Bia miệng

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Cứ năm năm, vào mùa Thu, là hơn hai ngàn đại biểu của gần 90 triệu đảng viên CS trên cả nước Tàu tụ tập nhau ở Bắc Kinh để bầu lên 200 ủy viên chánh thức và chừng 170 dự khuyết cho ban Chấp hành Trung ương đảng CS Trung Quốc. Rồi ban Chấp hành Trung ương bầu 25 uỷ viên Bộ Chính trị và 7 người trong Thường vụ Bộ Chính trị.

Đám chóp bu, ruồi bu này thay cho gần một tỷ 400 triệu người dân Tàu vừa đề nghị sửa đổi điều lệ Đảng và Hiến pháp để Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước sau hai nhiệm kỳ tức 10 năm không bắt buộc phải về vườn như đồng bọn đã từng cam kết lúc trước.

Nghĩa là ngồi hoài (nếu còn ngồi nổi) và ngồi cho tới chết! “Hoàng thượng vạn tuế! Vạn vạn tuế!” Ai là đạo diễn cái đề nghị ngược chiều lá đổ này này? Thì Tổng bí thơ, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng Tập Cận Bình! Chớ ngoài ra, ai dám trồng khoai đất này?

Mà muốn tự tung tự tác như vậy thì Tập Cận Bình phải thanh trừng đối thủ chánh trị, thâu tóm quyền lực tuyệt đối nhằm đưa cá nhân mình lên, bằng vai bằng vế với Mao Trạch Đông.

Lãnh tụ độc tài trong lịch sử phong kiến Tàu có nhiều… rất nhiều. Tàn bạo nhứt chắc phải kể đến Tần Thủy Hoàng, người đã từng đốt sách, chôn sống học trò.

Nhưng lãnh tụ CS Mao Trạch Đông, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa coi đó chưa nhằm nhò gì nên cười khè khè nói: “Tần Thủy Hoàng chôn sống 460 học giả; chúng tôi chôn 46.000 học giả còn sống…Bọn trí thức nguyền rủa chúng tôi là Tần Thủy Hoàng. Chúng đã sai. Chúng tôi còn hơn Tần Thủy Hoàng gấp ngàn lần”. Mao Trạch Đông đâu có coi các nhà độc tài phong kiến khác như Hán Vũ Đế, Khang Hy hoặc Càn Long ra “cà ram” nào?

Giờ Tập Cận Bình muốn vươn lên tầm của Mao Trạch Đông thì chắc cũng coi Đặng Tiểu Bình chỉ là cái “bình tiểu” mà thôi!

Xưa là “Mao Chủ tịch muôn năm”; giờ là “Tập Chủ tịch muôn năm”.

Còn cái vụ Chủ tịch muốn “nằm” chỉ xảy ra… khi Chủ tịch ngồi hết nổi. Ắt phải nằm! Cái khác nhau giữa một chánh quyền độc tài và một chánh quyền dân chủ là ở chỗ cho dù Tổng thống Mỹ có giỏi cỡ nào chăng đi nữa, được dân bầu hai nhiệm kỳ 8 năm, là tối đa! Xong phải về vườn dù muốn hay không. Còn làm dở ẹc, mới được một nhiệm kỳ 4 năm, là dân nó cho về… là phải nghỉ.

“Thick skin”, da dầy, người Việt mình gọi là “mặt dầy mày dạn”; là cá tính cần thiết cho một người làm chánh trị; nhứt là trong các thể chế dân chủ.

Một nhà lãnh đạo trong thể chế dân chủ, mặc dù bị phê bình chỉ trích tơi bời (đôi khi khá bất công) như trường họp của Tổng thống Mỹ George W. Bush chẳng hạn. Nhưng ông vẫn đắc cử được hai nhiệm kỳ! Vì da ông đủ dầy nên các nhà hài hước đem ra làm đề tài châm biếm thì kệ tụi nó chớ!

Ngược lại những nhà độc tài, dẫu nắm toàn bộ quyền lực trong tay lại sợ hãi việc dân phê bình. Vì dẫu là một tên độc tài khát máu nhưng hình như da mặt lại không được dầy cho lắm, dễ bị nhột, nên không thích bị đùa dai! Bị dân chọc là nổi điên lên hè! Nên có chuyện rằng: Stalin đi xem hài kịch. Hắn cười toe toét từ đầu đến cuối.

Khi hết tuồng, vãn hát, Stalin nói: “Ta thích cái hài kịch này lắm đó! Nhưng thằng hề lại để ria mép giống hịt ta hè, đem nó ra xử bắn!” Tất cả đều sững sờ, không ai dám nói một lời; cho đến khi có một người thu hết can đảm, rụt rè lên tiếng: “Đồng chí Stalin! Chúng ta có thể ra lịnh cho thằng hề này cạo râu đi?”

Stalin trả lời: “Đề nghị hay đó! Kêu nó cạo râu trước rồi bắn nó sau vậy!”

“Chánh quyền từ nòng súng” như Mao Trạch Đông từng tuyên bố! Cứ sai Công an, Mật vụ móc súng ra “hù”; là kẻ thù của cách mạng đâm rét… phải chạy mất luôn cả dép!

Còn không chạy mà ở lại… kiếm sống bằng diễn hài, vẽ tranh biếm họa, viết chuyện châm biếm, đùa cợt, giỡn mặt với các tai to mặt lớn của đảng CS là trước hay sau cũng bị sờ gáy, đem vô hộp cất kỹ.

Tốt hơn hết là: “Đừng nghĩ! Nếu nghĩ thì đừng nói! Nếu nghĩ, nói thì đừng viết! Nếu nghĩ, nói và viết thì đừng ký tên! Nếu nghĩ, nói, viết và ký tên là vận hên đã hết!” Chết chắc!

Nguyên văn tiếng Anh như vầy, nó hay hơn lời dịch nhiều vì nó có vần, có điệu nên người dân lỡ sống dưới ách kềm kẹp của chế độ độc tài CS dễ nhớ, dễ thuộc để mà không hứng ẩu, phát biểu linh tinh (?!)

(Don’t think. If you think, then don’t speak. If you think and speak, then don’t write. If you think, speak and write, then don’t sign. If you think, speak, write and sign, then don’t be surprised!)

***

Cái chủ nghĩa CS ở Trung Cộng và cái tàn dư nọc độc của nó ở nước Nga Putin và ở Cambodia Hun Sen bây giờ có nhiều thứ rất giống nhau; làm như mấy ông “Trời con” này học cùng chung một thầy và một sách vậy. Hun Sen, vốn là lính của bọn khát máu Khmer Rouge (tức Khmer đỏ) tự phong mình là “Ngài Thủ tướng! Tổng tư lịnh tối cao!”, đã dùng bàn tay sắt để cai trị đất nước Cambodia hơn 33 năm bằng bạo lực.

Hun Sen không từ bất cứ thủ đoạn nào để tiêu diệt phe đối lập và các phương tiện truyền thông độc lập. Hun Sen phong cho con rể làm Phó Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia; để sai nó “quánh” chết cha đứa nào là nó cũng “quánh”!

Hun Sen gắn lon Đại tá chỉ huy đội cận vệ cho con trai út. Các tên độc tài đều bị bịnh hoang tưởng, (paranoia), thức cũng sợ, ngủ còn sợ hơn nữa, sợ có người ám toán nên đưa thằng con làm cận vệ mới tàm tạm tin được.

Hun Sen gắn lon Trung tướng Tham mưu trưởng các Lực lượng vũ trang Hoàng gia Campuchia cho Hun Manet, là con trưởng. Tía làm Thủ tướng, Tổng tư lịnh tối cao (tính làm tới năm 90 tuổi, xui thay cho dân chúng Khmer là Hunsen, sanh năm 1952, năm nay mới có 66 hè. Còn lâu quá!); Con làm Tham mưu trưởng! Tía con nắm toàn thể chánh quyền, quân đội, cảnh sát, công an! Thôi rinh cả nước Cambodia về nhà mình luôn một lần đi cho nó gọn! Tuy vậy cũng chưa dám chắc ăn; nên Hun Sen hăm he trước rằng: “Tháng Bảy này nếu thất cử là có nội chiến; là có đánh nhau!”

Sao kỳ vậy cà? Đã bầu cử công bằng là có ăn có thua chớ. Đâu có cái vụ ăn vùa thua giựt như mấy đứa lắc bầu cua… Thua rồi làm ẩu đâu nè!

***

Trong nước Cambodia thì Hun Sen muốn múa chàng mua tiên gì cũng được! Cho dù dân chúng có tức điên lên cũng đành ngậm hột thị. Nhưng ở nước Úc này thì nó khác nhe!

Chuyện rằng: Ngày 14 và 15 tháng Ba này, Hunsen sẽ đến Sydney, tiểu bang NSW, Úc Châu dự Hội nghị giữa Úc và các nước ASEAN.

Cộng đồng người Úc gốc Cambodia rục rịch biểu tình phản đối. Hun Sen quá ư là tức tối, chửi họ là chó và lớn lối đe dọa là: “Nếu cho rằng đốt hình Hun Sen sẽ làm Hun Sen chết. Nghĩ vậy là lầm!” “Hun Sen sanh vào năm Thìn, con rồng (1952). Hãy đến tất cả các chùa chiền trên thế giới đốt hết những con rồng thì lúc đó Hun Sen mới chết!” “Cầm bằng nếu các ngươi vẫn ngoan cố biểu tình chống đối, dám đốt hình nộm của ta thì ta sẽ rượt tới tận nhà để tẩn chúng bây một trận ra trò. Ta nói cho các người biết trước!”

Cộng đồng người Cambodia ở Úc nghe vậy rất phẫn nộ; (nói một cách thành thật là cũng hơi sợ sợ) nên la um sùm: “Quyền được biểu tình, quyền dân chủ!”“Hun Sen không quan tâm tới nhân quyền; không tôn trọng nước Úc đã nuôi dưỡng ông ta rồi giờ lại cả gan quay lại đe dọa chính dân nước Úc!”

Bộ trưởng Ngân khố đối lập, Chris Bowen và Dân biểu Chris Hayes, đơn vị Fowler – NSW, thuộc đảng Lao Động, bảo vệ cử tri khu vực bầu cử của mình lên tiếng: “Chúng ta sẽ sát cánh cùng Cộng đồng người Úc gốc Cambodia ủng hộ quyền được biểu tình một cách ôn hòa!”

