bị hàm oan, những kẻ có máu thảo khấu cùng tìm về tụ tập dưới trướng Từ Hải trong số có bọn thảo khấu Vương Trực ở Giang Nam, bọn Tứ Quái ở Thiểm Tây, bọn Từ Văn Trường ở Sơn Âm và nhiều thanh niên có máu giang hồ hảo hớn ưa chuyện phiêu lưu cứu khốn phò nguy khác.

Với lòng ngay thẳng thái độ khảng khái kiên cường Từ Hải đã nêu cao ngọn cờ đại nghĩa trước đám dân đã chán ghét một triều đình bất lực thối nát nên mỗi lúc ngã theo một thêm đông. Lòng người như thác lũ cuộn lên tưởng như có thể cuốn đi tất cả những gì đang ngăn chặn, ngăn cản, đè nén trên cuộc sống, Nhưng vì giòng nước không chảy về một phía mà đổ về nhiều đám giặc nhỏ, chia thiên hạ ra từng khu vực  mỗi kẻ hùng cứ một phương, xưng hùng xưng bá, tình cảnh nhiễu nhương thật không thể nào tả xiết. Nổi lên ở Việt đông, dần dần Từ Hải xua quân xuống miền Nam tung hoành như giữa chốn không người; chẳng bao lâu chiếm cả vùng duyên hải. Đại quân kéo xuống chiếm Lâm Thanh, Châu Thường và đóng tại đó, thế quân như thế chẻ tre. Các thành Vô Tích, Hàng Châu, Châu Thai bị đe dọa, chỉ mới nghe tiếng Từ Hải nhiều tên quan đã bỏ thành trốn hoặc sửa soạn đầu hàng. Dự định đánh một trận lớn để gây thanh thế Từ hải quyết định hạ trại, đóng quân thao dượt binh mã, chiêu nạp thêm quân lính rồi một mình cùng mấy kẻ hầu cận cải dạng xuống phương nam xem tình hình, trong đám có Từ Nguyệt Minh người ở Sơn Âm hiệu là Văn Trường trước vốn là thượng khách của Hồ Tôn Hiến. Từ Văn Trường là kẻ có học, văn hay chữ tốt, không sách gì là không đọc, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, nhưng thiếu bè cánh, không được trọng dụng nên sinh ra bất mãn, du sơn du thủy.

Cái học không được đặt đúng chổ khiến cho Văn Trường thành kẻ trụy lạc, chỉ lấy thú vui rượu chè đĩ điếm làm hứng cho văn chương. Khi trước Văn Trường đã từng đến mua vui ở Hàng Châu, thủ phủ có hàng mấy ngàn nhà điếm, chính ở đó Văn Trường đã chứng kiến chuyện viên Thái Thú Hàng Châu là Liễu Tuyên Giáo vì không ưa những kẻ xuất gia thờ Phật nên rắp tâm dùng bọn gái điếm cám dỗ khiến nhiều nhà tu phá giới. Đến lúc sau Thái Thú Liễu Tôn Giáo bị đổi đi. Trương Nguyên Biện đến thay thế, chính người này đã tiến cử Văn Trường với Hồ Tôn Hiến. Thái thú Trương Nguyên Biện ghét bọn gái điếm nên tìm cách đuổi đi hoặc giết những gái điếm trước kia trong viện Hồng Liên theo Liễu Tôn Giáo hại nhà chùa đều bị Trương Nguyên Biện giết hết con số lên đến hàng mấy ngàn người. Vì có chút cảm tình với nàng Vương Thúy Kiều nên Văn Trường đã xin cho nàng thoát nạn ấy. Do chuyện cũ Văn Trường đã đề nghị với Từ Hải ghé vào Hàng châu để nhân cơ hội gặp lại người xưa và để ăn chơi thỏa thích ít ngày, sau những gian nan khổ sở thiếu rượu, đàn bà, ca hát. Trên chiếc thuyền xuôi gió Văn Trường nói với Từ Hải:

_Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tướng quân phải xưng đế hiệu để lấy danh nghĩa cho dân chúng theo. Chứ chẳng lẽ mãi mãi chúng ta chỉ là một phường cướp biển.

_Ông muốn được làm quan lắm sao? Ngó bộ mình làm như thế này không có chính nghĩa sao? Ta thấy ta chẳng xứng để mà xưng đế, làm một tên thuyền chài mà sánh với những Lưu Bị, Lưu Bang e không chính danh? Và có lẻ ta chỉ hợp được là một tên du côn rong chơi? Thực tình ta đâu có muốn làm chuyện này, làm một đế vương có gì là sướng nhỉ, không may lúc sống có thể bị chặt đầu, khi chết bị quật mồ. Làm một người dân thường ở vào buổi thái bình yên trị ta cho là hạnh phúc hơn hết. Không đành được sinh vào thời rối loạn thân chẳng yên mà ta phải hành động. Ta ước sao bây giờ có kẻ tài đức, thu thiên hạ về một mối mang lại đời sống yên ấm thái bình, ta chẳng tiếc gì mà không mang thân làm kẻ xách dép, cầm roi theo hầu. Ông có thấy lúc này dời bỏ được chốn ba quân, ta thảnh thơi vui sướng biết là bao nhiêu. Bây giờ ông hãy ngâm vịnh đi quên những việc chúng ta đang làm. Suốt đời, khi ăn, khi ngủ, lúc chơi bời mà cứ phải đóng vai tướng quân quả thật ta chẳng ham. Được làm ông trời mà phải bỏ rượu, bỏ hát, đàn địch, xa bạn bè, bỏ đàn bà thì ta cũng chẳng làm. “Bán khiên cung kiếm, nhất trạo giang sơn” ta hiểu vì sao Hoàng Sào chỉ là giặc Hoàng Sào mà không là hoàng đế Hoàng Sào. Lưu Bang chỉ là một tên xã trưởng tầm thường. Lưu Bị chỉ là một tên dệt chiếu, tôi nghĩ làm nên nghiệp đế đâu có khó gì, trong lúc tướng quân có binh hùng tướng mạnh lại ở lúc xã hội rối ren, triều đình mất cả chính nghĩa…

_Thôi, ông đừng khuyên ta chuyện đó. Bây giờ chúng ta ở đây, chung đụng với nhau, còn thương yêu dân chúng, còn quý mến bạn bè. Ta sợ khi làm vua rồi ta chẳng còn được cùng ông suôi thuyền mà đi tìm gái như thế này. Địa vị, quyền bính, vinh hoa sẽ làm cho chúng ta quên hết. Ta sẽ thành một hôn quân, ông sẽ thành nịnh thần tham nhũng và thật mệt cho dân chúng lại phải nổi lên mà lật đổ chúng ta…Ông đọc sách thánh hiền nhiều hơn ta sao chẳng biết chuyện đó, những chuyện liên tiếp xảy ra trong lịch sử. Văn Trường nghe Từ Hải nói trong bụng không vui. Vì ý Văn Trường trong lúc theo về với Từ đâu chỉ muốn làm một tên giặc biển, mộng của ông đặt vào lúc lập được triều đình làm một quan đại phu.

Từ Hải uống hết vò rượu này sang vò rượu khác, chàng lấy ra cây đàn vừa gảy vừa cất tiếng hát, trong giây lát chàng đã biến từ một tên tướng vũ dũng thành một nghệ sĩ say sưa trong cõi mộng. Lúc sau Từ hỏi Văn Trường:

_Ông ăn chơi lọc lõi đã nhiều vậy ở đất Hàng châu này có chổ nào đáng là đệ nhất lầu xanh?

_Xưa kia, viện Hồng Liên là đáng kể, nơi đó có một nàng ca kỹ tên Vương Thúy Kiều đáng được tôn là nữ hoàng. Tôi đã biết hàng vạn gái chơi ở Hàng châu này nhưng chưa thấy ai có thể sánh được với nàng. Khách giang hồ, tài tử sành điệu đã nhiều kẻ chết. Nay không hiểu nàng có còn ở đó chăng?

_Trong đám làng chơi lại có kẻ như thế được sao?

_Tôi nghe kể lại nàng vốn là con một nhà gia giáo, khốn nổi lúc gặp gia biến cha bị hàm oan, khiến nàng phải bán mình chuộc tội và số mệnh đưa nàng vào chốn thanh lâu. Nàng có hương sắc mặn mà, nghề chơi lão luyện, cầm kỳ thi họa đều trác tuyệt, quả tôi chưa gặp ai như thế.

_Ông dám chắc như vậy?

_Hẳn ý tướng quân vẫn ngờ về những gái làng chơi tầm thường vì hư thân mất nết đàng điếm mà dấn thân vào thường tìm lý do bào chữa, tự vẽ ra một quá khứ để lừa mình, lừa người. Quả nàng họ Vương không thuộc hạng đó, chẳng phải ai nàng cũng tiếp, mà được tiếp ít ai đã được ân cần. Chính tôi đây vẫn chưa được gần nàng. Tôi chỉ mong sao trong đời được một lần uống rượu trên người nàng.

_Nghe ông nói ta thấy ham quá. Tới nơi mong cho chúng ta có thể gặp được.

Sau quãng đường dài Từ Hải cho mấy tên bộ hạ phân tán đi thám thính còn chàng và Văn Trường thì đi kiếm nàng họ Vương. Là một dân thuyền chài rồi lại bôn ba mấy năm liền chưa biết những thú ăn chơi của bọn giàu sang quyền thế nên Từ Hải không khỏi ngạc nhiên bàng hoàng giữa thủ phủ Hàng châu, liên tiếp nhau những cao lâu tửu điếm, trà đình, những nhà chứa xây cất nguy nga như cung điện kể cả hàng mấy ngàn giai nhân tài tử, quần áo nhung lụa, lên xe xuống ngựa nhộn nhịp không thể đếm xiết. hàng châu trong những năm cuối đời Minh là một kinh đô văn hóa và truỵ lạc. Bọn văn nhân tài tử bốn bề tụ về ngâm vịnh, trên vách tường, bàn ăn ghế ngồi hiên nhà chốn lầu xanh chi chít những bài ngâm vịnh mang đủ mọi tên tuổi ca ngợi những đóa hoa biết nói hoặc suy tụng lạc thú. Những kẻ nhiều tiền, những viên chức cao cấp lâu lâu lại giả dạng tới chẳng thiếu mặt một ai. Họ bòn mót của dân bằng hà hiếp, hối lộ, thụt két, đến kẻ gian thương cho vay cắt cổ…cuối cùng lại mang tiền đó đến Hàng châu mà thiêu trong cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Vì thế con gái nhà lành trong thiên hạ hoa mắt vì ăn chơi kéo nhau đến Hàng châu làm đĩ mỗi lúc một đông, nghề nghiệp nhàn hạ, lại được ăn ngon mặc đẹp, có kẻ phúc mai bỗng một sáng một chiều trở thành mệnh phụ. Làm đĩ quả là nghề đi buôn không mất vốn mà dễ được giàu to bởi hoàn cảnh nhiễu nhương suy đồi tạo thành.

Tìm kiếm hỏi thăm mãi sau Văn Trường và Từ Hải mới thấy được nơi ở của Kiều. Nàng ở một căn lầu nhỏ nhưng tráng lệ nguy nga trong một khu rộng lớn với nhiều nhà khác nhưng thuộc hạng rẽ tiền. Nhận được mặt ân nhân Kiều vô cùng mừng rỡ rước lên lầu. Từ Hải lại trút ra một số bạc lớn nên mụ chủ chứa chỉ biết cuống cuồng ra lệnh sửa soạn tiệc rượu để cung phụng vì gặp một món khách sộp. Vừa gặp mặt Kiều, Từ Hải đã say đắm. Thấy Từ đã hợp ý Văn Trường rút lui xuống nhà đi kiếm gái khác để cho Từ Hải và Kiều mặc tình mây mưa. Lâu ngày không gần đàn bà nên Từ háo hức như trâu bò được ngày phá dỗ, còn nàng Kiều cũng thấy sung sướng vì gặp một người con trai không phải nhà nghề giở những trò kinh tởm hành hạ nàng. Sau những phút say mê Từ bắt đầu tâm sự với Kiều, trong thâm tâm chàng nảy ra niềm trắc ẩn, thương yêu. Sao một người con gái như nàng mà phải đày đọa như vậy cùng với mấy ngàn con gái khác ở đất Hàng châu này. Trong số đó chắc cũng có kẻ hư hỏng còn thì ai không muốn có tấm chồng, một bầy con và một đời sống lương thiện. Cũng như chàng, cả những kẻ theo chàng ai không muốn được sống yên ấm trong một mái nhà. Hoàn cảnh khắc nghiệt và một nền cai trị hư hỏng như bầu khí độc đã làm tiêu ma bao nhiêu con người. Từ Hải nói cho Kiều nghe đời sống của mình, chàng kết luận:

_Thiên hạ bảo anh là du côn, du kề và bây giờ là một tên giặc biển. Trong phòng này, trên giường này, trước mặt em chắc đã có những tên đại phu, những thằng đại tướng, những phường khoa bảng, những kẻ đầy chức tước quân công, bằng cấp, quỳ gối khom lưng năn nỉ em . Như vậy em có buồn vì anh chỉ là một tên du côn, giặc biển không?

