Gió ngược.

Lâm Chương

Post by Sơn râu 2 Jul 2026

Sơn Ca và mèo ngủ chung, mèo nằm trong lòng, gối đầu lên cánh tay nó như một đứa em cưng. Nó thường vuốt ve, nhiều lúc còn hôn lên cái mũi đỏ hồng của mèo nữa.

Ông Lâm nói: “Con không nên hôn mèo.”

“Why?” Nó hỏi.

Ông Lâm không thích lối hỏi cộc lốc theo kiểu người Mỹ. Ông dặn các con, ngoài thì giờ ở trường, về nhà phải nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Tập cái lễ độ của người Đông Phương, gọi dạ bảo vâng. Ông sợ con ông quên nguồn gốc giống nòi, và kể với nó về chuyện Lạc Long – Âu Cơ, trăm trứng trăm con.

Nó hỏi lại: “Chuyện ấy có thật không?”

“Đã bảo rằng truyền thuyết, thì đừng hỏi thật hay giả. Hỏi thế chẳng khác nào con móc họng ba.”

“Móc họng là gì vậy ba?”

“Là kê tủ đứng chận họng không cho người ta nói.”

“Nhưng con hỏi để tìm hiểu.”

“Tìm hiểu thì phải biết lắng nghe, chứ không phải hỏi có tính cách bắt bí.”

Trong gia đình, ông Lâm cảm thấy có điều gì không ổn đối với các con. Chẳng hạn, khi ông nhắc về một xứ sở xa xôi có một nền văn hiến bốn ngàn năm đầy tự hào của ông. Nghe xong, đứa con gái lớn ngồi trầm ngâm. Tưởng nó đã thấm nhuần tư tưởng do ông truyền đạt. Ông đặt câu hỏi để rà lại sự hiểu biết của nó.

“Con nghĩ thế nào?”

“Con nghĩ, Mỹ chỉ có hai trăm năm lập quốc mà tiến bộ văn minh kinh khủng. Còn bốn ngàn năm văn hiến sao èo uột quá.”

“So sánh thế là bất công với tổ tiên mình. Nhìn tới nhưng phải biết ngó lui, con ạ!”

Và ông nêu những sự kiện trong quá khứ dân tộc, để con ông ngó lui.

Nó nhận xét: “Cả một pho lịch sử thấm đầy máu và nước mắt.”

“Chỉ có thế thôi sao?”

“Thế thôi!”

“Con không thấy tiền nhân của mình rất anh hùng sao?”

Đứa con gái e dè hỏi lại: “Ba cho phép con nói thật không?”

“Nói đi. Thanh thật là đức tính đáng quý.”

“Anh hùng nhưng hiếu chiến quá.”

“Tổ cha bây! Chưa chi đã phản lại giống nòi. Đạp cứt ngoại lai! Chống lại thằng ăn cướp, đánh đuổi ngoại xâm, là ý chí quật cường mà gọi rằng hiếu chiến à?”

Thấy ông Lâm nổi sùng, đưa con gái không dám mở miệng. Nó đã có kinh nghiệm, khi ba nó trừng mắt lớn tiếng, nó nên im lặng, cút đi nơi khác.

Cũng vì nguồn gốc dân tộc và bảo tồn văn hoá, đôi khi ông Lâm làm người khác phải ngỡ ngàng. Có lần, ông đến thăm người bạn, gặp lúc nhà đang đông khách.

Con của bạn và các bạn của nó chào ông bằng cách đưa tay vẫy vẫy, miệng nói:”Hi! Hi!”

Ông Lâm khó chịu với kiểu chào có vẻ đồng đẵng này, ông cho thế là trịch thượng. Ông miễn cưỡng chào lại, và hỏi cho có chuyện để hỏi: “Các cháu còn đi học hay đã đi làm?”

Chúng cứ ngớ ra, không hiểu.

Vợ người bạn vội đỡ lời: “Tụi nó không biết tiếng Việt đâu. Tất cả đã ra trường, đã đi làm. Toàn là bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư cả đấy.”

Cách giới thiệu của bà, ông Lâm thấy có hàm ý hãnh diện khoe khoang.

Ông nói: “Tụi nó là những con dơi.”

“What’s koan giơi?” Chúng trố mắt nhìn nhau.

Có đứa thông dịch: “The bats.”

“Why? Why?”

Lại cũng kiểu hỏi cộc lốc. Ông Lâm cười cười khinh khỉnh: “Con dơi nhập bầy với chim. Chim nói, mày không phải chim, mày có mỏ chuột lông mao, hãy về chơi với chuột. Dơi về nhập bầy với chuột. Chuột nói, mày không phải chuột, mày có cánh biết bay như chim, hãy về chơi với chim. Các cháu cũng thế. Mỹ không nhận mũi tẹt da vàng là người đồng chủng. Quay về với Việt, thì không biết nói tiếng Việt, làm sao hội nhập?

Sau khi nghe thông dịch, chúng kêu lên: “Koan giơi. Koan giơi.” Và nhún vai cười hô hố.

Bà vợ ông chủ nhà hơi ngượng, vì ông Lâm chẳng những đã không tâng bốc vị nễ các sĩ các sư, lại còn giở giọng châm biếm mỉa mai một cách kỳ quặc. Ngày ấy trở đi, hai bên ít khi lui tới.

Đối với Sơn Ca, ông đã dặn rồi nhưng một lúc bất chợt nào đó, nó vẫn “why” với ông. Lần này, ông chỉ thoáng nhíu mày.

“Lông mèo vào phổi sẽ bị ho lao.”

“Cô giáo của con không dạy như thế.”

“Nhưng ngày ba còn nhỏ, bà nội của con đã dạy ba như thế.”

Con bé có vẻ suy nghĩ: “Ho lao là do vi trùng. Lông mèo đâu phải vi trùng. Sao bà nội dạy ba kỳ vậy cà?”

“Không kỳ cà gì cả. Hít lông mèo vào mũi, nếu không ho lao thì cũng bị hen suyển.”

“Con phải hỏi lại cô giáo.”

Sơn Ca coi cô giáo của nó là nhất. Trong gia đình, ông Lâm đã giảm uy tín từ ngày tiểu bang và nhà trường phát động chương trình kêu gọi mọi người bỏ hút thuốc. Cô giáo dạy rằng hút thuốc có hại cho sức khoẻ, và làm ảnh hưởng luôn những người chung quanh. Về nhà, nó năn nĩ ông bỏ hút. Ông hứa, và bỏ được hai ngày. Sau đó, ông hút lại còn dữ hơn khi chưa bỏ. Nó mách với cô giáo về chuyện ông thất hứa. Cô khuyên hãy “kiên trì tranh đấu cho đến thắng lợi sau cùng: bãi bỏ hút thuốc.” Ở nhà, con bé có mẹ và chị em nó đồng lòng sát cánh đấu tranh không mệt mỏi. Bên ngoài, nó có cô giáo hậu thuẫn làm đồng minh không bao giờ phản bội. Ông Lâm bị cô lập, đối nội đối ngoại đều thất thế. Nhưng ông hút đã mấy mươi năm rồi, không dễ gì một sớm một chiều, ai lung lay được cái nền tảng vững chắc của nicotine thấm nhuần trong máu, và thói quen phì phà khói thuốc. Cuộc chiến hút và chống hút còn đang dằn co chưa biết ngã ngũ ra sao.

Một hôm con bé đi học về, nhảy cà tưng mừng rỡ: “Ba ơi. Ba ơi. Con được honeroll rồi.”

“Được honeroll thì tốt thôi. Con giỏi lắm.” Ông Lâm xoa đầu tán dương nó.

“Ba có hứa, nếu con học giỏi thì ba thưởng. Con đã nói trước phần thưởng gì, ba nhớ không?”

“Một con mèo.”

“Mai ba dẫn con ra Pet Shop mua mèo đi ba.”

“Pet Shop chỉ bán chó con.”

“Có cả mèo nữa. Con đã vào coi một lần rồi.”

Để lấy lại uy tín, hòng lèo lái các con ông đi vào con đường bảo tồn văn hoá dân tộc, ông Lâm giữ lời, và đưa Sơn Ca ra tiệm chó mèo. Nó chọn một con mèo con, lông trắng như cục tuyết, cái mũi hồng hồng. Có con mèo, nó không thích chơi với những con “sea monkey”, một loại sinh vật có nhiều chân như con rít, nhỏ như con lăn quăn, bơi trong lọ nước. Sơn Ca nuôi “sea monkey” chẳng làm phiền gì ai. Nó đặt lọ nước lên bàn, soi thêm cái kính lúp, và chúi mũi vào ngắm nhìn những con vật li ti bơi qua bơi lại. Thế thôi. Nhưng, nuôi mèo thì phiền. Nhà thuê ở tầng cao, mèo không có nơi phóng uế bên ngoài. Thỉnh thoảng, nghe cái mùi thum thủm chua chua nhức óc, ông Lâm rà mũi đánh hơi khắp các góc kẹt trong nhà, tìm cho ra nơi phát xuất. Chỉ vài thỏi cứt nhỏ bằng ngón tay út, nhưng sức công phá khứu giác thật dữ dội. Nước đái mèo cũng không dễ ngửi. Đó là mùi khai của nước đái trẻ con có pha thêm chút giấm. Nếu không phát hiện sớm, để lâu bốc mùi nồng gắt còn hơn nước đái quỷ. Ông Lâm đề nghị trục xuất con mèo ra khỏi nhà. Đề nghị cũng là một trò chơi dân chủ. Sang tới xứ này rồi, chế độ quân chủ đã lỗi thời, người cha không phải là một ông vua nhỏ có quyền áp đặt mọi thứ trong gia đình. Tất cả đều được hợp bàn để lấy biểu quyết chung, nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn là ông. Vì muốn thu phục nhân tâm, nên ít khi ông Lâm dùng quyền phủ quyết. Một buổi tối, cả nhà ngồi lại bàn thảo với nhau. Mười người mười ý. Cuối cùng, đi đến thoả thuận chung. Sơn Ca được tiếp tục nuôi con mèo, nhưng nó phải đảm trách công việc lau nhà. Mục đích chính là lau nước đái và hốt cứt mèo.

Vì Sơn Ca sẽ hỏi lại cô giáo về tác hại của lông mèo, nên ông Lâm điện thoại đến nhà cô giáo trước, kể chuyện Sơn Ca hôn mèo, và nhờ cô nói giúp là lông mèo làm ho lao hoặc hen suyển.

Cô giáo phản đối: “Tôi không thể nói điều trái y học.”

“Thế cô cũng tán đồng cho nó hôn mèo?”

“Không phải. Tôi chỉ nói không nên hôn mèo vì vấn đề vệ sinh.”

“Nếu đặt vấn đề vệ sinh, thì mèo đâu phải con vật dơ bẩn?”

“Thưa ông, không nên đi quá xa mục đích yêu cầu của ông. Cứ hãy nhìn lên TV, người Mỹ họ ôm ẳm chó mèo trong lòng và hôn hít, đã có sao đâu? Ông không muốn thế, tôi sẽ khuyên Sơn Ca đừng hôn mèo. Đơn giản chỉ có thế.”

“Cô cũng nên cho nó biết thêm, rằng chó mèo có thể gây ra dị ứng về đường hô hấp, như một số người dị ứng với phấn hoa thảo mộc.”

“Lại nữa! Điều này có lẽ ông phải nhờ một bác sĩ giải thích cho con ông. Tôi là một cô giáo, không có khả năng ôm đồm nhiều thứ.”

“Nhưng con tôi nó tin cô.”

“Chính vì thế mà tôi không thể nói những gì ngoài lãnh vực hiểu biết chuyên môn. Đối với trẻ em, một lần nói sai hoặc thất hứa, những lần sau nó không tin nữa.”

***

Sơn Ca đặt tên con mèo là Snowball. Nó réo Snowball cả ngày, nhưng con mèo cứ trơ ra như không phải gọi nó.

Ông Lâm nói: “Nó đã có tên rồi. Nó không thích ai gọi nó là Snowball.”

“Tên gì?”

“Meo.”

“Ai đặt cho nó vậy?”

“Má nó đặt từ khi mới sinh ra.”

“Meo. Tên xấu tệ.”

“Nhưng nó thích. Con thử gọi Meo đi.”

Sơn Ca giả giọng mèo kêu meo meo. Con mèo liền đến ngay.

“Còn tên của con, ai đặt vậy?”

“Má mày.”

“Tại sao đặt Sơn Ca?”

“Ở Việt Nam ngày trước, có cô ca sĩ tên Sơn Ca, hát rất hay. Má con thích giọng hát của cô ấy, và lấy tên cô đặt cho con. Sơn Ca cũng là tên của một loài chim có tiếng hót líu lo vui tai lắm. Con có thích tên của con không?”

“Thích. Nhưng người Mỹ gọi con là Sơn Khê.”

“Họ gọi là gì, kệ họ. Con cứ giữ tên con. Ba rất ghét những mũi tẹt da vàng mà gọi là Mai Cồ, là Biu, là Bóp, là Hé Lìn, là Xí Nì …”

“Người Mỹ gọi tên ba thế nào?”

“Lâm nhưng họ phát âm thành Lem.”

“Lamb là con cừu nhỏ, hiền lành dễ thương lắm. Nhưng ba dữ quá à!”

Ông Lâm cười, trìu mến ôm đứa con gái nhỏ vào lòng. Ông hi vọng rằng với đứa con này, ông sẽ dạy nó theo ý của ông. Uốn măng từ lúc còn non. Dạy con từ thuở còn thơ… Mấy đứa con lớn, ông coi như sắp vuột ra khỏi tầm tay rồi.

***

Con Meo Snowball gợi nhớ về một quãng đời cũ, có con Miêu Nữ, con nuôi của Biên Khuỳnh. Trong trại có hai Biên. Để phân biệt, Biên thuộc đội đi rừng kéo gỗ, anh em đặt là Biên Xe Be. Còn Biên tay cán vá của đội Xây Dựng là Biên Khuỳnh.

Miêu Nữ được Biên Khuỳnh đem về nuôi từ ngày còn tấm bé. Trưa, anh nằm nghỉ ngơi trên chiếc võng, Miêu Nữ nằm trên mình anh. Cũng có lúc, anh đặt Miêu Nữ một mình trên võng, ngồi một bên đưa qua đưa lại như người mẹ dỗ giấc con thơ. Tôm khô, lạp xưởng là loại thực phẩm cao cấp của tù, anh nhịn ăn, dành cho Miêu Nữ. Phải nhìn những lúc Biên Khuỳnh nằm nghiêng trên lán sạp, cầm từng con tôm khô đút cho Miêu Nữ ăn, mới thấy hết cái tình của Biên Khuỳnh đối với Miêu Nữ. Cũng có khi anh vuốt ve Miêu Nữ, mà đôi mắt buồn xa vắng như đang nhìn về một cõi đâu đâu. Anh em trong đội rất cảm thông giờ phút “sầu đứt ruột” ấy của Biên Khuỳnh.

Những năm tù cải tạo ngoài miền Bắc, Biên Khuỳnh không ai thăm nuôi. Lâu lâu, nhận được thư mẹ già, cũng chỉ những lời hỏi thăm và căn dặn yên tâm học tập tốt để sớm về đoàn tụ với gia đình. Nếu không viết như thế, khi qua tay kiểm duyệt, bức thư sẽ đi thẳng vào sọt rác. Đó là những câu phải viết theo “thủ tục hiện hành”. Nhưng bà còn phải đáp ứng cho Biên Khuỳnh biết gia đình vợ con ra sao chứ? Không, bức thư không cho anh biết thêm điều gì, ngoài hai câu trích dẫn trong truyện Kiều:

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Xã hội nào mà không có những điều đau đớn lòng. Nhưng điều đau đớn lòng, mẹ anh trông thấy là điều gì? Biên Khuỳnh mù tịt!

Năm 1983, Biên Khuỳnh được chuyển về Long Khánh, ở trại Xuân Lộc. Theo lời cán bộ, đưa đợt tù này về Nam, tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục cải tạo tốt. Nghe tin, mẹ anh từ Nha Trang, đáp tàu đi Long Khánh, lên xe đò đi Xuân Lộc, ngồi xe Lam vào Gia Rai, lội bộ thêm một khoảng đường giữa hai hàng cây so đủa, dẫn tới nhà khách thăm nuôi. Lần đầu tiên sau bao năm đi tù, Biên Khuỳnh được thăm nuôi. Gặp nhau, hai mẹ con đều rớt nước mắt, vì thấy tình trạng sa sút đến thảm hại của người thân. Không biết mẹ già đã nói những gì, Biên Khuỳnh buồn hiu, tịnh khẩu mấy ngày. Dần dần rồi anh em đội Xây Dựng cũng hiểu ra nỗi niềm của anh. Người đàn bà hết dạ yêu anh một thuở, tưởng “sông có cạn, núi có mòn, tình vẫn không thay đổi”, đã đành đoạn cuốn gói đi theo người khác. Mà người khác lại đang thời hãnh tiến, thuộc phía đối nghịch cùng anh. Hai đứa con anh như cụm lục bình trôi theo mẹ, bềnh bồng vất vưởng, bữa đói bữa no. “Trải qua một cuộc bể dâu. Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, mẹ Biên Khùynh viết trong thư là thế.

Trong trại, không chỉ Biên Khuỳnh bị vợ bỏ. Nhiều người cũng ở vào trường hợp tương tự như anh, nhưng mỗi người hành sử mỗi khác. Ở tù là một bất hạnh. Gia đình vợ con tan nát là thêm một bất hạnh nữa. Nỗi đau khổ chồng chất quá lớn đã xô con người vào đường cùng. Có người cắt động mạch, hoặc thắt cổ tự vận. Có người lao đầu vào lò lửa đang cháy rực, tự nướng mình. Có người nhảy vô chảo nước sôi, tự luộc mình. Anh em bằng hữu sợ một lúc quẩn trí nào đó, Biên Khuỳnh liều mạng. Nhưng anh không làm thế.

Anh nói: “Đàn bà trắc nết mê trai, bạc tình là chuyện thường. Chỉ tội cho con cái khổ lụy vì người mẹ tội lỗi.”

Để khuây khoả nỗi buồn, Biên Khuỳnh xin một con mèo nhỏ đem về nuôi. Ngoài những giờ đi lao động, anh và mèo quấn quít bên nhau. Tình thương hai đứa con trôi giạt, anh phả hết vào con mèo. Anh em đội Xây Dựng đặt tên cho mèo là Miêu Nữ, con nuôi của Biên Khuỳnh.

Miêu Nữ dễ thương hết sức. Hai tròng mắt xanh lục màu ve chai. Bộ lông trắng mịn, vá thêm mảng lông màu vàng nhạt, như một thiếu nữ quàng tấm khăn san trên cổ. Nó bước đi nhẹ nhàng, ăn uống nhỏ nhẻ. Lật ngửa nó ra, lấy ngón tay cù vào nách. Nó uốn éo thân hình, quơ bốn chân bấu lấy bàn tay, kề miệng ngoạm nhẹ ngón tay rồi nhả ra ngay. Khi đùa, Miêu Nữ không bao giờ cắn mạnh, và cũng không vươn móng vuốt. Biên Khuỳnh bày trò chơi, cột miếng vải vào một đầu sợi dây, nhữ cho Miêu Nữ nhào tới chụp. Anh liền kéo miếng vải đi nơi khác, và Miêu Nữ chụp hụt. Anh nói, để tập cho nó lanh lẹ khi bắt chuột. Anh lại cầm sợi dây, thòng miếng vải xuống giật giật như câu ếch, Miêu Nữ phóng lên chụp. Đôi lúc phóng quá đà, Miêu Nữ té ngửa. Anh nói, để tập cho nó nhảy cao. Thời gian rồi cũng làm cho nỗi đau buồn của Biên Khuỳnh nguôi ngoai dần, vết thương thành sẹo. Miêu nữ lớn lên trong tình thương của anh. Đến kỳ Miêu Nữ “biết yêu”, anh em đội Xây Dựng có rất nhiều đề tài để nói.

Ở tù không biết ngày nào ra, hơi đâu mà buồn hoài. Yếu tố tinh thần rất quan trọng. Nếu cảm thấy ngột ngạt là nhà tù, thoải mái là nhà mình. Có khi mình đóng cửa nằm nhà cả ngày, đã có sao đâu. Nhưng nếu ở trong phòng giam, mình cảm thấy khó chịu. Tất cả đều do cảm ứng tinh thần mà ra. Hãy bỏ qua hết mọi thứ phiền não để mà sống, và cũng đừng tự hỏi sống như thế có ý nghĩa gì không. Ở tù, hãy lo mạng sống trước, còn sống thế nào cho ý nghĩa, dành cho những người đang được tự do. Cứ coi như đây là nhà của mình, thì thời gian năm năm, mười năm sẽ qua vèo như giấc ngủ trưa. Chàng Moritz trong “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” sống qua được hai mươi năm trong tù, nhờ cái đầu anh ta ít suy nghĩ. Triết gia Tristan tự tử sau một thời gian ngắn bị giam cầm, chính vì cái đầu nhiều khúc mắc của anh đã hại anh. Có người lý luận như thế, dù chỉ để an ủi mình. Nhưng nhiều đêm nằm trăn trở trên sạp gỗ, bị lũ rệp tấn công không ngủ được, nghĩ lại cái triết lý sống trong tù ấy, không phải là không đúng. Và Miêu Nữ là một yếu tố quan trọng làm anh em đội Xây Dựng quên thời gian dài khủng khiếp của trại tù.

