Lên rừng thăm bạn

Lâm Chương

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Từ trên đồi cao nhìn xuống, giữa đại ngàn mênh mông xanh ngắt, đám rẫy của anh Khan nhỏ như một chiếc chiếu, màu nhạt lá non. Tôi lặn lội tìm đến giang sơn biệt lập của anh khi mùa bắp đang rộ trái. Lọt thỏm giữa đám rẫy là lều tranh. Giữa lều, treo một chiếc võng làm bằng bao bố. Những ngày ở đây, tôi ngủ trên chiếc võng này. Cái sạp tre để sát vách, chỗ ngủ hàng đêm của anh Khan.

Đối diện vách bên kia, anh kê những viên đá làm ba ông táo nấu ăn. Mọi thứ trong lều đều đơn giản. Phía ngoài, gần bên hông lều, một cái hố đang đào dở. Hố rộng bằng căn phòng nhỏ. Theo lời anh, còn phải đào sâu hơn nữa, khoảng hai thước.

Lúc mới đến, tôi hỏi: “Đào hố để làm gì?”

Anh nói: “Bắt khỉ.”

Tôi ngạc nhiên: “Bắt khỉ?”

“Ừ , bắt khỉ.”

“Để ăn thịt?”

“Khỉ ốm, chỉ có da bọc xương. Thịt khỉ lại tanh, không ai ăn.”

“Không ăn thì bắt để làm gì?”

“Để đuổi khỉ.”

“Bắt khỉ để đuổi khỉ? Tôi không hiểu.”

“Cứ ở đây vài hôm thì hiểu.”

Anh Khan không giải thích. Có lẽ anh muốn dành cho tôi một lý thú bất ngờ.

Buổi sáng sớm, trời còn mát, và buổi chiều, khi mặt trời xuống lấp lửng trên đọt cây rừng, nắng cũng dịu bớt, tôi phụ anh Khan trong công việc đào hố. Anh xúc đất vào cái ki đan bằng nan trẹ Tôi kéo đất lên, đổ chung quanh hố. Anh gầy nhưng sức dẽo và bền, tôi không bì kịp. Làm việc với anh, tôi đuối, phải nghỉ từng chặp. Những lúc tôi nghỉ, anh một mình xúc từng xẻng đất quăng lên. Anh làm đều đặn, khoan thai như đang tập thể dục dưỡng sinh. Đối với anh, không có gì phải vội vàng. Anh quan niệm rằng con người lầm lẫn khi chạy đua với thời gian. Đời sống ngắn ngủi mà một lúc muốn chụp bắt nhiều thứ. Và sau cùng, cái thứ mà họ không muốn chụp bắt đến với họ. Đó là sự tử vong. Khi nằm ngắc ngoải, họ nghĩ lại và thấy rằng họ chưa kịp sống cho đúng nghĩa một người đã sống. Nghe anh bày tỏ cái quan niệm sống này, tôi rất chán, nhưng vẫn hỏi sống thế nào cho đúng nghĩa một người đang sống? Anh nói, không tham cầu, không chờ đợi, tận hưởng sự hiện hữu trong từng giây phút. Tôi hỏi tận hưởng luôn cả nghịch cảnh, và nỗi niềm đau khổ? Anh nói nghịch cảnh hay đau khổ là do tâm cảm. Tại sao không coi đó là sự thay đổi món ăn của tinh thần? Đã từng ăn những món dở, mới biết thế nào là món ngon. Tôi cười, rằng tư tưởng anh được chắp nối một phần triết Đông, một phần triết Tây. Anh nói, anh chẳng cần biết Đông hay Tây. Anh sống theo kiểu của anh. Và anh cũng nói, tôi đã đến đây rồi, nên bỏ quên sách vở, để cho cái đầu được nghỉ ngơi thư thái.

Buổi trưa, lúc trời bắt đầu nắng gắt, tạm ngừng công việc đào hố. Tôi theo anh Khan đi kiểm soát chung quanh rẫy. Có những chỗ bị chồn, sóc cắn phá làm bắp hư hại. Và, vài nơi trên những luống khoai lang bị heo rừng ủi. Anh lần theo những dấu chân, để biết lối nào heo thường vào rẫy. Phải trừ khử những con heo phá hoại này. Anh Khan nói thế.

Tôi thấy chung quanh rẫy có treo những cái thùng thiếc, buộc lòng thòng thêm vài viên đá, và nối sợi dây dài đến lều.

Tôi hỏi: “Để làm gì?”

Anh nói: “Chuyện đơn giản thế này cũng không biết. Mãi chạy theo máy móc tinh xảo, lo tìm hiểu những chuyện xa vời tận mặt trăng mặt trời, đến lúc quay trở lại với đời sống thiết thực cận kề thì loay hoay, bối rối.”

“Anh chưa trả lời câu hỏi của tôi.”

“Mùa bắp ra trái, thú rừng thường hay đến kiếm ăn. Nhất là khỉ, heo rừng, chồn, sóc phá hại mùa màng. Thú rừng rất sợ tiếng động. Lâu lâu, giựt sợi dây làm thùng thiếc khua động để thú rừng bỏ chạy.”

“Tôi coi trong sách vở, nói người ta làm những hình nộm, trông giống như người đang giữ vườn, để đánh lừa thú vật không dám đến gần.”

“Chẳng có sách vở nào nói hình nộm để đuổi thú. Hình nộm chỉ có tác dụng đuổi chim mà thôi. Trên những cánh đồng, mùa lúa chín, người ta làm hình nộm ở nơi trống trải, dễ nhìn thấy, để chim muông không dám đáp xuống ăn lúa. Còn đây là rẫy bắp giữa rừng, nhiều cây cối rậm rạp che khuất, làm hình nộm không có tác dụng với thú rừng.”

Tôi đến với anh Khan được ba ngày. Lòng đã chán. Anh ít nói đến độ lầm lì. Sau những bữa cơm chiều, anh thường ngồi bập thuốc rê, trầm tự Lưng anh hơi còng xuống. Trông giống một hình tượng cô đơn, im lặng ngồi chịu đựng với thời gian. Tôi nói với anh như thế. Anh chỉ mỉm cười, xa vắng. Tôi cố gợi chuyện, bằng cách hỏi tại sao anh tách rời vợ con, lên rừng một mình như người ở ẩn? Tại sao khi ra khỏi tù, anh vụt đổi thái độ và lối sống? Anh ngó mông ra rừng, nói chậm rãi, thỉnh thoảng dừng lại một lúc lâu để bập vài hơi thuốc. Mỗi lần nhìn lại chặng đường đã đi qua, thật kinh khủng. Chiến tranh như con quái vật khổng lồ, theo nó thì bị nó ăn nuốt, cưỡng lại thì bị nó chà đạp. Đàng nào cũng chết, chỉ có điều chết trước hay sau mà thôi. Anh may mắn chưa kịp chết thì chiến tranh chấm dứt, bước sang giai đoạn khác. Trong tình thế mới, anh bị đẫy vô tù. Ở tù đã khốn nạn, nhưng ở tù dưới chế độ được mệnh danh là ưu việt, lại càng khốn nạn hơn. Những con người của chết độ ưu việt này, đã phát triển đến cao độ cái tính nham hiểm và gian trá. Họ biến tù nhân thành những con ma đói, và hạ xuống ngang hàng với súc vật. Điếu thuốc đã tàn, anh Khan ngừng lại vấn thêm điếu khác. Lúc nào cũng có điếu thuốc đang cháy khi anh nói, và anh cứ bập hoài, như để trấn an một nỗi niềm, hay để suy nghĩ, gạn lọc từng câu. Ngày anh được thả ra khỏi nhà tù, có người bạn cùng chung cảnh ngộ, kể cho anh nghe hai câu chuyện ngụ ngôn, gọi là chút quà tiễn bạn, làm vốn sống khi ra khỏi địa ngục.

Truyện một: Có một thương gia giàu có, hay đi buôn bán nhiều nơi, gom góp những vật quý trong thiên hạ về làm của riêng. Trong số những vật quý này, có con sáo biết nói tiếng người. Một hôm, người thương gia nói với con sáo rằng: “Sáo ơi, ta có việc sắp đi ngang qua quê hương thuở trước của mày. Vậy, mày có gì nhắn cho bạn cũ ở đó, ta chuyển lời chọ” Con sáo nói: “Ông chủ làm ơn cho tôi gởi lời thăm các bạn, và hỏi chúng có nhắn gì cho tôi hay không.”

Khi đến quê hương của con sáo, người thương gia ngước nhìn lên vòm cây, nơi có đàn sáo đang đậu, ông nói: “Đàn sáo ơi, con sáo quý của nhà ta, gởi lời thăm chúng bây. Và hỏi chúng bây có nhắn lại lời gì cho nó hay không?” Đàn sáo im lặng. Người thương gia đứng chờ một lúc. Và lạ thay, từ trên cây, đàn sáo rớt xuống chết hàng loạt.

Người thương gia trở về, con sáo của ông hỏi: “Ông chủ ơi, các bạn tôi thế nào?” Người thương gia nói: “Ta đã chuyển lời thăm của mày, hỏi chúng có nhắn gì cho mày không, chúng chỉ im lặng. Và sau đó rớt xuống chết như bị lời trù rủa ghê gớm.”

Ngày hôm sau, người thương gia thấy con sáo quý của mình nằm chết trong chuồng. Ông xách con sáo vất ra ngoài như một thứ đồ bỏ. Bỗng, con sáo vỗ cánh bay đi mất, trước sự ngạc nhiên của người thương gia.

Dứt chuyện thứ nhất, anh Khan nhìn tôi chờ đợi một sự góp ý. Tôi hỏi ý nghĩa chỗ nào? Anh giải thích, con sáo bị nhốt trong lồng vì nó có giá trị. Giả chết là một cách đánh lừa người thương gia, rằng nó không còn giá trị nữa. Nhờ thế mà nó thoát được sự giam cầm. Trong chế độ ưu việt này, người nào tỏ ra có giá trị, sẽ bị theo dõi dòm ngó. Nếu không dùng được, họ tiêu diệt, chứ không cho sống. Tốt nhất là giả ngây khờ, chẳng ai thèm để ý, sẽ được yên thân. Tôi mừng vì anh Khan đã bắt đầu tỏ thái độ cởi mở, ít ra anh cũng không còn giữ thế thủ với tôi. Còn chuyện thứ hai, tôi hỏi.

Truyện hai: Trong một buổi lâm triều, sứ giả của một nước láng giềng, dâng tặng nhà vua ba bức tượng hình người, và xin cho biết bức tượng nào giá trị nhất. Nhà vua và cả đám quần thần cầm lên, săm soi hoài, thấy ba bức tượng đều giống nhau, trọng lượng cũng bằng nhau, khó mà phân định bức tượng nào giá trị nhất. Cuối cùng, vua cho truyền rao trong dân chúng, tìm người thông minh giúp vua giải quyết vấn đề ba bức tượng.

Khi nghe chuyện này, có một nông dân cầm theo ba cọng rơm, lên đường đến kinh đô, xin vào yết kiến nhà vua để tìm hiểu giá trị của ba bức tượng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ nhất, cọng rơm thông qua lỗ miệng. Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ hai, cọng rơm thông qua lỗ tai phía bên kiạ Anh xỏ cọng rơm vào lỗ tai bức tượng thứ ba, xỏ đến cuối cọng rơm, nhưng vẫn không thấy thông ra chỗ nào.

Anh nông dân cầm bức tượng thứ ba đưa cho nhà vua và nói, đây là bức tượng giá trị nhất.

Tôi lại hỏi ý nghĩa thế nào? Anh Khan cười, nụ cười ít thấy nơi một kẻ trầm tư, rằng nếu không có lời bình giải kiểu Mao Tôn Cương, thì tôi khó mà lãnh hội được cái thâm thuý của người xưa. Câu chuyện trên muốn nói, thứ nhất, tai nghe mà bép xép ra lỗ miệng, thì hoạ tòng khẩu xuất, nghĩa là tai hoạ theo cái miệng mà rạ Thứ hai, nghe tai này lọt qua tai kia, không nhớ gì cả, là thứ vô dụng. Cả hai loại người trên, chẳng giá trị gì. Thứ ba, nghe và cất kỷ trong lòng, không nói rạ Đây là loại người ý tứ kín đáo. Sống trong chế độ ưu việt, áp dụng Ba Không: không nghe, không thấy, không biết, có thể tránh được nhiều tai vạ. Tôi nói, tránh được tai vạ để giữ tính mệnh, nhưng sống mà buồn quá, cũng chán. Anh Khan ngước nhìn lên đám mây cao, nói trời lặng thinh, nhưng bốn mùa vẫn luân chuyển, vạn vật vẫn không ngừng sinh hoá. Không ai có thể biết được ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì. Hãy chờ xem.

Một ngày, sau bữa cơm chiều, có hai gã người Thượng ghé rẫy của anh Khan. Anh giới thiệu, một người tên Y Nôm, người kia tên SõLum. Cả hai đều nước da ngăm đen, thân hình rắn rỏi. Họ dắt theo một con chó, loại chó săn, cao giò, bụng thon, tai vểnh, lông có vằn như cọp. Và mang theo những cái rế đan bằng mây rừng, giống cái rế lót nồi ở những vùng quệ Như đã hẹn trước, anh Khan đưa họ đi quan sát dấu chân heo rừng. Dài theo những lối heo thường ra vào phá rẫy, họ đặt những cái rế lật ngửa lên. Giữa rế để một miếng mồi bằng loại thịt đã có mùi hôi, được móc với một chùm lưỡi câu. Mỗi lưỡi câu cột dính với vành tròn phía trong của cái rế, bằng sợi cước dài khoảng gang taỵ

Tôi hỏi: ” Làm thế mà có thể bắt heo rừng được saỏ”

Y Nôm hỏi lại: “Chứ ông cán bộ nghĩ phải làm thế nào?”

“Tôi nghe người ta nói, dùng một thân cây níu quằn xuống làm cần bẫy, cột sợi dây làm thòng lọng, đặt trên mặt đất. Khi heo dẵm phải, cần bẫy bật, và cái thòng lọng siết giò heo treo lên.”

“Ông cán bộ chỉ nghe người ta nói, chứ ông không có để cái tay làm công việc. Làm cái bẫy như thế cũng được, nhưng không tốt và có hại cho con người.”

“Tại sao không tốt mà lại có hại cho người?”

Y Nôm cười, lắc đầu.

Anh Khan nói: “Nó không đủ lời giải thích đâu. Này nhé, trên đường heo đi, không dễ tìm được cây nào thích hợp để làm bẫy. Và khi đã làm bẫy rồi, không dễ gì con heo dẵm chân phải cái vòng thòng lọng. Giả dụ, heo đã dẵm vào thòng lọng, cần cây bật siết giò heo treo lên. Nó có thể cắn đứt dây, hoặc cắn đứt lìa một cái giò bỏ lại để thoát thân.”

“Trời đất! Nó dám tự cắn đứt cái giò à?” Tôi kêu lên kinh ngạc.

“Có nhìn thấy cái giò bỏ lại, mới biết loài heo rừng gan dạ phi thường. Làm cái bẫy như trên, đã khó lại tốn nhiều công, nhưng kết quả rất ít. Và chừng nào heo chưa mắc bẫy thì còn duy trì cái bẫy. Nếu lỡ có ai ngang qua, vô tình dụng phải, sức bật của cần bẫy có thể gây nguy hiểm.”

“Thế còn cái rế kia, bắt heo cách nào?”

“Cách nào thì chờ xem. Có thể ngày mai, ngày mốt. Không lâu đâu.”

“Nếu trong vài ngày, heo không đi qua lối đặt những cái rế, thì có cần phải thay mồi không?”

“Không cần. Heo là loài ăn tạp. Mồi càng bốc mùi càng hấp dẫn.”

Khi hai gã người Thượng đi khỏi, tôi hỏi anh Khan, tại sao Y Nôm gọi tôi là cán bộ? Anh nói, tất cả những ai đến với buôn bản vùng cao, mang cái dáng dấp phi lao động, chỉ biết đứng nhìn, hỏi những câu ngớ ngẩn, và chỉ trích phê bình, lý thuyết suông mà chẳng làm được gì , họ đều gọi là cán bộ. Anh nói tiếp, trong thời chiến tranh, người Thượng đã đóng góp tích cực một phần xương máu cho sự thành công chiếm đoạt miền Nam. Người ta hứa hẹn với họ, rằng họ sẽ được đền bù xứng đáng bằng cách cải thiện cho đời sống dân buôn bản tốt đẹp hơn. Nhưng chiến tranh chấm dứt đã lâu rồi, chế độ đã thành hình vững chắc, mà đời sống của họ vẫn thế, thậm chí còn khó khăn hơn. Họ không còn được làm ăn tự do nữa. Thỉnh thoảng, có những ông cán bộ từ miền xuôi lên đây, gọi sự tự do này là sự tuỳ tiện, thiếu tổ chức. Người ta đặt ra kế hoạch, bắt họ phải làm theo khuôn mẫu. Những kẻ không có một chút kinh nghiệm nào về đời sống giữa núi rừng, dạy khôn cho kẻ được sinh ra và lớn lên từ bao đời cha ông ở đây. Tóm lại, người ta nói về vấn đề cải thiện đời sống, mà không hề cung cấp phương tiện. Người ta chỉ muốn tổ chức lại mô hình xã hội, để dễ bề kiểm soát mà thôi. Trên đường trở lại căn lều, anh Khan nói từ ngày có tôi đến đây, anh đã phá lệ Ba Không: không nghe, không thấy, không biết.

Sáng hôm sau, anh Khan và tôi đang ăn khoai lang lót dạ, nghe có tiếng chó sủa, và tiếng kêu ơi ới ngoài rừng.

Anh Khan nói: “Y Nôm, SõLum gọi.”

Tôi theo anh ra nơi đặt bẫy. Hai gã người Thượng, mỗi người cầm một cây lao, đầu có bịt sắt nhọn, đứng vây một lùm cây rậm. Con chó sủa, nhiều lần dọm mình muốn chồm vô, nhưng không dám.

SõLum ngoắc tôi: “Ông cán bộ lại đây coị”

Theo ngón tay chỉ của SõLum, một con heo rừng lông xám, hai bên mép có nanh dài và cong. Loại heo độc chiếc, đủ khả năng tách bầy, đi kiếm ăn một mình riêng lẻ. Nhìn cái tư thế mắc bẫy của con heo, tôi hiểu được tất cả những gì hôm qua còn thắc mắc. Heo táp miếng mồi, nuốt tới cổ, không trôi được vì đã mắc phải những lưỡi câu, cột bởi những sợi cước dính vào lòng chiếc rế. Vì sợi cước ngắn nên cái rế áp sát vào mõm. Heo dùng chân trước đẫy chiếc rế ra, nhưng không dám đẫy mạnh vì sợ sợi cước căng, làm lưỡi câu móc đau cuống họng. Đẫy một hồi, chân trước vô tình lọt vào một cái lỗ của chiếc rế. Coi như một cái chân đã bị trói. Cái chân trước còn lại, sẽ tiếp tục đẫy nữa, rồi cũng sẽ lọt vô cái lỗ khác, không rút ra được. Thế là cái mỏm heo và hai chân trước hoàn toàn bị khoá bằng chiếc rế. Heo không dám làm động mạnh chiếc rế, sợ lưỡi câu móc đau cuống họng. Khi đã mắc bẫy, heo chỉ có thể lê lết xa nơi đặt bẫy một khoảng mười thước không hơn. Và, người thợ săn chỉ còn một việc phải làm sau cùng, là phóng lao đâm vào những chỗ nhược của con heo mà không sợ bị nó tấn công ngược lại.

Sau vụ bẫy heo rừng. Anh Khan nói, Y Nôm và SõLum cho biết đàn khỉ đã kéo về lảng vảng vùng này rồi. Nhưng chừng nào chúng đến tảo thanh rẫy bắp thì chưa biết. Một hôm, tôi thấy vài con khỉ nấp ló trên cây. Anh Khan nói, đó là những con tiền sát, đi dò địa bàn hoạt động. Khỉ là loài tinh khôn sau loài người. Chúng sống có đàn. Mỗi đàn có một con khỉ đầu đàn. Con này sẽ dẫn đàn đi kiếm ăn rày đây mai đó, như những bộ tộc du mục thời xưa. Chúng đến cái rẫy nào một lần, sẽ lẩn quẩn ở đó nhiều ngày, ăn cho tàn mạt rồi mới chịu đi nơi khác. Con khỉ đầu đàn, không vào rẫy. Nó ngồi trên ngọn cây cao để canh chừng, và xua con cháu vào mục tiêu, ăn cho no, còn độn hai bên má làm phần dự trữ. Trước khi rút lui, chúng còn mang theo một hoặc hai trái bắp làm chiến lợi phẩm, và đóng thuế cho con khỉ đầu đàn. Khi nào con khỉ đầu đàn la ré lên là báo hiệu có biến, đàn khỉ đang ăn sẽ bỏ chạy, mất trật tự còn hơn cuộc di tản chiến thuật từ cao nguyên về miền biển. Tôi hỏi thế những cái thùng thiếc khua động chung quanh rẫy, không có tác dụng làm chúng sợ hay saỏ Anh Khan nói, cũng có tác dụng trong những lần đầu, nhưng nhiều lần sau chúng quen, không sợ nữa. Khi ta ở trong lều, thì chúng phá ngoài rẫy. Khi ta ra rẫy, chúng kéo vô trong lều, lục phá tan hoang đồ đạc.

Một buổi trưa, nghe tiếng khọt khẹt ngoài rẫy, anh Khan giựt dây khua thùng báo động và chạy ra xem. Một vạt bắp bị phá. Nhiều cây gảy gục và trái bị cạp lem nhem dang dở.

Anh nói: “Chỉ mới đợt đầu mà thiệt hại như thế, thì đàn khỉ này có thể đông gần trăm con.”

Tôi ra bìa rẫy, nhìn lên những ngọn cây rừng, tất cả đều im lìm.

“Chúng đã chạy xa hết rồi.” Tôi nói.

“Chưa chắc. Có thể chúng nấp đâu đó trong những vòm lá. Thử ném mạnh một viên đá lên thì biết ngaỵ”

Tôi ném viên đá, không thấy động tĩnh gì. Anh Khan ném một khúc gỗ mục lên tàng cây khác. Bỗng nghe ào ào trên cây. Bầy khỉ hốt hoảng chuyền cành, đổi chỗ ẩn nấp. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, tất cả đều im lìm trở lại. Nhìn kỹ sẽ thấy vài con thu mình trong lá, hai mắt thao láo nhìn xuống.

Trở lại lều, anh Khan chuẩn bị bắt khỉ bằng cách đâm một chén muối ớt thật cay, trộn với cơm nguội, để xuống hố. Anh dựng thêm một cây tầm vông từ dưới lên miệng hố, và giải thích, cây tầm vông làm cái thang cho khỉ xuống hố. Gặp cơm trộn ớt đỏ, nó sẽ bốc ăn, cay quá chảy nước mắt, nó sẽ đưa tay dụi mắt. Tôi cười, bàn tay dính ớt mà dụi vào mắt, thì chỉ còn có cách làm hiệp sĩ mù nghe gió kiếm mà thôi.

Chuẩn bị xong, anh Khan kéo tôi ra một góc rẫy, nơi bìa rừng, ngồi dưới bóng cây tọ Anh nói, bỏ trống cái lều, nhường cho bầy khỉ. Nhưng suốt chiều hôm đó, không có con khỉ nào bén mảng vào lều.