_Em cũng muốn làm du côn làm giặc như anh vậy. Em khoái du côn lắm, du côn là chơi gậy, chơi gậy thì tốt không nham hiểm, lươn lẹo độc ác. Chẳng qua em giờ là một con đĩ, đĩ với du côn như nhau. Phải không anh?

_A, hay lắm không ngờ anh lại gặp được tri âm. Ừ nhỉ, tại sao du côn, đĩ không phải là những kẻ đáng giá hơn hết ở vào thời buổi này. Tại sao mình không thể lập một “triều đình du côn”. Anh là hoàng đế, em là hoàng hậu du côn?

_Anh có say không đó?

_Không, anh mà say thì anh đã mất đầu lâu rồi. Đi làm loạn thì không được say, vì anh say thì bộ hạ biết còn trông vào ai?

_Anh là tướng lớn vậy sao?

_Có đứa nó còn xui anh xưng đế hiệu nửa.

_Trời ơi, như vậy thì em có muốn làm vợ anh cũng chẳng được, một hoàng đế, một vị tướng quân mà lấy vợ là một gái điếm thì còn thể thống gì nửa?

_Trời ơi, em tưởng chứ, bọn nó điếm đến mấy lần, điếm mà không nhận là điếm. Tiên nhân chúng nó, điếm từ trong triều đình điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ, cho nên thời mói loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ. Như vậy làm điếm như em biết phân biệt người, biết kẻ tri âm, cũng như anh làm du côn, làm giặc mà còn bằng vạn bọn nó.

_Chết chết, anh say thật rồi đó.

_Anh không say, nhưng lòng anh như lửa đốt. Đâu anh muốn thế này, đâu em muốn thế này. Anh chỉ muốn có một chiếc thuyền, một cây đàn… Những kẻ bỏ nhà theo anh đâu muốn làm giặc. Quả anh bây giờ chỉ muốn đốt bỏ căn nhà này, hỏa thiêu cả thành Hàng châu giải thoát cho bao kẻ phải chịu kiếp khốn khổ, đem thân hầu hạ bọn người giàu có quền thế bất nhân trong thiên hạ. Chắc em cũng muốn như thế?

Giọng Từ hải như thét lên có lúc như tiếng thép chạm nhau, có lúc quằn quại  như cơn lốc, có lúc ồ ạt như sóng dữ, rồi trầm xuống xúc cảm thân yêu. Bao nhiêu năm lăn lóc trong đời nay Kiều mới gặp được một kẻ như thế. Nàng xúc động ứa nước mắt. Nàng như con chim bị nhốt chỉ muốn tháo cũi sổ lồng mà bay lên trời xanh. Chung sống với nhau Từ Hải và Kiều mỗi lúc thêm quyến luyến như chẳng muốn rời. Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều khỏi chốn lầu xanh và cùng nàng trở về chốn ba quân phong làm phu nhân, mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm.

Vui chơi ít ngày thỏa thích rồi Từ chỉnh đốn quân mã xuống hạ thành Châu thương, Lâm thanh dễ như trở bàn tay. Quân sĩ triều đình phần bỏ chạy như vịt, phần quy hàng. Từ liền kéo quân xuống vây Hàng châu. Văn Trường vốn nhơ ơn cũ của Thái thú Trương Nguyên Biện nên xin vời Từ vào thành thuyết phục Nguyên Biện ra hàng. Từ Hải còn ngần ngừ, Văn Trường liền nói:

_Tôi theo tướng quân đã lâu, ân huệ được hưỡng đã nhiều vậy nay xin cho tôi trước là được lập một chút công mọn, sau là tôi trả ơn cho một người bạn cũ đã giúp đỡ thưở hàn vi. Vả tướng quân cũng không muốn việc đâm chém, trong lúc lửa đạn biết bao kẻ vô tội phải vong thân.

Từ nghe phải liền cho Văn Trường vào thành thuyết Trương Nguyên Biện. Được tin báo có Văn Trường xin vào thành Nguyên Biện ra lệnh cho lính mở cửa mời vào rồi bước xuống thềm. Thấy Văn Trường, Nguyên Biện vội vái chào rồi nói:

_Không ngờ lại được hội ngộ cố nhân ở hoàn cảnh này, tôi nghe nói tiên sinh ở hàng ngũ của loạn quân nhưng không tin, chắc tiên sinh đến đây để giúp tôi cùng giữ thành và dẹp giặc, như vậy thì làm gì chúng ta chẳng thắng.

Văn Trường bị chăn họng trước không  biết nói sao, rốt rồi phải làm nước bài bây:

_Quả đúng như người ta đã nói với tiên sinh, hiện tôi ở dưới trướng Từ Hải. nay thấy  thành bị vây khốn nên xin vào đây gặp tiên sinh mang điều lợi hại mà bàn luận.

_Chết nổi sao tiên sinh lại có thể làm thế được. Như vậy chắc là tiên sinh vào đây thuyết phục tôi hàng giặc mưu phản lại triều đình mà tôi đã gội ơn mưa móc?

_Tôi vẫn biết tiên sinh có mắt thấy được người nên xưa kia đã tiến cử tôi với Hồ Tôn Hiến. Tôi tưởng đã có chổ dung thân mang chút tài mọn phò vua giúp nước. Nhưng triều đình nay không còn xứng chổ triều đình nửa. Sự hưng vong lẽ biến dịch là điều phải đến, phải có không ai cưỡng được. Từ Hải dấy binh cứu dân dựa vào lòng người nên đi đến đâu thâu được nhân tâm đến đó. Xưa kia Hán Cao Tổ chém rắn dấy nghiệp chỉ là tên xã trưởng, diệt được nhà Tần cũng chẳng phải là giặc sao! Tôi thiết nghĩ giặc hay không giặc chẳng thể đứng ở một phía triều đình mà định được. Tôi vào đây trước là tình bạn cũ sau là lẽ thiệt hơn, rốt là sinh mạng của binh sĩ và lê dân mong tiên sinh nghĩ lại để chúng ta cùng giúp Từ Hải mà lập nên nghiệp lớn, mang thái bình lại cho thiên hạ.

_Ý tôi đã quyết sinh ra tôi chỉ thờ một chúa. Kẻ sĩ học chữ thánh hiền trước phải lấy đạo trung làm trọng, sao lại có thể nay theo kẻ này mai theo kẻ khác mong vinh thân phì gia, như vậy chẳng phải là phường cầm thú hay sao?

_Tôi đọc sách thấy Hoài Âm Hầu bỏ Sở Bá Vương mà theo Hán. Công tử Củ chết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Di Ngô chịu ở tù về phò công tử Tiểu Bạch… Như vậy có phải là bất trung đâu. Người quân tử không vì tiết nhỏ mà bỏ việc lớn. Nay triều đình thối nát, quan lại hư hèn, kỷ cương không còn nửa, như vậy mà tiên sinh vẫn khư khư cố chấp với chữ trung hạn hẹp ngồi yên mà nhìn được sao?

_Trước tiên sinh ở dưới trướng Hồ Tôn Hiến có viết biểu Bạch Lộc dâng vua, tôi còn nhớ những lời xưng tụng của tiên sinh. Mới từ đó đến nay mà tiên sinh đã thay đổi được sao. Tôi e vậy mà thiên hạ không khỏi chê cười mà sử sách cũng còn lời quở trách. Tôi hỏi thật tiên sinh có phải cái mộng ước của tiên sinh chỉ là muốn được ngôi cao bổng hậu, chẳng phân biệt trắng đen phải quấy? Tiên sinh không coi hạnh của kẻ sĩ là trọng sao? Tôi mong tiên sinh có thể chết cho Từ Hải được, cũng như tôi, giữ được thành thắng được giặc thì nhất, không thà chết chịu tội bất tài. Xin tiên sinh đùng bắt tôi nghe những lời bất trung vô sĩ nửa.

Văn Trường ngượng mặt biết không thể thuyết được Trương Nguyên Biện nên cáo lui ra khỏi thành.

Nguyên Biện không chịu hàng, Từ Hải kéo quân lên vây sát thành rồi vác đao ra trước trận kêu Trương Nguyên Biện ra quyết đấu. Trương Nguyên Biện cũng dàn quân rồi ra trước trận chỉ gươm vào mặt Từ Hải mà mắng:

_Thằng giặc lùn kia muốn sống mà xuống ngựa đầu hàng ta sẽ tha chết cho. Trước ta đã định mang quân đi hỏi tội bọn bây về việc cướp bóc dấy loạn, bây giờ bọn bây lại dẫn xác đến đây quả là đến số.

Từ Hải chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa vọt tới chổ Nguyên Biện nhưng thoắt cái đã có một viên tướng trẻ xông ra. Từ giật ngựa đứng lại nhìn tên tướng  mặt còn non choẹt… Từ Hải  bật cười hỏi:

_Mày là ai vậy thằng nhỏ? Múa may với ta làm gì cho phí sức, hãy dẹp ra cho ta bắt thằng già kia.

_Mày đừng hỗn láo với chủ tướng của ta mày thử xem có đủ sức để thắng nổi một tên bộ tướng này chăng?

_Thôi mà nhỏ, mày cũng là tướng nửa, nhưng ta có coi ngay cả cái thằng phong tướng cho mày ra cái gì đâu.

_Không nói gì hết, ta với mày kẻ sống người chết.

Hắn xông vào khiến Từ Hải phải kháng cự, qua mấy hiệp Từ Hải dừng lại, lui ra:

_Này nhỏ, quả mày muốn chết sao? Nhưng dù sao tao cũng muốn hỏi mày xem mày cũng là thằng khá mà sao mày lại đi làm tướng cho cái bọn triều đình khốn nạn kia. Mày làm tướng để bảo vệ cái gì?  Bảo vệ bọn vua quan? Bảo vệ cái tổ điếm Hàng châu này? Chẳng lẽ mày là một thằng đốn mạt vậy sao? Mày nên theo tao đi.

_Phường giặc cỏ đừng nhiều lời, thà chết, chứ tao không theo mày.

_Sống không biết sống sao cho đáng sống, chết không biết chọn cái chết cho đáng chết. Thế mà cũng đòi làm tướng.

Viên tướng trẻ như con gà sống tơ, mặt đỏ rần xông vào làm Từ Hải tức giận khoa đao nhẹ một đường nhanh như chớp chiếc đầu viên tường đã lìa khỏi cổ. Từ Hải vẫy quân tiến lên, chàng thì xông vào chém Trương Nguyên Biện một nhát chẻ người làm hai mãnh chết thê thảm. Quân triều đình tan vỡ trước sức ồ ạt của quân Từ Hải. Dân chúng mở cửa thành cho quân Từ kéo vào.

