This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tôi vẫn đứng chỗ ấy, không dời đổi. Đan Minh muốn tôi chờ cô ở đó và tôi nghe theo. Khá xa cánh cổng Đan Minh sẽ xuất hiện vào lúc mười giờ rưỡi tối. Kín đáo, hơi khuất lấp. Tôi tự hỏi, có phải Đan Minh muốn thế không? Bản thân, tôi cũng chẳng ưa chường mặt ngoài vũng sáng. Bóng tối giam cứng tôi lại bằng sự độ lượng của tàn lá xum xuê trên đầu, buông rủ xuống và như mọi khi nó phả cho tôi chút hơi thở mát lạnh của thứ cây bề thế có tuổi thọ già bằng những trang cổ tích. Đan Minh làm việc trong một quán bán cà phê luôn đông khách, nếu có đứa rộng lòng đòi đưa cô về, hẳn cô không khó để tìm cách từ chối: Tôi lỡ ký hợp đồng với một gã xe ôm rồi và hầu như chưa bao giờ hắn sai hẹn cả. Hắn là cái đồng hồ chạy pile chẳng hao hụt năng lượng, hắn tựa một đại diện cho thứ công ty trách nhiệm hữu hạn phục vụ đối tượng bằng phương châm “đinh đóng cột”. Rất uy tín.Người hành nghề chạy xe ôm và tôi, có riêng một điểm khác biệt. Tôi dấu che thân phận trong bóng tối trong khi bọn người kia thường lựa chỗ sáng mà quần tụ, mà chào đón, mà rước khách, mà chèo kéo. Họ am tường hầu hết những con đường nằm chằng chéo đè lên nhau vô tội vạ có trong thành phố bị cắt manh múm. Còn tôi, chỉ rành đường đi lối về với khu vực được khoanh vùng dài cỡ 7 km: Lộ trình từ quán cà phê đâm đầu tới nhà trọ. Thỉnh thoảng phá lệ được chạy xa hơn, Đan Minh vẽ đường và đó là những tối cô cao hứng đãi tôi đi ăn khuya. Một tô cháo gà hoặc một tô cháo cá. Đôi khi mưa đêm thầm lặng nghiêng hạt nhỏ chẳng làm kinh động một ai, chúng tôi tấp vào lề đường để ngồi bên gánh bún bò “tối lửa tắt đèn”. Mùi khói than vừa vùi vào đống tro tàn và chủ nhân, một mệ già cỡ 100 tuổi đã rộng lòng dùng vá cạo đáy nồi bán tới giọt nước cuối. Mười giờ bốn lăm, người sau chót bước ra khỏi quán, tôi nghĩ vậy. Và tôi đã chạy tới sát bên lưng. Hơi diêm dúa, không trẻ nhỏ, người đàn bà ngó tôi với tất cả vẻ dè chừng, phòng thủ. Xin lỗi chị, tôi chờ Đan Minh đã lâu mà chẳng thấy… Nó kêu đau bụng, nó nói chắc em ngộ độc thực phẩm, nó kêu xe ôm chở qua nhà thương lúc tám rưỡi chín giờ gì đó, lâu rồi. Người đàn bà không còn điều gì để nói thêm, bước đi như cơn gió vừa thổi ngang đã lùa sạch những gợn lòng. Để lại một lượng thông tin hơi bất ngờ khiến tôi chẳng kịp trông rõ màu áo. Hình như bà mặc một chiếc váy ngắn, trên đầu gối cả gang tay và là thứ mà Đan Minh diện khi tới quán. Tôi ngồi trên yên xe, máy vẫn nổ, xăng vừa châm đổ tới nửa bình trước đây cả tiếng. Đầu óc tôi như được chạy bằng dầu cặn, cà rịch cà tang khởi động tới năm bảy phút mới đưa tới quyết định: Phóng qua nhà thương.
Thành phố chỉ có duy một bệnh viện và họ gọi là bệnh viện trung ương. Nếu đã là trung ương thì những bệnh viện “địa phương” kia nằm ở đâu? Tôi đã ba chục tuổi đầu, tôi chẳng biết cách để giữ mình nhưng nhờ trời, bệnh hoạn là thứ tôi chưa hề đối diện. Tôi sống phây phây, như cách mà Đan Minh nhận xét và hồn nhiên tới độ chẳng nhớ chính xác địa chỉ của nhà thương lớn nằm ở nơi nao. Nhà chen lấn, mọc tuỳ tiện chắp vá hai bên đường, những cánh cửa đóng kín kia, bản thân nó giữ khu biệt từng nhà thương nhỏ. Không đúng sao? Mỗi đơn vị gia cư đều tích tụ ở bên trong địa phận, lẻ tẻ những niềm đau cá biệt mà muốn sống họ phải tự băng bó lấy vết thương. Tình yêu có khi là con dao hai lưỡi, vin vào đó để tìm lạc thú, đôi khi chính nó tước đoạt hết nhựa sống của đời người. Chật vật để hiểu ra, đi tu là cách thế anh buông con dao kia xuống khỏi tay cầm. Khi xa vật làm chấn thương gây đổ máu kia anh mới mạnh miệng hô hoán: Buông đao có thể thành Phật.
Tôi là ác quỉ, rồ dại chạy giữa đêm đen, gần sang ngày mới thì chạm trán với dãy cao ốc có cắm chữ bệnh viện trung ương bằng xi-măng nhô ra trước mặt tiền lầu một. Đèn ở đó thắp sáng, phơi bày sự ghẻ lạnh như một thứ bệnh viện tâm thần. Hoặc không, nó có khả năng xua đuổi những kẻ “tâm thần” như tôi. Tôi mang xe đi gửi. Gửi xong tôi nhắm cái bảng sáng đèn nổi rõ một dấu cọng màu đỏ chót quờ quạng bước tới. Tại sao là dấu cọng mà không là dấu trừ, hoặc chia? Tôi nghĩ chỉ riêng khu hộ sinh mới có quyền treo tấm bảng kia, bởi hai vợ chồng dìu đỡ nhau tới đó, phút giây sau họ sẽ được cọng thêm một nhân mạng, em bé ra đời khóc oe oe: đời là bể khổ. Những khu vực khác đều lảng vãng bóng dáng tử thần, sẽ chia chác, sẽ khấu trừ, sẽ chiếm đoạt từ bạn những giây mơ rễ má về cái gọi là niềm vui thân thương. Làm sao cộng hưởng được với nó?
Giống như đa phần kẻ vô ra dưới chữ thập đỏ, tôi cũng mang một bộ mặt khó đăm đăm. Bơ phờ, xanh xao, hoang mang, bức bối, chẳng còn lòng dạ nào thì cũng chung một nghĩa. Tôi bước lại gần tấm bảng “Phòng cấp cứu” để hỏi một ông mặc đồng phục bệnh viện. Bằng tất cả những diễn đạt rất mạch lạc mà tôi có, tôi trình bày nguồn cơn và ước ao được nhìn thấy kẻ ngộ độc thực phẩm kia. Những thứ nghe nao lòng nọ như không chạm phải màng nhĩ của ông ta, dửng dưng, mắt không dời đổi, vẫn đặt để trên một vuông giấy kẹp trên tấm bìa cứng. Nếu tôi là Thiên Lôi đang nắm ở tay cây búa, tôi sẽ cãi lệnh trời mà giáng cho thằng chả một búa, để xem hoạt cảnh khi người ta hốt hoảng mang nạn nhân bất lịch sự kia đi sơ cứu nó như thế nào. Một ông Thiên Lôi từ ngoài đường bước vào, xô tôi sang bên, móc túi đếm tiền rồi bỏ vào phong bì đặt nó trước mặt kẻ lãnh cảm kia. Ba mươi giây sau quyền uy của Thiên Lôi mất búa được người đời nể sợ, ưu tiên giải quyết, trả lời minh bạch những gì sứ giả của Trời muốn biết. Và vị sứ giả kia luôn mồm đù mẹ, nóng nảy như anh ruột của Trương Phi.
Tôi đứng quan sát hiện trường rõ lâu, sau rốt tôi nhìn mặt một cô y tá để đặt cược sự rủi may. Tôi cuốn lại những tờ giấy bạc sau khi móc sạch túi quần, nắm lấy tay cô dáng điệu thành khẩn: Chị làm ơn giúp em, tha lỗi em, lòng em như tơ vò. Được, về điều gì hẳn thủng thẳng nói, chuyện gì vẫn còn ở đó, hổng trốn khỏi đâu. Y tá đút tay vào túi áo. Túi may to như thể tất cả những dụng cụ y khoa có thể nhét được vào đó, không cứ là xấp tiền hèn mọn, không cứ là ống nghe thăm bệnh, không cứ là cả nạm viết xanh đỏ gắn nắp ở đó, không cứ là vật đo nhiệt kế, không cứ là cây đèn pile nhỏ chút xíu, không cứ là cặp găng cao su đã qua sử dụng, không cứ là khẩu trang bèo nhèo.
Đan Minh, nữ, ba mươi lăm tuổi, đau bụng, nghi là ngộ độc thực phẩm, bắt xe ôm tới bệnh viện khoảng chín rưỡi mười giờ. Để cẩn thận tôi moi ra được từ bót đựng giấy tờ tấm ảnh chụp khuôn mặt một thiếu nữ ngó sầu mộng chỉ trỏ cho người ta nhận diện. Anh đứng yên ở đây, chớ bước qua lằn vạch đỏ kia. Tôi sẽ đi dọ hỏi, chậm lắm là nửa giờ sẽ trở lại. Đan Minh à? Cái mặt sao trông quen quá. Người y tá biến mất sau tấm màn nhựa bị cắt thành từng vạch buông rủ. Không chắc là sau nửa giờ tôi đếm được có bao nhiêu đường xẻ trên tấm màn tan nát kia. Thay vì lấn sâu qua đường sơn đỏ vạch trên nền xi-măng lầy lội sẽ bị la ó việt vị này nọ, tôi bước ra khỏi vùng cấm địa để nhập chung bầy đàn với bọn người “tang gia bối rối” để đứng hút thuốc. Trong hoàn cảnh này, trong phút giây hoang mang cùng cực này, chẳng có bằng hữu nào sẵn lòng xoa dịu hồn mình bằng khói thuốc cả. Bia rượu và thuốc lá, trời sinh chúng ra là để cứu lấy bọn người bất hạnh đấy thôi. Giống như vai trò một người mẹ, thượng đế đã phán: Tôi chẳng thể có mặt ở khắp nơi, vì thế tôi đã tạo ra hình ảnh một mẹ hiền. Đan Minh sẽ là người mẹ dịu dàng nếu cô đồng ý thuận lòng lấy tôi làm chồng, có nghĩa là một ngày nào trong tương lai, cô nói sau bao đắn đo, hãy cấy vào trong tôi một hạt giống của bạn.
Tôi ném điếu thuốc xuống đất, bệnh viện bề thế không sắm được một cái gạt tàn mặc dù họ có gắn tấm bảng: Khu vực được phép hút thuốc. Chỗ này cũng không trồng cây để chúng làm điều hoà lượng môi sinh. Nếu có cây, người ta dễ nhìn nhận cả đống thuốc lá cụt ngắn kia là hoa lá của cây rụng xuống vương vãi cho cuộc tuần hoàn hoa nở lại tàn. Tôi đi vô sát lằn sơn đỏ chờ đợi người hảo tâm. Cô y tá đẹp người đẹp nết kia đã xuất hiện. Anh có nhầm lẫn không? Trong sổ nhập viện ở phòng cấp cứu hôm nay không lưu tên Đan Minh. Không luôn cả trường hợp ngộ độc thực phẩm. Có năm trường hợp, hai tai nạn giao thông, một uống thuốc độc quyên sinh và hai do hỗn chiến đâm chém. Nạn nhân là hai nữ và ba nam.
Cô y tá có vẻ tận tuỵ khi được cậy nhờ giúp đỡ, hẳn cô rất mát tay nếu đưa mông cho cô chích thuốc. Tôi chân thành cám ơn và tôi ước ao nếu bị xe đụng, chở vào đây cô sẽ là người đè tôi ra vạch áo xem lưng. Ở đây, thời buổi này, nếu không vào ra bệnh viện, cứ phây phây như tôi thì rõ là đồ lạc hậu. Không nhập viện thế thì Đan Minh đi đâu? Từ bao giờ, cô đã mang hạ sách ra lừa dối nhau? Đi tới chỗ gửi xe thì có đứa nhận diện, gọi giật tên tôi. Tôi không may mắn để còn mẹ hiền tới lui han hỏi, tôi trơ trọi thực sự ở thành phố này, chí thú mơ mòng để tâm duy tới Đan Minh, vậy mà ngờ đâu tôi còn một ai khác nhìn nhận ra tôi để lạc giọng thét gọi. Đèn trên đầu tôi bạc nhược soi rõ một khuôn mặt khô héo, gầy ốm, tóc rối bụi đường. Hắn làm khó bộ nhớ của tôi, như thể ổ cứng một giàn computer vừa bị vi trùng thâm nhập. Thời gian làm “tin tặc” hay con người ưa sắm riêng những mặt nạ. Đù má bao lâu rồi thằng cà chớn? Mày làm gì ở đây? Chữ cà chớn hắn nói giúp tôi nhớ lại phần nào. Chỉ có hắn mới gọi tôi là thằng cà chớn. Ủa, Chơn cà chớn, ừ, quả là lâu thật. Hắn nắm bàn tay tôi, bắt lấy và lay lay như xua đuổi mộng mị. Mồ hôi đổ trong lòng bàn tay hắn, tuy vậy da thịt kia quá đỗi lạnh tanh. Một thây người, một tử thi đều thủ đắc lấy thứ hàn khí ấy. Bàn tay của mẹ khi tôi nắm lấy phút sau cùng trước khi để cho người ta tẩm liệm cũng lạnh lẽo như vậy. Hắn đã chứng minh cho tôi thấy, lạnh cẳng hoặc lạnh tay thì không riêng người chết mới có quyền cưu mang. Người ta rất không ăn hô nói thừa khi ta thán: Sống đây mà xem như chết rồi.
Má tao vừa gánh hàng trong chợ đi ra thì bị xe điên leo lề cán phải. Họ đã chuyển bà cụ lên phòng hồi sức. Còn mày, thằng cà chớn? Tôi đang tìm cách nguỵ tạo một tình huống để đặt điều dối gạt. Tìm chưa ra nên đánh trống lãng. Tao không biết cà chớn nhằm minh hoạ ra thành phần nào, tuy vậy tao vẫn vui khi nghe mày luôn kêu tao là thằng cà chớn. Tại sao? Vì thân thiết mới gọi nhau thế, đúng không? Hắn đặt dấu hỏi. Tôi rút tay về: Tại vì hơn mười năm nay chẳng còn ai kêu tao là đồ cà chớn. Đôi khi người ta cần sống lại những ngày tháng cũ, dù đó là kỷ niệm xấu. Đù má không cà chớn thì còn chữ gì khác? Mày yêu con Thuỷ mà làm gì trong khi nó đang cảm tình sâu đậm với tao. Xôi hỏng bỏng không, mày đẩy nó ra đứng ở ngã ba đường và nó lựa chọn bước đi ở lối thong dong nhất, không ngó ngàng tới mày cũng như tuyệt tình với riêng tao. Tụi mình có ăn học chứ vào thời buổi này e mang đao kiếm ra mà nói chuyện đạo lý. Mày vào thăm ai hay mày đã thôi nhiệm vụ? Đã thôi nhiệm vụ. Vậy được, tụi mình đi kiếm chỗ ngồi nói chuyện. Mười năm rồi sao? Ừ, tao độ chừng vậy, có khi hơn. Không tới đâu, mới quá mà, đâu như tháng trước, bữa nhiếp bữa kia.
Chỗ ngồi nói chuyện không khó kiếm, đó là quán cà phê nằm sau lưng bệnh viện. Đoạn đường chẳng mấy xa, đủ để tôi biết hắn làm công nhân viên trong nhà máy cung cấp điện lực cho thành phố và những vùng phụ cận. Nơi này mất điện nơi kia sáng đèn, sự cố nọ núp bóng dưới hai chữ “bôi trơn” và thứ dầu mỡ kia cầm chân hắn lại, chẳng muốn dời đổi. Nói cách khác, người ngợm hắn trông như kẻ chết đói thiếu cơm nhưng trong túi hắn, ra đường thủ không dưới hai chục triệu. Hắn giàu có tới độ muốn rách túi quần. Thằng cà chớn như tôi chỉ cần một phần tư tiền bạc của hắn cũng đủ ấm đời muôn niên.
Hắn gọi bia cho cả hai. Hắn nói má hắn đã già, không biết có qua khỏi vụ này không. Hắn nói thằng tài xế xe điên đã bị bắt giữ, đù má phải mà tao có mặt ở hiện trường, tao nhảy vào đánh hôi thằng cà chớn kia một trận cho hả giận. Hết nửa chai bia hắn mang chuyện cô bạn học ngày cũ ra nhắc. Tao hỏi thật, thời đó mày mần ăn với con Thuỷ chưa? Tầm bậy, chỉ cầm tay chứ không được nắm chân. Người ta con nhà lành, cầm chưa đổ mồ hôi tay thì vùng vằng quay bước. Chữ yêu là chữ thậm khó nói trong khi chữ mần ăn kia thì vĩ đại cỡ như làm một cuộc cách mạng. Vậy sao? Hắn cười. Tao hôn con Thuỷ rồi, mày tin không? Hôn cho mềm môi, hôn cho tới lúc phát hiện ra mày thầm thà thậm thụt đứng góc đường, đù má thằng cà chớn, uống hết cái này coi. Đã lâu, tôi mới được uống bia. Hắn nói sức mày bao nhiêu thì cứ dung nạp, đừng lo, tao chi trả. Thật kỳ cục, thành phố lớn lao gì cho cam mà sao ra đường không đụng mặt? Tao tưởng mày chết mất đất từ khuya rồi chứ. Mày sẽ thấy thêm một điều kỳ cục khác, là mày có ưa đi thăm con Thuỷ không, tao dẫn đi.
Tôi uống qua chai bia thứ hai, người tôi bắt đầu nóng. Tôi mạng mộc, bình địa mộc, nghe nhắc tới thuỷ mường tượng ra bao điều liên hệ tới ướt át, tới sự thẩm thấu làm người giải hạn, thôi khô khan, thôi cùn mằn, thôi sỏi đá, khiến tôi bức rức. Kỳ cục. Tôi nói nhỏ mà hắn nghe được. Thuỷ sẽ ngạc nhiên vô hạn khi thấy tao dẫn xác mày tới. Than ôi, cuộc đời này là cả một sắp đặt tréo cẳng ngỗng! Nhà triết học đặt chai bia xuống bàn. Thở than là thở than vậy chứ mặt mày vẫn tỉnh khô. Dạo đó tao có mang Thuỷ lại nhà chào má tao. Mày biết sao không thằng cà chớn? Má tao gặp mặt nó phút ban đầu là đã chịu đèn con Thuỷ ngay. Bả ra chợ sắm sửa cho nó bao nhiêu là thứ nội y, bả đơn giản nghĩ một cọng một là hai, cứ đoan chắc Thuỷ sẽ là con dâu. Coi, cái lưng ong, cái eo thon cái ngực nở cái xương chậu cái dáng đi, rồi mai này nó đẻ cho má biết bao nhiêu là cháu ngoan của nội. Giờ này má tao đơn thân nằm trong bệnh viện, giờ này con Thuỷ…
Đi. Hắn quyết định. Hắn trả tiền bia. Đời vô thường. Cơ quan tao đang phát động bài trừ tham nhũng, mai hậu có thanh tra ngoài trung ương vào xem xét tình hình, đù má tao chủ trương cứ chơi cho bỏ những ngày cơ cực. Con y tá đằng chỗ bệnh viện nói nghe thấm thía, nóng ruột mà ích gì, chuyện gì cũng còn có đó. Đù má, có nhiều chuyện rất dễ bốc hơi đấy, em ạ! Đừng đóng khung bất cứ điều gì vào chân lý này nọ mà hố to. Mày theo tao, nghe thằng cà chớn.
Những ngọn đèn đường vẫn thoi thóp, tuy đã sang ngày mới nhưng bình minh còn dùng dằng ở chốn xa chưa kịp về. Mặt trời hẳn ngủ nướng, nếu mặt trời bị tai nạn giao thông, ngày ấy hẳn tận thế. Thôi biết tới má, tới cà chớn, tới đù má, tới Thuỷ, tới người tình không chân dung: Đan Minh. Tôi không dại khai cho hắn biết, so ra làm con mèo biết dấu cứt bao giờ cũng đáng hoan nghênh. Cái bi thảm của đời này là người ta biết rõ lý lịch nhau quá. Dẫm đạp vào đời tư của từng cá nhân như bước chân vào vườn hoang để tuỳ tiện bức hái hoa, dày xéo nó với thứ luận điệu của đứa thất học. Nếu có một thứ đảng cà chớn hiện hữu e sẽ dễ thở hơn, nhỉ?
Ở bãi gửi xe có tên ăn mặc rất đỗi lịch sự. Đứa thanh niên tóc chải tém mướt rượt như vừa tắm táp xong, đôi mắt có vẻ tinh tường quan sát thằng cà chớn rồi quay qua hỏi hắn, nhân viên nhà đèn: Ngày mai chắc hẳn trời đổ mưa? Chú thợ điện đáp, chẳng đắn đo: Không, ngay giông cũng chẳng có. Đứa thanh niên vung tay giữa khoảng không, tức thì dưới tàn lá rậm chôn dấu nhiều bóng tối, cánh cửa chìm lẫn trong bức tường phía sau được mở ra. Có lẽ chất xúc tác của hai chai bia đã mang tôi nhập vào cảnh giới của xứ ngàn lẻ một đêm và tôi đồ rằng hắn vừa làm Ali-baba để đọc khẩu lệnh cho hang động thức giấc mở lối. Phải tích luỹ uy lực mới đọc đúng câu chú. Phải giang hồ lắm bận mới tường ngõ đi lối về. Công nhân viên nhà đèn, chú thợ điện dắt tôi vào nơi cố tình bị mất điện. Chú quen với sự cố tối tăm nên chú xăm xăm. Mày đừng ngờ vực chuyện gì cả, cứ xuôi tay tự nhiên như nhiên thôi cà chớn ạ. Sống mà chống đỡ với bao hoang mang toan tính phòng thủ thì còn xơ múi gì cái cuộc trần ai phù du chóng sang trang này!
Song hành với một kỹ sư về ngành điện lực có lý lịch tốt, còn ẩn nấp bên hông một ông nội ưa triết lý vụn vặt. Lý ra hắn phải là đứa béo tốt đỏ da thắm thịt, cái khô quắt gầy còm hắn có do bởi cố tật mông muội ưa bàn luận chuyện đời phải quấy sáng nắng chiều mưa. Hắn ôm cả núi tiền và hắn sợ có khi đồng bạc tan chảy thành nước, trôi sông đổ biển. Hành lang không mấy dài, thắp từng ngọn bạch lạp cách khoảng, cháy với thứ đốm sáng lung linh như biết thổn thức khi bề dài thân thể bị cạn ngắn dần với lệ trắng tuôn dòng chảy xiết xuống cái chén nhỏ làm bệ cắm.
Hắn rỉ tai nhỏ to trao đổi mật khẩu một hồi với cô gái phục sức như thời tiền sử. Ăn lông ở lỗ cũng có nét đẹp ngời sáng của nó chứ không cứ ngó ra cái đe doạ bị xẻ thịt phanh thây ăn tươi nuốt sống. Này thằng cà chớn, con Thuỷ đang ở trong phòng số 5, tao để cho mày mình ên đi gặp nó đột ngột mà thú vị hơn. Ngày trước chỉ được nắm tay thôi, nghe thảm, bây giờ thì tha hồ dày xéo nhé. Đù má mày chơi sao cho ngon lành đừng để người xưa mắng mỏ: Đồ cà chớn! Hắn trao vào tay tôi chiếc chìa khoá. Rồi vỗ vai: Vô tư tới bến.
Tôi tìm cánh cửa có gắn số 5 để đút chìa khoá vào. Đút trơn tru, đút sít sao nhưng chưa vội vặn mở. Tôi tập hít thở, tôi tập điều hoà kinh mạch và tôi cố nhớ lại gương mặt xinh đẹp của Thuỷ. Cửa mở, cửa đóng trong nhẹ nhàng cẩn trọng, như sợ tiếng động dấy lên sẽ phương hại tới nỗi đau của kẻ mang bệnh yếu tim. Đèn trong phòng thắp sáng nhưng là bóng nhỏ yếu watt, tường vôi hồng và chiếc giường trải khăn trắng có mùng buông lơi một góc giường. Không một vết nhàu trên bề mặt tấm nệm dày. Tấm nệm chẳng dấy cơn chấn động khi Thuỷ rời đít đứng lên. Thuỷ chẳng có mảnh vải che thân nên ngó Thuỷ lạ, không trùng với Thuỷ phục sẵn trong trí tôi. Tôi xê dịch chân bước, lê lại gần, đứng yên cho Thuỷ dễ bề quan sát. Một thằng cà chớn thì có bị thời gian tẩy rửa chút gì không? Nó phong trần hay nó vẫn thuần là đứa bạn học dại khờ được cầm tay mà xém chút là xuất tinh sướng ngất.
