This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Landon khui chai Tequila, rót chất nước vàng óng vô 5 ly sót. Ông rút dao găm, đâm trái chanh trên đĩa, cắt 6 miếng. Alvin đưa 6 bao muối nhỏ, cho 6 người. 6 ly Tequila đưa lên. Landon nói nhỏ.
– Trách nhiệm và chiến thắng!
Sáu người lính đánh thuê cạn ly sót. Xé bao muối nhỏ, rắc lên mu bàn tay, cầm lát chanh, quét muối bỏ vô miệng, nhai!
Andrew rót rượu. Mọi người cạn ly. 6 bàn tay lấy lát chanh, quét muối, bỏ miệng, nhai!
Thompson rót ly thứ 3.
Sáu người lính đánh thuê nốc cạn.
– Cạch! Cạch! Cạch! Cạch! Cạch! Cạch!
Ném 6 ly sót vô thùng rác.
Chiếc xe đò liên tỉnh, hơi nghiêng qua một bên, vì quá nhiều hành khách ngồi trên mui. Trong số, có 2 người thợ rèn. Thompson và Garry. Hai anh qua chợ phiên tại Chaman của Pakistan, bán dao, kéo. Mới sáng sớm, nên trời lạnh ngắt. Đèo Guldara còn lấp lửng trong màn sương mù trắng đục. Chiếc xe đò chạy chậm lại. Anh lính Pakistan chỉ xuống vạch sơn đỏ dưới mặt đường. Xe đò ngừng.
– Tài xế! xe chở quá nhiều người… Chạy qua đèo giống như cái quan tài sống!
Tài xế nhảy xuống.
– Anh thông cảm! Bây giờ chỉ còn chuyến xe sáng và chuyến chiều… Xe hư hết rồi! Không đủ chở khách!… Nên tôi phải dồn vô chuyến này…
– Nhưng nguy hiểm quá! Dễ lật trên đèo lắm!… Anh bỏ hết những người ngồi trên mui xuống! Cho họ chờ chuyến buổi chiều!
“Landon chỉ tay trên màn hình.
– Thompson và Garry giả trang thành hai người bán dao kéo, đi xe đò tới chợ phiên tỉnh Chaman. Chợ này nằm gần biên giới Pakistan và Afghanistan… Đúng 9 giờ sáng. Nhân vật Y trên chuyến bay Air Pakistan sẽ đáp xuống phi trường Chaman. Cô sẽ được đưa về thăm nhà trong 2 ngày cuối tuần tại một biệt thự gần khu chợ phiên…”
Thompson ngồi trên mui, nên nghe rõ anh lính Pakistan nói.
– Không được! Nếu nó tống mình xuống, đợi chuyến xe chiều… Thì coi như kế hoạch… Bể!
Thompson nói với Garry.
Anh lấy cây thuốc lá Camel trong ba lô, ngoắt người tài xế.
– Tụi tôi đi bán dao kéo ở chợ phiên Chaman!… Nếu bị ở lại để chờ chuyến xe chiều là chết tụi tôi!… Coi như không buôn bán gì được! Anh cầm cái này đưa cho…
Thompson chỉ người lính Pakistan.
Anh tài xế chạy tới, đút cây thuốc lá vô túi áo rằn ri của anh lính. Anh lính nhón chân, nhìn về phía trạm gác, anh ta lí nhí.
– Lỡ lần này!… Lần sau… Chừng đó khách ngồi trên mui… Phải hai cây!
Anh lính Pakistan đưa khẩu súng ra dấu. Chiếc xe đò nghiêng nghiêng chạy qua đèo Guldara.
“Landon đưa tay.
– … Sau khi tiếp xúc với nhân viên CIA tại chợ phiên. Họ sẽ yểm trợ kế hoạch của chúng ta. Vào giờ nghỉ trưa, từ 12:00 cho tới 1:30 chiều. Nhân vật Y sẽ dùng bữa trưa với gia đình tại biệt thự. Thompson và Garry đột nhập, bắt sống chị ta. Nên nhớ! “Bắt sống” mọi hoạt động càng yên tĩnh càng tốt, tránh đụng chạm với cảnh sát Pakistan… Và dùng dao làm vũ khí”.
Garry bày đống dao đi rừng, dao cắt trái cây, dao cắt thịt cá, dao chặt xương trên tấm vải nhựa màu trắng. Thompson sắp những cây kéo. Kéo cắt giấy, kéo cắt vải, kéo mũi nhọn cắt thực phẩm. Phía trước hàng dao.
Tranh Hồ Đắc Vũ
Tiếp xúc
Anh Ả Rập quấn khăn trùm đầu, mặc quần lính rằn ri ngồi xuống, cầm cây kéo cắt giấy.
– Cây này bao nhiêu?
Anh ta hỏi.
– 50 AFN! Nếu anh trả bằng tiền.
Garry trả lời
– Không! Tôi đổi một cái kéo cắt vải của Mỹ.
– Anh cho coi kéo!
Anh Ả Rập đứng dậy. Lấy trong túi xách tay cây kéo có sơn 3 sọc xanh, đỏ, trắng.
– Đây!
Thompson bước tới sát anh Ả Rập. Nói mật khẩu.
– Kế hoạch Y!
– Bắt cóc! Tôi yểm trợ!
– Tôi là Thompson và Garry!
– Amir!
Anh Ả Rập bắt tay.
11giờ 30.
Thompson lấy con dao đi rừng, dao cắt trái cây, dao cắt thịt, bỏ vô túi vải. Garry chụp 5 cái dao cắt trái cây. Anh Ả Rập cầm con dao chặt xương. Cả ba ra sau lưng chợ. Leo lên chiếc Toyota trắng.
Qua hết đường phố. Chiếc Toyota chạy vô khu dân cư hạng sang. Nhiều hàng cây chà là vây quanh các biệt thự màu trắng nằm trên bãi cỏ xanh mát.
Anh Ả Rập chỉ tay
– Căn nhà của nhân vật Y… là căn biệt thự…
Xe chạy chậm lại.
– … Màu trắng, cổng sắt màu xanh lá, nằm bên mặt… Số 25… Phía trước!
Xe chạy qua căn nhà mục tiêu. Quẹo phải ngay góc ngã ba. Ngừng lại dưới bóng mát của những cây chà là.
Amir mở cốp xe. Lấy ra 2 cái máy cắt cỏ loại cầm tay.
– Hai anh cắt cỏ ven đường! OK?
– Tôi đợi đây!
Anh chỉ cái GPS.
– Đã có máy liên lạc với hai anh. Trong trường hợp nguy hiểm, cần tiếp cứu. Báo động! Khi hai anh bắt được nhân vật Y. Báo hiệu “GO” Tôi sẽ chạy xe vô, đón tại cổng sau!
Quan sát mục tiêu
Garry cầm máy, cắt cỏ dọc lề đường phía trước nhà. Thompson cắt cỏ dọc phía sau nhà. Garry nhìn vô cổng.
– Chiếc Mercedes màu trắng đậu trong sân… Mục tiêu đang có mặt trong nhà”
Garry nói trong máy.
– Sân sau nhà có chiếc xe bán tải Toyota màu đen… Vậy là thêm người!
Thompson nói.
– Tao đột nhập cửa sau, quan sát… Sau đó cùng tấn công hai mặt! Đợi lệnh!
Anh cắt sợi dây xích, đẩy nhẹ cánh cửa cổng.
– Kít…ttt!
Cánh cửa kêu nhỏ.
Thompson thụp đầu xuống, tay giữ cánh cửa ngay vị trí cũ. Cửa trong nhà mở. Một người đàn ông râu xồm, đeo mắt kính, mặc đồ lính Pakistan, thò đầu, nhìn hai bên. Ông đóng cửa lại.
Thompson báo ngay cho Garry.
– Trong nhà có người đàn ông mặc đồ lính… Nếu ông ta có vũ khí! Sẽ rắc rối!
“Landon nhấn mạnh.
– … Mọi hoạt động càng yên tĩnh càng tốt, tránh đụng cảnh sát Pakistan… Và dùng dao làm vũ khí”. Bảo vệ mục tiêu tối đa! CIA yêu cầu “Mục tiêu phải còn sống! Xinh đẹp và không trầy miếng da nào…”
Garry nghe tiếng xe chạy tới, anh chụp cây cắt cỏ, cắt ngay lề đường, gần cổng nhà.
Chiếc xe díp của quân đội Mỹ thắng trước cổng. Garry quay lại. Một anh mặc bộ đồ ka ki vàng, tóc quăn, bờm tròn như Mỹ đen, bước ra.
– Shalom!
Garry đưa tay chào. Anh ta chào lại, vòng ra sau xe. Garry thấy bên hông xe có dòng chữ.
“Music TV”, Garry hỏi.
– Đi thu hình ca nhạc?
Anh ta cười.
– Thu hình bữa tiệc sinh nhật của… Ủa? Anh không biết đây là nhà của ai à?
– Không!
Anh kia bước tới, nói nhỏ.
– … Kỹ sư hàng đầu của Afghanistan… Bà đang phát triển vũ khí nguyên tử cho Taliban!
Anh tóc bờm cúi xuống lấy cái máy quay. Garry vòng sau lưng anh tóc bờm.
– Bụp!
Garry nện cái máy cắt cỏ vô đầu anh ta. Kéo anh tới thùng rác. Bỏ vô, đậy nắp lại.
Đột nhập
Thompson đã bò vô cửa sau, anh đưa sợi dây kính hồng ngoại ló lên khỏi cầu thang.
Một phòng rộng với bàn tiệc tròn, đầy món ăn. Thompson so sánh hình mục tiêu trên GPS. Chị kỹ sư ở ngoài rất đẹp. Tóc đen, choàng khăn voan trắng, không bịt mặt, đang ngồi nói chuyện với người mặc đồ lính đeo mắt kính, có lẽ là chồng chị. Một bà lớn tuổi, tóc bạc, ngồi bên một y tá.
– Thompson! Tao sẽ vô ngay nhà bằng một người quay video! Mày yểm trợ từ cửa sau.
Garry cầm máy quay Video, đẩy cửa, bước vô nhà.
– Shalom! “Music TV”
Anh chào.
– Shalom.
Mọi người chào.
Garry mở đèn trên máy quay, anh đưa tay báo hiệu, bắt đầu quay. Garry lùi lại, quay toàn cảnh căn phòng. Chị đàn bà và ông mặc đồ lính đưa tay. Cùng nói.
– Chúc mừng sinh nhật mẹ!
Mọi người cạn ly, bắt đầu bữa tiệc.
Thompson đã bò lên cửa sau của phòng ăn. Garry bước tới gần, anh quỳ xuống, quay một cảnh từ bà mẹ tới chị đàn bà và ông mặc đồ lính.
– Tao đang quay video!
Garry nói trong máy. Anh đưa chân đá vô cửa. Thompson ló đầu.
– Tao sẽ tới gần chị đàn bà và ông lính, quay cận ảnh lúc hai người cụng ly. Mày tấn công ông ta, tao chụp thuốc mê chị đàn bà, khống chế bà mẹ và y tá!… Mình thoát ra bằng cửa sau!
Tấn công
Garry đưa tay ra hiệu. Ông mặc đồ lính rót rượu nho ra hai ly. Garry từ từ bước tới bên chị đàn bà. Anh đưa tay, ra hiệu cụng ly. Thompson bò sát dưới thảm, vòng qua sau lưng ông mặc đồ lính.
Garry cố tình rọi đèn vô mặt ông ta, ông che mặt, không thấy chung quanh. Thompson chồm lên.
– Rẹt!
Nhát dao cứa ngang cổ.
– Rầm!
Ông mặc đồ lính té xuống sàn. Garry để máy quay lên bàn, chiếu đèn vô mặt bà già và cô y tá. Anh quay qua chụp gói thuốc mê vô mặt chị đàn bà đang há miệng kinh ngạc. Chị ngửa mặt, đầu quẹo qua trên ghế. Thompson, Garry cùng chụp thuốc mê vô chị y tá và bà già. Hai người gục xuống bàn.
Thompson bấm máy.
“GO”
Chiếc bán tải Toyota thắng trước cổng sau. Amir lái xe, Thompson dìu chị đàn bà ra xe. Garry chạy ra cửa trước, leo lên chiếc díp Mỹ có hàng chữ “Music TV”. Nổ máy. Anh chạy theo chiếc xe bán tải Toyota.
Nắp thùng rác văng ra, Cái đầu tóc quăn, bờm tròn như Mỹ đen, đội mớ rác ló lên, nhìn chung quanh.
– Aaaaa…hhh!
Anh Ả Rập mặc đồ lót, chống tay leo lên.
– Rầm!
Thùng rác ngã xuống. Anh ta lồm cồm bò ra. Chạy vô nhà của chị Ả Rập, chụp cái phone trên bàn.
Chiếc Toyota và xe díp Mỹ vừa quẹo trái lên xa lộ, chạy về hướng biên giới.
Bị truy nã
– Tạch! Tạch! Tạch!
Chiếc xe cảnh sát Pakistan màu trắng xanh bắn loạt Ak sát đầu xe. Xe Toyota chạy lui, quẹo phải ngay ngã ba, leo bờ cỏ, lên xa lộ. Garry lái chiếc díp, vượt qua exit, vòng lên xa lộ. Xe cảnh sát hụ còi, chạy theo.
– Tach! Tạch! Tạch!
Dãy núi biên giới đã thấp thoáng trước mặt. Cảnh sát bắt đầu bắn.
– Bụp! Bụp!
Hai bánh sau của Toyota trúng đạn, xe quay một vòng, chạy xuống bờ cỏ. Garry quay đầu xe trên xa lộ. Chạy ngược lại. Đối đầu với xe cảnh sát. Garry đứng lên… Anh cảnh sát ngồi ghế bên kia, chồm ra, chĩa khẩu súng tay.
– Phụp! Phụp!
Hai lưỡi dao nhỏ, cắt trái cây xẹt vô, cắm đúng thái dương của anh cảnh sát đang lái xe
– Đùng! Đùng!
Hai phát đạn xéo lên trời… Xe cảnh sát tông đầu vô dãy cột xi măng ngăn giữa lòng xa lộ, lộn vòng trên cao, rớt xuống.– Ầm!
Bốc cháy.
Garry chạy thẳng. Anh nói trong máy
– Tao tới đón! Chạy lên xa lộ!
Thompson cõng chị đàn bà, Amir cầm khẩu súng tay, chạy lên xa lộ.
Garry thắng gấp.
– Rét…ttt!
Đầu xe quay lại. Thompson đẩy chị đàn bà còn mê man vô ghế sau, Amir ngồi trước với Garry.
– Mình cắt đường núi, chạy qua biên giới… Không qua đèo! Vì cảnh sát đang chặn đường ở đó!
Amir bấm GPS. Garry ra exit, chạy tới con đường nhỏ vòng qua núi trước mặt.
Amir nói.
– Chạy thẳng, quẹo vô núi đá… Leo ngọn đồi trước mặt! Dưới chân đồi là con suối… Bên kia suối là Afghanistan! Ngừng lại!
Garry ngừng, Amir xuống xe, anh vỗ đầu xe, đưa tay chào
– Về nhà an toàn!
Garry chạy thẳng, anh quẹo ngay núi đá, leo lên đồi.
– Tạch! Tạch! Tạch!
Đạn tung lớp đất đỏ ngay đầu xe díp. Chiếc xe cảnh sát Pakistan đang đứng ngay dốc đồi. Chĩa khẩu Ak. Garry thắng lại.
Giác đấu
– Tao chơi màn giác đấu! Thompson lái xe! Đưa con dao rừng cho tao!
Garry cầm con dao, chồm ra cửa bên phải.
– Thompson! Chạy thẳng vô tụi nó! Lách qua trái… Tao chém thằng tài xế là xong chuyện!
– Tạch! Tạch! Tạch!
Tràng Ak nổ trước đầu xe díp, nẹt trên lớp thép.
– Mẹ! Tụi nó bắn sát quá!
Thompson nói.
– Mầy chạy thẳng vô, tụi nó sợ… Bắn chưa chắc trúng! Ha Ha! Trúng chưa chắc chết! Chạy đi!
Thompson xông chiếc díp thẳng vô xe cảnh sát… Anh lách nhẹ qua trái. Garry chồm người ra ngoài thọc con dao rừng lưỡi dài vô mặt anh tài xế, lưỡi dao hụt ra phía sau lưng ghế.
– Quay lại!
Garry, mở cánh cửa xe, anh đứng một chân trên ghế, một chân trên thanh sắt bên hông xe. Thompson nhịp nhịp máy.
– B…Rùm! B… Rùm! B… Rùm!
Anh tống ga.
Chiếc díp lao nhanh tới xe cảnh sát. Tài xế lách qua trái, anh cảnh sát ngồi bên, đứng dậy chĩa khẩu súng ngắn vô mặt Garry!
– Phực!
– Aaa…hhh!
Cánh tay cầm khẩu súng của anh cảnh sát văng xuống sườn đồi. Xe cảnh sát quay đầu lại, chạy xuống đồi để chận đầu chiếc xe díp.
– Thompson! Lách qua trái, nhào vô bên tài xế!
Garry la lớn.
Thompson chạy theo xe cảnh sát, lách qua trái. Garry đứng thẳng một tay bám cửa xe đã mở ra, tay kia đưa cao cây dao rừng. Thọc mạnh!– Phập!
Lưỡi dao rừng kẹt ngang cổ anh tài xế, làm đầu anh không gục xuống được… Máu túa ra… Xe cảnh sát rú lên, lăn xuống bờ suối.
– Ầm!
Một tháng sau. Báo chí ở Washington chạy cột tin nóng.
“Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thông báo. Cuộc trao đổi giữa một nhà khoa học Afghanistan đang xây dựng vũ khí nguyên tử cho Taliban với ái nữ của một nhân vật lãnh đạo Hoa Kỳ đã thành công tốt đẹp… tại Thụy Sĩ.”
Riêng tặng những cựu biệt kích SOG và những người đã hy sinh
Post by Sơn râu 3 Jul 2026
Một buổi chiều sau những giờ tập luyện đổ mồ hôi trong khu rừng nhiệt đới, vài huấn luyện viên cùng với “học viên” thuộc đơn vị SOG vào câu lạc bộ uống vài chai bia xả hơi. Trung sĩ Jason T. Woodworth thuộc căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) lên tiếng hỏi “Al, anh và Ben đã từng đi hành quân với toán biệt kích. Cảm tưởng thế nào? Ý tôi muốn so sánh với những khoá huấn luyện khác”. Tôi suy nghĩ vài giây, rồi trả lời rất thành thực.