Vào được Hàng châu nghiễm nhiên Từ đã chiếm được cả một vùng rộng lớn. Từ ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc, ăn trộm. Chàng bắt hết các chủ chứa điếm giết đi bao nhiêu gái chơi được tự do chọn nghề sinh sống, kẻ nào muốn lấy chồng thì Từ mang gả cho lính mình rồi chia đất hoang cho khai thác lập nghiệp, các nơi ăn chơi được biến thành nhà ở, trường học. Chính sách của Từ đưa dân chúng đến cảnh an cư lạc nghiệp, sau bao nhiêu năm họ phải sống cảnh khôn khổ, đen tối. Nhưng cũng từ đó dưới trướng Từ Hải trong đám bộ hạ, những hoang phí, ăn chơi cờ bạc đã diễn ra cũng chẳng khác gì cuộc sống ở nơi triều đình. Mới đầu Từ còn ngăn cấm nhưng sau cũng nhạt dần vì tự nghĩ xưa kia họ đã khổ sở thôi để cho họ hưởng  một chút. Rồi những xung đột, ghen tỵ, tranh dành đưa đến cho Từ Hải phải giải quyết khiến cho Từ nhiều lúc mất vui. Bọn võ tướng đã lười biếng thao luyện, bọn văn quan đã chẳng còn dùng ngòi bút kích động lòng quân, viết thư hộ cho binh sĩ gửi về thăm vợ mà dùng ngòi bút vào ngâm vịnh tâng bốc Từ Hải nào là anh tài cái thế, anh hùng bậc nhất thiên hạ, cứu dân, cứu nước sáng như mặt trăng, mặt trời, nghe qua đọc lướt Từ Hải cũng phải ngượng thẹn. Đến độ họ còn lớn tiếng ngâm vịnh, chúc tụng cả sự lành bệnh của nàng Kiều sau một lần đẻ non.

Nàng Kiều dựa vào thế chồng đền ân báo oán những chuyện nhỏ nhặt. Xin xỏ cho kẻ hầu hạ dưới tay những ân huệ chức tước không đáng được hưởng. Từ vì nể vợ mà phải ưng cho. Nhiều đêm Từ thoát ra được cuộc sống nhàm chán chung quanh giả dạng làm người dân thường mà rong chơi ngoài phố la cà vào những chốn giải trí bình dân mua vui, hoặc chàng trốn lên một góc thành cao mang theo cây đàn bầu rượu hưởng thú tịch mịch trong đêm vắng của trời sao và cái bát ngát mênh mông của vũ trụ. Những lúc đó Từ nhớ tiếc thưở ấu thời nơi bến Việt đông, vài ba người bạn bồng bền trên chiếc thuyền nhỏ thả mình đám chìm trong cái bát ngát vô bờ của biển khơi trong xanh. Chàng nhớ tiếc cuộc sống bình thường nhưng hào sảng trong sáng ấy. cái cuộc sống không biết đến những nhung lụa, rượu ngon, gái đẹp, quyền bính, đầy những tranh dành dục vọng. Cái cuộc sống hòa điệu với người và với vũ trụ không phải quây cuồng chém giết… Nhưng bây giờ chàng chẳng thể làm vậy được nửa. Từ Hải nổi lên từ phía bắc trên bán đảo Liêu đông rồi kéo mãi xuống tận Triết giang thế quân mỗi lúc mỗi một thêm mạnh, liên tiếp những thành trì bị hạ, những toán quân được phái đến đánh dẹp đều thua; một là vì quân của triều đình ô hợp không có nhuệ khí lại ở dưới những tên tướng vô mưu, bất tài; hai là thế giặc dựa vào dân chúng mà kháng cự cho nên năm sáu năm liền quân Từ Hải làm chủ dọc cả vùng bờ biển, trong tay giữ hơn mười thành. Thế giặc quá lớn, sự khuynh đảo đe dọa cả nền cai trị của nhà Minh khiến cho triều đình lo âu. Nhưng khốn nổi không ai dám lãnh việc đánh dẹp cùng tinh thần hư hèn cầu an. Sau chót vua phải sai triệu Hồ Tôn Hiến ở Giang nam về cho thống xuất đại quân xuống đánh. Hồ Tôn Hiến chỉnh đốn quân mã ngày đêm kéo xuống đóng quân ở phía bắc sông Tiền đường đối diện với Nam thành là bản doanh của Từ Hải. Biết thế quân của Từ Hải mạnh nếu đường hoàng dùng sức mà đánh thì phần thắng không thấy nên Hồ Tôn Hiến cho đóng trại kiên cố và án binh bất động. Hà Tôn Tiến cho quân sĩ trà trộn vào dân chúng loan truyền rằng Hồ Tôn Hiến không muốn gây cảnh chiến tranh, chỉ muốn có hòa bình cho dân chúng nên muốn Từ Hải về cộng tác với ông mà giúp triều đình, tất cả mọi người sẽ được hưởng quyền lợi xứng đáng chẳng ai có tội mà cũng chẳng ai có công.

Một mặt Hồ cho kẻ lén lút mang dâng cho Vương Thúy Kiều những vàng lụa kim cương và vô số những bảo vật, đồng thời cũng viết mật thư cho Từ Văn Trường hứa hẹn những chức tước. địa vị kèm theo với nhiều phẩm vật nhờ Văn Trường thuyết Từ Hải giải giới. Nhiều kẻ dưới trướng họ Hồ hoài nghi về chiến thuật, Hồ cười mà quả quyết:

_Từ Hải không phải là một kẻ nuôi chí lớn làm bá chủ thiên hạ, xuất thân từ đám dân chài thất học không có được con mắt nhìn xa thấy rộng, chẳng qua nắm được ưu thế là vì nền cai trị hạ tầng của triều đình hư nát, lăm tệ đoan, quan lại chỉ lo vơ vét tiền của, không chăm lo dân, đó là cái thời thuận tiện cho Từ Hải. Bắt nguồn từ những bất mãn ấy dấy loạn thu phục nhân tâm gom góp những kẻ có chí vũng vẫy mà lại cứu khốn cho dân chúng là có được cái thế. Có thời có thế nhưng Từ hành động vì tình cảm mà không có ý thức. Nay ta phao truyền sự hòa bình là làm cho dân chúng giảm đi sự hiếu chiến, họ không muốn loạn để cho cơ nghiệp tan tành. Bọn bộ hạ của Từ Hải này kẻ nào cũng có của cải yên vui tất không muốn chiến đấu phiêu lưu, rồi tất Từ Hải nghe vợ, nghe bộ hạ nói ra nói vào mà nản chí, tình cảm bị lung lạc lúc đó thật lấy đầu hắn có khác chi lấy chút vật mọn trong túi áo, mất chủ tướng rồi bọn kia sẽ tan rã. Ta chẳng mất công gì mà dẹp được chúng.

_Nhưng nó lú thì có chú nó khôn, còn bọn quân sư của Từ?

_Ta biết rõ cái bọn đó, các ông cứ tin ta đi. Những tên như Từ Văn Trường trước kia ở dưới tay nên ta đã rõ. Những kẻ đó cũng nhiều kẻ có tài nhưng không có đức, không có chí, theo Từ là vì bất mãn muốn có địa vị. Theo Từ mà vẫn khinh Từ không có học nên không thể cùng Từ giúp Từ lập nên nghiệp lớn. Bọn chúng lại hay suy luận loanh quanh. Nay ta mang mồi mà nhử, chúng tất sẽ ăn. Cái bọn đó cứ mang địa vị, vàng bạc ra mà nhử thì mua được hết. Kẻ sĩ ở vào buổi suy vong thời nào cũng vậy. Cho nên ta tin chắc Từ Hải sẽ ra hàng.

Sau khi đã bủa lưới Hồ Tôn Hiến mới gửi thư dụ hàng sai quân vào thành dâng cho Từ Hải. Từ Hải liền cho triệu tập bộ hạ bàn luận. Họ bàn tán om sòm, những câu: hàng rồi bị giết không, có bị trả thù không, mình sẽ được chức gì, có được giữ lại của cải của mình không. Đánh Hồ có thắng không, nếu thua thì làm sao? Đám bộ hạ bàn tán lăng nhăng chẳng đi tới đâu, Từ Hải bực mình phải quát lên:

_Ta chỉ có một câu hỏi cần trả lời: hòa hay chiến? không có vì sao, tại sao. Câu hỏi đặt ra chỉ có vài kẻ kêu đòi chiến, còn thì đều im lặng ra vẽ suy nghĩ. Từ Hải buồn rầu nhìn họ vì chỉ có một thời gian ngắn mà đám bộ hạ đã thay đổi gần hết. Xưa kia họ hăng hái, họ xông lên, đòi giết cho hết bọn quan lại hại dân đòi lập một đời sống mới coi thường cái chết…thì nay họ đã suy nghĩ, họ muốn đứng lại ở cái địa vị cai trị của họ, không còn muốn xông pha phiêu lưu nửa. Từ nhìn bộ hạ mà nói:

_Ta họp các ông lại đây là để cùng ta quyết định, ta cho chuyện này là hệ trọng lắm. Cơ nghiệp dựng lên chẳng có gì to tát là công của mọi người chung sức mà có được, khi khổ có nhau, khi sướng có nhau. Riêng với ý ta, ta không hàng, ít ra chúng ta cũng còn được giữ như thế này lâu lắm, đó là chưa nói tới việc lớn hơn. Chúng ta đang được sống tự do vùng vẫy chẳng có gì ép buộc mình, vậy tại sao chúng ta lại hàng, lại bó thân về cái triều đình  ta đã chống đối. Chúng ta có chịu được cái đời sống gò bó vào luồn ra cuối ở giữa những kẻ xa lạ kia không? Thật ta chẳng ham gì một địa vị công hầu khanh tướng như thế. Đó là nói ở cái thế mà họ thực tình, nếu họ tráo trở chúng ta còn là tướng nửa không khi đã hết quân? Ta sợ khi đó chúng ta hối cũng không kịp nửa. Nói xong Từ đứng lên:
_Chúng ta hãy giải tán để ai nấy suy nghĩ rồi mai chúng ta sẽ quyết định.

Từ rời sảnh đường vào phòng riêng thì gặp Kiều đã ngồi ở đó, hỏi:

_Tướng quân đã quyết định như thế nào?

_Chưa quyết định gì cả.

Từ ngồi nói cho Kiều nghe tinh thần của bộ hạ dáng băn khoăn buồn buồn. Trong thâm tâm Kiều từ hôm nhận được vàng bạc châu báu những lời hứa hẹn của Hồ Tôn Hiến đã có ý khuyên chồng giải binh, nhưng vẫn sợ thêm vào đó sự phân vân lựa chọn. Sau chót cái ý nghĩ được yên thân sum họp với gia đình đã thắng thế. Biết ý Từ chưa quyết, Kiều liền nói vào:

_Từ ngày được về hầu hạ tướng quân thật thiếp như kẻ được mang từ cõi chết ra cõi sống, nhưng chứng kiến cảnh binh đao thật nhiều khi thiếp lo sợ cho tính mệnh tướng quân. Nay triều đình đã biết đến tướng quân mà xin hòa, chức tước địa vị đợi sẳn tại sao tướng quân lại từ chối, với ý thiếp, được sống yên ổn vẫn hơn chứ nếu như ngày nay rồi nếu chẳng may lúc mình thua thì còn chi? Thân tướng quân đã vậy, còn thân thiếp ra sao? Tại sao tướng quân lại không chấp nhận sự bình thường, nhận bổng lộc cho thiếp được nở mày, nở mặt, được xum họp với cha mẹ và chúng ta có một đời sống yên vui lâu dài. Ở đây sung sướng nhưng mãi mãi vẫn mang danh phường giặc cỏ.

Tử Hải bị Kiều thuyết chàng phân vân, tình cảm bị chế ngự nên hôm sau họp bộ hạ Từ quyết định nghị hòa. Chẳng mấy chốc tin đình chiến giải binh loan truyền trong dân chúng. Một vài kẻ chủ chiến mang gia đình dời đi, còn lại thì binh sĩ trễ biếng chẳng còn nghĩ đến chuyện đánh nhau nửa. Từ Hải phúc đáp thư cho Hồ Tôn Hiến định ngày thúc giáp rồi cho quân sĩ vui chơi. Hồ Tôn Hiến vui mừng rồi sắp sẳn mưu kế chờ cho Từ ra hàng.

****

Từ đứng lên vươn vai vẽ mệt nhọc, Kiều ngồi dưới thềm ngữa mặt lên hỏi:

_Tướng quân đi đâu đêm vui chưa hết nửa cuộc.