Thời kỳ cơ thể Miêu Nữ bắt đầu rạo rực. Một dấu mốc quan trọng đầu đời. Nhiều anh ý kiến, phải tuyển cho Miêu Nữ một tấm chồng thật xứng đôi vừa lứa. Già hết xí quách, không được! Đen đủi xấu xí, không được! Ốm o gầy mòn hoặc mập phệ, cũng không được! Tiêu chuẩn làm mẫu được đưa ra: mạnh khoẻ, trẻ trung, và nhất là bộ áo lông khoác bên ngoài phải đẹp là yếu tố hàng đầu. Con đực xấu hình sẽ di truyền một đàn con xấu mã.

Cả trại chỉ có Miêu Nữ là con mèo duy nhất, nhưng khi tới tuổi động tình, không biết loài vật thông tin với nhau bằng cách nào, liền có ngay một chàng mèo mướp xa lạ, từ đâu đến ve vãn làm quen.

Một anh ra vẻ hiểu biết: “Loài vật rượn đực có mùa. Trong thời kỳ rượn đực, âm hộ của con cái nở lớn và tiết ra một mùi rất đặc biệt. Đó là dấu hiệu báo cho con đực.”

“Nhưng con Miêu Nữ nhà mình, âm hộ vẫn nhỏ xíu.”

“Nhỏ là vì nó còn trinh, cái hoa của nó đã ửng đỏ lên rồi đấy.”

“Còn cái mùi, có ai ngửi được mùi gì đặc biệt không?”

“Chỉ con vật nó đánh hơi được mùi của nhau thôi. Con người làm sao ngửi được mùi của con vật?”

Có anh lái vấn đề sang hướng khác: “Thế, đàn bà khi động tình, âm hộ có tiết ra mùi gì không?”

Nhiều tiếng cười hô hố sau câu hỏi.

“Đàn bà, bốn mùa thời tiết nắng mưa, bất kể ngày đêm sáng tối, lúc nào cũng có thể làm tình được. Cần chi phải tiết ra mùi này mùi nọ!”

Biên Khuỳnh lên tiếng: “Tôi xin các ông. Đừng nhắc đến cái loài động vật xương sống thẳng đứng, nhưng không có tình cảm ấy nữa.”

“Loài gì xương sống thẳng đứng, không tình cảm nhỉ?”

“Anh ta ám chỉ đàn bà đấy. Cay cú con vợ nhà phản trắc, rồi ghét lây những người đàn bà khác. Thế là bất công!”

“Thôi, bấy nhiêu đủ rồi. Đừng xé vết thương rách ra thêm.”

Sau lời can thiệp, mọi người trở lại đề tài mèo.

“Các anh đồng ý chọn chàng Mướp cho Miêu Nữ không?”

“Mướp là ứng phu duy nhất, không chọn nó thì chọn ai?”

Thế là chàng Mướp đương nhiên trúng tuyển. Nhiều người nói, mèo chỉ giao hợp ban đêm, chưa ai thấy được cái pha cụp lạc ấy bao giờ. Và kế hoạch chương trình được đề ra cho cái đêm động phòng của Miêu Nữ, làm sao để mọi người có thể quan sát rõ ràng.

“Đừng tránh né sự thật. Cứ nói thẳng là thị dâm đi.”

Buổi tối, trong phòng giam, Miêu Nữ bị cột dưới sàn bằng sợi dây dài. Mục đích dụ chàng Mướp vào phòng. Miêu Nữ kêu meo meo, có vẻ xốn xang. Mướp lượn vòng bên ngoài, cũng kêu meo meo. Kêu hoài không thấy tình nhân, Mướp chồm lên cửa sổ nhìn vào. Cuối cùng, do tiếng gọi tình yêu thôi thúc, chàng phóng qua cửa sổ, vào với nàng.

Mọi người tránh gây tiếng động, sợ làm Mướp mất bình tỉnh. Một số nằm trên sạp, thòng đầu nhìn xuống sàn. Một số lót tấm nylon, nằm dưới nền đất nhìn cho rõ.

Lúc đầu, Mướp ta chưa dám xáp gần. Chàng lượn quanh Miêu Nữ, nhìn tới nhìn lui, quan sát động tịnh. Mướp lượn tới đâu, Miêu Nữ quay nhìn theo đó, chứng tỏ nàng đang thèm muốn lắm. Thấy tình hình có vẻ khả quan, Mướp khép vòng lượn, xáp lại gần, cọ mình vào Miêu Nữ. Nàng ngước đầu, vươn cổ đợi chờ. Chàng âu yếm vuốt ve cần cổ êm mướt như nhung của nàng bằng cái đầu của mình. Miêu Nữ đê mê làm cái đuôi xù lông, dựng đứng lên. Mướp tưởng đã có thể tiến thêm một bước nữa, bèn đặt chân trước lên lưng Miêu Nữ, đè xuống, định leo lên. Bất ngờ nàng kêu “méo”, và cào vào mặt chàng. Mướp giật mình phóng ra xa.

Có người la lên: “Gái còn trinh mà bị tấn công sỗ sàng quá, nó mắc cỡ. Phải từ từ!”

“Mắc cỡ mẹ gì! Nàng muốn treo giá ngọc đấy. Càng treo giá ngọc càng cao phẩm người.”

“Suỵt! Suỵt! Làm ơn câm bớt mấy cái mồm giùm tôi đi!”

Sau một phút ngỡ ngàng, Mướp lấy lại bình tĩnh, đến gần ve vãn nữa, làm lại cái màn mơn trớn từ đầu. Vài lần như thế, và lần nào khi tới giai đoạn leo lên, Mướp cũng bị Miêu Nữ cào cho rách mặt. Trên tình trường, có lẽ Mướp đã từng nhiều lần xông trận, cho nên có thừa bản lảnh và kinh nghiệm. Gặp trường hợp quá khó, phải dùng biệp pháp mạnh: cưỡng dâm. Mướp cắn cổ, đè Miêu Nữ xuống. Nàng la lớn, vùng vẫy dữ dội. Kẻ bạo dâm chưa làm ăn gì được, đã bị nàng cào cắn tơi bời. Chàng nhảy ra, đứng trơ tráo nhìn nàng và thở. Nàng gồng mình, xù lông, nhe nanh trong tư thế sẵn sàng xé xác con quỷ râu xanh.

“Ha, ha, ha. Miêu Nữ nhà mình gìn giữ tiết trinh quyết liệt hơn Kiều Nữ của Nguyễn Du.”

Biết gặp phải chằn tinh nữ quái, chàng thất vọng quay mình phóng qua cửa sổ, ra ngoài.

Mất dịp thị dâm, có anh chưởi thề: “Đù mạ, ép duyên cũng không xong.”

“Thế mới biết, trên đời này làm gì có cảnh hiếp dâm. Nếu nó không chịu, cứ giãy giụa hoài, đố thằng nào đút vô cho lọt!” Một anh nói như vừa phát giác ra chân lý.

Mọi người đi ngủ để lấy sức ngày mai lao động. Biên Khuỳnh tháo dây, thả Miêu Nữ.

Không biết Miêu Nữ lẻn ra hồi nào. Giữa khuya, nghe tiếng mèo tru tréo kêu la đau đớn, ngoài hàng rào trại.

Vài anh choàng dậy.

“Xong rồi! Miêu Nữ đã bị phá trinh.”

” Mất trinh làm gì mà la dữ dội thế. Đúng là con Miêu Nữ nhà mình bị bệnh khổ dâm.”

***

Nhớ lại thời kỳ Miêu Nữ động đực, ông Lâm cất tiếng gọi: “Sơn Ca ơi, con nuôi Meo Snowball được bao lâu?”

“Con không nhớ rõ. Có lẽ cũng năm hay bảy tháng rồi.”

“Con đem nó ra đây cho ba coi.”

“Ba cũng thích Meo Snowball của con hả?”

Sơn ca ẳm con mèo đặt vào lòng ông Lâm. Ông nâng nó lên, giở cái đuôi, nhìn vào đít.

“Ba nhìn gì kỳ vậy?” Con bé hỏi.

Ông trả lời tránh né: “Nó ỉa không chùi đít. Ba coi có sạch không.”

“Cứt mèo khô queo, không dính đít đâu. Ba đừng lo.”

Ông Lâm không phân biệt được cái âm hộ nở lớn, ửng đỏ, có mùi của mèo cái động đực và bình thường ra sao. Nhưng ông tính đã đến kỳ rạo rực của con Meo Snowball.

“Từ nay, ban đêm con thả nó ra hành lang. Đừng giữ nó ở trong phòng.”

“Tại sao?”

“Lại nữa, hết “why” rồi tới “tại sao”. Lúc nào con cũng hỏi, cũng thắc mắc.”

“Cô giáo dạy muốn hiểu biết rõ ràng thì phải hỏi.”

“Này nhé, con có bạn để nói chuyện cho vui, thì Meo Snowball cũng cần phải có bạn chứ?”

“Con là bạn của nó.”

“Nhưng nó cũng cần thêm vài đứa bạn đồng loại.”

“OK.”

“Hãy nói “vâng”, đừng “OK.” với ba.”

Con bé cười, vâng dạ.

***

Miêu Nữ có mang. Chàng Mướp quất ngựa truy phong biến dạng. Trên cõi đời nhiều gian trá này, tên Sở Khanh nào cũng giống nhau. Nói năng đường mật. Chìu chuộng vuốt ve. Thề thốt đủ điều. Không có em, anh sống không còn ý nghĩa, cho nên anh có thủ sẵn một chai thuốc rầy. Nếu em lắc đầu từ chối, thì anh sẽ nốc cạn chai thuốc này, tự tử trước mặt em. Nàng sợ gây án mạng, xiêu lòng để cho chàng tháo sợi dây lưng quần. Thế là xong! Nhưng khi nàng bắt đầu đặt vấn đề trách nhiệm, là lúc chàng tìm đường tháo lui. Chàng Mướp thuộc loại cao thủ trong các cao thủ Sở Khanh. Cặp bồ với Miêu Nữ một thời gian rất ngắn, Mướp trốn đi không lời từ giả, để lại cho Miêu Nữ một bầu tâm sự.

Biên Khuỳnh trách nhiệm săn sóc “bà bầu”, theo dõi thai nhi. Anh em đội Xây Dựng tiếp tay trong vấn đề thực phẩm, có được món ngon cũng chia phần cho Miêu Nữ bồi dưỡng.

Một hôm, Biên Khuỳnh kêu lên: “Tôi nghe nó máy rồi!”

Anh em bu lại, người nào cũng muốn thăm thai Miêu Nữ. Đặt bàn tay lên cái bụng bầu, vuốt nhẹ, để yên, nghe ngóng.

“A ha… Nó chòi cộm cả tay tôi.”

“Nó đạp dữ quá!”

“Ấy! Đừng bóp mạnh, coi chừng sẩy thai.”

“Tôi nghe lúc nhúc cả một bụng. Lứa này dễ chừng cũng được mười con.”

“Làm gì có. Mèo chứ đâu phải heo mà đẻ nhiều thế?”

“Anh nghĩ bao nhiêu?”

“Từ ba đến năm là cùng.”

“Theo kinh nghiệm, tôi biết mèo cũng như cọp, chỉ đẻ tối đa hai con.”

“Bố khỉ! Chả có thằng nào kinh nghiệm hết. Chỉ nói phét!”

“Xin can các ngài. Miêu Nữ mang thai mệt mỏi, nó cần nghỉ ngơi. Các ngài cứ rờ mò, nắn bóp hoài. Sẩy thai mất!”

Đội Xây Dựng trông chờ ngày Miêu Nữ lâm bồn. Chưa chi mà nhiều anh đã đặt cọc trước. Anh nào cũng muốn có một con mèo để nuôi.

Biên Khuỳnh kiếm đâu được cái thùng carton, bỏ vào đấy một manh bố, vài miếng giẻ rách, lót ổ cho Miêu Nữ nằm cử. Và ngày ấy thật vô cùng đặc biệt. Miêu Nữ nằm trong thùng kêu meo meo, bức rức không yên. Biên Khuỳnh ngồi một bên, thỉnh thoảng đưa tay vuốt đầu Miêu Nữ để an ủi. Nhiều người đứng chung quanh, hai tay chống đầu gối, chổng khu nhìn vào. Đây mới là giờ phút “đàn bà đi biển một mình”. Miêu Nữ rướn mình. Rặn. Một cái đầu bé tí thò ra. Lại thụt vào. Rặn nữa. Lại thò ra. Rồi nguyên cái đầu lòi ra luôn, tới cổ bị mắc kẹt, khựng lại. Miêu Nữ hết hơi, ngưng rặn, thở lấy sức.

“Phải giúp Miêu Nữ, lôi hài nhi ra.” Một bàn tay thò vào.

Biên Khuỳnh cầm chiếc đủa gõ mạnh bàn tay: “Đừng! Để tự nó đẻ.”

Có anh sớn sát kêu lên kinh ngạc: “Sao nó đẻ bằng lỗ đít nhỉ?”

“Điên! Chỉ có chị của ông đẻ bằng lỗ đít. Chứ mèo phải đẻ bằng âm hộ.”

Hiệp thứ hai. Miêu Nữ lấy hết sức. Rặn nữa. Phọt ra nguyên một sinh vật bằng ngón chân cái, động đậy trong cái bọc nhờn đục. Nhiều người thở phào. Hình như trong lúc Miêu Nữ rặn, nhiều người cũng rặn theo.

Có tiếng reo: “Mèo đẻ bọc điều. Con này đúng là quý tử.”

“Con nào mới ra cũng nằm trong bọc như nhau. Chả có gì lạ.”

Miêu Nữ quay lại liếm sạch cái bọc nhờn. Sinh vật hiện nguyên hình, hai mí mắt còn dính liền không mở được. Nếu không tận mắt nhìn thấy mèo đẻ, chưa chắc ai đã đoán được sinh vật đang ngo ngoe này là một con mèo con.

Miêu Nữ đẻ chưa xong. Tiếng kẻng từ ngoài cổng vang lên, báo hiệu giờ xuất trại lao động buổi chiều. Mọi người dãn ra, chuẩn bị đi làm. Mấy lần Biên Khuỳnh rời thùng carton, nhưng Miêu Nữ chồm lên, kêu meo meo réo gọi. Anh quay lại, ngồi kế bên. Miêu Nữ lại nằm xuống, chuẩn bị đẻ tiếp. Miêu Nữ cần sự có mặt của Biên Khuỳnh, và anh cũng không nỡ rời xa con vật trong cơn đau đẻ. Lần đầu tiên, anh em đội Xây Dựng thấy được chân tình thiết tha gắn bó giữa người và vật, ai cũng cảm động. Anh em đề nghị Biên Khuỳnh khai bệnh nghỉ lao động, ở lại lán để đỡ đẻ và săn sóc cho Miêu Nữ.

Trước khi rời trại, có anh dặn: “Nhớ giữ cái nhau mèo. Quý lắm đấy.”

“Giữ lại làm gì? Các ông định ăn sao? Nghe nói, ăn nhau người để tẩm bổ hay trị bệnh gì đó, nhưng phải là nhau của đàn bà con so mới tốt. Còn nhau mèo, chưa nghe nói có ai ăn. Các ông định tẩm bổ hay trị bệnh?”

“Không phải ăn. Ai làm chủ cái nhau mèo, sẽ gặp nhiều điều hên.”

“Nhảm! Thế mà cũng có người tin được.”

“Không tin thì để cho người khác tin. Việc gì phải phê bình chỉ trích?”

Một anh lên giọng dạy đời: “Trong cơn tuyệt vọng, đôi khi niềm tin là chiếc phao cứu mạng. Trên đường đời, lấy niềm tin để xoa dịu những bất trắc đớn đau, làm hành trang đi tới. Kẻ nào không có niềm tin, thấy tương lai chỉ là một hố huyệt bi thảm sau cùng.”

“Ha, ha, ha… Từ một cái nhau mèo, sinh ra lắm câu triết lý cải lương!”

Suốt khoảng đường từ trại đến hiện trường lao động, cái nhau mèo và niềm tin là đề tài bàn luận của anh em đội Xây Dựng.

***

Miêu Nữ sinh tư. Một thằng Cu, lông mướp giống bố như in. Ba cái Bướm, lông trắng vá vàng như mẹ. Miêu Nữ đúng là mẹ đảm, vừa lo bắt chuột nuôi mình, vừa cho con bú mớm chu đáo. Bầy con lớn nhanh như thổi. Sau một thời gian ngắn, thằng Cu Mướp vượt trội và bộc lộ cái tính hung hăng giành giật. Khổng Tử viết: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”, e rằng không đúng với trường hợp Cu Mướp. Mỗi lần bú, nó đạp con này, hất con kia. Và khi cái vú nó đang bú hết sữa, nó sẵn sàng dùng đầu ủi văng những con khác để chiếm lấy cái vú nào còn mọng sữa. Nhìn bản chất mà đặt tên, anh em đội Xây Dựng đặt cho nó cái tên rất ư là phá hoại xã hội: Thằng Ăn Cướp.

Ban ngày là thời gian Miêu Nữ cho con bú và nghỉ ngơi. Đêm, nó ra ngoài, lẫn vào bóng tối, dầm trong sương đêm, rình rập săn mồi, tha chuột về cho con. Chuột lớn, nó xé ra từng mảnh cho con dễ ăn. Chuột nhỏ, nó không cắn chết, chỉ làm con vật mất đi sự lanh lẹ, để con nó tập vờn, chụp, bắt cho quen việc săn mồi. Lần nào, Thằng Ăn Cướp cũng giành lấy để tập, và ăn một mình. Anh em đội Xây Dựng thường gõ đầu, dạy cho nó biết thế nào là luật công bằng. Nhưng Thằng Ăn Cướp vẫn tính nào tật ấy, không thay đổi.

Chăm chỉ nuôi con được ba tháng, Miêu Nữ bắt đầu ruồng rẫy đàn con. Nó lại động đực và đi tìm tình nhân mới. Khi nó nằm, đứa con nào còn quyến luyến mẹ, mon men tới gần cọ dựa, bị nó vả vào mặt, nhe nanh làm dữ, rồi đứng dậy lạnh lùng bỏ đi.

Dù biết đấy là bản năng thiên tính của loài vật, nhưng có anh cũng mượn cớ chửi xéo: “Đồ hư đốn mê trai, nhẫn tâm dứt tình mẫu tử.”

Anh khác thêm vào: “Thế cũng còn khá. Miêu Nữ nhà mình nuôi dạy con cho đến ngày biết tự lập. Nhiều bà vừa đẻ con ra, liền thả trôi sông, hoặc bóp mũi ném vào thùng rác, như ném một món nợ đời. Hạng ấy, còn thua xa Miêu Nữ.”

Biên Khuỳnh bực dọc: “Tại sao, chuyện gì các anh cũng bắt quàng sang loài động vật có xương sống thẳng đứng?”

“Đừng cay cú bạn ạ! Trong đội Xây Dựng, bạn không phải là người duy nhất bị vợ bỏ. Và nếu tính cả trại, khối thằng khác còn đau hơn bạn nữa. Hãy chịu khó động não một chút đi. Ở tù, có vợ hay không, đều như nhau cả. Mai kia được thả ra ngoài. Thằng nào còn vợ, thì cứ thế mà tiếp tục cuộc chơi. Thằng nào mất vợ, thì bỏ thời gian đi quơ quào đâu đó, cũng kiếm được một con đàn bà điền vào khoảng trống. Trên quả đất lúc nhúc đầy người ta này, không thiếu giống cái.”

“Nói nghe dễ! Người chứ đâu phải vật mà bạ đâu xâu đó.”

“Hừm! Cứ suy tận cùng bằng số, mọi sự gán ghép giữa nam và nữ, đều vì cái ấy của nhau thôi!”

Một anh lên giọng mô phạm, phê bình: “Đúng là lý luận của bọn háo dâm, tôn thờ dục lạc!”

***

Một ngày, Biên Khuỳnh cùng nhiều người khác, được lệnh tha khỏi trại cải tạo. Trong thời gian chờ làm thủ tục phóng thích tù nhân, Biên Khuỳnh đan một cái lồng trúc, dự định sẽ đem Miêu Nữ về cùng anh. Bằng hữu nói, trong giới xe đò thường tin dị đoan, không chịu chở mèo, sợ bị điềm xui gây ra tai nạn dọc đường. Và khuyên anh nên để Miêu Nữ lại cho đội Xây Dựng nuôi, để chuyến đi về của anh khỏi gặp trắc trở.

Cuộc chia tay nào cũng buồn. Nhưng cuộc chia tay giữa Biên Khuỳnh và Miêu Nữ, có pha thêm nước mắt. Anh ôm Miêu Nữ: “Con ơi, bố không muốn bỏ con, nhưng bố con mình đành phải xa nhau thôi. Một phần máu thịt của con, không biết có hên hay không, nhưng bố giữ nó và luôn mang theo mình như một kỷ vật.”

Biên Khuỳnh móc trong đãy nhỏ bằng vải, một cái nhau mèo đã phơi khô, đưa cho Miêu Nữ ngửi như chứng minh lời nói của mình, rồi cẩn thận cất vào trong đãy. Anh bắt tay anh em đội Xây Dựng. Ôm Miêu Nữ lần chót, hai mắt anh đỏ hoe, và cúi mặt xuống sát Miêu Nữ như hôn từ biệt. Mang túi xách lên vai, anh đi thẳng ra cổng trại, không dám quay đầu nhìn lại.

Miêu Nữ không biết đó là lần chia tay cuối cùng với bố nuôi của nó. Nhưng đến tối, nơi chỗ nằm hằng đêm, không thấy Biên Khuỳnh, nó kêu meo meo, và quanh quẩn đi tìm đến tội nghiệp. Những ngày sau, nó vẫn còn thơ thẩn đi tìm. Gặp ai nó cũng ngước lên, kêu meo meo, như hỏi: “Bố tôi đâu rồi?”

