Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 7 May 2024

Chương cuối

Phần 21

Chuyện hứa hẹn với ông bố của Tửu tôi tưởng sẽ thực hiện được lâu dài, nhưng không ngờ cuộc đời lại đưa tôi tới một ngã rẽ mới.

Số là hồi trước 1975, tôi có một người bạn đồng nghiệp, tuy dạy cùng một môn học nhưng lại không cùng trường với nhau. Ấy vậy mà chúng tôi lại quen biết nhau là do anh bạn này kết hôn với một học sinh cũ của tôi. Cặp vợ chồng này là người miền Nam, tính tình rất đôn hậu. Cô vợ lúc nào cũng nhắc nhở đến những kỷ niệm về Thầy cũ, trường xưa vào cái thời mà cô còn là một nữ sinh nhởn nhơ cắp sách đến trường trong những năm dài ở bậc trung học. Trước chỉ là quen biết lâu lâu đi lại, sau trở nên thân thiết hơn, tôi và người chồng còn soạn chung với nhau những tài liệu giáo khoa mà cả hai cùng giảng dạy.

Vậy mà sau năm 1975, chỉ có một mình tôi xin trở lại trường. Vợ chồng người bạn nhờ may mắn , lại cũng quen biết cả những người đi tập kết trở về nên họ thành lập ngay được một xưởng in dưới danh nghĩa một công ty Hợp Doanh. Ở thời buổi ấy, mọi lãnh vực thuộc các ngành nghề sản xuất khác đều có nhiều người đứng ra tham dự dưới danh nghĩa Hợp Tác xã, Tổ Hợp, Công ty Hợp doanh….nhưng riêng ngành in thì ai cũng ngao ngán. Bởi người ta sợ in ấn thì có thể bị dính líu đến chuyện chính trị. Chỉ một vài sơ xuất kỹ thuật thôi cũng có thể bị gán ép là có ý đồ phản động, đi tù như chơi.

Nhưng vợ chồng anh bạn tôi lại không ngán ngẩm vì những sự lo xa đến như thế. Lại thêm nhu cầu in sách cho cả miền Nam trong năm đầu tiên khai giảng niên học mới là một nhu cầu rất khẩn trương và cấp thiết. Những ai dám đứng ra đảm trách đều nhận được sự dễ dãi và hỗ trợ tối đa của ngành Giáo Dục. Đó là lý do mà công việc làm ăn của vợ chồng anh bạn mau chóng phát triển, cung ứng được rất nhiều công ăn việc làm cho những công nhân ngành in vốn đang thất nghiệp và nhất là đem lại chỗ trú an thân cho nhiều gia đình không bị đuổi đi kinh tế mới.

Sau vài năm kinh doanh một cách hợp pháp, đời sống của vợ chồng anh bạn đã thay đổi nhiều hơn xưa. Họ không còn lo phải đắp đỗi bữa ăn qua ngày, mà trái lại còn có của ăn của để. Thỉnh thoảng, cô học trò cũ của tôi còn mang tới tận nhà cho các cháu ký thịt, hay cho tôi ký đường, cân cà phê….

Rồi bỗng một hôm, khi biết tôi có quen biết một đường dây đáng tin cậy có thể sắp xếp cho tôi ra đi nếu tôi có vài cây vàng đóng trước, phần thiếu sẽ trả sau, thì người vợ đề nghị rằng nếu tôi muốn ra đi thì họ có thể cho tôi vay cái khoản ứng trước này.

Quả là một chuyện bất ngờ. Bởi ‘đường dây” mà tôi quen biết cũng chỉ là một người bạn cũ, thời thế đã tạo anh trở nên con người lang bạt kỳ hồ, giao dịch với đủ mọi loại người có chung một ước nguyện là vượt thoát để ra đi. Anh bạn này thật ra cũng không giầu có gì. Anh cũng cần có sự đóng góp của tôi dù chỉ là phần nhỏ, còn thỉ cho thiếu, để trang trải mọi thứ chi phí cho một chuyến đi.

Thế là như một sự trùng hợp ngẫu nhiên, một lúc tôi có cả hai ân nhân mở đường cho tôi vượt thoát khỏi cái đời sống tù túng, chật chội, cứ thường xuyên o ép đầu óc và tư tưởng của mình. Trong thời gian tôi vẫn thản nhiên đến trường thì nhà tôi đã âm thầm sắp xếp mọi thứ với hai phía ân nhân ấy để cho tôi được ra đi.

Tôi cũng giấu kín không cho bạn bè đồng nghiệp nào trong trường hay biết kể cả thằng Tửu, mặc dù tôi cũng đã viết cho nó một lá thư ngắn. Lá thư này tôi đã bỏ vào thùng thư vào buổi sáng hôm tôi ra xa lộ đón xe đò đi Vũng Tầu với ý định sẽ xa Sài Gòn mãi mãi. Nội dung lá thư chỉ vắn tắt như sau :

“Tửu thân mến,

Thầy đã quyết định rời xa Sài Gòn và rất tiếc là không cho Tửu biết trước để thầy trò cùng nhau ăn một bữa tiễn biệt tại quán bà Hoa ở ngã tư Bẩy Hiền. Cám ơn Tửu về sự ân cần, quý trọng mà Tửu đã dành cho thầy. Quả là thầy trò mình đã có đủ mọi thứ kỷ niệm vui buồn trong suốt mấy năm vừa qua. Thầy sẽ không bao giờ quên Tửu và mong trò cũng vẫn còn ghi nhớ những điều thầy dặn dò hay chỉ bảo. Cho thầy gửi lời xin lỗi tới Ba của Tửu. Chúc tất cả mọi người đều bình an may mắn và hẹn ngày gặp lại dù là rất vô vọng hay xa vời.

Thầy Tiến.”

Sau một cuộc hành trình khá gian nan vào cuối năm 1979, rút cục tôi cũng đã tới được bến bờ tự do.

Tính từ buổi sáng hôm đó, cái hôm mà tôi che giấu mình trong bộ đồ rách rưới và cái mũ nỉ úp chụp trên đầu, len lén đi ra khỏi ngõ từ lúc còn tinh mơ để đi ra xa lộ Biên Hòa đón chuyến xe chạy bằng than củi đi Vũng Tầu, cho đến nay đã là 33 năm!

Trong suốt thời gian dài dằng dặc kể trên, dài hơn cả thời kỳ tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội (18 năm) hay trưởng thành ở Sài Gòn (21 năm), thỉnh thoảng tôi vẫn còn nhớ lại những ngôi trường cũ và những bạn đồng nghiệp hay những học trò xa xưa. Tôi không rõ những cô Thu, cô Hường, thầy Hải, thầy Vinh…hay những trò Sơn, trò Tửu bây giờ ra sao, cuộc đời trôi nổi đã hướng họ đi tới những ngã rẽ nào.

Tất nhiên mọi con người, mọi hoàn cảnh sau ngần ấy năm đều cũng đã thay đổi. Có khi vài người trong số đó đã nằm xuống, hay vẫn còn vất vưởng với cuộc sống khốn khó, chật vật, nhưng hẳn cũng có một số người nay trở thành những đại gia, những kẻ có chức có quyền, chiếm lĩnh một giai tầng ăn trên ngồi chốc trong một xã hội mà xét ra nó còn tồi tệ gấp bội phần cái xã hội vốn đã bị lật đổ vào thời điểm tháng 4-1975.

Bởi vì trước năm 75, dù đất nước có lâm vào hoàn cảnh chiến tranh ngặt nghèo, dân quê có tan tác bỏ nhà lên tỉnh để tránh cảnh bom đạn cầy nát xóm làng, thì cũng chẳng bao giờ những cô gái quê hiền lành chất phác lại phải chịu cảnh lõa lồ xếp hàng cho đám đàn ông nước ngoài xăm xoi, lựa chọn. Sự ô nhục này chỉ xuất hiện sau khi miền Bắc chiếm trọn miền Nam để thống nhất đất nước và quyền cai trị vẫn chỉ nằm trong tay độc quyền của Đảng CSVN.

Ba mươi ba năm đằng đẵng. Sau ngần ấy năm, nhà nước CSVN đã để lại những gì?

Dĩ nhiên là trên cả nước đã mọc lên đầy dẫy những tòa building cao ngất ngưởng, những trung tâm bách hóa mua bán đồ tiêu dùng hiện đại không thua kém gì các nước phương Tây, hay ngay cả những xa lộ thẳng băng đang dần phủ kín các khu vực thiết yếu trên khắp mọi miền đất nước.

Nhưng những thành quả vật chất đó đâu phải là những thành tích đáng đem ra để tự hào. Bởi chỉ cần một tập đoàn tư bản ngoại quốc xuất ra một cái vốn đầu tư vài tỷ bạc thì building cao cỡ nào, xa lộ dài cỡ nào, shopping center to cỡ nào, tất cả rồi cũng sẽ có hết.

Cái mà tiền bạc không thể nào mua được phải là những giá trị tinh thần mà nhà nước phải tạo dựng nên sau ngần ấy năm cầm quyền. Nhưng khi nói về những giá trị ấy, thì ôi thôi, chỉ cần nghe những người trong cuộc phát biểu cũng đủ thấy thực chất nó ra làm sao.

Đầu năm 2012, đài Á Châu Tự Do qua ký giả Thanh Quang đã có nhắc đến những lời nhận xét của Nhà văn Nguyên Ngọc qua bài “Cần một cuộc tự vấn” như sau:

“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít?”

Thật là hãi hùng! Trong một xã hội mà  “Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa” thì đâu có còn cái ý nghĩa cao đẹp nào để cho con người nương tựa vào đó mà vươn lên.

GS Hà Văn Thịnh ở Huế cũng đã cảnh báo rằng tình trạng giả dối ở VN giờ lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội VN. Ông nói:

“Trong bản chất xã hội VN có sự giả dối, vô cảm, ích kỷ, sự tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hóa VN hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được. Một xã hội như vậy làm sao không loạn được.”

Vì đâu mà gây nên nỗi thảm thê như vậy?

Theo tôi nghĩ, đích danh thủ phạm phải là chính sách Giáo Dục ở Việt Nam!

Là một nhà giáo đã từng giảng dạy dưới mái nhà trường XHCN, tôi biết chắc rằng ở đó đã khởi sự dạy dỗ con người biết nói dối và buộc con người phải nói dối. Mà thê thảm thay, tình trạng dối trá ấy vẫn còn kéo dài cho tới tận bây giờ. Tôi xin đơn cử một tài liệu trong ngành giáo dục ở VN vào niên học bây giờ tức năm học 2011-2012. Tôi nhận thấy nhà giáo ở VN bây giờ vẫn cứ còn phải loay hoay, chìm đắm trong những bản văn tự soạn để giao nộp hàng năm cho cấp trên ngõ hầu được an thân dạy dỗ. Những thứ văn bản như thế, cả người soạn lẫn người coi, ai nấy đều biết là giả dối nhưng nó vẫn ngang nhiên tồn tại. Xin được bỏ tên trường, tên giáo viên và tên Phòng , sở Giáo dục thuộc đơn vị nào:

Sau đây là “chỉ tiêu phấn đấu” của giáo viên ….., sinh năm 1978 tại …, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm năm 2000, hiện giảng dạy môn Toán tại trường ….., tỉnh…….

Nhà giáo kể trên đã trình bầy trong “Kế hoạch Cá nhân năm học 2011-2012” của chính mình như sau :

(Trích)

Chỉ tiêu phấn đấu:

” Thực hiện có hiệu quả chủ đề của năm học : “Đổi mới quản lý nâng cao chất lượng giáo dục” và tiếp tục triển khai phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực“. Đồng thời thực hiện tốt cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Nâng cao phẩm chất chính trị đạo đức lối sống bản thân, Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua của ngành. Tham gia đầy đủ các hoạt động do nhà trường và ngành phát động. Không vi phạm đường lối chính sách pháp luật của đảng CSVN và nhà nước. Vận động gia đình và người thân đồng nghiệp thực hiện tốt đường lối chính sách pháp luật của nhà nước. Thực hiện nghiêm túc nề nếp quy chế của ngành và nhà trường.”

Biện pháp thực hiện:

1)Tìm hiểu tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đặc biệt là tư tưởng Hồ chí Minh về công tác giáo dục.

2)Từng bước làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ như cần, kiệm, liêm, chính, chí công, công, vô tư. Khắc phục mọi khó khăn về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh khách quan, chủ quan để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3) Tìm hiểu về cuộc đời và thân thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Tham gia các buổi sinh hoạt, tọa đàm và sưu tầm về tấm gương đạo đức của Bác đồng thời làm theo lời Bác.

4) Tích cực tham gia phong trào tự học, tự nâng cao kiến thức, viết sáng kiến kinh nghiệm và có ý thức tiết kiệm trong gia đình cũng như ở nhà trường.

4) Thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nhà giáo. Cụ thể thực hiện tốt theo các tiêu chí trong Chuẩn giáo viên.

5) Tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng chính trị. Luôn trau dồi đường lối chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối trung thành với Đảng.

6) Tiếp tục coi phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là giải pháp đột phá và lâu dài để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh.

7) Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với các đoàn thể, xã hội, giữa giáo viên với học sinh và phụ huynh học sinh.

(ngưng trích)

° ° °

Vốn cũng là một giáo viên, cũng đã từng giảng dạy vài năm dưới mái nhà trường Xã Hội Chủ nghĩa, tôi đã quá quen thuộc với cái lối viết tự cung khai và đánh bóng bản thân để bầy tỏ lòng trung thành của cá nhân người viết đối với cấp trên như thế nào rồi. Nó sặc mùi giả tạo, kể cả sự dối trá mà người viết cũng như người đọc đều nhận rõ của nhau. Nhưng cái “truyền thống giả dối’ ấy vì vẫn còn được duy trì nên người ta vẫn phải nhai lại như thế hàng năm.

Khi nói như vậy, tôi không có ý định vơ đũa cả nắm và tôi không muốn nghi ngờ thiện chí của nhà giáo trẻ nói trên. Trái lại, tôi còn thầm cầu mong cho những điều mà ông viết ra là hoàn toàn trung thực với ý nghĩ của ông, để ít ra tôi không thấy lương tâm của nhà giáo bị thương tổn khi phải đọc lên những lời mà tôi cho là đầy ắp sự dối trá.

Sở dĩ tôi cứ phải biện minh lòng vòng như vậy là vì tôi cũng đã từng sinh hoạt trong một môi trường giáo dục hoàn toàn khác biệt với môi trường mà nhà giáo trẻ đang tham dự. Nói một cách ngắn gọn là tôi không bao giờ thấy bất cứ một đồng nghiệp nào của tôi khi giảng dạy trong nhà trường trước 1975 mà lại phải viết “kế hoạch cá nhân” từng năm học để đệ nạp lên cấp trên như các nhà giáo VN phải thực hiện. Tôi luôn luôn nghĩ rằng, nhà giáo là một ông Thầy trong ngành giáo dục. Ông ta chỉ có trách nhiệm đối với những học trò của mình chứ không thể tự biến mình thành một thứ học trò của bất cứ cấp trên nào để mà cứ phải “nộp bài” hàng năm mong được an thân hay để lấy điểm thi đua cho dù đó cũng chỉ là những thứ bánh vẽ.

Nói chung là nhà giáo VN bây giờ vẫn còn bị kìm kẹp bởi đủ thứ hình thức, từ “Mục tiêu phấn đấu” (bao gồm Tư tưởng đạo đức, lối sống, Chất lượng giảng dạy, Danh hiệu thi đua) cho đến “Nội dung hoạt động và biện pháp thực hiện” ( bao gồm Tư tưởng đạo đức, lối sống, Nhận thức tư tưởng, chính trị, Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Đảng, của Nhà nước, Thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong giảng dạy và công tác; tinh thần phê bình và tự phê bình)..,.vân..vân..và.. vân vân …

Tôi thực tình tự hỏi trong toàn thể những ‘công đoạn” bó buộc nhà giáo hằng năm như thế, cái tỷ lệ “giả dối” được nhà giáo cho vào khi họ ngồi viết, nó lên tới con số là bao nhiêu?

Tôi tiết tưởng, lời nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc như đã trích dẫn ở trên cũng đã đủ cho một câu trả lời.

Trong cương vị một nhà giáo, tôi cũng lại hoàn toàn đồng ý với nhà văn Nguyên Ngọc khi ông nói đến nhiệm vụ tối hậu của chính sách giáo dục khi đào tạo một con người. Đó không phải là việc đào tạo nên những con người chỉ biết nói dối. Đó cũng không phải là việc đào tạo nên những con người ngoan ngoãn, chỉ biết cúi đầu tuân phục trước giai cấp cầm quyền để mong an thân hay được chút ơn mưa móc.

Phẩm chất của một công dân trong một xã hội đáng sống là con người nhận biết được là mình có độc lập và tự do để biết phản đối khi nhận ra điều sai trái. Như nhà văn Nguyên Ngọc đã phát biểu:

“Cái hổng nhất của giáo dục nước ta là ở triết lý giáo dục. Giáo dục tiên tiến dạy cho con người ta khả năng đầu tiên là khả năng phản đối trước khi đồng ý, với nguyên lý cơ bản là tạo ra con người độc lập, tự do cho xã hội.”

Không biết đến bao giờ con người Việt Nam mới có được cái phẩm chất đó

Bao giờ? Biết đến bao giờ?

Nhưng dù khó khăn thế nào và cho đến bao giờ thì điều kiện ắt có và đủ để con người VN có được phẩm chất ấy sẽ phải là cái lúc mà đảng CSVN đã bị giải thể để nhường chỗ điều hành đất nước cho những thành phần yêu nước và yêu dân tộc hơn.

California ngày 24-2-2012
NHẬT TIẾN

Baguette Paris

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on April 6th, 2023

Post by Sơn râu 6 May 2024

Nếu hamburger như một nét ẩm thực đặc trưng của dân Mỹ thì bánh mì baguette cũng tương tự với dân Pháp. Với hơn 330 triệu dân, mỗi ngày dân Mỹ tiêu thụ khoảng 136 triệu cái hamburger thì nước Pháp cũng không thua kém khi với khoảng 65 triệu dân, nước Pháp tiêu thụ khoảng 30 triệu bánh mì baguette mỗi ngày. Baguette đi ra ngoài nước Pháp, sang đến Việt Nam. Có đi Tây, bạn ghé một tiệm bánh mì baguette xem thế nào.

Một người Pháp với bánh mì baguette trên đường phố    

Bánh mì baguette không thiếu trong các chợ thực phẩm tại Mỹ, từ Walmart đến Kroger. Cũng một đôi lần, tôi có ăn baguette tại các nhà hàng La Madeleine, ắt không khác biệt nhiều so với tại Pháp bởi nó là hệ thống nhà hàng bán món ăn Pháp.

Nhưng đã đến Paris, chắc chắn du khách phải ăn bánh mì baguette mới ra lò hơn một lần. Bởi như nói trên, baguette không thể thiếu trong đời sống thường nhật của dân Pháp và các tiệm bánh mì baguette hiện diện khắp mọi nơi. Những khu trung tâm, ra khỏi khách sạn không khó để tìm ra các tiệm bánh mì baguette có xa lắm thì cũng chỉ đi bộ đôi ba trăm mét, tùy vị trí khách sạn. Tôi cũng chẳng là ngoại lệ.

Những tiệm bánh mì baguette nho nhỏ này có khi chỉ là tiệm bán mang đi, không có bàn ghế bên trong hay hàng hiên cho khách ngồi ăn sáng. Có những tiệm không lớn nhưng bàn ghế đầy đủ cho khách muốn ăn ngay tại tiệm. Có khác nhau thế nào thì những kiểu bánh mì baguette đã chuẩn bị sẵn để trong quầy kính trông thật bắt mắt và hấp dẫn.

Buổi sáng đầu tiên tại Paris, tôi bấm điện thoại tìm các tiệm bánh mì baguette gần quanh khách sạn mình ngụ. Có ít nhất là ba, bốn tiệm theo các hướng khác nhau và chỉ đi bộ vài phút. Tôi không có khái niệm tiệm nào ra tiệm nào, chọn đại Paris Baguette vì có chữ … “Paris” và nhớ từng thấy đâu đó tại Mỹ. Về xem lại mới biết là đây là hệ thống bánh mì Baguette khá lớn của… Nam Hàn, nghe nói có mở cả tại Việt Nam. Nhưng chẳng sao, của nước nào thì bán cho dân Paris phải làm đúng kiểu Pháp, họ đâu mở ra để nhắm bán cho du khách.

Bánh mì baguette Paris

Mà quả thật là vậy, vài buổi sáng tại Pháp chúng tôi ghé các tiệm baguette nho nhỏ của người dân địa phương, chắc phải có nhưng tôi không nhận ra nhiều sự khác biệt. Mỗi ngày, tôi thử một loại nhưn khác nhau. Chỉ trên dưới 5 Euro một ổ, cũng khoảng chừng ấy so với tiền Mỹ vì tỉ giá dollar và Euro cũng chẳng chênh lệch bao nhiêu, cộng thêm ly cà-phê dăm Euro, giá cả rất bình dân cho một buổi sáng. Ðiều còn lại là nó có đủ ngon cho bạn ăn mỗi ngày hay không?

Tôi thích bánh mì và đến Paris muốn thử baguette ra sao. Nhưng thú thật không thể ăn lâu hơn vài ngày. Với tôi thì baguette chẳng thể nào ngon hơn bánh mì Việt Nam. Hay cũng do mình đã ăn quen bánh mì Việt Nam. Bởi dù mới ra lò, baguette được  chuẩn bị sẵn, nếu không phải loại có thêm salad, cà chua… thì có thể yêu cầu nướng sơ. Nhưng nó vẫn dai, nhiều bột, không xốp và giòn rụm như bánh mì Việt Nam. Tất nhiên loại hay tiệm bánh mì Việt Nam “có nghề”, chứ ngay tại Mỹ này mà tìm một tiệm bánh mì Việt Nam cho ngon, cho vừa ý chắc cũng chạy hết xăng. Nhất là khi phải mua đại dăm ba ổ bánh mì không, nhăn nhúm như những người “đau khổ kinh niên”, được bỏ bịch ny-lông và bán trong các chợ Việt thì muốn … thở ra. Nhưng cũng không có chọn lựa khác hơn.

Như nhiều thứ đã xuất hiện từ lâu đời, nguồn gốc và lịch sử của chúng có nhiều đồn đãi, thêu dệt hay khó kiểm chứng. Nhưng các tài liệu bảo rằng bánh mì baguette dù là một “văn hóa”, một “quốc hồn quốc túy” của người Pháp lại do một thợ bánh mì người Áo đến từ thành Vienna tạo ra. Tất nhiên có phần khác biệt so với ổ bánh mì baguette dài thòng ngày nay, bởi “baguette” có ý nghĩa là “gậy, que” (baton, stick). Giai thoại khác thì bảo chính Napoleon đã nghĩ ra cách làm bánh mì dài như vậy để cho binh sĩ nhét và mang theo dễ dàng hơn loại bánh mì ổ hay tròn. Ðại loại kiểu tích vua Quang Trung cho binh lính mang theo bánh tráng trên đường tiến quân ra Bắc dẹp quân Thanh. Thật hư thế nào thì các giai thoại cũng thú vị.

Tác giả và một nhân viên nhà hàng Pháp

Một quốc gia lâu đời như Pháp mà còn có các giả thuyết về nguồn gốc baguette khác nhau thì huống gì Việt Nam nên dù là “cháu cố” vài đời của  baguette, cũng khó ai xác định bánh mì kiểu Việt Nam ra đời từ lúc nào. Tất nhiên phải theo đoàn quân lính viễn chinh Pháp đến Việt Nam. Nhưng ai là người có công chế biến ra những ổ bánh mì ngắn và giòn, xốp hơn nhiều baguette như vậy thì đố ai biết được. Nếu có dài, thì ắt nhiều người còn nhớ những ổ bánh mì to, dài bóng lưỡng bán ngoài Hàng Xanh hay tại các bến xe miền Ðông hay miền Tây ở Sài Gòn sau 75. Ai về quê mua dăm ba ổ, sang hơn là thêm  con vịt quay, làm quà cho người thân nhà quê là món quà Sài Gòn quý giá và hiếm hoi.

Nghe bảo Sài Gòn đang tổ chức “lễ hội bánh mì”, không hiểu có ai lần dò lại nguồn cội bánh mì Việt Nam hay không. Có dăm bài báo sơ sài đó đây, mang tính báo chí hơn là tra khảo học thuật nên rốt lại người ta cũng đoán là bánh mì Việt được thịnh và phổ biến từ khoảng thập niên 30s, tức trên dưới 100 năm trước. Và cả hai “ông cháu”, baguette Tây và bánh mì Việt Nam đều được UNESCO công nhận là “di sản văn hóa phi vật thể” (Intangible Cultural Heritage). Tất nhiên là đùa nếu bảo rằng, bánh mì (chai cứng) có thể đánh lỗ đầu người khác chứ “phi vật thể” gì.

Tôi đã “chia tay” với Paris và nước Pháp từ kỳ báo trước, không định quay lại cùng nó dù cũng còn nhiều điều riêng mình đã ghi nhận. Nhưng một anh bạn tôi có hỏi rằng, hãy chia sẻ chuyện sang Paris “ăn gì” cho chuyến đi sắp đến của anh.

Làm sao tôi biết được?

Một “quán cóc”

Ðêm đầu tiên tôi hỏi người nhân viên tiếp tân rất thân thiện và nhiệt thành chào đón, hướng dẫn du khách. Anh chỉ cho tôi hai ba quán Tây gần khách sạn, đến lúc đi ăn tối thì gặp người chủ khách sạn ắt đã nghe anh chàng tiếp tân kể lại. Ông chỉ chúng tôi đến một quán Tây khá đẹp, chuyên bán đồ Tây chính hiệu cũng khá gần khách sạn. Nói thêm là Paris có khá nhiều khách sạn nhỏ do chính các chủ nhân tự vận hành. Khách sạn tôi ngụ cao sáu tầng lầu và chỉ có … sáu phòng, mỗi tầng chỉ có một phòng. Hay nói khác hơn, nó như một nhà lầu bên Việt Nam hơn là kiểu khách sạn bề thế hàng trăm phòng tại Mỹ.

Các nhà hàng Tây trang nhã, bài trí đẹp, món ăn thì tùy khẩu vị mỗi người hơn là nói chắc ngon hay dở. Chúng tôi ăn tối tại các nhà hàng này vài đêm và chỉ có tôi là thành viên gia đình duy nhất còn muốn quay lại. Mà bởi vì cái không khí cũng như tôi muốn “sống” với không khí Paris hơn là vì thức ăn. Mỗi dĩa thức ăn trung bình chỉ khoảng dưới 20 Euro, không kể tại các tiệm ngay điểm du lịch, như tháp Eiffel chẳng hạn có thể đắt hơn, trên dưới 30 Euro phần ăn. Khó thể gọi là đắt đỏ so với tại một thành phố du lịch lớn ngay tại Mỹ. Tôi chỉ không ghé thử Quận 13, “thủ phủ” của các tiệm ăn người Việt. Một phần vì thời gian, phần khác do một người gốc Việt sống lâu năm tại Pháp bảo rằng, “anh ở Mỹ sang thì ghé đó ăn đồ Việt làm gì?”.