Hai hôm saụ Trên đường từ nhà Y Nôm trở về, vừa đến rẫy đã nghe tiếng con khỉ đầu đàn trên ngọn cây ngoài rừng la ré lên, anh Khan chạy vội vào lều. Bầy khỉ tuôn ra, phóng chạy. Đồ đạc trong lều bị phá tung, vất bừa bãi. Dưới cái hố, bên hông lều, những con khỉ còn kẹt lại, tranh nhau leo lên bằng cây tầm vông. Cứ con này ôm cây tầm vông leo lên, thì con kia sợ hãi nắm đuôi kéo xuống, giành leo lên trước. Rốt cuộc, không con nào lên được miệng hố. Chúng quờ quạng, loi choi, bưng mặt, dụi mắt, và la chí choé. Anh Khan rút cây tầm vông lên. Thế là những con khỉ dưới hố đã hoàn toàn bị nhốt. Tôi đếm được bảy con.

Tôi hỏi: “Đã bắt khỉ rồi. Bây giờ, làm cách nào đuổi khỉ?”

“Đến giai đoạn này, mọi chuyện sau đều dễ dàng.”

Tất cả đồ nghề đã chuẩn bị từ trước. Anh Khan dùng thanh cây, một đầu có buộc thòng lọng, tròng vào cổ từng con, kéo lên, trói lại. Anh lấy kéo cắt lông trên đầu khỉ, như bị cạo trọc. Và lấy sơn màu đen đỏ trắng vàng, phết lem nhem lên đầu, lên mặt khỉ, trông rất khôi hài. Xong, anh mở trói, thả nó chạy vào rừng. Lại lôi con khác lên, hớt lông, sơn đầu…

Anh Khan giải thích, khỉ có khuynh hướng nhập bầy. Những con khỉ này, nó sẽ chạy đi tìm bầy để nhập. Nhưng những con khỉ khác không còn nhận ra bạn nữa, và tránh xa nó như con vật quái đản. Tự bản thân con vật bị sơn mặt, nó không biết nó quái đản, nên bầy khỉ càng chạy tránh, nó càng bám theo để nhập bầy. Cứ thế, một bên chạy, một bên bám riết, càng ngày càng đi xa, thật xạ

“Rồi nó sẽ về đâu?”

“Rừng núi bao la muôn trùng, ai biết sẽ về đâu.”

“Những con khỉ bị bôi sơn lên mặt, rồi sẽ ra saỏ”

“Cũng không ai biết sẽ ra saọ Nếu nó cứ bám riết theo bầy, có thể một ngày nào đó, con khỉ đầu đàn sẽ cắn nó chết.”

Sáng mai, tôi sẽ rời khỏi lều rẫy, bỏ lại núi rừng, từ giả anh Khan để đi một nơi thật xạ Trong đêm, tôi nằm thao thức trên chiếc võng, không ngủ được. Nhìn ánh trăng khuya lạnh lẽo soi vào căn lều trống trải, tôi nghĩ đến những ngày cô đơn của anh Khan giữa đám rẫy đìu hiụ Tôi lại nghĩ đến đàn khỉ cứ chạy mãi, chạy mãi, không biết giờ này chúng dừng lại hay chưa? Anh Khan cũng không ngủ được. Anh ngồi dậy vấn thuốc, bất ngờ anh hỏi tôi, nghĩ thế nào về những con khỉ bị sơn mặt? Tôi nói, nếu ở Âu Mỹ, Hội Bảo Vệ Súc Vật sẽ can thiệp cho nó. Anh bảo, khi tôi sang xứ người, nên tìm đến cái Hội Bảo Vệ Súc Vật, để nhờ họ che chở. Và nhớ hỏi họ, rằng giữa vùng rừng núi Việt Nam, có những “con khỉ người” đang bị sơn mặt, họ có bảo vệ không?

Lâm Chương

Khi người lính bị kéo ngã

quinhon11.com

Thursday, June 25, 2026

LÊ XUÂN MỸ

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Các bạn thân mến,

Mấy hôm nay bản tin về bức tượng đồng Người lính VNCH của tượng đài “Thank You America” bị kẻ xấu phá hoại và kéo đi khỏi khu Tượng Đài Tưởng Niệm tại thành phố San Jose, miền Bắc California, Hoa Kỳ. Hành động tệ hại này đã khiến những người VN còn nặng lòng với đất nước bàng hoàng và khổ tâm.

Tôi hy vọng và chờ đợi bài viết từ các bạn tôi, những người bạn thời Trung Học Phan Chu trinh Đà Nẵng, niên khóa 63-70, ít nhất là một người…. đó là ông bạn Xuan My, ông ý đã từng viết về hành trình đi tìm mộ của thân phụ mất tại trại tù cải tạo, và cũng vừa ra mắt cuốn sách viết về thân mẫu “Giọt lệ biết làm sao ngưng..” vô cùng cảm động.

Và trưa nay tôi đã đọc được bài viết “KHI NGƯỜI LÍNH BỊ KÉO NGÔ

của Xuan My. Tôi xúc động vì bài viết đã đến như tôi mong đợi và nội dung bài viết cũng chính là nỗi niềm của tôi. Cảm ơn ông nhiều nghe ông Mỹ. Xin mời các bạn cùng đọc.

Quý mến. DIỄM HƯƠNG.

——

KHI NGƯỜI LÍNH BỊ KÉO NGÃ.

Lê Xuân Mỹ

Tuần qua, cộng đồng người Việt tại San Jose không khỏi bàng hoàng khi hay tin bức tượng người lính Việt Nam trong tượng đài “Thank You America” bị kẻ gian lấy đi cùng lá cờ và chiếc lư hương đặt phía trước tượng đài. Vài ngày sau, người ta tìm thấy bức tượng bị kéo lê và bỏ lại trong một khu vực của những người vô gia cư. Điều khiến nhiều người suy nghĩ là trong cụm tượng có hai người lính đứng cạnh nhau, một người lính Mỹ và một người lính Việt Nam Cộng Hòa, nhưng chỉ có bức tượng người lính Việt Nam bị lấy đi.

Tôi đọc tin ấy nhiều lần. Ban đầu là sự ngạc nhiên, sau đó là nỗi buồn. Không phải vì giá trị của một pho tượng bằng đồng, mà vì ý nghĩa của những gì bức tượng ấy tượng trưng. Đối với nhiều người Mỹ, đó có thể chỉ là một tượng đài chiến tranh. Nhưng đối với nhiều người Việt tị nạn như tôi, đó là biểu tượng của lòng biết ơn. Hai người lính đứng cạnh nhau không chỉ nói lên một giai đoạn lịch sử mà còn nhắc nhở về sự hy sinh, tình đồng minh và mối ân tình mà cộng đồng người Việt tị nạn luôn dành cho nước Mỹ.

Cho đến hôm nay, không ai biết chính xác vì sao chỉ có tượng người lính Việt Nam bị lấy đi. Có thể đó chỉ là một vụ trộm cắp đơn thuần. Có thể kẻ gian thấy bức tượng ấy dễ tháo gỡ hơn. Cũng có thể hoàn toàn là sự ngẫu nhiên. Cũng có thể có chủ đích nào đó. Chúng ta không nên vội vàng kết luận khi chưa có kết quả điều tra. Tuy nhiên, đối với nhiều người thuộc thế hệ của tôi, sự việc ấy vẫn để lại một cảm giác khó tả. Câu hỏi “Vì sao chỉ có người lính Việt Nam?” cứ quanh quẩn trong đầu như một nỗi trăn trở không dễ trả lời.

Có lẽ bởi vì phía sau bức tượng ấy là hình ảnh của biết bao con người thật. Tôi nhìn bức tượng và nhớ đến cha tôi. Ông là một sĩ quan Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, ông bị đưa đi học tập cải tạo và qua đời trong trại giam Vĩnh Phú năm 1979. Gia đình tôi từ đó rơi vào cảnh thiếu thốn. Mẹ tôi phải gồng gánh nuôi đàn con, còn tôi phải làm đủ nghề để cùng mẹ chăm sóc bảy người em còn nhỏ. Những năm tháng ấy đã lùi xa gần nửa thế kỷ nhưng chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức.

Khi sang Mỹ năm 1998, tôi mang theo không chỉ hành trang của một người di dân mà còn mang theo ký ức của một người con mất cha trong trại cải tạo. Nước Mỹ không thể trả lại cho tôi những năm tháng đã mất, không thể mang cha tôi trở về với gia đình, nhưng nước Mỹ đã cho gia đình tôi cơ hội xây dựng lại cuộc đời. Các con tôi trưởng thành trên đất nước này. Các cháu tôi được sinh ra trên đất nước này. Và tôi có cơ hội sống những năm tháng tuổi già trong bình yên, được viết lại những câu chuyện của một thế hệ đã trải qua chiến tranh, tù đày, mất mát và hành trình đi tìm tự do.

Có lẽ vì vậy mà mỗi lần nhìn tượng đài “Thank You America”, tôi luôn cảm nhận đó là một lời cảm ơn được đúc thành hình tượng. Cảm ơn những người lính Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam. Cảm ơn đất nước đã mở rộng vòng tay đón nhận hàng triệu người tị nạn. Cảm ơn cơ hội mà nước Mỹ đã dành cho những gia đình như gia đình tôi.

Điều khiến tôi xúc động hơn nữa là chiếc lư hương cũng bị lấy đi. Trong văn hóa Việt Nam, lư hương không chỉ là một vật trang trí. Đó là nơi người sống gửi gắm lòng tưởng nhớ đến người đã khuất. Đó là nơi một nén nhang được thắp lên để nối quá khứ với hiện tại. Nhìn hình ảnh bức tượng và lư hương bị kéo khỏi vị trí vốn có của chúng, tôi chợt nghĩ đến số phận của những người lính Việt Nam Cộng Hòa sau cuộc chiến. Nhiều người ngã xuống trên chiến trường. Nhiều người chết trong các trại cải tạo. Nhiều người lưu lạc khắp thế giới. Và không ít người đã ra đi trong lặng lẽ.

May mắn thay, bức tượng đã được tìm thấy. Rồi đây nó sẽ được dựng lại. Những vết trầy xước có thể được sửa chữa. Chiếc lư hương có thể được thay mới. Nhưng sự việc ấy đã nhắc cho chúng ta thấy rằng ký ức cần được gìn giữ và lịch sử không nên bị lãng quên. Chúng ta phải làm gì để những việc như thế này không thể xảy ra một lần nữa. Người ta có thể kéo ngã một bức tượng, nhưng không thể kéo ngã lòng biết ơn của một cộng đồng. Người ta có thể lấy đi một khối đồng, nhưng không thể lấy đi những ký ức đã khắc sâu trong trái tim của hàng trăm ngàn người Việt tị nạn.

Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Những người lính năm xưa giờ đây phần lớn đã già yếu hoặc đã ra đi. Nhưng chừng nào vẫn còn những người nhớ đến họ, chừng nào vẫn còn những người dừng chân trước tượng đài để tưởng niệm, thì người lính ấy vẫn còn đứng đó. Không chỉ đứng trong công viên của thành phố San Jose, mà còn đứng trong ký ức của cả một thế hệ và trong lòng biết ơn của những người Việt đã tìm được cuộc sống mới trên quê hương thứ hai của mình. Và vì vậy hãy bảo vệ những tượng đài như “Thank You America” sẽ và mãi mãi không bao giờ bị đánh cắp.

Lê Xuân Mỹ
https://www.facebook.com/share/p/1Bafx8q3ik/?mibextid=wwXIfr

Tranh luận về cờ vàng-cờ đỏ

quinhon11.com

Tôn Vân Anh Ania  

Bút Chì Gilbert 21/6/2026

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Xin chào quý vị, tôi là Tôn Vân Anh, một người xuất thân từ miền Bắc Việt Nam, đang sống và làm việc tại Ba Lan. Mấy hôm nay, chuyện tranh luận về Cờ Vàng – Cờ Đỏ sau khi tôi xuất hiện trên trang bìa của tạp chí Ba Lan là điều khiến tôi phải trăn trở. Thay vì để sự tranh cãi thì với tư cách là người trong cuộc, tôi muốn đưa ra quý vị vài lời, để ít nhất tôi muốn bảo toàn quyền được bày tỏ chính kiến của mình.

Trước tiên, tôi xin phép kể câu chuyện này để quý vị dễ hình dung: Ngày 6 tháng 6 vừa qua, Mirra Andreeva bước lên bục vinh quang của French Open với tư cách là một tay vợt người Nga. Nhưng bên cạnh cô không có lá cờ Nga.

Đó là một hình ảnh khiến tôi suy nghĩ rất nhiều.

Nước Nga đã làm gì để một cô gái trẻ phải vô địch thế giới trong hoàn cảnh như vậy? Đó là vì sự tàn bạo và độc tài của bạo chúa Putin.

Người ta thường nghĩ rằng lá cờ và đất nước là một. Nhưng thực tế không phải như vậy, lá cờ chỉ là biểu tượng chính trị của một thời đại, nó không phải Đất Nước. Mirra không chối bỏ nguồn gốc Nga của mình. Cô không phản bội dân tộc mình. Cô không xúc phạm người Nga. Ngược lại, chính vì tôn trọng người Nga nên cô không muốn một chế độ putin đang bị thế giới coi thường phủ bóng lên thành quả thể thao của mình. Bởi vì cô muốn nói rằng: tôi là một người Nga.

Hai ngày sau, tôi bất ngờ nhận ra rằng câu chuyện của Mirra lại giúp tôi hiểu rõ những tranh cãi đang diễn ra xung quanh mình.

Nhớ lại khoảng tháng 5 năm nay, một nhà báo của Newsweek Polska gọi điện cho tôi. Anh hỏi tôi có thời gian không?

Tôi trả lời rằng có, nhưng không có nhiều. Sau đó chúng tôi gặp nhau trong một quán cà phê, làm việc cùng nhiếp ảnh gia. Mọi thứ diễn ra hoàn toàn bình thường như rất nhiều lần tôi từng tiếp xúc với báo chí Ba Lan. Tôi không biết bài báo sẽ đăng khi nào, tôi cũng không biết đó sẽ là bài viết trung tâm của cả số báo và càng không biết rằng hình ảnh của tôi cùng lá cờ vàng sẽ xuất hiện trên trang bìa Newsweek Polska. Đã thế, cờ vàng lại quá nổi trên trang nhất Newsweek Polska, tuần báo đứng thứ ba tại Ba Lan về chất lượng, uy tín và số người truy cập, con số độc giả lên tới hàng triệu mỗi tuần.

Cho tới vài ngày trước, khi tôi đang đi nghỉ ở Ý, tôi nhận được tin nhắn kèm hình ảnh từ một người bạn, nói rằng anh đang đổ xăng thì bất ngờ nhìn thấy lá cờ vàng trên kệ báo. Một người bạn khác cũng gọi kể rằng “đang đi mua rau thì bắt gặp luôn cô Vân Anh với lá cờ vàng trên quầy tạp chí”.

Nhưng rồi ngay sau đó, tôi cũng đọc được những lời kết tội. Người ta nói rằng tôi đã “đồng lõa với Newsweek để xúc phạm người Việt Nam”. Lạ quá, tôi có làm gì để xúc phạm người Việt Nam? À hóa ra, tôi không cầm cờ đỏ mà cầm cờ Vàng.

Tôi đã ngạc nhiên thật sự, tại sao một người yêu lá cờ vàng lại phải cầm lá cờ đỏ để chụp ảnh? Tôi đã từng rất đỏ, phải mất rất nhiều năm miệt mài tìm hiểu để nhận ra hệ giá trị của Dân Tộc mình là gì cơ mà! Tôi là con người, tôi có tự do thể hiện quan điểm chính trị mà? Tại sao lựa chọn của tôi lại bị công kích để ép phải thể hiện quan điểm chính trị của người khác?

Tôi đã hỏi rất nghiêm túc, chân thành và cầu thị. Nhưng thay vì câu trả lời, tôi chỉ nhận được những áp lực, những lời chụp mũ và những cuộc đấu tố quá giới hạn của sự vô liêm sỉ quen thuộc.

Có lẽ, nhiều người đã qua tới Châu Âu rồi mà vẫn chưa phân biệt được đâu là Tổ quốc, đâu là Nhà nước, đâu là Dân tộc và đâu là một đảng cầm quyền nên vẫn bị dẫn dắt bởi những công tác dân vận của đảng cộng sản ở nước ngoài.

Mirra cũng có “cờ nước Nga được cả thế giới công nhận” đó thôi, nhưng cô ấy không phải chụp ảnh với nó. Đơn giản vì Tổ Quốc của cô ta đang bị độc tài putin thao túng.

Câu chuyện thế nào là Tổ Quốc, Đất Nước và Dân Tộc, thế nào là Nhà Nước và Đảng Cầm Quyền có vẻ như đã dần được ngã ngũ trong lòng một bộ phận không nhỏ người Việt chân chính, nhất là người Việt ở Ba Lan. Thế nên chiến dịch “đấu tố nhưng hơi lố” của bộ máy tuyên truyền đối ngoại của đảng cộng sản đã phải tìm lối thoát khác.

Họ đổi giọng, cho các nick đỏ mọc lên để nói rằng “tôn trọng quyền lựa chọn cá nhân của Tôn Vân Anh, nhưng Tôn Vân Anh không được xúc phạm Việt Nam”. Kiểu như là mấy bà nick đỏ công nhận quyền tôi chọn không lên giường với chồng của bà ấy, nhưng tôi từ chối vậy là xúc phạm cả ông chồng lẫn bà vợ?? Các bạn ấy đang nghĩ vậy thật sao?

Sự thật, tôi thấy chồng của các bà là đề tài nan giải: bạo hành, độc ác, tham lam và nham hiểm, thì các bà mới là người cần có vấn đề.

Một dân tộc tồn tại hàng nghìn năm. Một chế độ chính trị chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử. Hai khái niệm ấy không phải là một. Người dân Nga không phải là Điện Kremlin. Nước Nga không phải là bạo chúa Putin. Cũng như dân tộc Việt Nam không thể bị đồng nhất với bất kỳ đảng phái chính trị nào. Đó là lý do vì sao tôi không xem những lời công kích vừa qua là câu chuyện cá nhân tôi mà tôi xem đó là biểu hiện của một nền chính trị đã quá quen với việc độc quyền biểu tượng, độc quyền lòng yêu nước và độc quyền quyền được định nghĩa thế nào là Tổ quốc.

Tôi không nói điều này để kể công cho bản thân. Tôi nói điều này để chỉ ra hậu quả của chủ nghĩa độc tài. Một hệ thống tồn tại bằng tuyên truyền tất yếu sẽ sợ những biểu tượng nằm ngoài tầm kiểm soát của nó. Một hệ thống tồn tại bằng sự phục tùng tất yếu sẽ khó chấp nhận quyền lựa chọn của người khác.

Chính vì vậy, mỗi lần lá cờ vàng xuất hiện công khai, phản ứng dữ dội nhất lại đến từ những người đang cố bảo vệ một độc quyền đang dần mất đi sức thuyết phục trên Đất Nước tôi.

Tôi trả giá khi phải chống lại những độc quyền chính trị sao? Mặc kệ. Tôi nói đây để kể tội của độc tài. Tô Lâm và Lê Minh Hưng, Bộ Chính Trị, Ban Tuyên Giáo, Mặt Trận Tổ Quốc, các tổ chức vệ tinh của Đảng CS đang là những nhân tố và mắt xích trong hệ thống độc đoán, đàn áp, tù đày, ngu dân, nuôi bò(dlv), trộm c.ướp, và b.óc lộ.t. Cờ vàng giúp cho bộ mặt độc tài ngày một phản cảm, chính nghĩa của cờ vàng ngày một hiện rõ sau khi bức màn gian trá của cờ đỏ rơi xuống.

Với những anh chị muốn né tránh đề tài cờ quạt, tôi công nhận đề tài này có thể gây chia rẽ. Tuy vậy, tôi thấy rằng không thể lờ nó đi. Vì đến một lúc nào đó, thay cho “tin và yêu” vào cờ đỏ, đông đảo người dân Việt sẽ chuyển sang “hiểu và yêu” cờ vàng – như những chuyển biến mà tôi đã bước qua một cách dễ dàng, để quyết tâm đến với tình yêu cờ vàng của tôi, và bảo vệ được tình yêu đó qua nhiều thử thách. Các anh chị thấy Mirra như thế nào? Cô ấy không hề đau khổ vì không có cờ Nga đại diện! Ngược lại, Mirra đã xứng đáng làm một người Nga chân chính khi nhìn rõ đúng sai. Cô không cần cờ Nga hay Putin để được thế giới công nhận là một người Nga.

Với những người vẫn dùng cờ đỏ để trang trí cho sự kiện, món ăn Việt Nam, quảng cáo du lịch Việt Nam, tôi xin chia sẻ câu chuyện ntn:

Ông giáo dạy tôi, một lần sau giờ dạy tủm tỉm cười, bảo: “ôi em ơi, thầy phải thu xếp sang Việt Nam chơi vài tuần, càng sớm càng tốt”.

Tôi hỏi, “vậy ạ, sao thầy phải vội ạ?” Thì thầy lại cười nữa và bảo rằng “cứ thi thoảng lại có nước độc tài bị xoá sổ, tôi phải tới thăm các nước xã hội chủ nghĩa trước khi nó bị đào thải. Nhanh nhanh kẻo hết!”.

Đấy, Việt Nam ta có những cái vừa độc vừa lạ mà nước khác không có hoặc không còn. Thế nên cờ đỏ có thông điệp và giá trị riêng của nó – khẳng định Việt Nam đang có độc tài cộng sản điều hành và cờ đỏ không liên quan cờ vàng. Đỡ khỏi mập mờ, cũng là cái hay! Tôi không phủ nhận hay chống lại cờ đỏ ở khía cạnh đó. Nhưng rõ ràng Việt Nam có nhiều biểu tượng hay hơn cờ đỏ, ví dụ như: cờ vàng, cờ ngũ sắc, trống đồng, bông sen, cây tre, con rồng, nem rán, nón lá của Việt Nam chắc chắn đẹp hơn, ngon bổ tốt hơn và quan trọng nhất là chính nghĩa hơn so với cờ Phúc Kiến mà Quốc Tế Cộng Sản Komintern mang vào Việt Nam.

Quốc tế Cộng sản đã tan, nhưng cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm xây dựng xã hội chủ nghĩa kể từ khi nội chiến. Đã hơn 50 năm Việt Nam cam go với cờ đỏ nhưng thực chất quãng thời gian đó chả thấm thía gì so với 4000 năm lịch sử dân tộc Việt Nam. Một chương sách không phải là một quyển sách. Người Việt sẽ còn viết nên những trang sử vẻ vang với lá cờ truyền thống mà ông cha ta để lại. Tôi nợ bà con cô bác lời cảm ơn sâu sắc. Cảm ơn đông đảo người Việt ở khắp năm châu, các bạn trẻ trong nước và các bạn ở Ba Lan đã đồng hành với tôi trong những ngày qua.

Một chương sách không phải là một quyển sách. Nhưng một trang sách vừa viết những ngày qua ắt đã thay đổi phần nào nội dung của những chương tiếp tới. Cảm ơn Mirra đã cho tôi cơ hội mỉm cười với người Nga. Cảm ơn Newsweek Polska bởi trang bìa thiết kế tuyệt đẹp.

Lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam không bắt đầu từ năm 1945. Và cũng sẽ không kết thúc ở một chế độ chính trị bạo tàn.

Và cuối cùng, xin cảm ơn câu chuyện này vì đã mở ra một cuộc đối thoại mà sớm hay muộn, dân tộc của chúng ta cũng phải đối diện với nó mà thôi.