Từ im lặng, vuốt áo ra khỏi sảnh đường. Tiếng đàn hát vẫn còn quấn quýt chạy theo. Đêm đã khuya cảnh tịch mịch trùm xuống khu thành, chỉ còn đêm nay nửa mai thành này sẽ chẳng còn ở trong tay. Một thân vùng vẫy dọc ngang làm vua một còn mà chỉ còn làm một tên quan ngày ngày cuối lưng nới thềm rồng bệ ngọc. Giây phút Từ thấy bâng khuâng, buồn như sắp mất đi một cái gì lớn lắm..chắc chẳng bao giờ chàng lấy lại được nửa. Một mình Từ dạo qua những nơi quen thuộc quân lính đều đã ngủ say chỉ còn một vài tên lính canh đi lại dáng uể oải mệt nhọc, Từ qua kho lương xuống chuồng ngựa.. rồi theo bậc thang leo lên mặt thành. Đêm bao la chụp xuống cả một vùng đồi núi, trong thành đêm nay nhiều ánh đèn hơn mọi đêm, trại quân của Hồ Tôn Hiến đã rút hẳn ra ngoài xa, chừng như đang mở hội ăn mừng. Từ bước thảnh thơi, thở hít không khí gây lạnh không phải là thi sĩ để có thể làm một bài thơ tức cảnh, Từ thấy tiếc làm sao. Tiếng trống canh rời rạc, một vài trạm chừng như lính đã ngủ hay bỏ về nhà với vợ con không thấy điểm trống. Giá như lúc khác đã có kẻ phải rơi đầu, nhưng đêm nay không cần thiết nửa. May này…bất chợt Từ thở dài..

_Thưa tướng quân, tướng quân chưa đi nghỉ?

Từ giật mình quay lại, rời đưa mắt nhìn ra xa.

_Nếu tiểu tốt không lầm vì tướng quân đang buồn vì sớm mai này tướng quân ra hàng giặc?

_Hàng giặc, sao lại là hàng giặc? Ngươi là ai?

_Tiểu tốt lài ai? Thưa tướng quân tiểu tốt là bộ hạ của tướng quân, kẻ đã nghĩ triều đình là giặc, tướng quân là bậc đế vương. Thế mà mai này khi mặt trời lên bậc đế vương đó sẽ dẫn tất cả đoàn quân dưới trướng này ra khỏi thành, quỳ gối khom lưng nhận giặc là minh chúa để nguyện trung thành tận tụy suốt đời… Thưa tướng quân, có phải vì thế mà tướng quân buồn?

_Buồn, ta không hiểu ý nhà ngươi.

_Có lẽ tướng quân cố ý không hiểu đó thôi…đáng buồn lắm chứ…

Từ bâng khuâng, tiếng nói của người đối diện như xoáy vào trong tâm tư của mình. Nhưng ít nhất cũng có người hiểu được rằng Từ buồn. Tự nhiên Từ lấy được sự thân mật dễ chịu. Ngay sau đó một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người Từ. Thôi thế là không còn gì nửa. Mai này sẽ chỉ còn lại hai bàn tay trắng và một thái độ chịu thua, thái độ chấp nhận, thái độ đầu hàng.

_Sao ngươi lại nói với ta như vậy. Ta buồn thật sao?

Từ quay lại nhìn người đối diện với mình chờ đợi. Người thanh niên nỉm cười dáng ngạo mạn lì lợm. Anh ta vào khoản trên hai mươi, khỏe mạnh, nước da ngăm đen tóc búi ngược, y phục một tên cận vệ. Từ cố gắng để nhớ xem có phải người đối diện mình là một tên cận vệ hay không. Thanh niên xoay người chống tay lên mặt thành nhìn ra bãi cỏ phía trước.

_Tiểu tốt biết tướng quân buồn. Buồn thật hay không điều đó tướng quân tự biết.

_Bây gờ ta cũng chẳng còn là tướng quân gì nửa. Anh cũng chẳng còn là tiểu tốt nửa. Mình thua rồi.

Thanh niên xoay phắt người lại  đứng thẳng. Trong ánh sáng mập mờ Từ chừng như thấy khuôn mặt kẻ đối diện thay đổi, mặt nghiêm lại, mắt mở lớn, đôi mày rậm dướn lên vẽ dữ dằn.

_Sao lại thua, mình đâu có thua.

Từ huýt người ngồi lên tường thành, hơi cúi đôi vai lớn, ngước mặt lên:

_Đó là sự thật. Anh có lấy làm buồn không?

_Nói không là dối lòng mình. Nhưng tôi không lấy đó làm thất vọng. Tôi còn trẻ..Tướng quân có thấy là tôi còn trẻ không? Từ gật gật đầu:

_Đúng anh còn trẻ, như vậy có phải ta già rồi không?

_Tướng quân cũng còn trẻ

_Thôi, anh đừng gọi ta là tướng quân nửa, còn quân đâu nửa mà tướng. Ta cũng chỉ như anh. Ta đâu còn như hồi xưa. Phải không?

_Cũng vẫn như hồi xưa. Cũng có thể làm lại như ngày xưa..

_Ngày xưa. Anh đừng nói đến làm chi nửa..

_Sao lại vậy. Chỉ có ngày xưa..Cũng chính cái ngày xưa đó mà tôi gặp được tướng quân, đã hào hùng và bây giờ..

_Thất vọng?

_Tướng quân có biết, nhưng mà thôi…

_Biết sao, anh hãy nói ta nghe, anh hãy coi ta như một người bạn…Ai hiểu được ta, có lẽ chỉ có anh? Mà sao ta trông anh cũng buồn vậy?

_Tôi nhớ lại lúc còn sống tại quê nhà ở Giang nam nghe tin tướng quân nổi dậy đốt thuyền bè chống quan lại. Tôi đã lặn lội từ đó lên Việt đông. Tự xung vào làm sĩ tốt…Tướng quân còn nhớ những gày đó

_Nhớ, mới như vừa xảy ra mà đã năm sáu năm trời rồi còn gì. Dấy lên với hai bàn tay không với những tấm lòng hào hiệp…Mà này sao ta không bao giờ được gặp anh?

_Có chứ, nhưng chắc tướng quân quên, làm sao để tướng quân nhận từng người trong nghìn vạn quân tướng..

Người thanh niên buồn bã:

_Trong nghìn vạn quân tướng ấy đã có bao nhiêu người ngã xuống chiến trường, trải thây trên con đường hành quân, những người xông pha ở Việt đông, Triết giang, hạ năm thành ở cõi Nam, cướp Châu thai, lấy Vô tích, chiếm Lâm truy để cho tới lúc tướng quân có một giang sơn như ngày nay, có thành quách như hiện nay… Và tôi đã sống sót để mai này chứng kiến cái công lao của  những ngày gây dựng không còn nửa..

_Thôi anh đừng nhắc chuyện đó ta đã thua rồi. Anh có tiếc công, tiếc sức đã theo ta không. Anh có cho rằng ta đã phản bội lòng tin cậy của anh, của các bạn đã theo ta không?

Câu hỏi của Từ dội đi, tiếng trống canh rời rã. Từ bước đi loanh quanh. Giọng người thanh niên mơ hồ:

_Lúc sống tại quê nhà cha tôi nói: bây giờ là thời loạn. Kỷ cương của nước không còn nửa, lòng người ly tán kẻ sĩ mất truyền thống trở thành hèn hạ, con còn dùng bút nghiên làm gì nửa, ta muốn thấy con hành động như một tên du côn còn hơn. Câu chuyện ấy vẫn còn làm cho tôi băn khoăn suy nghĩ. Không có thời loạn mà chỉ có lòng người loạn. Cha tôi cũng là kẻ khoa cử nhưng từ chối công danh sự nghiệp cha tôi nhận làm một kẻ câm điếc đui mù, ngoảnh mặt đi với cuộc sống mà lại muốn con như một tên thảo khấu du côn. Cha tôi cũng loạn sao? Cha tôi bảo kỷ cương không còn, trật tự bị phá hủy, sách vỡ thánh hiền đã lu mờ còn đâu kẻ sĩ với tinh thần hào hiệp. Lòng người đã phụ với trời, kiến văn chỉ làm người ta đê hèn, bần tiện đi. Kẻ có học dùng sở học vào đường bất chánh, như vậy thất học còn hơn vì thất học không phải nhiễm độc bởi những cặn bã của tư tưởng thì với lương tâm may ra còn sống được ngay thẳng. Làm thằng du côn có chí thì cứu được đời…Tôi đã ngẫm lại và thấy có phần đúng. Trong xã hội tôi không còn thấy ai là kẻ sĩ nửa. Bọn thư sinh mặt trắng đi vào con đường tư danh, hư lợi..Có nghĩa thời loạn còn kéo dài lâu lắm. Giữa lúc ấy nghe tên Từ Hải, một tên con nhà thuyền chài vô học dấy lên, lòng người ngã theo, tôi nghĩ cha tôi đã đúng và tôi vứt bút nghiên đi theo một tên du côn.

_Một tên du côn. Anh đi theo một tên du côn mà anh nghĩ còn phải. Bây giờ anh có hối hận không?

_Không, tôi không hề hối hận.

_Tại anh kiêu ngạo không chịu nhận.

_Không phải tôi kiêu ngạo mà tôi không nhận.

_Hay anh cho định mệnh lịch sử nó phải thế? _Không, không bao giờ tôi lấy một thứ số phận, một thứ định mệnh nào để trốn chạy. Chính là tại tôi tại tướng quân, tôi muốn hỏi tướng quân: tướng quân đâu muốn ép thân thuần phục, đâu tướng quân có kính nể Kiều, đâu tướng quân có nghe lời bàn của bọn hèn nhát, chủ hòa.

_Sao anh lại cho rằng ta không kính nể nàng Kiều, không kính nể mà sao ta có thể cưới nàng làm vợ. Anh nghĩ nàng là một con điếm sao? Nếu quả vậy thì anh đã nhầm, anh đã cho rằng du côn còn khá thì với ta ngày nay trong giới đàn bà chỉ có bọn làm điếm là khá. Du côn dám nhận là du côn, làm điếm dám nhận là làm điếm, còn ai hơn nửa. Cả thiên hạ làm điếm mà không dám nhận là điếm. Như vậy ai được quyền khinh nàng Kiều. Ta chẳng sợ gì mà không nói với anh. Ta kính nể con điếm là vợ ta đó. Còn cái bọn ở chung quanh ta, cái bọn Từ Văn Trường, cái bọn văn hay chữ tốt, khoa bảng ta đâu có coi bằng một con ngựa ta nuôi. Bọn họ đâu sánh được nàng Kiều. Ta nuôi bọn nó để bọn nó nịnh bợ, ca tụng, su phụ ta. Ai cũng muốn có kẻ nịnh bợ mình, muốn có kẻ đóng kịch làm hề cho mình coi…Bọn nó theo ta chẳng phải như anh, như quân sĩ của ta.

Bọn nó theo ta vì chúng không được làm đầy tớ yêu của chủ chúng như Hồ Tôn Hiến chẳng hạn. Chúng bất mãn bỏ đi và bây giờ anh thấy đó, chúng muốn ta hàng thuận để chúng được sống yên ấm  với nhung lụa, địa vị…Bọn nó không theo đuổi một lý tưởng và sống chết với nó, bọn nó nay theo thằng này mai theo thằng khác, cứ bỏ tiền ra là mua được hết. Bọn nó làm ô danh kẻ sĩ. Loạn cũng vì bọn nó. Bọn chó phản chủ và chúng mãi mãi như thế. Với ta khi nào không được ân huệ nửa, bọn nó sẽ phản lại. Ta đã thua, ta chịu quy hàng chẳng phải vì ta đã nghe theo những vợ, những quần thần. Ta chịu thua, chịu hàng bởi vì bọn chúng không có được cái chí lớn như ta nghĩ. Ta còn lại một mình, ta hàng, ta chịu thua vì ta thất vọng, ta buồn bã. Bọn họ nghĩ giờ đã có thế lực, địa vị, mục đích đã đạt rồi còn khổ sở làm chi nửa. Họ muốn đóng lại cho đúng vai trò những kẻ mà trước đây họ chống đối. bọn họ cũng muốn trở thành quan lại, bốc lột, cũng muốn xe ngựa, áo quần, địa vị…

_Không, không thể như thế được.