Không cần ăn đồ Việt trên đất Pháp nhưng bạn nhớ ghé các tiệm bánh mì  baguette tại Paris. Ngồi chiếc bàn nho nhỏ ngoài hàng hiên với ổ bánh mì trên tay và ly cà phê sáng, ngắm người Paris qua lại cũng là cái thú.

Cái không khí, trải nghiệm của mỗi chuyến đi là điều đáng nhớ và còn sót lại. Còn chuyện ăn uống thì có gì quan trọng phải không bạn?

Một nhà hàng sang trọng

ĐYT

Hoa mùa Đông

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 30/12/2016 

Post by Sơn râu 6 May 2024

Dù có tuyết hay không, ở chốn đây bao giờ hàn thử biểu cũng rơi xuống âm độ. Trừ 10 trừ 20 cũng chả lạ gì, như cơm bữa. Lạnh, chẳng ai chối cãi, nhưng không vì mùa màng kiểu đó khiến đảo lộn mọi sinh hoạt, người ta vẫn thức khuya dậy sớm dù quang cảnh ngoài trời đang đóng băng, đang cóng thân cùng tiếng gió rít.

Tôi đã làm cho ông bình cà phê. Ông ăn bánh mì trứng với bacon hay điểm tâm tô mì ăn liền? Người chồng đứng rửa mặt ngó vợ qua tấm gương: Bà ăn gì thì tôi ăn nấy. Bà đã gói giúp tôi món quà ấy chưa? Rồi, xong từ tối hôm qua kia.
Người đàn ông khoá lại vòi nước. Tĩnh lặng. Chỉ có tiếng nồi niêu lách cách đặt trên lò, tiếng chân bước qua về của người vợ loay hoay chu toàn bữa ăn sáng. Ông lau mặt, ông chải tóc rồi chậm rãi tới ô cửa vác mặt dòm ra. Tiếng bà vợ cất lên sau lưng: Coi bộ lạnh dữ à nghe, mặc áo cho nhiều vào.

Chỉ bà nói ông nghe, ông nói bà nghe. Quen rồi, muốn thay đổi không khí thì giả bộ làm trái ý nhau rồi lời qua tiếng lại cãi lẫy. Nhưng điều đó chỉ xẩy tới một hai lần, không có “sự bất quá tam” bởi bà đã cảnh báo: Tui yếu tim lắm nghe ông, muốn giết người không gươm đao à? Ông luôn nhường nhịn bà, luôn cởi giáp quy hàng, đến độ mấy đứa con cũng từng nhận xét: Hạnh phúc thay khi ba biết sợ má! Và thằng út đã đích thân mang lại nhà, tự tay nó đóng đinh tấm poster vào cánh cửa phòng ngủ: “Sau lưng một người đàn ông thành đạt luôn có bóng dáng của phụ nữ”.

Con cháu họ đều ở xa, chúng phải lo liệu việc sở việc nhà nên theo chương trình đã lên lịch, đôi ba hôm nữa mới về thăm. Bà đã hối ông chở ra chợ, trong đầu bà tự động hiện ra ba món ăn để gia công nấu nướng. Ông phê bình: Quá nhiêu khê cầu kỳ, mất công sức, lỡ không hợp khẩu chúng thì xôi hỏng bỏng không. Bà nhìn ông: Tui đẻ ra chúng mà bộ tui không biết miệng lưỡi chúng sao? Vậy thì bà có đọc ra những ý nghĩ thầm kín của ba đứa con không? Có đấy, chúng bảo rằng ông chẳng chịu lượng sức, già yếu mà cứ ưa ôm đồm đi lo chuyện bao đồng. Ông nghe, như mọi khi, ngồi rụt cổ lại chẳng đưa ý kiến.

Khi ngồi vào bàn ăn, bà rót cà phê ra cho ông: Chỗ đó cũng tình nghĩa, nghỉ hưu đã hơn hai năm mà họ còn nhớ tới ông để gọi lại chung vui. Ông múc muỗng đường, khuấy ly cà phê. Mình có quyền từ chối, nhưng bữa nay đúng lúc lão Fred thôi làm, buộc mình phải mang quà tới dự buổi chia tay. Thì hôm tôi giã từ cũng xôm trò vậy, họ mời cả những cựu nhân viên già lọm khọm. Ừ, nói chung thì có tình có nghĩa thật. Bà nhìn lên chiếc đồng hồ treo gần bàn ăn, đó là món quà công ty tặng cho một nhân viên lao động ròng rã suốt mười lăm năm không gián đoạn. Nhân viên nhác chơi xin ăn hưu non và cái đồng hồ chỉ cần thay battery thì vẫn chuyên cần gõ nhịp thời gian, chưa gặp mệnh hệ để đường đột bỏ cuộc. Tại sao khi người ta giũ áo thôi đi cày bừa lại tặng người ta cái vật nhắc nhở giờ giấc ra đồng áng?

Tôi đi nghe bà. Trước khi mở cửa ông nhắc: Tôi đã để sẵn bộ phim Hàn quốc bà đòi xem trên bàn. Tiệc tùng đôi lúc không kéo dài bằng những chồng chéo éo le trong phim ảnh đâu. Ông khoá cửa nhà, ông để gói quà trong xe, mở máy. Cầm đồ cạo tuyết bám rồi dùng chổi quét quanh khối kim loại đang ho hen thở khói đen. Tờ tạp chí chuyên đề về auto cho hay, trung bình mỗi chiếc xe sẽ rệu rã sau khi gồng mình chịu qua 5 mùa đông. Ông đã than thầm: Sắt thép còn vậy huống chi xương thịt con người. Nói nào xa xôi, đêm hôm trái gió trở trời, ông muốn thương vợ nhưng bà la lên, đau lưng lắm, gân cốt tui đang mỏi gối chồn chân, sức người có hạn; và trời trở gió trái ông đã làm thằn lằn chắc lưỡi trong canh thâu, đêm dài lắm mộng!

Ông lái xe đi, thử đạp thắng để dò đường xem có trơn trợt không. Cũng chẳng việc gì phải gấp rút, kim chỉ vận tốc ở con số 40, Ông lấy làm lạ khi đọc phải một bản tin, rằng các ông bà già thường gây ra tai nạn xe cộ hơn hạng tuổi năng động háo thắng của bọn thanh niên. Có thể do ở phản ứng đã mất đi sự nhanh nhạy, hoặc mắt yếu, hoặc dễ buồn ngủ bất chợt, hoặc một đầu óc lơ đãng thiếu tập trung. Những lầm lỗi ấy không có ở người ông, ông điều khiển xe chạy chậm vì ông đang tự vẽ ra một hình ảnh, một dung nhan, một thứ khiến ông nóng lòng chạm mặt. Radio băng tần FM lóng rày siêng phát nhạc mừng Giáng Sinh, hầu như đài nào cũng thế, từ nguyên bản truyền thống cho tới biến đổi thành thể điệu rock. Quá đỗi chộn rộn. Ông bẻ tay lái ở ngả tư đèn xanh, kia rồi tảng đá xám hùng vĩ của bệnh viện trung ương thành phố đứng chắn lối. Tuần trước ông đi đổ xăng và tình cờ gặp Fred. Lão ta loan tin sắp về hưu rồi thông báo: Anne, làm kế toán ở văn phòng đó, bị ngã đến độ gãy xương, hiện nằm trong nhà thương, hay tin chưa?

Ông đậu xe không mấy xa cổng bệnh viện. Trường học, công sở, hãng xưởng hay chợ búa thường vắng thưa người tuỳ theo giờ giấc nhưng nhà thương, bốn mùa đều nhộn nhạo kẻ vào người ra không dứt. Muốn mở mắt chào đời phải chui vào, băng bó, khâu vá hoặc thở hắt ra hơi cuối cũng từ chốn này mà quyết định việc sinh tử, chẳng thể làm khác đi. Một kẻ bị gãy xương, không khó cho ông tìm tới nơi Anne nằm. Mùa Giáng Sinh năm xưa, sau buổi tiệc chung vui ở chỗ làm, Anne uống hơi quá chén và chẳng hiểu do đâu, bà chỉ định riêng ông mang sứ mạng chở người đi quàng xiên về tận nhà. Ông để cho Anne quàng tay nơi cổ, ông xốc nách tấm thân hơi đẫy đà và mọi thứ không gây trở ngại một mảy may. Bà ở cùng người con gái, có tấm giấy màu dán nơi cánh cửa: Con dự tiệc đằng chỗ Julie, muộn lắm thì cỡ 1AM. Vẽ một trái tim màu đỏ thế dấu chấm. Và khi đọc xong lời nhắn kia, tim ông nghe rộn tiếng đập nhanh, khó cắt nghĩa một nỗi niềm. Ngay cả chữ già cũng chớ đào bới, khoanh vùng đặt mốc. Không ai thấy mình già đi khi lâm vào cảnh này, ông dịu dàng đặt Anne nằm xuống giường bằng sức lực của một gã trung niên. Chịu khó pha cho tôi một tách trà chanh. Anne nói, dường không phải một người đang say rượu. Anne say thứ khác, nũng nịu chất giọng của một kẻ rất mực tỉnh táo.

Cửa thang máy mở ở lầu năm, hành lang sáng dọc dãy đèn vàng. Theo tay chỉ của cô y tá, ông cầm gói quà bước vào địa phận mãi tôn trọng sự yên lặng. Người nằm trên giường sửa lại thế, kê gối cao để xua đuổi khuôn mặt buồn ngủ, thắp sáng một nụ cười. Tôi sẽ chết vì cảm động. Bệnh nhân nói khi nhận quà, chiếc áo đặc thù được cột giây có hơi sai lạc vị trí, giống như những sợi tóc rối chưa hề biết qua răng lược; tựu trung nó bày ra thứ hình ảnh gần như đêm Giáng Sinh năm nào. Bàn tay Anne đang dồn lực để níu đầu ông xuống trao gửi một nụ hôn. Sao biết tôi ở đây? Tôi gặp Fred và tôi nghĩ nên lại thăm Anne. Mùa lễ, nằm trong chốn ảm đạm này, người ta cần tin tới một thứ mà chúa không đủ quyền năng để trao tặng. Đứa con gái của tôi cần học ở bạn nhiều thứ. Thấy đỡ phần nào không? Y tá không hỏi kiểu của bạn, họ chỉ nói từ một đến mười, bạn đang ở số mấy? Ừ, Anne đang ở thang điểm nào? Cách đây khoảng năm mười phút thì số sáu, hiện tại đang leo lên số tám. Bạn đáng yêu quá. Được nghỉ tới bao lâu? Tới tháng tư sang năm, hy vọng thế. Trở mình vẫn nghe đau. Đưa tay đây. Ông nghe lời và bàn tay ông được thăm dò lên vùng thịt đã bị dao kéo phẫu thuật. Ở bên hông, trần trụi suốt, không nội y. Mềm mại, ấm cúng. Ông thoáng nghĩ tới vợ, hai ba lớp vải đậy đệm, đang quấn thêm chiếc chăn mỏng để thả hồn vào những thước phim tình cảm lãng mạn của Hàn quốc. Vợ ông đưa cảm nhận: Trong phim ảnh, những đứa tráo trở xấu xa đều phải bị tiêu diệt vào đoạn cuối; còn ngoài đời thành phần ấy luôn sống dai, thọ hơn cả người hiền lương.

Người y tá mang thuốc vào. Ông nói tôi về nhé, sẽ trở lại thăm hoặc khi nào xuất viện tôi sẽ dìu đỡ và làm tài xế cho. Cô y tá cười, chúc ông mùa lễ an lành. Ông lập lại, phát hiện khuôn mặt thoáng buồn của Anne. Noel năm ấy, khi chưa bị tai nạn, ông ta đã nán ở với mình lâu hơn ước ao. Xương đã gãy thì còn ra cơm cháo gì nữa hở trời! Nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa cũng mất sướng!

Ông về tới nhà bà vẫn xem chưa hết mấy tập phim. Vì lỡ đóng tuồng đi ăn với cựu đồng nghiệp, ông đã tạt vào tiệm người Việt ăn bát phở dằn bụng sau khi từ bệnh viện trở ra. Biết ông về, bà chẳng hỏi han bởi phim đang gặp hồi gay cấn. Thằng con rể âm mưu bất chính, dối gạt cả nhà cho tới khi bị vợ đương sự phát hiện. Dĩ nhiên vợ ông, đàn bà với nhau, đã thoá mạ chẳng tiếc lời thằng tài tử đẹp trai đóng vai kẻ bội phản. Ông nói: Có trường hợp nào người ta ca ngợi và đồng lòng tiếp tay với kẻ dối gạt không? Ông uống mấy chai bia mà trở chứng đi nói ba cái chuyện khó nghe vậy? Bà nghĩ sao về vụ ông già Nô-en hằng năm từ chốn xa cỡi xe về trao quà cho bọn con nít trên toàn thế giới? Đánh lừa người lớn thì khoan xét tội trạng, nhưng dối gạt bọn trẻ con thì cần lên án, cần ngăn chận ngay.

Bà vợ nhìn ông, thăm dò vẻ mặt chồng: Ăn liên hoan cùng bọn tây ở chỗ làm cũ, có phải không? Sao tui đánh hơi toàn cả mùi phở vậy? Ông cười to tiếng như ông già Nô-en: Đằng sau một người đàn ông thật thà luôn có bóng dáng phụ nữ đa nghi. Có cần tui nhắc lại bệnh tình không: Tui chúa yếu tim, là bông hoa trong mùa đông không biết sẽ tàn héo đi lúc nào… Ồ, thấy chưa, phải vậy chứ, thằng rể ấy bị cảnh sát đến bắt rồi kìa. Hừ, chạy trời sao khỏi nắng!

Hồ Đình Nghiêm
cuối năm 2016

Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 6 May 2024

4. Phần 4
Tia nắng nong nóng rọi vào mặt khiến Hải mở mắt, đầu nhưng nhức nhưng hơi lạnh buổi sáng còn cóng cả đầu ngón tay. Chàng ngạc nhiên thấy bé Ngọc thản nhiên ngồi bó gối, ngó đăm đăm vào bờ. Vừa lúc những chiếc thuyền đánh cá Trung Quốc bỗng đâu từ tứ phía xô lại vây quanh thuyền. Họ chỉ chỏ nói cười, rồi ra dấu muốn mua vàng. Dũng đứng trên mui, hò hét:
– Mua đồ bà con ơi, ta ăn Tết lớn trên đất Trung Quốc một phen chơi.
Hải sực nhớ hôm nay đã là 28 Tết. Thảo nào người Trung Quốc có vẻ tưng bừng nhộn nhịp. Họ đổi chác, mặc cả, lắc đầu, gật đầu loạn cả lên. Đang hồ hởi đổi chác thì có người hô lên báo động, một chiếc tàu chiến công an xộc tới. Chiếc tàu hú còi đuổi thuyền đánh cá đi rồi quăng dây qua thuyền Hải, ra lệnh cột dây vào mũi để họ kéo. Dũng chỉ vào ngón tay đeo nhẫn, nói với:
– Chúng tôi có vàng, cần đổi dầu.
Viên công an nheo mắt, gật đầu. Chiếc thuyền bị kéo phăng trên biển, dọc theo bờ. Chí, thợ máy, cau có:
– Mả mẹ, nó kéo căng thế khéo vỡ cả thuyền.
Thuyền chạy qua những xóm chài lưới lục đục nhà tranh, ngư dân áo quần rách rưới ngẩn ngơ nhìn, có người đưa tay vẫy bâng quơ. Mãi chừng bốn tiếng sau, Hải nhìn thấy một thành phố khá lớn với cao ốc tân kỳ ngấp nghé trên bầu trời. Ai đó reo lên, phấn khởi:
– Nó cho mình vào đây thì thích nhỉ.
Tàu công an hướng mũi chếch vào bờ. Thoáng chốc, chiếc tàu sắt cập vào cầu tàu. Dăm kẻ trên bến như đã được lệnh sẵn, quăng dây qua thuyền buộc vào trụ sắt. Một viên công an nhảy xuống thuyền giải thích:
– Các anh không được lên bờ. Cần gì bảo chúng tôi.
Viên công an không mang quân hàm nhưng có vẻ là người chỉ huy bến cảng. Đầu ông ta hói khi cái mũ cát két nhổm lên vì một cơn gió bất ngờ thổi tới. Ông ta yêu cầu đếm số người. Dũng đột nhiên giãy nẩy khi mới đếm được một nửa nhân mạng:
– Địch mẹ, nhẩy dù hử!
Mọi người đổ dồn mắt về phía người thanh niên Dũng đang quát. Dũng vừa phát hiện anh ta nhẩy dù, đi chẳng tiền nong gì ráo trọi. Anh quát:
– Ai có tiền nong gì cầm tay sẵn sàng. Đù mẹ, không có tiền mua dầu thì chết đống cả này.
Một người đàn ông đứng cạnh Hải len lén cởi chiếc nhẫn vàng dúi vào lưng quần. Thấy Hải nhìn, anh ta lẩm bẩm chữa:
– Bạc vàng chi mô, cũng phải phòng hờ chứ.
Hải nhớ sực anh ta qua giọng nói Trung kỳ. Chính là gã từ chối “cọng” đứa bé khi lội sục vào bờ hôm đổ bộ đầu tiên. Khuôn mặt gã trắng nhợt. Cái khuôn mặt vô hồn của đồng loại người chuyên trốn trong buồng và biết uốn nắn phải lúc, mắt ít khi nhìn thẳng. Hải lờ đi cho anh ta dễ chịu. Nhẩm tính số vàng Dũng thu được một nhúm vừa lòng bàn tay. Anh thương lượng với viên chỉ huy công an:
– Anh mua hộ một phuy dầu, còn bao nhiêu mua hộ lương thực khô cho chúng tôi.

Google images

Viên công an nhận vàng, ra lệnh đem mấy thùng nước ngọt xuống. Trời như đã về chiều, gió biển hây hây thổi. Rồi gió càng lúc càng mạnh khiến cả thuyền đều lo ngại. Chẳng mấy chốc, mây đen sật sật, rồi ngùn ngụt kéo tới. Trời tối mịt. Nước biển sôi òng ọc như nồi canh đang nấu. Trẻ con ré lên sợ hãi. Cơn bão khi không ập đến dữ dội, giận dữ đập be thuyền vào cầu tàu cành cạch, cành cạch. Dũng nói qua màn nước mưa xối xả:
– Cho bà con lên bờ.
Lão Mục ngăn, thuyền lắc lư và có tiếng kêu răng rắc như sắp vỡ:
– Không, ra ngoài ngã xuống nước đấy. Chỉ một chốc thôi. Mọi người dồn cục vào trong mui.
Hải ôm cứng bé Ngọc. Có lúc nước biển chồm lên như một tấm mền trắng, chụp xuống hai cha con. Hải có cảm tưởng mình sắp ngộp thở, chàng nghe tiếng kêu thảng thốt, không phải của bé Ngọc mà của ai đó sát bên mình:
– Bố ơi…Bố ơi…
Hải lắc lắc bé Ngọc. Con bé dường như đã ngất đi vì sợ hay vì ngộp. Hải vuốt nước trên mặt con, bối rối. Khoảnh khắc, bé Ngọc hé mắt, hai hàng mi mọng đỏ.
– Không sao con, không sao con, chỉ tí thôi.
– Bố ơi…bố ơi…
Hải đã nhận ra tiếng kêu của Sương. Hai tay nàng ôm trước ngực, mái tóc phủ kín cả mặt. Hải trấn an:
– Cô Sương! Cô Sương! Không sao đâu, rồi sẽ tạnh ngay ấy mà.
Thuyền đập cách một cái. Sương mất thăng bằng ngã chúi vào Hải. Nàng sợ hãi lùi lại, miệng lại kêu lên khe khẽ:
– Bố ơi…bố ơi…
Lão Mục đang trấn trước mũi thuyền, bỗng nói:
– Dứt rồi!
Gió quả nhiên hạ dần, hạ dần, làm như câu nói của lão Mục là lệnh truyền chứ không phải lời tiên báo. Thuyền chỉ hơi đưa lên đưa xuống nhè nhẹ.
Những hạt mưa lâm râm, chừng muốn ngưng nhưng còn luyến tiếc. Một viên công an mặc áo tơi thùng thình xuất hiện:
– Cho chúng tôi lên bờ. Dũng nói.
Viên công an nhìn từ đầu tới cuối thuyền, rồi cương quyết lắc đầu:
– Không, các anh không được phép. Chừng nào muốn đi thì đi.
Dũng chán nản hỏi lão Mục:
– Tính sao ông?
Lão Mục nhìn trời, nhìn nước. Lão ngẫm nghĩ nói:
– Mình đi thôi.
– Liệu còn bão không ông?
– Chắc không. Giông đấy thôi.
– Nhưng …Mình ăn Tết đây đi ông.
Một khắc im lặng sau đề nghị của Dũng. Ăn Tết, ăn Tết trên thuyền. Hải nói:
– Có gì đâu mà…ăn!
– Ta đón Tết đấy mà.
Một ý tưởng kỳ lạ đến với Hải. Chàng bảo:
– Mình đón Tết giữa biển đi.
Lão Mục cười, lần đầu tiên Hải thấy lão cười:
– Tôi còn lạ gì. Thôi, cứ đi men theo bờ tới đâu hay tới đấy.

Google images

Dũng nhảy đại lên bờ, vươn chân vài cái rồi tháo dây, kêu Chí nổ máy cho thuyền “de” lui. Anh đưa tay chào viên công an, giỡn:
– Đồng chí ở lại vui Tết nhé.
Dũng nhảy xuống thuyền, chống nạnh nhìn lên những cao ốc ngất ngưởng xa xa:
– Không bao giờ ta trở lại đây.
Màu trời đang chùi về phía hoàng hôn. Không khí thơm phức mùi nước mưa. Lão Mục kêu Dũng lấy bản đồ để hội ý hướng đi. Từ chỗ thuyền đang trôi, theo ý Dũng, phải mất nhanh lắm là một ngày mới tới thị trấn Hải Khẩu, thủ đô của Hải Nam, nếu đi theo đường tắt. Như vậy, đến Hải Khẩu đã là ba mươi Tết.
– Tính sao ông.
– Mua ít đồ rồi đi tiếp.
Hải vẫn giữ ý định ăn Tết trên biển. Từ Hải Khẩu vượt qua eo biển Lôi Châu là tới đại lục.
– Chẳng mấy chốc là tới Hồng Kông.
Dũng phấn khởi. Theo dự trù thì từ Việt Nam đi chỉ mất bảy ngày là tới Hồng Kông. Vậy mà đã mười ngày qua, Hồng Kông còn xa tít. Lão Mục đo mực nước, rồi ra lệnh cho thuyền chạy hết ga. Hình như lão cũng đang nôn nóng điều gì đó. Bóng đêm đã buông, những đốm sáng lấp lánh trên bờ như hồn ma trêu chọc đoàn người lạc bước đang lênh đênh ngoài đại dương mông quạnh.
Chạy đến gần sáng, Dũng đề nghị cho máy nghỉ. Lập tức, một thanh niên hỏi:
– Ta nghỉ đây bao lâu?
– Chừng non tiếng.
Gã thanh niên cởi phăng áo, làm vài động tác giả cho ấm rồi nói:
– Anh chờ tôi về rồi đi nhá.
Không chờ Dũng đồng ý, gã phóng ngay xuống nước bơi vào bờ. Lão Mục hỏi:
– Thằng nào đấy?
– Thằng này đi nhẩy dù ông ạ. Nhưng thôi, đến nước này có đòi tiền nó cũng không được.
– Nó làng cậu đấy à?
– Nó Quảng Ninh. Hôm trước trốn theo cháu lên bờ trộm mía đấy. Chắc giờ lại giở trò cũ.
Một chị đàn bà hóng chuyện góp tiếng:
– Thằng Thớt đấy. Đầu gấu Quảng Ninh, tôi còn lạ gì quân ấy.
Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua mà Thớt chưa trở lại. Dũng sốt ruột, cau mày ngó đăm đăm vào bờ. Mặt trời đã sắp sang thóp cây. Màu đỏ của bình minh như được pha thêm sắc trắng, nhạt dần, nhạt dần trên sườn núi sững. Giữa lúc ấy, một bóng người trên bờ xuất hiện. Bóng người đang hì hục đẩy một mảng bè xuống nước, rồi cứ thế vừa bơi vừa đẩy bè hướng ra chiếc thuyền đang neo. Dũng cảnh giác hô:
– Nổ máy chuẩn bị.
Tiếng máy gầm gừ chờ đợi. Cái đầu nhấp nhô trên mặt nước như một trái dừa khô. Cặp mắt Dũng nheo lại:
– Thằng Thớt.
Thớt vừa bơi vừa đẩy. Những cây mía dài khẳng khiu như thiếu ăn trồi sụp trên sóng bạc. Gã đã đến sát thuyền, ngước cổ lên, giọng gã lục sục:
– Này, mía đây. Kéo hộ tớ tí.
Dũng quăng móc cặp bó mía. Mía sổ ra rơi bõm xuống. Thớt vừa lên thuyền, phóng ngay xuống vớt lên lại:
– Ấy, đừng thế chứ. Bố nhọc công lắm mới mang mầy về đây.
Người đàn bà khi nãy bình phẩm về Thớt, trầm trồ nịnh:
– Chậc, anh tài thế. Bà con có một bữa như thế này là anh công đầu đấy.
Thớt cười lục cục trong họng. Hai bắp tay gã loang loáng hàng chữ xăm bằng mực Tàu: “Xa quê hương nhớ chị dâu”. Cánh tay kia xăm hình một chàng trai và cô gái đang trần truồng ôm nhau. Gã tự động chặt mía. Chia đều trên thuyền, vẻ mặt hể hả.