Sau đợt thả tù, các trại thưa người. Ban chỉ huy dồn tù nhân lại để dễ bề quản lý. Trại cũ bỏ trống. Anh em đội Xây Dựng đem Miêu Nữ và đám con của nó theo. Nhưng chỉ một đêm, Miêu Nữ bỏ đi đâu mất. Mãi sau này, có người ngang qua trại cũ, ghé vào tìm vài thứ vật dụng còn sót, thấy Miêu Nữ đã về lại nơi đây, lảng vảng nơi chỗ nằm có hơi hướm bố nuôi của nó. Lán trại chỉ còn những đồ đạc phế thải vất ngổn ngang. Và trên sạp gỗ, vẫn còn cái thùng carton lật nghiêng với manh bố rách. Thời gian phủ lên mọi vật một lớp bụi mờ mờ. Biên Khuỳnh đã đi rồi, Miêu Nữ ở với ai?

***

dòng đời trôi,

Biên Khuỳnh về đâu?

Miêu Nữ bây giờ ra sao,

giữa những điêu tàn hoang phế?

“Ông đang nói gì thế? Vợ ông Lâm hỏi.

Ông giật mình: “Không! Chẳng nói gì.”

Quay qua các con, bà nói: “Má thấy nhiều khi ba của tụi bây ngồi lặng hàng giờ, thỉnh thoảng cười vu vơ, hoặc lảm nhảm một mình. Đó là dấu hiệu của tuổi già, lẫn rồi đấy.”

Đứa con gái lớn: “Con nghe nói những người bị tù cải tạo ở Việt Nam, tinh thần bị khủng hoảng, tâm trí mất bình thường. Hay là con đưa ba đến bác sĩ tâm thần, khám thử xem sao?”

Ông Lâm cười lớn: “Chỉ có mẹ con tụi bây điên thôi. Con có bao giờ nghe nói, tuổi trẻ nhìn tới tương lai, người già nhìn về quá khứ?”

Mấy đứa con vỗ tay: “A… Ba của tụi mình đang nhìn về cái thời còn làm quan, mang hia đội mão”

Lâm Chương

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 Jul 2026

Xin cám ơn Nhà Văn Phạm Phú Minh với hai ngày “Triển Lãm & Hội Thảo về Phong Hoá- Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn” tại Little Saigon. Có thể nói rằng khi tôi lớn lên, biết yêu thương chữ nghĩa, viết được một bài luận được thầy giáo đọc lên cho cả lớp nghe thời trung học và sau này ra đời, thấy yêu thích văn chương, tôi nghĩ, là không phải riêng mình mà cả thế hệ của chúng tôi phải mang ơn Tự Lực Văn Đoàn. Những người yêu thích và đã đọc hết tất cả tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn có thể phân biệt được tác phẩm này với tác phẩm kia, chuyện của Thạch Lam khác với Nhất Linh, hay khó có thể lầm Thế Lữ với Khái Hưng, nhưng nói về ảnh hưởng của Tự Lục trong thế hệ của chúng ta thì không thể nói phần này, phần nọ là của ai, ảnh hưởng của ai nhiều ai ít. Ảnh hưởng về văn chương đã đành, chúng ta còn biết đến phong cảnh và phong cách của con người Hà Nội, sinh hoạt của một lớp người, trưởng giả hay khốn cùng trong bối cảnh của thời gian mà chúng ta thường gọi là “tiền chiến.”

Trước hết là về văn chương chữ nghĩa và lối viết của TLVĐ trong sáng và ngắn gọn. Tự Lực Văn Đoàn không những thoát ra khỏi lối văn biền ngẫu nhiều từ Hán Việt thời đầu thế kỷ 20, ngay cả so với những cuốn tiểu thuyết mới hơn ra đời từ giữa thập niên 1920 như Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả Dưa Đỏ của Nguyễn Trọng Luật, hay lối văn đơn giản như lời nói dân dã của Hồ Biểu Chánh, Tự Lực Văn Đoàn đã tỏ ra khác hẳn, tiến lên một trình độ rất xa, dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Hán Việt, một lối văn có thể phù hợp với đại chúng. Chỉ vài chục năm sau, khi Tự Lực Văn Đoàn đã đi vào chương trình giáo khoa, với những bài học thuộc lòng cho cấp trung học đệ nhất cấp, thanh thiếu niên vùi mình trong thế giới của TLVĐ thì lối văn chương của những tác giả viết cách đó chừng năm bảy năm như đã nói trên, đã bị đẩy lùi vào quá khứ, xem như một loại văn ít được phổ biến, không ai còn dùng đến. Cách viết của những tác giả trong TLVĐ đã ảnh hưởng không ít đối với lớp thanh thiếu niên Việt Nam lớn lên trong khoảng thời gian từ 1945 trở về sau, còn tiếp tục tại miền Nam cho đến sau này, chỉ trừ miền Bắc sau năm 1954, văn chương TLVĐ bị lên án, xem như sản phẩm của tiểu tư sản, làm ru ngủ thanh niên. Nhiều tác giả bị bách hại, nhiều người khác phải ly hương. Sau 1954 ở miền Bắc, TLVĐ bị cấm triệt để, lớp trẻ lớn lên trong chế độ đó hầu như chẳng còn biết gì về một văn đoàn “quan trọng nhất của Việt Nam trong một ngàn năm qua” như lời giáo sư Nguyễn Hưng Quốc trong cuộc hội thảo ngày 7 tháng 7 tại báo Người Việt vừa rồi. Chính sách đó đã để lại một lỗ hổng trong hiểu biết của con người Việt Nam về chính lịch sử văn học của đất nước mình, gây ra biết bao thiệt thòi, thiếu sót.

Cũng thời gian ấy tại miền Nam TLVĐ vẫn tiếp tục được dạy trong bậc trung học, vẫn được những nhà nghiên cứu xem xét một cách tích cực, các tác phẩm của văn đoàn này vẫn được tái bản đều đặn cho thấy dân chúng vẫn tiếp tục đọc và yêu thích, bên cạnh các cố gắng đổi mới của các nhóm văn chương khác, như Sáng Tạo và các lớp cầm bút trẻ về sau. Nhờ chế độ giáo dục và quan niệm khai phóng của miền Nam trong thời đất nước bị chia cắt, khối tài sản văn hóa của dân tộc được tiếp tục sống với cuộc sống của người dân, tạo nên sự liên tục tinh thần cho dân tộc, tránh được tình trạng què quặt thê thảm trong não trạng của con người sống trên đất nước của mình mà chẳng biết gì về các thành tựu của những thế hệ đi trước mình.

Đối với tôi, trước hết, các tác phẩm TLVĐ cho tôi biết đến những nhân vật khốn khổ hay bình thường trong xã hội. Hình ảnh của “Nhà Mẹ Lê” hay câu chuyện của vợ chồng anh Phó Thức “trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ” trong “Anh Phải Sống” là những cảnh đời để lại nhiều ấn tượng nhất cho tôi những năm mới bước vào ngưỡng cửa trung học. Không có TLVĐ, chúng ta ít tưởng tượng ra được cảnh đời trong truyện ngắn Thạch Lam với cảnh quê hương nghèo nàn, đói lạnh …. , chuyện những cô gái nhảy cô đơn trong đêm Giao Thừa, hay người phu xe chở một cô gái ăn sương đi kiếm khách vào đêm ba mươi Tết, cả hai đều đói và tuyệt vọng, cô gái thì không kiếm ra khách, người phu kéo xe có khách nhưng khách đi xe lại không kiếm ra tiền! Cả anh chàng thất nghiệp tên Sinh trong truyện “Đói” mà những ngày đói lạnh ở Hoàng Liên Sơn, tôi đã không khỏi liên tưởng tới. Nhờ có TLVĐ chúng tôi mới biết đến và yêu mến Hà Nội, dù là một Hà Nội trong trí tưởng, qua những trang sách. Ở tuổi thiếu niên, chưa hề bước chân ra khỏi xóm làng hay thị xã của quê hương, nhưng tâm hồn chúng tôi đã thực sự bay bồng về một Hà Nội ba mươi sáu phố phường và tưởng tượng ra hình ảnh những cô tiểu thư “khăn san” yêu kiểu ngày đó của Hà Thành. Đâu là cầu Thê Húc, đâu là đê Yên phụ, rồi con đường Cổ Ngư, cầu Long Biên … tất cả đều thành hình trong trí tôi qua những trang giấy in thô sơ; chúng tôi còn tưởng tượng ra tiếng chuông leng keng của chuyển xe điện qua Bờ Hồ hay tiếng rao “phá xa” của Hà Nội. Tôi đã đem lòng yêu cả những con đường mang tên Phố, hàng Đào, hàng Ngang … những nơi chốn đã được mô tả trong toàn bộ tác phẩm của TLVĐ. Qua một thế giới của “người lớn”, cả những tên phố

Khâm Thiên, xóm Cô Đầu và hình ảnh những chiếc bàn đèn thuốc phiện trong bóng tối của một căn gác nào đó của Hà Nội cũng còn lưu lại trong trí nhớ. Nói chung là tất cả sinh hoạt của Hà Nội ẩn hiện trong mấy mươi cuốn sách của TLVĐ mà hình như chúng tôi chưa bỏ qua một cuốn nào, có cuốn đã đọc đi đọc lại nhiều lần mà không thấy chán.

Quả tiểu thuyết đã tạo cho trí tưởng tượng của người đọc bay bồng, đi xa về một nơi chốn được mô tả qua những trang giấy in. Có thể người ta không thể tìm ra ngọn núi Văn Dú trên rừng núi Bắc Việt, nhưng nó nằm trong trí nhớ của tôi, một đứa trẻ đã mê “Vàng Và Máu” của Thế Lữ ngày nào. Cả cái làng Từ Lâm êm đềm và thơ mộng, và cả ngôi chùa Long Giáng vẫn còn ở đâu đó trong một góc khuất của trí nhớ mà không hề hiện diện trên bản đồ Việt Nam. Cả Xuân Diệu một thời mới lớn: “cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu!” Rồi bài thơ “Hổ Nhớ Rừng” của Thế Lữ, vào lứa tuổi tôi chẳng có ai không thuộc nằm lòng, để có một ngày, rất nhiều người lính thất trận, nằm trong nhà tù cộng sản ba mươi tám năm xưa đã xót xa, cảm khái, đọc thầm … hay với một Thế Lữ khác, mang tâm trạng của một khách ly hương: “rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang!”

TLVĐ cho chúng ta những mối tình trong sáng, chung thuỷ, có những lúc vượt qua được nghịch cảnh nhưng cũng có lúc chịu an bài với số mệnh, với lễ giáo. Chúng ta rất ít khi “đọc”được một nụ hôn giữa trai gái trong mấy mươi truyện của TLVĐ, dù là Mai với Lộc (Nửa Chừng Xuân) Phong và Trâm (Nắng Thu) hay tha thiết hơn như Loan và Dũng, rạo rực nôn nao, nhưng không hề được một lần cầm lấy tay nhau, dừng nói gì đến một nụ hôn: “Quả tim chàng đập mạnh … Chàng trông thấy trước mặt bàn tay hơi run run của Loan, hôm nào, cời những quả đậu non trong rá, chàng nhớ đến cái cảm tưởng ngây ngất được thấy đôi môi Loan mềm và thơm như hai cánh hoa hồng, bao nhiêu them muốn ngấm ngầm bấy lâu trong một phút rạo rực trổi dậy.

Bốn bàn chân vẫn bước đều đều … Chàng nghĩ nếu lúc đó có ngừng lại thì Loan sẽ cũng theo chàng ngừng lại; chàng sẽ đưa cánh tay đỡ lấy Loan và miệng chàng sẽ nói câu mà chàng vẫn thầm nhủ với Loan đã bao lần trong giấc mơ:

– Anh sẽ yêu em trọn đời …. (Đôi Bạn của Nhất Linh) Nhưng những chuyện ấy sẽ không bao giờ được thực hiện. Đó là những mối tình thanh khiết, nhẹ nhàng của cả một thế hệ gái trai trước chiến tranh hay hoàn toàn trong sạch thuần khiết như giữa Ngọc, chàng trai Hà Nội và “chú” tiểu Lan trong “Hồn Bướm Mơ Tiên,” thầm lặng để còn nghe được tiếng … “lá rơi,” là một điệp ngữ được nhắc đi nhắc lại trong phần cuối tập tiểu thuyết này.

Nhìn lại thời gian non một thế kỷ, TLVĐ hiện hữu trong văn học Việt Nam, ảnh hưởng đến hàng triệu ngườicủa nhiều thế hệ, mà giá trị của nó là đích thực, từ văn chương, tư tưởng, lối sống, thời trang, âm nhạc … hiển nhiên, không cần ai phải chôn xuống, rồi lại đào lên, sỉ nhục rồi vinh danh, phủ nhận rồi công nhận. Giá trị của TLVĐ cao hơn, dài hơn một đời người, một chế độ. Những người Việt Nam yêu văn học lớn lên từ nửa sau thế kỷ XX rõ ràng là mang một món nợ rất lớn về văn học, đó là Tự Lực Văn Đoàn, nơi đã cho chúng ta những tác phẩm làm mới hằn nền văn học nước nhà, những tác phẩm có nội dung và hình thức hoàn toàn Việt Nam, làm nền tảng cho cả một lớp người cầm bút đông đảo về sau.

Đục nước – Đục đời người

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

Hai thằng cùng nhập ngũ

Ngày về chỉ mình tao

Mày thì đang yên giấc

Trong nghĩa trang Biên Hòa

Tao trở về hai chân còn một

Gió phận đời cắc cớ làm sao

Đời lính không chết ngoài trận mạc

Lại khứ hồi nạng gỗ vô tri

Bến Bạch Đằng lớn ròng con nước

Nước lênh đênh đời tao chông chênh

Hai mươi tuổi ai không mơ ước

Chuyện yêu đương hò hẹn người tình

Bến Bạch Đằng gập ghềnh Crutches

Ngồi bên sông nhớ lúc băng sông

Đêm tiền đồn hỏa châu cháy đỏ

Lính nhìn nhau những bóng cọp vằn

Chiều đô thành nhớ thằng bạn cũ

Tao phế binh mày bỏ cuộc chơi

Hai mươi tuổi tao về tàn phế

Tuổi hai mươi mày ngủ quên đời

Bến Bạch Đằng gập ghềnh Crutches

Ngồi bên sông nhớ lúc băng sông

Đêm tiền đồn hỏa châu cháy đỏ

Lính nhìn nhau những bóng cọp vằn

Bến sông chiếu máu đục nước sông

Màu nắng liệm trong hồn manh vãi trắng

Bến Bạch Đằng phơi dòng nước cạn

Nỗi nuồn tao linh láng hơn mưa

Chiều Bạch Đằng phơi dòng nước cạn

Mà buồn tao như vũng nước đầy.

Bò vò viên

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

November 25th, 2022

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

Cầu quay Mỹ Tho

Ðất Mỹ Tho hồi xưa là đất Miên. Thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cho người Minh Hương, phản Thanh phục Minh vượt biên từ bên Tàu qua định cư và lập nên Mỹ Tho đại phố.

Mỹ Tho tiếng Miên là “Mi Sâr’ nghĩa là xứ có giai nhân da trắng. Sau nầy, chung đụng với người Quảng (Ðông) người Tiều (Châu), nên con gái Mỹ Tho sanh ra, không cần trắng da vì bởi phấn dồi, em đẹp một cách não nùng!

Mùa gió chướng, từ Cửa Ðại, nước mặn tràn vô đâu có lên tới Vàm Kinh Bảo Ðịnh. Tắm nước ngọt quanh năm, suốt tháng con gái Mỹ Tho trắng như bông bưởi là phải rồi!

Rồi năm 1862, Tây mũi lõ chiếm Mỹ Tho. Nó đắp lộ, xẻ đường vuông vức như bàn cờ. Tây cất cái cầu Quay. “Chừng nào cầu quay nọ thôi quay. Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường.” “Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành. Tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em”. Tháng Tư, 1975, CSBV tràn vô. VC trong bưng biền tràn ra. Anh bỏ em chạy sút dép qua tới Melbourne nầy. Chiều cuối năm, từ quê nhà, em yêu ngày cũ đã xa, một á xẩm Quảng Ðông, gọi qua trách móc: “Nghe anh hò; con gái Mỹ Tho lầm chết!”

Con đường Trưng Trắc từ Vườn Hoa Lạc Hồng chạy cho tới Cầu Quay. Dọc bờ kinh, dãy nhà sàn gie ra mặt nước biết bao nhiêu tiệm ăn và quán nhậu. Chốn phồn hoa đô hội, VC vô, nó đập tanh bành hết ráo.

Sở dĩ rành 6 câu vọng cổ là vì những năm 1960, Má tui bán cơm tấm bên hông rạp Ðịnh Tường, đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Ngoài Má tui ra, còn có Chú Phu người Quảng, xe bán hủ tiếu. Chú Tiều xe bán bò vò viên.

Chú Tiều có thằng đệ tử, nhỏ hơn tui ba tuổi, tên Mẹt. Những ngày bão rớt, hai đứa ngồi chong ngóc dưới hàng hiên nhìn mưa mà tán dóc. “Lớn lên nị làm gì?” Nó nói: “Thì bán bò vò viên. Cưới vợ đẻ con rồi cũng bán bò vò viên.”

Thằng Mẹt kể rằng: “Trời chưa sáng bửng, chú Tiều dắt nó ra tiệm nước trước rạp hát Vĩnh Lợi ăn hủ tiếu, bánh bao, xíu mại và uống cà phê. Xong sư phụ xỉa răng, hút thuốc Bastos đỏ trên đường về.”

“Mười ký thịt bò mối giao tận nhà hồi sáng sớm. Ngày mưu sinh của hai thầy trò bắt đầu. Thịt bò mới, không cần rửa. Cắt miếng nhỏ chừng hai ngón tay. Hốt từng nắm bỏ lên tấm thớt dầy khổng lồ để dưới đất.

Rạp Vĩnh Lợi, Mỹ Tho.

Ngồi trên chiếc ghế thấp, dùng hai thanh thép dẹp và dài đập cho thịt bè ra, tém thịt lại rồi lại đập. Xong ướp đường, bột ngọt, muối, tiêu, tỏi và hành tím. Bỏ thịt vô cối quết. Cuối cùng vò viên bỏ vô nồi nước đang sôi. Hàng trăm viên thịt bò bằng nhau luộc chín sẽ nổi lên thì lấy vợt trụng mì vớt nó ra ngoài. Nồi nước luộc bò vò viên làm nước lèo.

Tương đen trộn với tỏi xay nhuyễn, chút nước cốt dừa bắc lên bếp, xào xong bỏ vô hũ. Sa tế là ớt tươi, ớt khô, ớt bột với dầu ăn, hăng hăng nồng lỗ mũi, vô một hũ. Xắt sẵn ngò gai bỏ vô một cái thố.”

Xong xả, tắm, mặc cái quần tiều dài quá gối, áo ba túi may bằng vải ka ki. Ăn cơm trưa rồi đẩy xe đi bán.

Xe có nồi nước lèo rất lớn. Có hộc kiếng đựng bò vò viên. Có tô vừa, chén nhỏ, nĩa nhỏ có hai chia.

So với ba chục đồng, giá tiền một tô hủ tiếu thời đó, 4 cục bò vò viên lớn bằng đầu ngón tay cái mà giá tới 20 đồng thì hơi mắc.

Muốn ăn bò vò viên, đàn bà thì sai chồng; con gái thì sai em xách gà mên mua về. Yểu điệu thục nữ mà ăn dọc đường, dọc sá sợ chết cái duyên em.

Nên khách toàn là đàn ông. Gần đó, căn nhà xưa thời Pháp thuộc, là hậu trạm của một phi đội L-19, máy bay đầm già thám sát cho Sư đoàn 7. Những phi công mặc áo liền quần màu đen, thêu con rồng trên ngực áo, vai lon trung úy.  Ði bay về, cả bọn hay ra xe bò vò viên của chú Tiều đổ xí ngầu lắc.

Xí, ngầu, lắc là bốn, năm, sáu. Tiếng Tiều: xập xí; xập ngầu, mười bốn, mười lăm nghĩa là không rõ ràng, không chắc chắn. Hột xí ngầu có sáu mặt. 1 chấm với 4 chấm màu đỏ.  2, 3, 5, 6 chấm màu đen.

Xe hủ tiếu bò viên

Khách nắm tay ba hột xí ngầu đổ xuống một cái tô. Ba hột có mặt giống nhau gọi là bão. Khách ăn ván đó ngay lập tức. Hai hột có chấm giống nhau, tính điểm hột thứ ba. Từ 4 viên giá 20 đồng, thắng được 8 viên. Thắng nữa được 16 viên, lúc đó mới được ngưng chơi. Ăn no cành hông mà chỉ tốn có 20 đồng.

Còn tiếp tục đổ nữa gọi là nhồi. Từ 16 gấp đôi thành 64, 128, 256 viên. Lỡ thua một cái là mất hết.

Mỗi lần khách đổ ăn, chú Tiều chung một đồng xu. Xong cuộc, đếm đồng xu là biết ăn được bao nhiêu viên. Ăn không hết, gởi lại, mai ăn nữa. Khách chơi xí ngầu lắc cũng có đứa xấu tánh. Ăn thì la rùm. Thua mặt dài như mặt ngựa, chửi thề ỏm tỏi. Chú Tiều ăn thua gì mặt cứ tỉnh rụi. Không cười xỏ, không nhăn nhó. Sợ chọc quê, nó thua, nó quánh cho thấy bà.

Cũng có bữa xui, bị tổ trác. Mới đẩy xe ra, chưa bán được cắc nào, đổ thua một tay phi công hết 256 viên. Chú năn nỉ ăn bi nhiêu thì bi! Mai lại ăn tiếp! Nó không chịu. Nó chạy về nhà, rinh ra một cái nồi ế kinh, bắt chú Tiều chung đủ. Vừa múc bò vò viên cho nó, chú lầm bầm chửi thề bằng tiếng Tiều trong miệng.

