This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bến là một nơi cuộc đời tị nạn CS trôi theo dòng đời cuồng lũ. Với tôi đó là bến Footscray.
Footscray là một cái tên bắt nguồn từ Foots Cray, một ngôi làng nhỏ nằm bên dòng sông Cray, cách London, Anh quốc không xa. Giờ đây, Footscray là một vùng ngoại ô tấp nập của thành phố Melbourne, cách trung tâm khoảng 5 cây số về phía tây. Nằm trong thành phố Maribyrnong, Footscray là một vùng đất sôi động với sự pha trộn tinh tế giữa khu dân cư, thương mại và công nghiệp.
Từ thời xa xưa, Footscray vốn là đất của hai bộ tộc thổ dân Wurundjeri Woi Wurrung và Boonwurrung thuộc quốc gia Kulin, đã sinh sống trên vùng này hơn 40,000 năm.
Người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến đây là Charles Grimes vào năm 1803.
Sau cơn sốt vàng những năm 1850, Footscray bừng tỉnh, phát triển thành khu công nghiệp nhộn nhịp. Nhưng ngày nay, với sự đổi thay của thời gian, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa đa dạng, là điểm đến cho nghệ sĩ, người sành ăn và những ai mê sự sôi động của cuộc sống đa sắc tộc.
Góc đường Barkly và Nicholson năm 1954,
Hãy thử nhớ lại những con đường mà bất cứ ai từ bà con mình đến đây đều quen mặt: Barkly Street, Droop Street, Geelong Road, Irving Street, Moreland Street, và Whitehall Street.
Năm 1954, góc đường Barkly và Nicholson là một nơi không mấy khác biệt so với hôm nay. Tuy nhiên, những con người đã đi qua đây trong tấm hình đen trắng cách nay 70 năm thì chắc chẳng còn ai hiện diện. Từ đó đến nay, vùng đất này chứng kiến sự thay đổi không ngừng của thời gian và con người.
Tuy nhiên, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn cả là câu hỏi:
“Barkly là ai mà được tên đường mang danh?
Và Sir Francis Nicholson là ai mà tên ông cũng được đặt cho đường phố nổi tiếng nơi đây?”
Sir Henry Barkly – Người kiến tạo nước Úc. Sir Henry Barkly, sinh ngày 24 tháng 2 năm 1815 tại London, là một nhà quản lý thuộc địa tài ba người Anh. Ông giữ chức Thống đốc tiểu bang Victoria từ năm 1856 đến 1863, một giai đoạn trọng đại trong sự phát triển của vùng đất này.
Trong nhiệm kỳ của mình, Barkly đã giám sát việc mở rộng hệ thống đường sắt, góp phần thúc đẩy kinh tế và giao thông, đồng thời là người sáng lập Đại học Melbourne, một trong những biểu tượng học thuật hàng đầu nước Úc hiện nay.
Sir Henry Barkly
Danh hiệu “Sir” mà ông mang là một sự tôn vinh của Hoàng gia Anh dành cho những người có đóng góp xuất sắc cho đất nước và các thuộc địa. Trước khi đến Victoria, Barkly từng làm việc ở British Guiana và Jamaica, còn sau đó ông giữ chức Thống đốc ở Mauritius và Thuộc địa Cape.
Cái tên Barkly không chỉ được ghi nhớ qua những con đường như Barkly Street mà còn lưu danh trong lịch sử thuộc địa và phát triển của Úc. Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 1898, nhưng dấu ấn của ông vẫn còn mãi với thời gian.
Sir Francis Nicholson – Người đặt nền móng cho nước Úc mới
Sir Francis Nicholson (1753–1818) là một nhân vật không kém phần quan trọng trong lịch sử thuộc địa Úc. Ông giữ chức Phó Thống đốc New South Wales từ năm 1800 đến 1804, rồi là Thống đốc Van Diemen’s Land (Tasmania ngày nay) từ 1804 đến 1808.
Ông nổi tiếng với những nỗ lực ổn định đời sống và phát triển các thuộc địa đầu tiên của nước Úc. Nicholson đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện nông nghiệp và quản lý tù nhân, những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền tảng xã hội mới.
Tên tuổi của ông cũng được đặt cho nhiều địa danh, trong đó có Nicholson Street – một trục đường quan trọng ở Footscray, góp phần ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá và phát triển vùng đất mới.
Sir Francis Nicholson
Riêng tôi, ít nhất một tuần một lần, ông bạn thân Chín Triệu, dân gốc Xóm Vạn Chài cuối đường Trần Quang Khải Tân Định Sài Gòn, lại xách xe, mang theo chai rượu chát (red wine) rủ rê tôi xuống nhà hàng Thanh Vinh – tọa lạc bên tay trái góc Barkly và Nicholson để lai rai, nói dóc chơi.
Đó là nơi mà bao ký ức cũ – từ năm 1954 đến hôm nay – vẫn còn vẹn nguyên như tấm hình đen trắng in dấu thời gian. Đôi khi, chúng tôi nhìn nhau mà tự hỏi, mấy ai trong số những người xưa cũ còn hiện diện giữa chốn phồn hoa này?
Tôi vẫn nhớ lời em yêu của tôi, tức bà La Sát, bà chằn lửa của tôi tức là con vợ tôi thường hay nói, mỗi khi tôi dành nhiều thời gian “tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc”.
Em rầy tôi như má rầy con vậy:
“Cơm không nấu chỉ biết ăn. Ăn xong chén không rửa. Đồ không giặt! Tối ngày cứ tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc không hà! Thiệt là đồ vô tích sự!”
Ha ha! Có lẽ trong mỗi câu chê trách ấy là cả một tình cảm thân thương, một sự quan tâm lặng thầm mà chỉ người trong cuộc đời nô lệ mới thấu hiểu.
Và cũng bởi lẽ, như tôi vẫn nói với con cái mình: không phải cứ đi học trường lớp mới là học. Học là cả một cuộc đời, học trong từng phút giây sinh hoạt, học trong những cuộc chuyện trò, học trong men rượu và trên những con phố quen thuộc.
Footscray hôm nay là minh chứng sống động cho sự giao thoa giữa lịch sử và hiện đại, giữa văn hóa bản địa và ảnh hưởng Âu Mỹ, giữa quá khứ công nghiệp nặng nhọc và tương lai đô thị hóa năng động.
Tên tuổi Sir Henry Barkly và Sir Francis Nicholson không chỉ là dòng chữ trên các bảng tên đường mà còn là những biểu tượng cho lòng kiên trì, sự phát triển và cống hiến cho vùng đất Úc xa xôi này.
Và với riêng tôi, dù có đôi khi bị gọi là “đồ vô tích sự”, thì Footscray vẫn là mái nhà, là miền ký ức, là nơi tình bạn và những câu chuyện đời thường vẫn còn vang vọng bên những con phố thân quen.
Mới hôm qua lúc tôi đi qua khu chợ gần nhà, trên đường lác đác lá khô bay theo cơn gió nhẹ, mớ lá còn lại dồn đống nằm trên mặt đường, khi tôi dẫm lên chúng kêu lạo xạo dưới gót giày. Chỉ sau một đêm mưa, tất cả lá vàng nằm la liệt trên đường đều bị ướt, mặc tình cho tôi dẫm lên mà không còn nghe chúng kêu lạo xạo và cũng không còn nhúc nhích như ngày hôm qua. Tuần này trường nghỉ thu, đám trẻ không đi học và trời còn sớm ít người đi đạp lên lá nên màu sắc những chiếc lá vàng vẫn còn nguyên chưa thay đổi. Sau cơn mưa không gian trong sạch, loáng thoáng sương pha, cây cỏ sạch sẽ quá làm lòng ái náy, tôi bước chậm hơn và nhìn kỹ xuống từng bước chưn để tránh đạp lên những chiếc lá vàng ướt và sạch.