Google images

Tiếng cạp mía rôm rả vang trên thuyền, dường như lấn cả tiếng máy. Trong khốn khó, ai cũng cần có miếng ăn, dù là ăn của “quân ấy”, như lời người đàn bà. Bã mía trôi lềnh bềnh trên sóng, sui sủi bọt biển như bọt nước miếng. Nắng chói, hừng hực hơi người xông lên. Hải rờ trán bé Ngọc, có cảm tưởng đứa bé đang sốt. Chàng nhai từng lóng mía, để nguyên chất nước ngọt trong mồm rồi áp vào miệng con, đẩy ngụm nước qua. Lòng chàng quặn thắt nhớ đến Thu, đến thằng Quỳnh. Nếu có nàng ở đây, hẳn chàng đã không vụng về mớm nước cho con như vậy.
Gần trưa, thuyền càng lúc càng đi gần đến những chiếc tàu sắt đang ngược xuôi trên biển, hoặc đậu san sát gần bờ. Lần đầu tiên Hải, và có lẽ tất cả những người trên thuyền, trông thấy một chiếc tàu chạy hổng mặt nước lao vùn vụt trên biển, một tia sóng nhọn chẻ trên không. Phía xa, những tòa nhà chọc trời vươn mình lộng lẫy và kiêu hãnh. Một thành phố văn minh mà chỉ có trong trí tưởng tượng của mọi người đã thực sự xuất hiện rõ dần, rõ dần.
Tàu công an lại xuất hiện, cứ như là họ đã rình sẵn đâu đó rồi, chỉ chực chờ thuyền vượt biển. Con thuyền Việt Nam được hướng dẫn đi theo, cặp bến, nhỏ bé và khiêm tốn giữa những thuyền sắt ngạo nghễ.
– Trung Quốc mà đã thế này.
– Văn minh nhỉ.
– Chả bù cảng Hải Phòng.
– Kinh thật.
– Bì thế nào được, người ta nước lớn.
Mấy viên công an ngồi chồm hổm trên bến, sát thuyền. Họ mỉm cười. Chao ôi, công an mỉm cười với nhân dân mới lạ chớ. Hải không nghe Dũng đang trao đổi gì với viên công an vì mấy bà nhặng cả lên.
– Trông chúng hiền lành nhỉ.
– Chẳng có ta đây tí nào.
– Thích thật!
– Hay hôm nay Tết nó mới vui vẻ thế. Chả nhẽ nào công an lại cười bao giờ.
– Bậy nào, xứ người có khác!
Dũng báo tin: không ai được lên bờ, muốn ở đây ăn Tết thì vẫn phải…đốt pháo trên thuyền. Một công an xuống thuyền đếm người, ghi chú cẩn thận bao nhiêu đàn ông, đàn bà, trẻ con. Bỗng có người đề nghị:
– Ai có đô la muốn đổi thì nhờ người ta đổi.
Hải lấy tờ hai mươi đô la Mỹ gói kỹ trong bọc nhựa, nhờ viên công an mua ít thuốc cảm. Chàng dặn thêm:
– Còn bao nhiêu, xin ông cho bình rượu uống mừng xuân.
Viên công an cười thông cảm. Chỉ một chốc sau, ông ta mang rượu, lương khô, rồi cả thuốc lá lại. Lão Mục nói:
– Cậu xin thử họ cho mình chỉ đứng trên bờ hết đêm nay thôi. Qua Giao thừa mình sẽ đi.
Dũng quay qua viên công an, cắt nghĩa. Thấy gã cứ lắc đầu, anh chán nản nói:
– Chúng tôi không cần đứng trên đất của các anh, chúng tôi chỉ muốn…
-…Thôi khỏi, tỵ nạn mà!
Biết có nói nữa cũng không được, Dũng hậm hực ra lệnh nổ máy đi. Tiếng máy ròn rã mà nghe buồn như tiếng khóc của kẻ lạc đường. Hình như có một phút im lặng đi, nghèn nghẹn sao đó. Lão Mục nói, đánh dạt cái không khí sắp trở thành bi thảm:
– Thôi cứ khui rượu đi. Mình lai rai đón Tết là vừa. Các cậu chỉ lãng mạn đấy thôi, Tết ở đâu chả vậy.

Google images

Chiều tàn. Màu đỏ của trời dội lên nước, tắm đẫm một điều gì ghê rợn, tựa như máu đỏ vừa loang, đang loang, dàn ra cả mặt nước. Hải chưa bao giờ thấy một màu đỏ rùng rợn như vậy, phải chăng vì chàng và những người đồng cảnh đang bị đẩy ra từ bến bờ chu du qua chân trời bơ vơ trước mặt, nên tâm hồn cũng nhuộm gắt một màu đỏ ứa máu. Con thuyền hùng hổ lao về phía trước, một chân trời tua tủa những cụm mây nhọn như hầm chông vừa xuyên qua da người, đâm xuyên ruột, bày ra những vũng máu đỏ gắt, đỏ thẫm. Hải cho con uống thuốc, lấy áo trùm kín thân thể nóng hầm hầm của bé Ngọc. Chàng đón chén rượu từ tay Dũng, chiêu một ngụm lớn. Hải thấy mình bất lực như một con sóng nhỏ, cứ bị ngọn sau đẩy tới trước mà không cách nào dừng lại để tan vào một nơi nào thật bình yên. Chàng nghĩ giá chàng là ngọn sóng nhỏ như câu sáu trong bài thơ lục bát, cứ bị câu tám đẩy tới, xô tới trong một nhịp lẻ day dứt thì đỡ khổ hơn, hoặc nếu ngắt ở một nhịp chẵn đồng điệu chẳng hạn, thì càng sung sướng hơn thế nữa. Phải chăng nước sẽ không còn là nước nếu không bao giờ có sóng? Phải chăng đã là người thì phải xô tới trước, sẽ không bao giờ ngưng đọng, bị xô đẩy chính tư duy của mình, bởi chính cuộc đời xung quanh, bởi những vần điệu đặt lấy, để ru cuộc đời. Hải thấy bừng bừng, huyết quản như có muôn ngàn động cơ nổ, nổ đều một lúc. Bây giờ đây, chiếc thuyền như ngọn lá giữa bốn bề mênh mông. Không còn thấy cao ốc đằng sau, không còn thấy gì cả. Chiếc lá lênh đênh trong mây đỏ, hướng về phía trời đỏ, nhưng càng đi càng thấy xa dần. Như ảo tưởng không bao giờ túm được, một ảo tưởng đỏ gắt, vây quanh những máu và máu.
Rồi từ đằng xa, rợn trong mây đỏ là một cái quạt. Đúng như vậy, một cái quạt đang chìa ra chắn bước. Lão Mục gầm lên, kinh khủng:
– Chết rồi!
Lão đưa tay chỉ, tuyệt vọng. Mặt trời núp sau cụm mây đỏ, rồi màu mây chuyển dần sang màu đen, xòe ra như hình rẽ quạt. Từ dưới lòng biển đen thăm thẳm nghe như có tiếng gầm gừ của dã thú vọng lên. Lão Mục hét:
– Trở vô bờ.
Nhưng đã trễ. Thuyền vừa ra đúng giữa hai dòng nước ngược. Một dòng chảy từ vịnh Bắc Bộ ra biển, bị cắt ngay giữa eo biển Lôi Châu và đảo Hải Nam nên dòng nước như một dòng thác đang ngon trớn bỗng bị ép lại thình lình khiến sức chảy càng hung hãn. Một dòng từ ngoài biển Đông chảy ngược vào vịnh Bắc Bộ cũng bị bán đảo Lôi Châu từ đại lục ép qua. Hai dòng nước xiết chảy ngược nhau, va vào nhau tạo nên những xoáy nước réo điên cuồng. Cái hình rẽ quạt từ trên trời càng lúc càng tỏa rộng, như năm ngón tay quái thú úp chụp xuống những con người bơ vơ bé nhỏ. Trong tích tắc, thuyền bị sóng nhồi lên đến tuyệt đỉnh cao, cao đến mức không thể cao nữa, rồi từ đỉnh cao ấy, vụt xuống một thung lũng bốn bề là nước đen dựng thành tường. Tiếng ré kinh hoàng của tất cả bị hút ngay vào bức tường đen, mất biệt, như sự thẩm âm tuyệt hảo nhất do tạo hóa cấu thành. Từ đỉnh sóng xuống vực sâu, rồi từ vực sóng thuyền tung lên đỉnh sóng, Hải nghe tiếng hét thất thanh của lão Mục:
– Con…ơi ơi…!
Tiếng hét xoáy tít vào tiếng nước reo hăm hở, ác độc. Thần biển đang hể hả xoa tay, chờ từng sinh mạng nạp mình. Trong giây phút ấy, lạ thay bé Ngọc vẫn trừng mở mắt, nhìn chằm chằm bức tường nước sùng sục quanh thuyền. Hải ôm chặt con, chàng nhìn thấy bóng dáng Đức Phật, chàng nhìn thấy thánh giá của Chúa Giê su, chàng nhìn thấy hồn thiêng của cha mình sừng sững trên sóng, dưới vực thẳm, đang nắm tay nhau kết thành vòng tròn lớn, cùng ca hát bài ca luân hồi sinh tử. Hải trừng mắt. Chàng muốn thấy kỹ cái tích tắc vô thường mà đời người không tránh khỏi. Chàng sắp dắt con xuống yết kiến thủy thần. Chàng sẽ cười khà vào mặt lão già có chòm râu bạc lướt thướt và đôi mắt buồn thăm thẳm:

Google images

– Ông đã thắng!
– Ta lúc nào cũng thắng.
– Trẻ thơ có tội gì?
– Trót sinh ra làm người.
– Tôi đi tìm đất sống.
– đất nào sống được nói ta nghe.
– Không phải nơi tôi được sinh ra. Nơi tôi có quyền ca khi hoa nở, nơi tôi có quyền khóc khi tôi muốn và nơi không có lão già râu bạc như ông.
– Ha…ha…ngươi tưởng không có người như ta là ngươi sống được ư…ha…ha…ta cho ngươi thấy.
Thủy thần vụt tan ra thành xoáy nước, vỗ tay reo. Lão cong mình thành một ngọn sóng, ngọn sóng dài hơn chiều dài của chiếc thuyền chở Hải. Lão trườn lên lặn xuống không biết bao nhiêu lần. Đột nhiên, lão đổi trò chơi, lão xoay tít trên không gian đen như vũng nước trâu nằm, hất tung cả chiếc thuyền lao vào hư vô nín lặng…
Hải nghe cả mặt đất gợn mình chuyển động. Một hơi nóng phà lên một bên mặt khiến chàng tỉnh dậy. Ô hay, chàng nhớ rõ mình đang chất vấn lão già có chòm râu bạc, chàng nhớ rõ là mình đang cỡi trên lưng lão, rồi bỗng nhiên…sao chàng lại nằm đây, chung quanh là rừng thông xanh lá, một khoảng trời xanh ngắt, một bờ cát óng ả điểm thưa vài hàng lá mục. Tiếng sóng thì thầm nhắc nhở, đâu đó.
Hải gượng dậy. Chung quanh là xác người nằm lổn ngổn trên cát. Chàng bỗng thót người nhớ tới con. Một sức mạnh kỳ bí thúc đẩy chàng dậy, lao tới trước. Chiếc thuyền đã bể tan tành nằm nghiêng trên bãi, một nửa thân sau chìm xuống nước, Hải chợt nghe tiếng gọi:
– Hải ơi…Hải ơi…con ông đây nè.
Dũng đang ôm bé Ngọc trong lòng, một bên má anh bị một đường cắt ngọt, máu khô quặp. Anh ngồi dựa vào gốc cây, đôi mắt lạc thần. Dũng trao bé Ngọc cho Hải:
– Nó không sao cả. Tôi tỉnh trước, thấy người nó đè lên mình. Lạ quá!
Hải siết chặt thân hình tiều tụy của con, nước mắt ứa ra. Cha con chàng đã được tha mạng. Chàng đã sống, chỉ có phép màu mới giải thích nổi. Hải thấy mình tỉnh trí phần nào. Phía bên kia một góc rừng vài người đang lóp ngóp bò dậy, tụ vào nhau. Dũng nói:
– Sóng đẩy thuyền vào đây. Tôi đếm sơ vẫn chưa đủ số người. Chắc rớt xuống biển.
Từ một kẽ đá, Hải thấy dáng lão Mục đang lom khom kéo Sương lên bờ. Thân hình nàng nằm sóng soải, hai chân chìm trong nước. Lão Mục hì hục một hồi mới đưa được cô gái lên. Hải thấy lão ngồi phịch xuống, thở hào hễn. Chàng dợm người thì cả thân hình như không còn tí hơi sức nào, ngã uỵch xuống. Dũng ôm đầu:
– Ông kiệt rồi.
Hải gượng nói, cổ họng khô đắng:
– Tính sao bây giờ? Đây là đâu?
– Đại lục. Chắc chắn là đại lục.
– Không thấy ai cả.
– Hẳn là bãi hoang.
Mặt trời đã lên quá nửa ngọn sào. Những xác người nằm trên cát đã bắt đầu cựa quậy. Có người vừa ngồi dậy thì ọc một cái, nước từ miệng trào ra xối xả. Nhưng rồi họ cũng lê lết tụm lại vào nhau, bàng hoàng trao đổi. Hải lim dim mắt, chàng thiếp đi, tỉnh dậy, rồi lại ngất. Chàng mơ thấy Thu dắt thằng Quỳnh đang chạy băng băng trên triền sóng. Chàng mừng rỡ la hét chạy lại. Nhưng đột nhiên, một đợt sóng lớn trùm lên, cả Thu và thằng Quỳnh biến mất. Hải rú lên sợ hãi. Chàng tỉnh giấc, mồ hôi vã như tắm. Nghe tiếng Dũng:
– Ông sốt rồi.
Anh thở dài nói tiếp:
– Chỉ còn nước đi xin ăn.
Một bầy quạ đen từ đâu bay lại, rít lên the thé.



Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 6 May 2024

3. Phần 3
Những cây hương cháy đỏ hực hực. Đêm đang gần về sáng, đêm trong một khối huyền, đêm sạch cả dòng nước. Vũ trụ lồng lộng úp xuống lòng biển xanh, úp xuống những con người thoi thóp thở trên những đầu hương hy vọng cháy.
Hải nằm ngửa trên nóc thuyền. Từ cao, những vì tinh tú hững hờ lấp lánh. Tiếng cầu kinh, mùi hương thoang thoảng vào mũi, xông lên tận não…rồi bỗng như Hải trôi bồng bềnh vào một cõi vô trọng lực, cảm thông sâu sắc sự sinh động của vũ trụ, sự bé nhỏ của con người trước bao la và bóng tối. Con người, dân tôi, và Hải, chạy trốn từ một đất nước hữu hình này đến một đất nước hữu hình khác. Cuộc hành trình tưởng dài bất tận đối với sức trần của bàn chân bé nhỏ, tưởng chừng cả đời người chỉ mong đạt được cái thành tích ghê gớm đó. Nhưng thực ra khi nhìn lên cái vũ trụ không bến bờ trên cao kia, khi vầng trán chạm vào hư vô cùng bất tuyệt thì sự lao nhọc, những tranh giành, những kèn cực vất vả suốt kiếp người cũng không bằng con số không của hư không bình thản vẫn luôn ở đó nhưng không ngừng biến chuyển. Hải thương cho mình, thương cho bàn tay người nhỏ bé muốn cất giữ nhiều thứ nhưng không bao giờ cất giữ được hư vô. Hải thương cho người vợ trẻ không vượt được một trạm kiểm soát, Hải thương cho sự bất lực của con người, tâm thức Hải như đang ở nơi cao nhìn xuống thấy mình vượt qua mọi chướng ngại vật nhưng thịt cứ cù nhầy ở mãi một nơi.
Hải bỗng muốn rũ bỏ tất cả, những ước mơ thực tại và cả luôn quá khứ. Chàng muốn con thuyền cứ lặng lờ tắt máy và có trôi đến đâu cũng đành để tâm hồn phiêu diêu cùng ảo ảnh. Thì đúng lúc ấy, tiếng máy thuyền nổ hục lên giòn giã. Hải nhổm dậy, bàng hoàng nhận ra mình vừa trải qua một phút giây rất thực với con người chàng. Bọt sóng trắng tung tóe đằng sau, vút lên giục giã cùng tiếng reo hò của mọi người. Hải nghe tiếng Dũng hò hét gì đó bên dưới, một lát thấy Dũng ló lên cười rạng rỡ:
– Chắc lọt rồi ông ạ. Kìa, ông xem!
Hải nhìn theo tay Dũng chỉ. Hướng đông, một vùng sáng đỏ nhạt hiện lên cuối chân trời. Ánh sáng như mọc từ mặt nước loang loáng tĩnh lặng. Con thuyền từ bóng tối tiến về phía mặt trời đang mọc. Ánh sáng càng lúc càng tỏa rộng. Những cụm mây trắng pha sắc hồng nằm chết trên cao xúi vào lòng người đi sự thúc giục và hứa hẹn đẹp đẽ. Hải nhìn đăm đăm mặt trời nhỏ như quả hồng đang trồi đầu lên từ mặt biển, hỏi:
– Mình đi tới đâu rồi ông nhỉ?
Dũng ngắm bốn bề chỉ thấy chân trời, rồi thò đầu vô mui hỏi vọng:
– Chắc tới hải phận rồi ông nhỉ?
Lão Mục chậm rãi từ trong mui chui lên đứng trước mũi thuyền, hai chân xoạc ra với dáng vóc của một thuyền trưởng nhà nghề nói:
– Tới rồi.
Cả thuyền dồn ra ngoài, tất cả đều quơ tay reo hò mừng rỡ. Hải thấy Sương đang len lỏi chen lên đầu thuyền, tay nàng nắm chặt vào mạn như sợ ngã dù lúc ấy biển rất êm. Lão Mục đến bên con, thầm thì giảng giải điều gì đó. Sương nhìn đăm đăm lên bầu trời sáng xanh thăm thẳm, rồi cúi xuống đo lường sự thẩm nhập của màu trời trong đáy đại dương. Có lẽ nàng đang thực tập kiến thức khoa học căn bản mà nàng đã lượm được ở đâu đó, chẳng hạn như màu xanh của biển đồng bộ với màu xanh của trời. Lão Mục thình lình quay lại nhìn Hải khiến chàng ngột ngạt có cảm tưởng bị lão bắt gặp ý nghĩ của mình về Sương.

Google images

Nhưng may quá, lão Mục cười hiền hậu. Hải trèo xuống mui theo cái ngoắc tay của lão:
– Cháu nghe Dũng nói về ông nhiều.
Lão Mục cười hà hà:
– Cái gì thế?
– Dũng bảo ông sành biển lắm. Cả thuyền chỉ trông vào mình ông đấy thôi.
Nghe tiếng đàn ông, Sương quay lại, đôi mắt nàng mở to nhìn Hải không chớp:
– Cô đây là con gái ông? Hải hỏi, hơi ngạc nhiên không thấy Sương chào lại cái gật đầu của chàng.
– Vâng, tôi có mình nó thôi.
Lão Mục âu yếm nhìn con, chợt cằn nhằn:
– Ấy, áo con rách hồi nào thế?
Lão lật tay áo Sương nhìn vết rách dài nơi cổ tay, ngẫm nghĩ:
– Lại bị cái gì móc vào rồi, may không sướt vào tay đấy
Sương “dạ” nhỏ, dường như không quan tâm lắm đến lời phê bình của cha. Lão Mục lại nói:
– Chắc cũng sắp đến bờ đấy thôi. Để bố khâu lại cho nhé.
Hải suýt phì cười. Ai đời con gái lớn thế mà con để bố khâu áo cho. Nhưng Sương thản nhiên nghe bố nói, nàng hơi mỉm cười với Hải rồi lại tì người vào mạn thuyền nhìn ra biển. Mặt trời đã lên cao, thuyền êm ả lướt. Hải có cảm tưởng mình đang tham dự một chuyến du lịch. Lão Mục vào cầm lái thay Dũng, dặn:
– Con đứng đây chơi nhé.
Chờ lão Mục đi, Hải cười nhỏ:
– Bố cưng Sương quá nhỉ!
Sương đáp:
– Bố chỉ có mình em thôi mà.
Nàng nhìn chân trời không chớp. Ánh nắng soi lên khuôn mặt rám hồng của nàng rực rỡ. Một lúc, mồ hôi bắt đầu đọng trên trán Hải, lăn xuống mắt cay sè. Trong phút chốc, Hải hình dung hình ảnh Thu đang bế thằng Quỳnh đứng trước cửa nhà, đôi mắt nàng dõi trông ngóng đợi tin chồng. Rồi Hải lại tưởng ra dáng mẹ chàng đang quỳ gối lẩm nhẩm đọc kinh. Hình ảnh của vợ con, mẹ già, chập chờn theo sóng nước lăn từ thân thuyền, có lúc như chạy theo chàng, có lúc như đứng lại nhìn theo chới với. Cái khoảng cách vô cùng từ nơi Hải đang đứng, hải phận quốc tế – Ô! Mình đang ở một nơi gọi là quốc tế rồi đến mái nhà thật rất đỗi xa lắc xa lơ trong lòng Hải. biết đến thuở nào chàng lại được dầm mình trong cơn mưa bấc lạnh, trở về trong buổi chiều buông nào đó, và tâm thức thật an bình với bản trường ca đang dậy trong hồn.
Cơn thao thức theo Hải đi vào giấc ngủ. Buổi chiều, hoàng hôn thấm đỏ màu máu tươi. Rồi màu đó tắt đi chầm chậm trả cho bóng tối quyền ngự trị. Thuyền trôi, tiếng máy nghe chừng như mỏi mệt. Đột nhiên, tiếng báo động của Dũng vang lên:
– Có ánh đèn.
Lão Mục hét:
– Giảm tốc độ. Neo thuyền!
Động cơ rú lên một tiếng nổ bình bịch cầm chừng, có người góp ý:
– Thấy đèn rồi thì chạy tới luôn đi. Neo làm gì.
– Ừ, phải rồi. Đến Trung Quốc rồi đấy.
– Thích nhỉ.
– Hoan hô đồng chí Trung Quốc vĩ đại.
Dũng lên tiếng trấn an:
– Bà con bình tĩnh. Ta neo đêm nay sáng mai đi tiếp ngộ nhỡ đụng phải đá ngầm là tan xác đấy.

Google images

Tiếng ồn ào giảm dần. Hẳn tất cả đang chuẩn bị tinh thần cho cuộc đổ bộ ngày mai khi bàn chân giẫm lên xứ lạ. Quê hương xa lắc.
Tờ mờ sáng, thuyền nhích lại gần bờ hơn. Hải đã có thể nom rõ những thuyền tôm của người Trung Quốc đậu ven bờ san sát. Dũng bàn với lão Mục:
– Ông đợi ở đây, để cháu bơi vào bờ xem hư thực ra sao.
Lão Mục cản:
– Khoan đã, vùng Trà Cổ rất giống đất Trung Quốc. Ngộ nhỡ gặp lính biên phòng của ta thì khốn.
Lão Mục cho thuyền chạy dọc theo bờ quan sát. Hải ngạc nhiên khi thấy ngư phủ Trung Quốc thản nhiên kéo lưới dù đã nhìn thấy thuyền vượt biển. Chàng cứ nghĩ là họ sẽ nhào ra đón tiếp nồng nhiệt con thuyền đang tìm bến đỗ. Nhưng không, sự thờ ơ và những cái nhìn cúi mặt né tránh của dân chài khiến tất cả bàng hoàng sợ hãi, không biết điều gì đang chờ đón. Chừng hai tiếng sau, lão Mục quyết định:
– Neo thuyền, chuẩn bị vào bờ.
Hải áng chừng từ chỗ thuyền neo đến đất liền khoảng 100 mét nước. Chàng nói với Dũng:
– Đàn bà trẻ con thế kia!
Dũng ra lệnh:
– Tất cả trẻ con cho lên vai để kiệu, cõng đàn bà để đưa vào bờ.
Những khuôn mặt bỗng xạm đi hồi hộp. Không ai nói với ai một lời nào trước giây khắc đặt chân lên đất lạ. Thì ra là xuất ngoại. Thì ra là xa quê xa nước. Chính là giây phút nầy đây. Hải nhảy xuống nước, hai tay bám vào mạn thuyền lấy thế cho vững. Cũng may mực nước đã nông, chỉ ngang tầm cổ của người đàn ông trung bình. Chàng hối bé Ngọc đang trù trừ chưa chịu bám vào cổ:
– Con bỏ cái cẳng xuống trước. Thế…thế…
Chợt Hải nghe một tiếng “bõm” khiến chàng giật thót người tưởng bé Ngọc hụt chân. Thì ra là một người đàn ông đang hấp tấp phóng xuống, hì hục lội vào bờ. Ở phía sau, tiếng Dũng ơi ới:
– Ế, anh kia, cõng giùm cháu bé này.
Người đàn ông lẩm bẩm:
– Cọng gì, có phại con tui mô.
Có lẽ Dũng không nghe giọng trọ trẹ của gã đàn ông. Anh vỗ về đứa bé:
– Để chú cõng cháu vào nhé. Nín đi nào.
Hai tay bé Ngọc đã nắm chặt tóc Hải, chàng vòng tay ngược ra sau ôm con, ngước mặt nói:
– Giữ chặt nhé…đấy…đâu có sao nào.
Đến bờ, Hải lảo đảo té uỵch xuống. Dũng nói:
– Ấy, say đất đấy. Nghỉ một chốc lại khỏe ngay.
Đất Trung Quốc! Những dãy núi mờ xa xa kia ẩn một điều gì bí mật nhưng trong có vẻ gần gụi quá. Trời đang trở tiết sang xuân, tưởng như mùa xuân hiện vào lòng, nở trên một chặng đường gian khó. Phía xa, sau những rặng cây già rũ lá, những mái nhà nho nhỏ hiền lành hướng ra biển đợi trông người đến. Một tốp người đầu đội nón lá đang cào muối trên bờ. Đàn ông đàn bà đều đội nón đan bằng tranh, nhưng viền nón dài cụp xuống che ngang tầm mắt, khi nhìn họ, Hải có cảm tưởng đây là những nhân vật bí mật trong truyện kiếm hiệp vì khuôn mặt của họ chỉ chừa từ sóng mũi trở xuống. Dù thế, Hải chắc là bọn người cào muối đang theo dõi đoàn người mới đến, những cái cào muối đã ngưng đưa tới đưa lui, chờ đợi. Im lặng. Chỉ có tiếng xào xạc rón rén của những bàn chân dè dặt trên cát. Hải đại diện nói, bằng thứ tiếng Quảng Đông “ăn đong” của mình:
– Lạy chú, cho các cháu nhỏ ít cháo ăn đỡ lòng.
Người đàn ông giơ ngón tay đẩy chiếc nón lên, tựa cằm vào cán cào. Khuôn mặt ông ta rám nắng, khắc khổ. Cả bộ quần áo lấm tấm màu trắng muối.