“Đầu tiên là chúng ta đang ở trên vùng đất của người Da Đỏ. Mình giống như con mèo đi nhón gót nhẹ nhàng trong một căn phòng đầy những con chuột đang ngủ. Anh phải biết rằng nếu một con tỉnh giấc, sẽ có một trận đánh nhau, và nếu chúng bắt được anh, mọi chuyện kết thúc! Tuy nhiên, anh là người Hoa Kỳ nên hy vọng sẽ được đi thăm một trại tù binh nào đó. Còn nếu anh là biệt kích quân người Việt hay Nùng, mạng sống của anh… kể như đi đứt! Khi anh vượt biên qua Lào hoặc Cambodia, trước một kẻ thù đông gấp bội, anh sẽ phải chiến đấu cho sinh mạng của anh.”.
Tôi và Ben cùng với trung sĩ Gene Williams là toán biệt kích thứ năm xâm nhập vào đất Lào. Trung sĩ nhất Charles “Slat” Petry, trung sĩ nhất William Card và trung sĩ Jim “Halo” Smith đã xâm nhập hai chuyến đầu với cùng kết qủa. Do đó phải tổ chức lại, chọn lựa toán viên và huấn luyện kỹ càng (con sâu làm rầu nồi canh).
Trong tháng Năm 1968, trại LLĐB Khâm Đức có một tiểu đoàn thuộc sư đoàn Americal lên tăng cường, bị hai trung đoàn chính quy Bắc Việt tấn công, tràn ngập. Trong trận đánh này, quân đội Hoa Kỳ tổn thất nhân mạng 37 quân nhân. Trong tháng Tám năm 1970, bộ chỉ huy Bắc (CCN), đơn vị SOG, cùng với sư đoàn Americal phối hợp, mở lại căn cứ này, nhưng gặp phải phản ứng quyết liệt của quân đội Bắc Việt nên bộ chỉ huy Bắc phải bỏ luôn Khâm Đức (Trước đó, SOG xử dụng trại LLĐB Khâm Đức để đưa những toán biệt kích xâm nhập qua Lào). Những quân nhân SOG thuộc bộ chỉ huy Bắc (CCN) tham dự cuộc hành quân này gồm có: đại úy G. Jordan, trung sĩ nhất R.L. Noe (đi phép trong thời gian căn cứ bị tấn công), P. Bellofatto, trung sĩ A. Zapada, J. Lyman, M. Jordan, Billips, và M. Gonzales.
Chúng tôi đến khu vực Khâm Đức vào cuối năm 1965, trên những ngọn núi gần biên giới Lào-Việt, nơi hướng tây nam thành phố Đà Nẵng. Ở đó đã có toán A-105 LLĐB/HK chỉ huy trại LLĐB Khâm Đức). Bộ chỉ huy Bắc thiết lập căn cứ hành quân tiền phương (FOB) ở đó.
Tại các trại LLĐB ngoài vùng I chiến thuật, bạn bước ra khỏi cổng trước đã có thể bị bắn sẻ, phục kích trước khi ra đến phi đạo. Toán A LLĐB đến trại LLĐB Khâm Đức trước đó đã đặt rất nhiều mìn bẫy, khi toán này đến, cỏ tranh cao hơn đầu người đã phủ kín bãi mìn, không ai dám ra gỡ những quả mìn đó nữa.
Mục tiêu của chúng tôi (toán biệt kích SOG) là những kho chứa đồ tiếp vận của quân đội Bắc Việt, dấu trong khu vực rừng núi rậm rạp, phiá bên kia rặng núi, trên đất Lào. Toán biệt kích SOG đã nằm chờ (thơì tiết tốt) cả tuần lễ, hy vọng trời sẽ quang đãng, hết mưa để thi hành công tác. Trung tá Raymond “Cherokee” Call ở Đà Nẵng (CCN) lợi dụng trời tốt, bay (trực thăng) lên Khâm Đức. Tôi rất “ngần ngại” thời tiết ở đây, khi đã xâm nhập vào đất Lào, bỗng dưng thời tiết trở nên xấu, kể như toán biệt kích “kẹt” luôn, chỉ còn nước lội bộ trở về. Nhưng bộ chỉ huy MACV thúc đẩy, nên toán biệt kích phải lên đường.
Toán biệt kích xuống bãi đáp không có gì trở ngại. Nhưng như tôi đã lo ngại, khi chúng tôi vừa di chuyển, mây đen lại kéo đến che kín bầu trời, rồi bắt đầu mưa. Cơn mưa thật to, phải di chuyển qua bãi cỏ tranh dưới mưa là một cực hình. Chúng tôi nghĩ rằng, địch quân cũng chẳng đi lại trên đường mòn trong cơn mưa gió nên, nên mọi người đi trên con đường… cho đỡ cực nhọc.
Toán biệt kích ăn mặc bộ quần áo “bà ba đen” ướt sũng nước. Ba biệt kích Nùng đi đầu dẫn đường, “Ski” (trung sĩ nhất Bernie “Ben” Dunakoskie), một thiếu úy LLĐB/VN và tôi đi phiá sau. Khi trời hết mưa, chúng tôi tiếp tục đi trên con đường thêm một đoạn nữa trước khi chui vào một bụi cây.
Gần bụi cây, con đường uốn quanh, chúng tôi có thể quan sát cả hai phiá. Bỗng người biệt kích Nùng hướng đạo (nhiều kinh nghiệm, luôn đi đầu) ra dấu hiệu có một toán tuần tiễu của địch, nhưng không ai trông thấy để chuẩn bị. Khi toán lính Bắc Việt đến khúc quanh, ông thiếu úy LLĐB lên đạn khẩu tiểu liên K-9 Thụy Sĩ, rồi hai bên nổ súng.
Người biệt kích Nùng vừa bắn vừa lui về chỗ toán biệt kích. Từ hai đầu con đường mòn, thấy xuất hiện thêm nhiều lính Bắc Việt. Chúng tôi vội nổ súng để yểm trợ cho người biệt kích Nùng rút lui, rồi cả toán rút lui qua một bụi cây khác. Trong khi địch tiếp tục bắn vào bụi cây chúng tôi đã rút ra. Người biệt kích Nùng cho biết địch có khoảng một đại đội.
Trong khi toán lính Bắc Việt vẫn tiếp tục bắn cầm chừng đợi quân tăng viện, chưa dám tấn công, tôi ra lệnh cho toán biệt kích tiếp tục lui ra khỏi khu vực chạm súng. Trong toán biệt kích đã có người trúng đạn, Lon bị trúng một viên nơi vai, vết thương không nặng, tôi băng vội cho anh ta, rồi để anh ta đi phiá sau. Lúc này tôi và “Ski” lên dẫn đường cho toán biệt kích.
Ra khỏi khu vực nguy hiểm, tôi dẫn đầu toán biệt kích chạy trở lại bãi đáp trực thăng. Sau khi chạy được khoảng một tiếng đồng hồ, thấy có vẻ an toàn, tôi cho lệnh ngừng lại để xem lại toán biệt kích. Thêm hai biệt kích Nùng bị thương nhẹ, chúng tôi băng bó tạm để không để lại vết máu trên đường rút lui.
Lúc đó chúng tôi bắt đầu lo sợ (không như lúc nổ súng, sống… chết). Sau khi địch quân chấn chỉnh lại, chúng sẽ đuổi theo toán biệt kích. Và chúng tôi tiếp tục chạy, giữ khoảng cách với địch quân càng xa càng tốt, trước khi trời sập tối. Trên đường chạy, thỉnh thoảng chúng tôi ngừng lại để tôi chấm lại điểm đứng. Chúng tôi gặp nhiều đường mòn ngang dọc, có thể do người thiểu số bên Lào đi săn bắn. Chúng tôi tìm cách xóa dấu chân khi di chuyển, để địch quân không thể tìm ra lộ trình toán biệt kích di chuyển.
Tôi ra lệnh cho toán biệt kích di chuyển nhanh, phải ra khỏi khu rừng cây rậm rạp mới liên lạc được với căn cứ hành quân tiền phương Khâm Đức. Chúng tôi tìm được một khoảng trống, trải tấm pano để nhận diện. Chiếc phi cơ quan sát FAC đã nhận ra toán biệt kích ở dưới, cho chúng tôi điểm đứng chính xác và hướng dẫn chúng tôi di chuyển đến một bãi đáp gần nhất để trực thăng vào đón. Bãi đáp cách vị trí hiện tại của toán biệt kích khoảng… ba cây số.
Viên phi công FAC hỏi có áp lực của địch không? Tôi trả lời “có” bằng hai tiếng “click” bóp vào tay cầm cobinet máy truyền tin. Tuy nhiên FAC nói, mây thấp trực thăng không thể vào ngay được, hẹn sẽ đón toán biệt kích tại bãi đáp lúc 9:00 giờ sáng hôm sau. Tôi trả lời “OK!”, chiếc FAC vội bay đi chỗ khác để đánh lạc hướng địch quân. Chúng tôi lại đeo ba lô di chuyển để bù lại thời gian bị mất khi liên lạc với chiếc FAC và trước khi trời tối.
Chúng tôi vừa đi vừa ăn, trước khi trời tối, tôi cho lệnh ngừng lại nghỉ để xem lại toán biệt kích. Vết thương của Lon vẫn còn chẩy máu vì phải di chuyển, tôi băng thêm một lớp nữa, rồi toán biệt kích lại tiếp tục lên đường cho đến khi trời tối hẳn. Chúng tôi tìm được một bụi cây lớn chui vào, nằm thành vòng tròn, đầu quay vào trung tâm để phòng thủ.
Nằm yên được khoảng một tiếng đồng hồ, chợt một loạt súng nổ vang ở xa vọng lại làm cả toán biệt kích giật mình. Đó là kiểu bắn “dọ dẫm” của địch, tôi nói khẽ với biệt kích Nùng tên Cẩn nằm cạnh “nói mọi người, khóa an toàn khẩu súng”. Bây giờ một phát súng nổ bất cẩn, chẳng khác gì “Lậy ông! Tôi ở bụi này” (Đúng vậy, toán biệt kích đang nằm trong bụi).
Tiếng súng càng rõ hơn, cùng với tiếng người gọi nhau, tôi có cảm giác, tóc gáy mình dựng lên. Chúng tôi biết địch đang mong chúng tôi bắn trả lại. Lính Bắc Việt càng lúc càng gần về phiá toán biệt kích, tôi hồi hộp, hy vọng mọi người ai cũng giữ được bình tĩnh. Cuối cùng, chúng tôi nhìn thấy địch quân chỉ cách bụi cây khoảng 30 thước, cầm đuốc soi xuống đất tìm dấu vết, nhưng đám cỏ đã được chúng tôi đưa chân gạt qua lại làm đứng thẳng trở lại.
Không biết làm gì hơn, một tên quạt vào trong bụi cây, nơi có toán biệt kích một loạt đạn, bay ngang đầu chúng tôi vài phân. Rồi tiếp theo, một tên khác bước vài bước về hướng bụi cây quan sát. Toán biệt kích “đứng tim”, tôi có cảm tưởng chúng không bao giờ đi khỏi chỗ này, một biệt kích Nùng sờ nhẹ vào tay tôi như chờ lệnh, nhưng chúng tôi vẫn nằm im. Ít phút sau, toán lính Bắc Việt bỏ đi, ánh đuốc cùng với tiếng người từ từ đi xa dần… Chúng tôi thở mạnh ra.
Trước khi trời sáng, chúng tôi ăn thật nhanh rồi bắt đầu di chuyển về hướng bãi đáp. Toán biệt kích di chuyển thật chậm, cẩn thận nghe ngóng. Chúng tôi chỉ nghe tiếng chim hót chào mừng buổi sáng sớm. Bầu trời vẫn còn những đám mây xám, tôi hy vọng mặt trời lên sẽ làm tan bớt mây, để trực thăng vào đón chúng tôi.
Khoảng 6:30 phút, chúng tôi đến một giòng suối, nước chẩy từ trên núi xuống và sẽ đến bãi đáp trực thăng. Tôi quyết định cho toán biệt kích đi dưới suối để không để lại dấu chân, vả lại, trên bản đồ giòng suối sẽ đi đến bãi đáp để trực thăng vào triệt xuất toán biệt kích. Không sợ để lại dấu chân, chúng tôi di chuyển nhanh. Khoảng 7:30 toán biệt kích ngừng lại để nghỉ lấy sức, tôi coi lại vết thương của Lon, lấy nước suối rửa sơ qua vết thương, viên đạn vẫn còn nằm bên trong, anh ta nghiến răng để khỏi la. Sau đó tôi cột cánh tay lại, đồ ăn và những đồ nặng của Lon chia cho anh em trong toán biệt kích mang bớt. Hai biệt kích Nùng khác bị thương nhẹ cũng được thay băng, rồi đem tất cả những cuộn băng dính máu đi chôn, không để lại dấu vết.
Chúng tôi ngừng chân lúc tám giờ sáng, để liên lạc nhưng không có phi cơ nào trên bầu trời nên không được. Tôi lo lắng, với thời tiết xấu, phi cơ không vào được để “bốc” toán biệt kích. Trong chuyến xâm nhập đầu tiên vào đất Lào, cùng với trung sĩ nhất Petry, một trực thăng CH-34 thuộc phi đoàn 219 “King Bee” Việt Nam chở đại úy Larry Thorne bị rơi cũng vì thời tiết xấu thay đổi nhanh chóng. Đại úy Thorne cùng phi hành đoàn Việt Nam tử nạn.
Khi toán biệt kích di chuyển đến, chỉ còn cách bãi đáp khoảng 200 thước, người biệt kích Nùng đi đầu nổ súng và từng loạt súng nổ tiếp theo, vang dội núi rừng. Có lẽ địch đã nghi ngờ, khu vực này có thể làm bãi đáp trực thăng, và chúng tôi đã đụng đầu với toán canh gác của địch. Các biệt kích quân Nùng, không do dự (vì địch ít người), chạy lên tấn công chớp nhoáng. Đạp lên đầu địch quân (có lẽ chỉ một, hai tên đã bị tiêu diệt), chúng tôi tiếp tục chạy đến bãi đáp. Đó là nguồn hy vọng của toán biệt kích, phải đến bãi đáp, tử thủ cho đến khi trực thăng vào cứu.
Chúng tôi đến bãi đáp, việc đầu tiên coi lại toán biệt kích, đã có ba biệt kích Nùng bị thương nhẹ đang xé băng cá nhân băng tạm vết thương. Tôi ra lệnh cho “Ski” cùng với hai biệt kích Nùng đi quanh khu vực bãi đáp, coi chừng còn tên địch nào nữa không. Tôi đi lại chỗ Lon, anh ta gục vào một thân cây, khuôn mặt tái xanh vì đau đớn và kiệt sức. Phía bên phải áo của anh ta đẫm ướt máu, từ hôm qua đến giờ Lon đã mất nhiều máu vì phải di chuyển, phải chạy. Lon thực sự là một người can đảm, không kêu than. Tôi cởi áo anh ta ra, miếng băng đã đẫm máu đang nhỏ từng giọt máu xuống. Tôi thay miếng băng khác, cột chặt vết thương lại để cầm máu. Đến lúc đó tôi biết rằng Lon không thể chạy được nữa, và cả toán biệt kích cũng đã… hết đường.
Có tiếng súng nơi hướng “Ski” và Cẩn đang lục soát. Tôi đỡ Lon nằm xuống đất, lấy khẩu tiểu liên Thụy Sĩ K-9 của anh ta, tháo cơ bẩm vứt đi một nơi, khẩu súng một hướng khác. Tôi ra hiệu cho hai biệt kích Nùng lại, khiêng Lon ra bìa bãi đáp trực thăng nằm đợi. Lúc đó “Ski” và Cẩn lui trở lại, sau lưng họ có lính Bắc Việt chạy qua lại giữa những thân cây lớn. Tôi nổ súng làm chúng phải đứng lại, nấp sau thân cây. Toán biệt kích chỉ còn ba người chưa bị thương, tôi ra lệnh cho binh sĩ Nùng bố trí sau những hàng cây nơi bià rừng, quay lưng ra bãi đáp chống cự với địch. “Ski” bò ra giữa bãi đáp trải tấm Pano làm dấu cho trực thăng trông thấy, Cẩn bò theo bảo vệ “Ski”. Sau khi xong việc, cả hai di chuyển qua phiá bên kia, nằm bảo vệ bãi đáp trực thăng.
Tôi mở máy truyền tin, cố gắng liên lạc. Bầu trời vẫn u ám, nhiều mây. Tôi biết rằng, đến buổi chiều nếu trực thăng không vào được, định mệnh dành cho toán biệt kích coi như… đã an bài. Khoảng 10:00 giờ sáng, tôi nghe tiếng khu trục A1 Skyraider bay vần vũ trên bầu trời, vội đổi qua tần số “Không-Lục” để liên lạc. Tiếp theo là tiếng trung tá Call, bộ chỉ huy Bắc (CCN) gọi danh hiệu của toán biệt kích.
Trung tá Call báo cho biết đã cho một trực thăng tải thương đến. Tôi báo tín hiệu “Shining Brass” (Khẩn cấp! Toán biệt kích đang lâm nguy, có thể bị tiêu diệt). Khi phi cơ quan sát bao vùng nhận được tín hiệu “Shining Brass”, sẽ điều động tất cả các phi cơ: phản lực, khu trục, trực thăng võ trang, đang trên vùng hành quân Shining Brass của đơn vị SOG (Lào) bay về đánh giải vây để cứu toán biệt kích đang gặp nguy hiểm.
Tiếp theo tôi nghe tiếng phản lực cơ F-104 “Star Fighter” gầm thét trên bầu trời như đe dọa những đơn vị Bắc Việt đang tìm cách tiêu diệt toán biệt kích. Viên phi tuần trưởng gọi toán biệt kích.
– Shining Brass! Shining Brass! Đây là Lancer Leader.
– Lancer Leader! Đây là Shining Brass. Mừng khi nghe tiếng bạn!
Viên phi tuần trưởng cười, trả lời.
– Nghe nói bạn đang gặp khó khăn ở dưới. Chúng tôi giúp được gì không?
– Bạn dọn dẹp xung quanh bãi đáp, cách khoảng 50 thước được không?
– Nhận rõ!
“Ski” từ phiá bên kia đầu bãi đáp chạy trở lại báo cáo, có nhiều địch quân đang tiến về bãi đáp, anh ta cùng với Cẩn quay trở lại với toán biệt kích. Tôi gọi Lancer Leader.
– Lancer Leader! Đây Shining Brass, Có nhiều địch quân di chuyển nơi đầu bãi đáp cách khoảng 300 thước, bạn dọn dẹp chỗ đó luôn giùm tôi.
Mấy chiếc phản lực F-104 lao xuống thả bom, tiếng nổ điếc tai. Trung tá Call gọi lại cho biết, trực thăng cấp cứu đang vào, toán biệt kích chuẩn bị. Viên phi tuần trưởng “chơi đẹp”, nói tôi cùng toán biệt kích lo chuẩn bị bãi đáp, anh ta sẽ làm nhiệm vụ “điều không”. Tôi ra lệnh khiêng Lon ra bãi đáp, gọi mấy binh sĩ Nùng đang bố trí nơi đầu bãi đáp chạy trở vào “Nhanh lên! Nhanh lên!”.
