Thế sự đổi thay

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Dịch cô vít tung hoành hơn hai năm trời, làm con người khắp thế giới chán chường, mệt mỏi. Khi dịch vừa lắng xuống, luật phòng chống dịch được gỡ bỏ, mọi người như trút gánh nặng, thở phào nhẹ nhõm, thì chiến tranh Nga và Ukrainia nổ ra, làm cả thế giới tiếp tục xôn xao. Hai nước đánh nhau mới hơn ba tháng, không biết những châu lục khác thay đổi ra sao? Chớ riêng châu Âu thì dân chúng than phiền chuyện vật giá leo thang phát chóng mặt. Trong công ăn việc làm cũng có vấn đề, không thể tưởng tượng được mọi thứ khác hơn trước quá nhiều về mặt tinh thần lẫn thể chất, cũng vì nguyên do đó mà hôm xuống tàu tôi có hơi ngạc nhiên khi gặp lại Ivan, thợ máy người Nga. Tôi quen với Ivan hồi nó còn là phụ máy, nó thuộc thế hệ trẻ, sống trong thế giới tự do Âu Châu, hấp thụ được văn hoá của Tây phương, có lối sống vui vẻ, hoà đồng, hiểu biết và văn minh hơn lớp người Nga đàn anh, đàn chú nó. Trong đầu tôi nảy sanh ra thắc mắc và có ý khôi hài, định hỏi nó: “Sao chưa về nước theo đoàn quân xâm lược mà còn ở đây làm thợ máy?” Nhưng tôi kịp dừng vì sợ chạm tới tự ái dân tộc. Tôi trớ qua chào và hỏi thăm sức khoẻ gia đình nó:

– Lâu rồi không gặp, mày và gia đình mày khoẻ hết phải không?

Ivan trả lời:

– Tất cả ổn hết, cám ơn.

Hình như Ivan cũng muốn tránh né chuyện thời sự nóng bỏng đang xảy ra trên quê hương của nó. Nó hỏi lại tôi:

– Phi trường Amsterdam đông người lắm phải không?

– Đúng rồi, tao tới Schiphol lúc bốn giờ khuya, chen chúc sắp hàng rồng rắn cho tới bảy giờ sáng mới lên được máy bay. Chậc, từ trước tới giờ tao chưa từng đi máy bay cực khổ như đi lánh nạn. À, nghe nói những chuyến bay giữa Nga và Âu châu bị cấm, vậy mày đi qua đây bằng cách nào?

Ivan nhún vai, gương mặt buồn bã nói:

– Hôm tui xuống tàu thì chưa bị cấm, nên tui hông biết bây giờ ra sao.

Lúc đó viên thuyền trưởng đi tới. Ivan lặng lẽ bỏ đi vô trong. Thuyền trưởng nhìn theo Ivan, cho tới khi nó đi khuất sau cánh cửa. Ông day qua tôi cười cười và nói:

–  Nói chuyện với Ivan ông nên cẩn thận.

Tôi không khó chịu và ngạc nhiên về câu nói của ông. Nhưng giả bộ ngây ngô, không biết gì, hỏi:

– Có vấn đề sao?

– Nếu ông không nói về chiến tranh giữa Ukraine và Nga thì không có vấn đề gì hết.

– Chiến tranh thì nói chiến tranh, nói thanh bình sao được.

Thuyền trưởng ngây người nhìn tôi và nói:

– Nhưng ông đừng đem chuyện xấu của nước Nga ra làm đề tài để chọc ghẹo Ivan nữa nhé.

Tôi gật đầu hô:

– Yes sir!

Ông vỗ vỗ tay lên vai tôi rồi bỏ đi lên phòng lái. Thuyền trưởng bằng tuổi tôi. Lúc ông còn là thuyền phó cho một công ty tàu chạy những tuyến đường châu Á. Lần đầu về công ty này làm việc, biết tôi là người Việt tị nạn bằng thuyền. Ông hãnh diện khoe:

– Trước kia tàu tui vớt được năm mươi ba người Việt vượt biển.

Lúc đó những người Việt tị nạn đường biển có tên là Vietnamese Boat people và được người khắp thế giới tự do yêu thương và tận tình giúp đỡ. Cũng từ đó tới nay, mỗi lần nói chuyện với tôi ông luôn ôn tồn tỏ vẻ thân thiện. Thật ra thì thuyền trưởng thấy tôi trước đây không ưa những người Nga và thường chỉ trích nước Nga và hay chế ngạo những người Nga già còn tánh tham lam, keo bẩn theo phong cách sống của thời cộng sản. Cũng vì vậy mà ông sợ tôi đem chuyện nước Nga xâm lăng Ukraine ra chế giễu, xỏ xiên trước mặt Ivan sẽ làm mất đi hoà khí trên tàu, nên ông mới lưu ý tôi đó thôi.

Có lẽ cũng vì chuyện chiến tranh giữa Ukraine và Nga làm cho con người Ivan thay đổi, nhìn nó giống như tốp người sống trong xã hội chủ nghĩa thời còn liên bang xô viết.  Hết giờ làm việc nó về phòng đóng cửa lại, trong bữa ăn nó ngồi nín thinh, có đêm tôi thấy nó ngồi xem phim mình ên, gương mặt lúc nào cũng suy tư và trầm buồn. Tôi có thể hiểu được tâm trạng Ivan trong lúc này, nên tôi không đá động chuyện thời sự của nước Nga và Ukraine đánh nhau tơi bời hoa lá, (phố xá tanh bành té bẹ còn hơn những trận đánh Mùa Hè Đỏ Lửa trên quê hương tôi vào những năm 1972 -1973) trước mặt nó. Tôi không biết thuyền trưởng có nói gì với Ivan không mà gặp tôi nó cười chào gượng gạo, chớ không còn vui tươi và tỏ vẻ thân thiện như trước kia nữa.

Đêm hôm ấy tôi đứng sau lái nhìn mặt trăng tròn như chiếc mâm bạc bị phủ mờ trong màn sương mỏng. Chợt nghe tiếng điện thoại trong túi áo báo tin, tôi móc điện thoại ra xem mới biết tàu đã vô hải phận Bồ Đào Nha. Vậy là ngày mai tàu sẽ tới Lisbon.

Thủ đô Lisbon nằm bên sông Tagus ở phía tây bán đảo Iberia hướng ra Đại Tây Dương mà cũng là thành phố lớn nhứt của Bồ Đào Nha. Hơn nữa nó còn là một trong những thành phố lâu đời trên thế giới và cũng là thủ đô lâu đời đứng hàng thứ hai của châu Âu, sau Athens. Lisbon có trước các thủ đô hiện đại khác ở Châu Âu hàng thế kỷ. Đây thành phố duy nhứt dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Điển hình là tài chánh, thời trang, truyền thông, giải trí, nghệ thuật, thương mại quốc tế, giáo dục và du lịch, là một trong hai thành phố quan trọng của Bồ Đào Nha. Cùng với Porto được công nhận là thành phố lớn của Bồ Đào Nha, là trung tâm thương mại và công nghiệp của khu vực phía bắc sông Mondego. Trọng tâm lịch sử của Porto đã được Unesco công nhận là di sản thế giới.

Mùa xuân năm nay thời tiết nơi đây ấm áp, tuy trăng đêm nay không sáng và bầu trời có sao thưa, nhưng không khí trong lành mát dịu cũng làm con người ta dễ chịu hơn. Nhớ năm ngoái, nhằm giữa mùa đại dịch, tàu cũng ghé lại thành phố Lisbon, thủy thủ chúng tôi lên phố phải tuân thủ luật phòng dịch. Nghĩa là lên bờ phải đeo khẩu trang, vô siêu thị phải giữ khoảng cách với nhau, đứng một hàng rồng rắn dọc từ trong ra tới ngoài lộ chờ mua đồ và khi vô quán ăn người phục vụ đặt đâu chúng tôi phải ngồi đó. Bây giờ dịch đã qua rồi, thủy thủ tha hồ mà đổ bộ, không còn cái cảnh khi ăn, uống mới được tháo khẩu trang và ăn, uống xong khi ra đường thì kéo khẩu trang lên đậy miệng, mũi lại.

Ivan từ trong muôi đi ra, có lẽ nó từ hầm máy mới chui lên nên còn bận nguyên bộ đồ bảo hộ, hai tay cầm hai chai bia và khui bia bằng cái khui của nó tự chế bằng bù lon, con tán. Khui xong nó đưa cho tôi một chai và nói:

– Ông uống với tui.

Mấy tháng qua đầu gối của tôi bị viêm, đau luôn cả bắp chưn, anh bạn y sĩ châm cứu trị cho tôi đau mười phần giảm bớt tám chín phần. Trước ngày tôi lên đường anh bạn dặn phải uống thuốc đúng giờ; không được uống bia, rượu và ăn đồ cay. Hôm ở khách sạn của phi trường, tình cờ ngồi chung với cặp trai gái người Tàu, thấy vui vui tôi uống hết ba ly bia nửa lít. Sáng hôm sau ra phi trường, kéo hành lý chen chúc hết mấy tiếng đồng hồ, hổng biết vì uống bia hay vì đứng lâu mà chưn tôi bị đau, nhức lại. Nhưng trước sự vồn vã của Ivan làm tôi không từ chối chai bia của nó mời được. Nó đưa chai lên mời, tôi đưa chai lên cụng với nó một cái, rồi hai thằng ngước cổ nốc một hơi. Xong nó khoe:

– Tàu tới Lisbon tui về.

– Ồ, vậy sao? Có vé bay chưa?

– Có rồi, chiều mai tôi lên khách sạn ngủ, sáng mốt bay qua Minsk, Belarus đổi chuyến bay qua Moscow.

Nhờ nó nói tôi mới biết là cấm thì cấm, người ta cũng biết cách luồn lách. Còn bữa trước nó nói không biết phải đi cách nào, chắc có lẽ nó không muốn đá động những chuyện phiền phức đang xảy ra bên Nga nên nó nói cho qua chuyện đó thôi. Tôi nói:

– Oh, vậy là tốt rồi.

Định hỏi nó có trở lại làm việc nữa không? Nhưng thấy bình thường thì không sao, hoàn cảnh lúc này thì có hơi ngại. Với lại từ hôm gặp nó tới nay mới thấy nó được thoải mái một chút. Không biết Ivan nghĩ gì mà nó im lặng. Tôi nhìn biển, nhìn trăng và sao trời, tất cả đều lặng yên. Một lúc sau tôi mới tìm ra câu hỏi để phá tan bầu không khí có vẻ lạnh lùng này:

– Mày có tới thành phố Lisbon lần nào chưa?

Hình như nó cũng cảm nhận thoát được cái bầu không khí minh mông nhưng trầm lắng. Nó day qua tôi lắc đầu và nói:

– Không, không tôi chưa một lần lên Lisbon, nhưng đọc báo du lịch tôi biết nó đẹp lắm.

– Đúng rồi, Lisbon là một thành phố cổ kính nhưng rất hiện đại, là một thành phố hiền hoà và cũng khá an toàn cho khách bốn phương. Tao nghĩ nơi đây cũng là một trong những thành phố lý tưởng cho khách du lịch nào thích tham quan thành phố.

– Đúng rồi, Lisbon vẫn còn dùng xe điện có một toa ngắn, loại xe xưa cách đây hàng thế kỷ và xe tuk tuk (xe lam), hình như hai loại xe này trong các đô thị Âu Châu chỉ có thủ đô Lisbon còn xử dụng. À mà ông có tới sân vận động José Alvalade chưa?