Google images

Ông ta đang ngần ngừ thì đột nhiên cả đám người đằng sau đưa cào lên chỉ ra phía biển, ra dấu đã hiểu xuất xứ của đoàn người vượt biển. Họ nhao lên:
– Cai chỉ, cai chỉ? (có nhẫn vàng không?)
Đoàn người mới đến nhìn nhau phân vân. Chợt có tiếng Sương vang lên nhỏ nhẹ:
– Gì thế bố?
Lão Mục nói:
– Họ đòi vàng.
– Ai cơ bố?
Vừa lúc đó đám người Trung Quốc bỗng tản ra, rồi người nào người nấy cắm cúi làm việc như không hề biết có đoàn người mới tới. Hải ngạc nhiên chưa biết chuyện gì xảy ra thì từ đằng xa, một tốp công an Trung Quốc xuất hiện. Trong chốc lát họ bao vây toán Hải. Một người áng chừng là chỉ huy hỏi:
– Ai nói được tiếng Quảng Đông?
Một bà mập nhanh nhẩu:
– Ngộ nè, ngộ nói được.
Viên chỉ huy ra lệnh sắp hàng hai, đếm tới đếm lui số người rồi bảo:
– Xong rồi, mấy nị xuống thuyền đi tiếp đi.
Hải chưng hửng tưởng mình nghe lộn. Có đâu là một sự lạnh nhạt phũ phàng như vậy. Người ta phải reo hò đón tiếp mới phải chứ. Hải nói:
– Chúng tôi là tỵ nạn Việt Nam. Chúng tôi xin các anh giúp đỡ cho mua tí đồ cần thiết rồi sẽ khởi hành đi tiếp đến Hồng Kông. Các anh trông…
Viên chỉ huy ngắt lời:
– Các anh ở đây chúng tôi không chịu trách nhiệm, với lại chúng tôi không có thẩm quyền giúp đỡ. Đến thị trấn kế các anh sẽ được giúp đỡ đi tiếp.
Mọi người đều căng thẳng. Có một người mệt quá ngồi phịch xuống cát, ý muốn nằm vạ. Viên chỉ huy ra hiệu, mấy gã công an khác lập tức nhào tới, xốc nách những người ngồi ỳ áp tải xuống…nước. Không một ai chống cự. Họ chán nản buông xuôi. Dũng hét lớn, gió đưa tiếng nói anh vang vang cuối trời:
– Đi thôi bà con. Thuyền ta còn tốt.
Hải đến cạnh viên chỉ huy hỏi:
– Trước khi đi, tôi muốn biết đây là đâu?
Viên chỉ huy nghiêm nghị nhìn Hải:
– Thị trấn Xương Giang, Hải Nam.
Hải “à” lên tiếng nhỏ ngạc nhiên. Ra là thuyền đã đi chệch ra đảo Hải Nam, vậy mà cả bọn đều nghĩ đang ở đại lục. Chàng bế xốc bé Ngọc cho ngồi lên cổ, chậm rãi lội ra thuyền. Một chiếc thuyền công an vũ trang bỗng xuất hiện cặp sát thuyền vượt biên, những bóng người nhảy qua thuyền lục soát. Khi Hải vừa đẩy được bé Ngọc lên thì họ đã làm xong nhiệm vụ. Có gã còn cúi xuống lôi hộ những người yếu sức. Công an lại đếm số người, báo cáo với viên chỉ huy trong bờ trước khi cho thuyền chạy. Dũng cầm lái, lẩm bẩm chửi:
– Biết thế vào làm gì. Mà sao họ lại đếm kỹ thế hả ông?
Lão Mục đứng bên cạnh, mắt vẫn dõi trông vào bờ. Nắng trưa đổ một màu trắng xuống một bờ đảo Trung Quốc y như một giải đất nào đó mà lão đã trở về trong một lần nào đó ở quê Bắc. Cũng là màu trắng lung linh thơm mùi biển. Cũng những chấm người lù khù trên cát. Rồi những mái nhà cũ sì kiên nhẫn chờ sau những tàn cây. Lão nhảy lên bãi, đi ngược lên dốc dựng ngược, đếm một lối đất nhỏ dẫn về làng, trìu mến ngó con chó đang trằn lưng trên bãi cát rửng mỡ. Xóm làng của lão vẫn nhẫn nhịn mỗi lần lão đi biển về. Lão yêu nó lắm. Lão yêu cái lối nhỏ về làng không kể sao cho xiết. Những mối tình thơ dại vẫn đọng trên dấu chân hằn trên cát bỏng, in trên đất khô, và như có cả mùi gì ấy phưng phức trong gió nữa. Ấy vậy mà lão lại bỏ đi, đôi bàn tay cứng tạo dựng một đời giờ chỉ còn là những cục u nhức nhối. Những cục u quá vãng.

Google images

– Hở ông?
Dũng hỏi lại, tưởng lão Mục không nghe.
– Họ sợ có người trốn theo mình đấy.
Nắng đổ đầy thuyền, vương trên tóc, nắng loáng cả chân trời, sóng sánh như làn nước mắt nức nở của người vợ hiền xa xăm khuất nẻo. Hai tròng mắt trắng dã, uất ức ngước nhìn bầu trời đen thẳm những hình thù ma quái, và những rách rưới từ tím thẫm tâm can ứa tràn hai bên miệng, nghẹn ngào. Lão đổ ập trên xác vợ, người khô khốc, không có tiếng nấc nào vang lên trong lão. Thế là hết…một đời. Vợ lão là con người cô độc. Một bận, dè chừng sắp đến ngày sinh nở, lão về đến nhà thì đứa con gái đã ra đời. Vợ lão nằm trên chõng tre, một lò than ngun ngún đỏ bên dưới. Lão ngồi xuống, vuốt đầu đứa bé, rồi cứ thế lặng yên. Người đàn bà vừa làm mẹ giương đôi mắt thao láo nhìn lão, nước mắt lã chã tuôn. Sự cân nín bẩm sinh của người đàn bà đã dẫn lão lại gần, và cũng chính nỗi câm nín ấy lần nữa đẩy lão đi, như một trò chơi ú tim ma quái, vừa thiết tha vừa lạnh nhạt, vừa dung dị vừa lãng mạn. Bây giờ thì người đàn bà đã toại nguyện, đã hoàn toàn câm nín dưới ba lớp đất đen nín lặng, muôn đời…
– Tao đái cho bõ ghé..ét!
Một giọng nói ở cuối thuyền. Rồi nghe tiếng nước chảy tồ tồ. Gã con trai tinh nghịch day mặt về hướng đất liền, vén quần. Có tiếng cười khúc khích đồng lõa của mấy bà trong khoang. Rồi như một thứ bệnh dịch, tiếng cười lan nhanh khắp cả thuyền. Cả Sương cũng chúm chím, cổ vũ một trò chơi thời thơ dại. Dũng vừa lái, vừa nhìn lui lắc đầu:
– Cái thằng, cứ làm mình nhớ hồi đi học, ghét ông thầy nào là thế nào cũng tìm cách tưới vào nhà ông ta.
Hải góp chuyện, mắt nheo lại vì ánh nắng. Cái bóng lão Mục đứng đầu mũi in sắc trên bầu trời xanh lơ.
– Ấy, ai bảo ông là kẻ đàng hoàng tử tế đâu nào.
Hải có cảm giác an bình. Chàng hình dung chẳng mấy chốc sẽ vượt qua eo biển Lôi Châu, rồi cứ thế dọc theo bờ mà đến Hồng Kông. Cuộc đời sẽ mở ngõ ở đấy, bao ước vọng sẽ tuôn ra, lao vun vút theo tiếng gọi mơ hồ từ những phương trời xa thẳm.
Bầu trời đã sang màu tím thẫm. Những cụm mây lặng đứng sẫm đặc như một rừng hoa sim tím nghẹn ngào. Hoa sim in trên nước, rung rinh từng cánh nhỏ xô vào bờ. Những kiếp người trùng trùng theo nhau, tựa như cảnh sống ngày hôm nay đã có từ muôn kiếp trước. Tất cả với tâm hồn ngưng đọng, đi tìm những huyễn tượng không bao giờ hiện hữu, bị thúc giục bởi chính những dục vọng ẩn kín trong ngách ngõ linh hồn mà tưởng là điều gì cao vời vợi, xô đẩy nhau lăn về phía trước. Phía con người. Chỉ có hoàng hôn bàng hoàng. Một hoàng hôn tím sẫm. Tím vô cùng. Không có tự do. Không có con người. chỉ có một màu tím thuở hoang sơ, đổ dần xuống, đổ dần xuống, nhọn như một mũi dao cắt, đâm vỡ những vết thương đau nhức mang theo từ dặm cũ.
Hải ngồi yên lặng như thế sau đuôi thuyền cho đến khi cả không gian tím ngắt màu tối. Bé Ngọc say sưa ngủ trong lòng, hai hàng mi nhắm nghiền, một bình an trông thấy. Chàng nhìn hộ con những vì sao sóng sánh nước loi ngoi giữa muôn trùng cô độc. Những giọt nước đang rỏ xuống đời chàng đang bập bềnh trên sóng, đã rỏ xuống những đêm ở quê hương ngửa mình trên bãi cỏ cùng người tình thi đếm những vì sao.
Hải có một đêm nồng hương đất.
Người con gái ngả đầu lên cánh tay Hải, nghiêng mặt lắng nghe chàng đang hồi tưởng một quãng đời xanh ngắt thơ ấu. Nàng cười rung rúc, vuốt ve bộ ngực căng phồng sức sống của người yêu. Hải kể đến bài học về tên các vì sao định hướng, dẫn dắt người thủy thủ đi đúng nẻo đường, dẫn tới một tương lai ước định. Chàng miên man tưởng tượng thay nàng những cõi trời xa thẳm. Nàng dụi mặt vào cổ chàng. Mùi lúa chín ngào ngạt khiến Hải ngây ngất. Chàng chưa bao giờ sung sướng như thế.

Google images

Nàng là cô giáo trẻ mới ra trường với những ước mơ dung dị như đồng cỏ, như hương lúa, như màu tím bông cà mượt vườn sau. Chàng chợt dấy lên sự thèm muốn, tuổi trẻ nung nấu trong lòng như bếp lửa ngày xuân, hừng hực, hừng hực… Chàng siết chặt thân hình mảnh mai của nàng, tê dại. Hạnh phúc thật gần, trong tầm tay. Chàng chưa nếm thử vị ngọt của tình yêu, đầu đời, bao giờ, mãi mãi.
Một tia sáng mơ hồ đâu đó hắt vào mặt khiến Hải nhắm mắt lại, lắc lắc đầu. Dĩ vãng tan đi.
– Đến đâu nữa?
Có tiếng càu nhàu. Trong đêm tối, mọi cặp mắt đều giương lên ngó vào bờ rưng rưng những ngọn đèn vàng. Hải nghe giọng Dũng nói với lão Mục:
– Ông coi thuyền để con vào bờ tham quan thử. Một chập, cái bóng đen thui thủi của Dũng phóng ùm xuống nước. Cả thuyền im lặng hồi hộp chờ Dũng mang tin về. Thuyền neo. Sóng êm ả vỗ bành bạch vào thuyền, mơn man những dịu dàng ru ngủ. Những vì sao nức nở gọi sầu.
Nàng cuồng nhiệt hưởng ứng. Nhưng khi bàn tay Hải vừa cởi tung hàng nút áo thì nàng đẩy ra, năn nỉ:
– Anh Hải, mình chưa cưới. Em…
Hải nói, hơi thở nóng bỏng:
– Thì mình sẽ cưới. Thu… Anh yêu em…
Thu để yên cho Hải hôn lên ngực, rồi dứt khoát đẩy bật Hải ra, van vỉ:
– Anh…đừng…Không còn bao lâu nữa…
Người Hải muốn nổ tung trong cơn thèm muốn. Chàng tự nhủ, ừ, chẳng còn bao lâu nữa. Chàng nhìn Thu cài lại khuy áo, gò ngực trắng nõn của nàng phập phồng phơi ra từ chút ánh sáng mơ hồ nào đấy chẳng còn bao lâu nữa chàng sẽ theo đoàn đi biểu diễn cho các chiến sĩ đang đồn trú ở biên giới, chàng sẽ phải bóp óc cho lòi ra dăm bài ca chống bành trướng, ca ngợi hình ảnh hào hùng của bộ đội ở tuyến đầu. Chàng sẽ về lại thành, sẽ chung sống đời đời với Thu. Nào có bao lâu nữa mà nôn nả.
Hải đi qua những bản làng xơ xác. Cuộc tấn công chớp nhoáng của bộ đội Trung Quốc đã cày nát những thôn xóm yên lành suốt những năm dài của cuộc chiến tranh giải phóng. Vài con chó đói sủa ăng ẳng khi ngửi hơi người, cuống quýt chui đầu vào bụi chuối lòi ra xương đít còm cõi. Những buổi chiều ánh dương tàn trên rừng tím sẫm, xào xạc khúc ai điếu những giọng sầu hoang dã. Trong lòng Hải chẳng dậy lên một nỗi căm thù nào như những lời ca mà chính Hải, và đồng nghiệp của chàng, vẫn bắt bỏ vào sáng tác của mình. Có lẽ khi người ta lặp đi lặp lại hoài một lời ngữ thì ý nghĩa ban đầu của nó không còn nguyên vẹn nữa. Có lẽ cuộc chiến này không nhắm vào những người như Hải như những con chó đang đút đầu vào bụi chuối ngây ngô chổng mông ra ngoài.
Rồi Hải về. Mùa thu lại tắm đẫm sương đêm. Nhưng mùa thu không còn là mùa thu, lá không rụng để nuôi mầm nhú. Thu nói, mặt cúi gầm:
– Anh tha lỗi cho em!
Lòng Hải sung sướng. Hẳn Thu phải nhớ nhung nhiều lắm nên mới vò võ xanh xao đến thế. Chàng sẽ xin cưới nàng, chàng sẽ sáng tác một tình khúc thực sự ca ngợi tình yêu, chàng sẽ…
– Em không đáng…
– Anh không hiểu?
Thu bật khóc. Một chiều sau giờ tan học, Thu lúi húi sắp xếp đồ đạc chuẩn bị ra về thì bỗng dưng nàng có cảm giác đang bị nhìn trộm. Một bóng đen vụt qua cửa sổ đứng choáng ngay cửa lớp. Lão hiệu trưởng.
– Cô giáo về trễ thế.
Thu thủ thế:
– Đồng chí cũng chưa về cơ à.

Google images

Lão hiệu trưởng cười híp mắt. Thu trong phút bối rối khi đối đầu với lão hiệu trưởng trong cảnh trường vắng vẻ, đỏ bừng mặt. Khóe mắt nàng long lanh ướt rượt khiến lão ngây ngất. Nàng la lên khi thấy lão hiệu trưởng khép cửa:
– Đồng chí làm gì thế?
– Chiều anh tí mà.
Lão hiệu trưởng xông lại, hùng hổ như con hổ đói vồ mồi. Lão cười sằng sặc điên dại, bàn tay chuối mắm xòe ra đè vật Thu xuống, thân hình lão tong teo nhưng mạnh như khối sắt nguội mặc cho Thu la gào, quẫy đạp. Lão hào hễn:
– Anh sẽ…anh sẽ…
Nước mắt Thu ứa ra khi một tay lão đè nghẹt trên cổ, nàng sắp ngất đi. Nếu biết, nếu biết…Hải! Nàng đã làm ô uế nơi thiên đường thánh thiện, ngay trước bảng phấn rao giảng luân thường.
Hải lặng im nghe Thu nói. Đôi mắt chàng hắt ra tia hằn học. Thu sợ hãi níu tay Hải:
– Anh…
Nàng ôm mặt khóc nức nở. Hải đã nằm dài trên cỏ, những thớ thịt giựt giựt. Lòng quặn thắt. Có gì đâu, có gì đâu. Nếu cái đêm hôm đó… nhưng ích gì. Ừ, Thu vẫn yêu chàng. Thế là đủ. Những vì sao ngắc ngoải ứa tràn, sóng sánh màu nước vỡ. Hương lúa vẫn ngạt ngào nồng thắm, hương lúa của ngày xưa…
Hải cúi xuống ngắm bé Ngọc say ngủ. Một chân chàng tê dại vì thân hình đứa bé đè lên. Chàng đau nhức tự hỏi không biết Ngọc có phải con mình. Không, ai cũng bảo nó có mái tóc dầy nghệ sỹ như chàng, còn vầng trán phẳng phiu của bà nội. Nó phải là kết tinh tình yêu trung hậu giữa chàng và Thu. Hẳn là như vậy.
Giọng lão Mục gắt nhẹ ở đầu thuyền:
– Cẩn thận nghe. Nó tóm thì khổ.
Hai thanh niên đang chuồi mình xuống nước, lẻn lên bờ thám thính. Trời đã về khuya. Cơn sốt ruột của những người còn trên thuyền giảm dần. Đã có tiếng ngáy ngủ. Hải cũng ngả người dựa vào be thuyền, mơ màng một vì sao xa thăm thẳm.


Đường phía Bắc

Lê Đại Lãng

Post by Sơn râu 6 May 2024

2. Phần 2
Thu xuống ô tô thì trời đã chạng vạng tối. Thằng Quỳnh mê mệt trên tay nàng suốt tuyến đường cũng tỉnh ngủ, khóc y ỷ mệt nhọc, trán và lưng nó rịn mồ hôi nhơn nhớt dù đang mùa rét cuối năm. Thu quấn con trong tấm áo choàng bằng ni-lông, nàng ngập ngừng không biết có nên theo đoàn người xô đẩy nhau đi chuyến phà cuối trong ngày, hay trở lại tuyến đường vừa đi qua. Thằng Quỳnh đang lên cơn sốt. Thu cảm được hơi nóng hừng hực thoát ra từ bộ ngực lép kẹp của nó truyền qua người mình. Nàng biết qua tới bên kia chỉ có làng xóm nghèo nàn khó tìm được một chỗ tử tế cho ngủ nhờ, rồi còn phải theo xe đi cho kịp tới chỗ hẹn với Hải. Lòng nóng như lửa, Thu ôm con đi tới đi lui chưa biết phải quyết định thế nào thì có tiếng gọi:
– Này, xuống đi kẻo nhỡ phà chứ!
Một người đàn bà rảo bước, gọi. Bà ta gánh hai thúng đồ, chân bước thoăn thoắt. Thu gật đầu tỏ ý đã nghe, rồi sợ bị để ý, nàng làm bộ đi theo người đàn bà. Đến đầu cầu tầu, nàng quay ngược trở lại, leo lên chiếc ô tô từ bên kia bờ vừa được phà chở sang. Tài xế đang hối khách chất hàng lên xe vì trời đã tối, nhìn mặt biết ngay Thu không phải là khách đi từ bên kia sông sang, liền cự:
– Chị nầy, xe chật rồi. Ở đâu tới?
Hành khách tò mò ngó mẹ con Thu. Nàng đỏ mặt, lí nhí:
– Bác thương tình, cháu nó bệnh phải đưa về nhà gấp. Bác cho mẹ con cháu…
– Ngồi trên sàn, đưa tiền đủ.
Thu vui mừng rút ví trả tiền. Nàng khéo léo tìm chỗ ngồi, vừa vỗ lưng con vừa nghĩ tới Hải. Nàng chắc giờ này Hải đang trên đường từ Hải Phòng xuống, hoặc chàng đang chắc mẩm là Thu đã có mặt tại nhà Cường chờ chàng để tối mai cùng tập kết ra bãi. Thu nóng ruột muốn bay về nhà ngay để thằng Quỳnh nghỉ, sáng sớm mai sẽ dắt con đi cho kịp. Giao bé Ngọc cho Hải, Thu thấy không yên lòng, không phải vì Thu sợ chàng không lo cho con đầy đủ mà bởi vì nàng, với sự tự tin tuyệt đối của người mẹ, cho là không có ai trên đời này có thể chăm sóc con chu đáo hơn mình. Thu lại nghĩ nếu bé Ngọc ốm như thằng Quỳnh, thì chắc chắn Hải cũng bất chấp mà đi cho tới chốn. Nàng biết tính Hải tuy hiền lành nhưng liều lĩnh, huống gì chàng đang bị săn đuổi đến tận chân tường. Nàng hình dung vầng trán của Hải cau lại, đôi mắt hiền từ của chàng đọng tia buồn khi nghe nàng chưa tới điểm hẹn, rồi bé Ngọc trăn trở rấm rức. Lòng nàng thổn thức.
Xuống xe, Thu đi một mạch về nhà. Mẹ Hải đang trằn trọc lo lắng, thấy con dâu bồng cháu nội trở về thình lình, cụ chưng hửng, vừa mừng vừa sợ:
– Sao thế? Thằng Hải đâu? Cháu bà sao thế nầy?
Cụ dằn thằng Quỳnh từ tay Thu, giẫy nẩy:
– Nó lại ốm? Cơ khổ cháu tôi!
Cụ bồng cháu, hối hả đi bắt cháo, vừa nghe Thu kể chuyện, cụ ngắt lời:
– Con tính thế là phải. Đi mà bỏ xác dọc đường à.

Google images

Thu cảm động nghe mẹ chồng nói. Từ ngày về với Hải, nàng không phải làm dâu một ngày. Mọi việc bà cụ đều lo toan quán xuyến. Cụ chỉ có mình Hải, ông cụ chết nhục nhã từ thời cải cách ruộng đất, lúc đó Hải còn nằm ngửa, thời xuân sắc của bà cụ trôi qua thê thiết. Cụ phải ẵm con trốn qua làng khác, không kịp thắp một nén nhang trên ngôi mộ của người chồng chết oan khiên. Cụ ở vậy nuôi Hải lớn lên bằng tất cả sự nhục nhằn của người mẹ, quyết không bước thêm một bước nữa. Hải cũng được ăn học, đỗ vào trường Âm nhạc, ra trường theo đoàn ca múa lưu diễn khắp nơi để kiếm sống. Cụ tưởng vậy đã mãn nguyện lắm rồi, chỉ chờ ngày xuôi tay nhắm mắt đi gặp cụ ông. Phận làm mẹ của cụ đã mãn, phận làm vợ đã tròn thủy chung. Khi biết một lý do nào đó Hải bị cho nghỉ việc, rồi bị cảnh sát lùng bắt, cụ lo lắng nhưng hài lòng vì hình ảnh chồng bỗng sống lại mãnh liệt nơi đứa con độc. Ừ, há bố nó chả từng ba lô trên vai lên đồi xuống lũng là gì! Hải đã làm tròn phận sự làm con, sinh cho cụ hai đứa cháu kháu khỉnh (cái thằng Quỳnh còn nhỏ mà đã giống tạc ông nội), cụ hài lòng lắm. Bây giờ, chúng nó tính bỏ cả nước mà đi, cái chuyện này thiệt ngoài sức nghĩ của cụ. Cụ làm mặt tỉnh bảo Hải, hôm chàng về chào mẹ:
– Ừ, thì giờ mẹ chịu, trông cả vào các anh thôi.
Cụ đau đớn nhìn vợ chồng Hải trước sau có một ngày bế lẽ sống duy nhất của cụ ra đi. Trong lòng cụ dấy lên sự mâu thuẫn: vừa muốn con cháu đi lọt cho yên thân chúng nó, vừa muốn vì một lẽ gì đó chúng nó an toàn quay trở về. Trong tâm trạng ấy, thử hỏi cụ không sung sướng khi thấy Thu bế thằng Quỳnh về sao được.
Cho con ăn uống, tắm rửa xong, Thu đi ngủ. Nàng trằn trọc trông thằng Quỳnh chóng hạ sốt để sớm mai lên đường. Phía bên kia bức màn, mẹ Hải ư ử ru cháu, tiếng ru buồn như tiếng mõ khuya hôm. Nằm một chập, Thu nhổm dậy, thắp đèn để lên bàn, tẩn mẩn lục lại mớ giấy nháp Hải viết nhạc. Nàng có cảm tưởng là Hải còn luẩn quẩn đâu đây. Những nốt nhạc thẳng cứng bỗng như hiện hồn bốc thành giai điệu day dứt toát từ cây vĩ cầm của Hải. Một chập, Thu gục xuống bàn, chập chùng hình dáng chồng trong bao la đại dương.
Sáng hôm sau, Thu tỉnh giấc vì một tiếng động nhỏ trên bàn. Mẹ Hải đang rót chè ra tách, khuôn mặt cụ hốc hác:
– Nó cứ sốt con ạ, biết tính làm sao.
Thu dụi mắt, nàng ái ngại vì suốt đêm đã ngủ thẳng giấc phó mặc thằng bé cho bà cụ. Thu nói
– Chắc nó lên sởi đấy, ít hôm là khỏi thôi mẹ.
Bà cụ bảo:
– Mẹ cũng nghĩ thế. Nhưng thế thì con đi làm sao được?
Thu lưỡng lự không biết tính sao. Nàng ra sân, tần ngần bên lu nước. Tiếng thằng Quỳnh khóc, nhai nhẳng. Tiếng khóc của con bỗng giúp Thu quyết định, nàng nói vọng vào:
– Hay cứ để bố con anh ấy đi trước thôi, mẹ ạ.
Bà cụ cũng đang nghĩ thế, nghe con dâu nói giống ý mình, cụ gật đầu:
– Chỉ sợ…thôi, phó mặc số trời.
Ừ, thì Đảng định nhưng trời tính. Nàng ngồi ghé lên mép giường, mân mê cọng chiếu lò thò trên đường chỉ sút. Cả nhà, chỉ cái giường ba-xà nầy là vật có giá. Hải đã chạy vạy tranh thủ lắm mới mua được cái giường quốc doanh hồi mới đẻ con bé Ngọc. Nàng đỏ mặt nhớ hôm Hải đem cái giường về, lui cui tìm chỗ đặt giường, rồi đùa bảo vợ:
– Cái giường nầy mới là…giường tân hôn thứ thiệt.
Từ ngày cưới, vợ chồng Hải chỉ ngủ trên chiếc giường tre kẽo kẹt. Một cái giường ba-xà vẫn là ước mơ thầm kín của hai vợ chồng, bởi nó vừa chắc, lại không bao giờ có tiếng ọp ẹp nghe mà đỏ mặt. Thằng Quỳnh là sản phẩm đầu tiên của cái giường này, đúng như “lời hứa” của Hải. Chàng bảo vợ, khi ấy Thu đang mang thai thằng Quỳnh:
– Nhà nước ta cái gì cũng tệ, duy có làm cái giường là tốt. Đó, em thấy không, thảo nào dân số nước mình không tăng.

Google images

Thu nhéo vào đùi Hải, gắt yêu: “Làm bố rồi mà không đứng đắn cho con nó cười cho đấy”. Thời gian cứ vùn vụt trôi qua, hạnh phúc trôi theo mau vóc dáng ngày mỗi cứng cáp của thằng Quỳnh. Thu biết Hải sẽ đi, sẽ không chờ mẹ con nàng vì chàng hết cả lối về rồi. Nàng sẽ cô đơn trên chiếc giường kỷ niệm, trên cái gia sản quý báu mà cả một đời chàng mới để lại được. Nước mắt Thu chảy dài, đổ xuống cái đầu đen nhánh tóc của thằng Quỳnh.
Sáng ấy, nhà có khách. Khách đứng lâu lắm trước ngõ, ngắm Thu đang ngồi day lưng đun nước nấu chè. Tấm lưng dài thon thả của mẫu người thắt đáy lưng ong khiến lòng khách bỗng xao xuyến, tần ngần. Chừng như thấy cứ đứng mãi như thế bất tiện quá, khách đằng hắng, giọng nói không giấu được vẻ rụt rè:
– Chị Thu…vậy mà tôi cứ tưởng.
Thu nhận ra Cường ngay. Đôi má hồng lửa đỏ của nàng càng làm long lanh ánh mắt khi biết có tin chồng. Thu hối Cường lên nhà trên, đun thêm củi cho nước mau sôi rồi chế vô bình. Nàng hối bà cụ dậy, ríu rít:
– Có anh Cường đem tin chồng con đấy, mẹ.
Cường vui lây cái xoắn xuýt của bà cụ. Anh chậm rãi nói:
– Trước khi anh Hải lên thuyền, có dặn tôi tìm cách đưa chị đi. Thiệt là may quá.
Thu hỏi:
– Anh bảo “tôi cứ tưởng” là sao?
– Không thấy chị và cháu xuống, anh Dũng tôi đoán có lẽ chị bị bắt trên đường, may không phải thế!
Bà cụ chen vô:
– Anh nó tính đưa mẹ con thằng Quỳnh đi luôn à?
– Dạ, đó là ý anh Hải. Cháu đã chuẩn bị hết cả rồi, chỉ đưa chị và cháu xuống bãi tập kết là nhổ neo ngay.
– Thế đã có tin gì của nhà tôi chưa?
– Dạ chưa, nhưng thế nào mà chả lọt, bị bắt là ta biết ngay.
Cường ung dung uống trà, thái độ có vẻ tự tin trước trạng huống nhiều bất trắc đang chờ trước mặt. Anh lặng lẽ ngắm Thu, thầm khen sắc đẹp kín đáo mà mặn mà của nàng. Tóc thu cắt ngắn, sóng mũi thẳng khiến khuôn mặt nàng có vẻ gì mơi mới sang trọng dù chiếc áo đang mặc đã cũ sờn. Mỗi lần xoay qua phía bà cụ nói chuyện, nàng để lộ cái cổ trần phơn phớt lông măng. Cường bỗng có ý nghĩ là Hải phải gặp điều gì khó khăn lắm trong cuộc sống, chứ không dễ gì một người đa cảm như Hải lại dễ dàng để người vợ trẻ đẹp ở lại mà ra đi một mình.
Tám giờ tối, Thu bồng thằng Quỳnh đổ bộ xuống con thuyền chiều dài bốn mét, chiều ngang một mét rưỡi. Trời mưa phùn buồn bã, gió lồng lộng thổi tưởng chừng trong giây lát cánh buồm có thể rách nát như tờ giấy mục ngâm trong nước. Thu hoảng sợ khi đặt chân lên thuyền, áo quần nàng thấm ướt nước biển vì phải lội một quãng ngắn, nàng cảm thấy cổ khô đắng như đi giữa ngày tháng hạ dù trời đang mưa. Cả thuyền đều im lặng, đến trẻ con cũng câm miệng hến, nín thin thít. Bầu trời vần vũ khiến có người muốn đổi ý, trèo xuống thuyền không đi nữa. Nhưng Cường không để những tư tưởng thụ động kịp thời hành động, anh căng buồm chạy. Ngoài Cường là tài công chính, trên thuyền còn có Đặng cũng rất có kinh nghiệm về đường biển. Hai người thay nhau lái, lòng tràn ngập lo sợ. Họ không sợ sóng dữ vì đã tiên liệu được thời tiết, họ chỉ lo ngại bị chận bắt bất ngờ. Gần hai tiếng đi trong mưa, cả Cường và Đặng đều bắt đầu thấy hai hòn Đầu Tán và Đảo Tần, nơi có bộ đội tuần biển rất gắt. Họ đưa thuyền đi vào giữa hai hòn núi, êm ái như bóng ma xuyên lách trên đại dương. Có lẽ thời tiết xấu nên không gặp một tàu tuần duyên nào cả. Đặng lên tiếng:
– Trời sắp nổi cơn cố ông ạ.
– Sao ông biết?