Ton Van Anh Ania

Warsaw, Ba Lan 20.06.2026

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 5 Jul 2026

Tại Việt Nam, vào tháng 8/2013, ông Lê Hiếu Đằng, nguyên sinh viên “tranh đấu,” người có 45 tuổi đảng và hầu hết cuộc đời “cách mạng” của ông là giữ những chức vụ “ngoại vi” trang trí, làm đẹp cho đảng Cộng Sản, trong bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh”, để nói lên những suy nghĩ của mình, trong đó có việc lên án đảng của ông đã phản bội nhân dân và kêu gọi thành lập một chính đảng mang tên “Đảng Dân Chủ Xã Hội” để đối lập với đảng Cộng Sản. Chúng ta chưa quên bài học của Đảng Dân Chủ Việt Nam là một “chính đảng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản, trí thức yêu nước và tiến bộ Việt Nam”, hoạt động từ năm1944, đã từng giành 46 ghế trong Quốc hội khóa I Cộng Sản năm 1946, có 2 ghế trong Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng VN, và 4 ghế trong chính phủ lâm thời. Thời gian “ kháng chiến toàn quốc” năm 1946, đảng gia nhập Mặt trận Việt Minh (do đảng Cộng Sản thành lập năm 1941) – coi như huề vốn. Năm 1988, đảng Dân Chủ tự giải thể hay bị bức tử vì đã đến lúc chấm dứt vai trò?

Báo Quân Đội Nhân Dân đã nói thẳng với ông Lê Hiếu Đằng rằng: “Đâu có phải cứ đa nguyên, đa đảng là tự nó đã có dân chủ” cũng như dư luận trong và ngoài nước đã lên tiếng đồng tình hay phản bác những chuyện ông Lê Hiếu Đằng nêu ra. Điều tôi tự hỏi là những gì chúng ta suy nghĩ hay viết ra trên gường bệnh có khác những gì chúng ta suy nghĩ hay viết ra trên bàn giấy văn phòng không? Câu trả lời đương nhiên là khác.

Trên giường bệnh có nghĩa là lúc chúng ta đang đau ốm. Kinh nhà Phật đã nói :“Thân không cầu không bệnh, thân không bệnh thì tham dục dễ sinh.” Đau ốm, bệnh tật thì chăng còn tham vọng, mơ ước, ham muốn gì nữa! Ăn ngon, mặc đẹp, dục tình, danh vọng hay tiền của đều là những chuyện lòng không còn mảy may ham muốn, ngoài chuyện chúng ta cảm nhận thân thể đang đau đớn, sinh lực hao mòn, không biết ngày mai còn ngồi dậy được không hay sẽ giã từ cõi đời này để về cõi chết. Tính từ khi còn là một sinh viên tranh đấu cho đến nay, thời gian đã nửa thế kỷ, những lúc còn son trẻ, trí óc sáng suốt, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, đi theo đảng hại dân, hại nước, sao không nghe ông nói được một lời cho vừa tai, phải đạo, để cho đến tới bây giờ, trên giường bệnh, mới trăn trở nghĩ đến chuyện phải trái ở đời.

Nhưng dù sao, trên giường bệnh là lúc tĩnh lặng nhất, là lúc tâm không động vọng tới chuyện đời, lời nói của ông ít ra cũng gây được ít nhiều suy nghĩ cho những con người còn quan tâm tới đất nước, nhưng chúng ta cũng thừa biết rằng khi đảng Cộng Sản đang cầm quyền, thì dù có lập mười đảng đối lập cũng vô ích.

Người tán thành cổ võ hăng hái nhất cho ông Lê Hiếu Đằng là ông cựu dân biểu “đối lập” VNCH, Hồ Ngọc Nhuận, một người cũng được chế độ này cho ôm những chiếc ghế “tô son vẽ phấn” cho chế độ kiểu ông Đằng như là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, “hồ hởi, phấn khởi” tuyên bố rằng: “Vận hội mới cho nước nhà đã đến …” Ông cũng lạc quan cho rằng: “Sẽ có hàng trăm và rồi đây hàng ngàn đảng viên cộng sản đồng loạt khước từ độc tài toàn trị, thành lập chính đảng mới để đấu tranh công khai với Đảng Cộng Sản cầm quyền.”

Sự tin tưởng này khá ngây thơ, nông nỗi! Liệu ông Lê Hiếu Đằng và ông Hồ Ngọc Nhuận nếu đang giữ  những chức vụ như Uỷ Viên Trung Ương Đảng, Bí Thư hay Chủ Tịch UBND của một tỉnh hay thậm chí là một Tổng Giám Đốc một công ty đang ăn nên, làm ra, bổng lộc ngập mặt, con cái du học, tư thất như cung đình, nhà thờ tổ như lăng miếu, liệu ông có can đảm bỏ đảng, “đồng loạt khước từ độc tài toàn trị” để “đấu tranh công khai với Đảng Cộng sản cầm quyền” không? Hay là đang ở những cương vị vật vờ của “Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam,” quyền cũng không, mà tiền cũng chăng có, mới đứng ra làm đối lập, mà là đối lập quá chậm.

Ngày xưa ở miền Nam, làm “đối lập” như Hồ Ngọc Nhuận, lãnh lương dân biểu, được hoãn dịch, có quyền bất khả xâm phạm, công du ngoại quốc, có các thế lực vô minh yếm trợ, múa men quay cuồng mà không bị bắt bớ tù đày, ai chẳng làm được. Khốn nạn hơn nữa, trong thời gian đó, Hồ Ngọc Nhuận lại móc nối với Cộng Sản để được lên mặt ngày hôm nay, tệ lắm thì cũng được làm thứ “Mặt Trận … ” cũng còn có xe con, lương bổng. Bỏ mặt trận nhảy ra làm đối lập thực sự với đẳng Cộng sản, chỉ được ăn mắm tôm, phân người ném vào nhà. Nhuận huyên hoang coi như thời cơ đã đến, dùng đại ngôn “phá xiềng,” vậy thì trong 38 năm nay, con vật giữ nhà bị xích, có sủa được một tiếng nào không?

Nhưng thật sự nếu ý tưởng này được thực hiện, đảng bỏ tiền ra nuôi đối lập để mị dân, hay làm đẹp cho chế độ, cho ông Lê Hiếu Đằng làm Chủ tịch, Hồ Ngọc Nhuận là Phó “Đảng Dân Chủ Xã Hội” thì đảng đối lập này có khác gì cái “Mặt Trận Tổ Quốc” hiện nay các ông đang phục vụ đâu, nó cũng chỉ có một chức năng là làm “đẹp mặt chủ nhà” không hơn không kém! Tiếc rằng, Hồ Ngọc Nhuận, theo thói quen tâng bốc, đã bỏ khẩu hiệu “Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam mới nhất định thắng lợi!” quá sớm. Những phát biểu chống lại chủ trương của đảng Cộng Sản trong nhiều năm này của một người muốn đối lập cũng chỉ là của một người bất phùng thời, không còn được trọng dụng, Phải nói là chúng ta rất buồn khi nhìn thấy trong chế độ Cộng Sản hiện nay, những người trả thẻ đảng, tuyên bố chống cường quyền, làm đối lập đều là những người hưu trí

hết quyền lực hay bị đẩy ra nước ngoài. Còn lại thì, toàn thể bộ máy nồng cốt của chế độ đều giả mù, che tai, ngậm miệng, coi chính đảng như băng đảng, thiếu cái văn hóa liêm sĩ là “văn hóa từ chức” như bảo chí trong nước lâu nay đã thường dể cập đến, để ôm lấy quyền lực. “Con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai, người sắp chết nói lời nói phải!” Ông Võ Văn Kiệt trước lúc qua đời cũng vì đã có đôi lời nói phải, mà phải nhận một cái chết mờ ám, đột ngột. Ông Võ Nguyên Giáp, một đại công thần của CSVN, đến tuổi hơn trăm, đã có quan tâm và đưa ra một số lời bình luận về tình hình đất nước như vụ PMU18, đổi mới nền giảo dục cũng như góp ý gay gắt ba lần là phải ngưng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, vì lý do an ninh quốc gia và vấn đề môi trường, nhưng có ai thèm đáp ứng đâu. Nếu ông Giáp muốn sống thêm it lâu nữa thì cũng nên biết tịnh khẩu.

Những chuyện  suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh” của ông giả trên 70 tuổi, đã có một lúc làm “sinh viên tranh đấu” qua thời, đảng bỏ đã lâu không dùng tới, có gì đâu mà làm ẩm ĩ!

* Lê Hiếu Đằng từ trần tại Sài Gòn ngày 23 tháng 1 năm 2014, hưởng thọ 70 tuổi.

Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam 20/7/1954

Nhã Lan – Phan Nhật Nam

Nhalan – 2607-1-Ngày 20/7/1954

NL: Dẫn Nhập:

Đêm 20 rạng Ngày 21 Tháng 7, 1954, chiếc kim đồng hồ của phòng hội nơi Genèva, Thụy Sĩ được giữ yên ở số 12 của để đúng với lời hứa của Thủ Tướng Mendès France trước quốc hội Pháp là sẽ giải quyết xong vấn đề Đông Dương sau một tháng nhậm chức. Và Ngày 20 Tháng 7 Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết với Điều 14 ấn định thủ tục, diễn tiến, thời điểm, thời hạn về việc di cư, tập kết người của hai miền Nam-Bắc. Điều khoản đơn giản nầy đã tạo nên bi kịch mất quê hương lần thứ nhất của lịch sử dân tộc VN – Để được sống tự do, triệu Người Việt Miền Bắc dấn thân ra biển lớn, hình thành cuộc di cư vĩ đại của loài người – Di Cư Vào Miền Nam. Chương trình TMVH thêm một lần được tiếp chuyện với Người Lính PNN để tường trình lại Bi Kịch Lớn đã một lần xẫy ra trên đất nước VN. Kính chào ông PNN,

#1-NL: Thưa ông Pnn, như lời dẫn nhập NL đã nêu, Hiệp Định Genèva 20/7/1954 là một Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự ở Việt Nam được ký kết giữa hai đại diện quân sự của Pháp và Việt Minh. Quả thật, trước 1975 ở Miền Nam và hiện nay ở hải ngoại hoặc ở trong nước chắc cũng không mấy ai biết rõ, đúng tại sao như thế nào, với ai đã thành hình nên bản hiệp định ấy? Và tại sao chỉ là đình chỉ chiến sự, nghĩa là CHỈ ngưng giao tranh GIỮA PHÁP VÀ VIỆT MINH chứ không có phe phái (CHÍNH TRỊ) nào khác. Vậy mời ông trình bày tình hình quân sự lúc ấy, trước hết của phía Việt Minh.

#1-PNN: Phát súng khai hoả trận Điện Biên Phủ nổ vào lúc 17g05 Ngày 13 Tháng 3 năm 1954 trận chiến kéo dài đúng 55 ngày 25 phút; và quân Pháp hạ súng đầu hàng vào lúc 17g30 Ngày 7 Tháng 5. Lực lượng bộ đội Việt Minh tham gia chiến dịch gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc các Đại đoàn/Sư Đoàn 304, 308, 312, 316 được yểm trợ chiến thuật bởi một trung đoàn công binh; một trung đoàn pháo gồm 24 khẩu pháo binh 105 ly; một trung đoàn sơn pháo 24 khẩu pháo 75 ly và 16 khẩu súng cối 120 ly, một trung đoàn cao xạ 24 khẩu 37 ly phòng không yểm. Toàn thể chiến dịch do Tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Tư lệnh và Thiếu Tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng. Quan trọng hơn hết là Bộ tư lệnh chiến dịch của Tướng Giáp đặt dưới quyền của Tổng Cố Vấn Vi Quốc Thanh nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ làm việc trực tiếp với Hồ Chí Minh. Vào thời điểm 1953-54, kho vũ khí của Trung cộng gần như đã cạn sau ba năm chiến tranh Nam-Bắc Hàn (1950-1953). Hồi ký của Tướng Giáp cũng xác nhận điều tương tự: Trung cộng đã vét hết ở các đơn vị pháo binh được thêm 7,400 viên đại bác 105 ly cho đủ số 10, 000 viên như đã hứa, nhưng số đạn này tới nơi vào trung tuần tháng 5 khi trận đánh đã kết thúc. Tóm lại, đứng về mặt đạn dược thì phía Việt Minh cần do Trung Cộng cung cấp đã đến lúc không thể kéo dài. Tình hình quân sự nầy buộc phải có một giải pháp chính trị là lần ký kết tại Genèva.

Hiệp Định được ký kết Ngày 20 Tháng 7 Năm 1954 mang chữ ký của Thứ Trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Minh và Thiếu tướng Delteil, thay mặt Tổng Tư Lệnh Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Nhắc lại chỉ là Hiệp Định Đình Chỉ Chiến Sự 

#2- NL: Mời ông trình bày tiếp về phía quân đội Pháp. Do thời giờ giới hạn, xin ông chỉ nêu  những điểm chính của tình hình quân sự để quý KTG hôm nay, các thế hệ trẻ hiểu rõ tại sao, như thế nào đã xẩy ra ở Điện Biên Phủ mà hậu quả của chiến trận nơi nầy đã đưa đến lần ký kết Hiệp Định Genève, tiền đề cho lần chia đôi đất nước và những hệ quả sau nầy qua chiến chiến tranh trong giai đoạn sau 1960 với kết thúc của Ngày 30/4/1975

#2-PNN: Đến cuối năm 1953, Chiến Tranh Đông Dương lần Thứ Nhất đã kéo dài 8 năm, quân đội Pháp ở Đông Dương lâm vào thế bị động trên các chiến trường. Quân đội Việt Minh cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã chiếm giữ được nhiều khu vực rộng lớn ở Cao Nguyên Trung Phần; vùng Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.. thuộc miền Trung; các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ.

Trong ý niệm chiến lược kiểm soát đường giao thông nối vùng Thượng Lào với thượng du Tây-Bắc Việt Nam, đồng thời để làm bẫy nhử quân chủ lực Việt Minh tập trung trong một trận địa chiến lớn. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được thành hình án ngữ vùng núi rừng Tây-Bắc nước Việt mà theo quan niệm hành quân của bộ chỉ huy quân đội Pháp thì quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đây.

Xét về mặt quân số thì tỉ lệ phía Việt Minh tiến công so với phía Pháp phòng thủ chỉ là 3 đánh 1 tức là tỉ lệ bình thường của một cuộc bao vây công kiên chiến. Nhưng rõ ràng trận chiến đã kết thúc với thắng lợi của Việt Minh là do Tướng Navarre và Bộ chỉ huy quân đội Pháp đã mắc phải sai lầm chủ quan cơ bản khi tin chắc rằng Việt Minh không thể mở ra một trận đánh dài quá 7 ngày tại một địa điểm cách hậu phương Thanh Hóa từ 300 đến 500 cây số đường tiếp tế qua rừng sâu núi cao, và không thể nào đưa pháo nặng vào trận địa như quan niệm ban đầu của Trung Tá Piroth, chỉ huy pháo binh của Pháp. Nhưng cuộc thất trận ngày 7 Tháng 5 chứng tỏ phía Pháp đã hoàn toàn sai lầm. 

Trong tình thế quân sự chẳng đặng đừng chính phủ ở Ba Lê muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến đã quá sức chịu đựng nhưng vẫn muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương ở phần đất phía Nam VN, Miên Lào. 

#3- NL: Thưa ông Nam, bản thân ông cũng như hầu hết các vị khách của chương trình khi bàn về tình hình chính trị quân sự ngoại giao (không chỉ đối với riêng VN) mà toàn bộ khu vực Đông Nam Á, trên thế giới luôn đề cập đến Trung cộng trước đây hay hiện nay cũng vậy. Thế nên, mời ông nói về tác động, ảnh hưởng có tính quyết định của nhà nước Bắc Kinh ở thời điểm trận Điện Biên Phủ và lần ký kết Hiệp Định Genèva 1954…

#3- PNN: Ngày 10 tháng 10, 1953, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gởi công điện cho Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Danh xưng chính thức của Đảng Cộng Sản Đông Dương sau lần giải tán tháng 11, 1945): “Năm 1950 chúng tôi đã đáp ứng đề nghị của các đồng chí lần lượt cử hai đồng chí La Quý Ba, Vi Quốc Thanh sang Việt Nam làm công tác giúp đỡ có tính chất cố vấn. Đồng thời quyết định Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự phụ trách công tác giúp chỉ đạo chiến tranh và xây dựng quân đội Việt Nam. Đồng chí La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị phụ trách công tác giúp xây dựng đảng, địa phương và chính sách”.

Ngày 12 tháng 1, 1954 Tướng Giáp và Tướng Vi Quốc Thanh đến quan sát chiến trường và nhận thấy kế hoạch “Đánh Nhanh-Thắng Nhanh” trong vài ngày không bảo đảm thắng lợi và vượt khả năng của bộ binh, pháo binh, lại gây ra những thương tổn quá mức chịu đựng đối với bộ đội cộng sản. Cuối cùng, Tướng Giáp sau một đêm không ngủ sáng 26 tháng 1, đã đi tới một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của ông qua thuyết phục sự đồng ý của Vi Quốc Thanh để thay đổi kế hoạch tác chiến thành “Đánh chắc/Thắng chắc”.

Về chính trị-ngoại giao, phái đoàn Trung cộng do Châu Ân Lai cầm đầu toàn quyền quyết định về vận mệnh chính trị Việt Nam ở Hội Nghị Genève.

#4-NL: Nếu không thể phủ nhận vai trò của Trung Cộng trong những quyết định đối với đảng và nhà nước cộng sản VN từ trước, sau 1954, thì vị thế của Mỹ đối với VN, vùng Đông Nam Á, lại là một thế lực mang tính quyết định đối trọng – Cụ thể tình thế VN suốt từ hậu bán thế kỷ 20 cho dến nay. Mời ông nói về thế và lực của Mỹ đối với Quốc Gia Việt Nam, VNCH trong giai đoạn trước, sau 1954, 1955… Cụ thể trong lần hình thành, thi hành Hiệp Định Geneva, 20/7/1954  

#4-PNN: Khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, 1945 thế giới buộc phải nhận hiểu ra nghĩa khổ đau của chiến tranh. Và những người cầm quyền của phần đông các quốc gia Đông-Tây kẻ thắng lẫn người bại hầu như đều có nổ lực chung để tránh nạn chiến tranh mà hậu quả sẽ là gánh nặng bi thảm vô vàn đối với mỗi dân tộc. Nhưng đất nước Việt Nam sau 1945 lại là diễn trường của những xung đột quyết liệt của các cường quốc!  Chiến tranh Việt Nam còn là điểm thoát hơi an toàn của tranh chấp thế giới qua thế trận chiến tranh lạnh vừa hình thành giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản dẫu cả hai đã một lần cùng nhau trong trận chiến chống phát xít của liên minh phe trục Đức-Nhật từ 1939 đến 1945.

Chiến Tranh Lạnh dần kết thành khi hai khối tư bản và cộng sản đều cùng thủ đắc một loại vũ khí giết người hàng loạt – Đấy là vũ khí nguyên tử mà nếu như chiến tranh bùng vỡ cả phe thắng lẫn bên thua đồng chịu chung tình thế bị hũy diệt toàn diện. Mối lo sợ về vũ khí nguyên tử buộc các siêu cường cụ thể Liên Xô và Mỹ phải thiết lập nên tương quan cân bằng nơi những vùng trái độn khắp thế giới. Và chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất nơi chiến trường Việt Nam đã được hiện thực từ tháng 12 năm 1946 dẫn đến kết thúc vào tháng 7, 1954 tại Hội Nghị Genève cùng lần đất nước qua phân.

Do không ký kết vào Bản Thông Cáo Chung lần kết thúc hội nghị, phái đoàn Mỹ do Bedell Smith làm trưởng đoàn phủ nhận việc tuân thủ thi hành. Cũng bởi, theo Điều 6 của Hiệp Định thì Vĩ Tuyến 17 chỉ là: “Giới tuyến quân sự có tính chất tạm thời, không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ”. Trong suốt hai thập niên sau năm 1954 chính quyền Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà vẫn luôn khẳng định: Đại diện hai quốc gia không hề ký nhận hiệp định nên không bị ràng buộc vào những điều khoản của hiệp định ấn định như việc thống nhất lãnh thổ qua hiệp thương bầu cử dự trù vào năm 1956.

Tuy nhiên, Quân Lực Mỹ nói chung, Hải Quân Mỹ nói riêng không thiếu lòng nhân ái đối với người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Bởi chính Người Lính Hoa Kỳ đã thực hiện cuộc không vận và hải vận lớn nhất thế giới trước sau thế chiến thứ hai để cứu nạn gần một triệu Người Việt ra đi từ miền Bắc. Và kỳ diệu cảm động thay, sau ngày 30 Tháng 4 năm 1975, những chiến hạm và không lực Hoa Kỳ lại đưa những người tỵ nạn Việt Nam rời khỏi nước trong một thời gian kỷ lục 48 giờ trước, sau lần Sàigòn thất thủ.

#5-NL: Chúng ta kết thúc buổi làm việc, trở lại đối tượng chính, cũng là nạn nhân của lần đất nước chia đôi bởi Hiệp Định 20/7/1954. Hiệp Định làm tiền đề cho một trận máu xương khởi động từ 1960 đưa tới biến cố sụp vỡ miền Nam 30 tháng 4, 1975 do, từ Hiệp Định Paris, 27/1/1973 mà Điều 1 của Hiệp Định Paris nầy cũng chính là Điều 1 của Hiệp Định Geneva 1954. Xin mời ông …

#5-PNN: Hội nghị Geneva kết thúc với điểm then chốt là đường ranh giới chia cắt hai miền Nam-Bắc Việt Nam cuối cùng đã được đồng thuận với Vĩ Tuyến 17 nằm dọc theo sông Bến Hải bắc Thị Xã Đông Hà thuộc Tỉnh Quảng Trị. Giữa những bàn cải quyết định vận mệnh Dân Tộc Việt chẳng một ai lý hội đến giọt nước mắt cay đắng của Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định và lời tuyên bố phẫn nộ của Bác sĩ Trần Văn Đỗ trưởng đoàn đại diện chính phủ Quốc Gia Việt Nam khi phản đối sự phân chia đất nước bất kỳ nơi đâu. Bởi Ngoại Trưởng Định và Bác Sĩ Đỗ hẳn đã hình dung ra bi kịch của đất nước là khi chấm dứt một cuộc chiến bằng cách lập nên một vùng phi quân sự dọc theo một giới tuyến chỉ là cách thay đổi chiến tranh qua một hình thái khác, tạm thời đình hoãn để đến khi tái bùng nổ, cuộc chiến mới sẽ tạo nên những thảm cảnh tàn khốc đau thương gấp bội. Từ nhận định có tính chiêm nghiệm nầy, chỉ sáu năm sau Hội Nghị Geneva, chiến tranh tiếp bùng nổ trên quê hương, súng đạn bi kịch Việt Nam liền được tiếp nối tại một thời điểm với lần thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do mưu định, tổ chức, điều động của Bộ Chính Trị Đảng cộng sản tại Hà Nội, 20/12/1960.