– Chưa, có lẽ vì tao hổng ưa đá banh nên tao không thích nơi đó.

– Tui nghĩ ai tới Lisbon mà không tới sân vận động José Alvalade là thiếu sót.

– Thật ra thì tao không thích đi mình ên tới những nơi lộng lẩy do bàn tay con người xây dựng.

Nó cười thành tiếng:

– Vậy sao tôi thấy ông tham quan thành phố Venezia và đi xem những ngôi nhà cổ, đồn bót cũ kỹ cách đây vài trăm năm trên quần đảo Canary ông khen đẹp và kiên cố quá trời?

– Vì những thứ đó nó có từ bao thế kỷ, nó đã trở thành đồ cổ rồi.

Ivan cười:

– Vậy là phải chờ một hai thế kỷ nữa, cho sân vận động José Alvalade thành đồ cổ rồi ông mới tới xem.

Chúng tôi cười ha hả và đưa bia lên cụng. Ngước cổ uống hết phần bia còn lại trong chai, liệng chai vô thùng rác. Ivan móc trong túi áo bảo hộ thêm hai chai bia nữa.

– Trời! Mày thủ sẵn bia trong túi?

 Nó đưa chai bia mới khui cho tôi và nói:

– Dĩ nhiên.

Sau khi bỏ đồ khui vô túi áo, nó đưa chai lên cụng. Vậy là chúng tôi uống tiếp tục. Uống xong tôi nói:

– Thiệt ra thì đi chơi mình ên tao thích tìm những món đặc sản nơi mình đến và hoà mình với dân địa phương. Còn những nơi hoành tráng thì đi chung với người hợp ý mới vui. Tao có ý định sẽ dẫn vợ tao đi Lisbon một lần, chắc chắn sẽ tới sân vận động José Alvalade cho bà xã tao chụp hình danh lam nổi tiếng bà sẽ thích lắm.

– Tôi có nghe thủy thủ đoàn nói ông biết nhiều về những món ăn địa phương ngon lắm.

– Dĩ nhiên, tao là đầu bếp mà và tao cũng thường dẫn thủy thủ In Đô lên ăn những món ngon lạ của nhiều nơi chớ hổng riêng của Bồ Đào Nha.

– Ông thấy ở Lisbon có món nào đặc biệt?

– Thiệt ra những phố cảng nằm hướng ra biển, thì không lạ gì chuyện quảng cáo về hải sản tươi sống nổi tiếng trong vùng, món nào cũng đặc biệt. Mày cũng biết đó, những nhà hàng, quán nhậu hải sản đông đúc giữa những con đường trung tâm thành phố, các đầu bếp thi nhau chế biến những món hải sản, trong khung cảnh nhộn nhịp, vui tươi và rất hấp dẫn. Nhưng phiền cái là đi mình ên mà hổng biết chút khái niệm về ăn uống, thì khó mà chọn được các món ăn cho vừa miệng vừa vui và một bữa nhậu vừa lòng.

 – Vậy làm sao biết món nào vừa miệng?

– Điều này rất khó nói, ở Bồ Đào Nha, có rất nhiều món ăn nhưng làm sao ăn thử hết. Tao chỉ đưa ra vài món thông thường tao thích như salade de polvo (salad bạch tuộc), pastéis de Bacalhau (cá tuyết chiên giòn) Gambas à Guilho (Tôm rim) và caracóis (ốc). Thí dụ như Petiscos gọi chung là những món ăn nhẹ nổi tiếng của Bồ Đào Nha, nhưng Petiscos cũng giống như món tapas ở Tây Ban Nha, cũng là món nhấm nhẹ, uống rượu vang Bồ Đào Nha hay bia lạnh thì ngon bá chấy luôn.

– Nhưng nhiều món đặc biệt như vậy thì biết chọn món nào?

– Thì vô nhà hàng nhìn hình ảnh trong bảng thực đơn, thấy món nào bắt mắt thì chọn, theo tao thì các món ăn trong nhà hàng, món nào nhìn cũng hấp dẫn và mùi vị thơm ngon. Nhưng cái khung cảnh chỗ ngồi mới góp phần tạo ra cái đặc biệt. Ivan đưa bia mời tôi uống, xong rồi hỏi:

– Là sao?

Tôi nói:

– Thay gì sắp xếp một danh sách các món ăn ngon trong đầu giống như tao kể nãy giờ. Tốt nhứt là chỉ cần tìm một khung cảnh đẹp trên bãi biển hoặc một nơi thích hợp trong góc phố, chọn một vài món vặt bắt mắt làm đồ nhấm nhẹ và uống một vài ly rượu vang Bồ Đào Nha là cảm thấy đặc biệt lắm rồi.

– Nãy giờ uống bia khan và nghe ông kể các món ăn đặt biệt làm cho tôi uống bia cũng rất ngon.

Tôi với Ivan ngước cổ uống hết chai bia. Xong nó chìa tay ra bắt tay tôi, gương mặt trở nên buồn bã nói:

– Sáng mai tôi đi sớm, lần này tôi về rồi hổng biết có còn gặp lại nữa không?

Lời từ giã nghe như lời trăng trối! Và tôi nghĩ cũng như nó vậy, nhưng vẫn nói một câu an ủi thông thường:

– Trái đất này nhỏ mà, còn sống thì mình còn gặp lại.

– Tui hy vọng!

Xong tôi với nó mỗi thằng cầm một vỏ bia bỏ vô thùng rác và chia tay bằng câu chúc ngủ ngon.

Vô phòng tắm rửa, đánh răng, thay quần, áo rồi lên giường nằm nhưng chưa ngủ được. Đầu óc tôi suy nghĩ, chiến tranh lúc nào cũng buồn thảm, làm cho con người của những quốc gia khác nhau cũng bị ảnh hưởng lây và ngại ngùng, giữ kẽ mỗi khi đối diện nói chuyện với nhau. Tôi nhớ lại chuyện quá khứ, từ khi Liên Bang Sô Viết tan rã, nước Nga không còn cảnh tối tăm như thời cộng sản nữa. Người Ukraine và người Nga rất thân thiện và  làm việc với nhau rất vui vẻ. Cho tới những năm gần đây chánh trị của hai nước bốc đồng và hục hặc thì họ không còn thân thiện và bắt đầu tỏ thái độ khó chịu với nhau. Cho tới khi tổng thống Putin phát động cuộc xăm lăng nước Ukraine thì người Ukraine không thấy qua đây làm việc nữa. Lúc này tôi mới hiểu ra những người Ukraine họ về nước để đầu quân chiến đấu, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Chợt nhiên trong lòng tôi thấy thương cho dân nước Nga, họ mới hít thở không khí tự do chưa được bao lâu thì phải trở về với cuộc sống tối tăm của nước Nga thời chiến tranh lạnh. Không biết tương lai, số phận những người Nga tiến bộ này rồi sẽ đi về đâu? Và không hiểu rồi sau này, khi chiến tranh nơi đó chấm dứt, dân Nga được đi ra nước ngoài có bị người ta nhìn với con mắt mất cảm tình như người ở một số quốc gia nhìn người Việt với con mắt không thiện cảm?

Dronten 18-9- 2022

Định số

Lâm Chương

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Nếu có thể tự quyết định vận mệnh của mình thì đời tôi đâu có tệ. Tôi thuộc loại học hành không được siêng năng, nhưng có cái mộng lớn, muốn đỗ đạt cao, để khi ra làm việc khoẻ thân, lại được nhiều người trọng vọng. Bao nhiêu lần, tôi ra vào đã nhẵn mặt trường thi, nhưng kết quả chẳng lấy gì làm khả quan lắm. Thất bại trên đường khoa cử, tôi còn đang loay hoay tìm một hướng đi khác, thì lệnh động viên gởi tới. Túng thế, tôi đành trốn lính. Nói rằng trốn cũng không đúng, tôi đang chờ định mệnh đưa tôi đến một cơ hội nào đó, khá hơn trường hợp đi lính. Nếu tình trạng bấp bênh này, kéo dài tới mùa thi năm sau, may ra tôi kiếm thêm được một cái bằng cấp lận lưng cho đời đỡ tủi. Hàng ngày, tôi vẫn lêu bêu ngoài phố, ngang nhiên đi trước mặt các toán Cảnh Sát chận xét giấy tờ tùy thân của thanh niên, để tóm cổ những thằng không thi hành lệnh gọi nhập ngũ, như tôi. Và mười lần như một, Cảnh Sát đều làm ngơ, không thèm xét hỏi khi tôi đi qua. Chắc họ thấy cái mặt có vẻ hiên ngang đầy khí phách của tôi, rồi tưởng tôi là thằng đàng hoàng?

Một hôm, khi đi ngang khu chợ đông người, tôi thấy một bà bán hàng cầm đòn gánh đánh một người đàn ông đạp xích lô. Người đàn ông chỉ tránh né, đỡ đòn mà không hề phản công. Bà bán hàng vừa đánh vừa chửi rủa. Tò mò, tôi đứng lại coi, và cau mày, nghĩ: “Cái loại đàn bà đanh đá, chanh chua thế này, mà cũng có người dám lấy làm vợ!” Trong phút chốc, một xe Cảnh Sát ập tới, hốt gọn hai người lên xe. Bà bán hàng thấy tôi cau mày, tưởng tôi động lòng trắc ẩn, cảm thông với bà, nên đưa tay chỉ tôi và nói với Cảnh Sát: “Cậu này là người chứng kiến từ đầu đến cuối câu chuyện, có thể làm chứng cho tôi.”

Tôi vội chống chế: “Không! Tôi có biết gì đâu?”

Nhưng đã quá muộn, người Cảnh Sát đẫy luôn tôi lên xe, và nói: “Chúng tôi cần lời khai trung thực của cậu, giúp chúng tôi phân xử vụ này phân minh.”

Khi ngồi trên xe, trên đường về bót, người đàn bà bán hàng và người đàn ông xích lô tranh nhau để giải thích với tôi về lý do ấu đả xảy ra, cố giành phần phải cho mình. Người nào cũng mong vì cảm tình riêng trong nhất thời, tôi sẽ nói những lời có lợi cho họ. Nhưng, tôi còn tâm trí đâu mà để ý chuyện ruồi bu của họ. Tôi đang nghĩ đến vấn đề khó khăn rắc rối sắp tới của tôi.

Tại bót Cảnh Sát, trước khi lấy lời khai nhân chứng, họ yêu cầu tôi xuất trình giấy tờ tùy thân. Sau khi xem xét giấy tờ, viên Cảnh Sát ngồi sau chiếc bàn nhỏ, ngẩng đầu lên hỏi: “Cậu có giấy hoãn dịch không?”

Tôi lắc đầu. Thế là họ chẳng cần tôi làm nhân chứng. Họ tống tôi vô phòng tạm giam, chờ giao cho Quân Cảnh, đưa vào quân trường thụ huấn trò chơi súng đạn. Tôi nghĩ, định mệnh đã khiến người đàn bà bán hàng xô tôi vào khúc quanh mới của cuộc đời. Thời gian thụ huấn tại quân trường Thủ Đức, có một bài thi trắc nghiệm tâm lý. Theo lời vị sĩ quan giám khảo, bài thi này được chấm bởi máy IBM, đưa tới quyết định ám số chuyên nghiệp của mỗi quân nhân trong đời binh nghiệp. Trong bài có rất nhiều câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, vô lý.

