Việt vị

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 25/09/2017 

Post by Sơn râu 7 May 2024

Thập niên 80, do thời thế, do có điều kiện tự do, ở hải ngoại đã hình thành ra được một đội ngũ đông đảo người cầm bút. Lắm nhà phê bình lạc quan xem đó là một tựu thành đầy khởi sắc, đầy hưng phấn khởi đầu cho nền văn học của cộng đồng người Việt lưu vong. Sau đó chẳng mấy lâu, trên các trang tạp chí thuần về văn học nghệ thuật có đăng tải một số ý kiến, rằng “e có lúc quý vị chớ nên đào sâu vào đề tài trại tù cải tạo, thuyền nhân vượt biển hoặc đời sống ở trên những đảo, những trại tỵ nạn”.

Hằng tháng tôi có gửi bài đến hầu hết các tạp chí và dĩ nhiên tôi hơi bị choáng váng. Do đâu người ta có lối suy luận trái khuấy và sai lạc đến vậy? Tù cải tạo. Thuyền Nhân là một vết thương mãi còn đó sự nhức buốt. Là một ám ảnh khó dứt bỏ riêng cho người Việt từng sống sót qua cơn hồng thuỷ. Nó chẳng khác gì khi nhìn về ngày 30 tháng Tư, con số ấy tự động kéo trí nhớ bạn trở lui những tháng ngày tăm tối, rồi bạn tự hỏi: Do đâu mà có hơn 1 triệu người Việt bỏ nước ra đi, có nửa triệu linh hồn bất hạnh không siêu thoát mãi chịu lạc lối dật dờ trên biển Đông. Tôi nghĩ thầm, có thể lỗi lầm nằm ở phía người viết, trong đó có tôi, đã không đủ tài sức để chuyển tải được thảm trạng kia bằng giấy trắng mực đen, cứ thường thường bậc trung, chả ấn tượng khiến người đọc “ớn tới tận cổ”? Tìm cái gì vui vui coi, chuyện sang đây mần ăn thành đạt ra sao. Con mẹ ấy ra toà vì tội uýnh con riêng của chồng. Khai trương phòng mạch tặng thân chủ trong ngày bao gạo, sang ngày sau thì chai nước mắm. Ừ, nhiều chuyện xoay quanh vấn đề hội nhập “ngộ” lắm kìa, đọc chuyện buồn mấy ổng kể xuống tinh thần lắm!

“The Vietnam War” có thể rơi vào vấn nạn y như vậy không? “You don’t remember, I’ll never forget”. Chiến tranh Việt Nam, nghe tới bốn chữ ấy tự khắc nghĩ về sự oan khiên nhuộm bi phẫn dưới bầu trời đầy bom rơi đạn lạc, máu me cả trong những ngộ nhận vì khác chiến tuyến và về cái nhìn bị bưng bít cách nửa quả địa cầu. Đồng Minh tháo chạy. Họ không chỉ chạy một hai lần. Chạy trên mặt trận và chạy trên phương tiện truyền thông: Báo chí cũng như phim ảnh.

Những ngày qua, Bắc Hàn đã thử nghiệm thành công khi bắn đi hoả tiển tầm xa bay qua bầu trời Nhật Bản. Hải quân Trung Cộng luôn lộ ý đồ làm chủ biển Đông, thong dong đi vào hải phận Việt Nam như kiểu Triệu Tử Long một mình một ngựa một thương, như cách Quan Công qua ải chém 6 tướng (hai nhân vật tưởng tượng do họ nặn ra)… thì hôm 17 tháng 9 đài truyền hình PBS cho công chiếu “The Vietnam War” dài 10 tập với thời lượng là 18 tiếng. Đã im tiếng súng hơn 40 năm và hôm nay hai “ông anh bà con” Cộng Sản châu Á đang hăm he điệu võ dương oai. Thời chiến tranh Việt Nam, Trung Cộng đã chí tình giúp đỡ người em phương Nam dành thắng lợi, vậy em còn nhớ tới tình anh đã trao? Còn nhớ đấy nhỉ? Môi hở răng lạnh nhỉ? Vậy thì anh xâm phạm chút xíu nào có hề hấn gì đâu nhỉ? Mai nầy có thêm phim nhiều tập “Vietnam War” do Trương Nghệ Mưu làm đạo diễn không nhỉ? Khi ấy lãnh đạo Cần Thơ có dõng dạc trước ba quân: “Đánh cho tới rách cái quần bò cũng đánh. Ngộ tả nị. Có nhất trí không bà con? Thằng Mỹ hoành tráng còn cút huống hồ thằng Tàu khựa ưa chảnh”. Và người thuyết minh e dè đọc lời thoại, nhắc lại câu tuyên bố của vị tướng năm nào: Dùng bộ binh đánh trên đất liền thì chưa rõ ai thắng ai, nhưng phải thú nhận là hải quân Trung quốc thuộc dạng siêu khủng, hiện đại tối tân hơn ta cả vạn lần.

Theo quảng cáo rầm rộ, tôi vào đường dẫn “pbs.org/vietnamwar” nhưng màn hình hiện ra dòng chữ: “Rất tiếc, chúng tôi không phát sóng video này tới địa phương bạn ở được”. Canada sát biên giới mà! Tình hữu nghị đời đời bền vững sao hành sử kiểu đó? Không xem phim thành ra chẳng biết nói năng chi, viết tản mạn kiểu này là vin vào những thông tin mượn từ nguồn BBC và VOA. Bạn cho hay, sao ông không vào youtube mà xem, dài miên man có cả phụ đề Việt ngữ. Nói muộn thế. Thôi đành viết trước xem sau, bởi sợ xem rồi, ắt phải hậm hực, phải đè nén bất bình thì khi ấy cái viết sẽ đi lan man lạc hướng.

Đầu tiên phải nên hiểu điều cơ bản, là khi thực hiện một cuốn phim tài liệu chứa đựng nhiều vấn đề lịch sử, thì nhóm làm phim (thủ lãnh là hai vị Ken Burn và Lynn Novick) phải cố cung cấp một cái nhìn có tính khách quan, trung thực. Soi rõ nhiều góc cạnh, đứng ở nhiều vị trí khác nhau. Thu thập nhiều nguồn thông tin để đối chiếu mới thuyết phục được điều mình trình bày là xác đáng. Hơn ai cả, người làm phim nhiều kinh nghiệm như ông Ken Burn đã thủ đắc điều ấu trĩ ấy và dường như ông cũng xem đó là cẩm nang khi hành sự.

Vậy mà hôm 25 tháng 8 có diễn ra buổi trình chiếu phim ở Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ đặt tại Sài Gòn (có mặt nữ đạo diễn Lynn Novick). Số đông khán thính giả tham dự đều trẻ tuổi (có thể sinh vào thời điểm 1975 hoặc trở về sau và có thể thông thạo Anh ngữ). Một đôi người dong tay xin được phát biểu ý kiến sau khi xem từng trích đoạn quan trọng, đã khiến bà Lynn Novick thực sự bối rối:

– Tại sao xem xong, tôi chỉ thấy những nhân vật được phỏng vấn đến từ miền Bắc Việt Nam? Như vậy tiếng nói của người miền Nam có được quan tâm trong phim không?

Khán phòng im lặng.

– Một cuộc chiến luôn được viết và giới thiệu bằng cái nhìn hằn học và rạn vỡ từ cả hai phe, nơi chúng tôi học trong sách giáo khoa về một miền Nam “bù nhìn”, dơ dáy, bẩn thỉu, đàng điếm; hoặc đọc trên mạng về một miền Bắc đói kém, sĩ diện, ngu xuẩn và tàn bạo”.

Khán phòng im lặng.

– Tôi nghĩ bộ phim phải có tên là “American War” mới đúng, chứ sao lại là “Vietnam War”?

Đại diện đoàn làm phim câm lặng.

Phần được chiếu trong khán phòng Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ có ghi hình ông Bảo Ninh cùng câu nói: “Chiến tranh không ai thắng ai thua hết. Những ông không bao giờ đánh nhau mới bàn luận ai thắng ai thua…”

Ông này tình nguyện vào bộ đội năm 17 tuổi, được điều vào chiến trường Tây nguyên và đã viết được cuốn “Nỗi Buồn Chiến Tranh” dựng đặt nhiều chi tiết sai lạc nếu không muốn nói là bôi nhọ quân đội miền Nam tàn ác, mang đầy thú tính. Hung hăng là thế mà giờ đây sao phát ngôn linh tinh kiểu mất lập trường đến vậy? Mỹ thua ta thắng, trẻ quàng khăn đỏ cũng biết rõ mười mươi chuyện ấu trĩ ấy. Ta thắng một cách đúng quy trình và hơn 40 năm qua, băng-rôn cùng pa-nô dựng đầy trên mỗi góc phố vẫn mới một cách cực đoan ca ngợi chiến thắng thần thánh kia. Cờ búa liềm vẫn bay, cho dù có mưa sa trên mầu cờ đỏ trẻ con vẫn thuộc nằm lòng: Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Phải ở bên thắng cuộc anh mới ngông nghênh vậy, chứ anh mà thua hả… Mượn ý thơ Cao Tần nhé: “Lùa cả nước vào trại cải tạo, học tập thương yêu”.

Thắng hoặc thua, chẳng thể vin vào con số tử vong để luận bàn: Quân đội Hoa Kỳ có hơn 58.000 bỏ mạng trên đất lạ (từ 1965 tới 1973) trong khi người Việt chịu hy sinh hơn 3 triệu người (thống kê này chưa tính tới những xác bị chôn vùi, không tìm thấy hoặc mất tích). Và báo cáo tổn thất ấy chỉ kiểm kê sau khi kết thúc chiến tranh. Giờ đây cả hai phía đang cố gắng xoá vết thương đau ngày cũ. Tháng 4 năm 2016, 11 cựu pilot của US Air Force đã bay sang Hà Nội gặp gỡ địch thủ Cộng sản cuồng tín năm xưa. “Bánh ít trao đi bánh quy trao lại”, ngày 21 tháng 9, 2017 vừa rồi Trung tướng Nguyễn Đức Soát dẫn phái đoàn, cũng 11 cựu phi công Bắc Việt lòng mở hội sang tới San Diego, bang California để tương phùng “bạn cố tri”. Đại Tá Lê Thanh Đạo hể hả: “Chỉ mới một năm không gặp thôi mà đã thấy nhớ rồi!”. Thậm tình cảm kiểu tiểu tư sản, mặn mà có duyên. (Nếu ông này làm được thơ như Đồng Đức Bốn hẳn đã ngôn: Em bỏ chồng về ở với tôi không?) Không khí trong khán phòng bảo tàng hàng không mẫu hạm USS Midway hôm ấy coi bộ vui vẻ gắt. Đại Uý phi công John Cerak chỉ tay về phía Trung Tướng Nguyễn Đức Soát (nay đã 72 tuổi, người có thành tích bắn rơi 6 máy bay Mỹ), khôi hài: “Chúng tôi đang bay qua không phận Lào, chuyển hướng về phía Đông, liên tục dùng radar rà soát thì đột nhiên, ông Nguyễn Đức Soát đây đã phá hỏng một ngày đẹp trời”.

Đại Tá không quân Bắc Việt Lê Thanh Đạo: “Những người ném bom không có lỗi, kẻ gây ra chiến tranh mới có lỗi”.

Cựu Đại Uý không lực Hoa Kỳ John Cerak: “Chiến tranh là thứ ngu xuẩn nhất loài người từng làm”.

Đại Uý Clint Johnson: “Tôi không bao giờ ghét kẻ thù, cả hai đều làm những điều mà chúng tôi nghĩ là tốt nhất. Người Mỹ muốn ngăn cản sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản, còn người Việt chỉ muốn thống nhất đất nước, chẳng thể tranh cãi gì được với thứ sứ mệnh như thế”.

Đại Uý Hải quân Jack “Fingers” Ensch: “Nhà tù nhỏ nhất thế giới là giữa hai tai anh. Nếu anh cứ tiếp tục căm thù thì họ cũng vẫn cách xa nửa thế giới. Họ không biết anh đang nghĩ gì về họ, hận thù họ hay những thứ tựa thế. Họ tiếp tục với cuộc sống của mình. Nếu anh vẫn hận thù thì anh vẫn bị giam cầm”.

Buổi giao lưu thật rôm rả giữa những quý ông chẳng mấy khi được nói thánh nói tướng. Không rõ có bao nhiêu người tham dự và có quý ông nào từng chong mắt xem phim “The Vietnam War” đã công chiếu từ hôm 17 tháng 9 trên kênh đài uy tín PBS? Lỗi lầm có thể không nằm trong cái nhìn hạn hẹp của họ, người Mỹ chẳng hề biết tới thứ mấu chốt quan trọng, rằng đối phương chưa bao giờ dám nhìn thẳng vào sự thật, luôn tìm cách che đậy và dấu diếm, vì thế bàn về chiến tranh Việt Nam vẫn chỉ là lột truồng được tấm áo khoác ra mà bỏ quên phía sau lưng còn nguyên một vết thương chưa lành miệng. Họ từng nghe nhạc phản chiến của Bob Dylan nhưng họ chẳng thông hiểu ca từ “Cần gì tới nhân viên dự báo thời tiết mới biết được chiều gió”.

Phía Cộng sản Việt Nam thì khác, mọi người phải luôn chấp hành, tuân thủ, nghe theo “nhân viên đài khí tượng” bảo ban, dạy dỗ. Trong chiến tranh cũng như thời bình. Khi được hỏi cảm tưởng về bộ phim “The Vietnam War”, bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay: “Đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước”.

42 năm trôi qua, lời nói kia “vũ như cẩn”, thứ bài bản đã soạn sẵn từ hồi “đại thắng mùa Xuân”. Chẳng mong tìm nhặt một thông điệp nào khả dĩ mới cho xứng tầm thời đại. Cũng nên thông cảm cho bà ta, không riêng bà, “tai to mặt lớn” Việt Cộng đều có cách phát ngôn na ná nhau cả. Họ không màng tới “một bộ phận không nhỏ” người Việt vì yêu chuộng tự do đã bị mang bản án “phản bội tổ quốc” sống rải rác ở năm châu bốn bể. Khúc ruột ngàn dặm ấy hẳn không thích săm soi lại vết thương ngày cũ, nhất là những cựu quân nhân, những đơn vị thiện chiến oai hùng ngày nọ, bởi họ nghĩ họ đã bị phản bội khi ngồi xuống chiếu bạc và được chi trả bằng bạc giả. Những lá bài được đánh dấu sẵn và hệ quả tất yếu diễn ra, họ đã cháy túi.

Tôi sẽ dọn lòng thanh thảnh để vào youtube xem phim 10 tập “đình đám” nọ. Có thông tin dạo đầu rằng: Đoàn làm phim đã bỏ ra 10 năm để cốt làm cho ra đầu ra đũa và “10 năm tình cũ” đã vấp phải nhiều thiếu sót, chưa đạt yêu cầu. Vô tình họ tô mới lại nước sơn: “Sự can thiệp của người Mỹ là bước đi sai lầm nghiêm trọng, dẫn tới bao hệ luỵ làm nên nỗi tủi nhục không tài nào gội rửa”.

Tôi yêu Canada. Nơi từng gửi quân tình nguyện qua giúp Việt Nam, và cũng là nơi trong thập niên 60 đã đón nhận những thanh niên Mỹ hèn nhát, trốn chạy khi sợ phải cầm súng qua chiến đấu ở “Đồi Thịt Băm”. Tôi yêu Canada, nơi quốc hội thông báo: Chúng tôi xem ngày 30 tháng 4 của cộng đồng Việt Nam là nỗi đau thương cần được sự chia sẻ. Cờ vàng ba sọc đỏ từng bay trên thủ đô Ottawa đầy gió an lành. Ai thắng ai thua? Ở một mặt nào đó, những người từng đánh đổi tất cả để làm cuộc bỏ phiếu bằng chân đã thắng. Hữu Thỉnh viết thư mời Phan Nhật Nam về Hà Nội cũng là một trong muôn ngàn lý giải về sự thắng thua vậy.

Hồ Đình Nghiêm

Phật nằm bên giá vẽ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 18/01/2016 

Post by Sơn râu 7 May 2024

Chiếc máy bay nhỏ như không thể nhỏ hơn sật sừ trôi giữa trời tuyết đổ. Động cơ bán phản lực với hai cánh quạt gồng mình đi dưới mờ mịt thức mây. Vận tốc 360 kt tương đương 667 cây số giờ chỉ là niềm mong mỏi của người tạo dựng, và tựa như người, sức máy cũng có hạn. Máy đã già nua mà trời thì chả đẹp, trời cảm hàn và máy liên tục nhảy mũi hắt hơi. Là đà bên dưới là ngũ đại hồ đang tái tê đóng băng chợt ẩn chợt hiện, mông lung một vẻ đẹp kì dị, như tấm gương soi dành riêng cho hoàng hậu tử thần. “Kìa ai ngang qua bên ngoài cửa kính, kìa ai như từ khi em là nguyệt.” (Đinh Cường).

Chiếc máy bay Q 400 do hãng Bombardier chế tạo có thể dừng cuộc lữ để cắm đầu xuống mặt hồ lãnh cảm như đá tảng. Hậu quả là gì? Lửa bộc phát và liệu có làm tan chảy đá băng? “Đông qua óng ánh vàng rơi, vàng rơi chánh niệm vàng rơi, rơi vàng.” (Lữ Quỳnh). Hoạ sĩ Đinh Cường mất vào ngày 7 ở Vỉginia. Ca sĩ David Bowie mất vào ngày 10 ở New York. Và ngày 14 tôi sẽ lặng lẽ qua đời trên không phận Canada nếu có tiếng ai chợt gọi giữa chốn vô cùng. Nào có hề gì “bởi bây giờ tôi sống như hồn ma, cứ thấy bóng mình chập chờn trên vách.” (Trần Hoài Thư).

Tháng giêng là tháng ăn chơi, tháng một có phải là hơi bị buồn. Qua dự buổi chia tay vĩnh viễn cùng anh Đinh Cường, bất ngờ tôi dự thêm buổi đoàn viên chân tình và đầy cảm động, được han hỏi được kề bên những khuôn mặt ngỡ như khó lòng tiếp cận. Muốn có niềm vui trước hết ta phải hứng lấy nỗi buồn. Câu này xem chừng chẳng mấy đổi thay. “Cám ơn giọt nắng vô thường, lung linh ở cuối con đường khổ đau.” (Phạm Cao Hoàng).

Khuôn mặt chúng tôi hầu như ai cũng đẫm lệ. Từ bài đọc của anh Nguyễn Mạnh Hùng trong tang lễ, của anh Nguyễn Trọng Khôi, của anh Trương Vũ, của anh Chân Phương… những kỷ niệm đã có và đã vụt mất với người vừa mang pháp danh Quảng Thái. Trong nhật ký của Anne Frank, cô viết: “Dead people receive more flowers than the living ones because regret is stronger than gratitude”. Trong căn phòng u sầu này có rất nhiều vòng hoa, được gửi tới từ muôn phương. Của cựu Giáo chức và học sinh Nữ trung học Thành Nội Huế, của gia đình Trịnh Công Sơn, của gia đình Thanh Tâm Tuyền, của gia đình Ngọc Dũng, của vô vàn những thân hữu bè bạn và kể cả những người ẩn mình dưới vỏn vẹn hai chữ: Thương tiếc. Nguyễn thị Đau Buồn. Trần thị Xúc Động. Phạm văn Thương Mến. Lê văn Lệ Chảy… Lòng ăn năn cũng như sự biết ơn có khi không nên sắp hạng ngôi thứ. Chúng tôi ngắm nhìn muôn loài hoa nối kết nhau để chỉ biết thổn thức. “…Kể cho nhau nghe những điều. chưa nói, lời nghẹn ngào. tiếng nói. hư hao”… (Duyên).

Đành vậy, chúng tôi mãi sắp hàng dưới bóng nặng của hối muộn. Rõ nghĩa hơn, Chân Phương giãi bày: “…Trong những đốm lửa âm ỉ kia, không còn chiếc Corolla của anh, và tất cả smartphone trần gian, chẳng liên lạc anh được nữa…”

Từ trái: Tùng, Trần Hoài Thư, Hồ Đình Nghiêm, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Thị Nguyệt Mai, Duyên

Anh Đinh Cường vừa là người thầy dạy tôi ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế, vừa là người anh rể thân tình từng chia sẻ những buồn vui suốt chặng đường tuổi trẻ dại khờ. Và tôi mãi khờ dại khi muốn tỏ bày lòng biết ơn sâu nặng đối với anh. Chữ viết thấp kém không đủ để trải bày và xin niệm tình khi tôi lỡ vay mượn tấc lòng của các anh chị đã chú thích bên trên. Cám ơn anh Nguyễn Mạnh Hùng, anh Nguyễn Tường Giang, anh Trương Vũ, anh Phạm Nhuận, anh Phạm Cao Hoàng, anh Nguyễn Đình Thuần, anh Trần Hoài Thư, anh Lữ Quỳnh, anh Chân Phương, anh Nguyễn Trọng Khôi, anh Nguyễn Quang, anh Tùng chị Duyên, chị Trần Thị Nguyệt Mai, chị Nguyễn Thị Thanh Bình, chị Đinh Từ Bích Thuý… đã cho tôi hiểu thêm, sâu sắc về chữ tình thân hôm chúng ta ngồi quây quần ở nhà anh Trương Vũ. Một gặp mặt khởi từ nguyên cớ buồn đau. Anh Trần Hoài Thư tỏ bày: “… Đó là Đinh Cường trong trái tim mình. Khi chúng tôi bắt tay nhau hay ôm choàng lấy nhau, có nghĩa là chúng tôi đang chia buồn với nhau. Bởi lẽ mỗi người chúng tôi đều mất đi một Đinh Cường, và trái tim mỗi người đều đẫm lệ…”

Và anh Phạm Cao Hoàng tâm sự: “Anh Đinh Cường như một thỏi nam châm thu hút chúng tôi về ngồi kề bên nhau. Anh đã ra đi, từ nay nhà cửa trang PCH đâm trống vắng…” Chao ôi nghe luống những ngậm ngùi.

Cào Lá Ngoài Sân Đêm, thi tập của hoạ sĩ Đinh Cường. Anh Nguyễn Đình Thuần, anh Nguyễn Quang, anh Phạm Cao Hoàng và tôi đã co ro đứng bên nhau để “thở khói ngoài sân đêm”. Bốn con đom đóm lẻ loi bất chấp những răn đe đã ngửa mặt vào cao xanh mà phả lên đó từng cụm mây mù. Bốn điếu thuốc đỏ lập loè như bốn chân nhang cụt ngắn dần giữa trời lộng gió. Trần gian đã lạnh tiếng than van. Anh Đinh Cường ơi, xin vĩnh biệt.

– Viết ngoài lề: nhà văn Phạm Thành Châu (người không thích được gọi là nhà văn) có viết bài tưởng niệm hoạ sĩ Đinh Cường: “…tất cả nhà thơ nhà văn trên thế giới kể cả Việt Nam xin tranh bìa (hàng trăm hàng nghìn) cho tác phẩm của họ, ông đều vui vẻ gửi cho, nhưng không ai trả cho ông một đồng. Họ tưởng văn, thơ của họ quá tuyệt vời, nên họ hạ cố cho hoạ sĩ Đinh Cường cái hân hạnh được có tranh bìa nơi “đại tác phẩm” của họ là đủ mừng rồi, tiền bạc gì!…” Chẳng rõ khi viết nên điều này, anh Phạm Thành Châu có ghé mắt đọc phải ô quảng cáo của Trịnh Cung gửi đăng trên trang Hợp Lưu: “Nhận thực hiện trình bày bìa sách. Giá: 200 US. Vẽ chân dung: 500 US”. Y sì thế. Rạch ròi trắng đen. Không khoan nhượng, chả lôi thôi gì cả.

Hồ Đình Nghiêm

Ma

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 22/08/2016 

Post by Sơn râu 7 May 2024

Ma, thêm chữ măng thành ma-măng. Ma thêm dấu nặng, huyền thành Mạ, Má. Lễ Vu Lan qua rồi nhưng ma-măng, má với mạ thì luôn ở nán trong trí tưởng của những đứa làm phận con. Dấu trong đáy tim hình bóng của người-có-một-không-hai. Sống dương thế chẳng nói gì, chết âm thế mới nghe ra sự thiếu hụt trầm trọng, khủng khiếp. Nhớ thương mà ích gì, ngàn trùng sẽ lấp chừng nào tuổi tác bệnh tình sẽ ký cho nghịch tử tờ hộ chiếu đi diện đoàn tụ: Má ơi con dìa đây má ơi.
Bạn mình tên U. Một ngày mùa đông bạc nhược màu trời, U-50 nghe khó ở nhác chơi nên buồn chân vào bệnh viện thăm thú. Bác sĩ này đá U qua bác sĩ kia, như quả bóng lăn, từ tiền đạo qua trung phong rồi U về chân (tay) hậu vệ. Trọng tài quyết định bằng tiếng còl lạnh lùng: Ung thư. Rút ra cái thẻ vàng: Cao tay thì U sống thêm được một tháng. Ba mươi ngày phù du trên cõi tạm, trên cõi đời ô trọc, chừng hết hạn mới đón nhận cái thẻ đỏ, thôi đi trên sân cỏ xanh nhàu nát mà xuống nằm dưới cỏ vàng quạnh hiu. U điếc không sợ súng nên tiếng còi lệnh thì nhằm nhò gì. Ba tháng, sáu tháng U vẫn vậy, tỉnh rụi nay bún mai cháo mốt rung đùi tiệm phở nhìn qua song thường hằng cảnh lá đổ muôn chiều với vần vụ mây bay. Hội đồng bác sĩ tái mặt máu, tự cổ chí kim bọn moa chưa hề thấy qua, toa ăn cái giống gì mà nhiệm mầu thế hở? U. thủng thẳng: Ăn thứ có nhiều cholesterol, uống Coke, nhâm ghi cà phê nhiều đường và tráng miệng bằng dăm điếu thuốc nhìn khói huyền bay lên cây. Nói xa nói gần không bằng nói thiệt, ấy là dạo này tui luôn nằm mộng thấy má tui. Má tui biểu, cứ nán lại đã, chừng nào má sửa sang nới rộng căn hộ dưới này cho được tươm tất rồi khi ấy hẳn về, gấp chi con!

Mình quen U. hồi chân ướt chân ráo tới Québec. Học chung ở lớp Pháp văn dành cho người tỵ nạn. Phải mở cái ngoặc đơn ở đây, rằng thì là bọn mình mới từ đảo sang, xem như thành phần “con ruột” của nhà nước Canada, được ưu tiên săn sóc, đủ đầy từ manh áo cho tới nồi niêu son chảo, dắt tới trường học và hàng tuần được dúi vào tay chút bổi ngang lợi tức của kẻ lao động với mức lương tối thiểu. Chính phủ mà biết câu “nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa” thì họ đã nói ra miệng. Mồm chúng tớ chỉ ấp úng: Tình xê la mua, tiền xê lạt răng, màu xê cu lơ, đời xê la vi, đau xê ma lát, thuê xê lu ê…

Như mọi con dân ngu ngơ đổ người xuống mọi ngả đường xa lạ, mình cũng xem báo tìm thuê một chốn thường trú với giá phải chăng. Nôm na là mềm, mượt, văn nghệ, bèo, rẻ như cho. Tìm chưa ra thì được U. giúp. Moa xem rồi, so với chỗ moa thuê nó thuộc dạng tám lạng nửa cân, bà xã moa nói lỡ đẻ thêm con thì e sẽ chật chội vì vậy mới tìm chỗ khác, có hơi tiếc. Toa không nhanh chân thì xôi hỏng bỏng không. Đón xe buýt, láo liên đội nắng xem hư thực, chủ nhà mở khoá và mình mở cờ trong bụng: Ui, mẹ ơi, hạp nhãn quá, đòi chi hơn so với tấm thân du mục chạy trời vừa khỏi nắng. Lưới trời lồng lộng đã vượt thoát. Lỗ đít nơi kim khâu vừa xâu ngon ơ sợi chỉ nhỏ.

Mình nhanh chân, mình dọn vô và cám ơn vợ chồng U. chẳng tiếc lời. Làm sao nói hết những xúc động dâng sóng lớn trong ngày đầu bơi lội thoả thích giữa xứ sở tự do. Sướng đến độ mất ngủ, cái giường nệm không treo mùng mênh mông, căn phòng mênh mang chẳng một tiếng muỗi vo ve, gió mát xào xạc lân la thăm hỏi ngoài khung cửa tối tuyệt đối yên lặng. Ngon miệng phục vụ thần khẩu những bơ thừa sữa cặn của bọn thực dân, hưởng thụ hết mình những phồn hoa giả tạo của bọn đế quốc. Ui chao, giờ này mà sống ở thiên đường xã hội chủ nghĩa e chết chắc, chắc chết.

Màu sơn trắng mới quét và ý nghĩ tinh khôi về sự mang ơn tha nhân khó diễn đạt thành lời. Trằn trọc giữa năm canh là điều dễ hiểu, ngủ không xuống với chập chững chân đi ngày đầu hỗn mang những huyễn mộng là chuyện ắt sẽ diễn. Trăn qua trở lại để giáp mặt câu thơ của cụ Trần Tế Xương: “Sông kia rày đã nên đồng, chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai, vẳng nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”.

U. mang vợ con dọn về thành phố Montréal sống, hắn nói ở đây tìm việc tới đỏ mắt mà không thấy, sông cứ trôi con nước lớn mà chẳng nhìn ra bóng dáng một con đò. Mình làm bữa tiệc nhỏ tiễn đưa, không buồn lòng vì ý thức rõ sự trôi giạt đầy phận kiếp của từng đám bèo. Gần tàn phút giây ngồi bên nhau hắn nói nhỏ: Toa thấy moa có xanh xao có xuống sắc không? Đằng chỗ moa thuê có ma toa ạ. Xuỵt, đừng để bà xã moa nghe, con ma da trắng tóc vàng mỗi khuya đều hiện ra sát bên giường, “em” leo lên người moa và làm những thứ mà bà xã moa rất kém. Thay vì sợ hãi moa lại nín khe ôm ấp “em”, yêu “em” cho tới gần sáng. Merde! Moa chưa thấy có con ma nào đáng yêu tới ngần ấy! Moa thắp nhang, moa cúng bái, moa ăn chay, moa niệm Phật mà “em” vẫn không nhăn mặt oán trách chuyện trừ tà.