“Cho dù làm Thủ tướng, ông ấy đến đất nước chúng ta cũng không được phép đe dọa bất cứ một ai.” Đâu phải gậy múa vườn hoang được nè! Mình là thượng khách, mà bị chủ nhà cự nự, sửa lưng như vậy cũng trặc lưng, đau chớ! Phải không?!

Ông bà người Việt mình nói: “Trăm năm bia đá cũng mòn. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!” Còn ông bà người Tàu cũng nói: “Nhân sinh tự cổ thùy vô tử. Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”.

(Là con người từ xưa đến nay ai mà không chết, nhưng khi chết đi phải để lại tiếng thơm lưu danh vào sử sách)

Bởi  trong cõi trần gian ai tránh khỏi được miệng đời? Vậy thì phải sống ra làm sao để người đời đừng mỉa mai: phải sống ra làm sao để có tiếng thơm lưu truyền đến ngàn đời sau.

Từ xưa đến nay, con gì mà không chết. Kể cả con người. Tần Thủy Hoàng hôn quân vô đạo từng sai cận thần đi kiếm thuốc trường sanh bất tử… Kết cục rồi cũng tử. Chỉ còn lưu xú vạn niên! Bởi “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”.

Làm lãnh tụ của một nước thì làm sao lúc đương chức thì dân thương; lúc về vườn thì dân nhớ. Chớ đừng bắt chước cái thói độc tài đảng trị! Đang sống sờ sờ ra đấy mà nhân dân cứ rủa thầm trong bụng cho nó đi chầu ông bà ông vải cho rồi như câu chuyện dưới đây! Một bà lão người Nga thời CS Liên Xô đến trạm chờ xe bus. Chiếc nào cũng như xe heo, cũng đầy chật hành khách đến rồi đi!

Cuối cùng, có tin vui trước giờ tuyệt vọng, sau cả hai tiếng đồng hồ chờ gãy lưng sống, may mắn quá, bà cũng chen lên được một chiếc xe.

Lau mồ hôi trán, làm dấu thánh giá: “Xin tạ ơn Thượng đế!”

Nghe vậy, viên tài xế xe bus sửa lưng: “Má ơi! Má phải nói là: Xin tạ ơn lãnh tụ Stalin mới phải!” Bà cụ rối rít: “Ờ! Từ rày về sau “già” sẽ nói y như vậy! Nhưng nè nếu một mai lãnh tụ Stalin qua đời thì “già” sẽ nói như thế nào?”

“À lúc đó, Má nói là: “Xin tạ ơn Thượng đế!”

47. Thư không viết

vanchuongviet

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Này hải đăng Hải Yến

Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm

Hôm tàu về Âu Châu tôi có nhận của Hoàng Yến gói quà gói trong một phong bì giấy xốp, bên trong ép những tờ giấy trắng tẩm nước hoa ngọc lan thơm phức. Phần quà có hai cuộn băng cải lương, một tập thơ lay out trên máy vi tính, bìa màu vàng bóng, mỗi bài thơ in trên một màu giấy khác nhau. Trong gói quà có kèm theo một bức thư viết nắn nót nét chữ học trò. Yến cho biết, trên biển có nhiều loài chim lạ mà cô rất thích, cô muốn tôi kể cô nghe về chuyện các loài chim biển và chuyện vui buồn trên chuyến hài hành. 

Hôm kia có xảy ra một chuyện mà tôi cũng hông biết vui hay là buồn, chỉ thấy sau khi dọn dẹp xong thủy thủ đoàn thằng nào thằng nấy mệt muốn đứt hơi. Chuyện bắt đầu vào buổi trưa. Trong lúc tàu chạy cách bờ biển Châu Phi gần trăm hải lý. Chợt nghe chuông báo động reo ầm ĩ, thường thì chuông reo một ngắn một dài là báo hiệu tàu bị cháy, bảy dài một ngắn tức là tàu bị nạn gì đó, thủy thủ phải chuẩn bị rời tàu. Nhưng hôm đó chuông reo liên hồi không ai hiểu là báo hiệu chuyện gì hết. Tuy vậy thủy thủ đoàn cũng mang áo phao tụ tập lên phòng lái. 

Lên tới nơi thấy mặt viên thuyền trưởng không có gì là khẩn trương hết, ông kêu mọi người cởi áo phao ra và  ông chỉ tay về phía trước mũi tàu. Mọi người nhìn theo tay ông và ồ lên một cái. Xa xa một vùng khói sương mù mịt.  Jono, thủy thủ người In Đô, thắc mắc:

– Mưa hay sương mù? 

Thuyền trưởng đáp:

– Không phải mưa cũng không phải sương mù mà là cát từ trong sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn ra.

– Mình cách bờ gần trăm hải lý thì làm sao cát bay ra được.

– Gần trăm hải lý mà nói gì, cát của sa mạc Sahara bay qua tới Âu Châu lận. Ở Hoà Lan, nhứt là những ngày mùa xuân, lắm khi sáng thức dậy đi ra ngoài thấy trên lá cây, trên mui xe và trên mái nhà cát mịn đóng một lớp mỏng, thì biết đó là cát của sa mạc Sahara bị gió lốc cuốn rải về. 

Giải thích xong chuyện cát bị gió lốc cuốn từ sa mạc Sahara sang Âu Châu, viên thuyền trưởng ra lịnh đóng kín hết các cửa và trong lúc tàu chạy qua ngang vùng cát không ai được ra ngoài boong, trừ trường hợp người nào có chuyện cần ra ngoài thì phải đeo mặt nạ hoặc kiếng che mắt và khẩu trang.

Không bao lâu tàu lọt vào vùng gió cát mịt mùng. Lạ thay lẩn, trong cát vô số cào cào, con nào con nấy lớn bằng nửa cườm tay, xanh màu đọt chuối, hai hàm răng giống như hai kìm sắt, loại cào cào nầy lỡ đáp lên một thửa ruộng hoặc một vườn hoa màu nào chắc chắn trong nháy mắt sẽ bị chúng cắn phá sạch sành sanh. May mắn cho nhà nông, nhà vườn đám cào cào không bay vào ruộng, vườn mà theo gió cát bay ra tận biển khơi làm mồi cho cá. 

Khi tàu qua khỏi vùng gió cát thì trời đã về chiều. Những trự cào cào bị ống khói phun cháy cánh rơi rụng nằm lẫn lộn trong cát ngập cả boong tàu. Thủy thủ đoàn phải mất một phen xúc cát và xác cào cào đem đổ xuống biển, sau đó kéo ống nước ra xịt rửa tàu, tới khi xong chuyện thì đã quá giữa khuya. 

Biển Châu Phi thường êm sóng và màu nước rất xanh. Một ngày trôi qua và ngày thứ hai đã hết. Mọi người đã quên chuyện cát sa mạc Sahara và con tàu chạy rất bình yên. Thủy thủ đoàn lúc nầy được nhàn rỗi hơn, tối lại họ tụ tập vô phòng ăn coi phim và uống bia. Tôi cầm chai bia ra lái tàu ngồi nhâm nhi. Đêm nay hăm mốt âm lịch, đầu hôm trăng chưa mọc. Biển tối đen, chưn vịt tàu đạp nước rù rù, nước biển gợn lên một đường dài ngời sáng trông giống như dãy Ngân Hà vướng vô bánh lái và bị tàu kéo theo. Ngồi trên tàu tôi có cảm giác như ngồi trên một hành tinh lạ. Xa xa trên hải phận quốc tế nổi bật sáu chòm đèn tàu buôn, ba chiếc xuôi Nam, ba chiếc ngược Bắc, tàu tôi đương hướng về phía Đông. 

Đương thả hồn theo cảnh vật chợt nghe tiếng động rột rẹt ở góc mui. Tôi mới nhớ tới con nhàn bị bịnh sao đó mà tôi để nó trong lòng cuộn dây lái từ hồi sáng tới giờ. Con nhàn nầy hồi hôm đậu với hàng trăm con nhàn khác ngủ ở đằng trước, sáng sớm đồng bọn bay đi săn mồi còn vãi phân lại trắng trên mặt boong. Trong lúc xịt nước rửa tàu, Jono thấy một trự đứng co ro bên cuộn dây cáp của cần trục, anh bắt đem vô giao cho tôi. Tuy biết thức ăn của loài nhàn là cá sống, trên tàu không có cá, tôi mới lấy bánh mì xé nhỏ và lon nước đặt trước mặt nó nhưng từ sáng tới giờ nó không ăn uống gì hết. 

Trong ánh đèn lờ mờ từ trên trần mui dọi xuống, trông con nhàn thê thảm với bộ lông khô, xoắn lại từng cọng, chỉa ra như lông nhím, đôi lần nó nhấp cánh định bay nhưng thân hình lê thê lết thếch, miệng ngáp ngáp rồi quỵ cặp giò chúi nhủi. Thấy tội nghiệp quá, tôi đỡ nó dậy để lại chỗ cũ, lấy bánh mì nhét vô miệng nhưng nó không nuốt được, cần cổ cứ lắc lư mỏ rẫy mạnh làm bánh văng tứ tung, cái mửng nầy kéo dài cho tới ngày mai thì làm sao nó sống được. Con nhàn cũng có quê hương là hài đảo xa gần nào đó, với đôi cánh ngàn dặm nó có thể đi đi về về bất cứ lúc nào, chẳng may giữa đường lâm bịnh hấp hối và nằm đây chờ chết.   

Nhìn con nhàn sắp chết, tôi nhớ tới Hoàng Yến, người con gái mảnh mai, ốm nhưng không yếu, nhan sắc trung bình. Cô biết viết văn, làm thơ, không uống rượu nhưng ăn thịt chó và cô rất thích nhìn loài chim biển bay lượn trên bãi biển lúc chiều hôm. Tôi gọi loài chim biển trắng là con nhàn, còn cô gọi nó là hải âu. Tôi bắt bẻ:

– Hải âu không phải tiếng Việt. 

Cô cãi lại:

– Gọi hài âu là nhàn thì giống dân Hai Lúa.

– Hai Lúa làm ruộng thì làm sao biết được tên của các loài chim biển. 