#6- NL: Mời ông kết thúc câu chuyện hôm nay về một Mối Đau – Mối Đau Chung của toàn Dân Tộc VN – Mà Lịch Sử đã chứng minh không kẻ thắng người người thua trong trận máu xương kéo dài từ 19 tháng 12, 1946, tạm chấm dứt bởi Hiệp Định Genèva 1954 và thêm một lần gọi là “Tái lập Hòa Bình tại VN” qua Hiệp Định Paris 1973 đưa đến kết thúc tại Ngày 30/4/1975

#6-PNN: Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp khởi từ đêm 19 tháng 12 năm 1946 với bao xương máu người Việt của hai bên, khi ký hiệp định ngưng chiến Đông Dương 20 tháng 7, 1954, đảng cộng sản Việt Nam trong thực tế đã tạo cớ cho Mỹ vào thế chân quân đội Pháp tại Đông Dương. Và kẻ được hưởng lợi lớn nhất lại chính là Trung Cộng vì bây giờ đã có thể nói chuyện với siêu cường Âu-Mỹ trên thế mạnh. Trong lúc thế nước lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn và phức tạp, ngày 16 Tháng 6 năm 1954 Quốc Trưởng Bảo Đại đề cử ông Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam với toàn quyền hành động. Ngày 7 tháng 7 1954, Thủ Tướng Ngô chính thức nhậm chức ra mắt nội các đầu tiên tại Sàigòn, Bác Sĩ Trần Văn Đỗ được Thủ Tướng Diệm cử sang Genève cầm đầu phái đoàn Quốc Gia Việt Nam thay thế Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định xác định thêm một lần chính sách không chấp thuận đối với bất cứ hình thức phân chia nào, quyết tâm giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam. Nhưng khi Ngoại Trưởng Đỗ đến Genève thì sự đã rồi hai phái đoàn Pháp và Việt Minh do xếp đặt có tính quyết định của Liên Xô, Anh Quốc và nhất là của Trung Cộng.

Chiến tranh Việt Nam sau khi TQLC Mỹ đổ quân lên Đà Nẵng 8/3/1965 mang hình thái khác với máu xương người Việt miền Nam tuông tràn trên đất khổ quê hương đưa đến kết thúc của ngày 30 Tháng 4, 1975 – Khi người Mỹ buộc VNCH ký kết Hiệp Định Ba lê 27/1/1973 với những điều khoản hoàn toàn bất lợi; Mỹ rút quân 60 ngày sau, hoàn tất, thực hiện Thông Cáo Thượng Hải 1972, nhường diễn trường Đông Nam Á lại cho Bắc Kinh – Tiền đề của biến động tại Biển Đông hôm nay trong Thế Kỷ 21. Hóa ra lịch sử hầu như chỉ là lần lập lại những bi thảm đau thương từ trước. Nỗi đau sau lớn hơn, nặng hơn lần trước gấp bội phần.

Ngoài ra có một yếu tố RẤT QUAN TRỌNG mà đến nay vẫn không mấy ai để ý (vì vẫn KHÔNG ĐƯỢC GIẢI MẬT) là Hội Nghị Liễu Châu (3-5/7/1954) là HỘI NGHỊ MẬT QUYẾT ĐỊNH nên vận mệnh VN qua ký kết 20/7/1954 tại Genèva, làm tiền đề cho chiến tranh VN sau nầy. Muốn nói phải có một buổi làm việc nhiều giờ khác.    

Cám ơn Quý KTG đã tham dự lần tường trình về một Mối Đau Chung. Kính cám ơn Người Lính Pnn.

Nỗi buồn vạn cổ

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 4 Jul 2026

Khánh Dương mất, lính rút về phố biển

Đèo Phương Hoàng gãy cánh chim bay

Chiếc xe tăng cắm nòng xuống đất

Lòng tháp đen ngọn khói tử thần

Những rừng cây bên đường cụt ngọn

Núi tan hoang và rừng tan hoang

Đoàn quân rút chiến bào tơi tả

Mắt lính buồn như thể đội tang

Tuy Hòa mất, Nha Trang thất thủ

Những chuyến bay gầm rú về Nam

Từng đoàn người đi trên quốc lộ

Mỗi thước đường, mỗi thước tai ương

Phan Rang mất, Phan Thiết cùng số phận

Đi về đâu, những phận da vàng

Xuân Lộc, Dầu Giây trở thành tử địa

Nhìn nơi nơi chỉ thấy hoang tàn

Rồi cũng đến cái ngày định mệnh

Ba mươi tháng tư, một chin bảy lăm

Quân miền Nam bàng hoàng buông súng

Đài phát thanh đọc nhật lệnh đầu hàng

Từng phi cơ hướng về biển cả

Thuyền nhỏ to cũng hướng biển trời

Đại sứ quán biển người tràn ngập

Trên nóc nhà còn một trực thăng

Từ hôm đó, hiển nhiên lịch sử

Đã sang trang như lật bàn tay

Năm mốt năm tang niềm thương hại

Liệu nỗi buồn có kịp tàn phai

Nữa cái trăm năm đã qua đi

trên mỗi phận người

Vết thương có thể lành và có thể

vẫn còn đâu đó

Trong lòng người muôn năm cũ.

Niềm riêng

litviet.net

Hồ Đình Nghiêm

Post 19 Sep 2009

Post by6 Sơn râu 4 Jul 2026

“Three may keep a secret, if two of them are dead”, Benjamin Franklin.

1.

Hội Cao niên mở cửa sáu trên bảy. Cách chợ ba trăm mét, xa chùa gần hai cây số và thân cận láng giềng với trung tâm thẩm mỹ hớt tóc nhuộm sấy- chuyên trị làm nail. Giống như tên gọi, căn phòng rộng mười mét vuông ấy chứa đựng những vật dụng già tuổi. Bàn ghế không đồng dạng. Cái gỗ cái nhựa, cái đen đúa cái màu mè. Có tủ đựng sách với hàng chữ lớn dán trên vách: “Coi tại chỗ, cấm mang đi”. >>” />Sách đa phần là truyện chưởng và tình cảm gay cấn của Quỳnh Dao. Có máy lọc cà phê, có bình thủy, có ấm trà. Có cỗ bài tây, có bàn cờ tướng và có thể, rất nhiều thứ khác nằm ẩn dấu đằng sau lối đi vào phòng vệ sinh.

Nếu tuổi bạn đã 65, hoặc già hơn? Bạn mua vé đi xe buýt với giá phân nửa. Cũng thế, buồn chân bạn vào cửa hàng The Salvation Army mua áo quần cũ, tha một đống đồ hiệu với giá bèo không tưởng được sau khi xuất trình giấy chứng thực tuổi đã về chiều. Hội cao niên thì bảnh hơn, họ hay dụ khị bạn đi chơi xa ngoạn cảnh mà chẳng cần phân biệt tuổi tác. Hai chục bạc mỗi đầu người, xe đò hạng sang, sáng đi chiều về bao luôn thức ăn nước uống. Nói chung, khi bạn đã già, đi đâu bạn cũng hưởng được sự đặc ân khác thường. Bạn mua thuốc trợ lực cũng dễ, tựa lấy đồ trong túi ra, đâu khó khăn như bọn trẻ khi muốn thử qua công hiệu của Viagra.

Ông Bảy đi theo người bạn già dẫn đường. Ông hít phải mùi nước đái qủi từ tiệm hớt tóc xông ra nồng nặc thì nghe người bạn la to: Tới rồi!

Nền vàng chữ đỏ. Chữ Hội cao niên kẻ sơn chẳng được thẳng thớm. Ông Bảy có một nhận xét: Vàng, đỏ. Riêng lãnh vực thẩm mỹ, hai màu ấy luôn thù nghịch nhau. Da vàng máu đỏ, đâu phải chỉ vì cái cớ ấy mà dân Việt nỡ lòng nhắm mắt vi phạm vào cái khoản “ngó cho được mắt”. Giả sử ai đó quét phông màu xanh đậm, bleu noir, rồi dùng sơn trắng mà “quất” ba chữ Hội cao niên lên trên coi có phải “Tây” hơn không? Chỉ cần mường tượng thôi, chín chín phần trăm đã thấy “thằng” xanh trắng đẹp ăn đứt “thằng” vàng đỏ.

Bước vào cửa, hai ngọn néon đón chào ông Bảy bằng thứ ánh sáng chiếu lệ. Ngọn thứ ba thì mãi nhấp nháy, hổng chịu năng nổ với chức năng. Gần đất xa trời, chữ ấy nghe thấm thiá, riêng với con người. Ngọn đèn đang hấp hối kia sao chẳng ai đành lòng đem quẳng thùng rác? Nó chiếu xuống hội phòng, lan toả một thứ gì buồn buồn, day dức trong câm nín. Có hai người đàn ông tóc bạc đang ngồi chơi cờ và người thứ ba là một madame mãi loay hoay với khay đựng trà. Tiếng ly tách va chạm nhau, tiếng những con cờ bằng gỗ gõ chan chát xuống bàn. Bận bịu. Không ai rảnh mà trông lên kẻ mới bước chân vào phòng. Ông Bảy lại nghĩ: Ở cuộc đời, tất cả chúng sinh đều mắc phải nhiều lầm lỗi. Và đáng phàn nàn là cái phận người bé nhỏ ấy đều bị cuộc chơi bắt phải tuân thủ một điều lệ: Hạ thủ bất hoàn. Thua, chỉ có hối tiếc ăn năn. Khắc vào da thịt một thứ tì vết mà ai đó dẫu có thứ tha cũng khó gội rửa cho sạch. Ông Bảy trước 75 là một nhân viên có chức phận trong ty Ngân khố. Một mình, ông nuôi bốn đứa con học hành tới nơi tới chốn. Nhưng mà lớn lên, đứa con đầu đụng trận, thây phơi ngoài chiến địa. “Áo bào thay chiếu anh về đất” như câu thơ hào sảng của ai kia. Đứa hai, không oanh oanh liệt liệt như anh nó, chết trong tù cải tạo một vùng đất xa xăm đâu tận ngoài Bắc. Đứa ba, con gái, mình hạc xương mai, du học ở Pháp rồi để cho thằng thực dân lạ hoắc lạ huơ ẳm đi chẳng một lời cáo phó “au revoir” để lại. Thằng út vượt biển, qua Canada phấn đấu thi đỗ làm bác sĩ, lấy vợ cùng đẳng cấp, mở phòng mạch hốt bạc, bảo lãnh ông Bảy qua và… và mặt lạnh như tiền, thuê cho ông Bảy căn hộ hẹp bé “Bố ở riêng cho được tự do”. Chúng nó giáng một đòn quyết liệt, hạ thủ bất hoàn, ông Bảy nhìn tướng sĩ tượng tan tác, thành quách u sầu đành dong cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. Đem con bỏ chợ, ông Bảy phải ngửa tay xin tiền trợ cấp xã hội. Gầm đầu xuống đất nhỏ ba giọt lệ, ngước mắt nhìn cao xanh mà cười lên ba tiếng. Bậc làm cha mẹ thường mang niềm vui tràn bờ khi con cái thành công ngoài trường đời. Đôi khi lỡ miệng dông dài về chúng thì người nghe chuyện chớ vội trách cứ là họ huênh hoang. Ông Bảy khác, ổng ngậm miệng hến, câm như thóc. Con mèo biết dấu cứt là ông Bảy. Ổng mồ côi trước cuộc đời. Người bạn già nói với ông bằng thứ triết lý mơ hồ của Tây: “Oh! C’est la vie!”. Và cụ thể bằng tiếng Việt, giọng Nam chơn chất: Anh Bảy theo tui, giỏi chân tới hội cao niên sinh hoạt dăm ba bữa. Biết đâu tìm gặp ở đẳng một niềm vui, dẫu bèo bọt.

Cuối cùng thì người đàn bà nhìn thấy khách. Tuy lớn tuổi nhưng lưng bà còn thẳng, dáng vẻ linh hoạt và cái đáng nói là son phấn tuồng như chưa hề bị phụ rẫy một lần trên gương mặt đang tươi cười kia. Bà mặc áo đen có đính những hạt cườm xanh đỏ trước ngực, quần tây màu mỡ gà là thẳng nếp. Trang phục tử tế như thể vị chủ tịch hội phụ nữ sắp sửa diễn thuyết về đề tài Hai Bà Trưng, giặc đến nhà sao bắt đàn bà phải gồng mình uýnh lộn? Đàn ông trốn đi đâu?

– Chào anh. Anh vẫn khỏe?

Bạn ông Bảy gật đầu:

– Dạ, nhờ trời. Chị cũng thường?

Người đàn bà ngó chăm vô mặt ông Bảy, ánh mắt đong đầy những nỗi niềm. Mày lá liễu nhíu, mắt lá răm sắc, sóng thu ba đo lường, lóng lánh tia nhìn tra vấn. Tội phạm mang tên Bảy cứng đờ người, tự hỏi thầm: Ta là ai? Và em là ai? Hy vọng giữa đôi ta chưa hề một lần sơ ngộ. Và như thế, mụ ấy không thể moi ra đống cứt ta từng cất dấu. Cái quá khứ đau thương ấy…

– Mấy anh ngồi chơi.

Bàn có rất nhiều ghế. Như thứ phô trương thanh thế, rằng cao niên rất đông hội viên. Tiếng kéo ghế không làm bận tâm hai tiên ông đang đắm mình vào bàn cờ gần tới hồi tàn cuộc.

– Thiệt đúng lúc, trà uống được rồi đây.

Người đàn bà bày chiếc khay ra giữa bàn. Mười ngón tay, ông Bảy đếm, có ba chiếc nhẫn tròng vào đó. Một vàng và hai kim cương. Vàng ảm đạm, kim cương thì lanh lợi chớp nháy hột nhỏ hột to. Đó là thứ chứng minh nhân dân, đóng mộc vào thân phận người đàn bà. Ông Bảy đón lấy tách trà từ tay người nhiều của. Đẳng cấp ấy quá cao xa. Tôi tên là Trần Trụi, ngoại hiệu Rớt Mồng Tơi. Ông Bảy cười:

– Cám ơn chị

– Xin lỗi anh tên chi?

– Dạ, tên Bảy.

– Anh Bảy qua lâu mau?

– Dạ, cũng chưa được lâu. Coi như mới, thảy đều còn lạ nước lạ cái.

– Trà uống được không?

– Ngon. Dạ, cũng thơm…

– Tui nói có trời chứng giám, anh Lắm như người quân tử, nhân nghĩa lễ trí tín, đức độ đến là thế mà trời sao nỡ sớm bắt đi?

Một quân cờ giáng xuống bàn. Thảng thốt như tiếng nổ của một hòn đạn vừa rời nòng súng. Chết điếng.

– Trà này của người quen từ Toronto mang về phúng điếu. Sẵn đây e mình cũng nên ngậm ngùi ngồi yên tưởng niệm đến anh Lắm đôi ba giây. Chức vị anh Lắm hiện bỏ trống, tuần sau có cuộc bầu bán hội trưởng, anh Bảy nhớ đến chung vui. Có tiệc trà thân mật do chính tay quí chị em chúng tôi đảm trách. Chao! Đời sống này buồn quá, còn gặp nhau ngày nào thì nên vui mừng ngày đó. Tui nói thế liệu anh Bảy nghe có hợp nhĩ không?

– Dạ, chị nói đúng. Ở đời nên lấy cái tình làm trọng. Giàu có chớ khinh khi kẻ nghèo túng, ai cũng là phận di dân!

– Sao giọng điệu anh nghe hệt như anh Lắm? Cái phương ngữ ấy người Cộng sản họ gọi là san bằng giai cấp, người chớ có bóc lột người. Chao! Mệt ngất ngư. Sang hèn chi rồi cũng châu về hiệp phố. Cát bụi cả! Bèo bọt ráo!

Ông Bảy bắt đầu thấy ê mình. Có thể lâu quá ông mới được dịp tiếp chuyện với người đồng hương. Như thiền giả ngồi diện bích trong thạch động đã lâu, nay bước chân xuống đời thuyết pháp dĩ nhiên phải trẹo quai hàm. Xe chạy đường dài, cháy bu-gi lột dên hư xú báp là chuyện thường hằng. Không lấy gì làm lạ! “Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn, nhưng số máy số sườn vẫn không hề thay đổi!”

Bạn ông Bảy ngồi nín khe chẳng góp lời. Tôn trọng ý kiến của đôi “trai gái” đang luận tới cái mong manh có trong cuộc sống. Đề tài ấy dẫu nói năm canh cũng chưa thể tàn cuộc. Và không cứ là già đầu, bọn trẻ cũng ưa phát ngôn linh tinh đến nó. Vì thế nghe hoài rất dễ ngấy. Chuyện tình yêu cũng xưa cũ không kém, vậy mà lạ lùng một điều, con này ăn nằm với thằng kia, gã nọ lén vợ đi chơi bời… dẫu nghe bất tận cũng còn nguyên dạng háo hức. Nó luôn rành rành hàng chữ sau đuôi: Xem sang hồi sau sẽ rõ. Hồi hộp khiếp!

Chuyện vãn đang nhạt dần, trà nước thảy đều nguội, ông Bảy chưa biết sắp xếp một câu kết luận phải phép để được rời đi thì lại có thêm một cụ ông hom hem bước vào. Nhân sinh thất thập cổ lai hy! Câu ấy láo. Hay lại nói trớ đi, nhờ bơ sữa của đế quốc nên mới thọ được thế? Cái ấy thậm ngụy biện!

– Anh Bùi.

Người đàn bà reo lên. – Chứ chị ấy đâu?

Kẻ thọ hiếm hoi kia nói mà không nhìn một ai:

– Bà ta đang ở trên chùa làm việc thiện nguyện công quả. Chốn ấy tôi không thể đứng xớ rớ được lâu, lội bộ tới đây ngồi chờ cho được việc.

Ông tên Bùi nhấc hỏng một chiếc ghế nhựa, tìm chỗ khuất lấp ngồi hút thuốc. Nơi đó có dấu sẵn cái gạt tàn bằng nhôm. Nơi đó màu vách có vẻ ám tối, tựa hồ khói thuốc đã làm bức tường bị ung thư.

– Một ngày anh hút mấy điếu?

Người đàn bà hỏi khi mang tới cho ông Bùi tách trà.

– Gần một bao. Tôi ghét đếm số.

– Chẳng một ai ngăn cản?

– Gia đình tôi phật tử thuần thành, đâu ai làm chuyện ác đức thế!

Khói thuốc che mờ một phần gương mặt ông Bùi. Giọng ông ta chẳng hề pha chút diễu cợt. Ông nhấp chút nước, ướt bờ môi:

– Bà chưa nghe vợ tôi phân trần?

– Dạo này lu bu ít khi gặp nhau.

– Cuộc đời này tôi chỉ còn duy nhất một niềm kỳ vọng. Vợ tôi nói. Đó là một ngày kia được trông thấy ông từ bỏ thuốc lá. Như vậy thì nhân danh một người chồng tốt tôi vẫn phải tiếp tục hút, bởi tôi chẳng đành lòng cướp đi niềm kỳ vọng của bà ta. Sống mà không nuôi hy vọng. Giời ơi! Cuộc sống ấy nhạt tựa hồ mồm chẳng ngậm được điếu thuốc thơm.

– Tuần sau có cuộc họp. Anh Bùi nhớ đến.

– Nhớ. Trước đây ông hội trưởng có hút thuốc không nhỉ?

– Không. Tuyệt đối. Anh Lắm là người đạo đức gương mẫu đủ mọi mặt.

– Vậy mà hắn đã chết. Buồn thay! Người đàng hoàng đạo đức sống lâu, xưa nay hiếm! Tôi nói với vợ tôi trên đường đến chùa trưa nay: Hút thuốc có cái lợi, kẻ quen biết cạy mặt chẳng dám mời mình tới nhà chúng. Đó là hạnh phúc số một. Số hai là mình suốt đời thong dong, chẳng ai bầu một đứa nghiện thuốc như tôi vào chức hội trưởng, kế toán, ngoại nội vụ hoặc thủ qũy. Vậy thì xin cứ thỏng tay vào chợ, lim dim khói thuốc ở bờ môi tịnh khẩu.

– Anh Bùi nói nửa đúng nửa sai.

Một tiên ông đứng lên. Bị chiếu bí, giận dỗi xoá hết dấu vết có trên bàn cờ. Ông tiến lại chỗ ngồi ông Bùi.

– Đâu, thuốc đâu? Làm một điếu cho thơm râu.

– Thuốc đây. Cứ thoải mái. Tôi trót nói sai chỗ nào xin cụ chỉ giáo cho.

– Cốt lõi vấn đề nằm ở chỗ anh có ham chức hội trưởng hay không? Ngần ấy thôi. Chẳng cần lôi kéo xì ke ma túy vào cho rách việc. Sao, thích không? Bao bọn này một chầu phở thì tuần sau đổi đời làm hội trưởng một cách đường bệ.

– Không ngửi được. Qúi vị bỏ tiền ra đút lót dụ dỗ tôi thế chân me-xừ Lắm thì họa may.

– Ngược đời! Phàm muốn có vai vế chức phận người ta phải giở trò lòn cúi tranh thủ hối lộ mua quan bán chức chớ. Thôi, sinh hoạt với nhau đã lâu chúng ta biết rõ lòng dạ nhau quá, mượn cái vị mặt mũi mới toanh này làm trọng tài một phen.

Mọi con mắt đều chú mục quang tới ông Bảy. Những con mắt đục bụi trần, duy đôi mắt bà ấy là long lanh. Tinh tường sáng lạng một cách đáng ngạc nhiên. Chẳng biết bà ta xỏ chỉ qua lỗ đít cây kim có dễ không? Ông Bảy gãi đầu:

– Tui biết nói năng chi?

– Kệ, cứ phát ngôn. Mình đang ở xứ tự do dân chủ. Người ngoại cuộc bao giờ cũng sáng mắt hơn.

– Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép anh đây? Tên tuổi còn chưa tường nói chi tới ý kiến này nọ. Quí vị có ưa ăn phở thì chúng ta cùng kéo nhau đi. Tiền qũy của hội sau khi mua vòng hoa phúng điếu anh Lắm còn đúng ba mươi tám đồng, dư sức qua cầu để chào đón anh Bảy ngày đầu đến với hội ta.

Mọi người chộn rộn hẳn lên. Đàn bà họ giỏi hơn đàn ông ở chỗ, biết gỡ rối tơ lòng, biết tháo chướng ngại, tìm ra con lộ hanh thông trong khi hoàn cảnh lâm vào chỗ ngỡ là tắc tị, dễ gây hận thù. Phở. Nó là cái quái gì mà nghe đi kéo ghế thì ai nấy mặt mày linh hoạt, có thần khí ngay. Duy ông Bùi vẫn bình chân như vại, khói dâng mù mờ, khoảng cách đâm xa.

– Sao thế?

– Tôi ngấy phở. Vã, bả về đây tìm không thấy lại sinh chuyện. Lại Nam mô di Phật.

– Xeo phôn đâu? Trình với bả một tiếng.

– Cái gì?

– Không có điện thoại di động, điện thoại cầm tay sao?

– Thứ ấy để bọn trẻ con nó nghịch phá đú đởn chòng ghẹo nhau. Ngần này tuổi ai lại đi ôm của nợ đó? Không thấy chướng tai gai mắt sao?

– Ông này lạc hậu! Ở Việt nam người ta còn bán cả xeo phôn bằng giấy kia. Đời mới, mẫu mã đa dạng.

– Hiện đại nhỉ!

– Chứ sao. Đắt như tôm tươi. Để đốt xuống dưới cho thân bằng quyến thuộc có phương tiện mà réo gọi nhau.

– Khiếp. Địa ngục tối tăm không thấy đường, mày mò sao lại bấm đúng số phôn của ông thì bỏ mẹ.

Ông Bùi cười lớn, tự tán thưởng lấy mình. Người kia thoa đầu tóc lưa thưa:

– Thua. Đấu cờ thua, đấu khẩu cũng thua. Điệu này phải ra tiệm phở gọi đúng một tô xe lửa để gỡ sĩ diện mới được.