Gặp ma thì ai cũng phải sợ, nhưng U. khác, hắn không ngán chút nào. Một con ma vú dài thì tình hình e sẽ phải thay đổi ngay, sớm bỏ Québec dọn đi Montréal, sớm giã từ ngoại ô không đèn mà chẳng cần vin vô lý do chính đáng là đi tìm việc. U. nói ma nó chọn đối tượng chứ không phải bạ đâu nhát nấy, bằng chứng là vợ moa đâu có “thằng Tây” nào hiện ra để  “lấy ma đè người” đâu. Moa ăn dữ mà không lên cân, cứ ốm o xo bại, vợ moa kiêng cử “đai-ớt” mà vẫn mập thù lù. Chỗ toa ở thì sao? Mình thưa, nói chung thì yên hàn vô sự, có mua từ chợ trời cái ghế gỗ về đặt ngoài hàng hiên ngồi hóng gió chiều tà thì canh khuya nó tự đong đưa như thể có ai đặt mông, chắc bị gió quấy rầy. MÌnh nghe tiếng động, đứng sau cửa kính nhìn ra có thấy con ma nào đâu. Vậy chứ có đám trẻ mỗi bận đi ngang đều ghé mắt nhìn vào, ba phần kinh hoảng bảy phần bạt vía. Rõ là mình có duyên, vô tình rước từ chợ trời về một lá bùa linh, chả bị ăn trộm hỏi thăm.

Từ giã Québec Je me souviens, mình dọn về đây sau U. ba năm. Gặp lại hắn trong hội chợ Tết. Tay bắt mặt mừng rồi huyên thuyên bù khú cho bỏ những ngày gián đoạn một kỷ niệm chưa kể hết ra. Hắn vẫn vậy, ốm o gầy mòn dù bữa nay thôi bị ma nữ hiện ra hút hết dương khí tự người hắn. Hắn phân bua, bị giờ này moa có bốn mặt con và cày tới hai jobs. Không hư người cũng uổng, hắn chấm câu. Làm bậy chai bia sau khi ăn hết món ngon thức lạ bà con đồng hương bày bán trong hội chợ. U. chở mình về nhà tham quan cho biết cơ ngơi mới. Khiếp, hắn ăn cái giải gì mà sở hữu một căn hộ hơi bị hoành tráng. Chẳng to lớn gì nhưng bước chân vào nhà, khách buộc phải thầm công nhận về gu nghệ thuật có đẳng cấp của vợ chồng hắn. Vợ U. có bỏ công đóng tiền đi gym vận động nên thể hình trông ngon con mắt, thôi ba vòng tròn trịa bằng nhau như dạo nào, thật khó tin! Và tính tình xem chừng thông thoáng cởi mở hơn thời kỳ nghèo khổ đã sang trang. Bả cật lực nhào vào bếp với lời tuyên bố: Ở lại ăn uống với bọn này, không no say không về, nhớ? Chưa no say đã muốn “làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu”: Con em tui còn ở bển, đẹp người đẹp nết, anh nên về tham quan một chuyến để chính mắt nhìn thấy đó là cả một sự thật, nửa ổ bánh mì vẫn là nửa ổ bánh mì phương chi nó điện nước đầy đủ chờ trông một anh Việt kiều có duyên phận. U. tiếp lời vợ: Không nhanh chân thì có nước xôi hỏng bỏng không. Hắn nói lại lời cũ hôm giới thiệu mình căn apt. chốn xưa. Nhà thuê nọ không có ma nhưng lời đường mật mai mối này tuồng như vẽ ra cảnh “ma đưa lối quỷ dẫn đường”. Tam thập lục kế cứ ậm ừ là thượng sách. Vợ chồng U. nào hay mình chúa ghét trở lại chốn thiên đường kia. Hoãn binh rồi ký hiệp định ngưng bắn, rồi hoà đàm vì sợ chi viện, cứ thế cho tới hồi U. vô nhà thương. Xét nghiệm là chỉ một tháng thì đi bắt tay thần chết. Vợ con đã chuẩn bị tinh thần, dọn lòng chờ một hao hụt nhưng ba tháng rồi tới nửa năm vẫn dê kêu, U. vẫn kiên cường bám trụ trên từng cây số, hắn một mực ngoan cố không chịu đi gặp mặt Hồ chủ tiệm. Cháu ngoan thì từ thuở nào tới giờ vẫn mang tội bất hiếu. Không có gì quý hơn mù mắt điếc tai.

U. hỏi: Toa có tin chuyện ma không? Mình đáp chẳng lưỡng lự: Tin quá đi chứ và tin thêm chuyện ăn hiền ở lành khù khờ ông trời độ. Sẵn có bia xúi, hắn hứng chí đọc thơ:

“Những chiều Bến Ngự dâng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hàng lang”.

U. hỏi: Biết thơ ai đấy không? Thơ của ôn Hoàng Phủ Ngọc Tường đấy. Ôn ấy đã tin rằng ngoài cuộc sống này còn hiện hữu một cảnh giới khác và chính điều đó mãi ám ảnh ôn. Mình góp ý, sao có vẻ nhái Tế Xương nhỉ: “Sông kia rày đã nên đồng… Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”. U. cười, nếu nhà thơ lên xanh này mà gặp ma e đương sự sớm hồn lìa khỏi xác. Hoặc giả ma cũng có hai hạng, hiền hoặc dữ. Gặp ma hiền thì nó chỉ hù doạ cho ngồi xe lăn thay vì xuống tới một mồ chôn nào đó. Toa biết không, ở Huế thì có chán khối mồ chôn, âm khí chẳng vơi trên một cố đô lắm thương tích.

Cuộc sống của U. giờ này thôi còn cột mốc để định liệu, nay sống mai chết là việc chẳng lường, hắn muốn mình đi cùng hắn về thăm lại Québec lần cuối. Vợ con đã thuận lòng và mình không có lý do gì để từ chối một cuộc đi dã ngoại về nơi chôn nhiều kỷ niệm. Xe đò sẽ ngốn mất ba tiếng rưỡi và trời cuối hè vẫn chung tình trải nắng trên suốt những cánh đồng hoang dã một cách thơ mộng mãi chạy dạt lui. U. nói moa sẽ về thăm căn nhà cũ rồi tìm thuê một cái khách sạn bị đồn đãi là có ma để qua đêm. Moa mong biết bao sẽ nhìn thấy lại “em” tóc vàng thuở nọ. Hoặc không thì toa sẽ gặp phải trường hợp ma nữ hiện lên để hiếp dâm toa, kinh qua thứ cảm giác rợn cảm cực thống khoái.

Ma thêm dấu nặng là Mạ. Muôn đời mình tin Mạ mình sẽ là lá bùa quý báu, tuyệt đối ngăn chận giúp mình tránh hoạn nạn bởi tà khí bủa vây. Mạ mình mất đã hơn bốn mươi năm, mình chưa gặp ác mộng khi đêm về vẫn thấy mờ khuất dáng Mạ mình vào ra đâu đó giữa mỗi một giấc mơ, êm ả, bình lặng. Nếu biết làm thơ mình sẽ viết xuống giấy, không Bến Ngự với mưa rơi với hồn oan hiện về nhảm nhí. Thơ vụng dại như ri đây:

Chốn ấy Mạ ở có yên thân
Bên đây con sống xa lọc lừa
Là chốn ma hiền rất tử tế
Mà người đất mẹ phải soi gương
Đi với Phật sao lại mặc áo giấy
Con hằng tin rồi quỷ sứ sẽ buông đao.

Hồ Đình Nghiêm

Ngã bảy

petruskyaus.net

Thơ Đoàn Xuân Thu

Ngã bảy! anh bỏ đi rồi;

buồn, thương theo cả một trời.

Quê hương!

Ngã bảy: nơi dòng sông chia bảy ngã,

ghe hát về, mùa gặt hái đã ngơi,

tuồng em diễn một thời điên đảo;

tranh giành ngôi báu, giết lẩn nhau,

ba vai vua, còn em vai công chúa

phò mã đâu? chắc chẳng phải là anh?

Câu vọng cổ mượt xanh triền sông Hậu

Chảy xuôi về ra biển nỗi mênh mang

thương nghệ sĩ nghèo, lang thang con nước

lục bình trôi, em lướt thướt trôi theo.

Ba xuất hát, dân hết tiền, nghèo!

em chống ghe, chào đi xứ khác

“Thưa bà con! xin hẹn mùa sau!”

Anh sẽ chờ em, chờ em, mùa sau

tan bóng giậc, dắt nhau về quê cũ.

Trả áo lính, anh giã đời phiêu bạt

trả đào thương, em đóng kiếp vợ hiền.

Câu vọng cổ không còn đem đổi gạo

ru anh, buồn; quên cuộc chiến triền miên.

Nhớ trở lại, đừng theo đời trôi mãi!

anh chờ em, dầu phải đến trăm năm!

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Đường phía Bắc

Lê Đại lãng

Post by Sơn râu 7 May 2024

7. Phần 7
Tại sao anh nằm đây, trên chiếc thuyền con lắc lư sóng? Lạ quá! Cường nhớ đã bị hất tung vào bầu trời đen cùng tiếng hú oan khiên vẳng đi từ một nơi nào đấy, rồi như tất cả đều mất hút vào một cõi không thăm thẳm. Anh nhớ mình bị sóng giật tung lên, rơi xuống đúng vào một lốp xe cột ngang mạn thuyền. Cánh tay như con bạch tuộc cuốn mồi, cặp chặt lấy cái lốp xe vào nách. Nước sủi bọt tức giận, chẻ thành nhiều vết dao muốn cắt rời anh ra khỏi cái vật tròn đen xuất hiện như thiên thần giáng thế. Không, không đời nào anh chịu buông nó. Nó là mẹ anh, nó sẽ sinh thành ra một đời sống, tái tạo ra anh sau lần chết hụt này.
Cường trôi trên biển mấy đêm mấy ngày, anh không làm sao nhớ hết. Lúc khỏe thì quơ tay quẩy quẩy, khi mệt thì phơi mình dưới nắng. Cứ thế, mây bay ngút ngàn miên miên vô tận. Biển không hành hung anh nữa. Biển lành tưởng ngay cả cái vỏ trứng mỏng manh cũng không bị nhận chìm. Cường đã mờ mắt, làn da móp méo như trái cam khô. Nhưng anh nhìn thấy một chỏm núi đen mọc lên từ mặt nước. Anh ngất đi trong cơn mơ kinh khiếp.
Cường được một chiếc thuyền đánh cá cứu. Người anh như đụn giẻ khi được vớt. Anh được săn sóc mấy ngày liền trong khi chiếc thuyền vẫn đi lưới. Anh cũng được biết là người ta đã vớt xác mấy chục người gần Đồ Sơn mấy ngày trước đó. Như vậy là toàn bộ con thuyền đều chết, Cường đau đớn nghĩ thầm, những giấc mơ nặng nề tức ngực lại kéo đến. Anh nhớ cái cổ trắng ngần của Thu, anh nhớ làn môi cương quyết của Đặng mím lại khi dứt khoát cho thuyền ra khơi dù biết trời sắp làm cơn cố. Anh nhớ những đống nước xanh vàng ói mửa đầy thuyền của đàn bà trẻ con trên thuyền. Không lẽ tất cả đã về bên kia thế giới. Có lẽ nào anh là kẻ chứng nhân may mắn và đau khổ. Sao lại thế được!
Cường không muốn trở về Đầm Hà. Anh đã bán căn nhà của Dũng trước khi đi, chẳng còn gì ở đó để mà về. Cường bán chiếc đồng hồ đeo tay, mua một bộ quần áo mới rồi lấy vé ô tô đi Hà Nội. Bố mẹ và em gái Cường ở gần chợ Đồng Xuân, có cửa hàng bán phụ tùng đồ xe đạp, lợi tức thu nhập hơn hẳn lương anh công chức ngày ngày đạp xe run cả đầu gối. Ông cụ ít khi có nhà, những đi về bất thường của cụ khiến Cường nghĩ cụ đang hoạt động gì đó. Nhớ hôm nào ông bảo Cường:
– Con liệu đường xuống học nghề tài công của anh Dũng.
Ông nói ngắn, gọn nhưng Cường hiểu. Hai bố con tâm sự đến sáng. Cường thấy đôi mắt bố thêm quầng, mái tóc dầy rẽ giữa của ông vẫn bềnh bồng nghệ sỹ. Ông thì thầm cho Cường biết là nhóm Bồ Câu Trắng của ông đã bị phát hiện, một vài người bị bắt, số còn lại mạnh ai nấy chạy hoặc ngưng hoạt động chờ thời. Có lẽ rồi bố sẽ bị bắt, ông nói, nhưng đến khi đó tình hình chung sẽ sáng sủa hơn. Trong số những người quen của ông, Cường có biết một vài văn nghệ sỹ tên tuổi. Nhưng với anh, đó là những tên tuổi của một thời đã qua. Cường đã tốt nghiệp phổ thông, nhưng không bao giờ đọc các tác phẩm của họ. Có vẻ như những tác phẩm mà nhiều người lầm lẫn cho là văn hóa quá khác xa với cái…văn hóa mà Cường đối mặt hàng ngày. Đó là những dòng xe đạp ngập tràn thủ đô với những bộ mặt khép kín u sầu. Đó là những cảnh chợ trời cướp bóc giành giật bán đủ các thứ có thể ráp được một chiếc ô tô chỉ thiếu mỗi cái khung. Cường không thể nào thấy “gần” được với những nhà văn tả nghệ thuật uống trà, hoặc có thể hùng hồn đòi khắc văn trên đá. Nghĩ đến họ là nghĩ đến một hoài niệm, xa rời quần chúng và thực tại. Cường không đòi họ đụng đến thực tại của ngày hôm nay, họ đã kinh cung chi điểu. Dẫu sao anh cũng tôn kính họ, như tôn kính lịch sử, mà không ai viết lịch sử của những gì đang xảy ra, nếu có, thì là một hiện thực lịch sử không cấu thành từ tim óc của một cá nhân nhưng là của một quần thể. Nhà văn là kẻ sáng tạo ư? Nghệ sĩ là kẻ sáng tạo ư? Có thể. Nhưng hắn sẽ “sáng tạo” được cái gì khi cảm thụ về chân thiện mỹ của hắn không được giãi bày, nghệ thuật được sáng tạo bằng cảm quan rất đáng phàn nàn của tập thể, một công trình tập thể đồng sắc áo. Chân lý nhân danh tập thể nên nỗi quằn quại của riêng cá nhân người nghệ sỹ đã bị tử hình.

Google images

Bố Cường không ngờ đứa con trai út có những tư tưởng gần ông như vậy. Có nghĩa là Cường vẫn khắc mẹ. Đúng, mẹ Cường là người đàn bà giống như bất kỳ người đàn bà nào khác, có nghĩa là rất thực tế. Bà vẫn cho “bố con ông là người viển vông, chết có ngày!”. Bà buôn tần bán tảo kính chồng yêu con nhưng không đếm xỉa đến việc ông làm.
Cường không ngờ là trong nhóm của bố mình có Hải. Anh mến phục chàng trai ấy, tưởng Hải là biểu tượng của thế hệ sinh sau đẻ muộn của mình. Chính vì thế mà Cường đã dốc lòng dắt dìu vợ con Hải đi. Có ai ngờ lòng tốt của anh đã trở thành tai họa.
Về lại nhà đầu óc Cường còn choáng váng. Anh gầy sọm đi tuy đầu óc còn tỉnh táo. Ông cụ biết thằng bé chưa hoàn hồn, nên cứ âm thầm tìm đường khác cho con. Một hôm ông bảo:
– Cửa khẩu Đông Hưng đã mở lại rồi đấy. Con đi được.
Cường đến Đông Hưng lúc trời gần trưa. Nắng dịu chứ không gắt. Hơi mát từ con suối biên giới lẫn trong cảnh buôn bán tấp nập làm anh ngây ngất. Cường mua một vé “xuất khẩu” giá ba ngàn đồng. Bộ đội đứng trong trạm canh thản nhiên nhìn người qua kẻ về, dễ dãi. Cường xuống đò đi qua con suối rộng chừng nửa cây số. Lên bờ, anh lại mua một vé nhập nội giá một nhân dân tệ. Vậy là anh đã ở trên đất Trung Quốc.
Nhanh nhẹn, Cường nhập vào dòng người buôn bán. Anh đi vòng quanh các chỗ bán hàng. Thôi thì đủ hạng người tứ xứ từ lục địa đổ xô ra. Anh đứng trước một gánh hàng rong, ngắm lại bên bờ bên kia. Kìa, quê hương của anh. Gần nhưng xa lắm. Những dãy núi mờ sương, bầu trời xanh cũng như khác hẳn từ bên kia biên giới, như chính bầu trời cũng bị mốc cột chia hai không thương xót. Những con người áo quần lam lũ đầu đội vai mang tần tảo quá, biết bao giờ cái nón cối che ngang tầm mắt mới được giở ra để thiên thanh bầu trời khoáng đạt. Trong lòng Cường dâng lên một cảm giác lâng lâng lạ lùng như đang đặt chân đến một tinh cầu khác, dù cảnh sắc thật ra nào có khác bao nhiêu. Anh đến điểm hẹn là một ngôi nhà nhỏ cất sau những cây cổ thụ cao ngất. Người dẫn đường đã ở đó. Một gã bộ đội phục viên, mắt một mí, da mặt đen tràm và tròng mắt long lanh sắc sảo. Nghỉ ngơi ăn uống xong, Cường theo gã đi sâu vào lục địa. Cho đến khi trời đã chập choạng, Cường nhìn thấy một con sông nhỏ. Một chiếc thuyền dài chừng mười mét đang neo chờ. Cường xuống thuyền, đưa mảnh giấy có viết mật hiệu cho gã bộ đội để gã về nhà lấy phân nửa số tiền, phần còn lại sẽ đưa nốt khi có mật hiệu của anh gửi về từ Bắc Hải.
Gã lái thuyền là một công an Trung Quốc mặc thường phục. Trước kia, gã từng sống ở Hà Nội nên tiếng Việt rất sõi. Gã làm công việc này thành thục cứ như nghề chính của gã là đưa nạn dân đi chứ không phải công an. Trên thuyền còn có non ba mươi người khác. Cường cảm thấy thanh thản hơn chuyến đi lần trước. Bề gì, từ đây đến Bắc Hải anh không phải lo nghĩ nhiều.
Thuyền lặng lẽ đi trên dòng sông quanh co. Hai bên bờ nhà cửa thưa thớt, một vài ánh đèn dầu hờ hững hắt ra buồn ảm đạm. Tiếng chim gọi bầy ríu rít vang rân, rồi trả im lặng cho dòng sông khi đêm càng về khuya. Cường ngủ gà ngủ vịt, lòng dấy lên tâm cảm buồn mênh mông của người viễn xứ. Anh nhớ ánh đèn nhà day dứt, thót cả ruột non ruột già.

Google images

Gần sáng thì thuyền đến cửa sông. Nước chảy xiết khá mạnh nhưng gã công an tài công sành sỏi nương theo con nước đưa thuyền ra biển êm ả. Bỗng như Cường có cảm tưởng vừa thoát khỏi một chốn tù hãm tăm tối để đón nhận cả không gian bao la mở rộng. Gió lồng lộng thổi, bát ngát những đợt sóng lăn tăn. Anh tưởng như cả tuổi xanh bây giờ mới thực sự biết sống là gì. Cuộc đời đâu chỉ quanh quẩn xó tường, rồi anh sẽ đến Hồng Kông (Trời ơi, xứ sở của tự do) chỉ trong vòng vài ngày nữa. Ánh điện vàng rực rỡ trong thư của bạn gửi về bắt đầu nhảy múa tưng bừng trong cõi lòng phấn chấn của Cường. Nơi đó có những tòa nhà chọc trời, phố phường không bao giờ tắt ánh sáng kinh kỳ. Anh sẽ xin đi một nước thứ ba, anh sẽ viết thư báo tin cho cha già, anh sẽ cho ông biết sẽ đi theo ước muốn của ông, anh sẽ…anh sẽ…
Đất liền chỉ còn là một vệt mờ mây khói. Sóng lắc lắc làm mấy bà bắt đầu nôn mửa. Nhằm nhò gì cái màu mật xanh để đổi cả cuộc đời ấy. Có mất đi một phần thân thể, có mất đi…Ừ, mà mất thật rồi đấy. Mất mẹ, mất cha, mất quê hương, mất bạn bè, mất tất cả. Ừ, thì cuộc đời là cuộc thương lượng mặc cả mà. Nếu không liên hiệp được với nó thì phải dứt nó đi, xây dựng một cuộc đời khác.
Có một đêm trời gió khá mạnh. Gã tài công tìm ngay một hòn đảo cực kỳ nhỏ, tránh. Sáng gã bình tĩnh đưa thuyền đi tiếp. Nhưng lần này gã đi sát bờ hơn. Cường có thể nom thấy những mái nhà li ti trong bờ, toàn bộ quang cảnh dường như bị chế ngự bởi núi cao xanh thẳm hoặc đen tràm. Ánh nắng có khi vãi một vệt vàng hình chóp nón như có bàn tay nào như vãi thóc trước sân. Thế đấy, thiên nhiên đang đãi ngộ những ai biết ngắm nhìn.
Rồi Bắc Hải. Cường đã tới cái điểm mà từ đây anh phải tự lo liệu lấy. Một thành phố cảng lớn quá sức tưởng tượng của Cường. Tàu bè đậu tấp nập. Cả bọn lớ ngớ sau khi chiếc thuyền đưa đã quay mũi. Họ dự định tới đây sẽ mua thuyền đi tiếp. Nhưng ngay phút đầu lóng ngóng không biết bắt đầu làm sao. Cường chú ý ngay một người con gái đi một mình. Người con gái trạc tuổi Cường, tóc kết đuôi sam, nước da đen khăm khẳm và khuôn mặt có vẻ lam lũ của một người lao động dầm mưa dãi nắng. Cô ta đứng chơ vơ một mình trên bãi, không trò chuyện với ai cả. Một giọng nói cất lên:
– Ai biết tiếng Trung Quốc nhỉ?
– Tôi biết chút ít thôi. Cường đáp.
– Thế tính sao đây?
Tính sao? cứ tiến tới những tòa nhà cao ngất ấy đã. Đúng lúc ấy công an Trung Quốc xuất hiện. Cường nói lắp:
– Ngộ..chẩu hớn cỏn.
Mấy viên công an có vẻ lịch sự. Một gã bảo biết rồi, các nị phải tới tập trung ở chỗ có đồng bào của nị đi Hồng Kông ấy. Một đám đông người địa phương tò mò đứng nhìn lũ người áo quần xốc xếch đi trên đường. Những biểu hiện có tiếng nước ngoài hấp dẫn và hứa hẹn quá. Mọi người chỉ trỏ, bàn tán. Thành phố đẹp gần bằng giấc mộng có đèn xanh đèn đỏ, đẹp nhất là con gài mặc váy ngắn củn, hai bắp chân thon thon khiêu khích. Bắc Hải quả khác xa những làng mạc nghèo nàn lạc hậu mà Cường mới đi qua, Cường như anh mán về thành, ngơ ngáo đi giữa cõi người xa lạ thích mắt. Cường đến bờ biển có đồng bào anh cư trú.
Cái vẻ trù phú của cảng Bắc Hải chỉ làm tăng nỗi bơ vơ lạc lõng của nạn dân nạn kiều sống trên bãi biển. Ngoại trừ một nhà thương thí do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979, các nạn kiều bị đuổi về nước năm 78 chẳng được hưởng một quy chế gì rõ ràng. Đầu tiên, họ được bố trí lên các nông trường ở tỉnh Quảng Tây. Chịu không nổi đời sống ở đó họ trốn về miền biển và cắm lều sống trên bãi cát bằng nghề đánh cá. Họ làm vệ sinh cá nhân ngay trên bãi, lấy cát lấp lại chờ sóng lên dọn sạch. Nhóm nạn kiều sống ở Bắc Hải đã bị lãng quên hoàn toàn. Không ai cần biết đến họ và họ cũng chẳng trông chờ vào ai. Lương thực của họ là biển cả mênh mông (tê tái) ngoài xa kia. Trung Quốc coi họ là nạn dân người Việt, nhà nước Việt Nam lại coi họ là nạn Kiều. Sức ép của hai thể chế đẩy những người này ra tận mé nước và không thể ra xa hơn được nữa. Những đứa trẻ sinh ra trên cát nóng chờ ngày theo cha mẹ ra khơi bắt cá. Không một ngôi trường nào chịu chứa những đứa trẻ sinh nhầm đất nước ấy.

Google images

Khi nhìn thấy đời sống nghèo nàn lạc hậu của người Việt gốc Hoa trên mép nước, Cường càng thêm khâm phục tài nghệ nói phét “đảng truyền” vô tiền khoáng hậu của Hoàng Văn Hoan những ngày chống gậy ăn xin trên đất Trung Hoa. Trong một số báo tin Việt Nam lọt về Hà Nội, Hoàng Văn Hoan huênh hoang là đã đi thăm khu nạn dân nạn Kiều đánh cá ở Bắc Hải. Theo tờ báo thì công việc làm ăn của nạn Kiều tấp nập và vui vẻ. “Chiều chiều, khi tàu thuyền cập bến, kẻ mua người bán, tiếng nói tiếng cười vang lên nhộn nhịp…Nhiều bà con nạn Kiều đã trở nên giàu có.”
Vài ngày sau Cường gặp một chiếc thuyền đi từ núi dê Hải Phòng ghé Bắc Hải mua dầu Cường hùn một chỉ vàng xin quá giang đi Hồng Kông. Tài công biểu diễn tình đồng hương bằng cách nhận thêm vài người xin theo, trong đó có cô gái mà Cường nhác thấy hôm mới đến. Gã tài công cười mơn hỏi cô gái?
– Em tên gì đấy?
Cô gái dường như không nghe hỏi. Đôi mắt lần thần nhìn ra biển, nhìn vào những dãy phố. Gã tài công hỏi thêm một lần nữa. Cô đáp:
– Mân.
Rồi ngồi xuống góc thuyền, tay mân mê mép áo. Cường cố lục trí nhớ. Dường như Mân không phải là trong đoàn người đi từ cửa khẩu Đông Hưng. Dường như cô xuất hiện đâu đó lúc Cường đã đến Bắc Hải. Mân ăn mặc như một xẩm Tàu đã sinh sống nhiều năm trên đất Trung Quốc. Tóc kết đuôi sam, cúc áo cài một bên, cái quần đen khá sạch sẽ. Nhưng hề gì. Cường chặc lưỡi. Cũng là nạn nhân như mình.
Vừa vượt qua eo biển Lôi Châu, thuyền bị sút “côn”. Số phận con thuyền đành để mặc cho sóng gió, muốn đẩy về đâu thì đẩy. Cường trông thấy nhiều tàu nước ngoài xuất hiện. Tất cả đều mừng rỡ reo hò, nhúng quần áo vào dầu đốt sáng rực cả đêm tối. Nhưng những chiếc tàu sắt nhanh chóng biến khuất trong màn đêm. Sáng hôm sau, cả thuyền lại nuôi hy vọng khi thấy một tàu đánh cá Trung Quốc xăm xăm tiến lại. Tất cả đàn ông con trai trèo cả lên mui, phất áo rối rít. Chiếc tàu đánh cá ngưng lại, đặt ống nhòm nhìn sang. Giây phút kéo dài hơn thế kỷ. Những con tim hồi hộp chờ đợi một sợi dây sẽ được quăng sang. Một phút…hai phút…năm phút…chiếc tàu đổi hướng chầm chậm hướng ra phía chân trời.
Những tiếng thở dài nén trong lồng ngực. Cường chán nản bảo tài công:
– Có cách nào kết buồm không?
Gã lắc đầu:
– Thuyền ta lớn quá, chịu.
Ba ngày trôi trên biển. Đàn bà con nít say mê mệt, nằm bẹp dí trên sàn, có người thậm chí vật người trên chỗ vừa ói mửa, tóc tai bầy nhầy. Chỉ có Mân là trông đỡ thảm hơn cả. Nàng tựa người vào khoang đôi mắt lạc thần nhin lên bầu trời mây kín. Suốt từ khi đặt chân lên thuyền Mân chưa nói với ai một lời. Dường như những việc xảy ra quanh Mân không làm người con gái kỳ lạ ấy lo nghĩ. Gã tài công có khi trèo ngang qua chỗ Mân ngồi, lẩm bẩm:
– Cái…lạ…
Một chiều. Khi sức lực của mọi người trên thuyền đã cạn kiệt thì một chiếc thuyền Trung Quốc xuất hiện. Chỉ còn vài bàn tay đủ sức giơ vẫy, nhen nhúm hy vọng. Gã tài công ngồi trên nóc ra dấu là thuyền chết máy. Đột nhiên, Cường nghe gã rú lên mừng rỡ. Chiếc tàu đánh cá đã liệng dây sang. Gã tài công chụp lấy sợi dây, nhanh nhẹn cột vào mũi. Nhưng kia, chiếc tàu vẫn xáp lại, xáp lại gần. Cường bảo:
– Anh xin đồ ăn thức uống đi, nó muốn cho đó.
Gã tài công ngước lên, rồi cả thuyền đồng loạt há mồm, chỉ trỏ. Mấy gã Trung Quốc cười hằng hặc ra vẻ hiểu, quăng xuống một bao mì gói, rồi những tảng nước đá ào ạt bay sang. Một gã thủy thủ nhảy qua thuyền gặp nạn, nói chuyện với tài công. Cường thấy gã thủy thủ làm điệu bộ, có lẽ gã không hiểu ngôn ngữ phần lớn là bằng tay chân của tài công.