Có lần hai thằng công an chìm thua quá, tức, nó lấy 3 hột xí ngầu bỏ vô túi. Chú Tiều năn nỉ gần gãy lưỡi nó mới cho chuộc lại. Năn nỉ tốn tiền chuộc? Mua 3 hột khác. Chú Tiều nói với tui là trong ruột hột xí ngầu nó có chứa thuỷ ngân. Ðổ quen tay, muốn ra mấy nút thì ra.

Chiều cuối năm, lục bọc bò vò viên em yêu bỏ trong tủ đá. Nước súp có ngò gai, có tương ớt, sa tế đủ cả. Ăn bò vò viên; uống với bia lon! Sao tui không thấy sừn sựt ngon như ngày xưa ấy. Hình như nó thiếu mất cái hồn cố thổ khi còn phải xa quê!

Thiên nhiên ở Guyana

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

Những tháng mùa Thu, vùng biển Caribbean khi im lắng, lúc sóng vời vợi dâng cao. Vào những ngày trở gió, từng bầy cá chuồn như hàng ngàn cánh bạc bay lấp lánh trong ánh mặt trời. Mỗi lần tàu cán ngang bầy cá làm chúng giựt mình hốt hoảng phóng tua tủa và đáp trên boong tàu trắng vã. Thủy thủ đoàn sách xô ra lượm, làm sạch rồi đem vôi đưa cho đầu bếp.

– Bếp, chiên.

– Ô kê.

Trong lúc gã đầu bếp lấy xô cá đổ ra bàn rắc muối, tiêu lên ướp. Già Luis với Jony đi vô lựa một vài con tươi đem ra sau lái lấy dao lóc thịt ăn liền. Jony xin nước tương chấm cá. Thấy già Luis ngồi ăn cá sống, gã đầu bếp lột vài tép tỏi, cắt mấy miếng chanh trộn tiêu và muối để vô dĩa đem ra đưa cho già.

– Ông chấm với cái nầy ăn đỡ tanh miệng.

Già lắc đầu.

– Nature, nature.

Hai tiếng nature (thiên nhiên) đã nhập vào đời sống của già Luis từ thâm căn cố đế nào. Không cạo râu, không tắm rửa, không bận áo mỗi khi tàu đến vùng nhiệt đới, coi phim con heo, ăn cá sống đối với già tất cả đều là thiên nhiên, theo già thì động vật dưới biển rất nhiều loại ăn sống được chớ không riêng gì cá chuồn. Sáng ra là thấy già cởi trần mang chiếc dao găm ngang hông, bận chiếc quần Jean cắt ống cụt ngang đầu gối, viền ống bung chỉ tua tủa. Nhìn già Luis gã bếp nhớ tới lão Ernesto trong một truyện nổi tiếng của Hemingway. Trước đây một thế kỷ lão Ernesto cũng lênh đênh đâu đó trong vùng biển Caribbean mấy ngày đêm và có lẽ cũng ăn cá chuồn sống, vì vùng nầy chỉ có loại cá chuồn mới bay lên ghe lên tàu được. Quê hương già Luis ở vịnh Viscaya thuộc vương quốc Tây Ban Nha, suốt đời già sống trên biển nhiều hơn ở đất liền. Còn Jony người In Đô, trước kia có đi tàu đánh cá Nhựt Bổn nên học được cách ăn cá sống của Nhựt, nó có thể ăn một hơi nửa ký lô cá tuna sống chấm muster hoặc năm bảy con cá chuồn sống chấm nước tương vậy mà thịt bò bít-tết nó chê sống không dám ăn.

Rohadi cầm chiếc chày đâm tiêu đi ra đưa cho già Luis. Thấy hai người ăn cá sống, nó chỉ tay lên đầu lắc lắc, day qua nói với gã đầu bếp.

– Coi hai người khùng.

– Ai khùng? Gã đầu bếp hỏi.

– Hai người ăn cá sống.

– Thì đã sao?

Rohadi cũng không biết trả lời sao. Jony nghinh mặt hách dịch:

– Đ. m. sống trên đời một miếng cá sống cũng hổng dám ăn thì lấy tư cách gì mầy chê cười người khác.

Rohadi biết mình lỡ lời nên nó vội xin lỗi hai người. Nó dặn già với Jony uống ít thôi vì đêm nay tàu neo ngoài vàm sông Demerara thủy thủ phải chia phiên gác.

– Mày khỏi lo, có già Nature nầy thì không thằng ăn trộm nào dám bén mảng xuống tàu đâu.

Già vừa nói vừa cầm chày đâm tiêu dộng cộp cộp xuống boong. Chuyện thủy thủ đoàn canh gác mỗi khi tàu vô hải phận Guyana mới bắt đầu từ sau vụ trộm xảy ra chuyến trước. Sáng hôm ấy, lúc phương Đông vừa đâm mây ngang, chưn trời bàng bạc trắng và gió bấc phả hơi lạnh đều đều. Xa xa dải đất liền lờ mờ trong sương sớm, lốm đốm vài ánh đèn nấn ná như chưa muốn chia tay với ánh bình minh. Hoa tiêu hướng dẫn tàu chạy chầm chậm vô vàm. Đầu bếp đứng trên boong phía sau tàu, đây là chỗ đứng lý tưởng của gã mỗi khi rảnh việc, buổi sáng cũng như buổi trưa, buổi chiều và buổi tối, chỉ có chỗ nầy gã mới bình tâm nhìn được cảnh vật chung quanh. Nước trong sông Demerara đổ ra pha nước biển gân lên màu cẩm thạch, tàu đạp nước vẽ lên hai lằn bọt trắng dài tít phía sau. Chợt nhiên từ trong làn sương mờ đục hiện ra một chiếc ghe gắn máy chạy theo sau lái. Người đứng trước mũi ghe cầm đoạn dây đầu có móc, quây vun vút và quăng đầu dây phóng thẳng lên boong, hắn kéo sợi dây cho chiếc móc móc chặt vô thành tàu, lập tức ba người con trai ốm nhom như ba con khỉ đu dây leo thoăn thoắt leo lên boong. Đầu bếp hốt hoảng chạy vô mui, quay điện thoại lên phòng lái.

– Báo cáo thuyền trưởng có ăn trộm lên tàu!

Thuyền trưởng báo với hai tên gác tàu. Hai tên gác tàu chạy ra bắn hai phát súng cũng vừa lúc chiếc ghe tháo dây vạt ra và nhấn hết ga vọt biến hút trong đám sương mù.

Mọi chuyện xảy ra chưa đầy mười lăm phút. Già Luis ra sau kiểm điểm đồ đạc, mất hai cuộn dây cột lái và một cái mô-tơ cuốn cầu thang, già lên phòng lái cự nự thuyền phó sao không cho người canh phía sau lái, vì già đã cảnh cáo trước ở vùng Nam Mỹ nầy trộm cướp như rươi. Già xồng xộc đi xuống hằn học với gã đầu bếp.

– Tại sao thấy ăn trộm mà mầy không chạy ra phang nó.

Thấy già Luis hầm hì như muốn ăn tươi nuốt sống đầu bếp. Gã day qua nhìn già cười một cái và chỉ ngón tay thẳng lên trán già:

– Ông già khùng! Trong lúc ăn trộm đương hành nghề, chỉ có những thằng điếc không biết sợ súng mới dám chường đầu ra lãnh đạn, dây và máy mất bảo hiểm bồi thường cho công ty đầy đủ, chớ còn nhân mạng của những tên thủy thủ mạt rệp như bọn mình bị ăn trộm đâm hoặc bắn chết, may mắn còn được cái xác liệm trong cái hòm loại rẻ tiền đem về cho vợ con ở nhà lãnh.

Nghe gã đầu bếp xối xả một tràng, gương mặt hầm hừ của già đột nhiên biến mất, già gãi gãi lên mỏ ác, chỗ không có tóc, tươi cười:

– Xin lỗi, mới bảnh mắt ra gặp nhiều chuyện, giận quá tao quên.

Già chìa tay ra:

– Cho tao chai bia.

Đầu bếp mở tủ lạnh lấy bia khui nút đưa cho già, già cầm chai bia ngước cổ tu một hơi hết sạch. Bỏ chai vô thùng rác già nói:

– Tàu sắp sửa bỏ neo.

Neo tàu xong thuyền trưởng ra lịnh. Bắt đầu từ bây giờ, mỗi khi tàu vô vùng nầy thủy thủ khỏi phải cạo sét sơn tàu, mỗi người chia phiên canh gác. Trước tới giờ thủy thủ đoàn thường xuyên thực tập cách phòng chống khi tàu cháy hoặc rời tàu khi chìm nhưng không có thực tập cách đề phòng trộm cướp vì vậy mạnh ai nấy tự nghĩ ra cách bảo vệ tàu. Lúc khẩn cấp thủy thủ phải dùng gậy gộc, dao găm, cán chổi làm vũ khí.

Hôm tàu trở lại Houston, thuyền trường đi mua sắm thực phẩm với gã đầu bếp trên chợ Việt Nam. Ông thấy cây chày đâm tiêu đầu bự, đầu nhỏ vừa nắm tay ông liền mua hai cái đem xuống tàu. Già Luis khoan đầu nhỏ của chiếc chày một lỗ và sỏ ngang một sợi dây da vừa ôm cổ tay để phòng khi đập ăn trộm chày khỏi vuột. Đêm nay thủy thủ bắt đầu xử dụng vũ khí bằng chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam được già Luis cải tiến.

Chiếc Elsa vô tới hải phận Guyana lúc năm giờ sáng. Thuyền phó đánh thức thủy thủ đoàn dậy chuẩn bị đón hoa tiêu. Tàu vô tới làn nước đục thì chiếc ghe chở hoa tiêu cũng vừa cặp lại. Có lẽ vì còn ngái ngủ nên thủy thủ đoàn thả thang dây ẩu tả sao đó để thang tuột làm hoa tiêu té xuống nước mình mẩy ướt như chuột lột. Gã hoa tiêu tức giận mặt hầm hầm đi vô tàu tìm phòng thay quần áo. Thuyền phó bị thuyền trưởng chửi, thuyền phó chửi lại thủy thủ đoàn, thủy thủ đoàn xanh máu mặt, thằng nầy đổ lỗi cho thằng kia và cãi vã nhau chúy choé. Tháp tùng với hoa tiêu có hai người chịu trách nhiệm gác tàu, một người mang túi quần áo, một người mang cây súng trường lót tót theo sau.

Tàu neo ngoài vàm chờ tới trưa nước lớn mới nhổ neo chạy vô Linden. Sông Demerara khúc ngoài sâu và rộng thênh thang, càng vô trong sông càng cạn và hẹp đủ để hai chiếc tàu buôn loại lớn chạy ngược chiều nhau. Thuyền phó đem máy quay phim ra quay cảnh. Hai bên bờ sông, cây thốt nốt và trúc xanh mọc hoang xen lẫn trong rừng cây tạp nhạp. Cách khoảng theo tán rừng những ngôi nhà sàn sơn xanh sơn đỏ, phía sau nhà chuối, dừa và vườn rau được nhà nông trồng ngay hàng thẳng lối. Mặt sông phẳng lặng, nước đục phù sa, vài đám lục bình, rác rến hững hờ trôi. Những hàng đáy được cắm vững vàng day miệng theo chiều con nước ròng, nước lớn. Những cô gái bận áo quần nhiều màu sắc ngồi sau lái cầm dầm bơi trên những chiếc xuồng con sơn màu xanh dợt, chầm chậm xuôi ngược hai bên mé nước cạn hoặc những chiếc đò gắn máy trong lòng khoang chạy tà tà và nhiều xuồng thon dài gắn máy phía sau phóng nhanh như ca nô phả sóng trắng xóa. Con nít trên xóm đứa lội, đứa bơi xuồng ra giữa dòng giơ tay vẫy vẫy. Thủy thủ trên tàu cao hứng gói kẹo, bánh, nước ngọt trong bọc ni lông liệng xuống nước. Đám con nít bơi theo tranh lấy những gói quà, chúng la ó vang dội khắp mặt sông.

Tàu ghé cảng Linden lúc mặt trời sắp khuất xuống ngọn cây. Bến cảng nằm bên bờ sông vừa đủ đậu một chiếc tàu, sàn lót ván dầy, không có kè đá, người ta cắm cây xúc bên ngoài cho tàu cặp và dây được cột lên những cột trụ bắt dính vô mặt sàn. Không có cần cẩu nên trông bến trống trơn. Trên bờ hai dãy nhà thiếc nằm nép mình bên rừng cây tạp nhạp có nhiều lá vàng chen lẫn trong khối lá tươi xanh, xa xa trên dạng rừng, nền trời hiện lên màu máu đỏ. Từng bầy chim trời kéo nhau bay về chỗ ngủ, chỉ còn lại bầy diều hâu còn nán lại trên sông, dang đôi cánh rộng thả lơ lửng lưng trời như điểm tô cho dòng sông thêm phần hùng tráng.

Trời nhá nhem tối, hai chiếc đò dọc chở đầy đàn bà và con gái cặp vào chiếc Elsa. Hai anh gác tàu thòng thang dây xuống cho các cô lần lượt leo lên. Một lát sau các bà các cô da đen và da nâu đứng đầy nhóc phía sau lái tàu. Thuyền trưởng hào phóng mở kho rinh lên ba thùng bia và hai thùng nước ngọt. Thủy thủ đoàn góp bia và rượu thêm vào chất thành một đống. Gã đầu bếp cắt phó mát, hâm xúc xít bày ra. Nhạc được mở lớn và mọi người đứng vòng tròn, khui bia lốp bốp mời nhau, các cô gái da đen bóng lưỡng mỗi khi cười nhe hàm răng trắng nhách. Các cô gái khởi động uốn éo theo điệu vũ khỏa thân, vạch ngực trần, vén đùi cao, ôm các anh cọ xát thân hình. Già Luis ở trần giơ tấm thân đầy lông lá, râu ria phủ gần hết gương mặt. Già đi tới đi lui, rờ mông cô nầy, bóp vú cô kia, coi mòi già xông xáo còn hơn đám trẻ. Thủy thủ đứa tóc dài chấm vai, đứa đầu tóc bù xù, đứa cạo đầu trọc lóc mặt mày thằng nào thằng nấy đã nhuộm màu thiên nhiên rừng rú. Khỏi cần đốt lên nhóm lửa hồng, giữa ánh đèn điện vàng vọt, trông họ giống dân da đỏ cắm trại giữa rừng trước đây vài thế kỷ.

Sau khi lo cho đám thủy thủ xong xuôi thì đêm cũng dần lên, gã đầu bếp tách ra khỏi đám tiệc, gã cầm chai bia leo lên boong sau lái đứng nhìn ra dòng sông. Trên sông lấp lánh ánh đèn của một chiếc xuồng câu và rừng thấp im lìm trong giấc ngủ. Nhìn đèn nhà vườn leo lét theo những tán rừng dọc hai bờ sông, làm gã nhớ quê hương ray rứt. Lâu lắm rồi gã chưa về thăm giòng sông cũ, hổng biết trên dòng sông ấy các cô gái quê có còn bẽn lẽn vân vê tà áo thẹn thùng khi gặp người con trai lạ muốn làm quen. Cuộc sống lam lũ, mộc mạc nơi đó khác xa nơi nầy một trời một vực.

– Bếp, tao kiếm mầy nãy giờ.

Đương vẩn vơ thả hồn về quê hương chợt nghe tiếng già Luis, day lại thấy già cũng vừa đi tới, gã hỏi.

– Kiếm tui chi vậy?

– Mày còn Whisky không?

– Còn, ông cần hả.

– Ừa, cho tao mượn một chai.

Gã bếp ngước cổ đưa chai lên uống hết phần bia còn lại rồi liệng vỏ chai xuống sông.

– Ông theo tui.

Gã vô phòng lấy rượu đưa cho già. Cầm chai rượu già nói:

– Mấy con đĩ muốn uống rượu.

Gã nhướng mắt mỉm cười:

– Thì cứ cho nó uống nhưng ông thì uống vừa thôi.

Già cười hì hì nói:

– Tao biết rồi.

Thấy gã bếp ngồi xuống chiếc băng, già hỏi:

– Mày không xuống chơi sao?

– Không, ông chơi đi tui hơi mệt rồi.

– Vậy thì ngủ đi.

Già Luis đi rồi gã bếp vô phòng tắm đánh răng, rửa mặt xong gã lấy quyển sách leo lên giường nằm đọc.

Mỗi lần tàu ghé Linden, sáng nào gã cũng pha một ly cà phê bưng ra sau boong đứng, vừa nhâm nhi cà phê vừa ngắm mây xám đâm ngang phía trời Đông, sương mù đọng trắng trên mặt của dòng sông và lan tỏa trên dạng rừng cây tạp nhạp. Trên tàu yên ắng, gã đứng nghe tiếng thú và chim rừng đánh thức, gọi nhau đi tìm mồi…

Sáng nay gã định xuống phòng bếp pha cà phê. Nhưng khi bước ngang phòng ăn gã thấy từ trên mặt bàn cho tới sàn tàu đầy nhóc lon bia và lon nước ngọt, mùi hôi hỗn hợp bốc lên nồng nặc. Trong đám ngổn ngang bừa bộn và hôi hám, có một người con gái trẻ bận áo thun đỏ, cổ rộng xệ một bên ngực, bày ra gần hết chiếc vú căng tròn, cô bận chiếc váy màu đen, chiếc giỏ nhựa màu ngà mang trên vai thòng xuống khỏi bắp đùi, cô ta ngồi trên ghế, mặt ngước lên trần, miệng há hốc ngáy khe khẽ. Cô gái của miền sông nước Guyana mũi cao, mắt đen, chưn mày đậm, da nâu, lông tay, lông chưn rậm rì và cặp giò dài tỏa ra một sức sống mạnh mẽ và hứa hẹn những cuộc truy hoan không mệt mỏi. Ở bên Âu châu thân thể nầy phải đặt trong căn phòng kiếng có đèn màu hồng mờ mờ, nệm, gối thơm tho, kẻ nào muốn thử một lần cho biết, phải mất từ trăm Euro trở lên. Thường thì các cô xuống tàu đứng cho các anh chọn, cô nào hổng được chọn có thể ngồi lại ăn nhậu tới mãn tiệc rồi về. Không hiểu vì sao hôm nay sót lại một cô nằm trong cái đám ngổn ngang hôi hám như vầy.

Gã đi vô lắc lắc chiếc vai trần tươm mồ hôi rin rít của cô gái:

– Hello, hello, good morning, good morning!’

Cô gái giựt mình đưa tay vừa dụi mắt vừa nói giọng nhừa nhựa.

– Buồn ngủ quá.

– Sáng rồi, cô về nhà ngủ đi.

Cô gái mở mắt hổng lên, giọng lè nhè.

– Nhưng tui mệt quá.

Gã phân vân, hổng lẽ để cô ta ngủ ngồi giữa ban ngày ban mặt trong phòng ăn như vầy coi kỳ quá, gã nói.

– Cô lên phòng của tôi ngủ đi.

Cô gái đứng dậy mặt đờ đẫn giọng ngái ngủ:

– Phòng ông ở đâu?

– Chờ tui một lát.

Gã lên phòng, lấy bóp tiền nhét túi quần, đồ đáng giá và máy móc dồn hết vô tủ khóa lại. Gã trở xuống kêu cô gái:

– Đi theo tui.

Sau khi đưa cô gái lên phòng gã trở xuống bếp, trong lúc pha cà phê gã mới giựt mình, nhớ lại hồi mới đổi về tuyến đường nầy, mỗi lần ghé đây, đên khuya gã thường bị đánh thức bằng tiếng gõ cửa, gã không bao giờ mở. Đến khi các cô hè nhau đập cửa rầm rầm, buộc lòng gã phải mở cửa ra năn nỉ các cô đi chỗ khác, nhưng các cô cứ nằng nặc đòi gã cho vô. Các cô nói, chỉ ngủ thôi hổng làm gì cũng được. Nói chơi không! Gã thừa biết các cô vô được rồi đâu có để gã nằm yên ngủ một cách dễ dàng. Năn nỉ không được, cuối cùng gã phải lo lót thuốc lá và bia rượu cho tên gác tàu, nhờ hắn ta can thiệp dùm. Ấy vậy mà có khi nào gã ngủ được một giấc cho ngon, chốc lát lại nghe tiếng giựt nước rào rào, tiếng cười, tiếng nói, tiếng la oai oái, tiếng chưn rầm rập giống y như chó rượng đực tháng bảy. Hôm nay mắc chứng gì gã đem lòng tốt ra đối xử với cô gái nầy. Rước cô ả vô phòng rồi làm cách nào trục ra đây. Trong lúc miên man lo tới cái hậu quả không lành có thể xảy ra thì già Luis từ trên phòng lộp cộp đi xuống. Già nhìn vô phòng ăn thấy giống như kho chứa đồ phế thải, già đưa nắm tay kẹp ngón cái vô ngón giữa làm dấu tục gặt gặt, già chửi thề:

– Goddamn! biết ăn nhậu, biết làm tình nhưng không biết dọn dẹp.

Gã bếp nhìn già lắc đầu:

– Thôi ông à, lâu ngày lênh đênh trên biển, ghé bến được vài ngày cho tụi nhỏ xả hơi với chớ.

Nói là nói vậy, thật ra gã thừa biết hồi hôm cái mặt râu của già cũng có tham dự trong cái đám xô bồ xô bộn kia. Gã rót cà phê ra hai tách, bỏ đường, sữa rồi đưa qua già một tách.

– Mình ra sau lái ngồi uống cà phê đi, tới giờ làm việc bắt tụi nhỏ dọn dẹp năm mười phút xong ngay.