Hồi gia đình tôi mới dọn về đây, lúc đó hai con gái vừa mới lớn, cũng trên con đường này tôi thường dẫn hai đứa tới trường. Mới đó mà tôi đã già rồi, các con cũng đã lớn, cảnh vật có nhiều thay đổi, nhưng ngôi trường nằm bên kia chiếc cầu bắt ngang kinh, cạnh bên là trạm y tế và phòng thể thao. Phía bên phải, cách đường đi bộ và đường xe đạp có hai siêu thị bán thực phẩm, một nhà hàng nhỏ và quán bán khoai tây chiên cạnh bên tiệm bán bách hoá phẩm. Tất cả phát triển rộng lớn, chợ xôn xao hơn, nhứt là những ngày thường, tiếng nói tiếng cười rộn rã của đám học trò trong giờ ra chơi làm sống động sân trường. Cảnh vật có thay đổi nhưng mùi thơm, âm thanh và những màu sắc quen thuộc của các loại bông hoa đẹp đẽ nơi này thay đổi theo thời gian tôi đều thấy rõ. Đúng rồi, hàng cây hai bên đường! Tôi biết nó lúc con đường này mới làm, người ta trồng nó hồi còn non và đọt cao ngang ngực, bây giờ nó đã lớn và cao nhìn rớt nón luôn. Tuy nhiên nó là hai hàng cây mà tôi rất thích, lớp vỏ bao thân cây màu xám điểm vết trăng trắng, đen đen trông vững chãi và ra dáng phong trần. Mỗi khi đi ngang tôi thường vịn vào một gốc cây và nhìn hai hàng cây hai bên đường dài, từ gốc lên tới ngọn, giữa hai tàn lá hiện ra một khung trời lạ mắt; mây trắng, mây đen tạo ra những nét ngộ nghĩnh trên nền trời xanh.
Sáng sớm có sương mỏng, đi trên đường lòng lâng lâng niềm nhớ. Không biết mùa thu với lá vàng ướt trầm buồn hay là vì tin tôi vừa nhận được hồi hừng đông mà trong lòng có hơi xao động. Đứa cháu nhắn:
– Ba con mất rồi, giờ còn chú, chú nghỉ hưu dìa với tụi con, tụi con sẽ lo cho chú.
Nghe cháu nói cũng động lòng, không biết có phải vì chuyện cháu nói khiến tôi buồn bã hay là cảnh vật mùa thu làm lòng tôi chùng xuống. Hơn hai tháng trước đây, lúc anh Bảy còn sống tôi có hứa với ảnh, sau chuyến qua Úc thăm chị Sáu, khi trở về Hoà Lan tôi sẽ kiểm tra sức khoẻ, nếu tất cả ổn hết tôi sẽ về Việt Nam ăn Tết và ở chơi với ảnh vài tháng.
Rồi tôi sang Úc, hơn bốn mươi năm trước gia đình anh chị Sáu và đứa em Út của tôi vượt biển qua Úc định cư, gộp chung chưa được mười người, bây giờ cộng thêm cháu chắt lên hơn hai chục mạng, có mấy đứa kêu vợ chồng tôi là ông, bà. Thăm nhau một tháng, lúc tôi và Trúc Thanh sắp về thì nghe tin anh Bảy đã chết. Nghĩ chị Sáu lớn tuổi hơn thế nào cũng chết sớm nên tôi qua thăm trước, ai ngờ anh Bảy chết trước. Vậy là lời hứa về quê ăn Tết và ở với ảnh coi như mắc nợ rồi, chợt nghe mí mắt ươn ướt, tôi thọt tay vô túi áo định lấy giấy lau. Hôm qua Úc anh rể, chồng chị Sáu, mua tặng tôi chiếc áo tay cụt và có mười cái túi lớn nhỏ phía trước. Anh nói:
– Cậu mày lớn tuổi thường xuyên bịnh hoạn, bận áo nhiều túi đựng thuốc men và đồ dùng cá nhân rất tiện mỗi khi đi đâu đó.
Nghe cũng có lý và tin tưởng sự tiện ích của chiếc áo mười túi nên thuốc men và có gì nho nhỏ mà thấy cần những lúc đi đâu đó tôi đều bỏ vô mấy túi áo mang theo. Tôi thọt vô túi đụng ngay chùm chìa khóa, chùm chìa khoá mỗi khi cần tôi thường tìm nó, có khi mất cả buổi, giờ không cần thì đụng phải nó ngay. Lục qua túi khác đụng phải tiền cắc và cái bóp, thêm một túi nữa thì đụng mấy vỉ thuốc. Chậc! Bây giờ mới thấy cái áo có mười túi này rất phiền phức, ý là đồ đạc tôi bỏ chưa đầy hết mười túi. Lục lạo một hồi mới tìm thấy một gói khăn giấy còn nguyên mà Trúc Thanh đã nhét vô túi nhỏ trên ngực áo mỗi khi tôi ra đường. Moi được sắp khăn giấy, rút ra một tờ thì cơn xúc động đã qua rồi, những chuyện như vầy trước đây tôi chỉ đưa tay áo lên dụi dụi mắt, mũi mấy cái là xong. Nhưng cũng đưa khăn giấy lên lau mắt và nhẹ nhàng khịt mũi. Chợt nhớ câu: “người tính không bằng trời tính”. Thiệt ra hồi nào tới giờ tôi chưa từng nghĩ tới chuyện ngày về hưu tôi sẽ về Việt Nam để dưỡng già. Dù sao thì anh Bảy cũng đã chết rồi, chuyện về nước sẽ tính sau. Nhận thức được cuộc sống quá ngắn ngủi, bất thường, sống nay chết mai. Vì vậy hôm trước khi từ giã anh chị Sáu và các cháu bên Úc trở về Hoà Lan tôi có nói:
– Vài ba năm nữa biết ai còn ai mất nên em hổng dám hẹn trước ngày nào sẽ qua thăm anh chị và các cháu.
Chỉ có các cháu còn trẻ nhao nhao cho rằng tôi sẽ sống lâu trăm tuổi. Nhưng anh chị Sáu cũng nhận biết điều bất thường của kiếp con người nên không nhắn nhủ, hẹn hò chuyện sau này thăm viếng. Giọng chị nghẹn ngào nói một câu:
– Ờ, cậu dìa bên bển giữ gìn sức khoẻ.
Thiệt ra tôi rất hài lòng với cuộc sống ở đây, và cảm thấy ánh nắng ban mai âm ấm chiếu lên mặt rất tuyệt vời. Tôi định đi qua cầu rồi tà tà trên con đường dành cho người đi bộ và thẳng tới đầu đường quẹo qua con đường nhỏ bọc ra phía sau cuối khu chợ, vô siêu thị mua vài món đồ mà sáng nay trước khi đi làm Trúc Thanh đã dặn, sợ tôi quên, khi tới hãng Thanh còn gởi tin qua WhatsApp, cô ghi rõ ràng đầy đủ những món cần để nấu súp mùa thu. Tôi đi chưa tới đầu cầu, chợt thấy một chiếc xe đạp rà thắng tắp vô lề, một người đàn bà bước xuống gạt chưn chống xe, xong bà đi tới trước mặt tôi:
– Dạ, tôi vẫn khoẻ, bà và ông nhà cũng khoẻ phải không?
– Khoẻ, khoẻ hết.
Đoạn bà nói tiếp:
– Hôm thứ Bảy tuần rồi tôi gặp Thanh làm Voedsel Bank (một hội từ thiện dự trữ thực phẩm để dành phát cho dân nghèo trong thị xã) trong siêu thị ở Biddinghuizen.
– Ờ, mỗi tháng Thanh làm vài giờ khi siêu thị này, lúc siêu thị kia.
– Tốt rất tốt. Dạo này thấy nó tỉnh táo và khoẻ ra.
Hồi Trúc Thanh bệnh, những chuyến tôi hải hành, vợ chồng bà đem Thanh về nhà săn sóc, nhà bà ở một xã gần đây, đạp xe chừng mười phút, vậy mà rất lâu tôi không tới thăm gia đình bà. Tôi vẫn nhớ ông, bà nhưng không hiểu sao tôi chỉ nhắc nhở Thanh mua quà tặng mỗi Giáng Sinh hay ngày sinh nhựt của ông bà, chớ lâu lắm rồi chưa lần tới thăm. Tôi nhìn bà Emma và cảm thấy áy náy trong lòng, tôi nói:
– Nhờ bà giúp đỡ nên Thanh mới được khoẻ.
Nói ra mới thấy câu nói mình vô duyên, tôi đưa tay lên gãi gãi cái đầu trọc. Bà Emma phớt lờ câu nói và cử chỉ khó coi của tôi. Bà cười vui vẻ hỏi:
– Nghe Thanh nói ông đã nghỉ hưu?
– Ờ, tôi nghỉ được nửa năm rồi.
– Tốt, tốt cho Thanh, có ông ở nhà nó hết buồn.
– Dạ, tôi cũng nghĩ vậy, vì hai đứa con gái của tôi đã ở riêng hết rồi, nên mỗi khi đi xa trong lòng tôi hổng yên chút nào hết, sợ Thanh ở nhà mình ên bị trầm cảm trở lại, nhứt là những tháng lạnh mùa thu và mùa đông. Vì vậy khi công ty đề nghị cho nghỉ hưu sớm tôi chấp nhận liền.