Google images

– Theo kinh nghiệm đi biển, lát nữa trời sẽ tối đen như mực, gió cỡ cấp 9 chứ chẳng chơi.
– Tìm chỗ núp à?
– Núp ngay. Thuyền ta bé quá.
Cường tán thành. Anh cho thuyền bỏ xa một quãng nữa, rồi quay đầu nhắm hướng đảo Yên Tử. Quả nhiên, dự đoán của Đặng hoàn toàn đúng. Những luồng gió mạnh hùng hục xé trời đen, đánh rách cánh buồm tơi tả. Cường và Đặng hò hét khan cả cổ, vừa hội ý, vừa trấn tĩnh bà con trên thuyền. Họ chống chọi tới sáng thì trời dịu. Bằng kinh nghiệm, Đặng nói gió chỉ độ cấp 4, lại là gió nam rất thuận tiện cho việc tiến về hướng bắc. Đặng cho thay buồm, trong khi Cường ngồi nghỉ mệt, giở cơm ăn. Mấy thanh niên bây giờ mới lại hồn, tán kháo. Riêng Thu say sóng đến mửa mật, nàng lấy làm lạ là thằng Quỳnh vẫn tỉnh bơ như không hề hay biết chuyện gì. Nàng bỗng ao ước sống lại những ngày thơ ấu, bằng tâm hồn trẻ thơ không biên giới để nhìn đời bằng đôi mắt thong thả. Nàng ôm con vào lòng, có cảm tưởng cả hồn và xác nàng đã mất trọng lực và phiêu diêu giữa hư không. Buổi sáng nhẹ như tơ trời lang thang dưới nắng, sương mờ lung linh một màu trắng nhợt vừa lạnh, vừa hư ảo bồng lai. Những chỏm núi thình lình hiện ra, rồi khuất nhạt đây đó nhúm vào lòng Thu một sự bình tâm lạ kỳ. Nàng ước có Hải bên cạnh để cùng chia sẻ cái tâm cảm bình yên đang có. Nàng tưởng tượng khi nhìn thấy cảnh này Hải sẽ lặng lẽ ngồi hút thuốc, trước mặt chàng mở ra tập vở ghi nhạc, và Hải sẽ rót xuống những giai điệu thoang thoảng như hương biển, hoặc trồi lên một siêu âm hết vượt cung đàn. Nàng sẽ sung sướng tựa đầu vào vai Hải, lắng nghe từ môi chàng thoát ra những âm thanh chàng đang trau chuốt, rồi khi đạt được một câu đắc ý, chàng sẽ nghiêng đầu hôn nhẹ lên tóc nàng… Cứ như là tiểu thuyết vậy, mà cuộc đời chỉ là chương sách dở, không làm gì có tấm phông đẹp bôi lên một kết cấu vẹn toàn và chặt chẽ như ý nàng muốn. Thành ra, phải trở về với hiện thực gần đây, với sóng, với gió, rất đỗi não nề.
Từ phía đầu thuyền giọng một thanh niên bình phẩm, phá tan cái không khí trơn tru buổi sáng:
– Cứ như thế này đi đến Hồng Kông thì thích nhỉ!
Dường như lời ước của người thanh niên được nghe thấy nên thuyền cứ êm ru thuận gió lướt phăng phăng trên biển. Cường đã nấu xong nồi cháo, vất vả tìm chỗ đặt chân lên con thuyền chật cứng để phân phát. Nhìn bà con xì xụp húp, anh liên tưởng đến cũng độ thời gian này năm ngoái, anh lên chợ Sắt ở Hải Phòng tìm mua những món cần thiết cho chuyến vượt biển. Cường gặp từng toán ăn xin từ tỉnh lẻ do công an chở lên đi ăn xin. Hình ảnh những người ăn xin không phải là già yếu hay tật nguyền mà phần lớn là thanh niên trai tráng có sức vóc mạnh khỏe gợi cho Cường một ý nghĩa khôi hài chua chát. Những thanh niên đi ăn xin không chút ngập ngượng vì được nhà nước cấp giấy y như “môn bài” kinh doanh, họ đi đi đến từng sạp hàng, kéo vào quán ăn, tranh thủ húp đồ ăn thừa hùng hổ như lính ra trận vì giấy phép ăn xin chỉ có một tuần và không được gia hạn.
Cường đưa thìa cháo cho Thu, cảm thấy áy náy khi đứng trước một người đàn bà xinh đẹp. Anh hướng tia nhìn đi chỗ khác, không muốn Thu lúng túng khi mút mút chỗ cháo còn sót lại trong thìa. Tuy không nhìn nhưng Cường cũng “thấy” một nửa mái tóc Thu buông xuống che một bên mặt, hàng lông mi dài của nàng cong vút như hứng được cả không gian xao động những sương mù ảo ảo trên biển. Nắng xuyên qua thuyền, rớt trên tóc Thu một ánh hào quang, hồng hào óng ả. Cường đỡ cái thìa từ tay Thu, một ý nghĩ kéo đến khiến anh cảm thấy ngượng ngập. Tâm trạng anh lúc ấy là tâm trạng của một thanh niên mới lớn, dễ xúc động trước phái đẹp và lòng tràn ngập những mông mơ có từ sách vở.
Bỗng tiếng Đặng từ đầu thuyền vọng xuống:
– Cường lên đây tớ hội ý tí coi.
Khuôn mặt Đặng nhuốm màu lo âu, Cường đọc được điều đó. Từ phía chân trời, một cụm mây đen đang di chuyển nhanh như cái chảo lớn lướt trên trời. Đặng bảo:

Google images

– Trời sắp nổi cơn cố ông ạ!
– Ông chắc không?
Đặng đáp lại:
– Theo kinh nghiệm. Bây giờ mình nên tiến ra hay tiến vào đây?
Cường chau mày, quyết định của hai người có thể đưa ngần ấy nhân mạng hoặc trở về bến cũ để vô tù hoặc ra khơi rơi vào vực thẳm. Cường bàn:
– Hay cứ neo thuyền ở đây, nếu trời nổi cơn cố thực sự thì mình vào, không thì cứ tiếp tục đi.
– Nhưng neo bao lâu mới được chứ?
– Đây mới là vấn đề. Ông cứ thả neo, tôi cho bà con ăn xong rồi tính.
Thuyền neo đến chiều thì gió bắt đầu nổi lên. Cả Đặng lẫn Cường đều hiểu họ đang neo giữa hai bờ định mệnh. Bỗng thuyền lắc mạnh một cái, cả thuyền ré lên sợ hãi. Cường nói:
– Mình về thôi.
Đặng hét, gió thổi mạnh khiến anh không rõ ý kiến vừa rồi của Cường:
– Cái gì?
Cường hét trả:
– Nhổ neo về!
Khuôn mặt vốn tái của Đặng đỏ rần. Cường nghe rõ từng lời của Đặng, át cả tiếng gió:
– Không! Chết cũng đi.
Đặng ra dấu nhổ neo, nương thuyền ra biển. Hơn ai hết, Cường hiểu quyết định liều lĩnh của Đặng. Vốn là bộ đội nhưng bị xuất ngũ vì kỷ luật khi trốn không qua Cam Bốt, Đặng đã sống những ngày khốn khó nhất suốt chiều dài đất nước. Đặng biết nếu trở về, anh sẽ tiếp tục sống cuộc đời của con chó hoang. Chỉ có tiến về phía chân trời đang đen kịt mây đen kia, và cỡi trên phong ba cuồng nộ của biển khơi, Đặng mới còn hy vọng sống cho ra một con người. Dưới màu nước xanh biếc, xanh thẳm, giữa chân trời đen tối không chút ánh sáng đằng trước mặt, Đặng nhìn thấy một tia sáng lẻ loi kêu gọi anh đến.
Cường chợt nói:
– Người ta kéo về kìa.
Chừng non chục thuyền chài đang vội vã chạy ngược hướng thuyền của Đặng. Khi hai bên đã ngang tầm nhau, thuyền bên kia có tiếng hét hỏi:
– Về thôi. Trời đang nổi cơn cố đấy!
Cường nhanh nhẩu trả lời:
– Chúng tôi đang tìm chỗ trú đây.
Trả lời xong, Cường bàn với Đặng:
– Mình phải vờ quay mũi, không họ nghi về báo công an rượt đấy.
Nếu cứ hướng ra biển giữa phong ba thế này thì chỉ có đi vượt biên, thế nào trong đám thuyền vừa rồi cũng có người báo. Mũi thuyền lệch đi một góc, Đặng làm như thế như chứng tỏ mình đang cố gắng cho thuyền đi vào bờ. Mưa rơi những giọt lất phất ướt lạnh. Đặng cảm được những giọt nước mưa bắn vào mồm mỗi khi anh há miệng nói với Cường. Trời tối sầm lại, có nhiều lúc thuyền như nằm lọt dưới đáy vực và hai bên là mỏm sóng dựng cao như tường thành. Trong một lúc Đặng có cảm tưởng là mình không chủ động được con thuyền. Tiếng đàn bà con nít than khóc vang rân hòa với tiếng sóng làm nên bản ai điếu chết chóc. Cường nói:
– Về thôi ông…
Đặng chưa kịp trả lời thì anh bỗng có cảm tưởng là người anh bay bổng lên trời, hai bàn tay rắn chắc đang giữ cần lái sút ra. Anh cố ghìm một tiếng thét thất thanh khi nhận ra trong tích tắc cả chiếc thuyền bị hất ngược lên không như chiếc lá bay trên những đợt sóng đang nham hiểm cười bên dưới.



Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Hồ Hữu Tường

Post by Sơn râu 6 May 2024

9. Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp

Giữa một con đường truông thăm thẳm, vắng vẻ và âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am nhỏ. Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi. Trong am, chỉ có một sư cụ già, thui thủi một mình, quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lão trưởng giả chăm nom.

Một hôm, trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, thì có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng:

– Bạch sư cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới dõi đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.

Nhà sư ung dung, chắp tay đáp:

– Mô Phật, cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước.

Rồi dừng một phút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đương sôi nổi trong lòng, nhà sư tiếp:

– Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi này, không được một ai đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện, may được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng là duyên trước….

Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi :

– Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?

Vui sướng, vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:

– Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng đã viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, lòng huệ được mở ra…. Và từ ấy, tôi chỉ tụng kinh Di Lặc.

Một người khách hỏi:

– Sư cụ có thể cho tôi biết duyên cớ vì sao chăng?

– Mô Phật. Chỉ có lời nói mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời? Vậy tôi xin vui lòng nói cho hai ngài rõ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: Hai ngàn năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ đến chỗ chi ly, ấy là hồi mạt pháp. Di Lặc sẽ xuống trần mà cứu độ chúng sanh và chỉnh đạo lại. Nay cũng đã gần đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc đã xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành. Bởi lẽ ấy tôi có nguyện tụng đủ một nghìn lần kinh Di Lặc. Nếu lời nguyện được y, ấy là tôi sẽ đắc đạo.

Người khách thứ hai hỏi:

– Sư cụ đã tụng được bao nhiêu lần rồi?

– Đã được chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ, chỉ còn lần thứ một nghìn; lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy….

Đến đây, bữa cơm chay đã mãn. Khách mệt mỏi, xin ngả lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước tới trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng. Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên, đánh dấu chuỗi tiếng mõ dài đăng đẳng….

Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao đổi vài câu:

– Tội nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ. Phật pháp lập ra đã hai nghìn năm trăm năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát xiển mối đạo. Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ ; rồi sanh ra môn ra phái. Ấy là nguồn gốc của sự chi li. Nay rừng thiền đã hơn tám mươi bốn ngàn cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.

– Tôi cũng đồng ý với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm rằng: Nếu bây giờ có một vị Di Lặc xuống trần, thì vị ấy có trọng trách cất nhắc Phật pháp cho kịp với mọi sự tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai nghìn năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón rước cái Pháp mới sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là phụ lòng mong của Thích Ca chăng?

Lời nói của hai người khách giữa cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm này là một con thằn lằn, đến ở am khi am vừa mới dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư : là hễ tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ lên giàn hỏa mà tự thiêu…. Rồi nó nghĩ: nhà sư lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân, thì làm sao nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân, đợi chừng nào người được giác rồi sẽ hay?

Rồi con thằn lằn quyết định: Phải ngăn ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần thứ một nghìn. Nó nghĩ được một kế : Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu, rán sức mà uống cạn dĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa. Một sức mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt được ý nguyện : chỉ trong một hơi mà dĩa dầu đã cạn : bộ kinh chỉ tụng được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên, nhưng nghĩ : hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của mình. Âu là xếp kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một nghìn ấy. Nhưng, sau đó đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.

Và một đêm kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nhìn lên dĩa dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng:

– Loài nghiệt sức! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!

Rồi tay cầm dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu mình.

Và cũng đêm ấy, hai cái linh hồn được đưa đến trước tòa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:

– Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vỡ lòng của pháp ta là thế nào! Pháp ta đã dạy phải trừ hết dục vọng thì mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều : bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng ấy là Tham; bởi tham nên giận mắng con thằn lằn, ấy là Sân; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn thì tha hồ tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là Si. Có đủ Tham Sân Si tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu ăn chay trường trọn đời, cũng chưa bù được.

Tội ngươi lới lắm, phải rán tu luyện thật nhiều mới mong chuộc được. Vậy ta truyền cho Kim Cang, La Hán hốt cho hết đống tro do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi một hột tro đó sẽ biến sanh thành một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ được quy nguyên, trở hiệp lại thành một, thì nhà ngươi sẽ đến đây mà thành chánh quả.

Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:

– Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi. Còn nhà ngươi, được giác một phần rồi, mà làm tội, thì tội đáng kể là mười.

Con thằn lằn lạy mà thưa rằng:

– Bạch Phật tổ, lòng của đệ tử vốn là muốn độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc. Chẳng hay đệ tử có tội chi?

Phật phán:

– Muốn độ người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn đón việc tụng kinh của người? Đã đành rằng việc tụng làm của nhà sư là một việc mê tín, nhưng dầu là mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Cõi Phật vốn là cõi tự tại. Nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, gọi là để dắt người vào, thì làm sao cho được. Bởi ngươi không dùng phương pháp tự do, người là kẻ mất tự do, thì cả hai làm sao được vào cõi tự tại?

Một lần nữa, con thằn lằn được giác, quì lạy mà xin tội:

– Xin Phật tổ mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.

Phật đáp:

– Ta cho ngươi được toại nguyện.

Hồn con thằn lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu thai, thì sực nhớ lại, nên bạch rằng:

– Xin Phật tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?

Phật đáp:

– Nhà ngươi đã gần bến giác, phải tự mình chọn hình thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể luyện mình để bước vào cõi tự tại.

Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được đông người, số người đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật chưa hề có lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổng đến thế.

Một hôm, trong hồi xiêu bạt, nó trông thấy bóng của hai ông khách khi xưa đã đến ngủ ở am. Vội vã, nó bay theo, vái chào và kể nỗi niềm đau đớn:

– Hai ngài đã giúp cho tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải mang cái nghiệp vô định này. Đã trót làm ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.

Hai ông khách đáp:

– Chúng tôi đâu dám lên mặt thay đổi mà dạy người, huống chi lại dám đèo bòng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải. Nhưng đã lở gieo trong trí ngươi một ý nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, thì phải góp ý kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy gọi là chuộc lỗi.

Hồn con thằn lằn gật đầu, cám ơn trước. Một người khách nói:

– Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ý hay lời đẹp mà làm cho vui lòng kẻ mình, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của mình, cho đó là sự «đắc đạo» của mình. Nếu phải mong muốn điều gì, thì cố gắng trình bày cho bóng bẩy, văn hoa : được thì tốt ; bằng không thì thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người…

Nghe đến đó, thì một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:

– Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lý thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ này được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có lòng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, thì cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu triệu người… Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong lòng mỗi người một diêm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa lên…

Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:

– Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chắn là đi cùng đường, ắt có thể đến trước tòa sen mà chầu Phật Tổ. Vậy tôi xin cố gắng.

HỒ HỮU TƯỜNG

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 6 May 2024

8. Cũng Đành

Tôi chỉ còn tìm cách nào vào thành may ra kiếm được ký ninh uống.

Không ai dám bảo đảm xin giấy thông hành cho tôi. Tôi vẫn liều ngày ngày ra bến xe trèo lên để vào, nhưng dù ngồi yên chỗ rồi khi hỏi đến giấy không có, chuyến xe lại bỏ tôi lại. Rất nhiều lần như thế, đến khi có xe cho đi thì tôi lại không có một đồng. Hà Nội – Sơn Tây 43 cây số, với những cơn sốt tôi không còn đủ sức để lê về. Mãi sau vì nài nỉ quá có chiếc xe chở củ nâu, với người phu xe thương hại cho tôi đi bằng cách ấn tôi vào giữa những bao củ nâu. Hắn bảo tôi trước là nếu vô phúc bị khám mà lộ ra thì chịu khó mà ở tù đừng oán thán gì. Tôi hơi mỉm cười bảo:

– Thì sao mà cưỡng được…

Khi xếp những bao tải củ nâu lên xe hắn chừa lại một chỗ trống ở giữa cho tôi ngồi vào đấy rồi hắn lấy thêm những bao khác lấp lên trên. Tôi ngồi co rúm không thể cựa quậy, nhúc nhích. Mùi củ nâu, mùi bao tải hôi sì, mùi xăng nhớt như muốn chết ngạt. Giữa trưa xe từ giã tỉnh Sơn vào con đường trở về. Xe chạy nhanh sóc trên những quãng đường gồ ghề, những bao củ nâu bị lắc mạnh cứ dẹp mãi xuống, chung quanh tôi kín bưng chả thấy gì, tôi nghĩ như mình bị bỏ vào quan tài đã đậy ván thiên lại chỉ có điều là tôi còn thở. Cơn sốt lại đến với tôi giữa những quãng đường ấy, chân tay run rẩy, hai hàm răng đánh vào nhau và tôi lả người đi vì mệt mỏi.

Khi tỉnh dậy thì xe đang dừng. Tôi lắng tai nghe tiếng giày đinh lộp cộp, những bao củ nâu bị lay động và có tiếng chọc của một chiếc gậy sắt. Tôi biết là xe đang bị khám, nên hai lần bị gậy sắt thọc vào lưng tôi không dám nhúc nhích và thở mạnh, tôi nghiếng răng, nhắm mắt lại… Những chặng gác thoát dần sự khám xét khiến cho xe về đến bến thì trời đã tối mịt. Bến xe Kim Mã hoang vắng người phụ xe dở bao tải cho tôi chui ra, tôi nghe tiếng chuông xe điện đổ dồn, tôi bước xuống mặt đường chân tay run lẩy bẩy vì đói vì lạnh. Tiếng đầu tiên tôi được nghe là của người phụ xe:

– Tới rồi đấy, có thể đi về nhà được không? Không có giấy thì coi chừng tụi Ba-tui nó nhặt bỏ nhà Tiền đấy.

Tôi cứng cả lưỡi không nói được. Tôi không biết về đâu cho qua đêm để sáng mai có thể đi tìm kiếm, dù tôi chưa biết là sẽ tìm kiếm cái gì. Về nhà. Người phụ xe nhìn tôi ái ngại. Hắn có khuôn mặt đen khắc khổ, đôi gò má cao làm cho hai mắt đen sâu bóng tối. Tôi nói với hắn tình cảnh của tôi, tôi muốn hắn cho tôi nằm ở trên xe cho đến sáng hôm sau. Nhưng hắn từ chối. Hắn nói với tôi một ít điều phân trần không sao có thể giúp tôi được. Tôi cám ơn hắn. Hắn xếp lại mấy bao củ nâu, đóng thùng xe rồi hắn quay lại nhìn tôi. Nghĩ thế nào hắn móc túi dúi cho tôi mấy đồng bạc. Không nói thêm nửa lời hắn trèo lên phía trước xe. Chuyến xe chạy vào con đường có đèn thắp sáng.

Tôi không thể đứng lâu hơn được nên ngã quỵ xuống. Quá mệt tôi phải cố sức bò dần vào một túp lều bỏ không rồi lăn mình xuống đấy. Tôi nằm im một lúc cho hồi tỉnh rồi cố dậy sờ soạng trong bóng tối xem có cái gì có thể ôm vào người được cho đỡ cô đơn, nhưng sờ soạng mãi tôi mới nhận ra có một cái bàn nhỏ và có một cái ghế dài nhỏ. Ðó là đồ dùng của một quán nước, hoặc quà bánh gì đó. Tôi không có gì để ôm vào người. Tôi sờ mặt đất nhớp nháp, vơ những rác rưới ẩm nước hôi hám, những bã mía, lá bánh, giấy vụn. Tôi cố vơ thành một đống rồi rúc mình vào cho đỡ lạnh và êm hơn mặt đất. Muỗi kêu vo ve, những con chuột kêu thành tiếng chui vào đống rác kiếm ăn. Chúng cắn chân mà tôi không muốn cựa, chúng cắn chán lại rúc, lại kêu. Tôi vớ những nắm lá chuối ướt nhép bỏ vào mồm nhai cho đỡ buồn miệng. Tôi nghĩ chắc thịt tôi đã hết máu nên lũ chuột chả thèm ăn, và chắc chúng nó nhiều máu hơn tôi là khác, nghĩ thế tôi há lớn miệng tự nhủ: để chú nào vô phúc rúc vào mình sẽ ngậm miệng lại mà nhai một miếng cho khoái bao tử. Bởi vì nếu có con nào đến gần tôi cũng khó chộp được, chúng khoẻ và nhanh lạ. Lũ chuột rúc mãi chắc cũng chả kiếm được gì nên bỏ đi dần cho tôi nằm một mình nghe tiếng muỗi kêu vo ve.

Mãi tôi cảm thấy như có một con vật nào đó rất kỳ dị, to lớn tiến đến ôm choàng lấy tôi, tôi bị nghẹt thở không kêu được, thân thể cứng đờ rồi thiếp dần đi…Tôi thức dậy khi trời đã sáng rõ, bụng đói cồn cào, chân tay rời rã, nhưng đầu óc tỉnh táo kỳ lạ. Tôi nằm im cho mãi đến khi có một người đàn bà bước vào lều. Khi bà ta đưa mắt nhìn đến đống rác thì kêu thét lên. Tôi ngọ ngoạy rồi chui đầu ra. Chắc hẳn người đàn bà tưởng tôi là một con vật, như con chó ốm ghẻ lở nào đấy. Khi thấy cả thân hình tôi ngồi dậy được thì trên khuôn mặt bà ta hiện ra nhiều nét ngạc nhiên đầy kinh dị:

– Trời ơi tao tưởng mày là xác chết rồi chứ… thế mà đêm lính nó không nhặt đi…

Tôi trở ra ngoài vươn vai, thở mạnh, phủi những rác rưởi bám trên quần áo, mắt tôi kèm nhèm. Tôi nhổ một chút nước bọt ra bàn tay rồi chét vào mắt mà dụi cho tỉnh táo. Những chuyến xe không, bắt đầu vào bến nằm. Mặt đường nhựa rét cứng. Mùa đông vào thành phố, vẻ buồn thảm càng nhiều. Người đàn bà dọn quán. Bà ta bán bún riêu, bánh đúc. Sau khi bầy bát đĩa, tôi ngồi vào tấm ghế dài, kẹp tay vào giữa hai bắp đùi rồi nói với bà ta:

– Cho một bát bánh đúc.

Người đàn bà mãi mới nhìn lên dò xét, tôi biết bà ta đang nghĩ gì:

– Này người ta chưa bán mở hàng đâu đấy. Có tiền không mà ăn?

Tôi moi mấy đồng bạc của người phụ xe cho mà để lên bàn, tôi lên giọng chững chạc:

– Cho hai đồng thôi…

Hai bát bánh đúc chan canh riêu nóng hổi vừa ăn vừa thổi làm tôi tỉnh táo. Tôi ngốn rau chuối như lợn cốt đầy dạ dày. Tôi ăn thật nhiều ớt cho tê cả miệng và ràn rụa nước mắt. Nghĩ đến chuyện bị hỏi giấy, tôi đi vào phố xá lén lút như một kẻ ăn cắp, như chú cừu đang lạc vào bầy sói tôi đang lẩn thân bên những xác ma chập chờn lẩn quất. Trông người nào tôi cũng thấy họ hung ác ngay cả những đứa trẻ con cũng vậy và lúc nào tôi cũng tưởng họ sắp thộp lấy gáy mình hỏi lăng nhăng rồi bỏ vào nhà tù cho đông đảo thêm.

Việc đầu tiên tôi nghĩ đến là trở về nơi bãi Phúc Xá xem nhà cũ thế nào. Thành phố xa lạ một cách không ngờ. Những dấu vết chiến tranh đang được cố gắng lấp đầy để quên lãng. Tôi đứng ở đầu nhà máy đèn, nhìn xuống bãi Phúc Xá vắng tanh chơ vơ vài bức tường đứng cô đơn. Cầu Long Biên xám đứng đằng xa. Tôi không dám lần xuống bãi. Tôi cố nghĩ xem, quen ai, tìm ai, ở đâu, ăn gì, uống gì. Tôi ngồi ở vỉa hè nhìn nền trời xám.