Thêm một phi tuần F-104 khác lên bao vùng. Cả toán biệt kích khiêng Lon đi vào khoảng trống bãi đáp. Toán bảo vệ của “Ski” cũng vào đến nơi, tôi vui mừng trông thấy cặp mắt Lon mở ra, có vẻ tỉnh táo. Tôi nghe tiếng động cơ trực thăng bay vào, đó là mấy chiếc trực thăng võ trang, bay vào bắn hỏa tiễn xung quanh bãi đáp. Rồi thì chiếc trực thăng H-34, Việt Nam do phi công Cowboy đáp xuống, anh ta đưa tay vẫy đám biệt kích. Tôi hối mấy biệt kích Nùng đưa Lon lên, cùng với mấy người bị thương. Chiếc H-34 cất cánh rời bãi đáp nhanh chóng.
Chiếc thứ hai sẽ vào “bốc” những người còn lại của toán biệt kích. Chợt trung tá Call ra lệnh cho Mustachio (một phi công H-34 Việt Nam khác. Cowboy và Mustachio thuộc phi đoàn 219 trực thăng “King Bee” rất nổi tiếng trong đơn vị SOG) tránh ra khỏi bãi đáp vì cả trung đội lính Bắc Việt đã vào sát bãi đáp. Các trực thăng võ trang lại phải bay vào làm một tour nữa. Mustachio theo sau đáp xuống. Tôi, và “Ski”, viên sĩ quan LLĐB/VN cùng hai binh sĩ Nùng leo thật nhanh vào trong máy bay.
Mấy trực thăng võ trang vẫn bay vòng trên đầu bãi đáp cho đến khi chiếc H-34 đã ra khỏi bãi đáp an toàn. Về đến bộ chỉ huy Bắc (CCN) ngoài Đà Nẵng, tôi cùng với “Ski” vào câu lạc bộ uống vài chai bia với hai phi công H-34 Việt Nam. Chiều hôm đó, tôi cùng với “Ski” lên một chiếc C-47 bay vào Saigon trình diện đại tá Arthur D. “Bull” Simon chỉ huy trưởng đơn vị SOG.
Đại tá Simon muốn trưởng toán biệt kích gặp ông ta đã trước khi báo cáo kết qủa lên cơ quan MACV. Đối với ông ta… phải làm việc tận lực. Trả viên sĩ quan LLĐB về lại đơn vị, cho Lon về hưu, thuyên chuyển các biệt kích Nùng qua đại đội Xung Kích Hatchet Force.
Lời Cuối:
1. Khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, những quân nhân mất tích bên Lào, không một người nào sống sót trở về.
2. Trong các cuộc hành quân “vượt biên”, đơn vị SOG mất khoảng 400 quân nhân LLĐB Hoa Kỳ.
3. Trong tháng Năm 1968, bộ chỉ huy Trung (CCC, Kontum), một toán biệt kích lâm nguy, phi công trực thăng Hoa Kỳ không dám đi. Phi công Cowboy (Việt Nam) bay vào cứu thoát toán biệt kích đưa về Kontum. Trên đường về căn cứ, Cowboy rớt trực thăng tử nạn, để lại vợ và một con thơ.
Tháng trước lúc tàu trên đường qua Valencia có hẹn với Frans và Musli khi tàu ghé bến sẽ lên bờ chơi. Nhưng chiều hôm đó tàu vừa ghé chưa kịp tắt máy thì cần cẩu đã thả xuống, câu lên liền mấy chục cái containers và thả xuống mấy chục cái, chưa đầy bốn tiếng đồng hồ tàu lại hải hành. Cũng từ đó tàu chạy liên tục qua lại giữa Ma Rốc và Tây Ban Nha, mỗi cảng đậu lại nhiều lắm là một ngày, chừng đó thời gian thì đâu có đủ cho thủy thủ lên bờ.
Tôi xuống tàu tháng cuối mùa hè, bây giờ đã vào mùa thu, mới đó đã hơn hai tháng lênh đênh trong vùng Địa Trung Hải. Hôm nay tàu ghé cảng Vigo, đậu lại được ba ngày, nhờ vậy mới có thời gian cho thủy thủ đổ bộ xả hơi. Vigo là một đô thị trong tỉnh Pontevedra thuộc khu tự trị Galicia, nằm về phía tây bắc của bán đảo Iberia, trên bờ phía nam trong vịnh Ria de Vigo của Tây Ban Nha. Gió Đại Tây Dương thổi về làm dịu mát buổi xế chiều, tôi bận chiếc áo lót bên trong áo sơ mi, bên ngoài khoác chiếc áo khoác hai lớp cho hợp với khí hậu mùa thu. Ngồi xuống băng ghế mang giày và cột dây giày xong, tôi đứng dậy, mang lô lên vai, đi ra sau lái thấy Frans và Musli, cũng ba lô trên vai, áo quần bảnh bao, đứng trên đầu cầu thang lóng ngóng có vẻ nóng ruột. Tôi vừa cười vừa nói:
– Y chang khách du lịch.
Musli ngước mặt hinh hỉnh nói:
– Dĩ nhiên.
Frans đi tới chìa passport của tôi ra trước mặt tôi, nói:
– Của chú nè.
Trên tàu passport của thủy thủ đoàn được giữ trong phòng thuyền trưởng, Frans lên lấy passport tiện tay nó lấy cho tôi luôn. Đúng ra ở vùng này tôi không cần passport, vì tôi có quốc tịch Hoà Lan và được phép đi qua nhiều nước Âu châu với thẻ căn cước, nhưng thế giới bây giờ đương hỗn loạn, sự tự do trên những quốc gia tự do cũng hạn chế, con người ta luôn nghi ngờ và rình rập nhau. Nhiều khi lên bờ trình giấy cho nhân viên gát cổng, thấy tôi không phải là người da trắng mà hổng có paspoort, họ bắt phải trở xuống tàu lấy. Cầm paspoort nhét vô túi ba lô, tôi ngước lên khoát tay nói với hai đứa:
– Ok, chúng ta đi.
Trước đây tôi có thói quen, hễ mỗi lần tới một thành phố đẹp, có thời gian rảnh tôi dành hết cho ngoài đường. Đối với tôi thời gian lang thang ngoài trời là bác sĩ chữa lành mọi bịnh tật, hơn nữa đi bộ giữa thế giới tự do và không gian mở rộng cũng làm cho tinh thần thoải mái, nó cho ta có thời gian để suy ngẫm và sắp xếp nội tâm cho hoà hợp với sự hào phóng của thiên nhiên, nhưng đó là chuyện hơn chục năm trước, bây giờ tuổi đời cũng khá bộn, đi bộ nhiều bị mỏi chưn. Quen lâu rồi, Frans biết tánh tôi nên nhìn tôi cười cười và nói:
– Tắc xi sắp tới rồi chú.
Phần đông người trẻ ngày nay đi thì như chạy và ngại con đường, đoạn đường đi bộ chừng mười lăm hai mươi phút đối với chúng đã là xa lắm rồi. Có lần mấy đứa ngồi trong tắc xi, thấy tôi đi bộ bên đường, chúng kêu tài xế dừng lại rồi hai đứa nhào xuống xốc nách rinh tôi nhét vô xe, muốn cho tôi đi tắc xi mà làm như cảnh sát bắt tội phạm vậy.
Chúng tôi ngồi tắc xi vô phố, chú tài xế dừng lại khuôn viên rộng, cạnh một bến nước. Sau khi trả tiền tắc xi chúng tôi xuống xe rồi đi dọc theo bờ nước, ngoài kia hổng biết sông hay là vịnh mà giữa dòng có vài chiếc tàu buồm vô ra ? Bên kia bờ là núi đồi thâm thấp, ẩn trong rừng cây lúp thúp những mái nhà, dưới chưn đồi là một dãy phố sừng sững hướng ra bến nước, nơi lố nhố nhiều cột buồm của những tàu du lịch từ bốn phương tới đậu. Frans đứng lại, nó đưa điện thoại cho tôi và nói:
– Chú chụp dùm tụi con.
Tôi đón lấy điện thoại, hai đứa đi tới đứng choàng tay qua vai nhau làm dáng trước hàng cây cổ thụ có tàn lá xanh um và cạnh dưới những gốc cây có vài bồn hoa với nhiều màu sắc. Chụp xong cho hai đứa, Musli kéo tôi lại đứng với nó và đưa máy qua Frans nhờ chụp, chụp xong thấy tôi dợm bước ra Frans liền nói:
– Chú chờ chút.
Frans moi trong ba lô ra cái chưn gắn máy ảnh bằng nhựa, nó kéo chưn ra rồi kêu tôi đưa điện thoại của nó cho nó kẹp vô chưn, xong nó đặt chưn lên mặt đường rồi kêu tôi và Musli đứng ngay cho nó nhắm, Frans để năm giây tự động, bấm máy và liền đi nhanh tới đứng cạnh bên để chụp chung ba đứa. Chụp xong tôi hỏi:
– Tụi con muốn chụp chỗ nào nữa không?
Frans vừa tháo điện thoại, xếp chưn nhét vô ba lô và nói:
– Cảnh ở đây đẹp quá, để con tự chụp.
Tôi chỉ chiếc băng đá bên đường, cạnh những bồn hoa, nói:
– Chú qua đó ngồi chờ, tụi con tự nhiên, chụp hình xong rồi mình đi tiếp:
Musli hỏi:
– Chú không chụp nữa sao?
– Chụp chung được rồi, chú đã già chụp mình ên hổng đẹp đâu.
Musli vỗ vai tôi:
– Chú đâu có già.
Câu này tôi nghe nhàm quá nên không đính chánh làm gì. Tôi đi qua chiếc băng đá, tháo ba lô để lên mặt chiếc băng rồi ngồi cạnh ba lô hít thở, định thần và đưa mắt ngắm cảnh. Khách du lịch cũng đông nhưng khuôn viên quá rộng nên không chen chúc ồn ào và sự yên ắng đến nghe rõ tiếng chim kêu trong nhữn tàn lá trên hàng cây.
Tôi thích thành phố Vigo có những con đường thoai thoải dốc và cạnh bên những ngọn đồi thấp, làm tôi nhớ tới núi rừng Tây Nguyên-Việt Nam, nơi đó mùa này hoa dã quỳ nở vàng khắp núi rừng. Chợt nghĩ lan man về những năm đầu lang bạt, tôi chỉ có cái radio bằng bàn tay, mang tiếng loại radio bắt được các đài trên thế giới nhưng thiệt ra là tùy vùng, tùy lúc, nếu đi bên vùng châu Á, thì nghe được vài giờ của mấy đài nước ngoài phát tiếng Việt và đài Hà Nội. Qua Phi châu hay Nam Mỹ, những lúc tàu ra khơi thì không nghe được, có khi cả năm hổng nghe tiếng Việt và chẳng biết tin tức quê nhà. Có lẽ dạo đó tôi chưa biết nhiều về thế giới bên ngoài, nên mới thấy không nước nào trên trái đất này đẹp hơn nước Việt Nam, vì vậy trong lòng luôn canh cánh nhớ về quê hương sông nước, biển đảo, đồng bằng cho tới Đại Ngàn của miền Cao Nguyên nước Việt. Những năm sau này nhờ internet mà tôi biết khá đầy đủ những chuyện xảy ra trong nước Việt Nam mình và luôn cả thế giới, tất cả đều nằm gọn trong lòng bàn tay, muốn biết bất cứ thứ gì, chỉ cần mở điện thoại thông minh ra bấm bấm, quẹt quẹt vài cái thì nghe và đọc được hết những chuyện đã xảy ra từ phố thị cho tới Hóc-Bò-Tó trên quê hương, có lẽ vì vậy mà niềm nhớ thương quê hương chỉ thoáng qua, chớ không còn thiết tha như ngày trước nữa.
Những chuyện trước kia như bóng mây bay qua bầu trời. Tôi đưa mắt nhìn ra bờ sông, người ta ăn bận kín đáo hơn những ngày hè, đàn bà bận áo đầm, vai mang túi xách trông sang trọng làm sao, đàn ông nai nịt bảnh bao và mang máy chụp hình, thỉnh thoảng đưa máy lên chụp mấy bà hoặc chụp chung một nhóm. Ai cũng có cặp có đôi chỉ có Frans và Musli, hai thằng đực rựa loay hoay trên bến tàu, lúc đứng, lúc khom, lúc ngồi và day qua, day lại, tay cầm điện thoại đưa lên mắt nhắm chụp cảnh. Chụp đã rồi hai đứa mới chịu đi lên, tới bên tôi Musli hỏi:
– Mình đi đâu chú?
Tôi chưa kịp nói gì thì Frans kề miệng gần tai tôi nhưng không nói nhỏ, nó cố ý nói cho Muisli nghe luôn:
– Musli muốn đi kiếm gái.
Tôi nhìn qua Musli, nó cười cười không nói gì. Thiệt ra những thủy thủ trẻ đổ bộ, ngoài chuyện gái gộc, nhậu nhẹt ra thì đâu còn gì nữa. Nhớ lại những ngày tôi mới tập tễnh hải hành, con người ta dễ gần nhau lắm, lên hội quán thì đàn bà, con gái lúc nào cũng sẵn sàng và mỗi khi tàu ghé bến, vừa hạ cầu thang thì các cô leo lên tàu ở chơi với thủy thủ cho tới khi tàu khởi hành các cô mới chịu chia tay, thủy thủ ra khơi tên nào cũng phờ phạc và tiền bạc trong túi cũng sạch trơn. Từ khi có HIV thì các cô, các bà không xuống tàu nữa và lên hội quán thì ngoài vài cô bán hàng ra, còn lại toàn là đực rựa, thủy thủ có muốn xả-súp-páp thì chịu khó lên bờ vô những khu đèn đỏ, nhưng dù sao đi nữa thời gian này cũng còn có những khu đèn đỏ để cho thủy thủ giải quyết vấn đề. Đến khi dịch cô-vít tràn lan khắp thế giới thì những khu đèn đỏ đóng cửa luôn, chuyện liên hệ người và người không còn nữa, thủy thủ đành phải chịu, tên nào hổng chịu nổi thì tự sướng cho qua cơn.
Nếu tương lai thủy thủ không còn liên hệ với người trên đất liền nữa thì những tháng hải hành buồn bã biết bao. Tưởng chừng như bế tắc, nhưng dịch cô vít chỉ qua một thời gian, con người cũng có phần cởi mở hơn. Lâu lắm rồi tôi không vô những khu ăn chơi nữa nên hổng biết mấy khu đèn đỏ và những nhà chứa có sinh hoạt lại bình thường không? Tuy nhiên trong phố của những quốc gia nằm trong vùng Địa Trung Hải, thỉnh thoảng cũng thấy vài cô đứng đường chào hỏi và vô mấy hộp đêm cũng có các cô tới rạ rẫm xin ngồi chung, thường là các cô tị nạn từ châu Phi qua. Đi chơi với mấy đứa nhỏ tôi biết vậy thôi, chớ thiệt ra chuyện gái gú lâu rồi tôi không còn thiết tha nữa nên không biết được nhiều. Tôi đứng lên và khom xuống lấy ba lô mang lên lưng rồi day qua để tay lên vai Musli cười thông cảm:
– Con khỏi lo, ăn thì để chú lo, chơi thì để Frans dẫn đường, bây giờ mình cứ đi, hể thấy chỗ nào vui thì tắp vô.
Chúng tôi rời công viên băng qua con đường hướng về trung tâm. Đi ngang một con đường thấy những quán ăn treo bảng hiệu khắc trên tấm bảng gỗ giống như furanchos, có mái che bằng những tấm kiếng và có rất nhiều người ngồi ăn uống bên những chiếc bàn đặt cạnh nhau trước hiên. Tò mò tôi men vô xem thì thấy hai bên trước nhà hàng bàn ghế xếp ngay ngắn. Ở Tây Ban Nha có những chỗ ăn uống gọi là furanchos, nơi đây bán thức ăn truyền thống của gia đình tự chế biến và rượu nho cũng tự ủ để gia đình dùng, khi nào uống không hết mới đem ra bán lại, nối tiếp nhau đời này qua đời khác cả mấy trăm năm, sau này được nhà nước bảo tồn và đưa lên thành tập quán, lâu ngày nó nổi tiếng và phổ biến cho khách du lịch nước ngoài đến đây và được công nhận là văn hoá ẩm thực đặc thù của Tây Ban Nha. Furanchos mở cửa tối đa ba tháng trong năm, thực đơn chỉ có năm sáu món và thực khách ngồi ăn trước sân có tàn cây bóng mát hay dưới một giàn nho hoặc trong mái hiên nhà, nhưng ở đây xô bồ xô bộn không giống như furanchos mà tôi biết.
Tôi đi trước, Frans và Musli đi theo sau vô con đường hai bên nhà hàng bàn ghế sắp ngay ngắn và thực khách cũng khá đông, nghe họ trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, tôi ngờ rằng những thực khách ngồi trong đây, họ đến từ những chiếc tàu buồm đậu dưới bến kia. Có một khoảng dành cho những người bán hàu, gian bán hàu trông riêng lẻ nhưng nó có liên hệ với các nhà hàng, khách mua một dĩa hàu có thể ngồi vào bàn của một trong những nhà hàng nào cũng được, cứ gọi nhân viên hoặc người bán hàu bưng tới. Những con hàu tươi sống được các bà cạo, rửa sạch sẽ và tách ra trưng bày trên dĩa để ngay ngắn trên chiếc bàn trông hấp dẫn vô cùng, giá tiền mỗi dĩa tám con, con nhỏ giá mười tám euro, con lớn hai mươi lăm euro. Tuy Vigo nổi tiếng hàu tươi được quảng cáo là ngon nhứt, không biết nó có “nhứt” như quảng cáo không? Nhưng nhìn dĩa hàu tươi, sống được tách ra sạch sẽ, ruột mập, trắng sắp ngay ngắn trên dĩa lót nước đá và kèm theo nửa trái chanh để cạnh bên trông rất hấp dẫn, nhìn là muốn ăn ngay.
Tôi đứng lại trước những chiếc bàn trống của một nhà hàng, day qua hỏi hai đứa:
– Tụi con thích ăn đồ biển không?
Frans lưỡng lự nhưng Musli liền nói:
– Được đó chú.
Frans cũng gật đầu theo:
– Ô kê.
Chúng tôi bước vô vừa tới cửa quán, anh phục vụ ôm mấy quyển thực đơn bước ra vui vẻ chào và mời chúng tôi ngồi xuống chiếc bàn trống ở dưới hiên nhà, trên bàn đã sắp sẵn giấy xếp, ly, dao, nĩa. Chúng tôi vừa ngồi xuống thì anh ta đưa chúng tôi mỗi đứa một quyển thực đơn và hỏi:
– Các anh uống gì?