_Ta không muốn chính những kẻ theo ta sẽ giết ta. Ta cũng chỉ là một tên du côn, một tên du côn về già, một tên du côn hết thời. Ta tiếc rằng sao không giữ mình là một tên du côn ở đất Việt đông. Ta nghĩ tới mai này ta phải khúm núm với cân đai bố tử ra vào chốn triều đình, rúc ngồi với bọn quan lại, nào thưa nào gởi mà sao ta muốn chết quá, hãy vứt bỏ hết đi…Sống đời một tên du côn với mảnh khố rách còn sung sướng hơn nhiều…Mai này anh có chịu ra quy hàng nhận lã nh bổng lộc của triều đình ban cho không?

_Không canh ba đêm nay tôi sẽ mạo muội tướng quân mà trốn đi

_Anh không muốn được hưởng phú quý vinh hoa với ta sao?

_Tôi còn đầy đủ điều kiện để làm một thằng du côn. Chốn công quyền không phải nơi tôi lui tới. Tướng quân sắp từ chức một tên du côn rồi sao?

_Anh cho làm du côn là cao quý lắm sao?

_Thời nay địa vị du côn cao quý lắm không có gì so với hắn được như đã thưa với tướng quân.

_Anh có bằng lòng cho ta cùng trốn đi làm du côn trở lại được không?

_Tại sao không?

Tên bộ tướng xách chiếc đầu đầm đìa máu tươi chạy hộc tốc đến bên Hồ Tôn Hiến lưỡi gươm còn vấy máu chảy chan hòa xuống đốc kiếm, hắn giơ chiếc đầu lên và nói:

_Thưa tướng quân, tôi xem đầu này không phải là đầu Từ Hải

_Không phải Từ Hải? Tại sao?

_Hắn mang râu giả.

Vừa nói tên bộ tướng vữa gỡ bộ râu quai nón nơi chiếc đầu. Tôn Hiến đứng ngây như một pho tượng gỗ mắt trợn ngược. tên tướng nói tiếp:

_Lợi dụng đêm tối, Từ dã trốn đi

_Nàng Kiều đâu?

_Nàng đang khóc bên xác chết không đầu.
_Quân sĩ của Từ?

_Đã hoàn toàn quy hàng. Một số nhỏ vứt khí giới, cởi quân trang bỏ trốn làm thường dân.

_Từ trốn đi một mình.

_Có lẽ chỉ đem theo một vài tên tâm phúc.

_Còn Từ Văn Trường không?

_Còn đầy đủ bọn hầu cận không thiếu một tên nào. Họ đang chờ vào phục lịnh tướng quân.

Hồ Tôn Hiến lặng im, bỗng hắn nỉm cười:

_Từ còn sống nhưng cũng coi như Từ đã chết. Hãy dán râu vào cho hắn, sóc lên đầu giáo trương cao cho quân sĩ an lòng rồi cho chôn đi. Một mình hắn còn sống cũng không làm được gì. Tướng không có quân không còn là tướng nửa. Một Từ Hải còn sống sẽ là một “Từ Hải giả”.

Tên bộ tướng tuân lệnh, phóng mình lên ngựa, sóc chiếc đầu vấy máu lên đầu ngọn thương, giơ lên cao chạy ra giữa trận nói lớn:

_Bớ loạn quân. Từ Hải đã bị chặt đầu theo vương lệnh. Hồ tướng quân tha chết cho bọn bây. Tất cả hãy bỏ khí giới quy hàng sẽ được toàn tính mạng: và ân xá cho trở về làm ăn, ai muốn đầu quân sẽ được thu nạp..Trên bãi chiến chỉ còn vài tốp nhỏ đang giao tranh một cách uể oải, thấy chủ tướng đã chết quân Từ tìm cách tháo lui hoặc đầu hàng, trên mặt thành vài ngọn cờ nghiêng ngã. Khắp nơi khí giới ngổn ngang cùng xác chết, kẻ bị thương kêu khóc vang trời. Khói súng phảng phất mùi khét mấy đám cháy ngọn lửa vẫn hung hãn như muốn bùng to, đám lương dân từ trong thành chạy ra ùn ùn tán loạn, kêu khóc thảm thiết, bọn lính nhân cơ hội hè nhau cướp giật. Tiếng kêu khóc van xin tưởng thấu tới trời xanh. Trong trướng Hồ Tôn Hiến cười khà khà đắc ý chợt thấy có năm ba người đi vào thì chăm chú nhìn, rồi bước xuống thêm, nỉm cười thi lễ:

_Kìa Thanh Đằng tiên sinh đã lại, kẻ hèn đang mong chờ tiên sinh. Từ Văn Trường cùng mấy bộ hạ của Từ Hải đều vòng tay thi lễ rồi tiến vào phân ngôi chủ khách và hàn huyên. Bây giờ kể tiếp chuyện nàng Vương Thúy Kiều. Sau cuộc vui cuối cùng của đêm trước khi ra hàng, nàng trở về phòng thấy bứt rứt không nguôi vì thấy thái độ của Từ Hải đầy vẽ băn khoăn lo lắng và buồn bã khi bỏ dỡ cuộc vui ra ngoài, nàng ngầm hiểu phần nào tâm trạng của Từ. Bao nhiêu năm trời vùng vẫy một cõi giang sơn, nay đây mai đó với hai bàn tay không dựng một cơ nghiệp; ra vào chốn trận địa như chổ không người, dọc ngang chẳng còn biết có ai. Cũng như ai một phương hùng cứ, triều đình một cõi đủ văn võ bá quan. Nàng Kiều đã lấy làm hãnh diện trước những danh quan danh tướng như Từ Văn Trường, cả cái bọn khoa bảng chữ tốt văn hay ấy cũng một điều thưa, hai điều bẩm. Nếu như lúc ở Vô Tích, Lâm Truy, Hàng Châu chẳng cần tới hạng người đó cũng đủ làm xấu nàng, vứt tiền vào những tú bà, bạc hạnh để được hành hạ thân thể nàng cho chán rồi nhổ nước miếng vào mặt nàng gọi là con đĩ.

Bây giờ con đĩ ấy đã là vợ của Từ Hải, một hoàng hậu chưa có ngôi và đủ để cho bọn kia cúi đầu vâng lịnh, khen nịnh, tâng bốc..Nghĩ thế nàng thấy lòng mình thắt lại và hiểu Từ buồn hơn nàng biết chừng nào. Từ một kẻ cầm đầu thành một kẻ tuân lệnh, khúm núm, chung đụng với kẻ mà mình kinh tởm gớm ghiếc, những bọn quan không ra quan, tướng không ra tướng, danh vọng, địa vị chẳng do tài đức lập nên mà do tiền bạc mua bán, do nịnh bợ, phe cánh, bè đảng tạo thành. Từ một cuộc sống vùng vẫy tự do lại phải khép mình vào những lề thói, tập tục chỉ là cái vỏ che đậy những bẩn thỉu giả trá của một triều đình mục nát vua không ra vua, quan không ra quan, của một xã hội đồi trụy không trật tự, không sinh khí, đầy tồi bại, hủ lậu, vô liêm, lẫn trốn trong cái vỏ luân lý đạo đức hào nhoáng như lớp sơn trên thân gỗ mục, mọt rỗng. Kiều nghĩ quanh nghĩ quẩn và thấy hối hận, nhưng ngay sau đó Kiều lại tìm những lý do an ủi để chấp nhận: nàng sẽ chính thức là một phu nhân, vợ một viên quan của triều đình, không còn là vợ một tên tướng cướp, vợ một tên quan được khắp cả thiên hạ công nhận sẽ không còn phải nay đây mai đó trôi nổi bất trắc và số phận sẽ ra sao vào một ngày kia khi quân Từ bị đánh tan? Nàng sẽ về gặp lại cha mẹ, Kim Trọng, về quê mở mặt, mở mày với làng xóm bà con

Nàng không muốn phiêu lưu nửa, nàng muốn được sống tầm thường trong thái bình an lạc không còn phải run sợ trước cái bất trắc đe dọa, đau lòng trước cảnh chém giết binh lửa mà đã bao lâu nay nàng phải chứng kiến. Kiều trằn trọc với những ý nghĩ đâu đâu khiến nàng không sao nhắm mắt được, mãi đến khuya nàng mới thấy Từ trở vào phòng và lên giường vui vẽ nói vài câu chuyện rồi nằm im như ngủ. Sớm hôm sau khi Kiều thức dậy thì đã không còn thấy Từ Hải, hỏi bọn thị nữ thì nói Từ xuống trại binh sửa soạn quân mã và dặn lại Kiều ở lại trong dinh chờ Từ ra ngoài gặp Hồ Tôn Hiến xong sẽ vào đón. Nhưng giữa lúc đang trông đợi, bỗng nghe tiếng súng nổ vang rền, tiếng la dậy đất, Kiều kinh hoàng ra mặt thành ngó xuống thì thấy quân Từ đã rơi vào ổ phục kích của địch. Nàng kêu lên trước sự gian trá, giữa trận chiến nàng đau lòng nhìn đoàn quân bách chiến bách thắng tan rã và trong khói đạn mờ mịt nàng thấy bóng Từ Hải ngã xuống ngựa. Giữa cơn náo loạn, nàng bỏ chạy ra xông vào giữa trận tơi bời tên đạn, giáo mác. Dưới chân con hồng mã với  bộ giáp điều, Kiều nhận ra Từ Hải với cái xác không đầu nàng ôm lấy  kêu khóc và ngất đi. Kiều tỉnh dậy giữa tiếng ồn ào huyên náo nàng nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau, trong đó có tiếng nói êm ái của Từ Văn Trường:

_Phu nhân đã tỉnh rồi.

_Tỉnh thật không, người đẹp như vậy mà chết thật đáng tiếc.

Kiều mở mắt và ngồi dậy nàng thấy mình đang ở trong một gian phòng tráng lệ tràn đầy ánh sáng. Không phải là nơi trận tiền. Nàng cố nhớ lại cảnh hãi hùng thoảng qua như một giấc chiêm bao. Nàng định thần nhìn kỹ, xung quanh nàng đầy đủ những tên hầu cận, những thị vệ. Ta vẫn còn ở trong cảnh cũ sao? Nhưng đến lúc nhìn thấy ngoài cửa phòng Hồ Tôn Hiến đang ngồi ngất ngưỡng uống rượu và tiếng đàn tiếng hát thì nàng đã rõ thực tế. Nàng òa lên khóc: Thôi rồi chính ta đã giết chàng, bây giờ còn mặt mũi nào ngồi đây? Nàng kêu gào, la hét và khóc khiến cho những người cũ dưới trướng Từ cũng phải rơi lệ.

_Thưa phu nhân đằng nào thì tướng quân cũng đã không còn nửa, phu nhân có làm sao thì Từ tướng quân cũng không sống lại được mà phu nhân thì phải sống, còn cha mẹ anh em. Kiều tỉnh lại, la lên phẫn nộ:

_Phu nhân! Phu nhân! Ta không còn là phu nhân gì nửa, phải rồi không làm sao cho chàng sống lại chính là ta đã giết chàng và chính chúng bay đã giết tướng quân của chúng bay. Có phải chính chúng bay đã được  bổng lộc, ân huệ đã chia ngọt xẻ bùi với Từ và ngày nay chúng bay ngồi đây chờ đợi ân huệ khác. Chúng bay cũng là văn quan, cũng là võ tướng, cũng là hầu cận thế mà ngày nay nhìn Từ chết mà chúng bay lại ngồi đây để chung sống với bọn bất tín, bọn phản trắc, bất lương..ôi bọn bay lại có thể sống như vậy được sao? Ta không là phu nhân, phu phen gì nửa. Ta chỉ là một kẻ giết chồng và ta khinh bọn bay còn ngồi đây làm chi, bọn chó phụ nghĩa, bọn bay hãy bước đi cho khuất mắt ta.

_Thưa phu nhân đâu chúng tôi muốn ra hàng và đâu ngờ là ta bị lừa.