Sao đứng như phổng đá thế? Thuỷ đã lột truồng, người Thuỷ không đáng để khuấy động chút lửa lòng trong anh? Do đâu anh tìm ra Thuỷ? Cớ gì anh lựa Thuỷ mà không là mười cô kia? Họ lấy của anh bao nhiêu tiền? Sau một loạt câu hỏi Thuỷ ngồi lại xuống giường. Cúi đầu, tóc che mặt với bờ vai run. Tôi bước lại, tìm bàn tay Thuỷ ủ vào tay tôi vụng dại. Tôi cảm nhận cái giá lạnh từ đó lan nhanh vào xúc giác mình. Lạ quá, chỉ có đôi tay của Đan Minh là ấm áp, cô lớn hơn tôi 5 tuổi và có đôi lúc tôi mang ảo giác mình được bao che, hỏi han, bảo vệ, chăm sóc ân cần tựa một người có chung liên hệ huyết thống. Bây giờ sống ở đâu, đang làm việc gì và hẳn là trốn vợ đi tìm cảm giác lạ? Tôi nói, Thuỷ cứ hỏi thêm đi. Thuỷ có quyền hỏi. Đổi lại tôi chỉ xin hỏi một câu thôi. Thuỷ rút tay lại, dùng nó để bịt miệng tôi. Thuỷ hôn anh, có được không? Tôi nhắm mắt. Ban đầu là một hương mùi thoảng qua, một vị ngọt tan nhanh trên đầu lưỡi và sau cùng, hoán đổi là vị mặn của giọt nước mắt vừa len lỏi chảy xuống trên môi.
Chúng ta nhập cuộc thôi. Đừng phí uổng tiền bạc. Nếu anh ngại Thuỷ có sẵn áo mưa đề phòng. Đừng nói năng, chớ cật vấn. Không phải là tình bạn của chúng ta đã chết từ lâu rồi sao? Tôi ôm Thuỷ vào lòng. Tôi không muốn làm người dưng, tôi không ngủ với Thuỷ và như thế giữa đôi ta, tình bạn vẫn còn đó, trước sau vẫn thế. Chiếc áo tôi đẫm ướt. Tôi mạng mộc, bình địa mộc và có cần thiết không, khi để mình bị úng thuỷ? Hãy đứng yên hứng chịu bao oan trái người ta bày tỏ trong câm lặng, đó là cách thế mà một thằng cà chớn sẽ không đủ sức với tới, làm được. Tôi chẳng hiểu hết nghĩa xấu của chữ cà chớn nhưng tôi tuyệt không thích ai gọi mình bằng chữ ấy. Thuỷ có gọi tôi là cà chớn không nếu tôi chẳng đi sâu vào người cô khi có cơ hội như hôm nay?
Anh chẳng mọc lên một ham muốn nào sao? Tôi nói có, đồng thời là sự tiếc nuối. Phải mà tôi có được chiếc điện thoại thông minh tôi sẽ xin lưu giữ hình ảnh của Thuỷ vào trong máy. Thuỷ vẫn cúi mặt, cô lắc đầu. Thường thì kẻ chụp ảnh họ luôn tìm thấy cái đẹp để nắm bắt, hiện thân của Thuỷ là cả một sự xấu xa. Anh tính đi bêu rếu Thuỷ sao? Ác đến mức khó tin. Chúng tôi nói toàn cả chuyện không đầu không đuôi, vô thưởng vô phạt mất gần tiếng đồng hồ cho khớp với thời gian mà kẻ mua hoa thôi kỳ kèo chuyện hương phấn. Tôi chào Thuỷ và nghĩ là sẽ không bao giờ gặp lại cô, ngoại trừ Thuỷ cho tôi địa chỉ nơi cô ngụ. Thuỷ im re, không phản ứng cho tới lúc tôi rời phòng. Cửa đóng lại, chia lìa hai thế giới như đã từng, như vừa thoát khỏi một cơn mộng.
Khi tôi trả lại chìa khoá cho cô gái ăn lông ở lỗ hồi nãy, cô thông báo là người bạn anh vừa rời đi vì có tin nhắn má anh ấy mất trong bệnh viện, nói thế để anh khỏi mất công đợi chờ. Cô không quên chúc tôi một ngày an lành. Tôi đón nhận lời chúc như tin rằng thành ý của người ta sẽ khiến mình nguôi ngoai muộn phiền. Tôi chạy xe về lại nhà thương trong bải hoải, má hắn mới mất và trước sau tôi không phải là thằng cà chớn. Tôi muốn sự có mặt của tôi sẽ an ủi hắn ít nhiều, để hỏi xem tôi có thể giúp được gì trong lúc tang gia bối rối.
Đù má thủ tục bệnh viện này không tài nào hiểu thấu, chúng bảo tao đợi họ xét nghiệm lần cuối, ghi biên bản rồi mới vào được. Để ký nhận, để thuận lòng, để không kiện tụng, để nhận xác. Đù má tao là thằng con bất hiếu, má ngắc ngoải ở đây mà con ham ra ngoải kiếm gái. Nhưng mà tình ngay, lính mới này chơi rất đạt, rất dễ lậm để ăn quen bén mùi. Hắn bật sáng cái điện thoại di động. Tao có lén chụp ảnh em, mùi đéo chịu được. Đan Minh hiện trong màn hình, rõ mồm một. Quen nhau như lia thia quen chậu, giờ này tôi mới lần đầu ngó thấy đôi vú đẹp não nề của cô. Còn mày? Thấy Thuỷ ra sao? Người nó tuy phai nhạt hương mùi nhưng dẫu sao còn nấn ná chút tình bạn. Ngủ với con bạn học cũ, mày có hưởng được cái cảm giác lạ lùng khó ăn khó nói không?
Tôi bắt chước thằng kỹ sư điện. Đù má, tao bắn nó hai phát. Bang, bang. Em sướng em la và em khóc. Em chửi, địt mẹ anh, đồ cà chớn! Sao lừa dối nhau? Sao đành dang tay xé nát tim đau!
Donald J. Taylor, Sergeant Major (Retired), U.S. Army Special Forces Project Delta Recon Team Leader, July 1968 – July 1970
Vũ Đình Hiếu chuyển ngữ
Bộ chỉ huy B-52, hành quân Delta, dưới quyền chỉ huy của liên đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ có nhiệm vụ đưa các toán biệt kích xâm nhập khu vực địch kiểm soát để lấy tin tức. Những tin tức về đơn vị địch rất quan trọng cho các đơn vị Hoa Kỳ, VNCH soạn thảo kế hoạch hành quân, dựa trên những tin tức về quân số, hỏa lực và vị trí của đơn vị địch.
Nói cách khác, các toán biệt kích Delta có nhiệm vụ tìm dấu vết của địch, nhận diện đơn vị, quân số, hỏa lực của địch, nhưng không cần thiết phải tấn công địch quân. Tuy nhiên, nhiệm vụ cho các toán biệt kích theo thứ tự ưu tiên: nếu có thể bắt sống tù binh đem về khai thác. Còn chuyện tấn công đơn vị địch là một điều ngu xuẫn, tự sát. Làm sao đưa một toán biệt kích sáu người đi tấn công một đơn vị cấp tiểu đoàn của địch.
Khi xâm nhập vùng hành quân, các biệt kích phải luôn luôn nghĩ rằng, có sự hiện diện của quân địch, đâu đó trong khu vực hành quân. Thỉnh thoảng vẫn có trường hợp, toán biệt kích Delta được đưa vào vùng hành quân mà địch đã di chuyển đi nơi khác, hoặc không có bóng dáng địch hay họ chưa hề đặt chân đến khu vực này. Khi một toán biệt kích Delta xâm nhập vùng hành quân không có dấu vết của địch, trường hợp này gọi là “Hố Cạn”.
Gặp trường hợp hiếm hoi này, toán biệt kích ra vào khu vực hành quân thoải mái, như đi nghỉ phép. Tuy nhiên cũng có những trường hợp “động ổ” như câu chuyện sau đây. Một kỷ niệm khó quên về “Hố Cạn” trong thời gian làm trưởng toán biệt kích Delta.
BOM DAISY CUTTER
Khoảng giữa tháng Mười Một năm 1968, hành quân Delta được di chuyển từ căn cứ hành quân tiền phương (FOB) An Hòa, của TQLC/HK ngoài vùng I chiến thuật, bay thẳng về vùng 3, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương mới bên cạnh phi đạo trại LLĐB Đồng Xoài. Không được nghỉ ngơi giữa hai cuộc hành quân, tuy nhiên chúng tôi được cấp chỉ huy an ủi, cho biết cuộc hành quân chỉ kéo dài đến khoảng 20 tháng Mười Hai. Chỉ để lại đơn vị trông nom, bảo vệ căn cứ cùng với yểm trợ, còn tất cả sẽ được đưa về Nha Trang mừng lễ Giáng Sinh, và năm mới. Nhưng thực tế, năm 1968, cuộc hành quân Delta kéo dài qua năm 1969.
Một tuần trước lễ Giáng Sinh, chúng tôi sửa soạn về Nha Trang như cấp chỉ huy đã hứa. Bỗng được lệnh vào trung tâm hành quân (TOC) để nghe thuyết trình và nhận lệnh. Khu vực hành quân được trao cho toán biệt kích chúng tôi rộng 10×10 cây số vuông, rừng lá rậm rạp nơi phiá đông thị trấn An Lộc, tỉnh Bình Long. Tin tức tình báo cho biết có nhiều trại đóng quân cấp đại đội, tiểu đoàn của địch trong khu vực hành quân. Ngay sau đó, tôi đi bay với thiếu tá Không Quân Roscoe trên chiếc máy bay quan sát O-1 (FAC bird-dog), thám thính khu vực hành quân chọn bãi đáp (điểm xâm nhập, triệt xuất toán biệt kích).
Bay thám thính trong một khu vực rừng rậm rạp, rộng lớn 10×10 cây số không phải là điều dễ làm. Cuối cùng hai chúng tôi đồng ý, khu vực thám sát là khu vực nằm giữa hai nhánh sông nhỏ và tiếp theo tìm điạ điểm xâm nhập. Tôi để ý đến một khoảng trống nơi góc tây bắc và hỏi thiếu tá Roscoe, sao lại có khoảng đất trống đó, và được trả lời đó là hố bom Daisy Cutter. Tôi đã đọc bài viết về loại bom BLU-82B “Daisy Cutter”, đến hôm đó mới được chứng kiến.
Hố bom này rộng lớn hơn những hố bom mà tôi đã nhìn thấy trước đây. Quả bom tạo nên một khoảng trống, đường kính rộng khoảng 200 thước và rất tròn, phủ cát trắng nổi bật lên giữa một rừng cây lá mầu xanh thẫm. Theo tài liệu đăng trên báo Stars and Stripes, bom Daisy Cutter là một qủa bom to, nổ khi còn cách mặt đất khoảng vài bộ. Khi nổ sẽ giết hết cây cỏ, cả lớp đất mầu mỡ trên mặt đất trong vùng ảnh hưởng, tạo nên khoảng đất trống có thể đáp được bốn, năm chiếc trực thăng. Nhìn thấy rõ ràng từ trên không, hình tròn mầu trắng như có ai dùng kéo cắt ra từ một khoảng cỏ xanh, nên mới có tên “Daisy Cutter”. Tôi có thể chọn một bãi đất trống khác để xâm nhập, nhưng tính hiếu kỳ, tôi muốn đến tận chỗ để quan sát nên chọn đó làm điểm xâm nhập. Điều này sẽ làm tôi hối hận.
Tôi hỏi thiếu tá Roscoe thêm về bom Daisy Cutter, nhưng ông ta không biết gì thêm, chỉ nói đã gặp một phi công C-130 thả loại bom này, và viên phi công trả lời rằng rất sợ khi phải bay thả bom Daisy Cutter. Quả bom được lăn ra cửa sau phi cơ, rơi xuống bằng dù dưới cao độ 6000 bộ, đủ thời gian cho chiếc C-130 bay ra khỏi khu vực thả bom. Trường hợp, nếu dù không mở, qủa bom chứa 13000 cân Anh thuốc nổ mạnh, rơi xuống nhanh hơn có thể gây nguy hiểm cho chiếc phi cơ C-130 cùng phi hành đoàn.
Về đến căn cứ hành quân tiền phương Đồng Xoài, tôi hỏi vị sĩ quan S-2 (an ninh, tình báo tác chiến) về hố bom Daisy Cutter đó, nhưng ông ta cũng không biết, và cũng không có tin tức nào khác về một đơn vị nào đó đã đi hành quân ngang qua khu vực hố bom.
Chiều ngày hôm sau, toán biệt kích của tôi chuẩn bị hành trang, vào trung tâm hành quân nghe thuyết trình lần cuối, rồi ra đi trước khi trời xập tối. Chiếc máy bay thám thính FAC, lên vùng trước, cho lệnh chiếc UH-1 đưa toán biệt kích vào bãi đáp “Mẹ của những bãi đáp” rộng lớn. Như thường lệ, toán biệt khi khi nhẩy ra khỏi trực thăng, chạy vào rừng tìm chỗ ẩn náu, nhưng xung quanh bãi đáp “Daisy Cutter” này không có rừng, chỉ có những khúc gỗ, thân cây đổ ngổn ngang, cao đến 50 bộ như một bức tường bằng gỗ.
Trong những tia nắng cuối cùng của một ngày, chúng tôi nhìn xung quanh bãi cát trắng, bức tường gỗ bao quanh toán biệt kích Delta. Người nào cũng kinh ngạc, sức nổ của qủa bom đốn ngã những cây cao, rồi đẩy dạt ra xung quanh, tạo thành bức tường gỗ cao 50 bộ, với bề dầy 50 thước.
Toán biệt kích chỉ còn cách leo ra khỏi bức tường trước khi trời tối hẳn, nếu không sẽ phải ngủ trong bãi đáp “Daisy Cutter”, điểm xâm nhập, là điều nguy hiểm không lường được. Chúng tôi đi vòng theo chu vi bãi đáp, tìm một chỗ chắc chắn, (vì là những khúc đỗ chồng lên nhau, cùng với đất cát…) để leo ra. Nhưng trời xập tối nhanh chóng và toán biệt kích phải ngủ lại bên trong hố bom Daisy Cutter.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đi tìm chỗ để leo ra, đi hết một vòng, trở về chỗ khởi điểm vẫn tìm không ra. Bức tường chỉ là những khúc gỗ chồng chất lên nhau, với sức nặng con người cùng với ba lô, súng đạn, leo lên cao sợ những khúc gỗ ở dưới bị chuyển động và bức tường sẽ xập xuống, có thể bị cây đè chết hoặc gẫy tay, gẫy chân. Vài người đã thử leo lên, được vài bước vội tụt xuống vì bức tường không chắc chắn.
Đến giữa buổi sáng, khoảng 10 giờ, toán biệt kích vẫn còn nằm trong “lòng chảo”, chuyện leo lên bức tường gỗ rất nguy hiểm. Còn nguy hiểm hơn nếu địch quân khám phá ra vị trí toán biệt kích. Chúng tôi tiếp tục đi vòng tìm một chỗ tương đối chắc chắn, rồi người lính biệt kích đi đầu (point man, đã có nhiều kinh nghiệm) leo lên trước. Anh ta leo lên tới đầu bức tường, đảo mắt nhìn quanh rồi tụt xuống thật nhanh báo cáo, bên ngoài hố bom Daisy Cutter có một binh trạm bỏ hoang của địch, nhưng không chắc chắn địch quân đã thực sự bỏ đi hết.
Đứng trước tình trạng, không còn cách nào khác, tôi ra lệnh cho người đi đầu leo trở lên quan sát binh trạm của địch. Nửa tiếng đồng hồ sau, anh ta ra dấu hiệu an toàn, không thấy bóng dáng địch quân, toán biệt kích Delta mới leo lên từng người một, thoát ra ngoài “lòng chảo”.
Ra đến bên ngoài, toán biệt kích tập họp lại, di chuyển thận trọng, lục soát căn cứ đã bỏ hoang của địch. Trong căn cứ, có khoảng mười căn hầm, đều bị xập do quả bom Daisy Cutter tàn phá, nhưng chúng tôi không thể đoán được, địch có trong căn cứ lúc thả bom và có bao nhiêu tên bị chết vì qủa bom. Trong ngày hôm đó, chúng tôi thám sát binh trạm của địch và khu vực xung quanh hố bom và tìm thấy vài trạm canh phòng, tiền đồn nhỏ cho binh trạm của địch. Điều này đưa đến kết luận, quả bom Daisy Cutter được thả để tiêu diệt chỗ đóng quân của địch chứ không phải để làm bãi đáp trực thăng đổ quân. Và binh trạm giữa cánh rừng già này có thể chứa một đơn vị địch cấp tiểu đoàn.
Những ngày kế tiếp chúng tôi di chuyển trong khu vực hành quân đã định trước, nhưng không tìm ra dấu vết hoạt động mới của địch quân. Có lẽ chúng đã quá khiếp sợ vì sức tàn phá của quả bom Daisy Cutter.
Sau khi được trực thăng vào đón, đưa về căn cứ hành quân tiền phương. Sau phần thuyết trình, báo cáo, cả toán biệt kích kéo nhau vào căn lều uống bia. Pat Walters, toán phó tươi cười khi nghĩ lại chuyện toán biệt kích bị kẹt trong “lòng chảo”. Tất cả cùng cười, xin cám ơn Thượng Đế, cám ơn trời đất đã cho toán biệt kích chúng tôi một “hố cạn” vào cuối năm như một món quà Giáng Sinh. Nhưng tôi tự nhủ, lần sau phải “né” hố bom Daisy Cutter.
CHẤT ĐỘC DA CAM (AGENT ORANGE)
Trong tháng Hai năm 1970, hành quân Delta di chuyển lên Phước Long, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương nơi phi đạo trại LLĐB Bunard. Đến căn cứ hành quân ít lâu, toán biệt kích của tôi được nghe thuyết trình hành quân dò thám một khu vực mà cây cối đã bị khai quang, hủy diệt bằng chất độc da cam từ những năm 1966, 1967.
Trước khi khu rừng bị khai quang, tỉnh Phước Long có những cánh rừng rậm rạp, bao la, bát ngát. Dưới những tàn cây rậm rạp địch quân xây nhiều căn cứ, binh trạm và hệ thống đường mòn để chuyển quân, vũ khí, đồ tiếp liệu từ Miên sang. Cũng vì vậy, nhiều cánh rừng đã bị phi cơ Hoa Kỳ rải thuốc độc Da Cam, khai quang cho phi cơ quan sát theo dõi, tìm kiếm những cuộc chuyển quân của địch. Nhưng đến bây giờ (1970), nhiều cánh rừng, cây cỏ đã phục hồi trở lại, gây khó khăn cho phi cơ quan sát. Và nhiệm vụ cho toán của tôi xem xét những con đường mòn để biết địch có xử dụng lại hay không. Nhiệm vụ có vẻ đơn giản, rõ ràng nhưng lại không thực sự… đơn giản như chúng tôi tiên đoán.
Cũng như lần trước, sau buổi thuyết trình, tôi phải đi bay trên chiếc máy bay thám thính O-1 để thám sát khu vực hành quân, tìm bãi đáp chính, bãi đáp phụ cho toán biệt kích xâm nhập. Tôi đã từng tuần tiễu khu vực này trước đó, khoảng năm 1966, 1967, cùng với một đại đội Dân Sự Chiến Đấu. Lúc đó khu rừng đã bị khai quang nên tôi có cảm tưởng như mình đã quen thuộc khu vực hành quân. Nhưng không dè những gì mình trông thấy trong chuyến bay hôm đó.
Chúng tôi bay trên cao độ 2000 bộ, khu vực hành quân nơi cuối đường chân trời. Một mầu xám ảm đạm thay vì mầu xanh của lá cây. Chiếc máy bay quan sát “Bird Dog” bay vào, tôi nhận thức rằng, cả một vùng rừng núi hùng vĩ không còn, những cây gỗ tốt, chắc chắn cao 200, 250 bộ, thân cây to, với đường kính 15, 20 bộ đứng sừng sững, hiên ngang. mặc dầu đã chết ba bốn năm qua. Những cây cổ thụ đã trơ trụi hết lá, chỉ còn trơ lại những cành khô, như những bộ xương với những cánh tay dài lên bầu trời.
Khoảng bốn năm về trước, tôi đã cùng người Thượng trong lực lượng Dân Sự Chiến Đấu làm bá chủ những khu rừng này. Gần như chúng tôi cũng là một phần của khu rừng, cũng như chim chóc, cỏ cây, và những loài động vật khác. Một đại đội DSCĐ người Thượng đi chuyển ngang qua khu rừng, gặp trái cây ăn được họ hái ăn, nhưng ăn tại chỗ chứ không đem về. Họ sống hòa hợp với thiên nhiên chứ không phá hoại. Trên thực tế, những cây cổ thụ to lớn đó được họ tôn thờ như những vị thần linh. Tôi băn khoăn, không biết những người Thượng đơn sơ, mộc mạc nghĩ sao, khi chúng ta đã hủy diệt thiên nhiên, những vị thần của họ.
Đại đội DSCĐ người Thượng là một gia đình lớn, một gia đình nối dài của họ. Người nắm quyền đại đội trưởng cũng như ông nội, những người con trai của ông ta sẽ là những trung đội trưởng… Thường họ là những chiến sĩ can đảm, thợ săn giỏi. Người Thượng làm nhiệm vụ hướng đạo (đi đầu), tìm dấu vết rất “chuyên nghiệp”, mà không cần phải qua một khóa huấn luyện, trường, lớp nào. Họ đi rừng rất giỏi và rất trung thành với người Hoa Kỳ.
Một kỷ niệm khó quên, tôi được chứng kiến sự can đảm của một đứa trẻ người Thượng mười ba tuổi. Tôi không nhớ tên, vác khẩu trung liên Bar nên đặt tên Barman (người xử dụng trung liên Bar). Barman vác khẩu súng, to lớn hơn người, cũng lội rừng vượt suối như mọi người. Chuyện đau lòng, đứt ruột khi phải chứng kiến, người trung đội trưởng DSCĐ cũng là cha của Barman, bế xác con đem về cho mẹ nó.
Mỗi lần có giao tranh lớn, ngôi làng Thượng như trải qua trận “đại thiên tai”, khi chúng tôi đem xác cha, chồng, anh em, con của họ về. Những người đàn bà Thượng sẽ khóc than, kéo dài mấy ngày, cho đến khi khô cạn nước mắt. Đành rằng, trận chiến nào cũng có những mất mát và chúng ta phải chấp nhận, tuy nhiên nhìn những bà mẹ ôm xác con… thật không đành.
Trong khu vực hành quân, trước đó cũng là căn cứ điạ của công trường (sư đoàn) 9 VC, có những căn cứ, trạm binh của các trung đoàn 271, 272, và 273. Trong chuyến bay thám thính này tôi tự hỏi, không biết họ còn đó không?
Tôi chọn một điểm xâm nhập trong một bãi cỏ tranh, trực thăng đáp dễ dàng vì cánh rừng đã chết. Một điểm triệt xuất, nơi hướng bắc khu vực hành quân. Tôi dự trù chuyến hành quân sẽ kéo dài bốn ngày và toán biệt kích sẽ di chuyển đến bãi đáp trực thăng để triệt xuất. Khu vực hành quân xâm nhập nằm nơi phiá bắc tỉnh Phước Long, có nhiều dẫy đồi nhỏ và những con suối con. Ngoài vấn đề chính là địch quân, còn vấn đề nước uống cũng là một điều đáng để ý. Lúc đó đang giữa mùa hè, dưới sức nóng oi bức của miền nhiệt đới, vác ba lô trèo đèo lội suối, một người lính cần uống hơn ba lít nước mỗi ngày. Không biết những giòng suối nhỏ vẫn có nước hay đã cạn trong mùa hè.
Do đó toán biệt kích vẫn phải tìm chỗ lấy nước hàng ngày. Thiếu nước, con người kiệt sức nhanh chóng. Mỗi biệt kích quân, đem theo sáu bi đông nước và họ sẽ uống hết trong một ngày lội trong rừng. Hành quân biệt kích trong mùa hè, vấn đề quan trọng nhất là tìm nước, sau đó mới là địch quân. Chỗ lấy nước cũng là tử điạ, vì địch quân cũng phải ra suối lấy nước.
Khi quay trở về căn cứ hành quân Bunard, tôi thuyết trình cho toán biệt kích. Toán của tôi gồm có sáu người: toán phó là trung sĩ nhất Terrence (Terry) W. Pardee, nhưng anh ta đã hết thời gian phục vụ, về Hoa Kỳ, trở lại đời sống dân sự. Trung sĩ nhất William R. (Grit) Pomeroy Jr. vừa mới bổ sung cho toán biệt kích và đây là chuyến đi đầu tiên của anh ta vào “Hố Cạn”. Grit ở với toán cho đến khi hành quân Delta kết thúc (bị giải tán) vào tháng Bẩy năm sau. Bill Pomeroy có tên gọi thân mật (nick name) là Grit vì anh đến từ Alabama, giọng nói miền nam Hoa Kỳ.
Chuyến hành quân xâm nhập này hơi đặc biệt, ba ngày sau chúng tôi mới lên trực thăng đi xâm nhập. Bãi đáp tôi chọn rộng rãi, trực thăng có thể xà xuống còn cách mặt đất khoảng sáu bộ và toán biệt kích nhẩy ra. Chúng tôi vừa chạy vừa bò trong đám cỏ tranh cao hơn đầu người, đến một bụi cây khô lớn cách bãi đáp khoảng 100 thước. Trời sẽ tối nhanh chóng, toán biệt kích chui vào trong bụi bố trí thành một vòng tròn 360 độ, ngủ qua đêm.