Tôi day qua nói với hai đứa:
– Đồ biển hợp với rượu vang trắng hoặc bia, đứa nào thích uống gì thì cứ kêu.
Hai đứa đồng ý uống rượu vang trắng. Tôi ngước lên nói với anh phục vụ.
– Cho chai vang trắng.
Anh nhân viên vô trong lấy rượu, chúng tôi mở menu ra xem, phải nói là ở Tây Ban Nha đồ biển rất phong phú. Nhứt là ở Vigo hải sản tươi sống nhờ vùng nước Đại Tây Dương chưa bị ô nhiễn, còn giàu chất dinh dưỡng cho các loại cá và nhiều loại động vật có vỏ. Những nhà hàng hải sản Tây Ban Nha đầu bếp chế biến đồ biển rất ngon và trang trí dĩa thức ăn trông bắt mắt. Tôi gấp quyển menu lại để lên bàn, Frans và Musli đang đọc menu, thấy tôi không đọc menu nữa nên ngước lên hỏi:
– Chú thích món gì vậy?
Tôi trả lời:
– Vô nhà hàng hải sản thì phải ăn cá, tôm.
Frans nói:
– Con thấy món nào cũng mắc.
Tôi cười dí dỏm nói:
– Cứ kêu ăn cho đã, ăn xong không tiền trả thì chú vô phụ bếp, còn hai đứa rửa chén trừ tiền.
Chúng tôi cười ha hả. Musli gấp quyển thực đơn lại để lên bàn, nói:
– Vậy chú gọi đi, tiệc này con trả.
Tôi khều nhẹ lên vai Frans cười và nói:
– Nghe chưa, yên tâm ăn, uống cho đã, phần sau cùng có Musli lo.
Frans cũng để quyển thực đơn lên bàn và nói:
– Đâu phải con ngại trả tiền, nhưng hồi biết chú tới giờ, đi với chú vô mấy quán bình dân không à.
– Hơn cả tháng nay không đổ bộ, tiền dư ra, ăn sang một bữa cũng đâu sao.
Lúc đó anh bồi bàn cầm chai rượu đi ra rót cho mỗi người một ly, xong anh để chai rượu lên bàn, day qua hỏi chúng tôi chọn thức ăn chưa. Tôi liền nói:
– Một dĩa mariscada cho ba người.
Anh bồi hỏi:
– Thêm gì nữa không?
– Không.
Anh bồi bàn đi rồi tôi mới day qua giải thích với hai đứa:
– Nếu muốn biết vùng biển đó có loại hải sản gì thì vô nhà hàng nơi đó gọi một dĩa mariscada thì sẽ biết.
Frans ồ lên nói:
– Món này có nghe chú nói nhưng con chỉ biết nó qua hình ảnh thôi.
Tôi cười và nói:
– Thiệtra thì cũng các món hải sản thôi, nhưng người có tâm hồn ăn uống thì nhìn dĩa mariscada tha hồ mà hình dung ra các động vật dưới đáy biển.
Frans co cánh tay phải và gồng lên, tay trái đập mạnh qua bắp tay phải một cái bụp. Nó cao giọng nói:
– Ăn đồ biển rất khoẻ!
Musli đưa ngón tay cái ra gặt gặt và hoạ theo:
– Nhứt là ăn hàu.
Tôi cười nói:
– Hai đứa còn trẻ, còn khoẻ, không ăn gì thì cũng mạnh như dê, cứng như cây, còn chú có uống cả bụm Viagra chưa chắc gì thằng nhỏ ngóc đầu lên nổi, nói chi ba cái đồ biển này thì nhằm nhò gì.
Chúng tôi cười ha hả và đưa ly rượu vang lên cụng. Lúc đó bồi bàn vụ bưng mâm ra, anh lấy ba cái dĩa hấp nóng để trước mặt cho mỗi đứa một cái, anh dọn ra bàn dĩa mariscada kèm theo rổ nhỏ đựng bánh mì và mấy hộp sốt, xong anh ta chúc chúng tôi ăn ngon rồi day lưng đi trở vô. Trong dĩa mariscada có ghẹ, chem chép, tôm thẻ, tôm tích, sò, mực ống và có bốn con hàu, con nào cũng mập và trắng tươi, tôi lấy bỏ qua dĩa mỗi đứa hai con hàu, nói:
Musli và Frans đớp mấy cái hết hai con hàu, Musli ngó ra chỗ bán hàu rồi dợm đứng lên nói:
– Để ra mua thêm dĩa hàu.
Tôi đưa tay lên ra dấu kêu nó ngồi xuống và nói:
– Ngồi đó ăn đi.
Tôi lấy chai rượu rót phần còn lại chia ra ba ly rồi nhìn qua thấy anh bồi bàn đứng trong góc bèn đưa tay ngoắc ngoắc, anh bồi bàn đi tới, tôi kêu thêm chai rượu, một dĩa hàu con lớn. Anh ta đi vô trong, tôi ngồi xuống bưng ly lên mời hai đứa. Nhấp ly rượu rồi để xuống, cầm nĩa ghim con tôm cắn một cái và nhìn hai đứa đang cắm cúi ăn mực ống ngon lành. Tôi cười thầm trong bụng, đúng là ăn để nạp thêm năng lượng! Người In Đô có ý nghĩ giống như người Việt, họ nghĩ đồ biển, nhứt là hàu là một loại thực phẩm kích thích và nó chứa các hợp chất để nâng cao vấn đề tình dục, theo tôi biết thì khoa học chưa chứng minh được điều này. Tôi vừa nhâm nhi rượu vừa nhìn người ta ăn uống mà nghĩ ngợi mông lung, những khách đến từ bốn phương họ ăn uống no nê để hưởng thụ chuyến đi du lịch, không biết họ nghĩ gì khi thức ăn và rượu trên bàn của họ đã gần hết? Nhìn Musli và Frans chú tâm ăn, uống ngon lành, có lẽ hai đứa vừa ăn vừa nghĩ tới lát nữa đây sẽ gặp mấy cô gái đang chờ trong các hộp đêm. Anh phục vụ bưng dĩa hàu để lên bàn và nói lời chúc ăn ngon. Lúc này Musli mới ngước lên ngó qua tôi hỏi:
– Chú không ăn hàu?
Tôi xoa tay lên bụng nói:
– Bụng chú không tốt, tụi con ăn đi.
Tôi day qua Frans nói:
– Ăn xong con dẫn Musli đi chơi đi.
Frans hỏi:
– Chú hổng đi với tụi con sao?
– Không, tụi con đi đi.
Musli ngạc nhiên day ngang hỏi:
– Sao vậy, sao chú hông đi?
– Tụi con đi chơi tới sáng mai cũng không sao, còn chú thức sau mười hai giờ thì coi như thức luôn tới sáng.
Có lẽ Frans quen với tôi lâu và hay nói chuyện với nhau nên nó hiểu ý tôi, nó chen vô:
– Ô kê.
Nó day qua nói với Musli bằng tiếng In Đô. Musli ừ hử rồi hai đứa lấy hàu bỏ lên dĩa, nặn chanh và rắc thêm tiêu, trước khi ăn hai đứa bưng ly lên cụng. Ba người ăn gần hết dĩa mariscada, thiệt ra tôi chỉ ăn mấy con tôm với bánh mì và nhâm nhi rượu, còn lại hai đứa cắm cúi ăn nhiều hơn. Frans và Musli ăn hết chục hàu, mười hai con và uống hết rượu trong ly. Hai đứa có vẻ hả hê, lấy khăn giấy lau miệng, chùi tay, xong Frans day qua tôi hỏi:
– Vậy chú chờ tụi con ở đâu?
Tôi khoát tay, vui vẻ nói:
– Khỏi chờ, xong chỗ này, chú đi dạo phố, lát tối chú tự xuống tàu, tụi con thong thả chơi đi, chơi đến khi cạn tiền, hết năng lượng thì về.
Ba người cười ha hả… Xong Musli ngoắt tay kêu anh bồi bàn lại, thấy nó ra dấu cho anh ta tính tiền. Tôi chỉ tay vô bàn ăn nói:
– Tụi con đi chơi đi, chỗ này để chú.
Frans nói:
– Đâu được, hôm nay chú để tụi con.
Lúc đó anh phục vụ đi tới để dĩa hoá đơn lên bàn, Musli xem thực đơn xong, nó lẹ làng móc ra một sắp đô la Mỹ với vẻ tự nhiên và bình thản đưa cho anh phục vụ, phần đông thủy thủ người In Đô có vẻ nghèo nàn và tính toán từng đồng, nhưng Musli rất hào phóng, chơi xả láng không tính toán với anh em, quả là phong cách của dân anh chị. Có lẽ trước khi giã từ nghề đòi nợ mướn nó tóm được mối xộp nào đó và được người ta trả công bằng đô la cho nó mang theo để làm lại cuộc đời, tôi mỉm cười và hài lòng với sự suy đoán khôi hài của mình. Nhưng anh bồi bàn xua tay cho biết là nhà hàng không nhận đô la. Tôi liền móc bóp ra nói:
– Vậy để chú trả.
Frans đưa tay chặn tay tôi và nói:
– Đâu được chú.
Frans liền móc bóp, mở ra rút tiền euro đưa cho người phục vụ. Trả tiền xong hai đứa đứng lên đi vô toilet, lát sau hai đứa trở ra, tóc tai gọn gàng, mặc mày sáng sủa. Tới bên tôi Frans lên tiếng:
– Hổng ấy chú đi với tụi con vô ba uống vài ly rồi đi đâu thì đi.
Tôi chỉ tay xuống dĩa thức ăn còn dư và chai rượu còn hơn phân nửa vui vẻ nói:
– Chú ăn và uống hết chỗ này đủ rồi
Frans hiểu ý tôi nó ừ hử mỉm cười. Musli tỏ vẻ ái náy, ngập ngừng nói:
– Nhưng chú…
Tôi cười vui vẻ và đưa tay ra đẩy nhẹ lên vai Musli:
– Đừng lo cho chú, hai đứa tự nhiên chơi vui vẻ.
Hai đứa đi rồi tôi mới thấy người nhẹ nhõm, té ra cỡ tuổi tôi bây giờ ở mình ên lúc nào cũng thấy thoải mái, không như hồi trẻ sôi nổi, đi đâu cũng muốn có bạn, có bè cặp kè cho vui. Nhìn dĩa mariscada còn lại hai con tôm tích, một con mực, một con ghẹ đã tách ra sẵn, mu ghẹ đầy gạch vàng vàng, và vài ba con chem chém, hai đứa chú ý ăn hàu nên không đụng tới ghẹ. Tôi lấy phần mu ghẹ bỏ vô dĩa và lấy chai rượu rót vô ly. Vừa nhấm nháp rượu và thưởng thưởng thức hương vị béo béo, mặn mặn của gạch ghẹ, làm tôi nghĩ tới các loài thủy tộc như tôm thẻ, tôm hùm, mực, bạch tuộc, các loài cá nhiều màu sắc đang bơi lội và những loài có vỏ như chem chép, nghêu, sò, ốc, hến trầm mình dưới đất, cát của lòng biển sâu, nơi đó có cả một thế giới rực rỡ đầy màu sắc sắc… Nghĩ tới đây chợt nhiên cổ họng tôi ơn ớn, muốn ọi ra, tôi bèn đưa ly rượu vang lên miệng hớp một cái để dằn cơn buồn nôn. Để ly rượu xuống bàn rồi đưa tay ngoắt anh bồi bàn lại, nói:
– Nhờ anh dọn hết dĩa dơ và đĩa thức ăn thừa đem vô, chừa lại cho tôi chai rượu vang được rồi!
Nghe nói, người ta dự trù thiết lập nhà máy làm giấy, tại một tỉnh thuộc miền xuôi. Nhà máy do nước Thụy Điển bên trời Âu viện trợ cho nước ta. Không biết công trình đã khởi công hay chưa. Chỉ nghe tin đồn, mà tin đồn thì thực hư chẳng lấy gì làm chính xác. Nhưng có điều chắc chắn, những người thất trận từ miền Nam xa xôi, bị đẩy tuốt lên vùng mạn ngược, đã được lệnh khai hoang, phá rừng để trồng cây bạch đàn. Lúc đầu, không ai biết trồng bạch đàn làm gì. Mãi sau, mới vỡ lẽ ra rằng, thân gỗ xốp của bạch đàn có thể dùng làm giấy. Nhà máy chưa xây, đã bắt tay vào việc tạo nguồn nguyên liệu cung cấp. Quả là biết lo xa!
Những tháng mùa Đông. Trời Việt Bắc mang một màu trắng đục. Chưa nói tới cái rét trên da thịt, chỉ nhìn màu trời ảm đạm, đã thấy buốt cả tâm hồn. Kẻ đi đày, áo rách, xác ve. Lòng sầu quê cũ. Nếu so với kẻ đi xây Vạn Lý Trường Thành vào thời Tần Thủy Hoàng, chắc cũng có điểm tương đồng. Sử sách ngàn năm xưa chép lại, tiếng kêu ai oán còn nghe văng vẳng theo ngọn Đông phong dọc suốt dãy Trường Thành. Khí uất xông lên, mây mù che ám một góc trời phía Bắc Hàm Dương. Chế độ nhà Tần bị diệt, cung A Phòng cũng cháy thiêu. Đền đài cung điện nguy nga, bỗng chốc hoá tro tàn. Trải qua bao nhật nguyệt nắng mưa. Hươu nai chạy trên nền cũ. Lau sậy lút đầu. Chứng tích một thời ác nghiệt kinh thiên, còn lại một Vạn Lý Trường Thành. Dù nhân loại không muốn tái diễn chế độ bạo tàn, nhưng các sử gia khẳng định rằng, lịch sử luôn luôn lặp lại. Và lịch sử Việt Nam đang lặp lại cái thời Tần Thủy Hoàng, hơn hai ngàn năm trước. Không gian, thời gian sai biệt, tình huống chẳng khác gì nhau. Đốt sách và đày ải con người, dường như sao nguyên bản của chính sách nhà Tần.
Lên miền Thượng Du, đứng đâu cũng thấy núi non bốn bề vây hãm. Trông về Tây Bắc, lô nhô một dãy chắn ngang tầm mắt. Núi nhoà sương, không rõ nét. Muốn sang bên kia, khu vực được chọn trồng cây bạch đàn, phải qua đèo. Đèo không cao mà dốc ngược. Thế đất yên ngựa nằm vắt ngang dãy núi. Thoạt nhìn, đã ngao ngán đôi chân. Đường đèo trơn ướt, gập ghềnh đá tảng, luồn lách qua những cây nhỏ cây to, quanh năm che khuất mặt trời. Đá núi ngậm sương lâu ngày, phủ áo rêu phong. Người đi trước, nhỡ làm lăn một tảng đá, khó lường được tai nạn khốc liệt cho người đi sau. Có nhiều đoạn đèo cheo leo bên bờ vực. Tay bám vào cây, chân lần từng bước. Sơ ý ngã xuống vực, mất mạng như chơi.
Đoàn tù lên dốc lom khom, thân chúi về phía trước, trông như những con ốc sên to lớn dị thường, từ từ bò trên miệng vực. Để chống cái rét thiên nhiên, có bao nhiêu áo quần vá víu, tù nhân đều chùm đụp cả lên người. Trên lưng lại chở thêm chiếc ba lô tự tạo. Trong ấy đựng nhiều thứ vặt vãnh, nhưng vô cùng cần thiết cho một một đời sống vốn đã đơn giản hoá đến mức tối đa. Những hình nhân biến tướng, thành những hình thù kỳ dị biết di động. Dù đã trùm nhiều lớp áo quần, nhưng vẫn thấy rét. Rét từ đâu trong xương rét ra. Rợn từng hồi, dọc theo xương sống. Rét thắt ruột gan vì đói. Rét luồn vào đường gân thớ thịt, tạo thành cơn run.
Lên tới đỉnh đèo, ngồi lại nghỉ mệt. Ủ hai bàn tay trong cặp đùi, sưởi ấm cho những ngón lạnh tê. Hai bên sườn núi mịt mù sương trắng. Nhìn xuống lũng, mây nặng màu chì, la đà trên thôn bản. Vời trông xa xa. Không gian mù đục, chẳng thấy chân trời. Làm người quen sống tụ họp nơi những vùng đất thấp. Lên cao, cảm giác chênh vênh hiu quạnh lạ lùng. Khí ẩm. Cây lá ướt mù sương. Trời đứng gió. Mọi vật chung quanh im lìm, dường như nín thở. Chỉ có lũ vắt rừng đang âm thầm hoạt động. Nghe hơi người, vắt từ lá mục bò lên, bám vào kẻ ngón chân. Vắt trên lá cây buông mình rớt xuống, chui vào cổ áo. Khi nghe da thịt ngứa ngáy, con vắt đã no máu rồi. Trên mặt địa cầu, nơi nào cũng có loài hút máu. Nhưng so ra, trong tất cả các loài hút máu, không có loài nào kinh khủng bằng loài người. Loài người, khi đã hút máu người, thì hút đến cạn kiệt sự sống. Những kẻ đi đày hôm nay, đang bị xuất huyết bởi chính đồng loại của mình.
Trong nỗi cùng khốn, chợt nghĩ đến một nhà văn ngoại quốc. Ông ta cảm thấy bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Ở những quốc gia bình yên sung túc, cuộc đời nhàn tản mãi, làm người ta nhàm chán. Họ muốn tìm cảm giác mới cho tâm hồn, tưởng tượng ra mọi nỗi thống khổ để quằn quại rên la cho thân phận kiếp người. Trên quê hương tôi, những thứ đó chẳng cần tưởng tượng. Tất cả những bất hạnh khổ đau nào cũng đều hiện thực. Chiến tranh. Nghèo đói. Chết chóc. Tù đày. Không vào địa ngục, cũng thấy cảnh A Tỳ. Quỷ Vô Thường hiển lộng. Những đấng Từ Bi Cứu Thế đều bỏ đi xa. Chúng sinh lặn ngụp trong bể trầm luân. Kêu gào. Than khóc. Chẳng thấy ai ra tay cứu độ. Thế mới biết, tại sao Lão Tử một mình cưỡi trâu xanh biệt tăm vào núi. Nhưng, thời của Lão Tử còn có thể tìm nơi cao sơn cùng cốc lánh đời. Thời của tôi, ẩn trong hang cùng xó núi cũng chẳng yên thân. Người ta sẽ lôi ra, gán cho đủ thứ tội lên đầu. Thành phần xã hội ở đây, được phân chia rất rõ. Quỷ và Người. Con người ở dương thế, nhưng sống trong trạng thái địa ngục. Phía sau những khẩu hiệu tưởng chừng dẫn tới thiên đàng, thật ra là đường về âm cảnh. Làm người trong thời của tôi, thường xuyên đi trên chông gai lửa đỏ. Tinh thần khủng hoảng, nhìn đâu cũng hồ nghi có họng súng lưỡi lê rình rập. Đêm chập chờn ác mộng. Nghe tiếng chó sủa, giật mình thảng thốt. Nghe gà gáy báo hiệu bình minh, sợ có kẻ tới nhà gọi đi thẩm vấn. Bị thẩm vấn là điềm báo tai ương, dữ nhiều lành ít.