_Thôi bọn bay đừng tìm cách bào chữa. Tao không muốn nghe cái giọng ấy nữa, cái giọng hèn nhát không đáng là quân sĩ của Từ Hải, những kẻ đã sống hiên ngang và chết khí phách. Những kẻ không phản trắc, không sợ kẻ mạnh bất chánh, không vì sự yên thân, đời sống nhung lụa mà quên việc nghĩa. Bọn bay không lấy thế này làm nhục sao? Bọn bay không biết chọn lúc nào phải sống, lúc nào phải chết sao?

Kiều gào lên như một kẻ điên cuồng, lũ bộ hạ chỉ biết cúi đầu ngồi nghe, bỗng một tên bộ tướng đứng lên:
_Lời của phu nhân làm cho kẻ hèn này hổ thẹn. Quả Từ tướng quân đã không xấu hổ với một người vợ như phu nhân.  Vậy xin có chút lòng này tạ ơn người đã khuất.

Nói dứt lời tên bộ tướng rút đoản kiếm đâm vào bụng, lưỡi kiếm xuyên qua người, hắn quỳ xuống, hai tay còn giữ lấy đốc kiếm nơi bụng và cúi đầu hướng về nàng Kiều. Hắn gục xuống như một pho tượng, trong phút chốc máu chảy loang trên mặt đất. Tiếng khóc của Kiều nỉ non bứt rứt. Lúc đó Hồ Tôn Hiến bước vào chứng kiến cảnh tượng mà run lên cầm cập, nhưng Hồ cố trấn tĩnh kêu bọn thị vệ vào vực nàng Kiều ra ngoài cho chôn cất kẻ chết rồi lên tiếng an ủi những bề tôi cũ của Từ, Hồ sợ bọn họ bị kích động, phẫn uất gây chuyện chẳng lành. Nàng Kiều bị mang ra nơi sảnh đường, buổi tiệc khao quân đang vào lúc hào hứng  Hồ Tôn Hiến ngồi nơi bàn tiệc sai quân dâng chén bát và rót rượu mời Kiều. Hồ cầm ly rượu trên tay giơ lên:

_Mời nàng nâng ly cùng uống với ta gọi là vui đã cùng nhau lập nên công trạng này. Ta  nghĩ thành ta thu được một phần nhờ công của nàng vậy nay nếu nàng muốn xin điều gì, bất cứ điều gì ta cũng cho gọi là một chút phần thưởng.

_Phận tôi chẳng có gì để xin. Ông cho việc tôi giết chồng là công sao?

_Không ta đâu nói vậy, ta thật áy náy nhưng ta nghĩ, ta làm như vậy vì nhân dân, vì triều đình. Nàng nghĩ xem nàng thích cảnh chém giết tao loạn sao? Tất nhiên nàng phải chịu thiệt thòi thay cho những thiệt thòi lớn hơn của bao kẻ khác.

_Ông thật không xứng là tướng quân. Chỉ vì tôi là một con đàn bà nhẹ dạ như bao nhiêu người khác, tôi đã bị lừa giết chồng mà không biết. Không, tôi không muốn biết thiệt thòi của kẻ khác, có ai biết thiệt thòi cho tôi không. Chồng tôi chừng như đã rõ điều này nên chàng đâu muốn ra hàng, mang tấm thân cương cường khí phách về uốn lưng nơi triều đình.  Chàng chẳng bao giờ hành động như các ông, cảnh chém giết có diễn ra cũng chỉ bởi chồng tôi muốn đa số dân chúng không còn bị áp bức, bốc lột đè nén, thoát được cảnh lầm than dở sống dở chết dưới quyền cai trị của các ông. Từ lúc còn là tên cướp bể nhỏ nhoi, chồng tôi chỉ biết lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo, giết bọn sâu dân mọt nước, bao nhiêu năm vùng vẫy chí lấy cái lương tâm mình mà làm điều hay, tránh điều dở. Nghĩ lại tôi biết tôi nhầm khi khuyên chàng ra hàng, tôi cũng muốn được yên thân, cũng muốn tránh cảnh tang thương giết chóc. Ai ngờ cũng vì vậy mà tôi mắc tiếng giết chồng không dao và thân tôi dang dở. ôi như vậy mà ông còn muốn đền công cho tôi nửa…

_Thôi nàng đừng làm giảm cuộc vui của ta, nàng sẽ được đền bù xứng đáng. Nàng hãy vui lên một chút cho ta hài lòng…

Hồ cười lên hô hố, uống liên tiếp từng bát rượu lớn, bọn quân sĩ chung quanh vừa ăn uống vừa ca hát nhảy múa. Nàng Kiều khóc khô nước mắt và tưởng mình như đang ngồi trong một lò lửa chịu cực hình. Tại sao không chọn cái chết cho xong? Nàng nghĩ đến cha mẹ và Kim Trọng khiến lòng lại thổn thức. Hồ Tôn Hiến chợt cất tiếng:

_Xưa ta nghe nàng là một tay danh cầm trong thiên hạ, nay giữa cuộc vui ta muốn được nàng cho nghe một khúc.

Kiều đáp:

_Xưa kia cũng bởi tiếng đàn vận vào người khiên cho thân này trôi nổi nên từ đó thề không cầm đến cây đàn nửa.

Hồ Tôn Hiến vẫn nài ép.

_Mấy khi có được cơ hội như thế này nàng lại không thể gảy một khúc hồi sinh cho đời nàng sao.

_Ông nghĩ tôi giết được chồng là vui sướng lắm sao? Tôi vốn là con đĩ đâu có được cái vui sướng của những kẻ chính chuyên khi giết được chồng xin ông tha cho mà đừng ép tôi làm việc bất nghĩa phụ tình đó.

Hồ Tôn Hiến vẫn không buông tha, sai kẻ hầu mang đàn ra để trước mặt bàn, nàng Kiều cầm lấy mà nói:

_Tôi đã thưa cùng ông đến cạn lời mà ông vẫn bắt tôi làm việc bất nhẫn ông giết được chồng tôi bởi một mưu mô sảo quyệt còn chưa đủ hả, lại còn muốn vợ của kẻ chết chưa nguội xác kia gảy đàn mua vui. Sao tâm địa của ông nham hiểm, bất lương, độc ác đến vậy. Thân tôi dù chết tôi cũng chẳng thể làm được chuyện đó.

Nói xong Kiều cầm cây đàn đạp xuống đất cho tan ra, rồi đứng dậy bỏ chạy như một con ngựa điên.

*****

Sau đêm bỏ thành trốn đi, dứt bỏ những vinh hoa phú quý của một cuộc sống bình thường chẳng ai ngờ Từ đã thoát chết. Chàng thanh niên bảo:

_Nó tưởng lừa mình được, ai ngờ mình lừa được nó.

Hai người bạn dành những ngày đầu tiên để ăn chơi, ngao du trong cuộc sống tự do, nghĩ đến những ngày cũ không khỏi làm cho Từ nhiều lúc chạnh lòng nhớ tiếc, trong những đêm nơi quán trọ dọc đường nghĩ đến Kiều khiến chàng rơi lệ. Chàng đã mất tất cả và bây giờ phải làm lại tất cả. Sau một thời gian hai người bạn bắt đầu công việc kết nạp kẻ đồng chí, những kết nạp khó khăn hơn vì Từ không muốn chỉ có một đoàn quân ô hợp. Chẳng bao lâu thế lực của Từ một lớn dần. Một ngày kia Từ bàn với người bạn ý muốn về đón nàng Kiều vì chàng đã được tin sau khi tự vẫn được cứu thoát đã trở về sống với gia đình. Người bạn có vẽ phân vân, Từ nói:

_Ở trên đời này ngoài huynh ra tôi có mình nàng là hiểu và thương tôi, tôi hiểu sự phân vân của huynh nhưng tôi có thể đoan chắc việc riêng của tôi sẽ chẳng hại gì tới việc chung mà chúng ta đang gây dựng. nàng còn hơn một người thường, từ lúc nghe tin nàng tự vẫn để giữ trọn nghĩa thật không lúc nào tôi quên được nàng. Người bạn thở dài không nói, lặng lẽ thu xếp hành lý, giao công việc rồi cùng Từ dong thuyền tìm về quê nàng Kiều. Sau thất bại của cuộc nổi dậy tại miền duyên hải của Từ Hải đã làm cho người dân nhỏ lệ khóc thầm, một tương lai hé ra chưa đước bao lâu đã bị dập tắt. Đã mất tự do họ lại còn bị quan quân triều đình trở về hành hạ hơn hồi trước chừng như để trả thù những ngày họ được sống sung sướng dưới sự bảo vệ của Từ Hải. Đâu đâu người ta cũng nghe thấy những lời ta thán oán hận Hồ Tôn Hiến, nhiều người dân đã bỏ xứ ra đi đến những nơi xa lạ làm ăn hòng thoát bớt cảnh đè nén áp bức. họ truyền tai nhau kể lại cái chết của Từ Hải, cái đê tiện của Hồ Tôn Hiến. Họ ngậm ngùi cho số phận của nàng Kiều vì không chịu đựng được phải gieo mình xuống sông Tiền đường lấy cái chết mà giữ tiết với chồng.

Miết rồi những lời kể mỗi lúc sai lạc đi vô vàn những huyền thoại chung quanh Từ Hải và Vương Thúy Kiều. Nhiều văn nhân thi sĩ cũng từ hứng khởi của cuộc nổi dậy mà sáng tác ra những áng văn chương được dân chúng truyền tụng ngâm nga. Họ luôn nhắc nhở đến Từ Hải như một anh hùng cứu thế nhưng số trời đã định buộc dân chúng còn phải lầm than khổ sở. Có kẻ đã dựa vào sấm ký vào những lời tiên tri để tìm cách giải nghĩa cho dân chúng rằng: họ đang ở vào thời mạt pháp. Cách giải thích mù mờ đã chẳng giúp gì cho lòng tin của dân chúng mà làm cho họ chán nản, không phấn đấu, đi tìm an ủi nơi tín ngưỡng, do đó nhiều ma giáo xuất hiện làm những chuyện bậy bạ khiến cho xã hội càng thêm tao loạn suy vong.

Nàng Kiều trong những giây phút kinh hoàng đã không còn giữ được bình tĩnh nàng chỉ còn nhìn thấy cái chết là hợp lý nên đã lao đầu xuống sông tự vẫn, mượn cái chết rửa sạch kiếp người, nhưng số nàng chưa trọn, quân sĩ Hồ Tôn Hiến đã vớt được nàng lên, mủi lòng thương cũng có, phần nể sợ cũng nhiều nên Hồ đã cho nàng chọn lựa cuộc sống, nàng đã vào ngụ tạm nơi một ngôi chùa dưỡng bệnh trước khi trở về quê, dứt cuộc sống trần tục mà lập một ngôi chùa nhỏ sớm tối lấy kinh kệ làm khuây.