– Ông làm việc lâu rồi mà.
– Cũng hơn bốn mươi năm.
– Oh, lâu quá.
Nói xong Emma từ giã tôi để ra chợ, trước khi đạp xe đi bà còn dặn:
– Nói với Thanh hôm nào tới nhà chơi.
– Chắc rồi, chúng tôi sẽ tới.
Nhìn theo tới khi bà Emma đạp một khoảng xa tôi mới ngước mặt lên hít một hơi thiệt sâu và thở ra nhè nhẹ. Hơi thở của mùa thu! Tôi tiếp tục bước, đối với tôi thời gian thả tà tà, hít thở cái không khí trong lành, nó cho tôi không gian rộng rãi và thời gian đủ để sắp xếp những xáo trộn trong đầu. Hơn vậy nữa, đi bộ cũng là dịp cho tôi ngẫm nghĩ coi có chuyện gì đó để ghi chép lại.
Một cơn gió thoáng qua, nghe ớn lạnh, tôi rùng mình một cái rồi đưa tay kéo cổ áo khoác cao hơn và quấn chiếc khăn quàng quanh cổ cho kín thêm chút nữa. Tôi nhận ra rằng đứng giữa những hàng cây, nơi mặt trời không thể chiếu qua những ngọn cây khi chúng còn xum xuê lá là một nơi khá mát mẻ vào mùa hè, thời gian đó tôi với Trúc Thanh có thể đi bộ vào trong bóng mát của những rừng cây ở quanh vùng hoặc đạp xe qua bất cứ nơi đâu trong đất nước Hoà Lan nhỏ bé mà xinh đẹp này.
Khi đi tới đầu cầu chợt nghe tiếng động dưới kinh, tôi đi chậm lại, tay vịn lan can cầu, đưa mắt ngó xuống dòng nước thấy một bầy vịt bơi qua. Mấy tháng trước đây, hai con vịt này là một cặp vợ chồng cùng với những con vịt con kêu chíp chíp, chúng bơi trong lau sậy bên bờ kinh tìm mồi. Bây giờ con cái của vợ chồng vịt đã lớn, chúng sẽ sanh sản và tự làm cha mẹ sau vài tháng nữa. Có rất nhiều thứ đã thay đổi từ mùa xuân sang mùa thu, những bông hoa tươi nở vào mùa xuân bây giờ không còn, lá trên hàng cây xanh đã biến thành vàng, đỏ và nâu. Mấy ngày qua lá cây đã rụng nhiều, bằng chứng là chúng nằm la liệt mặt đất, cứ đà này chẳng bao lâu trên cây sẽ không còn lá nữa.
Đi ra giữa cầu hồi nào không hay, khi nghe đàn vịt kêu cạc cạc. Tôi tỉnh lại sau cơn suy nghĩ vu vơ, đưa mắt nhìn xuống thấy bầy vịt xôn xao dòng nước dưới dạ cầu. Tôi xoay người nhìn lại phía sau, thấy một phụ nữ ngồi trên chiếc xe điện dành cho người tàn tật, xe điện không gây tiếng động, rất êm và rất nhẹ nhàng, cô ta gần bên hồi nào tôi không hay. Tay cô cầm một túi bánh mì cũ và lấy ra xé từng miếng bánh sandwich trắng liệng chúng xuống mặt nước trước mặt. Tôi đứng nhìn những chú vịt ăn ngấu nghiến những miếng bánh mì ướt với thái độ biết ơn. Tôi nhìn kỹ người phụ nữ, cô ta bận chiếc áo khoác len màu nâu, tóc nhuộm màu nâu, cắt tỉa gọn gàng và chiếc váy trắng lộ ra từ bên dưới, sự trầm ấm của màu nâu được cân bằng nhờ sắc trắng tươi sáng rất sang trọng với đôi giày chắc chắn màu nâu sẫm, trông hài hoà với sắc thái mùa thu. Nhìn cách ăn mặt và nét mặt phúc hậu, đoán chừng cô ấy tuổi trên năm mươi, thích ăn diện, thích làm đẹp và biết sẻ chia. Không biết cô bị bệnh gì mà phải ngồi xe dành cho người tan tật? Tôi lại nghĩ về Trúc Thanh, người phụ nữ từ ngày về sống với tôi đã chịu cực chịu khổ từ thể xác đến tinh thần trong những ngày tháng tôi đi xa. Có lẽ Thanh cũng như người phụ nữ này, cũng thích ăn diện, thích làm đẹp và giương mặt hiền hậu thoáng chút u buồn. Năm mươi tuổi Thanh bị đột quỵ trong lúc tôi còn lênh đênh trên biển, nếu đêm đó hổng có con gái lớn ở nhà thì chắc chắn Thanh không sống được. Khi tôi trở về thì Thanh đã nằm nhà thương, bác sĩ phát hiện van tim Thanh có vấn đề và đề nghị phải phẩu thuật càng sớm càng tốt. Sau ngày phẩu thuật Thanh bị bệnh trầm cảm, nhứt là những tháng ngày cuối năm khi trời âm u trở lạnh, thu sang đông, trời càng lạnh càng âm u thì bệnh của Thanh càng trầm trọng. Tôi ngừng suy nghĩ khi thấy người đàn bà liệng mớ bánh mì cuối cùng và chờ đàn vịt ăn hết bánh rồi bà mới cho quay xe đi. Người phụ nữ ngồi điều khiển chiếc xe điện rất thành thạo, thong thả nhẹ êm chạy giữa hai hàng cây trên con đường la liệt lá vàng, trông quý phái làm sao. Khi người phụ nữ xa rồi, tôi nhìn lên hàng cây, những chiếc lá rất mỏng manh, màu vàng sắp rụng, cành cây trống trải, trông nhẹ nhàng như trút đi gánh nặng. Lại nghĩ về Trúc Thanh, bề ngoài trông yếu đuối, nhưng sức mạnh tinh thần rất mạnh mẽ, cơn trầm cảm nặng đến đỗi mỗi lần nhìn thấy tôi là Thanh vô cớ sợ hãi, có lúc chúng tôi phải tạm cách ly để Trúc Thanh trị bệnh. Cơn bệnh kéo dài gần hai năm, tưởng như không còn trị được nữa, nhưng cuối cùng Thanh cũng vượt qua. May mắn thay, nhờ ơn các bác sĩ và những người từ tâm trên đất nước nhân ái đầy tình người này đã giúp Thanh vượt qua những năm tháng tối tăm mà không bị ngồi xe điện dành cho người tàn tật như phụ nữ cho vịt ăn vừa rồi. Tôi đi qua khỏi cầu đến cuối đoạn đường và quẹo qua con đường cạnh bờ nước dẫn tới siêu thị. Chợt nhớ lời Trúc Thanh nói lúc ăn sáng:
– Trời đã vào thu rồi, mỗi ngày một lạnh thêm, cũng đến lúc chọn công thức nấu súp mùa thu.
– Quan trọng vậy sao?
– Ăn uống hổng quan trọng thì cái gì là quan trọng đâu?
Tôi biết nấu những món ăn ngon và trình bày dĩa thức ăn cũng bắt mắt và cũng biết mùa thu bên Hoà Lan có những món ăn, món súp được chế biến bằng trái cây, rau, củ trong mùa. Mấy năm trước Thanh nấu bí rợ khi trời trở lạnh. Vào khoảng thời gian này, bí rợ có sẵn trong các chợ bán rau. Trúc Thanh làm việc trong một hảng chế biến thức ăn đóng hộp nhựa bán trong siêu thị và có học về dinh dưỡng. Thanh cũng thích nấu ăn nên hay nói về dinh dưỡng trong cách ăn uống.
– Mùa thu và mùa đông con người ta rất dễ xúc động, nếu không chú ý hệ thần kinh, hô hấp và tất cả các hoạt động trong cơ thể thì rất dễ mất cân bằng. Ăn uống hợp lý thì cơ thể và tâm trí được cân bằng làm cho người ta cảm thấy tràn đầy năng lượng, hạnh phúc, nhiệt tình và sáng tạo; Tâm trí bình tĩnh, nhận thức rõ ràng và sống động thì những chứng lạnh, khô, thô thiển sẽ biến mất.