– Tại sao thủy thủ các anh gọi hải âu là con nhàn?

– Tui hổng biết từ đâu nữa, nhưng nhớ hồi còn nhỏ làm ngư phủ trong vịnh Thái Lan, miệt đó có hai loại nhàn, nhàn sẻ nhỏ con, lông màu trắng mượt, nhàn ô thì lớn hơn nhàn sẻ, lông cũng mượt mà và trắng tươi nhưng đặt biệt dưới ức có một đốm lông đen.

– Vậy thì chữ nhàn ô cũng không phải thuần tiếng Việt.

– Nhưng ít ra cũng có phân nửa tiếng Việt.

– Nhưng Yến thích gọi nó là hải âu nghe thi vị hơn.

– Giống tiểu thuyết tình cảm của Tàu thì có, nhưng cô là nhà thơ mà, gọi sao nghe hay và có vị thơ là được, còn tôi thì quen gọi chim nhàn rồi sửa lại kỳ thấy mồ. 

Có lần đi chơi ngoài bãi biển, Yếu thấy một con nhàn chết khô nằm trên gành đá, cô rưng rưng buồn, cầm con nhàn chết cứng đưa cho tôi và biểu tôi đào cát chôn cất cho đàng hoàng. Mỗi lần gặp chuyện cảm động cô hay thốt lên câu “Buồn năm phút”. Hôm đó mặt cô dàu dàu buồn…năm phút khi thấy tôi đào cát chôn cất hải âu.

Hồi chiều có mấy thủy thủ sợ con nhàn ỉa dính dơ tàu mới kêu tôi liệng nó xuống biển, tôi không nỡ lòng liệng khi thấy nó chưa chết. Cứ để đó khi nào nó chết rồi tính sau. 

Không biết bây giờ là mấy giờ mà ánh trăng già hơn nửa mảnh nằm ngang đọt cần trơi, ánh sáng nhạt nhoà chan hoà trên mặt biển. Trời nước yên bình quá, có lẽ tôi phải viết cho Yến một lá thư dài, kể chuyện biển cho cô nghe. Tôi trở vô phòng, kéo mở hộc tủ lấy giấy, viết để lên bàn. Chợt thấy tập thơ của Yến bên cạnh, tôi ngồi xuống lần giở tập thơ. Đập vào mắt mắt tôi một bài thơ chữ nghiêng trên trang giấy màu xanh nước biển và có in hình mấy con nhàn đương dang cánh bay.

Tôi đọc:

*”Ta yêu lắm nhịp đều hoà của biển

Sóng trầm lặng rồi sóng lại dâng

Bình minh lên và hoàng hôn xuống

Trong thoáng mơ hồ bâng khuâng một chút

Cho Hải Yến tung cánh giữa khơi

Lẩn vào mây…

Mây xanh ngát bầu trời

Cho đêm đen thẳm tối

Có hải đăng mịt mù xa trên cao

Này Hải-Đăng Hải-Yến

Em yêu lắm và ta cũng yêu nhiều lắm

Biển trời xanh…

Thời tuổi nhỏ cũng xanh” 

Hoàng Yến chưa từng ra khơi bao giờ vậy mà cô làm thơ về biển rất sống động. Còn tôi thì lênh đênh trên biển nhiều hơn ở đất liền. Biển khi xanh màu da trời, lúc xanh màu cẩm thạch, bàng bạc lóng lánh và lúc thì đục màu phù sa. Chim biển rất nhiều loại, có con đen như quạ, con thân hình mập chè bè, chưn thì giống như chưn con vịt, con thì giống như cò đen, cò trắng, hạc… nhưng nhiều nhứt vẫn là chim nhàn. Tôi không biết viết văn, làm thơ gì hết thì làm sao viết thư tả cảnh biển ban đêm có trăng tỏa sáng và triệu trệu sao trời lấp la lấp lánh, ban ngày thì có chim bay lượng trên mặt bước và bầu trời xanh bát ngát… Tôi ngần ngại, muốn viết cho Yến một lá thư dài, nhưng chuyện biển của tôi quái đản, kỳ cục, nhạt nhách nhạt nhẽo cũng như chuyện cát, cào cào và chuyện con nhàn sắp chết. Biết đâu đọc xong thư Yến hỏi tôi con nhàn chết chưa và nếu chết rồi thì có đem nó chôn cất cho đàng hoàng không. Trên biển lấy đất đâu mà chôn. Còn nói tôi sẽ thủy táng con nhàn sau khi nó chết thì thế nào Yến cũng thốt lên câu tội nghiệp và “buồn…năm phút”. Không muốn cô nhỏ phải mất năm phút buồn, tôi bèn thu xếp giấy, viết cất vào học tủ và cầm lấy tập thơ leo lên giường nằm đọc à vỗ giấc ngủ./.

Đại Tây Dương tháng 5 2008

*Thơ của Hoàng Ngâu

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Nơi ven rừng âm u, trong một đêm trăng mù sương, cô Nga đưa chúng tôi xuống bãi Tân Hao. Cô đi với gã thượng úy. Gã đến đây, kiểm soát và đếm đầu người để tính ra số vàng tên chủ ghe người Miên phải trả.

Mọi người đã lên ghe. Vợ con tôi cũng lên ghe rồi. Cô Nga đứng sát mé nước. Sóng trườn lên bãi ướt cả gấu quần. Tôi cầm tay cô, ứa nước mắt nói những lời từ biệt.

Cô cũng siết tay tôi: “Anh chị ra đi bình yên. Mong chị không hiểu lầm em.”

Dưới màu trăng khuya, tôi không nhìn rõ mặt cô Nga nhưng tôi đoán cô buồn lắm. Đó là lần cuối cùng tôi gặp cô.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

“Dân hai nhăm triệu ai người lớn?

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”

-Tàn Đà: “Mậu Thìn Xuân Cảm”

Thuở còn trẻ đọc các chuyện đi sứ trong đó có chuyện Mạc Đĩnh Chi, tôi thấy rất phục tài ứng đối của ông Trạng Nguyên này. Một lần Mạc Đĩnh Chi đến thăm phủ Thừa tướng nhà Nguyên, trong phủ trang hoàng lộng lẫy, giữa phòng có treo một bức trướng thêu hình con chim sẻ đậu trên cành trúc trông rất sinh động. Trạng ngỡ là chim sẻ thật nên đưa tay ra bắt, Thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên đều phá lên cười và có ý cho là người phương xa bỉ lậu. Mạc Đĩnh Chi nhanh trí chữa thẹn, vội lấy bức họa xuống và xé toạc thành nhiều mảnh. Trong khi mọi người đều kinh ngạc, ông nghiêm mặt giải thích: “Tôi nghe người xưa vẽ cành mai và chim sẻ, chứ chưa thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Trúc là bậc quân tử, chim sẻ là kẻ tiểu nhân, nay tế tướng lại thêu cành trúc với chim sẻ như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo của tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy. Tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân.”

Nay trên đầu đã hai thứ tóc, nghĩ lại chuyện xưa, muốn chửi gia chủ là ngu, treo tranh không biết ý nghĩa, hay mượn cớ chửi quần thần của nước người ta là đám tiểu nhân, mà làm trò “vờ vĩnh” rồi hung hãn xé tranh nhà người thì tài ngoại giao của Đĩnh Chi quả thực cũng còn nhiều vấn đề cần bàn. Xem lại những chuyện thuộc giai thoại làng nho, đến những chuyện tiếu lâm dân gian thì giật mình thấy dân Việt trong đó có mình, xem chừng rất thích những trò nghịch lỡm, khôn vặt hay miệng lưỡi trí trá, đốp chát với người hơn là làm việc đứng đắn. Những chuyện như Trạng Quỳnh gạt tiền bà chúa Liễu, làm sớ dâng sao chữa bệnh cho công chúa bị lên sởi, hay ăn cắp mèo của Chúa hay đến chuyện hai anh chàng “thông minh nhưng thất bại trong khoa cử,” Ba Giai tuột quần giữa chợ để đôi co với cô bán hàng là “nâu này của cô hay của tôi,” Tú Xuất giả mù qua cầu để nhìn các cô tắm truồng dưới suối, ra chợ mua chim để tìm cách bóp vú cô bán hàng, hay lừa quán cơm để đòi bồi thường mấy chục lạng bạc. Những chuyên lưu manh trò trí trá như vậy lại được dân chúng truyền tụng, viết thành tuồng, chèo, kịch để công diễn và già trẻ lớn bé xem chừng đọc một cách hả hê thỏa mãn. Không tin bạn cứ google “trạng Quỳnh” và “Ba Giai Tú Xuất” thử xem tìm được bao nhiều trang web có “chuyên đề” về những nhân vật này.