Lên đèo đã vất vả. Xuống đèo, càng vất vả hơn. Không vận dụng sức lực nhiều, nhưng lắm rủi ro. Bất cứ lúc nào cũng có thể sẩy chân lăn xuống vực. Có nhiều đoạn dốc ngược, không thể di chuyển bằng đôi chân. Ngồi mà tuột dốc. Thương cho cái đít quần. Lết xuống tới chân núi, đít quần mòn rách te tua. Hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, cái ăn cái mặc là quý. Mảnh vải che thân bị rách, cũng đau như chính da thịt mình xây xước.
Qua tới khu vực chọn trồng bạch đàn, việc đầu tiên là lo chỗ ở. Tù nhân tạm trú trong nhà kho hợp tác xã. Nhà kho tứ bề trống lốc, không vách phên che. Dựng nhà kho để làm mô hình cho hợp tác xã. Người dân sơn cước chưa đủ miếng ăn, có đâu dư thừa lương thực cho vô nhà kho? Để chống cái lạnh thiên nhiên, tù nhân được ra đồng ôm rơm về lót ổ. Ngày còn nhỏ, nghe nói đến ổ rơm của người nghèo Miền Bắc. Thời xa xưa ấy, tưởng đã qua rồi. Không ngờ, mấy chục năm sau người tù đến đây, thực hiện cái ổ rơm cho chính mình. Ổ rơm của tù có hình thức như chiếc máng dài. Lòng máng lót nửa tấm chăn. Nửa tấm còn thừa, dùng đắp lên người. Cuộn mình lâu trong ở rơm, hơi ấm tụ lại, thấy đời cũng dễ chịu. Khi con người bị tước mất tất cả, thì một chút tiện nghi nhỏ nhoi, cũng nhân lên thành sự thoải mái lớn. Thoải mái thường sinh ra những ước mơ tình cảm. Nếu được nằm ôm vợ trong cái ổ rơm ấm áp này, thì hạnh phúc biết chừng nào. Nghĩ thế, lại bàng hoàng. Từ lâu, gia đình vợ con đã không còn là nỗi nhớ nhung quay quắt. Những hình bóng mờ nhạt ấy lùi sâu vào quá khứ, xa xôi như thời tiền sử. Trong cảnh cố cùng đói rách, dạ dày vật vã đòi ăn, kéo cái đầu xuống thấp, chạm mặt vào thực tại. Ước mơ được gần gũi gia đình hạnh phúc, là chuyện quá tầm tay. Đòi hỏi bức bách bây giờ là miếng ăn. Một đòi hỏi tầm thường của con vật. Thế nhưng không dễ gì được thoả mãn. Đêm nằm trăn trở, chỉ mơ tưởng miếng ăn hèn mọn. Củ sắn, hạt ngô bỗng to lên, chiếm hết những khoảng tình cảm dành cho vợ con, đẩy lùi hết những mơ mộng viễn vông. Khẩu hiệu tự do ấm no hạnh phúc, xem chừng đơn giản. Nhưng muốn vươn tới, không dễ. Bởi những khống chế giam cầm, những nghèo đói kinh niên, những trù dập răn đe, đi ngược chiều khẩu hiệu.
giữa thời kinh mang
người nằm trong đất không yên
phá mả tìm vàng
cạy nắp áo quan
huyệt sâu chấn động hồn thiên cổ
gỗ đá còn đau nhức thấu xương.
Người chết đã thế. Người đang sống vật vờ mà mong bình yên hạnh phúc, là điều hư tưởng.
Gần cuối thập niên bảy mươi, cả nước lâm vào tình trạng kiệt quệ. Hội Lương Nông quốc tế ồ ạt tuôn bột mì vào nước ta cứu đói. Bột mì được phân phối lên tận miền cao. Người dân sơn cước không quen ăn thứ bột xa lạ này, nên điều đình với trại tù đổi lấy sắn ngô. Chuyện trao đổi, người khác quyết định, nhưng tù nhân lại ăn bột mì. Phẩm càng cao, lượng càng ít. Tù đói rã ruột. Đói lờ đờ trắng mắt. Đói chóng mặt xiêu xiêu. Thời gian này, có nhiều người phải chống gậy mà đi. Cán bộ cho thế là cố tình bôi bác chế độ, bắt phải vất gậy. Sự thật tự nó đã hiển bày, cần chi bôi bác?
những bạn tôi ngồi như cổ thụ
già trăm năm trước tuổi không ngờ
manh áo vá che mùa gió bấc
mặt hao gầy râu tóc xác xơ.
Buổi sáng, trước khi lên rừng, được một cục bột luộc bằng nắm tay. Buổi chiều về, được ổ bánh mì dài cỡ gang tay. Ăn một lượng bột như thế với nước muối, mà phải ra sức “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, thì linh hồn nào cũng muốn ruồng bỏ xác thân.
Sương sớm còn âm u, đoàn tù đã có mặt trên vùng khai hoang. Đồi núi chập chùng. Rừng già heo hút. Tưởng như từ thời khai thiên lập địa chưa có chân người đi tới. Muỗi đói, vắt rừng làm tổ. Quơ ngọn dao lay động lá cành. Muỗi bay ra như bầy ong vỡ tổ. Muỗi cánh bông, hung dữ lạ thường, ào ạt tấn công. Nhưng muỗi cũng chưa đáng sợ bằng vắt. Vắt áp dụng chiến thuật du kích. Âm thầm len lõi, và đánh bất ngờ. Khi phát hiên được vắt, ta đã bị tổn thất rồi. Chỗ vắt bám, máu cứ ri rỉ cả ngày. Còn một loài ác ôn nữa, vô cùng độc địa. Loài này không nhiều, nên ít ai nói tới. Đó là ve chó. Vùng hoạt động lý tưởng của ve chó, là nách và háng. Người bị ve chó, cảm thấy sốt nhẹ và hơi đau nơi vết thương. Cổi áo ra xem. Một vùng da ửng đỏ. Trung tâm vùng đỏ, con ve vẫn còn bám như một hạt đậu đen, rúc sâu vào da thịt. Không biết nó bám đã mấy ngày rồi. Hấp tấp lôi nó ra, thì đầu và chân nó dính lại trong thịt. Nơi ấy sẽ làm độc thành ghẻ. Phương pháp hiệu nghiệm nhất để trục toàn thân tên cố lỳ, dùng đầu điếu thuốc nóng hơ vào đít nó. Chiến thuật hoả công buộc con ve rời nơi tử thủ như cái hố tròn bằng đầu đủa, tươm máu. Hậu quả ve chó để lại một vết thương ngứa ngáy cả tháng trời chưa khỏi.
Một thời gian dài khai hoang, vùng rừng già tre nứa mênh mông nằm rạp xuống. Châm một mồi lửa, tất cả cháy thiêu. Lửa cháy lan suốt đêm, không người canh giữ. Đất nước là của chung, nếu nạn cháy rừng xảy ra, ai nhận lấy trách nhiệm? Nửa khuya, đứng từ nhà kho hợp tác xã nhìn lên, bầu trời tối đen, không thấy dáng núi. Chỉ thấy lửa cháy trên cao, như lửa trời cháy giữa thinh không. Sau một đêm, vùng rừng thiêng tồn tại cả ngàn năm bị hủy ra tro. Người tù nhìn đất, ngẩn ngơ. Người với đất chung niềm đau nhức. Đất lặng thinh phơi bãi tro tàn.
Tù nhân khai hoang phá rừng dọn đất, nhưng không có lệnh chỉ định trồng bạch đàn. Nghe nói gần khu hợp tác xã, có trại lâm nghiệp. Trại này đang ương giống bạch đàn. Nhân viên lâm nghiệp toàn là phụ nữ độc thân. Bởi những đàn ông trai tráng đã hiến mình cho Đảng, vào Nam làm cuộc cách mạng thần kỳ bằng xương máu. Cách mạng giành được toàn quyền kiểm soát Miền Nam, nhưng họ không bao giờ về nữa. Tình trạng trai thiếu gái thừa, phụ nữ phải đảm trách những việc nặng nhọc trên các công nông trường. Cán cân nam nữ chênh lệch, gây nên lắm chuyện cười ra nước mắt. Phụ nữ lâm nghiệp đã từng đệ đơn kêu gào lên chính phủ, xin cung cấp đàn ông. Mục đích để có đứa con chăm sóc cho mình lúc tuổi già bóng xế. Và đàn ông phục vụ tập thể các cô trong trường hợp này, không theo cái nghĩa người chồng ân ái với vợ, mà phải hiểu như con nọc làm bổn phận nhảy đực truyền giống cho con nái sinh đẻ.
Bao giờ cây con bạch đàn sẽ trồng xuống vùng đất khai hoang? Hiện nay, các công trình thường hay bỏ dỡ nửa chừng. Chỉ cần một ý kiến thay đổi nào đó, toàn bộ kế hoạch trồng bạch đàn sẽ hủy bỏ. Trên xứ sở này, chuyện vô lý nào mà không thể xảy ra? Nghe nói (lại nghe nói), vật liệu từ Thụy Điển đem sang nước ta để xây nhà máy giấy, bị mất quá nhiều do nạn ăn cắp. Thụy Điển đã đơn phương hủy bỏ hợp đồng rồi. Không có nhà máy giấy, trồng bạch đàn làm gì? Lệnh khai hoang, trở thành lệnh phá rừng vô tội vạ. Ngày đoàn tù vượt đèo về trại cũ, nhằm ngày Chúa Giáng sinh. Trời đổ mưa phùn. Mưa lất phất lai phai, trắng cả núi rừng. Lao đao trên đèo trơn dốc ngược, lại nghĩ đến cây thập giá trên vai Chúa. Ngài xuống đời gánh vác tội lỗi cho loài người. Chúng tôi gánh vác tội lỗi cho ai, mà cũng muôn vàn khổ nạn?
Trong những hình ảnh được lưu lại của Saigon năm xưa, hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài trắng đi chiếc Velosolex màu đen chạy trên đường phố, có lẽ là hình ảnh đem lại cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, nhắc nhở lại một quãng thời gian dài đã xa, mà chính mình cũng đã gắn bó với chiếc xe này.
Sản phẩm Velosolex do hai nhà sản xuất Pháp là Maurice Goudard và Marcel Mennesson cho ra đời tại Paris năm 1946, sau khi Thế Chiến Thứ II chấm dứt. Velosolex đơn giản là một chiếc xe đạp với một động cơ treo trên tay lái. Động cơ có một khối kim loại cứng, hình ống, nhám để cọ sát vào lốp bánh xe trước để đẩy bánh xe đi, do vậy bánh xe trước phải luôn luôn bơm hơi căng cứng. Người xử dụng khởi động bằng cách đạp xe cho có trớn vài mét, xong đẩy bộ máy rời “ghi đông” để khối kim loại tròn ép sát với bánh xe, tùy thuộc mặt đường. Xe không thể lên dốc, người xử dụng phải đạp phụ. Mỗi lần trời mưa, bánh xe bám bùn đất, Velosolex trở nên trơn trượt, rất khó khởi động, mặt khác, ổ gắn bu-gi của xe phơi ra ngoài, gặp trời mưa bị ẩm cũng khó nổ máy, do đó Velosolex chỉ dễ xử dụng trên những con đường khô ráo, bằng phẳng.
Bộ máy xe cho phép người lái treo lên tay lái, để bỏ động cơ và đạp Velo giống như bất kỳ chiếc xe đạp nào khác, trong trường hợp xe hết xăng hay máy trục trặc không nổ. Khi một chiếc Velosolex hết thời, máy móc rệu rã, nó sẵn sàng vứt bỏ cái đầu máy thường ngày vẫn treo trước “ghi-đông” để gia nhập với hàng ngũ xe đạp “bình dân.” Velosolex dầu sao cũng vang bóng một thời, ra đời từ năm 1946 và chính thức giã từ thế giới, tạm ngừng sản xuất tại Pháp vào năm 1988, chuyển qua Tàu và Hungary nhưng rồi cũng đi vào quá khứ, sau khi đã bán được hơn 7 triệu chiếc. Chiếc xe Velosolex đầu tiên tôi có, mua năm 1960, sau khi ra đời, đi dạy học vài năm và chuẩn bị lập gia đình, tại một đại lý ở Huế, xe được chở từ Saigon ra. Ở Việt Nam trong thời đó thì những ai có tiền, lương cao mới có thể.
Xe chỉ chạy với tốc độ từ 15 mph đến 20 mph, và cũng mua Lambretta hay Vespa, còn khả năng chỉ có khá hơn xe đạp một bậc, thì xử dụng chiếc Velosolex. Thời giá của chiếc xe này vào năm 1960 là $8,500 trong khi lương độc thân của một công chức hạng trung khoảng $6,000. Ở Huế những lúc trời mưa to gió lớn, với những con đường bùn đất, đi xe Velosolex thật ra chẳng sung sướng gì, mà đôi khi còn là một cực hình khi bắt đầu khởi động cho máy nổ. Khác hẳn với các thành phố lớn như Saigon, Đà Nẵng, đối với các tỉnh thuộc địa đầu giới tuyến sau khi chia cắt đất nước, hình ảnh chiếc Velosolex vẫn còn là cái gì rất mới lạ, nên khi bạn cỡi xe vào đường làng, phun khói trắng, có thể có những đứa trẻ tò mò chạy theo xem chiếc xe lạ lùng này.
Ba năm sau, nhận tờ giấy động viên trong tay, chiếc Velosolex chung nỗi buồn vui trong ba năm tròn phải từ giã tôi ra đi, để giúp chủ trang trải một số nợ nần. Năm 1964, sau khi ở quân trường ra, được bổ nhiệm về một đơn vị ở Saigon, thuê nhà ở khu Bình Hòa, trên chuyến xe buýt khởi hành từ rạp hát Thanh Vân- Gia định đến Sở Thú- Saigon mỗi ngày, bây giờ lại có thêm một ông chuẩn úy với bộ quân phục làm việc kaki vàng số 2, đội nón “casquette” mới tinh đi về. Ông thiếu tá chỉ huy đơn vị thương tình anh chuẩn úy mới ra trường, phải leo xe buýt mỗi ngày, nên cho mượn tiền, để lại mua … một chiếc Velosolex! Chỉ trong vòng bốn năm, vật giá leo thang, năm 1964, cũng chiếc xe ấy đã tăng giá khoảng 30%. Chiếc xe Velo thứ hai này cuối cùng bị đào thải trước đợt xe Honda Dame cũ, đồ thải của Nhật, được nhập vào Việt Nam, ưu tiên cho lính tráng dưới thời ông Không Quân Trần Đỗ Cung làm Tổng Cục Tiếp Tế.
Có thể nói Velosolex thuộc loại xe bình dân, không bì được với các ông bạn người Đức mạnh mẽ như Goebel, Sachs, hay hai ông bạn người Ý hào hoa và sang trọng hơn, có mặt đồng thời là Lambretta và Vespa. Lambretta được phổ biến đi khắp thế giới qua Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Đài Loan, Ba Tây, Columbia … và có tuổi thọ khá dài. Vespa trông thanh lịch và dễ thương hơn, nên trong bốn năm từ 1947 đến 1950, hãng Piaggio đã bán được hơn 90 nghìn chiếc, nhưng phải chờ khi Audrey Hepburn ôm eo Gregory Peck’s trên chiếc Vespa lạng lách trong thành phố Roma, trong phim Vacances Romaines (Roman Holiday) ra đời năm 1953, thì chiếc Vespa đã trở thành nổi tiếng, bán hơn 100 nghìn chiếc ngay trong năm đó. Dáng mảnh khảnh của những chiếc Velosolex màu đen thong dong trên đường phố với cô thiếu nữ mang đôi gang tay trắng, đội nón lá, để tà áo bay bay … là hình ảnh dễ thương của Saigon, của một thời sinh viên đẹp đẽ. Những năm về sau khi chiến tranh càng khốc liệt, các lại xe phân khối lớn ồ ạt nhập cảng vào càng nhiều, những xa lộ được mở ra, khi ai cũng mê tốc độ, Velosolex đành chấp nhận số phận bị bỏ lại đằng sau.
Bây giờ người ta đang muốn phục chế lại những chiếc Velosolex, Vespa của ngày xưa không phải để dùng trên đường phố mà như là một vật kỷ niệm ghi dấu một thời. Cô thiếu nữ với chiếc Velosolex trên đường phố Saigon trong bức ảnh này, được chụp vào năm 1961. Tôi đoán chừng tuổi cô ngày đó khoảng chừng 20 đến 25. Bây giờ đã trên nửa thế kỷ trôi qua, nếu còn đâu trên cõi đời này, cô đã ngoại tuổi thất tuần. Chiếc Velosolex ngày đó chắc không còn tồn tại, nó chỉ là một bóng mờ dĩ vãng như những gì chỉ hiện diện một thời, nhưng có thể còn lưu lại trong trí nhớ của chúng ta mãi mãi.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Một đời ta, ba đời nó” để nói rằng đời người dài nhưng những vật sở hữu thì dễ mất mát hay hư hao. Từ ấu thơ cho đến hôm nay, chúng ta đã dùng bao nhiêu chiếc xe, ở bao nhiêu ngôi nhà, dùng bao nhiêu đôi giày hay bộ quần áo. Nhưng cũng có đôi khi, ngôi nhà, con đường, tấm ảnh hay trang sách còn đó, nhưng “những người muôn năm cũ” đã không còn nữa!
Không thấy thi sĩ nào đem chiếc Velosolex vào thơ, tôi đành mượn đôi lời của nhạc sĩ Ngọc Lễ viết về xe đạp, để tạm thương nhớ một thời Velosolex:
Người đàn bà bước vào bồn nước, từ tốn ngồi xuống. Nước dâng mấp mé bề cao của thành bồn, những bong bóng xà phòng tụ tập lại với nhau, chen lấn trong gợn sóng. Khăn lông quấn lại dùng để kê đầu, người đàn bà duỗi chân nằm buông xuôi. Sức đẩy của nước làm người bềnh bồng, vừa khó chịu vừa thích thú. Nước ấm nhấp nhô ve vuốt ở bờ ngực, nơi mà không lâu trước đó nó cũng được vuốt ve bởi đôi bàn tay, bởi môi hôn cuồng nhiệt.