Mặc dù Thanh nói không có gì sai, nhưng nói nhiều quá sợ bệnh trầm cảm tái phát, nhứt là những ngày trời trở lạnh. Định tìm cách ngăn lại nhưng khi nhìn ra cửa kiếng phía trước thấy sương lãng đãng bao hàng cây. Chợt nhớ tới lời người tư vấn nói trước đây: “người rối loạn lưỡng cực, còn được gọi là trầm cảm, dù được trị hết rồi, nhưng họ hay khó chịu với những lời tiêu cực hay bất đồng trực tiếp.” Và khuyên tôi nên nói chuyện nhẹ nhàng với Thanh. Hiểu được nguyên do, từ đó tới giờ tôi không dùng lời có tánh khiêu khích để nói với Thanh. Tôi bèn nói vuốt theo:
– Ừa, Papa thường bị môi khô, đôi lúc tay, chưn bị lạnh và khớp đầu gối đau nhiều hơn, nhứt là khi nhìn cảnh vật âm u lạnh ngắt, trong lòng bồn chồn khó tả.
– Bởi vậy người ta mới bày ra cách chuẩn bị thức ăn, nước uống cho phù hợp theo mùa.
Mùa thu năm nay Thanh đổi món mới. Theo Thanh thì năm nay thịnh hành món súp Âu châu kết hợp châu Á, bởi vì có xài nước cốt dừa. Đó là một món súp rau, đậu đơn giản rất thích hợp cho mùa thu. Thiệt ra thì những món súp đậu của Hoà Lan ăn một lần là ớn cả năm. Nhưng thấy Thanh nhiệt tình quá, với lại món súp này cũng khá hấp dẫn. Dù sao món ăn có nhiều rau, củ rất thích hợp cho mọi người, mọi lứa tuổi.
Trước khi vô siêu thị tôi bấm điện thoại xem lại nguyên liệu cơ bản của món súp Á, Âu mà Trúc Thanh đã ghi trước khi đi làm. Gồm có đậu ván đỏ (nhãn hiệu Bonduelle), cà chua, cà rốt, củ hành trắng, tỏi, ớt đỏ, ớt bột, thìa là, bột cà chua, nước cốt dừa… Những món này trong các siêu thị ở Hoà Lan đều có bán.
Chợt nhiên tôi phát hiện ra một điều: mấy chục năm làm đầu bếp trên tàu tôi gần như không khi nào phải lục coi cần thứ nào, chỉ đọc qua sách một lần là nhớ. Vậy mà giờ đây tôi rị mọ coi từ chữ trong điện thoại. Hổng chừng khi vô trong siêu thị rồi tôi cũng phải mở điện thoại rà soát lại một lần nữa cho chắc ăn.
Những ngày bán bánh mì, tôi quen một cô tên Nga. Tôi gặp lần đầu khi cô đáp chuyến xe đò từ Krong Kaoh Kong về Phnom Penh. Cô bước xuống đường Thu Mút trong cái dáng vẻ của một cô gái bụi đời. Hút thuốc và ngồi quán uống cà phê. Cô mua bánh mì, ăn kèm với bò kho. Thấy tôi là người Việt, cô bắt chuyện làm quen. Vài lần như thế, đôi bên tỏ ra thiện cảm. Cô cho biết đã sống bốn năm trên xứ Chùa Tháp. Quê cô ở Bến Tre. Năm hai mươi tuổi, cô có người yêu đi Bộ Đội, đóng quân trên đất Kampuchia. Cô lên đây tìm người yêu, nhưng anh đã chết tan xác trong một cuộc phục kích bằng mìn của quân Khmer Đỏ. Đau buồn không muốn trở về quê cũ, cô sống lang thang nương tựa vào các trại quân Việt Nam. Tôi hiểu ngay rằng cô đang làm gái điếm. Năm nay, cô hai mươi bốn tuổi. Bốn năm lăn lóc bụi đời, cô già đi trước tuổi. Tôi cũng nói với cô về chuyện gia đình làm ăn sinh sống. Cô ngỏ ý muốn thăm vợ con tôi. Tôi dẫn về nhà, giới thiệu vợ con. Từ đó trở đi, đôi bên thành chỗ thân quen. Mỗi lần về Phnom Penh, cô ngủ lại nhà tôi.
Có lần cô nói: “Em xin kết nghĩa làm em nuôi của anh chị.”
Tôi hỏi đùa: “Ai sẽ nuôi ai?”
Cô cười: “Anh chị nuôi em.”
“Nhà anh chỉ có xôi và bánh mì.”
“Hai thứ đó cũng đủ no rồi.”
Buổi tối, vợ tôi thì thầm: “Giai đoạn đầu, làm em nuôi. Giai đoạn sau, làm vợ nhỏ.”
Tôi nạt: “Nghĩ bậy!”
“Anh sắp ló đuôi rồi đấy.”
“Đuôi gì?”
“Đuôi dê.”
“Anh coi nó như em.”
“Lằn ranh anh em kết nghĩa mỏng manh lắm. Nhích tới một bước, em nuôi biến thành vợ nhỏ.”
“Ghen hả?”
“Tôi mà thèm ghen với con đĩ ngựa ấy à?”
“Ô hay! Sao mạt sát người ta? Nếu em không thích, anh bảo nó đừng đến đây nữa.”
“Hứ! Để coi hai người sẽ tiến đến đâu.”
Dù thế, bề ngoài vợ tôi không tỏ vẻ gì để cô Nga biết được ý nghĩ của mình. Tôi cũng không hề bảo cô đừng đến nữa. Cô coi gia đình tôi là chỗ thân tình. Lâu dần, cô hiểu rõ hoàn cảnh và lý do chúng tôi có mặt trên đất Kampuchia.
Vua Trần Hậu Chủ (583-587) thời Hậu Trần bên Tàu, nổi tiếng tài tử phong lưu, nên hậu cung lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nhân tuyệt sắc. “Hậu Đình Hoa” là một tập thơ phong tình được phổ nhạc cho cung tần, mỹ nữ ca hát mua vui. Đỗ Mục (803 – 853) là một danh sĩ tài hoa, hơn 200 năm sau, ghé qua bến Tần Hoài, thuyền đổ cạnh một quán rượu, trong một đêm trăng sáng, nghe tiếng hát và đàn ca, sênh phách của bọn con hát hầu rượu vẳng lại từ bên kia sông, mà cảm khái viết nên hai câu thơ bất hủ, trong một bài tứ tuyệt “Dạ Bạc Tần Hoài:”
“Thương nữ bất tri vong quốc hận,
Cách giang do xướng “Hậu Đình Hoa.”
Chúng ta là những người, từ 38 năm nay, bỏ nước ra đi, dù no ấm, giàu sang, hạnh phúc gì đi nữa thì cũng là những kẻ ly tổ, bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả cha ông mà lưu lạc tới chốn này, nên vẫn canh cánh bên lòng một nỗi đau. Huống chi, giờ nhìn lại quê nhà, trong một chế độ độc tài, toàn trị, quyền làm người và giá trị người dân bị coi nhẹ, công an là công cụ bạo lực, đảng cộng sản dùng để đàn áp người dân, bịt miệng và cầm tù những người yêu nước, bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền. Sĩ phu thấy xấu hổ, tuổi trẻ thấy bất bằng đã dấy lên phong trào yêu nước nhưng đã bị chính quyền đương thời gán ép, ghép vào những tội danh như là chống phá tổ quốc, mưu toan lật đổ chính quyền, làm gián điệp cho ngoại quốc. Tuy nhiên đa số quần chúng, lớn lên và được dạy dỗ theo nhân sinh quan của cộng sản, chỉ biết chăm chút cho bản thân và lo cho sự sống còn của đảng, là nồi cơm và cuốn sổ hưu của họ. Dân chúng phần lớn chạy theo sự sống, mục tiêu tối thượng là lợi lộc, bất kể đạo lý, sẵn sàng bỏ sĩ diện, gia phong để chạy theo đồng tiền, vì có tiền là mua được tất cả.