Một điều tôi để ý, khi toán biệt kích chạy từ bãi đáp trực thăng đến bụi rậm, không nghe tiếng chim hót, hay những âm thanh khác của thú vật như khỉ, côn trùng, của núi rừng. Một bầu không khí im lặng của tử thần. Bỗng dưng, một tràng súng nổ, phát ra từ một khẩu súng cách đó khoảng vài trăm phút (rõ ràng tiếng súng, không thể sai được). Toán biệt kích báo động ngay tức khắc và cố gắng giải đoán… chuyện gì xẩy ra. Chúng tôi là những “người bạn” duy nhất trong khu vực, một tên VC hay lính Bắc Việt nào đó là tác gỉa của loạt súng chỉ thiên… chỉ địa!
Vài phút sau, thêm một loạt súng nổ và kết thúc bằng tiếng nổ lựu đạn, nhưng lần này phát ra từ hướng ngược chiều với lần trước. Chúng tôi nghĩ rằng hai toán địch ở hai nơi khác nhau đang chơi… trò gì đây! Rồi một tràng súng nổ nữa nhưng cách xa hơn. Chúng tôi suy luận rằng, địch quân nghe tiếng trực thăng, biết có thể có biệt kích xâm nhập, chúng chia ra nhiều tiểu đội nhỏ đi lùng. Thỉnh thoảng bắn báo hiệu cho nhau và thử phản ứng của toán biệt kích.
Đêm hôm đó, địch quân dò tìm toán biệt kích suốt đêm, nằm trong bụi chúng tôi không một ai ngủ được, thỉnh thoảng cứ nghe một tràng tiếng súng tiểu liên và kết thúc bằng tiếng lựu đạn nổ. Đến sáng sớm hôm sau, toán biệt kích chuẩn bị chui ra khỏi bụi rậm, lên đường, chợt nghe tiếng răng rắc như tiếng cây kho gẫy và một tiếng rầm, tiếp theo là bụi tung lên. Ra khỏi bụi rậm, chúng tôi chứng kiến cảnh một khu rừng chết, những cây to lớn đã chết khô, bị mối ăn, thỉnh thoảng lại ngã xuống.
Cả toán biệt kích bố trí quan sát khu rừng chết, những thân cây to lớn đổ xuống, lăn đè lên làm gẫy những cành khô, gây ra một chuỗi nổ nhỏ như tiếng súng, và đến khi lăn chạm vào một gốc cây lớn khác mới ngừng lại gây nên một tiếng lớn như lựu đạn.
Có lẽ cả đêm qua, toán biệt kích phải nghe những âm thanh này. Địch quân cũng sợ chết vì cây đè, chẳng chẳng có đơn vị địch nào dám vào trong khu rừng này “làm ăn”. Tôi ra lệnh cho cả toán di chuyển ra khỏi khu rừng chết trở lại nơi bãi đáp trực thăng.
Chúng tôi ngồi gần bãi đáp trực thăng suy nghĩ về lệnh hành quân. Mặt trời từ từ lên cao, chúng tôi phải thay đổi kế hoạch thám sát. Theo đúng lệnh hành quân cho toán biệt kích, chúng tôi phải dò thám những con đường mòn trong khu vực. Biết rằng đó là khu rừng chết, nhưng vẫn phải tuân lệnh. Chắc chắn địch quân đã biết rõ tình trạng của khu rừng như chúng tôi mới biết.
Biết rằng rất nguy hiểm, có thể bị cây gẫy, rơi đè chết nếu vào bên trong tìm những con đường mòn, tôi vẫn không muốn gọi máy về căn cứ hành quân tiền phương xin triệt xuất. Tôi ra lệnh cho toán biệt kích di chuyển trên cỏ tranh, dọc theo bìa rừng. Đi như vậy không có gì che chở cho toán biệt kích, nhưng đi bên trong… cũng chết. Vả lại đám VC cũng không dại gì chui vào trong khu rừng chết, đầy rẫy cây khô, cành khô, rơi xuống lúc nào không biết.
Toán biệt kích tiếp tục di chuyển dọc theo bìa rừng lên hướng bắc, cho đến khi gặp một giòng suối để lấy nước. Sau khi mọi người lấy đủ sáu bi đông nước, tôi xem lại bản đồ, biết rằng cách đó khoảng 100 thước, có một con đường mòn. Chúng tôi không theo những điều đã được huấn luyện trước đây, cứ chạy thẳng một mạch đến con đường mòn. Mà thực vậy, tên địch nào dám mò vào khu rừng chết này, không thấy dấu vết có người đi lại trên đường mòn. Chúng tôi chụp vài tấm ảnh, một tấm có cây cổ thụ thật to gẫy đổ trên đường, để đem về. Xong việc, đã có đủ tài liệu, bằng chứng, chúng tôi chạy ra khỏi khu rừng đến bãi cỏ tranh bên cạnh giòng suối.
Đêm đó chúng tôi bố trí ngủ đêm tại một vị trí gần giòng suối, và cả đêm lại nghe tiếng cây gẫy đổ như đêm trước. Sáng hôm sau, tôi gọi lên chiếc máy bay quan sát FAC, yêu cầu tiếp vận về căn cứ hành quân tiền phương Bunard, chúng tôi đã xong nhiệm vụ sớm hơn dự trù và yêu cầu triệt xuất. Đó cũng là một chuyến hành quân xâm nhập vào “Hố Cạn”. Chúng tôi mong gặp VC thứ thiệt thay vì những gì đã gặp trong khu rừng chết.
THUNG LŨNG CỦA TÔI
Trong tháng Ba 1970, hành quân Delta vẫn còn trên căn cứ hành quân tiền phương Bunard, thám sát những khu vực dọc theo giòng sông Đồng Nai. Toán biệt kích của tôi được trao cho nhiệm vụ thám sát những nhánh sông nhỏ, nơi chân những rặng núi sát vùng trách nhiệm của quân đoàn II, vùng 2 chiến thuật. Khu vực hành quân xâm nhập này nằm xa nhất của tầm bay của loại trực thăng đổ quân UH-1, và toán biệt kích do tôi chỉ huy là toán đầu tiên phải xâm nhậm, dò thám khu vực xa xôi đó.
Những chuyến xâm nhập trước đó, toán của tôi thường được trao cho trách nhiệm dò thám những khu vực dọc theo biên giới Việt-Miên. Trong phần thuyết trình hành quân cho chuyến xâm nhập mới này, tôi được cho biết, có một đơn vị cấp lớn của địch đóng quân trong khu vực và toán biệt kích có nhiệm vụ nhận diện đơn vị này.
Sau khi nghe thuyết trình, tôi cùng với phi công O-1 bay thám sát khu vực hành quân và tìm bãi đáp đê xâm nhập, triệt xuất. Trên đường đến mục tiêu, chúng tôi bay trên cao độ 2000 bộ. Khi đến không phận mục tiêu, từ trên cao nhìn xuống, tim tôi muốn ngừng đập. Dưới đáy thung lũng, nơi những nhánh sông nhỏ sẽ đổ vào sông Đồng nai, có bề rộng 15 cây số và cả vùng thung lũng có chiều dài khoảng 40 cây số và những vách núi dựng đứng hai bên. Khu vực thám sát quá rộng, và điều tôi để ý nhất là có nhiều đường mòn chạy từ trên những sườn núi xuống thung lũng. Cả khu vực được những cánh rừng nhiệt đới, cây cối rậm rạp che phủ. Những con đường mòn chạy từ trên xuống theo hướng bắc nam dọc theo thung lũng và ngang dọc từ đông sang tây, và có dấu hiệu địch quân xử dụng, di chuyển rất thường trên những con đường mòn.
Kể từ lần xâm nhập vào thung lũng A Shau, tôi không thể nhầm được, những con đường mòn này phải cỡ cấp sư đoàn của địch di chuyển mới bị nén xuống như thế. Nếu ai có hỏi, sau khi chiến khu C bị khai quang, quân VC, Bắc Việt di chuyển đi đâu, thì hôm nay tôi đã tìm thấy câu trở lời. Tôi yêu cầu phi công lái chiếc máy bay thám thính O-1 bay thấp một vòng để tôi quan sát cho kỹ hơn, nhưng anh ta “lạnh cẳng”, từ chối, trả lời địch quân đầy trong thung lũng.
Tôi chọn bãi đáp xâm nhập là một khoảng đất trống, có một con đường mòn chạy ngang qua, nơi tận cùng phiá đông rặng núi làm thành thung lũng. Tôi chọn điểm xâm nhập này để trực thăng đưa toán biệt kích vào mà không phải bay ngang qua khu vực thung lũng, an toàn hơn. Thêm nữa, chuyến xâm nhập này tôi định “vào” vùng khi tia nắng đầu tiên thay vì lúc hoàng hôn như những lần trước.
Trở về căn cứ hành quân tiền phương Bunard, tôi thuyết trình lại cho toán viên. Sau khi kể rõ những điều mắt tôi trông thấy, cả toán biệt kích xanh mặt, không dè toán biệt kích bọn tôi lãnh nhiệm vụ xâm nhập vùng “Thung lũng Tử Thần”. Lần này chúng tôi chuẩn bị đem theo thật nhiều đạn dược, mìn Claymore và lựu đạn… để chiến đấu. Và đem theo ít lương thực hơn những chuyến đi trước. Phải lo chuyện tìm đường sống trước nhất. Trung sĩ nhất William R. “Grit” Pomeroy Jr., toán phó, nên dành thì giờ cầu nguyện, nên chúng tôi đi ngủ sớm.
Yêu cầu ra đi trước rạng đông được chấp thuận và toán biệt kích lên đường vào buối sáng sớm hôm sau, khi trời vẫn còn tối. Chiếc trực thăng chở chúng tôi tách khỏi đội hình, khi ra khỏi căn cứ hành quân khoảng mười cây số, sau đó bay dọc theo sông Đồng Nai lên bãi đáp. Khi qua khỏi rặng núi nơi hướng đông, phi công trông thấy bãi đáp và thả xuống toán biệt kích.
Trực thăng vừa là là xuống, tôi đã phóng ra khỏi phi cơ chạy vào bià rừng và dẫm lên ngay một bãi phân voi, ngập đến đầu gối. Cả toán biệt kích chạy đến bìa rừng, chúng tôi bố trí quan sát con đường mòn, vừa ngạc nhiên bớt lo âu. Cả bãi đáp lẫn con đường mòn đều có dấu vết của loài voi, phân của chúng vương vãi tùm lum, khắp nơi trên con đường mòn. Thì ra con đường mòn này không phải do người tạo nên, đi lại mà chủ nhân ông của con đường là một đàn voi rừng… và như vậy mấy ông Vi Xi (VC) cũng phải tránh né khu vực này, kiếm chỗ khác “làm ăn”. Cả đôi ta, địch và bạn, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”.
Đã có nhiều váo cáo trước đây, địch quân xử dụng voi để chở đồ tiếp vận, những chiến cụ nặng, nên chúng tôi vẫn phải cẩn thận, có địch trong khu vực. Toán biệt kích thận trọng di chuyển sâu vào trong rừng, khu vực thung lũng. Không bao lâu, chúng tôi biết rằng, không có dấu vết địch quân trong khu vực hành quân, dò thám. Và cũng không có dấu vết chứng tỏ có sự xuất hiện của loài người trước khi toán biệt kích đặt chân đến. Những đàn khỉ, vượn, chim chóc chưa từng có kinh nghiệm về loài người, chưa biết sợ, nhìn toán biệt kích dò xét. Chúng tôi nghe được tiếng động, tiếng kêu của đàn voi di chuyển đi xa chúng tôi. Những con voi đánh hơi người lạ xâm nhập vào giang sơn của chúng thật tài tình. Chúng tôi không thể đoán được đàn voi có bao nhiêu con, nhưng chắc phải nhiều lắm, mới đủ khả năng “xây dựng” những con đường mòn trong khu vực thung lũng.
Đến buổi chiều hôm đầu tiên xâm nhập, chúng tôi mới gặp “Người của núi rừng” (Forest People). Tôi đã nghe nói về họ từ những binh sĩ Thượng và LLĐB/VN nhưng đây là lần đầu tiên mới được gặp. Một lần trước đây khi còn chỉ huy một đại đội DSCĐ hoạt động trong khu vực đông bắc tỉnh Bình Long. Lúc đó vào mùa khô, những giòng suối nhỏ đã cạn nước, chỉ có một con suối có nước, nằm sâu trong cánh rừng rậm. Để giữ an ninh, tôi chỉ cho mỗi tiểu đội một người đại diện đi xuống suối lấy nước, phần còn lại bố trí phòng thủ.
Vài phút sau, có những tiếng la hét từ dưới suối vọng lên, rồi những người đi lấy nước, xách những bi đông không quay trở về. Tôi hỏi và được binh sĩ người Thượng trả lời “Con suối thuộc quyền sở hữu ‘Người của núi rừng’, họ không cho phép lấy nước và mình phải ra khỏi khu vực này”. Câu trả lời, tôi không hiểu nổi, nhưng các DSCĐ có vẻ rất “nể nang” họ.
“Người của núi rừng” bỗng xuất hiện trong khu vực hành quân xâm nhập của toán biệt kích, họ ở trên cây, và xung quanh chúng tôi. Chúng tôi không nghe được sự di chuyển của họ… tự nhiên xuất hiện. Họ xuất hiện nhanh chóng, chúng tôi không biết được có bao nhiêu người. Rồi một con đực to lớn nhất nhẩy từ trên cây xuống, đến gần toán biệt kích quan sát. “Người của núi rừng” cao khoảng năm bộ (không tới 1m60), hai cánh tay dài, lông lá trông như đười ươi, khỉ đột, có lẽ cùng họ với loài khỉ đột cam (Orangutan, sống ở Indonesia). Con này nhe nanh gầm gừ như muốn nói, toán biệt kích nên cuốn gói ra khỏi giang sơn của chúng, rồi cả đàn biến mất nhanh chóng như lúc xuất hiện.
Toán biệt kích tiếp tục di chuyển êm thấm đến ngày triệt xuất. Trong cánh rừng có nhiều thú lạ, một nơi chưa có loài người đặt chân đến. Khu vực hành quân xâm nhập của chúng tôi là một “Hố Cạn”, không có bóng dáng địch quân. Xin cảm ơn Thượng Đế một lần nữa. Toán biệt kích như lạc vào thiên thai, rất tiếc phải về sớm vì chúng tôi chỉ mang theo ít đồ ăn. “Thung lũng Tử Thần” trở thành “Thung lũng của tôi”.
Sau khi chúng tôi quay về, hành quân Delta chấm dứt hoạt động trên căn cứ hành quân Bunard. Tất cả được đưa về Nha Trang nghỉ ngơi ít hôm trước khi được không vận ra ngoài vùng 1 chiến thuật, thiết lập căn cứ hành quân Mai Lộc.
Toán biệt kích chúng tôi đã đem về tin tức, không có bóng dáng VC, quân đội Bắc Việt trong khu vực “Thung lũng của tôi”, và họ không phải là chủ nhân, xây dựng những con đường mòn trong khu vực.
Năm 1975, những đoàn xe chuyển quân của quân đội Bắc Việt về hướng Saigon cũng không đi ngang qua, tàn phá “Thung lũng của tôi”. Sau này, một tờ báo ở Hoa Kỳ có bài viết cho biết tìm thấy một giống tê giác lạ trong khu vực thung lũng gần sông Đồng Nai. Tôi xem lại tấm bản đồ cũ… Và đúng ý chang, trong “Thung lũng của tôi”. Khu vực thung lũng này bây giờ có tên là Nam Cát Tiên, một khu rừng nguyên sinh, được chính quyền bảo vệ.
MỘT CHUYẾN ĐI DẠO TRONG RỪNG
Trong tháng Tư năm 1970, hành quân Delta “dọn nhà” ra khỏi Bunard, về Nha Trang nghỉ ngơi và trong tháng Năm, di chuyển ra Quảng Trị, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương bên ngoài trại Lực Lượng Đặc Biệt Mai Lộc. Nhiệm vụ cho hành quân Delta ngoài vùng 1 lần này, thám sát khu vực biên giới Lào-Việt, từ vùng phi quân sự về hướng nam đến căn cứ Khe Sanh.
Trại LLĐB Mai Lộc là tiền đồn xa nhất về phiá bắc VNCH, “Địch quân có thể ném đá vào căn cứ thay cho đạn pháo kích”. Đây cũng là chuyến hành quân Delta thứ hai xử dụng căn cứ hành quân tiền phương Mai Lộc, và các toán biệt kích đều biết rằng, khu vực hành quân mới này không phải “dễ ăn”. Có rất nhiều đơn vị Bắc Việt trong khu vực hành quân, và nhiệm vụ cho các toán biệt kích Delta, đi tìm và nhận diện các đơn vị này trong mỗi chuyến hành quân xâm nhập kéo dài năm ngày. Cứ mỗi lần toán biệt kích xâm nhập vào khu vực Khe Sanh, Lang Vei đều rất có thể sẽ phải triệt xuất khẩn cấp.
Sau khi đến Mai Lộc ít lâu, toán biệt kích của tôi được mời vào trung tâm hành quân nghe thuyết trình và nhận lệnh. Khu vực hành quân xâm nhập được giao phó cho toán biệt kích nhìn trên bản đồ trông có vẻ rất gay go. Khu vực này sát biên giới Lào-Việt, phiá nam trại LLĐB bỏ hoang Lang Vei, tây nam căn cứ cũng bỏ hoang, trại LLĐB và căn cứ Khe Sanh của TQLC/HK. Và nằm dưới con đường 616 chạy từ bên Lào qua phần đất Việt Nam.
Đường 616 là một nhánh tẽ ra từ hệ thống đường mòn HCM trên đất Lào, để quân đội Bắc Việt chuyển quân, chiến cụ, đồ trang bị tiếp vận vào tỉnh Quảng Trị. Địch quân xử dụng con đường này rất thường xuyên, những toán biệt kích Delta xâm nhập trước đây đã báo cáo, trông thấy xe cộ của địch di chuyển trên đường 616 tại nhiều toạ độ. Toán biệt kích của tôi sẽ xâm nhập vào khu vực có hình dáng “Lưỡi câu” do giòng sông Tchépone uốn quanh rặng núi Cơ Rốc, cao hơn 1000 bộ trên đất Lào.
Chỉ cần nhìn khu vực hành quân trên bản đồ, tôi có linh cảm “chuyện lớn” sắp xẩy ra. Toán biệt kích đã được sĩ quan ban 2 thuyết trình, nói rằng trong khu vực có sự hiện diện của nhiều đơn vị Bắc Việt, cùng với các binh trạm, kho tiếp vận. Nhiệm vụ chính cho toán biệt kích, tìm các kho tiếp vận dấu kín trong rừng già của địch và chứa những “món hàng” nào? Nhận nhiệm vụ tôi biết ngay, chuyến đi này sẽ rất nguy hiểm hay “trời thương”.
Sau đó tôi đi bay thám sát khu vực hành quân, điểm xâm nhập, triệt xuất. Đúng như trên bản đồ hành quân, từ trên máy bay thám thính FAC nhìn xuống, khu vực xâm nhập trông như hình lưỡi câu do dòng sông Tchépone uốn cong. Ba mặt bao quanh “lưỡi câu” thuộc về nước Lào, mặt còn lại thuộc về Việt Nam và có rất nhiều hố bom, lỗ chỗ ở dưới, chứng tỏ khu vực này đã bị oanh kích nặng nề. Tôi chọn được một điểm xâm nhập là một hố bom ngay bên cạnh khu vực xâm nhập, điểm triệt xuất dưới chân ngọn núi Cơ Rốc.
Phi công lái chiếc O-2 cũng xác nhận với tôi, khu vực xâm nhập “rất nóng” (nguy hiểm) và toán biệt kích có cơ hội chạm địch ngay tại nơi bãi đáp xâm nhập. Chúng tôi quyết định xâm nhập vào lúc trời vừa sáng và được chấp thuận. Trong lúc chờ đợi, cả toán biết kích thực tập “tao ngộ” chiến, đề phòng trường hợp chạm súng bất ngời với địch quân. Tiếp theo là kiểm soát lại ba lô hành trang cho chuyến “công tác” đặc biệt này. Và toán biệt kích lên đường vào sáng sớm ngày hôm sau, khi ánh mặt trời chưa lên cao.
Trực thăng đưa toán biệt kích vào bãi đáp dễ dàng, khi còn cách mặt đất khoảng sáu bộ, chúng tôi nhẩy ra khỏi trực thăng chạy nhanh vào bờ rừng, gom lại và bắt đầu di chuyển. Vào bên trong chúng tôi gặp ngay một hàng rào làm bằng tre cao đến bụng, lúc đó mới biết bãi đáp trực thăng xâm nhập là một khu vườn canh tác của một đơn vị hậu cần Bắc Việt và một qủa bom 500 cân Anh, không quân Hoa Kỳ đã phá hủy khu vườn.
Toán biệt kích đi sâu vào khoảng năm mươi thước, khám phá ra được một binh trạm cấp đại đội đã bỏ hoang của địch. Trong căn cứ bí mật có khoảng mười dẫy nhà sàn, có mái che, có thể chứa mười người, hầm trú ẩn tránh bom. Binh trạm này có lẽ được dùng làm nơi nghỉ chân cho các đơn vị Bắc Việt di chuyển ngang qua, không thấy có hệ thống phòng thủ, chiến đấu, giao thông hào. Quan sát những cây cỏ hoang, giây leo mọc lên khắp nơi, chúng tôi đoán rằng địch đã bỏ hoang căn cứ này hơn sáu tháng.
Từ trong binh trạm này có hai đường mòn, một dẫn đến đường 616, ngã kia đi về hướng tây nam. Cũng như binh trạm, cả hai đường mòn đều đã không xử dụng từ lâu, cỏ dại đã lan lên trên đường. Toán biệt kích di chuyển song song, dọc theo con đường mòn cho đến khi ra khỏi khu vực dò thám nhưng chẳng thấy gì khác thường. Chúng tôi quay trở lại binh trạm và theo con đường mòn kia, đi về hướng tây nam. Cũng chẳng tìm thấy gì, chúng tôi hơi ngạc nhiên, không lẽ lại vào một “Hố Cạn”.
Trên lộ trình di chuyển về hướng tây nam, chúng tôi đến một ngã rẽ, trái phải dẫn đến khu chứa hàng, những nhà kho nơi địch quân xây những sàn lớn kích thước 10×20 bộ, cao hơn mặt đất 3 bộ. Chúng tôi lục soát xung quanh, tìm thấy khoảng hai mươi kho hàng trống rỗng, có lẽ địch quân đã di chuyển đi chỗ khác. Cả ngày lục soát khu vực chỉ thấy căn cứ, kho hàng đã bỏ hoang, chúng tôi nghĩ rằng địch quân đã di chuyển đi nơi khác.
Qua ngày hôm sau, toán biệt kích di chuyển về hướng biên giới Lào Việt để triệt xuất. Ra khỏi khu vực binh trạm bỏ hoang, chúng tôi di chuyển trong thung lũng dưới những ngọn đồi, bóng cây rậm rạp của khu rừng nhiệt đới. Tôi dự trù cứ tiếp tục di chuyển cho đến khi gặp giòng sông Tchépone cắt ngang, đó cũng là đường biên giới Việt Lào.
Đến cuối ngày thứ hai, bốn quân nhân LLĐB/VN trong toán, tin rằng chúng tôi đã được Thượng Đế ban cho một “Hố Cạn” và bắt đầu lơ là. Tôi phải cho họ biết, mới được nửa đoạn đường, vẫn phải cẩn thận.
Đến sáng ngày thứ tư, toán biệt kích thức dậy trong một buổi sáng yên bình, khu rừng yên tĩnh. Chúng tôi di chuyển đến bãi đáp để được triệt xuất, ngọn núi Cơ Rốc sừng sững như thách đố. Đến gần trưa, chúng tôi đến một giòng suối cắt ngang lộ trình di chuyển.
Chợt từ phiá bên kia bờ suối, tôi trông thấy ba người lính Bắc Việt cũng đang đi xuống suối. Tôi định nổ súng nhưng chần chừ, chờ Grit vì ba địch quân nằm trong hướng bắn của anh ta. Grit đang dấu mình trong đám cỏ tranh ngay sát bờ suối. Tôi định quạt một băng, nhưng sợ có viên trúng Grit, nên kiên nhẫn nằm chờ.
Rồi ba tên lính Bắc Việt đột nhiên quay trở lại, hình như bọn chúng đang đi săn trong giang sơn của chúng nên rất tự tin đến độ thản nhiên. Trong khi đó, trung sĩ William R. “Grit” Pomeroy Jr. “đang làm gi?”. Tôi giận điên lên… nhưng sau này tôi được biết, Grit là một người rất nặng vấn đề tín ngưỡng. Sau khi trở về Hoa Kỳ, anh ta theo học trong một trưòng “dòng”, tốt nghiệp về Thần Học, trở lại quân đội làm tuyên úy. Grit vẫn nhớ đồng đội, xin làm việc trong binh chủng LLĐB.
Trên chuyến trực thăng triệt xuất về căn cứ hành quân tiền phương Mai Lộc, chúng tôi được biết hành quân Delta sẽ chấm dứt và tất cả sẽ di chuyển về Nha Trang để được phân phối ra các đơn vị khác. Đó cũng là chuyến hành quân xâm nhập cuối cùng của tôi trong hành quân Delta.