Chắc chắn khả năng ngôn ngữ là một phần của trí thông minh, nhưng khả năng này có khi biều hiện qua những bài hiệu triệu cảm động lòng người hay phân tích tổng hợp nâng cao dân trí, thì có khi chỉ là những trò “xảo ngôn” lừa lọc hay miệng lưỡi ganh đua vụn vặt, thứ vụn vặt quanh bữa cỗ ngoài đình làng. Thế nhưng ganh đua đốp chát nhỏ mọn ngoài đình lại không phải là trò của đám “tiểu nông” như các nhà trí thức chuyên nghiên cứu văn hóa Việt Nam vẫn thường hay đổ tội, mà là của đám nhà nho “tiểu trí thức,” trong đó quyền lực của quan lại cũng không mà sức lực của nông dân cũng không. Người có quyền lực hay sức lực muốn can thiệp hay thậm chí áp chế người khác chắc không ai cần “nói cạnh nói khóe.” Ký cho đối phương một cái lệnh tống giam hay “quai” cho một cú vào hàm là giải quyết ngay công việc. Thế nhưng nếu không có sức có quyền, nói thăng thì sợ bị đáp trả, thì tốt hơn hết có lẽ là “chỉ tang mạ hòe” (chỉ vào cây dâu mà lại mắng cây hỏe). Đối phương có biết mình ám chỉ thì không có bằng chứng cụ thể để đáp trả. Chẳng lẽ lại tự nhận là người ta đang chửi mình, rồi chửi lại.  Trò “chỉ tang mạ hòe” quả là khôn. Nhưng thiết nghĩnó là loại khôn vặt, xuất phát từ thế của kẻ yếu. Mà đã chuyên khôn vặt thì khó mà có đầu óc khôn lớn. Người Việt chúng ta không nhiều thì ít thường hãnh diện về cái khôn ngoan lanh lẹ này nhưng qua thực tế lịch sử cái khôn vặt này chưa thấy đem đến phát minh sáng kiến, chính sách ích quốc lợi dân nào mà chỉ dẫn đến những trò tham vặt gian vặt. Lại trong một xã hội mà “thẳng thắn thật thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương” như hiện nay ở Việt Nam, thì số người muốn dùng trí tuệ, tài năng, và công sức của chính mình để thành công lại cảng khan hiếm. Đa số chỉ muốn dùng thủ thuật, mánh mung để đạt được kết quả hay tìm kiếm lợi nhuận trước mắt. Cẩm nang khôn vặt của Việt Nam chứa không ít ca dao tục ngữ, “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau;” “lanh mồm miệng, đỡ chân tay,” “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn,” v.v …Báo chí trong nước tường thuật không ít về những trò tham vặt của dân Việt “hiện đại.” Trong lãnh vực học thuật có chuyện ông Tiến sỹ- Phó Giáo Sư Nguyễn Chí Bền, Viện Trưởng Viện Văn Hoá- Thông Tin (!) ăn cắp tài liệu nghiên cứu của GS Tô Ngọc Thanh về văn hóá chiêng cồng của đồng bào dân tộc để in sách làm của mình. Chơi trội hơn với tầm mức quốc tế là Thạc sỹ Lê Đức Thông sinh năm 1981 bị các chuyên san Natural Science, Journal of Modern Physics, Physics Letters B, Europhysics Letters, tuyên bố rút bỏ các bài “nghiên cứu” của ông này và nhóm đồng tác “giả” vì tội đạo văn. Trong lãnh vực văn nghệ thì nhạc sĩ trẻ Trương Tuấn Huy thú nhận lấy sáng tác “Chút Tình”của Trường Nhân, sửa tên thành “Chút Tình Phai” đem bán. Một nhạc sĩ tương đối có tên tuổi là Bảo Chấn thì cũng “đạo” bản “Frontier” và “Crescendo” của Keiko Matsui dể hô biến thành bài “Tình Thôi Xót Xa” và “Dường Như.” Nói về nạn nhân thì nhạc sĩ Trần Duy Đức ở hải ngoại cũng bị các nhạc sĩ “tài hoa” ở trong nước “thuổng” bài “Nếu Có Yêu Tôi.” Chuyện ma của Nguyễn Ngọc Ngạn thì được một nhà xuất bản trong nước “cầm nhầm” đổi nhan đề, đổi tên tác giả và đem xuất bản, bán lấy tiền.

Trong chuyện chính trị Việt Nam thì ông tổ khôn vặt là Hồ Chí Minh. Từ chuyện cướp danh hiệu và công trình các bậc tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, chuyện tổ chức đón tiếp Pháp đến Hà Nội ngày 19-5 mà lại nói là mừng sinh nhật của mình, đến chuyện viết sách ký tên người khác để tự tâng bốc mình trước sau gì cũng bị phơi bày sự thật. Một trong những chuyện tiêu biểu cho sự “khôn ngoan” của người đứng đầu miền Bắc được nhân dân “truyền tụng” là chuyện bắt tay một bộ trưởng Pháp của Hồ Chí Minh. Trong lần tới thăm Bộ trưởng Bộ Hải Ngoại Marius Moutet năm 1946, ông Hồ đang đi lên các bậc tam cấp thì ông Moutet giơ tay ra bắt tay khi đang đi xuống. Ông Hồ vờ không thấy, cúi xuống bế và âu yếm bé gái đi cùng ông bộ trưởng trong khi vẫn bước tiếp lên. Chỉ khi ở bậc thang ngang hàng với Moutet, ông Hồ mới đưa tay ra bắt. Chỉ tội nghiệp cháu bé gái.

Nối tiếp tấm gương tiền bối lãnh tụ, các quan lại Cộng Sản đời nay lại tiếp tục ngụy tạo bằng chứng trốn thuế để bắt giam Điếu Cày và Lê Quốc Quân, ném đồ dơ vào nhà người đấu tranh dân chủ như Bùi Minh Hằng và Huỳnh Ngọc Hiếu, chụp mũ bằng bao cao su “qua xử dụng” như Cù Huy Hà Vũ, cho công an giả dạng côn đồ hay cho côn đồ giả dạng công an. Không chỉ quê nhà mà chuyện quê người cũng lắm, chuyện “ở quanh đây, đâu là chuyện bất ngờ.” Từ chuyện nhỏ kiểu “thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ.” Làm trong công sở thì ăn cắp giấy bút, làm bệnh viên ăn cắp bao tay, kim chích đem về nhà. Lại nghe chuyện một bà chủ tiệm nail không dám bỏ ra mấy đồng mua bao thư, mà đến nhà băng ăn cắp bao thư deposit ở chỗ máy ATM, để bỏ tiền trả

lương nhân viên. Đến chuyện lớn, một số tổ chức đấu tranh dân chủ hải ngoại đôi khi cũng đâm lén vài dao vào lưng nhau, tranh công đoạt lợi, hay thập thò đi đêm, rồi chờ đèn xanh đèn đỏ, thay vì tập trung trí khôn xây dựng lực lượng, phát triển đường lối, ngày đêm chờ ngày phục quốc. Ngẫm nghĩ lui tới thì quả thật khôn vặt sẽ dẫn đến tham vặt mà tham vặt lại dẫn đến khôn vặt. Cái trí khôn nhỏ bé thì chỉ thấy lợi trước mắt, không nghĩ đến hậu quả lâu dài hay sâu rộng. Cái lòng tham nhỏ bé thì chỉ vận dụng trí khôn vừa phải để học hành đối phó, để lừa lọc vài người.  Đất nước bây giờ tụt hậu cả vài trăm năm so chỉ vớinhững quốc gia trong vùng. Với cái “đình cao” khôn vặt tham vặt đó thì có đến ngàn năm sau cũng khó thấy dân tộc  này “rồng bay” hay “hổ nhảy.” Biết đến khi nào dân mình mới bớt cái khôn vặt và trưởng thành để hết là “trẻ con” như nhà thơ Tản Đà đã phán?

Trung tá Thang Tran, Chuyên gia tích hợp kỹ thuật tác chiến cho các Bộ Tư lệnh chiến đấu Hoa Kỳ.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on June 27, 2026 by dongsongcu

27/06/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Trung tá Thang Tran (hình của linkedin.com).

Trung tá Thang Tran là Chuyên gia tích hợp kỹ thuật tác chiến của Cơ quan dự án nghiên cứu tiên tiến Quốc phòng (DARPA), ông hiện giữ chức Phó Giám đốc, chương trình tích hợp cao cấp cho các Lực lượng đặc nhiệm của các Bộ Tư lệnh Chiến đấu (EPIC) Hoa Kỳ tại Arlington, Virginia. Nhiệm kỳ trước, ông là Trưởng phòng SOJ58, Bộ tư lệnh tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ tại Châu Âu (SOCEUR) ở Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc.

Cơ quan Dự án Nghiên cứu tiên tiến quốc phòng DARPA là cơ quan nghiên cứu và phát triển hàng đầu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Được thành lập vào năm 1958, sứ mạng của DARPA là thực hiện các khoản đầu tư mang tính đột phá, quan trọng vào các công nghệ vì an ninh Quốc gia, nhằm tạo ra lợi thế công nghệ giúp ngăn chặn những bất ngờ chiến lược.

Các Bộ Tư lệnh chiến đấu thống nhất Hoa Kỳ (CCMD) là các Bộ Tư lệnh quân sự chung bao gồm các đơn vị từ hai hoặc nhiều Quân chủng dưới sự chỉ huy của một Tư lệnh duy nhất. Được thành lập bởi Bộ Quốc phòng, cấu trúc hiện tại bao gồm 11 Bộ tư lệnh chiến đấu được chia thành bảy Bộ Tư lệnh khu vực địa lý và bốn Bộ Tư lệnh chức năng.

Trung tá Thang Tran thụ huấn tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point) năm 2003, và tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân khoa học, quản lý kỹ thuật công chánh năm 2007. Đơn vị đầu tiên trong binh nghiệp của một Sĩ quan trẻ, ông là Thiếu uý bộ binh phục tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 12 ỡ Fort Carson, Colorado từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2011; Nhiệm vụ tiếp theo, Trung uý Thang Tran được chỉ định phục vụ Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù.

Từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 4 năm 2015, Trung uý Thang Tran được chỉ định làm Phân đội trưởng Lực lượng đặc biệt thuộc Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù, đồn trú tại Fort Carson, Colorado. Tháng 5 năm 2015, Đại uý Thang Tran đuọc bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội yểm trợ, Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù đồn trú tại Fort Carson, Colorado.

Tháng 5 năm 2016, Đại uý Thang Tran được chọn làm Sĩ quan Tuỳ viên cho vị Tướng chỉ huy NSOCC-A/SOJTF-A tại Bagram, Afghanistan; Từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 7 năm 2021, Đại uý Thang Tran được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng, Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù tại Fort Carson, CO/Afghanistan; Từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020, Thiếu tá Thang Tran được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 3, Liên đoàn 10 Lực lượng đặc biệt Nhảy dù tại Fort Carson, CO/ Stuttgart, Đức Quốc.

Trung tá Thang Tran, Trưởng phòng SOJ58, Bộ Tư lệnh tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ tại Châu Âu (hình của x.com/US_SOCEUR/status).

Tháng 9 năm 2021, Thiếu tá Thang Tran được chỉ định làm Sĩ quan hành quân tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Tháng 6 năm 2022, ông được bổ nhiệm làm Trưởng phòng chiến lược tác chiến tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Tháng 6 2023, Thiếu tá Thang Tran làm Phó phòng nhân lực J8 tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Tháng 7 năm 2024, Trung tá Thang Tran được bổ nhiệm giữ chức Trưởng phòng SOJ58, Bộ tư lệnh tác chiến đặc biệt Hoa Kỳ – Châu Âu tại Stuttgart, Baden-Württemberg, Đức Quốc; Và hiên nay, ông là Chuyên gia tích hợp kỹ thuật tác chiến của Cơ quan dự án nghiên cứu tiên tiến Quốc phòng (DARPA), Phó Giám đốc, chương trình tích hợp cao cấp cho các Bộ Tư lệnh Chiến đấu (EPIC) Hoa Kỳ tại Arlington, Virginia.