Trừ ông Bùi, mọi người đều tới lấy áo khoát, móc trên dãy đinh đóng ngập vào vách. Những chiếc áo thay phiên rời đi, lộ ra toàn phần bức tranh màu nước đã phai nhạt màu. Ông Bảy nghiêng đầu ngắm. Chẳng hiểu tay họa sĩ phóng bút ra thứ cây gì? Một cụm lá rối đâm ngang dọc, tua tủa. Và tại sao người ta lại cố tình máng nó ở đó, hà hiếp nó một cách không khoan nhượng. Bạn ông Bảy giải thích:

– Vách tường ở đó bị thủng một lỗ khá lớn, dùng tấm tranh để che đậy là hợp lý nhất.

– Nó chẳng mấy đẹp phải không anh Bảy? Người đàn bà góp lời. – Trúc có đâu mà kỳ cục thế?

Bạn ông Bảy hỏi:

– Sao chị biết đó là cây trúc?

– Cố hội trưởng bảo thế. Chính anh Lắm mang nó tới chứ ai? Trúc, biểu tượng cho người quân tử.

– Vớ vẩn! Ông Bùi bình phẩm. Ngày xưa tôi đi học, thầy giáo kể chuyện có ông gì đi sứ sang Tàu, táy máy đưa tay rờ rịt vào bức tranh vẽ thật sống động bị người quyền thế họ mắng cho. Cả thẹn, chàng kia đành bào chữa: Trúc là quân tử cớ sao để cho chim chóc, hạng tiểu nhân bám đậu vào? Kẻ hèn này chỉ muốn xua đuổi chim bay đi… Thiệt là quê một cục! Mất mặt bầu cua. Cho hay người Việt mình thì ngu ngơ chậm lụt mãi từ đời ông Bành tổ tới giờ. Mấy đứa cháu tôi bị bố mẹ chúng ép đi học tiếng nước nhà, ngày một ngày hai bèn cúp cua. Chớ cớ sự gì thế các cháu? Ông ơi, cô giáo dạy trước đây người Việt mình biết đẻ trứng. Một trăm cái lận. Chắc họ bắt chước trong phim Aliens. Stupid! Đi học mà nghe người lớn dối gạt, ông biểu chúng cháu phải làm sao? Tôi ngậm bồ hòn làm ngọt, xuội lơ làm đồng minh với bọn nhóc tì.

– Bậy thật! Có ai lại như ông? Chim có tổ người có lông…

Người đàn bà che miệng cười:

– Sao lại mang lông lá vào? Có ai no hair đâu? Chim có tổ người có tông. Xin anh nhớ cho.

– Ừ thì tông. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Tóm tắt là phải cố đừng quên nguồn cội. Ăn phở cũng là cách tôn trọng gìn giữ văn hoá xứ ta. Chẳng ke cholesterol.

– Văn với hoá! Anh về Việt nam lần nào chưa?

– Chưa. Tại sao?

– Anh sẽ cảm thấy lạc lõng bởi chốn ấy không còn ai nói cùng thứ ngôn ngữ với anh. Tiếp thị, công đoạn, khuyến mãi, cường độ, sự cố, cự ly… Đầu anh khi ấy sẽ mọc lên cái ý nghĩ: Mình đang lạc bước tới một tiểu bang của Trung quốc vĩ đại. Made in China, mua một món hàng sản xuất ở đó thì chả có gì phải phấn khởi hồ hỡi cả. Buồn, buồn lắm! Chưa kể bị ngộ độc hồi nào chẳng hay!

Không một ai tiếp lời. Yên lặng vì ngao ngán, hoặc làm thinh vì nhận xét ấy quá xác đáng? Đó là phút giây mà ông Bảy hay biết tên người đàn bà: Trúc. Ông có vẻ chịu đèn, ông luôn đi cạnh bà. Ông mở cửa cho mọi người thong dong cùng bước ra. Ngoài đường chẳng có nắng, gió thênh thang lùa ngang bãi đậu xe trống, mang hàn khí tới, xua đuổi mùi nồng của hoá chất từ tiệm hớt tóc thường trực bủa vây.

2.Lên thiên đường hay xuống địa ngục. Điều ấy chẳng có nghĩa lý gì để mang ra hù dọa kẻ còn sống. Chết, trước tiên đó là một sự thiệt thòi. Khiếm diện, mất dấu và những người thân quen đón nhận sự bất thường khi ý thức rằng mỗi ngày họ hao hụt mãi những liên hệ quanh mình, thưa vắng dần mọi giây mơ rễ má. Ông Bảy đứng cúi đầu trước chân dung người bạn, ngoại cảnh ủ dột không cướp đi được cái ý nghĩ mà ông vừa suy tưởng. Ông như đứng dưới một cây phong vào cuối mùa Thu. Lá vàng vốn ít, giờ chỉ còn lưa thưa trên cành một hai chiếc đong đưa như tay vẫy gọi. Ông Bảy nhìn tấm ảnh chụp ăn gian, đóng khung gương mặt kẻ trung niên đầy khắc khổ. Gương mặt ấy như nói thầm, moa vốn không mấy vui từ hồi còn sung, giờ này moa đi và moa hài lòng được ngồi trên chuyến tàu suốt. Trong gia đình, con cháu tề tựu đông đủ. Họ chẳng lộ vẻ đau đớn. Nói hạnh phúc thì dường như hơi hàm oan, nhưng họ toại nguyện vì người nằm trong áo quan đã lên đường với tất cả sự êm thắm. Ông ăn cơm chiều xong, ông tháo răng giả ngâm vào ly nước, ông tắm táp, ông thay bộ đồ ngủ sạch sẽ, ông xem DVD cuốn phim “Xuân, Hạ, Thu, Đông… và Xuân” của Nam Hàn và trên chiếc ghế nệm ấm áp ông đã làm một giấc thiên thu. Nhiều người khi nghe kể lại đã ước ao, đến phiên mình, trời gọi cũng xin chắp tay đi hầu ngài với cái cách thức “yên hàn vô sự” ấy. Đừng vật vã đau đớn, đừng dây dưa lâu dài với cuộc đời mà mình luôn bất bình này. Rũ bỏ nợ nần hệ lụy, dứt khoát phủi tay tan biến vào chốn khôn cùng. Đó là niềm kỳ vọng sau rốt của một kiếp người.

Ông Bảy thắp hương, ông hơi buồn vì nhìn quanh không phát hiện ra một gương mặt nào từng sinh hoạt ở hội cao niên. Họ chẳng đến phúng điếu như thể họ sợ hãi vong linh người vừa khuất mặt sẽ nắm tay họ ra đi cho có bạn đường. Ông Bảy nói đôi ba lời khuôn sáo cho phải phép với những người chít khăn tang rồi lặng lẽ rời khỏi nhà quàn. Ông sẽ chết và ai là người đứng ra lo hậu sự? Cái dấu hỏi đó đè nặng vào lòng ông Bảy, để rồi không toan tính, ông đón xe buýt và giật chuông xuống trạm dừng gần nhà người đàn bà tên Trúc.

Cửa mở không lâu sau hồi chuông đầu. Người đàn bà hiện ra với tất cả sự rạng rỡ nơi trang phục, nơi cách trang điểm, nơi mặt hoa da phấn. Dường như bà ấy sẽ đi ra ngoài, đi tới phường hoa đô hội chứ không đi thăm người chết. Sắc màu diêm dúa đó dành cho một cuộc tiệc tùng có hát karaoke. Màu đen, trắng, xám tuyệt không hiện hữu trên người Trúc. Một chút nước hoa phảng phất, nồng đậm tựa bùa mê thuốc lú.

Cửa đóng. Căn hộ dâng tràn sự tịch mịch thân thuộc. Lặng lờ tới độ nghe được cả tiếng đập từ hai trái tim.

– Em đi đâu?

– Không. Em linh cảm là anh sẽ đến. Em có nấu nồi cháo gà nhưng để khuya mới thưởng thức. Giờ thì anh uống trà hay cà phê?

Ông Bảy cởi giày. Ông rất ghét chuyện ấy. Đi thăm nhau mà chẳng khác phải dâng tấu bẩm báo oan ức với quan to. Công đường đã có quy cũ, cũng được đi, nhưng hà cớ gì thuê ấp ở tạm mà cũng chộn rộn bắt chước chuyện cong lưng cúi mình gỡ giây tháo giày? Đời là bể khổ! Phải vậy chăng? Đã biết khổ, sao không giải tỏa bớt đi những rắc rối kiểu này, hở em yêu dấu!

– Cà phê đau tim, trà thì mất ngủ. Anh không uống.

– Hôm nay ai đã làm cho anh buồn bực để đâm dỗi hờn?

– Sao em không tới thắp cho lũy một cây hương?

– Em có nỗi khổ tâm.

Người đàn bà quay lưng. Khổ tâm của ông Bảy là phải đối mặt với những câu hỏi: Vợ anh đâu? Anh có mấy đứa con? Chúng làm gì? Chúng ở đâu? Sao anh một mình bơ vơ ở xứ lạ? Ngàn lẻ một thứ cắc cớ. Vì vậy chưa bao giờ ông Bảy đặt ra những câu hỏi tựa thế cho bất kỳ một ai. Ông chỉ quan tâm tới hiện tiền, quá khứ là cánh cửa vừa đóng sập sau lưng. Mở nó ra làm gì? Nó bày biện cả một trời bất hạnh. Ông Bảy đi theo sau lưng người đàn bà. Đôi vớ ông mang như chẳng bám được vào nền gỗ. Ông không thấy thăng bằng. Nếu té, ông sẽ bổ nhào tới ôm lấy tấm lưng tròn trịa kia. Cái nịt vú, cái lưng quần, chia đều những ngấn thịt. Tựa hồ ai kia đã gói cột đòn bánh tét một cách vụng về. Tết sắp đến, ông Bảy nhớ là đã quá lâu ông chưa hề ăn lại thứ bánh nếp nhân thịt mỡ và đậu xanh đãi vỏ kia. Ông thích cắt từng lát mỏng, chiên trong chảo dầu. Để lửa nhỏ, riu riu, thong thả trở mặt, dục tốc bất đạt. Vàng ươm, dòn rụm. Chấm chút nước mắm ớt… Ông nuốt nước miếng.

– Hay anh uống bia?

– Ừ. Trời trở, làm đại một chai cho ấm người.

Người đàn bà mở tủ lạnh. Trong đó có vẻ trống trải, ngọn đèn nhỏ ẩn mình ở góc kẹt vì thế mà dường như sáng quắc. Đầu chỗ ông Bảy cũng vậy. Không mấy khi đèn đuốc tối tăm vì bị lu hủ thịt thà rau quả che choáng. Nó sáng, vì chủ nó độc thân. Chủ nó già, chủ nó chẳng thiết tha miếng ăn. Lai rai ba sợi cũng phải có bạn hiền. Mình ên nuốt hổng trôi.

Ông Bảy ngồi xuống ghế. Chiếc bàn ăn nhỏ, bồn rửa chén, lò điện rồi tới tủ lạnh. Ông thấy cánh cửa phòng ngủ mở rộng. Tờ lịch lớn treo trên vách in hình tài tử Trung quốc (hay Hồng-kông?) Thập diện mai phục hay Vô gian đạo? Cầm gươm hay nắm súng? Chiếc giường trải ra phẳng phiu, gối vun đầy chẳng có dấu tích người nằm để hằn xuống vết trủng. Khuê phòng hay lãnh cung?

– Khi nào đói thì cứ cho em biết. Cháo gà dễ ăn, chẳng nặng bụng.

Ông Bảy đón lấy chai bia. Ông vặn nắp và thấy không khó như ông nghĩ.

– “Khuya nay em cắt cổ con gà vàng, để chi mai nó gáy hai đàng biệt ly!”.

– Trời! Xịn quá ta. Anh Bảy cũng biết sáng tác thi phú nữa sao? Nghe mà rụng rời!

– Thi phú gì? Tối tác gì? Cái đó gọi là văn chương truyền khẩu. Tại em nấu cháo gà. Tại mới đó mà người kia đã lặng lẽ biệt ly.

Người đàn bà lộ vẻ buồn. Ngồi xuống ghế đối diện ông Bảy, tay chống cằm, nhìn mông lung. Tia mắt xa vắng, không thu nhận vật thể. Ngó là ngó rứa thôi. Giây phút yên lặng như mặc niệm trôi qua. Người đàn bà nói ơ hờ:

– Con gà nằm trong nồi kia là gà thả.

– Em bảo sao?

– Không phải gà công nghiệp hằng hà sa số lúc nhúc đứng chen vai thích cách trong chuồng.

– Gà đi bộ thong thả? Chắc thịt ngon hơn? Xưa kia, mình cũng có một thời được thả, giờ thì thịt thà bở rệt, nhão nhẹt, ngó mất ham. Mình cũng đang nằm trong nồi, đúng không? Hiểu ở một nghĩa nào đó.

– Ý anh muốn nói: Sống đây mà như chết rồi?

– Ừ. Buồn vô hậu phải không Trúc?

– Em không nghĩ vậy. Chắc tại anh vừa đi gặp mặt người chết, trong đầu còn đọng lại hình ảnh thê lương.

Ông Bảy uống hết chai bia. Có thể bà ấy nói đúng. Như mũi ông, đã yên vị chốn này rồi mà sao vẫn còn ngửi ra mùi khói hương? Trầm uất và tử khí. Lý ra phải hít được thịt da nồng nàn của chị gà mái đang trầm mình trong những hạt gạo mềm nhừ. Lý ra phải say hương hoa nhẹ toả từ cơ thể người nấu cháo gà kia.

– Đó là cái tâm lý bình thường, như em từng gặp phải hôm đưa đám anh Lắm. Em đã rầu đời, hiu hắt cả tuần lễ sau đó.

– Lắm? Tay đó ra sao mà trong mọi câu chuyện em thường để gã chen vào?

– Đó là người có cảm tình sâu đậm với em. Những đứa con của ảnh cũng đồng tình xúi dục: Ba hãy đến với dì Trúc cho đời có chút màu hồng. Lắm, là người đàn ông từng mang lại cho em ít nhiều thi vị, dìu em bước ra khỏi niềm cô quạnh luôn vây bọc. Lắm, anh ấy từng ngồi trên cái ghế mà anh đang ngồi. Cái tên cũng lạ. Nhiều lắm, khổ lắm, sướng lắm, chán lắm, vui lắm. Anh thấy không? Đói lắm, no lắm, mệt lắm. Gì cũng lắm!

– Anh có điểm nào giống Lắm không?

– Lần đầu nhìn thấy anh ở hội cao niên em đã thót tim. Mái tóc, vầng trán, cái sống mũi… Em nhủ thầm, trời đất ơi, có phải hoàng thiên đã rộng lòng làm luật bù trừ cho em. Một kẻ ra đi không lâu liền có người khác hiện hữu, lò dò dẫn xác tới.

– Cho anh thêm chai bia.

– Không. Anh không có quyền uống nhiều như thế. Em ghét người say.

– Anh vốn đang say. Những người từng sinh hoạt đằng hội cao niên nói chùng vụng rằng chính em góp phần mang tới cái chết cho ông hội trưởng Lắm.

– Anh tin không?

– Chuyện ruồi bu. Hơi đâu anh phải để ý tới ba cái vớ vẩn nọ?

– Em có nốt ruồi mọc ở chỗ kín. Sách vở của thuật bói toán phán rằng, nếu qúy bà nào được vậy thì sanh con toàn cả qúy tử, gia đạo an vui, chồng mê mệt không cách gì ham của lạ, tơ tưởng chuyện mèo mỡ gà đồng. Kết quả là gì? Một con số không. Láo, đặt điều cả!

– Chắc là tay Lắm từng nhìn rõ hạt nốt ruồi vô giá kia?

– Thấy chưa? Em chúa ghét người say. Bia đang nói, có phải không?

Ông Bảy nhìn vào phòng ngủ. Ông ngó tấm lịch.

– Chắc là em biết Lý Tiểu Long? Cái chết của Bruce Lee mờ ám tới độ có dạo báo chí Hồng kông ngờ rằng ổng bị thượng mã phong.

– Thượng mã phong là sao? Gió trên lưng ngựa? Hề hấn gì với kẻ từng tu luyện kung-fu?

– Nói gì thì nói, anh vẫn thấy đó là cái chết đẹp đẽ nhất. Người quân tử chê bai, đồ hạng phàm phu tục tử phơi thây trên bụng đàn bà. Nhạc sến thì hát hỏng, đi không trọn đường tình. Chết ở cái thời điểm không nên chết.

– Đúng quá chứ còn gì nữa. Xin anh hãy nghĩ tới kẻ bên dưới một chút. Họ sẽ đau đớn và sợ hãi biết dường nào khi mở mắt chứng kiến kẻ yêu mình đang tắt thở. Mới năng nổ lao động đó, mới loay hoay như gà mắc đẻ đó, vậy mà biến đổi ngay thành một tử thi, da thịt lạnh lẽo. Khiếp!

– Anh không hớt tóc húi cua. Anh nuôi tóc, dù đã bạc đầu.

– Chi vậy?

– Để cho em dễ nắm, em sẽ giật rụng hai bên mai và khi đó hồn anh không thể du địa phủ. Ba hồn chín viá sẽ lộn lui làm anh lai tỉnh. Người ơi, tui vẫn đi trọn đường tình.

– Dịch vật. Già không nên nết!

Người đàn bà phán. Và ông Bảy phải hiểu ra “không nên nết” là một đức tính đáng tưởng thưởng, cần tuyên dương. Người ta chẳng thể sống mãi được với những điều răn. Đạo đức sẽ làm họ biến dạng thành một con gà nuốt giây thun. Viện cớ nhức đầu vì bia, ông Bảy xin được ngã tấm lưng xuống tấm nệm gợi mời kia.

A. Ông sẽ thiếp một giấc ngon.

B. Ông sẽ thao láo con mắt nằm đợi một điều gì đó tới trong len lén, ngần ngại, rụt rè.

C. Ông sẽ vùng dậy đòi ăn cháo gà rồi mặc áo mão mang hia xăm xăm trở về chỗ thường trú trong đêm vắng.

Trong ba giả thiết, điều B có vẻ gần gũi với sự thật.

Không mấy lâu, ông nghe được bước chân đi lại gần. Ngọn đèn vàng ngoài bếp thu hẹp dần nguồn sáng bởi cánh cửa vừa nhẹ khép. Chẳng đóng kín, vì bóng tối sẽ làm người ta vấp ngã, sẽ làm khó đôi mắt. Nhờ nhợ, đủ để ông Bảy nhìn ra cốc nước óc ách, sóng sánh, xô động trong tay cầm của người đàn bà.

– Uống cái này đi.

– Anh đã nốc hết chai bia. Chưa giải thủy, sao lại bắt dộng thêm thứ này vào?

Hai tay đều bận bịu. Lòng bàn tay trái mở ra, chìa tới cho ông Bảy thấy một viên thuốc.

– Đừng nói nhiều. Ngồi dậy. Nghe lời em đi.

– Để anh nhớ lại, bao lâu rồi anh mới hưởng được phút giây sung sướng này. Săn sóc, thăm hỏi, ân cần, quan hoài tới cái mạng già này. Đó là những thứ đã li dị anh gần nửa đời người.

Không lấy thuốc vội, ông Bảy vuốt ve bàn tay người đàn bà. Da ở đó chưa nhăn nhàu, còn tươi mát; nhưng với kiến thức căn bản, người đàn ông tên Bảy hiểu Trúc đã qua thời kỳ mãn kinh. Có nghĩa là dẫu ở chỗ kín mọc lên hàng trăm nốt ruồi quý tướng Trúc cũng không thể đẻ đái ra hoàng tử công chúa. Cái giếng nước mát ngọt kia đã bốc hơi, đã khô ráo. Nhắm mắt ném xuống một đồng tiền với lời khẩn cầu trong thành tâm cũng hun hút chẳng nghe tiếng hồi âm vọng dội.

– Thuốc gì đây hả em?

Nghe hỏi, bàn tay chợt nắm lại, giữ chặt lấy viên thuốc.

– Sao bảo là nhức đầu? Thực ra thì anh muốn uống thứ gì?

– Anh không biết gọi tên. Thứ mà anh Lắm uống mỗi khi gần em.

– Đồ dê chúa. Sức mọn đừng vác nặng. Đã nghe câu tục ngữ ấy chưa?

– Câu đó dài sao em nỡ cắt ra phân nửa. Phần sau là: Lời nhẹ chớ khuyên người! Anh là đầu con vịt, em chớ hoài công đổ nước lên, chẳng thấm đâu.

– Cầm ly nước đi, ông thánh. Để em đi lấy thuốc hầu ngài.

Ông Bảy đặt ly nước trên table de nuit. Rũ mền phủ đắp toàn thân, trăn trở vặn vẹo cho xương cốt được thư giãn. Tấm nệm dưới lưng reo vui nhún nhảy, có vẻ hớn hở. Đằng chỗ ông Bảy thì khác. Nệm cứng, mua garage sale và hầu như nó luôn thù tiếp ông bằng sự lạnh lẽo cố hữu. Tự thân nó, xông lên thứ mùi khó giải thích chứ chẳng được thơm tho tinh khiết như ở đây. Nói chung, những thứ có mặt trong ấp này đều đáng yêu cả. Sự cố này người Việt gọi là hàng độc, siêu xịn, đồ hiệu, khó đụng hàng, rất ấn tượng ở đời thường.

– Hên cho anh, chỉ sót lại đúng một viên.

….

– Sao không chiêu một ngụm nước. Ăn tươi nuốt sống vậy sao?

– Uống nước sẽ làm loãng thuốc đi.

– Kỳ cục!

– Nằm xuống đây bồ tèo, trong mền ấm lắm.

– Ai lại không biết điều đó. Trong chăn có rận không?

– Hình như có. Anh ngứa ngáy lắm.

– Để em đi kiểm tra cửa nẻo bếp núc điện nước lần cuối.

Ông Bảy nghe tiếng lục đục phát ra từ phòng vệ sinh. Tiếng nước chảy, tiếng dội cầu. Robinet mở, vòi nước khoá kẻo kẹt. Đèn đóm tắt ngúm. Cuối cùng là mùi thơm, như hoa dạ lý nở bông thật gần.

– Đã nghe rục rịch gì chưa?

– Mau vậy sao?

– Để em đốt một cây hương.

– Chi vậy? Tưởng niệm anh Lắm à?

– Đừng ăn mắm ăn muối nói quàng nói xiên. Để đo thời khắc. Sau này lỡ có truyền đạt kinh nghiệm cho ai thì anh có chứng cớ. Ừ, hương cháy đâu khoảng một phần ba thì tui biến thành cha già dịch ngay.

– Trúc à, sao anh thấy em nói câu nào ra cũng mặn mà đáng yêu hết á. Láo chết.

– Mà ít ra thì anh cũng nên vận động trí óc một phần, chớ có ỉ lại giao mạng cho thuốc thang.

– Phát huy sáng kiến nữa sao?

– Hãy nghĩ tới một cái gì đó. Cái mà anh thiếu thốn đã lâu, cái mà anh thèm khát.

– Lỡ anh là bợm nhậu, trí óc anh hiện ra một két bia thì hỏng việc.

– Lúc nào cũng cắc cớ. Không chừng về khoản này anh dám thua kém anh Lắm.

– Được lắm. Đàn ông rất dễ tự ái. Em cứ chọc giận thì anh sẽ sung ngay.

– Hy vọng thế. Sung chớ đừng nổi sùng. Em chúa ghét hạng đàn ông cộc cằn lỗ mãng.

– Mình biết tánh tình nhau quá mà. Nằm xuống đây đi Trúc, thứ cây biểu tượng cho người quân tử, để anh chỉ cho em xem cái vật tượng trưng hạng tiểu nhân.