Buổi sáng tháng bảy, sáu giờ mười lăm phút, nắng đã chói chang như muốn xóa tan hơi lạnh ven sa mạc ban đêm còn đọng lại. Gió từ ngoài khơi Địa Trung Hải lồng lộng thổi vào nhưng không làm giảm sức nóng của mặt trời mỗi lúc một tăng. Trên bến Brega công nhân đã tề tựu đông đủ, họ chờ thủy thủ trên tàu xoay cần trục, tháo móc những container thì lập tức bắt tay vào việc cất hàng. Có một nhân viên Triều Tiên lên phòng việc của thuyền trưởng lo thủ tục nhận hàng. Xong. Ông xuống từng dưới, thấy tôi ngồi mình ên trong phòng ăn, ông chào làm quen. Còn sớm chưa đến giờ làm việc nên tôi có thời giờ rảnh rỗi rót cà phê ra mời. Trong lúc uống cà phê ông kể tôi nghe, công ty Dong Ah (Đông Á) của Nam Triều Tiên, qua Libia thực hiện dự án khoan lấy nước ngọt từ phía nam chuyền ngang sa mạc vô các thành phố miền Bắc cho dân chúng xài, và đặt ống lòn dưới lòng đất theo hình xương cá dẫn nước vào những vùng đất khô cho đất thấm ướt để nhà nông dễ bề trồng trọt. Dự án lớn, kéo dài hơn chục năm, vì vậy Đông Á cần rất nhiều công nhân. Họ nhận người từ những quốc gia có mức sống thấp như: Phi Luật Tân, Thái Lan, Bangla Desh và Việt Nam. Nghe có người Việt, tôi liền ra boong đứng ngó lên đám công nhân tạp chủng. Tôi có thể phân biệt người Bangla Desh nước da nâu, người Thái phần đông gốc Hoa nên hao hao giống người Phi Luật Tân và người Việt. Nhưng giữa đám công nhân hỗn hợp, tôi thấy có một vài người ốm, mặt xương, da đen nám, má hóp, có vài anh răng hô, nếu tôi không lầm, đây là những người Việt ở miền Bắc. Như để xác nhận, một người đàn ông độ tứ tuần tới trước mặt tôi, anh cười: – You you Việt Lam? Tôi khôi hài nói bằng tiếng Việt: – Hỏi vậy cũng hỏi. Thôi, nói tiếng Việt cho chắc ăn cha nội. Ngập ngừng một lát, anh ta cất tiếng: – Anh người Việt Lam à ? – Dĩ nhiên, chánh hiệu con rồng vàng. Anh móc thuốc ra mời. Tuy bỏ thuốc đã lâu, nhưng tôi cũng rút một điếu gắn lên môi hút xã giao. Có lẽ anh ta ngượng trước những câu dí dỏm của tôi, nên rít hết mấy hơi thuốc, phà khói phì phèo mà vẫn chưa bắt được chuyện. Thấy vậy tôi bèn giả lả: – Các anh mần gì ở đây? – Bọn nầy bốc hàng cho công ty Đông Á. Có ba người nữa thấy anh nọ bắt được chuyện cũng men tới. Tôi chợt nhớ ra, nãy giờ gặp đồng hương mà cứ dí da dí dỏm quên đi phép xã giao thông thường. Tôi bèn chìa tay ra bắt từng người và tự giới thiệu tên mình. Các anh ấy cũng lần lượt giới thiệu tên họ; Ngà, Bi, Hải, Cường. Sau màn giới thiệu, tôi hỏi: – Mấy anh ở đâu ? Anh Bi chỉ tay lên cái container để trên bến cảng: – Tụi tôi ở trong cái công-ten-nơ kia. – Trời đất! Bao nhiêu mạng người dồn trong một cái công-ten-nơ có bây lớn? – Không, bọn tôi ở tạm để làm việc, chiều về trại ngủ. – Trại ở đâu vậy? – Ở cách đây hai chục cây số. – Gần thành phố Benghazi hông ? Ngà chen vào: – Được gần phố thì ngon rồi, trên sa mạc đấy. Lúc đó, tên xếp người Triều Tiên đi tới đi lui trên kè đá, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Các anh lật đật từ giã tôi để ra boong làm việc. Tôi cũng trở vô bắt đầu công việc của mình. Tên xếp người Triều Tiên xuống tàu xin bữa ăn sáng. Ăn xong, chưa chịu đi, ông ta còn đứng la cà trước cửa phòng bếp. Trong lúc tôi đương dọn rửa, thấy trên cổ hắn có đeo cái tu hít, tôi mới hỏi: Ông mần việc bến cảng chớ có phải thể tháo gia đâu mà đeo tu hít ? Như bắt được chuyện, ông cười: – Mầy coi, công nhân của Đông Á có nhiều quốc tịch khác nhau, ngôn ngữ bất đồng, lại thêm bến cảng ồn ào, vì vậy tao dùng tu hít cho dễ điều khiển, chớ la hét bằng miệng suốt ngày tao sẽ bị tắt tiếng liền. A, đây là mánh khóe nghề nghiệp. Tôi đưa ngón tay gõ gõ tay lên đầu khen ông một cái: – Ông thông minh lắm ? Nghe tôi bốc. Ông hỉnh cái mũi tịt hãnh diện cười tươi. Mười giờ sáng Ngà đi qua đi lại trước của sổ, mặt cứ ngó láo liên vô phòng ăn của thủy thủ đoàn. Thấy vậy tôi bèn đi ra chào: – Nghỉ việc rồi hả ? – Vâng, bọn em nghỉ giải ‘nao’. – Giải lao với gì vậy ? Ngà chỉ tay lên kè đá, nói : – Với nước ‘nã’ đấy anh. Ở đây chỉ có Ngà nói chữ l thành chữ n, những anh em còn lại nói giọng Bắc, nhưng không giống Ngà. Tôi ngó lên bến, các anh công nhân tụ quanh một thùng nước đá, múc nước chuyền qua từng người trong một cái ca, các anh vừa uống vừa trò chuyện vui vẻ. Thấy vậy tôi mới vô lấy cho Ngà một lon nước ngọt, anh hỏi xin thêm ba lon. Từ đó trở đi, tới giờ nghỉ Ngà không lên bờ, đã vậy còn rủ thêm Bi, Cường, Hải ở lại tàu chờ tôi cho nước ngọt để giải ‘nao’. Bi và Cường đã ngoài bốn mươi tuổi, Ngà và Hải tuổi vừa mười chín, bốn người mần việc ngoài boong nên tôi tiếp xúc, nói chuyện được nhiều hơn các anh em làm trên bến. Khi mặt trời đứng bóng, tôi men lên cái container có gắn máy điều hòa không khí dành cho toán công nhân Việt Nam nghỉ trưa. Vừa bước vô tới cửa, tôi thấy anh em nằm ngủ la liệt. Tôi bèn day trở ra. Chợt một anh thấy tôi, lật đật ngồi dậy kêu, làm cả đội giựt mình thức giấc. Mắt nhắm mắt mở, các anh dồn chỗ và mời tôi ngồi. Thấy các anh nhiệt tình, tôi cũng không ngần ngại bước vô, ngồi phệt xuống, dựa lưng vô vách, giả lả hỏi: – Mấy anh cơm nước chưa mà ngủ ngon quá vậy? – Xong rồi anh. Một anh nói thêm: – Nhưng ăn cơm cá bậy bạ thôi chớ chả có mẹ gì. Mần việc cạnh sa mạc, gió tung cát bụi đầy đầu đầy cổ, cho nên các công nhân người nào cũng trùm miếng vải trắng từ đầu phủ xuống khỏi vai, nếu không bụi cát dính vô người trộn lẫn mồ hôi, lâu ngày ăn lở da. Khi nghỉ ngơi anh em tháo nón tháo khăn xuống. Nhưng có một em nhỏ trạc mười bảy mười tám tuổi, nếu không có những vết cắt, cạo gió còn bầm trên trán, trên cổ, thì da dẻ trắng trẻo, bô trai như công tử bột. Có lẽ em từ Việt Nam mới qua nên chưa đậm nét phong sương. Thấy mặt xanh như tàu lá, vẫn để trùm nguyên khăn, nón, tôi biết ngay em bị bịnh. Tôi hỏi: – Em tên gì ? – Dũng. – Bịnh sao không ở nhà nghỉ ngơi ? Dũng cười buồn không đáp. Ngà trả lời thay: – Nghỉ bị trừ tiền đấy anh. – Bộ mấy anh hổng có bảo hiểm sức khỏe sao? – Không anh, nhưng khi mình bệnh có bác sĩ chữa cho. Tôi day qua Dũng, hỏi: – Sao em hổng xin đi bác sĩ? – Em đi hôm qua rồi. – Bộ bác sĩ cắt, cạo gió cho em đó hả? Cả đám cười rộ lên. Ngà tiếp: – Đâu phải anh, bác sĩ cho vài viên thuốc uống. Nhưng đêm qua thấy Dũng nó sốt quá, anh em mới cạo, cắt cho đấy chứ. – Người ta bịnh mà hổng cho nghỉ rủi đương mần việc chết rồi sao ? Giọng Bi mỉa mai: – Thì gia đình được lãnh vài trăm đô. Tôi lảng sang câu chuyện: – Còn chuyện giải trí trong trại của anh em, và đời sống tinh thần có thoải mái lắm không ? Các anh phân vân câu tôi vừa hỏi nên tất cả im lặng. Lát sau, một anh nói: – Ngoài cái vi-đê-ô ra chẳng có mẹ gì hết. – Còn chứ, Bi cay cú, tối buồn khó ngủ, cả bọn sụt cặc lẫn nhau cho đỡ buồn. Đúng là giọng của chiến sĩ từng vào sanh ra tử. Mặt bên phải anh Bi có một vết thẹo, nếu tôi đoán không lầm, vết thẹo do chiến tranh gây ra, may nhờ bộ râu quai nón che bớt phần nào, nếu không nhìn anh tưởng đến một tay dao búa, chớ hổng phải dân lương thiện. Lời nói của anh có hơi cay cú thời thế, nhưng nhờ tánh thành thật, nghĩ sao nói vậy mà tôi có cảm tình với anh ngay lúc đầu. Tôi day qua hỏi chuyện anh: – Anh mần ở đây bao lâu rồi? – Gần ba năm. – Chị nhà vẫn liên lạc thường xuyên hả anh? – Vâng. – Anh được mấy cháu? – Ba, hai giai một gái. – Mỗi tháng anh vẫn chuyển tiền về đều đặn chớ? – Không anh, mỗi năm tụi Đông Á chỉ ứng trước ba chục đô, còn bao nhiêu nó giữ lại, khi mình về nó đưa nốt. – Như vậy còn chị và mấy cháu ở nhà sống ra sao? – Vợ tôi dạy học. – Lương giáo viên thời này sống sao nổi. – Thì tự bán buôn thêm mà sống. Tôi ái ngại thấy mình tò mò hơi quá đà chuyện gia đình của anh. Tôi bèn khôi hài để trớ sang chuyện khác. – Ba năm qua xứ sa mạc phơi cu khô queo, khi về nhà bà xã muốn xài dám phải ngâm nước quá. Cả đám cười rộ, anh cũng cười, nói: – Địt mẹ, bỏ cả bốn năm cây vàng mới đi được, tưởng ngon, ngờ đâu qua đây chơi với lạc đà. Tôi ngạc nhiên: -Ủa, mần công mà cũng phải đóng thuế nhiều như vậy sao ? Anh Bi ừ hử như chưa tìm ra câu trả lời. Anh Cường chen vô: Không phải đóng thuế đâu anh, đây là tiền trà nước lo giấy tờ. – Giấy tờ gì mà mất cả hai cây vàng? – Thì người nầy vài vé, người kia vài vé, tới khi đi được mất hơn cả chục vé đấy. Tôi thắc mắc: – Vé là cái gì vậy? – Mỗi vé là một trăm đô đấy anh. – Xin lỗi, Đông Á trả cho các anh mỗi tháng được bao nhiêu? – Từ một trăm năm chục đô đến hai trăm hai chục, ăn ở, áo quần họ bao. – Công nhân nước khác cũng vậy sao? – Không anh, người mình họ trả lương thấp hơn Phi Luật Tân và tụi Thái. – Ngộ vậy, tôi nói, bốn năm cây vàng, qua đây mần cả năm chưa lấy lại vốn. – Thì vậy. Tiếng xoay cần trục, tiếng động của các xe chở hàng ồn ào trở về. Tên xếp lùn đi tới đi lui ngoài sân, miệng ngậm tu hít thổi rét rét… Anh em lật đật đứng dậy đội khăn, đội nón. Tôi cũng phủi đít đứng lên từ giã các anh bước ra ngoài. Dưới nắng chang chang, gió lồng lộng, cát bụi bay ngợp trời. Mấy người Triều Tiên tụ lại một nơi, kẻ đứng, người ngồi trong chòi che mát. Miệng quát tháo, tay chỉ trỏ đám công nhân, trông giống như những viên tướng chỉ huy đứng phía sau ra lịnh xua quân xông trận. Trưa hôm sau, Ngà ngoắc tôi ra boong, dẫn tới góc khuất bên hông tàu, mắt ngó láo liên, không thấy người dòm ngó, anh lận ngực áo móc ra một xấp báo giơ cho tôi. Thì ra, hôm qua tôi hỏi các anh có báo chí Việt Nam cho tôi xin đọc ké. Hôm nay Ngà đem xuống mà mặt mày lấm lét như tên ăn trộm. Cầm xấp báo trên tay, lòng ray rứt. Tôi ráng gượng cười, nói: – Cám ơn Ngà nhé, nhưng mà nè, báo chí chớ bạch phiến, hay đồ lậu gì đâu mà em sợ. – Nhưng phải cẩn thận chứ anh, tụi Ni-Bi kỳ lắm, mình sơ ý nó thấy được nàm khó dễ phiền phức. Thiệt ra thì xứ Libie nầy cũng kỳ cục lắm. Trước khi tàu ghé bến, sách báo phim ảnh khiêu dâm, bia và rượu phải đem để vô một phòng, chờ quan thuế xuống kiểm xong, họ khóa phòng lại bằng cọng kẽm có bấm nút chì. Trong thời gian tàu đậu lại bến, ai coi phim con heo, uống bia rượu họ bắt được sẽ bị phạt ba ngàn mỹ kim. Tuy nhiên những nhân viên cao cấp thường xuống tàu hỏi xin thuốc thơm và rượu mạnh. Mỗi chuyến về Âu châu, thuyền trưởng chuẩn bị sẵn trong phòng rượu mạnh, thuốc thơm, dành khi trở qua tặng cho các quan, nếu không thì các ngài sẽ cho đệ tử xuống tàu lục lọi, moi móc tùm lum. Thấy tôi và Ngà đứng nói chuyện, Cường đi lại đứng cạnh bên. Lát sau anh hỏi tôi: – Trên tàu có thịt lợn không anh ? – Có chớ. – Hơn cả năm rồi em chưa thấy miếng thịt lợn. – Phải rồi, xứ nầy đạo Hồi mà. Ngà chen vô, nói: – Bọn Ni-bi thờ nợn đấy. Tên xếp chạy lúp thúp tới lui trên kè đá, miệng thổi tu hít, tay chỉ trỏ hối thúc đám công nhân. Thấy hơi chướng mắt, tôi hỏi: – Xếp nó sai khiến công nhân như vậy sao ? Ngà vọt miệng: – Vậy mà nhằm nhò gì anh, thằng nào lạng quang nó đánh bỏ mẹ đấy. – Như vậy hai anh đứng đây một hồi coi chừng có chuyện. – Không sao, tụi em tới giờ giải nao đấy anh. Tôi chợt nhớ ra: – Anh Bi và Ngà chờ tui một lát. Cầm xấp báo đi vô để trong phòng. Tôi xuống mở tủ lạnh lấy hai lon nước ngọt ra cho mỗi người một lon. Nhận hai lon nước, hai anh đi tới chỗ khuất người mở ra uống. Tôi ngước mặt nhìn lên bầu trời cao thăm thẳm, nền trơi xanh ngát, trong veo nắng cứ gay gắt đổ xuống đầu những công nhân khuân vác. Trên đọt ống khói của nhà máy lọc dầu, lửa phun lên cả chục thước, khói đen cuồn cuộn làm ô nhiễm không gian. Buổi sáng, tên xếp ăn điểm tâm xong, hắn đi lại đứng trước cửa phòng bếp, mặt nghiêm nghị, kêu: – Bếp ! Tôi day lại: – Chuyện gì? – Ông đừng đem đồ cho mấy người Việt Nam của ông nữa. – Sao vậy ? Hắn giơ chéo hai tay ra dấu bị trói: – Tụi Libie bắt được bỏ tù đó. – Sao ông xuống tàu ăn uống hà rầm mà hổng ai bắt ông bỏ tù hết? – Vì tao cao hơn tụi nó. Tôi định nói xốc hắn một câu cho bỏ cái thói tự cao tự đại, chợt tôi nhớ ra, trong những ngày sống tại đây, tôi cũng có ít nhiều kinh nghiệm đối với xứ đạo Hồi. Cảnh sát rắc rối dàn trời, chuyện bé xé ra to. Mặc dù chánh quyền nơi đây không thích Mỹ, nhưng những người tới từ các quốc gia tư bản, mỗi khi bị phạt phải tính bằng mỹ kim. Biết đâu điều hắn nói là sự thật, thì rắc rối cho anh em. Đến đây tôi không còn thành kiến với hắn ta nữa, bèn đổi giọng khôi hài: – Ông đâu có cao ? Hắn cãi lại: – Tao cao. Tôi bước lại đứng cạnh bên, giơ tay lên cằm gạt chéo qua đo, đầu ông vừa ngang cằm tôi. Tôi nói: – Ông thấp hơn tôi cả tấc. Vỡ lẽ ra hắn hỉnh cái mũi xẹp cười sằng sặc trông mặt hắn giống y chang mặt con chim mèo. Tôi lại mở tủ lạnh rót cho hắn một ly nước cam và cám ơn ông đã nhắc nhở tôi một chuyện khá nguy hiểm. Hôm về Âu châu, tôi có mua bánh kẹo và gom góp một mớ áo quần định chuyến nầy qua tặng các bạn. Nhưng sau khi nghe tên xếp lưu ý, tôi đâm e ngại. Có lòng tốt trên những quốc gia kỳ khôi như vầy lắm khi mang hoạ vào thân. Mặt trời tròn như chiếc mâm, ngoan ngoãn nằm sau một lớp màn trắng đục. Buổi chiều khô khốc, không ánh hào quang, không ráng đỏ nhưng gay gắt nóng. Tiếng động cơ của các xe tải đã ngưng bặt. Coi như ngày làm việc đã qua, công nhân đứng tụm năm tụm ba trên bến tán gẫu. Một anh người Tàu gốc Thái, đô con có bộ ngực lực sĩ, da ăn nắng xạm đen, ở trần, áo vắt lên chiếc vai trần bóng lưỡng. Đi tới truớc mặt tôi, cười vui vẻ. Đột nhiên anh cất tiếng: – Ở đây không có l. ! Cả đám đực rựa ở trong sa mạc lâu ngày, thèm khát đàn bà, dằn không được, hễ có dịp là mở miệng nói tục một cách trơn tru. Có lẽ anh ta tập nói tiếng Việt chỉ một câu duy nhứt nên phát âm rất rõ ràng. Tôi hỏi anh nói tiếng Việt thạo không. Anh ta nhún vai lắc đầu rồi bỏ lên bến. Lúc đó Hải lại đứng cạnh bên tôi. Day qua, tôi nói: – Vậy là xong hết một ngày. – Vâng. Hải vừa móc thuốc mời vừa hỏi: – Tàu anh sang Ý à? – Ừa, tối nay tàu khởi hành. – Ý văn minh không anh? – Văn minh gì ? Hải ngập ngừng: – Em…em muốn biết bên Ý giàu không đấy? – Như vậy thì nước Ý văn minh hơn Việt Nam mình nhiều. – Nước mình còn nói làm chi nữa. Phì phà mấy hơi thuốc, Hải tiếp: – Bọn em muốn theo tàu qua Ý, nhưng không biết qua đó người ta có nhận mình không ? Tôi ái ngái nhìn Hải. Gần hai chục năm sống đời hồ hải, tôi đã chứng kiến nhiều vụ trốn theo tàu, nhưng mười lần may ra thoát được một. Đó là thời điểm cách đây hơn chục năm, còn bây giờ thì khó lắm. Tôi lơ đãng ngó lên bến thấy Ngà, Bi, Cường đứng trên kè đá nhìn xuống, trông mặt người nào cũng có vẻ khẩn trương. Lòng bâng khuâng không biết phải làm sao, vì câu chuyện đột ngột quá. Tôi thân mật vịn tay lên vai Hải ôn tồn: – Hải à, chuyện nầy phiêu quá nên anh không dám ý kiến với em đâu. – Không sao, anh cứ nói, bọn em nhờ anh đấy. Tôi lắc đầu: – Cá nhân tui, bất quá chỉ giúp anh em cơm ngày ba bữa trong chuyến đi, nhưng tuyến của chiếc Elsa nầy, sang Ý rồi trở về Tripoli không đầy một tuần lễ. Người ta sẽ bắt em trả lại, vì trên tàu nầy ai cũng biết tụi em là người của Đông Á. – Thế anh có cách nào giúp bọn em không ? Tôi nhìn gương mặt đen xạm vì nắng, gió sa mạc, đôi mắt em sáng đầy nghị lực và giọng nói cương quyết. Không nỡ làm ngơ, cuối cùng tôi cũng đưa ý kiến: – Nếu em muốn đi thì phải biết phân biệt cờ của những quốc gia trên thế giới. Tôi chỉ tay qua chiếc tàu đậu cạnh bên: – Hải coi kìa, đó là tàu Panama, cờ sau lái là cờ quốc tịch, còn cờ trên ngọn cột hàng hải phía trước là của Libie, tức là cờ của quốc gia tàu đến. Khi đọc được cờ rồi còn phải biết tàu đó chạy tuyến nào, tốt hơn hết nên chọn những chiếc chạy không tuyến nhứt định. Hải chận: – Thế là sao anh? – Nghĩa là tàu ghé ở cảng nầy một lần rồi không biết chừng nào mới trở lại nữa. – Họ có liệng mình xuống biển không anh? – Theo luật hàng hải và lương tâm con người thì không, nhưng cũng nên cẩn thận. Trước đêm muốn trốn thì phải chuẩn bị hộp quẹt và nước. Hộp quẹt phòng khi xuống khoang người ta đóng hầm lại, lỡ bị kẹt không lối ra thì xé áo quần đốt gây khói để người trên tàu biết mà giở nắp hầm cho lên, còn nước phải đủ uống hơn một ngày. Muốn chui lên phải chờ tàu chạy ít ra cũng hai mươi bốn giờ đồng hồ, nhưng phải đợi ban ngày ban mặt, có đông đủ thủy thủ đoàn mới chui ra, như vậy có thằng gian ác muốn làm ẩu cũng không làm được. Tôi hỏi để kích động tinh thần: – Hải dám hông ? Giọng em cả quyết, nói: – Dám chứ anh. Vậy thì về bàn lại với anh em, nhưng còn chuyện nầy nữa. – Chuyện gì anh? – Khi xuống tàu cứ liệng bỏ hết giấy tờ, tạm thời lờ đi cái quốc tịch của mình là có hy vọng. Đôi mắt Hải sáng lên: – Cám ơn anh, để em về bàn lại với anh em. Mấy giờ tàu anh chạy? – Mười giờ hoa tiêu xuống. Lúc đó Hải nhìn thấy xe bus chở công nhân của Đông Á từ ngoài tung cát chạy vô, em bắt tay chào từ biệt và vội vàng đi nhanh lên bến. Từ đó tới nay, mỗi lần chứng kiến cảnh những người từ bỏ quê hương mình, để chọn cuộc sống trốn chui trốn nhủi nơi đất lạ. Lòng tôi ray rức nhớ tới những công nhân ở bến Grega và ân hận chuyện tôi đã chỉ đường đi cho họ. Nếu thật sự họ bỏ trốn thì cả bọn sẽ đi về đâu và có được an toàn tới bến bờ không. Hay là đã bỏ mạng như những người nhập cư bất hợp pháp bỏ mạng trên đường. Tôi cầu mong cho các bạn kia đừng chui xuống những con tàu vô định, để sau khi hết hợp đồng họ còn được trở về quê hương gặp lại những người thân đang đêm ngày trông đợi.
Mùa xuân năm 85, tôi về quê. Quê tôi ở Gò Chùa, nằm trên liên tỉnh lộ, nhưng vẫn là nhà quê. Tôi bốn mươi ba tuổi, tóc đã có nhiều sợi bạc. Tôi không có tiền, không nghề nghiệp, sống nương tựa vào ba tôi.
Ba tôi bảy mươi hai tuổi, là người tàn phế. Ông mất cánh tay phải trong thời kỳ chiến tranh. Hiện nay, ông sống nhờ vào tiền của anh tôi, gởi về từ Canada. Số tiền này, chỉ đủ ăn tiện tặn. Muốn mua sắm những thứ lặt vặt trong gia đình, ba tôi nuôi heo nái, và nấu rượu. Nấu rượu không có lời, nhưng có hèm trộn chung với cám, làm thức ăn cho heo. Mỗi năm, bán được mấy lứa heo con, cũng được đồng ra đồng vào.