Trung tá Thang Tran hoàn tất các văn Bằng: Văn bằng Cử nhân khoa học, quản lý kỹ thuật công chánh, Học viện quân sự Hoa Kỳ (United States Military Academy at West Point) năm 2007; Văn bằng Cao học nghệ thuật phân tích Quốc phòng, Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) năm 2016; Văn bằng quản trị kinh doanh và quản lý tổng quát, Đại học tiểu bang Mississippi (Mississippi State University) năm 2019.

Trung tá Thang Tran là 1 trong hơn 60 nam, nữ Trung tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt, đang phục vụ trong các binh chủng và các ngành của Quân chủng Lục quân, không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá.

Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Thang Q Tran.

Nguồn: linkedin.com; socom.mil/soceu; x.com/US_SOCEUR/status; en.wikipedia.org

Tàn giấc Nam Kha

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Tháng Tư đoàn quân di tản

Như dòng nước đổ về Nam

Tháng ba Pleiku triệt thoái

Tháng Tư mất nốt trung phần

Hàng ngàn người dân tơi tả

Tản cư trên khắp ngã đường

Đoàn người như dòng sông chảy

Trôi hoài chẳng biết về đâu

Không còn Nha Trang thơ mộng

Trong cơn hỗn loạn vô cùng

Nắng hanh táp vào áo trận

Nỗi buồn dưới gót giày sô

Tháng Tư vùng hai thất thủ

Bạn bè gãy cánh chim trời

Đứa mất tích trogn rừng thẳm

Đứa chìm đâu đó ngoài khơi

Anh tìm về nơi xóm cũ

Nhà em cửa khóa im lìm

Nhiều gia đình đang hối hả

Dọn đồ đạc để ra đi

Tháng Tư nỗi buồn chất ngất

Nhìn theo từng cánh phi cơ

Bay như đàn chim vỡ tổ

Dấu mờ in cuối chân trời

Năm mốt năm như mộng ảo

Chập chờn nửa tỉnh nửa mê

Những người thanh xuân ngày ấy

Bây giờ đầu tóc như mây

Đời người rồi như ngọn khói

Tan đi vào cõi xa mờ

Năm mốt năm cơn mộng ảo

Hỏi người còn nhớ đến ta

Em bây giờ nơi đâu?

Và có khi nào em còn nhớ đến anh

Bến Thành! Súp Lê vội thổi

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Nhà văn Sơn Nam (1926-2008) có lần than phiền rằng: Mấy thằng Tây làm bản đồ nước Việt Nam mà ghi mấy cái địa danh trật lất hết trơn!Tây! Trật là phải rồi mà ngay cả người Việt mình, quê mình, mình còn trật huống hồ Tây?!
Chẳng hạn Sơn Nam cắt nghĩa Cần Thơ là ‘con cá sặt rằn’; thì mấy tay tỉnh ủy Cần Thơ đòi đưa ông ra gặp mấy ông tòa quan lớn vì tội ‘biêu xấu’ tỉnh nhà? Vì theo mấy giả, Cần Thơ là Cầm Thi, đất của thơ mới phải.
Thôi nó có súng thì nói gì hỏng được? He he!
Nhà văn Sơn Nam chắc cũng không thèm chấp mấy thằng vừa dốt, vừa ngu lại vừa hỗn ẩu nên ông chỉ khuyên mấy thằng em út văn nghệ, văn gừng của ông đang tập tễnh ‘bò’ vào đường văn học sử là: “Muốn viết văn cho hay là phải học Sử Địa !”
Mà Sử Địa nào mới được chớ? Chớ cái Sử Địa ‘Tề Thiên dóc tổ’ mà học; thì thôi để tui đi nhậu lai rai với bạn văn sướng hơn nhiều?!

Do đó mình cũng không lấy làm gì ngạc nhiên khi mấy đứa nhỏ bây giờ nghe tin bỏ môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông đã ‘vui mừng vui quá vui’ xé đề cương môn Sử dỏm, từ trên lầu quăng xuống, bay lả tả đầy sân trường Nguyễn Hiền ở Sài Gòn như vừa mới xảy ra đây!
Người viết thì may mắn không phải đọc cái ‘Sử ruồi bu’ đó!
Nhưng phải học ‘Sử xịn’ chớ ! Dù là ‘Sử xịn’ nhưng đôi khi cũng có trường hợp ông nói gà mà bà nói vịt? Mà mấy ông toàn là sư phụ , ‘danh trấn giang hồ’, mà mỗi ông lại hiểu một kiểu, ‘đá’ với nhau ‘chan chát’ thì em biết tin ai bây giờ?
Chẳng hạn như ông Vương Hồng Sển (1902-1996) có chép câu ca dao:

“Mười giờ tàu lại Bến Thành,
“Xúp lê vội thổi, bộ hành lao xao”

Rồi ông cắt nghĩa là: Mười giờ có một chuyến xe lửa từ Mỹ Tho lên, đỗ ga “Bến Thành” thì kéo còi ….Ông Vương Hồng Sển là người Sóc Trăng nhưng lại cắt nghĩa chữ tàu đây là tàu hỏa hay còn gọi là xe lửa theo tiếng miền Nam nên người viết không đồng ý … kiến ….Bèn lục tìm, kiếm thêm coi còn cái nào khả dĩ hợp lý hơn chăng?

Mười giờ, lúc có đồng hồ, thì chắc câu ca dao này là thời Tây thuộc địa rồi. Nhưng động từ ‘lại Bến Thành’ để chỉ chiếc xe lửa vào ga thì nghe không có lý. ‘Lại’ chỉ chiếc tàu vô, cặp bến thì có lý hơn?!
Còn ‘súp lê’ theo ông Hồ Biểu Chánh (1884-1958) cắt nghĩa rất rõ và rất chi tiết rằng: Súp lê, ông viết bằng chữ ‘s’ thay vì chữ ‘x’ như ông Vương Hồng Sển.
“Síp lê (siffler: thổi còi xe lửa) ở chỗ nơi thoát hơi nước. Xe lửa không được phép cho hơi nước thoát xuyên qua ống khói vì sẽ gây ô nhiễm (bụi than) nên có âm thanh như tiếng huýt sáo; Tiếng Pháp siffler: thổi, hút gió, huýt sáo, còi. Ở đây: thổi còi bằng hơi nước, nghĩa là còi xe lửa”
“Súp lê (soufler: thổi còi tàu) khác với xe lửa, tàu được phép cho hơi nước thoát qua ống khói nên có âm thanh như thụt ống bễ.
Như vậy theo ông Hồ Biểu Chánh nên dùng ‘súp lê’ cho tàu, còn xe lửa thì là ‘síp lê’.

Thế nên theo ông Hồ Biểu Chánh thì lúc 10 giờ, tàu mới vừa cặp vô bến Bến Thành; thì chưa gì đã vội thổi súp lê, chuẩn bị tách bến; nên bộ hành lao xao hỏi sao kỳ vậy cà?

Còn Bến Thành cũng là tên một bến sông, một cái chợ, một ga xe lửa vì thế cho nên mình mới dễ lẫn lộn.
Tuy nhiên “Bên dưới có sông; bên trên có chợ!
Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Để tiện giao thông, buôn bán hàng hóa, khi đường bộ còn chưa phát triển, thì đường thủy, đường sông là chọn lựa trước tiên?
Quả vậy ! theo các nhà Sử Địa cho biết về Bến Thành và Chợ Bến Thành như sau:
“Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái).

Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.
Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.
Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy.
Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Nha Ngân khố trên đường Nguyễn Huệ).
Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa.
Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp (nay là Đại lộ Nguyễn Huệ). Khu chợ càng trở nên đông đúc với các cửa hiệu phần nhiều là của người Hoa, người Ấn Độ và người Pháp.

Tuy nhiên, khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ trở nên cũ kỹ và lâm vào tình trạng có thể bị sụp đổ. Để tránh tai họa, người Pháp cũng lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới, lớn hơn để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển.
Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (nay là Bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.
Năm 1955 thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, bốn con đường này đổi tên thành đường Lê Thánh Tôn, đường Phan Bội Châu và đường Phan Châu Trinh.

Do đó “Mười giờ tàu lại Bến Thành.
Súp lê vội thổi bộ hành lao xao” …… là nên hiểu theo nghĩa là chiếc tàu (khách, tàu đò) cặp bến Bến Thành hơn là chiếc xe lửa vào ga Bến Thành ?!
Người viết thiệt trong bụng là hỏng dám cãi ông Vương Hồng Sển rồi. Nhưng không cãi nghe cũng tức ‘anh ách’ trong bụng làm sao đó ?!
Còn về chữ ‘súp lê’ người viết cũng tìm được thêm trong câu ca dao:

“Tàu súp lê một! Còn trông còn đợi!
Tàu súp lê hai! Còn đợi còn chờ!
Tàu súp lê ba! Tàu ra biển Bắc…
Tay anh vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng
Anh lấy khăn mu soa ra chậm.
Cái điệu vợ chồng ngàn dặm không quên!”