Đảng cộng sản ác với dân nhưng lại hèn với giặc, nhượng đất, bán đảo, thoả hiệp với kẻ thù, để cho ngư dân bị xua đuổi, bắt bớ ngay trong phần đất, biển nhà. Công an chủ trương “còn đảng còn mình,” lãnh đạo “thà mất nước còn hơn mất đảng,” nên xem sinh mạng người dân như cỏ rác. Tình trạng thoả hiệp, đầu hàng đã đưa đến chuyện mất nước hiển nhiên trước mắt, nhưng trong chính thể đã cam tâm làm tôi đòi cho Trung Cộng hiện nay, chống ngoại xâm từ phương Bắc có nghĩa là chống chính phủ, muốn lật đổ chính quyền, nên nhà tù Việt Nam hiện nay là nơi giam giữ những người yêu nước. Nhà cầm quyền muốn cho dân chúng ngoan ngoãn, chạy theo những thị hiếu tầm thường, thấp hèn để quên việc nước. Ngày xưa, dưới thời Pháp, cộng sản lên án những phong trào thể dục thể thao, lễ hội văn hóa là những trò thực dân bày ra để ru ngủ thanh niên và tôn giáo là thuốc phiện. Những điều đó, hôm nay hiển nhiên đã giải thích rõ ràng chủ trương của đảng cầm quyền. Ở Việt Nam hiện nay có bao nhiêu lễ hội nhân gian, bao nhiêu cuộc thi hoa hậu, bao nhiêu cuộc tranh tài thể thao? Có bao nhiêu nơi ăn chơi, tính “trên từng cây số,” thanh niên lấy nhậu làm vui, để quên mọi sự. Tính trên đầu người, dân Việt Nam uống nhiều bia bậc nhất thế giới, số bia Heneiken được tiêu thụ ở Việt Nam đứng thứ 2 sau Trung Cộng, trong khi Trung Cộng có 1,3 tỉ người còn Việt Nam chỉ có 90 triệu. Rượu chảy đến đâu, việc mua dâm xẩy ra đến đó, tạo ra một đất nước suy đồi, chỉ biết hưởng thụ. Phải chăng đó là tính toán của nhà cầm quyền như những gì mà chính họ đã lên án trong thời bị trị. Tình cảnh đất nước hôm nay, còn tệ hại hơn năm bảy trăm năm về trước, trước nạn ngoại xâm và trước cảnh ăn chơi, làm giàu của bọn tham quan, ô lại, xây nhà cửa như cung đình, làm nhà thờ tổ như lăng miếu. Trần Quốc Tuấn đã nói rõ trong “Bài hịch Tướng Sĩ:”
“Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ nguy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻchăm lo ruộng vườn để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng hát nhãm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh.”
-“Việt Nam bây giờ giàu lắm, vui lắm!” Đó là những gì mà một số người ba mươi tám năm trước đã bỏ nước ra đi rất vội vã, có thể mang chiếc dép phải vào chân trái, nói đến Việt Nam bây giờ. Đó là những gì mà có những người bước ra từ cõi chết, hay còn sống sót trong lúc người thân trầm mình xuống đại dương có trí nhớ rất tồi hay giả vờ quên vì tư lợi. Đó cũng là lời ca tụng của một số người đã ở trong nhà tù cộng sản, được nước Mỹ cưu mang, chỉ mong muốn cao bay xa chạy khỏi nơi hang hùm nọc rắn ngày nọ, nhưng bây giờ lại thấy cỏ bên kia sườn núi xanh non. “Chúng ta đi mang theo quê hương,” nhưng bỏ lại rất nhiều thứ. Trong đó có mồ mả chiến hữu, những anh em thương tật và có thể là một lời hứa hẹn chưa hề nói ra, nhưng là niềm hy vọng của những người ở lại, “như kẻ chăn chiên quay đầu chạy, bỏ bầy chiên lại cho lũ thú rừng!” Trong khi trong nước, có những người trẻ tuổi hy sinh cả tương lai, chấp nhận bước vào cửa nhà tù, cũng như ở hải ngoại, có bao nhiêu người đã tranh đấu cho quê hương, cho đồng bào được quyền làm người, thì trái lại ở đâu đó, chúng ta nghe gì, thấy gì gọi là sinh hoạt văn hoá? Cổ nhân nói: “Một người thầy thuốc mà sai lầm thì có thể giết chết một bệnh nhân, một nhà chính trị mà sai lầm thì có thể giết hại một dân tộc, một nhà làm văn hoá tư tưởng mà sai lầm thì có thể giết hại cả một thế hệ.”
Nhà biên khảo Từ Nhân Nguyễn Văn Thọ đã phân tích ba hạng người làm văn hóá. Một là siêu việt, coi thường lợi danh, không chen chân vào chốn xa hoa phù phiếm để chúng ta có những thiên tài như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Tản Đà … Người làm văn hoa trung đăng để văn chương phản ảnh đời sống thực tại, gần gũi với người đời, chia sẻ buồn vui, biết thương dân, nghĩ đến dân. Người làm văn hoá hạ đẳng, là những loại thợ (như danh từ công- theo cách nói của cộng sản,) hành nghề văn hoá vì sinh kế, áp dụng thủ đoạn mị dân, chạy theo thị hiếu quần chúng hay tuân hành chỉ thị của người chi tiền. Loại sau này hô hào, trương bảng phát huy văn hóa dân tộc, nhưng phổ biến những điệu vũ dâm đãng mà trên sân khấu trai gái trườn lên mình nhau trong những tư thế làm tình, vũ công nhảy múa tốc váy để bày quần lót (cái mà trong nước gọi là nội y,) cốt chỉ để thoả mãn thị hiếu thấp hèn của con người, cũng là một loại độc dược ru ngủ.
Làm văn hóa siêu việt là thiên tài, tức là của Trời cho; văn hóa trung đẳng còn là dấn thân, tiếp cận, gần gũi với nỗi khổ của đồng loại; văn hoá hạ đăng là thợ hành nghề chỉ hành nghề theo đơn đặt hàng như thợ hát, thợ vẽ, thợ múa … Làm văn hóa hạ đăng cũng như lời phát biểu của một gái bán dâm từ Việt Nam: “làm nghề này vừa sướng vừa có tiền!”
Người ta nói rằng muốn tìm hiểu sinh hoạt của một xã hội thì hãy mở trang quảng cáo hay nghe thấy những đoạn phim chào hàng trên đài truyền hình, hay một lời mời mọc qua làn sóng phát thanh. Bởi nhục dục được đề cao, nên đàn ông đi tìm thuốc làm tình để “yêu em dài lâu,” phụ nữ lo trau dồi son phấn và quần chúng cười mũi, khinh khi khi nói đến chuyện quốc gia đại sự, nước mất nhà tan.
Quốc nội trông đợi gì ở những người hải ngoại và hải ngoại chờ ngọn lửa nào ở trong nước? Những ngọn lửa lẻ loi, cô độc đang bị dập tắt, vì kẻ cai trị có cường quyền. Ở hải ngoại tranh đấu như người lội dòng nước ngược, bị đánh phá, phỉ báng! Thất phu đã nhiều, mà thương nữ thì có mặt ở khắp nơi. Nhưng trách chi thương nữ, trời đất sinh ra họ dùng tiếng hát cho đời mua vui, chỉ trách người làm thương mãi vì lợi nhuận không biết đỏ mặt hổ thẹn, trách quần chúng, như kẻ qua đường, thấy gánh xiếc bên đường dừng chân đứng lại cùng đám đông, vỗ tay, nhe răng cười cợt, khuôn mặt hớn hở, theo phản xạ từ tuỷ sống, chứ chưa hẳn là mệnh lệnh truyền đạt từ giây thần kinh của não bộ.
Giữa thời nhiễu nhương này, còn nghe chăng ai hát câu ca dao ru con buồn rười rượi:
Đại tá Thinh Nguyen, Không quân Hoàng Gia Canada (hình của instagram.com).
Đại tá Thinh Nguyen là một kỹ sư cao cấp hàng không vũ trụ trong Lực lượng vũ trang Canada (CAF), ông nổi tiếng với khả năng chỉ huy sâu rộng và binh nghiệp xuất sắc trong các Phi đoàn phi cơ vận tải, phi cơ chiến đấu và hàng không chiến thuật. Binh nghiệp của ông được đánh dấu bằng một loạt các vị trí chỉ huy và tham mưu nổi bật, bao gồm: Chỉ huy trưởng, Học viện Không quân Hoàng Gia Canada (RCAF) tại Borden; Giám đốc hàng không chiến thuật và mô phỏng, cũng như kinh nghiệm quản lý hệ thống vũ khí cho nhiều Phi đoàn phi cơ; Ông từng là Sĩ quan điều hành, giám sát tại Trung tâm chỉ huy Bộ Tư lệnh phòng không Bắc Mỹ (NORAD).
Ngoài hoạt động các nhiệm vụ kỹ thuật Không quân, Đại tá Thinh Nguyen còn là một Sĩ quan có trình độ học vấn cao, ông hoàn tất Văn bằng Cao học MBA tài chánh và Văn bằng Cao học nghiên cứu quốc phòng. Ông cũng là một vận động viên cầu lông giỏi, đã giành được nhiều chức vô địch của CAF. Ông đã lập gia đình, 2 người con cũng đang phục vụ trong Lực lượng quân sự Canada.