Trò chơi chấm dứt trong rã rời, giờ này nó được đền bồi bằng một ngơi nghỉ thực thụ. Nó cần phải tẩy xóa, kỳ cọ đi dấu tích. Những lỗ chân lông sẽ giãn nở để da thịt thôi bám lấy mùi mồ hôi, thôi dính nhờn những tinh dịch vung vãi. Người đàn bà nhắm mắt, cố quên những gì hai đứa đã làm cho chiếu chăn nhàu nát trên cái giường luôn phát tiếng thôi thúc. Bà thử nhớ lại những điều đã nói với hắn. Nói nhiều, kể cả than van và rên rỉ, nhưng câu quan trọng nhất, rắp tâm sẽ thốt ra đã không có “thời gian” mở miệng. “Thôi, chấm dứt là vừa. Chúng ta chẳng nên kéo dài sự liên hệ này nữa”. Giản dị chỉ có thế, nhưng muôn vàn khó khăn. Ở hắn luôn tỏa ra điều gì đó làm người đàn bà yếu đuối. Sự tự chủ như một đập chắn quá thấp so với lượng thủy triều mà hắn biết cách tạo ra. Lòng cảnh tỉnh bị ướt nghe ngói, chút mặc cảm phạm tội bị sặc nước và người đàn bà đánh mất mọi thứ sau đó, chìm trong cái cảm giác đê mê không cưỡng chống lại được. Hắn là thủy tinh và sơn tinh hết bùa chú, bỏ người đàn bà nằm chịu trận, mặc cho ngập lụt cuốn trôi. Dẫu sao đó là sự đầu hàng thật dễ chịu, như mưa cuồng trút xuống cánh đồng hạn hán và nông dân chẳng kêu ca nếu đất bị úng thủy. Mùa gặt sẽ tới, chạy trời không khỏi nắng. Sự thật sẽ phô bày, chóng hay muộn tùy thuộc vô tài diễn xuất, và người đàn bà rất sợ một vai trò diễn viên. “Đã quá đủ. Chấm dứt đi thôi. Không nên gặp gỡ lại nhau.” Người đàn bà sẽ viết hàng chữ đó lên một tờ giấy, như lá cờ trắng dong lên từ phiá kẻ thua cuộc. Bà nhét vào thùng thư ở cái chung cư có 16 căn hộ. Bà không nhấn nút nhựa số 15 như mỗi bận hụt hẫng lao vào. Bà quyết tâm quay gót mặc dù không hiểu được tâm hồn mình có được thảnh thơi sau đó? Người ta luôn được tha thứ nếu họ ý thức việc mình làm là trái khuấy, dù muộn trễ. Buông đao xuống cũng có thể thành Phật huống hồ…
Người đàn bà tháo nút cho nước thoát đi, đứng dậy với chiếc khăn lớn, lau nhẹ nhàng mỗi một vuông da. Hắn từng hôn lên vùng lụa là ấy và tuồng như chưa hề xao lãng bỏ sót một chỗ nào. Nếu hắn tỉnh trí trong động tác âu yếm kia, hắn có thể đếm được bao nhiêu nốt ruồi nằm lẫn khuất trên mình mẩy đang co rúm lại. Người đàn bà có cảm tưởng như cơ thể đã mỗi ngày một hao mòn đi bởi sự tham lam chẳng mỏi mệt của hắn. Hao vì miệng mồm, và mòn vì ánh mắt. Hắn có một cặp mắt gần như của kẻ biết về ma thuật thôi miên. Trân tráo, mê muội và cuốn hút. Hắn nhìn, người bất động tựa hình ảnh một danh thủ dương cầm cúi đầu ngó xuống những phím ngà trước khi hòa nhập vào dòng nhạc cuồng cuộn chảy ra từ mười ngón tài hoa. Phút gửi hồn vào hư không ấy khiến người đàn bà an tâm. Không phải đùa, hắn dường như đang định thần trước khi bắt tay vào việc tạo hình. Hắn có vẻ là một kẻ biết tôn trọng cái đẹp, mất thì giờ để dọn đường cho nghệ thuật đăng quang. Người đàn bà ngồi ở vị trí mà hắn vừa định đoạt. Đèn tắt, tấm màn cửa được kéo giạt sang phân nửa. Tuyết bay nhẹ ngoài trời, sắc trắng của tuyết đập mạnh vào ô kính, hắt thành vũng rạng ngời trên da thịt người đàn bà. “Hãy nghĩ tới một điều gì đó”. Hắn nói. “Như vậy sẽ giúp cho dáng ngồi được tự nhiên hơn”. Người đàn bà nghe lời. Bà nghĩ tới việc đầu tiên khi mở cửa vào nhà, bà sẽ bước vào bồn tắm. Sẽ đổ dung dịch dầu thơm có mùi hoa hồng vào nước ấm, sẽ ngâm toàn thân trong đó khoảng hai mươi phút. Sự tỉnh táo sẽ tìm tới, đầu óc thôi mụ mị và mình sẽ gọi điện thoại cho một nhà hàng Pháp, hoặc Ý, đặt hai phần thức ăn, mang tận nhà vào lúc sáu giờ chiều. Người đàn bà tập trung suy nghĩ phần nối tiếp nhưng phát hiện ra mình chưa bắt gặp sự thoải mái nơi dáng ngồi. Có lẽ nó cứng ngắt, có lẽ nó đang tê dại đi. Suốt đời, chưa bao giờ bà phải ngồi trần truồng lâu như thế này cả. Bên bệ cửa có sưởi, hơi ấm lan man bò chậm rãi trên da, xua đuổi dần những tái tê nổi hột ở đấy. Mũi người đàn bà ngửi ra mùi sơn dầu khi hắn nặn từng ống màu ra palette. Tịch lặng dâng đầy trong căn phòng nhỏ, tiếng đập của trái tim vọng dội vào đôi tai. Màu sắc được pha trộn, tấm bố ngửa mình đón nhận những nét cọ khởi đầu. Tấm bố rung lên như một mặt trống đang có tay vỗ. Không, rõ ràng đó chỉ là âm thanh mơ hồ đầy tưởng tượng. Hồi hộp đập. Hoang mang đập. Hiếu kỳ đập. Trắc ẩn đập. Và trong tất cả chuỗi tiếng động đang luân phiên thao diễn trong màn nhĩ, tai người đàn bà như nghe ra tiếng chuyển động của kim đồng hồ. Tích tắc, tích tắc… Gì thì gì, ta phải trở về trước bốn giờ. Mùa đông chốn này, màu tái tê của giá băng thường biết cách dối gạt một lượng định của mắt nhìn. Sớm, muộn; chuyện ấy phải cần ngó chính xác vào mặt đồng hồ. Ba giờ, người đàn bà mặc lại áo quần trong khi hắn vẫn nheo mắt đối mặt với tấm tranh. Hắn đốt thắp một điếu thuốc với những ngón vấy bẩn màu, như bị chảy máu bầm dập. Hắn lùi ra xa. Đầu điếu thuốc rực cháy như một hòn than. Khói thuốc không loãng tan, quần tụ trước mặt hắn như một đám mây nhỏ. “Bao giờ trở lại? Mai hay mốt? Mười giờ hay mười một giờ?” Sau đám mây vọng ra tiếng hỏi. Người đàn bà làm thinh, thấy mỏi ở hai vai, đau ở lưng và thốn ở bụng. “Ngày mai nhé. Chỉ có gương mặt cần sửa lại chút đỉnh. Tranh không thể xấu hơn người. Đời vẫn thường gọi đẹp như tranh…” Người đàn bà cột chiếc khăn quàng vào cổ, thoa lại chút son môi và trong tấm gương đang soi đã bắt giữ một nhân dáng nào thật lạ lẫm. Nó giống như người thiếu nữ khỏa thân trong tấm tranh chưa hoàn thành kia. Một người không có linh hồn…
Hơi nóng làm căn phòng mờ ẩm. Người đàn bà dùng tay xoa chùi tấm kính, ngó mặt mình như kẻ song sinh này nhìn đứa chào đời cùng lần với mình, cùng thoát ra từ một bào thai, một cửa mình. Này chị kia, chị hư lắm nhé. Chị liệu mà giữ mình đấy. Xứ sở này tuy mênh mông nhưng người Việt mình luôn là ma xó, chuyện gì họ cũng tường tận cả và thêm mắm thêm muối là đức tính không đổi của họ; như thế chị có mà chạy đàng trời cho khỏi sự đàm tiếu. Người đàn bà nhăn mặt, sự tàn phai chưa đến với số tuổi bốn mươi nhưng vẻ tươi trẻ đã chẳng còn dấu vết trên ấy. Nó ra đi biền biệt và nó vất lại một vầng trán nhiều nếp nhăn. Như thể đứa con trưởng thành bỏ nhà đi làm ăn xa và người mẹ choáng váng trước những vung vãi nó để lại trong căn phòng đầy bụi. Người đàn bà kéo tấm gương sang bên, phiá sau là một hộc tủ có ba ngăn đầy chật những chai lọ mỹ phẩm. Shiseido, Lancôme, Clinique… Chúng phô trương vai kề vai để án che một ống kem nhỏ, vặn vẹo nép mình như muốn lẫn trốn. Người đàn bà thò hai ngón tay nhặt nó lên, mở nắp rồi bôi chất thuốc Vagisil vào chỗ kín đáo nằm giữa hai chân. Bà thoáng rùng mình. Nghĩ tới hình ảnh một ông bác sĩ tay đeo găng cao su mỏng, những ngón thăm dò đi dần vào đường khe với đôi mắt chăm chú nhìn sâu vào chỗ ấy. “Mọi thứ bình thường”. Ông ta nói. “Bà có thai lần đầu phải không?” Bà khép lại đôi chân mãi mở rộng. Căn cứ vào đâu để người ta biết được chuyện đẻ con so con rạ? Bà có đọc đâu đó, ở số tuổi bốn mươi thật không tốt cho việc sinh nở, lần đầu. Đứa bé sẽ gánh chịu thiệt thòi nhiều hơn người mẹ. Trí tưởng đã dắt ta đi quá xa. Người đàn bà than lên, mặc lại áo quần trong đôi chân run rẩy. Bà bước hẳn ra khỏi phòng tắm, nghĩ tới một thứ nước giải khát sẽ đổ vào cổ họng khô khát. Phân vân giây lát cuối cùng trà là thứ đánh thắng mọi nhãn hiệu. Không Coke, chẳng cà phê. Không nước cam, chẳng sữa đậu nành. Bà bắt ấm nước lên lò ga, vòng tay chờ sự sùng sục sôi réo bằng tiếng hú không đứt đoạn phát ra ở vòi. Tiếng kêu ấy muôn đời vẫn mang theo nó cái hối thúc khó chịu. Như con tàu sẽ chuyển bánh ở một sân ga vắng lặng, tiếng trầm thiết của hồi còi làm người nghe bần thần, và sau đó nó dồn vào lòng người đưa tiễn sự hụt hẫng. Người đàn bà đã từng hứng chịu qua nỗi mất mát ấy, ở tuổi thanh xuân. Và khi bốn mươi, gặp mặt hắn lần đầu người đàn bà đã phải dằn lòng để khỏi bật lên một tiếng la. Giống quá. Giống không tưởng được. Như hai giọt nước. Vô tình, hắn đã mang quá khứ của người đàn bà dựng lại nguyên vẹn trước mắt…
Ngoài ô cửa kính là một màu trời nhạt nhòa, màu của bóng tối đang lấn chiếm, phủ lấp dần hình dáng những chiếc xích đu phơi thân lạnh cóng ngoài công viên. Bên kia công viên sẽ là con đường uốn cong, đằng sau căn nhà có mái ngói đỏ ấy là một trạm đợi cuả chuyến buýt mang số 100. Chiếc xe cồng kềnh sẽ tấp vào đấy mỗi một hai mươi phút để đổ người xuống hoặc mang ta lên, hục hặc chạy không được suông sẻ vì những trạm dừng; và cuối cùng, ba mươi lăm phút sau nó sẽ vất ta đứng bên lề với trái tim đập mệt. Căn chung cư có 16 căn hộ. Ngón tay nhấn nút chuông ở số 15. Cửa mở. Một thế giới kỳ lạ được bày ra. Trong đó chẳng có lề luật nào được quy định, tuyệt đối không treo bảng Stop. Lý trí được ngơi nghỉ, thân xác nắm tay nhau dắt đến một cõi miền tịch lặng, cổ sơ và rất hoang đường… Như tất cả những gì hắn bày biện ở trong từng tấm tranh. Một người đàn ông của hai mươi năm về trước chẳng biết gì về hội họa, nhưng những trang viết của anh ta cũng có hấp lực khác thường. Nghệ thuật là gì? Người đàn bà không hiểu ra, nhưng có lẽ, trước tiên nó phải biết chối bỏ thực tại. Nó hoán đổi cuộc sống đơn điệu của mình, phút chốc làm mình trở thành “trẻ dại”. Mình đi trong một khu rừng nhiều kỳ hoa dị thảo mà không cần thắc mắc đâu là lối ra. Tiếng nước sôi réo kêu cùng lần với những ngọn đèn đường thắp sáng bên ngoài cửa kính. Người đàn bà chế nước vào bình trà, nhìn những số điện thoại dán đầy trên cánh cửa tủ lạnh. “Pizza Domino”. “Cho tôi một cái trung bình kèm với khoai tây chiên”. “Địa chỉ của bà?” “666 đường Lucifer”. “Tất cả là mười lăm đồng. Cám ơn bà. Khoảng mười phút chúng tôi sẽ mang đến “. Tách trà uống chưa vơi đã nghe tiếng xe thắng đứng trước khoảng sân hẹp. Người đàn bà ngó đồng hồ, hai tay vẫn ôm giữ thứ dung dịch luôn tỏa mùi thơm nhẹ của sen, của lài. Những ngón lạnh cần được sưởi ấm. Cửa mở, người đàn ông lách mình vào kèm theo chút heo may. Ông ta cởi áo khoác treo lên cái giá gỗ đặt ở lối ra vào. Dáng người hơi mập, mọi cử động đều chậm rãi. Kể cả khi cười, những cơ bắp quanh miệng thao tác có hơi lâu mới kéo được hai bờ môi nhếch lên. Ông ta than công việc ở chỗ làm rất nản. Ông ta từng thở dài, đời sống ở đây nhàm chán, vô vị. Và có những canh khuya ông thò tay qua, vật người vợ nằm ngửa ra rồi trút xuống hết những nỗi niềm câm lặng khác. Tựu trung, ông là một người chồng tốt dù có những thứ công việc ông làm dở dang, qua quýt. Làm lưng chừng.
– Hôm nay là một ngày đặc biệt?
Người đàn ông lên tiếng. Đặt câu hỏi mà như loan báo một nguồn tin.
– Tại sao?
– Bếp núc củi lửa thảy đều lạnh tanh.
– Em thấy không được khỏe khi đối mặt với ông Táo. Cơ thể đòi đình công nghỉ xả hơi một bữa.
Người đàn ông cởi giày. Đôi vớ trắng không ôm lấy bàn chân khi ông vào bếp. Những bước đi trông như trẻ con.
– Em sẽ cho anh ăn thứ gì?
– Pizza. Anh còn chung tình với nó không?
– Chung tình. Nhưng nên gặp gỡ mỗi tháng một lần thôi.
Người đàn bà nhìn vào mặt chồng. Ở đó chẳng có nét gì nổi bật, tướng số gọi là một khuôn mặt phúc hậu. Bạn bè gọi là cục vắt thành hòn, thật thà như đếm. Hiện tại, nó không buồn không vui. Khó mà hiểu được nó che đậy điều gì ở bên trong. Tiếng chuông kêu vang làm hai người ngó về cánh cửa cùng lần.
– Anh mở cửa giùm, em đi lấy tiền.
– Khỏi, anh có sẵn đây.
Người đàn ông thò tay vào túi quần trong khi tiến lại mở cửa. Ông đón nhận cái hộp giấy vuông, nóng ấm và thơm ngát. Nó sẽ ngon miệng, bụng đói của ông xác quyết điều ấy. Ông là người dễ tính, chẳng hề biết kén cá chọn canh. Món ăn gì, khi nhai nuốt, ông cũng tự tìm ra cái hương vị quyến rũ nằm ở trong đó. Không dễ đâu, khi một sớm một chiều bọn Tây đều cắm cúi húp sạch tô phở lớn với một bộ mặt mãn nguyện. Ông ta giải thích. Phải thơm ngon mới thuyết phục nổi cái đám đông nhiều thành kiến ấy. Nó là văn hoá thu gọn của một dân tộc. Chớ nên chê bai Miên Lào Ấn Thái Mỹ Mễ Hàn Tàu… Triết lý của ông làm cho cái dáng dấp ấy ngày mỗi nặng nề. Người đàn bà nhìn thấy một vuông giấy xanh rơi xuống sàn gỗ khi ông chồng đóng cửa. Bước lại, nhặt lên và bà mang nó đặt xuống bàn ăn. Một tờ giấy bạc chỉ còn phân nửa.
– Của anh phải không?
– Ừ. Lấy hộ anh dao dĩa. Em uống bia không?
– Soát lại trong túi thử xem.
– Cái gì?
– Một nửa kia. Mang ra để em dán cho tờ bạc được lành lặn.
– Quên nó đi. Chỉ là trò đùa rất con trẻ.
– Trò đùa?
– Trong bữa tiệc uống quá chén thành ra hơi bốc đồng. Anh tính đợi phút chót mới nói cho em nghe, như một món quà gây ngạc nhiên.
– Em không thích đón nhận sự ngạc nhiên. Bất ngờ mà làm gì khi trái tim mình luôn không được khỏe? Còn anh, anh thích đối đầu với nó không?
– Mấy hôm nay, em có mang một triệu chứng nào đó. Em có vẻ thay đổi. Anh chẳng rành về đàn bà, hình như khi tắt kinh người ta đâm bẳn gắt?
– Em sẽ bẳn gắt hơn khi anh cứ lấp liếm nói vòng vo.
– Ôi dào. Bữa ăn coi bộ chẳng ngon miệng được rồi!
Người đàn ông than. Ông mở cửa tủ lạnh, khui lon bia và đổ nó khá lâu vào miệng. Cần cổ ông lên xuống cái vật nghẹn riêng biệt của giống đực. Một trái táo suốt đời không thể tiêu hóa, theo cổ tích.
– Như thế này nhé…
– Nói đi. Em đang chú tâm nghe.
– Đám cưới con anh Nguyện. Bắt đầu là vậy. Hôm đó em kêu đau lưng, ở nhà không tham dự. Nhớ không?
– Nhớ. Hai tháng trước. Em đau thật chứ không phải ngụy tạo.