Thí dụ: “Khi đang đứng trên lầu cao, bạn có ý tưởng muốn nhảy xuống đất không?” Chỉ những kẻ điên khùng hoặc muốn tự vận mới trả lời “có” mà thôi. Tôi không thuộc loại người này. Nhưng muốn trả lời trái ngược, để cho cái máy IBM không biết đường nào quyết định. Tôi đánh dấu thập vào ô chữ “có”. Nhiều câu hỏi khác, tôi cũng trả lời một cách bất thường như thế. Thật không ngờ, ngày ra trường, tôi mang ám số chuyên nghiệp loại tác chiến. Tôi nói với mấy tên bạn đồng khoá về điều này, và chê cái máy IBM thiếu chính xác.

Chúng nó lý luận rằng: “Đứng trên lầu cao, mày muốn nhảy xuống đất, có nghĩa mày là thằng gan cùng mình. Vì thế, cái máy quyết định đưa mày ra tác chiến để làm người hùng chiến trường. IBM chính xác quá đi chứ!”

Cũng trong thời gian ở quân trường, kỳ thi hạch miệng về môn chiến thuật, vị sĩ quan giám khảo đặt câu hỏi: “Theo tin tình báo, vào giờ G, sẽ có một trung đội địch di chuyển ngang địa điểm B. Anh nhận nhiệm vụ dẫn trung đội đến điểm B phục kích. Đúng giờ G, địch di chuyển ngang qua một tiểu đoàn, chứ không phải một trung đội như tin tình báo. Trong trường hợp này, anh là trung đội trưởng, phải xử trí thế nào?”

Tôi đứng ngẩn ra một lúc, than thầm: “Trời ơi, đặt chi một câu hỏi hóc búa, làm khó người đem thân giúp nước!” Đối với môn chiến thuật, khi huấn luyện viên giảng bài, tôi thường ngủ gục, nên sự lãnh hội và ghi chép có rất nhiều thiếu sót. Cuối cùng, tôi nghĩ, đã đem quân đi phục kích, gặp địch là phải đánh chứ còn lừng khừng gì nữa.

Tôi trả lời một tiếng cứng cỏi: “Đánh.”

Vị sĩ quan trố mắt ngạc nhiên nhìn tôi, nói: “Cấp số giữa địch và ta quá chênh lệch. Nếu đánh thì trung đội sẽ chết hết. Tôi cho anh quyết định lần thứ hai.”

Tôi lại suy nghĩ, nếu dẫn quân chạy, thì cũng chưa chắc thoát được hoả lực hùng hậu của địch, mà còn mang tiếng hèn. Chi bằng nhào vô tử chiến, dù bên ta chết hết, nhưng cũng gây cho địch một tổn thất nặng nề. (Đó chỉ là ý nghĩ thôi. Trên thực tế, có lẽ tôi sợ đến quýu cả tay chân, không dám động đậy.)
Và lần thứ hai, tôi cũng trả lời: “Nhất định đánh.”
Vị sĩ quan giám khảo lắc đầu, bỉu môi: “Anh không biết gì về chiến thuật cả. Trường hợp này, anh phải im lặng cho địch đi qua, để ta bảo toàn lực lượng. Sau đó, báo về trung tâm hành quân, cho phi pháo dội lên đầu tiêu diệt địch.” Ông ngó tôi một lúc để nghĩ ngợi, rồi nhè nhẹ gục gật cái đầu, nói tiếp: “Môn thi này, tôi cho anh mười bảy điểm, không phải vì anh giỏi chiến thuật. Đó là số điểm gan dạ phi thường của anh.”
Sau chín tháng mồ hôi, sương gió, nắng mưa trên các bãi tập vùng đồi Tăng Nhơn Phú, tôi ra trường Thủ Đức, được đưa về một đơn vị Biệt Động Quân. Nghe nói, có vị sĩ quan trưởng phòng năm, sắp sửa đi thụ huấn bổ túc một khoá tâm lý chiến. Hiện tại, tiểu đoàn đang cần một phụ tá trưởng phòng năm, để tạm thay thế điều hành công việc trong thời gian ông này đi vắng. Tôi cố tạo một bộ mặt hiền lành, để người ta thấy tôi dễ thương, cho tôi làm phụ tá thì đời đỡ khổ biết mấy. (Đâu có ai thích bộ mặt hung dữ, dễ ghét làm phụ tá cho mình).

Một buổi chiều, trong phiên hợp, ông già tiểu đoàn trưởng, nói với các sĩ quan: “Có thằng chuẩn uý mới ra trường, trông nó còn non sữa lắm, cần phải lăn chai, tẩm thuốc cho săn da, chắc thịt. Có đại đội nào nhận thằng này không?”

Vị đại đội trưởng đại đội hai, lên tiếng: “Để tôi nhận. Tôi chỉ cần “dợt” nó vài ba tháng là đêm ngủ hết thấy ác mộng, sét đánh cũng không giật mình.”

Quay nhìn tôi, ông già tiểu đoàn trưởng nói: “Tạm thời chuẩn uý về đại đội hai, rồi từ từ sắp xếp lại, tính sau.”

Tôi đã chờ đợi cái câu: “… từ từ sắp xếp lại, tính sau.” gần mười năm, nhưng chẳng thấy ai sắp xếp lại, và tính gì cả. Tôi vẫn là thằng lính đi trận cho đến ngày tàn cuộc chiến.

Về đại đội hai, tôi làm cố vấn trung đội. Theo thông lệ của binh chủng, sĩ quan mới ra trường chỉ được làm cố vấn trung đội. Gọi là cố vấn cho oai, chứ hình thức chỉ là thằng lính trơn, mang ba lô lẽo đẽo theo trung đội để học nghề đánh giặc. Sau ba tháng, nếu thấy “làm ăn” được, sẽ cho nắm trung đội trưởng.

Đúng mười lăm ngày, sau khi tôi về đại đội, một trận đánh lớn xảy ra. Giữa khuya, đang nằm ngủ, tôi choàng dậy vì một tiếng nổ thật lớn. Tiếp theo, tiếng súng nổ liên hồi không ngớt. Tôi nghe có tiếng ai la lớn: “Địch tấn công!” Trong bóng đêm lờ mờ, tôi thấy mọi người đang lao xao, tất bật xách súng đạn nhào ra kháng tuyến. Tôi cũng quơ vội súng đạn, phóng xuống hố cá nhân, nằm chết điếng, không dám ngóc đầu lên, nghĩ thầm: “Đi thứ lính gì mà lang thang rày đây mai đó, không có đồn bót phòng vệ cố định. Đêm nằm, không có lấy một hàng rào kẽm gai làm chướng ngại vật. Địch chỉ cần xông tới là vị trí bị tràn ngập ngay. Đời một chuẩn uý mới ra trường, sắp tàn mạng tại đây, đêm nay.”

Khi trận đánh còn đang tiếp diễn, không biết thằng truyền tin từ đâu vụt đến, bảo tôi hãy di chuyển chỗ khác, vì chỗ tôi đang núp, ngay tầm B40 của địch. Quả thật, đã có mấy trái B40 nổ chát chúa gần bên tôi rồi. Nhưng, tôi không đi đâu hết. Không phải tôi gan, chỉ vì quá sợ, tôi không dám ló đầu lên khỏi mặt đất mà thôi. Một lúc sau, vị thượng sĩ già trung đội trưởng bò tới, căn dặn tôi hãy nằm yên tại chỗ, và bảo tôi hô lên thật lớn.

Tôi hỏi: “Hô cái gì?”

“Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.” Thượng sĩ nói.

Tôi lập lại: “Anh em trung đội giữ nguyên vị trí chiến đấu.”

“Phải la thật lớn cho mọi người đều nghe.”

Tôi rướn đầu lên khỏi miệng hố, gân cổ hô mệnh lệnh bằng cái giọng sợ hãi lạc thần, bị át đi trong tiếng đạn nổ dữ dội như nhiều nhà cùng đốt pháo tết một lượt. Trong đêm, ba lần, vị thượng sĩ đã bò tới, bò lui bắt tôi hô lớn câu đó.

Trận đánh tàn trước lúc trời sáng. Có nhiều người chết và bị thương. Tôi lên khỏi hố, đi qua đi lại, không biết làm gì. Những người khác đang lo bó những tử thi vào poncho, và những chiếc trực thăng đang đáp xuống tải thương, dưới ánh sáng chập chờn của hoả châu.

Buổi xế chiều, sau phiên họp với các đại đội trưởng, ông già tiểu đoàn trưởng cho lệnh gọi tôi lên trình diện. Tôi hồi hộp, lo sợ ông ta sẽ xài xễ trách mắng. Vì trong suốt trận đánh, tôi chỉ rúc đầu xuống hố cá nhân, không bắn được viên đạn nào. Nhưng thái độ của ông làm tôi vô cùng ngạc nhiên.

Ông thân mật vỗ vai tôi, và nói: “Tuyến phòng thủ của đại đội hai là mặt bị tấn công mạnh nhất. Mày, chuẩn uý mới ra lò mà can đảm, và biết điều động trung đội giữ vững vị trí chiến đấu, đẫy lùi hai đợt xung phong của địch. Đáng lẽ mày được tưởng thưởng anh dũng bội tinh, nhưng còn nhiều anh em khác đã tham dự nhiều trận trước, chưa được tưởng thưởng. Thôi, lần này hãy nhường cho họ. Tao biết mày có khả năng, lần sau tao không quên đâu. Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.”

Tôi đâu biết, địch đã xung phong hai lần, đều bị đẫy lui. Công đó của ai, chứ không phải của tôi. Tôi cũng không ham cái huy chương. Tôi lo vì câu nói của ông tiểu đoàn trưởng: “…Đời còn dài, mày còn nhiều cơ hội đụng trận.” Với tôi, câu này còn có nghĩa rằng, mày còn nhiều cơ hội chạm mặt tử thần. Nghe mà ớn lạnh!

Trở lại trung đội, tôi hỏi vị thượng sĩ: “Tại sao trong đêm ông bảo tôi hô lớn mệnh lệnh nhiều lần, khi có ông đang chỉ huy trung đội?”

Ông giải thích: “Nay mai, chuẩn uý sẽ nắm quyền trung đội trưởng, và tôi làm trung đội phó. Tôi muốn tạo cho chuẩn uý một lớp hào quang người hùng. Nếu anh em không tin khả năng của chuẩn uý, khó chỉ huy lắm. Chuẩn uý yên trí đi, với cương vị trung đội phó, tôi sẽ giúp đỡ chuẩn uý hết mình. Đừng lo.”

Bây giờ, tôi mới hiểu mục đích của người đồng đội. Tôi nghĩ, định mệnh đã dùng ông như bàn tay, để sơn phết cho tôi, một tên hèn nhát được nhìn như một người can đảm. Lại một lần khác, trong cuộc hành quân vùng sình lầy. Mục tiêu là khu rừng phía trước. Khi đại đội đang lội bì bõm dưới nước, gần tới bìa rừng thì từ trong những lùm cây, địch khai hoả dữ dội. Tôi nhìn thấy nhiều người ngã xuống. Cả đơn vị lâm vào thế tấn thối lưỡng nan. Lui không được, tiến không xong. Những người còn lại phải trầm mình xuống nước, bám theo những bờ đất, bắn chống trả, chờ phi pháo yểm trợ. Tôi cũng trầm mình xuống nước. Chợt nhớ đến một con vật tối kỵ đối với tôi: con đỉa. Tôi quay đầu ra sau, quan sát. Trời ơi! Một con đỉa bự bằng cái quai dép râu, trên lưng có hai cái sọc vàng như cương ngựa, đang phóng nước đại về phía tôi. Kinh hoàng, tôi trườn lên nằm trên bờ đất. Bây giờ, tôi là mục tiêu ngon lành cho bao nhiêu họng súng từ bìa rừng bắn xuống.