Huy hiệu Không quân Hoàng gia Canada của wikimedia.org
Không quân Hoàng Gia Canada (RCAF); tiếng Pháp: Aviation Royale Canadienne – ARC, là Lực lượng Không quân và Vũ trụ Canada, cung cấp cho Lực lượng quân sự Canada sức mạnh Không quân phù hợp, đáp ứng và hiệu quả. Là một trong ba Bộ Tư lệnh chính của Lực lượng vũ trang Canada thống nhất, hai Bộ Tư lệnh khác là, Bộ Tư lệnh Hải quân Hoàng Gia Canada và Bộ tư lệnh Lục quân Canada. Tính đến năm 2020, quân số Không quân Hoàng gia Canada bao gồm: 12.074 Sị quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ hiện dịch, và 1.969 Sị quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ trừ bị, được hỗ trợ bởi 1.518 nhân viên dân sự. RCAF vận hành 258 phi cơ các loại. Không quân Hoàng Gia Canada chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động hàng không trong Lực lượng vũ trang Canada, giữ an ninh không phận Canada và cung cấp phi cơ để yểm trợ các nhiệm vụ của Hải quân Hoàng gia Canada và Lục quân Canada. RCAF là đối tác với Không quân Hoa Kỳ trong việc bảo vệ không phận lục địa theo Bộ Tư lệnh Phòng không Bắc Mỹ (NORAD). RCAF cũng cung cấp tất cả các nguồn lực hàng không chính và chịu trách nhiệm về Chương trình tìm kiếm và cứu hộ Quốc gia. Không quân Hoàng gia Canada đã tham gia Chiến tranh Đệ nhị thế chiến, Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư, cũng như một số nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và các hoạt động của NATO. RCAF là thành viên của khối NATO.
Sĩ quan Không quân Hoàng Gia Canada gốc Việt ngoài Đại tá Thinh Nguyen là Sĩ quan cao cấp nhất, còn có một số vị Sĩ quan khác được ghi nhân bao gồm: Thiếu tá David Hoang, Sĩ quan tham mưu, Không đoàn 7, Không quân Hoàng Gia Canada; Nữ Đại úy Latashya Truong, Sĩ quan chuyên nghiệp, quản lý và huấn luyện, Không quân Hoàng Gia Canada; Nữ Đại úy Kathleen Nguyen, Sĩ quan quân y Bệnh viện dã chiến số 1 Không quân Hoàng Gia Canada; Nữ Trung uý Joyce Dinh, Sĩ quan hành quân, Không quân Hoàng Gia Canada. Và còn rất nhiều Sị quan gốc Việt khác đang phuc vụ các ngành trong Không quân Hoàng Gia Canada.
Gặp gỡ lần đầu tiên với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, hình ảnh cô gái này không đem lại cho chúng ta một ấn tượng gì đặc biệt. Theo tôi đó là một cô gái trẻ trung còn trẻ so với tuổi (cô sinh năm 1960,) hiền lành, coi bộ nhút nhát, mặt thì buồn rười rượi và có lẽ trong một lúc nào đó, bị phật ý, như một đứa trẻ được nuông chiều, sẽ bật khóc cũng nên!
Nhưng không, sau bề ngoài đó, ít ai tưởng tượng ra nổi Trần Khai Thanh Thủy là một cộ gái can trường, tuy tay yếu chân mềm, nhưng như một bậc anh thư trước thời loạn, biết dùng ngòi bút để chống lại bạo quyền, bị đánh dập, tra khảo, bị tù đày nhiều năm, chưa hết trên tinh thần còn bị lăng nhục, bôi nhọ, bị đổ phân vào nhà, bị khóa trái nhà không cho ra ngoài. Đẹp đẽ cho dân tộc chúng ta biết bao nhiêu, cũng với hình ảnh dịu dàng yếu đuối đó, ở trong thời đại nhiễu nhương của Việt Nam hôm nay, chúng ta có bao nhiêu bậc nữ nhi khí tiết như: Lê Thị Công Nhân, Đỗ Minh Hạnh, Nguyễn Phưong Uyên, Tạ Phong Tần, Hồ thị Bích Khương, Bùi thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, HuỳnhThục Vi … bao nhiêu người nữ dân oan chống bạo quyền, nằm đường ngủ chợ, chấp nhận bị bao nhiêu oan khuất, bị hành hung, mạ ly, vu oan để cất cao tiếng nói cho quyền làm con người mà những trang giấy này ghi không hết. Cá nhân tôi, cũng như một số lớn người ở hải ngoại, nhiều khi tham dự được một cuộc biểu tình, viết được dăm ba bài báo chửi cộng sản, đã nghĩ mình là người chống Cộng ghê gớm, nhưng buổi tối về vẫn có giấc ngủ yên không sợ bị ai đập cửa, không bị ai chận đường lăng mạ, đạp vào xe gắn máy mình đang lái, mà vẫn ngồi trong xe hơi, ở nhà có máy điều hoà không khí, quả cảm thấy hổ thẹn, khi đứng trước những người đã dám đứng lên tranh đấu trong nhà tù lớn, dưới mạng lưới công an và côn đồ chìm nổi dày đặc, với những nhà tù từ xã ấp tới quân ly, với những thủ đoạn đê tiện, chịu bao nhiêu cảnh đớn đau thể xác và tinh thần. Chỉ vì một bài hát yêu nước, Việt Khang chịu cảnh tù tội, gia đình bị làm khó dễ, vợ và con nhỏ lên bốn tuổi nheo nhóc. Đỗ Thị Minh Hạnh, trong sáng như một mảnh trăng rằm, đã bị đưa đi nhiều nhà tù từ Lâm Đồng đến Trà Vinh, Long An, Bình Thuận, Đồng Nai … với bà mẹ lận đận chạy theo con, qua các nhà tù, suốt chặng đường gian khổ. Đang sống trong tự do, no đủ, chăn ấm nệm êm, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng ra nỗi những đau đớn, tủi nhục của những người đang chịu cảnh đày đoạ.
Nhưng câu hỏi ám ảnh và dày vò chúng ta lâu nay, đặt ra mà không ai có can đảm trả lời? Hải ngoại đã có bao nhiêu bài báo, bao nhiêu cuộc phỏng vấn, bao nhiêu bản nhạc bài thơ, bao nhiêu lần thắpnến cho những nhà tranh đấu, nhưng chúng ta đã tiếp đón những người này với thái độ như thế nào, khi họ ra hải ngoại, được hít thở bầu không khí tự do như chúng ta? Thay vì một vòng hoa tri ân, chúng ta gửi đến họ những quả trứng thối! Họ đây là: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Chính Kết, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện … và giờ đây một người đang có mặt trong căn phòng này là nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ.
Đây là một người đang ở tù, thì Ngoại trưởng Hillary Clinton đã cầm lá thư có 19 chữ ký của các dân biểu Hoa Kỳ, trong đó có bà Lora Sanchez, can thiệp với CSVN và bức thư kêu gọi có 30,000 chữ ký của đồng bào hải ngoại chúng ta. Trần Khải Thanh Thủy được đưa từ nhà tù ra sân bay Nội Bài, với sự đồng hành yểm trợ của Bí thư Thứ Nhất Toà Đại Sứ Mỹ là Christian Merchant nhân dịp ông mãn nhiệm kỳ hồi hương. Nhà Văn Trần Khải Thanh Thuỷ là hội viên danh dự của Văn Bút Quốc Tế, là 45 người của 22 quốc gia được nhận giải Hellman/ Hammett Grants. Vậy mà chúng ta, những người nhân danh là những người Việt Tự Do chống Cộng ở hải ngoại đã đón tiếp những nhà tranh đấu cho dân chủ từ trong nước ra như thế nào?
Quả là chúng ta văn minh hơn CS, chúng ta không có phân người, dầu cặn, không có roi diện, dùi cui để làm họ đau đớn phần thể xác, nhưng chúng ta làm cho họ đau đớn tinh thần bằng dư luận, qua báo chí qua internet. Chúng ta đón họ với những bài báo dè bĩu, tung lên mạng những lời lẽ vu cáo, lăng mạ, đặt điều, để cách ly họ ra với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện người đã bị chính quyền Cộng Sản đày doạ trong suốt 27 năm chỉ vì những bài thơ chống đảng, vừa ra nước đã nhận cả một chiến dịch bôi nhọ là Nguyễn Chí Thiện giả, Nguyễn Chí Thiện ăn cắp thơ, Nguyễn Chí Thiện “mở động đĩ!” Nguyễn Chính Kết bị kết tội “đối lập cuội,” “dân chủ cuội,” được công an dễ dàng cho ra đi. Trần Khải Thanh Thủy bị cô lập, ném đá ngay từ đầu khi cô nhận mình là …Việt Tân!