Đêm đó, ông Bảy ăn hết hai bát cháo gà. Uống hết hai chai Bud ướp lạnh. Người ông nóng, và lạ lùng thay ông đủ sức dắt bà Trúc đi qua hai lần cửa, cảnh giới ở đó thật khác thường, lung linh rạng ngời, làm người ta phải nhắm mắt lại mà rên xiết trong sướng sung. Nửa đêm về sáng, ông Bảy đi đái với đôi chân run. Ông rảy cho khô vòi nước mềm oặc và ông nói với cái mặt già đọng trong gương soi: Ủa, mày chưa chết sao?

3.
Trung tâm thẩm-mỹ-hớt-sấy-gội-nhuộm-chuyên-trị-làm-nail ngày mỗi phát đạt. Láng giềng nó là tiệm bán bánh-mì-thịt-nguội-nem-giò-chả-đủ-loại-chè vì thế cũng đông bạn hàng, người vào kẻ ra ăn tại chỗ hoặc gói mang về. Khó kiểm tra lượng khách ở tiệm bán bánh mì, nhưng chỗ hớt tóc thì dễ nhìn thấy qua chứng tích để lại trên nền gạch hoa. Tóc vụn quét tém vào góc, cao một cách khó chịu, ngứa ngáy mắt nhìn. Khách vào tiệm đa phần là đàn bà con gái, dung nhan có điều gì tiềm ẩn làm bạn phải hoài nghi chuyện thật giả. Nếu bạn là phóng viên cho một tờ báo lá cải rẻ tiền, bạn chịu khó căng lỗ tai ngồi đấy khoảng một giờ, màng nhĩ bạn đầy ắp những lượng thông tin rùng rợn, chuyện dài của khúc ruột ngàn dặm. Trong tiệm có đặt mua hai tờ tuần báo, tiếng nói địa phương, cho khách khứa đọc lai rai khi ngồi chờ tới phiên. Tiếc thay, cả hai đều là báo chợ, quảng cáo chiếm hai phần ba số trang, cầm bẩn cả tay. Nếu bạn khó tính, bạn sẽ đánh giá thấp những kẻ mó tới món ăn tinh thần nọ. Nếu bạn dễ dãi, đợi hớt tóc ngoáy tai lấy ráy, buồn tay vớ nó lên xem thì mắt bạn sẽ vấp phải Kết bạn bốn phương, hỏi đáp chuyện trở ngại phòng the, tử vi trọn tuần, tin về tài tử điện ảnh, truyện ma và túi bụi lùng bùng chuyện dài hình sự ở quê nhà. Gái điếm, thôn nữ đăng ký lấy chồng ngoại bất kể tật nguyền bệnh tật. Ma túy, thuốc lắc. Con đâm cha, mẹ đổ cường toan vào mặt con. Bố ghen tuông đốt lửa người tình. Dâu ngủ với cha chồng, đồng sàng đồng mộng… Nhân danh Cha, thánh thần… Amen. Hết thuốc chữa! Nhức đầu choáng váng thì chỉ còn biết đọc các ô quảng cáo bán nhà bán xe cần người giữ trẻ sang gấp cửa tiệm… Có hàng chữ nhắn tin đăng ở góc khiêm nhường: ” Tìm cô Nguyễn thị Hoa Lài, con ông Nguyễn văn Bảy. Trước 75 sang Pháp du học. Nay ở đâu xin liên lạc gấp để biết tin cha đang đau nặng. Quý vị đồng hương ai hay biết cô Lài xin viết thư hoặc điện thoại mách bảo cho bà Trúc. Số sau đây… Thành thật cám ơn.”

Bà Trúc nào vậy cà? Thắc mắc hả? Thử hỏi bà chủ tiệm một phen. Đấy, bà nhuộm tóc đỏ mặc quần bò ấy. Quần bò là quần gì? Cái ông này. Đồ dở hơi! Ba mươi giây sau, bà chủ xẹt tới. Jeans Versace bó lấy cái mông luôn khiêu khích vật vã mỗi khi uốn lượn đi kiểu mình xà: Bà Trúc trước đây thường đến sinh hoạt với hội cao niên. Thực sự thì bà còn trẻ, nhăm hai tuổi là cùng. Em biết bà ấy vì cùng gặp ở chỗ giải phẩu sắc đẹp. Nghe giang hồ đồn, ông nào ăn nằm chung đụng với bà ta đều chung số phận từ chết tới bị thương. Hội cao niên thì giải tán rồi, nhường chỗ cho tiệm bán bánh mì thịt nguội. Buôn bán phải hỗ tương cho nhau, trước đây kề cận toàn ông già bà cả chán bỏ mẹ, chẳng thu hoạch được gì! Thôi, giả tiền cho em đi chứ. Vừa hớt vừa sấy tổng cộng hai mươi nhăm đô. Khẩn trương lên!

Khách đi ra. Bất ngờ trời giáng cho trận mưa rầm rộ. Nghe ngói, dầm dề. Chưa chiều mà màu sắc u ám trông nẫu cả người. Ở Canada, thống kê rõ ràng là cứ đến mùa này số tử vong tăng lên rất cao. Cho hay đất trời và thời tiết ngoại cảnh ảnh hưởng lớn lao đến số phận một kiếp người.

Ông Bảy nhập viện đúng mười ngày. Ổng nằm hấp hối trên giường bệnh đã hai hôm. Trúc không vào thăm đã bốn tám tiếng đồng hồ, lâu thật lâu có bà y tá dáng dấp đẫy đà chậm chạp vén màn nghiêng đầu vào ngó chừng. Không nhìn mặt ông, chỉ trông lên những con số xanh đỏ hiện ra trên máy nhiều dây nhợ chằng chịt. Tấm màn vải rung động và bà y tá biến mất như một con ma. Yên ả tựa một nhà mồ. Nếu chết, ông Bảy chẳng có điều gì trối trăn, gửi lại nhân gian. Nếu Trúc vào, ông sẽ thì thầm bên tai Trúc: Ở đây vắng vẻ không ai, anh ước nguyện chỉ một điều, vạch quần xuống chỉ cho anh trông rõ hạt nốt ruồi quý báu của em. Anh sẽ cất giữ hình ảnh đó ở võng mô, mắt anh sẽ nhắm và trước khi qua cầu húp cháo lú anh sẽ hét thật to ở bến sông Mê: Anh yêu em.

Mưa mãi không tạnh. Khi taxi đổ bà Trúc xuống trước thềm bệnh viện trung ương Montréal, ngước mặt dòm trời, tuyết mỏng bay vần vũ lạnh căm. Trắng toát.

Hồ Đình Nghiêm

Thủy thủ về nhà

vanchuongviet.com

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 4 Jul 2026

Sửa soạn cho bữa ăn sáng, Trúc Thanh chiên trứng, còn tôi dọn bơ, bánh mì, phó mát và đồ dùng ra bàn. Trời im gió, khí trời man mát lạnh, sự yên lặng làm cảnh quang khép kín và có phần u uẩn. Chợt con gà nhà hàng xóm kêu lên cục tác, cục tác rân trời, làm cho con Kuma, tên con chó, cũng hùa theo sủa vang. Đang yên ắng bỗng trở nên ồn ào tiếng gà và tiếng chó. Một lát sau gà hết cục tác và chó cũng im miệng, tất cả trở lại bình yên. Tôi nói với Trúc Thanh:

– Gà hàng xóm đẻ rồi, thế nào mình cũng có trứng ăn.

Trúc Thanh day ngang hỏi:

– Sao papa biết gà hàng xóm đẻ?

Tôi thay câu trả lời bằng câu thành ngữ:

– Gà đẻ gà cục tác, ác đẻ ác la.

– Câu này tui có nghe nhưng hổng biết nghĩa là gì?

– Nghĩa là một người muốn giấu việc gì đó rồi tự hô hoán lên để hòng che giấu, khiến cho người ta nghi ngờ, hoặc vô tình lộ ra, khiến mọi người biết được.

– Con gà thì ai cũng biết, còn con ác là con gì?

– Là con chim ác-là, một trong những loài chim giòng họ với chích choè, có lông mình màu đen, dưới ức thì màu trắng.

– Ờ, tên nghe ngộ quá hén.

Hôm nay ngày chủ Nhựt đầu tháng chín. Thường những ngày nghỉ chúng tôi ăn sáng trễ. Sau buổi ăn sáng và dọn dẹp đồ dùng vô máy rửa xong. Trúc Thanh đi lại góc nhà lấy bọc đồ ăn của chó, đi qua trút vô thau cho Kuma ăn rồi tới nằm trên sa lon bên phòng khách, mở truyền hình xem tin tức ở Việt Nam. Còn tôi thì rót thêm tách cà phê, bưng lại ngồi bên chiếc bàn ăn. Để tránh tiếng động của truyền hình, tôi lấy tai nghe nhét vào hai lỗ tai, mở laptop vừa nhâm nhi cà phê vừa rà đọc trên một website văn chương của Việt Nam. Cô-vít hoành hành hơn một năm qua, ở Việt Nam xuất hiện nhiều nhà thơ quá, cho nên Cô-vít đã nhiễm vào thơ ca cũng bộn: “Sài gòn mệt lắm rồi phải không anh? Đã nằm nghỉ bao ngày chưa đứng dậy, hạ đã qua thu về rồi đấy, phố vắng không còn nghe tiếng chân qua…”*. Đọc chưa hết bài thơ mà lòng nghe trống vắng. Chợt Trúc Thanh cao giọng hô lớn:

– Chời ôi, buồn chán quá đi!

Tôi nhìn qua thấy vợ đang uốn mình, vươn vai có vẻ chán chường, mệt mỏi thiệt. Con Kuma nằm bên dưới sa lon, cũng chỏ mõm lên trần nhà, mắt mở to ngơ ngác. Tôi tháo tai nghe ra để lên bàn và day qua nhìn lên màn ảnh truyền hình, thấy đang chiếu một clip cảnh dân chúng thiếu ăn, kéo tới nhà tổ trưởng trong một khu dân phố chửi bới om sòm trời đất, tôi đưa mắt ngó vợ và trầm ngâm. Từ lâu rồi mỗi khi ngoại cảnh có chuyện thì tôi hay xoay tâm thức nhìn lại bên trong mình để xem cái cảm giác nó ra làm sao? Tôi hít thở một vài hơi, khi tâm tư lắng đọng, mới nhận ra trong lòng mình cũng có chút bồn chồn và buồn chán. Thường thì những cảm xúc nội tâm vui, buồn, sướng, khổ gì tôi luôn nhìn nó một cách bình thản và chấp nhận xem đó như một phần của sự sống.

Sự buồn chán làm cho giấc ngủ có vấn đề rồi sanh tật thức đêm hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, ăn vặt hoặc bị u ám và trầm cảm. Nhiều người hung hăng, lợi dụng dịch bệnh, ngoài đời thì gian trá, còn lên mạng thì lừa gạt người ta. Từ ngày dịch Covid 19 xuất hiện cho tới nay, truyền thông xã hội cung cấp những thông tin rất linh hoạt, tất cả đều giúp con người chống lại sự nhàm chán. Những học giả và những nhà chuyên môn đã dạy cho chúng ta nhiều bài học quí giá để vượt qua khoảng thời gian buồn tẻ. Thiệt vậy, nguy hiểm vô cùng! Điều này cũng quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, bởi vì nếu nhiều người cảm thấy buồn chán, sẽ có nguy cơ là họ sẽ ít tuân thủ các biện pháp đứng đắn chống dịch của các chuyên gia đưa ra. Tôi day ngang hỏi Trúc Thanh:

– Bà xã biết sự buồn chán từ đâu ra không?

Tiếng ồn của truyền hình át câu hỏi của tôi, Trúc Thanh cầm đồ bấm lên, bấm giảm bớt tiếng ồn và kêu tôi lặp lại câu hỏi. Nghe tôi nói xong, Thanh trầm ngân một chút rồi nói:

– Có nhiều nhà chuyên môn đã cân nhắc câu hỏi này và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng thực tế thì chỉ có hai loại chán nản mà người trong cuộc mới hiểu được.

Tính ra bao năm qua vợ chồng sống với nhau cũng có thể gọi là thuận thảo. Nhưng hơn một năm qua, từ ngày đại dịch hoành hành, trong nhà ít nghe tiếng cười. Mỗi khi tôi hỏi chuyện, Thanh chỉ trả lời ngắn gọn, nhiều khi cộc lốc. làm cho không khí gia đình có hơi ảm đạm. Hôm nay thấy vợ có ý nói, nên tôi mới mồi thêm:

– Nói tiếp đi.

– Ví dụ như một người bị kích động sanh ra buồn chán và một người bị bắt buộc phải làm một chuyện gì ngoài ý muốn cũng sanh ra buồn chán. Tuy hai trường hợp khác nhau nhưng sự buồn chán thì giống nhau, tức là ở trong trạng thái chối bỏ, đâm ra phản ứng bồn chồn và cáu kỉnh trước một tâm trạng không thú vị gì hết, còn bị nặng hay nhẹ thì tùy nhận thức của mỗi người.

Tôi hơi ngạc nhiên nhìn qua vợ, hổng biết hôm nay cô ăn trúng thứ gì mà dài dòng triết lý. Tôi nhìn Trúc Thanh tươi cười và nói: 

– Có lẽ nhờ Cô-vít mà mama phân tích sự buồn chán một cách rành mạch. Thật vậy, sự chán nản làm người ta thờ ơ, hổng phải thờ ơ với người ngoài mà còn thờ ơ với chính mình, trong trường hợp  này, người có một mức độ kích thích thấp mới  hổng cảm thấy mệt mỏi.

– Vậy tui nói trúng rồi.

Thành thật mà nói, lúc ban đầu, từ khi đại dịch xuất hiện, tôi nghĩ  thế giới này có vô số virus độc hại chết người và trong một thế giới đầy hỗn loạn; chiến tranh, khủng bố, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, bão lụt, cháy rừng, thứ nào cũng giết chết rất nhiều người chớ hổng riêng gì viruscorona. Nhưng mặt khác, thiên nhiên cũng có ưu đãi cho ta sông, suối, núi đồi và nhiều cuộc chơi, giải trí lành mạnh. Cho nên tôi thờ ơ và ít quan tâm đến chuyện hiểm nguy của viruscorona. Tôi nói:

– Mama nói trúng một trăm phần trăm! Nhưng sự buồn chán trong tui còn rất thấp, nó hổng đủ kích thích đưa đến sự mệt mỏi, mất ngủ, chán chường rồi than vắn thở dài.

– Có thể papa thấy mọi thứ là vô nghĩa nên hổng quan tâm.

– Ồ, đây cũng là một vấn đề, theo ý tui thì ngược lại, buồn chán là hậu quả của việc làm không ý nghĩa. Nhưng nó cũng cho ta thấy mọi thứ đều có ý nghĩa,  cũng nhờ nó mà con người ta hướng thiện, muốn sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn và luôn luôn kiếm tìm làm việc gì đó có ích cho đời, cho người. Nói chung muốn hết buồn chán, chúng ta phải tham gia vào những sinh hoạt tích cực, đừng để những chuyện tiêu cực tác động thì thâm tâm mình sẽ được yên ổn thôi.

– Ờ, nhưng quan trọng là phải làm như thế nào?

– Hổng nên quá quy tắc phải làm theo cách của người này, người nọ mà do trực giác và sự trải nghiệm của chính mình, bằng cả tấm lòng và những mối quan hệ là biết chia cơm, sẻ áo cho những người cùng khổ.

– Chuyện này mình cũng  có làm nhưng sao vẫn thấy chán nản và bất an?

– Có lẽ tại mình làm chưa đủ.

– Bao nhiêu mới đủ?

Tôi đổi giọng khôi hài, nói:

– Chuyện đủ thiếu ở đây là về mặt tinh thần, mình sống sao cho tốt với gia đình, láng giềng, bạn bè, đồng nghiệp thì sẽ mang lại cho mình cảm giác sâu sắc, tức là đầy đủ ý nghĩa cho cuộc sống. Khác hơn chuyện đong lúa, đong gạo đóng góp cho hội từ thiện vài ba tấn và chút ít tiền giúp đỡ người khó khăn trong mùa đại dịch, rồi ngồi bấm truyền hình lên xem mấy cái clips bên nhà, coi bà con có lãnh được gạo, nhận được tiền và mong ngóng coi dịch bệnh qua khỏi chưa.

Trúc Thanh xìu mặt, chau mày nói:

– Nãy giờ nói chuyện tui thấy mệt thêm, mình phải làm sao, chớ hổng lẽ ngồi một chỗ chịu trận, cho cái buồn chán nó lấn dần làm ngột ngạt, khó thở không khác nào bị nhiễm viruscorona.

– Tui thấy sự buồn chán nó lây sang người khác cũng hổng thua gì Cô-vít.

– Ừa, tui nghỉ còn hơn nữa, vì buồn chán nó lây qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình. Còn Cô-vít thì lây người qua người.

Trúc Thanh cười ra tiếng và nói tiếp:

– Vì vậy cho nên tui hổng dám chat hay gọi nói chuyện với bạn bè, luôn cả gia đình bên nhà cũng hổng dám gọi luôn.

Tôi cũng cười và nói:

– Từ ngày đại dịch cho tới nay tui mới thấy mama cười tươi.

Là một thủy thủ, thường đi đó, đi đây mà bị treo giò ở nhà mấy tháng trời, lâu rồi không còn có những cuộc hẹn với bạn bè lên hội quán và vào lúc lên đèn lang thang trong một thành phố lạ hay ngồi bên gành đá trên một bãi cát ở hải đảo xa xôi. Có lẽ vì sự ngăn cách giữa con người do dịch bệnh, sự thay đổi dường như đánh mất thói quen hàng ngày hoặc vì ở nhà lâu quá lòi ra một đống thời gian nhàn rỗi, công việc đã biến mất thì sự nhàm chán nó hiện ra. Biết vậy cho nên tôi tìm tòi, học hỏi để biết cách làm sao giảm bớt sự buồn chán. Tôi nói tiếp:

– Có lẽ tại ngày nào mama cũng ngồi xem và đọc tin tức trên báo mạng, nghe truyền thanh, xem truyền hình, nhứt là xem những videoclips ở Việt Nam, toàn chuyện tiêu cực làm tâm mama bất an rồi sanh ra buồn chán chớ gì?

– Có thể lắm! Sợ dịch hổng dám ra ngoài chơi, nằm nhà mở truyền hình theo dõi những chuyện ở bên kia trái đất, mà toàn là những chuyện xấu xa không. Tui chưa thấy trên thế giới có nước nào chống dịch bát nháo như ở nước Việt Nam. Cái ngữ này mà ngồi xem riết, hổng bị mắc dịch cũng bị bịnh trầm cảm rồi tiêu đời luôn.

– Cô-vít mới mẻ quá, nên nước nào cũng bát nháo chớ hổng riêng gì Việt Nam. Nhưng dịch qua mau hay chậm còn tùy theo nhận thức của người dân và chánh quyền nước đó có đủ thông minh để điều hành chống dịch không nữa.

Tôi chờ xem phản ứng của vợ, nhưng Trúc Thanh hổng nói gì mà ngồi bật dậy, cầm đồ bấm lên, bấm tắt truyền hình rồi đứng lên đi vô bếp rót ra hai ly nước bưng lại để trước mặt tôi một ly. Thanh để ly nước của cô lên bàn và ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Với vẻ mặt buồn buồn, cô nói mà như kể chuyện:

– Papa nói cũng đúng, ngồi xem mấy cái videoclips cảnh chiếc xe gắn loa nặng watt chạy hô hào những khẩu hiệu chống dịch ầm ĩ trên các đường phố, thôn làng đề cao sự sáng suốt của chánh quyền, rồi đẻ ra một đống khẩu hiệu như là “Chống dịch như chống giặc, năm K, năm T, ba tại chỗ, một cung đường hai điểm đến…”.

– Oh! Nghe cũng kiêu lắm chớ.

– Kiêu gì mà kiêu, xem tin tức thì thấy ông thủ tướng cùng quốc hội họp hành lia chia rồi đưa ra hết chỉ thị này tới nghị quyết nọ, còn lịnh cho công an thành lập những chốt chống dịch chặn đá, giăng giây trong các đường phố và trên quốc lộ, để bắt đầu cho chuyện cấm chợ ngăn sông. Nhưng khi chỉ thị trung ương xuống địa phương thì quan quyền, công an, cảnh sát giao thông đẻ ra thêm cả đống chỉ thị khác, mỗi người mỗi cách hổng ai giống ai, làm cho cả nước xôn xao, bát nháo lên như thời loạn lạc. Chỉ thị của nhà nước đưa ra ai ở đâu thì ở đó, chuyện có nhà nước lo, hổng ai bị đói và hổng ai bị bỏ lại sau lưng. Vậy mà dân chúng trong thành phố ào ạt bỏ chạy, họ bồng bế nhau chạy trong sự sợ hãi, bất an, trên đường chạy tránh dịch có những đứa bé vài ba tháng tuổi được ba, má bồng theo dãi nắng, dầm sương, ăn bờ ngủ bụi giống y chang như cái thời chiến tranh, loạn lạc.

Tuy trong lòng tôi cũng thấy chán nản và khó chịu. Nhưng nhìn nét mặt buồn bã của vợ thấy mà thương, tôi dịu giọng nói với vợ mà cũng nói với chính mình:

– Tất cả do mình thôi em, mình làm mình mất tự tin, căng thẳng, buồn chán và cảm thấy hổng có gì chắc chắn hết.

– Chớ nhìn cảnh khắp nước nháo nhào loạn xị cả lên ai mà hổng thấy thương tâm. 

– Nhìn về mặt tiêu cực thì mama thấy vậy, còn nhìn qua mặt tích cực thì cũng có khác.

– Tui hổng thấy gì khác và cũng hông có gì là tích cực hết?

– Sao không! Những tổ chức Không Đồng, những mạnh thường quân, những người giàu tốt bụng, những nhà tu hành trong nước và những người nước ngoài, góp công, góp của lo cho những người nghèo khổ. Còn y tá, bác sĩ, nhà sư, ni cô, ông cha, bà phước ngày đêm chăm lo cho bệnh nhân và nhiều hội từ thiện lo chôn và đốt những người chết vì Cô-vít. Nếu hổng có những việc tích cực như vầy thì dân chúng trong vùng dịch sẽ ra sao?

– Ờ, papa nói cũng đúng, chuyện này mà để cho các cơ quan, công an và lính tráng của nhà nước lo thì dân Sài Gòn chết đói hết trơn.

– Cũng có thể, nhưng nói cho cùng thì chánh quyền Việt Nam cũng còn khá hơn chánh quyền Trung Cộng.

– Khá gì đâu?

– Mama hổng thấy sao, một xã hội dân sự đã được thành hình ở Việt Nam. Còn bên Tàu từ đầu mùa dịch cho tới giờ mình có thấy bóng dáng một hội từ thiện nào vô giúp đỡ dân họ đâu.

– Tại nhà nước Trung Cộng hổng cho người ngoài vô làm.

– Mama ngộ ra rồi phải không?

– Ờ, ngộ ra  lúc này thôi, tui nghĩ qua dịch rồi thì đâu cũng vô đó.

– Chuyện này thì tùy thuộc sự quyết tâm của dân Việt Nam mình thôi. Khôn thì nhờ, dại thì chịu!

– À, mà trước tới giờ làm chuyện gì mình cũng đồng lòng với nhau, nhưng từ khi dịch Vũ Hán xuất hiện tới nay, vợ chồng mình cứ như nước với lửa, mở miệng ra là bốc đồng, lớn tiếng.