Tôi đi men theo nhà Ideo lên phiá Yên Phụ. Những rặng cây trút lá chạy dài. Những tên lính Tây la thét cười cợt hát hổng ở phía trong bức tường cao. Tôi thấy chúng vứt những ống bơ ra theo lối cửa sổ. Tôi đến những đống rác ấy bới móc nhặt những chút vỏ bánh mì đen thui ấn vào mồm mà nhai mà nuốt. Tôi bới hết đống này đến đống khác. Tôi vét vào mồm từng chút cặn thịt hộp đã thiu thối, từng chút đầu hay đuôi cá tanh lợm còn sót lại trong những chiếc ống bơ. Tôi nhặt cả từng miếng bánh mặn nhỏ ấn vào hai túi áo. Ði bới hết những đống rác tôi ngồi nhai những mẩu bánh, khi cổ khô vì khát tôi tìm một cái máy nước áp mặt vào nốc. Tôi đi lang thang lẩn lút từ phố này sang phố khác. Chen vào đám đông nhìn vào từng khuôn mặt xem có ai quen không. Nhưng suốt buổi tôi không tìm kiếm được gì.

Ðến buổi trưa tôi theo đường tàu điện ra tận Giám, ngồi trong Văn Miếu bên những bia đá, nhà đổ, gạch ngói và cỏ hoang buồn buồn tôi lộn hai túi áo ra nhặt nốt những vụn bánh còn sót lại bỏ vào mồm. Ngồi chán leo lên bức tường đổ ra chợ Con Bò. Ðang thơ thẩn bỗng nghe tiếng cười hỏi giật:

– Kìa cậu Kha, cậu mới hồi cư à? Ông bà ở đâu?… Cháu vẫn để ý tìm mà không gặp – may quá…nhà cháu ấy… Tôi ngạc nhiên phủi áo rồi nhìn vào mặt người đàn ông một lúc. Tôi không nhận ra ai. Thấy tôi im lặng, người đàn ông lại nói tiếp:

– Cháu đây mà – cả Mạnh hồi xưa trông cửa hàng cho ông bà nhà…

Bây giờ thì tôi đã có người quen rồi cho dù tôi không nhận ra ai.

– Tôi nhớ, chết thật lâu ngày… tôi cũng đang đi kiếm…

– Thế ông bà nhà?

– Có mình tôi thôi… thầy đẻ tôi… Tôi đang đi tìm một chỗ ở.

– Thế ra có một mình cậu.

– Vâng…

– Thật rõ…

– Tôi muốn có một chỗ ở tạm – nhà bác?

Người đàn ông lưỡng lự. Bác ta vào độ 40 tuổi, mặt già nua đen sạm, những vết nhăn chằng chịt trên trán. Một con mắt bị tật để lộ ra một mí đỏ lòm và ít râu thưa mọc lởm chởm trên mép.

– Cho tôi ở tạm thôi…

– Nhà cháu cũng không có chỗ tử tế. Sợ cậu ở không được.

– Vẽ ra, đến có ổ chuột mà rúc vào cũng hay rồi đấy, loạn mà bác?

Sau cùng – bác Mạnh – bây giờ tôi có thể nhớ được tên bác – đưa tôi về ngõ Thông Phong ở tận mãi chỗ Ô Chợ Dừa nơi con đường Hàng Bột. Vừa vào đầu ngõ đã phải đi qua một xưởng thuộc da hôi thối và những ruộng muống tanh lợm mùi bùn. Bác Mạnh làm nghề thổi thông phong cho một xưởng nhỏ ở luôn tại đó làm người gác nữa. Bác có một chỗ ở bằng ba chiếc chiếu ngánh bằng mấy tấm tôn vào cái lò nấu thủy tinh. Trong nhà chỉ có một cái gường tre độc nhất là chỗ ăn, chỗ ngồi chơi hút thuốc lào và chỗ ngủ cho hai vợ chồng và một đứa con gái hai tuổi gầy teo. Tiếng nó khóc như tiếng mèo kêu nhưng cũng nhờ tiếng khóc đó tôi biết nó còn sống. Tôi nói tình cảnh tôi cho bác Mạnh nghe. Bác tỏ vẻ ái ngại về chuyện vật đổi sao dời làm tôi khó chịu. Tôi nhờ bác xin cho một việc làm ngay ở xưởng. Ở đây người ta mua những mảnh vụn chai, kính vỡ về nấu rồi thổi thông phong, những ve chai nhỏ để đóng thuốc cho mấy tiệm thuốc bắc. Tôi không biết thổi nên nhận một chân đốt lò, khuân thủy tinh, quét dọn. Buổi tối tôi giải chiếu ngay nơi cửa lò – chỗ làm việc của bọn thợ ban ngày mà ngủ cho ấm.

Bây giờ thì tôi đỡ lo là chưa chết ngay. Mùa đông kéo dài những ngày rét mướt. Tôi vay tiền mua hai cái bao tải tối đến chui vào đó. Với những ngày làm việc mệt nhọc những cơn sốt vẫn trở lại với tôi. Tôi lãnh tiền công chỉ trả tiền cơm cho bác Mạnh và mua thuốc ký-ninh vàng về uống hoài. Uống mãi những cơn sốt lui dần thì tôi hoá ra nghễnh ngãng, ù tai nghe không rõ. Người ta sai bảo tôi chẳng nghe được, người chủ đuổi tôi không cho làm vì không thể mượn một người điếc. Tôi buồn sao không điếc hẳn mà lại còn đủ sức để nghe tiếng quát tháo. Theo lời khuyên của bác Mạnh. Tôi đeo lên vai một cái giỏ rách, với một cái móc sắt đi theo những người móc rác đi nhặt mảnh chai, kính vỡ, vụn sắt về bán. Tôi tìm ra bãi đổ rác, bới những đống hôi thối, nhặt chai, kính… từng chút sắt vụn, vỏ cam, rẻ rách. Khi chiều về lọc ra từng thứ bán cho bà Cả Ới. Bà ta chuyên mua lại của những người đi nhặt rồi bán cân cho xưởng thổi phong long, cho lò đúc, rẻ rách bán cho dân Bưởi làm giấy cho xưởng ô-tô làm rẻ lau. Vỏ cam vỏ quýt cho tiệm bào chế và cả lông vịt lông gà…

Tôi kiếm đủ ăn, tối về ngủ ở chỗ bác Mạnh như một con chó vô chủ. 

Tôi bới chán ở đống rác lại đi tìm bới ở những căn nhà đổ nát chưa có chủ về. Tôi nghĩ đến nhà tôi, và những thứ còn lại ở đấy chắc chưa ai nhặt nên muốn mò về. Một bữa tôi lên đê Yên Phụ nhìn sang bãi Phúc Xá với ý nghĩ ấy nhưng rồi không dám qua. Tôi đi dọc bờ sông lên chỗ xưởng dép cao-su Con Hổ chen vào một đám đông đảo tụ lại ở chân đê. Tôi thấy người ta đang đào một cái hố lớn, họ đào sâu và vứt lên vô kể những mảnh chai sắt vụn mà không ai nhặt thì mừng quá. Tôi nhặt lại từng đống rồi thuê xe ba gác chở về. Tôi vớ được một món bất ngờ. Tôi không hiểu họ đào gì mà chốc có người lại cúi xuống nhặt lên một mẩu xương, khi to khi nhỏ rồi xem xét, truyền tay nhau. Khi thì xương bò, khi thì xương lợn, khi xương gà, xương chó… Khi biết thế họ lại vứt đi và đào nữa – Sau tôi mới biết họ tìm xương người. Toán người ở đó được một nhà giàu ở đây thuê đào tìm xương của ông bố chết hồi chạy loạn mà người đó nghi là chết ở tăng-xê nơi chỗ này. Bởi thế nên mỗi khi gặp một chút xương họ phải xem có phải là xương người không, nhưng mỗi lần họ đều thất vọng, đào mãi cũng không thấy gì. Ngày thứ hai họ có ý thôi, tôi nghĩ đến sắt vụn mảnh chai nên bảo:

– Tăng-xê này sâu lắm, ở dưới nữa kia. Ðào chưa tới đâu. Thấy nói vậy họ tưởng tôi biết nên xúm lại hỏi, yên trí tôi biết. Tôi bảo chính hồi Nhật thả bom tôi đã chui vào đây và có lẽ mẹ tôi cũng bị chôn ở đây nữa. Họ tiếp tục đào và cho tôi kiếm ăn. Nhưng lẽ dĩ nhiên họ không tìm ra một chút xương người nào. Khi họ yên trí bảo chắc ông cụ không chết ở đây. Tôi vỗ tay vào trán như mới nhớ ra: – À, nhưng chỗ này có những hai cái tăng-xê cơ – hay ông cụ chui ở cái đằng này…

Tôi chỉ cho họ chỗ cách đó độ năm thước, tôi quả quyết còn một cái nữa – và họ tiếp tục đào cho tôi nhặt mảnh chai, sắt vụn. Tôi nghĩ giá hồi xưa biết vậy tôi chết quách chỗ này cho bây giờ họ nhặt lấy xương mà làm ma, làm chay và cho là bố họ có hơn không. Rồi đào mãi họ cũng bỏ. Tôi nghiêm nét mặt rồi nói lớn:

– Sao không đào cái đống thịt thối này của tao mà lấy đầu lâu và xương cốt…

Lũ người bảo tôi là thằng điên họ tức bực muốn dần cho chết. Có một đứa bông lơn cho cả lũ cười.

– Ðến vứt cái xác mày cho chó nó cũng chả gặm nữa là xương cốt…

Tôi cất tiếng cười lớn theo đám đông xúm quanh làm họ thôi cười.

Số tiền kiếm được làm tôi phè phỡn. Một bữa tối tôi qua phố Hàng Buồm mua hai con gà luộc sẵn về cho vợ chồng bác Mạnh một con, còn một con tôi ngồi xé ra ngoạm. 

Tôi đang ăn thì có đứa con gái đứng ở cửa nhìn vào. Tự nhiên tôi nói lớn:

– Có ăn thì vào cho miếng chứ nhìn gì?

Nó vào ngồi ở bên cạnh rất thản nhiên. Tôi nghĩ chắc nó cũng sống như tôi – thật tội nghiệp. Tôi nhìn vào mặt nó. Nó cũng chỉ độ tuổi tôi. Tóc uốn quăn môi son và mặt chát phấn. Nó mặc quần áo trắng. Nó ăn hết rồi ngồi mút mười đầu ngón tay còn vẻ thèm nhạt. Tôi hỏi:

– Ở đâu?

– Trong ngõ

– Có nhà à?

– Có

– Hạnh phúc, hạnh phúc.

– Còn anh?

Nó nói tiếng anh ngọt sớt. Tôi vứt bỏ mẩu xương cuối cùng rồi co vạt áo lên chùi mồm.

– Không có gì cả… không có gì cả mà…

– Về ở với em…

Nó lại xưng em. Tối hôm đó tôi theo về nhà nó – một gian nhà lá mãi trong cuối ngõ. Nó chỉ cho tôi nằm ở một cái chõng con và vứt cho tôi một cái chăn đơn. Nó ngủ ở một cái gường có màn buông và hai cái gối. Lần đầu tiên tôi được một chút êm ấm. Ðêm nó thắp đèn kể chuyện tâm sự cho tôi nghe. Nó chả có cha mẹ gì và nó làm nghề kiếm khách. Tôi về ở đó ngày ngày đi móc rác, đêm về ngủ. Nó thì ban ngày ngủ, đêm đến mặc quần áo, đánh phấn chải đầu rồi đi kiếm mối đem về nhà. Chúng nó cởi truồng ra đùa rỡn với nhau chán rồi ôm nhau lên giường ngủ như không có tôi. Những ngày mùa đông rét mướt kéo dài mãi nền trời xám và mưa đêm. Những ngày không có khách nó co tôi sang ngủ chung cho ấm. Có đêm cơn sốt rét lên nó thấy tôi run như sắp chết thì hoảng sợ.

– Ê chết sao mà rãy dữ vậy?

– Không.

– Ðừng rỡn, chết làm sao ta chôn.

– Thì cứ vứt ra đường là xong

– Vứt sao được…

– Ðùa chứ chết gì, ôm cho chặt vào thì không chết đâu, khỉ.

Nó cởi hết quần áo tôi ra mà đùa rỡn coi tôi như một khúc gỗ. Ðêm nào nó cũng cần ôm lấy một thân thể mới ngủ được. Tôi là một cái thân thể để cho nó đắp vào những đêm không có khách. Có đêm tôi lên cơn rét, thân thể hoàn toàn bất lực, nó cố vác bỏ tôi sang chõng rồi ngồi chờ thằng tầm quất đi qua. Thằng tầm quất tới nó gọi vào rồi đóng cửa lại, nó bảo đấm bóp chán rồi ôm lấy. Thằng tầm quất không cưỡng lại được, sáng hôm sau như lả đi. Nó bảo tôi giúp sức kéo bỏ ra ngoài đường. Ðến một hôm có một gã đàn ông khoẻ mạnh đến rồi ở luôn lại. Tôi nằm một mình buồn tủi. Rồi đứa con gái bảo tôi:

– Em sắp lấy chồng.

– Gã đó?

– Chứ sao.

Tôi buồn rầu bảo:

– Lấy anh đi… tương lai mà…

Nó bĩu môi rồi tát vào mặt tôi một cái mà bảo:

– Ứ ừ… để rồi tao đi móc rác với mày à – Rồi con cái – rồi tuổi già?…

– Ðồ khỉ – Lại còn con cái? Lại còn tuổi già? Rồi sống được đến già à?

Tôi ôm lấy nó như chưa ôm bao giờ.

– Ðừng lấy gã đó. Ở với anh…

Mấy ngày sau chúng nó tống tôi đi với mấy chục bạc. Tôi ngày ngày đi móc rác, chiều đến mò vào Văn Miếu nằm. Ðêm đêm sờ soạng những bia đá, những gạch ngói nằm im mà thấy tủi thân. Ôm vào lòng cũng chỉ thấy cứng ngắc. Buổi sáng thức dậy soi mặt xuống làn nước hồ nghe tiếng quạ kêu trên những ngọn cây khô già cỗi. Ðến một khuya kia tôi thức dậy vì ánh sáng đèn bin soi vào mặt. Tôi mở mắt nhìn tụi lính chĩa súng vào người. Chúng hỏi giấy tờ tôi không có gì nên bị điệu về bót. Chúng giam tôi đến sáng hôm sau mới dẫn lên hỏi:

– Tên gì?

– Con tên Kha.

– Thẻ căn cước?

– Con mới vào nên chưa có.

– Ở đâu?

– Con ở ngõ Thông Phong

– Số nhà?

– Con quên.

– Với ai?

– Với vợ con.

Chúng bắt tôi dẫn về ngõ Thông Phong, tôi đưa vào nhà đứa con gái. Tôi chỉ vào nó mà bảo với

tụi lính:

– Vợ con đây.

Tụi lính cất tiếng hỏi:

– Có phải bà là vợ nó không?

– Không, tôi có chồng.

– Bà biết nó không?

– Không – tôi không biết nó là ai cả.

– Nó là vợ tôi mà…

– Này thằng kia – mày trông rõ xem tao ngủ với mày bao giờ…

Tôi thấy yêu đứa con gái vô cùng. Tụi lính đánh tôi túi bụi.

– Khai láo, khai láo… quân lưu manh… đánh cho chết đi…

Ðêm chúng đem tôi về nhận vào bể nước rồi đánh nữa. Khi tôi ngất đi chúng lại phun nước cho tỉnh dậy và tiếp tục đánh như nhồi một trái banh – rồi chúng lại bắt tôi cung khai. Tôi không còn biết mình nói gì:

– Mày mới ở ngoài vào phải không?

– Vâng… dạ

– Ðịnh phá hoại phải không?

– Dạ vâng…

– Với ai, tổ chức nào?

– Vâng…

– Ai?

– Dạ…

– Ai?

– Nguyễn-mạnh-Kha…

– Ở đâu?

– Số bảy, tám, chín Hàng Khay.

– Ðúng không?

– Nó cho ở…

Tụi lính lại dẫn tôi đi, tới nơi tôi vừa tỉnh để bảo:

– Không, tôi nhầm. Tôi là Nguyễn-mạnh-Kha.

Tôi khai lung tung, bạ gì nói nấy. Chúng đánh chán tay rồi giam tôi vào buồng tối như một con chó cho muỗi nó đốt. Chúng tra khảo tôi mãi cũng chán nên giam tôi lại cùng với những người khác, mỗi ngày ném cho một nắm cơm. Có một ngày lũ người bị giam được tập trung vào một khoảng sân ngó thấy nền trời. Tay bị xích lại. Hôm đó có một viên cố đạo bảo là đến làm phép lành cho lũ tù. Hắn nói những điều tôi chưa hề nghe bao giờ như: yêu mến chúa, thiên đường, địa ngục, cứu rỗi, tội lỗi, xám hối, quỷ quái, thánh thần, yêu thương, huynh đệ… Lũ lính vác súng bắt lũ tù ngồi yên nghe.

Viên cố đạo làm dấu nhìn chúng bị đánh đập. Nhưng tôi còn đủ sức chửi bới và văng tục. Tụi lính lại tra khảo tôi mà không chịu buông tha:

– Mày tên gì?

– Con khỉ

– Ở đâu?

– Con khỉ… cởi truồng…

– Cha mẹ mày tên gì?

– Ai?…

– Cha mẹ mày?

Khi nghe rõ đến hai tiếng cha mẹ thì tôi khóc rống lên chúng tiếp tục đánh đập tôi nữa:

– Mày tên gì?

– … thịt thối…

– Ở đâu?

– Viên cố đạo

– Cha mẹ mày tên gì?

– A ha!… A ha!…

Ðến một đêm tối lũ lính dồn tôi lên một chiếc xe bọc kín mang tới một cánh đồng cùng mấy đứa nữa. Chúng bắt đào hố. Tôi biết là sắp được tự chôn mình. Tôi nghe tiếng lên đạn lách cách,

xong chúng bắt quay mặt vào hố. Tôi nhớ đến câu hỏi, và tự nhắc.

– Cha mẹ mày tên gì?

DƯƠNG NGHIỄM MẬU
1958

Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 6 May 2024

Con Sáo Của Em Tôi

Sau khi cha tôi mất, gia đình càng ngày càng túng bấn, một mình mẹ tôi không đủ sức nuôi nấng hai đứa con mồ côi nơi thành thị nên mẹ đưa hai anh em tôi trở về làng cũ . Bên nội xóa bỏ tên cha tôi trong gia phả vì cha tôi xé tờ khai sinh mà ông tôi cố tình điền tên tuổi người vợ cả vào chỗ tên tuổi mẹ tôi . Ông tôi muốn gạt mẹ khỏi cuộc đời cha tôi bấy giờ và cuộc đời tôi mai hậu. Việc ấy rất giản dị như ông đã xóa bỏ tên chú Nghị vì chú mê cô đào cải lương gia nhập ban hát, lang thang rày đây mai đó. Bên ngoại từ bỏ mẹ tôi ngay từ dạo mẹ có mang ba tháng vì mẹ trốn nhà, vượt luật lệ cổ truyền, theo cha tôi làm vợ lẽ. Thành thử lớn lên anh em tôi mù mịt cả ý niệm gia tộc. Mẹ tôi thường kể rằng trước khi lấy mẹ tôi, cha tôi đã có vợ . Người vợ ấy cha tôi không yêu thương, nên bốn năm liền bà tôi cứ hoài công mong bế cháu. Ông tôi buồn phiền, thở dài thườn thượt, ông nghĩ đến nghiệp chướng xa xôi nào, lúc này sự quả báo hiện hình khiến dù con gái. Thật vô phúc. Cha tôi đi vắng luôn luôn, cha năng ở nhà ông phó Nhị hầu hạ ông để hòng ông truyền hết ngón đàn thập lục.

Cha tôi phải giặt quần áo, đấm bóp chân tay hay kiếm rượu, đồ nhắm cho ông Phó, phục dịch ông đủ điều. Rốt cuộc ông Phó vẫn giữ lại đôi ngón sở trường, ông sợ dạy hết, mai mốt cha tôi giỏi hơn ông. Bởi vậy, tài nghệ của cha tôi chưa nổi bật, và chưa đủ thời giờ nghiên cứu âm nhạc quê hương thì cha tôi đã gặp mẹ tôi. Cuộc tình duyên này làm đảo lộn đời cha và ảnh hưởng rất nhiều đến anh em tôi sau này.

Ông nội tôi biết chuyện tức sôi ruột, chửi bới cả gia đình nhà mẹ tôi. Tiếng dữ đồn tới xóm làng bên kia sông. Ông ngoại tôi đuổi mẹ tôi khỏi cửa. Bấy giờ mẹ tôi có mang tôi được ba tháng. Cha tôi lén lút gởi mẹ tôi nương náu nhờ người bà con xóm cuối thôn. Bà nội tôi thương con cả, lại nghe tin mẹ tôi có chửa nên bớt giận. Bà nội xin ông nội nhận mẹ tôi làm vợ lẽ cha tôi. Cuộc hôn nhân không giá thú. Việc tưởng vậy êm thắm. Ai ngờ ông ngoại tôi lồng lộn tìm bắt mẹ tôi, đánh đập mẹ tôi một trận tàn nhẫn. Tệ hơn nữa, ông ngoại tôi lại gọt hết tóc, bôi vôi trắng xóa đầu mẹ tôi rồi mới đoạn tình phụ tử. Mẹ tôi phải trùm khăn vuông kín mít ngót hai năm trời.

Mẹ về sống dưới gian nhà mái dột, vách bùn trát nham nhở bên cạnh chuồng trâu của đại gia đình họ Nguyễn nhà tôi. Suốt thời gian đèo bòng cái hình hài tôi, cái bọc đau khổ, mẹ tôi chịu đựng bao nhiêu điều tủi nhục. Hết người vợ cả hẹp hòi, ích kỷ của cha tôi hằn học ghen tuông, lại đến các cô tôi kiếm cớ sinh sự. Vợ cả cha tôi bảo mẹ tôi độn vải đầy bụng để đánh lừa ông tôi. Ông tôi nhiều bận chỉ mặt mẹ tôi dọa nạt rằng nếu đúng tháng mà không sinh nở thì sẽ tống cổ mẹ tôi đi. Chú Nghiêm thỉnh thoảng về thăm nhà cũng hạch sách mẹ tôi. Ông tôi quý chú Nghiêm lắm. Trong khi cha tôi mải đàn sáo, chú Nghị giang hồ phiêu bạt, chú khéo léo chiều ông tôi. Bởi thế chú Nghiêm được xuống tỉnh học, đỗ đạt giỏi giang. Chú khinh bỉ mẹ tôi, sự khinh bỉ chú học mót của đám dân trưởng giả thành phố. Mẹ tôi đau khổ trăm chiều, ngày làm quần quật như con vật, tối ôm bụng khóc một mình. Tội nghiệp mẹ tôi, tôi chả biết ví mẹ giống ai. Ðầy tớ nhà ông tôi còn sung sướng còn nói đùa nghịch, chứ mẹ tôi thì câm nín suốt ngày đêm. Cha tôi hy vọng mẹ tôi sinh con trai và đứa đầu lòng sẽ là nhịp cầu bắc qua những tâm hồn người bên nội với tâm hồn mẹ tôi. Chắc chắn mẹ tôi hết tủi cực.

Ðến ngày mẹ tôi trở dạ, ông tôi cất vội vàng túp lều nhỏ ở xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu. Tôi cất tiếng khóc ban đầu nơi ấy, ở túp lều xó vườn, cạnh khóm chuối tiêu, cạnh những con người hà tiện tình thương mến. Vì đêm tôi mở mắt chào đời, cha tôi đi vắng nên cớ sự xảy ra như tôi đa nói đoạn đầu. Tuần lễ sau cha tôi về, cha nghiến răng xé nát tờ khai sinh rồi đưa mẹ con tôi xuống tỉnh ly. Tôi vĩnh biệt họ hàng bên nội bằng mấy tiếng “oe oe”. Tôi lớn dần, lớn dần để thu vào tầm mắt non nớt hình ảnh cuộc đời cha tôi : hình ảnh gã nhạc công hậu trường sân khấu cải lương, hình ảnh ông lái thuốc bắc, hình ảnh ông thư ký sở tư, hình ảnh ông thợ chữa xe đạp và sau rốt là hình ảnh ông lang chế thuốc cao đơn hoàn tán. Mãi tới ngày cha tôi mất, tôi mới thù hằn những hình ảnh méo mó đọa đầy linh hồn cha tôi. Sao đời cha tôi nhiều hình ảnh thế? Và đời tôi nữa, hình ảnh thẫm nét nhất là một đêm mù mịt bên khóm chuối tiêu. Thế mà anh em tôi lại phải về quê ngoại. Tôi không hiểu tại sao mẹ tôi chịu nhục nhã, nương náu dưới túp nhà lá bỏ hoang vườn sau, trước đây ông bà ngoại dành riêng cho bọn thợ gặt mỗi vụ mùa. Mẹ tôi chỉ nghĩ đến anh em tôi. Trời ơi, tôi muốn khóc quá.

Ở đây, chúng tôi sống lủi thủi cô độc. Mẹ tôi dọn quán bán nước chè tươi, xôi chè, canh bún ngoài bến đò Ðồng – đức, bòn nhặt từng hào chỉ. Thường mẹ dậy sớm sửa soạn đồ hàng, cơm nước buổi sáng để anh em tôi ăn. Mẹ nắm thêm hai nắm nhỏ phòng trưa đói còn lót dạ tạm. Chập tối mẹ lần mò về nhóm bếp thổi cơm. Bữa nào hàng ế ẩm, mẹ con tôi ăn canh bún, ăn xôi chè thay cơm. Mẹ tôi luôn luôn vui vẻ dù thỉnh thoảng cậu mợ, dì bác tôi mỉa mai đủ điều. Họ nói những lời mà bây giờ tôi hãy còn nhớ. Tôi không thể tưởng tượng nỗi tê tái nghiến nát cõi lòng mẹ khi bà ngoại gọi mà là “đồ đĩ”, bác tôi bảo mẹ là “con lăng loàn” và mợ tôi nói bâng quơ “cóc chết ba năm quay đầu về núi”. Tôi thấy mẹ tôi cúi đầu lẳng lặng, nước mắt nhỏ giọt trên mái tóc em tôi, thì tôi đoán rằng mẹ buồn. Hồi ấy, tuy tôi bó bỏng nhưng tôi đã biết xét đoán những con mắt soi mói, những lời tiếng bấc chì, những bộ mặt ích kỷ của mọi người họ hàng bên ngoại. Tôi thương mẹ. Tôi thương em gái tôi hơn, chưa được hưởng sung sướng thì cha vội lìa đời. Tôi hằng mơ ước một mai khôn lớn, tôi sẽ kiếm tiền nuôi mẹ, sẽ tậu nhà ở tỉnh, mẹ tôi thôi bán hàng, em tôi cắp sách đi học. Nghĩ vậy tôi thèm đọc sách lắm. Khốn nỗi mẹ tôi nghèo cực, lấy tiền đâu mà mua. Tôi đành học ôn mớ sách cũ nát và dạy em tôi từng trang, từng đoạn dè sẻn, sợ hết chữ.

Ðám con cái cậu mợ tôi vào hùa cha mẹ chúng bắt nạt anh em tôi. Hễ em tôi hở ra món đồ chơi nào là chúng nó tìm cách ăn cắp. Tôi đòi, chúng xúm nhau đánh đập tôi sưng tím cả mặt mày. Em tôi khóc, mẹ tôi thở dài đau đớn. Dần dần cuộc sống quen nếp. Anh em tôi biết thân phận, bắt chước mẹ tôi, tập nhịn nhục, tập nghiến răng và hy vọng. Anh em tôi đùa nghịch với nhau, chẳng dám lai vãng đến thềm nhà ông bà ngoại.