Google images

Cường thấy tài công lắc đầu, gã thủy thủ xịu mặt quay về, rồi tài công gọi giựt gã lại, bảo chờ. Tài công kêu đàn ông trên thuyền hội ý. Cường té ngửa người khi gã tài công cho biết là tàu Trung Quốc đòi “mượn” một phụ nữ trên thuyền rồi mới chịu kéo. Gã nói:
– Đó…tôi đâu muốn!
Những gã đàn ông im lặng. Đàn bà trên thuyền phần lớn là vợ con họ, là người yêu. Một thanh niên tức giận chửi:
– Địt mẹ…quân đểu thế. Tớ đếch chịu, chết bỏ chớ sợ đếch gì.
Mấy thanh niên khác ào ào hưởng ứng. Gã tài công nạt:
– Im đi, anh em không có tinh thần làm chủ…
– C…đi vượt biên mà còn nói giọng đó. Người thanh niên nổi nóng, hai lỗ tai anh ta đỏ bừng.
Gã tài công cũng nổi nóng, nhưng gã đấu dịu khi thấy người thanh niên quyết ăn thua đủ:
– Học, mầy biết tao mà. Đây là thế kẹt mới tính như thế chứ.
Học mặt đổi từ đỏ qua tái, tính đáp trả thì gã thủy thủ Trung Quốc thấy lâu quá, hối:
– Tụi ngộ đi đây.
Gã tài công hốt hoảng:
– Tẳng…tẳng…mà!
Bỗng nhiên đôi mắt tài công sáng rực:
– Tôi đồng ý tuyệt đại đa số phụ nữ trên thuyền đều là vợ con anh em mình, ai lại… nhưng có một người…
Gã ngừng lại. Cường nghe tim mình thắt lại. Anh hồi hộp chờ đợi giọng nói phán quyết của gã tài công:
– Con…Mân!
Cường quát lên: – Không được!
Gã tài công cười hề hề. Mọi con mắt đổ dồn về mặt Cường.
– Đằng ấy bảo không được là không được cái gì? Theo tôi biết thì cái cô Mân đó đâu có liên hệ gì với đằng ấy.
Hai tai Cường nóng bừng. Anh có tật nói lắp khi nóng giận:
– đã đành…mà…mà..như vậy bất nhân…lắm!
Cường nuốt nước bọt, cổ họng đắng chát, gã tài công trở mặt:
– Này, tôi bảo. Tôi lãnh đạo thuyền này, nhớ kỹ như vậy. Hơn nữa, chính ông bạn cũng là người đi nhờ cơ mà. Cái cô Mân đó tôi cho đi hôi không tốn một cắc!
– Tôi đóng một chỉ vàng.
– Rồi sao chớ!
Học xen vào:
– Tôi thấy thất đức.
– Đức! ơ cái anh này rõ vớ va vớ vẩn. Thế để cả thuyền chết chắc có đức hơn à. Chỉ tiểu tư sản.
– Nhưng cô ta chỉ có một mình.
Gã tài công vớ ngay câu nói của Học:
– Chính thế. Các anh dẹp cái lòng đạo đức…giả của các anh đi. Phải nhìn nhận sự hợp tác của Trung Quốc chứ. Tôi hỏi: đồng bào Nam Bộ vượt biển, gặp hải tặc Thái Lan, chúng nó có tử tế thế không nào? Hay là chúng cứ tàn sát, bắt hết đàn bà con gái, thậm chí con nít lên mười cũng không tha, chúng hiếp tập thể, chặt đầu kéo từng chùm con gái theo sau tàu chúng, chặt dây, hoặc bán vào động điếm. có ai làm gì chúng đâu nào, hay chỉ nói phét…khơi khơi.
Cả bọn im thin thít. Gã quả có lý. Tiếng kêu đau thương của đồng bào Nam Bộ gặp hải tặc Thái Lan đã đến tai hết thảy mọi người. Nhưng tiếng kêu ấy chỉ chìm sâu vào đáy vực, không có tiếng vọng nào hồi đáp. Sự đau khổ của họ là đại dương nhưng những hành động ngăn chặn chỉ là giọt nước trong biển cả.

Google images

Gã tài công xăm xăm tiến lại chỗ Mân đang ngồi. Cường hét:
– Không được…
Gã tài công quát:
– Giữ nó lại.
Lập tức nhiều bàn tay cứng như thép giữ chặt lấy Cường, ấn anh ngồi xuống. Gã tài công nắm cổ tay Mân. Nàng ngước nhìn gã, ngơ ngác.
– Em chiều bọn họ chút đi.
Mân rút tay về, sợ hãi. Nhưng gã tài công đã hạ quyết tâm, gã giựt phắt người nàng bắt đứng dậy, cặp hai bàn tay cô gái ra đằng sau, đẩy tới trước. Đám đàn bà con gái đã hiểu chuyện, họ co giò dạt ra hai bên lấy chỗ cho gã, đôi mắt họ nhìn Mân nửa thương hại, nửa long lanh giấu nỗi vui mừng nhen nhúm. Đằng nào, nếu không phải là Mân thì hẳn là một người trong bọn họ. Mân ré lên một tiếng nhỏ, rồi im bặt. Nhưng nước mắt nàng cứ lặng lẽ chảy ra, chảy ra âm thầm cứ như tiếng khóc trong người Mân đã đóng lại tự bao giờ rồi. Đôi mắt nàng nhìn xuống. Hai bàn chân trần chưa kịp cắt móng, cái áo cài cúc một bên phập phồng. Một giọt nước mắt rớt xuống ván thuyền ướt nhẹp. Một giọt nước mắt rơi xuống khi gã tài công lải nhải:
– Chiều bọn họ chút thôi mà. Có sao đâu.
Một giọt nước mắt khác rớt xuống khi bước ngang qua Cường. Anh thấy giọt nước mắt rơi xuống chân mình, vỡ tóe ra rồi thấm vào kẽ nứt. Chiếc thuyền chao đảo nhẹ nhàng. Tiếng sóng vỗ lách tách vô mạn, bốn bề mênh mông nước. Những người đàn bà Việt Nam là vật tế thần suốt chiều dài lịch sử. Phải chăng nàng công chúa khi xưa cũng bật khóc như thế khi bước chân xuống thuyền để về Ô Châu Ô Lý. Cái thân hình bé nhỏ của người đàn bà Việt Nam, với chân trần và rèm mi rũ xuống đã cưu mang bao lần thế hệ. Nạn nhân của lòng tham ích kỷ. Những giọt nước mắt rơi xuống, thấm vào kẽ nứt, góp vào biển cả, chan hòa trong đại dương mênh mông khổ ải. Nàng Mân, nàng Mân đau khổ và yếu đuối. Nàng đang bị bế thốc lên tàu lớn, những bàn tay thò xuống kéo xốc nàng, hai bàn chân móng dài của nàng cọ sát trên mạn thuyền cọt kẹt.
Những trận mưa kéo xuyên qua bầu trời, đập xuống mái chùa dột nát. Mưa xuyên qua mái, chảy loang trên nền chùa nứt rạn. Ngọn đèn dầu hiu hắt chập chờn soi những bóng tối người chụm vào nhau dưới hiên chùa rét lạnh. Sóng cuốn ầm vang ngoài bãi vắng. Hai chiếc thuyền tỵ nạn gặp nhau nơi cồn cát, nằm chơ vơ trên bãi, chờ những cơn mưa bớt nặng để biển bớt ba đào sóng dữ. Nhưng trời như cố trêu người thất thế, cứ cho cơn mưa cầm chừng. Có đêm gần sáng, trăng lưỡi liềm hé qua mây đen nghiêng nghiêng dọi, rồi lặng lẽ biến đi dưới bầu trời mây dầy như lớp cơm cháy.
Rồi nàng Mân đã được trả về thuyền, và đã theo Cường tới đụt mưa dưới mái chùa xiêu đổ. Mân ngồi bó gối dưới chân bệ thờ, từ chối mọi hỏi han chăm sóc. Sự im lặng của Mân dễ sợ hơn đêm tối, dễ sợ hơn mọi hình thái de dọa trên đời. Bên hiên, Hải cũng ngồi bó gối. Chàng cũng im lặng suốt một tuần nay. Có đêm chàng ra ngồi trên mép biển, mắt mở trừng nhìn những lớp sóng thi nhau xô đẩy, tung tóe. Cái cồn cát quá nhỏ không đủ để chàng xa lánh mọi người. Từ trong chùa nhìn ra, người ta có thể thấy cái lưng khòm của chàng in trên bọt sóng. Những bọt sóng đã nuốt trôi vợ con chàng, không ai tìm thấy xác hai kẻ bạc mệnh trong số tử thi tấp vào bãi Đồ Sơn. Rồi mai nầy, mưa tạnh, chàng sẽ đi. Có thể chàng sẽ đến. Có thể chàng sẽ không bao giờ đến. Nhưng điều đó có nghĩa gì khi lòng Hải đã băng giá trước hình ảnh mơ hồ của tự do.
Có đêm người ta thấy Sương chập choạng lần ra bãi. Nàng không cần ai dắt. Thính quan và lòng mẫn cảm của nàng dắt nàng đi. Nàng ra tới bãi, lắng tai nghe. Chỉ có tiếng sóng, chỉ có tiếng mưa rơi lắc rắc trên vai. Nàng bắt đầu cất tiếng gọi. Hải ơi! Tiếng gọi mất hút vào tiếng sóng. Nàng cứ gọi, gọi mãi, đi dọc theo mép sóng. Hai chân nàng lạnh ngắt nhưng lòng mẫn cảm cứ bắt nàng đi. Nàng đi giáp một vòng cồn cát. Hư vô đã cách biệt nàng. Không ai thấy nàng khóc.

Google images

Rồi một buổi sáng nắng hồng rực rỡ. Nắng rực rỡ làm xao động những triền sóng vô tư. Nắng sưởi ấm những tim gan giá lạnh. Ra khơi, ra khơi thêm một lần nữa. Đã bao lần ra khơi, có thêm một hiểm nguy nữa thì định mệnh cũng đã an bài rồi. Cường đi theo chiếc thuyền chở Hải. Sương hân hoan nghe tiếng Hải nói, như thể sự tái sinh đã đập tan âm mưu phản động của sự im lặng dài, sự im lặng dài đêm thâu, kẻ thù truyền kiếp của mọi giai cấp. Dũng bảo Cường:
– Mày bảo cô Mân đi theo thuyền tao.
Mân bình thản theo Cường, bình thản leo lên thuyền ngồi bó gối. Hai chiếc thuyền được đẩy xuống nước, đi về một hướng nhưng khác lộ trình. Mặt trời soi rạng rỡ.
Thuyền đi qua vạn sơn quần đảo. Những ốc đảo nhỏ có, to có, có cái trơ trụi đất cát đìu hiu trên sông trắng, có cái cây rừng tủa như lông nhím. Lương thực đã cạn hết, gạo không còn một hột, nước không còn một giọt. Cái đói làm người vàng cả mắt. Thuyền ghé vào bờ không biết bao nhiêu lần nhưng toàn là những khu đất hoang dã. Có khi gặp dân thì họ cũng nghèo quá, vật lộn với miếng ăn từng bữa nên cũng không có gì để giúp. Thanh niên đi đào trộm ngô khoai hoặc bất cứ loại củ gì có thể ăn được. Dường như cả trái đất lương thực đã cạn kiệt.
Cánh phụ nữ còn thê thảm hơn nữa. Một lần Sương có kinh. Hải biết được điều đó khi thấy dòng nước đỏ chảy loang trên chân nàng. Hải căng vạt áo cứa cứa lên mạn thuyền để lấy vết cắt nhỏ, chàng xé toạc vạt áo xé thành miếng đưa cho Sương. Hải run rẩy dìu Sương lên bờ, những đốm nắng làm chàng hoa cả mắt. Chàng tưởng trái đất đã mất trọng trường nên khi Sương dựa vào người, Hải té chỏng cọng. Chàng vừa đỡ Sương, vừa nói đỡ:
– Anh không thấy gì cả. Có lẽ rồi anh cũng như em.
Sương gượng cười vịn vai Hải đứng dậy. Khuôn mặt nàng xanh như tàu lá chuối non. Nàng hỏi:
– Có phải áo anh màu xanh không?
Hải ngạc nhiên:
– Em thấy đường à?
– Không, nhưng em nghĩ như thế. Anh tên Hải mà.
Sương bị mù sau một trận ốm nặng năm lên bốn. Nàng đã thấy màu sắc của quê hương nơi nàng sống chỉ thuần là màu tro xám xịt của kiếp người nghèo khổ. Nàng nhớ nhất là màu xanh của biển. Đó là hình ảnh rực rỡ nhất còn đọng trong trí nàng. Nàng ao ước một chiếc áo mang màu biển xanh nhưng ước mơ ấy chưa bao giờ thành sự thật. Hải nói:
– Ừ, áo anh màu xanh nước biển đấy, nhưng bạc trắng cả rồi. Em có hình dung không?
– Có, anh.
Sương nhắm chặt mắt lại. Trước mắt nàng là trùng trùng sóng xanh biêng biếc. Chiếc thuyền con của bố đi đánh cá về. Hình ảnh bố cô độc quá. Nước mắt nàng ứa ra, tràn trề hai rèm mi. Nàng mở toang đôi mắt. Vẫn là bóng tối, và hơi ấm của chàng trai. Hải nói:
– Đứng đây nhé, anh đi tìm cái gì nhai đỡ.
Nàng đứng yên dưới tàn cây. Xung quanh tiếng lá xì xạc tâm sự. Nàng đã đặt chân lên đất liền mấy lần rồi? Hải đã đi kiếm ăn mấy lần rồi? Sương không nhớ hết. Nàng cảm động là Hải đã thay thế bố. Thính quan và lòng mẫn cảm của nàng cho biết chàng trai ấy còn đối với nàng bằng một tình cảm đặc biệt. Nhưng sao Hải đi lâu quá. Sương nghe tiếng sấm rền trên bầu trời, nàng thấy lạnh, sợ hãi. Tiếng gọi ơi ới của người trên thuyền. Tiếng lá rung động mạnh mẽ quanh nàng, rồi Hải:
– Anh tìm được mấy củ khoai nè.
Chàng lại cạp vỏ ngoài. Thốt nhiên Hải xúc động mãnh liệt cố kiềm một tiếng nấc. Chàng đã cạp vỏ khoai cho bé Ngọc lần cuối. Xác con chàng đã rã mục dưới cát bụi thời gian. Môi chàng run run muốn nói. Chợt bàn tay Sương quờ quạng nắm lấy tay Hải:
– Anh nhớ con phải không?

Google images

Hải nấc lên thành tiếng. Sương ôm ghì lấy vai chàng. Một vài giọt mưa rơi xuống, lạnh lẽo trên cườm tay. Hải thấy cõi lòng hoang vu như ruộng lúa sau ngày gặt. Chàng cảm thấy hơi ấm từ tấm thân gầy guộc của Sương. Chàng để yên như thế, trong lòng dần dần yên tĩnh.
Rồi thuyền lại đi. Len theo những ốc đảo tránh gió. Đêm xuống. Trăng lên. Trăng lặn. Con mắt đã mờ sức sống. Chiếc thuyền im lặng như mộ bia di chuyển trong đêm mờ. Một đêm, Hải ngồi sau chiếc thuyền chợt nghe tiếng biển réo dữ dội đằng mũi. Chàng len chân lên phía trước, bỗng sửng sốt thấy những làn sóng lửa sáng ngời cứ dâng lên, dâng lên, đập vào mũi thuyền từng chập. Hải kinh hoàng suýt bật thành tiếng kêu. Dũng nói, giọng bình tĩnh:
– Trông kinh thật, lân tinh đấy ông.
Những làn sóng lửa vây lấy thuyền, chập chờn ma quái như ma trơi đi ăn đêm. Hải nghĩ những oan hồn vượt biển đang hiện về trêu chọc. Chàng nhớ đã từng thấy ma trơi như thế trong một nghĩa địa. Bóng ma đỏ rực lượn vòng trong đêm, trong tiếng gió gọi hồn. Thốt nhiên, gai ốc Hải nổi cùng mình. Chàng nhắm mắt lại, tự đánh lừa cảm giác ghê sợ của mình bằng giấc ngủ. Hình như chàng đã ngủ một giấc ngủ dài chờn vờn đốm lửa vây quanh. Sáng hôm sau, Hải choàng dậy khi tiếng Dũng la thất thanh:
– Sống rồi bà con ơi, thành phố!
Từ xa, những ngôi nhà tầng xuất hiện dưới màu sáng hồng của bình minh.






Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 7 May 2024

6. Phần 6
Rừng phi lao xanh mướt oằn oại lượn trong gió dọc theo bờ biển xa mút tầm mắt. Từ điểm xa mút ấy lố nhố hiện những ngôi nhà trắng nhỏ cứ như những hộp vuông bé nhỏ ấy được cắm trên đọt xanh của lá, của màu xám núi. Ở một góc mắt khác, những tảng đá chồng lên nhau, xếp thành hàng lắt lẻo từ đất liền đổ ra biển trông như những đàn rùa nối đuôi nhau từ bỏ đất liền. Sóng tóe lên trắng xóa, hung dữ đập vào những….mu rùa nín lặng chịu đựng. Mây trời sà thấp, thấp đến mức chui vào những cánh cửa bé xíu của những ngôi nhà bé xíu.
Họ phấn khởi khi càng tới gần màu đỏ chói của nhiều nóc nhà càng tỏ hiện một sự phú túc dư dả nào đấy. Mặt đất nghiêng dốc ra phía biển, nhưng cả ngôi làng được xây trên một mặt bằng khá phẳng. Kể từ khi thấy hình dáng của những ngôi nhà cho đến khi thấy được màu ngói, họ vẫn còn cách một quãng xa. Mặc dù khoảng cách càng lúc càng ngắn lại nhưng hoài không đến đích. Hải tựa vào gốc cây, hào hễn bảo:
– Bao giờ…tới…Dũng…chắc chết quá ông ơi!
Dũng tỉnh táo hơn, động viên cả bọn:
– Thế nào mà chả có cái để ăn. Ráng lên, thiên đường cụ Mác kia rồi.
Sương ngã chúi vào lòng lão Mục, đôi chân nàng tê dại không còn cảm giác. Lão Mục lựa thế ngồi xuống đất, ngửa mặt lên trời uống không khí. Một con chó từ đâu trong bụi chạy xẹt ra, lông nó vàng óng đến phát thèm. Dũng chặc lưỡi, tưởng tượng ra đĩa thịt chó thơm đến ngạt. Nhớ. Anh còn hình dung ra có cả chén rượu nốc vào nóng ran người. Bỗng như trí tưởng tượng khiến tinh thần Dũng phấn khởi, anh giục mọi người đi tiếp bảo:
– Mình có cơ sống. Có chó là có đồ ăn mà.
Bóng người xuất hiện lấp ló trong rừng phi lao khi bọn Hải tới gần. Chẳng còn gì để sợ, họ đang muốn gặp công an, hoặc bất kỳ một người nào may mắn hơn họ. Dũng hối thúc:
– Ông ráng tí nữa ông ơi. Trông kìa, có cả lều giăng trên bãi tắm. Hẳn phải là xứ giàu.
Dưới những cây phi lao mởn lá, quả nhiên Hải nom thấy những túp lều nhỏ che nghiêng ra hướng biển. Nhưng kỳ, những túp lều chỉ có một mảnh, làm bằng đủ thứ vải đã cũ, có cái còn rách bươm ra nữa. Bỗng nhiên có tiếng hô hoán:
– Ê, Việt Nam hở, các đằng ấy Việt Nam phải không?
Người vừa hỏi là một thanh niên gầy gò, da mặt anh ta bong ra từng mảng. Anh ta cầm một khúc cây vót nhọn, chắc đang nới thêm lều.
– Đằng ấy là Việt Nam hả? Trời ơi…
Dũng la lên mừng rỡ. Người thanh niên cười, hàm răng cửa cái còn cái mất:
– Hải Phòng đấy à. Đồ Sơn đây.
Anh ta nghe Dũng kể cuộc hành trình, mặt không đổi sắc:
– Tụi tôi đắm thuyền ở đây. Chỗ kia kìa. Năm hôm rồi.
Người thanh niên chỉ ra bờ biển. Có thấy gì đâu. Chỉ có mặt biển phẳng lì không vết tích. Anh ta bảo chỉ một đêm, con thuyền bị sóng nâng lên đập xuống vài lần là vỡ tan từng mảnh. Thuyền anh ta đi 47 người. Giờ tản mác đi ăn xin hết. Chỗ này tên là Ô Thạch. Anh ta kêu bọn Hải vào lều ngồi trên miếng vải lót nhăn nhúm.

Google images

– Làm sao đi tiếp? Hải băn khoăn hỏi.
– Mọi người đang tìm cách hùn tiền mua thuyền đấy. Các đằng ấy có tiền bạc gì không đấy, cứ chung cả vào với tụi tôi.
Dũng thầm đánh giá người thanh niên. Hàm răng sún khiến anh ta có vẻ bần hàn nhưng đôi mắt lại thẳng thắn. Gần tháng trời nay Dũng vẫn nhất quyết không chịu bán hai cái nhẫn chỉ đợi đến lúc này. Hải cũng có ý nghĩ tương tự. Một cái nhẫn cưới và hai mươi đô còn sót lại. Hải đã tiêu mất hai mươi đô la cho ngày ba mươi Tết hôm đến đảo Hải Nam.
– Tôi còn một ít. Những phương án của các anh ra sao?
Người thanh niên mắt sáng rỡ:
– Tôi tên Tịnh. Cả thuyền chỉ có tôi biết lái thuyền buồm. Tụi tôi đã tìm được chỗ mua một chiếc thuyền cũ nhưng họ đòi đến hai ngàn nhân dân tệ cơ. Thành ra phương án tụi tôi thế này: Hiện đã có chừng một nghìn, 47 người sẽ đồng loạt tản đi ăn xin, mỗi người kể cả con nít thì hai đứa chia thành một suất, cơ bản chia thành 40 suất. Mỗi suất phải xin đủ 40 đồng. Khi mọi người xin đủ số rồi thì sẽ tiến hành việc mua thuyền. Tôi chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật.
Tịnh nhìn lão Mục:
– Thế ông đây chắc là dân trong nghề?
Lão Mục gật đầu mệt nhọc:
– Vâng, tôi phụ được.
Tịnh có vẻ phấn khởi:
– Các anh…à chị nầy nữa muốn nghỉ cứ nằm đây. Nếu muốn có gì ăn thì lên trên làng xin.
Tịnh mở can nước rót ra ca nhựa:
– Uống thì được. Tôi chẳng có gì đãi. Chờ vợ con xin ăn về mới “phụ” chúng nó cầm hơi.
Lão Mục gượng đứng lên. Hàm râu của lão như rụng đi gần nửa, xoắn tít vào nhau bẩn thỉu. Hải bảo:
– Thôi ông và cô Sương nằm nghỉ để tụi cháu đi xin ăn được rồi.
Dũng dồn thêm:
– Ông trông mệt lắm đấy, lại phải trông chừng cô Sương chứ.
Lão Mục gật đầu. Lão cởi áo làm gối biểu Sương kê lên. Những bắp thịt cuồn cuộn của lão đã tan theo bọt sóng, chỉ còn những lóng xương sườn nhô cao và hai cánh tay cong queo đường gân máu.
Hải và Dũng đi ngược lên hướng núi. Những ngôi nhà ngói đỏ có lối kiến trúc na ná như ở Việt Nam khiến cả hai đều có cảm giác gần gụi. Chỉ có khác là dường như đây là ngôi làng của người già. Những bà lão hom hem đội nón lá không chóp, tóc cắt ngắn ngang cằm nên trông có vẻ dịu dàng dễ mến của người đàn bà Việt Nam. Có người đang ngồi tựa cửa ngủ, miệng há hốc thở. Cả khu làng xây trên một khu đất cằn, đá lổm chổm che kín cả đất thịt, chằng chịt những rãnh nước hôi thối và bẩn thỉu. Hải đi ngang một ngôi trường tiểu học, ruột thắt lại khi thấy trẻ con nô đùa. Chàng rảo bước tránh xa ngôi trường nhưng như có điều gì giữ lại khiến Hải cứ ngoái lui. Dũng bảo:
– Vào đây thử.
Một người đàn bà trạc năm mươi tuổi đang phơi cá trước nhà. Hải trù trừ, nhớ sực bà lão xua đuổi bố con chàng hôm nào.
– Sao vậy?

Google images

– Trông bà ta hiền.
Người đàn bà trông hiền lành thật. Có lẽ nhờ mái tóc bới lên sau gáy, một vầng trán thẳng trên khuôn mặt đầy, và cái quần đen dài chấm gót khác hẳn đàn bà Trung Quốc lúc nào cũng mặc quần ngắn cũn cỡn. Người đàn bà quay phắt lên, nói. Ôi chao, bà ta nói tiếng Việt, mà nghe như giọng Hải Phòng mới chết chứ:
– Này các cậu, vào cả đây.
Hai người quýnh quáng mừng rỡ. Người đàn bà cười, hai hàm răng đều như hạt lựu:
– Các cậu ở dưới kia đấy phải không? Bà ta chỉ ra hướng biển. Mấy hôm liền người mình đi qua đây nhiều lắm…Cơ khổ!.Bà ta mời hai ông khách bất đắc dĩ vào nhà. Dũng rụt rè bảo:
– Bà giúp cho chúng em nhỡ đường…
Người đàn bà xua tay:
– Bày vẽ nào. Tôi hiểu.
Chủ nhà rót chè ra tách, đon đả. Hải duỗi chân, lòng như nhẹ đi một gánh ưu phiền. Người đàn bà ngồi trên sập gụ, một chân thùng xuống đất, chân kia co lên. Ôi chao, sao mà Việt Nam thế.
– Các cậu đi Hồng Kông đấy chứ gì. Rõ thời thế, tôi mà ở lại thì cũng đến nước này thôi.
Thì ra người đàn bà trước kia ở Hải Phòng. Chính sách “bài Hoa” đã đẩy bà về nguyên quán năm 78. Bà ta về đây lập nghiệp với chồng cũng là người gốc Hoa. Chủ nhà rành rẽ giảng:
– Cái làng này được tổ chức theo lối công xã, nó như hợp tác xã bên mình vậy. Có chế độ bao cấp…
– Nhà nước ta hết bao cấp…
– À thế…
-…rồi cơ bác!
-…nào tôi có biết. Tất cả nhà cửa đều được xây cất ở những nơi thật khô cằn sỏi đá, vì những vùng đất tốt thì phải để dành cho canh tác. Đấy hai cậu coi, đến cỏ cũng không mọc ở đây được nữa là. Ruộng nương thì ở xã kia, đàn ông con trai đều ra đấy cả.
– Thế…
– Nhà tôi cũng ngoài ấy. Hai cậu người Hải Phòng?
– Vâng, em ở chợ Sắt. Bác còn nhớ không?
Người đàn bà bỏ một chân xuống, khuôn mặt bỗng mơ màng. Một chốc, mắt bà ta rớm lệ.
– Nào…
Bà hỉ mũi, ngập ngừng nói lảng:
– Để tôi thết hai cậu, nói mãi sao cho hết chuyện đời.
Chủ nhà xuống bếp lục lạo. Cả Hải lẫn Dũng đói xanh mặt, ngồi tựa vào bàn chờ. Thời gian trôi qua chầm chậm. Ngoài sân nắng đã nghiêng hiên. Rồi chủ nhà bưng lên hai bát mì bốc khói, đặt xuống bàn:
– Các cậu cứ tự nhiên.
Dũng nói vài câu chiếu lệ. Chưa bao giờ anh cảm thấy sung sướng đến như vậy. Cuộc đời đẹp vì con người còn đối nhau tử tế thế kia. Tình đồng hương, ôi dào, sao mà đáng bát cơm tô mì đến vậy.
Người đàn bà lại rót chè. Hai ông khách đã nuốt trọn tô mì trong nháy mắt, họ cáo từ. Chủ nhà đưa một gói nhỏ:
– Hai cậu cầm ít bánh sắn ăn đường.
Hải cảm ơn chủ nhà. Chàng thấy khỏe khoắn, sức lực hồi phục. Hải bảo Dũng:
– Mình về kẻo lão Mục trông, tội nghiệp.