– Đây hổng phải hiện tượng trầm cảm thì là gì.

Thúc Thanh rùng mình một cái:

– Ờ hén, papa nói đúng, ghê thiệt!

Mãi tới hôm nay tôi mới thấy vợ mình ngoan ngoãn, chăm chú lắng nghe, và nhìn ra sự thật. Tôi mỉm cười và nói với giọng nghiêm túc:

– Sao mama sao hổng nhìn lại bên trong mình, khám phá nguồn năng lượng tốt đẹp trong tâm, tui tin nó sẽ làm cho mama dễ chịu mà ngủ ngon.

Tôi chờ Trúc Thanh nói gì đó, nhưng cô chống tay lên gò má, hai mắt sáng ngời, vui tươi và nhìn tôi không chớp, cô ra chiều suy nghĩ nhưng không nói gì. Thấy vậy tôi nói tiếp:

– Coi như nhờ trận dịch này thử nghiệm quan hệ vợ chồng mình.

– Sống với nhau tới già rồi mà còn thử nghiệm sao?

– Cuộc sống này luôn luôn thay đổi, luôn luôn là cuộc thử nghiệm, mama hổng thấy sao. Cả năm qua dường như mình không cùng ở chung một tần số. Đã đến lúc vợ, chồng mình điều chỉnh băng tần lại được rồi. 

Gương mặt Thanh trở nên rạn rỡ và giọng nói nhỏ nhẹ hơn:

–  Nhưng điều chỉnh bằng cách nào và bắt đầu từ đâu?

– Ngay bây giờ!

Tôi đưa mắt nhìn ra vườn nhà sau, hổng biết từ lúc nào mà trời mưa lâm râm. Day nhìn xuống laptop, tiện tay rà chuột bấm xem trang thời tiết, thấy thông báo, chiều nay trời gió nhẹ, hổng có mưa nhưng nắng đẹp và nhiệt độ lên tới hai mươi sáu độ C. Tôi ngước lên, chỉ tay ra vườn nhà nói:

– Mama nhìn kìa, vườn sau nhà hôm nay bông nở nhiều và đẹp lắm nhưng vì lâu ngày hổng chăm sóc nên hoa lá nó lộn xộn hết trơn.

Trúc Thanh đứng dậy bước ra đứng bên cửa kiếng, mặt ngó ra ngoài nhìn mưa, mưa trong ánh, trời không gió nên mưa thẳng giọt. Tôi bấm tắt laptop đứng lên đi lại bên vợ. Thanh day ngang vịn tay lên vai tôi và nói:

– Coi dàn bầu kìa, nó bò qua tới bên kia mái nhà kho rồi.

Nhìn những trái bầu trái cở ngón tay cái bị vàng và vài trái lớn cở cườm tay treo lủng lẳng dưới dàn tôi nói:

– Trái ra cũng nhiều, nhưng hổng biết đậu được bao nhiêu?

– Ờ, bị vàng cũng nhiều.

Tôi đưa tay mở cửa, đội mưa bước đi ra nhà kho, moi trong góc nhà lấy ra cái ghế dài, chiếc chiếu nylon và cây dù lớn mà tôi đã xếp cất từ mùa hè năm ngoái, ôm mấy thứ vô để giữa nhà. Thanh ngạc nhiên hỏi:

– Papa lấy mấy cái này vô làm gì vậy?

– Lát trưa mình đi ra bãi cát nằm chơi.

– Trời mưa mà?

– Chút xíu nữa hết mưa và trưa nay nắng đẹp lắm. Mama lên soạn đồ rồi xuống làm bánh mì, bỏ theo mấy chai nước, nhớ lấy khăn và quần cụt cho tui và mama cũng đem theo đồ tắm, có thể lội xuống nước được đó.

Trúc Thanh nghe đi biển thì mừng húm:

– Ờ, ờ được đó lâu lắm rồi mình chưa đi biển.

Nói xong cô liền đi lên phòng soạn đồ. Ngó ra ngoài, trời vẫn còn mưa, tôi đi lại chỗ để đồ đạc của con chó, lấy chiếc lược rồi đi ra khoảng trống giữa nhà, ngoắt con Kuma lại, nó liền chạy lại liếm liếm chân, tôi ngồi xuống vừa chải bộ lông trắng mượt vừa nói:

– Trưa nay con theo papa, mama ra bãi cát chơi thì phải chải chuốt lại cho đẹp trai mới được.

Có lẽ con chó hiểu được những gì tôi nói nên trong họng nó ư ử và ngoan ngoản nằm xuống. Đương chải lông cho Kuma, Trúc Thanh cầm hai bộ đồ từ nhà trên đi xuống, hỏi:

– Papa coi tui bận đồ nào được?

– Xuống biển đổi không khí một buổi thôi mà, mama bận cái nào cũng được, miễn sao cho thoải mái là ô kê.- Nãy giờ lựa hoài mà hổng biết bận cái nào.

– Vậy thì khỏi bận cái nào hết, mình đi xuống bãi trần, truồng cho khỏi mất công chọn lựa.

– Cái ông này, già rồi mà ăn nói bậy bạ không à!

Thanh mắn tôi một cái rồi bỏ lên nhà trên. Tôi tiếp tục chải lông cho Kuma, từ ngày bị dịch Cô-vít tới nay, sợ nhiễm bịnh, chúng tôi hổng cho mấy đứa con về nhà, nhờ có Kuma trong nhà mới có chút rộn ràng và sáng ra đường dẫn nó theo cũng thấy vui, nếu hông có nó vợ chồng ở nhà buồn hiu. Chải lông cho Kuma xong thì trời đã tạnh mưa rồi. Tôi vuốt vuốt lên lưng con Kuma, nói với nó:

– Đẹp trai rồi.

Kuma day lại liếm liếm vào tay tôi. Tôi đứng lên dẹp cái lược rồi đi lại ôm cái ghế, cây dù và chiếc chiếu đen ra để xuống bãi đậu xe. Vừa mở cốp xe định để đồ vô thì thấy ông hàng xóm, thật ra thì bà chớ hổng phải ông, cách một cái nhà có hai người phụ nữ đồng tình luyến ái sống chung nhau, nhưng bà này tướng tá mạnh mẽ giống đàn ông, bà cũng tự nhận là đàng ông, nên tôi gọi là ông. Ông cũng mang lỉnh kỉnh đồ đạc ra để lên sau chiếc xe du lịch. Tôi chào buổi sáng, ông chào lại và nhìn cái mớ đồ tôi để dưới đất, ông hỏi:

– Đi nghỉ hè hả?

Tôi đưa tay ra khoát khoát độ chừng, nói:

– Đi ra con đê Lelystad nằm chơi. Còn ông?

– Xuống miền Nam chơi một hai ngày thôi.

– Miền Nam tháng trước bị nước ngập, hổng biết giờ ra sao?

– Nước đã vựt xuống và mọi sinh hoạt bình thường lại rồi.

– Vậy à.

Ông hỏi:

– Vợ ông có ở nhà không?

– Có.

– Tụi tui đi nghỉ hè, muốn nhờ vợ ông giúp chút chuyện.

– Ông muốn bà xã tui giúp gì thì vô nhà hỏi bả đi.

Nói xong hai người mạnh ai nấy lo việc của mình. Tôi bỏ đồ vô cốp xe. Trúc Thanh trong nhà đi ra hỏi:

– Có dẫn Kuma theo không?

– Có chớ.

– À, xong rồi papa đi mua một cây bánh mì.

– Sao hổng ăn bánh mì lát với phó mát cho gọn.

– Tui còn xá xíu với đồ chua, ăn bánh mì cây mới hợp, papa nhớ mua bánh mì loại ổ nhỏ của Pháp mới dòn.

– Yes. Madam!

Ông hàng xóm đang bỏ đồ đạc lên xe, thấy Trúc Thanh day lưng đi vô nhà, ông chạy theo chận lại và hỏi gì đó. Tôi cũng hổng tò mò hóng chuyện làm gì, bèn đi ra phía trước mở nắp thăm nước xe và thăm nhớt máy. Khi tôi vô nhà hổng thấy Trúc Thanh đâu, đoán biết cô ta qua nhà bên coi ông hàng xóm nhờ làm gì đó. Tôi lấy dây dẫn và kêu Kuma lại đưa cổ cho tôi trồng dây vô rồi dẫn đi ra cửa. Vừa tới cửa thì gặp Trúc Thanh bưng cái vỉ có mấy trứng gà, cô đi vào. Miệng cười toe toét, vui vẻ nói:

– Chờ tui để trứng vô nhà rồi đi theo với.

Tôi với Kuma đi ra đường trước nhà đứng chờ. Không lâu sau Trúc Thanh trở ra đi cùng. Chúng tôi đi trên con đường hai bên là thảm cỏ xanh mượt. Tôi cúi xuống tháo dây cho con Kuma rồi đứng lên cười ha ha và nói với Trúc Thanh:

– Hồi nãy tui đoán hôm nay mình có trứng gà ăn, là có liền.

Trúc Thanh nói:

– Bà hàng xóm…

Tôi chặn:

– Ông chớ bà gì.

– Bà ở trong nhà mà, Trúc Thanh nói tiếp, bà cho trứng còn đưa chìa khoá cho tui, nhờ tui coi chừng nhà dùm và cho gà ăn trong thời gian hai người đi nghỉ hè.

– Vậy hả?

Lúc đó Kuma đứng lại trên sân cỏ ngước đầu chỏ mõm lên trời, cong hai chân sau xuống muốn ỉa, tôi đưa sợi dây dẫn cho Trúc Thanh và chỉ tay vô siêu thị, nói:

– Chờ Kuma ỉa xong, mama dẫn nó đi một vòng, tui vô siêu thị mua bánh mì. Xong rồi trở ra mình vô nhà và đi ra biển chơi được rồi.

– Papa nhớ mua xúc xích cho Kuma nữa nhé.

Hôm nay Chủ Nhựt, đầu tuần tháng chín, mặc dù hai mươi mốt tháng chín trời Hoà Lan mới vào thu. Nhưng tôi nghĩ, dù thời gian có đi qua hay trở lại cũng hổng quan trọng lắm, vì tôi đã nhận ra rằng, trong những ngày mùa hè vẫn có lẫn lộn ngày mùa thu hoặc mùa xuân. Hè năm nay thời tiết thất thường, ngày dài và đêm cũng dài. Hai tuần qua mưa nhiều và trời cứ ui ui, bổng dưng trưa nay có nắng đẹp. Dù rằng tôi là người yêu thích những cuộc phiêu với những tuyến đường dài, nhưng tôi vẫn thấy có điều thú vị về những kỳ nghỉ ở bãi biển, nhứt là Trúc Thanh, nghe tới biển  là cô ta phấn chấn lên, cho nên biển đối với chúng tôi trở nên thân thiết. Vì vậy hễ môi lần muốn đi chơi, y như rằng, chúng tôi nghĩ ngay chuyện ra biển. Nếu đi đường trường thì tôi lên núi hoặc vô rừng và tham quan những cảnh thiên nhiên. Riêng nơi phố thị chúng tôi xem là hàng thứ yếu, là nơi để ăn, uống vui chơi tạm thời. Thiên nhiên mới là nơi cho chúng tôi thưởng ngoạn.

Hơn một năm qua, chúng tôi không có một kỳ nghỉ nào ở bãi biển, nhưng điều đó không ngăn chúng tôi hổng nhớ về biển. Chuyến ra bãi cát chiều nay, cũng là chuyến đi để chuyển đổi những ý nghĩ nằm lì quá lâu, làm cho Trúc Thanh hơi hơi trầm cảm. Bãi cát dài chứa được hàng ngàn du khách, biển nằm trong con đê lớn, nước ngọt, tuy nhỏ hơn so với biển nước mặn, nhưng đủ rộng cho nhiều người trượt nước với những chiếc dù đủ màu sắc gần và xa có những chiếc tàu trắng tươi với những cách buồm cũng trắng tươi, thấp thoáng trên mặt nước phản chiếu lóng lánh ánh mặt trời. Lâu lắm rồi chúng tôi mới thấy được nhiều người đi trên bãi cát, để đề phòng Cô-vít, họ cấm dù trải khăn ngồi từng nhóm giữ khoảng cách. Chúng cũng tôi mở ghế xếp ra, trải chiếu, cắm dù lên cát và bung dù ra lấy bóng mát. Con Kuma liền đi lên chiếu ngồi, mặt ngó ra biển, Trúc Thanh cũng ngồi xuống vuốt tay lên lưng Kuma. 

Một ngày đầy cảm hứng, buổi sáng man mát yên bình, buổi trưa nắng ấm và tâm thần thoải mái, nhứt là bên người mình yêu thương. Kuma thấy mấy con chó khác vui đùa trên cát nó liền đứng dậy, sủa một cái rồi chạy ra nhập bọn. Tôi thay quần cụt rồi cùng Trúc Thanh đứng lên thong thả bước chân trần đi xuống viền nước. Trúc Thanh nhúng chân xuống làn nước trong, dùng mình một cái và nói:

– Nước lạnh quá, cho nên hổng có người xuống tắm.

Tôi cũng bước chân xuống nước, nghe những hạt cát mịn màng vuốt ve ngón chân lành lạnh. Tôi nói với Trúc Thanh:

– Mama chỉ cần nhắm mắt lại thì cảm nhận được con sóng nhè nhẹ mơn trớn đôi chân trần mát lạnh và cát mịn êm êm….

Không gì bằng một ngày thư giãn trên bãi cát để xoá tan những phiền muộn, âu lo ngót cả năm qua và ánh nắng mặt trời chiếu xuống cũng đủ mang lại cảm giác yên bình. Ta có thể lặng sâu vào tâm thức mới thấy được mùa hè tuy có rất nhiều màu sắc, nhưng thiên nhiên miền biển chỉ có hai màu; màu xanh có bầu trời và nước biển; màu vàng có nắng và cát./.

Dronten 7-9-2021

*Thơ Phạm Thị Hà

Lê Thơm

Lâm Chương

Post by Sơn râu 4 Jul 2026


Lời mở:  
Tôi ra khỏi trại cải tạo, mười lăm năm rồi. Tôi vẫn nhủ với lòng, hãy quên những ngày khốn khổ ấy đi. Quên để mà sống. Trí nhớ của tôi bây giờ tồi lắm. Tôi quên nhiều chuyện, nhưng chuyện trong tù tôi không sao quên được. Nó hằn sâu trong tâm tôi, như cây đinh đóng vào cột xương sống, làm dấu mốc thời gian. Mỗi lần trí nhớ cục cựa, là mỗi lần đau. 
Sau mỗi lần viết về trại tù CS, tôi lại tự nhủ với lòng, đây là bài cuối cùng, không nhắc đến nữa. Nhưng nó như cái bóng đen ám ảnh tôi hoài. Và tôi lại viết về nó. Tôi viết như người kể chuyện, để giải toả nỗi ám ảnh. Giải toả theo kiểu của anh thợ hớt tóc, trong truyện Một Ngàn Lẻ Một Ðêm, phải đào lỗ mà la lớn lên rằng, “Ông vua có lỗ tai lừa!” Tôi không xây dựng thành một cái truyện ngắn của người làm nghệ thuật viết văn. Tôi chỉ kể chuyện về trại tù CS. Nói bao nhiêu cũng thấy thiếu. Còn người đọc thì cảm thấy quá thừa. “Biết rồi. Khổ Lắm. Nói mãi.” 