Hàng ngày, tôi đi quanh quẩn lối xóm, mặt mày ủ dột. Không nghĩ ra việc gì làm, để khỏi bám vào ba tôi. Tôi đói lắm. Đói nhiều năm, trước khi về đây. Tôi cần ăn mà mỗi lần bưng chén cơm, tôi như mắc nghẹn. Tôi còn đầy đủ tay chân, làm sao thanh thản nuốt miếng cơm của người cha già tàn tật?
Tôi đi ra đồng, lủi vào rẫy mía, hái những thứ rau sam, rau dệu mọc hoang. Gió lay cờ mía bay trắng đồng, vướng cả trên đầu, trên áo tôi. Loài chim sâu luýt chuýt kiếm ăn trong mía thấy có người, bay vụt lên. Lúc tôi chui ra, gặp ông cụ vác cuốc đi tới.
Cụ hỏi: “Làm gì trong ấy?”
Tôi cầm bó rau giơ lên.
Cụ nói: “Rau dại ư? Đứng đó.”
Cụ lủi ngay vào rẫy mía, lối tôi vừa chui ra. Cụ không tin tôi, muốn kiểm soát xem có cây mía nào bị bẻ trộm. Mặt tôi ra sao, mà ai cũng nghi ngờ trộm vặt? Tôi nghĩ, con người có cái vận. Khi vận mạt thì ám khí tràn lên làm con người bệ rạc, che lấp cái vẻ đường hoàng khả tín. Có phải mặt tôi tôi bây giờ như thế?
Cụ già chui ra, dịu giọng: “Lần sau, đừng vào rẫy.”
Tôi nín thinh bỏ đi.
Tôi đem rau về, giấu sau hè. Lúc ba tôi đi khỏi, tôi luộc rau ăn thêm. Nhiều lần như thế. Có lần ba tôi về bất ngờ, thấy tôi đang ngồi với rổ rau. Không giấu được nữa, tôi gượng cười. Ba tôi đứng sững nhìn tôi, rồi quay đi không nói gì.
Buổi tối. Dưới ngọn đèn dầu, ba tôi ngồi quấn thuốc rê. Ông xe tròn điếu thuốc trên mặt bàn, bằng bàn tay còn lại. Tôi ngồi trong góc tối, nhìn sự thiếu hụt một phần thân thể của ông. Tôi nghĩ, không phải chỉ có thế. Nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sự thiếu hụt của tâm hồn, đưa đến buồn chán an phận một kiếp người.
Dì tôi đi ngủ rất sớm. Dì ngủ và thức cùng giờ với gà. Trời mới chạng vạng, gà đã vào chuồng. Ba bốn giờ khuya, gà gáy báo hiệu bình minh. Dì thức dậy, không để làm gì cả. Dì chong đèn ngồi lặng cho đến khi trời sáng. Tôi gọi mẹ kế bằng dì. Mẹ ruột tôi mất. Năm năm sau, ba tôi rước dì về làm vợ. Lúc đó, tôi mười ba tuổi. Dì ở với ba tôi, ba mươi năm không có con. Miệng đời xoi mói, rằng trước khi về với ba tôi, dì đã lang chạ với nhiều đàn ông. Dì ít nói đến độ tôi không biết tình cảm của dì ra sao. Dì không nói câu gì làm tôi buồn, cũng không tỏ thiện cảm với tôi.
Tôi về hai mươi mốt ngày, ba tôi bán lứa heo con. Tiền bán heo, cất trong tủ. Xâu chìa khóa treo ở cây đinh, khuất sau tủ.
Mấy ngày sau, ba tôi nói: “Tiền bán heo mất sạch rồi.”
Dì nhìn tôi, dò xét.
Tôi không biết nói sao, bỏ ra ngoài hiên, ngồi hút thuốc. Dưới chân tôi, những con kiến đen đi tìm mồi. Nắng xế chiều xuân gay gắt lắm. Trời cao và xanh, gợn vài cụm mây nhỏ. Nỗi đời hốt biến như mây chó.
Một bà quảy gánh đi ngoài đường, hỏi vọng vào: “Có đồ gì cũ, bán không?”
Tôi nói: “Có tôi. Mua tôi không?”
Bà nhìn tôi: “Mặt không đáng đồng xu.”
Tôi chợt nhớ có mấy cái muỗng nĩa bằng inoque và đôi dép nhựa đứt quai.
Tôi gọi: “Bà ơi, vào đây.”
Bà cầm muỗng nĩa lên coi: “Tất cả mười đồng.”
Tôi nói: “Mười lăm.”
Bà quảy gánh lên vai.
Tôi nói: “Mười đồng, lấy đi. Còn đôi dép?”
Bà nói: “Cho thì lấy. Không mua.”
Tôi cất tiền trong túi, bâng quơ nhìn đàn gà bươi dưới gốc hàng rào cây dâm bụt. Nhà đang dọn cơm chiều. Tôi bỏ đi lang thang. Chiều tối mịt, tôi ghé quán cà phê. Cà phê sữa, mười hai đồng. Cà phê đen, tám đồng. Tôi uống cà phê đen. Dư hai đồng, tặng luôn cho cô gái chạy bàn. Quán vắng. Bóng đèn nhỏ bằng đầu ngón tay, dùng điện bình acquy, ánh sáng mờ mờ buồn thảm. Tôi ngồi im lặng. Ly cà phê đã hết từ lâu. Tôi ngồi im lặng như thế, thật lâu. Buồn tay, tôi quậy chiếc muỗng chạm lanh canh trong cái ly không.
Cô gái hỏi: “Chú dùng thêm gì?”
Tôi lắc đầu.
Cô lại hỏi: “Có phải chú là cái chú gì cải tạo mới về đó không?”
Tôi nói: “Phải rồi.”
“Được về thì mừng. Sao chú buồn?”
Tôi nói một câu rẻ tiền: “Đời chẳng có gì vui.”
Nói xong, tôi chào cô gái và ra khỏi quán.
Ba tôi ngồi ngoài hiên chờ tôi về. Đèn trong nhà hắt sáng yếu ớt sau lưng, làm khuôn mặt ông tối hẳn, như cái bóng đen in trên nền phong hư ảo.
Ba tôi nói: “Còn chừa phần cơm cho con.”
Tôi đói lắm, nhưng nói: “Con không đói.”
“Con đừng làm thế. Ba không nghi cho ai cả.”
Tôi nghĩ, thân phận tôi, ai cũng nghi ngờ là kẻ gian. Chỉ có ba tôi tin tôi.
Ba tôi nói tiếp: “Ba đã biết người lấy tiền.”
Tôi nghĩ, ba tôi hiểu tôi là đủ rồi.
Ba tôi kể: “Ba dời cái ổ gà đẻ, phát giác ra số tiền cất giấu dưới đáy ổ gà. Dì con nói, ăn ở với ba không có con. Sợ khi chết không ai lo, nên tự lo trước cho mình. Dì con muốn mua bộ táng đá xây mả.”
Tôi gục đầu. Xót cho ba tôi. Xót cho Dì. Xót cho tôi. Ai cũng muốn làm người tốt, hoàn cảnh cứ xô vào ngõ cụt.
Ba tôi, và tôi ngồi đấy. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt, oi bức. Muỗi bay vo ve bên tai. Ngoài đường, toán du kích xã đi tuần ngang qua. Họ cười nói oang oang. Súng đạn khua lách cách. Có tiếng chó sủa bên nhà hàng xóm.
Tôi nói: “Con muốn gặp Minh, giải quyết vấn đề một lần cho xong.”
Ba tôi nói: “Đừng. Thằng bồ của nó sẽ đưa con vào tù đấy.”
“Con không làm điều gì rắc rối.”
“Cũng đừng. Ngày con đi tù, nó còn trẻ quá không chờ được. Không phải lỗi tại nó đâu.”
Không phải lỗi tại nó đâu. Lỗi tại ai? Tôi hỏi lòng tôi như thế. Đêm xuân mà đất trời mờ mịt. Tôi dõi mắt nhìn xa hơn, chỉ thấy mờ mờ như ảo giác. Tất cả đều là ảo giác, là phù du, kể cả đời này.
Ngày mồng tám tháng ba, Dì tôi làm bữa ăn ngon. Thịt cá rau cải chiên xào đầy đủ. Dì không tuyên bố một lời.
Ba tôi nói: “Hôm nay, mừng tuổi sáu mươi tư cho dì của con.”
Tôi nắm hai bàn tay, đưa lên trán rất trịnh trọng: “Con chúc dì sức khỏe tốt, sống lâu trăm tuổi.”
Dì nói: “Già quá, chỉ khổ thân. Lúc nào mắt lòa tai điếc, chết đi là vừa.”
Tôi ăn, và nghĩ đến những điều giả dối. Mọi người rõ mặt nhau, mà không rõ lòng nhau. Tội nghiệp dì tôi. Sáu mươi tư tuổi, dì vẫn cô đơn khép kín trong nhà này. Ba tôi cũng cô đơn bên người đàn bà khép kín. Tôi thì quá đau khổ hận đời. Bộ mặt lầm lì, còn gần gũi được với ai?
Chúng tôi đang ăn, có anh du kích đứng trước cửa, hỏi lớn: “Ở đây có ai tên Lâm?”
Ba tôi buông đũa đi ra: “Nó là con tôi. Có chuyện gì không?”
Du kích chìa tờ giấy: “Có giấy mời lên xã.”
Ba tôi cầm tờ giấy quay vào, thắc mắc: “Không biết chuyện gì?”
Tôi nói: “Chuyện gì cũng vậy thôi.”
Ba tôi nói: “Đụng tới bọn này phiền lắm.”
Từ lúc nhận giấy mời, bữa ăn mất ngon. Dì tôi không nói câu gì.
Tôi lên xã, và trở về chuẩn bị ngày mai đi công tác thủy lợi.
Ba tôi hỏi: “Tù mới về, còn trong thời hạn quản chế. Sao bắt đi thủy lợi?”
Tôi nói: “Mỗi địa phương có một ông vua con, áp dụng luật rừng xanh.”
Ba tôi than: “Toàn là luật lệ chết người.”
Tôi nói: “Trong tù lao động, có cơm tù. Về đây lao động, lấy gì ăn?”
Ba tôi lặng lẽ vào nhà bếp, xúc cho tôi bọc gạo, gói vài con cá khô, nhét chút tiền đi xe.
Tôi ngồi xe Lam đi Bến Mương, lội bộ hơn cây số đường đất là vào tới chỗ công tác thủy lợi. Nhiều người đến trước, đang dọn chỗ trong căn nhà trống. Có lẽ xưa là nhà hội của dân Bến Mương. Phía trái cách căn nhà vài chục bước có cây đa già, độ tuổi cũng trăm năm. Tàng cây cao rộng, phủ một vùng bóng lớn. Trên nhánh cây thòng xuống những rễ phụ, đâm xuống đất. Nhiều rễ lâu năm, to bằng cột nhà.
Toán thủy lợi gồm hai mươi tám người. Đàn ông đàn bà, già trẻ đủ mặt. Toán chia làm hai nhóm. Mỗi nhóm có một nhóm trưởng. Tôi bốn mươi ba tuổi, già nhất, được chỉ định làm toán trưởng. Làm toán trưởng cũng là làm chơi thôi. Mọi sự đôn đốc kiểm soát đã có đốc công. Bốn đốc công, coi hai mươi tám người. Lại có thêm một đốc công trưởng, coi bốn đốc công. Ông này có súng K54, mang bên hông rất oai. Tổ chức chặt chẽ qua nhiều tầng lớp kiểm soát, nhưng khi bắt đầu làm việc thì tất cả đốc công đều vắng mặt. Họ vào xóm Bến Mương, ăn nhậu hoặc tán gái. Chúng tôi cầm xẻng cuốc đứng dưới hào, thỉnh thoảng hất một xẻng đất lên, vá những chỗ đê vỡ. Làm việc ầu ơ lấy có. Phần lớn thì giờ là nói chuyện tầm phào, kể chuyện tiếu lâm. Mấy chị đàn bà rất thích nghe chuyện tục. Họ cười nhiều nhất.
Đến trưa, mọi người tự động ngưng làm, vào nấu ăn. Gạo để chung, đồ ăn chung. Đàn bà lo nấu nướng. Đàn ông ngồi hút thuốc tán gẫu, chờ cơm.
Tôi mắc võng vào hai chiếc rễ phụ của cây đa, tránh sự ồn ào trong căn nhà trống.
Một chị nói: “Nằm đây nguy lắm. Cây này có nhiều rắn lục.”
Tôi nói: “Chỉ nằm nghỉ trưa.”
“Ừ. Ban đêm thì không nên.”
Buổi chiều. Hai mươi tám người ra đê, chống cuốc xẻng phơi nắng vài tiếng đồng hồ, lại vào nghỉ.
Sau một ngày rong chơi, các đốc công trở về. Có người nồng hơi rượu. Họ ra đê kiểm soát công việc.
Lúc trở vào, có người nói: “Thời gian có hạn. Bà con làm thế thì bao giờ cho xong? Mai cố gắng lên nhé.”
Một chị trẻ, trề môi: “Đợt này không xong. Đợt sau làm tiếp.”
Anh đốc công đi lại, vỗ vào đít chị trẻ: “Lắm lời chanh chua cong cớn này!”
Chị trẻ vênh mặt: “Thì sao?”
Anh đốc công cười hì hì, cúi sát mặt chị trẻ: “Tối nay phạt cái tội lười biếng.”
Chị khác xía vào chuyện: “Mười người như anh, nó cũng không sợ.”
Anh đốc công hỏi: “Em sợ không?”
Chị nói: “Cỡ anh, tôi chấp hai chục.”
Bọn đàn ông vỗ tay cười đùa.
Cơm chiều xong. Những anh đốc công theo tán tỉnh mấy chị đàn bà. Vài chị đi với họ suốt đêm. Số còn lại, ngủ trong căn nhà trống.
Nhiều đêm khó ngủ, tôi thấy có kẻ lén chui vào mùng người khác. Có một cặp, đêm nào cũng dìu nhau ra gốc cây đa. Vài hôm sau, tôi biết chị đàn bà dọa tôi có rắn lục, là người được dìu ra gốc cây đa, lúc nửa khuya. Chị không sợ rắn lục.
Gần sáng. Tiếng gà gáy vẳng lại từ xóm Bến Mương, là lúc những kẻ lộn sòng trở về đúng vị trí của mình. Công việc thủy lợi lại bắt đầu, như mọi ngày bình thường.
Ngày thứ mười lăm, ông đốc công trưởng tuyên bố: “Hôm nay là ngày cuối cùng, tôi cho bà con nghỉ việc buổi chiều. Trước khi chia tay, tôi đề nghị bà con tùy khả năng mỗi người, đóng góp chút tiền hùn mua vài con gà và lít đế, làm tiệc liên hoan mừng công tác tu sửa hệ thống thủy lợi, đã tiến hành thuận lợi và hoàn tất tốt đẹp. Có ai có ý kiến gì không?”
Mọi người vỗ tay tán thành lời đề nghị văn hoa của ông đốc công trưởng.
Kiểm lại số tiền đóng góp xong, ông chỉ định: “Anh toán trưởng đi mua gà với tôi.”
Tôi nói: “Vâng.”
Trên đường vào xóm Bến Mương, ông đốc công trưởng nói: “Anh ít nói nhỉ?”
Tôi trả lời: “Tôi không có gì để nói.”
Chúng tôi hỏi mua gà nơi nhà của một người quen với ông đốc công trưởng. Ông gọi người này là anh Sáu Lự. Anh Sáu Lự bảo vợ lo bắt gà. Chị Sáu Lự ra sân rải thóc, chu miệng gọi gà: “Chúc chúc chúc…”
Đàn gà đang kiếm ăn rải rác ngoài vườn, nghe tiếng gọi, chạy về mổ thóc trên sân. Có con gà trống lớn không lo ăn, chỉ lo dụ khị con gà mái tơ để đạp mái. Sau khi thỏa mãn, nó vỗ cánh, vươn cổ gáy ò ó o ò o…
Ông đốc công trưởng cười nhìn chị Sáu Lự, và bắt chước giọng gà: “Ò ó o ò o… Đời có thế mà thôi.!”
Chị Sáu Lự cũng cười, mắng: “Đồ quỷ quái!”
Quả thật là đồ quỷ quái. Đời có thế mà thôi. Sao tôi cứ loay hoay buồn rầu khốn khổ với đời?
Sau đợt công tác thủy lợi. Tôi về vẫn y như tình trạng cũ. Buồn nản. Quẫn trí.
Ba tôi đưa bộ truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung, bảo: “Đọc đi.”
Tôi nói: “Còn tâm trí đâu mà đọc.”
“Thằng Lệnh Hồ Xung bị cả hai phái hắc bạch giang hồ chối bỏ, đến nỗi phải than trời đất mênh mông mà ta không còn chỗ dung thân, nhưng cuối cùng nó cũng đâu có chết.”
“Chuyện hư tưởng, đọc để mua vui. Không thể lẫn lộn giữa thực và mộng.”
“Không sống với thực được, thì trốn vào mộng. Đau khổ mãi ích gì?”
“Con đang suy tính một việc làm.”
Ba tôi bảo: “Hãy viết thư sang Canada cho anh con.”
Tôi nói: “Người ta chỉ giúp ngặt, không giúp nghèo.”
“Đây là lúc ngặt của con.”
Ông đưa giấy bút cho tôi. Tôi viết:
Ấp Gò Chùa ngày… tháng… năm…
Kính gởi anh chị Hai,
Trước tiên, em có lời thăm anh chị và chúc sức khỏe. Ở nhà, Ba và Dì vẫn khỏe. Vẫn nuôi heo, nấu rượu bình thường. Sau đây, em xin nói về phần em. Em đi cải tạo mười năm, có tiến bộ về mặt tư tưởng. Được Đảng và nhà nước khoan hồng cho về với gia đình, góp phần xây dựng xã hội mới. Hiện tại, em chưa được bố trí việc làm. Vì vậy, đời sống chưa được đảm bảo tốt. Em mong anh chị vì chút tình ruột thịt mà giúp cho em một số tiền để sống, và chờ đợi…
Một lần nữa, em xin chúc anh chị bình yên, vui tươi, hạnh phúc.
Giấy ngắn tình dài, em xin dừng bút tại đây.
Em của anh chị.
(Ký tên)
Tái bút: Vợ em thì coi như diều đứt dây rồi. Không còn gì để nói.
Tôi đưa lá thư cho ba tôi đọc lại. Đọc xong, ông vò lá thư, ném vào lò nấu cám heo.
“Nó sợ Đảng và nhà nước, mà bỏ chạy. Viết thế này thì một xu cũng không được.”
Tôi lặng người. Có một nỗi gì thấm thía của gã ăn mày bị từ khước.
Lúc ấy, dì tôi đi đâu bên ngoài vừa về tới.
Dì nói: “Cô Bảy Mỹ Quang nhắn con sang nhà, bàn chuyện gì đấy.”
Cô Bảy là em họ của ba tôi. Trước kia, cô là chủ tiệm Mỹ Quang buôn bán đồ điện ở Sài Gòn. Sau hai đợt đánh tư sản mại bản, cô sạt nghiệp phải lui về Gò Chùa, làm bún kiếm ăn qua ngày. Con trai của cô, làm ở Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, đi cải tạo chưa về. Còn đứa con gái theo chồng vượt biên, biệt tăm luôn. Nhiều người cho rằng, vợ chồng con gái của cô đã chui vào bụng cá mập.
Cơm chiều xong, tôi sang nhà cô Bảy. Dượng Bảy lúi húi nấu nước pha cà phê.
Cô Bảy nói: “Con được về là gia đình mừng. Nhưng ba và dì của con cho biết, con mặc cảm có ăn mà không có làm. Cô có công việc cho con.”
Tôi mừng, đợi nghe cô nói tiếp. Dượng Bảy đem hai ly cà phê đặt lên bàn. Dượng cười. Hàm răng cửa chỉ còn mấy chiếc chơ vơ thảm hại.
Dượng nói: “Con phụ làm bún với dượng.”
Tôi nhận lời ngay. Đối với tôi bây giờ, việc gì cũng được.
Buổi sáng. Cô Bảy ngồi bán bún ở chợ. Tan chợ, cô gánh bún đi lòng vòng lối xóm, đổi gạo. Dượng Bảy và tôi ở nhà xay bột, bồng bột.
Buổi chiều. Cô Bảy về nhà, Dượng và tôi lại nhồi bột, nắn lại từng khối tròn như trái banh. Luộc bột trong một cái trả lớn. Cô Bảy vớt khối bột ra, cho vào cối. Dượng và tôi chèo bột, dùng sức đến đổ mồ hôi. Rồi nắn bột thành những khối hình trụ, cho vào cối ép thành sợi. Việc này, cần sức nặng mà Dượng và tôi đều ốm nhom, phải bê thêm cái cối dằn lên cho tăng phần trọng lượng. Sợi bún chảy xuống nồi nước đang sôi. Lại trút bún ra, cho vào nước lạnh. Cô Bảy vớt con bún rê thành từng lọn, là lúc dượng và tôi ngồi thở. Sau đó, tôi gánh nước luộc bột về cho ba tôi nuôi heo. Ít ra, trong nước luộc cũng còn vương chút bột, góp phần làm con heo mau lớn. Công việc loay hoay mệt nhọc như thế, xong xuôi vào lúc nhà lên đèn.
Cô dượng làm bún chỉ đủ ăn. Tôi làm bún để có ăn, không có lương. Lâu lâu, cô Bảy cho bánh thuốc rê, và cuộn giấy quyến.
Mấy hôm nay, có gánh hát Cải Lương Hồ Quảng ghé xã. Cô Bảy cho tiền bảo tôi đi coi. Tôi đi trong màu trăng. Bầu trời trong vắt, và trăng sáng lắm. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Tôi đi đến chỗ có ánh đèn điện sáng choang, người người đông đảo lao xao. Hội trường được che chắn chung quanh làm rạp hát. Phía trước, dựng lều căng bạt, bán cà phê, nước giải khát, bánh kẹo, thuốc lá và thức ăn. Người ta chen chân nhau vào cửa rạp. Tôi không muốn vào. Tôi đi loanh quanh. Lòng tôi nguội lạnh, lẻ loi. Cuối cùng, tôi ngồi dưới một mái lều bán cà phê. Cô bán hàng là người quen, tên Giang. Giang là bạn của vợ tôi. Trước kia, Giang làm ở Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Thời thế thay đổi, Giang đem con về sống ở quê. Chồng Giang vượt biên sang Mỹ, nghe đâu đã có vợ khác rồi.
Giang bưng cà phê cho tôi, rồi ngồi ở phía sau chiếc bàn bày hàng.
Giang hỏi: “Anh về có khỏe không?”
Tôi nói: “Khỏe.”
Giang lại hỏi: “Có gặp chị Minh không?”
Tôi lắc đầu: “Thuộc về quá khứ rồi. Gặp làm gì nữa.”
“Chị Minh cũng vì hoàn cảnh.”
“Một trăm người đàn bà phụ bạc, cũng đổ thừa hoành cảnh. Chồng em có liên lạc về không?”
Mắt Giang thoáng chút xa xôi buồn bã: “Coi như nước xuôi ra biển, không trở lại nguồn.”
Tự nhiên tôi thấy tội nghiệp Giang hết sức. Tôi nghĩ, tôi với Giang là người đồng cảnh, dễ tội nghiệp cho nhau.
Tôi hỏi: “Em dọn hàng về lúc nào?”
Giang nói: “Thưa người là em dọn.”
“Đồ đạc nhiều quá, làm sao một mình em đem hết?”
“Em đem làm hai lần.”
“Anh sẽ phụ với em. Một lần là xong.”
Giang ngại: “Có phiền anh không?”
“Phiền gì? Anh cũng đang rỗi rảnh.”
Có mấy người khách ngồi vào bàn cà phê. Giang lo tiếp khách. Tôi đứng dậy bỏ đi. Tôi đi vòng ra phía sau hội trường. Có những cặp tình nhân đứng nép vào nhau, dưới những gốc cây. Tôi nghĩ, ở đâu người ta cũng có thể nói chuyện tình yêu. Cái thứ tình cảm quỷ quái này, nó đánh lừa tất cả. Mới đầu tưởng nó là hạnh phúc, nhưng sau đấy là thất vọng chán chường đau khổ. Tôi cũng thế, tôi cũng bị lừa.
Khi tôi quay lại chỗ Giang. Giang nói: “Tối nay em nghỉ sớm.”
Tôi phụ Giang xếp những đồ đạc lên xe ba gác. Một xe cồng kềnh đầy nhóc.
Tôi hỏi: “Còn cái bàn, chắc phải đi thêm chuyến nữa?”
Giang nói: “Để lại. Ngày cuối cùng dỡ lều, sẽ đem về luôn.”
Giang cầm càng xe. Tôi đẩy ở phía sau. Trên đường về, trăng sáng lắm. Dọc đường, Giang kể về cuộc sống vất vả sau ngày chồng bỏ đi. Tôi kể chuyện làm bún. Giang đùa, rằng tôi có cái tướng của ông chủ lò bún tương lai. Giang và tôi cùng cười. Nói chuyện với Giang, tôi nghe lòng mình ấm lại.
Đến nhà, Giang bảo: “Để nguyên như thế. Cho cả chiếc xe vào nhà. Mai lại đem đi.”
Tôi đứng tần ngần. Nửa muốn nán lại, nửa muốn về.
Giang đến gần tôi, hỏi nhỏ: “Có ai chờ anh ở nhà không?”
Tôi nói: “Không.”