Google images

– Hượm đã nào. Hay tớ với cậu đi tham quan chút chơi. Vội gì. Biết đâu chừng lại được thêm gói bánh, cất ăn dần.
Hải nghiệm thấy chí lí. Chàng lò dò theo Dũng đi ngược lên dốc. Chàng thấy từ xa một người đàn ông đang bồng con đi cạnh một người đàn bà. Áo quần họ rách bươm, mặt mày vơ váo. Họ đang bàn cãi gì nghe rất căng. Rõ ràng là họ đang nói tiếng Việt. Khi đi đến gần Hải, người đàn bà vụt im tiếng, đôi mắt e ngại nhìn hai người đàn ông lạ mặt. Người đàn ông dáng chừng đã mỏi, trao con cho vợ, khuôn mặt lườm lườm ra chiều bất ý. Đứa bé đâu chừng hai tuổi, hai mắt sáng long lanh nhìn Hải nhoẻn miệng cười. Hải nghe cả mùi hôi từ cặp vợ chồng khi họ đi ngang qua. Chàng nghe tiếng người chồng gắt:
– Em nghĩ kỹ đi, đến nước này…
Người vợ cương quyết:
– Em thà chết…
– Bộ em tưởng chết dễ à…
Anh ta nhỏ giọng, Hải nghe tiếng còn tiếng mất:
– Mất đứa nầy mình…đứa khác.
Dường như chị vợ khóc thút thít. Hải không nghe tiếng chị ta trả lời. Anh chồng vẫn kiên quyết thuyết phục. Có lẽ chưa bao giờ trong đời anh ta thấy quyền làm chồng bị tổn thương đến thế. Một chốc anh ta bỏ bà vợ, hậm hực vượt lên phía trước. Người vợ chỉ chờ có thế, ngồi phịch xuống bên đường ôm con khóc rấm rức. Anh chồng chợt dừng chân, quát:
– Có đi không nào, hôm nay người ta đi đấy!
Rồi anh ta dỗ đứa bé:
– Lạc ngoan của bố nào, nào đi theo bố!
Người vợ hoảng hốt ôm rịt thằng bé. Anh chồng xấn lại, lôi vợ đi xềnh xệch. Dũng cau mày khi thấy cảnh đó:
– Cái thằng cha…
Hải bảo:
– Nó muốn bán con đó.
Chàng nghe lòng buồn dằng dặc, nhớ con da diết. Gói bánh cầm trên tay chừng nặng trĩu. Chàng chưa lần nào cho bé Ngọc ăn cái bánh như vậy suốt cuộc hành trình. Cả khi con chết, chàng chỉ có một củ khoai méo mó đã cạp vỏ để trên một cục đá dưới gốc thông già. Chàng lột sạch vỏ thông, khắc ngoằn ngoèo mấy chữ: nơi an nghỉ Lê Thị Mai Ngọc, 5 tuổi, chết ngày…tháng…năm… Rồi nếu có hôm nào trở lại, chàng có còn tìm gặp cây thông nguyên vẹn hay không? Chàng hy vọng, sợ hãi con đường sắp tới, mà ngoái lui chẳng một lối về.
Dũng bỗng hít hà:
– Nghe gì không?
– Mùi rượu.
Dũng hít hít như con chó đánh hơi. Rồi anh quả quyết lôi Hải đến trước một căn nhà ngói. Rõ ràng mùi rượu ai đang cất xuất phát từ đây. Một thanh niên đứng choán ngay cửa, quan sát hai người rồi lạnh lùng bảo:
– Vào đây.
– Thế ra nhà bác…
– Cứ vào đây hẳn…

Google images

Căn nhà lót ván kêu ọp ẹp dưới sức nặng của ba người. Gã thanh niên bảo hai ông khách ngồi, tự tay rót…rượu ra chén. Dũng sướng tưởng ngất lên được.
– Thế ra nhà bác…
– Ừ, tôi là Cảng Quảng Ninh đây. Nhìn dạng hai ông biết ngay dân vượt biên. Uống đi.
Nguyên Cảng từng là công an ở Quảng Ninh. Bị cho về hưu non vì bố là người gốc Hoa. Cảng trốn sang Trung Quốc thời nhà nước đánh “nạn kiều”, làm nghề nấu rượu lậu, vẫn ôm giấc mơ vượt biển đến Hồng Kông. Y đã vượt đến Hồng Kông một lần nhưng liền bị trả ngay về Hoa lục vì chính quyền Hồng Kông không nhận bất cứ một người nào đã định cư ở Lục địa. Sau lần thất bại đó, Cảng rút kinh nghiệm, nghĩ ngay một phương án mới. Y bàn tính với một số người trong làng hùn mua thuyền, chờ có “nạn dân” tức người tỵ nạn ở Việt Nam đến sẽ nhập bọn để cùng đi với họ đến Hồng Kông. Khi đó y sẽ khai là từ Việt Nam, và đương nhiên sẽ được chính quyền thuộc địa chấp nhận. Y chắc mẩm như vậy.
Gặp Hải và Dũng, Cảng biết ngay là người Việt Nam. Y đã gặp nhiều người ăn xin do thuyền bị đắm ở rừng phi lao để gạ gẫm cho y đi theo những chưa ai chịu. Rốt cuộc Cảng dùng phương án cuối cùng: đi bằng chiếc thuyền y mua nhưng sẽ dùng người Việt làm chủ thuyền. Thế là thượng sách. Cảng nói:
– Các đằng ấy cứ nhậu cho say một bữa. Vội gì.
Thực sự thì Hải và Dũng chẳng vội gì. Hai người cứ uống liền tù tì, nghe Cảng nói tiếng còn tiếng mất. Đầu óc chếnh choáng, hơi men khiến họ hứng chí, Dũng khề khà:
– Được, tôi là tài công. Có thêm ông thông thạo đường đi nước bước nữa lại càng hay.
Cảng hớn hở nốc cạn chén rượu, mặt y đỏ khè:
– Bọn tôi cả thảy trên 20 người. Thêm hai ông…
– Bốn người.
Hải nói, kể thêm cha con lão Mục:
– …thì cũng chưa tới ba chục nhân mạng. Ta cùng nhất trí là đi từ Đồ Sơn.
– Thuyền to bé thế nào?
– Ối dào, đi cho hết thì phải năm mươi người có dư. Nào vô nào.
Ừ, thì “vô”. Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu. Uống cho tiêu mối sầu kim cổ. Chàng còn gì nữa đâu mà sợ, cứ gặp chăng hay chớ, cứ đánh bè kết bạn ung dung, cùng nhau đi, cùng nhau tới, và chết! Hải say tít, say lử, say cúp bình thiếc, say cho đến gần nửa đêm. Chàng đã ngủ không biết bao lâu trên nền đất, ấy thế mà nóng ran mình mẩy. Đầu óc chếnh choáng nhưng Hải nhớ ngay là cả chàng lẫn Dũng đều quên đem thức ăn về cho lão Mục và Sương. Hải lay Dũng dậy:
– Về thôi ông, khuya lắm rồi.
Không thấy Cảng đâu, nhưng vừa ra tới cửa thì đụng ngay Cảng đang ngồi trên bậc thềm, hút thuốc phì phào:
– Đi hả. Ừ, ta nhất trí nhé. Sáng mai ghé lại tôi.
Hai người im lặng ra biển, lòng áy náy. Trăng đã mọc trên đầu, chiếu vằng vặc cả quả đồi hoang vắng và tĩnh mịch. Hải chỉ còn nghe tiếng chân mình trên đường dốc vắng, thỉnh thoảng tiếng chó sủa trăng vu vơ cô độc. Vừa đến rừng phi lao, đột nhiên có tiếng tù và nổi lên rợn gai ốc và cả tiếng chim kêu quang quác khua động cả màn đêm yên ngủ.
Dưới ánh trăng, gần cả trăm bóng đen đang tụ tập trên bãi biển. Họ quây quần chung quanh hai chiếc thuyền độc mộc, rồi hè nhau đẩy thuyền xuống biển. Một chiếc lưới căng ra từ hai chiếc thuyền sóng sánh ánh trăng từ từ chìm xuống nước. Cả đoàn người, bây giờ Hải đã nhận ra toàn là những ông già trong làng, chèo thuyền ra khơi. Hải đoán họ lưới cá theo kiểu tập đoàn, nhúm gia sản là cái lưới và hai chiếc thuyền độc mộc nhỏ nhoi trên biển cả.
Thốt nhiên Hải giật thót người. Cả bãi biển sao quạnh hiu không một bóng người. Dũng cũng phát hiện cái vắng lặng bất thường ấy. Anh lẩm bẩm:

Google images

– Không lẽ mình về lầm chỗ.
Cả hai người xồng xộc khắp rừng phi lao. Không một dấu tích nào của người tỵ nạn để lại. Hải cấu tay Dũng thật mạnh:
– Á…
– Ông đau hả, đúng là không phải mơ rồi.
Chiếc lều của Tịnh đã biến mất. Không còn gì hết, cả lão Mục, cả Sương. Họ đi rồi. Hải điếng người:
– Họ đi rồi?
– Vô lý!
– Vô lý! Lẽ nào…
Quả thực thì họ đã đi rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa. Hai người đều không muốn tin như thế. Trăng lưỡi liềm đang nghiêng cười trêu cợt. Tiếng xào xạc của đôi chân trên cát chỉ trả lại một âm thanh buồn hiu hắt. Hải nghe một tiếng xào xạc khác. Bước chân của Dũng. Không phải, vì Dũng đang đi bên trái. Phải là một bước chân khác. Đúng vậy, rồi có tiếng va chạm của hai vật chạm nhau, tiếng ngã. Hải bắt loa gọi lớn:
– Ông ơi…
Tiếng kêu của Hải rền rền trong cây, mất hút. Rồi một tiếng vọng, rõ ràng không phải tiếng vọng của Hải:
– Ơi…
Hải chạy như điên về hướng tiếng kêu. Trăng đuổi theo rần rật sát nút. Một bóng đen đang lảo đảo đi, bóng đen đụng vào một cây phi lao ngã xuống, lồm cồm ngồi dậy, hai tay quơ quào trong không khí. Mái tóc xõa che kín cả khuôn mặt. Hải rú lên:
– Sương…!
Phải, bóng đen đó chính là người con gái mù lòa. Nàng ngã ập vào lòng Hải, khóc nức nở, tiếng khóc khản đặc vỡ trong không gian trắng màu tã.
Thuyền lướt nhẹ trong ráng chiều êm ả. Cảnh trí trên bờ đẹp như bức tranh thủy mặc. Có chỗ, từ trên cao một dòng thác bé như dải lụa vắt vẻo trên màu xanh của núi. Cạnh đó, một ngôi nhà nhỏ chìa ra trên mỏm đá chơ vơ giữa lưng trời. Hải nghĩ có lẽ ngày xưa Lưu Nguyễn lạc thiên thai chắc cũng chỉ chừng này sương khói. Chàng ước khi nào bước chân mình đã có chỗ quay về, chàng sẽ đứng trên mỏm đá lưng trời kia, sẽ đánh một tấu khúc làm rung động những đám mây đứng sững yên bình, và dưới chân chàng, sẽ có…
Cảng trải tấm bản đồ giảng giải:
– Chỗ xanh này là nước sâu, ta đi gần bờ được. Nếu ông…Cảng nhìn Dũng, cắt được đường xuyên qua đông hải đảo thì đến Hồng Kông chỉ mất vài hôm.
Dũng hờ hững:
– Cái đó còn tùy.
Chiếc thuyền của Cảng dài 11 thước, từ đáy thuyền đo lên cao phỏng độ một thước rưỡi, nước cứ mấp mé mạn thuyền chực tràn cả vào khoang. Dũng nào vui được khi đoàn người cùng đi đã tản lạc hết, anh bực bội trong cái thế phải đi cùng với hàng chục người địa phương cải danh là người Việt Nam đến Hồng Kông. Đêm Dũng và Hải say sưa ở nhà Cảng cũng là đêm công an tập hợp đám người Tịnh dưới rừng phi lao, buộc họ phải nhổ neo ngay vì đã mua được thuyền buồm. Lúc đó Sương đang mò mẫm ra ngoài tìm chỗ đi ngoài. Đúng ra nàng đã thức lão Mục dậy dẫn đi như mọi lần, nhưng nghe tiếng bố ngáy đều, nàng nghĩ bụng cứ đi cho đến chừng nào không nghe tiếng người nói thì sẽ ngồi xuống. Dường như chỗ nào cũng vang lên tiếng ngáy ngủ khiến Sương đi càng lúc càng xa chỗ cũ. Đến lúc tìm được chỗ mà nàng cho là “an toàn” thì công an ồ ạt đến. Họ đánh thức tất cả dậy, khẩn trương tập hợp mọi người. Lão Mục quýnh quáng vừa đi vừa gọi tên con cho đến khi bị xô ngã xuống thuyền. Lão cứ nghĩ Sương chắc ở trong đám đông người nhốn nháo. Lão không biết là Sương không thể tự về lại căn lều cũ.

Google images

Dũng lái liên tục gần tám tiếng đồng hồ. Linh tính cho anh biết là Cảng chẳng biết gì về chuyện đi biển. Y nhiều lắm chỉ rành tên địa phương mà thuyền đi ngang qua. Dũng bắt y xác định tọa độ con thuyền, đo mực nước, rồi bẻ ngoặt 45 độ. Theo hướng nầy, anh sẽ đến thị trấn Trạm Giang trong vòng bốn giờ nữa.
Nhưng càng lúc nước biển càng đen sì, bờ càng lúc càng xa. Dũng hoàn toàn không nghĩ là Cảng đã định trật chỗ đậu của con thuyền. Mà thật vậy, thay vì chỉ đúng chỗ thì y lại đánh dấu trật lên một cái mỏm cách chỗ xuất phát 150 cây số. Khi Dũng phát hiện ra thì đã quá trễ. Bốn bề chỉ là màu đen của biển, màu đen của mây của trời hú gọi. Chỉ trong một tích tắc của sự nhầm lẫn, bão ồ ập kéo đến. Con thuyền nằm gọn trong hai lượn sóng, cứ thế lượn đi như chiếc diều bị gió đùa. Mũi thuyền bị đánh vỡ, nước xối xả tràn vào. Tát, tát…tất cả cùng tát nước. Con thuyền ưỡn lên oằn xuống như có một bàn tay vô hình đẩy đưa. “Cạch”, từ đáy thuyền vang lên một âm thanh va chạm.
– Đụng cồn cát rồi.
Có tiếng hét. Rồi tất cả cùng sững sờ khi trước mặt họ hiện ra một ngôi chùa trơ trọi trên cồn cát. Ánh lửa leo lét từ bên trong chập chờn soi bốn cây cột những hình thù quái dị. họ ngừng trước một cái miếu! Tất cả rùng mình trước run rủi lạ lùng. Dũng bảo:
– Ông dìu cô Sương vào trong chùa nghỉ, tôi phụ kéo thuyền lên bờ không lại vỡ nữa.
Hải run cầm cập trước những ngọn gió cắt thịt. Chàng chỉ cảm thấy một chút hơi ấm khi thân hình sũng nước của Sương tựa vào người. Trong lòng chàng dấy lên một niềm tin mãnh liệt. Hẳn phải có đấng vô hình nào đã đưa bọn chàng đến đây, nếu không thì giữa biển mênh mông và đêm tối vô cùng chiếc thuyền đã không tấp vào một ngôi chùa cũ nát.
Bóng người lao xao qua mặt Hải chui vào mái chùa. Chàng nghe họ nói:
– Ngài thiêng lắm.
– Ai cũng biết tiếng mà.
Qua câu chuyện trao đổi giữa những người Trung Quốc đi trên thuyền, Hải lờ mờ đoán chùa thờ một vị võ tướng ngày xưa. Vị tướng này thắng một trận hải chiến lừng lẫy ở đây, được dân chúng lập đền. Mỗi năm, ngư phủ Trung Quốc dù hành nghề bất cứ ở đâu cũng về đây cúng tạ để xin đi biển được bình an.
Bên hông chùa có một đống lửa nhỏ của ai đó đốt sẵn. Thấy Hải đến những người đang ngồi xung quanh đống lửa liền nhích ra chừa một chỗ. Bọn người này rõ ràng không phải đi chung thuyền với Hải vì người họ khô ráo. Một người hỏi:
– Anh chị bị đắm thuyền mới tới phải không?
– Vâng, còn các bác. Hải đáp.
– Bọn này lên đây đã năm hôm.
Hải “à” lên mừng rỡ. Thì ra thuyền họ từ Việt Nam đi hơn nửa tháng nay, nghĩa là sau ngày Hải xuất phát. Họ ghé nhiều nơi trên đất Trung Quốc nhưng may mắn là không gặp bão tố suốt cuộc hành trình. Lúc đi, thuyền họ chỉ có chín mươi người nhưng suốt dọc đường họ đã cho khá đông người bị thuyền đắm đi nhờ nên bây giờ con số đã hơn một trăm.
Hải vừa phơi áo vừa hỏi chuyện. Chàng ở trần trùng trục nhưng đã hết lạnh vì ngọn lửa cháy đều ánh sáng rực rỡ. Một chốc, tiếng xèo xèo do nước nhỏ từ áo xuống than hồng đã bớt. Hải dắt Sương ra sau chùa, bóng đêm dày đặc. Chàng ngượng ngập bảo:
– Sương thay cái áo này đi. Cởi áo đưa anh phơi kẻo rét đấy.
Chàng nói thêm:




Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 7 May 2024

5. Phần 5

Mắt Hải mờ đi dù mới đi nửa cây số. Chàng run lẩy bẩy phải đặt bé Ngọc xuống, ngửa mặt hít một hơi dài. Chàng đói. Hai đầu gối không còn sức nâng thân hình phất phơ của chàng nổi nữa. Mặt đất gồ ghề đá bỗng nghiêng bên này, lệch bên kia, Hải hoa cả mắt. Hải muốn nằm thẳng cẳng, hai tay duỗi xuôi để mặc cho cơn đói bò rã cả tứ chi. Nhưng Hải biết mình phải đi tới. Đời sống không cho phép chàng làm theo ý muốn của mình nữa, nhất là khi con chàng đang nằm yên, da mặt choắt lại như cọng rơm héo rũ. Chàng phải đi tới, phải cướp lại mọi sự, dành lại sự sống đang lưng lửng tan như khói chiều nhàn nhạt trên không. Hải bứt một nhúm cỏ mọc nghiêng trong kẽ đá, cho vào mồm nhai sống. Chàng lượm một khúc cây làm gậy, xốc bé Ngọc lên vai, lật khật bước.
Tiếng hoắc ghê rợn của con diều hâu trên đầu làm Hải rùng mình. Chàng đăm đăm ngó đôi mắt láo liên của con chim đen kịt đang nghiêng đầu chờ hai cha con chàng ngã xuống. Chàng quơ quơ cây gậy. Gã diều hâu vẫn nghiêng đầu khinh bỉ. Hải ước con diều hâu chợt…sẩy chân rớt xuống, chàng sẽ đập nát cái mặt mất dạy của nó ra, rồi hai cho con sẽ lột da, xé toạc thân hình của nó, chén một bữa.
Bốn bề rờn rợn màu xanh, màu xanh của lá, màu xanh của cây, màu xanh của nẻo đường chập choạng. Tuyệt vọng không một bóng người. Những người sống sót đã mạnh ai nấy đi kiếm ăn, đến lão Mục và Dũng, sau khi khiêng một vài thứ còn dùng được trên thuyền đem lên bờ, che tạm một mái lều rồi cũng chia tay đi mà thôi. Nếu sống sót thì mái lều sẽ là điểm hẹn. Gã thủy thủ đã trở thành vô dụng khi không còn nơi để lèo lái. Người ngư phủ đã lên bờ, như con cá mắc cạn, mắt đứng tròng tuyệt vọng.
Ánh dương tà tà lách qua hàng thông to lớn, hắt hiu một màu vàng bệnh hoạn. Hải vượt qua một con rạch khô quắt queo, chàng bám vào những tảng đá khô, vượt lên bờ dốc, hơi thở đứt từng quãng, khò khè. Kìa, những nóc nhà xuất hiện. Hải không thể lầm được nữa. Chàng bước nhanh hơn, tiếng gậy khua trên đường lọc cọc. Chàng dự tính sẽ xông thẳng vào bất kỳ nhà ai, ngã vật xuống thì thế nào cũng có cái để ăn. Vậy nhưng khi đứng trước mặt một bà lão đang cào đất trước căn nhà ván tối thăm thẳm, Hải chợt co lại, rụt rè. Chàng run run cất bước, bao nhiêu hy vọng dồn cả vào từng chữ:
– Bà phò, cháu..đói…bà phò, cho…chúng cháu thìa cháo…
Bà lão chừng nhận ra giọng nói không phải người địa phương của người đàn ông hốc hác, râu và tóc um tùm dữ tợn, vội co người thủ thế:
– Nạn nhân à!
Hải để bé Ngọc xuống đất, gật đầu:
– Chúng cháu bị đắm thuyền…chúng cháu…
Bà lão chợt đổi sắc mặt, giơ cái cào lên làm tư thế cầm súng, hô:
– Pằm pằm! pằm pằm!
Hải nghệch người ra, nhưng hiểu ngay. Bà lão hẳn có con tham gia đánh nhau với Việt Nam mấy năm trước. Hải làm điệu ra dáng mình không tham gia đánh nhau với bộ đội Trung Quốc, nhưng bà lão vẫn “pằm, pằm, pằm pằm” liên tục, rồi quơ cào đuổi Hải đi, mắt long lên giận dữ. Hải buồn rầu cúi xuống bồng con. Đột nhiên bà lão quăng cào, dằn bé Ngọc. Hải hoảng hốt giựt lại. Hai người một già một trẻ cứ giựt qua giựt về khiến bé Ngọc bừng mắt, khóc ri rỉ. Hải nổi giận nhưng không còn đủ sức để vụt cho bà già đáng ghét một cái. Chàng đành thua, dành phần thắng cho bà già hung dữ. Bà ta chạy te te vào nhà, xuống bếp giấu cái gì đó trong tay, rồi kéo tay Hải chỉ lên một trang thờ nhỏ.

Google images

Đằng sau lư hương, ảnh một thanh niên mang quân phục bộ đội Trung Quốc, đôi mắt buồn rầu đang ngắm Hải. Bà lão rơm rớm nói:
– Con tao đó…pằm…hức…pằm!
Bà nhìn Hải, hằn học. Mái tóc bạc lưa thưa chảy xệ trên gò má nhăn nheo đã rũ như cọng liễu khô phất phơ trên mặt hồ đứng lặng. Bà trao bé Ngọc cho Hải, ném mạnh một cái trứng luộc ra sân, hai tay vẫy vẫy đuổi. Chàng không còn tâm trí để thấy cử chỉ đó của bà lão, chàng mừng rỡ cúi xuống lượm cái trứng bể vỏ, hấp tấp thổi cát rồi cho cả vỏ lẫn ruột vào mồm. Hải trúm cái lòng đỏ ra, mớm cho con. Đằng sau, một tràng rủa lộc cộc như xe chở đá chạy trên đường. May thay, chàng chưa kịp học những từ ngữ đó ở quê nhà.
Mùi khẳm từ đống rác bốc nồng nặc. Hải đặt bé Ngọc dựa vào hàng rào đủ cho mùi khai nhẹ đi. Chàng đậy một tờ báo cũ lên cái trán nóng hâm hâm của nó. Hải nhìn trước nhìn sau, rồi như một người lính xung trận, Hải xới tung cả đống rác lên, ruồi nhặng xông ra mù mịt. Một chốc, nhắm chừng đã quen mùi, Hải lại hất, lật, bao nhựa để qua một bên…à, đây rồi. Một manh áo mưa toạc chỉ nhưng còn tốt chán. Chàng rũ rũ manh áo, bỏ tất cả bao nhựa nhặt được vào gói lại, tìm chỗ rửa. Chàng thấy cái lu nước để trước nhà ai, có cả cái gáo dừa như ở quê nhà lật ngửa trên nắp đậy. Chàng múc nước, rửa sạch tấm áo mưa, súc mấy cái bao nhựa chưa thủng. Hải nhét tất cả vào túi quần, dùng tấm áo mưa cột bé Ngọc sau lưng. Như vậy là hai tay chàng rảnh rang.
Hải rảo bước. Chàng đã biết đường ra phố nhờ hỏi thăm một đứa trẻ hôm trước. Đứa bé còn chỉ hướng ra chợ nữa, nơi ấy đồ ăn thừa thế nào chả có. Gió rét, rét hơn với hai cha con đói rách, xuyên qua ngực, qua lớp vải áo tả tơi, ngấm qua từng thớ thịt. Hai hôm rồi, cha con chàng cũng có bữa no. Hai đêm, chàng ôm con nằm co quắp trong hiên nhà của ai đó, thường thì không ai nỡ đuổi cha con người ăn mày. Sáng, thức dậy, chàng lê đi tìm nước trong khi con vẫn mê muội trên vai. Chỉ khi có gì nhét vào bụng, nó mới thì thào một hai tiếng vô nghĩa. Con chàng như hiểu hoàn cảnh nên nhiều khi bắt chước bố, cứ thấy người là chìa bàn tay nhỏ nhắn ra, mắt nhìn thẳng người đối diện.
Đôi dép Hải đã sút quai. Biết không dùng được nữa, Hải đá tung cả hai chiếc xuống hố, bỗng như thấy vừa đánh mất một cái gì đã chắt chiu mang theo. Bàn chân chàng giẫm lên sỏi, vấp té tươm những vết máu rằn ri như con cuốn chiếu. Hải thấy nóng bỏng cả đôi chân, nóng bỏng cả tâm hồn. Chàng đã trở thành gã hành khất lưu lạc trên đất khách. Chàng nằm mơ thấy vợ con lướt trên những đợt sóng thần. Chàng nhìn hút con đường trước mắt, khép lại những thân cây chắn lối.
Hải đứng rình bên ngoài một quán ăn nhỏ. Có cặp vợ chồng đang thì thụp ăn cơm, húp canh chùn chụt. Người vợ cỡ tuổi trung niên, nước da bánh mật khỏe mạnh. Thỉnh thoảng chị ta cười sằng sặc, ông chồng đang và cơm, cũng ngưng đũa cười theo. Họ ngưng ăn khi thấy Hải cứ lấp ló ngoài cửa. Người vợ nói gì đó với chồng, rồi họ lặng lẽ ăn, khó chịu. Hải cũng thấy khó chịu, nhưng cái đói cào ruột đã giữ chân chàng lại. Chàng cứ nhìn chòng chọc vào đĩa rau đã vơi gần hết, nước miếng ứa ra chát cả mồm. May thay, hai vợ chồng đã nhớm dậy. Hải xông thẳng vào trút hết canh cơm vào bao nhựa, rồi hấp tấp ngồi bệt xuống hiên, dùng tay bốc cơm, múc canh cho vào miệng. Bé Ngọc cũng thiện nghệ không kém. Nó ngồi xổm, hai bàn tay nhỏ chụm vào nhau giữ chất nước ngọt không cho vương một giọt ra ngoài.
Ăn xong, hai cha con cảm thấy hả hê. Mặt trời đã nghiêng về phía tây, những tia nắng nhàn nhạt đỏ vương trên nóc quán. Ở tít xa, một đồng cỏ xuôi xuống lũng, một đám sương mờ đục dâng lên như đôi mắt mù nhìn cuộc đời vô vọng. Hải dắt con đi dọc theo thung lũng, được một chốc, ruột lại cồn cào kêu òng ọc. Rồi như có mùi thịt ở đâu xông vào mũi, đánh thức cái thính giác bỗng rất bén nhạy của người đói tìm tới. Chàng đến đúng một ngôi nhà mà chàng định chắc có mùi thịt hấp bay ra. Có tiếng vĩ cầm ken két của người mới tập kéo. Một làn khói nhỏ như sợi chỉ vương vấn từ nóc nhà lắc lư tan vào không gian. Hải đứng yên chờ đợi. Cửa nhà mở toang bày ra một bộ bàn ghế bằng gỗ nâu sậm. Trông nhà này có vẻ giàu có. Hải nghĩ thầm, mắt vừa trông thấy một người đàn ông đứng tuổi đang ngồi cạnh một đứa trẻ. Đứa trẻ đang chăm chú tập đàn.

Google images

Chân tay Hải bỗng như ngứa ngáy khó chịu. Chàng đã mất nửa cuộc đời để kéo vĩ cầm ngày còn ở trung học. Rồi mấy năm trường nhạc. Đi lưu diễn. Những đêm cô đơn thắp bạch lạp sáng tác cho đến khi chim chóc tưng bừng hót. Cuộc đời trong lòng Hải những khi đó, những khi chạy theo một độ rung, thẳng tắp như đường kẻ nhạc. Hải sẽ, và chàng đã, lấy vợ sinh con, nghiêng đầu dưới ánh đèn màu, đón nhận những tràng pháo tay tán thưởng.
Người đàn ông ngẩng đầu nhìn ra cửa. Đôi mắt nhỏ nheo lại mơ màng chừng như có lớp sương mờ bay lảng vảng trong tròng mắt. Ông ta lượm một hào để lên bàn, chậm chạp tiến ra cửa, bỏ vào cái lon sữa rỉ sét trên tay Hải. Đôi mắt ông ta càng nheo lại hơn nữa khi gã ăn mày dường như không chú ý lắm đến cắc bạc đánh “keng” một tiếng khô khốc.
Mái tóc khô cứng xõa trên vai cộng thêm hàm râu quai nón tua tủa của gã bất chợt khiến người đàn ông chú ý hơn. Đôi mắt gã bất động. Dường như gã đang chăm chú nhìn cây vĩ cầm không chớp, bàn tay gã chợt buông tay cầm đứa con nhỏ, phát một cử chỉ bâng quơ trong không khí, giống như cử chỉ của người diễn thuyết.
Người đàn ông dịu dàng hỏi:
– Anh cần gì nữa?
Hải bừng tỉnh. Chàng chợt thấy đồng xu nằm trong lon. Hải nói:
– Cám ơn ông. Tôi nghe chú bé tập đờn thích quá.
Chủ nhà cười, nói:
– Chắc anh biết đàn, phải không?
– Có chút ít.
– Ở đâu?
Hải lẩm bẩm, đôi chân càng lúc càng nặng.
-…chúng tôi tìm đường đến Hồng Kông, thuyền bị đắm…
Người đàn ông bảo chú bé ngừng tay, trao đàn cho Hải:
– Anh đánh thử một bản cho thằng con tôi nó mở mang kiến thức.
Cây đàn nằm ngang tầm mắt Hải. Màu gỗ óng ánh kiêu ngạo và hiền từ như mặt mỹ nhân. Hải run run đỡ lấy cây đàn, cái lon tiền rơi lẻng kẻng xuống đất, vang lên một âm thanh trơ trẽn. Màu đen của biển… Màu xanh của cỏ… Những cánh đồng sương… Hải thấy những đường chiều thơ ấu… Tiếng đàn run bần bật, bần bật, như xác người run rẩy trước lần ngã xuống. Như tiếng gào của quỷ, của thủy thần, của đêm đen mờ mịt thẳm.
Hải trả đàn cho chủ nhà. Tiếng đàn bây giờ của chàng là tiếng đàn của kẻ ăn xin, của cõi lòng tơi tả. Đứa con chủ nhà đã nhét vào tay hai cha con hai cái bánh bao còn nong nóng. Có phải là chút tình tri âm?
Hải dắt con đi. Ngôi làng này quá lạc hậu chẳng giúp được gì để Hải có thể tiếp tục cuộc hành trình. Chàng quyết định đi trở lại nơi thuyền đắm dù nắng chiều đã tắt lịm cuối chân trời. Con đường gồ ghề như lúc đi nhưng Hải cảm thấy dễ chịu hơn vì một phần đã quen thuộc. Bé Ngọc ngủ vùi trên vai. Hải cảm nhận cái thân thể chỉ còn da bọc xương của con bé dán sát trên người mình. Một lúc, đứa bé mê ngủ quá khiến Hải lo sợ. Chàng cho tay vào ngực con bé thấy quả tim vẫn còn đập nhè nhẹ. Bàn chân chàng lại tươm máu nhức nhối. Chừng hai cây số, Hải biết không thể đi thêm được nữa, chàng tạt vào một cái miếu cất đằng sau thân cây si cao lớn lực lưỡng, rễ si xòe ra bám chặt xuống nền xi măng vững chãi. Chàng trải manh áo mưa trên nền miếu, gối đầu lên một rễ con, giấc ngủ nằng nặng kéo tới.
Hải mơ thấy Thu trần truồng nằm ngửa trên nước, thân hình nàng dật dờ và hai tay đưa cao lên trời chới với.