Thằng truyền tin hấp tấp, nói: “Thẩm quyền gọi máy, bảo chuẩn uý xuống bờ núp đạn.”

Tôi vẫn nằm trên bờ, xả súng bắn ngược lên bìa rừng.

Lúc sau, thằng truyền tin lại nói nữa: “Thẩm quyền bảo, nếu chuẩn uý không chịu núp đạn, ổng sẽ bắn chuẩn uý chết trước khi bị địch bắn.”

Tôi nhìn lui, thấy vị đại đội trưởng chỉa họng súng về phía tôi. Tôi nhìn xuống nước, con đỉa đâu mất rồi. Nhưng, chắc còn nhiều con khác đang lặn trong nước chờ đợi tôi, để chui vào quần áo, bám vào da thịt. Nghĩ đến lớp da con đỉa nhớt nhợt, trơn lùi, tôi ghê tởm, rùng mình nổi gai ốc.

Nỗi sợ đỉa lớn hơn nỗi sợ hoả lực của địch, tôi vụt đứng dậy, quơ tay làm thủ hiệu tấn công, miệng la lớn: “Xung phong. Xung phong.”

Vừa la, tôi vừa bắn và nhào lên. Lính trong trung đội thấy tôi xung phong một cách anh dũng, cũng đứng dậy bắn, đồng loạt hô: “Xung phong” và tràn lên chiếm bìa rừng. Nhiều anh em đồng đội ngả xuống giữa khoảng đường ngắn ngủi nhưng thập tử nhất sinh này.

Nhờ vào địa thế mới chiếm làm bàn đạp, đơn vị đã thanh toán hoàn toàn được mục tiêu sau một ngày giằng co quyết liệt. Quân số trung đội tôi, hai mươi sáu thằng, chỉ trở về một nửa.

Ngày ông liên đoàn trưởng đến thăm đơn vị, để khen tặng công trạng tiểu đoàn, ông già tiểu đoàn trưởng ca ngợi tôi không tiếc lời: “Tao đứng từ xa, quan sát trận địa bằng ống dòm, thấy trung đội của mày chơi mạnh và đẹp như một mũi nhọn đầu tiên thọc vào hông địch. Nhất là mày, một chuẩn uý mới ra lò, đã tỏ ra xứng đáng là con chim gương mẫu đầu đàn. Dù chưa đủ ba tháng thử thách, tao cũng cho mày nắm quyền trung đội trưởng, từ đây. Tao đã đề nghị lên thượng cấp, tưởng thưởng cho mày anh dũng bội tinh ngôi sao bạc.”

Nghe ông tiểu đoàn trưởng nói, tôi mắc cỡ đỏ mặt. Lần này, định mệnh dùng con đỉa rượt tôi chạy về phía trước, để người ta lầm tưởng rằng tôi là một tên anh hùng gan dạ. Trong binh nghiệp, đời tôi cứ thế mà đi, như có bàn tay vô hình đưa đẩy. Bao nhiêu lần dấn thân vào bom đạn, vì chưa tận số nên tử thần chưa cầm lưỡi hái cắt đứt sự sống của tôi. Gần mười năm trận mạc, tôi chỉ bị xây xước nhẹ, vài lần. Lính trận coi chuyện đó như kiến cắn mà thôi.

Nếu đứng trên phương diện quốc gia mà xét, tôi là một công dân tốt. Chẳng có ông thầy bói nào dám tiên đoán rằng tôi có số ở tù. Cuối tháng Tư, năm bảy mươi lăm. Định mệnh lại xô tôi vào khúc quanh mới. Khúc quanh này bi thảm và ác liệt hơn khúc quanh mười năm trước.

Sau ngày chế độ miền Nam sụp đổ, tôi lò dò ra nạp mạng. Tưởng chỉ bị chửi bới sơ sơ, rồi người ta đuổi về, cho đạp xích lô, hoặc đi cày, làm ruộng kiếm ăn. Không ngờ họ lý luận rằng, kẻ tốt của chế độ này, là thành phần xấu của chế độ kia. Cùng một không gian, nhưng thời gian thay đổi, tôi vụt biến thành tù nhân, và bị đưa ra đất Bắc cải tạo. Chẳng biết Nguyễn Du thông đạt cái lý lẽ thiên cơ mầu nhiệm đến cỡ nào, nhưng trường hợp của tôi, ông đã nói quá đúng: “Cho hay muôn sự tại trời!”

Làm tù khổ sai nơi miền thượng du. Lao động quần quật giữa vùng sơn lam chướng khí. Chiều về, không đủ miếng ăn. Thường xuyên bị nhục mạ đủ điều. Đêm nằm trong bóng tối phòng giam, tôi nghĩ, sao vận mệnh con người lại bị sắp xếp bởi một bàn tay vô hình? Dù không làm được việc thiện, nhưng tôi cũng chẳng làm việc gì ác. Thế tại sao tôi lại sa vào địa ngục trần gian? Có cách nào cưỡng lại được không? Đang trong hoàn cảnh bi đát, bỗng tôi nhớ thêm một câu, trong truyện Kiều: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.” Tôi tin cụ Nguyễn Du, và quyết tâm thay đổi vận mệnh, bằng cách tháp tùng với vài người bạn, làm một cuộc vượt trại, hi vọng cải được số trời.

Toán vượt trại gồm bốn người. Trong thời gian ba tháng, chúng tôi bí mật bàn thảo kế hoạch, và chuẩn bị những vật dụng cần thiết cho chuyến đi.

Đêm đầu tiên, chui ra khỏi hàng rào trại tù, chúng tôi đi về hướng Tây, và để lại nhiều dấu vết. Mục đích đánh lừa cho địch theo dấu, truy đuổi về hướng Tây. Họ sẽ đoán, chúng tôi xuyên Lào, qua Thái Lan. Đến ngày thứ hai, chúng tôi đột ngột chuyển về hướng Bắc, và không để lại dấu vết. Sở dĩ, chúng tôi chọn hướng này vì biết được mối tình hữu nghị giữa hai nước Việt Trung đã trở mặt rồi. Chúng tôi đang nằm trong địa phận Yên Bái, dự trù mười lăm ngày sau, sẽ có mặt bên kia biên giới. Dãy núi hình rẽ quạt Hoàng Liên Sơn trong sách địa dư ngày còn đi học, hiểm trở hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi. Núi tiếp núi, chập chùng như sóng biển. Nhắm hướng Bắc, theo đường chim bay, chúng tôi leo lên tận những đỉnh núi mây mù phủ kín quanh năm, lần mò qua những lũng thấp âm u đầy sên vắt. Chịu biết bao nhiêu nhọc nhằn, nguy hiểm. Ngày thứ mười hai, một người vĩnh viễn bỏ thây lại giữa rừng già, bởi chứng sốt cấp tính. Còn lại ba người, chúng tôi vẫn đi tiếp tục đoạn đường, theo kế hoạch ban đầu. Hai ngày sau, khi đang len lỏi giữa rừng cây, trèo lên dốc núi, chúng tôi bị một người đàn bà Mèo nhìn thấy. Tính giết đi để bảo toàn bí mật, nhưng không ai nở xuống tay với người vô tội. Để sống, thì cũng biết đây là mầm tai họa. Cuối cùng, tha cho người đàn bà Mèo đi. Và chính người này, đã tố giác chúng tôi với chính quyền đia phương. Định mệnh vẫn không dung cho kẻ có lòng nhân. Chúng tôi bị bủa vây cùng khắp. Ngày thứ mười sáu, cả toán bị phát hiện, lúc tôi đang núp ló nơi một khe nước trên lưng chừng núi.

Một tên chỉa súng vào tôi, hô lớn: “Đứng dậy. Giơ tay lên.”

Tôi từ từ đứng dậy, buông xuôi hai tay.

“Giơ tay lên.” Hắn lập lại mệnh lệnh.

Tôi lắc đầu, đứng sững nhìn hắn. Cử chỉ phản đối này, như một thách thức cho hắn bắn vào giữa ngực tôi. Trong khi chờ đợi viên đạn, tôi nghe một luồng khí lạnh từ dưới bàn chân, vụt tràn dâng lên tới đỉnh đầu, làm cả người lạnh toát. Tôi vốn nhát gan, nhưng lâm vào đường cùng, tôi liều mạng. Hành động này, dễ làm cho người ta tưởng tôi là người can đảm.

Tên cầm súng kéo cơ bẩm, cho đạn lên nòng, nghiêng đầu, nhắm hướng súng vào mục tiêu. Bỗng tên chỉ huy từ phía sau, vượt tới, hất mũi súng chỉa lên trời, không cho bắn.

Hắn ra lệnh: “Trói nó lại.”

Một lần nữa, bàn tay vô hình của định mệnh đã điều khiển tên chỉ huy giữ lại mạng sống tôi. Nơi chúng tôi bị bắt, thuộc địa phận Lao Cai. Nếu chậm hơn vài ngày, có thể chúng tôi sang được bên kia biên giới Việt Trung, thoát khỏi cảnh tù đày và đời tôi đã đổi khác.

Mười năm sau, tôi ra khỏi tù. Sức khoẻ đã bị vắt cạn trong những ngày lầm than, đói khổ. Bây giờ, tôi đang sống tàn tạ nơi quê người. Nhìn lại đời mình như một bức tranh lỡ tay của người hoạ sĩ, với những phác hoạ nửa chừng dang dở, những lem nhem làm ố khung màu. Một bức tranh hư, bị ném vào xó góc, buồn hiu, đóng bụi.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

… Các mành vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp. (LKH)

“Trăm Năm Ly Hợp” là một cuốn sách của tác giả Lê Khắc Hoan, một ký giả, nhà văn cũng là nhà giáo “bên thắng cuộc,” vừa xuất bản ở Việt Nam, nói về chuyện đoàn tụ và ly cách của dòng họ Lê Khắc từ một ngôi làng nhỏ của miền Trung sỏi đá: Văn Xá, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Dòng họ này cũng như hằng trăm dòng họ của đất nước Việt Nam, bởi thảm nạn từ Việt Minh đến Cộng Sản, dưới danh nghĩa giải phóng dân tộc để đem gông cùm Cộng Sản choàng vào cổ người dân Việt Nam, đã chịu cảnh ly tán trong một thời gian dài, nhưng rồi khi nghĩ có thể kết hợp được, lại càng ly tán, xa cách nhau hơn.

Nhan đề cuốn sách là “Trăm Năm … ” nhưng thực tế từ lúc tác giả ra Bắc đến lúc trở về lại quê hương, vỏn vẹn có 30 năm. Sau khi thân phụ ông, nguyên là tri phủ Quảng Trạch và Duy Xuyên, sau ngày Việt Minh cướp chính quyền, qui ẩn về Văn Xá được cử làm “Chủ Nhiệm Việt Minh Xã” qua đời, gia đình của tác giả, hai bà mẹ và hơn chục anh em, theo ông anh rể, một viên chức chính quyền Việt Minh ra Bắc.