Tôi hay bắt dế, bắt chuồn chuồn, bắt công cống cho em tôi chơi. Bạn bè của chúng tôi có chừng chỉ có con chim chích chòe sáng nào cũng đậu trên cành soan ca hát líu lo rồi tung cánh bay xa tìm mồi. Em tôi thích chim. Tôi vụng về, không trèo cao được. Tôi hẹn sẽ bắt tặng em tôi một con sáo khi mùa xuân sang.

Mùa xuân, hoa soan vườn nhà nở nhiều, mầu tím dịu mắt. Mẹ tôi nói hoa soan nở chỉ tổ đuổi muỗi mệt xác. Cùng lượt hoa soan khoe sắc, sáo trên rừng đổ xô xuống đồng bằng hàng đám, cơ man. Em tôi nhìn những con sao đen, lông muôn muốt, viền mắt vàng vàng, ra chiều thèm ước. Tôi theo bọn trẻ con bến đò, lấy rổ rách, vất cạp rồi buộc lại tựa hình cái đó đơm tép. Xong, tôi bó manh chiếu bên ngoài bịt chặt một đầu, còn đầu kia để ngỏ cho sáo ra vào. Tôi buộc tổ sáo trên cành sung thấp nhất. Hai hôm sau vợ chồng nhà sáo bắt đầu tha rác về tổ của anh em tôi. Chúng tôi hoan hỉ đợi chờ. Em tôi chưa chi đã vọi lo cái lồng nhốt con sáo. Tôi bảo em tôi phải mong ba tháng. Em tôi sốt ruột. Ngày nào cũng hỏi thăm sáo. Mẹ mắng em, em dỗi bỏ cơm. Tôi dỗ dành em mới chịu ăn.

Ít lâu sau tôi trèo lên thăm tổ. Tôi thò tay tận phía trong và biết sáo đẻ bốn trứng. Tôi lôi ra xem. Trứng sáo to bằng ngón tay cái của tôi, màu xanh xanh vân vân đẹp quá. Tôi kể chuyện em nghe. Em nhẩy reo ầm ỹ. Mẹ tôi dọa rằng:

– Rắn ưa tìm tổ chim ăn trứng. Con liệu hồn, nó cắn thì chết.

Tôi phát run, thề sẽ chừa thói liều lĩnh nguy hiểm. Nhưng em tôi muối coi trứng sáo, em cứ nằn nì đem xuống một trứng. Tôi đành mạo hiểm lần nữa. Lúc tôi đang lúi húi trước cửa sổ thì vợ chồng đôi sáo bay về. Chúng nó lượn trên đầu tôi, kêu inh ỏi. Tôi bỏ trứng vào túi áo, tụt xuống, sướt cả tay, máu chảy đầm đìa. Em tôi thỏa mãn sự tò mò, em trông tôi, thương hại. Tôi an ủi em và trả lại trứng cho sáo.

Tối hôm ấy mẹ tôi đánh tôi hai roi tội không vâng lời. Mẹ nói:

– Còn trèo nữa, sáo sẽ bỏ tổ.

Anh em tôi lo ngại ngủ chẳng ngon giấc. Ngày tháng mùa xuân trôi vùn vụt. Một buổi sáng anh em tôi nghe rõ tiếng sáo con kêu trong tổ, em tôi hỏi :

– Anh ơi! Sáo con có bú mẹ không?

Tôi vuốt tóc em dịu dàng trả lời:

– Em bú mẹ chứ sáo nào bú mẹ

Em ngây thơ:

– Thế làm sao nó lớn được?

– À sáo mẹ mớm mồi.

– Sáo bố làm gì hở anh?

– Sáo bố đứng canh. Em nhìn thì biết. Kia kìa, trên cành cây gần tổ. Khi sáo mẹ mớm mồi cho các con, cũng như khi ấp trứng, sáo bố bao giờ cũng lởn vởn ngoài tổ em ạ!

Tôi giảng nghĩa thế vì tôi nghe lỏm bọn trẻ con ngoài bến đò. Em tôi ngạc nhiên, ngây người đứng ngắm. Lát lâu em mỉm cười nũng nịu :

– Sáo con ngủ, sáo mẹ có ru không anh?

– Chắc có.

– Anh biết à?

– Thì anh đoán, chim cũng như người vậy em ạ!

– Mẹ ru em bằng bài “Con cò mà đi ăn đêm”, sáo ru con bằng bài gì hở anh?

– Anh chịu, chả biết được.

– Giá sáo là người để em hỏi nó chắc thích lắm anh nhỉ?

– Ừ.

Ðám con cái ngỗ nghịch của cậu mợ tôi đã thấy chỗ tôi buộc tổ sáo. Tôi tức’ sôi ruột, tức muốn đốt nhà chúng nó. Chúng nó rình mò làm tôi không thể ra bến đò trông hàng giùm mẹ tôi những lúc đông khách. Anh em tôi thay phiên nhau canh gác. Mẹ tôi khuyên tôi nên chia sáo cho chúng nó. Tôi miễn cưỡng phải rỡ tổ đáng lẽ chờ vài hôm nữa sáo con già dặn hơn. Hôm tôi bắt sáo con, vợ chồng sáo bay lượn kêu thảm não. Sáo mẹ sà xuống sát đâu tôi như thể nó sắp mổ mắt tôi. Chẳng trách cha tôi xé tờ khai sinh, mẹ tôi chịu vất vả, khổ sở. Mẹ tôi mua giỏ bắt cua để tôi nhốt sáo. Cậu mợ tôi chọn lựa ba con đẹp, lớn ; phần tôi là con sáo đẹt, bé nhỏ, xấu xí nhất đàn. Tôi buồn, khóc mấy đêm ròng. Làm sao tôi nhớ hết mọi chi tiết vụn vặt cái hôm ông cậu bà mợ tôi chia sáo? Cậu tôi bóp con sáo xấu số của tôi khiến cho nó há mỏ ra. Em tôi run rây chỉ sợ nó chết? Mợ tôi bảo :

– Bọn mày nuôi sáo làm quái gì, cơm còn không đủ ăn lại có cơm thừa nuôi sáo.

Tôi cáu tiết cãi lại :

– Sáo ăn cào cào chứ cần gì cơm gạo.

Cậu tôi chẳng nể nang gì mẹ tôi cả, cậu chúi đầu tôi một cái thật mạnh. Tôi lao đao xuýt ngã. Cậu mắng mỏ :

– Ðồ chết cha, đồ con hoang có khác. Anh em mày lớn lên thì thành đồ ăn cắp!

Tôi nín lặng, em tôi chạy vào ôm lấy mẹ. Và cả tôi cũng lủi thủi cầm con sáo vừa đi vừa khóc. Tiếng khóc của em tôi, em tôi rõ ràng hơn. Mẹ tôi thương anh em tôi, mẹ bỏ bán hàng nửa buổi đan cái làn mắt thưa. Mẹ bảo nhốt sáo vào đấy rồi treo lên cây, sáo mẹ luyến con sẽ mớm mồi, như vậy sáo chóng lớn.

Tôi nghe mẹ. Quả con sáo của anh em tôi được sáo mẹ chăm lo chu đáo. Ðám con cái của cậu mợ tôi ghen ghét. Chúng nó chăm chăm đòi bắn đôi sáo già. Tôi chỉ ngại nhỡ chúng bắn sáo của tôi. Bọn ranh con mất dạy, ích kỷ bắn súng cao su không trúng, chúng nó nhờ người thổi ống xì đồng. Buổi sáng hôm cái gã mắt chột rình rập ngoài vườn, anh em tôi lo cuống quýt. Em tôi nhìn sâu chim đủ loại : chào mào, chích chòe, liếu tiếu lủng lẳng trên vai hắn, em nói nhỏ:

– Khéo nó bắn chết sáo mất anh ạ!

Tôi run run trả lời em :

– Ðừng sợ em ơi! Mắt nó chột bắn chả tin đâu.

Nhưng đôi sáo già đi kiếm mồi đã về. Tim anh em tôi đập mạnh. Tôi rõi mắt lên cành sung chờ đợi. Sáo bố đậu cách cái làn khá xa, sáo mẹ mon men lại gần mớm mồi. Trong lúc đó, viên đạn đất oan nghiệt từ ống xì đồng thổi phụt ra. Sáo bố trúng đạn rơi xuống ao. Em tôi giật nẩy mình kêu lớn :

– Chết em rồi!

Tôi cảm thấy như viên đạn trúng đầu tôi. Con sáo bố đã chết. Sáo mẹ bay lượn, rỉa rói ai oán hàng giờ. Em tôi ứa nước mắt :

– Sáo của anh em mình mất bố rồi nó sẽ khổ lắm anh nhỉ?

Câu nói khiến lòng tôi se lại. Tôi nhớ cha tôi. Phải chi cha tôi còn sống thì anh em tôi đâu khổ sở thế này. Sáo mẹ thỉnh thoảng bay tới, nó chỉ dám sà vội qua cái làn, có khi sáo con chưa kịp há mỏ, mồi đã rơi mất. Sáo mẹ sợ sệt tất cả. Tôi chạnh nghĩ đến mẹ tôi mà buồn vời vợi. Em tôi lo cho sáo con, đòi mang xuống. Tự đấy sáo mẹ không trở lại nữa. Có lẽ nó đã chết vì cô độc hay đã về rừng. Chúng tôi nuôi sáo bằng chuối. Dần dần sáo lớn, tôi ra đồng đập cào cào lấy mồi nuôi sáo. Tội nghiệp sáo con côi cút, đêm ngày âm thầm chui rúc trong cái giỏ cua. Em tôi đang phân vân không hiểu mai kia sáo lớn nhốt vào đâu. Ước gì có cái lồng tre, chúng tôi mơ ước song mẹ tôi không thừa tiền chiều chuộng con.

Giữa lúc đó thì chú Nghị đến thăm mẹ tôi. Họ hàng bên nội nhà tôi chỉ chú Nghị là kẻ có lòng. Bao nhiêu năm tháng qua rồi, từ ngày tôi sinh ra đời tới bây giờ, chú luôn luôn an ủi, giúp đỡ mẹ tôi. Tuy chú nghèo, tôi thường nghĩ giang hồ phiêu bạt như chú, giầu sao được. Chú Nghị tốt lắm, chú bên vực mẹ tôi thuở mẹ tôi bị cả gia đình chồng xúm vào cấu xé, đay nghiến chỉ vì mẹ tôi thương yêu cha tôi quá đến nỗi mẹ bằng lòng lấy cha tôi không cần giá thú. Hôm đưa xác cha tôi tới nghĩa địa, tôi thấy chú khóc nức nở khi những tảng đất phủ kín dần chiếc quan tài bằng gỗ mộc. Tôi còn đủ trí nhớ để hình dung ra bộ mặt khắc khổ phong sương của chú Nghị. Và hình dung ra thì tôi lại ghét cay đắng ông bà nội, các cô các chú tôi, nhất là người vợ cả ích kỷ của cha tôi.

Dạo cha tôi ở Hà – nội, ban tuồng chú Nghị sau nhiều chuyến lang thang dọc. đường gió bụi, trở về trình diễn tại thành phố này. Chú dành ghế cho cha mẹ tôi xem tuồng liên miên. Mỗi buổi tan hát, chú dẫn đi ăn mì. Khi rảnh rang, chú dắt tôi tới vườn Bách – thú xem xiếc hoặc dạo mát loanh quanh trong công viên rồi ra ngồi ăn bánh tôm trên đường Cổ – ngư bên hồn Trúc – bạch. Mỗi phố tôi qua, chú dạy tôi cách trông chừng hai đường xe cộ lưu thông. Vì chú cháu tôi hay thơ thẩn buổi sáng, chú bảo tôi thở hít mạnh, chú giữ lưng tôi ngay thẳng tựa người lính tập đứng nghiêm. Tôi yếu đuối, chắn chắn sự yếu đuối ảnh hưởng phần nào những ngày mẹ tôi mang thai tôi, tâm hồn mẹ bị dằn vặt, thôi thúc thời gian đó. Huệ, Lê – Lợi, Lý – Thường – Kiệt, câu kết luận của chú bao giờ cũng hàm đầy ý khuyến khích:

– Cháu gắng lên, mai mốt cháu sẽ giỏi, cháu sẽ hãnh diện làm con của cha mẹ cháu.

Tôi không nghe chú nói tới quãng đời luân lạc chim nổi của một kép hát. Sau này vợ chú bỏ chú lấy người khác, chú nghiện rượu và thù hằn tất cả. Tôi không biết tại sao chú hay giấu điếm sự uẩn ức mà đáng lẽ nói được thì chú bớt giận dữ kẻ khác trên đời. Nhưng, ngay trong những cơn điên tàn bạo, chú tôi rất h iền hòa với mẹ tôi. Tôi nhớ dạo gia đình tôi sống ở ngoại ô Khâm – thiên, nhà tôi phải đi qua cái ngõ hẹp bẩn thỉu. Một buổi tối, tôi đang cắm cổ bước, vì tôi sợ ma, thình lình chú Nghị nấp sau đám giậu kêu “ú a ú ớ” cơ hồ tiếng ma quỷ giận hờn rồi xô ra chắn lối. Chú muốn dọa tôi nên chú chơi thế. Song lúc ấy tôi không thèm hiểu. Trong khoảnh khắc, đầu óc tôi tràn ngập sợ hãi, khích động. Tôi cáu tiết đá chú nột cái thật mạnh. Tôi mới lên mười nhưng tôi mang giầy, trong cơn tức giận tôi đá mạnh kinh khủng và cái đá làm sước ống chân chú Nghị. Máu chảy ròng ròng, chú đau đớn, rên nhè nhẹ rồi ngẩng lên mỉm cười. Chú ôm tôi xin lỗi. Tôi khóc thương chú khiến chú rớt nước mắt. Chú Nghị mang vết sẹo trên da tháng năm nối tiếp. Thỉnh thoảng vui vẻ, chú kéo ống quần khoe vết sẹo. Anh em tôi lại sà vào lòng chú nũng nịu.

Ngày mẹ tôi dìu anh em tôi về quê ngoại, chú phiêu bạt mãi tận Sài – gòn. Thành thử chúng tôi trống rỗng buồn tẻ. Không ai bênh vực an ủi anh em tôi. Nay tự nhiên chú Nghị đến, hỏi chi anh em tôi không vui mừng sung sướng. Bên ngoại vẫn thù bên nội vì ngày mẹ tôi trốn nhà theo cha, ông nội cứ gọi tên ông ngoại chửi bới, trách móc. Lúc này chú Nghị có mặt ở đây, tôi thấy chú nhét bông đầy tai và đeo kính râm suốt ngày. Chú mua cho tôi vô số sách đẹp. Chú dạy anh em tôi học. Tôi thích chú Nghị nói chuyện lịch sử. Em tôi thì bận tâm về con sáo nhỏ. Em khóc khi chú dạy tôi toán pháp. Chú hỏi em tại sao, em bảo ước’ gì có cái lồng như bọn anh chị em con cậu con bác tôi. Chú Nghị vuốt tóc em, chú tháo cặp kính, mắt chú đỏ ngầu, chú thẫn thờ giây lát rồi ghé tai em tôi thầm thì. Em tôi nhảy lên reo múa. Mấy hôm sau, chú bỏ việc dạy học, ngồi cặm cụi vót tre đan lồng. Ba bốn ngày liền chú mới đang xong. Cái lồng sáo của em tôi đẹp chả thua gì lồng bán ngoài bến đò. Chú làm chiếc thang ngang lấy chỗ cho sáo đậu, chú buộc cóng đựng nước và cóng chưa có gạo, nước. Con sáo được nuôi trong lồng ra bỏ đi. Mẹ tôi giữ thế nào cũng chẳng nổi. Tôi hết hy vọng học chú. Hôm chú mới đến, chú hứa chú ở lâu, chú nói dối anh em tôi. Chú Nghị ra đi, ít tháng sau được tin chú chết, mẹ con tôi buồn não nuột. Từ đó, sớm chiều anh em tôi đành tâm sự với con sáo.

Tôi ra đồng đập cào cào, châu chấu làm mồi cho sáo ăn. Em tôi thích đút chuối cho sáo. Em cắn miếng chuối nhỏ, xâu vào đầu cây tăm. Em thổi sao miệng, chú sáo đói kêu “khách khách” trả lời rồi há mỏ ra đợi em tôi mớm ăn. Em còn cho sáo ăn thịt nữa. Những buổi trời ấm áp, em tôi tắm sáo, rửa lồng. Nhìn sáo phơi mình dưới ánh nắng, mắt em tôi bừng lên những tia sung sướng, hy vọng. Em hay thả sáo tự do nhởn nhơ khỏi lồng. Em đi trước, sáo theo sau tựa hồ đôi bạn côi cút thương yêu nhau. Con sáo của em khôn lắm, nó thường “làm nũng” em lúc em cho nó ăn. Nó nhảy lên cánh tay em rồi bậy trắng lòe áo. Em thích ôm sáo trong lòng đôi bàn tay hoặc để nó đậu trên vai rất âu yếm. Bữa nào sáo ăn ít, em sợ sáo ốm, sáo chết, em buồn có khi em khóc. Nhiều đêm trời mưa bão, em ngủ không yên, thức giấc là hỏi chuyện sáo.

Ngày tháng trôi qua, con sáo của em tôi thay hình đổi dạng. Bộ lông đen mượt, nó nhẩy nhót luôn chân. Nó đã biết mổ gạo. Như thế anh em tôi khỏ cần lo cào cào, châu chấu, chuối, thịt nữa. Mẹ tôi bảo bóc lưỡi sáo vài lần thì nó mới nói được. Em tôi sợ sáo đau nên ngần ngừ. Nghe ai mách rằng cho sáo uống nước cua kẻo nó “sốt rét”, em tôi định làm, song mẹ tôi mắng:

– Sáo đẻ ở đồng bằng thì ngã nước cái gì, chỉ vẽ chuyện.

Thế rồi anh em tôi cũng phải nhờ mẹ tôi bóc lưỡi sáo. Con sáo xấu xí út ít không ngờ đẹp quá. Bọn trẻ gạ gẫm mua, anh em tôi từ chối. Chúng nó tức giận bèn mang con mèo già hung ác tới dọa nạt. Anh em tôi thay phiên gác sáo.

Bây giờ con sáo tập hót. Mắt nó còn viền vàng xinh đáo để. Thỉnh thoảng vắng người nó líu lo đôi tiếng. Hễ có người thì nó câm tiếng. Em tôi cho rằng nó xấu hổ. Một buổi trưa anh em tôi đang thiu thiu ngủ bỗng nghe con sáo kêu hoảng hốt. Em tôi vùng dậy, thấy ở thềm nhà gã mèo hung ác đứng gầm gừ nhìn lên. Em vác guốc ném trúng mèo, nó co đuôi chạy mất. Chúng tôi lo sợ. Mẹ tôi bắt mang lồng sáo ra ngoài hàng, tối mang về.

Khách hàng ghé quán mẹ tôi, họ dạy anh em tôi cách tập sáo nói. Họ bóc hộ lưỡi rồi họ che kín mít lồng. Quả nhiên sáo không nhìn rõ ai, hót líu lo. Giọng nó trong vắt mà buồn làm sao. Trưa hè ở bến đò vắng vẻ, tiếng nó gợi cho anh em tôi bao nỗi nhớ nhung thương tiếc. Tôi lại nhớ chú Nghị, nhớ cha tôi. Dần dần em tôi dạy nó nói. Bài học vỡ lòng để sáo nói tiếng người là :

– “Sáo dạ, sáo dạ, nhà có khách”.

Em tôi kiên nhẫn dạy sáo, mãi rồi con sáo côi cút của em tôi nói được. Em ngây thơ lắm, em dạy cả sáo hát, dạy nói những lời hết sức tha thiết:

-“Sáo nhớ mẹ, sáo khóc “.

Con sáo dường như hiểu nỗi lòng của em tôi nên cố gắng. Khi em hát, sáo hót và nói “Sáo nhớ mẹ…” Càng ngày sáo hót càng hay. Thấy là lạ, ông ngoại tôi xuống chơi nhà tôi nghe sáo nói. Việc này quá sự tưởng tượng của mẹ tôi. Từ ngày gia đình tôi về nương náu ở đây có khi nào ông ngoại tôi thèm thăm hỏi. Ông thích con sáo, ông đòi mượn. Em tôi lăn ra khóc’ từ chối. Sau hôm ấy, ông ngoại ghét anh em tôi hơn.

Ở bến đồ, vô khối người muốn mua, họ trả một trăm đồng nhưng em không bán. Mẹ tôi khuyên em nên bán vì trăm bạc sẽ may được cho hai anh em tôi mỗi đứa hai bộ quần áo diện tết. Em tôi không cần quần áo, nếu mẹ bán sáo thì em tôi sẽ nhịn đói đến chết. Cuối cùng mẹ chiều em. Anh em tôi có con sáo nên bớt cô độc. Trẻ con hàng xóm năng lui tới nhà tôi trừ bọn anh em họ độc ác của tôi. Trong quãng đời thơ ấu buồi tủi, anh em tôi thèm thuồng đủ thứ. May mắn mẹ đưa anh em tôi về quê chứ ở lại Hà – nội thì anh em tôi còn khổ sở dường nào. Ðiều chắc chắn là em tôi không có con sáo để trút nỗi niềm. Em tôi ưa ngồi một mình nói chuyện với sáo. Em tôi kể nỗi hiu quạnh của em làm như sáo hiểu nổi. Em hỏi sáo:

– Mất bố mẹ sáo có khổ không?

Rồi em nói tiếp :

– Khổ ư? tội nghiệp nhỉ, bé bỏng thì chỉ bị bắt nạt thôi sáo ạ! Sáo đừng khóc nhé! À sáo ăn no chóng lớn, chớ bỏ bữa, gầy còm rồi chết thì tôi buồn đấy sáo ạ! Chả ai chơi thân với người nghèo như mình đâu.

Con sáo đôi khi vô tình buột miệng:

– “Sáo nhớ mẹ sáo khóc”

Em tôi dỗ dành:

– Ừ, sáo nhớ mẹ, tôi cũng nhớ cha. Sáo khóc à, thì khóc đi…

Tôi nằm nghe, nước mắt trào ra cay đắng. Dạo ấy tôi mới chỉ mười ba tuổi, em tôi tám tuổi. Nhưng tôi sớm tiếp nhận nỗi u sầu vào tâm hồn. Và bao nỗi niềm tủi nhục thay phiên hất hủi mẹ con tôi nên tôi đã khôn ngoan, đã biết khinh bỉ họ hàng bên nội bên ngoại trừ chú Nghị.

Cuộc đời đọa đầy tôi ngay ở cái tuổi đáng được hưởng hạnh phúc, sung sướng. Thành ra nếu có ai nghi ngờ, tôi vẫn nói rằng suốt thời thơ ấu của tôi, tôi không biết trông trăng trông sao, không biết bẻ hoa bắt bướm mà chỉ biết be bờ ruộng đơm đó kiếm tép để ăn, ăn thừa thì mẹ tôi đem ra bến đò bán. Cùng tuổi tôi, đám con cái của cậu MỢ tôi còn vòi vĩnh cha mẹ, ngu ngơ chả hiểu gì. Thế mà tôi hiểu cách rang cám cho thơm, cắt màn cũ khâu thành vó, vót tre thành giọng, cất vó tôm. Tôi hiểu cách cưa ống nứa, đan hom đào giun xào với lá bòng thả ống lươn. Tôi hiểu cách đan rọ cá rô, ngâm thóc vào nước gạo cho thối nhử đàn cá. Tôi hiểu nhiều lắm, hiểu cả những lời bóng gió, mỉa mai của thiên hạ để sau này bước xuống cuộc đời đem tâm sự của một con chim hụt mũi tên. Mẹ tôi ví tôi như trái chín rấm. Tôi tưởng tôi là trái chín hoang. Vì trừ trái chín cây không thèm kể đến, trái chín rấm còn được người ta xếp vào lò hay bỏ vào vựa, vào chum, người ta nhét vào đầy lá soan cho mau chín chứ đời tôi, đời anh em tôi nhất định là hai trái chín hoang. Ngày nào đó, người ta thấy hai trái xanh quá, xấu xí quá, người ta ném vô bụi giậu. Mưa, nắng, gió bão tới tấp, chịu đựng nổi thì trái chín. Tôi biết tôi chịu đựng nổi bởi vì ngoài họ hàng bên nội bên ngoại còn mẹ tôi, còn chú Nghị. Ngoài đám con cái cậu mợ tôi hay bắt nạt, hếp đáp anh em tôi còn bọn trẻ con ở bến đò Ðồng – đức dạy tôi buộc tổ sáo… Và mai mốt tôi sẽ chín, chín chẳng để trả thù ai đâu, nhưng chín để kể lại chuỗi ngày tháng anh em tôi nuôi con sáo.

Con sáo là niềm an ủi duy nhất, là niều kiêu hãnh duy nhất của anh em tôi. Trong khi chung quanh tôi, trẻ con nhà giầu nuôi sáo bằng lồng son, cóng sứ, thức ăn thì gạo trộn lòng đỏ trứng gà, nước uống thì pha sôm nhị hồng, sáo của chúng nó vẫn chết. Anh em tôi nuôi sáo chỉ có gạo trắng, nước lã, lồng tre mà sáo hót lại hót hay, sáo nói lại nói giỏi. Tưởng con sáo cũng nên kiêu hãnh. Với tình thương mến của anh em tôi, với cái lồng do chú Nghị đan, nó đã thành con sáo quý khác cả những sáo quý nhất trên đời.

Tính ra anh em tôi nuôi sáo dã lâu. Năm ngoái mẹ tôi buôn bán phát tài, tết nhất cũng đủ bánh trái, thịt ăn mấy ngày. Anh em tôi mỗi đứa có bồ quần áo mới , có tiền xu, tiền hào chơi đáo, chơi cò quay, có tranh con lợn treo tường, có long đình, tượng bụt chơi làm đình làm chùa. Giá nghe mẹ bán con sáo thì tiếc chừng nào. Năm nay hàng quán ế ẩm. Suốt mùa đông mưa lê thê, bến đò vắng khách. Mẹ tôi lại đau yếu luôn luôn, phải nghỉ ở nhà. Con sáo cùng chung nỗi buồn, biếng ca hót lười bay nhảy, nó quên cả lải nhải mấy câu nói em tôi dạy thuộc lòng. Trời cuối tháng chạp mưa phùn rả rích. Gió bấc thổi vù vù. Rét thấu xương. Anh em tôi co ro trong ổ rơm, lồng sáo đặt bên cạnh. Mẹ tôi lại sốt từ hôm ông Táo lên chầu trời. Ba hôm nữa tết rồi mà mẹ vẫn nằm rên rỉ. Tôi lo ngại quá, tâm hồn thờ thẫn. Em tôi sốt ruột vì trời mưa. Nhà chỉ còn gạo, mẹ tôi chưa sắm sửa đồ cúng. Gà vịt cũng chưa mua. Cho đến tối ba mươi, mẹ tôi lên cơn sốt nặng. Mẹ tôi rên hừ hừ. Ðắp hai cái chăn, hai cái chiếu, mẹ vẫn còn rét. Anh em tôi ôm nhau khóc thút thít. Em hỏi những câu quái gở khiến tôi rùng mình.