Google images

Chàng bị đánh thức mấy lần vì tiếng quạ kêu trên đầu ghê rợn. Cái miếu dường như chẳng được ai hương khói, chỉ thấy lờ mờ một mặt người đỏ như máu trên bệ thờ, đôi mắt quắc sáng nhìn Hải dữ dội. Chàng thấy gai ốc nổi cùng mình nhắm nghiền mắt lại. Chàng nghĩ tới người chết rồi sao còn dữ. Rồi Hải thiếp đi, hơi lạnh từ nền đất, từ những sương rơi nặng trĩu buốt lên tận màng óc. Cho đến khi có tiếng chim ca tưng bừng đánh thức. Một góc trơi bừng lên màu sáng hồng cô độc, một cành thông vướng mắc xa xa. Ngay trên một nhánh si thấp nhất, bầy kên kên trừng mắt nhìn hai cha con thèm thuồng.
Hải còn một cái bánh bao, hai đồng nhân dân tệ. Chàng đánh thức bé Ngọc dậy, ăn hết cái bánh bao rồi đi. Xế trưa, Hải nhìn thấy cái lều che hôm đến. Con thuyền đã bị sóng đập nhiều ngày, nay chỉ còn vài miếng gỗ nằm chơ vơ trên bãi cát. Hải ngạc nhiên thấy xung quanh hoàn toàn im ắng không một bóng người. Chàng chui vào lều nay đã có mấy miếng gỗ lấy từ thuyền lót làm giường tính nghỉ mệt. Đột nhiên, một tiếng nói cất lên:
– Ê, cha nội, đi chỗ khác chơi mày!
Thớt! Từ sau gốc cây, gã tiến lại. Dáng đi khuỳnh khuỳnh của gã ra vẻ muốn gây sự. Gã lừng lững chui vô lều, không nói thêm một tiếng, đè ngửa Hải ra lục túi. Bàn tay lạnh như nước đá của gã chèn cổ Hải, một tay dốc hết túi quần. Gã à lên mừng rỡ khi chạm mấy đồng nhân dân tệ:
– À, có thế chứ. Có bao nhiêu đưa hết đây.
Gã lườm lườm, bất ngờ co chân đạp Hải một cái:
– Đi lên kia mà tìm bạn mầy.
Gã cười hắc hắc khi bé Ngọc hoảng sợnhào theo ôm bố. Hải lồm cồm bò dậy chưa biết đi về hướng nào thì lại có tiếng kêu:
-Lại đây, lại đây cậu Hải ơi.
Lão Mục đang ngồi sau gốc cây với Sương. Bên cạnh, Dũng nằm ngửa, khuôn mặt chàng sưng vù lên, tím bầm. Lão Mục bảo Hải ngồi xuống, kể. Chòm râu bạc quắt queo mất đi cái phong trần ngày nào. Bây giờ là khuôn mặt của lão già tuyệt vọng, đôi mắt sâu thụt trong hố mắt. Thằng Thớt nổi máu đầu gấu từ khi biết hai tài công lành nghề là lão và Dũng bó tay vì thuyền đã đắm. Gã tập hợp vài đứa đàn em, chờ người nào đi ăn xin về là trấn lột… Hôm giành lều, Dũng bị gã đánh cho một trận vì dám chống cự. Gã tuyên bố:
– Từ nay, tao là sếp. Đứa nào lộn xộn oánh bỏ mẹ nó ra.
Lão Mục định bụng chờ Dũng hồi phục sẽ tìm đường rời khỏi nơi này. Lão lo sợ cho cô con gái khi đôi mắt hau háu của Thớt vẫn nhìn Sương khó hiểu. Lão biết tình thế đã đổi khác. Trên đất liền, người thủy thủ chỉ là con cá lòng tong đang giẫy chết.
Ba người đàn ông, một cô gái và một đứa bé sống cầm hơi nhờ một ít đồ mà những người đi cùng thuyền giấu được, lén lút tiếp tế cho họ. Mặt Dũng đã bớt sưng nhờ ngâm nước biển. Anh bàn:
– Tôi đã hỏi thăm đường đến một thị trấn tên là Trạm Giang. Từ đây đến đó nếu đi chậm cũng chỉ mất một ngày đường. Nghe nói nhiều thuyền tỵ nạn cập vào đó. Ta sẽ xin đi nhờ.
Tờ mờ sáng hôm sau, cả năm người lên đường. Dũng đi trước, Hải cõng bé Ngọc, lão Mục dắt Sương. Họ lén lút y như lúc rời bỏ đất nước xuống thuyền. Sương đêm còn ướt đẫm trên những cành cây gẫy, mặt trời chỉ vừa lóe lên như ánh sáng một bếp lửa nhỏ nhoi trong đêm trường. Đi được một lúc, nhắm chừng đã thoát khỏi sự chú ý của bọn thằng Thớt, Hải trao bé Ngọc cho Dũng, hổn hển:
– Ông cõng hộ tôi một khúc, mệt quá.
Vừa chạm bé Ngọc, Dũng chau mày:
– Nó lạnh thế.
– Nó cứ sốt lâm râm hôm rày.

Google images

Bé Ngọc ho khèn khẹt. Một tia nắng nhỏ chiếu hớt qua soi khuôn mặt tái nhợt của nó. Dũng mở khuy áo, trùm đứa bé trong lòng, đôi mắt dò chừng xung quanh. Họ đi men theo bờ biển, lẩn lút trong những hàng thông cao. Lâu lâu mới thấy một căn nhà nhỏ mở cửa. Chốn thôn dã của Trung Quốc này hình như chưa được khai phá, dân cư sống rải rác khiến Hải rất ngạc nhiên vì chàng cứ nghĩ với dân số hơn một tỷ người, hẳn không còn một mảnh đất nào bị bỏ trống nữa. Sự thực cũng như các nước chậm phát triển, dân Tàu vẫn có khuynh hướng tập trung gần thành phố vì chỉ ở đó mới có những tiện nghi tối thiểu. Sự chênh lệch quá lớn giữa nông thôn và thành thị khiến nỗ lực giảm dân của nhà nước chỉ đưa đến những kết quả đau thương và trái ngược.
Thỉnh thoảng Dũng lại ra hiệu núp vào một bụi cây khi thấy bóng người. Anh biết địa phương này không có cảm tình với người Việt Nam, người ta có thể đi báo công an và hậu quả không biết đâu mà lường. Họ nín thở khi thấy một gã đầu đội cát kết đạp xe lọc cọc trên đường. Họ lội qua một lạch nước cạn trơ đá, cong cong trườn ra biển như không mang theo một sự sống nào trong đó. Họ đi xuống một lũng thấp, rồi bò lên bò lên mãi. Đột nhiên, Hải nghe tiếng người lăn trên triền đá:
– Ối! con ơi…
Lão Mục kêu lên khi Sương sẩy tay ngã kềnh trên dốc, may thay một tảng đá lớn giữ thân hình nàng không cho rơi xuống nữa. Hai tay nàng quơ cào hoảng hốt. Hải túm được một tay nàng bảo:
– Ấy, cô bám vào đây này, không phải thế.
Hải đưa tay chỉ chỗ bám cho Sương nhưng dường như nàng cứ chụp chụp vào mặt đất trống trải. Lão Mục xốc Sương dậy, buồn rầu bảo khẽ:
– Nó nào có thấy đường.
Ruột Hải như có ai vừa siết lại, quặn lên. Đến bây giờ chàng mới để ý nhãn quan thiếu lưu động của Sương. Nàng có một cái “nhìn” như hút chặt lấy bất cứ ai nhìn vào đôi mắt ấy. Một thế giới xa xăm huyễn hoặc. Đêm tối đã giăng màn che khuất linh hồn tội nghiệp của nàng, Hải tự nhủ, nhưng tại sao một người con gái đẹp như nàng…
Đi đến quá trưa vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì là sắp vào thành phố. Gió thổi mạnh khiến cái đói được bơm hơi, ra sức hoành hành cơ thể. Dũng bảo tìm chỗ nghỉ mệt, rồi nháy mắt anh biến sau những rặng cây. Trong thoáng chốc, những cụm mây đen lững thững nhú ra, đẩy lùi màu xanh lơ của trời xuống bên kia núi. Giữa cảnh hoang dã vắng ngắt, bỗng Hải nghe có tiếng cú rúc lên, rùng rợn. Hải rùng mình luôn mấy cái:
– Ông ạ…
Lão Mục ứng tiếng:
– Tôi nghe rồi.
Lão trầm ngâm. Tiếng cú rúc chẳng bao giờ là điềm lành. Mà chuyện gì xảy ra mới được chứ! Dũng? Kìa, hắn đã về. Người Dũng phồng to lên, mái tóc dài bay ngược trong gió. Anh trút hết mấy túi quần, túi áo. Khoai đủ cỡ, củ to củ nhỏ lăn trên cát, lổn ngổn. Dũng cười tươi bảo:
– Nào, bác cháu ta chén một bữa. Đấy, cứ để nguyên vỏ mới tốt cơ.
Hải chà chà củ khoai cho hết đất, bảo Dũng:
– Ông thành đạo chích hồi nào thế. Tài thật!
– Tôi học lỏm của bác đấy.
Lão Mục cười húc húc trong miệng. Đột nhiên, bé Ngọc đẩy củ khoai cho bố bảo:
– Bố ăn đi, con không đói mà.
Hải đớ người ra. Cái con bé lạ, ăn hồi nào mà không đói. Trông nó tỉnh táo thế.
– Bố ăn vỏ cho con nhé.
Hải cạp quanh củ khoai. Chàng chìa cái ruột hồng hào cho con:
– Nào, trông ngon thế nầy nầy. Nào…
Bé Ngọc vẫn đẩy củ khoai ra, khuôn mặt hồng hào lạ lùng:
– Con không ăn. Bố ăn giùm con đi.

Google images

Hải sờ trán con bé. Cũng chỉ nóng hâm hấp không đáng ngại. Chàng cất củ khoai trong túi:
– Thế bố để dành cho con nhé. Khi nào đói bảo bố.
Dũng quan sát hai cha con, bàn:
– Hay là con bé khát?
Bé Ngọc nói, ráo hoảnh:
– Con không khát, chú Dũng.
Dũng bảo:
– Thôi mình đi, khéo lại mưa đấy.
Quay qua lão Mục:
– Ông đi tiếp được chứ?
– Được.
Một vài giọt mưa ướt mặt khi họ vừa ra khỏi chỗ núp. Dường như có cục đá đang rơi trên vai Hải:
– Gì thế?
Dũng bảo:
– Khéo lại mưa đá đấy. Nhanh lên thôi.
– Lấy gì che đầu đi, chắc không lớn lắm.
Hải bảo, ôm bé Ngọc trước ngực. Chàng lầm. Những cục đá từ trời rơi xuống, có vẻ như càng lúc càng lớn hơn. Rồi chỉ một lúc cả người chàng rát bỏng.
– Bốp…bốp…
– Ối giời…
Dũng la lên đau đớn. Một cục đá rớt ngay sau ót. Anh vừa hít hà, vừa hỏi:
– Có ai sao không? Đằng kia có chỗ trú đấy. Nhanh lên…ấy, cô Sương, để tôi đỡ hộ một tay, thế…thế…cứ bước giữa tôi và bố là được…đấy…
Hải chưa từng gặp một trận mưa đá lớn như vậy. Ở miền Bắc cũng có mưa đá, nhưng chàng nhớ là chỉ những hột li ti không đáng kể, vừa đụng người là nó chảy ra thành nước. Giống như một mối tình ấp ủ bỗng chan hòa thắm thiết nỗi cô đơn. Ở đây, những cục đá to cứ giữ hoài cái lạnh lẽo của nó, dội lên người làm cắt ra những đường màu rơm rớm lệ. Hải cứ lủi tới trước, không biết “đằng ấy” là chỗ nào. Chàng vừa bỏng vừa lạnh. Đột nhiên, hai tay bé Ngọc choàng qua cổ siết chặt hơn, chừng như con bé muốn lấy hơi ấm của cha. Nhưng không, bàn tay nó nới lỏng ra liền khi ấy, để hờ hững. Hải nhảy xốc một cái, hai tay bé Ngọc rời khỏi cổ chàng, đầu giật ra đằng trước. Hải hoảng hốt thò tay vào ngực con. Không một động đậy nào. Chàng kinh hoàng sờ soạng rối rít. Chắc người nó lạnh đấy thôi. Không, không phải mà.
– Nhanh… Ủa, mà sao thế? Dũng vừa nhận ra nét mặt kinh hoàng của Hải.
– Con bé…Hải nấc.
Dũng lôi Hải sệt vô dưới tàn cây:
– Để tôi xem.
Dũng nhéo vào đùi bé Ngọc. Con bé vẫn nằm yên. Khuôn mặt còn ánh lên màu hồng phớt. Hải xoa tay, bóp chân, lật mí mắt, chà ngực…Chàng thấy mình vụng về lúng túng vô cùng…Không, không thể thế được. Nước mắt chàng ứa ra, thấm đẫm. Chàng giương mắt đỏ hoe, cả khuôn mặt ướt nhòa nước, nước mắt của trời và nước mắt của chàng.
– Tôi xin ông…Dũng nói, ruột quặn lại.
Cả thuyền 60 người đi, nay tản lạc khắp nơi, chỉ còn chừng này thôi. Vậy mà. Oan nghiệt lại lần lượt tỉa từng linh hồn.
Bỗng có tiếng cú đâu trên đầu rúc lên từng hồi ghê rợn.
– Con…

Google images

Hải úp mặt vào ngực con, người rung lên từng chập. Những hạt mưa rơi đều, giá lạnh. Rồi tất cả chìm trong câm nín, chỉ còn tiếng khóc nghẹn của Sương. Nàng biết tiếng nói trong trẻo của đứa bé vang vọng hôm nào đang xa hút, nhỏ dần, nhỏ dần, như hồi còi rời sân ga để lại một dư âm thê thiết. Nàng định hướng bằng linh hồn nhạy bén của mình, sờ soạng đến ngồi bên Hải. Bàn tay nàng vuốt tóc Hải, sờ lên mặt đứa bé buốt giá, sự chết, buốt giá những hạt mưa hiu hắt nức nở. Nàng nghe tiếng sấm rền chân trời, tiếng sấm xoáy vào lòng nàng những âm vang tơi tả. Nàng hứng dòng nước mắt lặng lẽ của người cha đau khổ đọng trong lòng bàn tay. Nàng không thấy đói, không thấy rét, chỉ có dòng nước ấm thấm gặm vào gân xanh, vào trái tim thổn thức của nàng. Lâu lắm…lâu lắm…bóng tối đã về chưa, ở ngoài kia thế giới ảm đạm của nàng?
– Hải ơi…
Lão Mục ngồi xuống, kêu lên nho nhỏ. Lão đã một lần ngồi bên xác vợ, kêu tên bà như thế. Lão không nhìn người mình kêu tên, lão không nhìn xác đứa bé, lão nhìn ra biển. Đêm tối đã về nhưng ánh sáng vẫn mông lung quái dị. Ánh sáng trăng. Trăng treo nghiêng một nửa, nghiêng xuống rọi linh hồn. Những đợt sóng trắng chồm lên, nô giỡn âm u trên bãi. Không gian trắng trơ, lạnh.
– Hải ơi…
Dũng gọi. Anh đặt môi lên trán đứa bé, lên tay Sương, lên tóc Hải rồi đứng dậy. Anh phải tìm một mộ huyệt cho đứa bé. Anh phải tìm một nơi thật yên bình để khắc cột số trên đường vạn dặm tê tái. Trăng sáng vô cùng. Rồi người chết chỉ còn xương trắng, trắng như trăng, trắng nhưng nhức.
Hải bồng con theo Dũng. Trên nền đất loang lổ, bóng người cha nghiêng xuống, trên tay vắt ngang một thân hình bé bỏng. Cái thân hình bé bỏng vắt ngang một vệt dài làm thành hình thập giá. Thập giá di chuyển trên đất gồ ghề, xoải ngang trên cát trắng. Cái thập giá di chuyển, rung theo hơi thở, rung theo tiếng cầu kinh của sóng, tiếng u vọng của gió đêm ù ù thổi…
U hoài.






Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Mặc Đổ

Post by Sơn râu 7 May 2024

12. Tình Thương Trong Ngoặc Kép

Khi nhân viên cảnh sát hay tin bằng điện thoại ập tới thấy người con gái nẳm sóng soài, úp sấp, chết nơi sân sau ngôi biệt thự, máu chảy một dòng từ miệng, một dòng khác từ lỗ tai bên trái có những sợi tóc lòa xòa che khuất. Người con gái tóc dài tới lưng, bận quần đen và áo cánh trắng. Theo gương mặt, tuổi người chết độ ngoài hai mươi, chưa tới hai mươi lăm. Gương mặt hiền, dông bão phảng phất trên nước da tái xanh của người con gái không quen mà đã chịu sóng gió bên ngoài gia đình. Sự chết chưa biến đổi bao nhiêu cái thân xác còn tươi. Những người trong nhà cho biết cô gái từ sân thượng lao xuống không hiểu vì nguyên do nào; vào giờ đó cô gái có những công việc phải làm, không lý gì bỏ lên chơi trên sân thượng đến nỗi hụt cẳng té chết. Cô gái là người làm công trong nhà.

Trước đó không đầy nửa giờ, chiều tối, cô con gái bà chủ ngồi tiếp chuyện cậu bạn trai ngoài phòng khách. Chị bếp nghe chuông reng chạy ra mở cổng: ông chủ làm việc tại một thành phố miền Trung về chơi. Lát sau có tiếng chuông reng nữa, chị bếp lại chạy ra: cậu Hai tình cờ cũng được nghỉ phép về. Bà chủ đang đánh bài tại một nhà gần đó hay tin chồng con cùng về chơi một lượt, bỏ cả bài, tất tả, mừng rỡ chạy về.

Cả nhà tíu tít vui vẻ ngoài phòng khách. Cô gái, vì là người mới chưa hiểu công việc trong nhà, cứ yên lặng ủi nốt đống quần áo hằng ngày. Chị bếp ở nhà trên đi xuống bảo cô gái hãy dẹp chuyện ủi đồ lại, chạy lên lo lấy nước hơi, ly, đá, có mấy chai rượu trong tủ cứ đưa ra tuốt, ông chủ, cậu Hai đòi uống rượu vui, bà chủ và cô Ba không uống rượu, lấy nước ngọt vài thứ đưa ra sẵn. Cô gái theo lời chị bếp rút dây điện, thu xếp bàn ủi và các thứ trên mặt bàn cho gọn rồi chạy lên nhà trên. Tò mò cô gái hé cánh cửa ngó ra phòng khách… Ba lần cô gái khựng lại, thò đầu ra rồi khựng lại, gương mặt hốt hoảng, kinh dị. Trong khi tiếng nói cười vui vẻ từ phòng khách vọng vào cô gái tính chạy xuống sân lại thôi. Một giây sau cô gái chạy vút lên cầu thang. Tiếng ồn ào vui vẻ ngoài phòng khách chen lẫn với một vài tiếng thổn thức nấc lên do cô gái hối hả chạy trên những bực thang.

Chị bếp đang lúi húi lo bữa ăn đông người bất thường bỗng nghe thấy một tiếng rớt nặng, mềm ướt giữa sân sau, chị bếp ngoái cổ ngó ra sân, chưa nhìn thấy rõ, bước đúng hai bước về phía cửa chị bếp đã thấy rõ và bật một tiếng la bải hải. Nhà trên bặt tiếng chuyện trò vui vẻ, mọi người theo nhau chạy xuống. Ông chủ nhanh chân tới trước nhất, vội chạy lại, ghé ngồi xuống, nâng đầu cô gái nằm sóng soài dưới nền xi-măng, ông chủ chăm chú ngó tới hai lần gương mặt cô gái mới thốt lên: “Ủa ! Con nhỏ đó !” Như có một sức hút kéo lại, cậu trai bạn của cô con gái bà chủ cũng lao tới quỳ một chân ghé xuống bên gương mặt được ông chủ nâng bằng một bàn tay và cũng la lên: “Trời ơi! Chị Vân!” Cậu Hai chậm chân đi tới sau lưng bà mẹ, nghe tên Vân cũng vội chạy đến, chỉ một thoáng giây ngó qua gương mặt cô gái chết người con trai bổ nhoài xuống đất ôm lấy cái xác, nức nở khóc không ra tiếng.

Ông đại úy cảnh sát, trưởng phòng Hình cảnh, cùng với một toán nhân viên khác tới sau toán cấp cứu chừng mười phút, khi nhận được điện thoại cấp báo. Nghe lời khai của chị bếp và của những người khác trong nhà ông đại úy đưa con mắt suy nghĩ ngó quanh một vòng rồi nói:

“Tôi rất tiếc phải mời tất cả quý vị về Quận. Giờ này tôi còn đủ nhân viên làm việc, chúng tôi sẽ chia nhau lấy lời khai của quý vị một lượt. Có phải chịu đói tới khuya xin quý vị cảm phiền, tôi phải làm nhiệm vụ của tôi.”

Đây là lời khai riêng của từng người trong nhà ngay buổi tối hôm đó tại quận cảnh sát.

Tôi tên là Y.Y.Y., 50 tuổi, nghề nghiệp làm bếp. Tôi ở làm cho ông bà chủ tôi đã hơn mười năm, cùng với một con nhỏ tên Lài, Nguyễn Thị Lài, nó vô làm sau tôi nhưng cũng được hơn sáu năm, tháng trước nó xin thôi việc để về lấy chồng. Còn lại một mình tôi phải làm cực quá, tuy ở nhà chỉ có bà chủ với cô Ba. Bà chủ cũng lo kiếm người phụ cho tôi nhưng kiếm không ra. Hồi này kiếm người làm không dễ như hồi trước. Cách đây đúng năm bữa tôi đi chợ Sàigòn tình cờ gặp con nhỏ Vân. Nó không tính đi kiếm việc làm, trông nó hiền, dễ thương, xinh xẻo, coi bộ có thể hợp ý cô Ba, cô Ba khó tánh lắm, người làm xấu xí không sạch sẽ cô Ba không chịu, tôi hỏi nó có muốn đi làm không. Con nhỏ như vừa bị một chuyện gì khổ sở lắm cho nên hãi sợ hết mọi thứ, nó không tin tôi, cứ hỏi mãi có thật tôi rủ nó đi làm công ở trong nhà người ta hay làm công chuyện gì khác. Tôi bảo nó nếu cần kiếm việc, muốn làm thì theo tôi về nhà bà chủ, nếu bà chủ với cô Ba có ưng mới được chứ chưa chắc đã được làm, cứ vô nhà, coi nhà thì thấy là chỗ tử tế, không ưng bụng thì thôi tôi đâu có ép. Nó theo tôi về nhà, bà chủ với cô Ba cũng chấp thuận nó, lương năm ngàn một tháng, bà chủ cho ăn ở, công việc phụ giúp tôi, nhưng đặc biệt lo sạch sẽ nhà cửa đồ đạc, giặt ủi, thế thôi, thỉnh thoảng cô Ba sai vặt chạy đi mua cóc mua ổi. Con nhỏ có giấy tờ đàng hoàng, cha chết, còn mẹ, có một em trai đi học, quê ở Trảng Bàng, bà mẹ vẫn ở đó.

Vì nó là người mới, lại do tôi đưa vô, tôi có trách nhiệm, đêm tôi giữ nó ngủ chung với tôi, tuy con nhỏ Lài trước nó có chỗ ngủ riêng, tôi tính nếu xem chừng tin cậy được mới để nó ngủ riêng, vì nhà vắng chỉ có mấy người đàn bà, hồi này lôi thôi lắm, ban đêm nó mở cửa cho trộm cướp vô thì sao. Nằm chung với nó tôi có hỏi chuyện nhưng nó chỉ nói sơ qua. Mãi đêm hôm qua thấy tôi thương nó thật tình như con nó mới cho biết nhà mẹ sa sút vì phải lo cho thằng em ăn học mà thằng nhỏ ở Sàigòn tiêu xài quá, đua chúng bạn, lợi tức của nhà không đủ. Cách đây hai tháng thấy cảnh nhà quá thiếu mà đứa em lại hư, có người quen mướn ra Qui Nhơn coi sóc hai đứa nhỏ học tiểu học, được nuôi ăn ở, mỗi tháng mười lăm ngàn lương riêng. Con nhỏ nói với tôi có đi học tới đệ tam. Nhưng ra đó có xảy ra chuyện chi không vui nên phải bỏ về. Tôi cố gạn hỏi nhưng nó không nói, bảo rằng chuyện buồn chả nên nói. Tôi có hỏi tại sao không về Trảng Bàng với mẹ, nó nói vì mắc cở với mẹ, mẹ nó cứ ngăn không cho đi Qui Nhơn, nó không nghe, bây giờ lỡ việc trở về nó mắc cở quá, thà đi làm ở Sàigòn ít lâu có tiền gửi về cho mẹ còn hơn. Nó vẫn giấu chưa cho mẹ biết vụ thất bại ở Qui Nhơn.

Tội nghiệp không hiểu tại sao khi không nó té chết như vậy. Tôi không nghĩ là nó tự tử, vì suốt năm ngày nay có buồn, có vẻ hoảng hốt đôi lúc, nhất là ban đêm nằm cạnh tôi, nhưng nó không có vẻ gì muốn chết. Chính nó có nói phải ráng ăn uống cho khoẻ đặng làm việc được, có tiền gửi về cho mẹ. Ban chiều ông chủ với cậu Hai về, tôi ra mở cửa. Mắc lo bữa ăn thêm người, sợ không kịp, tôi mới bảo nó lên nhà trên lo rượu với nước uống. Nó vừa bỏ đồ ủi chạy lên không tới mười phút thì tôi nghe nó rớt cái bịch từ sân thượng xuống. Nó không có công chuyện chi phải lên tới sân thượng, lau cầu thang, lau sàn nhà ở phòng trên lầu hai thì có nhưng không phải lên tới sân thượng, phơi đồ cũng phơi ngay trên nóc nhà xe, giờ đó đâu có việc gì ở tận sân thượng. Từ năm bữa nay tôi dám chắc nó chưa hề bước ra chỗ sân thượng nữa.

Tên tôi là X.X.X., 49 tuổi, nội trợ. Nhà tôi đi làm việc ở tỉnh lâu lâu mới về, mọi việc ở nhà đều do tôi quyết định. Bao lâu tôi vẫn có hai người làm, một chị bếp và một nhỏ con gái lo công việc vặt. Chị bếp làm với tôi từ lâu. Tháng trước tôi cho con nhỏ kia thôi việc để về xứ vì lý do riêng trong gia đình của nó. Thiếu người làm tôi có kiếm người thế mà kiếm chưa được. Bữa thứ hai trước chị bếp đi chợ Sàigòn có đưa về con nhỏ này, tôi thấy nó có giấy tờ đàng hoàng cấp tại Trảng Bàng, coi bộ dễ thương, tôi cho ở lại làm thử, lương tháng năm ngàn. Hồi này kiếm người làm là một chuyện rất mệt tuy không thiếu người xin làm. Ra chợ Sàigòn kêu về cả chục người cũng có nhưng hiếm có người làm tốt, cho nên khi thấy chị bếp nói gặp con nhỏ ở chợ tôi đã ngại không muốn. Để cho nó làm thử ít bữa thì thấy cũng được, vì vậy tôi mới giữ nó cho tới hôm nay.

Con nhỏ ngoan ngoãn, siêng việc, nhưng nét mặt hay buồn. Tôi nhận thấy có những lúc nó bình thường và có những lúc như nó muốn sịu xuống vì buồn. Tôi có nói với chị bếp và con gái tôi rẳng con nhỏ có tâm sự gì buồn lắm, e rằng nó không làm được lâu. Hôm qua chị bếp có nói cho tôi hay con nhỏ buồn là vì muốn đi làm xa giúp đỡ má nó nhưng việc không xong phải trở về, nghe nói nó có được đi học tới hết đệ tam rồi vì nhà nghèo phải bỏ dở học. Gia đình chúng tôi rất quý những người có học, vợ chồng tôi có hai đứa con, mong mỏi chúng chăm chỉ học, đỗ đạt hơn ba chúng, không dè thằng Hai học hành dở dang tới tuổi động viên phải đi lính, con bé em có thừa khả năng, thừa phương tiện học hành, cũng ham chúng bạn ăn diện, dong chơi nhiều hơn là học. Tôi đang buồn vì con, nghe nói con nhỏ ham học mà nghèo không học tiếp được tôi thấy thương lắm, định bụng chờ cho nó làm ít lâu xem có thật là ngoan ngoãn ham học tôi sẽ giúp đỡ cho nó học lại, thấy nó có ăn học mà bắt làm việc cơ cực tôi không nỡ. Tôi có dặn chị bếp thử dò hỏi xem tâm sự của nó ra sao, tôi sẵn lòng giúp đỡ nếu nó cần.

Ngay từ trước khi hay biết con nhỏ như vậy tôi vẫn xử đối với nó như mọi người làm khác, hơn nữa tôi còn bảo chị bếp vì nó là người mới đừng bắt lo những công việc nó chưa quen. Trong năm ngày ở trong nhà tôi công việc gì đối với nó tôi cũng coi như đang lúc tập làm, tôi không hề rầy la một tiếng. Như tôi đã nói, công việc làm của con nhỏ khá chu đáo. Tôi có thể nói chắc ở nhà trên đối với tôi và con gái tôi cũng như dưới bếp đối với chị bếp, trong năm ngày nay không có một chuyện gì xảy ra đến nỗi con nhỏ buồn mà phải tự tử như vậy. Vâng, tôi tin rằng nó tự tử, vì không lẽ gì vào giờ đó đang bận công việc mà nó lên chơi trên sân thượng để lỡ té chết. Tôi nghĩ rằng nó có ý định tự tử từ trước, gặp bữa đó chồng tôi, con tôi ở xa về cả nhà đang mắc tíu tít nói chuyện, chị bếp mắc lo nấu ăn dưới bếp, nó nhân cơ hội cắt lẻn lên lầu, lên sân thượng mà lao mình xuống đất. Đó là ý nghĩ của tôi, nhưng tôi không thể giải thích tại sao con nhỏ lại chọn cách đó, muốn chết đâu có thiếu gì cách. Báo hại tôi, nó chết trong nhà tôi, ngay giữa sân, tôi sẽ phải lo cúng kiếng cách nào giải oan cho linh hồn nó. Tôi không biết mẹ con tôi có dám ở trong ngôi nhà đó nữa hay không, ngôi nhà vợ chồng tôi mua được đã hơn mười năm nay, đang sống yên ổn.

Tôi tên là V.V.V., 20 tuổi. Bữa chị bếp đưa chị ở mới về có tôi ở nhà, lúc đó khoảng hơn chín giờ, tôi mới ngủ dậy, đang ăn sáng ở bàn, tôi có nghe má tôi hỏi chuyện chị ta. Công việc ở trong nhà hoàn toàn do nơi má tôi định đoạt hết, tôi không bao giờ biết tới. Tôi chỉ đòi nơi má tôi một điều kiện là trong một gia đình đàng hoàng không thể có những người làm xấu xí quê kệch, chưng diện một chút càng tốt nhưng vẫn phải giữ đúng vai trò người làm. Tại tôi đòi hỏi như vậy cho nên cho chị ở trước nghỉ cả tháng nay không kiếm được người thay thế. Tôi coi chị ở mới này đã có thiện cảm ngay từ đầu, trông chị ta xinh xắn, nét mặt dễ thương, tiếng nói cũng dễ thương, tôi chịu không được mấy người có máu đàng Thổ, tiếng nói khó nghe lắm. Má tôi trước khi nhận cho chị ta vô làm có đưa mắt hỏi ý tôi, tôi gật đầu chịu. Vì chị ta coi được, thế thôi.

Tôi đi vắng nhà hoài, công việc ở trong nhà chẳng mấy khi tôi biết tới. Tôi có nghe má tôi hai ba lần khen chị ở mới với tôi, má tôi bảo chị ấy ngoan, siêng năng, biết giặt đồ rất sạch, ủi đồ thẳng nếp, chỉ có một tội là tại sao thỉnh thoảng nét mặt chị ấy buồn rười rượi, đôi khi có vẻ hốt hoảng sợ hãi nữa. Má tôi cho rằng chị ấy có tâm sự gì u ẩn. Còn lâu tôi mới quan tâm tới tâm sự của người khác, cho nên nghe má tôi nói tôi cũng biết vậy, không có ý kiến. Nuôi người làm trả lương cao cho người ta sốt sắng làm, mình là chủ chỉ cần công việc của người ta lo đầy đủ cho mình, còn tâm sự của người ta hơi đâu mình quan tâm. Với lại tâm sự của mình có ai biết tới đâu mà lo tâm sự của người khác.

Chiều hôm nay, anh bạn thân của tôi tới chơi từ lúc bốn giờ, má tôi mắc đánh bài bên nhà lối xóm, tôi ở phòng khách, cho chạy băng nhạc cùng ngồi nghe với bạn. Rồi ba tôi ở Qui Nhơn về, hai phút sau tới anh Hai tôi ở Huế cũng được nghỉ phép về tới. Tôi bảo chị bếp chạy qua mời má tôi về, cả nhà xum họp vui vẻ chưa được mười phút thì nghe tiếng chị bếp la dưới sân: “Chết ! Người chết !” Chúng tôi hoảng kinh ào xuống sân sau thì thấy chị ở mới nằm chết đó. Tôi chẳng hiểu chi hết. Tại sao có thể chết dễ dàng như vậy được ? Cuộc đời đáng sống lắm chứ, chuyện buồn nào mà chẳng qua đi, tại sao lại đi tìm cái chết, chết thê thảm như vậy mới lạ kỳ nữa.