Tám năm sau, về phía miền Nam, năm 1954, khi đất nước chia cắt, cũng có những người tập kết ra Bắc, để lại gia đình bên này sông Bến Hải. Ở miền Bắc thì sau hiệp định Geneve, một triệu người xuống tàu bỏ tài sản, ruộng vườn, làng mạc, mồ mả cha ông di cư vào Nam, không ít gia đình đã chịu cảnh ly tán, người bên này kẻ bên kia. Trong cuốn “Trăm Năm Ly Hợp” tức “Lê Khắc Gia Phả Chí” lẽ cố nhiên cũng nhắc đến cội nguồn tổ tiên và những vị sinh tiền đã gầy dựng nên một dòng họ Lê Khắc đông đúc ngày nay. Vì làng Văn Xá nằm về phía Nam song Bến Hải, nên nếu chia hai dòng họ cho hai bờ Bắc Nam, thì phía Nam nhân sự đông đúc gấp bội bờ Bắc. Ca ngợi dòng họ và xiến dương những bậc tài trí về cả phía văn lẫn võ, tác giả cố gắng đem lại sự quân bình cho dòng họ ở cả hai miền. Nhưng khi tác giả trở về Nam, một số thân tộc đã bỏ nước ra đi, một số phải chịu cảnh tù đày, một số khác thất vọng, cay đắng, trừ những người ít bị thương tổn, không muốn liên lạc hay hợp tác, nhận họ với phía “giải phóng.” Khi tác giả gặp gỡ những người ở lại, thì dù là anh em, họ ít muốn nói đến những người ra đi, cho nên tập sách, nói là “gia phả chí,” dưới hình thức ký sự, cũng không tránh khỏi nhiều thiếu sót.

Một cuốn sách của một người “bên kia” dù là viết về dòng họ của riêng mình, cho bà con hai bên cùng đọc, cũng không tránh khỏi chuyện đi cho đúng lề, và để cuốn sách được xuất bản, cũng có đoạn ca tụng “bác Hồ”, dùng chữ “nguy quyền Saigon,” kêu gọi bà con “về đầu tư, xây dựng đất nước”, ca tụng làng Văn Xá Anh Hùng chống Mỹ (!), thiết nghĩ không có sức thuyết phục để anh em trong dòng tộc ngồi lại với nhau, mà chỉ gây thêm chia rẽ:

“Trong cuộc chiến 30 năm đằng đẳng, những người ở lại bám trụ làng quê đã lập võ công hiển hách. Văn Xá được Nhà nước vinh phong Đơn vị Anh hùng. Xứng đáng với quê hương, đông đảo anh em họ mạc của Văn Trí (bút hiệu cửa tác giả), những người Lê Khắc thoát ly đi kháng chiến mà còn sống, khi quay về đều đỏ ngực Huân chương.”

Tác giả bị ám ảnh bởi màu đỏ của huân chương, huy chương, và ông đã nói với một người chú ruột: “nếu chú Lự của cháu tập kết ra Bắc thì cháu đoan chắc chú sẽ nhận được tấm huân chương cao nhất trong số bà con Lê Khắc hiện diện ở miền Bắc,” (trang219) trái lại tôi lại bị ám ảnh bởi màu đỏ của máu. Ba mươi năm trước, vào tuổi lên 10, tác giả ra Bắc, cũng với tuổi đó ở lại quê hương, tôi đã mục kích bao nhiêu cảnh Việt Minh bắn người trên bờ ruộng, cắt cổ, mổ bụng, thả xác trôi sông rất hãi hùng, sợ đến nỗi ban đêm không dám ra vườn đi đái. Mỗi đêm nghe tiếng chó sủa là dân làng lạnh người, co rúm lại vì sợ.

Và ở một đoạn khác:

“Máu đào của bà con Lê Khắc cùng với hàng ngàn đồng bào đồng tộc làng Văn đã tô thắm lá cờ “Đơn vị anh hùng”, danh hiệu vẻ vang Nhà nước phong tặng nhân dân và lực lượng vũ trang Hương Văn! Về thăm quê hương, Văn Trí từng ngó thấy chứng tích căn cứ Lữ đoàn 101 hơn 2.000 lính Mỹ đóng quân trên địa bàn Văn Xá năm 1968. Trong kháng chiến, 1.100 người làng cầm súng thoát ly. Văn Xá đã phối hợp với bộ đội chính quy đánh 1.200 trận. Riêng lực lượng bán vũ trang của làng độc lập chiến đấu hơn 500 trận. Văn Xá có 125 thương binh và 605 liệt sĩ!”(trang 364)

Chúng tôi, người viết bài này, là người em họ của tác giả, có mặt trong cái dòng họ Lê Khắc này, là một người lính miền Nam, suốt thời gian tác giả ra Bắc, từ năm 1966 (nếu tác giả cho là thời điểm lực lượng Hoa kỳ có mặt tại miền Nam) cho đến năm 1972 (sau hiệp định Paris 1973, quân đội Mỹ đã về nước), vẫn thường về thăm viếng quê hương nhiều lần. Văn Xá vẫn thanh bình yên ổn, lâu lâu có anh du kích rình mò thẩy mấy quả lựu đạn vào chốt gác nghĩa quân.

Cũng là một nhà báo quân đội, chúng tôi có quan tâm và có các thông tin về các trận chiến, nhưng chúng tôi chưa bao giờ thấy hay nghe nói có 2,000 lính Mỹ đóng ở địa phận làng Văn xá, mà ở đây lại có đến 1,200 trận chiến thư hùng + 500 trận của du kích Văn Xá, đầy tưởng tượng như trên. (Cứ thử lấy con số 1,700 trận chiến bom đạn, chia cho thời gian 6 năm, mỗi năm xẩy ra 283 trận, mỗi tháng gánh chịu hơn 23 trận, như vậy cứ gần một ngày, Văn Xá xây ra một trận đánh. Một trận đánh kéo dài bao nhiêu giờ, mà ở đoạn kế tiếp, tác giả lại nói: “ … vẫn nguyên vẹn mái đình Văn Xá, vẫn yên lành nhà thờ Lê đại tộc, nhà thờ phái Lê Khắc, nhà thờ Trung Phụng đại phu và mấy trăm phần mộ đồng loạt đúc bia “phái Lê Khắc.”

Nếu “tài liệu” của tác giả là thật, thì Văn Xá đã trở thành bình địa, một vũng bùn hay là một đống “xà bần” như cổ thành Quảng Trị rồi! Nên nhớ diện tích làng Văn Xá là 1,390 Km2, và làng chỉ có 8,663 người dân.

Tác giả cho đây là “điều thần diệu,” nhưng với tôi, đó là điều mâu thuẫn vì những tài liệu mà tác giả dẫn chứng trên, hầu như đã trích từ một tờ Quân Đội Nhân Dân nào đó, thường nhắm vào chiến dịch tuyên truyền thành tích cho dân ngu, không nói thành có, không hề căn cứ vào những sự thật rất sơ đẳng! Một phần tác giả cũng bị ảnh hưởng bởi thứ “thành tích truyền khẩu” để bị lầm lẫn những địa danh cách xa nhau hằng trăm cây số như Ashau, A Lưới với một ngôi làng nhỏ Văn Xá thanh bình, trên Quốc lộ 1 nằm trên trục lộ Huế- Quảng Trị, chỉ cách Huế 13 km, nườm nượp xe cộ qua lại hằng ngày. Trong suốt 432 trang in, “Trăm Năm Ly Hợp” tác giả đã có thiện ý tạo sự đoàn kết của dòng tộc sau nửa thế kỷ chia lìa. Tác giả đã thú nhận gửi đi hằng trăm e- mail, lời nhắn cho bà con, nhưng không hề được hồi âm và ngay đối với người viết bài này, những đứa cháu ở Việt Nam cũng ngần ngại không muốn cho tác giả biết địa chỉ, dù là địa chỉ e-mail. Điều này chứng tỏ, “miền Bắc nhận hàng” đã xong, nhưng miền Nam vẫn còn miễn cưỡng, chưa muốn “nhận họ.” Cuốn sách ra đời, tôi nghĩ là tác giả muốn hàn gắn lại vết thương cho họ hàng, dù từ bên này hay bên kia, dù ở trong nước hay lưu lạc xa quê hương, nhưng hình như những cố gắng của tác giả không đem lại sự mong muốn. Sau 30 năm, khi con tàu xuyên Việt có thể nhả khói, kéo những hồi còi, chạy suốt, nối Hà Nội- Huế với Saigon, nhân gian, bao nhiêu giòng họ tưởng là đoàn tụ, nhưng đây là lúc chia cách lớn nhất, không còn là vì khoảng cách của sông núi, mà bởi lòng người ly tán, tưởng chừng, rồi đây cả trăm năm sau, cũng chưa thể hàn gắn được. Sau chiến tranh Nam Bắc, người cha tập kết trở về dắt díu theo một bà vợ của đảng, mấy đứa cháu của bác, để rồi nhìn nhau trong ngỡ ngàng, lạnh nhạt, thống hận và đắng cay. Họ không còn giống nhau từ sự hiểu biết, giọng nói, lối sống và tư tưởng. Vợ chồng mà đó, anh em ruột thịt mà đó, cha con mà đó, nhưng xa cách nghn trùng, càng dùng ngôn ngữ để tiến lại gần nhau, càng thấy xa nhau. Trong suốt cuốn sách, những dòng chữ sau đây có thể nói là suy nghĩ chân thật nhất của một người trở về nhận ra cái tan hoang của dòng tộc:

“Ấy là năm 1975, quy cố hương, đại đoàn tụ. Văn Trí mấp mé tuổi 40, hát váng lên “Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông/ Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công”, rồi nghẹn ngào “tôi lớn rồi mà như ngây thơ … “. Sướng vui cực điểm.

Và hẫng hụt lập tức. Ơ hay, nước Việt toàn thắng, sao người Việt không ai vui trọn vẹn. Tổ quốc hòa bình, gia đình chiến tranh. Hơn 20 ông chú bà cô của Văn Trí, gia đình đông đúc, năm 1946 cũng rẽ làm đôi, phần ra Bắc, phần vào Nam. Hòa bình hội tụ cả trăm con cháu Lê Khắc, mừng mừng tùi tủi. Nhưng các mảnh vỡ từ hai bên cố ráp vào vẫn rời ra, xộc lệch không tài nào ăn khớp. Việt Nam độc lập thống nhất, non sông nguyên vẹn còn đây, nước không mất, nhưng nhà tan. Dòng tộc ly tán. Tiếng súng im mà lòng người xao xác không yên. Các mối xung đột tự bên trong gia tộc âm ỉ, rồi bùng phát. Con cháu tung toé tứ tán mười phương. Ôi, ra là thế, tự khi nào, cuộc chiến sắc tộc khốc liệt đã quyện xoắn với nỗi niềm bứt phá giằng xé chia rẽ trong từng dòng họ, từng gia đình, thậm chí từng người. Cuộc đối đầu đụng độ khủng khiếp giữa hai hệ tư tưởng ấy, làm sao chỉ mặt đặt tên phanh phui lý giải, ngõ hầu hòa giải đồng bào tộc Việt, gắn kết huynh đệ họ Lê? Công cuộc này khốc liệt cam go không thua 30 năm bom đạn. Dòng tộc thân thương ơi, lẽ nào phải chắp nối trăm năm mới hoàn nguyên chu trình ly hợp? (trang 21)

Có thể trong số những người bên kia trở về năm 1975, ít có ai nhìn thấy được sự ly tán ngay trong giờ khắc mà chúng ta tưởng là sum họp, nỗi buồn xót xa trong ngày mà những người thắng cuộc tưởng là vui. Tác giả Lê Khắc Hoan có thể nhìn thấy nỗi đau xót ấy của một dòng họ, nhìn cây thấy rừng, như trong trăm nghìn dòng họ trên đất nước Việt nam, nhưng có lẽ ông chưa tìm thấy nguyên nhân của sự việc, vì còn mải mê với sự nghiệp “ngực đỏ huân chương” của những đứa con Lê Khắc trở về. Để kết luận, tác giả đã bày tỏ: “Hai phần ba thế kỷ trong vòng xoáy đối đầu tàn khốc, rốt cuộc, không một người nào ở phía nào được hạnh phúc vẹn tròn. Cho dù công danh hiễn đạt. Cho dù vợ đẹp con khôn. Cho dù tiếng tăm lừng lẫy, chính trực nhân từ, tài ba uyên bác … cũng nổi chìm quăng quật trong cuộc chiến đa diện, đa phương … “

Thưa tác giả, cũng là người anh họ của tôi! Chúng tôi nghĩ, hạnh phúc sẽ được vẹn toàn, nếu từ nửa thế kỷ trước, nếu đất nước này không bất hạnh có nhân vật Hồ Chí Minh, mang chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô về để đày đoạ dân tộc Việt Nam trong bao nhiêu năm, và chắc chắn chúng ta sẽ có “hạnh phúc vẹn toàn,” đó là ngày chế độ cộng sản tàn lụi trên quê hương Việt Nam.