Giang nói như nói thầm: “Thế thì nghỉ lại đây với em.”
Tôi quàng vai Giang.
Giang vùng ra: “Cho em đi tắm.”
Tôi ra đứng ngoài sân, nghe tiếng giội nước sau hè. Tôi hình dung ra thân thể nở nang của người đàn bà một con, da thịt trắng ngần loang loáng nước, dưới trăng. Tôi háo hức đợi chờ. Lúc sau, tôi bước vào nhà. Giang mặc áo cánh mỏng, đang lúi húi khơi lại ngọn đèn. Tôi ôm ghì lấy Giang.
Giang nói: “Từ từ, anh…”
Tôi thổi tắt phụt ngọn đèn, dìu Giang đến chiếc giường, nơi có ánh trăng mờ mờ xuyên qua đầu hồi. Tôi ôm Giang, vuốt ve hôn hít. Giang thở dồn dập. Tôi cũng thở dồn dập.
Bỗng Giang kêu lên nho nhỏ: “Em biết tại sao chị Minh bỏ anh rồi.”
Tôi hoảng hốt: “Không phải thế đâu.”
Giang vùng dậy, thắp đèn: “Em xin lỗi. Khuya lắm rồi, anh về đi.”
Tôi đi về trong đêm trăng sáng. Trời không sương mà vai tôi lành lạnh. Khuya vắng đến rợn người. Tôi nghe rõ cả tiếng côn trùng rên rỉ. Buồn và cô đơn khủng khiếp. Đời vẫn dành cho tôi nhiều ưu ái. Tại tôi làm hư việc. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi đi. Bóng tôi in trải trên đường. Chỉ mình tôi với bóng.
HQ Trung tá Long Tran phát biểu trong buổi lễ nhận quyền chỉ huy Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản (hình của Masuyoshi Tomo, Bộ chiến tranh Hoa Kỳ).
Hải Quân Trung tá Long Tran* được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản ngày 16 tháng 6 năm 2026. Ông thay thế HQ Trung tá Daniel Moldonado III hoàn thành nhiệm kỳ chỉ huy và được thuyên chuyển nhận nhiệm sở mới. Buổi lễ nhận quyền chỉ huy diễn ra trang nghiêm và long trọng dưới sự chủ toạ của Chuẩn tướng Lục quân Kevin Cotman, Chỉ huy trưởng, Bộ chỉ huy tiếp liệu quốc phòng (DLA Distribution) tại New Cumberland, Pennsylvania
Bộ chỉ huy tiếp liệu quốc phòng là Cơ quan cung cấp dịch vụ lưu trữ và phân phối chung của Bộ Quốc phòng. Cơ quan này quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu, bao gồm tiếp liệu, lưu trữ và vận chuyển các bộ phận và thiết bị quân sự, hợp tác chặt chẽ với các hoạt động của Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ tại các Trung tâm lớn như Norfolk, VA và San Diego, CA. Đối với các hoạt động đặc thù của Hải quân Hoa Kỳ, DLA dựa vào các trung tâm phân phối chuyên biệt được đặt ở vị trí chiến lược gần các hải cảng Hải quân lớn. Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng Hải quân tại Yokosuka, Nhật Bản yểm trợ Đệ Thất Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương bằng cách cung cấp dịch vụ tiếp liệu và phân phối thiết bị tiền tuyến.
Thuỷ thủ đoàn Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản chào đón Tân Chỉ huy trưởng, HQ Trung tá Long Tran (hình của Masuyoshi Tomo, Bộ chiến tranh Hoa Kỳ).
HQ Trung tá Long Tran là cư dân Houston, Tezas, ông tốt nghiệp Trường Sĩ quan Hải quân OCS (Navy’s Officer Candidate School) năm 2009. Sau đó ông thụ huấn tại Trường tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School) và trở thành Sĩ quan tiếp liệu ngành tiếp vận Hải quân (Supply Corps, United States Navy). Là một Sĩ quan ngành tiếp vận Hải quân, HQ Trung tá Long Tran lần lượt phục vụ trên các Khu trục hạm, Tuần dương hạm, Hàng không mẫu hạm, Căn cứ yểm trợ tiếp vận Hải quân, Bộ Chỉ huy quân số Hải quân, và hiện nay, Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản.
Các đơn vị HQ Trung tá Long Tran được chỉ định và bổ nhiệm phục vụ bao gồm: Tháng 1 năm 2010, HQ Trung tá Long Tran được chỉ định làm Sĩ quan phụ tá tiếp liệu trên Khu trục hạm USS HOPPER (DDG 70). Sau nhiệm kỳ phục vụ trên trên Khu trục hạm USS HOPPER (DDG 70), ông được chỉ định phục vụ tại Trung tâm yểm trợ tiếp vận quốc phòng ở Philadelphia, PA với chức vụ chuyên gia hợp đồng từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 2 năm 2015.
Tháng 7 năm 2015, HQ Trung tá Long Tran giữ chức Sĩ quan tiếp liệu trên Tuần dương hạm USS LEYTE GULF (CG 55) đến tháng 11 năm 2017. Sau đó ông tu nghiệp tại Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019. Từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, HQ Trung tá Long Tran phục vụ tại Trung tâm tiếp vận Hạm đội NAVSUP ở Yokosuka, Nhật Bản, ông được bỗ nhiệm làm Chỉ huy trưởng tiếp vận khu vực.
Từ tháng 7 năm 2021 đến tháng 7 năm 2023, HQ Trung tá Long Tran giữ chức Sĩ quan phụ tá tiếp vận chính về tiếp liệu trên Hàng không mẫu hạm USS RONALD REAGAN (CVN 76). Đến tháng 8 năm 2023, ông được điều về Bộ Chỉ huy quân số Hải quân đảm nhận nhiệm vụ Sĩ quan cố vấn ngành tiếp vận Hải quân. Tháng 6 năm 2026, ông được bổ nhiệm chúc Chỉ huy trưởng Trung tâm yểm trợ tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ tại Yokosuka, Nhật Bản.
HQ Trung tá Daniel Moldonado III, Chuẩn tướng Lục quân Kevin Cotman và HQ Trung tá Long Tran (hình của Masuyoshi Tomo, Bộ chiến tranh Hoa Kỳ)
HQ Trung tá Long Tran tốt nghiệp Đại học Houston (University of Houston) với văn bằng Cử nhân quản trị kinh doanh, năm 2003; Và hoàn tất Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh, Trường hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School), năm 2019; Ngoài ra, ông còn thụ huấn và tu nghiệp tại Trường Tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps School), Sĩ quan chuyên nghiệp ngành tiếp vận hàng không Hải quân và tiếp vận Hạm đội trên mặt biển (Naval Aviation Supply Officer, Surface Warfare Supply Corps Office) và là thành viên của Cục mãi dịch Bộ quốc phòng. Ông được ân thưởng các loại huy chương: 1 huy chương Joint Service Commendation Medal; 3 huy chương Navy Commendation Medal; 2 huy chương Navy Achievement Medal; và các loại huy chương chiến dịch bội tinh, và huy chương cấp đơn vị.
HQ Trung tá Long Tran là một trong những Trung tá ngành tiếp vận Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, những vị Trung tá gốc Việt khác được ghi nhận sau đây: HQ Trung tá Nguyen Phu Quy; HQ Trung tá Nguyen Tony Nhat; HQ Trung tá Ta Phuong Anh Chau; HQ Trung tá Chu Calvin Thanh Hoang; HQ Trung tá Bach James Donald; HQ Trung tá Nguyen Thuy Le Thanh; và HQ Trung tá Chau Huu Hanh, sau lên Đại tá nay đã hồi hưu. Theo tài liệu lưu trữ trên trang nhà mynavyhr.navy.mil và Congress.Gov thì có trên 60 HQ Trung tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ, không tính những vị đã về hưu, cũng như được thăng cấp Đại tá, trong số đó có nhiều nữ HQ Trung tá gốc Việt.
Chúc HQ Trung tá Long Tran thăng tiến hải nghiệp.
Chú thích: *Ghi theo họ và tên từ tài liệu (họ và tên Việt Trần Kim Long); **Hải quân Trung tá=Navy Commander.
Nguồn: facebook.com/DLADistribution; dla.mil; NAVSUP-October 2023; linkedin.com; bienxua-12 Hải Quân Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung tá năm 2022.
Hiện chúng ta rất khó xác định nghĩa của hai tiếng “đi” và “về.” Trở lại nơi mà chúng ta đã từ đó ra đi, hẳn là về. Nhưng nếu một gia đình sau khi ở Việt Nam vài tuần, đang sửa soạn hành lý ra sân bay, thì câu nói của chúng ta là: “Anh chị về Mỹ bình an!” mà không ai nói đi … Mỹ. Vậy thì đi đâu mà về đâu, hắn nghĩa của hai tiếng “đi” và “về,” chẳng giống nhau!
Khi đi thì “ … cột đèn biết đi cũng đã ra đi”, lén lút, hiểm nguy, chia lìa, vô định; khi về thì tấp nập, ồn ào, hể hả. Mấy ai nghĩ đến sự nghịch lý của chuyện đi và về. Tết năm 2008, chính phủ Việt Nam loan báo có hơn 350,000 Việt Kiều (phải hiểu là người Việt ở ngoại quốc) về ăn Tết. Con số này càng ngày càng tăng theo thời gian mà không hề giảm sụt. Lý do người chưa về lần nào, thấy nhiều người về thì mạnh dạn về theo, người về rồi thấy vui, “có tiền” thì về nữa, như lời “Ngài Chủ Tịch Nước” nhắc nhở : “Ai chưa về thì về, ai về rồi thì về nữa!” Trong số người “có tiền” này có những người nhận tiền trợ cấp dưới danh nghĩa tị nạn, từ ngày đặt chân ướt lên Mỹ, Canada, Úc hay Âu Châu cho đến hôm nay. Người tị nạn là người chạy trốn qua một xứ khác, nơi khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ. Căn cứ vào bằng chứng xác thực việc bị CS cầm tù trong nhiều năm, những người cựu tù nhân chính trị được toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cấp visa cho vào định cư tại Mỹ dưới danh nghĩa tị nạn. Còn tất cả những người vượt biển, vượt biên khác, muốn được chấp nhận cho định cư đều phải kê khai trên giấy tờ hay qua một cuộc phỏng vấn của nhân viên Cao uỷ Tị Nạn LHQ về lý do họ phải bỏ nước ra đi đến đây. Không như những người về ăn Tết ở trong nước, ở ngoại quốc kể cả Mỹ, Úc, Tây, Gia Nã Đại, người Việt về quê ăn Tết đều dùng máy bay. Vé máy bay đi Việt Nam vào những dịp Tết Nguyên Đán có khi đắt gấp đôi ngày thường mà người ta vẫn chen chúc và vẫn có tiền đi, mua chậm thì hết vé. Người Việt ở tại các nước phương Tây sau biến cố tháng 4-75 là “định cư”, có hẳn quốc tịch, đã trở thành công dân của các nước này rồi, chứ không phải là người đi làm ăn xa, hay trú ngụ tạm thời như những người Việt trong nước hay những người Tàu về ăn Tết ở ngay quê hương của họ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn đã bỏ nước, cứ hai người vượt biển, một vùi thây dưới biển sâu, bỏ cửa bỏ nhà quyết chí ra đi, thì mấy danh từ “về Việt Nam ăn Tết” nghe mỉa mai quá chừng!
Ở nước Úc vì gần với Việt Nam nên số người về ăn Tết rất cao. Ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc bay về
Saigon chỉ mất bảy tiếng, chỉ bằng số giờ lái xe tà tà từ Phước Lộc Thọ đi San José, nghe mà ham. Về ăn Tết, đi du lịch thì có cả nghìn lý do mà biện bạch. Thăm cha mẹ sắp lâm chung, dời mồ dời mả, bán nhà mua đất còn nghe được, nhưng với những lý do xả tang, dự đám cưới con ông chú, bà bác thì thà nói “đi Việt Nam chơi” còn hơn, còn chơi gì thì tùy ý thích của Quý Vị.
Chúng ta đã biểu tình, chúng ta đã chống Cộng, nhưng chúng ta lại thích về Việt Nam, vì lý do này hay lý do nọ, thì Cộng Sản không bao giờ sợ. Đừng nghĩ là đi biểu tình thì Cộng Sản chụp ảnh, quay phim làm khó dễ khi về Việt Nam, nếu bị bắt hay bị làm khó dễ thì một đồn mười, ai mà dám về Việt Nam nữa. Cộng đồng chúng ta rất dễ giải, “chín bỏ làm mười”, chống thì cứ chống, về thì cứ về. Ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn với trung tâm nào có lập trường chống Cộng, tôn vinh lá cờ VNCH thì về nước y như là bị khai trừ, bị chế tài, bị cấm hát, trái lại ca sĩ hải ngoại cũng về Việt Nam hát xướng, tuyên bố khen ngợi nhà nước Cộng Sản bên đó trở lại hải ngoại cũng không ai tẩy chay, vì chúng ta không có “nhà nước hải ngoại” và chúng ta tự do.
Chúng ta có sức mạnh của đô la mà chúng ta chưa xử dụng hết mười phần công lực của nó. Chúng ta ủng hộ công cuộc đấu tranh dân chủ, chống Việt Nam dâng đất dâng biển cho Trung Quốc mà vẫn về Việt Nam nườm nượp, vẫn đi qua các phi trường, kẹp tờ $10.00 vào trong pass-port, nở một nụ cười “xã giao” với bọn “công an cửa khẩu”. Không phải đợi đến bây giờ mới có người kêu gọi “đừng về Việt Nam trong tháng Tư, mà cách đây 5 năm (2009), trên nhật báo Người Việt, dưới mục Tạp ghi, chúng tôi đã có bài “Về Việt Nam”. Xin trích:
“Chúng ta xử dụng sức mạnh của chúng ta thử một lần, dù là một lần thôi. Tôi không dám đề nghị đồng hương ty nạn Cộng Sản đừng về Việt Nam nữa, về thời gian nào cũng được, mà hiệp sức cùng không về Việt Nam trong một tháng thôi, như một ví dụ, đó là tháng 4-2009. Chúng ta đã gọi là “Tháng Tư Đen” vì sao chúng ta lại về Việt Nam trong tháng đó, chúng ta gọi là “mất nước” thì nước đâu nữa mà về?
Nếu trong tháng 4-2009, tất cả đồng bào ty nạn hải ngoại không về thì chuyện gì sẽ xấy ra ở Việt Nam? Phitrường vắng vẻ, khách sạn ế khách, hải quan đói meo, hàng quán thưa thớt, mãi lực của Saigon xuống thấp. Điều này có thể ảnh hưởng đến quần chúng lao động của các dịch vụ, nhưng đây là lúc đồng bào trong nước chia xẻ tâm tình hải ngoại và họ đang biết hải ngoại đang muốn gì, chống lại điều gì của đảng Cộng Sản trong nước, tùy theo điều mà chứng ta muốn chống hay muốn tỏ thái độ như việc Cộng Sản dâng Hoàng Sa cho Tàu, việc Cộng Sản đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ hay đây là dịp bày tỏ sự đồng tình với đồng bào Thiên Chúa giáo Thái Hà. Hải ngoại không có lãnh đạo, hải ngoại có nơi đoàn kết nhưng cũng có nơi cấu xé nhau, hải ngoại nói và làm không đồng nhất, chúng ta có dám nhìn sự thật như vậy không?”
Năm 2009, từ trong ý nghĩ của cá nhân, chúng tôi đã tự túc in 2,000 truyền đơn và nhờ anh Trần Trọng An Sơn (TTCS) cùng một vài anh em đi rải ở những nơi đông người hay gắn lên kính xe của đồng bào ở Bolsa. Chúng tôi không có phương tiện và uy tín để kêu gọi giới truyền thông hải ngoại tiếp tay, cũng không có tiền để in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy slogan hay script trên truyền thanh, truyền hình khắp nước. Chúng tôi cũng hiểu rằng, điều quan trọng nhất không phải ở chỗ phương tiện, mà là sự việc nêu ra không được sự hưởng ứng của đồng bào, trừ những người đã nguyện là “không bao giờ về VN khi còn chế độ CS.” Tiếng kêu “không về, không gửi tiền về Việt Nam trong tháng Tư,” rõ ràng là “tiếng kêu trong sa mạc!” Mới đây, ba nhân vật của ba tổ chức có nhân sự và tầm vóc hoạt động lớn nhất trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ là Bác Sĩ Võ Đình Hữu, chủ tịch Cộng Đồng Người
Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, và Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, chủ tịch Tổ Chức Dân Chủ Việt Nam, đã tổ chức họp báo để “kêu gọi đồng bào hải ngoại không về và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tuần lễ sau cùng của tháng Tư Đen, từ 24-30 tháng 4-2014.” Lời kêu gọi chỉ khiêm nhượng gói gọn trong vòng một tuần lễ của tháng 4 năm nay mà thôi. Năm xưa (2009) với một bài báo và 2,000 tờ truyền đơn của một ký giả nhỏ bé không hề đem lại một kết quả nào, thì năm nay (2014,) với ba đoàn thể lớn “vào cuộc,” chúng ta có quyền hy vọng. Theo BS Võ Đình Hữu, ông đã có 36 cộng đồng người Việt ở Mỹ ký tên tham gia, gần như toàn
thể người Việt ở Mỹ, tổ chức của GS Nguyễn Xuân Vinh hiện nay có hơn 10 Trung Tâm Điều Hợp trong nước Mỹ và trên thế giới … chúng ta mong mỏi ở kết quả của lời kêu gọi thiết tha này. Xin các tổ chức chủ quản in bích chương, biểu ngữ để treo ở nơi đông người như chợ búa, nhà chùa hay nhà thờ, chạy “slogan” hay “scrift” trên truyền thanh, truyền hình khắp nước và trước hết, ngay các nhân sự trong ba tổ chức này sẽ không có ai “rón rén” về Việt Nam hay gửi tiền trong tháng tư.
Theo tôi thu gọn lại việc không về hay gửi tiền trong chỉ “một tuần” cuối của tháng 4-2014 là một chiến dịch quá khiêm nhường (một năm có 52 tuần,) nhưng kết quả hay không mới là điều quan trọng. Không ai dại thức một mình khi mọi người đều ngủ. Và chúng ta thường chê trong nước vô cảm, nhưng chúng ta mới là người vô cảm, xem chuyện đất nước này là của người khác, không dám bày tỏ, dù một thái độ nhỏ nhoi.
Xin vinh danh sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của các chiến sĩ Biệt Kích Lôi Hổ trong công cuộc bảo vệ miền Nam Việt Nam.
Một buổi sáng khi lớp học bắt đầu, tôi háo hức nói với người sinh viên:
– Tôi vừa nhận được một điện thư có thông tin liên quan về hồ sơ ngày 28 tháng 3 năm 1968 từ một người ký tên Cowboy Khánh Đoàn.
Bất ngờ anh sinh viên bật dậy từ ghế ngồi, chồm lên phía trước với vẻ mặt rạng rỡ:
– Cowboy Khánh Đoàn ư? Chúng ta gặp may rồi vì sẽ được thêm nhiều thông tin hữu ích. Cô có biết rằng Biệt Kích Mỹ thời chiến tranh Việt Nam khi nghe đến tên “Cowboy Khánh Đoàn” thì ngả mũ khâm phục không?
– Tôi nào biết! Chẳng phải Cowboy chỉ là một chàng trai đội mũ rộng vành, đi ủng có gắn miếng thép ở gót để thúc ngựa, mặc quần jean Levi’s hoặc quần da, cưỡi ngựa giỏi, hay tham gia đấu súng và bắn giỏi bằng cả hai tay, uống rượu trong quán nơi thường xảy ra các cuộc xung đột đó sao?
– Chưa đủ cô ạ. Rộng hơn, Cowboy còn có nghĩa là một người hùng thích phiêu lưu bất kể mọi tình huống hiểm nguy, theo đuổi một nghề nghiệp đòi hỏi sức chịu đựng bền bỉ và lòng can đảm phi thường; nhất là từ khi hàng loạt phim Hollywood về miền Tây hoang dã ra đời thì hình ảnh chàng chăn bò dần được thay thế bằng hình ảnh một chàng trai hành hiệp trượng nghĩa chiến đấu chống lại cái ác.
– Vậy huyền thoại Cowboy của lịch sử Mỹ có liên quan gì đến Cowboy Khánh Đoàn?
Nghe tôi thắc mắc, anh sinh viên mỉm cười:
– Dĩ nhiên tôi có thể kể cho cô nghe những điều tôi biết về người Biệt Kích Lôi Hổ với biệt danh “Cowboy” này nhưng nếu cô hỏi ngay nhân vật chính thì chẳng phải nhiều lý thú hơn sao?
Phải đấy, tôi thật sự muốn biết về Biệt Kích Lôi Hổ nói chung và người có biệt danh Cowboy nói riêng. Tôi tự tìm hiểu sơ qua về Biệt Kích Lôi Hổ trước khi liên lạc với người mình muốn chuyện trò.
Bối cảnh thành lập Biệt Kích Lôi Hổ bắt đầu từ đầu năm 1964 khi Mỹ muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát và phá hủy những mật khu và đường mòn Hồ Chí Minh mà Bắc Việt dùng để chuyển quân và vũ khí với ý đồ thôn tính miền Nam.
Để tránh vi phạm luật lệ qui ước về hiệp định chiến tranh quốc tế ký kết tại Genèva năm 1954, Mỹ thành lập Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam (Military Assistance Command Vietnams Studies and Observation Group – MACVSOG) mà trong đó những thanh niên khỏe mạnh, tinh nhuệ, đa số là người Nùng, được chọn để trở thành Biệt Kích Lôi Hổ. Việc huấn luyện, lương hướng, quân trang, quân dụng do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát và được hưởng qui chế tương đương như những quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ phục vụ tại Việt Nam.
Những gì tôi biết về Biệt Kích Lôi Hổ quá ít ỏi. Cowboy lại kiệm lời, kín đáo, không dễ khơi chuyện. Ngoài những thông tin ông cung cấp nhằm hỗ trợ công tác của Văn Phòng tôi đang trợ giúp, ông không thổ lộ gì hơn. Cuộc nói chuyện qua điện thoại với ông dẫn đến điều tôi muốn biết nhân vật lịch sử nào mà Cowboy yêu thích thì được ông trả lời bằng câu hỏi ngược lại:
– Thế cháu có biết cuốn phim “PT-109” mà trong đó chú thần tượng nhân vật cựu tổng thống Kennedy vào thời điểm đó mới mang cấp bậc trung úy Hải Quân?
– Dạ, có chứ! Cháu còn nhớ sự kiện PT-109 đã đi vào âm nhạc Mỹ với sáng tác mang tên “PT-109” của Jimmy Dean.
Cuốn phim dựa trên nội dung câu chuyện thật của cựu tổng thống Kennedy được sản xuất từ năm 1963 đã đi vào lòng người xem những cảm xúc nhất định. Chú cháu tôi hào hứng nối tiếp nhau nhắc lại nội dung câu chuyện:
“PT-109 là sự kiện chìm tàu phóng ngư lôi mà thuyền trưởng là cựu tổng thống Kennedy đang mang cấp bậc trung úy vào năm 1943 thời Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sứ mệnh của tàu phóng ngư lôi là di chuyển sát với một tàu khu trục Nhật Bản ở Solomons trong bóng tối và sau đó tấn công bằng ngư lôi. Sinh hoạt trong vùng chiến sự ở Nam Thái Bình Dương luôn đầy hiểm nguy, khó khăn và thiếu thốn. Tàu PT-109 của trung úy Kennedy không có liên lạc bằng vô tuyến, không được trang bị dẫn đường bằng radar trong lúc bị tàu khu trục Amagiri của Nhật Bản cắt ngang qua mũi tàu theo đường chéo.Trung úy Kennedy ngã nhào xuống, va vào vách ngăn thép. Hai thủy thủ mất tích. Bảy người bị rơi xuống vùng biển đầy cá mập trong tiếng la hét hoảng loạn. Còn 11 người, họ bấu víu vào vòm tàu bị lật úp, lênh đênh cả đêm trên biển Thái Bình Dương, xung quanh là các hòn đảo của kẻ thù.
Không thức ăn, không nước uống, không sóng vô tuyến, không bè cứu sinh, không thuốc men. Tất cả đã bị dạt tứ tung trên mặt biển. Tàu trôi chậm về phía nam. Khi nhận thấy tàu sắp chìm, họ quyết định bỏ tàu và bơi vào bờ. Trung úy Kennedy dùng răng giữ dây buộc phao cứu sinh của một thủy thủ bị bỏng nặng và cõng người này trên lưng, bơi về phía hòn đảo cách đó gần sáu ki-lô-mét.
Họ mệt lả, kiệt sức khi tới được hòn đảo hoang vắng. Họ phải bò vào các bụi cây để trốn tàu của Nhật. Trên đảo không có thức ăn, nước uống, không có gì có thể tận dụng được nhằm duy trì sự sống. Hòn đảo là một cái bẫy tử thần mà đường kính chỉ vỏn vẹn 91 mét. Trung úy Kennedy quyết định bơi từ đảo này đến đảo khác để tìm xem có tàu PT nào đi ngang qua không. Cuối cùng, anh đã dẫn cả đội tới đảo Olasana và thủy thủ đoàn PT-109 được cứu thoát.”