Vừa bưng tách cà phê đi theo gã già vừa càu nhàu.

– Chỉ có hai thằng già mình lo, chớ tụi nó mà lo cái gì.

Già Luis lớn hơn gã một gần một con giáp, thân thể già sắp bệ rạc, đã vậy còn mang bịnh ghiền rượu. Mỗi khi say già nói năng bậy bạ làm đám trẻ coi thường, chúng đòi đập già hoài. Hồi tàu mới ghé, già cá với bọn nhỏ, thằng nào cắt được lông háng của mấy đứa xuống tàu già thua một kết bia, bằng không thì mỗi thằng chung già một kết. Hôm qua tụi nó đem lông lại đòi bia. Già nói không phải lông thiệt già không chịu chung. Tụi nhỏ hăm he đòi thủy táng già. Thấy vậy gã đầu bếp mới lấy bia của gã đưa cho tụi nó, nhưng tụi nó không lấy. Gã kêu tụi nó tha cho già phen nầy. Thật ra thì tụi nhỏ hù già chơi cho bỏ ghét, chớ chúng cũng thừa biết bia rượu già mua hàng tuần hổng đủ cho già uống thì lấy đâu già chung. Nhờ được bọn trẻ thương nên chúng chịu lắng nghe gã. Già biết vậy nên mỗi lần gây chuyện với xắp nhỏ già vô phân trần với gã để gã dàn xếp với chúng. Nhìn già giống y như người tiền sử. Gã bếp nói.

– Từ mặt mày cho tới mình mẩy ông lông phủ đầy, chỉ trên đầu bị sói, ông định lấy lông của mấy con đĩ gắn lên cho hết sói hả.

Đã vậy già còn ngoan cố đứng giải thích cho gã đầu bếp nghe giữa lông dưới háng và tóc của đàn bà khác nhau như thế nào. Già quả quyết mấy đứa nó chơi gian, không muốn chung bia mới cắt tóc của mấy con nhỏ đem lại gạt già. Đến một nơi đĩ điếm lúc nào cũng sẵn sàng, ai có tiền bỏ ra muốn làm gì trên thân xác các cô cũng được. Trong lúc làm tình tụi nhỏ chụp hình, quay video đủ cách đủ kiểu, huống hồ chi lấy kéo cắt vài ba nhúm lông. Tuy nhiên gã đâu lạ gì cái tánh cãi bướng rất nature của già nên chẳng cần đôi co với già làm gì.

Tánh thiên nhiên của già không thể nào gần gũi được đám trẻ nên già mới đeo theo gã bếp. Để cho có tình thân, già thường dùng câu ‘hai thằng già mình’ mỗi khi nói chuyện. Gã bếp day qua nói với già:

– Nhưng mấy thằng nhỏ cũng đâu có thằng nào được khỏe.

– Có sướng thì có mệt.

– Dĩ nhiên, nhưng hồi trẻ thì mình cũng vậy thôi ông à.

Chợt nhiên già day ngang nói:

– Hồi nãy tao thấy mầy dẫn một con vô phòng.

Gã đầu bếp chỉ tay vô cái đống xô bồ xô bộn trong phòng ăn, nói:

– Thấy ả ngủ ngồi trên cái đống rác kia, tui mới kêu lên phòng cho ngủ nhờ.

– Tao trông con nhỏ cũng được mắt.

–Đẹp, chớ được gì, mấy thằng nhỏ bộ xỉn hết rồi sao mà hông lấy con nhỏ bốc lửa.

– Say khướt còn biết đẹp xấu gì nữa.

– Ông thấy nó đẹp thì cứ tự nhiên đem nó về phòng.

Già đưa một ngón tay lên giữa miệng:

– Suyt! Mầy đừng nói với ai.

Gã đầu bếp đương suy tính làm cách nào để tống khứ cô gái, nhân cơ hội nầy gã chộp ngay:

– Được rồi, trưa nay ông đem cô ta về phòng mặc sức cho ông cạo lông mà chẳng tốn lon bia nào.

Già cười sằng sặc làm hàm râu quai nón của già run run.

Suốt buổi sáng gã đầu bếp nấu nướng phân phát đồ ăn cho hơn hai chục mạng làm gã mệt đừ, mồ hôi hột đổ ra ướt hết chiếc áo thun. Gã lên phòng thấy cô nhỏ đã thức từ hồi nào, cô nhỏ mới vừa tắm, đầu tóc còn ướt, bận chỉ có chiếc áo thun và quần lót, trời nóng nực, trông cô nhỏ mát mắt liền. Cô ta ngồi bên bàn phì phèo thuốc lá. Thấy gã vô cô ta than đói bụng. Gã xuống múc cơm và thịt đầy một dĩa đem lên đưa cho cô gái.

– Nè, cô ăn xong rồi đi qua phòng ông Luis.

– Không.

– Sao vậy? Cô không cần tiền à?

– Ông Luis hôi rình.

– Ông ta là người của thiên nhiên nên không cần tắm rửa, cô đem ổng vô phòng tắm rửa sạch sẽ ổng trở lại thơm tho chớ gì.

Cô gái đưa ngón tay trỏ ra dấu quặt lên quặt xuống:

– Nhưng con “gà cồ” của ổng không ngóc nổi.

– Sao cô biết?

– Hồi hôm tui ở phòng ông ấy.

Té ra hồi hôm già đem con nhỏ vô phòng, vậy mà sáng ra già tỉnh khô làm bộ không biết gì hết. Thật ra thì nghề làm đĩ xứ nào cũng có, ở đâu cũng vậy, hễ rớ tới đĩ thì phải sòng phẳng chuyện tiền bạc. Nhưng đĩ điếm xứ nầy xuống tàu ngoài chuyện kiếm ăn, kiếm uống, kiếm tiền còn đòi phải thỏa mãn dục vọng nữa. Bệ rạc như già lại thêm tật ghiền rượu, bữa ăn nào thiếu rượu tay, chưn già run bần bật đến đỗi cầm nĩa xỉa thịt đưa lên miệng, miếng thịt không vô miệng mà trợt lên gò má. Lậm rượu tới mức đó ôm con gái chơi cho đỡ thèm chớ làm ăn được khỉ khô gì.

Thủy thủ nào thường đi tuyến đường Nam Mỹ cũng nghe câu chuyện về một anh thủy thủ, say rượu quắc cần câu không đáp ứng tình dục cho cô gái. Cô ta nỗi khùng lên giữa khuya lấy dao lắt cu anh nọ liệng xuống sông. May cho già Luis, gặp cô nhỏ nầy còn hiền nên bỏ xuống phòng ăn ngủ, chớ phải tay cô gái trong câu chuyện vừa kể thì chắc chắn cái “củ từ ” của già bị cắt liệng xuống sông cho cá rỉa. Chuyện thường đem kể trên hội quán hoặc lúc nhậu nhẹt để đưa cay. Tuy nhiên khó mà lường trước được trong đêm đương ngủ, chợt giựt mình đau đớn với máu me đầy háng. Sau khi xe cấp cứu chở vô nhà thương băng bó, sáng ra biết mình đã trở thành thái giám bất đắc dĩ. Nghĩ tới đây cũng đủ ê ẩm hạ bộ rồi. Gã nói với cô gái.

– Tui cũng như ông Luis vậy thôi, tui già rồi.

Gã day ngang mở tủ lấy khăn, áo sửa soạn đi tắm, cô gái bước tới vừa thoa thoa hai bàn tay vô cặp mông của gã vừa nói.

– Tui tắm cho ông.

– Không được, cô làm ơn ăn cơm xong rồi đi dìa cho tui còn nghỉ ngơi.

Gã đẩy cô gái ra, đi vô phòng tắm đóng cửa, khóa lại.

Tắm rửa thay quần áo xong trở ra. Gã thấy dĩa cơm còn nguyên trên bàn còn cô nhỏ thì nằm trần truồng trên giường. Thấy gã cô gái liền quỳ lên tay thoa cặp vú, tay vuốt chùm lông đen mượt quăn queo phía dưới bụng, thân hình uốn éo mặt ngước lên khiêu gợi giống y như mấy cô gái ngồi trong mấy cái sex-shop. Cô chồm qua ôm gã. Gã giựt mình đưa tay chống đỡ vô tình chạm phải trái ngực mềm mại và không tránh được cái hôn bất ngờ. Sẵn trớn cô ta câu cổ gã cứng ngắt. Gã đẩy cô gái ngồi xuống giường, nâng cằm cô gái, nhìn thẳng vào đôi mắt đen huyền, chưa kịp mở lời thì bất thình lình cô gái ngã người ra sau, kéo gã trườn tới, nguyên người gã ngã sấp đè lên mình cô ta. Lập tức tay phải cô câu cổ gã, tay trái nắm kéo tay gã nhét vô giữa háng. Gã vội rụt tay về, cô gái ghì mạnh cho trở vô và kẹp chắc hai bắp dùi lại. Thân thể cô ta bốc lên hừng hực, miệng rên khe khẽ please…please… Muốn thoát khỏi cảnh thiên nhiên rừng rú không còn cách nào khác hơn giúp cô nhỏ qua cơn cháy bỏng. Gã đút mấy đầu ngón tay vô ngoái mạnh, tức thì cô gáy nẩy người bần bật, da thịt căn cứng, tay quờ quạng lung tung. Cuối cùng cô đê mê không còn biết trời trăng gì nữa, mặt mày nhăn nhó, mũi dún lại nhiều ngấn trong giống như loài sói rừng, tay bấu mạnh lên ngực cào cấu nổi lằn trên vú và miệng kêu ăng ẳng như chó con đói sữa. Tới đây gã bếp cảm thấy máu trong người chạy rần rần, mình mẩy nóng đổ mồ hôi, hơi thở đứt đoạn, da mặt căng và toàn thân như đồng loã với tiếng kêu của cô gái. Cùng lúc cô gái thét lên tột đỉnh thì những dồn nén lâu ngày trên biển của gã bếp cuồn cuộn tràn theo đương đạo ào ạt tuôn ra như nước xịt rửa boong tàu….Giúp cô nhỏ xong gã ê ẩm cả người. Gã đứng lên đi vô phòng tắm lấy xà bông rửa tay và rửa sạch cái “ngã” đã làm nhớp nhúa chiếc quần lót mới thay. Khi gã trở ra, cô gái ngồi dậy đến bên gã rờ rẫm, hỏi dò.

– Ông không làm gì thiệt sao?

– Dĩ nhiên là không.

– Tại sao?

– Tui không có gì cho cô đâu.

– Không sao.

Cô gái đưa tay mò xuống dưới dạ bụng của gã. Gã đỡ tay cô gái.

– Này cô nhỏ, tui không làm tình với cô được đâu.

Mặc kệ cô gái nài nỉ, gã lấy áo quần thẩy lên người cô ta.

– Cô bận quần áo vô rồi đi dìa cho tui còn phải nghỉ ngơi.’

Coi mòi khó thuyết phục được gã đầu bếp, cô gái để quần áo lên băng, đứng dậy đi vô phòng tắm, không đóng cửa, tự nhiên ngồi xuống đái xè xè vô bồn cầu, xong cô ta xối nước rửa ráy mình mẩy. Trước khi ra khỏi cửa cô hỏi xin tiền đi đò. Khi cô gái đi rồi gã leo lên giường ngả lưng nằm thở một hơi dài, coi như xong cái của nợ. Gã nằm ngay ngắn và bắt đầu đều hoà hơi thở. Trong lúc mơ màng, gã chợt nhớ quên vặn đồng hồ báo thức. Gã vói tay lên đầu nằm quờ qua quờ lại nhưng chỗ để đồng hồ trống trơn. Gã lồm cồm ngồi dậy tìm vẫn không thấy, có lẽ cái đồng hồ đã đi theo cô gái mất rồi. Gã nằm xuống nhắm mắt, chợt nhớ lại hồi sáng nầy gã thấy cái giỏ xách da của cô gái xẹp lép, nhưng sao hồi nãy nó lại phình ra như có chửa. Gã nghi ngờ ngồi dậy lấy chìa khoá mở tủ. May quá, máy móc đồ đạc còn nguyên. Nhưng khi mở tủ trong phòng tắm thì xà bông gội đầu, bàn chải, kem đánh răng dự trữ và cái máy cạo râu đã được cô gái dọn sạch bách.

Sáng sớm hôm sau tàu khởi hành. Già Luis ngồi cú rủ trong phòng ăn mặt như thụng mất trong hàm râu quai nón, nhìn già giống như loài khỉ đột ở châu Phi, ai hỏi gì già cũng hổng trả lời mà gừ gừ trong cổ họng như chó gậm xương. Đợi mọi người ăn xong và ra boong làm việc, già bưng tách cà phê vô phòng bếp mếu máo nói với gã đầu bếp, hồi hôm ăn trộm vô phòng già; máy móc, đồng hồ và số tiền dành dụm mua computer cho con gái đã bị ăn trộm lấy hết.

– Mất hết không còn một xu hùmm… m…

Già gầm lên như cọp gầm rồi khóc hu hu như con nít. Chẳng những gã đầu bếp không nói lời an ủi mà còn mỉm cười xỏ lá:

– Ông cẩn thận lắm mà, chày đâm tiêu sản xuất ở Việt Nam đâu sao hổng đem ra khệnh ăn trộm, tối ngày cứ lo nhắc người nầy, nhở người kia coi chừng trộm cắp sao ông không giỏi coi chừng đồ đạc của ông đi.

– Bốp!

Bất thình lình già chọi tách cà phê qua ngang đầu gã va vô vách bể nát. Già vừa đi ra boong vừa chửi gã đầu bếp om xòm trời đất.

Ai tới đây trước sau gì cũng nếm mùi hở ra bị chôm, lơ là bị chộp ít thì dày, dép, nhiều thì đồ đạc đắt tiền. Người cẩn thận lúc nào cũng kè kè chìa khóa trong mình mà còn bị lừa huống hồ chi già, nhứt là khi uống rượu say để cửa phòng toang hoác, già thì nằm chò co trên băng nệm miệng há hốc ngáy khò khò, ai rinh già liệng xuống nước già cũng chẳng hay nữa.

Lần nào cũng vậy, tàu đậu vài ngày, khi ra khơi, đám nhỏ thằng nào cũng bị cháy túi, nhưng đối với chúng tiền bạc không thành vấn đề, miễn là được hưởng thụ. Trong lúc hưởng thụ thể xác của các cô gái chúng còn dùng máy chụp điện tử chụp chứa nghẹt mấy cái laptop và thu video sang ra đầy mấy cuộn băng. Diễn viên nữ trần trụi dang háng chổng mông, hình thù thì đen thui như tràm cháy, diễn viên nam say rượu quắt cần câu vậy mà cũng bày đặt hết kiểu nầy sang kiểu nọ cà hì, cà hục, cà trật, cà vuột đóng phim con heo mà thằng “cu tí” quặt quà quặt quại giống như con gà chết trong khung cảnh bừa bộn vỏ chai rượu và lon bia. Ánh sáng không đều, người quay thuộc loại tơ lơ mơ, ống kính lúc lướt qua bên nầy, khi sang bên nọ nhanh như xe lửa chay trên đường đèo, màn ảnh giựt giựt coi phát chóng mặt. Tác phẩm không đạt tiêu chuẩn phát hành. May ra còn ghi được cảnh sông nước thiên nhiên của Guyana mà thiên nhiên nơi đây thì giống y chang thiên nhiên ở quê hương của gã đầu bếp.

Gạch đã ra lò

Lâm Chương

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

(Nhà văn Lâm Chương)

Hắn ở nhà thuê. Đặc tính của người thuê nhà là không ở một chỗ nào quá lâu. Hơn 20 năm sống trên đất Mỹ, hắn dời chỗ 7 lần. Và lần nào cũng thuê đúng tầng 3, trên cao chót vót. Cái số hắn là vậy.

Lúc còn ở Việt Nam, có lần hắn đi coi bói. Lão thầy bói hỏi hắn về ngày tháng năm sinh. Hắn mù tịt. Bởi hắn được sinh ra trong thời giặc giã, má hắn hoảng hốt bồng con chạy loạn trối chết. Bà ngoại hắn nói nửa đùa nửa thật, rằng má hắn đẻ rớt ra hắn trên đường chạy loạn. Sao lạ vậy? Có ai vừa chạy vừa đẻ không? Người ta đau bụng quằn quại rên la gần chết mới đẻ được. Nhiều đứa bé bướng bĩnh nằm ì không chịu ra, bắt buộc phải dùng biện pháp mạnh, giải phẩu nắm đầu lôi ra. Còn hắn tạo điều kiện dễ dàng cho người đã cưu mang hắn. Ngay từ lúc sơ sinh, hắn đã thể hiện tính nhân bản, chẳng làm khó ai bao giờ. Có điều lầm lẫn là hắn đã ra đời không đúng lúc. Rồi khi ổn định nhà cửa, mãi lo tất bật với miếng ăn hàng ngày, chẳng ai nghĩ đến chuyện làm cái giấy khai sinh cho thằng nhỏ. Coi như sự có mặt của nó trên cõi đời này là một chứng minh hùng hồn rằng nó là một đơn vị hợp pháp trong xã hội loài người. Má hắn đâu biết con bò, con trâu hay chiếc xe gắn máy cũng cần phải có giấy chủ quyền. Hắn không có giấy tờ gì cả. Mãi đến năm 7 hay 8 tuổi gì đó, hắn mới bắt đầu đi học. Cho đi học là một cách giữ chân hắn trong trường để đừng chạy nhảy rong chơi phá làng phá xóm. Chữ nghĩa không cần thiết. Má hắn người đồng quê, sống bằng vào ruộng rẫy, mọi sự suy nghĩ hết sức đơn giản. Chữ nghĩa mà làm ông làm cha gì ai? Lúc đói cũng phải xăn quần lội xuống ruộng cày cấy mới có miếng ăn. Hắn chưa đủ lớn để có thể xăn quần lội xuống ruộng. Phải cho hắn đi học để hắn đừng đi chơi. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng nhà trường lại rắc rối, đòi phải có giấy khai sinh. Má hắn dẫn hắn ra hội đồng xã. Ông hộ tịch trợn trừng nạt nộ lớn tiếng, gạn hỏi đủ điều làm như má hắn lượm một thằng nhỏ ở đâu, hoặc ăn cắp con ai rồi mạo nhận là con mình. Trước thái độ dữ dằn của ông hộ tịch, má hắn khiếp vía, không sao nhớ được hắn sinh ra vào ngày tháng năm nào. Cuối cùng rồi cũng làm được cái giấy khai sinh, căn cứ vào thời điểm đất nước có những sự kiện như thế, và lấy đó làm dấu mốc năm sinh của hắn. Còn ngày tháng sinh không xác định được nên để trống. Đó là một thiệt thòi lớn cho hắn sau này. Hắn không lấy được lá số tử vi về vận mệnh của mình. Tương lai cuộc đời coi như mù mịt.

Hắn không biết ngày sinh tháng đẻ, lão thầy bói nhìn mặt xem tướng và xem chỉ tay cho hắn.

Lão nói: “Con người thọ khí âm dương của Trời Đất và khí huyết của cha mẹ mà sinh ra. Từ bậc vua quan cho đến hàng dân dã cũng đều như nhau cả. Nhưng trong đó, máy tạo hoá có phân biệt khác nhau là cái tướng. Bởi vậy, người tuy đông mà không ai giống ai hết. Tướng ấy thể hiện người sang hèn, giàu nghèo, yểu thọ, ngay gian, kể ra không cùng. Hễ hình hài mang lốt tướng nào thì vận mệnh cũng theo hình tướng ấy, không khi nào sai.”

Nếu theo lý luận của lão thầy bói thì hình tướng của hắn coi như hỏng bét. Hắn không đẹp trai. Phụ nữ không yêu hắn. Họ chỉ thương hại. Nhiều người nhận xét mặt hắn có vẻ cù lần, lương thiện một cách đần độn. Cũng vì lương thiện một cách đần độn nên ở đời hắn thường chịu nhiều thua thiệt. Nhìn mặt xem tướng, mặt hắn toàn thể hiện những nét phá tướng. Còn chỉ tay hắn, những chỉ ngang lằn dọc xiên qua xẹo lại nát bấy, chẳng ra làm sao cả. Điều này chứng tỏ hắn gặp nhiều khó khăn, trắc trở trên đường đời. Nhưng hãy để thầy bói đoán xem sao. May ra lão tìm được đường chỉ nào khả dĩ hoá giải bớt những hắc ám trong đời hắn. Quả thật, lão nói rất nhiều. Toàn những điều bất hạnh. Hắn tự an ủi, rằng lão chỉ đoán mò và nói bá láp. Coi như trật lất hết. Duy chỉ một điều làm hắn nhớ mãi, bây giờ nghiệm lại thấy đúng.

Lão bảo: “Cậu cao số lắm.”
Hắn hỏi: “Cao số là nghĩa làm sao?”
Lão giải thích: “Đời cậu ba chìm bảy nổi, lắm lúc gian nan nguy hiểm, nhưng cậu yên tâm đi. Tất cả đều tai qua nạn khỏi.”

Hắn thở phào, thầm khen lão thầy bói nói đúng như thần. Nhà hắn nghèo, lại không có thân thế nhờ cậy ai nên khi đi lính, hắn được ưu tiên đưa ra chiến trường. Đời nào cái bọn con ông cháu cha mà ra trận mạc? Hắn khơi khơi xách súng ra chiến trường như đi bắn chim vậy. Không anh hùng mà cũng lắm phen vào sinh ra tử. Chẳng biết hắn có bắn chết thằng nào hay không. Khi lâm trận, đạn bắn như mưa, nhiều người ngã xuống. Chưa chắc đó là do viên đạn của hắn. Ngược lại, đồng đội hắn cũng nhiều người ngã xuống. Nhưng hắn thì 10 năm trận địa chưa mất một sợi lông chân, dù vất vả gian nan có thừa. Có người hỏi, sao hắn đi chinh chiến lâu thế mà không trầy trụa sứt mẻ gì? Hắn bảo vì hắn chạy giỏi và có biệt tài né đạn. Nói chơi cho vui vậy thôi. Thật ra, có lẽ vì cao số nên đạn tránh hắn.