Người lính thầm lặng

Hoang Kao Music

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Hôm đó anh rời Quân Y Viện

Cùng vết thương còn rỉ máu tươi

Bên thắng cuộc không cho điều trị

Bởi vì anh là lính Cộng Hòa

Anh chống nạng ra đường trưa nắng gắt

Những thương binh dìu dắt nhau đi

Rồi chia tay mỗi người mỗi ngã

Sau cáo văn nhật lệnh đầu hàng

Anh lê mình trên đôi nạng gỗ

Một chân đi khấp khễnh thấp cao

Chân kia nằm chiến trường Bình Phước

Giữ dùm anh người lính can trường

Năm năm trong trại tù lao cải

Anh trở về nhà đã mất rồi

Những người thân đi kinh tế mới

Chẳng còn gì ngoài nỗi cam tâm

Anh trở lại chiến trường Bình Phước

Sống bằng nghề cạo mũ cao su

Nhiều đêm nhớ những đồng đội cũ

Thịt xương tan trên mảnh đất này

Anh tìm về nơi từng chiến đấu

Đến những nơi đồng đội anh nằm

Đem họ về gần nơi anh ở

Nhang khói và chăm sóc mộ phần

Anh đã sống một đời như thế

Cùng những người chiến hữu ngày xưa

Sống trọn tình huynh đệ chi binh

Cho đến khi anh giã từ trần thế

Anh đã về bên đồng đội cũ

Đất Mẹ ôm người lính vào lòng

Đêm khuya khoắc cùng bao chiến hữu

Nhớ một thời chiến đấu bên nhau

Hạ sĩ nhất Biệt Động Quân Võ Phùng Dương

Anh đã sống một đời người lính

Và chết đi như một anh hùng

Nén hương long xin gửi đến anh

Cùng một phút cuối đầu tưởng niệm

Anh đã sống một đời người lính

Và chết đi như một anh hùng

Nén hương lòng xin gửi đến anh

Cùng một phút cuối đầu tưởng niệm

Bò bía

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 3rd, 2023

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Tranh Bảo Huân

Bà con mình ai cũng biết: cuộc sống lứa đôi không bao giờ toàn bích. Mít hay bắt chước Mỹ, bắt chước Úc ăn mừng 30, 40, 50 năm dìu nhau chống gậy đi hết cuộc đời ô trọc (lóc) nầy chẳng qua là hai vợ chồng ăn mừng sự tha thứ, độ lượng cho nhau. Vợ tha thứ cho sự ngu ngốc của chồng. Chồng bỏ qua thái độ quá đáng của vợ! Tiền bạc không làm cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn; chỉ tánh tình và sự chung thủy mới đóng vai trò quyết định. Tại sao hôn nhân cần sự chung thủy? Nếu không có sự thủy chung, em yêu sẽ ‘thuốc’ mình chết!

Như chuyện của thiên hạ trong thời buổi hỗn mang chiến tranh, chuyện tình của tui cũng ghềnh thác lắm. Chiếc thuyền tình của tui cuối cùng rồi cũng lật chìm theo vận nước nổi trôi.

Chẳng qua em yêu của tui có má Việt, ba Tiều. Là xẩm lai, nên em đẹp não nùng. Hồi còn con gái, có một tay bác sĩ và tui cùng đeo đuổi theo em. Tay bác sĩ ve vãn em bằng một đóa hoa hồng! Tui cho em một trái táo. Em không hiểu nên hỏi: “Tại sao lại là trái táo?” Tui trả lời: “Vì chữ có câu rằng: “An apple a day keeps the doctor away”. Mỗi ngày em có một trái táo thì bác sĩ đi chỗ khác chơi!”.

Em thấy tui miệng lưỡi nên em kết tui để học thêm tiếng Việt. Còn tui kết em để tìm hiểu thêm về người Hoa. Chớ tui thấy ông Vương Hồng Sển, ông Sơn Nam dạy tui về quê tui chưa đủ. Kinh nghiệm cho tui biết là học trên giường là lẹ nhứt.

Em yêu dạy tui: Chợ Lớn nơi em yêu khóc oe oe chào đời có: ngũ bang: người Quảng Ðông, người Triều Châu, người Hải Nam, người Phúc Kiến, người Hẹ. Và em nói quê của anh yêu Lục tỉnh Nam Kỳ gồm: Người Quảng ở nhiều nhất là tại ba tỉnh Miền Ðông: Biên Hoà, Gia Ðịnh, Ðịnh Tường. Người Tiều ở ba tỉnh Miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Mới quen sơ sơ chưa hun em được cái nào thì mùa Hè đỏ lửa CSBV tấn công. Ðang cà nhỏng tại giảng đường năm thứ hai, ngày 10 tháng 8 năm 1972, tui vô tiểu đoàn 2, khóa 4/72/SQTB. Tới ngày 19, tháng Năm, năm 1973 gắn trên vai chiếc lon chuẩn úy trước khi giã biệt kinh kỳ trên đường ra mặt trận tui về Chợ Lớn tìm em.

Em yêu mặc xường xám yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu, em dắt tui đi ăn bò bía. Bò bía là món ăn chơi của Triều Châu gọi là bạc bỉnh, bánh mỏng, đọc kiểu mình là bò bía.

Em yêu dắt tui đến góc đường Lê Lợi và Pasteur. Có lúc em ăn gỏi bò cay thấu trời. Có lúc em ăn phá lấu lòng gà, lòng heo hay lòng vịt, lưỡi heo, dồi, mề, gan…

Tui nghĩ thầm trong bụng mình lấy á xẩm nầy ăn hàng nhiều quá mạt là cái chắc. Hình như em đọc được cái đầu của tui hay sao nên em trấn an tui là em biết cách làm bò bía cho anh nhậu với beer 33.

Ăn xong, em cứ hít hà hoài nên tui đưa em xề qua Viễn Ðông xe nước mía ép với trái tắc gần xịt kế bên.

Ðó chỉ là kỷ niệm. Sau tháng Tư 75, sập tiệm, CS bắt tui đi tù cải tạo. Ðược thả về, tui tự ái không tìm em. Nhưng em lại tìm tui. Em vẫn đợi anh về; dù có mưa tràn trề ngập hết nhà em. Ngày hội ngộ tương phùng Ngưu Lang và Chức Nữ cũng vào tháng Bảy mưa ngâu. Em yêu trổ tài làm bò bía đãi chàng thiếu úy sa cơ thất thế ở tù CS về.

Tui chui vô bếp với em. Bò bía ngon bá chấy bù chét hay không là do tương để chấm. Em làm tương ớt trộn đậu phộng giã nhỏ, phi cho thơm bằng dầu ăn cùng hành khô băm nhỏ.

Em kêu tui chiên hột vịt kiểu ‘Omelette’ thật mỏng. Em luộc lạp xưởng, tôm khô ngâm nước ấm cho mềm. Rau xà lách, rau thơm, cà rốt, củ sắn, su hào rửa sạch, gọt vỏ xắt sợi, tỏi bằm, đậu phộng rang bóc vỏ đâm giã nhuyễn, tương đen cuộn lại với bánh tráng.

Tranh Bảo Huân

Em nói bà cố em bên Triều Châu, cuốn với bánh tráng làm bằng bột mì. Còn bên mình cuộn với bánh tráng làm bằng bột gạo.Thế nên nhờ em dạy tui rành món bò bía sáu câu.

Nhưng chuyện vợ con là phần số mấy ông ơi. Nhà em bị Ðỗ Mười hoạn lợn từ ngoài Bắc vào đánh tư sản mại bản dài dài từ năm 1976. Bề của em tức ba em thấy không thế nào sống nổi nữa nên quyết định bỏ hết nhà cửa, xuống thuyền vượt biên, vượt biển. Ngày gần đi, em tìm gặp tui để vĩnh biệt. Em khóc bụp hai con mắt. Tui không khóc được. Ðôi môi chỉ giựt giựt. Cả tháng em yêu đi, tui như phát điên. Chỉ mong đêm về, ôm cái radio transistor bắt đài BBC để hy vọng coi có tin tàu buôn nào vớt được thuyền vượt biển. Cả trăm ngàn thuyền nhân chết trên Biển Ðông. Những đồng bào xấu số đó có em yêu của tui hay không? Tui không biết. Tui chỉ biết là tui mất dấu em từ độ ấy.

Sau nầy lang bạt qua Úc, tui không còn yêu ai được nữa, tui ở vậy. Mỗi lần nhớ tình em năm cũ, tui đi chợ mua đồ về làm bò bía, nhậu với beer để nhớ tới cái thời yêu dấu đó.

Ba chục năm, vết thương rỉ máu xưa đã liền sẹo. Tui đang đi vào buổi chiều bóng xế của đời mình thì tình cờ qua Facebook, tui quen được một em xuất sắc trong vai tì nữ. Tui mời em từ Sydney bay xuống Melbourne để mật đàm. Ðêm em tới, trên bàn ăn, tui đốt đèn cầy cho thêm phần lãng mạn giữa chàng và nàng trong tuổi đời bóng xế hoàng hôn trời sắp tắt.

Tui đãi em món bò bía. Em vừa ăn vừa uống beer. Em khen nức nở: “Bò bía cuốn chắc, nhưn không rớt ra ngoài. Cuốn nào như cuốn nấy giống hịt như hai điếu thuốc Pall Mall, như hai em sanh đôi.”

Xong em hỏi tui mua ở đâu mà ngon quá vậy? Tui hểnh mũi nói: “Anh làm đó”. Nghe nói vậy, đang ngồi nhậu, em chợt đứng dậy chạy mất dép tuôn luôn ra cửa.

Sau nầy nghe em nói: “Chạy là phải!” Thằng chả nấu ăn ngon như vậy ngu sao mà nhào vô làm vợ thằng chả ai mà hầu thằng chả cho nổi?

ĐXT

Tháng Tư: Bản hòa ca của màu sắc nhân văn

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Dù xa quê hương đã lâu, nhưng cứ vào những ngày tháng Tư, lòng tôi lại đau đáu nhớ về Việt Nam. Ký ức hiện lên với những nhịp điệu riêng: những hàng cờ, biểu ngữ và những câu chuyện quá khứ được nhắc lại với nhiều cung bậc cảm xúc. Mỗi vùng miền, mỗi thế hệ đều có cách tưởng niệm riêng, phản ánh khúc quanh lịch sử mà họ đã đi qua. Giữa những bối cảnh ấy, tôi chỉ mong tìm thấy một điểm chung: khát vọng về sự bình yên và khả năng chữa lành vết thương bằng lòng nhân ái. Tháng Tư nhắc ta rằng hòa giải không phải là quên đi, mà là học cách bước tiếp với một trái tim nhẹ nhàng và nhân văn hơn.