Hiển nhiên là cuốn phim đã ảnh hưởng sâu đậm đến định hướng binh nghiệp của Cowboy: chọn Biệt Kích Lôi Hổ để chiến đấu với kẻ địch, với bệnh tật, với thiên nhiên, để trải nghiệm mưu sinh thoát hiểm, và để được trui rèn trong nghiệp vụ tình báo và kỹ thuật tác chiến.
Nghe tôi nhất định nhận là có chung họ Hồng Bàng với ông và nằn nì ông kể thêm về Biệt Kích Lôi Hổ nhằm hiểu đúng hơn, Cowboy phải bật cười:
– Vậy thì chú sẽ bắt đầu từ kỷ niệm đầu tiên lúc gia nhập Biệt Kích.
Ngày ấy chàng trai vừa được tuyển mộ đang trong thời gian chờ đợi để đơn vị tuyển đủ quân số cho trung đội. Buổi trưa ngày thứ ba tại Sở Liên Lạc, anh bước vào khu nhà ăn đến quầy lấy thức ăn bỏ vào khay và quay tìm chỗ ngồi. Phòng lớn phía ngoài chật cứng, chỉ còn chỗ trống trong phòng nhỏ được ngăn bởi bức tường cao ngang thắt lưng có bảng hiệu chữ O gắn trước cửa (khu vực dành riêng cho sĩ quan) ở xa hướng tay phải. Với khay thức ăn trên tay, anh điềm nhiên bước đến chỗ ngồi nơi góc tường. Lúc anh vừa bắt đầu ăn thì có anh nhà bếp người Mỹ da ngăm, khá to con tiến đến bàn anh.
– You cannot sit in this room. (Anh không được ngồi trong phòng này.)
– Let me finish my lunch, please. (Xin để tôi ăn trưa xong cái đã.)
Anh chàng Mỹ xem chừng giận dữ, quát lên như ra lệnh:
– No. Stand up! Get out of the room now or I’ll punch you out of here. (Không được. Đứng dậy ngay! Bước ra khỏi phòng ngay bằng không tao thụi cho mày ra khỏi đây.)
Bất cần. Ông bà ta có câu “Trời đánh còn tránh miếng ăn”. Anh thản nhiên vừa ngồi ăn vừa nhớ lại lời của mấy tay Nùng dặn nhau chỉ mới cách đây một, hai hôm: “Đi lính Lôi Hổ mà không ba gai là bị đuổi về không được nhận đâu!”
Thình lình anh nhà bếp phóng tới chộp tay trái anh định lôi tuột ra khỏi phòng. Với phản ứng tự nhiên, anh đưa tay lên đỡ gạt bằng cách chặt ngay đúng huyệt nơi cườm tay của hắn ta cùng lúc tiện thể đứng dậy thả cùi chỏ tay còn lại ngay ngực hắn trong chớp mắt. Đòn trúng nhẹ nhàng nhưng hắn đã phải loạng choạng thối lui. Anh bình thản nói với hắn:
– You don’t have the right to do that. I must protect myself. (Anh không được quyền làm thế. Tôi buộc phải tự vệ thôi.)
Tay phải anh vói cái ghế sắt để thủ thân (thật không uổng phí công lao của bố mẹ cho đi học võ thuật từ lúc chín tuổi để cường tráng thân thể), lúc này có anh Mỹ khác ngồi cách hai bàn đứng dậy nói to như hét:
– Take it easy, you guys! (Mọi chuyện ổn thôi, các bạn!)
Rồi anh ta quay sang anh nhà bếp:
– Let me take care of it! (Để tôi lo!)
Anh nhà bếp xụi lơ, bỏ đi.
Anh chàng Mỹ mới này khoảng trên dưới 30 tuổi, trông sáng sủa, cao ráo làm sao! Anh ta bưng khay thức ăn của mình bước đến bàn anh ngồi, nói năng lịch sự:
– May I sit here? (Tôi ngồi đây được chứ?)
– Certainly! (Đương nhiên rồi!)
– Are you a fresh soldier? I havent seen you before. (Lính mới hả? Hồi nào đến giờ tôi chưa thấy anh.)
Không để anh kịp trả lời, anh chàng Mỹ điển trai tiếp tục nói, “Thôi chúng ta nói bằng tiếng Việt đi. Anh có biết đây là phòng ăn của sĩ quan không? Anh muốn làm sĩ quan hả? Tôi là Trung úy Lực Lượng Đặc Biệt chính gốc, chịu trách nhiệm tuyển mộ và huấn luyện trung đội tân binh này, nhưng chưa tìm ra thông ngôn. Tôi nghe anh đối đáp với anh John nhà bếp khá sành sõi tiếng Mỹ, nên có thể nào cho tôi nói chuyện bây giờ với anh như một cuộc phỏng vấn không?”
Thế là cuộc phỏng vấn bất ngờ diễn ra. Đoàn Văn Khánh quê ở Chương Nghĩa Đoài, gần Bùi Chu, Phát Diệm, di cư vào Nam cùng với gia đình năm 1954. Khánh được gia đình cho theo học Pháp ngữ cấp tiểu học. Lên đến trung học thì bố Khánh, một người thức thời, khuyên anh nên chọn theo học Anh ngữ. Khánh đã có thể hưởng một cuộc sống an phận: anh là con trai độc nhất trong gia đình, có giấy chứng nhận sắc tộc thiểu số nên anh được miễn dịch. Tuy nhiên, bản chất khí khái không cho phép Khánh chấp nhận như vậy. Anh muốn làm nhiệm vụ người trai thời chiến bằng cách xếp bút nghiên gia nhập Biệt Kích hầu dễ dàng thoả chí tang bồng.
Cuộc đàm thoại thay cho phỏng vấn kết thúc với biên bản ký nhận hoán chuyển tình trạng hồ sơ của Khánh từ làm lính Biệt Kích chỉ mới ba ngày thành làm thông ngôn. Khánh bắt đầu làm quen với bộ quân phục đồ beo nút đồng, mũ bành to vè, và khẩu Revolvo (Ru-lô) nòng dài và giây đạn (có nhét đạn chung quanh) đeo lủng lẳng. Trông ra dáng một Cowboy oai hùng.
Tôi nối tiếp cuộc nói chuyện bằng câu hỏi:
– Cháu nghe nói tân binh Biệt Kích Lôi Hổ được đưa đến huấn luyện tại các căn cứ tiền đồn hoặc kế bên các trại Lực Lượng Đặc Biệt dọc theo hành lang biên giới như Khâm Đức, A-Shau, hay Khe Sanh, phải không ạ?
– Đúng đấy, nhưng Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành là nơi trắc nghiệm, tuyển chọn lại và cấp giấy chứng nhận mỗi khóa huấn luyện cho Biệt Kích Lôi Hổ. Đôi khi Biệt Kích cũng được gởi đến các quân trường khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà để có giấy tờ phù hợp chuyên ngành. Những căn cứ huấn luyện này tùy thuộc vào mục tiêu của các nhiệm vụ để cung cấp huấn luyện cần thiết: Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù thì cấp bằng dù, Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ chuyên huấn luyện về chiến thuật hành quân biệt động như rừng núi sình lầy hay hành quân viễn thám, Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt tại Đồng Bà Thìn phụ trách huấn luyện dây tử thần, bắn tỉa, vân vân.
– Biệt Kích Lôi Hổ cũng nhận huấn luyện căn bản tương tự như bao binh chủng khác, phải vậy không chú?
– Đại loại, huấn luyện căn bản của Biệt Kích Lôi Hổ bao gồm huấn luyện vũ khí đủ loại, di hành, cứu thương, mìn bẫy, mưu sinh, thoát hiểm, phản ứng cấp thời, bắt tù binh, võ thuật cho cận chiến, thậm chí đôi lúc có võ sư tiếng tăm ngoại quốc được thuê về dạy.
Cowboy cho biết thêm rằng Biệt Kích Lôi Hổ còn được huấn luyện tự do theo sở thích và khả năng để trở thành điêu luyện bằng cách học hỏi từ bậc đàn anh. Tốp tân binh nghe đi tập bắn thì khoái chí, mang một lần bốn thùng đạn, đến bãi bắn có đàn anh hướng dẫn, chỉ cách tháo, ráp súng tại chỗ và tập bắn vào bia bằng các-tông; dùng đại liên và súng lục bắn cho hết bốn thùng đạn, bắn tự do thoải mái chứ không theo bài bản như ở các quân trường: “Một viên đạn nạp. Nhắm từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu ruồi. Nín thở. Bóp cò.” Tối về tai người nào người nấy rát bùng, cấp chỉ huy quát gọi cũng chẳng nghe. Vài hôm sau được gọi đi tập bắn tiếp, tân binh rút kinh nghiệm chỉ mang một hoặc nửa thùng đạn, che bít hai tai, bắn kiểu tự do như trong xi-nê, tập đi tập lại cho đến khi bắn không cần phải nhắm mà vẫn trúng đích. Sau vài lần huấn luyện di hành, nếu cảm thấy nặng thì đổi súng khác nhẹ hơn, và cuối cùng đối với bất cứ loại súng gì (của địch lẫn của ta) Biệt Kích đều sử dụng rành rẽ.
Càng nghe càng hiếu kỳ, tôi hỏi thêm:
– Thế huấn luyện Biệt Kích Lôi Hổ có khác biệt cụ thể nào so với các binh chủng khác, thưa chú?
– Sự khác biệt ở chỗ là Biệt Kích Lôi Hổ được huấn luyện hàng ngày hàng giờ mà chính bản thân họ cũng không ý thức được là đang được huấn luyện. Qua sinh hoạt đời thường, họ được các toán trưởng Mỹ ngầm quan sát để hướng dẫn những bài học tình báo, thử thách lòng dũng cảm, sự nhạy bén khôn ngoan, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm biết bảo tồn danh dự và hy sinh cho chiến hữu, vân vân.
– Lý thú lắm, chú ạ!
– Thêm một khác biệt nữa là Biệt Kích Lôi Hổ không được huấn luyện quân cách như diễn hành hay chào kính bởi vì càng che dấu tông tích nơi công cộng thì càng dễ dàng thi hành phận sự.
– Quả là Biệt Kích Lôi Hổ phải trải qua bao thực tế để khả năng và thành tích chiến đấu được xem xét, trắc nghiệm và đánh giá kỹ lưỡng; do đó để được công nhận là một Biệt Kích Lôi Hổ xuất sắc trong toán thám sát ắt là một thử thách lớn.
– Không sai. Đã có biết bao tay giang hồ ngang tàng gia nhập Biệt Kích Lôi Hổ mà cũng phải đào ngũ ngay từ thời gian đầu huấn luyện. Cháu biết đấy, an toàn sinh mạng luôn là hàng đầu ở bất cứ tình huống nào cho nên mỗi lần nhận nhiệm vụ, Biệt Kích Lôi Hổ đều phải thực tập đội hình, vũ khí tác xạ, điều nghiên địa thế, khí hậu, phương tiện và vị trí di chuyển, phân công, cứu thương, vân vân. Các toán viên phải bảo đảm phối hợp hành động ăn ý dù chỉ thể hiện qua ánh mắt hoặc bằng cử chỉ để hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp.
Chuyển sang khía cạnh quyền lợi của Biệt Kích Lôi Hổ, tôi thẳng thắn hỏi ông:
– Phía Mỹ đãi ngộ Biệt Kích Lôi Hổ ra sao, thưa chú?
– Tùy theo toán trưởng Mỹ đề nghị dựa vào thành tích đạt được mà phía Mỹ tăng lương. Thỉnh thoảng có tháng Biệt Kích Lôi Hổ được lãnh lương hai lần, cũng có tháng lên đến ba lần. Chuyện khó tin nhưng vẫn xẩy đến với Biệt Kích Lôi Hổ của các toán thám sát. Bởi thế ở Huế có câu hò rằng “ơ…ơ… khi mô sông Hương cạn nước ơ…ơ… thì Lôi Hổ mới hết tiền”.
Tôi hỏi Cowboy về chuyện thăng cấp của riêng ông và được biết sau vài chuyến di hành huấn luyện vào sâu mật khu bên kia biên giới, cũng có những lần đụng địch quân, Cowboy được thăng cấp bậc là Trung úy Biệt Kích Lôi Hổ. Trung đội trưởng long trọng gắn hai baza màu đỏ bên hai cầu vai của Cowboy trước hàng quân.
Cowboy kể thêm rằng những lần đi công tác hay về phép Biệt Kích Lôi Hổ không phải qua bất cứ hệ thống kiểm soát nào của phi trường và cũng không phải chờ đợi. Xe của Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát sơn màu đen không có bảng số, chỉ treo một cái thẻ bằng cỡ căn cước, ra vào cổng phi trường trình cho Quân Cảnh xem là được ngoắc tay cho đi qua.
Tôi nghe đến đây thì buột miệng:
– Kể thì oai quá!
– Thật ra Biệt Kích Lôi Hổ như tụi chú rất giản dị và bình thường, tương tự như bao người lính khác của các binh chủng oai hùng thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa; hoặc e là không bằng họ nữa là khác.
Vẫn lời lẽ khiêm tốn, Cowboy không quên nhấn mạnh rằng những chiến tích mà các toán thám sát Lôi Hổ lập nên còn được sự yểm trợ của những đôi cánh thép trong các chuyến bay thả biệt kích dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh của Phi Đoàn Thần Phong 219. Phi đoàn 219, hậu thân của biệt đoàn 83, tăng phái cho Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát, được phi công của hai phía Việt-Mỹ và các Biệt Kích biết dưới danh hiệu “Kingbee”. Mặc dù không trú đóng cùng căn cứ với Biệt Kích nhưng mức độ hiểm nguy của nhiệm vụ thả và bốc toán của phi đoàn 219 không thua gì nỗi chết rình rập bên Biệt Kích Lôi Hổ. Các phi công Thần Phong gan dạ và tài tình, bất kể thời tiết xấu hay đạn pháo đối phương bủa vây vẫn bằng mọi cách đáp xuống để đem Biệt Kích và xác chiến hữu ra khỏi vòng vây địch.
Ông đồng thời nhắc đến một nhân vật anh hùng trong Phi Đoàn Thần Phong 219 cũng được mệnh danh là “Cowboy”.
– Thế còn chú thì sao? Cháu được biết một nhiệm vụ mà chú thi hành đã có mã “Cowboy” để liên lạc truyền tin. Nhưng từ lúc nào và tại sao biệt danh “Cowboy” gắn liền với tên tuổi của chú trong sự ngưỡng mộ vượt bực của Biệt Kích Mỹ?
Ông cười vang:
– Do từ một câu chuyện được nhắc rồi nhớ chứ thực sự bản thân chú không nhớ.
Đó là sau lần đụng địch bị thương phải cưa bỏ chân và không thể tác chiến được nữa, Cowboy được điều phái đến phòng truyền tin.
Một buổi sáng mở cửa phòng làm việc, Cowboy Khánh Đoàn bất ngờ thấy trong phòng lố nhố các trưởng ban, một số sĩ quan, và một người Mỹ ăn vận dân sự. Một trưởng ban giới thiệu Cowboy với người Mỹ này:
– Đây là người mà ông đã muốn gặp từ tối qua đến giờ.
Người Mỹ quay qua chăm chú nhìn Cowboy, hỏi một loạt “Mày là Cowboy?”, “Mày trú đóng tại Tiền Doanh 1?”, “Mày thuộc toán thám sát ALABAMA?”, “Mày giữ vị trí 02?”.
Cowboy đi từ ngỡ ngàng này sang ngỡ ngàng khác. Mỗi câu hỏi được đáp với một cái gật đầu.
– Mày có biết tao là ai không?
Lần này câu trả lời là cái lắc đầu kèm theo cái nhíu mày.
Người Mỹ tiến sát gần, nhìn sâu vào mắt Cowboy:
– Mày đúng là Cowboy rồi.
– Thì chớ sao nữa!
– Ô-kê, nếu mày thực sự là Cowboy thì tao sa thải mày ngay từ lúc này.
Đến lúc đó thì Cowboy nổi nóng. Bản chất ngang tàng trỗi dậy, Cowboy lớn tiếng:
– Tao cóc cần biết mày là ai hết. Tao chỉ biết mày đuổi việc tao là hết sức phi lý vì tao đang cần tiền nuôi vợ con. Cho tao biết lý do sa thải đi.
– Rõ ràng mày không biết hoặc không nhớ tao là ai hết sao?
– Tao đã nói tao chẳng nhớ mày là thằng quái nào rồi mà.
– Tao đã cố tình nhắc đến Tiền Doanh 1, rồi toán thám sát ALABAMA, rồi vị trí 02, vân vân, thế mà mày vẫn không thèm nhận ra tao nữa ư?
Giọng nói lộ vẻ thất vọng rõ rệt, rồi bất ngờ người Mỹ dang hai tay ôm ghì lấy Cowboy thiếu điều nghẹt thở, đoạn quay qua nói với mọi người:
– Cái cấp bậc trung tá của tao ngày hôm nay là của nó. Cái chức vụ Chỉ huy trưởng Cố vấn Quân Đoàn 1 sắp tới của tao cũng là của nó.
Cowboy đứng như trời trồng, ngẩn ngơ.
Người Mỹ ăn vận dân sự chính là trung tá Granham. Cùng ngày, tại buổi lễ nhận chức vụ mới, vị trung tá kể lại câu chuyện trước sự hiện diện của các chiến hữu tham dự.
“Ngày đó, trung tá Granham còn là đại úy, nhận nhiệm vụ truyền tin nhập với toán Cowboy. Xảy ra đụng địch, phía đối phương quăng lựu đạn chày. Máu toé đầy mặt viên đại úy khiến hắn tối tăm mặt mũi không mở mắt được, giãy giụa, thét la đau đớn.
Cowboy lúc đó đang ẩn nấp sát bên cạnh viên đại úy, cảm thấy bất ổn, không còn giải pháp nào khác hơn, chỉ còn cách chĩa họng súng ngang mang tai hắn ta, rít khẽ:
– Mày không im miệng là tao cho mày đi luôn.
– Tao trúng rồi. Làm sao đây?
– Để tao tính.
Từng được huấn luyện cứu thương, Cowboy mở vội ba-lô sơ cứu tại chỗ: băng bó tạm, tiêm ngay morphin để viên đại úy bớt rên rỉ. Viên đại úy vẫn không thể mở mắt được nên Cowboy quyết định chớp nhoáng: lệnh cho toán ở lại cự địch và đồng thời bắn yểm trợ để anh cõng viên đại úy chạy đến nơi trực thăng cứu thương sẽ đáp. Với khuôn mặt nhòe nhoẹt máu và bệt bùn đất, viên đại úy nằm đó nghe rõ mồn một chỉ thị của Cowboy, gượng bò lên bám vai anh, trút bỏ ba-lô cá nhân để giảm trọng lượng, gắng nương theo để Cowboy cõng chạy men theo sườn đồi.
Những tưởng rằng chiến tranh khiến con người ta trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng kỳ thực chính chiến tranh tạo ra lắm thứ hết sức đời thường. Cái đời thường ở đây chính là tình chiến hữu sống chết có nhau.
Hai tiếng đồng hồ có dư, tính từ lúc Cowboy cõng chạy người chiến hữu bị thương trên lưng và miệng liên tục thốt ra lời khích lệ trong giọng nói hổn hển, ngắt quãng: “Mày ráng chút nữa. Đừng lo. Có tao bên mày đây.” Khoảng cách đến bãi đáp không quá xa nhưng sức nặng quá tải khiến Cowboy phải nghiến răng, thở hồng hộc lên đồi xuống dốc. Vùng biên giới Lào tựa chảo đang rang cát. Nóng thiêu. Khô bỏng. Mồ hôi tuôn ròng mờ mắt. Hai thân người đổ chập thành một bóng dài trong một đôi chân đang rảo chạy. Đôi chân vững chãi ấy có vài lần chậm lại để liên lạc truyền tin hay quan sát tình hình, phán đoán, và quyết định hành động ứng biến. Chỉ khi nghe tiếng cánh quạt của trực thăng nặng nề vang dội trên đầu thì Cowboy biết mình đã tròn trách nhiệm với chiến hữu.
Biệt Kích Lôi Hổ đa số là dân tứ xứ ở Việt Nam, trai tráng độc thân, vào sinh ra tử cùng nhau biết bao lần, lúc bình thường cũng như lúc lâm nguy họ đều chia sẻ hy sinh cho nhau. Họ không có gì để mất mát hay đổi chác nên cũng chẳng cần bon chen, so đo tính toán. Họ không thích bị ai ăn hiếp và quan niệm cái quý giá nhất là mạng sống con người. Dẫu chỉ còn một chiến hữu sống sót thì cũng phải bằng mọi giá đưa người chiến hữu ấy trở về cho bằng được. Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, tình huynh đệ chi binh ngấm vào xương vào máu họ rồi. Cowboy cho rằng điều mình làm không là ngoại lệ.
Thành thử ra, sau khi viên đại úy bị thương được tải lên trực thăng an toàn, Cowboy quay trở lại nhập toán cùng anh em tiếp tục thi hành nhiệm vụ. Cowboy quên phắt câu chuyện.
Ngược lại, những giờ phút sống chết bên nhau thấm đẫm tình chiến hữu lại không dễ phai mờ trong tâm trí của viên đại úy ngày đó tức viên trung tá khi gặp lại Cowboy. Lời kết ông gửi đến các chiến hữu đang lắng nghe câu chuyện là: “Tôi tuy là người Mỹ nhưng rất ngưỡng mộ Biệt Kích Việt. Họ liều lĩnh, bất khuất, và nhất là không bỏ rơi chiến hữu. Cowboy lúc đó đã có thể bỏ rơi tôi vì tôi rên la làm cho đối phương dễ truy kích và có thể bắn chết anh ấy nhưng Cowboy đã không màng đến mạng sống của mình mà còn tìm cách an ủi cho tôi giảm đau đớn. Từ trước đến nay tôi chưa phục ai mà chỉ phục Cowboy. Một Cowboy thực sự.”
Phi đoàn trực thăng 219 hay Biệt đoàn 83 Thần Phong – Long Mã tức Biệt đội Delta cũ (The Immortal King Bee) chuyên phụ trách những phi vụ thả và bốc các toán Biệt Kích nằm trong vùng địch, dọc đường mòn HCM, có khi sâu vào biên giới Lào và Cao Miên.
Lần “sa thải” đó đã cất nhắc Cowboy lên chức vụ đại đội trưởng Đại đội An ninh Cố vấn Quân Đoàn 1.
Các lời khâm phục từ Biệt Kích Mỹ được miệng truyền miệng nhanh chóng. Thêm nhiều câu chuyện được kể về những lần đụng địch khác mà Cowboy cùng vào sinh ra tử với anh em và sự ứng biến tài tình của Cowboy đã cứu nguy cho cả toán. Biệt danh “Cowboy” là một dấu ấn vinh dự trong cuộc đời cầm súng của ông.
Nhân khi tôi nhắc hỏi về chuyện cái chân bị cưa bỏ sau lần đụng địch, Cowboy bồi hồi:
– Cháu có biết không, sở dĩ chú nhớ quá rõ ngày 19 tháng 8 năm 1971 vì đó là ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trong bài diễn văn của ông rằng “Ai đứng trên giòng sông Tchepone (Lào) thì người đó thắng cuộc.” Điều trùng hợp là ngày đó toán thám sát của chú đang ở trên giòng sông Tchepone. Chú bị thương ở chân và được trực thăng tải về trị thương tại Bệnh viện 95 của Mỹ ở Đà Nẵng. Không may là cái hố mà anh em kéo chú ra khỏi là một hố bom nên chân chú bị nhiễm trùng gây sốt cao. Các bác sĩ hội chẩn và báo cho chú biết phải cưa khúc chân đó bằng không sẽ bị hoại tử mà chết.
– Xem ra chú không còn lựa chọn nào khác ngoài giải pháp cưa bỏ chân?
– Không phải vậy cháu ạ. Cháu nghĩ xem, chú sinh ra để chiến đấu mà bây giờ cắt bỏ chân thì chi bằng để chú chết sướng hơn.
Ông trầm ngâm giây lát và nói tiếp:
– Cháu biết mà, bác sĩ Mỹ chỉ thực hiện ca mổ với sự đồng ý của bệnh nhân, cụ thể là ký vào giấy tờ hoặc có nhân chứng. Y sĩ đoàn thấy xem ra khó thuyết phục để chú đồng ý cưa bỏ chân nên họ ngầm vận động các toán Biệt Kích Mỹ-Việt kéo đông đến bệnh viện vòng trong vòng ngoài nhất mực khuyên chú cưa bỏ chân để anh em còn thấy mặt.
Rồi ông chùng giọng:
– Hỏi cháu rằng chú còn biết nói gì nữa? Anh em sống chết hết lòng với nhau là vậy. Thời gian trị thương tưởng nhanh nhưng hóa ra lâu quá, mãi đến tháng tư năm sau chú mới được xuất viện. Chẳng phải vì bác sĩ Mỹ không giỏi đâu, ngược lại đằng khác, nhưng là do chú: đang ngồi xe lăn mà thấy anh em đến thăm là chú đứng bật dậy đi hiên ngang về phía họ định tay bắt mặt mừng nhưng quên rằng mình đã cụt chân. Nào phải một lần, ít nhất ba lần như thế nên đầu xương rớt ra, phải làm lại…
Ký ức về thời cầm súng hiện hữu trong tim, trong óc Cowboy mỗi ngày, kể bao lâu mới hết!