– Anh ơi! liệu mẹ có chết không?

– Không, mẹ phải sống nuôi anh em mình thành người chứ.

– Sao mãi mẹ chải khỏi gì cả?

– Tại trời mưa lạnh, tạnh nắng là mẹ khỏi, em đừng lo.

Tôi nói dối em tôi tại mưa lạnh, thực ra mẹ tôi chẳng uống thuốc men gì cả. Con nhà nghèo, ốm no bò dạy. Tôi thường bị sổ mũi, ho mà có cần mời thầy lang đâu. Nằm vài bữa, trở dậy lại khỏe như cũ. Tôi tin thế nên đỡ lo.

– Dạo cha còn sống mẹ có ốm nặng không anh?

– Anh chả nhớ rõ.

Trưa nay, em ngủ nằm mơ thấy cha, em nhớ cha quá, ước gì cha sống lại…

Em tôi khóc to hơn. Tôi ôm em vào lòng, thương mến. Bên ngoài trời còn mưa lai rai. Ðêm cuối năm mù mịt. Anh em tôi lo lắng không dám ngủ. Lúc mẹ tung chăn chiếu, anh em tôi nhảy bổ vào ôm mẹ. Hơi nóng và mồi hôi sau cơn sốt thoát ra sưởi ấm anh em tôi giữa đêm trừ tịch. Mẹ tôi vuốt tóc em.

– Mai, ngủ thôi chứ con, mai dậy sớm mẹ mừng tuổi tiền mua pháo tép.

Em tôi nũng nịu :

– Con mua pháo ống lệnh cơ!

– Ừ thì mua pháo ống lệnh.

– Mới lại cái gương cho con sáo nó soi.

– Gớm cô ả vòi vĩnh mãi.

Mẹ tôi chiều con, mẹ nói hơi nhiều, giọng mẹ mệt nhọc. Tôi định hỏi mẹ cái gì, nhưng thương mẹ lại nghĩ không ra. Anh em tôi tắt đèn đi ngủ.

Sáng mồng một tôi dậy sớm. Em tôi ngủ mê mệt, tôi đắp thêm chiếu cho em ấm áp ngủ lâu. Mẹ tôi hình như đã đỡ. Mẹ nhìn em tôi, lắc đầu ái ngại. Dưới ngọn đèn lù mù, tôi thấy nước mắt mẹ tôi lăn tăn trên gò má xanh xao, khắc khổ. Mẹ tôi nói nhỏ:

– Hữu này, mẹ dặn con nghe nhé! Hôm nay đừng lởn vởn ngoài ngõ, đừng lấy tiền của ai cho.

Mẹ tôi dặn tôi bằng thừa. Cậu mợ tôi dạy tôi nhiều bài học độc ác, giả đạo đức quá rồi, tôi thèm thuồng gì mà ngửa tay ra để người ta nhổ bọt vào. Nhưng tôi phải đáp:

– Vâng ạ!

Giọng mẹ tôi đứt từng câu ngắn :

– Tại mẹ ốm… thành thử… tết này nhà mình… thiếu cỗ. Con nhớ… thắp hương… bàn thờ cha con nhé! Con lớn rồi, chả cần, chứ em con, ngày tết… không được miếng thịt…

Mẹ tôi bỏ lửng câu nói, ôm mặt khóc tấm tức. Tôi bỏ ra ngoài sân. Trời lạnh hẳn. Phía nhà trên, gia đình ông ngoại đang giết gà, vo gạo, thổi xôi… Chiều qua nhà ông mổ lợn. Tôi muốn lên chầu chực để may ra ông thương hại thí cho một miếng về ăn tết. Song tôi nhớ tới chú Nghị, tới những bài học làm người chú dạy tôi nên tôi lại thôi. Dường như hồi chú ghé đây để đan cái lồng sáo, chú nhìn tôi rồi gật gù, bao giờ chú cùng gật gù sau buổi dạy học:

– Cháu thông minh lắm, cháu giỏi lắm.

– Nhưng mẹ cháu nghèo.

– Hề gì, đói rách đâu phải là tội lỗi, cháu đừng buồn. Rồi ngày kia cháu sẽ lẻ loi, cháu sẽ thấy trong sự đau khổ người ta mới xét đoán mọi việc đứng đắn.

– Rồi cháu có sung sướng không chú?

– Chú không dám nói cháu sung sướng nhưng chú quả quyết cháu có tài, có nhiều tài…

– Thật hả chú?

– Thật chứ, song cháu chả nên quy lụy ai, quy lụy nó hèn con người đi thì rồi cái tài cũng đến xếp xó.

Chú ưa kể chuyện cha tôi và ngón sở trường âm nhạc : đàn thập lục. Chú bảo ngày ông nội đuổi cha tôi khỏi nhà, cha tôi không có đồng xu nào dính túi. Thế mà cha tôi gây dựng nổi đời cha. Tại cha tôi chết sớm chứ không thể nào cũng có ngày cha về làng mua đất dựng nhà. Tôi kém cha tôi nhiều quá, tôi chỉ biết khóc.

Lúc này đứng nhìn thiên hạ đón xuân, tôi nghĩ đến em gái tôi, nghĩ đến miếng thịt gà, thịt lợn hay thịt chim khi em tôi tỉnh dậy. Anh em tôi chỉ có mỗi con sáo. Con sáo nuôi bao nhiêu ngày mới biết nói. Chẳng lẽ tôi giết nó? Chẳng lẽ em tôi ăn cơm với muối ngày đầu năm? Năm nay em tôi mười tuổi, mười mùa xuân bay vụt qua, mười mùa xuân tẻ nhạt, buồn thảm chấp nối thành thời thơ ấu của em tôi. Mùa xuân trôi theo kỷ nhiệm, có khi nào níu lại được? Tôi không muốn em tôi lớn lên phải nghẹn ngào nhắc tới một trang chua chát, xiên lệch trong cuộc đời. Vậy thì tôi sẽ giết con sáo. Tôi nghĩ tôi biết buộc tổ, biết nuôi sáo, nuôi bằng cái lồng của chú Nghị thì sáo nào chẳng biết nói, biết hót. Dẫu con sáo này chết, tháng sau tôi buộc tổ sáo khác. Mùa xuân tàn rất nhanh, tôi có đàn sáo mới, tôi nuôi một đôi để chúng quyến luyến nhau cơ hồ anh em tôi, chắc em tôi sung sướng lắm. Ý tưởng ấy khiến tôi bớt se sắt, bớt tủi nhục. Tôi len lén trở vào xách cái lồng sáo xuống bếp. Trời còn tối, sáo không nhận ra tôi. Nếu nó chết thì nó oán hờn sự nghèo khổ và bàn tay tàn ác nào đó. Vong hồn cha tôi sẽ phù hộ tôi. Giết nó, tôi đau đớn vô ngần nhưng tôi phải thương em tôi hơn. Em tôi phải được ăn thịt sáo nấu su hào ngày mồng một tháng giêng năm mới. Chỉ vì em, tôi quên tất cả.

Tôi mở cửa lồng thò tay tìm con sáo. Nó nhảy trốn, móng chân nó cào vào tay tôi đau buốt. Cuối cùng tôi tóm nó. Nó kêu ai oán, từ xưa nó chưa từng kêu như thế. Nó g giẫy giụa. Tôi vặn cổ nó chết tươi. Làm xong công việc tàn nhẫn đó, tôi nhóm lửa nấu nước làm lông. Tôi run run chặt dao trúng ngón tay. Máu tôi hòa cùng máu con sáo.

Tôi xào thịt với hành mỡ thơm lừng rồi đổ nước đun thật lâu. Trong khi chờ đợi, tôi gọt su hào.

Lúc ở bếp bước ra, trời hừng sáng. Tôi đem lông sáo và cái lồng giấu phía sau nhà. Tôi ngồi bệt xuống đất, ôm mặt khóc. Pháo nổ vang trời đất, chuông trống khua inh ỏi. Lòng tôi sôi bùng bùng, tan nát. Tôi nhớ chú Nghị, tôi nhớ cha tôi. Những người thân yêu có thể che chở cuộc đời mẹ con tôi đều bỏ đi cả. Bây giờ mùa xuân về, mẹ con tôi cô độc, nghèo nàn. Tôi đâu đớn trút nỗi buồn vào hai bàn tay non nớt, bóp bẹp cái lồng sáo. Niềm vui thơ ấu của anh em phần bị chết chóc, phần bị dúm dó, gẫy vụn. Tôi cứ ngồi tưởng tiếc. Mãi khi nghe tiếng mẹ gọi , tôi mới trở vào.

Mẹ tôi hỏi:

– Tại sao con khóc?

Tôi đưa vạt áo thấm nước mắt, trả lời:

– Thưa mẹ khói làm con cay mắt đấy ạ!

Rồi tôi mỉm cười, nhưng nụ cười gượng gạo ấy giấu sao nổi một tâm tư đang cuồn cuộn muôn vàn ý nghĩ. Tôi nghe tiếng mẹ thở dài. Tôi đánh thức em tôi dạy. Mẹ tôi mừng tuổi cho mỗi đứa hai đồng. Tôi tặng cả em. Em tôi sung sướng nhận ngay không hỏi lôi thôi như những ngày thường. Gió xuân vừa tạt qua đôi má thơ ngây của em. Tôi nói:

– Mai, đi rửa mặt rồi vào ăn cỗ em!

Em reo to:

– Có cỗ hở anh?

– Ừ, cỗ to lắm.

– Anh cúng cha chưa?

– Ðã.

Tôi nói dối em chứ ai lại cúng cha bằng thịt sáo. Em tôi chưa biết gì cả. Khi ngồi ăn, em mơ màng chuyện đâu đâu. Em khen thịt ngon. Bất chợt em hỏi tôi:

– Thịt gì đấy anh?

– Thịt chim.

– Anh mua à?

– Không.

– Thế ai cho, ông ngoại hở?

Tôi im lặng nghĩ câu trả lời. Em tôi tự nhiên buông đũa, đứng dậy, cuống quít:

– Con sáo của anh em mình anh ạ! Ta mừng tuổi nó chứ?

Thấy tôi rầu rầu không nói, đứa em gái sầu thảm của tôi ngây người đứng ngó. Và em chạy vụt ra sân ngơ ngác tìm kiếm xong lại chạy vô gậm giường? Chẳng thấy lồng sáo đâu, em hỏi :

– Nó ở đâu hở anh?

– Chắc trộm bắt mất rồi em ạ!

Em tôi thẫn thờ bước khỏi ngưỡng cửa. Lòng tôi rối bời. Nước mắt trào dâng lên, nhỏ giọt xuống bát canh su hào thịt sáo. Tôi cứ ngồi, nước mắt cứ rơi, lặng thinh như phiến gỗ. Tôi đợi em vào để xin lỗi. Tôi hối hận, tôi muốn chạy ngay ra ngõ gào khóc bi thương ngộ may có Phật hiện hình thì xin ước cho con sáo sống lại. Nhưng cõi đời tăm tôi của anh em tôi, Phật là chú Nghị, chú chết rồi, tôi ước nguyện gì đây? Mãi chả thấy em trở vào, tôi hoảng hốt chạy về phía nhà sau. Ở đấy có bộ lông sáo sũng nước và cái lồng tre chú Nghị đã đan cho em tôi. Em tôi ôm cái lồng vào tay thương tiếc. Tôi đi nhẹ tới gần em. Bước chân tôi run rẩy trên nền đất quê ngoại. Tôi khẽ gọi:

– Mai, em Mai…

Em không ngoảnh lại. Tôi biết em ghét tôi lắm. Em đứng dậy, vẫn ôm cái lồng, lững thững đi ra bờ ao. Tôi phải nói thế nào để em tôi hiểu tại sao tôi giết con sáo? Tôi toan giãi bày, nhưng khốn nạn, sự nghẹn ngào rình mò đúng lúc vít chặt lấy cổ họng tôi. Tôi chỉ còn biết ấp úng:

– Em ơi! Anh xin…

Tôi buông chưa dứt lời, em quay lại nhìn tôi, đôi mắt chớp mau. Bốn con mắt anh em tôi lúc ấy mờ đi dưới cái màng sám hối, đau thương. Bộ mặt đau khổ của tôi nói với em nhiều rằng tôi quý con sáo nhưng tôi yêu em. Em tôi chừng hiểu chuyện, em buông đôi tay. Cái lồng và bộ lông con sáo rơi xuống đất. Em chạy xô tới ôm lấy tôi, khóc nức nở.

DUYÊN ANH

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 6 May 2024

Phần 20

Một cuộc gặp gỡ

Thật đáng ngạc nhiên khi có một hôm thằng Tửu đến tìm tôi và nói:

– Bố em muốn mời thầy tới nhà để hỏi thăm chút chuyện.

Tôi ngạc nhiên:

– Có chuyện gì vậy?

– Em không biết. Nhưng bố em nói là giờ giấc tùy nghi ở thầy. Lúc nào cũng được. Sẽ có xe tới đón thầy tận nhà.

Tôi xua tay:

– Khỏi cần. Tôi đạp xe tới được rồi. Khoảng bảy, tám giờ tối mai, sau bữa cơm chiều.

Lúc Tửu đi khỏi rồi, tôi có hơi băn khoăn về cuộc gặp gỡ này, nhưng xét kỹ thì năm trước, tôi là chủ nhiệm lớp có thằng Tửu theo học. Hẳn ông ta muốn hỏi tôi kỹ càng hơn về thằng con của mình. Đấy cũng là chuyện bình thường.

Hôm sau, cơm nước xong, tôi thong thả đạp xe lên đại lộ Trần Hưng Đạo ở trung tâm Sài Gòn, rẽ vào đường Phát Diệm rồi đi thêm một hồi nữa. Ngôi nhà của thằng Tửu là một căn biệt thự rộng rãi, có hàng rào xi-măng phủ gần kín bởi một dàn ti-gôn đang có những chùm hoa nở rộ. Phía cổng ngoài, có một anh cảnh vệ đang ngồi gác trên một cái ghế gỗ kê ở sát mé tường. Bức tường kéo dài cả ở hai phía, với rặng cây um tùm che phủ gần kín đã khiến cho căn biệt thự này có một vẻ cách biệt hoàn toàn với những nhà chung quanh cùng một khu xóm.

Thằng Tửu đón tôi ngay ở cổng vào. Nó tíu tít khoe mấy cái lồng chim đang treo cao trên một cái xà ngang gần đó. Tôi vì đang bận tâm với cuộc gặp gỡ nên chỉ đáp ứng nguồn vui của nó với giọng ậm ừ. Sau cùng thì tôi cũng đặt chân vào tới căn phòng khách rộng thênh thang, có tràng kỷ, có salon, có tủ kính đựng những món đồ trang trí. Trên tường thì tranh được treo la liệt. Đặc biệt, tôi còn thấy cả một tấm hình chụp quang cảnh của một buổi lễ gắn lon có vẻ được tổ chức sơ sài ngay ngoài trận truyến với dãy trực thăng còn nhìn thấy ở phía xa xa. Nếu không có thằng Tửu bên cạnh thì tôi cứ ngỡ là mình đang đứng trong phòng khách của một vị sĩ quan cao cấp của QL/VNCH trước năm 1975.

Chủ nhà tiếp tôi là một người đàn ông trung niên, nước da đen xạm, mái tóc cắt ngắn, đôi mắt linh hoạt sau cái kiếng trắng lắp trên gọng vàng, và cử chỉ nhanh nhẹn trong một bộ đồ pyjama mầu xanh nước biển có chạy những đường viền mầu đỏ sậm, nhìn cũng khá diêm dúa. Ông ta từ trên cầu thang lầu bước xuống, thấy tôi chăm chăm nhìn những bức hình, liền lên tiếng:

– Toàn là hình chụp của tay Đại tá chủ nhân căn nhà này đó. Ông ta di tản vội vã nên bỏ lại nguyên cái cơ ngơi này.

Tôi không đáp lại mà đảo mắt nhìn ra chung quanh. Quả là “nguyên cái cơ ngơi” còn tồn tại nơi đây, với những bức tranh khảm xà cừ, những cụm đèn để trong các góc có gắn những chùm dây hoa văn đan kết bằng thủy tinh nom rất công phu và quý giá. Đặc biệt, trên trần nhà cao, một dàn đèn dễ có tới cả chục bóng xếp theo hình tròn tỏa ra chung quanh như những cánh hoa đang nở. Mặc dầu dàn đèn này chưa được bật lên, nhưng dưới ánh sáng dịu dàng của mấy ngọn đèn trong góc cũng đủ làm cho những chùm thủy tinh đan kết chung quanh vòm trần tỏa ra những mầu sắc lóng lánh. Thấy tôi có vẻ thắc mắc, ông ta liền giải thích :

– Tôi không có nhu cầu sử dụng cái phòng khách này. Rồi mấy cậu công tác bên Điện ảnh lại xin giữ nguyên trạng căn phòng này để làm sân khấu quay phim nên tôi không dọn dẹp cái gì đi hết.

Quả là cái sự nguyên trạng của căn phòng này như kéo giật tôi về khoảng thời gian trước đó vài năm, khi mà chúng tôi còn nhởn nhơ tin tưởng vào đời sống và không bao giờ nghĩ tới chuyện đổi đời. Có điều, khi nhìn trên tường thấy những huy hiệu, những bằng khen, những bằng tuyên dương hay hình ảnh chiến trường với những chiếc trực thăng lượn lờ, tôi có cảm giác xa lạ như những thứ đó đã trôi vào dĩ vãng rất xa vời. Tôi cũng không lấy làm lạ về cảm giác này bởi vì đời sống bây giờ có quá nhiều điều o ép khắc nghiệt, hầu như không mấy ai còn tâm trí đâu để mà suy nghĩ vẩn vơ. Hầu hết đầu óc mọi người chỉ còn quanh quẩn trong những chuyện tính toán làm sao để có được sự tồn tại trong an ninh, hay những lo lắng tủn mủn nhưng rất bộn bề trong đủ loại hình thức của các cuộc mưu sinh.

Đang lan man suy nghĩ thì ông chủ nhà lại nhắc tôi ngồi vào ghế salon và chỉ vào mấy cái đĩa đặt trên mặt bàn kính như có ý nói với tôi là xin cứ tự nhiên. Tôi thấy trong một đĩa có gói thuốc lá Tam Đảo còn nguyên vừa mới được bóc ra, mấy cái bên cạnh thì xếp đầy nào kẹo lạc, kẹo cứng, kẹo mềm, lại có cả bánh đậu xanh Rồng Vàng Hải Dương nữa. Sau đó thì một anh nhân viên phục vụ còn bưng ra một khay trà có hai cái tách đang nghi ngút bốc khói.

Thật tình là tôi đã thấy ngột ngạt về cung cách tiếp đón quá trịnh trọng này, và trong thâm tâm cũng thấy lo lắng không biết mình đang sắp sửa bị đưa vào một hoàn cảnh nào đây. Vì thế, tôi lên tiếng ngay như để phá vỡ tình trạng băn khoăn:

– Tôi không được rõ ông mời tôi tới đây là vì lý do gì?

Ông ta vội vã xua tay:

– Không…không….Không vì lý do gì hết. Thầy là giáo viên chủ nhiệm lớp thằng Tửu nhà tôi. Đáng lẽ tôi phải tới thăm thầy từ lâu mà vì công việc bề bộn quá, nay mới có dịp sắp xếp được.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm người hơn và mỉm cười:

– Cháu Tửu là đứa thông minh. Tuy có nghịch ngợm khác người, nhưng nó học hành cũng không đến nỗi. Mới đầu thì nó cũng hơi đuối……

– Tất nhiên rồi. Chương trình học ở đây hẳn nặng nề hơn là ở ngoài Bắc. Đã thế lại còn chênh nhau tới 2 cấp lớp.

Tôi gật đầu:

– Vâng, chương trình trung học 12 năm , ngoài Bắc rút xuống còn 10 năm. Nhưng theo tôi, điều quan trọng hơn cả là vào đây, Tửu nó quen thêm được nhiều bạn bè, biết thêm được nhiều cảnh mới, người mới…

Ông ta nhìn tôi, cái nhìn biểu lộ sự đồng tình về điều tôi vừa nói ra. Rồi ông ta gật đầu:

– Đúng vậy. Xã hội bên ngoài cũng mở mang thêm nhận thức của nó chứ. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Các cụ ngày xưa đã dạy như vậy rồi mà. Sách vở nhà trường thì chỉ lý thuyết thôi. Thực tế trực quan sinh động mới là cái đáng kể và đáng học nhiều hơn.

Yên lặng một lát, ông ta lại nhìn tôi chăm chú rồi hỏi:

– Nhưng theo Thầy thì cái sự thằng Tửu cứ thích theo bạn bè đi sâu vào xã hội ở trong này, sẽ tốt cho nó hơn hay nó sẽ bị ảnh hưởng tồi tệ đi hơn?

Tôi ngẫm nghĩ rồi trả lời:

– Thành thực mà nói, học sinh trong này có nhiều đám tốt vì được ảnh hưởng bởi giáo dục gia đình cũng như học đường. Nhưng nếu ông hỏi tôi về thằng Tửu thì tôi không thể trả lời. Tôi đâu có theo nó sát nút để biết nó hay giao du với loại nào, với những ai!

Ông ta “à” lên một tiếng khoái trá rồi nói:

– Đó là điều tôi vẫn hằng quan tâm. Thực tình tôi muốn thằng con tôi ‘bung” ra ngoài để nó mở mang thêm tầm mắt và học hỏi thêm ở những con người tốt . Nhưng tôi thì lại bận quá nên không có thì giờ kiểm soát. Cái ngữ nó mà buông lỏng ra, không kiểm soát thì lợi bất cập hại.

Tôi nhìn ông bằng một cái nhìn băn khoăn, không hiểu ông ta định đẩy câu chuyện đi tới đâu trong vấn đề này, và tôi cố giữ yên lặng để không phụ họa theo những lời ông vừa nói. Sau một vài giây yên lặng, ông lên tiếng tiếp:

– Giữa tôi với thầy, có lẽ còn có quá nhiều cách biệt. Nhưng trong thời gian vừa qua, nhìn cung cách giảng dạy của thầy cùng với những tình cảm gắn bó của Tửu đối với thầy, tôi thấy mình tuy khác biệt nhưng cũng có những điểm tương đồng.

Nói rồi ông ngưng lại và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi thấy lấp lánh trong những tia nhìn đó là một biểu lộ tâm tình thân thiện hơn là che giấu một ý đồ thâm hiểm riêng tư. Nhưng tôi lại vẫn cứ cố làm ngơ như chưa hiểu ông đang nói gì. Mà đúng vậy. Ông ta nói “có những điểm tương đồng”, thật sự trong nhất thời, tôi cũng không thể nghĩ được giữa tôi và ông ta có những tương đồng gì. Rồi ông lại tiếp:

– Xã hội cũng còn nhiều chuyện bất toàn thầy ạ. Nhưng về tương lai lũ trẻ thì mình phải lo lắng trước tiên. Trong phạm vi thu hẹp, tôi chỉ nghĩ đến thằng Tửu nhà tôi, và tôi mong mỏi nó được dìu dắt bởi một người như thầy….

Tôi vội ngắt lời ông ta:

– Tửu đã qua cấp lớp….tôi đâu còn….

Ông ta vội giơ tay ngăn lại:

– Điều đó tôi biết. Mà tôi cũng không dám yêu cầu gì nhiều. Chỉ mong sao rằng tuy Thầy không còn dạy nó ở nhà trường nữa, nhưng nó vẫn có dịp lui tới để gặp gỡ thầy và thầy vẫn có dịp bảo ban nó…Và trong những dịp nó giao du với bạn bè, nhờ thầy tìm hiểu và ngăn chặn kịp thời những ảnh hưởng xấu…

Tôi ấy tôi còn ngập ngừng chưa bầy tỏ ý kiến thì ông đã nói tiếp:

– Thầy đừng nghĩ là phải gánh một trách nhiệm gì to tát quá. Nói thẳng ra là tôi chỉ mong muốn thầy lui tới đây mỗi ngày một, hai giờ để trò chuyện, trao đổi bất cứ vấn đề gì để nó có dịp mở mang cái đầu óc của mình. Tôi sẽ trả thù lao cho thầy để tăng thêm thu nhập. Tôi biết hoàn cảnh của các thầy cô giáo bây giờ rất ngặt nghèo. Nhiều thầy cô đã ra buôn bán chợ trời hay lái xe ôm…

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, rồi nói:

– Vậy xin hỏi thật, ông không ngại tôi tiêm nhiễm cho thằng cháu Tửu những tư tưởng mà chế độ này đã muốn xóa bỏ à?

Ông ta nhún vai, mỉm cười:

– Làm gì mà có chuyện ấy! Họ nói xóa là xóa mấy cái linh tinh bề ngoài thôi kìa. Còn con người, còn cốt cách, còn truyền thồng tốt đẹp bao nhiêu năm, làm sao mà xóa. Thầy yên tâm đi. Tôi không phải là con người quá tả. Mà tôi có đi theo phục vụ cho cách mạng trong ngần ấy năm cũng không phải là tôi mong muốn xây dựng một xã hội nhếch nháp như thế này. Nếu không nghĩ như vậy, tôi đã chẳng lo lắng cho thằng Tửu và mình có cuộc gặp gỡ như thế này…

Tôi suy nghĩ một lát rồi tần ngần:

– Trên nguyên tắc thì tôi xin nhận lời. Tôi sẽ bảo ban cháu Tửu về mặt tư cách, đạo đức, ứng xử ngoài đời cho ra một con người. Nhưng kết quả ra sao, tôi không bảo đảm.

Ông ta giơ hai tay lên cất giọng hoan hỉ:

– Thế là xong rồi. Tôi rất cám ơn thầy đã cất cho tôi được một mối bận tâm cứ lo canh cánh bên lòng. Tôi quá bận rộn nhiều việc, đâu có dành nhiều thì giờ cho nó được.

Sau đó, chúng tôi trao đổi thêm vài câu chuyện vu vơ nữa rồi tôi cáo từ. Ông tiễn tôi ra tới tận cổng và còn đứng dưới hàng rào nhìn theo cho tới khi tôi đạp xe đi khuất.

Trong thâm tâm, chính tôi cũng không hiểu mình đã vừa đưa ra một quyết định đúng đắn hay sai lầm. Bởi vì, với ông ta, tôi chưa từng quen biết, chưa hiểu rõ thực sự ông ta là loại người nào. Nói cho ngay, qua cung cách phát biểu, tôi thấy ông đã có một mối quan tâm chính xác về tương lai thằng Tửu. Nó còn phải được học hỏi thêm nhiều, để rũ bỏ được những dấu ấn còn in hằn trong tâm hồn của nó sau những năm nó sống theo bản năng ở miền Bắc trong suốt bao nhiêu năm khó khăn của cuộc chiến.

Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy lấn cấn khi nhận lời làm công việc như ông bố của Tửu mong đợi. Cái lấn cấn là ở chỗ, tôi tự hỏi toàn bộ cái xã hội này với những con người hiền hòa của miền Nam cũ, và ngay cả với chính tôi, rồi ra mọi người sẽ gìn giữ bản chất được bao lâu dưới cái chính thể vẫn đang tiếp tục gieo rắc đầy dẫy những sai lầm trong mọi công cuộc điều hành đất nước?