Hắn hỏi thêm: “Ngoài cái chuyện tai qua nạn khỏi, cao số còn có nghĩa gì khác nữa không?”

Lão thầy bói nhíu mày: “Tương lai vận mệnh con người đâu thể nói rõ ràng như 2 với 2 là 4. Tuỳ cậu suy nghiệm từng sự việc xảy ra.”

Hắn cố gạn hỏi về cái chuyện cao số, mong lão thầy bói bật mí thêm về tương lai của hắn: “Thầy đã coi cho tôi thì xin nói hết những gì thầy biết.”

Lão có vẻ nổi cáu, xẵng giọng: “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Thôi, đủ rồi. Tiền quẻ bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Xin đừng hỏi nữa.”

Sống trên đầu trên cổ thiên hạ ư? Hắn nào dám mơ như thế. Hắn vốn người chậm lụt, trí năng thấp kém. Chỉ mong thiên hạ đừng bắt nạt đè đầu bóp cổ là may lắm rồi.

Sau những năm dài chinh chiến, tình thế bắt đầu đổi khác. Lúc những người mang dép râu, đội nón cối từ trong hang ổ rừng xanh xuất hiện trên các phố thị miền Nam, cũng là lúc hắn sa chân xuống hầm tai hoạ. Nói trắng ra là đi tù. Đi tù, nhân phẩm bị chà đạp, khổ nạn như con trâu bị bỏ đói mà bắt phải kéo cày. Vậy mà lão thầy bói bảo hắn sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Ngược lại thì có.

Khi qua Mỹ, nhiều lần dời chỗ ở, và lần nào hắn cũng thuê đúng tầng 3. Thật tâm hắn không muốn thế, nhưng hai tầng dưới đã có người thuê rồi. Thôi, đành chịu vậy. Ở tầng 3, mỗi lần di chuyển đồ đạc vất vả vô cùng. Nhưng rồi hắn cũng tìm được lý do an ủi, lên xuống lầu cao là một cách tập thể dục. Người ta tốn tiền mua dụng cụ tập luyện thân thể. Hắn khỏi tốn khoản tiền ấy. Bạn hắn, phần đông đều cao tuổi, chân tay cò vạc yếu đuối. Có lần ông bạn già lẩy bẩy leo đến tầng 3 của hắn, há mồm thở dốc.

Ông nói như hụt hơi: “Ở trên đầu trên cổ thiên hạ càng mệt, chứ sướng ức chi?”

Câu nói vô tình làm hắn chợt nhớ lời lão thầy bói. “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ.” Trời! Chuyện tương lai xa hàng mấy chục năm mà lão nói trúng phóc. Hiện tại hắn đang sinh hoạt ăn uống, tắm rửa, ngủ nghê gì cũng trên đầu của 2 tầng nhà dưới. Trước kia, hắn lầm tưởng lão thầy bói muốn nói hắn ác ôn, chuyên môn đè đầu cưỡi cổ người khác. Hoá ra không phải thế. Lão ám chỉ cái số hắn ở trên cao. Ở Mỹ như vậy là số nghèo. Số mạt rệp! Số vất vả! Người giàu không xây nhà cao. Họ sợ đi lên đi xuống mỏi chân, lại dễ trượt té u đầu sứt trán như chơi. Họ chủ trương trải rộng mặt bằng, cơ ngơi chiếm nhiều diện tích khang trang mát mẻ. Khác với Việt Nam. Nhà nào lên lầu cao là giàu, dân có máu mặt. Người nghèo, nhà cửa chật chội, thấp lè tè. Ngước nhìn lên lầu cao, đôi khi mặc cảm thân phận mình nhỏ bé, thấp kém hơn thiên hạ.

20 năm hắn vẫn ở nhà thuê, chứng tỏ hắn nghèo thật. Khi mới qua Mỹ, hắn không có tiền sắm đồ đạc trong nhà. Hắn thường lang thang đi lượm những món đồ người ta vất đi, đem về dùng lại. Hắn nghĩ, nếu ở Việt Nam đem những món này ra chợ trời cũng bán được khối tiền. Thế thì ở đây người ta vất, tội gì mình phải mua? Mình chỉ lượm, chứ trộm cắp của ai mà xấu hổ? Nghĩ vậy, nhưng nhiều lúc thấy người ta dòm ngó, hắn cũng ngượng. Dù hắn đã tạo cái dáng như người nhàn rỗi dạo chơi để đừng ai chú ý.

Trong khi săn nhặt đồ cũ, hắn gặp một đồng nghiệp người Mễ. Anh này qua Mỹ trước hắn vài tháng, tiếng Anh cũng ấm ớ như hắn. Cả hai vừa nói chuyện vừa dùng đôi tay diễn tả. Tuy nhiên, anh ta có đầy kinh nghiệm trong nghề. Anh bảo phải có một chiếc xe đẩy khi đi lượm đồ cũ. Hắn nói không thể kiếm được. Tuần sau, anh ta cho hắn một chiếc shopping cart giống như chiếc của anh đang đẩy, và truyền đạt cho hắn những kinh nghiệm vô cùng quý giá: “Điều gì người Mỹ tính rồi thì khỏi tính lại, vì họ đã tính rất chính xác. Nơi nào người Tàu đã bỏ đi thì đừng đến ở, vì họ rất giỏi mưu sinh mà còn thất bại thì mình không thể thành công. Đồ đạc gì của người Việt Nam vất thì đừng lượm, vì người Việt vốn tính cần kiệm nên đồ họ bỏ ra thì không ai còn dùng được nữa.”

Sau một thời gian quen biết, anh bạn Mễ sắm được chiếc xe hơi cũ. Chiếc xe trông thảm, trầy trụa móp méo tùm lum, nhưng tiếng máy nghe êm. Mới đầu hắn tưởng anh ta lượm được ở đâu đó. Nhưng không, anh bảo mua rẻ của một thằng bạn Mễ. Từ khi có chiếc xe, anh giải nghệ đi lượm đồ cũ, chuyển hướng đi yard sale. Đây cũng là một cách săn lùng đồ cũ dưới hình thức khác. Mỗi cuối tuần, anh chở hắn đi. Đồ yard sale bán rẻ như cho. Đối với hắn, đi yard sale cũng là một cái thú. Đi hoài, đâm ra ghiền yard sale. Và hắn khám phá ra có nhiều người cũng ghiền như hắn. Những bộ mặt quen thuộc ấy, hắn gặp hoài ở các địa điểm yard sale. Cuối tuần, thay vì đi chơi, họ đi ngắm đồ yard sale may ra vớ được món bở với giá rất bèo. Hắn đọc báo, thấy nói có người mua khung hình cũ về tháo ra, bắt gặp những đồng tiền xưa hoặc giấy tờ tuỳ thân cũ từ cả trăm năm trước. Những thứ lâu đời đó bỗng trở thành vô giá đối với dân chơi đồ cổ. Dân chơi đồ cổ là dân nhiều tiền lắm của. Khi đã đam mê, họ có thể chơi ngông dám bỏ ra số tiền rất lớn để đổi lấy một món đồ cũ mèm, xem ra không còn chút giá trị thực dụng nào cả. Hắn mong một ngày mình cũng có được món đồ gì lọt vào mắt xanh của dân sưu tầm đồ cổ. Không mua vé số mà cũng trúng độc đắc. Nhưng dịp may ấy chẳng bao giờ đến với hắn. Bởi lão thầy bói đã nói rồi, số hắn ở trên cao, nghĩa là số nghèo.

Nói đến đồ cổ, không thể không nói đến những món không cần phải cổ, cũng có thể đem bán đấu giá. Đó là đồ dùng của các nhân vật nổi tiếng đã chết rồi. Cái đồng hồ, cây bút của cố tổng thống John F. Kennedy, hoặc cái quần lót của nữ tài tử Marilyn Monroe. Hắn thật không hiểu người ta tranh nhau đấu giá để mua cho được cái quần lót của Marilyn Monroe làm gì? Ngắm chăng? Nó cũng như trăm nghìn cái quần lót người khác, có gì lạ mà ngắm? Ngửi chăng? Trước khi mang ra đấu giá, người ta đã tẩy giặt sạch rồi. Còn hơi huớm gì mà ngửi? Từ cái quần lót của Marilyn Monroe, hắn nhớ lại chuyện ông vua Tự Đức cũng “xếp tàn y lại để dành hơi” sau khi nàng cung nữ yêu lìa đời. Hắn tưởng tượng, mỗi khi nhớ cái mùi của người đã từng chung chăn gối, nhà vua lấy cái quần lót của nàng đưa lên mũi ngửi một cách say mê với đôi mắt lờ đờ ngây dại. Hắn bật tiếng cười khan. Trăm họ thần dân mà biết nhà vua ngửi quần lót đàn bà thì còn ra cái thể thống gì?

Trở lại chuyện của hắn. Hiện tại, nhà hắn đầy đủ tiện nghi với những đồ đạc săn nhặt từ thùng rác và yard sale. Vợ hắn lắc đầu, cho rằng những thứ hắn tha về toàn là của người chết mà thân nhân của họ muốn tống khứ đi. Con hắn gớm ghiếc, bảo đấy là đồ dùng của người mắc bệnh Aids, cần phải vất bỏ tẩy uế. Hắn không đồng quan niệm với vợ con. Nhưng nhiều đêm nằm ngẫm nghĩ, săn nhặt đồ cũ cũng vì nghèo. Hơn thế nữa, nó thành thói quen. Tương tự như khi hắn ra khỏi tù, đi đường thấy cái bao nhựa nylon cũng lượm bỏ túi. Một thói quen bệnh hoạn đã thâm nhập vào tận xương tuỷ, do đời sống quá khó khăn thiếu thốn trong tù tạo nên. Cũng như khi mới qua Mỹ, liệng bỏ những cái bình đựng sữa, đựng nước bằng nhựa nylon thì tiếc, mà giữ lại thì không biết để làm gì. Không phải một mình hắn có triệu chứng bất thường như thế. Một trung tá Mỹ lái máy bay dội bom miền Bắc Việt Nam bị bắn rơi, rồi bị bắt làm tù binh 7 năm ở trại tù Hoả Lò, Hà Nội. Sau ngày trao trả tù binh giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt, ông được báo chí phỏng vấn. Ông nói về những nỗi đắng cay trong tù. Và điều đó đã ngấm sâu vào ông, trở thành thói quen vô thức trong sinh hoạt hàng ngày. Chẳng hạn, khi đi cầu ông dùng rất ít giấy vệ sinh để lau chùi, dù cuộn giấy vệ sinh chẳng đáng gì để ông phải bận tâm suy nghĩ về sự tiết kiệm. Hắn cũng nhớ lại thời gian hắn bị lưu đày ra đất Bắc, không có đến mảnh giấy vụn làm vệ sinh. Hắn phải dùng miếng giẻ rách xé ra từ quần áo cũ để lau chùi. Mỗi khi đi tiêu ngoài rừng, nếu dùng lá cây thi bất tiện lắm. Lá cây trơn láng, chùi không sạch. Lá cây nhám, có nhiều lông làm xót ngứa hậu môn. Dùng miếng giẻ là tiện nhất. Chùi xong, xếp miếng giẻ cho vào túi nhựa nylon, rồi cất vào túi quần. Buổi chiều về ngang con suối, vệ binh cho dừng lại tắm rửa, luôn tiện giặt miếng giẻ để lần sau dùng nữa. Hắn dùng hoài, cho đến khi nào có được miếng giẻ khác thay thế tốt hơn. Khi còn ở tù, lúc nào hắn cũng thủ sẵn miếng giẻ trong túi. Chỉ cần hai miếng giẻ là đủ dùng cho cả năm.

Khi nghĩ về số phận, hắn tự hỏi, hắn đâu làm nên tội gì, sao ông Trời bất công với hắn? Hắn không tự chọn sinh ra trong một gia đình nghèo nàn thiếu trước hụt sau. Hắn lại sở hữu một cái đầu kém thông minh, không có một năng khiếu đặc biệt gì để bon chen cùng thiên hạ. Vào quân đội thì làm con chốt thí trên chiến trường. May mà con quái vật chiến tranh chưa kịp nhai xương hắn thì cuộc chiến chấm dứt, nên còn được cái mạng trở về. Rồi hắn bị đẩy vô tù. Người ta trút lên đầu hắn bao nhiêu là tội lỗi tày trời, rằng phản bội tổ quốc, bán nước cầu vinh. Tự vệ chống lại thằng ăn cướp mà gọi là phản bội sao? Và cái thân cùng đinh của hắn thì quyền hành gì mà có thể bán cả giang sơn tổ quốc? Ra khỏi nhà tù, hắn tìm cách vượt biên ngay. Bởi quá tin người, hắn bị lừa đảo hết tiền và suýt bỏ mạng. Phải đến chuyến thứ 13, hắn mới đi trót lọt. Người ta kỵ con số 13, nhưng vận mệnh của hắn lại hợp với con số xui xẻo này.

Bây giờ, hắn đang ở Mỹ. Phần đông người Việt ở đây đều có đời sống thoải mái. Tiền bạc, xe hơi, nhà cửa đàng hoàng. Sao hắn vẫn ở nhà thuê? Có phải tại hắn lười biếng? Hay mệnh Trời đã định? Hắn phản đối ông Trời, và quyết tâm cải lại số Trời. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết, “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Hắn sẽ thắng thiên. Hắn sẽ làm giàu. Hắn sẽ thí mạng cùi làm việc để có nhiều tiền. Đang làm tà tà ngày 8 tiếng trong nhà in, hắn xin làm thêm giờ phụ trội. Đầu tắt mặt tối, mệt nhoài thở chẳng ra hơi. Muốn có nhiều tiền, thật khổ lắm thay! Một ông bạn thấy hắn quá vất vả để trở mình làm giàu, bèn nói một câu chí lý: “Ở Mỹ, người ta cho con ngựa ăn no, nhưng bắt phải chạy đua.” Hắn đang làm con ngựa chạy đua. Máu hắn đã bị vắt cạn trong các trại tù Việt Nam, khi sang đây thì đã sức cùng lực tận, còn đua với ai được nữa?

Một năm trời làm con ngựa chạy đua, hắn bã người. Hắn ra tiệm thuốc Bắc, mua sữa mật ong chúa về uống mỗi ngày. Theo quảng cáo, đây là loại thần dược làm tráng dương cho người già, tăng sức cho người trẻ. Càng uống, hắn càng kiệt sức. Khốn nạn! Lúc nào tay chân hắn cũng rã rời, mệt mỏi và buồn ngủ. Hắn nổi giận, ném mấy lọ thuốc còn lại vào sọt rác. Hắn nghi mình có bệnh tiềm ẩn gì đó đang rúc rỉa dần xương thịt. Hắn đi bác sĩ. Sau khi thử nghiệm, bác sĩ cho toa mua multi vitamin, khuyên hắn cần nghỉ ngơi và ăn uống điều độ. Bệnh tiềm ẩn mà cách điều trị đơn giản vậy sao? Thôi thì hãy tin nơi bác sĩ. Dù sao ông ta cũng đã khổ công mài mòn bao nhiêu cái đít quần trong các giảng đường y khoa. Chứ không phải như mấy cha nội mới biết đọc i tờ, theo Việt Cộng vào rừng khiêng xác chết và rửa ghẻ một thời gian, khi ra thành phố bỗng trở thành bác sĩ ngang xương. Do kiến thức y khoa giới hạn, thay gì cứu người, họ trở thành kẻ sát nhân. Đã có nhiều người bỏ mạng vì loại bác sĩ xuất thân từ rừng xanh rồi. Thằng con trai của hắn là một trong những nạn nhân ấy. Hắn căm hận gọi loại bác sĩ này là bác sĩ tử thần. Căm hận thì nói thế thôi, chứ hắn làm gì được ai?

Bắc sĩ dặn mỗi ngày uống 1 viên multi vitamin, hắn chơi luôn 2 viên một ngày cho chắc ăn. Đồng thời, hắn nghỉ làm thêm giờ phụ trội. Không còn đầu tắt mặt tối nữa. Sức khoẻ hắn phục hồi nhanh chóng.

Những lúc rỗi việc, hắn hay lôi Truyện Kiều ra đọc mua vui như lời cụ Nguyễn Du nói. Gần cuối truyện, hắn chú ý đến đoạn thơ: Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Thì ra qua thân phận nàng Kiều, cụ Nguyễn Du muốn nhắn lại người đời sau rằng cụ đã từng muốn cải mệnh trời, nhưng cuối cùng đành chịu thua. Một thi nhân bậc nhất của Việt Nam còn phải chấp nhận ngậm đắng nuốt cay, hắn là cái thá gì mà cưỡng được số trời đã định? Nói theo kiểu Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc, kiếp này hắn như gạch đã ra lò, định hình rồi không thay đổi được nữa.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 1 Jul 2026

Một vụ “nổi loạn” của tù nhân đã bùng phát tại một phân trại giam Z30A Xuân Lộc vào ngày Chủ nhật 30 tháng 5-1913 đã được báo chí trong nước đưa tin, mà nguyên nhân là tù nhân phản đối chế độ nhà tù hà khắc: thường xuyên bị cán bộ coi tù đánh đập và phần ăn bị cắt xén.

Theo tin của báo chí Việt Nam, biến cố gọi là “nổi loạn” chỉ kéo dài 6 tiếng đồng hồ, khởi đầu từ 8:30 sáng và bị dập tắt lúc 2:30 chiều, khi tù nhân đồng ý thả con tin là giám thị trại giam, đại tá Hồ Phi Thắng. Mức độ bạo động chỉ ở mức 50 tù nhân la ó và một số khác phá cửa khu kiên giam, giải thoát cho 19 người ra khỏi khu vực này (nhưng vẫn ở trong vòng trại tù) vào nhà bếp lấy nước uống (!) và tìm dụng cụ nhà bếp làm vũ khí. Thiệt hại của cuộc “nổi loạn” ở mức “hỏng vài bình ga ở nhà ăn và chăn, màn, giường của phạm nhân,” như chính một tên tướng công an trong đoàn điều tra từ Hà Nội vào Xuân Lộc nhận định. Đây là một cuộc nỗi loạn trong nhà tù cộng sản ở qui mô mà người nổi loạn không có vũ khí, nhà tù không bị đốt, không ai chết hay bị thương, không có tù vượt thoát. Tuy vậy, công an Việt Nam đã điều động hằng trăm “cảnh sát cơ động” ở các tỉnh lân cận về Xuân Lộc để “ổn định trật tự” và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 8 Trung Tướng Cao Ngọc Oánh cho những người cầm đầu là “lưu manh chuyên nghiệp, không chịu cải tạo, thường xuyên vi phạm nội quy, kỷ luật của trại giam” và hứa sẽ thẳng tay “trừng trị” họ. Đầu tiên chúng cho chuyển trại 5 tù nhân chính trị đến trại Xuân Mộc và sau đó chúng cách ly một số tù nhân để điều tra thẩm vấn. Công an coi tù Cộng Sản luôn nhất quán trong kế sách thủ đoạn đối phó với những vụ nổi loạn làm reo trong tù. Chúng tách rời những người có khả năng cầm đầu để điều tra, ly gián và cuối cùng đưa họ đến một trại tù khắc nghiệt khác để mượn tay đồng bọn trừng trị hay những tù nhân khác hành hạ.

Người viết này cũng đã chứng kiến một vụ “nổi loạn” vào cuối năm 1981 của những người bạn tù “cải tạo” tại trại Z30D Hàm Tân. Khoảng 100 tù nhân ở hai lán đã từ chối “lao động,” hát nhạc chính huấn, và hô khẩu hiệu chống Cộng Sản trong thời gian một ngày một đêm. Vì không có tổ chức và mục đích cụ thể, và có lẽ cũng không có lãnh đạo và kế hoạch, khi bị thuyết phục và trấn áp, các tù nhân đã đồng ý chấm dứt cuộc nổi loạn và trở lại lán trại. Sáng hôm sau các công an từ trung ương đã được điều đến để làm việc. Trại ngưng lao động hai ngày để anh em tù “cải tạo” ở nhà để viết kiểm điểm. Mỗi người ngồi cách xa nhau, giám sát bởi các vệ binh và quản giáo, không được trò chuyện, trao đổi ý kiến với nhau. Tổng kết các bản “tự kiểm” này, ban chỉ huy trại tù tìm ra những người được cho là “cầm đầu,” và chỉ một tuần sau họ bị gọi ra khỏi phòng giam, mang tư trang lên xe “bít bùng” giữa đêm chuyển đến trại trừng giới ở Tuy Hoà.

Những lý do như phản đối việc tù nhân bị đánh đập, thực phẩm bị cắt xén chỉ là những chuyện dễ thấy bề ngoài. Thật ra chế độ lao tù dưới các chế độ cộng sản rất tệ hại vì người tù bị đối xử không khác gì súc vật. Họ bị tước đoạt không chỉ miếng ăn, manh áo, mà còn nhân phẩm của chính mình. Chúng ta đã nghe nói đến những trại lao động cưỡng bức của Liên Xô mang tên GULAG, chữ gọi tắt của Tổng Cục Trại Lao Cải, cũng như các trại Lao Động Cải Tạo (Laodong Gaizao) và Lao Giáo (Laojiao) của chính quyền Trung Cộng. Các trại tù và trại lao động được sử dụng để giam giữ không chỉ tù hình sự, gái mại dâm, người nghiện ma túy và những người phạm tội vặt khác lên đến 4 năm mà không đưa ra xét xử, mà còn là nơi giam giữ những người bất đồng chính kiến. Tra tấn và ngược đãi là những hành vi phổ biến trong hệ thống trại tù này. Chẳng hạn, ở Bắc Hàn hơn 30% tù nhân lao động khổ sai phải chết trong tù, tù nhân đói đến mức phải ăn chuột và giun đất để sống còn.