Khi nãy tôi hoang mang chẳng suy nghĩ chi hết, chỉ tự hỏi tại sao chị ta lại chết như vậy. Tới đây ngồi suy nghĩ thêm tôi có thể cho rằng chị ta lén lên lầu, lên sân thượng chơi, rồi lỡ té chăng. Đứng trên cao quá có thể thấy choáng váng té được lăm chứ. Trên sân thượng có một lần tôi mở bum, chăng đèn kết hoa nhưng không succès bao nhiêu, với lại lối xóm thấy làm ồn có phàn nàn với má tôi, sau này lại cấm nhảy, thành ra tôi không tổ chức lần nào khác trên sân thượng. Hằng ngày chẳng ai lên đó, cả tháng chẳng ai đặt chân lên đó, trừ ra những khi ba tôi về, ông thấy không khí Sàigòn ngộp quá, buổi tối hay lên đó bắc ghế ngồi nói chuyện với má tôi.

Tôi tên là U.U.U., 26 tuổi, trung úy trừ bị trong quân đội VNCH. Cách đây chừng hai tháng, khi đó tôi làm việc tại một chi khu gần thành phố Qui Nhơn, nơi ba tôi là y sĩ trưởng một bịnh viện công. Thỉnh thoảng tôi về Qui Nhơn thăm ba tôi. Cách đây chừng hai tháng, tôi nhớ là một chiều chủ nhật, ba tôi mắc đánh bài mã tước với mấy ông bạn, không muốn ở nhà một mình, tôi thả bộ dạo chơi trong thành phố. Lát sau tôi ghé một quán nhỏ mang cái tên ngồ ngộ “Trăng Thu.” Trong một vùng ánh sáng nửa tối nửa sáng, có nhiều bàn nhỏ, ghế thấp, những người trẻ tuổi tụ họp từng bàn uống trà, cà-phê, bia chai hay bia hộp, hoặc những thứ giải khát khác, và nghe nhạc, những bản nhạc thời thượng, do những ca sĩ nổi tiếng hát và được thâu băng.

Không gặp ai quen, tôi ngồi một mình uống cà-phê trong góc quán, đối diện với chiếc quày nhỏ nơi thâu tiền. Một mình tôi hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác, thả nông nỗi chán phè của một chiều chủ nhật cô đơn qua khói thuốc, chờ sáng mai trở về đơn vị. Tôi không nhớ tại sao và từ một giây phút nào tôi chợt chú ý tới cô gái ngồi thâu tiền ở trước mặt. Tôi chú ý tới một nét buồn kỳ lạ trên gương mặt cô gái. Không buồn cô gái đã có một vẻ hiền, ngoan, dịu dàng hiếm có, thêm nét buồn cô gái trở nên một thỏi nam châm thu hút những người con trai như tôi ngồi một mình đếm những giây phút qua đi chẳng có việc gì làm, chẳng có ý nghĩ nào vương vấn lâu trong đầu. Bảo rằng đó là một thỏi nam châm rất đúng, vì lúc đó như có hẳn một từ trường giữa cô gái ngồi kia yên lặng và tôi cũng yên lặng ngồi đây. Mấy phút sau, biết rằng cô gái cũng để ý tới con mắt không dời của tôi, tôi đứng lên đi lại gần quày thâu tiền xin phép được nói chuyện với cô gái. Cô gái vui lòng. Câu chuyện lúc tối đó rất tầm thường, nhưng từ sau khi quán đóng cửa tôi đưa cô gái về chỗ trọ và chia tay về nhà tôi tin rằng đã có một chút gì ràng buộc giữa hai chúng tôi. Trên khúc đường vắng, cô gái cho biết đã bị lừa ra đây không phải để săn sóc hai đứa nhỏ mà để thâu tiền ở quán nước như tôi đã thấy. Bị lừa nhưng cô gái đành chấp nhận vì đã lỡ khăng khăng với mẹ đòi đi, với lại cô gái cũng cần mỗi tháng có một món tiền gởi về cho mẹ ở Trảng Bàng.

Sáng hôm sau tôi trở về chi khu nhưng chiều hôm đó tôi đã kiếm được cách xin phép quay lại Qui Nhơn. Chúng tôi lại gặp nhau. Bắt đầu yêu nhau, cô gái mà từ đó tôi thấy có quyền được gọi bằng tên riêng, Vân đã lần lần kể hết cảnh nhà cho tôi nghe. Vân mồ côi cha từ năm mười tuổi. Bà mẹ thừa khả năng nuôi dạy hai người con, Vân và Đức em trai Vân, vì ông chồng khi chết đi có để lại cho vợ con một vườn trái cây nhiều huê lợi tại Bình Dương. Trảng Bàng là quê bà mẹ, ông cha người gốc Bình Dương. Vì thuận tiện riêng, bà mẹ đưa hai con về quê ngoại ở Trảng Bàng, nơi đó bà mẹ được thừa hưởng một di sản ruộng đất cũng khá. Vườn trái cây ở Bình Dương là nguồn lợi tức chính cho ba mẹ con sinh sống thừa thãi. Lên trung học hai chị em Vân được mẹ gửi đi Sàigòn ở nhà bà dì để đi học. Vân học hành rất ngoan, Đức mê theo thằng con trai bà dì, hai đứa chơi nhiều hơn học và tập được đủ thứ tật xấu, trong số có tật đánh bạc. Trong vòng có năm sáu năm trời, nguồn lợi về vườn trái cây không đủ cho bà mẹ chi dụng và lần lần phải cắt từng khu vườn bán đi. Tai hại nhất là những năm về sau Đức lớn lên càng ăn chơi hơn, tốn kém hơn, và đến tuổi động viên phải lo lót trốn lính. Trọn vẹn di sản của người cha để lại đã từ cái túi của cậu con trai bay đi hết.

Tới năm nay thì cả một mảnh vườn còn lại ở Trảng Bàng cũng qua tay người khác vì những vụ lo lót trốn lính của Đức. Vân phải nhận lời ra Qui Nhơn vì biết mẹ đã tới đường cùng không có cách nào có tiền sinh sống hằng ngày chứ đừng nói tới cung ứng cho cậu con trai phá của. Theo lời Vân, dường như hồi sau này Đức có cặp bồ được với con gái một nhà giàu ở Sàigòn cho nên có thể tiếp tục ăn chơi không đòi hỏi quá nơi bà mẹ nữa.

Càng thấu hiểu hoàn cảnh của Vân tôi càng thấy yêu Vân hơn. Vân đã thuận một ngày nào đó sẽ để tôi đưa về nhà giới thiệu với ba má tôi và sau đó sẽ xin ba má tôi cho cưới Vân làm vợ. Sở dĩ tôi còn chần chờ là vì tôi biết rõ thành kiến trong gia đình tôi, nếu đưa Vân về nhà ngay lúc đó thì không giấu được ba tôi rằng Vân chỉ là một cô gái ngồi thâu tiền tại một quán nước, nhất định ba má tôi không khi nào ưng một đứa con dâu với địa vị như Vân. Vân trở về Trảng Bàng rồi mới tính tới chuyện giới thiệu Vân với ba má tôi. Có một lần đề cập tới vụ Vân trở về Trảng Bàng, Vân có nói với tôi để Vân tính, nhưng coi bộ không tin rằng có thể chiều ý tôi được ngay. Tôi ngu dại không lượng định được sự cần tiền nơi Vân như thế nào. Với lại nếu tôi có ngỏ lời muốn giúp, Vân chưa chắc đã chịu, tôi biết Vân nhiều tự ái lắm. Nhân một dịp lẻn về Qui Nhơn gặp Vân trong chốc lát tôi đụng đầu với một ông anh họ cũng ở trong quân đội như tôi nhưng có thế lực lắm tại bộ tư lệnh quân đoàn. Gặp nhau cả hai chúng tôi cùng ngạc nhiên không ngờ cùng ở một vùng mà không biết. Ông anh có hỏi chi tiết nhiệm vụ hiện thời của tôi. Tai hại cho tôi, một tuần sau tôi nhận được lệnh đổi về Huế, do sự can thiệp của ông anh họ, tưởng làm vậy là vui lòng tôi. Nhận được lệnh tôi đâm bổ về Qui Nhơn kiếm Vân. Bà chủ quán cho biết Vân đã thôi không làm tại đó nữa, đi đâu bà không biết.

Về nhà để báo tin cho ba tôi hay vụ thuyên chuyển, tôi thấy ở góc bàn giấy của ba tôi một phong thư đề tên tôi. Thư của Vân. Trong bao thư còn một bao thư khác mang con dấu ty bưu điện Trảng Bàng. Vân viết vắn tắt trong thư nói rằng đã đứt ruột phải quyết định nhận đi làm việc tại một nơi xa để có thể vay trước một món tiền lớn. Đi xa như vậy tức là không bao giờ còn gặp lại tôi nữa, nhưng Vân không có cách nào khác, tôi cứ đọc lá thư của má mới gửi ra thì biết. Bà mẹ viết trong thư cho Vân biết Đức mới về nhà cho hay lỡ đánh bạc thua cầm thế mất chiếc xe honda của một người quen, bây giờ cần có một trăm năm chục ngàn chuộc xe, nếu chậm người kia thưa gởi, lòi ra vụ trốn lính thì nguy. Bà mẹ tính bán nốt căn nhà đang ở lấy tiền trả nợ cho Đức, số còn lại sẽ dựng một căn nhà nhỏ trên đất của một người bà con vui lòng cho cư ngụ.

Ý hẳn Vân đã không muốn mẹ phải hi sinh phần gia sản cuối cùng cho nên đã quyết định như vậy. Tôi bỏ cả một ngày hỏi thăm khắp nơi mà không sao biết được Vân đã dời Qui Nhơn để đi đâu. Phải đi Huế gấp theo lệnh, ra tới Huế công việc mới buộc tôi không thể nhất đán xin nghỉ phép mà về Sàigòn để đi Trảng Bàng gặp bà mẹ Vân, thư của bà mẹ lại không ghi địa chỉ để tôi có thể theo đó mà viết thư. Mãi cho tới hôm qua, nhờ sự giúp đỡ của ông anh họ tôi mới xin được phép một tuần về đây với mục đích duy nhất là sáng mai đi Trảng Bàng. Không dè vừa về tới nhà đã gặp Vân, gặp trong trường hợp thê thảm như vậy.

Tôi tên là T.T.T., 23 tuổi, sinh quán tại Bình Dương, trú quán tại Trảng Bàng, hiện đi học tại Sàigòn. Chiều hôm nay tôi có mặt tại ngôi nhà xảy ra vụ tai nạn vì tôi quen với cô V.V.V. Trước kia có thể nói là hằng ngày tôi có mặt tại đó vì chúng tôi chơi thân với nhau. Trong khoảng hơn một tuần nay tôi không lại đó chơi vì có công chuyện riêng phải đi Trảng Bàng. Mới từ Trảng Bàng về lúc trưa, bốn giờ chiều tôi đã lại kiếm cô V., chúng tôi đang ngồi nghe nhạc tại phòng khách ba của V. về tới, sau lại tới anh Hai của V. cũng từ Huế vô. Chúng tôi đang nói chuyện nghe tiếng la dưới sân sau. Chúng tôi chạy xuống thì chuyện đã xảy ra. Tôi quen thân với gia đình của V. nhưng không bao giờ chú ý tới những chuyện trong nhà, tôi không có ý kiến nào về trường hợp đã xảy ra.Tôi nhìn nhận nạn nhân đúng là chị ruột tôi, tên Vân. Tôi bận đi học tại Sàigòn rất ít khi về thăm nhà. Mới đây tôi hay tin chị tôi đi Qui Nhơn nhận săn sóc việc học cho hai đứa nhỏ tại một gia đình quen. Tôi không hiểu vì lý do nào mà chị tôi lại bỏ công việc ở Qui Nhơn về đây và đi làm công. Gia đình tôi không đến nỗi quá nghèo để chị tôi phải đi làm công như vậy. Tôi không có ý kiến về cái chết của chị tôi, có thể là tai nạn, có thể là tự sát. Buổi chiều khi tới chơi tôi không biết có chị tôi làm công tại đó, khi tôi tới chị bếp ra mở cửa cho tôi.

Tôi tên là S.S.S., y khoa bác sĩ, y sĩ trưởng bịnh viện Qui Nhơn, gia đình tôi để lại Sàigòn vì có sẵn ngôi nhà và con gái tôi đang theo học tại Sàigòn. Chiều nay tôi về thăm nhà, vừa về tới được chừng không đến nửa giờ thì xảy ra vụ này. Khi tôi chạy xuống tới sân sau nạn nhân đã tắt thở, từ trên cao hơn mười thước lại dộng đầu mạnh xuống nền xi- măng có thể chết tức khắc. Nâng đầu nạn nhân lên tôi đã kinh ngạc nhận ra đó là một bịnh nhân tôi mới chữa trị cách đây có mấy tuần lễ ngoài Qui Nhơn.

Một buổi sáng nhân viên ty Cảnh sát dẫn giải tới bịnh viện một người con gái bị buộc tội hành nghề mại dâm đang mắc bịnh hoa liễu nặng. Ty Cảnh sát gởi bịnh viện chữa trị cho người con gái với tư cách một can nhân, chờ khỏi bịnh sẽ được đưa qua bên tòa án. Khi đó tôi hoàn toàn không lưu ý tới một khía cạnh nào khác nơi người con gái ngoài nhiệm vụ chẩn bệnh rồi chữa bệnh. Chẩn bệnh tôi thấy người con gái mới bị mất trinh không lâu, đang mắc bịnh lậu mủ rất nặng, tình trạng sửc khỏe tồi tệ vì xúc động thần kinh quá mạnh đồng thời trải qua một thời gian thân xác bị hành hạ quá sức chịu đựng của thể chất. Vì là một trường hợp bịnh trạng đặc biệt, có thể nói y sĩ tranh đấu từng giờ với tử thần, cho nên tôi đã bỏ rất nhiều công săn sóc cho người con gái đó. Sau mười ngày vừa lo chống vi trùng hoa liễu vừa lo gây lại sức khỏe cho bệnh nhân, hai công việc rất khó dung hòa, vì dùng một lượng trụ sinh rất mạnh cần thiết cho trường hợp bịnh thì hại tới tình trạng sức khỏe đã quá suy yếu, tôi đã cứu được người con gái. Từ ngày thứ mười trở đi, người con gái đã tỉnh táo hơn, tôi mới chú ý tới nét mặt, nhất là hai con mắt rất hiền từ, những lời nói lễ độ tự nhiên, những cử chỉ rõ ràng khép nép kín đáo, tôi lấy làm lạ tại sao một người con gái như vậy có thể là một con điếm sắp bị đưa ra tòa, tức là một thứ bị bắt nhiều lần không còn biện pháp ngăn cản nào khác.

Chú ý như vậy nhưng tôi là một y sĩ, y sĩ không có quyền tò mò nếu bịnh nhân không nói và thấy không cần thiết cho việc chữa trị. Người con gái nằm bịnh viện đúng hai chục ngày, bịnh lậu mủ đã trị có thể nói là tuyệt nọc, chỉ còn tình trạng sức khoẻ mới khả quan, nhưng khả năng của một bịnh viện công ở tỉnh không cho phép giữ bịnh nhân ở lại thêm. Đúng như lời yêu cầu khi đưa bịnh nhân tới tôi đã trả người con gái lành bịnh cho ty Cảnh sát. Khi xuất viện, người con gái chỉ tới ngỏ lời cám ơn tôi và cũng không yêu cầu tôi giúp đỡ một điều gì khác. Tôi yên ổn lương tâm một y sĩ, và vội quên ngay trường hợp đó.

Tới tối ngày hôm sau, ông biện lý vốn là bạn chơi mã tước tới gặp tôi tại nhà và hỏi thăm tôi về hồ sơ bịnh trạng của người con gái đó. Khi đó tôi mới tò mò hỏi thăm lại về trường hợp người con gái trên bình diện tòa án. Ông biện lý cho biết cứ như lời khai của người con gái mà ông biện lý lấy tâm tín của một thẩm phán cho rằng đúng sự thật thì y thị là nạn nhân của một vụ mua bán và bội tín, mua bán và bội tín trên thân xác khổ sở của người con gái đó. Từ Trảng Bàng ngưòi con gái bị lừa ra Qui Nhơn để trông nom việc học cho hai đứa nhỏ với số lương mười lăm ngàn đồng một tháng, được ăn ở không mất tiền, tiền chuyên chở từ Trảng Bàng ra Qui Nhơn và trở về do người mướn chịu. Tới Qui Nhơn không có học trò mà chỉ có công việc thâu tiền tại một quán nước. Người con gái cần tiền giúp mẹ cho nên cũng vui lòng nhận. Công việc tạm êm xuôi trong vòng một tháng. Ông biện lý dùng chữ “tạm” là vì chẳng bao lâu sau khi tới Qui Nhơn người con gái đã được mụ chủ quán dụ dỗ bán trinh cho người nhà giàu sẽ được một món tiền lớn, sau đó tiếp tục hành nghề mại dâm sẽ có thêm nhiều tiền nữa. Cô gái cương quyết không chịu, mụ chủ cũng để yên, thỉnh thoảng lại tấn công nhưng vô hiệu. Một tuần trước khi người con gái được đưa tới trị bịnh, y thị nhận được thư của mẹ từ Trảng Bàng cho biết phải bán nhà để lo trang trải công nợ. Vì thiết tha với ngôi nhà mẹ con sống từ lâu đầy kỷ niệm, người con gái đã trả lời bằng lòng đề nghị của mụ chủ quán. Mụ chủ quán đặt điều kiện cô gái chịu để cho một người có tiền phá trinh và sau đó phải sống với người đó liên tiếp trong hai tuần lễ sẽ được tròn món tiền một trăm năm chục ngàn. Số tiền kiếm được đủ để giúp mẹ khỏi bán nhà, cô gái ưng thuận. Ngay hôm sau cô gái được đưa tới một tỉnh ở Cao Nguyên và trao trong tay một người đàn ông có thế lực tại đó.

Ông biện lý cho biết người con gái đã tỉ mỉ kể lại chi tiết cuộc đày đọa thân xác với một người đàn ông to lớn và vũ phu như một con trâu. Trên nguyên tắc, về phương diện sinh lý khi một người nam và một người nữ đã thuận tình ráp lại sống với nhau sớm muộn người nữ sẽ tìm thấy khoái cảm, cho dù lúc ban đầu có sợ hãi sự chung đụng. Đằng này sau một đêm và một ngày trong tay người đàn ông đó cô gái chỉ thấy hoảng sợ đến độ kinh hãi la thét mỗi khi người đàn ông tới gần. Kết cuộc, người đàn ông có thế lực nổi giận đuổi cô gái ra khỏi nhà. Thảm thương cho người con gái là thoát khỏi vòng ông chủ lại rơi vào tay lũ gia nô, chúng thay phiên nhau hành hạ người con gái. Địa ngục kéo dài trong vòng năm ngày thì nội vụ đến tai một người cũng ở trong vòng thế lực của người đàn ông kia nhưng có tình thương và tư cách nghĩa hiệp. Người này đứng ra can thiệp để giải phóng cho cô gái.

Đã sa vào địa ngục lại chẳng được một đồng bạc nắm trong tay cho đỡ tủi, cô gái cũng đành, cố cứu lấy mạng sống. Nhưng người đàn ông nhiều thế lực không biết nghe lời lũ gia nô ra sao đã cho người đuổi theo tới Qui Nhơn và cô gái đã biến thành một gái điếm đáng đưa ra tòa lên án. Vì tình trạng sức khỏe thảm hại của cô gái cho nên mới có vụ đưa tới bịnh viện.

Ông biện lý có bàn với tôi nên giải quyết vụ ngưòi con gái đó cách nào. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Tất cả vấn đề thu gọn vào một điểm: người con gái có đứng ra tố cáo nội vụ hay không. Ông biện lý cho biết đã chỉ vẽ cho cô gái biết nên làm và phải làm như thế nào và ông biện lý hứa tận tình giúp đỡ, nhưng cô gái đã từ chối, chỉ xin ông biện lý giúp đỡ cách nào để có thể trở về Trảng Bàng với mẹ. Cả hai chúng tôi thật tình đều muốn vụ mua bán đen tối đó phải được làm cho ra lẽ, nhưng suy nghĩ chán chúng tôi đi tới kết luận cứ nên chiều theo ý mong của cô gái là hơn hết, lương tâm chúng tôi có không yên nhưng cô gái sẽ yên và đó cũng là điều cô gái mong ước, lương tâm chúng tôi ít nhất cũng được cái cớ đó che đậy. Hai chúng tôi đã dễ dàng giúp cho cô gái có được mấy cái quần, mấy cái áo thay đổi (khi trở về Qui Nhơn cô gái mất hết những gì đã có trừ bộ quần áo trên người), chút tiền dận túi và một giấy máy bay Qui Nhơn -Sàigòn.

Tôi xác nhận người con gái làm công trong nhà tôi mới chết và người con gái tôi đã gặp ở Qui Nhơn đích thị là một. Nhưng tôi không thể hiểu tại sao đã về tới Sàigòn người con gái đó không về Trảng Bàng với mẹ lại đi làm công và tại sao chiều hôm nay đã tình cờ té lầu mà chết hay nhảy lầu tự sát ngay trong nhà tôi. Đọc hết tờ biên bản và những lời khai, ông đại úy trưởng phòng Hình cảnh gấp tập hồ sơ lại, nói với cô thư ký ngồi ở bàn kế bên, cô thư ký ngơ ngác không hiểu, ông đại úy như nói một mình:

“Tất cả những người có liên quan tới cô gáỉ trong vụ này đều có biểu tỏ tình thương với cô gái. Nhưng bấy nhiêu tình thương đã không kéo được cô gái ra khỏi hoàn cảnh khốn khổ. Đặt bên thân phận cô gái, tình thương giống như một món trang sức đáng bày giữa hai ngoặc kép.

Xét hồ sơ này nhiều phần chắc là ông biện lý sẽ truyền xếp, điều tra bổ túc sẽ đụng phải những vách núi thế lực. Nếu ông biện lý là một người làm văn học nghệ thuật, với hồ sơ này ông ấy có thể soạn được một vở kịch, dựng lên một tuồng hát, hay quay thành một cuốn phim, cùng lắm cũng viết được một truyện ngắn, truyện của xã hội bây giờ.”

MẶC ĐỖ

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Mai Thảo

Post by Sơn râu 7 May 2024

11. Cửa Sau

12 giờ đêm

Chàng yêu nhất là cái hình bóng lay động thấp thoáng của những chùm lá, dấu vết duy nhất còn lại của đời sống trên một vùng bao la mênh mông nín thinh, khi con đường khuất nẻo sau chợ Phú-nhuận đó, lúc chàng trở về, chỉ còn là một mặt nhựa khép kín nằm với đêm giữa hai dẫy nhà thấp đã tắt ngấm đèn lửa và đóng chặt mọi cánh cửa. Đêm. Đêm trong vắt, đêm lững lờ, đêm như một con mắt đăm đăm sát gần và phóng lớn đến vô tận, đêm của thứ đêm riêng, đêm của riêng chàng, vừa bắt đầu, lúc này, lúc này chàng đã trở về. Chiếc taxi đậu lại cách nhà chàng một quãng xa, đèn pha lóe lên, vệt ánh sáng xoay tròn về một hướng đối nghịch chàng đứng lặng nhìn chiếc xe trở đầu và mất hút. Trí nhớ, tan loảng, nhận chìm theo nó mớ ghi nhận chập chờn đeo bám hững hờ vào thần trí lãng đãng suốt dọc đường trở về, ngồi thu mình trong một góc xe và ném một cái nhìn gần như e sợ bàng hoàng ra cảnh vật chung quanh. Đêm chỉ còn chàng với nó, thành phố buông màn không còn gì đáng thấy, chàng bàng hoàng e sợ là vì thế, suốt một ngày chàng nhòa vào đám đông, lẫn vào tiếng động, chàng không có, nhưng đêm tới, và bóng hình chàng hiện lên và đêm là một tấm gương, nó dồn đuổi chàng suốt một ngày chạy trốn ở những vùng ngoài nó tới trước nó, và như thế, không bao giờ lẩn tránh được. Trí nhớ nhòe. Người tài xế nào ? Mỗi đêm một người tài xế khác. Chiếc xe nào? Mỗi đêm một số xe một đời xe khác. Cái gáy y sần sùi, những ngón tay y đặt trên vành bánh, một khuôn mặt mơ hồ và trông nghiêng, lũ cây cối lũ lượt lùi ngược, lối vào một nghĩa trang im lìm với những hàng thập tự mờ sương sau cánh cổng sắt, rồi con đường nhỏ lại, sự thu hẹp bất chợt của hai bờ án ngữ tầm mắt đánh thức chàng khỏi sự mơ màng bất động, chàng đã về gần đến nhà, và một đêm mới, một đêm riêng đã bắt đầu, và chàng chỉ còn nhớ được có thể, trước sự nhớ ra mới, nhớ ra chàng đã lại đứng trước hình bóng lay động của những chùm lá nơi đầu con ngõ tối đen. Đứng sững. Rồi đôi chân khởi sự bước. Qua một đống rác, dưới những chùm lá. Khoảng khắc, chàng không thấy mình đâu nữa. Cái ngõ tối thẳm hút lấy chàng như một cửa hầm. Nghe thấy tiếng giầy dội lên trong một âm thanh kỳ lạ. Ngửi thoáng thấy trong không khí, hương của một loài hoa đêm. Tôi đã đi hết con ngõ như một vô định mù lòa. Đến cuối ngõ là vùng ánh sáng cuối cùng và đôi chân tôi dừng bước lại, Tôi đã trở về. Với căn nhà của tôi, cái thế giới ấy của bắt đầu một đêm riêng tôi đối diện hoàn toàn với nó.

Tiếng khóa. Tách. Cánh cửa hé mở. Chàng đã lọt vào bên trong, và đêm trong nhà cũng sáng lên bằng một thử ánh sáng riêng. Ngọn đèn treo lưng chừng và chính giữa căn phòng khách. Chàng ném mình xuống chiếc ghế bành ôm ấp lấy thân xác mỏi mệt hai chân duỗi dài, đầu ngả vào thành ghế, và trong căn nhà này, trên cái ghế bành này, dưới làn ánh sáng lạnh lẽo, chàng dần dần tìm lại được chàng. Trí nhớ sắp xếp lại từ một tia hồng của mặt trời rạng xuống bên kia đường sau một gờ mái cao. Như thường lệ, chàng ra khỏi nhà đã muộn. Gió đã mát từ ngoài đầu ngõ, nhưng chàng đã bỏ lại căn nhà nóng bỏng như một lò lửa. Dừng lại trước một sạp báo đầu phố, chàng ném tiền mua mấy tờ nhật báo cuộn tròn lại, và bước lên một chiếc cyclo. Người phu xe quen, y biết chàng ngày nào cũng ra đi vào giờ này, chàng đến đâu y cũng biết trước. Thành phố nhạt nắng. Bánh xe trườn lăn nhẹ nhàng đưa chàng qua những con đường nhộn nhịp, những ngã tư xe cộ nghẹn ứ, chàng ngồi ngả người để mặc cho chiếc xe hàng ngày đón đưa quen thuộc chở chàng đến nơi chiều nào chàng cũng tới đó.

Đó là một tiệm ăn. Một tiệm ăn nằm dưới chân một cây cầu xi-măng vắt qua dòng sông ở khúc ôm vòng lấy thành phố như một cánh tay âu yếm. Từ ngày hai người gặp nhau, chàng đã chọn nơi chốn nhất định này để chờ đợi nàng. Bàn chàng ngồi kê gần một khung cửa sổ có những chùm hoa đỏ chói rủ xuống, những chùm hoa thật mùa hè, nổi bật lên nền xanh thẳm bao la của trời chiều, mỗi cánh hoa, có một vẻ đẹp bất tử không yên tâm do nơi buông rủ rớt đọng lưng chừng của hoa, và qua những cánh đỏ như từng điểm tựa cho tầm mắt, chàng thu được vào cái nhìn toàn vẹn cái hiện tượng phơi phới rực rỡ là dòng sông trước mặt chảy qua. Những buổi chiều yên tĩnh hơn những buổi chiều khác, gió từ bãi thấp vượt qua những chân cầu và con đường thoai thoải đổ dốc phả đến tai chàng nhịp điệu luân lưu rì rào của nước suôi dòng, âm thanh vấn vương ôm ấp triền miên không dức của nước gờn gợn sóng sánh vào bờ cỏ chàng không nhìn thấy được từ chỗ này. Thời gian đợi chờ, như nước của dòng sông trước mặt, trôi chảy êm đềm, hoà hợp với sự đợi chờ của chàng thư thái và bình yên. Nàng có thể đến chậm. Dăm, mười phút. Nhưng chưa lần nào nàng không tới. Nàng bảo chàng tình yêu là không lỗi hẹn bao giờ, lời này, nàng nói, bằng một giọng thật nghiêm trọng, chàng nghe, mỉm cười và nín thinh. Cuộn tròn mấy tờ báo trong tay, chàng lững thững đi vào tiệm ăn vắng người, và phải mất công một chút trong sắp đặt thế ngồi làm sao cho nàng có thể nhìn thấy chàng từ xa, khi nàng từ phía bên kia bờ sông đi sang. Tà ào bay múa trong gió chiều, nàng đến. Cái bóng dáng thanh thoát trên cây cầu cao cắt vạch lên nền trời, nàng tới. Những chùm hoa đỏ mầu đỏ chói chang của mùa… hè, chỗ ngồi gần cửa sổ, trước cái khăn trải bàn trắng phau tinh khiết không một vết bẫn, bãi cỏ xanh nõn thoai thoái đổ xuổng một dòng sông với những sóng nắng trùng trùng gợn gợn, nụ cười sung sướng của nàng khi hai người thấy nhau, tiếng chân nàng bước êm ở sau lưng khi một cánh cửa vừa mở ra và đóng lại ; cảm giác ấm áp tỏa ra khắp cùng thân thể, khi từ phía sau, bàn tay nàng đặt nhẹ trên vai, đó là buổi chiều của chàng, hạnh phúc duy nhất của chàng, với riêng nó, chàng được sống và không suy nghỉ. Chàng thường theo dõi từng bước một, khi nàng từ bên kia cây cầu hiện ra và đi sang. Lúc nàng kéo ghế ngồi xuống trước mặt chàng, chàng cũng ít nói như lúc nàng chưa tới, như lúc nàng lớn dần, rõ dần, đẹp dần và thực dần trước tầm mắt trên cây cầu chàng nhìn từ dưới thấp nhìn lên. Cảnh trí tiểu thuyết. Không khí hoang đường, thơm tho, ngọt ngào và im lặng lớn. Phải thế là tình yêu ? Cái đang có và đang mất, đang tới và đang qua, một buổi trưa dịu dịu trong ca dao, niềm rưng rưng của một giọt nắng vàng, nỗi hắt hiu của một màn mưa thoáng ? Suốt một đời người, như mọi ngưòi, chàng đi tìm kiếm tình yêu, như đi tìm mầu đen thăm thẳm kỳ lạ của một đài hoa khép kín, lối đi nhỏ chưa khám phá ẩn chìm dưới cỏ hoang ngút ngàn một cánh rừng vĩ đại, điểm lân tinh sáng muôn đời nơi rốn biển mịt mùng, sự rung động không phải chỉ nơi cửa trái tim, mà phía bên trong kia của cánh cửa đóng kín, căn phòng thơm hương của một thạch động ngoài đời và bí mật. Riêng tây, không phân giải được, nhịp vờn đẩy dịu dàng, sự lãng quên thần thánh, một búp ngà muốt trên làn mi rủ xuống, ngồi với nhau không nói, gần gũi đây nhưng một đời xa vắng, đó là tình yêu, trạng thái trong vắt và khoan thai của sự chết trong huy hoàng rực rỡ tỏa lan bao trùm và chiếm ngự dần dần. Chàng yêu như thế, sự rớt đọng lưng chừng đầy hoài nghi của chùm hoa đỏ treo hẫng trước khung cưa có dòng sông vàng nắng chảy qua, một chiều nào và câu trả lời là buổi chiều nay, một nơi chốn nao và câu trả lời là chỗ này, khăn bàn trắng muốt, không khí động hờ chạm nhẹ vào làn khói thuốc như một tơ chỉ thẳng vút, chùm hoa đỏ này và khung cửa sổ này, nơi chàng vượt hết một phần thành phố tới đây, ngồi đợi chờ nàng hiển hiện trên cây cầu và từ từ đi tới. Chỗ này. Chỗ này. Và không thể ở một nơi chốn nào khác. Chiều nào, chàng cũng muốn giữ nàng ở lại đây với chàng thật lâu, mãi mãi, cùng nhìn buổi chiều xuống trên bãi cỏ thẫm mầu đẩy dòng sông xa và sâu hơn, cho tới khi những vì sao thứ nhất mọc lên, cho tới khi những hình thù gắn gũi cũng nhạt nhòa cùng bóng tối, cho đến khi chung quanh đá trở nên hoàn toàn xa lạ, khi đó chàng tận hưởng một im lặng kỳ diệu khác thường, và giọt sương hoa kia cũng đọng dần, đọng dần thành một giọt lệ hân hoan.