Thì lại nghe ông Toan Ánh (1916-2009) cắt nghĩa như vầy người viết cũng hỏng chịu luôn?!
Ông viết rằng: “Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, một anh lính khác .
Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây?
Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.”
(Trích tác phẩm “Hương Nước Hồn Quê”, tác giả Toan Ánh, NXB. Thanh Niên) Theo ông Toan Ánh là vậy; nhưng có ông bạn văn không đồng ý; vì nghĩ Tây thì làm ‘quái’ gì mà rành tiếng Việt quá vậy để có thể làm ra được một đoạn ca dao tuyệt vời như thế này?
Mà theo anh bạn văn này nói: Đây là của một anh chàng nông dân nghèo khổ,có con vợ mà lại bị bắt đi lính cho Tây trong đệ nhứt thế chiến (1914-1918).
Anh đọc cho người viết nghe một đoạn trong ‘Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, chương 12, của ông Nguyễn Vỹ(1912-1971) để ủng hộ cho cái phản bác của mình .
“Tuấn đọc to lên cho cả làng nghe. Tờ ‘Trung Kỳ Bảo Hộ công báo’ là một tờ báo của Toà Khâm Sứ ở Huế gởi đi các tỉnh, tỉnh gởi về huyện, huyện gởi về các làng . Tờ báo đăng tin Nhà nước Bảo hộ Pháp-lang-sa đang đánh giặc với Đức, tức là nước Phổ-lô-si (phiên âm chữ Prusse, Đức phiên âm chữ Deutsch ).
Đức là một nước “dã man, tàn bạo”, bị Pháp-lang-sa đánh cho liểng-xiểng, binh lính Đức chết vô số, có cả hàng ngàn, hàng vạn…v.v…
Nhưng trận giặc còn lâu dài, cho nên “dân An Nam nhờ nước Pháp-lang-sa bảo hộ, phải quyên tiền và đem binh lính sang Pháp để đánh lũ giặc Đức mọi rợ… v.v…
Dân làng, bất luận giàu, nghèo, đều phải góp tiền để mua Phiếu Quốc Trái.

Hơn nữa, làng phải mộ dân tình nguyện đi lính sang Pháp để ‘đánh đuổi giặc Đức’.

Sự thật, không có dân nào tình nguyện cả. Sau cùng làng xã phải bắt ép thanh niên khoẻ mạnh, gọi là tráng đinh đi lính. Hầu hết lớp “lính tình nguyện” nầy ở khắp xứ Trung Kỳ , Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ đều là thanh niên nho học từ 21, 22 đến 24, 25 tuổi.
Phong trào mộ thanh niên đi tùng chinh sang ‘Mẫu Quốc’ là một dịp cho các quan An Nam từ quan tỉnh xuống quan huyện , cho đến các ông hương , ông xã trong làng , đòi ăn hối lộ. Một số đông các ông này chơi ác, cứ nhè bắt bọn thanh niên trai tráng con nhà giàu, đi tùng chinh. Thế là các bậc cha mẹ phú hộ phải đem của tiền lo lót, cho con khỏi đi. Phải lo lót xã một phần, lên lo lót huyện một phần , rồi lo lót các cụ lớn trên tỉnh nữa.
Hối lộ gần như công khai. Nhà giàu đua nhau nhờ cậy chổ này chổ nọ, chạy chọt ông này ông kia, bán cả ruộng đất, nhất là con trai trưởng trong gia đình, khỏi bị bắt “tình nguyện” đi lính sang Pháp.
…Vì lớp thanh niên nhà giàu, hoặc nhà khá giả, hoặc con trai các vị hương chức đều nhờ hối lộ, và nhờ có quyền thế, đã được miễn tùng chinh. Sót lại chỉ có con nhà nghèo không có miếng đất cắm dùi, cho nên phải đi lính “tình nguyện” qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc ‘Phổ Lổ Sĩ’.
Nói là qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc, nhưng sự thật thì qua bên đó nhập vào một đơn vị gọi là ‘đoàn quân thuộc địa’ chỉ dùng riêng vào việc vận tải lương thực ở hậu tuyến mà thôi. Một số bị bắt ra mặt trận, nhưng cũng chỉ là khiêng vác các khẩu súng lớn, đẩy các cổ đại bác và đào hầm trú ẩn. Chẳng có một người “lính thuộc địa” nào, nhất là lính “Tirailleurs Annamites” được cầm súng đánh giặc cả.
Tất cả thanh niên tùng chinh đều được lịnh đến trình diện tại đồn lính Khố xanh ở các tỉnh, rồi từ tỉnh họ được chở đi tập trung lại, đợi tầu sang Pháp.”
Do đó bị bắt đi lính vì nghèo, phải xa vợ, xa con, xuống tàu đứng sau song sắt như bị ở tù, hỏng khóc sao được? Xúc cảm như vậy mới làm được bài thơ não lòng, bi thiết! Rồi bài thơ đó trải qua biết bao thử thách của thời gian mới được trở thành ca dao, thành tiếng hát ru cho thân phận những người cùng khốn.
Chứ không phải là lời của thằng Tây nào với em Me Tây nào ráo trọi như ông Toan Ánh nói đâu?
Thưa quý độc giả thân mến! Đối với những nhà văn tiền bối như Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vỹ, Toan Ánh thì người viết đều kính phục cả , xin ngả nón cúi đầu; nhưng sỡ dỉ theo ông nầy; bỏ ông kia chẳng qua là chuyện chẳng đặng đừng?!
Ca dao, hát ru là tiếng quê hương . Xa quê, viễn xứ, vẫn nhớ về quê cũ, lại nhớ tới ca dao. Em yêu sai: “Ru con ngủ cho em đi chợ!”, mà thằng nhỏ cứ khóc hoài?
Ru tới ru lui chỉ có hai bài làm thằng nhỏ chắc sẽ thuộc lòng như cháo ; mà lớn lên cắc cớ nó hỏi: “Tía ơi! Nghĩa nó là gì vậy?” Làm tía mà hỏng biết trả lời sao thì mất mặt ‘bầu cua’ lắm lắm ! Cho nên mới có bài viết nầy thưa quý độc giả thân mến!
Có gì sai xin bỏ qua và người viết cũng rất hân hạnh sẳn lòng nghe chỉ giáo của các bực cao minh … để mà được học hỏi thêm!

Tenefire hòn đảo vừa thuộc về Châu Âu vừa mang hơi thở của Châu Phi

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Nằm giữa Đại Tây Dương mênh mông, Tenerife hiện ra như một hòn đảo vừa quen vừa lạ: châu Âu mà phảng phất hơi thở châu Phi, hiện đại nhưng chất chứa huyền thoại. Những dòng dưới đây là câu chuyện về một vùng đất của núi lửa, gió và ký ức lịch sử chưa bao giờ ngủ yên. Nơi quá khứ và hiện tại cùng đi theo trong từng bước chân của lữ khách.   

Tôi đến Tenerife vào một buổi sáng gió nhẹ thổi đều ngang bến cảng Santa Cruz. Bước vào một quán cà phê ngồi hướng mắt ra Đại Tây Dương xanh và sâu thẳm. Giữa mênh mông nước, hòn đảo lừng lững như một ngọn núi lạc giữa hai thế giới: vừa thuộc về châu Âu, vừa mang hơi thở của châu Phi. Đó là hòn đảo Tenerife nằm gần bờ biển tây bắc của lục địa đen, cùng vĩ tuyến với sa mạc Sahara khô nóng, nhưng lại được bao bọc bởi khí hậu mát mẻ, dễ chịu quanh năm. Cũng nhờ thời tiết ôn hoà ấy đã tạo nên sức hút riêng cho hòn đảo đông dân nhứt của quần đảo Canary – một phần lãnh thổ của Tây Ban Nha, nhưng mang bản sắc rất khác biệt. 

Lịch sử Tenerife không chỉ nằm trong huyền thoại, mà còn in dấu bằng những trận chiến có thật ghi trong sách sử cũng là niềm tự hào của người dân nơi đây. Ngày 25 tháng 7 năm 1797, Santa Cruz từng là chiến trường trong cuộc tấn công của hải quân Anh do đô đốc Horatio Nelson chỉ huy. Sau nhiều đợt tấn công thất bại, Nelson bị thương nặng và mất cánh tay phải. Trận chiến ấy trở thành niềm tự hào của người dân Tenerife – một chiến thắng đã giữ vững hòn đảo trước tham vọng xâm chiếm. Tôi ngồi ngó mắt ra bến cảng và hướng xa ra biển khơi, nước mênh mông và những tàu buôn, ghe đánh cá đang vô, ra mà hình dung trên vùng nước yên bình đó đã từng vang tiếng đại bác và khói lửa chiến tranh. Ngồi mãi mê theo câu chuyện của đảo đến khi cô phục vụ tới đứng bên chào hỏi. Lúc đó tôi mới day lại ngó qua cô gái. Tôi cười và nói: – Cô cho tôi ly cà phê đen. – Ông có ăn sáng không? Bữa sáng ở Tenerife là sự kết hợp giữa truyền thống Tây Ban Nha, cà phê với bánh ngọt, bánh mì nướng với cà chua kiểu của Anh đầy đủ, với trái cây, bánh mì có súc xích… Tôi không quen ăn sáng nên lắc đầu. – Không, cám ơn. Cô gái đi vô trong tôi mới day qua nhìn những khách trong quán, người thì ngồi ăn, người thì uống cà phê, trông họ thảnh thơi, không vội vã, nghe họ trao đổi bằng tiếng Anh, không cần đoán, tôi cũng biết những người đó đều là du khách. Uống cà phê xong, tôi rời quán đi vô phố. Thủ phủ Santa Cruz de Tenerife không chỉ là trung tâm hành chánh, mà còn là trái tim văn hóa của đảo. Những con phố lát đá, những quảng trường ngập nắng và các công trình cổ kính trông có vẻ lặng lẽ, nhưng để lại những câu chuyện hàng trăm năm về trước. Đi giữa thành phố, tôi luôn có cảm giác đang bước trong một không gian pha trộn kỳ lạ: nhịp sống hiện đại của châu Âu hòa cùng vẻ hoang sơ, thô sơ của một vùng đất núi lửa đã từng phung trào. Đến Tenerife mà không biết về Teide thì quả là một thiếu sót. Ngọn núi lửa sừng sững giữa đảo như một vị thần cổ xưa, với đỉnh cao nhất Tây Ban Nha và cũng là một đảo cao nhất của các hải đảo trên Đại Tây Dương. Tính từ chân núi dưới đáy biển, Teide còn được xếp vào nhóm những ngọn núi lửa cao nhất thế giới. Với người dân Tenerife, Teide không chỉ là một ngọn núi mà còn là biểu tượng, là linh hồn của hòn đảo. Vườn quốc gia Teide – nơi bao quanh ngọn núi này – đã được UNESCO công nhận là di sản Thế giới. Đặt chân vào đây, tôi có cảm giác như lạc sang một hành tinh khác: những dòng dung nham cổ đại đông cứng thành hình thù kỳ dị, những thung lũng rộng lớn phủ đá đen, và bầu trời xanh đến mức tưởng như có thể chạm tay vào. Ít ai biết rằng vùng đất đẹp đẽ này từng là nơi cư trú của người Guanches – một nền văn minh cổ xuất hiện từ khoảng năm 200 trước Công Nguyên. Họ để lại dấu tích qua những kim tự tháp nhỏ, mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có liên quan đến nghi lễ thờ mặt trời. Một dân tộc đã biến mất sau khi người Tây Ban Nha chinh phục quần đảo, nhưng dư âm vẫn còn vương trong đá núi và gió biển. Nhưng Tenerife không chỉ kể chuyện bằng những trang sử hay con số địa lý. Hòn đảo này còn có một đời sống tinh thần rất riêng – vừa huyền bí, vừa dí dỏm, như thể đại dương và núi lửa đã bắt tay nhau để tạo nên một vùng đất biết trêu đùa con người.