Cộng Sản Việt Nam có tài tổng hợp các mô hình trại tù của Liên Xô, Trung Cộng và Bắc Hàn để tạo nên những trại tù “cải tạo” trên toàn quốc sau năm 1975. Chỉ nói riêng đến thân phận tù “thường,” không phải tù quân nhân viên chức miền Nam, ở miền Bắc vào năm 1979, chúng tôi đã chứng kiến những cảnh đau lòng, khốn nạn trong các đội tù hình sự khi họ được đưa về từ vùng biên giới Việt-Hoa. Để khống chế người tù, cán bộ công an cho những tên “đầu gấu,” được cắt cử như là đội trưởng tự quản lộng hành. Những màn “chào buồng” dành cho tù nhân mới thường xuyên xẩy ra. Khẩu phần cụ thể là thau cơm được phân phối cho đội tù mỗi ngày đều do “đầu gấu” quyết định. Cho ai ăn, không cho ai là quyền của y. Tù nhân chỉ là những xác người ghẻ lở biết đi, hoàn toàn chịu khuất phục không chỉ trước bạo lực mà còn trước cơn đói và sợ đói dai dẳng. Tôi cũng đã gặp những đoàn nữ tù hình sự gầy còm rách rưới trên quê hương miền Bắc, bị đày đọa trong những công việc nặng nhọc như vác cột điện, đào đất. Thậm chí, điều tội nghiệp nhất cho những người nữ tù yếu đuối này, qua tiết lộ của những người tù hình sự gần gũi với chúng tôi, là đến kỳ kinh nguyệt, họ không có nỗi một miếng giẻ rách để làm băng vệ sinh nên họ phải dùng đến lá chuối khô để giải quyết!

Dưới chế độ Cộng Sản, có thể có tù nổi loạn trong trại giam đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình nhưng chưa bao giờ thành công, vì các vụ nổi loạn không có tổ chức và kế hoạch cụ thể cũng như không có các tổ chức dân sự hay các cơ quan truyền thông quan tâm ủng hộ và tranh đấu cho họ. Chính quyền cũng không bao giờ vì những vụ này mà xét lại cách quản lý các trại giam của mình. Nhìn nay nhớ xưa, tại miền nam Cộng Sản đã cho ra đời cái gọi là Ủy Ban Vận Động Cải Thiện Chế Độ Lao Tù miền Nam vào ngày 30.10.1970, với hơn 80 thành viên từ nhiều thành phần xã hội “sáng lập.” Mặc dù người đứng đầu là Linh mục Chân Tín với vai trò chủ tịch nhưng thực ra chỉ huy ủy ban lại chính là những cán bộ CS hoạt động nội thành, như Sinh viên Trần Văn Long, người giữ chức Tổng thư ký của Ủy ban, mà sau năm 1975 giữ chức Phó Bí Thư Thành Đoàn. Đúng như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã viết trong bài “Vì Ấu Trĩ:”

Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối

Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương

Cả nước đã quay về một mối

Một mối hận thù, một mối đau thương!

Trong cuộc phỏng vấn của đài Radio France Internationale vào tháng 6 năm 1993, Linh mục Chân Tín đã cho biết sự “ấu trĩ” một thời của mình: “Tôi nghĩ đảng Cộng Sản, người cộng sản chỉ làm thế nào để cướp chính quyền và giữ chính quyền với bất cứ giá nào. Khi chúng tôi đấu tranh cho Nhân quyền, thì ĐCS lợi dụng cái đó của chúng tôi, không là vì con người hay là vì dân tộc, mà chính vì họ muốn nhờ chúng tôi một cách gián tiếp để giành chính quyền. Sau 1975, bề ngoài họ cũng có vẻ như chấp nhận Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà họ đã ký và họ cũng đã cho vào Hiến pháp của họ, nhưng đó chỉ là vấn đề chiến thuật để cho thế giới biết họ cũng là người văn minh, cũng tôn trọng con người, tôn trọng quyền con người. Nhưng thực sự, theo tôi thấy, người cộng sản không đặt vấn đề nhân quyền, họ luôn nhìn con người là một công cụ để thực hiện bá quyền, chúng chà đạp con người đề giữ quyền bính với bất cứ giá nào.”

Từ những con cờ của Cộng Sản như như LM Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, bà Ngô Bá Thành, Thích Trí Quang, Thích Pháp Lan, Ni Sư Huỳnh Liên .. các dân biểu đối lập như đám Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận … đến những tay CS nằm vùng như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân … chỉ “lớn lối” được dưới một chính thể tự do, dân chủ nhưng tê liệt, bại xuội, cụp tai, bị khuất phục dưới những chế độ độc tài, sắt máu, công an trị như chế độ hiện nay. Đấu tranh cải thiện chế độ lao tù đối với Cộng Sản chỉ là chiêu bài. Những con cờ và tay sai khi đã làm xong nhiệm vụ thì “điểu tận cung tàn.” Những “hào khí” đấu tranh cho chế độ lao tù một thời của đám con rối chỉ là cơn lên đồng ấu trĩ vì chúng “ăn làm sao nói làm sao” khi nỗi đọa đày của người tù chính trị lẫn hình sự Việt Nam vẫn còn tiếp tục trên khắp miền đất nước, ở miền Bắc từ 1945 và ở miền Nam từ 1975 đến nay, chế độ lao tù dưới thới CS còn xảo quyệt, hà khắc và dã man hơn cả thời Pháp thuộc.

Tuần qua đọc những tin tức về vụ Z30A, tôi mong một điều. Dù là tù hình sự hay tù chính trị thì cũng là những con người. Dù tù hình sự bị mất quyền công dân nhưng họ vẫn là những con người và phải được đối xử như những con người. Công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ hôm nay cũng phải bao gồm việc đấu tranh cải thiện chế độ lao tù cho những người tù này, mà trong đó không ít vì bị oan sai, vì hoàn cảnh xã hội vô nhân đẩy đưa, vì đói nghèo bóc lột vùi dập. Các tổ chức và phong trào đang đấu tranh cho những tù nhân chính trị tù nhân lương tâm cũng nên ghé mắt đến những người tù hình sự dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, để họ dù trong lao tù vẫn còn được bảo vệ nhân phẩm và được quyền sống cho ra con người.

Chúng ta chắc chắn không trông mong gì vào đám con rối của CS hoạt động ở miền Nam trước đây, nhưng có lẽ vẫn còn rất nhiều hy vọng vào tuổi trẻ VN cả trong nước lẫn hải ngoại. Chăng phải chính những tù hình sự “nổi loạn” vừa qua đã nhờ tù chính trị chuyển tin ra ngoài để giúp vận động hỗ trợ họ đấy sao. Nếu mục tiêu cải thiện chế độ lao tù VN hiện nay trở thành cuộc vận động thì thế giới, các tổ chức NGO và truyền thông, có thể đồng hành với chúng ta, và người dân trong nước có dịp hiểu thêm được ý nghĩa chân thực của quyền làm người, biết được tấm lòng của những người đấu tranh cho một tương lai Việt Nam dân chủ và tự do.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Mày dậy đi thôi, đừng im lặng

Mới vài phút trước còn đùa vui

Hai thằng chia nhau một điếu thuốc

Cười khà qua làn khói trắng bay

Mày dậy đi thôi, đừng im lặng

Sao mắt nhìn tao thật buồn rầu

Một viên đạn lạc qua nón sắt

Sao mày vội bỏ bạn bè đi

Tao ước chiến trường là sân khấu

Nơi kép đào họ chết mỗi ngày

Đóng vai chết xong rồi đứng dậy

Ngày chết mấy lần vẫn sống nhăn

Mày dậy đi thôi cùng bè bạn

Nơi quán khuya tràn ly rượu cay

Nghe Thanh Tuyền ca Rừng lá thấp

Thành phố sau lưng mộng ước gì

Tao ước chiến trường là sân khấu

Nơi kép đào họ chết mỗi ngày

Đóng vai chết xong rồi đứng dậy

Ngày chết mấy lần vẫn sống nhăn

Mày còn nằm đó trong im lặng

Những vết máu khô đã tím bầm

Đôi mắt hai mươi đang say ngũ

Nhưng là giấc ngũ của ngàn thu

Mày dậy đi thôi đừng im lặng

Rừng lá u linh tiếng cú kêu

Ngoài kia hỏa châu thay nến niệm

Trong tiếng trực thăng hối hả về

Ngoài kia hỏa châu làm nến liệm

Trong tiếng trực thăng hối hả về

Lát nữa đây, trực thăng sẽ đưa mày ra khỏi nơi đây

Mày trở về và sẽ không bao giờ trở lại

Hãy ngũ giấc ngũ thật bình yên

Không còn nghe tiếng đạn pháo

xé toan giấc ngủ trong những đêm bên chiến hào

và trong cánh rừng khuya.

Bản nháp

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 26/02/2018 

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Đò trôi êm mái chèo đều lực đẩy. Ban đêm giòng nước ấm ngửa mình đón hạt mưa rơi. Không lớn chẳng nhỏ chỉ đủ cho tầm nhìn thu ngắn, nhoè trên bờ thẳm những ngọn đèn vàng run thân trong vũng tối lần lượt khuất chìm.

Con đò cũng tầm trung theo lượng định, dưới vòm che hình bán nguyệt úp vung có gắn cửa tạm bợ ở mỗi đầu, một trước một sau, mong manh tựa tấm màn bằng giấy cứng cốt ngăn gió lùa cùng tia nhìn thọc mạch kẻ bàng quang. Sau, có giăng tấm bạt nhỏ bằng chất liệu ny-lông chùng, thấp ngang đầu người ngồi chèo đò và nhằm che chắn mưa tạt khỏi làm ướt lò củi ẩm còn âm u hòn than hồng vương khói mỏng. Trước là đằng đầu gỗ tháp gia công tạo dáng cong lên, đâm vào bóng tối nhiều sương quyện trông hư thực chẳng thiết nhìn rõ một bến bờ ghé lại, mặc tình đẩy đưa giữa đoạn sông vắng.
Đi trên cầu, giọt mưa đâm thấy lạnh nhột vỡ vào da rợn cảm nhưng chẳng ngờ được là mưa rơi xuống sông làm rỗ mặt, sự tiếp nhận đó có điều diệu kỳ nào can dự khiến cho thân dẫu trần truồng không manh áo vẫn chẳng thấy lạnh một mảy may. Ấm, nóng là đằng khác. Ngủ chay hay ngủ mặn, mò sâu tới chốn bồng bềnh này việc tiên quyết phải nên thực thi là xin hãy trút bỏ y phục để chứng minh nguyên cớ. Điều lệ ấy giúp người ta làm quen với mắc cỡ ban đầu rồi dần dà sự hổ ngươi sẽ bị rơi tỏm ngoài sông, lóp ngóp sặc nước, chết chìm. Triết lý tượng hình: Đẹp trai không bằng chai mặt. Đối tượng bổ sung thêm: Thẹn thùng chi nữa anh ơi, đã là cọp thì nào biết tới lần khân ngại ngần!

Cái ngủ khác với cái ăn, bởi rằm hoặc mồng một người ta có quyền vô tư chấm mút việc ngủ mặn. Trở ngại chút xíu nếu kẻ bán hoa vốn là Phật tử thuần thành: Anh ngẵng nghịch cũng vừa phải thôi, cho em nhờ tí, bữa ni kiêng cử nhác chơi. Trời sinh con gái có nhiều thứ bất tiện, ngoài chay với mặn hằng tháng họ còn bị dính chấu vấn nạn kinh nguyệt hành. Họ leo lên bờ so vai nhìn đời hiu quạnh. Có đi không? Đi mô được bữa ni, người em chẳng được sạch sẽ, khi khác anh hỉ!

Mưa giăng chập chùng ngoài đò, ngoại vật ướt át. Nhưng trên tấm chiếu khô hạn bốc mùi lạ thường này đàn ông con trai thảy nên mặc áo mưa. Bài công dân giáo dục sơ cấp từng truyền dạy: Cẩn tắc vô áy náy xa hối hận. Và nói tình ngay, sao mầm bệnh nhỡ vô phúc bị nhiễm phải kia lại mang được tên gọi quá gợi cảm: Em Giang Mai tới chị Hoa Liễu. Người thích môn đạo đức thì rộng lòng chỉ mặt xỉa xói không khoan nhượng: Chết mày chưa, thích đi đêm có ngày cũng gặp thằng lậu mủ đón đường. Nhức nhối không con?

Áo mưa chưa bao giờ bị liệt vào hàng đắt đỏ, gộp chung vào chuyện mần ăn, tính luôn tiền đò, em lấy anh giá văn nghệ. Ủa, văn nghệ văn gừng luôn nằm trên sân khấu, sao có khi lại mò xuống tận chốn phong ba này? Tiểu liên bán tự động có hai ngấc, liên thanh hay nhát gừng bắn phát một. Ngó sức vóc kiểu tân binh như anh e nên vác súng trường thô lậu, nổ cắc bụp phát thì lo hào hển rút quân. Phương án này một phần tuỳ thuộc vào lương lậu để nhắm liệu cơm gắp mắm. Dư tiền chút đỉnh thì em cho vật mình sang bên đợi bình minh nhú sẽ tính kế lên bờ, xem như năm canh vùi thân vào manh chiếu ấm chứ nỡ lòng nào đưa đầu trần người đi trong mưa gió sảng hồn lìa xa cơn mơ về sáng.

Người con gái tóc dài che nửa khuôn mặt như số đông quý chị em thích làm vậy. Bày ra nửa dung mạo khó bề tìm đoán một số tuổi thích hợp. Cứ du di chín bỏ làm mười để hàm hồ là hai chục trăng thôi tròn. Sạch nước cản thì trông mong gì khi chân bước xuống đò khoắn bùn đục nước ba mươi sáu kế thảy đều hạ sách. Cha có tù tội đâu mà bán mình trả hiếu? Chữ trinh làm gì mà hét tới ngàn vàng, nghe lùng bùng lỗ tai. Không dám đâu!

Mèo ăn vụng thường chẳng có quyền lựa chọn cục mỡ, thêm căng thẳng hiện trường cấp bách. Vui buồn tuỳ thuộc vào diễn biến tâm sinh lý bữa nọ. Đôi lúc cháy hàng, dòm trước ngó sau còn mỗi chị tuổi hơn ba chục cũng đành gát chân lên nhau nằm luận chuyện đời, những thứ éo le luôn cắc cớ bày ra rồi bàn giao vào mỗi phận số con người. Và gần bốn chục tuổi đầu vẫn xưng em với thằng con trai mới có nhị thập niên, chẳng lấy đó làm điều vui miệng gọi con chim cu mới ra ràng bằng hai tiếng anh ơi! Xem nào, đã đủ lông đủ cánh chưa đây. Ui, thương hết biết. Phàm bọn đàn ông khác đều một hạng lỗ mãng cục súc ưa hành hạ kẻ thất thế chịu nằm dưới. Đâu ai thư sinh dịu dàng như anh. Nói tội trời chớ anh mô phải người ruồi gieo máu lửa, khi nớ cánh hoa thời loạn ắt khó rụng tàn!

Người con gái với tay vặn nhỏ tim bấc ngọn đèn dầu cho bớt sáng trước khi cởi hết áo quần đạp ún thành đống dưới chân. Lòng đò chật, do vậy ánh sáng có yếu bằng cây diêm sinh cũng dư sức táp thứ màu vàng đục lên đôi vú nhỏ, trắng nhợt nhạt. Như loài bò sát, cô chuồi thân mềm mại nằm thẳng đuột đợi chờ. Lần đầu hay răng? Cô hỏi, mắt long lanh trao gửi chút ngờ vực. Ở hạ thể cô thu cất một vũng tối, có dốt môn hình học đứa người trần mắt thịt cũng nhìn ra tụ điểm cân phân một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau. Nếu tính sai thì đổ thừa là vì lông đen mọc rối bời che bớt phần nào cái sắc sảo dễ đánh sập thành quách. Hề, đã gọi là mỹ nhân trong thiên hạ, tự cổ chí kim đều thủ đắc thứ vũ khí chết người kia, hảo hán đi mười phương hành hiệp cũng phải e ngại chừa riêng phương ấy, cổ thi từng gọi: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!

Năm hạt nút áo tự nhiên làm khó tay lần, quýnh quáng. Cái nịt dùng thắt lưng buộc bụng cũng chướng, gây trở ngại không nhỏ. Đi chơi đĩ, mấy chữ này thật khó êm tai. Rồi ra sẽ đến hạn kỳ tam thập nhi lập, phải tự kiếm cách lo làm nháp trước cho khỏi vướng mắc cuộc tình, đường đi ong bướm đã tường một khi.

Thầy cô giở sách ra dạy: Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Giáo khoa quả đoán: Chỉ nhiêu đó thôi. Giải thích chút đỉnh: Tứ chi là gộp hai tay với hai chân lại mà thành. Hết. Đâu mà đơn giản vậy cà! Con người chúa rắc rối lắm mà. Kiêng khem tằn tiện quá đáng. Phì nhiêu trù phú trốn đi đâu? Chí ít cũng nên phân định là “người ta” gồm có giống cái và giống đực. Cớ làm sao một bên thì chẳng ra cơm cháo gì trong khi khác giống lại “sẵn đúc một toà thiên nhiên”? Một bên bình nguyên còi cọc bằng phẳng xuôi xị, bên kia lại phồn vinh không giả tạo những hòn non bộ, đèo cao lũng thấp, suối khe cùng rừng lá thấp mê muội đích thị là báu vật của trời ban… Răng đó? Cần giúp một tay không? Dưới tấm chiếu là những thanh gỗ ghép lại thành chỗ ngã lưng. Độ cứng của nó có thể làm mỏi gối chồn chân, nhưng hạng tuổi cỡ lục thập nhi nhĩ thuận mới quan ngại chớ thanh niên trai tráng hồi nào giờ đều dạng ngựa non háu đá. Ngựa cũng có nhiều giống, Xích thố của Quan Vân Trường hay bạch mã của Triệu Tử Long thuộc vào khoa học viễn tưởng, kỳ dư tất thảy đều lệ thuộc vào câu chú: Chạy xa mới hay đường dài. Hối thúc như bị Tào Tháo rượt đuổi thì chóng bở hơi tai, phì phò khịu chân xếp vó.

Người con gái chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Biết cớ sự này thì đã nhờ o Thảo bán cho ly rượu thuốc, anh uống để dìu em tới chốn xa. Quanh đi quẩn lại nhịp trống chưa báo sang canh. Thôi đành chờ lần sau, so ra còn khá hơn là phải chịu khóc đầm đìa ngoài biên ải. Cô ngồi dậy, chỉ tròng chiếc áo bà ba đậy điệm nhũ hoa cho khỏi trúng gió rồi vớ lấy cái thau nhựa, kéo nhẹ liếp cửa ở đằng đầu. Mưa vẫn rơi, làm màu đêm vấy trên sông ánh lên sắc xanh huyền hoặc. Lần ra sát mạn đò, cô gái vục thau xuống để múc lên một dung tích đầy vun, động tác thành thục chẳng sóng sánh trào đổ. Ngồi xích lại gần cửa tránh mưa, khum bàn tay hứng nước và khoan nhặt đưa lên đặt xuống kỳ cọ rửa ráy vệ sinh cửa mình. Nếu có hà bá hoặc con cháu thuỷ thần đi hoang bên dưới con đò e chúng cũng kiêng dè cạy mặt người sở hữu lắm hương mùi bụi trần vây khổn. Thau nước qua sử dụng được hoàn trả xuống con sông nổi tiếng Hương thơm. Tiếng nước táp vào bề phẳng trầm mặc của nó bật lên thứ cung bậc nghe sướng cái lỗ tai, cơ hồ vỗ bàn tay vào mông đít lắm thịt. Tuy mênh mông nhưng gây vang ra điệp trùng hồi đáp vọng dội. Bây giờ thì hình tam giác cân đã biến đổi thành thứ hình học không gian có nhiều phương thức chứng minh “ngó vậy mà hổng phải vậy”. Đôi giọt nước còn ngập ngừng ở thềm rêu chưa vội nhỏ xuống, rời đi từ cụm tóc xoắn, rối, bời bời một nguồn cơn khó ráp lại nên câu cú. Chủ nhân lách người qua khe hẹp rồi ngồi xuống chiếu tròng đôi chân vào chiếc quần đen chịu nhiều nếp gấp, bèo nhèo. Mái tóc bị ướt ít nhiều, cô để vậy không buồn lau khô; như bên dưới mãi chịu sự ẩm thấp, tuồng quan niệm “để vậy cho mát em”. Việc trước mắt cần giải quyết là thử ném viên đá dò đường, thăm dò nhằm đuổi khách. Ong đã hút nhuỵ hoa, dù chưa vơi hương mật thì liệu đường mà chờn vờn chốn khác. Bắt chấm mút phải bu vô, đến hồi hết sức chớ tô vẽ trò.

Người ta gầy sòng cờ bạc thử đỏ đen luôn theo tiêu chí thua keo này bày keo khác. Xóc xáo lại bộ bài, chia ván mới.

Cô gái nghe thế liền cười nửa miệng: Mô có ai cản ngăn? Cớ sự là anh còn tiền để chung cho nhà cái không?

Tên em là chi, anh quên hỏi?

Kêu em là Xì-lát cũng được, hay xập xám, hay thùng pha sảnh, tuỳ ở anh cả, em đâu quan hoài, chuyện nhỏ.