Nhưng mà cuối cùng rồi hai người vẫn phải đứng lên. Và nàng đã tới nhà chàng nhiều lần, nàng đã ăn ở với chàng bao nhiêu lâu, chàng đã là một đường quen một nẻo thuộc với nàng, nàng với chàng cũng vậy, và nàng không muốn, kéo dài mãi những buổi chiều mơ mộng và lãng quên như thế. Chúng ta phải trở về. Tình yêu phải khác đi. Nó phải là một đưa tới. Anh ngồi với em đây, nhưng tình yêu theo nàng còn phải là đêm nay và buổi sáng ngày mai.

một giờ sáng

Đã một tiếng đồng hồ trôi qua. Rời khỏi cái ghế bành, nơi đêm nào lọt vào tới trong nhà, chàng cũng đến ngồi ở đó một lát, nghe đêm yên tĩnh ở chung quanh và để cho trí nhớ nhạt nhòe sáng rõ trở lại, chàng đứng lên, đi từ buồng khách vào phần trong của căn nhà. Ngăn chia bởi một bức tường phần trong này so với căn phòng khách bỏ lại ở ngoài là một thế giới khác, bé nhỏ, tầm thường và thân mật hơn. Chàng cởi quần áo, vắt trên một thành ghế, chống tay đứng nhìn quanh quất. Đêm mênh mông và đêm đang đi qua. Chàng châm một điếu thuốc hút một hơi thật dài, dụi tàn thuốc nơi cái gạt tàn đặt trên cái bàn gỗ cũ, đã long một chân, nơi mỗi buổi sáng nàng vẫn đứng chải đầu khi chàng còn ngủ thiếp, nàng dậy thật sớm, nàng mở cửa sau và nàng bỏ về lúc nào chàng thường không hay, khi chàng trở dậy, cánh cửa sau mở ngỏ và căn nhà trống không buồn bã. Lúc này, chỉ có mình chàng với căn nhà, và chàng đứng đó, tần ngần, ngó nhìn quanh quất. Thảy đều cũ kỹ. Chàng yêu lắm, sự cũ kỹ đó. Cái bàn cũ, tỳ tay xuống, thân rung lên. Mấy cái mắc áo treo trên một hàng dây thép, dưới cái ống máng kẽm chạy dài mà những ngày mưa lớn, nước sối qua những kẽ thủng ào ào khiến cho nền nhà cũng lênh láng ướt sũng như khoảng sân nhỏ là cái diện tích lộ thiên duy nhất và tận cùng ở phía sau. Nàng vẫn đứng chải đầu ở đây, ngó ngó nghiêng nghiêng trước tấm gương hình chữ nhật, bàn tay nàng lùa đẩy mái tóc óng ả, cử chỉ đó thật đẹp, thật đàn bà là của riêng nàng, và chàng quay lại, nhìn chàng, khuôn mặt chàng phản chiếu gương. Soi gương, lúc một hai giờ sáng, sau một cơn say và một buổi tối choáng váng trở về, cái nhìn thấy về mình lạ lắm, chàng mở lớn đôi mắt và tự nhủ thầm. Sống mũi, đôi mắt, vầng trán, của ai đây? Ta. Nhìn thêm : sự khẳng định đã trở thành một hoài nghi chớm nhú. Không phải, chàng lại nhủ thầm mặt chàng lạnh lùng rửng rưng không một thoáng gợn lặn chìm của cảm giác, chàng đưa bàn tay lên bịt kín lấy khuôn mặt đàn ông nào đó trong gương, và cúi đầu đi qua một khung cửa thấp, ra khoảng sân sau. Nước lạnh làm chàng tĩnh táo. Chàng nhận chìm thật lâu khuôn mặt chàng trong làn nước mát, nhắm nghiền mắt lại mà nghe thầm cái âm thanh luân lưu dạt dào, nhịp vỗ đầy mơ hồ không dứt đó của một dòng sông. Khi ngửng đầu lên vòi nước chảy lướt thướt trên người, tự bao giờ, những vì sao đêm đang trầm ngâm ngó xuống. Người đàn ông đứng bất động thật lâu, hai cánh tay duỗi thẳng theo thân, và đêm, đêm mênh mông, đêm lặng lẽ nhìn người. Tôi yêu những cái lủi thủi, những cái hắt hiu, những cái nhỏ mọn, những cái chẳng ra sao, những cái chẳng thành hình. Đêm. Đêm. Chàng thở dài thật nhẹ và trở vào nhà tắt đèn đi.

ba giờ sáng

Nàng đến. Nàng đến và kim đồng hồ trên tay chỉ đúng ba giờ sáng. Như thế này là nàng đi muộn hơn mọi đêm về trước, những đêm trước nàng tới sớm hơn, đôi khi nàng phải ngồi ngoài phòng khách đọc sách, hoặc để đèn sáng trong buồng ngủ, đợi chàng trở về. Đến muộn thế này cũng phải, đêm cuối cùng mà, nàng tự nhủ thầm khi chiếc xe thả nàng xuống sát ngay đầu ngõ. Nàng rảo bước thật nhanh qua con ngõ tối đen, nhưng khác với chàng, đi hết con ngõ, nàng không đứng lại trước cửa vào phía trước, mà men theo hông tường tay mặt, đi vòng về lối cửa sau. Nàng là người duy nhất vào nhà chàng bằng lối cửa sau này. Cửa khóa ở ngoài. Chàng giao chìa khóa cho nàng giữ. Như thế tiện hơn, nàng có thể đến lặng lẽ và tự nhiên, lúc nào cũng được, ngay cả những lúc chàng đi vắng, ban đêm nàng lại không làm phiền bận chàng nếu như chàng phải mở cửa cho nàng vào từ phía trước, vào bằng cửa sau như thế này hàng xóm chung quanh không hay biết, và sự đi về thăm lén như tạo được một cái gì nồng nàn và đằm thắm hơn nữa cho tình yêu. Nàng vẫn mặc cái ắo dài buổi chiều khi nàng đi qua cầu đến gặp chàng ở tiệm ăn bên bờ sông. Nàng vẫn còn buồn bã và tức giận vì những lời nói gay gắt quyết liệt hồi chiều vẫn còn vang vang trong đầu óc, và bởi vậy mà nàng đã trở lại, lúc này thì kim đồng hồ trên tay nàng đã chỉ đúng ba giờ sáng. Đèn ngoài phòng khách buồng ngủ đã tắt, nhưng cánh cửa mở ra sân sao vẫn mở và đèn vẫn sáng trong căn nhà bếp. Cái áo, cái quần của chàng vắt trên thành ghế kia. Chàng về từ lúc nào. Nàng xô ghế đứng lên, trong giây phút mất hẳn bình tĩnh, nàng đã lỡ tay hất đổ ly nước vỡ tan trên nền đá hoa, chàng ngồi lại, nín thinh trên ghế nhưng sau phút nàng bỏ đi rồi chàng đi đâu, làm gì cho hết buổi tối, chàng về nhà với ai hay chàng về nhà một mình ? Phải tìm được ngay, tức khắc, trả lời cho câu hỏi này. Theo một thói quen rất đàn bà, trong bất cứ một trường hợp nào cũng không bỏ được, nàng bước mấy bước và đứng lại nhìn nàng trong tấm gương. Khuôn mặt này của tôi là một khuôn mặt đau đớn, tròng mắt trong gương kia là một vùng yêu mê chân thành, và cái ý nghĩ đang hiện hình kia là ý nghĩ về một tan vỡ chừng như thế nào rồi cũng phải xẩy đến và nó đã xẩy đến đêm nay. Thật không ngờ. Sự tan vỡ dễ dàng và mau chóng thế ư? Nàng chỉ đòi hỏi chàng điều mà người đàn bà nào cũng đòi hỏi ở người yêu sau một cuộc tình đằm thắm đã kéo dài và không thể ở yên trong tình trạng cũ. Chàng muốn gì ? Nàng phải hỏi, phải bắt chàng trả lời. Ít nhất cũng một lần, Rời chỗ đứng của nàng trước tấm gương, nàng mạnh bạo đi lại phía buồng ngủ, mở mạnh cánh cửa và bật đèn.

Nàng định nói thật lớn, Nhưng nàng không nói được nữa và nàng nhìn. Chàng đang ngủ thật say. Nàng đến và chàng không hay biết gì hết. Trên mặt đệm phẳng phiu chàng nằm nghiêng, quay mặt vào tường, một cánh tay hơi co lên bàn tay hững hờ trong Không khí; chàng ngủ, bằn bặt, đoán thấy nét mặt phẳng lặng khép kín, nhịp thở liên tục đều hòa. Lần đầu tiên, nàng ngó thấy chàng ngủ, như thế này, một mình dưới ánh đèn, trong khi nàng đứng đó, cái bóng in nghiêng lên một vì tường và cũng là lần đầu tiên, nàng bàng hoàng vì thấy chàng xa lạ, chàng xa lạ quá chừng, chàng hoàn toàn xa lạ, như nàng mới thấy chàng lần đầu và không hay biết gì về chàng hết. Không, chàng không thuộc về nàng. Chàng bao giờ như thế hết. Hơi thở đều hòa kia, những sợi tóc bò lan trên gáy, cánh tay và thân thể và da thịt kia không bao giờ thuộc về nàng. Hiện hữu chói chang và bất động với ánh đèn ấy dội đập vào nhân thức thảng thốt của nàng sự cắch biệt và riêng tây một đời của nó. Một đời. Đời nàng và đời chàng nàng hằng nghĩ tới bằng nước mắt, bằng tiếng cười, bằng ái ân hoan lạc nồng nàn, bằng những xâu chuỗi mơ mộng triền miên đắm đuối như một hòa nhập lý tưởng và tận cùng không chống cưỡng được của định mệnh, hòa nhập đó chỉ là hư ngụy và ảo tưởng, nàng và chàng chỉ là hai bờ lưng tiếp giáp, gần gụi đó nhưng sự kế liền đã mang hình ảnh và ý nghĩa của muôn trùng và nghìn dặm cách chia nhau ? Thế còn kỷ niệm, kỷ niệm của những đêm nàng tới đây, tâm hồn thơm hương, của những buổi chiều qua cầu gió bay tà áo, chàng ngồi đó đợi chờ nàng dưới chùm hoa đỏ như những trái tim bé nhỏ thắm thiết của mùa hè, dòng sông rực rỡ vắng, bãi cỏ vàng dáng chiều, tâm hồn nàng dào dạt hân hoan, và chàng cũng vậy chứ, bao nhiêu kỷ niệm, làm sao cho hết, bao nhiêu sợi dây hồng quấn quýt, cái bước hoa hương đó của kỷ niệm ràng buộc lớp lớp từng từng đã đứt tung từng mắt hay sao ? Nàng gặp chàng lần thứ nhất trên một chuyến xe đò từ miền Tây về Sài-gòn. Buổi chiều vàng bụi. Phấn nắng lung linh, lúa đồng dào dạt. Chàng nhìn sang nàng và chàng mỉm cười. Hạnh phúc hé cánh từ một hoài nghi kỳ thú. Tình yêu nổi lên như một dòng sông xanh trên từng bờ kỷ niệm có dần, và nàng với chàng cùng nổi chìm giữa một dòng lướt thướt. Kỷ niệm. Những đêm nàng tới đây, hương của loài hoa đêm đón bước chân nàng nơi mở vào con ngõ tối đen, chiếc chìa khóa chàng giao cho nàng như một bằng chứng của ưng thuận tận cùng, ưng thuận cho nàng được làm chủ, được chia sẻ, được có mặt, nàng mở cánh cửa sau nhà, nàng bước vào trong nhà, ra sân sau rửa mặt dưới vòm trời sao, trở vào thay quần áo. Và một lát sau, nàng đã vén nhẹ cái mùng, mặt đệm đón đỡ lấy thân thể nàng nóng dẫy ngã xuống. Chàng cựa mình tỉnh thức, chàng hơi còn buồn ngủ một chút, em đấy ư, bàn tay chàng tìm kiếm và bắt gặp nàng mau chóng trong bóng tối dầy đặc hoa mắt. Nàng trả lời bằng lăn áp vào chàng, tiếng cười của hai người trong thân mật kế liền trộn lẫn rồi là giấc ngủ mệt mỏi thần tiên lúc tảng sáng. Đôi khi nàng thiếp đi trong thoáng nghe thấy như một xôn xao mơ một tiếng thùng quẫy nước tiếng chân người lạt sạt trong tinh sương khô khan ngoài hẻm nhỏ sát hông tường nhà là nơi nàng đến với chàng trong đêm. Đã tỏ đường đi. Đã thuộc lối về. Đã vào đời nhau. Đã những chiều tình nhân, đã những đêm vợ chồng. Nàng còn nhớ được mãi cái cảm giác thư thái ấy của những buổi sáng nàng thức giấc và ra khỏi giường trước, nàng di động thoải mái trong căn nhà còn đằm chìm trong yên tĩnh, từ buồng trong ra buồng ngoài, từ buồng ngoài ra sân sau. Buổi sáng trải rộng. Nàng dư thừa thì giờ. Nàng đứng chải đầu thật lâu trước tấm gương, nhìn ngắm và yêu mến, hơi thẹn thùng một chút, nhưng sung sướng biết chừng nào, những dấu nếp mỏi mệt còn lẳng đọng nơi khóe mắt là dấu tích của trận tình dữ dội đêm qua. Cảm giác sung sướng kéo dài thênh thanh khi nàng mặc áo, mở cửa buồng ngó vào để thấy chàng vẫn bẳn bặt ngủ say, sau đó, nàng khép cánh cửa sau lại, đi ra với những lòng đường bên ngoài đã chan hòa ánh nắng. Những buồi sáng ở nhà chàng về, nàng muốn hót như chim, muốn xanh như trời, trong nàng con suối nhỏ của tình yêu róc rách thủy tinh, nàng vừa đàn bà biết bao nhiêu và cũng biết bao nhiêu ở nàng là sự trẻ trung dậy thì thiếu nữ. Trên hè phố nàng tiến những bước hồng. Dưới bóng cây, nàng đi từng điệu biếc. Nàng nhìn đám người đi đường, nàng muốn nói lớn với họ là tình yêu của nàng và của chàng tràn đầy hơn hết thảy mọi cuộc sống của mọi người cộng lại, và chiều nay tình yêu lại gặp nhau, và đêm nay, nàng lại đến.

Tại sao nàng đòi chàng thay đổi? Tại sao nàng đòi chàng đi hơn một bước nữa, tại sao nàng muốn thực hiện một chiếm hữu hoàn toàn? Chàng trả lời một câu gì đó, mơ hồ không đúng với mộng ước của nàng. Thế là nàng đã tức giận, đã đi ra. Bây giờ, nàng trở lại đây lặng người trong ngắm nhìn trần trần chàng nằm đó, dưới ánh đèn, và bao nhiêu chi tiết chứa giấu của một sự thực chứa giấu nhất loạt và thình lình ngoi bồng lên bề mặt. Không, bây giờ, chỉ bây giờ, chỉ giây phút này, trong đêm khuya, trong ánh sáng, trong chàng đang ngủ và trước nàng đứng đó, nàng mới nhận thức được, bàng hoàng vì thấu triệt là chàng chưa từng một phút thuộc về nàng. Lúc chàng ngồi chung một ghế với nàng trên chuyến xe đò từ miền Tây về Sài-gòn của lần gặp gỡ thứ nhất, buổi đi chơi với nhau ở vùng ngoại ô bên kia

bờ sông của lần hò hẹn đầu tiên, những buổi chiều ngồi đối diện nhau trước cánh cửa sổ tiệm ăn chân cầu có những chùm hoa đỏ chói, trên mặt đêm, trong tay nhau, không một lúc nào, ở đâu, cảnh trí và trường hợp nào, chàng hoàn toàn thuộc về nàng. Mọi ý tưởng trái ngược lại chỉ là nhầm lẫn. Không ai thuộc về ai bao giờ. Không một cuộc đời nào là vĩnh viễn của một cuộc đời nào. Không. Không. Bây giờ nàng mới thấy, và sự mới thấy này, tuy mới chỉ là một thoáng sợ, một linh cảm, chưa phá đổ tan tành một thế giới. Nước mắt nàng chảy ra, ướt đẫm hai gò má. Nàng khóc không tiếng, nức nở. Rồi cuối cùng chỉ còn là một mớ kỷ niệm tàn héo. Và chỉ còn kỷ niệm là không còn gì nữa. Nàng muốn nói, vừa nói vừa khóc: đáng ân hận cho anh, cho em biết chừng nào. Ân hận. Phải, nàng đã, nàng đang ân hận rồi đó. Nàng biết hết thảy mọi cố gắng tuyệt vọng chỉ là vô ích. Con mắt chàng đôi khi nàng bắt gặp bất thần nhìn về một hướng khác, những khoảng khắc im lặng bất thường khiến cho nàng lo âu và xao xuyến không đâu, mỗi lần nàng ra về trong đêm khuya hay trong buổi sáng, chàng không một lần nào đưa tiển nàng ra đầu ngõ, những lần gặp nhau ở tiệm ăn, khi nàng đứng lên, sự đứng lên của nàng đã là một chia tay, phút này nàng mới nhớ lại được hết thảy những chi tiết bé nhỏ đó, nàng quay đảo điên cũng trong cơn lốc choáng váng của tình yêu, nàng mù loà không nhìn thấy, đến phút này mới đồng loạt hiện hình. Điều làm nàng đau đớn nhất không phải là nàng sẽ không bao giờ trở lại nơi này nữa, mà là sau tan vỡ là vĩnh biệt, cũng sẽ không có một chuyện gì ghê gớm và khốc liệt xảy ra đâu. Nàng sẽ trở về đời sống trước đó của nàng, hay nàng sẽ thay đổi. Chàng cũng vậy, nhưng không ai chết. Những người tình nhân sẽ gặp nhau ít lâu sau, trên thành phố này hay ngoài thành phố này hay một thành phố khác, trên một chuyến xe đò hay trong một tiệm ăn, sẽ cùng bất ngờ một chút, nhưng sẽ lấy lại được bình tĩnh và nụ cười, hỏi thầm nhau một vài câu, chào, rồi đi sang hè phố bên kia. Và chuyện cũ chỉ còn là nhánh hoa mùa hè đỏ chói ấy buông rủ bất động trên một thành cửa sổ nào. Nàng vẫn nhớ chứ. Mỗi lần nhớ có thể vẫn là một lần nhỏ lệ. Chàng cũng vậy. Dấu vết vẫn còn như kỷ niệm không bao giờ vẹn toàn và vĩnh viễn thuộc về nhau.

Nàng nhìn chàng ngủ say một lần nữa, rồi tắt đèn. Căn nhà tối thẳm. Bóng nàng đi ra lẫn vào đêm tối.

năm giờ sáng

Thân thể chàng thoạt đầu chỉ cảm thấy mong manh và chập chờn như một bức tường khói mỏng, tiếng động ngu ngơ thứ nhất đầu ngày chạm tới và đi suốt qua, không ngăn giữ lại. Tiếng động đó phảng phất như tiếng thở dài tàn phai của một vì sao nào vừa rụng xuống ở một cuối trời nào. Rồi chàng tỉnh thức dần dần, và nghe thấy rõ hơn nhiều tiếng động khác kế tiếp nổi lên, bên ngoài cánh cửa sau, trên con đường men theo hông nhà đoán thấy còn nhờ nhờ bóng tối. Bà lão già người Nam vẫn sáng sáng quẩy nước cho chàng đã từ ngoài máy trở về. Tiếng chân người trong ban mai chìm chìm, cùng với tiếng nước sóng sánh trong đôi thùng va chạm lanh canh. Đôi thùng và bước chân ngừng lại bên ngoài, ngay chính giữa cánh cửa sau mở rộng. Trong im lặng bất chợt, tiếng bà lão già, giọng đầy ngạc nhiên, nói với người chồng đã thức từ bao giờ trong căn nhà nhỏ sát đó:

– Ủa! Cửa sau nhà thầy Hai mở kìa.

– Thật hả? Giọng người chồng, khàn khàn.

– Mở mà!

– Vậy chắc là cô ấy đến hồi đêm và không đóng lại.

Bà lão hỏi:

– Cô ta đến hồi đêm sao?

– Đến hồi đêm. Đến thường mà, bà không biết sao?

Chàng trở dậy, đi ra cùng một lúc với bà lão già quẫy đôi thùng bước vào. Chàng bật đèn. Chàng đứng trước tấm gương, và trong khi tiếng nước đổ ào ào vào chum ở sân sau, chàng nhìn thấy trên cái kệ thủy tinh gắn trước tấm gương, cái lược, ở đó còn vướng lại một sợi tóc dài, sợi tóc dài của nàng đã đến và bỏ lại. Đổ nước xong, bà lão quẩy thùng đi trở ra. Liếc nhìn vào buồng ngủ của chàng, bà lão đứng ngẩn người. Một lát rồi bà lão hỏi nhỏ:

– Chứ cô đâu thầy?

Chàng đáp, không quay đầu lại:

– Về rồi. Bà đóng cửa vào cho tôi.

Chàng tắt đèn trở vào giường. Trời sáng dần. Chàng rũ chăn đắp lên ngang ngực, nằm quay mặt vào tường. Và ngủ tiếp. Trong giấc ngủ lại này, những chùm hoa đỏ đã tàn và một mùa hè đã đi qua.

MAI THẢO

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Lê Tất Điều

Post by Sơn râu 7 May 2024

10. Cỏ Hoang

Như một con sâu nhỏ bé có thể tự bảo vệ bằng bề ngoài kinh khiếp của nó, như một cô gái, thiếu sắc đẹp, hấp dẫn kẻ khác phái bằng một thứ duyên thầm, bằng chính sự không may của mình, ngôi trường của tôi càng ngày càng trở nên dễ thương đối với những người đã từng chán ghét nó trong buổi gặp gỡ đầu tiên. Tất cả những điều đáng ghét, đáng sợ của ngôi trường này dần dần trở thành những sự khôi hài. Rồi sau này, khi những sự kỳ quái của ngôi trường đã hoàn toàn biến mất thì chúng tôi vẫn muốn nhắc nhở lại chuyện cũ như nói đến những kỷ niệm êm đềm, khó quên.

Hồi mới được xây lên, trường chỉ có hai lớp nhỏ bé, thấp và sơ sài như những căn nhà nghèo. Mái tôn thấp và nung nóng đến nỗi tôi có cảm tưởng thà vứt bỏ mái đi ngồi ngay dưới ánh nắng mặt trời còn thoải mái, dễ chịu hơn. Trong những ngày nắng to, nhìn lũ trẻ vừa vuốt mồ hôi vừa cặm cụi làm toán, thỉnh thoảng lại ngừng bút cầm vở quạt phành phạch, tôi nghĩ rằng nếu nhà trường không cho chúng được một số vốn kiến thức thì ít nhất cũng đã dạy chúng một bài học kiên nhẫn và chịu đựng. Ngày mưa thì còn tệ hơn, nước dội ào ào xuống mái tôn, tôi có gân cổ gào to đến mấy chúng cũng chẳng nghe thấy gì, tốt hơn hết là cho chúng ngồi xúm vào một chỗ không bị dột, để chờ mưa ngớt. Và như thế tôi lại còn có thì giờ để lo bảo vệ sổ sách khỏi bị ướt sũng.

Ngày đầu được gửi đến làm việc ở đây tôi đã đi hàng giờ để kiếm cái bảng tên trường mà mãi ba năm sau mới có. Rồi tôi mất nửa giờ nữa để đứng lặng nhìn ngôi trường, tồi tàn quá sức tưởng tượng, cứ phân vân chẳng hiểu kẻ chỉ đường có chủ tâm chơi xỏ hay đánh lừa mình không.

Một cái hàng rào để định ranh giới của ngôi trường cũng không có. Trường nằm chung trên một phần đất rộng với trạm y tế độc nhất của vùng ngoại ô, và một cái chợ nhỏ. Sân trường đầy cỏ hoang và những cây gai um tùm, đó là nơi tụ họp của các loài ngan, ngỗng, vịt, gà, chó, heo. Người lao công trông coi ở đây già yếu đến nỗi không ai nỡ nặng lời với ông ta. Ông ta chỉ cầm nổi cái chổi khi đã tỉnh rượu, và thường thường ông ta chỉ tỉnh rượu khi đã lên giường ngủ được một vài giờ, thời gian độc nhất có thể khiến ông ta tạm xa chai rượu.

Những ngày làm việc sau đó tôi phải đối phó với đủ thứ chuyện bất ngờ. Có nhiều lúc tôi ngẩn ra không biết phải phản ứng như thế nào cho hợp. Trong tất cả những sách vở viết về khoa sư phạm mà tôi đã được đọc, tôi chưa thấy một tác giả nào nêu ra trường hợp một ông thầy đang hăng hái giảng bài phải giật mình vì thấy một con heo đùng đùng chạy vào lớp mình. Con heo to lớn, dẫn theo một bầy con lít nhít, kêu eng éc, chẳng coi ai ra gì. Lớp tôi có hai cửa nên đã trở thành con đường giao thông ngắn nhất từ sân trường về chuồng của lũ heo, ở trong một căn nhà hàng xóm của nhà trường. Thấy tôi vô tình đứng cản đường đi của mẹ con nó, con heo đứng lại kêu to phản đối, mấy con heo con nhân dịp đó, bỏ hàng ngũ chạy đại vào những khoảng trống giữa hai dãy ghế học trò ngồi. Ấy thế là cái trật tự của lớp mà tôi đã mất bao công lao mới tạo được đột nhiên bị phá vỡ. Lũ trẻ nhao nhao nhảy ra khỏi chỗ để chống lại sự xâm lăng của bầy heo, dĩ nhiên, tôi cũng phải ngừng giảng bài để hợp tác với lũ học trò. Lớp học tràn đầy một không khí kỳ quái với tiếng trẻ la hét, dậm dọa, xen lẫn tiếng heo kêu. Mấy con chó cũng thi nhau chạy vùn vụt qua lớp luôn luôn. Về sau tôi không dám mở to cửa lớp ra nữa và lúc nào cũng phải để ý canh chừng để xua đuổi kịp thời những sự bất ngờ này.

Cái chợ ở ven trường thì lúc nào cũng ồn ào và có nhiều vụ cãi nhau hơn cả các chợ khác. Khi có vài bà bán tôm bán cá đùng đùng nổi giận mà chia làm hai phe đấu khẩu, chửi rủa nhau thì khó mà ngăn những câu nói của họ khỏi bay vào lớp học, dù tôi có đóng hết các cửa lại. Tôi bắt lũ học trò ngồi thật nghiêm trang, và cố gắng giảng cho chúng nghe những điều thật đặc biệt, nhưng vô ích, một vài câu chửi gợi lên những hình ảnh quá tục tĩu vẫn làm cho vài đứa bật ra khúc khích cười.

Phải mất hàng hai ba tháng trời tôi mới triệt được cái bệnh văng tục, bệnh ở bẩn của lũ học trò. Nhưng đó chỉ là những điều vụn vặt, khiến tôi bực mình, không gây nên sự chán nản.

Cái việc gây nhiều khó khăn, cản trở cho công việc của tôi, chính là đời sống của người dân ở đây. Ngoài một số rất hiếm người khá giả, thì người dân ở đây đều nghèo khổ. Họ không có một cơ sở hay việc làm vững chắc như người thành phố hay có một việc làm hiền lành như người miền quê. Họ như từ bốn phương tụ lại, đại diện cho khắp nơi và sống bằng đủ các thứ nghề, lương thiện có mà không lương thiện cũng có. Như những cây cối mọc chen chúc trong một khu vườn hoang họ vươn lên, tìm sống bằng các phương tiện hợp với khả năng họ, trong tầm tay họ. Và họ đã tạo nên được cái vẻ muôn mặt, hỗn độn, bí mật của một vùng ngoại ô cằn cỗi.