Tuy nhiên, tôi sẽ không viết về đất nước mình, bởi vì những ngày này đã có rất nhiều người viết. Tôi muốn kể về tháng Tư ở Hòa Lan, nơi tôi đang sống qua hơn nửa đời người. Những ngày này, Hòa Lan đón tôi bằng nắng dịu, bằng những lễ hội chan hòa tiếng cười và một cộng đồng luôn nâng niu sự tự do của mỗi cá nhân. Người ta xuống phố để sẻ chia niềm vui giản dị: giữa sắc cam rực rỡ và những giai điệu vang lên từ quảng trường, tháng Tư hiện ra như một khoảng lặng đẹp đẽ, nơi con người tìm thấy sự bình an trong nền văn minh đa dạng.

Đây là thời khắc đẹp nhứt trong năm của xứ sở cối xay gió. Khi khí trời trở nên mát mẻ, thiên nhiên và con người dường như cùng cất lên một nhịp điệu chung. Hoa nở rộ, chim líu lo trên cành và con người tưng bừng mở hội.

Trên những cánh đồng nằm dưới mực nước biển, bông tulip bắt đầu lan ra như những tấm vải lụa màu rực rỡ. Ở Lisse, Noordoostpolder hay Flevoland, những cánh đồng nối tiếp nhau đến tận chân trời, đỏ, vàng, tím, hồng xen nhau thành một bức tranh vừa tỉ mỉ vừa khoáng đạt, đẹp đến nao lòng. Không phải chỉ trong những cánh đồng lớn, mà ngay mảnh vườn nhỏ trước mỗi ngôi nhà cũng có vài bụi bông tulip. Vườn nhà tôi không trồng tulip, nhưng hổng biết từ đâu cũng chui lên một bụi, vừa nở được hai bông màu đỏ tươi, như một thói quen giản dị và bền bỉ của người Hòa Lan với loài bông đã trở thành biểu tượng của quốc gia.

Mỗi năm cũng trong mùa xuân đầy bông hoa ấy, khu vườn Keukenhof mở cửa, như một không gian được chăm chút tỉ mỹ đến từng chi tiết. Hơn bảy triệu loại bông hoa không chỉ được trồng để khoe sắc mà còn để kể một câu chuyện về lịch sử làm vườn, về sự kiên nhẫn và cả niềm tự hào âm thầm của một quốc gia nhỏ bé nhưng giàu sáng tạo.

Nhưng tháng Tư không chỉ có màu sắc của bông hoa. Ngày 27 tháng 4 là Ngày của Quốc Vương. Khắp Hoà Lan rực lên sắc cam, màu của hoàng gia. Từ Amsterdam đến Utrecht, Rotterdam, những con phố, dòng kinh và quảng trường bỗng trở nên sống động hơn ngày thường. Màu cam xuất hiện trên áo quần, trên mặt người, trên cờ, trên những món đồ nhỏ xinh bày bán khắp nơi. Người ta tràn ra đường, ca hát, buôn bán, trò chuyện. Ở mỗi trung tâm chợ, từ thị xã đến thành phố lớn, đều có khu chợ đồ cũ: từ máy móc điện tử, áo quần, sách vở đến những món đồ chơi trẻ em, tất cả được bày ngay trên mặt lộ.

Không có khoảng cách giữa người với người trong ngày này. Chỉ có sự cởi mở, tiếng cười rất con người và một cảm giác tự do rất rõ ràng, rất gần gũi. Một lễ hội không chỉ để kỷ niệm mà còn để ta hòa chung nhịp thở, cùng chia sẻ bầu không khí hiền hòa và lối sống nhân văn. Đi giữa Hoà Lan vào những ngày này, người ta dễ nhận ra một điều: đất nước này không chỉ đẹp ở cảnh quan mà còn ở cách nó giữ gìn sự cân bằng trong tâm tức con người.

Giữa những con kinh thẳng tắp của Amsterdam, những cây cầu đá cổ kính và những ngôi nhà cũ xưa mái nhọn soi bóng xuống mặt nước, thời gian dường như trôi chậm lại. Xa hơn một chút, ở Kinderdijk, những cối xay gió vẫn đứng đó, lặng lẽ như đã từng qua nhiều thế kỷ. Hay ở Giethoorn, nơi không có tiếng xe, chỉ có nước và những lối đi nhỏ, cuộc sống giữ nguyên một nhịp riêng rất yên bình.

Nhưng chỉ cần bước thêm vài con phố, một Hoà Lan khác hiện ra. Những công trình kiến trúc táo bạo, những không gian nghệ thuật đương đại, những tuyến giao thông vận hành nhịp nhàng, tất cả cho thấy một xã hội không ngừng chuyển động. Mặc dù đất nước này cũng trải qua chiến tranh, nhưng người Hòa Lan trân trọng quá khứ không bám víu hận thù. Họ sống với hiện tại, mở lòng với cái mới, với những ý tưởng khác biệt, với một tương lai đang được xây dựng từng ngày.

Có lẽ vì vậy cho nên trải nghiệm ở Hoà Lan luôn mang một cảm giác thanh bình trọn vẹn. Buổi sáng có thể đi một vòng xe đạp dưới hàng cây, khi mệt dừng lại bên đường mua một miếng phô mai kẹp bánh mì hay khoai tây chiên dòn chấm sốt mayonnaise hoặc chiếc bánh ngọt stroopwafel còn ấm. Buổi chiều, người ta có thể bước vào một bảo tàng, hay đơn giản là ngồi bên kinh nước, nhìn thành phố trôi qua trong yên tĩnh. Và khi đêm xuống, những quảng trường lại sáng đèn, mang theo một nhịp sống hoàn toàn khác.

Hoà Lan không phô trương. Vẻ đẹp của nó đến từ sự hài hòa giữa cũ và mới, giữa tĩnh và động, giữa truyền thống và những bước đi rất hiện đại.

Đến xứ sở đầy bông hoa, người ta không chỉ nhìn thấy một đất nước. Mà còn cảm nhận được một cách sống: cởi mở, tinh tế và luôn hướng về phía trước nhưng không đánh mất những gì đã làm nên bản sắc của mình.

Và có lẽ, điều còn lại sau hành trình của du khách không chỉ là ký ức về những cánh đồng tulip, khu vườn triệu hoa hay những lễ hội rực rỡ… mà là một nhịp sống chậm hơn, sâu tận đáy lòng, cái thứ mà người ta vô tình mang theo khi rời đi.

Dronten 20/4/2026

Chuồng người

http://www.dutule.com

Lâm Chương

23 Tháng Chín 2019

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức.
Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Đổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh.

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó:

– Mày tên gì?

– Ný!

– Tên ngộ quá! Họ gì?

– Nê!

– Cái gì? Làm gì có họ Nê?

– Có chứ! Rất nhiều! Tên họ của cháu: Nê văn Ný.
Tôi chợt hiểu, bật cười:

– Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý.

– Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný!

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný.

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn:

– Ný! Mày làm cái gì đó?

Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi.

– Hôm nay sao chú được nghỉ?

– Tao bị bong gân chân. Còn mày?

– Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội!

– Mày tìm gì trong thùng phân?

– Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.

– Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi!

– Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.

Đứng tần ngần một lúc, nó hỏi:

– Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi!

-Vô đây!

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói:

– Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi.
Tiếc thật!

– Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc?

– Thích chứ! Được xơi thịt!

– Cán bộ cho ăn hả?

– Không. Làm gì có người tốt thế!

– Vậy ăn bằng cách nào?

– Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Đến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát!

-Tụi mày tài thật!

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật.

– Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ?

– Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết.

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi:

– Chú cho cháu thêm bi thuốc!

– Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ.

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục:
– Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày!

– Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái. Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết!

– Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo.

– Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi!

– Ăn thịt sống hả?

– Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao?

– Tụi mày ăn uống như người tiền sử!

– Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu?

– Chẳng phải xứ nào cả! Đó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống.

– Đấy! Họ vẫn khỏe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế!

– Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng?

– Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng.

– Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào?

– Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon.

Nói xong, thằng Ný đứng dậy:

– Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều.

Nó quay lưng, ra khỏi lán.

Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai của người bệnh ho lao, tôi gọi: -Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc lào, đêm nay hút cho đỡ lạnh!

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Đồi nương ẩm đục. Ngày hai mươi chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phải xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ cỏ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói:

– Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân!

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi.

– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng!

– Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế!

Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó nằm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió.

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói:

– Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay!

Nhiều thằng khác lao nhao:

– Nôn? đi! Nôn đi!

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thằng la lớn:

– Hãy khoan!

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný:

– Hãy nôn vào đây!

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Đồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn.

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá!

Thằng bưng thau nói:
– Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi!

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi:

– Mày khỏe hẳn chưa?

– Hôm sau nà khỏe ngay!

– Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không?

– Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi.

– Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ?

– Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ!

Tôi trợn mắt:

– Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi?
– Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói.

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 29 Jun 2026

Mười hai năm, trên xứ Mỹ. Thời gian không dài lắm, nhưng cũng đủ lãng quên những oán hờn ngày cũ. Bao nhiêu khuôn mặt bẩn thỉu xấu xa trong quá khứ, nhòa dần trong trí nhớ. Chỉ hình ảnh một cô Nga là còn đậm nét trong tôi. Muốn tìm cô để đền cái ơn tri ngộ, không là điều dễ. Trên đất nước Kampuchia ngày ấy, tôi cũng chẳng biết cô lưu lạc phương nào. Và tên Nga cũng chưa chắc là tên thật của cô ở quê nhà.

Làm sao tìm lại được một con chim bay trong bao la trời đất?

Lâm Chương

(Trích trong tập truyện “Đi giữa bầy thú dữ”, Văn Mới, 2002)

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 29 Jun 20265

– “Tôi vừa ở bệnh viện về! Anh từ phòng cấp cứu mới ra!”nghe từa tựa như hai câu mở đầu trong bài thơ “Đôi Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng. Câu nói không mang những nỗi reo vui như thời thơ ấu: “Buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng đầy sương thu và gió lạnh, … ” hay “Je vais vous dire ce que me rappellent tous les ans … ” Ở tuổi già, nhất là tuổi già ốm đau ở hải ngoại, ai mà không đôi lần đã thốt ra câu nói này!

Nhưng lần này ở bệnh viện về, tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn. Nếu có lê thê vài chi tiết, đó không phải là muốn quan trọng hoá vấn đề, mà là cần thiết để chuyên chở những điều mà tôi thực tâm muốn bày tỏ và tâm sự với bạn bè tôi, những vị cao niên vừa bước qua khỏi tuổi 65. Ở tuổi già chúng ta có nhiều bệnh không dẫn đến cái chết, nhưng chúng ta vẫn lo sợ và cần đến sự cấp cứu. Buổi sáng hôm ấy, khi thức giấc tôi cảm thấy một dòng nước từ mũi trái đang chẩy ra, lấy mảnh khăn giấy chậm thì mới hốt  hoảng nhận ra đó là một dòng máu tươi. Thời thơ ấu, hìnhnhư ai trong chúng ta cũng đã có một lần bị “chảy máu cam” vì chạy chơi ngoài năng, hay đánh lộn ngoài đường “chảy máu mũi,” được mẹ vã nước lạnh lên trán, nhét những đọt lá dâu non vào mũi. Chuyện này tái diễn nhiều lần, chỉ sau một phút là máu ngưng chảy. Nhưng lần này, tuổi đã già, lại đang ở nơi xứ sở đang có nền y tế khá tốt, dòng máu từ mũi liên tục chảy mươi phút, bịt kín mũi thì máu chảy xuống miệng, lỡ máu chẩy không ngừng thì sao? Chỉ còn cách gọi cấp cứu để vào bệnh viện.