Răng không nói em tên Thoa cho anh an tâm.

Đánh bài mà bắt phải khai tên, có ngược đời không? Ừ, em là Thoa đây, có chuyện chi không?

Có chớ, đại sự là đàng khác. Nếu đúng là Thoa thì em chắc nhớ ra một thằng tên là Ngô Văn Đồng. Ba ngày trước hắn thiếu tiền được Thoa cho mắc chịu, chỉ thu giữ thẻ căn cước của hắn làm vật thế chân…

Rồi răng nữa?

Tối nay anh xuống đây có mang theo tiền chuộc.

Đứa con gái cười rộng miệng, cười rung cả vai, rối cả tóc. Đánh bài thì anh có cơ may gỡ lại vốn, nhưng anh chơi em thì khác, một ra đi không trở lại, tiền trao cháo múc. Nghe mắc cười quá, vừa húp cháo vừa đòi lấy lui vật thế chân, tham lam vừa vừa thôi ông thầy. Cái anh chàng tên Đồng nớ đã lạ đời lại quen thêm người bạn thật kỳ khôi. May mà em không phải tên Thoa, em chưa khi mô cho người ta mắc chịu cả. Chịu chơi cũng ở chừng mực mô thôi, chơi kiểu nghịch tặc thì ai mà chịu đời cho thấu!

Có nghĩa là anh ưa gầy cuộc vui lần nữa coi bộ không xong?

Đêm mai hẵng hay, em sẽ dọ hỏi giúp để anh gặp đúng người mà lấy lại thẻ căn cước. Thiệt cả gan! Ra đường không bọc theo giấy tờ tuỳ thân chẳng sợ họ bắt đi lính sao?

***

Khi đất nước hà khắc, độc đoán, mê muội, kỳ thị, đày ải, bần cùng hoá nhân dân. Cuối chân tường người ta đào được một lỗ đen, đặt tên: Vượt biên. Rỉ tai nhau: Đánh đổi bằng mọi giá để thoát ra được địa ngục trầm luân này. Hai chữ “vượt biên” mới toanh luôn đeo nặng trong giấc ngủ đầy ác mộng, lắm tính toan. Nó trở thành một ước ao chẳng có gì so sánh được, vô đối. Bao trùm và vĩ đại tới độ phát sinh ra câu thoại cười ra nước mắt: Nếu cột đèn có chân nó cũng bỏ trốn!

Hơn cả vết dầu loang, hơn cả cơn bệnh dịch, người ta đồng loạt đổ xô đi tìm sinh lộ bất chấp tử lộ chực chờ. Nếu vượt biển, động vật hai chân nương nhờ vô ghe tàu, hoặc một vật nổi được trên mặt nước có gắn động cơ sau đuôi bất biết tới sông dài bể rộng. Có kẻ trần tình lời nghe quặn lòng thắt gan: Hãy cho tôi thấy mặt trùng khơi một bận rồi có chết cũng cam tâm!

Muốn ra ngoài cửa biển có ghe chực sẵn để bốc người đi, những đứa “phản bội tổ quốc” phải chung tiền thuê “taxi”- lại một thuật ngữ mới ám chỉ mấy con đò nguỵ trang kín kẽ “đưa người ta không đưa sang sông” mà chạy xớn xác ra gặp sóng biển bạc đầu. “Bóng chiều không thắm không vàng vọt” như Thâm Tâm tả mà phải tối trời không trăng sao, đen như mực tối như hũ nút mới đắt địa. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!” Dầu sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ mà đùa dai giỡn thật với giả. Tất cả giá trị hiện vật đều bỏ lại, chỉ vác mạng không đóng vai thi nhân làm bài hành về tứ phương vô định. Hành phương Nam của Nguyễn Bính e chẳng thấm thía bằng bài hành của Thuyền nhân: Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. 1: Tự do. 2: Chết. 3: Ngục tù. Chẳng lôi thôi gì cả.

Ngày xưa, cổ nhân đi hành quân sát bên doanh trại địch đóng, muốn bảo mật phải tuân thủ “ngựa thì cất lạc, người thì ngậm tăm”. Giờ đây nằm chất lớp chư cá ương trên lòng đò ướt lưng áo lạnh, con trẻ thì uống thuốc ngủ để khỏi cất tiếng khóc nhè làm bể ổ, người lớn có khấn nguyện thì Nam mô A di đà Phật cứu khổ cứu nạn chỉ lâm râm tụng thầm cho mỗi mình nghe thấy. Đò có gắn máy đuôi tôm vì thồ người khẩm nặng, tiếng lạch bạch vang giữa đôi bờ kéo theo bao nỗi niềm mà dạ chẳng yên để phân định buồn vui đang ngập sóng trong lòng. Chắc rằng mặt sông có xao động cũng chẳng tài nào sánh với tâm thức kẻ cùng khổ đang lặng lẽ trốn chạy. Ba đào dâng lên trong người, say với thứ mà sóng và rượu không đủ độ mạnh làm chao đảo. Người cầm tay lái là một ông già gầy ốm ngồi sau đò, cô gái phụ đỡ ông thì ngồi bên một đống rong rêu cao ngất vớt được tự lòng sông. Tuy có bóng tối can dự nhưng cô ta cũng nhìn nhận ra được đứa “hành khách” nửa nằm nửa ngồi sát bên đôi chân. Một ván bài vừa chia phần mà nhà cái mang tên định mệnh. Vật đổi sao dời, biến thiên dâu bể tới cỡ nào cô vẫn không quên bộ phong tróc ảnh ám nơi thằng con trai đã từng nhờ cô giúp trở thành đàn ông một đêm mưa sụt sùi ngày cũ. Một chút dại khờ đi kèm với lòng thuỷ chung, hắn một mực tìm tới cô để ngủ qua đêm, chẳng ai khác. Không Thoa chẳng Lài, không Xuân chẳng Gái cho dù bốn chị em ấy nhan sắc có đứa mặn mà hơn, thể hình có đứa văm hơn, tuổi tác có đứa son trẻ hơn.

Bắt chước người bạn rắn mắt, hắn từng nhăn nhó gãi đầu đòi để căn cước bọc nhựa ở lại thế chân. Hắn biết cách san bằng hố sâu dị nghị bằng lối đùa nghịch hồn nhiên. Cách hắn tiếp cận, lối xử thế không như hành động một con đực muốn trấn lột, chiếm đoạt con cái. Hắn dịu dàng mơn trớn, như người nữ nằm dưới thân hắn chẳng phải là một ả điếm, thứ vật thể hắn dùng để trút bỏ bao hằn học trong khi hành lạc. Trong đầu hắn tuồng không mọc ra ý tưởng chơi cho xứng đồng tiền bát gạo. Hắn chẳng biết chữ dày vò, dập liễu vùi hoa. Và tới phút yếu lòng cô đã thú thật tên cô cho hắn nghe.

Diệu. Hắn thầm thì. Hắn cũng có bộ nhớ tinh nhạy, nhìn là nhận ra ngay. Hắn kê đầu vào đùi cô, từ tốn rướn thân lên. Chừng như hắn đang mó bàn tay tinh nghịch vào chỗ đó. Chỗ thôi còn là vùng oanh kích tự do, chỗ đã ký kết hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã ba năm. Nôm na là cô ngủ chay chừng đó tháng ngày. Cô theo ông già dùng đò mưu sinh một nắng hai sương, chở cát từ thượng nguồn về, chở rong từ hạ lưu lên, chở gạch từ xí nghiệp sản xuất mang ra chợ… Tóm tắc là lu bu làm thợ đụng chứ không nằm ngửa trên chiếu để mặc cho cuộc đời vấy bẩn tàn phá kiếp hồng nhan. Hắn thăm dò, bàn tay chăm đi hoang. Hắn nói hắn từng trông lui, tưởng nhớ cô, những ngày êm đẹp cũ. Hắn ngỡ cô đã bị dồn đẩy bắt đi khai hoang lập ấp trên vùng kinh tế mới đèo heo hút gió nào đó. Cô nín thinh, ngồi yên chẳng kháng cự. Cô biết hắn sắp liều lĩnh đi xa với cuộc lữ chịu nhiều hoạn nạn.

Lâu rồi đôi vú cô chẳng có tay ai sờ nắn. Bộn bề tháng ngày cửa mình cô, cái hình tam giác lạ thường như cách ví von của hắn, chưa có ai đo đạc mân mê vò rối. Cô hớt tóc trên đầu lắm lần nhưng bên dưới chừng như nó vẫn vậy, vẫn cong xoắn vẫn không mấy dài. Và năm ngón tay hắn đang khiến người cô chao đi, co rút lại. Chưa khi nào cô thèm làm tình với hắn đến vậy. Nếu bị đổ bể, taxi không gặp ghe đợi, tôi sẽ tìm cách đi vào ngục thất thăm anh. Cô nói nhỏ, đủ cho hắn nghe. Dù vẽ ra điềm gở, hắn đón nhận chút cảm động vì lời cô mang đủ chất thành thật.

Hắn moi trong lưng quần ra cái khâu hai chỉ, dự trù bán đi khi tới đảo để đánh về nhà cái điện tín báo tin. Nhưng phần số đã bày ra cuộc gặp gỡ này… Diệu. Diệu cất giữ nó đi, khi mô lấy chồng thì có sẵn, chẳng bợn lòng mà đeo vào ngón tay chứng thực là mình yên bề gia thất. Chỉ xin đánh đổi, hãy thầm nguyện cho anh đến được bến bờ tự do. Áo Diệu có hai miếng vải vá khác màu, ở vai và ở khuỷ tay. Người Diệu nồng mùi nắng dù đò trôi trong đêm mà cửa biển gần kề đang dồn thổi vào một lượng gió mặn muối. Mặn đến chạnh lòng.

Mọi người hối hả bồng bế nhau dồn lên ghe lớn, cao ngất, chòng chành, sóng nhồi, mênh mông con nước rộng doạ dẫm. Cầu trời khẩn Phật cho anh được tai qua nạn khỏi. Diệu nói với một đầu tóc đang bị rối bung. Đó là thời điểm thích hợp nhất để Diệu nhắm mắt liều lĩnh hôn vào môi hắn. Vị mặn ứa từ cửa sổ tâm hồn bò chậm rãi xuống bờ môi khô hụt nhịp thở. Hắn liếm quanh.

Phút cuối rời xa đất mẹ hắn đã thu cất vào buồng phổi lượng dưỡng khí mà Diệu vừa hà hơi tiếp sức. Và đầu mấy ngón tay hắn hình như vẫn nhờn rít chất sữa ngọt thất thoát từ mật khu, từ cửa mình ấm áp Diệu thầm lặng gửi trao. Còn gì nữa mà keo sơn gắn bó!

Hồ Đình Nghiêm

“Bỏ đi Tám!”

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Jun 2026

Ca dao quê mình vốn có một câu dài thòng hè:

“Sáng mai đi chợ Gò Vấp. Anh mua một xấp vải đem về.

Cho con Hai nó cắt. Con Ba nó may. Con Tư nó đột. Con Năm nó viền. Con Sáu đơm nút, con Bảy vắt khuy.

Anh bước cẳng ra đi, Con Tám nó níu, con Chín nó trì. Ớ Mười ơi! Sao em để vậy còn gì áo anh?”

Thằng bạn nhậu cắc cớ vừa hỏi khó, vừa chọc quê tui: “Sao dân Lục tỉnh Nam Kỳ của ông có tới chín con vợ lận?”

Dân quê tui xưa giờ đâu ai có tới chín con vợ? Nuôi sao nổi? Chẳng qua thằng cha may mắn trong câu ca dao nầy là chủ một hãng may.

Nó bèn hỏi tiếp: “Ðặt tên là để kêu! Sao mấy ổng hổng chịu ‘Hồng, Lan, Mai, Cúc’ gì hết ráo mà kêu thứ không vậy cha nội?”

Chẳng qua là vầy, tui trả lời: “Hồi thời tui mới sanh ra, bậc làm Tía Má thường đặt hai tên cho con mình. Một gọi ở nhà; hai đề trong giấy khai sanh, hộ tịch. Tên trong khai sanh thì đẹp. (Thường là tên người yêu cũ của Tía mình hay người Tía thầm thương trộm nhớ, tình đơn phương vì ‘ẻn’ vẫn ngó lơ).

Còn tên ở nhà, xấu háy, do Má mình, ít chữ hơn Tía mình, đặt như ‘Cu đen’ chẳng hạn để người khuất mặt khuất mày không cà nanh mà bắt con mình đi mất!”

***

Quê tui họ ít kêu tên lắm. Tên chỉ xài lúc cúng cơm, tức lúc mình ngỏm củ tỏi để cho thầy tụng đọc. Còn ngoài xã hội, chợ đời, giai tầng xã hội cao thấp khác nhau thì cũng gọi bằng thứ không hè!

Thầy Hai không hẳn là thầy giáo. Chỉ cần có học chút đỉnh làm thông ngôn hoặc thơ ký… là thầy Hai hết ráo.

Chú Ba, là chú chệt và thiếm xẩm có tiệm bán mì, hủ tiếu hay bán hàng xén trong xóm. Ðể giữ khách, chú Ba bán chịu, ghi sổ tất nhiên là dộng thêm tiền lời chút đỉnh. Nhưng bà con mình dễ dãi, hịch hạc coi đó là chuyện nhỏ.  Coi chú Ba, như bà con trong nhà, em của Tía mình, để dễ mua chịu đó mà.

Nhưng xin bà con nhớ đừng thêm chữ Tàu thành chú Ba Tàu nhe! Chú Ba giận lắm, cho dù chú Ba là người Tàu thiệt; chớ hổng phải Tào lao. “Giận là vì ngộ với nị là bà con. Gọi chú Ba Tàu thì mình là người dưng sao? Ðâu có được!”

(Tui e rằng nị muốn tui kêu là chú Ba, là bà con, để be bờ không cho tui ve vãn A Lìn, con gái của nị phải hông? Nị là người phân biệt chủng tộc. Nị chỉ muốn gả A Lìn cho thằng Tửng không hè! Không chịu gả cho người Việt! Vì nó làm biếng lắm! Chỉ khoái ăn nhậu tối ngày! Không lo buôn bán mần ăn gì hết ráo để nuôi con gái và đám cháu ngoại của nị phải không nè?)

Còn anh Tư, là đại ca trong chốn giang hồ đâm thuê chém mướn. Còn anh Năm, chuyên đá cá lăn dưa ở chợ Cầu Ông Lãnh, là đàn em của anh Tư.

Anh Tư, anh Năm thì không thích gì đám thầy chú thứ Sáu. Ðó là đám ‘phú-lít’, giữ trật tự trong chợ. Còn gọi là Sáu Lèo. Lèo (chẳng hạn như trong chữ hứa Lèo) là chuyên đặt chuyện nói dóc, làm khó làm dễ, hù dọa bà con mua gánh bán bưng để kiếm chút cháo. Nên hay bị chúng ghét.

Dựa hơi Sáu Lèo để mần ăn, là anh Bảy Chà, còn gọi là Chà ‘Sét ti’ (Chetty) chuyên thâu tiền hoa chi của chợ; tiện thể cho vay tiền góp. Sáng xuất, chiều thâu. Tiền lời chỉ ‘xanh xít đít đui’ (‘cinq’ thành ‘six’; ‘dix’ thành douze) chỉ 20% thôi. Nhưng đó là cho vay cắt cổ, ăn lời cắt họng vì tính ra một tháng tới 600% vốn bỏ ra.

Riêng cái đám đông nhứt trong chợ đời là đám dân ngu khu đen, vác mướn, chạy xe ba gác, đạp xích lô là thằng Tám tay làm hàm nhai, có đồng nào xào đồng nấy.

***

Cũng cái vụ thằng Tám. Vì có cái giai thoại rằng: Sau 1954, hiệp định Genève đình chiến, chia đôi đất nước. Cả triệu đồng bào miền Bắc xuống tàu há mồm của Mỹ di cư vào Nam. Một nhóm trong Nam, từng tham gia kháng chiến 9 năm, xuống tàu Ba Lan tập kết ra Bắc.

Riêng ông Sơn Nam từ quê nhà, miệt rừng U Minh thượng lên Sài Gòn kiếm sống. Mẫu thân ông từ dưới quê lặn lội lên để coi ‘thằng Tám’ chết sống ra sao?

“Mầy lên đây làm gì để sống?”

“Viết văn!”

Bà già hỏi lại: “Viết văn là làm gì? Viết văn có sống được không?”

Ông Sơn Nam trả lời (chắc để cho mẫu thân của mình an tâm): “Viết một giờ bằng người ta đạp xích lô cả ngày!”

Tui kể cái giai thoại ngồ ngộ nầy cho bà con nghe chơi. Thì có có một ông nội đọc xong chỉ gởi cho tui hai chữ: “Chú Tám?”

Thú thiệt, tui không biết nhà văn Sơn Nam có phải thứ Tám hay không? Dù hồi xưa, cách đây chừng một thế kỷ, gia đình ở quê có tới 10 đứa con là chuyện rất bình thường.

Tui bèn trả lời là: “Thưa ông Nội! Hồi chút éc, cách đây cũng cỡ 60 năm, ở Cua Ðạo Ngạn, làng Ðạo Thạnh, Mỹ Tho, tui là bạn hàng xóm, sát vách nhà Ðào Thúy Hằng, con gái lớn của nhà văn Sơn Nam, để tui hỏi thử coi sao?

Rồi tui được Mỹ Linh, tên ở nhà của Ðào Thúy Hằng, trả lời tui nguyên văn như vầy: “Thu! Ông bà nội tui có ba người con: Bác Hai tui tên Phạm Minh Trí, kế là ba tui, Phạm Minh Tài mà hộ tịch cho thành Tày, cô Út là Phạm Thị Xuân. Bác Hai học giỏi, có bằng Thành Chung nhưng không được học bổng như ba tui, cô Tư cũng học hết tiểu học. Nhà ở miệt rừng, gói ghém đủ ăn nhưng sống thong dong, không lam lũ”.

Ủa vậy sao? Vậy mà có một nhà phê bình văn học tuốt bên Tây viết, lâu nay tui cứ tưởng thiệt giờ té ra trật chìa hết ráo. Ổng dám phán vầy nè:“Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, nhiều tài liệu ghi Tày, có lẽ vì trên khai sinh ghi Phạm Anh Tày. Chữ Tài đúng hơn vì ông có người em tên Trí!”

Phạm Minh Tài chớ Phạm Anh Tài cái gì? Vì anh của nhà văn Sơn Nam là Phạm Minh Trí, chớ hổng phải là em như ông phê bình văn học nầy đoán mò: anh là Tài thì tất phải có em tên Trí. Tài Trí!).

Mấy ông hộ tịch làng hồi xưa chỉ biết chữ quốc ngữ lẹt quẹt nên viết chính tả trật hà rầm hè. Tài thành Tày. Lan (tên một loài hoa) thành Lang (con chó sói).  Hoặc ông Vương Hồng Sển, thực ra là Vương Hồng Thạnh, giấy khai sinh lại ghi nhầm là ‘Sển’.

Ông còn tới luôn bác tài, phán là: “Gia đình là nghiệp chủ khá giả, ông sống tuổi trẻ thong dong.”

Hồ nghi lời nhà phê bình văn nghệ nầy nói, tui bèn lục tìm trong hồi ký của ông Sơn Nam thì:“Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U-Minh, thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Nhà ở ấp Giữa, làng Ðông Thái, trên bờ con rạch Thứ Sáu, cong queo, từ giữa rừng chảy ra biển, khoảng 4 kilômét. Xóm tôi hồi đó còn vài mươi gia đình người Khơme. Chung quanh nhà, đầy lau sậy, luôn luôn có muỗi.”

… Ðược đi học ‘College de Can Tho’ là nhờ có học bổng. Dù vậy thân phụ ông phải cầm bộ lư và chân đèn để có tiền sắm quần áo cho ông đi học xa nhà.

Vậy mà nhà phê bình văn nghệ nầy còn ‘ủi’ tới là: “Bút hiệu Sơn Nam là do kỷ niệm người vú nuôi gốc Miên.”

Nhà nghiệp chủ, có của ăn của để nên có vú nuôi?  Cái nầy là người mù sờ voi thiệt rồi. Hồi xưa trong quê, đứa con nào còm cõi, còi cọc vì Má thiếu sữa thường hay nhờ bà hàng xóm cho bú thép. Nhà miệt rừng, đất phèn không thì làm gì giàu để có được chị Vú nuôi bao giờ?

Khi quyển Hương Rừng Cà Mau, tập truyện ngắn được nhà Phù Sa của nhà văn Ngọc Linh xuất bản, Sơn Nam nói: “Tôi gởi một quyển về cho bác Hai tôi, đã khoảng 90 tuổi. Ông không biết chữ Hán, chữ Quốc ngữ gì cả, nhờ đứa cháu ngoại đọc cho nghe. Nghe xong, ổng nói: “Thằng nầy nói dóc, nghe được quá. Nói dóc mà có căn cứ”.

Kết luận mần văn là nói dóc nhưng phải có căn cứ. Thế nên khi viết về tiểu sử của một nhà văn nổi tiếng thì mình cũng làm siêng siêng một chút tra cứu thêm đi nhe. Ðoán mò rồi đoán trật lất thì coi sao đặng nè?

Nhà văn Sơn Nam qua đời vào xế trưa ngày 13, tháng Tám, năm 2008, hưởng thọ 82 tuổi. Nếu ông còn sống, với cái tánh hịch hạc dễ chịu, dễ chơi của dân Lục tỉnh Nam Kỳ, chắc ông sẽ rầy tui: “Ðôi co, nói tới nói lui chi cho mệt vậy hè? Bỏ đi Tám!”

Đoàn Xuân Thu