– Vì đi lẻ loi, tụi nó sắp anh ngồi chung bàn với những tên độc thân. Những thằng trẻ tuổi ấy rất sung, chúng uống rượu như thể em uống nước cam. Có một tay tóc dài, râu ria tướng tá ngó nghệ sĩ được bọn ấy gọi là Renoir. Quảng cáo rằng chàng ta “siêu” đến nỗi chỉ cần ngó qua người đẹp trong phút giây, đêm về có thể họa lại không sai trật một mảy may. Nói tóm chúng nổ điếc cả con ráy. Anh mở ví và chỉ cho thằng Renoir ấy xem tấm ảnh của em. Ba mươi giây. Nó nói thế. Mắt long lanh, miệng cười đểu. Một khuôn mặt đáng ghét. Cao ngạo. Hắn bảo: Ba mươi giây chỉ là một cách nói. Tôi nghĩ, hai tháng sau thì bức tranh sẽ hoàn thành. Không đẹp không lấy tiền. Và cuối cùng tờ bạc này được xé làm đôi như một cam kết. Nửa kia, dĩ nhiên là nằm trong tay thằng Renoir dỏm nọ.
Miếng Pizza nghẹn trong cần cổ người đàn bà. Không riêng giống đực, giống cái cũng biết ăn trái cấm vậy. Người đàn bà đè tay lên ngực và cúi đầu đi như chạy vào phòng vệ sinh. Ngồi ở bàn ăn, người đàn ông có thể nghe tiếng nôn thốc tháo từ sau cánh cửa vọng ra. Ông ngó vào miếng Pizza đang cầm ở tay. Mỏng manh mọi thứ có ở đó. Ớt, nấm, thịt thà… Cái gì đã khiến vợ mình phải dợn mữa? Ông kiểm soát phần còn lại nằm trên bàn. Đó là một cái Pizza bình thường như tất cả những cái Pizza có trên trái đất này. Một thức ăn rất dễ phát phì và lâu tiêu. Ông đi lại chỗ phát ra tiếng nước chảy. Cánh cửa khóa chốt ở bên trong. Ông gõ tay lên lớp gỗ sơn màu hồng nhạt. Thấy ngón trỏ dính sốt cà chua đỏ, ông mút nó chùn chụt.
– Em sao rồi?
Yên lặng trả lời.
– Có sao không? Hello… Ông kéo dài chữ cuối, lên xuống trầm bổng.
– Anh thích đón nghe một ngạc nhiên không?
– Thích. Con tim anh luôn khỏe. Ngạc nhiên làm đời sống mình thi vị hơn.
– Em đã mang thai.
Người đàn ông áp nửa khuôn mặt vào cánh cửa, dính sát. Như muốn nghe rõ hơn. Như người cha áp tai vào bụng bầu vợ hiền cố đón nhận sự chuyển động của thai nhi đang cuộn tròn bên trong vọng dội ra. Tim ông đập hụt nhịp nhiều bận. Bất ngờ làm mặt ông tái đi. Tái như một kẻ bắt gặp vợ mình đang ngoại tình. Ông lắp bắp:
– Trời đất ơi. Phải nói cho bà già nghe mới được. Bả đợi tin này ròng rã đã bốn năm. Mẹ bọn bây, tao đâu có phải hạng người bất lực. Ông đi tới phiá có bắt điện thoại, nửa tờ giấy bạc còn nằm trên bàn. Giờ này có thể nó đã hoàn tất bức tranh. Căn nhà này thực sự đã thiếu quá nhiều thứ. Một tấm tranh sơn dầu treo lên tường. Một tiếng khóc của trẻ thơ. Ông bấm bảy con số.
– Má hả má. Khoẻ không? Má ưa đón nghe một ngạc nhiên không? Một tin vui… Đổi nhà đổi xe gì đâu má… Không, cực như chó thăng quan tiến chức gì má… Má nói vợ con há, chưa, chưa kiếm ra việc… Nhưng mà… Má nói sao? Con không tin đâu à nghen… Xe buýt số 100 à? Biết, con biết đường đó. Thằng tóc dài nào? Hổng có đâu… Trời, bọn ác khẩu bao giờ cũng nhiều… Má nói sao? Má nghe khi đi chùa à, coi chừng mà oan Thị-kính đó má. Vợ con con biết chớ… Gì mà kinh khiếp thế! Má nói vậy không sợ con nửa hồn thương đau hay sao?..
Bò cái tiếng Anh bò là ‘cow’. Cowboy là thằng trên lưng ngựa, chăn bò tại các trang trại Miền Viễn Tây, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Bọn cowboy sống hoang dại khoái làm anh hùng nghĩa hiệp.
Thế nên có chuyện rằng: Hai tên cao bồi ngồi uống trong quán rượu. Một chủ trang trại bước vào! “Tao căm thù bọn da đỏ! Tuần trước những thằng khốn đó đã đốt cháy rụi chuồng trại của tao rồi! Nếu bất kỳ ai mang đến cho tao một con ngựa của tụi dân da đỏ; tao sẽ thưởng một ngàn đô!” Hai tên cao bồi bước ra khỏi quán và phóng lên ngựa. Chẳng lâu sau, họ đuổi kịp một tên da đỏ đẩy tên nầy văng khỏi yên ngựa, lăn tròn xuống khe núi. Nhưng con ngựa trung thành vẫn chạy theo chủ nó. Hai tên cao bồi vội đuổi theo. “Ê nhìn kìa! Nhìn kìa!” “Nhìn cái con khỉ? Hổng lo bắt con ngựa đem về mà lãnh thưởng!”
“Nhìn một cái đi!” “Đâu đâu?” Vòng quanh trên hẻm núi là khoảng 2000 tên da đỏ đang ngồi trên yên ngựa! “Chúa ơi! Hai đứa mình sẽ thành triệu phú!”
Rồi cũng có chuyện rằng: Một tay cao bồi già đi tiệm cạo râu vì mặt ông đầy những vết nhăn, ông không thể tự cạo râu cằm được. Ông thợ hớt tóc lấy trái bóng bàn kêu người khách ngậm vô miệng thì gò má căng lên. Râu được cạo xong, ông cao bồi già khen đúng là mày râu nhẵn nhụi nhưng lỡ tui nuốt phải trái bóng bàn nầy thì sao? Thì vài bữa ông đem nó trả lại cho tui cũng giống như nhiều người khác đã làm thôi!”
John Wayne
Cowboy nổi tiếng nhứt trên màn bạc là: John Wayne của miền Tây hoang dã. Henry Fonda trong vai Wyatt Earp trong ‘My Darling Clementine’ Nhưng con gái ông là tài tử Jane Fonda lại bị các cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam nguyền rủa gọi ‘ả’ là ‘Jane Hanoi’ vì tiếp tay với kẻ thù đâm sau lưng chiến sĩ. Clint Eastwood lầm lì đáng sợ, trừ gian diệt bạo trong các bộ phim “spaghetti western” như “The Good, The Bad and The Ugly”
Nhưng nổi tiếng nhứt trong đám chuyên trị vai cao bồi là Ronald Reagan.
Là kép nhì, đóng vai cao bồi không xuất sắc bằng những tài tử khác nhưng nổi tiếng hơn vì Reagan là Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981- 1989). Reagan góp phần rất lớn vào việc làm chủ nghĩa CS sụp đổ ở Liên Xô và các nước CS Đông Âu.
Cao bồi thường đội nón và mang giày cao bồi, mặc áo khoác dày ngăn gió đồng cỏ, đội nón vành rộng che nắng cháy da miền hoang dã.
Cao bồi mặc quần jean, vải dày mặc lâu chỉ sờn thôi. “Bake” hai nút rất mê, chúng gọi là quần bò. Thằng nào cũng ráng để dành tiền ra chợ trời Huỳnh Thúc Kháng mua một cái quần bò trong hàng thùng về mặc để lấy le.
Clint Eastwood
Thiếu nữ Úc tân thời ở Melbourne, theo thời trang mặc quần jean giặt đá cho nó sờn, rách vài lỗ chỗ vì em muốn làm ‘Lolita bụi’.
Cowboy qua Việt Nam húp nước mắm thành cao bồi vườn là những đứa đua đòi, tánh tình ngang ngược không biết lễ phép là gì.
Ông bà mình thuộc cái văn hoá ‘Cánh đồng lúa nước’ nên cần trâu bò làm sức kéo. Trâu chậm hơn, nhưng mạnh hơn bò nên đi cày, bừa, trục làm đất trước khi sạ lúa.
Bò lẹ hơn trâu nên dùng để kéo xe chở nặng nên có xe bò. Chở nhẹ chạy vù vù đã có xe ngựa. Bài học thuộc lòng xưa: “Thời giờ: ngựa chạy, tên bay. Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm”
Miên có xe bò nhiều hơn Duồn (tức Việt). Năm nào Miên cũng đua bò chạy bụi tung mịt mù ở vùng Tịnh Biên Châu Đốc.
Xe trâu cũng có nhưng có trong bài Xe Trâu của thi sĩ Kiên Giang. “Xe trâu cót két. Cót két xe trâu. Bánh xe nằng nặng in sâu lối mòn”.
Ronald Reagan
Úc không thấy nuôi trâu; chỉ thấy nuôi bò để vắt sữa và ăn thịt. Sữa tươi để làm ‘cappuccino’ cà phê kiểu Ý (Italy) hoặc đóng hộp làm sữa bò; làm cà phê phin (filter) kiểu Pháp.
Con nít dứt sữa mẹ, chưa mọc đủ răng để ăn cơm nhão thì chuyển qua bú sữa bò. Từ đó loài người ngu đi. Vì có chữ ‘ngu như bò’. Bú bò, bú của con ngu thì làm sao khôn cho được? Thế nên muốn chửi đứa nào ngu thì đừng chửi nó ngu như bò! Nó quánh cái mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc về vợ nhìn không ra. Hãy hỏi: “Ông còn bú sữa bò không?
Úc khoái ăn bít tết (beefsteak) với nhiều loại sauce và khoai tây chiên, đôi khi với tomato và cải xà lách. Thịt bò nướng sơ sơ mặt ngoài gọi là ‘rare’ thịt hơi sống, còn máu. (Vì thực khách nầy là ác quỷ Dracula). Thịt bò vừa chín tới, vẫn còn màu hồng nhạt ở giữa là medium. Thịt bò chín hoàn toàn, thịt khô hơn là well done.
Qua tay Mít, thì ít xít ra nhiều, thịt bò tới 7 món như: Bò nhúng giấm. Chả đùm. Bò cuốn mỡ chài (mỡ bò). Bò lá lốt. Bò sa tế. Bò bít-tết. Cuối cùng là món cháo bò.
Nhà phát minh vĩ đại bò 7 món cho giới khoái ăn nhậu, trong đó có tui, là ông Adams Henry, Chà Và Ấn Độ, theo đạo Hồi, quốc tịch Pháp tên Việt là Nguyễn Thành có vợ Việt là bà Huỳnh Thị Quế.
Bò 7 món tại Au Pagolac ngày nay
Tháng 4 năm 1930, hai vợ chồng mở nhà hàng Au Pagolac ở quê nội tui là Tân Hiệp trên quốc lộ 4 cách tỉnh lỵ Mỹ Tho chừng 13 cây số.
‘Au’ rút gọn chữ ‘à le’ là ‘tại’. Pagolac? “Pagode” là chùa và “lac” là hồ. Pagolac gần chùa bà Thiên Hậu, phía sau là hồ sen lớn. Pagolac tên Tây gợi trí tò mò; bò chỉ luôn địa điểm cho khách biết đường mà tới.
Hồi xưa, nghèo chết mẹ, đi Au Pagolac ăn bò 7 món nằm mơ còn chưa có. Sau nầy quê người thịt bò là xoàng. Nhưng Footscray (một vùng ngoại ô ở Melbourne) chẳng có nhà hàng nào bán bò 7 món để tui dắt ‘ghệ’ đi ăn!
Lâu lâu em yêu của tui, tức bà chằn của tui, làm món bò lá lốt bỏ sẵn trong ngăn lạnh. Muốn nhậu, xả đá đút vô lò nướng là xong. Bò lá lốt chấm nước mắm nêm giằm khóm thêm ớt hiểm bằm uống beer VB (Victoria Bitter) ngon bá chấy bù chét.
Bài “Bò” xong rồi; hẹn em kiếp sau. Ý quên! Tui chưa chết mà! Xin hẹn em lần sau. Giờ tui đi nướng bò lá lốt nhậu một mình để quên nỗi buồn xa xứ đây!
“Ngày về quê tìm lại bạn bè thời lưới gộc nhưng hổng còn ai nói chi tới đàn chú, bác. Lục lạo trên google tìm cả buổi cũng hổng thấy hình nào giống con cá gộc. Bèn nhắn tin bạn bè trong nước và ngoài nước, hỏi có ai còn giữ tấm hình cá gộc không? Cuối cùng thì có một ông anh đưa cho một cái link của một công ty bán cá gộc, mở ra xem mới thấy hình con cá gộc mà là loại cá gộc ghe cào còn non, nên trông không giống cá gộc tới lứa của thờiluưới gộc. Dù sao đi nữa có còn hơn không. Sợ mai mốt già rồi nằm xuống, không còn ai nhớ tới miệt mũi Cà Mau có một thời “rừng vàng bạc biển” mà ngày nay không còn nữa. Nhớ lại ngày xưa, tôi bèn viết lại truyện thời lưới gộc. Xin kính dâng hương hồn các bác, các chú đã dạy tôi nghề đánh cá gộc. Kính tặng bà con bên vàm Sông Ông Đốc và các bạn ngư phủ đồng thời.”
Lúc mới vào nghề đánh cá tôi có nghe bậc đàn chú, đàn anh làm nghề lưới gộc lâu năm kể lại rằng hồi trào ghe buồm một chiếc ghe dài trên mười thước và một dàn lưới gộc chiều dài chừng vài ba trăm sải tay. Những ngày mùa gió Nam, sáng sớm ngư phủ dựng buồm cho ghe ra bãi bủa lưới, xế chiều kéo lưới trúng cá gộc khẳm ghe. Đâu như sau nầy, lưới cước bén và dài cả ngàn sải mà phải chạy tuốt ra khơi đánh, dác nào kéo được một hai trăm con là đã trúng lắm rồi. Thời đó chưa có nước đá, cá gộc và bong bóng gộc làm khô bán cho người Tàu; bong bóng họ nấu cao lâu, cá khô họ dành ăn cháo trắng, cơm trắng và nhậu ba xị đế cho nên cá gộc bán không được giá. Sau nầy nhờ cá gộc đông đá xuất cảng qua Tân Gia Ba (Singapore) giá mắc gấp ba bốn lần cá khô nên xóm lưới gộc mới phất lên như diều gặp gió.
Thời ghe buồm lưới gộc đan bằng chỉ gai, cọng lưới cỡ đầu đũa ăn, lỗ lưới mười phân. Một tay lưới gộc chiều dài mười sải, dạo dài ba sải. Giữa thập niên sáu mươi Tân Gia Ba qua mua bán, trao đổi, họ đem chỉ cước qua cho dân nơi đây đương lưới thí nghiệm. Lưới cước thành công nhờ màu trắng trong, bén cá và nhẹ hơn lưới gai. Từ đó ngư phủ dùng cước số một trăm tư để đan lưới gộc, lỗ lưới cũng vẫn giữ mười phân như cũ. Lưới chánh là dùng đánh cá gộc và cá đường. Ngoài ra lưới còn bắt được cá sóc, cá sủ, cá sạo, cá bè, cá chét và nhiều thứ cá lặt vặt vừa cỡ, tức là con cá nào bằng bắp chưn trở lên mới đóng được lưới gộc. Cá đường thì hội ở mũi Cà Mau vào những con nước chết tháng ba hoặc về bãi vào mùa gió nam, còn cá gộc đánh được ba mùa, trừ mùa gió bấc, nên dân ngư đặt tên là lưới gộc.
Lúc tôi còn nhỏ ghe lưới gộc gắn máy hiệu gì tôi không biết, chỉ nhớ là mỗi buổi chiều những chiếc ghe nổ máy phành phạch phun khói ra khơi cùng những ghe mang những cánh buồm được đan bằng đệm nên nhìn từ xa thấy những cánh buồn màu nâu xậm. Có lẽ những cái máy thời đó được nhập từ Ấn Độ nên người ta gọi là máy Ấn Độ. Tới khi tôi khôn lớn và nhận thức được thì máy Yanmar F5 – F10 nằm ngang của Nhựt Bổn đã lần lượt thay cho máy Ấn Độ đã lỗi thời. Tuy nhiên ngư dân ở đây vẫn còn se chỉ gai để đương lưới gộc. Khoảng giữa thập niên sáu mươi Sông Đốc vàm thành lập hợp tác xã giao thương với Tân Gia Ba. Tân Gia Ba cho tàu qua neo ở cồn ngoài mũi Cà Mau cạnh vùng biển nơi mà lưới gộc hành nghề. Chiều về khi kéo lưới được cá ngư phủ mổ bụng lấy bóng bóng, bỏ ruột, rửa thân cá sạch rồi cặp lại tàu của Tân Gia Ba cân để cho họ bỏ vô hầm lạnh đông đá. Phần ngư phủ cân cá xong lấy phiếu, khi hết con nước về hợp tác xã đếm phiếu tính tiền. Sông Đốc vàm lúc đó trở thành một hải cảng là nhờ cá gộc được xuất cảng với giá cao. Cũng từ đó dân ngư nơi đây mới biết cách dùng nước đá để ướp cho cá tươi. Ngoài cá gộc ra người ta còn xuất cảng vi cá mập, bong bóng cá đường và rất nhiều bong bóng khô và cá, tôm khô khác…
Tôi chưa bao giờ thấy thời nào Sông Đốc vàm phồn thịnh và dân ngư nơi đây có cuộc sống sung túc như những năm sáu mươi. Có lính quốc gia đóng đồn nhưng không có chiến tranh, có dân bài bạc nhưng không trộm cắp. Đầu con nước ngử phủ cho ra biển, mãn con nước về rửa ghe ăn nhậu đờn ca tài tử nhưng, không du côn lập băng lập đảng đánh nhau. Tuy nhà lá xập xệ nhưng con gái, đàn bà bận đồ vải nhập từ Tân Gia Ba, tay đeo vòng cẩm thạch, bông tai, cà rá bằng vàng y. Con trai thì đeo đồng hồ hiệu Titoni mua từ thương lái người Tân Gia Ba.
Khi tôi nhập vào làng ngư phủ thì máy Yanmar đầu xanh, đầu bạc loại đứng; máy đầu xanh một lốc mười ngựa, đầu bạc một lốc mười lăm ngựa được thay cho máy Yanmar F5 – F10. Ban đầu dùng Yanmar đầu xanh gắn ghe mũi nhọn mà người ta gọi là ghe bô lão. Về sau ghe lưới gộc đóng theo kiểu Thái Lan mũi thẳng đứng có ca-bin rộng và mỗi chiếc trọng tải trên hai chục tấn, gắn máy Yanmar đầu bạc ba lốc, bốn lốc…
Rất tiếc cuộc sống sung sướng, vui vẻ ấy đến với dân vùng ven vàm sông Ông Đốc quá ngắn ngủi. Bắt đầu năm 1968 chiến tranh tràn lan làm cho Tân Gia Ba không giao thương được nữa và hợp tác xã ở sông Ông Đốc cũng giải tán luôn. Đường sông Cà Mau – Sông Đốc Vàm bị cấm. Không lưu thông được trên sông về Cà Mau thì dân nơi đây mở đường biển lên Rạch Giá. Những ghe lưới gộc cũng phải lên Rạch Giá lấy nước đá và thức ăn đủ cho một tháng ra khơi, đánh tới mãn con nước thì cho ghe trở về Rạch Giá bán cá và lấy thêm nhiên liệu trở về Sông Đốc vàm cho ngư phủ nghỉ ngơi chờ đầu con nước lại ra khơi đánh tiếp.