Có lần tôi gặp một ông cũng lớn tuổi người bản xứ ngồi trước quán cà phê nhỏ ở Santa Cruz. Ông nói với tôi: “Ở Tenerife, đừng tin vào bản đồ. Mà hãy tin vào gió.” Tôi hỏi vì sao. Ông nhấp một ngụm cà phê, nhún vai: “Vì gió ở đây cũng biết đường.” Tôi không rõ ông nói đùa hay nói thật cho đến vài ngày sau, khi lạc vào con đường quanh co dẫn lên Teide. Gió cứ thổi tôi đi, làm như thể muốn dẫn tôi đến một nơi mà hứng dẫn viên du lịch không không nhắc tới. Từ xa, Teide trông như một vị thần đang ngủ. Nhưng khi đến gần, nó lại giống một ông già khó tính, khuôn mặt nhăn nhó vì mấy ngàn năm bị gió biển tạt vào. Tương truyền, người Guanches xưa tin rằng trong lòng núi có một vị thần lửa bị giam cầm, thỉnh thoảng nổi giận làm rung chuyển cả đảo. Người thời nay thì nói núi đã ngủ yên. Nhưng với tôi, đứng trước Teide, vẫn có cảm giác nó chỉ đang nhắm mắt làm bộ ngủ. Ở chân núi, những khối đá đen nằm ngổn ngang như những quân cờ khổng lồ của một cuộc chơi bị bỏ dở. Có người bảo đó là dấu tích dung nham cổ. Có người lại nói đó là đồ chơi của thần linh. Tôi thì nghĩ, có lẽ Teide bày ra tất cả chỉ để nhắc con người rằng thiên nhiên luôn có cách hài hước rất riêng biệt. Với tôi, điều lạ lùng nhứt ở Tenerife không hẳn là núi hay biển, mà là thời gian. Ở đây, thời gian dường như không tuân theo một quy luật cố định. Buổi sáng nắng như mùa hè, buổi trưa mát như mùa thu, chiều xuống sương mù kéo về như thể mùa đông đang tới. Người dân địa phương gọi đó là “tính khí của đảo”.

Tôi lại nghĩ Tenerife giống như một nghệ sĩ – mỗi giờ đổi một tâm trạng, chẳng ai đoán trước được. Santa Cruz, thành phố từng khiến đô đốc Nelson mất một cánh tay, giờ hiền hòa đến mức tôi  có thể ngồi hàng giờ bên bến cảng chỉ để nghe sóng và nhìn những con làu lướt sóng ra khơi. Khi nhắc về trận chiến năm 1797, người dân kể lại với vẻ mặt nửa nghiêm túc, nửa tinh nghịch. “Nelson mạnh lắm,” họ nói, rồi mỉm cười, “nhưng Tenerife còn mạnh hơn.” Có lẽ vì vậy mà hòn đảo này mang một cá tính rất riêng: biết tự bảo vệ mình, biết kể chuyện, và đôi khi còn cố tình làm người ta lạc đường, chỉ để dẫn đến một cảnh đẹp bất ngờ. Đêm xuống, khi gió biển lướt qua con phố nhỏ, tôi có cảm giác như nghe thấy đại dương thì thầm. Chợt tiếng nói như thì thầm từ trong tâm khơi dậy. Việt Nam quê hương tôi có những hải đảo và suốt chiều dài lịch sử cũng có chiến tranh, và chiến tranh chấm dứt đã hơn nữa thế kỷ rồi vậy mà mỗi khi kể lại vẫn nghe mùi thù hận và sát khí chiến tranh còn trong giọng nói, lời lẽ nặng nề thô tục mạt sát nhau, như muốn ăn thua đủ vẫn chưa thấy được sự bao dung. Còn nơi đây không phải chỉ tiếng sóng ôn hòa, mà còn là tiếng kể chuyện về người Guanches, về những kim tự tháp thờ mặt trời, về những trận chiến xa xưa như kể chuyện cổ tích và cả những bí mật mà chỉ có gió Tenerife mới biết. Và tôi tin rằng nếu ai đến đây, hòn đảo này cũng sẽ kể cho nghe một câu chuyện khác – không dành cho lịch sử, không dành cho du khách, mà dành riêng cho chính mình.  

Dronten. 10.1.2026

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Một buổi trưa. Tôi đang nằm trên võng. Vợ con tôi đi chợ mua nếp và lá sen dùng cho việc bán xôi. Có gã Bộ Đội Việt Nam mang quân hàm thượng úy xuất hiện đột ngột trước ngưỡng cửa.

Gã hỏi: “Có phải anh tên Trần Văn Năm?”

Tôi tái mặt. Có chuyện gì đây? Đối với tôi, người của chính quyền Việt Nam được coi như sứ giả của điềm báo tai ương.

“Vâng. Tôi là Trần Văn Năm.”

Khi giao tiếp với mọi người, tôi tự đặt cho mình một cái tên giả. Nhưng sao gã Bộ Đội này biết? Gã tìm tôi có chuyện gì? Và biết gì về thân thế tôi? Nếu gã phát giác ra tôi đang cư ngụ bất hợp pháp, rắc rối sẽ không nhỏ. Tôi chưa kịp mời, gã đã vào nhà kéo ghế ngồi. Gã là khách, nhưng thái độ và cử chỉ hoàn toàn chủ động. Tôi trở nên lúng túng thụ động trước một đối tượng mà tôi rất ngại phải gặp mặt.

Tôi miễn cưỡng tiếp người lạ bằng chén nước lã: “Xin lỗi, nhà tôi không có sẵn nước trà.”

Gã khoát tay: “Được rồi.”

Tôi ngồi bối rối.

Gã tra vấn: “Anh lên Kampuchia làm gì?”

“Bán bánh mì.”

Gã cười nhạt: “Thật không?”

“Nếu không tin, anh có thể hỏi những người Miên chung quanh đây. Họ biết việc làm của vợ chồng tôi.”

“Ở Việt Nam anh làm nghề gì?”

“Thợ mộc.”

“Cách Mạng vào Miền Nam, anh có đi cải tạo không?”

“Không. Chính sách của Cách Mạng không bắt những người dân như tôi đi cải tạo.”

Gã lắc đầu: “Tôi muốn nói chuyện với anh trong tinh thần hiểu biết và thành thật, nhưng anh chối quanh. Anh biết cô Nga không?”

“Biết.”

Gã nhắc tên cô Nga làm tôi giật mình.

“Cô là gì của anh?”

“Em nuôi.”

“Cô Nga nói, anh là sĩ quan ngụy. Đi cải tạo, được Cách Mạng tha về. Trốn đi vượt biên, và bị người ta giựt hết vàng. Có đúng không nào?”

Thôi rồi. Bể chuyện hết rồi. Tôi hoảng sợ, ngồi im. Có lẽ, mặt tôi cắt không còn giọt máu. Thầm rủa con Nga khốn nạn. Nó lợi dụng sự thân mật của gia đình tôi để điều tra và tố cáo.

Gã tiếp: “Tôi đến đây là muốn giúp anh.”

Gã giúp được gì cho tôi? Muốn bắt bớ hay lường gạt? Gã lầm. Tôi chẳng còn của cải gì cho gã giở trò lưu manh lường gạt.

“Anh vượt biên là hành động trốn chạy. Tôi giúp phương tiện cho anh chạy. Nếu ở lại hoạt động chống đối, tôi bắt anh.”

Tôi ngồi nghe, không dám tin, không dám có ý kiến.

“Tôi đóng quân ở Tân Hao. Về đây công tác, sẵn dịp ghé lại nói chuyện cùng anh. Tôi có quen với một thằng chủ ghe người Miên. Hắn thường chở người vượt biên. Tôi là người cho hắn mượn súng đề phòng bọn cướp biển Thái Lan. Chuyến nào cũng trót lọt an toàn. Khi có dịp, tôi sẽ dẫn hắn đến đây để hai người trực tiếp nói chuyện với nhau.”

Tôi dè dặt: “Cô Nga đã nói về tôi, chắc cũng đã cho anh biết, tôi không còn vàng để vượt biên.”

“Vì thế mà tôi muốn anh gặp hắn để bàn xem có cách nào giúp được anh.”

“Tôi bỏ ý định vượt biên rồi. Hiện tại, chỉ lo làm nuôi vợ con.”

Gã cau mặt: “Cô Nga năn nỉ tôi giúp anh, nhưng anh nghi ngờ mãi.”

“Xin đừng gài bẫy tôi, tội nghiệp.”

“Muốn bắt anh lúc nào chả được. Gài bẫy làm đếch gì.”

“Tôi sẽ hỏi lại cô Nga, về chuyện này.”

Gã đến đột ngột như muốn áp đảo tinh thần tôi. Và ngồi chưa nóng đít, đã thoắt đi như một cơn dông. Thái độ kỳ lạ của gã làm tôi hoang mang, nửa tin nửa ngờ. Mong gặp cô Nga để hỏi về gã sĩ quan bộ đội. Nhưng cô như cánh chim phiêu bạt, biết đâu mà tìm?

Cô Nga về lại Phnom Penh, khi gia đình tôi đang ăn cơm chiều. Lần nào về, cô cũng mang theo món gì đó để ăn với chúng tôi. Tôi nghĩ, cô chịu đựng sự dày vò thân xác để mua món ăn đem đến. Đã mấy lần, tôi bảo cô không nên mua gì cả. Cô chỉ ậm ờ, rồi vẫn làm như những lần trước.

Vợ tôi nói: “Em về đây, đừng phí tiền mua món này món kia. Chị ngại lắm.”