Tệ hại hơn nữa là có những người tự xưng là “làm văn hoá” ở hải ngoại này, đã không phải một, mà hơn một lần, tìm kiếm lợi nhuận trên những tác phẩm trí tuệ của những người đã có công tranh đấu, hy sinh cho quyền làm người, mới thoát cảnh tù đày này. Nhà Văn Trần Khải Thanh Thuỷ, dù đã đến Mỹ được hai năm, trong giai đoạn chân ướt chân ráo, gia đình đang sống nhờ sự cưu mang của nước Mỹ, không có việc làm, hai con còn đi học, chồng mới đoàn tụ, đang đi học nghề tóc! Chúng ta còn tin tưởng gì ở sự lương hảo của những người tự xưng là làm văn hóa, hay phát huy văn hoá dân tộc ở ngay trong cộng đồng người Việt chúng ta.
Những người chống Cộng ở hải ngoại đối với những người chống Cộng từ trong nước ra, với chúng ta như thế sao?
Nhiều người cho rằng việc đánh phá những người tranh đấu từ trong nước khi ra hải ngoại là chủ trương của Cộng Sản, nhưng tham gia công việc “giết người chẳng lọ gươm dao” này hôm nay lại là những người thường vỗ ngực cho mình là người chống Cộng. Câu hỏi đã làm ám ảnh tôi: Rồi đây, nếu Lê Thị Công Nhân, Việt Khang, Đỗ Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày … những người chúng ta đang ca tụng, hoan hô hôm nay, được ra nước ngoài, số phận của họ có khác gì ông Nguyễn Chính Kết, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và cô Trần Khải Thanh Thuỷ đang chịu hôm nay không? Đó là hình ảnh một miếng thịt tươi được vứt xuống một hầm cá sấu và chính quyền cộng sản trong nước luôn luôn tìm cách đẩy họ ra khỏi nước để nhờ tay người khác giết họ để khỏi bị mang tiếng là đao phủ thủ!
Phải chăng đã có những nhà tranh đấu lưu vong, bỏ nước ra đi đã hối hận, mà con đường quay trở về là khôngthể! Như vậy phải chăng thái độ BS Nguyễn Đan Quế khi từ chối ra hải ngoại là một thái độ khôn ngoan?
Chúng ta làm gì để xoá bỏ được thái độ vừa vô ơn, độc ác, vừa tiếp tay cho bọn sát thủ ở trong nước như trong những trường hợp đã nêu trên?
Vợ chưa mua thuốc xổ. Tôi bắt lại được khâu vàng, sau một tuần lẩn trốn trong bụng. Một chị đấm bóp tình nguyện dẫn chúng tôi đi bán vàng. Dĩ nhiên, sự cám ơn phải thể hiện bằng tiền. Chị lại hướng dẫn chúng tôi ra vùng ngoại ô thành phố, mướn một căn lều bằng lá. Một căn lều theo đúng nghĩa đích thực của nó, nhưng chúng tôi gọi là căn nhà cho đỡ tủi thân. Mái nhà lợp bằng lá mía, chung quanh che chắn bằng liếp tre đan thưa thớt. Chiều sâu căn nhà quá ngắn, nhưng chiều ngang lại quá dài. Nghe nói, trước đây người chủ của nó dùng làm chuồng nuôi gà công nghiệp. Nhưng gà chết toi nhiều quá, nên dẹp luôn. Chuồng bỏ trống. Phía sau nhà còn chất đầy những chiếc lồng gà cũ. Có được một chỗ trú mưa che nắng là tốt rồi. Tôi ra sức quét dọn tẩy uế cả ngày, trông cũng mát mắt. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc tạo điều kiện đời sống. Mua chăn màn nơi sạp bán đồ cũ. Mua chén dĩa, vài cái nồi nấu ăn, thêm chiếc nồi lớn dùng hấp xôi. Vợ tôi chọn nghề bán xôi làm kế sinh nhai. Cái nghề ít vốn, thích hợp với hoàn cảnh, tiện lợi cho việc ăn uống. Xôi bán không hết, vợ chồng con cái ăn xôi trừ cơm. Đỡ phí của trời!
Sáng sớm. Tôi gánh xôi vào thành phố. Vợ ngồi bên lề bán cho khách qua đường. Người mua kẻ bán nói với nhau bằng ngôn ngữ đôi tay. Miệng ú ớ không nên lời. Đôi khi ngớ ngẩn đến buồn cười. Mấy ngày sau, tôi nghĩ ra một sáng kiến. Nhờ người viết tấm bảng bảng liệt kê giá cả bằng tiếng Miên. Gói nhỏ một đồng. Gói vừa hai đồng. Gói lớn ba đồng. Người mua giơ ngón tay chỉ vào một trong ba hàng chữ ấy. Dễ dàng cho cả đôi bên. Con tôi cũng tích cực góp phần vào sinh kế. Nó bưng cái mâm có những nắm xôi đã gói sẵn, bán dạo theo các tiệm cà phê. Nó biết nở nụ cười mời khách. Có người không muốn ăn xôi, nhưng thấy nó lí nhí nói cái thứ tiếng chẳng ai nghe được và cười hoài, người ta cũng mua. Mặt nó vui hẳn lên, mỗi lần bán được gói xôi. Mười hai tuổi, lăn vào chốn mưu sinh, nó hiểu thế nào là giá trị của những đồng tiền. Còn tôi, đứng xớ rớ không biết làm gì. Lòng bứt rứt không yên. Tôi lang thang tới bến xe đò, xin làm phu khuân vác. Ở ngoài nhìn vào, cứ tưởng vai u thịt bắp là được việc. Nhưng không. Còn một điều kiện khác nữa, và đây mới là điều kiện cần thiết. Muốn có việc, phải giành mối. Trên đường đời, tôi thiếu bon chen, tay chân cò vạc lại vụng về xốc vác, nên chẳng ai thèm mướn.
Chiều về, tôi nằm trên chiếc võng đưa qua đưa lại, buồn bã rời rã. Nhìn vợ con lu bu chuẩn bị cho nồi xôi ngày mai, tôi thấy rõ ràng mình đang sống bám trên hai chiếc lưng gầy gò yếu đuối. Giận mình bất tài vô tướng. Buồn giận quá, đâm ra quẫn trí. Tôi thù bọn chính quyền của quê tôi, thù bà thiếu tá giáo sư ở Nha Trang, thù bọn thằng Nu ở Miên. Từ đó, tôi ghét lây đến cả người đời. Sau những bản mặt hiền từ, họ còn giấu biết bao điều tàn ác bất lương. Những kẻ giả danh, mặt người dạ thú. Trong uất hận, tôi tưởng tượng mình có đủ quyền uy để làm như một Néron ngồi uống rượu, xem lửa đốt thành La Mã. Hay một Tần Thủy Hoàng lùa thiên hạ xuống hầm sâu chôn sống.
Tính tình tôi trở nên bẳn gắt. Con tôi sợ hãi người cha lầm lì dữ tợn. Nó đâu biết trong sâu thẳm cõi lòng, tôi thương và tội nghiệp nó đến nhàu nát ruột gan. Hoàn cảnh khó khăn, nó không được đến trường. Đêm đêm, dưới ngọn đèn dầu, tôi dạy nó về những kiến thức nhà trường. Cố nhồi nhét vô đầu nó những con số toán học. Nó quờ quạng với những ẩn số x, y. Tôi cú đầu nó, và la hét ầm lên. Nó hoảng. Càng hoảng, càng không lãnh hội được gì.
Vợ nói: “Anh dạy học với thái độ của nhân viên phòng tra tấn.”
Nghĩ lại, tôi thấy mình quá nóng tính. Tôi không thể làm thầy, dù là thầy của con mình. Tôi tuyên bố không làm gia sư nữa. Con tôi mừng.
Vợ lại nói: “Suy nghĩ nhiều, coi chừng điên đấy. Phải làm việc gì cho khuây khỏa.”
“Việc gì? Khuân vác cũng không ai mướn.”
“Không làm mướn cho ai cả. Anh đủ sức vác bao bánh mì không?”
“Dư sức.”