Khi tôi thành ngư phủ chuyên nghiệp thì ghe lưới gộc đã dùng máy kéo, tuy không còn hì hục kéo lưới bằng tay như đàn anh, đàn chú trước kia nhưng máy móc mỗi ngày một tối tân và kỹ thuật đánh bắt mỗi ngày một tinh vi, nên đánh riết rồi cá gì cũng phải hết. Trước kia sáng cho ghe ra bủa lưới, chiều kéo lưới gỡ cá. Cho ghe chạy về cồn neo muối cá xong ngư phủ đánh một giấc thẳng cẳng tới sáng sớm hôm sau tiếp tục. Sau nầy cá đóng ít phải canh nước đánh đêm và đánh trùm lên rạn, vậy mà lắm khi ra khơi đánh cá cả tháng trời về bán chỉ đủ sở hụi.
Tôi còn nhớ rất rõ cái mùa lưới cuối cùng năm ấy.
Lúc chạng vạng tối một chiếc ghe Thái Lan bốn lốc đầu bạc từ ngoài lằn nước xanh chạy phăng phăng vô cồn bùn rồi bỏ neo. Sau khi neo ghe xong bác Sáu kêu tôi tắt máy và mở đèn bên ngoài. Dưới ánh đèn nêon sáng choang, những con cá gộc màu vàng, mỗi con nặng có hơn chục ký, chúng nằm lẫn lộn chung với cá lặt vặt đầy nhóc trên boong. Mấy anh ngư phủ cột xong dây neo lần chen chưn bước trong đống cá mà đi. Hai Dê phía trước đi lại thấy bác Sáu trong ca bin ló đầu ra, anh hớn hở nói liền:
– Ngày mơi cá còn đóng như vầy thì chắc hổng đủ nước đá đánh tới mãn con nước quá bác.
Bác Sáu kiêu hãnh hỏi lại:
– Sao hổng đủ mậy?
Hai Dê chỉ vô đống cá:
– Bác thấy đó, cả thảy một trăm ba chục cá gộc, tính sơ sơ mất hết ba bốn chục cây nước đá đó là chưa kể mấy trăm ký cá vặt mà nước đá mình muối xong đợt nầy còn bảy tám chục cây là cùng.
Bác Sáu vừa trả lời vừa ra lịnh:
– Cái thằng dốt tính, bắt đầu từ đêm nay nước đá chỉ dành ướp cá gộc còn cá lặt vặt cho xẻ muối mặn mần khô hết.
Suốt ngày kéo lưới mệt lả người, còn một đống cá gộc chưa mổ bụng, moi ruột bỏ xuống hầm đông đá mà còn phải xẻ cá muối mặn, cái điệu nầy chắc phải thức suốt đêm rồi. Ngày nào khác chắc ngư phủ kêu trời, nhưng hôm nay ai cũng vui vẻ chấp nhận ý bác. Cả mùa qua chưa đánh dác nào được trên trăm con cá, bây giờ chỉ mong cá tiếp tục đóng cho tới mãn con nước có thức suốt cũng chẳng hề gì. Hơn nữa gần tới Tết rồi ai cũng quyết chí phải về ăn Tết với vợ con cha mẹ linh đình một năm cho bỏ phen cực nhọc. Hai Dê đề nghị anh em bắt tay mổ bụng cá liền. Bác Sáu gạt ngang:
– Thôi, vô cơm nước trước rồi ra mần, đêm nay tao thức mần với tụi bây.
Trong bữa ăn bác Sáu vui vẻ nói huyên thiên về kinh nghiệm đánh cá của mình hồi trào ghe buồm. Kính lão đắc thọ, chúng tôi ngồi nghe bác nói, dù sao đi nữa bác cũng thuộc hạng kỳ cựu trong nghề lưới gộc. Trong đời bác đã trúng cá và trúng nhiều hơn bây giờ nữa, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên bác vui nhứt trong đời lưới gộc. Nguyên nhân hồi đầu năm 1972 vùng biển khơi mũi Cà Mau xuất hiện hai chiếc tàu sắt lớn bằng những chiếc hạm tuần biển, máy móc gì hổng biết mà nổ nghe bành bành, ống xẹt măng phun khói cuồn cuộn. Hai chiếc kéo miệng cào bề ngang có hơn trăm sải, lướt qua rạng ngọt sớt. Mỗi lần đổ đục họ dùng cần trục câu lên cá lớn họ bắt, cá nhỏ họ liệng trôi trắng mặt biển mặc sức cho bầy nhàn bu lại sớt ăn.
Từ đó trở đi vùng biển của lưới gộc bị hai chiếc tàu sắt quậy đục ngầu như vậy cá voi còn phải trốn nữa nói chi tới ba con cá gộc. Trong thời gian đó có cào Xiêm cào tôm thẻ cũng trúng lắm cho nên ghe lưới gộc lần lượt đổi sang nghề cào Xiêm hết. Vì danh dự nghề nghiệp ba đời mần lưới gộc bác Sáu quyết bám theo nghề lưới gộc cho tới cùng. Theo bác thì biển giả là nghề của ba Cậu (1) thì làm sao mà lường trước được, con nước nầy thất thì chờ con nước sau, mùa nầy thất thì chờ mùa tới. Kệ bác nói gì thì nói, dàng bạn thấy lưới gộc hết thời bèn bỏ bác sang qua đi cào. Còn lại anh Hai Dê là bạn thân tín hồi còn ghe bô lão và tôi từ mới tập sự đã theo ghe của bác cho tới ngày nay nên chúng tôi không nỡ lòng bỏ bác mà đi.
Đầu tháng Chạp âm lịch cũng là đầu mùa lưới gộc. Bác Sáu kêu thêm mấy người bạn mới, phân Hai Dê làm chủ lực, tôi làm tài cải và bác làm tài công, sau khi xuống lưới bác cúng cặp vịt cho dàng bạn ăn nhậu đã một bữa rồi bác cho ghe trực chỉ xuống cồn ngoài khơi mũi Cà Mau. Bác thề có ba Cậu, Nam Ông đánh không có cá gộc bác sẽ không về ăn Tết.
Năm nay hai chiếc tàu sắt cào đôi có lẽ đã đổi vùng nên không thấy bóng dáng chúng đâu hết. Một mình một cõi thênh thang mặc cho bác bủa lưới ngang dọc. Mới dác đầu đã hơn trăm ký cá vặt, tám chục con cá gộc và hôm nay là dác thứ hai trúng hơn cả trăm con. Bác Sáu vui mừng chửi thề ỏm tỏi lên:
– Bà mẹ, chuyến nầy về tao cho mấy thằng cào Xiêm tối mày tối mặt luôn!
Thường thì chuyến ra khơi là một tháng, nhưng chuyến đó chưa đầy ba tuần lễ mà bốn trăm cây nước đá đã hết sạch, dác lưới cuối cùng bác phải ướp sương sương cá gộc rồi cho ghe chạy thẳng lên Rạch Giá. Bán cá xong trở về Sông Đốc vàm đúng ngày hai mươi ba tháng Chạp ta. Sau khi chia tiền cho bạn xong bác vật con heo trăm ký, xẻ thịt chia cho dàng bạn đem về ăn Tết với vợ con và bác còn lì xì cho mỗi đứa một bao phong bì màu đỏ dầy cộm.
Sau chuyến bác Sáu trúng cá gộc, đám cào Xiêm tối mày tối mặt thiệt chớ hổng phải chơi. Họ đâu để bác dễ dàng ăn một mình như vậy được. Những tay lưới gộc đã cất trong nhà chứa vật dụng bây giờ lôi ra cột dây ranh lại, kéo hết dàng lưới xuống ghe, cứ ra khơi đánh thử một vài con nước nếu được thì tiếp tục, không thì vươn ngán ra cào tiếp có chết ai đâu. Đầu mùa gió chướng năm ấy những ghe lưới gộc đã trở lại vùng biển cũ.
Biển im phăng phắc và nước trong xanh. Chiều kéo lưới bầy cá mập lắc (2) lượn quanh ghe táp phầm phập, chúng chầu chực chờ những con cá đóng lưới được ngư phủ kéo lên gần mặt nước thì nhào tới xớt một cái tức thì con cá bị tiện hết khúc đuôi máu loang đỏ lòm, máu loang càng nhiều thì cá mập kéo tới càng đông. Ngư phủ người kéo lưới người dùng mung phóng xuyên qua lưng và lấy câu bắt kê ngang hông giựt từng con cá mập kéo lên ghe. Có đêm tranh dành với bầy cá mập cho tới giữa khuya mới kéo xong dác lưới, đã mất thời giờ mà còn thiệt hại. Có bữa kéo được trăm con cá gộc thì bị cá mập táp đứt khúc hết ba chục con, nhìn những con cá bị đứt khúc nằm ngổn ngang thấy mà xót ruột. Tuy nhiên các anh ngư phủ cũng bắt được một mớ cá mập, nhưng vi cá mập lắc không đủ tiêu chuẩn bán, còn xác mần khô thỏi bán cho dân nhậu hoặc mấy bà buồn miệng nướng ăn chơi thì đâu được bao nhiêu.
Dác lưới đầu ghe nào cũng được vài chục cá gộc và cá lặt vặt có trên trăm ký. Ai cũng tin chắc năm nay cá gộc sẽ đóng trở lại.
Niềm hy vọng của họ chỉ được vài ba con dác lưới đầu thì có chuyện xảy ra. Một sáng nọ, trong lúc ngư phủ ăn bữa cháo lót lòng trước khi ra khơi bủa lưới. Chợt nghe tiếng máy nổ phành phành, mọi người giựt mình nhìn ra ngoài cồn. Chao ơi! Trời mới vừa đâm mây ngang (3) mà đèn của hai chiếc tàu sắt sáng trưng ở bên ngoài bìa rạn, có lẽ họ đương kéo dác cào hừng đông. Hồi đầu mùa cho tới bây giờ vui mừng vì cá gộc đóng trở lại nên dân ngư quên mất hai chiếc tàu sắt ăn hại kia, bây giờ thấy nó lù lù trở lại làm ai nấy lặng thinh không nói lời nào chỉ biết nhìn nhau thở dài ngao ngán.
Không biết từ hồi nào ngư dân có luật dưỡng ngư không văn bản, vùng cá gộc chỉ có lưới gộc được đánh, những lưới nhỏ hơn không được đánh vào, ngược lại những vùng của lưới khác thì lưới gộc cũng không được xâm phạm. Nhưng hai ông tàu sắt nầy ở đâu hổng biết, cứ ngang nhiên cho ghe cào càng đại vô lưới người ta, có ghe bị hai chiếc cào cho cả dàng lưới nát bét, hễ chạy tới mắng vốn thì mấy ông đem súng ra dọa. Có tin đồn hai chiếc tàu đó là của vợ ông tổng thống và cũng có tin khác nói là của ông tướng nào ở Sài Gòn. Cho dù của ai đi nữa nhưng thời buổi chiến tranh ai có súng là người đó có quyền làm mưa làm gió, dân đen chỉ có nước kêu trời.
Mấy năm nay tới mùa cá đường hội, thì mấy ông lính địa phương trong Gò Công và Ông Trang ra bắt phải đóng hối lộ. Ghe nào không tiền thì phải nạp bong bóng cá đường; không bong bóng, không đóng tiền thì mấy cha cầm ghe người ta lại chờ người nhà đem tiền xuống chuộc, bằng không thì không cho về. Lưới gộc sống nhờ vào cá gộc và cá đường, nhưng hai nơi nầy không còn yên ổn nữa, thôi thì rũ lưới thiệt sạch ém vừa ranh vừa lưới xuống một hầm rồi ráp miệng cào, vươn ngáng ra chạy về hòn Chuối, hòn Hàn cào tôm bạc thẻ cho chắc ăn.
Những ghe có ráp cào Xiêm đi hết còn lại mình ên bác Sáu. Mỗi sáng bác chạy khỏi lằn cào của hai chiếc tàu sắt bác mới cho bủa lưới, nhưng đánh kiểu nầy thì lệch lằn cá, cho nên ba bốn dác lưới mà chẳng thấy mặt mũi con cá gộc nào hết. Muốn lấy đủ sở hụi bác phải canh nước đánh đêm. Chiều lên khi mặt trời vừa líp xuống viền nước phía trời Tây, bác Sáu cho ghe chạy tuốt ra ngoài lằn nước sâu mười bốn sải, bác lên ranh đánh nổi hy vọng bắt được mớ cá bè làm khô sình (4) bán lấp vào sở hụi. Bủa lưới xong trời cũng vừa sụp tối, bác ngồi canh cho tới khi khuya mới kêu Hai Dê ra thay canh cho bác đi ngủ. Trong lúc mọi người yên giấc, chợt nghe tiếng Hai Dê kêu giựt giọng:
– Bác Sáu! Bác Sáu ơi! Lưới bị đứt rồi sao mà ghe trôi ào ào bác ơi!!
Bác thức giấc cào nhào.
– Cái thằng, đánh nổi thì lưới phải trôi nhanh.
Tuy miệng nói vậy nhưng bác cũng ngồi dậy đi ra phía trước. Tôi cũng thức dậy theo bác. Bác ra mũi cầm dây dung lên thấy lưới còn bác trở lại hông ghe lấy trái dò thẩy xuống dò nước, khi trái dò chạm tới đáy biển bác thấy ghe trôi ào ào không được bình thường lắm. Bác kêu tôi xuống đề máy và đánh thức đám bạn dậy thay đồ chuẩn bị kéo lưới.
Các anh vừa choàng dây lên trái lăn cho máy kéo lưới chợt máy cuốn ro ro lên hơn ba tay lưới thì hết, phần còn lại gần nguyên dàn lưới trôi đâu mất tiêu. Bác Sáu đứng sững hồi lầu, ngao ngán thở dài, không nói không rằng bác vô mui quay vô lăng cho ghe trực chỉ hướng cồn rồi ra lịnh bỏ neo. Từ lúc neo ghe cho tới sáng đâu ai ngủ nghê gì được. Mấy người pha hết bình trà nầy qua bình trà trà khác ngồi nhâm nhi đoán già đoán non coi lưới trôi hướng nào… Tới khi trời hừng sáng bác Sáu kêu tài cải đề máy ra lịnh nhổ neo. Bác phân công Hai Dê và bác thay phiên nhau cầm lái, tài cải cùng dàng bạn thay nhau đứng trên mui ghe dòm nếu thấy ranh thấy lưới thì xuống báo cho bác hay….
Suốt ba ngày trời ban đêm neo ghe, ban ngày cho ghe chạy từ cạnh phía Nam hòn Hàn xuống tuốt hòn Khoai, đôi lần bác cho ghe vô vùng cấm nhưng ngoài hai chiếc tàu sắt đương tung hoành trên vùng biển lưới gộc trước kia và vài chiếc ghe câu khơi thấp thoáng phía ngoài hòn Khoai ra chẳng thấy bóng dáng đâu là cờ hay ranh lưới nhà. Hổng lẽ cứ cơm ghe bè bạn chạy khơi khơi như tàu tuần biển. Sáng sớm hôm đó tự nhiên bác Sáu đánh thức dàng bạn dậy, gương mặt bác hết căng và cau có. Bác kêu thằng nhỏ theo nấu ăn mở hầm lấy con cá sạo nấu cháo và kêu một ngư phủ nướng khô cá đuối và đem hết bánh kẹo ra. Còn hơn nửa can rượu bác kêu tất cả tụ tập vô ca bin ngồi vòng tròn. Vô vài cốc bác ôn tồn nhỏ nhẹ:
– Tao suy tính kỹ rồi, không kiếm lưới nữa, có chạy thêm chỉ tốn dầu, thiết nghĩ lưới gộc hết thời rồi, có kiếm được dàn lưới đem dìa cũng để chật nhà chớ chẳng ích lợi gì.
Bác nhìn mọi người dò ý, thấy ai cũng yên lặng chờ nghe. Bác nói tiếp:
– Về kỳ nầy tao giao ghe cho thằng Dê làm tài công, day qua tôi bác nói, còn thằng Cu, mầy theo phụ anh Hai mầy ra Sơn Rái gắn ngáng, ráp cào đem dìa đi cào.
Day qua dàn bạn:
– Đứa nào theo cào thì theo bằng không thì nhảy qua ghe khác. Có đứa nào ý kiến gì hông?
Ai cũng đồng ý ở lại với bác làm nghề cào. Tôi lên tiếng hỏi:
– Còn bác làm gì?
Bác hừ một cái:
– Thằng hỏi kỳ cục, tao về nhà làm chủ của tụi bây, lưới gộc đã bỏ tao rồi thì tao cũng hổng cần nó nữa, về chuyến nầy tao bỏ nghề luôn.
Bác quyết định như vậy rất hợp ý với dàng bạn. Mọi người vui vẻ nhẹ nhàng như vừa trút đi một gánh nặng. Khi cháo chín thằng nhỏ dọn lên mọi người ăn và uống hết can rượu xong bác Sáu mới chịu cho nhổ neo và cho ghe trực chỉ về vàm Sông Ông Đốc. Đó là chiếc ghe cuối cùng đã bỏ nghề lưới gộc vào giữa mùa gió chướng năm 1973.
Đại Tây Dương 22-06-2007
Chú thích:
1. Ba Cậu chớ không phải bà cậu. Tục truyền, ngày xưa có gia đình một bà mẹ và ba đứa con trai sống gần biển. Một hôm bà mẹ xuống bãi mò cá bị sóng cuốn trôi. Ba cậu con trai mò hoài không được bèn nghĩ ra một cách là se chỉ đan thành miếng lưới rồi đem ra biển thả xuống rà, nhưng tìm hoài không thấy xác mẹ đâu mà chỉ bắt được rất nhiều cá. Dân làng thấy vậy mới bắt chước se chỉ đan lưới để bắt cá. Về sau ba cậu chết người ta nhớ ơn lập bàn thờ thờ ba Cậu. Mỗi khi ra biển dân ngư vái ba Cậu cho chuyến ra khơi trúng nhiều cá và từ đó dân ngư xem ba Cậu như là tổ của nghề chài lưới.
2. Cá mập lắc mỗi con chừng hai chục ký.
3. Mây đâm ngang là lúc rạng đông ở phía mặt trời mọc có những đám mây xám, mây đen đâm ngan chơn trời.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.