Cách đây hơn 5 năm, Cowboy được vinh danh là hội viên danh dự của Hiệp Hội Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ bao gồm các hội viên từ các cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai, Triều Tiên, Việt Nam, Grenada, Somalia, vùng Balkans, Afghanistan, Iraq, vân vân. Dịp đó, một người Mỹ ăn vận dân sự sải bước đến vỗ vai thân mật hỏi Cowboy “Mày nhận ra tao không hả Cowboy? Tụi mình cùng là toán viên tại Tiền Doanh 1 đây mà.” Người Mỹ dân sự chính là cựu thiếu tướng Eldon A. Bargewell. Thấy Cowboy gục gặc đầu, ông tướng cười sảng khoái “Mày chịu nhận tao rồi vậy tụi mình chụp một tấm ảnh làm kỷ niệm đi, Cowboy.”
Nhân thể, tôi liên tưởng đến một vị tướng khác, chuẩn tướng Terry Tucker, thời còn tại nhiệm với chức vụ chỉ huy trưởng Lực Lượng Đặc Nhiệm Hỗn Hợp (Joint Task Force Full Accounting – JTFFA) vào cuối thập niên 90, đã hết lời ca ngợi khi bất ngờ biết được Cowboy tuy đã mất một chân mà vẫn tình nguyện sang Lào để hỗ trợ đội công tác tìm kiếm hài cốt của các biệt kích Mỹ trong nhiều năm liền. Nghe tôi nhắc nhớ, Cowboy chia sẻ với tôi rằng ông chỉ đơn thuần muốn đem đến một sự an ủi cho hương hồn của các Biệt Kích Mỹ-Việt, các chiến sĩ Thần Phong còn bơ vơ trong rừng núi bạt ngàn của xứ người, chưa được trở về đất mẹ.
Góp công sức tìm kiếm chiến hữu mất tích đã đành, mà đối với chiến hữu đã hy sinh, Cowboy cũng đậm tình. Tôi biết điều này qua lời kể của Martha Cryan, em gái của Biệt Kích Mỹ Kenneth Cryan. Khi được báo tin về cái chết của anh trai, Martha quá đỗi buồn đau, chỉ ít lâu sau cùng gia đình chuyển sang Châu Âu sinh sống trong suốt 24 năm. Khi trở lại Mỹ, điều đầu tiên cô làm là đến thăm anh trai Kenneth tại Nghĩa Trang Quốc Gia Golden Gate ở Bruno, California, đúng vào Ngày Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong. Bất chợt thấy một cựu chiến binh Châu Á trong quân phục và bê-rê xanh đang quì trước mộ của anh trai mình, cô lặng người xúc động. Hỏi ra mới biết rằng Cowboy là chiến hữu của Kenneth. Nhiều năm trước đó khi thông tin về những hoạt động của Biệt Kích Mỹ-Việt ở lãnh thổ Lào chưa được bạch hóa, Martha nào biết gì hơn ngoài sự thông báo về cái chết của Kenneth. Giờ đây cô được nhận niềm an ủi lớn lao là anh trai cô đã từng có chiến hữu đồng cam cộng khổ nhớ đến mình và bất kể dù còn sống hay đã chết, tình đồng đội của họ bất diệt.
Đối với các chiến hữu còn sống vất vưởng bên quê nhà, Cowboy còn trăn trở hơn.
Biệt Kích Lôi Hổ được tuyển mộ để thế thân cho lính Mỹ thành thử ra không có số quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ có mã hoặc ẩn số do Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát cấp phát. Tiếc thay, các toán thám báo Biệt Kích Lôi Hổ trên danh nghĩa chỉ được liệt kê là Đơn Vị Nghiên Cứu và Quan Sát thuộc Bộ Chỉ Huy Trợ Giúp Quân Sự Hoa Kỳ ở Việt Nam mà không được xem là một đơn vị tác chiến.
Nếu hoàn tất nhiệm vụ, thì sống. Dẫu thương tích đầy mình hoặc thậm chí hy sinh tính mạng, thì không huy chương nào được trao tặng hoặc truy tặng. Bị lộ, bị bắt thì họ không được hưởng chút quyền lợi nào từ qui chế tù binh Genèva; ngay cả các cơ quan nhân đạo quốc tế như Hội Hồng Thập Tự, Hội Ân Xá Quốc Tế cũng không biết cách nào để can thiệp.
Xem ra, một khi người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến không qui ước thì phải chấp nhận qui luật của cuộc chơi. Một cuộc chơi quyết liệt và tàn nhẫn. Dù sống hay chết thì tên của họ cũng đều nằm trong bóng tối.
Cho đến thời điểm hiện tại, Biệt Kích Lôi Hổ vẫn chưa được công nhận thuộc về một quân đội nào, một chính phủ nào. Công nhận tính chính danh của Biệt Kích Lôi Hổ đồng nghĩa với trách nhiệm của chính phủ sở tại là thực hiện quyền lợi cựu chiến binh cho họ.
– Đối với Biệt Kích Lôi Hổ, danh dự được công nhận vẫn là điều quan trọng hơn quyền lợi.
Cowboy thốt lời khẳng khái để rồi lời tâm sự tiếp sau nghe chút gì chua xót:
– Từ ngày đặt chân sang Mỹ, chú đã cùng với anh em phối hợp thu thập chứng cứ, lập hồ sơ để chính phủ sở tại cứu xét trường hợp Biệt Kích Lôi Hổ. Đồng thời, các chiến hữu Biệt Kích Mỹ cũng nỗ lực không ngừng nghỉ để vận động chính giới lưu tâm. Đến giờ này vẫn chưa có được số hồ sơ tại tòa án thì còn nói gì được đây? Thú thực đã có những khi chú rất chán nản.
Chúng tôi ngậm ngùi trao đổi nhau tiếng thở dài tháng tư.
– Xin chú Cowboy đừng tuyệt vọng!
Yên lặng từ đầu giây điện thoại bên kia.
– Chú Cowboy ơi, đừng bỏ cuộc!
Vẫn yên lặng. Tôi ước ao có đôi đũa thần biến ước mơ của Cowboy thành hiện thực hơn là gắng thốt ra những lời an ủi vụng về của mình.
Giây lâu sau Cowboy cất lời khẽ đủ tôi nghe:
– Không đâu! Chú sẽ không tuyệt vọng. Chú sẽ không bỏ cuộc. Anh em còn cần chú.
– Bravo chú Cowboy! Hội ngộ Biệt Kích Mỹ-Việt năm nay, cháu sẽ thu xếp đến sớm trước một ngày để gặp mặt chú.
Kể cũng lạ! Chú cháu tôi ở cách nhau chưa đầy hai tiếng đồng hồ lái xe, vậy mà không chịu gặp mặt ngay.
Phải đợi thêm một thời gian nữa sẽ đáp máy bay đến một nơi họp mặt để chung tay chung sức và để cùng chia sẻ về một hy vọng một ngày trong tương lai Biệt Kích Lôi Hổ gốc Việt sẽ được công nhận là cựu chiến binh Mỹ, những người đã từng cống hiến và hy sinh trong công cuộc bảo vệ chính nghĩa.
Vậy mới là duyên ngộ. Phải vậy không chú Cowboy?
***
Chú thích của người viết: 02 là chức vụ thông ngôn trong các toán thám sát của Biệt Kích Lôi Hổ.
Những ngày gió nhẹ biển êm, giữa đêm khuya chợt giấc, tôi có thói quen ra boong nhìn trời, ngắm trăng, ngắm sao và những chòm đèn của những con tàu xa xa. Đêm nay trăng khuyết mà trời trong quá, nên thấy những vì sao sáng tỏ. Nhìn vầng trăng già hơn nửa mảnh treo ngang vòm trời, tôi nghĩ tới một đời người có khác nào vầng trăng khi tròn, khi méo, thoáng chốc lụi tàn. Kiếp người ngắn ngủi, ấy vậy mà hổng biết là bao nhiêu chuyện vui, chuyện buồn, chuyện suông sẻ, chuyện éo le xảy ra trong đời sống. Có chuyện tưởng chừng như theo thời gian quên lãng, nhưng rồi chỉ trong giây phút tâm trí bừng sáng và nhớ lại một cách rõ ràng.
Những tháng năm tập tễnh hải hành, tôi đi đi, lại lại hải cảng Belfast mỗi tuần một lần, cảnh vật nơi đây tôi cũng đã quen. Sau đó tôi đổi những tuyến đường xa, cho tới năm nay, hơn ba mươi năm rồi, tôi mới trở lại tuyến đường Belfast. Bao năm trôi qua, quang cảnh nơi này có nhiều thay đổi, hồi đó mùa đông tuyết rơi nhiều lắm nhưng bây giờ thì ít hơn, cây cối trụi lủi, trơ cành, những con đường trơn nhớt. Ở đây ít khi trời trong và khô ráo, cảnh vật luôn mơ màng và thường mỗi sáng có sương mù, hiếm hoi lắm mới có ngày nắng đẹp. Trước kia khi tới một vùng đất mới, ban đêm tôi có thể đi lang thang nếu mệt thì vô quán ngồi. Nhứt là bên Nam Mỹ, ở những nước có khu ăn, uống bình dân mở cửa suốt đêm, tôi có thể vào đó ngồi uống bia tới sáng. Bây giờ đi mới nửa khu phố tự dưng tôi hổng muốn đi nữa, đúng là tâm trạng làm biếng của tuổi già, chớ hổng phải vì tuổi già sức yếu. Nghĩ tới tuổi tác, tôi mỉm cười một cái rồi quay gót giày đi trở về hội quán.
Vô hội quán tôi thường ngồi mình ên trong góc, uống nước lọc và nhìn người ta sinh hoạt. Đã qua hơn ba mươi năm rồi, nhân viên trong hội quán đã thay đổi hết, lớp nhân viên trẻ thay lớp già nên tôi hổng còn người quen trong hội quán nữa. Nhưng hổng sao, nhân viên hội quán luôn lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện và rất tử tế, thủy thủ cần gì thì họ tận tình giúp đỡ. Tôi mới quen với Bryony, cô nhỏ là nhân viên tiếp thị của hội quán, cô thường xuyên xuống tàu nạp tài khoản internet và xem thủy thủ có cần giúp đỡ gì không. Nghe thủy thủ trên tàu gọi tôi là uncle, cô cũng bắt chước gọi tôi là uncle, tiếng Anh uncle nghĩa là chú. Chuyến trước Bryony xuống tàu trong lúc thủy thủ ra boong hết nên tôi ngồi tiếp cô nhỏ. Cô hỏi tôi:
– Chú có thường lên hội quán?
Tôi cười:
– Có chớ mỗi khi ghé đây là chú lên, hơn ba mươi năm trước, hội quán này là nhà của chú, dạo đó trong hội quán ai cũng biết chú.
– Oh, chú còn nhớ ai không?
– Còn, còn nhớ ông John, vì ông ấy thương chú lắm.
– À, con biết ông John.
Nhắc tới ông John tôi nhớ lại, ông John là nhân viên hội quán, ông đứng quày rót bia và rượu cho khách, tiếng Anh gọi là bartender. Lần đầu tôi mua bia, ông hỏi tôi:
– Bia gì?
Tôi nói:
– Bia gì cũng được miễn là của nước Anh.
Ông cười vui vẻ vừa đưa tay lấy ly và lon bia ông vừa nói:
– Ô kê, ô kê…When in Rome, do as the Romans do.
Thấy ông đưa cho tôi bia Guinness. Tôi nói:
– Guinness là bia của Ái Nhĩ Lan mà.
Ông nói:
– Đúng đúng, nhưng đây là hải đảo của Ái Nhĩ Lan.
– Cũng được, tôi nói, Guinness là bia đen của Dublin, nổi tiếng thế giới.
– Đúng đúng…
Từ đó tôi mới biết Belfast là phần đất của Anh quốc nằm bên hải đảo Ái Nhĩ Lan và tôi thuộc luôn câu thành ngữ “When in Rome, do as the Romans do”, nghĩa là “Nhập gia tùy tục”. Ông John hỏi tôi là người gì. Tôi nói:
– Tôi là người Việt.
– Nam Việt hay Bắc Việt?
– Nam Việt.
– Oh! Southern Vietnamese, boat people!
Nghe ông hô lớn, nhân viên trên hội quán và nhiều thủy thủ hướng mắt về tôi. Khi tôi quay ra tìm chỗ ngồi thì nhiều thủy thủ ân cần mời tôi ngồi chung, mời tôi cụng ly, uống cạn bia họ mua thêm bia cho tôi uống. Có người hãnh diện khoe tàu họ đã từng vớt người tị nạn rồi đưa về trại Tân Gia Ba và nhiều người hỏi tôi về chuyện vượt biển. Lúc đó tôi nói tiếng Anh còn bập bẹ, phải chi dạo đó có điện thoại thông minh và Google dịch như bây giờ thì tôi đỡ mỏi tay. Tôi nói chuyện bằng tay nhiều hơn bằng miệng, nhưng mọi người vẫn chăm chú lắng nghe, có lẽ họ nghe bằng mắt nhiều hơn bằng tai. Hổng biết họ hiểu câu chuyện tôi kể được bao nhiêu, nhưng tôi cảm nhận được, trong mắt họ tôi là người đáng thương, cần được an ủi và giúp đỡ. Cũng từ đó trở đi nhân viên hội quán gặp tôi ai cũng vui vẻ đón chào và hổng gọi tên cúng cơm tôi mà gọi biệt danh tôi là Boat People.
Hổng riêng gì người Anh cư xử tử tế với thuyền nhân. Thời gian đó tôi ghé bất cứ những nước tự do nào trên thế giới, người ta nghe tôi giới thiệu: “I am Vietnamese.”Tức thì có người hỏi:“Nam Việt hay Bắc Việt?” Khi biết tôi người miền Nam Việt Nam, nhiều người trố mắt ra vẻ cảm thông và kinh ngạc hô lên: “Oh! Boat people! hoặc ! Southern Vietnamese boat people!”. Có người đưa ngón tay cái ra trước mặt tôi gặt gặt và có người thân thiện vỗ vai, nói:
– Southern Vietnamese people is good, very good…
Ông John là người ân cần và luôn giúp đỡ tôi, mặc dù tôi có việc làm và có tiền mua sắm, nhưng ông cũng chỉ cho tôi chỗ máng áo, quần, khăn, nón, đồ dùng cũ mà hội quán dành cho thủy thủ. Cũng từ đó tới nay, những ngày hải hành, ghé hội quán tôi thường tới chỗ máng áo quần cũ lựa cái nào vừa lấy về mặc. Ông John về nhà kể với vợ ông sao đó mà thỉnh thoảng bà mua kem đánh răng, bàn chải và xà bông gội đầu để sẵn trong bọc, nhờ ông đưa cho tôi.
Tôi hỏi Bryony:
– Ông John còn khoẻ không?
Cô nhỏ đưa bàn tay ra lắc:
– Hông biết, lâu rồi con không gặp ông ta.
– Oh, vậy con có biết địa chỉ của ông ấy không?
– Không, nhưng con tìm được.
Ngẫm nghĩ một chút, tôi lưỡng lự và nói với Bryony:
– Lâu quá rồi, hổng biết ông John còn nhớ chú không.
Bryony cười:
– Không thành vấn đề, chú còn nhớ ổng là tốt rồi.
Hôm kia tàu ghé bến tôi nhận tin nhắn của Bryony, cô nhỏ hẹn tôi tối lên hội quán, ông John sẽ xuống thăm. Trước kia, hội quán lúc nào cũng chật nứt người, bàn nào cũng đầy bia rượu, thủy thủ ăn to nói lớn ồn ào. Bên góc phòng đặt cả chục hộp điện thoại nhưng thủy thủ vẫn đứng dọc dài chờ để gọi về thăm nhà. Bây giờ những hộp điện thoại công cộng đã dẹp hết, thủy thủ nào cũng có điện thoại thông minh, họ ngồi chung nhau nhưng mắt chăm chú nhìn màn hình, ngón tay rà rà bấm bấm lên mặt điện thoại, người nào muốn nói chuyện với gia đình thì ra góc ngoài đứng tha hồ nói, không khí hiền hoà nhưng trông có vẻ lạnh lùng.
Hổng biết từ bao giờ, tôi quên bẵng cái quốc tịch và hổng màng tới mình là người gì nữa. Ai hỏi tôi phải là người In Đô không, tôi yes và hỏi có phải Phi Luật Tân không, tôi cũng yes. Lâu rồi tôi cũng hổng nghe ai hỏi tôi câu: “Ông có phải người Việt không?” Nhưng tôi có nghe đầy tai về chuyện người Việt giết người, cướp của, trộm cắp, buôn người, trồng cần sa và bán ma túy xuyên quốc gia. Ở Anh quốc những tiệm nails trốn thuế và chứa chấp nhiều người ở lậu, trẻ em trong tuổi vị thành niên bị bóc lột sức lao động, người làm việc bất hợp pháp bị bắt nhiều vô số, bắt hoài mà hổng hết. Không phải riêng nước Anh, mà khắp Âu Châu này, nhiều nhứt là nước Nga và những nước Đông Âu. Bọn buôn người như buôn bán thú vật chở trên những xe hàng, con người ta mà chúng coi như là heo, gà, vịt đem nhét đầy nhóc trong những containers chở xuyên qua nhiều biên giới. Khi bị cảnh sát phát hiện, moi ra thì người nào người nấy ngất ngư gần chết và cũng có khi khui container thấy có người ngột thở chết queo, trong số đó nhiều nhứt là người ở Việt Nam. Cũng có người Việt tổ chức vượt biển đưa người vô nước Anh bằng ca nô bị cảnh sát biên phòng bắt. Những người Việt ngày nay tài giỏi thiệt, nước Việt Nam nằm xa mù chì bên kia bán cầu, phải qua hai đại đương, đi tàu buôn phải mất hơn hai tuần lễ, ấy vậy mà sao nhiều người Việt có mặt trong những containers và trên những chiếc ca nô nhỏ xíu bên tận trời Âu lạnh lẽo này.
Trong lúc tôi đang suy tư về quá khứ, chợt có một thủy thủ tới khèo vai và kề mặt sát vào mặt tôi, tôi nghe nực nồng mùi bia, ông hỏi:
– Ông có phải là ông Tấn đầu bếp?
– Tôi ngước nhìn ông khách một cái, như một tia chớp trong đầu, tôi nhận ra ông ngay:
– Oh, Bobby.
Gặp lại đồng nghiệp cũ, giống như gặp hồn ma hiện về. Trong lòng tôi hổng mừng vui và cũng không vồn vã. Tôi chỉ chiếc ghế trước mặt nói:
– Ngồi xuống, ông khoẻ không?
Vẫn thái độ giống như hơn hai mươi năm về trước, lè nhè khi say xỉn. Ông vừa ngồi xuống vừa nói:
– Khoẻ khoẻ… Ông vẫn còn làm cho công ty cũ à.
– Ờ, vẫn làm bình thường. Dạo này ông sao rồi, vợ con gì chưa?
– Vẫn vậy, vẫn độc thân và vẫn làm thủy thủ.
Bobby và tôi quen nhau hồi còn trẻ, ông lớn hơn tôi vài ba tuổi gì đó, hồi đó tôi và ông đi chung tuyến đường từ Pháp sang Belfast này. Sau vài năm tàu hết hợp đồng tôi và ông cũng đổi tàu khác nhau và sau đó nghe có một đồng hương của ông nói ông đã chết rồi. Sống chung với đân In Đô đã lâu, tôi cũng biết cái tánh ba xạo nói láo của họ cũng hổng thua người Việt mình, nhưng với tánh hay say xỉn, lè nhè giống như Bobby, nghe nói ông chết, tôi tin ngay. Vì vậy hôm nay tình cờ gặp lại ông tôi có cảm giác như gặp một hồn ma. Tôi đứng lên đi lại quày mua bưng lại cho ông ly bia. Bobby nhìn chai nước lọc trước mặt tôi, ông hỏi:
– Mày hổng uống bia sao?
– Uống, nhưng thỉnh thoảng thôi.
Lúc đó tôi thấy Bryony vô hội quán và đi lại phía bàn tôi, nhưng hổng hiểu sao cô nhỏ quẹo qua đi vô đứng trong quày ba đưa tay ngoắc ngoắc tôi lại. Tôi đứng dậy đi tới hỏi chuyện gì. Bryony đứng phía trong quày bar chồm ra nói với tôi:
– Ông John hổng tới được.
– Ô kê.
Tôi đi lại bàn vừa ngồi xuống thì Bobby đưa ngón tay ra dấu tục, và hất mặt về phía Bryony. À, tôi hiểu vì sao Bryony vừa thấy Bobby thì cô nhỏ quay gót đi vô trong. Tôi làm mặt nghiêm, nói với Bobby:
– Ở đây là Seamen’s mission ông à. Ông muốn đàn bà, con gái sao hổng ra quán Bar ngoài góc phố:
Ông lắc đầu:
– Ngoài đó cũng hổng còn đàn bà như trước nữa.
Tôi nhìn Bobby, ngoài sáu chục rồi, lại say xỉn như ông thì còn hơi sức đâu mà gái với gộc. Tôi nói:
– Tui quên, thời tui với ông còn trẻ, chưa ai biết virus HIV nên đàn bà con gái, tự do xuống tàu chơi với thủy thủ. À, mà ông già rồi còn chấm mút được mẹ gì mà đòi đàn bà?
Ông cười kha kha rồi đưa bia lên hớp một cái, để ly xuống ông nói:
– Có đàn bà nhìn cũng vui mắt, ông khoa tay một vòng nói, mày hổng thấy sao, toàn toàn là đực rựa mà thằng nào thằng nấy giống như con gà chết. Nhìn gương mặt lừ đừ, hổng còn chút mùa xuân của ông, tôi hết muốn dây dưa. Tôi nói:
– Thời đại nào, cuộc sống đó. Tụi nhỏ là gà chết còn tui với ông thuộc loại gà già, hết gáy được rồi, nói chi chuyện đá, thôi cho qua chuyện đàn bà, con gái đi cha nội.
Bobby bưng ly bia lên uống, để ly xuống, hổng nói gì mà chỉ gừ gừ trong cổ họng. Nhìn tướng tá ốm nhôm như con khô hố của ông và nghỉ tới một con người sống không chịu lập gia đình, chỉ biết có bia, rượu và gái giang hồ mà lây lất sống cho tới ngày hôm nay thì cũng là lạ. Chợt nhiên tôi thốt lên:
– Oh, Ghosts!
Bobby giựt mình nhìn tôi, có lẽ ông tưởng tôi kêu Trời, ông hỏi:
– Chuyện gì?
Tôi mỉm cười:
– Không, hổng có gì hết.
Hẹn với ông John, ổng hổng tới được, coi như xong rồi. Mọi hôm thì Bryony thường lại ngồi nói chuyện chơi với tôi, hôm nay bị Bobby làm kỳ đà cản mũi, nên con nhỏ hổng tới được. Tôi thấy mình cũng không còn lý do gì ngồi nán lại đây nữa. Tôi đứng lên bắt tay từ giã Bobby:
– Ông ngồi chơi, tui phải xuống tàu.
Bobby đứng lên và ngập ngừng một chút rồi nói:
– Mày cho tao xin hai chục pound.
– Để tui xem.
Tôi móc bóp, may cho ông, tôi còn một tờ hai chục và mớ tiền lẻ, tôi trút ra đưa hết qua cho ông:
– Ông ở lại chơi vui vẻ.
Tôi đi ngang qua bar, thấy Bryony đứng trong góc, tôi đưa tay chào. Cô nhỏ kêu tôi đứng lại, cô đi ra đưa cho tôi cái nón len.
– Cho chú nè.
Lần trước ghé hội quán tuyết rơi mà đầu tôi vừa mới cạo trọc và ngoài trời thì lạnh quá, tôi lại chỗ để đồ cũ vạch đống đồ ra tìm. Thấy tôi đứng vạch tìm hơi lâu, Bryony đi tới hỏi tôi tìm gì, tôi nói tìm nón len, cô nhỏ phụ tìm nhưng không có nón len. Đêm nay cầm cái nón len mới toan, tôi nghĩ, có lẽ Bryony mua nón cho tôi. Tôi hôn phớt lên má cô nhỏ một cái và nói:
– Cám ơn.
– Không có chi.
Đêm nay không có sương mù, trời trong quá và trăng khuyết một bên, ánh sáng yếu ớt của vầng trăng làm cho ánh đèn những con tàu thêm rực rỡ. Lòng tôi chợt sáng và nghĩ ra, nếu hổng có chuyện xảy ra trong chuyến đi này thì tôi đã quên mất tiêu cái khoảng đời lẽ ra tôi hổng được quên. Trước kia gặp bạn đồng nghiệp trên những hội quán xa xôi, chúng tôi háo hức vui mừng cùng nhau ngồi uống bia và tán chuyện cho tới khi hội quán đóng cửa chưa thôi. Nhưng lần này gặp Bobby tôi có cảm giác như gặp lại con người cũ kỹ xa xôi nào và tôi mới nhận ra Bobby là cột mốc cho một lớp người thay đổi và tốc độ của cả một thế giới đổi thay. Thân thể và tâm hồn tôi cũng bị thời gian làm cho chai sạm. Cũng ngay bây giờ, trong đêm nay, tôi mới nhận ra một điều là những người đồng hương cùng thời tị nạn với tôi ai cũng đã an cư lạc nghiệp ở một quốc gia tự do nào đó trên trái đất này. Riêng tôi thì ngót hơn bốn chục năm trôi qua, cho tới bây giờ, tôi vẫn còn là một Vietnamese boat people, nghĩa là một Thuyền Nhân người Việt và vẫn còn lênh đênh trên sóng nước.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.