Cô cười: “Không tốn kém bao nhiêu. Em góp phần cho vui.”

Khi nói chuyện, cô thường nở nụ cười rất tươi. Vì thế mà nhiều thằng mê cô chăng?

Sau bữa cơm, tôi chờ cô nói về gã Bộ Đội, nhưng cô cứ lờ đi.

Cuối cùng, tôi mở lời: “Hôm trước có một thượng úy đến nhà anh…”

“Ồ! Hắn đến rồi hả? Có nói gì không?”

Tôi hỏi lại: “Em đã nói gì với hắn?”

Cô gọi vợ tôi cùng ngồi: “Em quen với gã thượng úy này lâu rồi. Hắn có nhiều tiền. Em thắc mắc, với đồng lương chết đói của bộ đội, hắn lấy tiền đâu ra mà nhiều thế? Hắn kể rằng hắn bán bãi cho những tổ chức vượt biên. Nghe chuyện vượt biên, em nghĩ ngay đến anh chị. Em kể cho hắn về những khó khăn hiện tại của anh chị, và yêu cầu hắn giúp đỡ. Hắn đòi điều kiện. Em bảo, thân xác em chính là điều kiện của hắn.”

“Sao em tự hy sinh mình như thế?” Vợ tôi ái ngại.

Cô nói: “Chị ơi, đời em đã ba chìm bảy nổi, quý giá chi đâu mà so đo hơn thiệt. Em tính đưa hắn về đây giới thiệu, nhưng chưa có dịp. Không ngờ hắn tự mò đến trước. Hắn nói với anh chị thế nào?”

“Hắn nói sẽ dẫn thằng cha chủ ghe đến, nhưng anh chưa biết thực hư ra sao, chưa dám tin.”

“Chuyện này có thể tin được. Hắn chịu giúp mà không đặt điều kiện với anh chị, vì hắn biết anh chị không còn gì cả.”

“Tốt đến thế à?”

“Không. Hắn đặt điều kiện với em.”

“Điều kiện gì?”

“Sau khi anh chị ra đi, em làm vợ hắn.”

Vợ tôi hỏi: “Rồi em tính sao?”

Cô bình thản: “Trao đổi như thế cũng hay. Hắn cần tình. Em cần tiền.

Ngồi lặng một lúc lâu, vợ tôi xúc động cầm tay cô Nga: “Chị có lỗi với em,”

Cô ngạc nhiên: “Không. Chị có lỗi gì đâu?”

Cô Nga không hiểu, nhưng tôi hiểu. Vợ tôi ân hận vì đã nghi ngờ có chuyện vụng trộm giữa tôi và cô Nga, và gọi cô là con đĩ ngựa, dù chỉ nói với tôi.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Jun 2026

Mùa này Huế có còn phượng đỏ

Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa

Nơi này cả một trời hoa tím

Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.

(Nhớ Huế- Huy Phương)

Mùa hạ đã tới đâu đây trên những cành hoa “La Jancaranda” nở sớm. Ở đây không có những cành hoa phượng đỏ của quê hương, mà dù chúng ta có tìm lại được màu hoa ấy trên xứ Mỹ ở những vùng ấm áp như Hawaii, Floria thì cũng không thể nào tìm lại được tiếng ve sầu của một thuở xa xưa của tuổi học trò. Màu sắc và âm thanh ấy hình như mỗi ngày hè đến vẫn thường hiện hữu với nhau, để lại cho chúng ta bao nhiêu kỷ niệm những ngày ngồi ghế nhà trường, thuở ấu thơ.

Từ ngày ra đất khách đến nay, hình ảnh nhắc nhở chúng ta mùa hè đã tới là những cành hoa phượng tím, nhưng âm thanh những tiếng ve đã bặt từ lâu, có còn chăng là để lại những dư âm mờ nhạt trong tâm tưởng. Vậy mà không ngờ  ở nơi xa xôi này, cách quê hương cả nửa vòng trái đất,không phải tôi, mà những người Việt xa xứ ở vùng Đông Bắc nước Mỹ, sắp có dịp nghe được lại âm thanh của một thời xa xưa. Đó là nguồn tin của National Geography cho biết, hàng tỷ con ve sầu, bặt tiếng sau mười bảy năm dài, chôn kín trong lòng đất sẽ xuất hiện trở lại vào mùa hạ năm nay tại một vùng đất rộng lớn bên bờ duyên hải Đại Tây Dương từ Georgia cho đến tận biên giới Mỹ- Canada. Trời đất sinh ra giống ve, thân nhẹ, bụng rỗng, để tiếng kêu có thể lớn, suốt cuộc đời ngắn ngủi chỉ biết phục vụ cho chuyện rong chơi, lên tiếng hát cho đời mua vui, vì sao người đời lại lên án ve và so sánh ve như những người không biết nhìn xa thấy rộng chỉ biết ăn chơi. Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine mô ta hình ảnh chú ve một cách tệ hại:

“Ve sầu kêu ve ve

Suốt mùa hè

Đến kỳ gió bấc thổi

Nguồn cơn thật bối rối

Một miếng cũng chẳng còn

Ruồi bọ không một con!”

và ông La Fontaine tạo ra hình ảnh một chú ve đói rách, tồi tàn phải “vác miệng chịu khúm núm, sang chị Kiến hàng xóm, xin cùng chị cho vay, giăm ba miếng qua ngày!”

Chị Kiến trọc phú, vô cảm lại lên giọng nhà giàu: “Xưa chú hát, nay thử múa coi đây!”

Làm sao có thể so sánh loài ve “ca hát cho đời mua vui”  với giống kiến nhỏ nhoi, hèn mọn, tham lam. Ở đâu có thứcăn, dù thối tha như xác chết, bẩn thỉu giòi bọ, xa xôi bao  nhiêu, giống kiến cũng đánh hơi rất giỏi, hô hào, động viênanh em, giòng họ, đồng chí, quần chúng, nhanh chân, xếp hàng đến chia phần. Chúng hì hục khuân vác, lôi thôi, lếchthếch đi từng đàn, mang chiến lợi phẩm về hậu cứ, giữa  đường thấy ai quẳng vào một miếng mồi mới, là cả bọn lại kéo nhau lại, cấu xé chia phần. Thời thơ ấu chúng ta ai lại không bị kiến cắn một lần, ở chỗ kín cũng như chỗ hở, và chưa bao giờ dám bắt kiến, vì kiến là loài hung dữ, nhưng tuổi thơ nghịch ngợm lại kiếm mũ mít, dùng sào, gậy đi bắt ve sầu, một giống hiền lành chẳng bao giờ biết cắn, chích hay tấn công loài khác. Thật ra suốt cuộc đời ve chẳng cần nhờ cậy vay mượn ai, phần lớn cuộc đời của ve là thời kỳ ấu trùng sống trong  lòng đất ở độ sâu khoảng từ 30 cm đến 2,5 m, hút nhựa rễcây để sống và có cặp chân trước đào bới rất khỏe. Khi đến giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng để kết thúc thời kỳ ấu trùng, những con ve trưởng thành đào một đường hầm lên mặt đất và chui lên, lột xác lần cuối, để kỷ niệm bằng cái vỏ ve già gắn chặt trên một cái cây nào đó và ngậm sương, lấy hương hoa của trời đất để cất tiếng hát ca. Ve sầu ấp ủ từ lòng đất, nhưng lúc trưởng thành biết leo lên cao, hợp đoàn cùng cất tiếng hát, suốt đời không biết giành giật, bon chen ví như người quân tử hay kẻ thánh nhân, đâu lại đem so sánh với quân tiểu nhân, ô hợp chỉ biết cái ăn uống phàm tục như loài kiến.

Trên mỗi mẫu đất, giống ve Magicicada tập trung từ hàng chục nghìn đến cả triệu con trên cây lớn cây nhỏ, và không như loài côn trùng hay chim chóc khác, hát mỗi con một điệu. Giống ve sầu đoàn kết “triệu con tim- một tiếng  nói” cùng cất lên một giọng ca đồng nhất. Những buổi trưa hè oi ả, trong không gian im vắng, đôi khi chúng ta tưởng như loài ve đang say ngủ, nhưng chỉ cầnmột tiếng động cơ xe qua trên đường, cả khu vườn bỗng bừng dậy với tiếng ve inh ỏi, cơn sóng âm thanh dồn từ khu vườn này chạy lan qua khu vườn khác. Xưa, ở kinh thành Huế, có một vị quan khó tính, ông thường bực mình vì tiếng ve mỗi trưa làm cho ông khó ngủ, nên sai lính ra vườn đuổi ve. Ve không phải một hai con như gà dễ đuổi, trong khu vườn có cả trăm nghìn con ve, chỉ cần một tiếng động mạnh, hay rung thử một thân cây, là tất cả ve đều đồng loạt cất tiếng, nên đuổi ve cũng như hốt sạch lá rừng là điều không tưởng.

Ve đực tạo âm thanh bằng cách rung hai cái “loa” làm bằng màng mỏng, phát triển từ lồng ngực, có sườn bên trong. Những vòng sườn được co giãn thật nhanh, làm rung màng mỏng, tạo sóng âm thanh. Bụng ve rỗng nên có thể khuếch đại thành tiếng ve kêu rất to. Ve lắc mình và dùng cánh để tạo nhịp lên xuống cho “bài hát” của mình. Mỗi giống ve có một thứ tiếng, cường độ, cao độ khác nhau. Tiếng ve hát cũng là lời mời gọi, âu yếm đối với người tình. Vì sao người ta gọi là tiếng ve … sầu? Có phải vì tiếng ve đều đặn, nghe buồn nản, hay tiếng ve thường gợi nhớ đến mùa hạ, mùa của tuổi thơ ấu đã qua, mùa của ly biệt. Mặt khác, loài ve có xầm xì gì chuyện thị phi của ai đâu, mà người đời khắc nghiệt gán cho thành ngữ “lời ong, tiếng ve!”

Tôi chưa hiểu vì sao loài ve xuất hiện ở miền Đông nước Mỹ, mà không ở đây, nơi miền Tây nắng ấm, cho tôi được một lần, sau bao nhiêu năm bỏ nước ra đi, được nghe tiếng ve của một thời xa xưa, giữa một trưa hè vắng lặng hôm nay.