Trong cái bị làm bằng bao cát của Lê Thơm mang bên hông, có xác một con chó con. Nó bị bóp cổ chết vào trưa nay. Chuyện này, chỉ hai người biết: Lê Thơm và tôi. Giết một con chó nhỏ không khó, nhưng mạo hiểm mang ra cổng trại là một thử thách lớn dành cho kẻ bạo gan. 
Con chó lông trắng đốm đen, đẹp như con chó giả nhồi bông. Nó thân thiện với tất cả mọi người. Ðưa tay, tróc lưỡi vài cái, nó chạy đến quấn quít. Nó ngây thơ trong trắng lắm. Nó không có tội gì cả. Vậy mà nó bị giết. Cái số nó chết yểu, nên trời xui đất khiến nó lân la gần gũi với những con ma đói. Người ta nuôi nó để ăn thịt. Nếu nó không chết bây giờ, thì ngày 2 tháng 9, cũng chết bởi tay thằng chủ của nó. Từ đây tới ngày ấy, đâu còn bao lâu? Chỉ sáu tháng nữa thôi. Sau sáu tháng phù du, rồi cũng bị đem ra tế thần cho mấy ông cán bộ đánh chén say sưa, mừng ngày độc lập. Chết như thế là chết lãng nhách. Thôi thì hy sinh ngay bây giờ, còn được ý nghĩa phục vụ nhân sinh. 
Mấy hôm trước, Lê Thơm nói: “Tao có kế hoạch ăn no, với điều kiện mày phải hợp tác.” 
Tưởng gì chứ được ăn no, tôi hợp tác liền. Miếng ăn bây giờ, là vấn đề quan trọng hàng đầu. Khi đói, bộ nảo tuột xuống nằm trong cái dạ dày. Mọi suy tính đều hướng về miếng ăn, phục vụ cho cái dạ dày. Từ đó, người ta bộc lộ hết bản năng sinh tồn. Mà bản năng sinh tồn, thì người và vật giống nhau. 
Tuy thế, tôi vẵn hỏi lại cho rõ: “Kế hoạch thế nào?” 
“Mày đấm một cú thật mạnh vào chỗ này.” Hắn nghiêng đầu qua một bên, chỉ vào quai hàm. 
“Chi vậy? Thằng khùng!” 
“Tao muốn dưới mang tai sưng lên, để khai sưng quai bị.” 
“Và được nghỉ lao động?” 
“Nghỉ lao động là cái chắc. Nhưng mục đích chính là kiếm ăn.” 
“Nói rõ hơn coi?” 
Lê Thơm xít lại gần tôi: “Dạo này, sáng trưa chiều, đều sắn. Ngày nào cũng sắn. Trường kỳ sắn. Nhiều thằng ăn sắn, quai hàm bạnh ra. Có thằng ma lanh, lấy tay chà xát đỏ lên, rồi khai sưng quai bị. Y tá tưởng thật, cho nó ra ở nhà cách ly, ngoài hàng rào.” 
“Ở cách ly, vẫn đói.” 
“Bên hông nhà cách ly, hàng rào bị phá một khoảng bằng cái lỗ chó chui. Nếu được ở cách ly, ban đêm tao chui lỗ chó, đột nhập nhà kho, trộm nếp.” 
“Chơi trò mạo hiểm, dễ mất mạng. Mày nhớ vụ thằng Khánh nửa khuya chui rào, ra nương moi khoai lang, bị bắn bể đầu gối, phải cưa chân lên tận háng không?” 
“Ðó là nó chui từ trong ra ngoài. Còn tao chui từ ngoài vô trong.”   
“Ngoài hay trong cũng vậy. Vệ binh đi tuần thấy bóng người lấp ló ban đêm, nó nổ súng không thương tiếc.” 
Vụ thằng Khánh thế này. Nó là đại uý pilot. Những thằng Không Quân thường to con. Vào tù, càng to con càng bất lợi. Ăn uống cùng một tiêu chuẩn, thằng to con đói nhiều hơn thằng nhỏ con. Vào một đêm đông miền thượng du, trăng sáng lắm. Khánh chui rào, mò vào nương moi khoai lang. Cán bộ đi tuần tra an ninh bắt gặp con ma đói. Cán bộ bảo Khánh đứng nghiêm, rồi chỉa họng súng vào đầu gối của Khánh, bóp cò. Khánh bị bể khớp xương đầu gối, quỵ ngay tại chỗ. Cán bộ vào báo động, tập họp cả trại điểm danh. Anh em tù cải tạo không hiểu chuyện gì. Một lúc sau, vệ binh khiêng Khánh vào, bỏ nằm giữa sân trại. Cấm, không ai được đến gần. Trời đông lạnh buốt. Khánh nằm đau nhức rên la suốt đêm. Sáng ra, Khánh được khiêng lên bệnh xá của đoàn 779. Bệnh xá cũng chỉ có mấy thứ lá cây hái về từ ngoài rừng, sao làm thuốc nam. Hai người tù phục vụ ở bệnh xá, là bác sĩ của chế độ cũ miền Nam, cũng đành bó tay. Phải chuyển Khánh đi nơi khác. Khánh được võng đi cả ngày đường, qua bao nhiêu sơn khê đồi núi mới ra tới bệnh viện Yên Bái. Tám tháng sau, Khánh về lại trại, với cái chân cụt gần tận háng. Anh em ngồi nghe Khánh kể chuyện, đều khiếp vía. Tại bệnh viện Yên Bái, người ta trói tay chân Khánh vào giường, rồi cưa chân mà không có thuốc tê mê gì cả. Danh từ chuyên môn gọi là “giải phẩu sống”. Khánh đau quá, ngất đi mấy lần. Giải phẩu sống lần đầu, vết thương nhiễm trùng sưng tấy lên và làm mủ. Giải phẩu sống lần thứ hai, người ta cho Khánh uống rượu đế đến say mèm, rồi mới cưa. Khánh nói, có rượu vào, cảm thấy ít đau. 
Nhắc chuyện của thằng Khánh, cũng không làm Lê Thơm nao núng. 
“Ðừng doạ tao. Ðấm một cú đi.” Lê Thơm nghiêng đầu, đưa quai hàm chờ đợi. 
Tôi đẩy ra: “Cú đấm của tao, có thể làm mày tréo bản họng. Mày tự đấm mày đi.” 
“Tao làm rồi. Nhưng tự đấm mình, tao không dám mạnh tay. Mày giúp tao hoàn thành kế hoạch.” 
“Kế hoạch của thằng khùng!” 
Nói xong, tôi bỏ đi. Lê Thơm cụt hứng, chửi thề. 
Hai ngày sau nữa. Ăn trưa xong, anh em vào lán nằm nghỉ ngơi. Lê Thơm, và tôi còn ngồi lại ở nhà ăn. Con chó nhỏ quanh quẩn dưới chân. Nó mới xuất hiện khoảng hơn nửa tháng nay. Từ trên khung, nó hay chạy xuống trại trong giờ ăn. 
Nhìn con chó một lúc, Lê Thơm chợt nẫy ý lạ: “Thịt con chó này.” 
Tôi trợn mắt: “Ðừng đùa. Chó cán bộ trại phó đấy.” 
Hắn cương quyết: “Chó cán bộ, cũng xơi.” 
“Làm sao ăn?” 
“Tao có cách. Mày dụ nó ở đây. Tao lấy cái bao cát.” 
Tôi chưa kịp đồng ý hay không. Hắn chạy vụt đi. 
Tôi nhìn con chó. Tội nghiệp! Nó không biết gì cả. Tôi đưa tay. Nó liếm. Tôi vuốt đầu. Nó quíu tai lại. Tôi vỗ nhẹ trên lưng. Nó nghểnh cổ, lim dim đôi mắt. Quỷ thần trời đất ơi! Nó dễ thương như vậy, ai nở lòng nào giết cho đành? 
Lê Thơm cầm bao cát, hấp tấp chạy lại: “Nhanh lên!” 
Tôi lắc đầu. 
Hắn mở rộng miệng bao giơ ra, giục: “Nhanh! Bóp cổ, thồn vào.” 
Không còn suy nghĩ nữa, tôi chụp cổ con chó, siết mạnh. Nó giãy giụa, quào bốn chân trong không khí. Lê Thơm túm chân, tròng vào bao cát. 
Hắn nói: “Tiếp tục bóp.” 
Nếu có kẻ nhìn thấy, hậu quả khốn nạn sẽ không lường nổi. 
Tôi kêu lên: “Kinh quá mày ơi! Tha nó đi.” 
Tôi buông tay. Con chó vừa kêu “ẳng” một tiếng, đã bị Lê Thơm siết cổ lại liền. 
Tới giờ xuất trại lao động buổi chiều, cả đội xếp hàng đôi, lần lượt ra cổng. Cán bộ trực trại, và quản giáo đứng ngay cổng kiểm soát. Vệ binh coi tù, mang súng đi sau cùng. Lê Thơm lảnh việc nấu nước cho đội. Hắn quảy cặp thùng, mang bị đựng chó bên hông, thản nhiên đi ra cổng. Tôi vái thầm, cầu trời cho hắn thoát. Và hắn thoát thật. Tôi thở phào, nhẹ cả người. 
Ra đến hiện trường lao động, mọi người túa vào rừng chặt nứa. Rừng xanh mênh mông. Ðồi núi chập chùng. Vệ binh mang súng đi qua đi lại ngoài bìa rừng, canh tù làm việc. Lê Thơm chọn thế đất tương đối bằng phẳng. Việc đầu tiên, hắn đào một cái hố nhỏ. Ai cũng tưởng hắn đào bếp lò. Nhưng thật nhanh, hắn cho con chó xuống, và lấp đất lại. Bên trên, hắn đốt một đống lửa, nấu nước. Ðó là chuyện hắn kể sau này. 
Trong giờ giải lao. Tôi tới chỗ nấu nước. Lê Thơm múc cho tôi một ca nước sôi. Nhìn quanh, không thấy có dấu hiệu gì chứng tỏ Lê Thơm nướng chó. 
Tôi hỏi nhỏ: “Chó đâu?” 
Hắn chỉ vào đống lửa. 
Tôi lấy cớ mồi lửa đóm hút thuốc lào, dùng cái que cời than lên, vẫn không thấy chó. 
Hắn bảo: “Ði khỏi chỗ này ngay. Ðừng làm tụi nó sinh nghi.” 
Tôi tin tưởng vào tài ứng biến của Lê Thơm. Xưa kia, hắn là thiếu tá, có thời làm quận trưởng quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Ngày nay vào tù, hắn nhanh chóng thích nghi với hoàn cảnh mới, lanh lợi trong mọi vấn đề. Nhất là cải thiện, hắn nhanh như sóc. Trong đội, không thằng nào qua mặt được Lê Thơm. Thoáng thấy đó, biến đó không ngờ. Hồi hắn còn trong tổ làm vườn. Giờ trưa, mọi người đều nghỉ ngơi. Hắn lúi húi moi khoai lang, đem xuống suối rửa, nhưng mắt vẫn rảo quanh quan sát. Hắn thấy Thu Sứt từ những bụi cây đàng xa, đang rình mò theo dõi hành động của hắn. Tay này mang quân hàm trung uý, có người anh vào Nam làm giải phóng, và bỏ mạng trong trận chiến mùa hè năm 72, ở Bình Long. Bao nhiêu hận thù, Thu Sứt trút lên đầu anh em tù cải tạo. Sở dĩ Thu Sứt có biệt danh này, là do cái môi bẩm sinh bị sứt, phải vá lại. Vì thế cái miệng chum chúm, làm cho cái mặt luôn luôn mang nét quạu quọ như người đang hờn giận. Có lần, Thu Sứt bắt gặp anh Năng đang cải thiện. Thu Sứt gọi về, bắt Năng đứng giữa bốn vệ binh vây quanh. Thu Sứt hạ lệnh cho bốn vệ binh bề hội đồng. Năng bị đấm văng bên này, bị đá giạt bên kia, giống như những cầu thủ giao banh. Cuối cùng, Năng gục xuống ngất xỉu, được khiêng về trại cho anh em tù săn sóc. Sau thành tích ấy, Thu Sứt nổi danh là hung thần ác sát. Trong trại còn một người nữa, cũng nổi danh không kém Thu Sứt. Ðó là chàng trung sĩ vệ binh Nương Mặt Ngạnh. Thật ra, anh ta tên là Lương, nhưng do nói ngọng thành Nương, và do xương quai hàm bạnh ra, nên có biệt danh là Nương Mặt Ngạnh. Khi dẫn tù đi lao động, anh ta cầm theo chiếc gậy bằng cây giang, trông như khúc đoản côn. Ðã nhiều lần anh ta quất thẳng cánh vào anh em tù cải tạo. Ai từng bị đòn của Nương Mặt Ngạnh cũng đều ẹo xương sống. Thành tích của Nương Mặt Ngạnh ở hiện trường lao động rất đáng gờm. Anh ta bắt tù đứng trên triền núi. Thế núi dốc, anh ta đứng phía trên. Sau vài câu đay nghiến, bỗng Nương Mặt Ngạnh đá thốc dép râu vào mặt người tù. Bất ngờ không kịp chống đỡ, người tù ngả vật ra, sặc máu mũi. Trong kỳ cả trại học tập về chính sách khoan hồng nhân đạo của đảng và nhà nước, anh em tù phản ảnh chuyện này lên ông trại trưởng. Ông trại trưởng bảo: “Chính sách của đảng và nhà nước trước sau như một. Nhưng các anh quá quắc, không trừng trị không được.” Thế là huề! Ðảng và nhà nước vẫn tiếp tục chủ trương khoan hồng nhân đạo. Anh em tù vẫn tiếp tục bị trừng trị. 
Trở lại chuyện Lê Thơm khi bị Thu Sứt theo dõi. Hắn biết nguy tới nơi rồi. Hắn cho tất cả khoai lang vào thùng tưới, đi lên. Ở đằng xa, Thu Sứt nương theo những bụi cây đi tới, quyết bắt tại trận tên tù đang cải thiện. Lê Thơm chờ cho Thu Sứt đi khuất sau chòm cây, hắn trút thùng khoai xuống hố ủ phân bắc. Rồi quay xuống suối như đang tiếp tục xách nước tưới rau. Phân bắc là cứt người, ủ lại để bón rau. Hố phân bắc đầy giòi bọ, và mùi rất khắm. 
Thu Sứt xuất hiện, khi Lê Thơm đang múc nước dưới lòng suối. 
“Anh kia! Làm gì đấy?” 
“Xách nước tưới rau.” 
“Anh rửa gì dưới suối?” 
“Tôi có rửa gì đâu?” 
“Láo! Anh vớt tất cả đem lên đây.” 
“Có gì mà vớt?” 
“Khoai lang.” 
“Làm gì có?” 
“Hãy mò xuống, vớt lên.” 
Lê Thơm mò xuống, vớt lên những sỏi đá.” 
Tức quá, Thu Sứt xăn quần lội xuống suối. Mò chỗ cạn không thấy, Thu Sứt mò ra sâu hơn, ướt cả quần, vẫn không thấy. Thu Sứt quay lên, mặt hầm hầm bảo Lê Thơm về ngay, trình diện trên khung. 
Tại khung, Thu Sứt đưa tờ giấy, bình mực, và cây bút cho Lê Thơm, bảo: “Viết kiểm điểm.” 
Lê Thơm hỏi lại: “Chừng nào nộp giấy?” 
“Chiều nay.” 
“Không kịp. Tôi còn phải đi lao động.” 
“Cho anh nghỉ việc buổi chiều. Ở lại lán viết kiểm điểm.” 
Lê Thơm viết, đại ý rằng từ ngày đi cải tạo, hắn luôn phấn đấu để trở thành người tốt. Cán bộ bảo viết kiểm điểm. Nhưng hắn không biết kiểm điểm về vụ gì? Mong cán bộ chỉ dẫn. 
Buổi chiều. Lê Thơm đem giấy lên nộp. Thu Sứt đọc xong, vỗ bàn: “Kiểm điểm về vụ cải thiện khoai lang. Biết chưa?” 
“Nhưng tôi đâu có cải thiện khoai lang?” 
“Có. Anh phải viết rằng anh có cải thiện khoai lang. Nghe rõ chưa?” 
“Vâng. Tôi rõ. Xin cho biết chừng nào nộp giấy?” 
“Cho anh nghỉ việc sáng mai, viết kiểm điểm. Trưa hôm sau nộp.” 
Thu Sứt đưa Lê Thơm tờ giấy khác. Anh ta yên chí sẽ căn cứ vào nội dung tờ kiểm điểm, nện cho Lê Thơm một trận mập mình, và cùm vào nhà kỷ luật. 
Lần thứ hai, Lê Thơm viết rằng: Tôi đang đứng dưới suối xách nước tưới rau. Cán bộ nghi ngờ tôi đang rửa khoai lang. Và ra lệnh cho tôi phải viết có cải thiện khoai lang. Tôi tuân lời cán bộ, nhận có cải thiện khoai lang. Nhưng thật sự tôi không dám làm chuyện vi phạm nội quy như thế.” 
Trưa hôm sau. Thu Sứt đọc kiểm điểm của Lê Thơm xong, xé toạc tờ giấy, giận dữ: “Viết láo lếu thế này, thì sao gọi là tự giác?” 
Lê Thơm bình tĩnh: “Tôi viết theo lệnh của cán bộ.” 
Thu Sứt gầm lên: “Câm họng. Cút ngay! Lần sau, dù có lủi giỏi như chạch cũng không thoát.” 
Trong tù, Lê Thơm dám “giỡn mặt” cán bộ, quả là lớn gan. Tôi phục hắn. Nói theo Thu Sứt, hắn lủi giỏi như chạch. Hắn đã thoát không phải một lần, mà nhiều lần sau nữa. Chỉ một lần sau cùng, hắn không thoát được. Và lần không thoát được ấy, đưa Lê Thơm đến sự tử vong. Tôi đã nói về trường hợp Lê Thơm bỏ mạng, trong một truyện khác. 
Tối hôm thịt con chó, trời vừa nhá nhem, Lê Thơm khều tôi ra ngoài đầu hồi. Hắn mở cái bị, lôi ra con chó cứng đơ, dính đầy đất cát. Hắn lột da, xé miếng thịt đưa tôi. Chưa bao giờ ăn thịt chó, tôi nghe nhờn nhợn trong cổ khi cầm miếng thịt. 
Lê Thơm bảo: “Ăn đi. Nguồn protéin bổ dưỡng vô song.” 
Hắn nhai ngấu nghiến. Tôi bắt chước ăn thử, thấy ngon. Tôi nghĩ, với sự đói khát lâu ngày, bất cứ món gì cho vô miệng cũng thấy ngon. Thằn lằn, rắn mối, cào cào, châu chấu, ốc sên, dế nhủi đều ngon, và cũng là nguồn protéin cần thiết cho cơ thể. Ðặc biệt, có con sâu màu trắng thường rúc trong gỗ mục, toàn thân nó chứa một chất sữa rất béo. Con sâu vô danh này, tù đặt tên là con Magarit. Có thể nói con Magarit là sâm động vật, giá trị không thua sâm thực vật của Ðại Hàn. 
Hai chúng tôi ăn đến nửa con chó, thì đụng phần thịt sống. Bởi khi chôn con chó xuống đất, phía trên nóng nhiều làm thịt chín, nhưng không đủ sức chín tới phía dưới. 
Lê Thơm nói: “Ăn luôn. Người tiền sử vẫn ăn thịt sống.” 
Tôi đề nghị: “Cắt ra từng miếng nhỏ, cho vào lon Guigoz nấu.” 
“Mang ra mang vô cổng trại, nguy lắm.” 
“Tới phiên tao mạo hiểm. Tao sẽ nấu ngay đêm nay.” 
Ðêm ấy, tôi lần mò trong bóng tối, vào nhà bếp cời than đặt vào hai chiếc lon Guigoz. Xong, lại quay về lán ngồi đợi thịt chín. Khi lấy lon về, cũng phải ra vào hai bận. Công việc chỉ có thế, nhưng vô cùng nguy hiểm. Vệ binh rình rập đâu đó, thấy bóng người ra khỏi lán mà không cầm theo cây đèn dầu, chúng sẽ bắn, nếu không chết cũng bị thương. Tôi tin con người có số mạng. Dù ở tù, nhưng ngôi sao chiếu mạng của tôi còn sáng lắm. Quỷ thần che chở cho tôi trong mọi trường hợp bất trắc hiểm nguy. 
Ngay trong đêm, Lê Thơm và tôi thanh toán sạch luôn hai gon Guigoz thịt. Con chó nhỏ được chôn kín vào nơi không trời không đất. Hoàn toàn mất dấu. 
Khi ăn, tôi nói: “Nghĩ tội con chó quá, mày ơi!” 
Lê Thơm nói: “Cũng bởi tình cảm tiểu tư sản như thế, mà hôm nay mới vào tù.” 
Tôi lại nói: “Miếng ăn tưởng chừng rất nhỏ nhoi. Nhưng có lúc người ta dám đem cả sinh mạng mình ra thử thách. Xem thế, đủ biết cái ăn là quan trọng vô cùng.” 
Lê Thơm gạt ngang: “Ðừng triết lý vặt, ăn mất ngon, con ạ!” 
Vài hôm sau, ông đại uý cán bộ trại phó cầm sợi dây cột chó, xuống trại vào giờ ăn trưa. Ông đi quanh quẩn tìm kiếm. 
Ông hỏi: “Các anh có thấy con chó của tôi chạy xuống đây không?” 
Mọi người im lặng. 
Lê Thơm lên tiếng: “Con chó nào, cán bộ?” 
“Con chó trắng đốm đen.” 
“Có phải con chó nhỏ không?” 
“Ðúng rồi.” 
“Ồ… Lúc trước, nó vẫn thường chạy lại đây. Hai ngày nay không thấy.” 
“Hôm qua, tôi còn cho nó ăn. Mới mất hôm nay thôi.” 
Lê Thơm sốt sắng: “Tôi sẽ để ý. Nếu thấy, tôi giữ nó lại, báo cho cán bộ.” 
Ông trại phó lắc đầu thất vọng: “Chắc bị cáo vồ rồi.” 
Nói xong, ông quay đi. 
Lê Thơm thầm thì với tôi: “Mình thịt con chó đã hai ngày. Nó nói hôm qua còn cho chó ăn. Bọn này hễ mở miệng ra là nói láo. Chuyện lớn chuyện nhỏ đều láo.”  

Lâm Chương

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Jul 2026

Điều răn thứ tám trong kinh “Mười Điều Răn” của Thiên Chúa dạy trong Cựu Ước là chớ làm chứng dối như là làm chứng gian hoặc bội thề, làm mất thanh danh người khác, nói xấu, vu khống, cáo gian, nói dối, tán dương người khác khi họ làm điều xấu và không làm chứng cho sự thật. Giới cấm thứ tư trong “Ngũ Giới,” năm điều Phật cấm là không được nói dối. Theo Phật Giáo, xử sự không công bằng, làm chứng gian, có thể lừa gạt được người khác nhưng không sao lừa gạt được nhân quả.

Trong ngành tư pháp, từ thời xưa, quan tòa đã phải sử dụng đến một công cụ khá hữu hiệu để xử án: lời khai của người làm chứng. Tuy nhiên, công cụ này cũng bị lộ rõ mặt nguy hại, nếu quan tòa lỡ tin vào những lời chứng gian dối thì sẽ thi hành những bản án oan khuất, phản công lý. Vì vậy làm chứng gian là một trọng tội. Khai quả quyết một việc không có là có thật cũng như chối hẳn một việc có thật là không có cũng bị coi là làm chứng gian.

Làm chứng gian tại toà xử có thể làm sai lệch bản án và giết một người. Nhà viết sử viết gian có thể làm u mê, sai lạc của một thế hệ. Nhưng ngày nay, 24 giờ một ngày đêm qua truyền thông, báo chí, rất nhiều người làm chứng gian mà không ai quan tâm vì cứ nghĩ rằng đó là điều vô hại. Muốn dối gian, trục lợi cho hàng sản xuất của mình, nhà buôn cần những người làm chứng gian “quả quyết một việc không có là có thật” mà nói đi nói lại nhiều lần sẽ có người tin. Quảng cáo đã trở thành hình thức tuyên truyền phổ biến nhất trên thế giới để các tập đoàn và công ty quảng bá hình ảnh, sản phẩm của mình cho mọi người với nhiều hình thức khác nhau trên báo chí, truyền thanh, truyền hình và internet. Kỹ thuật tuyên truyền hay quảng cáo là phải lập đi lại càng nhiều lần càng tốt, đánh đổ sự suy nghĩ phân tích các sự việc, làm thui chột trí phán đoán vì phải nghe thấy những sự việc như vậy nhiều lần. Giới bình dân lại dễ lầm lẫn chấp nhận: “Không hay, không đúng sao lại được nhiều người nói, nhiều người khen!” Mà không phải trong xóm, trong làng, trong khu phố mà thấy trên TV, trên mặt báo, qua radio?

Kỹ thuật quảng cáo, tuyên truyền là câu chuyện phải được bảo chứng bởi người nổi tiếng, vậy tuỳ theo đó mà chọn người quảng bá cho thương hiệu. Tuỳ theo đối tượng tiếp nhận thông tin qua truyền thông hằng ngày người ta sẽ lựa chọn những khuôn mặt nổi tiếng cho phù hợp, nhưng những nhân vật này thường không được chọn lựa trong chính quyền. Nếu khách hàng là giới trẻ thì người ta sẽ chọn các ca sĩ, nhạc sĩ trẻ, các “hot boy” hay “hot girl.” Nếu sản phẩm của chúng ta là các sản phẩm dinh dưỡng như sữa hay vật dụng chăm sóc y tế thì các bác sĩ hay các bà mẹ là lựa chọn đầu tiên. Nếu là mỹ phẩm thì có các hoa khôi, tài tử, diễn viên, ca sĩ, vì vậy ngày nay giới nghệ sĩ tên tuổi, đặc biệt có thể sống nhờ các thương vụ quảng cáo mà lợi tức cũng ngang hàng với việc xuất hiện hay trình diễn. Dù qua đời đã hơn 50 năm, Marilyn Monroe vẫn được chọn làm gương mặt đại diện mới cho nước hoa Chanel số 5, trước đó nam tài tử Brad Pitt đã được trả 7 triệu cho hợp

đồng quảng cáo cho loại nước hoa này. Scarlett Johansson quãng cáo cho hãng Louis Vuitto. Ca sĩ Mariah Crey quảng cáo cho nước hoa M của hãng Elizabeth Arden. Nữ tài tử trứ danh Elizabeth Taylor với loại nước hoa White Diamonds đắt nhất thế giới. TNS Bob Dole đã quảng cáo cho Viagra.

Chính vì sự khâm phục, yêu mến và tin cậy những khuôn mặt nổi tiếng, có khi là thần tượng của mình, nên người ta tin luôn những điều gì họ nói nên các thương hiệu ngày nay gần như luôn luôn nắm bắt, gọi mời các diễn viên, ca sĩ, người mẫu, hoa hậu … làm người đại diện quảng cáo cho sản phẩm của họ. Ngay ở Việt nam bây giờ, người mẫu, ca sĩ, hoa hậu cũng hái ra tiền nhờ các hãng buôn từ lớn như Mercedes Benz, Honda, Audi, Toshiba … cho đến các hãng kem dưỡng da, son phấn. Tệ hơn nữa, là ngày nay, ngay tại hải ngoại, có những vị xuất gia tu hành mặc áo vàng, cũng lên truyền hình để quảng cáo cho thứ thuốc này, môn thuốc nọ!

Quảng cáo trong ngành dược phẩm cũng không mới mẻ gì. Tuy nhiên nói về công dụng của thuốc men, người ta đã xử dụng những từ ngữ, hình ảnh khiến cho người tiêu dùng hiểu lầm về công dụng của sản phẩm này, và coi mình như đang mắc phải những bệnh trầm trọng, nan y, khó chữa. Trong 11 báo cáo được đăng tải trên tạp chí “Public Library of Science Medicine” vào năm 2012, các chuyên gia y tế của Anh, Mỹ và một số quốc gia khác đã cảnh báo rằng: Có đến hàng chục căn bệnh được cho là mới xuất hiện trong thời hiện đại và đang tăng nhanh là không có thực hoặc không hề nghiêm trọng như chúng ta vẫn tưởng như yếu khả năng sinh lý, tính hiếu động của trẻ em, các bệnh thần kinh … Thông qua các chiến dịch quảng cáo rầm rộ do các công ty dược phẩm phát động, những biểu hiện khác biệt này đã được “nhào nặn” thành những căn bệnh nghiêm trọng và phổ biến. Câu nói “thuốc … chứa rất nhiều thành phần như … sẽ giúp bạn ….. ” có lẽ đã trở thành “khẩu hiệu” của quảng cáo dược phẩm … (Nguyễn Huyền Trang- trang quảng cáo AJC)

Và trong các quảng cáo, quảng cáo dược phẩm được xem như là một quảng cáo có trách nhiệm nhất. Quảng cáo nước hoa, thì mỗi người một ý thơm hay không thơm, thích hay ghét còn tuỳ “người đối diện,” quảng cáo thuốc mọc tóc thì còn tuỳ cơ thể từng người mọc nhanh hay mọc chậm, quảng cáo máy hút bụi hay một tấm nệm giường, thật ra xấu tốt cũng chăng sao. “Với cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Hoa kỳ (FDA) thì dược thảo được xếp hạng thực phẩm phụ, như đã quy định trong Dietary Supplement Health and Education Act năm 1994. Dược thảo được bầy bán không cần thử nghiệm, nghiên cứu như âu dược, mặc dù dược thảo có tính cách trị bệnh và cũng có tác dụng phụ.” (BS Nguyễn Ý Đức). Một bác sĩ chuyên về ung thư tại Quận Cam đã cho biết bà có một bệnh nhận ung thư qua sự điều trị của bà, đã không chết vì ung thư mà chết vì một

loại thuốc được quảng cáo trên báo chí và truyền hình, không qua ý kiến của bác sĩ, vì quá tin tưởng mà dùng quá độ.

Nhiều khách tiêu dùng đã củng cố lòng tin của mình đã lập luận, “thuốc không hay sao trên đài phát thanh và truyền hình người ta khen dữ vậy,” “thuốc không hay sao diễn viên này khen, ca sĩ nọ giới thiệu, ông MC kia tán dương!” Cuối cùng họ đem số phận và sức khoẻ của mình thử thách cùng một loại nghệ thuật quảng cáo rất tầm thường nhưng có mãnh lực thu hút và nhồi nhét ý niệm rất mạnh mẽ! Cũng cùng mục đích “chẳng qua vì tiền,” nhưng người khôn quảng cáo cho cái chai thuốc gội đầu, còn người dại kêu gọi người ta bỏ viên thuốc vào miệng. Người xưa có nói: “Làm thầy thuốc lầm thì giết một người,” chuyện này chỉ xẩy ra giữa hai người, ông thầy thuốc và bệnh nhân, nhưng làm thầy thuốc, mách nước cho cả nghìn người trên truyền hình, nếu lầm, thì giết cả trăm họ.

Trong luật pháp “Khai quả quyết một việc không có thật, cũng như chối hắn một việc có thật là không có cũng bị coi là làm chứng gian.” Trong ý niệm này, “tôi quả quyết tôi đã dùng thuốc này là một việc không có thật” – mà “một việc có thật mà tôi đã từ chối không nói, là tôi chưa hề dùng qua thuốc này!”

Nhưng làm chứng gian tại toà án thì lãnh án tù, làm chứng gian trên báo chí, phát thanh truyền hình thì không ai bắt tội. Có một ông chánh án tên gọi là “lương tâm” thì không có da có thịt, vì ông vô hình, cũng không có răng để “cắn rứt” ai, và người ta thường nại lý do là: “ông đi vắng!”