Nhưng nào nàng có được yên với sắc đẹp của nàng nên bọn đàn ông chung quanh đứa nào củng chỉ định ăn sống nuốt tươi. Những cái nhìn như hãm hiếp nàng. Sau hôm được cứu sống ít ngày, một đêm kia nàng đang thiếp ngủ thì bỗng giật mình vì có một kẻ vận áo nhà sư xông vào giường mà ôm lấy nàng định hãm hiếp, nàng định la lên cầu cứu và kháng cự, may nhờ ngôi chùa nàng đang tạm trú ở sát ngay trại quân của Hồ Tôn Hiến nên nghe tiếng kêu liền báo động, biết không yên kẻ gian vội vã tẩu thoát. Sớm hôm sau Hồ Tôn Hiến bắt nàng tới hỏi xem kẻ kia là ai để trị tội vì trong thâm tâm Hồ vẫn thèm khát Kiều mà không dám, nên nổi máu ghen với kẻ lạ mặt. Kiều cứ tình thực mà khai là thấy một ông sư nhưng vì đêm tối nên nhận không được rõ. Hồ Tôn Hiến liền bắt tất cả các sư đang trụ trì trong ngôi chùa ra cho Kiều nhận diện, Kiều một mực nói không rõ ai nhưng Hồ không chịu còn bảo: nếu không nhận ra người nào thì sẽ giết hết mấy vị sư vì làm nhớp cửa Thiền. Hồ hỏi các ông xem ai làm điều bậy bạ thì hãy nhận, nhưng ai cũng nói không. Hồ liền sai mang ra chém cả. Kiều đành liều chỉ đại một người. Nhưng ngay đó một chuyện xảy ra giải cái oan cho nhà chùa. Nguyên kẻ làm bậy là Từ Văn Trường đã giả dạng nhà sư tưởng có thể che mắt được. Ai ngờ quả báo, buổi tối đó sau cái chết oan của vị sư Từ Văn Trường trở về nhà thì bỗng nhìn thấy trên giường một ông sư đang giao hoan cùng vợ, hai thân thể trần truồng lung linh trước mắt, cơn giận bốc lên Từ rút gươm xông vào đâm, nhưng lúc nhìn ra hóa chỉ có mỗi vợ mình rãy chết trên vũng máu. Vì giết người Từ bị bắt dù là kẻ có công ở dưới trướng nhưng Hồ Tôn Hiến cũng không thể vì tình mà tha được, nhất là sau khi Từ Văn Trường đã khai ra cái chuyện đội lốt nhà sư kia. Bị nhốt Từ Văn Trường phát điên, phá nhà ngục chạy về đốt nhà rồi nhảy vào lửa mà chết. Câu chuyện đã làm náo động dư luận. Kiều những khóc thầm vì phải chứng kiến nhiều cảnh đau thương oan trái do đó nàng đã quyết chọn đường tu để mong sám hối tội lỗi lãng quên cuộc đời.

Dời khỏi ngôi chùa trở về quê Kiều muốn quên ngày cũ, nhưng tới nhà Kim Trọng lại đòi nối lại tình xưa, có lẽ chẳng phải vì lời thề thốt nhưng bởi nhan sắc mặn mà và cái thân thể khêu gợi của nàng Kiều, về phía Thúy Vân thì ghen tương sợ chị cướp mất chồng sẽ mất phần nào sự mặn nồng tình ái. Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười chỉ còn biết than thân trách phận. Nàng nhất định dứt đường tình ái ra nơi am vắng nhưng Kim Trọng đã chẳng buông tha, một mực ép nàng muốn cho cửa am thành nơi dơ bẩn, Kiều chẳng dám nói lớn sợ vỡ ra thì xấu chàng hổ thiếp chỉ tìm cách lẩn tránh. Nàng Thúy Vân cùng cha mẹ biết chuyện chỉ đành chép miệng thở dài.

Một đêm kia kinh kệ vừa xong, đóng cửa am cẩn thận rồi đi nằm, giấc ngủ chưa đến bỗng nghe tiếng gỏ cửa, nàng thất kinh cố ý nằm im, nhưng nghe tiếng gõ mỗi lúc một lớn, sợ kinh động khiến người ngoài biết nàng đành phải ra.

_Em lạy anh, hãy buông tha cho em được yên thân, em đâu còn trinh trắng nửa, hãy để cho em giữ lại một chút lòng này với anh. Anh đừng ép để em phải lấy cái chết mà giữ mình.

Tiếng gỏ im Kiều lắng nghe có tiếng bàn tán, khiến nàng run sợ chợt có tiếng quen quen hỏi:

_Có phải nàng Kiều đó không?

Kiều cố moi óc nhớ xem giọng ai, tiếng nói tiếp theo:

_Anh đây, anh Từ Hải mở cửa cho anh, anh về đón em đây.

Nghe xong Kiều muốn ngất xỉu, nàng run rẫy quỳ xuống:

_Từ tướng quân, sống khôn thác thiêng, em biết em đã giết tướng quân, xin tướng quân tha cho..

_Anh còn sống mà, anh chưa chết đâu, em hãy mở cửa ra.

_Không anh chết rồi, em thấy rõ anh chết rồi, anh có linh anh hãy độ cho em.

_Khổ quá, anh còn sống nhăn, em hãy mở cửa ra xem.

Rồi một tiếng lạ khác:

_Từ tướng quân vẫn còn sống, phu nhân cứ mở cửa đừng sợ.

Sau một lúc trấn tĩnh, Kiều đánh liều mở cửa, trước mặt nàng rõ là Từ Hải và một người khác, Kiều kêu lên:

_Em đang mơ hay tỉnh đây.

_Em đang tỉnh

Từ Hải cầm lấy tay nàng:

_Em hãy lại đây.

Kiều hoảng rút vội tay nhưng không kịp nửa  và nàng nhận rõ đúng là Từ Hải. Nàng ôm choàng lấy Từ nỗi vui khôn xiết. Từ kể lại chuyện trá hàng cho Kiều nghe và Kiều kể những gian truân từ bấy đến nay, hai bên cùng ứa lệ chan hòa. Kiều oán trách:

_Sao anh trốn đi mà không cho em theo?

_Vì anh tưởng em muốn vinh hoa phú quý thì để em hưởng ai ngờ như ngày nay.

Chợt Từ hỏi:
_Vừa xong em tưởng anh là ai vậy?

Ngập ngừng một lúc nàng mới nói được:

_Em tưởng chàng Kim vì chàng Kim vẫn còn muốn em.

_Thằng khốn khiếp, cái bọn nho sĩ dâm loạn, nó muốn người ta ai cũng là đĩ mãi, người ta vào chùa rồi nó muốn người ta làm đĩ nửa. Thôi em hãy cở bỏ cái áo đó rồi theo anh, anh không muốn em phải sống khổ sở thế này. Chúng ta phải gây dựng lại.  Ngay đêm đó Kiều cùng Từ Hải và người bạn xuống thuyền ra đi.

Những năm về sau từ miền duyên hải Việt đông mãi tới Giang nam nhiều vụ dấy loạn nổi lên. Người ta bàn tán về  một đám giặc lùn nhận là Từ Hải, kẻ nói dư đảng, kẻ nói là bọn mạo danh, nhưng có kẻ cả quyết rằng chính mắt đã nhìn thấy Từ Hải . Trong dân gian kẻ nói thế này người nói thế khác thực giả chẳng biết đâu mà phân biệt.

Có điều những vụ nổi dậy đã làm cho triều đình lo âu và người dân bị đàn áp ngóng chờ loạn lạc hy vọng một đổi đời sẽ đến, cái hy vọng mà xưa kia trong một thời gian ngắn ngủi Từ Hải đã mang đến cho họ..

(1963-1965)

Hồi ký tù cải tạo

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 23 Feb 2015 

Post by Sơn râu 15 Nov 2023

 “Một Cõi Đi Về…”

Bài 9

Thiếu tiểu ly gia…

(Hạ Tri Chương)

Đi lần nầy, cũng xe Molotova, nhưng không bít bùng như lần trước, chuyến đi từ Taberd Saigon lên Trảng Lớn, hồi mới tập trung “đóng tiền đi ở tù”. Tuy nhiên, lần nầy cũng có một chú bộ đội cầm AKA ngồi canh ở cuối xe.

Xe chưa chạy, anh ta đã xổ ra một tràng giọng Nghệ, xứ của “bác” anh ta. Chẳng biết anh ta nói gì, vì thiếu “thông dịch viên.”

Lần chuyển trại nầy té ra về Long Giao.

Về tới đó khoảng sau nửa đêm.

Trời mưa phùn.

Đất đỏ chèm nhẹp.

Tối thui, tối như mực, lò mò tập trung cho bộ đội điểm danh, xong vô một cái nhà dài, trại lính Úc cũ. Nền nhà dơ vô cùng, không nằm ngủ được. Tôi mò tìm được một nửa tấm ri sắt, ai đã kê cao khỏi mặt đất, nằm co lại thì cũng vừa đủ, ngủ một giấc ngon lành, có lẽ vì mệt.

Sáng, khi thức dậy, trời đã tạnh mưa. Anh em léo nhéo kéo nhau đi tìm nước. Bên cạnh cái sân lớn có một cái giếng.

Trời! Thấy cái giếng mà lạnh mình!

Miệng giếng rộng hơn nửa cái sân bóng chuyền. Nhìn xuống dưới thì sâu thăm thẳm, mịt mù, không khác gì đường xuống âm ti. Không dám vói nhìn xa vì miệng giếng không xây thành, rớt xuống giếng dễ như chơi.

Chẳng có máy bơm, chẳng có máy quay tay lấy nước.

Anh em đi tìm giây, nối lại, làm gầu, v.v… Một cái gầu mà những mấy chục người chờ nhau.

Có người vội vàng đi tìm bao cát, tước sợi, xe giây. Ai bảo “sĩ quan ngụy” chỉ biết hưởng thụ, bóc lột?!

“Mưu sinh thoát hiểm” là nét đặc sắc trong đời lính cũng như trong đời tù. Họ hay lắm!

Tôi thì chịu, ngồi nhìn, không than oán, không rên rỉ, dững dưng.

Tôi bỗng nhớ một câu nói về người quân tử, tôi từng dạy học trò: “Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh.” 

“Dĩ sĩ mệnh” đến thiệt! Một chốc, Phạm Ngọc Hiền, người được Trần Phú Trắc đặt cho cái tên là Tạ Tốn, dân Quảng Ngãi, ở chung tổ với tôi cả năm nay, cầm tới cho tôi một “gô” nước, bảo tôi đánh , rửa mặt rồi đi uống càphê. Anh ta đang nấu nước sôi.

Tôi cảm động về hành động nầy của Tạ Tốn. Trong cuộc sống bình thường thì không thấy chi. Khi khó khăn mới biết nhau, biết thương yêu, giúp đỡ nhau.

Khoảng mười giờ, bộ đội xuống kêu có lệnh tập trung. Anh em, khoảng vài ba trăm người mới tới, tập trung ở một căn nhà hình chữ T khá lớn. Nhà tiền chế kiểu quân đội, đã hư hỏng, chỉ còn mái, không có vách. Bỗng gió ào ào cùng mưa tới. Căn nhà rung lên rồi kêu răng rắc.

Ai nấy bỏ chạy ra khỏi nhà vì sợ nhà sập.

Tôi cũng phóng ra giữa sân khá nhanh vì tôi còn đứng ở bên hông nhà, chưa vào sâu bên trong.

Rồi căn nhà đổ ập xuống, mái nằm sát đất.

Cả chục người không chạy kịp, bị kẹt trong đó. Một chốc, tôi thấy Đào Sơn Bá vạch mái tôn chui ra.

Thấy tôi, Bá cười:

– “May tui lọt vô giữa hai cái vài nên không can chi.”

Chúng tôi nghe thấy tiếng la, tiếng gọi nhau. Một người nào đó, bị cái vài nhà sập xuống, đè bể ngực, chết ngay tại chỗ. Bộ đội ra lệnh chúng tôi khiêng mái nhà cho hỏng lên rồi lôi xác chết ra, đem đi chôn, không có hòm, lấy tấm nylon mà bó lại. Thế là xong.

Đời tù, “Một cõi đi về” như hơi gió thoảng.

Phạm Ngọc Hiền nói với tôi:

– “Tại sao chôn như vậy. “Cách mạng” không thấy tội nghiệp cho người ta à?”

– “Buồn cười không!” Tôi nói. “Ông nhớ giùm tui, nói “tội nghiệp” là nói tới nhân quả, là nói tới cái nghiệp của nhà Phật. Khi nói tội nghiệp là nói tới từ bi, bác ái của Chúa, là chữ nhân của Khổng. Cả thế giới nầy có ai cho rằng chế độ Cộng Sản là nhân đạo? Ngay cả “Mác” cũng không bàn tới nhân đạo, nhân đạo chung chung, theo quan điểm của loài người.

– “CHỉ có hận thù!” Hiền nói.

– “Nói tới Cộng Sản là phải nói tới hận thù, số một là “hận thù giai cấp”. Không có hận thù không có Cộng Sản. Những người “xương trắng Trường sơn” thì ai chôn? Gian khổ, nguy hiểm và nhất là hận thù làm cho lòng người ta trơ ra. Có chỗ mà chôn là còn may.” Tôi góp ý với Hiền.

Rồi tôi nghĩ tới một câu Kiều “Vùi nông một nắm mặc dù cỏ hoa”. Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy! Nhân loại ngày nay tiến bộ nhiều mặt nhưng lòng người thì hình như chai cứng hơn.