Ở phòng cấp cứu, nhân viên y tế không cho uống thuốc cầm máu, chỉ tìm cách chặn chỗ máu chảy, nhất là khi chỗ ấy lại là lỗ mũi nữa, thì quả là một cực hình. Bác sĩ đưa vào lỗ mũi một vật tương tự như đầu lọc của một điếu thuốc lá, nhưng có kích thước lớn và dài hơn nhiều, xong bơm một dung dịch vào đó, khiến vật ấy căng phồng lên, chận không cho máu chẩy thêm (Rhino Rocket.) Chảy máu mũi là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nên không thể vào bệnh viện để tốn kém cho ngân sách y tế, nên máu hết chẩy thì về nhà.

Về đến nhà, máu tiếp tục chảy thì lại phòng cấp cứu, on-off như vậy đến lần thứ tư. Lần đầu hốt hoảng nên gọi 9-1-1, ba lần sau bình tĩnh hơn, và nghĩ là không đến nỗi chết, nên nhờ con lái xe đưa vào bệnh viện.

“Sự bất quá tam!” Đến lần thứ tư, thấy bệnh nhân “lỗ mũi ăn trầu” lại xuất hiện, bác sĩ trực hội ý với các bác sĩ chuyên môn về tai-mũi-họng cho bệnh nhân vào bệnh viện và mời một toán giải phẩu chuyên môn đến ngay trong vòng một tiếng đồng hồ sau, đưa chúng tôi lên bàn mổ. Kỹ thuật này gọi “demolization” tương tự như thông tim, thời gian là 60 phút, dùng đường tĩnh mạch từ đùi phải để đưa một bong bóng nhỏ lên tận một mạch máu nhỏ trên mũi để làm cho máu ngưng chảy.

Lần này tôi có thể yên tâm về nhà, hy vọng triệu chứng “hộc máu mũi” này không còn xẩy ra nữa, vì cách đây 9 tháng chuyện này đã xẩy và tôi đã phải vào bệnh viện một lần rồi. Tôi khai báo với các bạn là tôi chỉ có Medicare-Medicaid, một thứ bảo hiểm y tế mà người mang quốc tịch Mỹ ở đây ai trên 65 tuổi cũng có, không cần phải đi làm một ngày.

Theo chỉ dẫn trong sách y khoa, chỉ khi nào chảy máu mũi trên 20 phút mới đi bác sĩ (không gọi 9-1-1 để cấp cứu) vì đây là một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng. Với một bệnh không nguy hiểm đến tính mạng, cơ quan y tế Mỹ đã làm cho tôi một cuộc “tiểu giải phẩu” với một toán chuyên khoa về tim mạch, mà tốn phí không dưới $30,000. Một trường hợp nguy hiểm đến tính mạng như một người bạn tôi mới đây, vào bệnh viện cấp cứu vì bệnh tim, làm by-pass, phải có đến ba bác sĩ túc trực bên giường bệnh, chi phí lên đến $80,000, mà người bạn tôi không phải móc túi chi ra một đồng. Đó là nói về ca mổ, chưa tính nằm bệnh viện hơn tuần, thuốc men, tiền ăn uống, tiền xe cấp cứu. Ở đây cũng có những vị cao niên, may mắn chưa vào bệnh viện một lần, nhưng cũng có người vào ra cấp cứu và bệnh viện “như đi chợ,” vậy thử hỏi chi phí y tế mà chính phủ Mỹ trả cho những dịch vụ y tế này lên đến con số bao nhiêu?

Ngoài chuyện housing, tiền trợ cấp sinh sống hằng tháng, tiền trả cho bác sĩ và dược phòng, sống yên như vậy, tuổi già chúng ta cũng đã làm khổ “nhà nước” bao nhiêu rồi. Nay chỉ một cơn đau, một lần vào bệnh viện, chúng ta đã “đốt” hết của quỹ y tế 50,70 nghìn đô la.

Sở dĩ tôi nói “vòng vo Tam Quốc” như vậy là để nhắc  lại chuyện “Cá Tháng Tư” mà tôi đã “thả” ra ngày này, cách đây hai năm. Giả dụ, chính phủ sẵn lòng cấp chonhững ai là di dân trên 65 tuổi ở đất Mỹ này, một số tiền, một lần $30,000 nếu họ bằng lòng rời bỏ nước Mỹ này để  về nơi quê quán, mà không trở lại. Câu chuyện “giả tưởng” nhưng rất có nhiều người tin vì trong chúng ta cũng có nhiều người có con cái, thân nhân ở Việt Nam, hay vì tuổi  già cô đơn, con cái tệ bạc, nếu có được một số tiền về quê xây dựng lại cuộc đời, yên vui tuổi gìa, họ sẵn sàng chấp nhận. Thật ra, số đông cao niên còn bịn rịn, lưu luyến cái  đất Mỹ này cũng vì còn trợ cấp tài chánh, nhà cửa, y tếtương đối đầy đủ mà về lại cố hương, không bao giờ có được.

Đề nghị của tôi có lợi cho nước Mỹ. Trong trường hợp của tôi và người bạn bị bệnh tim trong câu chuyện ở trên, nếu chấp thuận nhận mỗi người $30,000 và đã trở về nước, thì chính phủ Mỹ hai năm nay đã “saving” được một số tiền khá lớn. Con số này nếu nhân lên với con số “cao niên tị nạn” bằng lòng với giải pháp “rời” nước Mỹ như trên, quỹ y tế của liên bang Hoa Kỳ sẽ đỡ được một gánh nặng. Tiếc rằng chưa có vị dân cử nào ở  thủ đô Hoa Thịnh Đốn “chộp” được con “Cá Tháng Tư”của tôi.

Tôi nghĩ đến một chuyện chẳng may, nếu một ngày nọ, quỹ y tế của nước Mỹ không còn hay nghèo đi, lấy gì để trả y phí cho trường hợp của tôi hay bạn tôi. Nước Mỹ thật sự đang giàu có, trong bệnh viện, từ cây kim chích, miếng bông, hộp khăn giấy, cái khẩu trang, bịch nước biển, chiếc khăn trải giường … và những vật dụng y tế, thuốc men đắt tiền, chưa lúc nào thấy thiếu. Nhưng liệu với lối hành xử như chúng ta hiện nay, trong tương lai, chúng ta hay con cháu còn được hưởng những tiện nghi như bây giờ không.

Cho tất cả mọi người trên 65 tuổi, có lợi tức thấp hay không có lợi tức, ngoài trợ cấp gia cư, y tế, lương thực, chính phủ phải trả thêm tiền viện dưỡng lão có y tá, săn sóc người bệnh ngoại chẩn, dịch vụ săn sóc tại gia, nhu cầu khám bệnh và thử nghiệm, dụng cụ y khoa dài hạn (giường nằm, xe lăn, gậy chống, tã lót … ) Như vậy cũng chưa đủ, các bạn cao niên, trong khi còn lái xe được, còn kiếm chỗ day-care để đến đó ban ngày, vui chơi, ăn uống, tập thể dục, làm theraphy, chơi computer. Thuốc men thì nửa xài nửa bỏ, bác sĩ chiều bệnh nhân, khi thì xin thuốc bao tử cho bà cô bên nhà, khi thì cần thuốc dán đau lưng cho ông anh rễ ở quê. Nhức mỏi? (Ai già trên 70, như cổ xe quá thời gian mà không xộc xệch,) thì tìm đến các “pain center” than van, nhõng nhẽo như những đứa trẻ, để có người đắp nước ấm, xoa bóp, chạy điện. Tiền ấy ai trả? Chúng ta có ý định tham gia một cuộc biểu tình chống việc cắt giảm Medicare chứ? Thì trước hết, chúng ta phải tiêu pha dè xẻn, hợp lý! Cũng như chúng ta đòi nước Mỹ phải có biện pháp kinh tế với Việt Nam, trong khi chính  chúng ta “tuồn” hàng chục tỉ đô la về nước mỗi năm. Điềuđó có mâu thuẫn chăng?  Thấy những tiện nghi, đặc biệt là tiện nghì y tế màchúng ta may mắn được hưởng hôm nay, trong lòng tôi thấy mang ơn nước Mỹ. Đối với cá nhân tôi, nước Mỹchăng có món nợ nào, như nhiều người Việt Nam đã kêu gào nước Mỹ đang mắc nợ họ. Tôi không những chỉ mang nợ những ưu đãi vật chất của quốc gia này, mà còn mang ơn mối tình cảm của những nhân viên ngành y tế tận tâm, dịu dàng với bệnh nhân, mà tôi không dám dùng hai chữ “từ mẫu” để tránh một sự liên tưởng đau lòng. Tôi mang ơn những sự đón tiếp sốt sắng trong phòng cấp cứu, dù lúc đó đồng hồ trên tường đã chỉ ba giờ sáng. Tôi mang ơn người  bác sĩ đã “xin lỗi” tôi, hay người y tá đã nắm chặt tay tôikhi tôi rên rỉ vì không chịu nổi cơn đau.

Tôi sợ rồi đây, các bạn trẻ của tôi sắp bước vào tuổi 66, 67 (mà không bao giờ có thể trở lại con số 65,) và cả con cháu của tôi, những thế hệ lỡ đường sẽ không còn đượchưởng hạnh phúc như tôi nữa!

Sương rừng bát ngát

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 28 Jun 2026

Năm mươi năm trước trên núi rừng

Tôi đã gặp anh

Một người lính không còn nguyên vẹn

Sau bảy mươi lăm trên kinh tế mới

Tôi gặp một người lính phế binh

Chân tay anh mất đi một nửa

Nửa kia năm lại chốn sa trường

Anh mặc đồ nhà binh cũ nát

Rách tả tơi như cuộc đời anh

 Chân nạng gổ một tay cầm cuốc

Đắp nhọc nhằn lên mỗi luống khoai

Tôi còn nhõ nhưng âm thầm hiểu

Hiểu những người một thuở vì dân

Anh mất mát cho tôi lành lặn

Chiến cuộc tàn khổ cuộc mưu sinh

Đêm rừng lạnh sương mù bát ngát

Tôi nghe anh kể chuyện đời mình

Gõ nắp xong và anh khẽ hát

Bón tro buồn liệm kín đời anh

Anh trở về trên đôi nạng gỗ

Anh trở về bại tướng cụt chân’

Anh trở về đời đau lặng lẽ

Một mình anh bên núi rừng xanh

Ngoài rừng khuya vọng về tiếng cú

Ánh trăng mờ tan giữa màu sương

Đôi mắt anh hình như ướt lệ

Tôi thấy mình mắt cũng rung rung

Ôi một thời trên kinh tế mới

Có những điều chẳng thể nào quên

Tôi đã gặp người trai lính trận

Mất tay chân khổ nhọc núi rừng

Năm mươi năm chỉ là cơn mộng

Cầu chúc anh vạn sự an lành

Tôi vẫn nhớ một đêm rừng lạnh

Ngồi nghe anh kể chuyện chiến trường

Tôi vẫn nhớ một đêm rừng lạnh

Bếp lữa buồn hiu hắt đời anh

Tôi vẫn nhớ một đêm rừng lạnh

Bên bếp lữa hiu hắt

Tôi ngồi nghe người phế binh

Hát nhạc buồn như đời anh