“Được rồi. Anh vác bao bánh mì đi bán dạo theo các xe đò đậu dài dài trên đường Thu Mút, gần chỗ em bán xôi.”
“Em có lý. Xôi bán ế, ăn hoài nhợn lên tới cổ họng. Bây giờ thêm bánh mì ế nữa. Mình có thể thay đổi món ăn. Một bữa ăn bánh mì, một bữa ăn xôi.”
Thế là từ đó trở đi, tôi làm người bán bánh mì dạo. Sau khi gánh xôi vào thành phố cho vợ ngồi bán, tôi lội bộ ba cây số tới lò bánh mì, vác một bao trở lại đường Thu Mút. Tôi rảo theo những chiếc xe đò, cầm ổ bánh mì chìa ra trước mặt khách trên xe. Tôi mời họ mua, bằng cách kêu “bòn, bòn”, và gật gật cái đầu.
Ngày đầu tiên, bán được nửa bao bánh mì. Còn nửa bao, tôi vác về. Vợ chồng con cái ngồi ăn bánh mì, cười hỉ hả.
Con tôi nói: “Ăn bánh mì chấm nước mắm, ngon hơn ăn xôi với đường.”
Tôi hỏi: “Con chịu ăn hoài như thế này không?”
“Con chịu. Nếu cho con thêm chút thịt thì ngon hơn.”
Câu nói của con làm lòng tôi đau nhói. Nó cần thịt, nhưng từ lâu chúng tôi đâu dám tốn kém vì loại thực phẩm cao cấp này.
Buổi tối, tôi nói với vợ, dù buôn bán được hay không cũng mua cho con miếng thịt. Vợ nói, đã nghĩ điều đó rồi.
Hôm sau, tôi vác nửa bao bánh mì cũ đi bán nữa. Khách cầm ổ bánh bóp thử, rồi trả về. Tôi cố gỡ gạc tiền vốn, chỉ bán hai phần ba giá, nhưng người ta cũng từ chối. Không ai chịu mua một ổ bánh mì cứng đơ như khúc củi.
Hôm ấy, nửa bao bánh mì cũ còn nguyên. Tôi muốn bỏ nghề.
Vợ khuyên: “Mới thua keo đầu, không đáng ngại. Thử thời vận thêm vài bữa xem sao?”
“Ừ, thì thử. Nhưng cái vốn của mình, đủ sức bù lỗ không?”
“Em còn đủ sức chịu lỗ mười ngày như thế. Hồi còn ở Việt Nam, có người chỉ cho em cách làm bánh mì cũ, trở thành bánh mì nóng giòn. Em sẽ thử.”
Trong khi chúng tôi bàn chuyện, con tôi ăn bánh mì cũ với thịt heo ram mặn.
Nó nói: “Thịt heo Kampuchia, ngon hơn thịt heo xứ mình.”
Tôi hiểu ngay rằng, vì quá thiếu thốn mà nó thấy ngon đó thôi.
Những ngày sau, tôi tiếp tục đi bán bánh mì. Công việc quen dần, tôi rút được nhiều kinh nghiệm mời khách. Làm ăn có khá hơn. Tuy thế, ngày nào cũng còn dư bánh mì đem về. Vợ tôi thoa nhẹ một lớp nước mỏng lên ổ bánh, và ủ qua đêm trong cái bao nylon. Buổi sáng, đem ra hơ trên lửa than. Bánh mì cũ lại trở thành bánh mì nóng giòn!
Chuyện buôn bán cũng đủ cho gia đình sống lây lất qua ngày. Dù vất vả nhưng không bi thảm như lúc đầu. Đêm, tôi nằm hút thuốc trên chiếc võng đưa cọt kẹt. Vợ con tôi lo hấp xôi. Con tôi ríu rít kể chuyện. Có người ăn một lần đến ba gói xôi. Có người ăn xong, còn mua vài gói đem về nhà. Cũng có người chỉ ăn nửa gói, còn nửa gói chê dở, trả và đòi tiền lại.
“Rồi con có trả lại tiền không?” Vợ tôi hỏi.
Nó cười: “Không. Con bỏ chạy.”
Vợ nói: “Lần sau, nếu gặp người như thế nữa, con trả lại tiền cho người ta.”
“Nhưng họ ăn hết nửa gói rồi.”
“Thì trả lại tiền nửa gói.”
Nó vẫn cương quyết: “Không trả. Gói xôi ăn lỡ dở, thì còn bán cho ai được nữa?”
Trong câu chuyện, thường nó khoe học được nhiều tiếng Miên. Nó dạy cho vợ chồng tôi đếm số. Và điều này, cũng cần thiết cho chúng tôi trong giao dịch buôn bán hằng ngày. Không khí gia đình tương đối dễ thở, nhưng láng giềng có điều rắc rối.
Xóm nhà lá tôi ở, toàn là gia đình nghèo người Miên. Cuối xóm, có một nhà người Việt, nhưng tôi cũng không gần gũi tiếp xúc. Qua bao nhiêu cạm bẫy cung ná, tôi nghi ngờ sự thân thiện của người đời. Chúng tôi sống âm thầm khép kín. Tránh động chạm làm mất lòng những người chung quanh. Tuy thế, một hôm bà Miên gần nhà, chỉ trỏ qua nhà tôi và la ầm lên. Tôi đứng bên này cười, dù không hiểu lý do. Nụ cười không đúng lúc, bà tưởng tôi khiêu khích. Bà gầm thét, ném khúc gỗ sang tôi. Tôi né tránh, không phản ứng. Loại người vô giáo dục, thường rất đanh đá chanh chua.
Lúc đó, có anh người Việt nhà cuối xóm đi ngang, thấy vậy đứng lại nhìn. Tôi nhờ anh ta hỏi xem bà có chuyện gì? Sau khi hỏi, anh cho biết bả chửi vì tôi quăng cứt qua nhà bả.
Tôi nói: “Tôi không làm chuyện dơ bẩn đó.”
Bà Miên không tin, cho rằng chỉ có thằng Việt Nam xấu xa mới chơi kiểu mất dạy như thế. Bà còn dọa, coi chừng bà đốt nhà tôi.
Sau hôm ấy, hai nhà hai bên quét rác đùa qua sân nhà tôi. Hành vi kiếm cớ gây sự. Tôi chẳng nói gì. Trò bỉ ổi tiếp diễn mỗi ngày. Cái sân thành nơi đổ rác. Kệ mẹ nó! Nói tới nói lui, ngôn ngữ bất đồng dễ thành lớn chuyện. Im lặng là một cách tỏ lòng khinh bỉ. Tôi cũng đâu cần ăn đời ở kiếp nơi cái xóm nhà lá khốn nạn này. Lúc nào đầu óc tôi cũng nghĩ chuyện ra đi. Tôi như co chim chỉ đậu tạm qua đêm. Rồi bình minh sẽ đến, và tôi sẽ bay đi thật xa.
Mỗi ngày, tôi lội bộ đi và về sáu cây số để lấy bánh mì từ lò nướng. Vợ tôi bàn, nên sắm chiếc xe đạp, giúp đôi chân đỡ mỏi đường xa. Tôi mua chiếc xe cũ trành, với giá rẻ mạt. Xe không thắng, không chuông, không đèn, không vè. Chiếc xe trần trụi đơn sơ đến mức, nếu bỏ bớt một bộ phận nào đó, thì không chạy được. Chẳng ai động động lòng tham với chiếc xe thổ tả này, tôi nghĩ thế. Tôi thường dựng xe nơi góc phố. Đúng năm ngày sau, chiếc xe bị cuỗm mất. Đây cũng là bài học dạy cho tôi biết rằng, bản chất con người là tham ác gian manh. Họ không từ nan bất cứ một thứ gì. Kể cả những vật nhỏ nhoi như cây kim sợi chỉ, cũng dấy lên trong đầu họ ý muốn chiếm đoạt. Từ nghìn xưa, Phật và Chúa đã biết thế, nên chiêu dụ con người ăn ở hiền lành thì được lên Niết Bàn của Phật, hay Thiên Đàng của Chúa. Nhưng người đời thực tế lắm. Họ không thả mồi bắt bóng. Niết Bàn hay Thiên Đàng là ảo ảnh. Của cải trên thế gian là hiện thực. Chiếc xe đạp trành của tôi, dù không béo bở, nhưng rõ ràng nó là một miếng mồi hiện thực, có thể nhá được. Đừng ai đem địa ngục kinh khiếp mà dọa chúng sinh. Ngay chốn trần gian này, đã là địa ngục rồi. Có ai sợ đâu?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.