Hiền nói:

– “Họ giáo dục như thế anh à! Tui lớn lên ở Quảng Ngãi, trước 1954 là vùng Việt Minh. Bọn con nít như chúng tôi được họp thành đoàn thể, dạy hận thù người nầy, người kia, hận thù thằng Tây, thằng Việt gian. Ai không ở trong hàng ngũ họ là Việt Gian. Ai đứng ngoài, ai không theo là Việt Gian, bị diệt trừ.”

– “Anh không bị ảnh hưởng?” Tôi hỏi.

– “Có chớ anh!” Hiền trả lời. “Nhờ năm 1954, tiếp thu, nhà tôi ở ngay ngoại ô thị xã, má tui gắng cho tui đi học. Ở cái nhà trường mới, người ta không dạy hận thù.”

– “Anh học tới đại học?” Tôi hỏi.

– “Làm gì có. Tui mồ côi cha sớm. Tui học xong tiểu học, rồi học làm thợ may. Tui ưa học quá! Buổi tối học thêm lớp riêng của mấy ông thầy dạy ở Trần Quốc Tuấn. Tui đậu trung học. Hứng chí, bỏ may, đi học tiếp.”

– “Ai nuôi ông?” Tôi lại hỏi.

– “Tui làm précepteur, “giáo tại gia” tới khi đậu tú tài. Tới đó cũng là cái mốc của tuổi lính.”

– “Như vậy thì anh “ảnh hưởng quốc gia”. Những đứa khác thì sao?” tôi hỏi.

– “Dễ thôi! Đứa nào vô rừng thì “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.” Hiền trả lời.

– “Bây giờ gặp lại không biết sao?” Tôi thắc mắc.

– “Tùy đứa anh à! Hy vọng có đứa còn chút lương tâm, vẫn coi mình là bạn, phần đông chắc coi mình như kẻ thù.”

– “Quyền lợi cả ông ạ! Thiên hạ nầy một chữ lợi là trên hết. Gặp ông, nó giúp đỡ ông thì nó được cái gì. Lơ ông đi thì nó còn giữ được cái chỗ ngồi.” Tôi nói.

– “Tui nghĩ rồi anh à! “học tập cải tạo” xong rồi, tui tìm cách ở lại trong Nam nầy. Tui bỏ xứ đi luôn.” Hiền nói.

– “Trước 75, tui từng lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Cà Mâu. Đời lính mà ông! Xa xứ buồn lắm! “Tới đây đất nước lạ lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.” Lại còn sợ Việt Cộng.” Tôi nói.

– “Cũng phải ở lại thôi anh ơi! Dân Quảng Nam, Quảng Ngãi tui cực đoan lắm. Về gặp mấy thằng “nhảy núi”, chắc không yên với chúng.” Hiền tâm sự.

– “Mấy thằng cuồng tín là ghê lắm. Cộng Sản cũng là một tôn giáo cuồng tín vậy. Nhiều đứa hoàn toàn bị tẩy não.” Tôi nói.

– “Anh muốn nói mấy đứa “con tố cha”, “vợ tố chồng” phải không?” Hiền hỏi.

– “Con người là một con vật, bản năng như con chó, con ngựa vậy. Tập cho nó, lâu rồi thành quen. Đứa bé mới lớn, làm sao biết hiếu thảo. Cha mẹ, thầy cô, bà con tập cho nó, riết thành quen, thành ra nó biết hiếu thảo. Vô chùa, vô nhà thờ, người ta tập quỳ lạy, van xin, tin tưởng, riết rồi người ta tin, rồi tới cuồng tín chẳng bao xa. Con người có cái bản năng của sinh vật, nhưng chỉ dễ dàng tập tành khi còn nhỏ thôi. Còn như bọn mình, “tẩy não” gì nỗi. Họa là đập bể đầu ra rồi nhét vô!” Tôi nói.

Một lúc sau, tôi nói thêm:

– “Họ sẽ có cách đấy. Cộng Sản không chịu thua đâu!”

– “Đem giết đi chớ gì? Giết bằng cách nào?” Hiền hỏi.

– “Ông biết “Xi-bê-ri” (Siberia) không? Đày qua đó là xong. Giết lần, giết mòn. Hà Nội học theo bài bản “Mốtx-Cu”. Tôi nói.

– “Năm ngoái có đợt đi Bắc, không biết còn đưa đi nữa không?” Hiền nói.

– “Ở riết trên Việt Bắc, cỡ vài thế hệ, con cái mình sẽ thành lôlô, Mường, Thái, Mèo, Hờmông là xong!” Tôi nói.

Hiền nói trong tiếng thở dài: “Tàn ác quá!”

&

Ngày hôm sau, chúng tôi được sắp xếp lại. Việt Cộng gọi là “biên chế” đấy!

Tất cả anh em tổ 1, tổ 2 thuộc đội 1 chúng tôi được gom chung ở một nhà.

Tôi và Phạm Ngọc Hiền chiếm một đầu góc nhà. Sợ cái giếng nước, tôi và hiền đi tìm được một cái vỏ đạn, to bằng cái cột nhà. Một đầu, chúng tôi lấy một tấm nylon cứng bịt lại, hàn kín bằng bao nhựa đốt cháy cho nhỏ vào những nơi không kín. Xong, dựng cái vỏ đạn vào mái hiên, hứng nước mưa mà dùng. Khi nào tắm thì Hiền rủ tôi đi, anh ấy kéo nước giếng giùm cho.

Không biết ở đây bao lâu, nhưng chúng tôi cũng rồng rau. Tôi dăm mấy hột đậu phụng. Vài hôm sau đã thấy mọc mầm. Đất đỏ, mùa mưa, trồng cậy thật mau tốt.

Sau trận đau ở Trảng Lớn, Hiền bị suyễn nặng. Anh phải nằm võng. Tôi nằm giữa sàn. Đêm đêm nghe tiếng suyễn kéo khò khò trong cổ anh, tôi biết anh khó ngủ. Lại thêm, lo nghĩ cho gia đình nhiều, tôi cũng đoán chừng anh có muốn ngủ cũng không ngủ được.

Gia đình anh đang sinh sống ở Quảng Ngãi. Khi Quảng Ngãi mất, anh dắt díu vợ con và bà mẹ già chạy vào Saigon. Trong cảnh sống chưa ổn định, nhà cửa chưa có thì anh phải trình diện đi tù cải tạo.

Anh nói vợ con anh không ở Saigon được, không có nhà, không có hộ khẩu, đã dọn về Long Khánh để làm rẫy.

&

Sau nầy, cải tạo về, tôi cố tìm bạn tù cũ mà không gặp. Một hôm, tôi thoáng thấy anh ngồi trên chiếc xe xích lô chạy nhanh về hướng bến xe Miền Đông. Tôi quay xe lại đạp theo mà không kịp. Có lẽ anh từ Long Khánh lên, nay về lại.

&

Chúng tôi ở đây khoảng vài tuần, chẳng lao động hay học tập gì cả. Bộ đội cũng không mấy khi xuống, ngoài mỗi ngày một lần điểm danh. Chúng tôi cứ quanh quẩn trong vòng rào, không được ra khỏi trại.

Rảnh rỗi, tôi rủ Hiền qua cái gian nhà khác chơi.

Có lần đi ngang một gian nhà chúng tôi nghe tiếng đàn từ trong nhà vọng ra, tôi nói với Hiền:

– “Không phải tiếng đàn “ôông” ơi! Nghe như tiếng kẻng nhỏ.”

Hiền nói:

– “Của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đó. Thằng chả lấy vỏ đạn nhôm cắt thành từng miếng, chả canh sao mỗi miếng nhôm ăn với một nốt nhạc, đánh nghe hay lắm. Tụi nó phục lăn!”

Từ đó, nhiều ngày, tôi rủ Hiền đi ngang căn nhà đó để nghe Nguyễn Đức Quang “chơi nhạc”. Anh ta chơi toàn nhạc vàng, nhưng không thấy “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, đôi khi không nghe anh ta chơi gì cả, cũng buồn.

Chúng tôi tự do trong vòng rào kẽm gai. Tối tối, mấy anh chàng ưa hát, ngứa cổ, qua các nhà khác hát biểu diễn, dĩ nhiên là hát chùa, đôi khi được mời uống càphê. Từ ngày bị cấm hát nhạc vàng từ khoảng nửa năm trước, nay nghe nhạc vàng đã lắm, chẳng ai cấm cản gì cả.

Ở đây, tôi gặp Hồ Đài. Hồi còn học ở Quốc Học, nhiều người ngại anh chàng nầy bởi vì anh vô ra nhà “cậu” rất dễ dàng. Anh là đệ tử của “cậu”, làm bí thư hay gì đó của một tổ chức, có vẻ giống như là “đảng đoàn”, – dĩ nhiên là đảng Cần Lao – của trường Quốc học. Năm 1964, tôi đi chấm thi Trung học ở Hội An, nghe nói anh làm hiệu trưởng trường Trung học Bán Công Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, sau đó nhờ làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bình Định Nông Thôn Quảng Nam nên khỏi đi lính.

Tôi cũng gặp anh Phạm Gia Định.

Anh học luật với tôi cùng một năm tại Luật Khoa Huế, hồi bà Tăng Thị Thành Trai còn làm khoa trưởng. Năm sau, anh Định vào Quốc Gia Hành Chánh.

Tôi cùng đi khóa đó với anh, nhưng vô tới Saigon, ông anh cả viết một câu trong thư: “Mi chỉ biết lo cho thân mi, còn hai đứa em, không ai lo, phải bỏ học…” Thế là, thay vì hai đứa em, tôi đành bỏ học, lại về Huế, vừa đi học, vừa đi dạy để chăm sóc cho hai đứa em.

Chức vụ cuối cùng của anh Phạm Gia Định là Phó Thị trưởng Đà Lạt, cấp bậc thiếu úy. Anh ấy than phiền, giải thích thế nào cán bộ cộng sản cũng không tin vì một chuyện khá buồn cười:

Thị trưởng Đà Lạt mang “loon” đại tá, tại sao anh chỉ mới thiếu úy mà làm Phó Thị trưởng. Anh phải là trung tá hoặc ít ra cũng là thiếu tá, tại sao chỉ có thiếu úy. Vậy là khai gian, là còn che dấu, là nói dối với “cách mạng”.

Tội khai gian là nặng lắm, khó có hy vọng “Cách mạng khoan hồng cho về sum họp với gia đình”.

Anh ấy có mang theo tập “Thơ Đường” của Trần Trọng San, cho tôi mượn đọc. Tôi bỏ phấn cầm súng năm 1968, nay đã tám năm. Bây giờ có thì giờ trở lại với môi trường văn chương mà tôi đã “ngụp lặn” trong đó suốt mười năm dạy Việt Văn, nay đọc lại, sau nhiều bầm dập cuộc đời, thấm thía và thú vị biết chừng nào!

Bài thơ đúng với tâm trạng tôi là bài “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương:

            Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi.

            Hướng âm vô cải, mấn mao thôi

            Nhi đồng tương kiến, bất tương thức

            Tá vấn khách tòng há xứ lại.

Quả là tôi xa nhà khi còn trẻ. Tôi trốn mẹ ra đi năm 16 tuổi, đến nay là đã ba mươi hai năm (1976). “Lão đại hồi” thì chắc tôi không về. Về là để gặp cha mẹ, anh em, bà con. Sau 1972, “Quảng trị tui” thành bình địa. Cục đá cũng không còn nguyên, vậy tôi về với ai? Vêề  là m chi? “Hướng âm vô cải” cũng sai luôn. Suốt mấy năm trong quân đội VNCH, tôi lưu lạc xuống tận Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau. Về tới miền Tây Nam Bộ mà nói tiếng Quảng Trị thì người ta coi tôi như “người nước ngoài”, làm sao hiểu tôi nói gì, nên tôi phải học mà nói tiếng Nam, riết thành quen. Bọn trẻ Quảng Trị, nếu có gặp chúng ở đâu đó, không chắc bọn nó nghĩ rằng tôi là dân “Quảng Trị tui.”

Tui lai giống mất rồi!