Vì thế, tôi không thể giảng một bài đức dục nào mà lại hoàn toàn không động chạm đến nghề nghiệp, tật xấu, hay quá khứ của một ông chủ gia đình. Khi tôi nêu ra một điều tệ hại cần tránh và thấy lũ học trò quay cả về phía một đứa đang cúi đầu ngượng nghịu thì tôi biết ngay rằng ba thằng bé này làm nghề gì. Có lần, sau một hồi hăng hái giảng về sự tai hại của tính mê tín dị đoan và sự láo khoét của mấy ông thầy pháp, tôi phải ngẩn người vì một thằng học trò bỗng đứng bật dậy, chỉ vào một đứa khác tố cáo:

– Thưa thầy, tía anh nầy cũng là thầy pháp, tối nào tía anh ấy cũng đi cúng.

Ðứa học trò có người cha bị tố cáo ngượng ngùng lấm lét nhìn tôi, miệng cười gượng, tay cấu mãi vào một góc vở, đôi mắt nó nhìn tôi để lộ những tia sợ hãi, tuyệt vọng, khổ sở. Thì ra ba nó chính là cái ông thầy pháp đã từng làm tôi mất ngủ, khó chịu. Ðêm đêm, khi cúng bái cho một nhà nào ông ta thường mặc bộ quần áo màu sặc sỡ, khua chiêng đánh mõ om sòm và thỉnh thoảng lại thổi một tiếng kèn ngắn ngủi, quái đản, nghe thật ghê sợ. Tôi vội vàng mắng át đứa kia và quả thực, sau đó, phải chật vật lắm tôi mới có thể làm cho lũ học trò, vừa biết rõ sự bịp bợm của mấy ông thầy pháp, lại vừa tin rằng ba của đứa học trò kia, dù thế nào cũng vẫn phải được kính yêu. Chúng chưa đủ trí khôn để tìm thấy sự mâu thuẫn trong cách giải thích của tôi. Nhưng thế nào mà chả có đứa phân vân. Thành ra tôi đã mở mắt cho chúng để chúng nhìn thấy những sai lầm trên các người sinh thành ra chúng. Lũ trẻ thường bị rơi vào giữa gọng kìm của một cuộc đời thực tế và một cuộc đời tốt đẹp trong sách vở. Chúng trở nên hiền lành, sợ hãi một cách thật đáng thương.

Nhưng càng mến yêu lũ học trò thì tôi càng tỏ ra nghiêm khắc với chúng. Tôi đã làm ngược lại những điều mà lớp người trước căn dặn tôi: phải tạo một không khí thân mật giữa thầy và trò, phải cho học trò thấy rõ là mình rất thương mến chúng. Nếu tôi cố gắng tạo cho lớp học một không khí quá vui tươi, cởi mở thì sẽ có nhiều đứa học trò của tôi nhìn thấy gia đình chúng là một nơi thật đáng ghét, đáng sợ, đôi khi mang dấu vết xấu xa, tối tăm của địa ngục. Có đứa coi những giờ đến trường là những giờ được nghỉ ngơi sung sướng nhất, bởi vì khi trở về nhà nó phải làm việc quần quật suốt ngày. Khi được giao công việc nhẹ nhàng nhất là việc bế em thì lập tức chúng lại tìm đến sân trường, chơi đùa với lũ học trò ở đây, sung sướng như đang sống trong một thiên đường nhỏ. Tôi cố giả vờ tạo một bộ mặt nghiêm khắc đến thế nào thì cũng không thể làm cho chúng sợ hãi bằng nét mặt cau có của một người cha say rượu khi ông ta cầm trong tay một thanh củi lớn và hung hăng đập lên người chúng như đập lên một kẻ tử thù. Phải thấy cha mẹ mình lầm lỗi và bị hàng xóm khinh ghét một đứa học trò cảm thấy đau đớn, tủi hổ gấp trăm, ngàn lần những khi nó bị phạt ở nhà trường. Có những đứa trẻ quen chịu đựng sự cực khổ đến nỗi lúc nào nó cũng giữ được vẻ thản nhiên, ấy thế mà khi bị ốm nằm nhà, thấy thầy và bạn đến thăm nó lại đâm sững sờ rồi bật khóc nức nở. Tình thương, sự săn sóc đến bất ngờ quá khiến nó ngẩn ngơ, kinh ngạc.

Ðối với những đứa trẻ không được đi học tới năm năm trời thì sự sung sướng của thế giới học trò thường làm chúng khổ sở khi phải rời khỏi học đường. Trường hợp của trò Dũng đã khiến tôi thấy rõ điều này. Ðã có nhiều đứa đang học thình lình phải bỏ ngang để đi học nghề. Nhưng chỉ có cái buồn rầu của trò Dũng trong lần cuối cùng nó rời khỏi lớp học là được ghi đậm trong ký ức tôi.

Cho đến bây giờ, ngôi trường đã được kiến thiết đẹp đẽ, sân trường không còn một sợi cỏ, thế mà mỗi lần nhìn thấy những luồng gió lốc tung cát, chạy quanh trong sân trường, tôi tưởng như vẫn thấy bóng trò Dũng ngập ngừng bước bên đám cỏ hoang, đôi bàn chân đen đủi của nó còn ghi vết trên con đường nhỏ.

Trong buổi học của ngày đầu niên học tôi đã chú ý ngay đến nó. Ngồi ở dãy bàn cuối lớp, Dũng cao hơn các bạn nó hẳn một đầu. Nét mặt nó lúc nào cũng tươi tỉnh, làn da đen xám khiến nó càng có vẻ láu lỉnh, khôn ngoan. Nó quay sang bên phải nhe răng cười rồi lại quay sang bên trái nháy mắt như có điều gì thú vị lắm. Ðầu tiên tôi tưởng nó thuộc loại những đứa trẻ lớn đầu và ngỗ nghịch. Nhưng khi tôi gọi đến nó thì nó lại tỏ ra là một đứa trẻ hết sức lễ phép và ngoan ngoãn. Tôi chưa thấy đứa trẻ nào tha thiết, sốt sắng với công việc của lớp học như trò Dũng. Tính sốt sắng ấy nhiều khi trở nên quá đáng. Tôi vừa hỏi có trò nào viết trên bảng được không thì lập tức Dũng nhỏm ngay dậy. Ngoài cánh tay giơ cao nhất lớp nó còn át các bạn của nó bằng cách nói lia lịa:
– Con viết được, con viết được, thầy cho con viết.

Và tôi vừa gật đầu là nó đã hấp tấp chạy lên bảng để rồi viết ra những hàng chữ ngả nghiêng, leo dốc xuống đèo làm cho cả lớp kêu ầm ĩ vì không đọc nổi. Trong những ngày sau đó Dũng trở thành nguồn vui của lớp học. Trước câu hỏi của tôi, dù khó khăn đến đâu nó cũng giơ tay xin trả lời, và trả lời mười lần sai hết chín. Dũng viết những chữ rất xấu, nhưng nó có tài giữ gìn sách vở. Nó thường chỉ nổi giận khi có một đứa bạn làm dây mực vào sách vở của nó. Thỉnh thoảng nó lại đem tặng lớp học một món quà nhỏ. Và lớp học dần dần có vẻ tươi mát với những cây leo trồng trong một cái bóng đèn điện chứa đầy nước, hay trong một con ốc nhiều màu. Thỉnh thoảng Dũng lại đem đến lớp một cái búa và mấy cái đinh để sửa lại những bàn ghế quá ọp ẹp, mà bọn học trò nhỏ của tôi thường vin vào đó để lấy cớ cãi nhau.

Dần dần bọn học trò tôi cũng khám phá ra cái tính sốt sắng của Dũng và bắt đầu lợi dụng nó. Chúng giao cho thằng Dũng đủ các việc lặt vặt, nhất là những việc có liên can đến mục vệ sinh của lớp. Dũng nhận làm hết. Ðứa nào có đồ chơi hay một vật dụng gì hư hỏng đều có thể nhờ đến bàn tay sửa sang của thằng Dũng. Có lần nó sửa được cả bộ máy của một chiếc xe hơi nhỏ chạy dây cót, khá rắc rối mà nó mới được mở xem lần đầu. Chủ nhân của chiếc xe khoái quá thưởng công Dũng bằng cách cho nó mượn về chơi hẳn một ngày.

Nhờ cái tài khéo tay này mà Dũng vẫn đứng đầu về môn thủ công. Trong kỳ chấm bài lũ trẻ thường hồi hộp chờ xem tác phẩm của nó. Ðể cho những món nó làm ra thêm phần giá trị, Dũng thường có một lối giấu giếm và pha trò rất khôn khéo. Một lần nó nặn được một quả chuối, tô màu giống hệt như quả chuối thật, nó gói kỹ trong một tờ giấy, và mặc cho mấy đứa trẻ khác chạy theo gạ gẫm, năn nỉ, nó không cho đứa nào xem cả. Gần tới giờ thủ công Dũng mới giở quả chuối ra giơ lên rồi, miệng há tròn, nó giả vờ như sắp đớp quả chuối làm cho những đứa khác cùng ồ lên, phục lăn.

Vì học hành thất thường nên Dũng chỉ đứng hạng trung bình trong lớp, nhưng nó khá thông minh và chăm nên không mấy khi tôi phải trách nó về tội lười. Vẻ tha thiết với việc học của nó hiện rõ nhất khi nó làm một bài làm chậm hơn các bạn, nó cuống quít lên và dù hay dù dở nó cũng cố gắng xin tôi cho điểm. Nếu chỉ vì chậm chân mà nó không được phê điểm thì nó tỏ ra khổ sở, bực bội lắm. Vào những ngày trả bài luận, Dũng có vẻ hồi hộp, lo lắng của một con bạc trước khi biết kết quả tiếng bạc của mình. Cầm cuốn vở luận trong tay, Dũng ngửa mặt lên, đôi mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm như khấn khứa, rồi thình lình nó mở bung quyển vở ra để xem điểm. Nếu thấy được điểm khá nụ cười liền cũng bật tung ra, tràn lan trên khuôn mặt đen xạm của nó, làm cho đôi mắt long lanh sáng. Nhấp nhổm trên chỗ ngồi, hai tay nó hích phải hích trái, nó có vẻ muốn cười phá lên, vỗ tay mà rồi không dám. Nó cười với đứa bên phải, khẽ “hì hì” vào tận tai đứa bên trái, và kéo cả cổ áo của đứa ngồi trước mặt để cho thằng kia rõ sự thành công của nó. Có lần tôi phải mắng nó về cái tội đã dám đóng khung, tô màu và vẽ hoa lá xung quanh con số mười điểm mà nó kiếm được nhờ một bài chính tả không có lỗi.

Ðiều đáng tiếc nhất là Dũng làm luận rất dở, bao giờ nó cũng ba hoa đến độ thành lạc đề và chẳng mấy khi được điểm cao. Trong suốt năm học nó chỉ có mỗi một bài thật khá mà lại không được điểm, đó là bài tả một đám cãi nhau. Nó viết kín ba trang giấy, nhắc lại rất trung thành lời nói của hai địch thủ tặng cho nhau. Tuy nó cũng biết loại bỏ những câu quá đáng, nhưng bài ấy vẫn bị tôi kiểm duyệt, giống như những bài văn tả chân thường gặp bước không may.

Quả thực, chưa bao giờ tôi thấy trò Dũng nói chuyện trong lúc tôi giảng bài. Mỗi lần tôi lên tiếng là nó khoanh tay, chăm chú ngước nhìn, chờ đợi. Những lần có một con heo hay con chó nhào vào phá đám giữa lúc tôi đang nói thì Dũng thường nổi giận, nó kêu với vẻ vừa thất vọng vừa tức tối:

– Trời đất ơi!…

Và nó tự động nhảy ra khỏi chỗ, vừa hò hét vừa đuổi theo con vật cho đến cuối sân trường.

Vì là đứa lớn tuổi nhất lớp nên nó cũng thường tỏ ra khôn ngoan, dễ biết ý tôi hơn các trẻ khác. Khi ở các nhà bên cạnh trường có những vụ cãi vả, những vụ đánh nhau, trong lúc những đứa khác đứng dậy, nhìn qua cửa sổ thì thằng Dũng cau có xin phép tôi cho đóng các cửa sổ lại. Nó đã biết những lời thô tục làm vẩn đục cả không khí của học đường. Nó mến thầy, mến bạn, mến lớp học và lúc nào cũng chỉ muốn bảo vệ, che chở cho cái lớp học của nó.

Nhưng học đều đặn được chừng ba tháng thì thằng Dũng bắt đầu đến lớp thất thường, bỏ bê việc học hành. Tôi đã quen với những vụ nghỉ học trường kỳ của lũ học trò. Vào những ngày cuối năm, khi một người Tàu già đội chiếc mũ cói rộng vành bắt đầu bón nhiều phân lên một vườn rau cải nhỏ của ông ta ở gần trường, thì lớp học của tôi bắt đầu thưa thớt. Chẳng phải lũ trẻ không chịu đựng nổi mùi phân bón bốc lên nồng nặc, làm chúng phải vừa bịt mũi vừa học, mà chính vì trong thời gian này, chúng phải đem cái sức nhỏ bé ra để giúp đỡ cha mẹ chúng. Có đứa vừa phải coi nhà vừa giữ em cho cha chúng đem hoa đi bán. Có đứa phải phụ với cha mẹ trong công việc gánh hàng ra chợ. Có đứa phải gạt hết sách vở để suốt ngày cưa sừng làm lược, hay cặm cụi đánh từng con suốt chỉ cho bà mẹ dệt vải. Buổi tối, trong lúc ngồi hóng gió trước nhà, tôi thường thấy hai đứa học trò ngoan nhất của tôi đi bán bánh trên con đường dài, không có ánh đèn, dẫn vào các xóm nhà nghèo. Chúng là con một người đàn bà gốc Trung Hoa sống bằng nghề bán hoa quả lặt vặt. Ðồ đạc của hai đứa trẻ này là một cái thúng có đựng những miếng bánh bò màu trắng, hoặc vàng úa đã cắt sẵn, để thành từng lớp có thứ tự. Mỗi đứa khiêng một đầu đòn gánh, lồng qua quang gánh mang cái thúng. Thằng em đi trước cầm chiếc đèn bão soi đường thỉnh thoảng lại cất tiếng rao. Thằng anh đi sau giữ tiền. Hai đứa giống nhau từ mái tóc, nét mặt đến bộ quần áo. Khi có người gọi lại, chúng vội vàng đặt gánh xuống. Thằng em nhấc ngay cái lồng bàn che bánh lên, thằng anh ngồi thụp xuống, dùng một cái xiên sắt lấy bánh ra, gói vào giấy, trao hàng và nhận tiền. Chúng đã chia nhau từng cử chỉ lặt vặt ấy. Ánh đèn bão mập mờ soi hai nét mặt trẻ lúc nào cũng bình thản, không còn dấu vết tinh quái, nghịch ngợm của những đứa trẻ bình thường.

Có khi lên giường nằm rồi tôi còn nghe tiếng rao của chúng vang lên đột ngột, cô đơn như một tiếng động vừa rơi lơ lửng vào giữa bầu trời mênh mông của miền ngoại ô. Ánh đèn của chúng hắt qua khe cửa nhà tôi tạo thành những vệt sáng dài, vừa run rẩy vừa di chuyển chậm chạp trên tường. Nếu trong buổi học ngày hôm sau đó chúng có không thuộc bài tôi cũng gắng cho chúng điểm trung bình. Nhưng bọn trẻ này nghỉ học bận việc có định kỳ, một năm chúng chỉ nghỉ một lần thật lâu rồi lại đi học đều đặn. Trái lại, trò Dũng nghỉ vài ngày rồi lại đi, rồi lại nghỉ vài ngày. Mỗi lần đến trường nó vẫn tỏ ra sung sướng, vui vẻ say mê với việc học. Cuối buổi học, trong giờ hoạt động thanh niên nó vẫn hăng hái cộng tác với các bạn để làm vui cho cả lớp. Hoặc nó ca vài câu, kể một câu chuyện, hoặc nó xắn quần ống cao ống thấp, bôi phấn vào mặt, vẽ râu để làm anh hề trong một kịch vui, làm cho cả lớp cười bò. Từ sau bảng bước ra, nó mới nheo mắt, nhe răng, đi khệnh khạng, chưa kịp nói câu gì, là lũ bạn nhỏ của nó đã không nín cười được. Thành ra, những hôm vắng thằng Dũng tự nhiên lũ trẻ mất vui, cảm thấy nhớ. Có đứa tức quá đứng lên tố cáo:

– Thưa thầy, anh Dũng bỏ học đi chơi đấy ạ.

Vài đứa khác lại nhao lên bênh vực:

– Thưa thầy anh ấy ở nhà bế em cho má anh ấy đi chợ.

– Anh ấy phải trông nhà.

Dũng cũng nêu những lý do đó để xin nghỉ học. Tôi đành phải tin nó vì cha mẹ nó chẳng bao giờ chịu đến trường xin phép nghỉ cho con. Một lần gặp thằng Dũng đang loay hoay phụ giúp với một người đàn ông sửa một chiếc xe trong một căn nhà nhỏ, mái tranh, lập chênh vênh ven bờ ruộng, trên con đường vào thành phố, tôi mới biết người đàn ông đó chính là cha Dũng. Ông ta làm nghề sửa xe đạp, xe gắn máy chứ không phải “buôn bán” như ông ta đã ghi trong lý lịch của con. Hai cha con đều mặc những bộ quần áo ka-ki đen đặc dầu mỡ, chắc trước kia màu vàng. Thấy tôi, thằng Dũng vội vàng vứt cả kìm, búa đứng dậy khoanh tay chào, nét mặt hân hoan. Cha Dũng cũng gật đầu chào tôi, mấy sợi tóc uốn quăn xõa xuống cái trán cao có một vết sẹo ngang của ông ta làm cho khuôn mặt ông ta vừa có vẻ dày dạn lại vừa có vẻ phong lưu của một công tử giàu tiền. Ông ta trẻ hơn tôi tưởng. Ông nói với tôi:

– Nhà tôi độ này bận quá, thành ra phải xin thầy cho cháu Dũng nghỉ ít bữa.

Tôi chỉ gặp ông ta một lần ấy thôi. Từ đấy về sau mỗi lần đi qua đây tôi chỉ thấy một mình thằng Dũng đang loay hoay làm việc. Thằng bé khéo léo này đã có thể thay thế cha nó trong công việc sửa xe, vá những lỗ thủng trên ruột xe. Hỏi thăm về cha nó thì nó cho tôi biết là ông ta đi vắng. Càng ngày nó càng đến trường ít hơn, và mỗi lần đến là một lần nó cuống quít đi mượn vở chép bài. Sách vở của nó bắt đầu mất cả sự sạch sẽ, quần áo của nó cũng không còn gọn gàng như trước. Nhưng nó vẫn vui vẻ, sốt sắng, vẫn ca hát và làm hề cho cả lớp cười, vẫn nhảy nhót khi được điểm cao. Ngoài giờ học, nó lại mặc bộ quần áo đầy dầu mỡ, làm bạn với kìm, búa, với những chiếc xe hỏng.

Buổi trưa, thỉnh thoảng có dịp đi qua căn lều nhỏ của gia đình Dũng, tôi thường thấy nó ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, dựa lưng vào một chân cột, dáng điệu nửa thức nửa ngủ. Ðồ đạc, dụng cụ sửa xe xếp ngổn ngang quanh nó. Nó không nhìn thấy tôi vì ngồi quay lưng về phía con đường nhựa mềm ánh nắng buổi trưa, có lẽ nó đang thả tầm mắt mơ hồ qua cánh đồng không, tới những ống khói cao ngất trong thành phố. Những luồng gió nóng như hơi nước trong một nồi nước sôi thổi phần phật vào mái lá, hoặc xoay tròn, bốc cát bụi mù trên con đường đất đỏ chạy ngang cánh đồng. Tôi tưởng như thằng bé ngồi bất động, cô đơn kia không thể nào là thằng Dũng, một đứa trẻ láu táu, vui tính nhất lớp tôi. Bầu không khí, phong cảnh cằn cỗi ở vùng ngoại ô này có thể nung khô tất cả những tâm hồn dịu dàng, vui tươi, và đốt cháy những nguồn hy vọng nhỏ bé. Quả thực tôi không như những người dạy học khác, mong mỏi nhìn thấy sự thành công trong tương lai của đám học trò mình, tôi chỉ muốn lũ trẻ được ngồi học yên ổn và đều đặn trong lớp tôi cho đến cuối năm.

Tôi không đoán nổi trong lúc ngồi cô đơn như thế bé Dũng đã nghĩ gì, mơ đến những điều gì. Nhưng một trong những sự mơ ước của nó, đột nhiên hiện ra trước mắt tôi vào một buổi học, khi nó bị tôi phạt về tội nói chuyện trong lớp. Và ngay sau đó tôi nhìn thấy tất cả nỗi tuyệt vọng của nó. Sự vùng vẫy, phấn đấu, để thoát ra khỏi ngõ bí của nó đầy tính cách mong manh, khờ dại khiến ta xúc động, xao xuyến như khi ta nhìn thấy một con chim non lạc tổ sắp chết vì một trận mưa.

Dũng để một vật gì dưới ngăn bàn, hai đứa bên cạnh nó cùng chụm đầu lại để nhìn. Vừa nói, Dũng vừa cười có vẻ thích thú và hai đứa bên cạnh nó cũng cười theo. Bị gọi tên thình lình, Dũng giật mình đứng dậy, luống cuống khoanh tay. Nó chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi thì một trong hai đứa bên cạnh nó đã nói:

– Thưa thầy, anh Dũng khoe cái xổ số anh ấy mới mua.

Rồi nó cố nín cười để giữ giọng tự nhiên:

– Anh ấy nói nếu trúng độc đắc anh ấy sẽ mua cái xe hơi chở cả thầy và hết cả lớp đi chơi và đi coi hát bóng.

Cả lớp cười, vài đứa xì xào:

– Xe hơi nào mà chở được cả lớp…

Dũng có vẻ ngượng, nó mỉm cười và cúi đầu. Nhìn vẻ tiều tụy của nó tôi không nỡ mắng, bao giờ cũng thế, khi biết sắp bị mắng nó thường buồn rầu và lo sợ. Tôi bảo:

– Thôi cất xổ số đi… bao giờ trúng hãy đem khoe.

Dũng tươi tỉnh hẳn lại, đôi mắt nó long lanh tin tưởng, nó đã trở lại vẻ nhanh nhẩu bình thường:

– Thưa thầy, mấy người nghèo hết tiền mua giấy số hay trúng lắm thầy.

– Vậy hả. Ờ, thầy cũng hy vọng sẽ được đi xe hơi của trò Dũng. Bao giờ mở số đấy?

– Chiều nay ạ.

Nó ngồi xuống, trịnh trọng nhét tấm xổ số vào cặp. Tôi vội giảng bài tiếp để chặn đứng cuộc bàn về xổ số đang lan tràn trong lớp. Hình như có tấm vé xổ số trong cặp, Dũng vững tin ở cuộc đời hơn. Suốt giờ học tôi không nhận thấy vẻ buồn rầu thoáng qua mặt nó như mấy buổi học trước. Nó chịu đặt cả hai tay lên bàn nhưng không ngồi yên, thỉnh thoảng lại quay nhìn phải, nhìn trái, môi lúc nào cũng hé như sẵn sàng cười thật to. Cuối giờ, trước khi về học nó còn đi quanh lớp để ngắt lá úa trên những dây vạn niên thanh và siết lại những đầu dây thép gắn vài con ốc vào đầu đinh trên tường. Niềm vui, sự hân hoan của trẻ con thường tràn ra thành các cử chỉ như thế.

Buổi chiều, khi nghe máy thu thanh, tôi nhớ đến tấm xổ số của trò Dũng và ý nghĩ của tôi, tôi mỉm cười như những lần tôi nhớ đến một kỷ niệm ngộ nghĩnh về đám học trò. Sáng hôm sau, bầu không khí có vẻ oi bức khiến tôi cảm thấy khó chịu. Những đám mây đen mờ che khuất mặt trời báo hiệu một ngày không có nắng. Vùng ngoại ô quá rộng để ta có thể cảm thấy tất cả sự khó chịu của một bầu trời nặng nề. Sức nóng không tỏa từ ánh nắng một cách tự nhiên mà như xuất hiện bất cứ chỗ nào. Sự bình thản, vui vẻ trong tâm hồn tôi hình như bị sự oi bức làm rạn nứt và đã trở thành một cái gì mong manh dễ vỡ.

Buổi học lại bắt đầu bằng vài chuyện lộn xộn. Hai đứa nhỏ ở cạnh nhau, đến lớp còn cãi vả om sòm vì một chuyện đã xảy ra giữa hai gia đình trong ngày hôm trước. Ðứa này bảo bố đứa kia là đồ ăn cắp gỗ và đứa kia tố cáo việc anh đứa này bị người ta đánh vì dám cướp tiền một đám bạc. Một thằng học trò khác thì đem lên bàn tôi một quyển vở chỉ còn độ bốn năm tờ giấy trắng, nó kêu rằng nó không hề xé vở mà chính ba nó đã lấy giấy gói hàng. Tôi không thể nén sự bực mình, tôi đã gửi một bức thư cho ông ta về việc này và ông ta chưa trả lời. Tôi thở dài nhìn đứa trẻ, nó chớp mắt sợ hãi, cả nó và tôi đều lọt vào cái thế đáng chán. Tôi vừa lấy giấy ra định biên thêm cho ba đứa trẻ mấy dòng thì cuối lớp, một đứa đứng dậy báo cáo:

– Thưa thầy, hôm nay anh Dũng lại nghỉ.

– Lại nghỉ. Nó học hành thế thì còn ra làm sao…

Ðứa bé cọ bàn tay phải vào cạnh bàn rồi nói rất nhanh, có vẻ kiêu hãnh vì những điều nó biết:

– Con thấy mấy người lối xóm nói: ba trò Dũng bị tù rồi. Hồi trước ổng mua vỏ ruột xe hơi của mấy người ăn cắp, bị tù mười lăm ngày mới được tha ra. Giờ không biết sao lại bị bắt nữa…

Một đứa khác đứng phắt dậy, vừa xếch lại quần vừa nói như sợ đứa khác nói tranh mất:

– Ba trò Dũng ăn cắp xe gắn máy, thầy. Cả những người khác cũng bị bắt hết, mấy bữa nay rồi thầy.

Sự bất ngờ làm tôi bất động, chỉ biết chăm nhìn vào mắt những đứa trẻ vừa đứng lên nói, những lời nói vừa mở tung bức màn che giấu một thảm kịch. Lớp học hình như không bị xao động một chút nào. Vài đứa định đứng lên nói thêm nhưng tôi ra hiệu bắt chúng ngồi xuống. Chúng yên lặng, khoanh tay, mở mắt chăm chú nhìn tôi, hình như chờ đợi tôi nói một điều gì về việc ba trò Dũng. Tôi nói gì được? Cái sự làm tôi khó chịu, bực bội nhất là nét thản nhiên trên mặt lũ học trò. Chúng đã quen với những sự này đến thế cơ ư?

Ðưa tờ giấy viết thư lên ngang tầm mắt, tôi nhìn chăm chú vào đó để tránh những đôi mắt ngây thơ, khờ dại và bình thản. Tờ giấy chưa có một chữ nào, đang mở dần thành một khoảng trời trắng, rỗng và xa vời. Tôi lấy lại sự thản nhiên bằng một ý nghĩ tàn nhẫn. Giữa buổi học thì trò Dũng đến. Nó lững thững đi qua cổng trường, hai vai co lên một chút như bị lạnh. Nó không đá chân vào đám cỏ hoang cho những con châu chấu bay vụt lên như mọi lần, trong bộ quần áo đẹp nhất của nó, Dũng có vẻ trịnh trọng. Nó bước vào lớp và nói với tôi:

– Thưa thầy, con xin thôi học.

Dũng đưa ra một cái đơn, chữ viết nghiêng ngả.

– Con phải về tỉnh ở với bà nội.

– Ở đó có trường công không mà về?

– Dạ, thưa thầy, khỏi cần. Con không đi học nữa. Bà nội con ở làng, trồng khoai với bắp.

Tôi cúi xuống đọc lại tờ đơn, phân vân. Dũng nhìn tôi thật lâu rồi chợt quay xuống với các bạn nó, nó đi qua các dãy bàn để thanh toán mọi việc. Trả đứa này món nợ một đồng, cho đứa kia mấy viên bi, trao lại đứa khác chiếc xe hơi hỏng nhờ nó chữa. Công việc đó diễn ra không gây một tiếng ồn nhỏ nào. Lũ trẻ đã giữ được một sự yên lặng lạ lùng. Dũng trở lại bàn cúi đầu thật thấp chào tôi rồi đi ra, lên phòng hiệu trưởng. Suýt nữa thì tôi mở miệng khuyên nó nên cố gắng chăm học. Mười phút sau nó trở lại đứng ở cửa lớp học, hai tay nắm vào một bên khung cửa, tần ngần nhìn lũ bạn đang ngồi học, những ngón tay nhỏ của nó cong lại, vuốt nhẹ lên mặt gỗ.

Tôi hỏi:

– Lấy hồ sơ rồi chưa?

– Thưa thầy, lấy rồi, con chờ thầy trả bài thi.

– Bài thi?… à, bài thi toán ấy hả.

Tôi ra hiệu cho nó vào lớp và giở tập bài thi ra. Dũng hớn hở đứng cạnh tôi, chăm chú chờ đợi.

– Thưa thầy, hôm đó con làm đúng hết…

Và chợt nó reo khẽ:

– Ðây rồi… trời! mười tám điểm!

Bài thi nó làm hoàn toàn, chỉ hơi bẩn một chút.

Dũng nắm tờ giấy trong hai tay, nhìn chăm chú vào con số mười tám màu đỏ. Miệng nó, đôi má nó, đôi mắt nó đều chan hòa một nụ cười. Nó giương đôi mắt long lanh nhìn tôi rồi lại nhìn vào bài thi của mình. Rồi chợt nó nghiêng tờ giấy và nháy mắt với mấy đứa bạn ngồi ở bàn cuối cùng, kiêu hãnh mỉm cười với chúng. Nó cứ đứng lặng như thế để tỏ lộ tất cả sự hân hoan của mình. Tôi buột miệng nói:

– Bài này trò làm khá lắm.

Có lẽ chính câu khen của tôi đã làm cho trò Dũng phập phồng muốn khóc khi nó chậm chạp để bài thi xuống bàn. Tôi không đủ can đảm để nói một lời thân mến với nó. Khi chào tôi lần cuối, Dũng cúi đầu thật thấp như muốn giấu tất cả sự thê thảm trên mặt nó vào đôi tay khoanh lại. Nó trở ra rất nhanh, đá bung mấy viên gạch trên sân trường, nhìn mấy cây nhỏ, mới được trồng ở đầu sân để cho lũ trẻ có bóng mát sau này. Rồi nó cúi đầu, ra khỏi cổng trường.

Dũng là đứa học trò độc nhất mà tôi mong cho nó chóng quên thầy, quên bạn…

LÊ TẤT ĐIỀU