Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Trần Doãn Nho

8 Tháng Một, 2021

Post by Sơn râu 22 May 2024

Kỳ 1

Trần Doãn Nho, bút hiệu, sử dụng khi sáng tác; Trần Hữu Thục, tên thật, sử dụng khi viết tiểu luận.

Sinh trưởng tại Huế. Theo học đại học Huế và Sài Gòn, tốt nghiệp ngành Triết. Trước 1975, dạy học: Phụ khảo Triết Đại Học Văn Khoa Huế; đi lính: sĩ quan quân đội VNCH; viết: cộng tác với các tạp chí văn học Sài Gòn: Văn, Tân Văn, Bách Khoa, Vấn Đề, Khởi Hành, Đối Diện. Sau 1975, ở tù đến 1981.

Định cư ở Hoa Kỳ 1993, làm việc cho Sở Giáo dục Công lập thành phố Worcester, bang Massachusetts. Cộng tác với các tạp chí văn học giấy hải ngoại: Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 và các tạp chí mạng: Da Màu, Gió – O, Talawas, Diễn Đàn Thế Kỷ, Diễn Đàn Forum, Bauxite Việt Nam, Văn Việt.

Đã xuất bản 8 tác phẩm: 2 tập truyện ngắn (Vết xước đầu đời, Căn phòng thao thức), 1 tập ký và tùy bút (Loanh quanh những nẻo đường), 1 tạp bút (Từ ảo đến thực), 1 truyện dài (Dặm trường), 3 tập biên khảo văn học (Viết và Đọc, Tác giả, tác phẩm và sự kiện, Ẩn dụ cuộc phiêu lưu của chữ); Bút ký Một đêm (One Night) trong tập Loanh quanh những nẻo đường được dịch đăng ở tạp chí văn học Meanjin, Melbourne University, số 2, 2015, dịch giả: Tôn Thất Quỳnh Du.

Hiện đã hưu trí, cư ngụ tại Dallas, bang Texas. 

Dấu Tích Đời

Những lúc đó, không hiểu sao con bình tĩnh quá. Có lẽ con tin lời anh Sang. Anh Sang nói đúng, phải sống trong khung cảnh chết chóc rồi mới hết sợ hãi cái chết. Nhưng con lầm (không biết anh Sang có lầm không). Cho đến bây giờ, nỗi hoang mang càng lúc càng chất đầy trong con. Càng nhớ lại những ngày hai bên đánh nhau trong Thành Nội, con càng thấy mình hoảng hốt. Con không hiểu nổi tại sao hôm Việt Cộng rút đi rồi, gồng gánh về nhà, con đã thản nhiên đi ngang nhìn vào xác những ông bộ đội nằm phình to giữa đường, trên mặt, ai đó nghịch ngợm gắn những viên đạn vào mồm, cắm những cây nhang vào mũi. Giá như bây giờ, được thấy lại, chắc chắn là con sẽ ngất xỉu. Thằng Phương bây giờ cũng muốn đi lính đó má. Nói bảo với con nó chán ngán những ngày đi lang thang quá rồi. Nó ngán phải đến phòng thi. Nó bảo với con, khi học xong ở Thủ Đức, nó sẽ xin đi Nhảy Dù. Con đã rùng mình khi nó nói dự định đó với con. Má mà biết chuyện này chắc má buồn kinh khủng nữa. anh Sang đi lính, Hưng đi lính, Phương đi lính. Chỉ còn má và con, ngày nào cũng đợi thư và nghe tin chiến sự…

*

Tiếng hát ồ ồ của thằng Phương ở trước nhà làm Ngọc chợt tỉnh. Giấc ngủ buổi chiều nặng nề. Ngọc mơ hồ cảm thấy một nỗi hoảng hốt vu vơ, có lẽ do giấc mơ mà Ngọc không nhớ rõ, kéo dài. Trời mưa tự hồi nào, nhỏ và đều. Ngọc ôm gối nằm lắng nghe những tiếng động lẫn trong tiếng rơi trên mái tôn. Thằng Phương cao giọng hát, đứt quãng. Ngọc thấy buồn cười. Bài tình ca tiền chiến nhẹ nhàng đâm ra như bị méo mó dưới giọng hát của Phương. Thằng Phương lúc nào cũng là một nỗi vui miên man và Ngọc thực sự không hiểu nổi. Phương say sưa với đời sống riêng của mình như con chim nhỏ say sưa hót, say sưa nhảy nhót. Cái đời sống riêng đó quả nằm ngoài sức hiểu biết của Ngọc. Chả thế mà, rất nhiều lần, Ngọc thấy Phương như xa cách hẳn mình. Nửa đêm, Phương đi chơi khuya về kêu, Ngọc mở cửa thấy khuôn mặt Phương phờ phạc. Má Ngọc thức dậy rầy Phương dữ, thế mà hắn không nói gì, tỉnh bơ đi vào phòng. Để rồi một lát sau, Ngọc nghe Phương tắm, tiếng nước dội xối xả, rồi im lặng, rồi lại nghe tiếng động. Ngọc nhìn ra sân thì thấy Phương thản nhiên ngồi phì phà hút thuốc ở gốc cây măng cụt. Nhiều lúc, Phương rủ hai ba đứa bạn về nhà ngủ lại, giường không đủ chỗ, cả bọn trải chiếu giữa đất lăn kềnh ra ngủ, buổi sáng thức dậy cả bọn lại mặc áo quần vào, đi.

Ngọc không bao giờ có ý nghĩ dùng quyền làm chị để la Phương. Dường như Ngọc không dám có ý nghĩ đó. Phương có quyền có đời sống riêng cũng như Ngọc có đời sống riêng. Đòi sống riêng của Ngọc, Ngọc mơ hồ có cảm tưởng thật rã rời, chán ngán. Ngọc bơ vơ ở ngay giữa những sôi động tình cảm của mình. Sự tha thiết của Hưng không đủ giải tỏa cái cảm giác đó và nhiều khi còn làm Ngọc thật bực mình. Tinh thương lồng trong sự nghiêm nghị của má Ngọc chỉ có một tác dụng thừa thãi, làm Ngọc lắm khi bàng hoàng khi nhận ra điều đó. Má đã hiện diện, che kín một khoảng đời Ngọc. Bây giờ thì không còn nữa. Tình cảm của má hiển nhiên, rõ ràng như ánh sáng và Ngọc lẫn trốn vào đó những lúc cô độc, không thắc mắc, như người bộ hành núp dưới bóng cây râm mát, rồi lại tiếp tục đi. Có điều, lúc nào bà cũng như quá cẩn trọng trong sự phát lộ tình cảm của mình. Nên ít khi Ngọc dám nói thẳng những xao động mãnh liệt trong tâm hồn với má. Nhiều lần, Ngọc cảm thấy thấp thoáng sự vỗ về của bà có vẻ như đã được tính toán. Ngọc bơ bơ hơn ở đó. Ngày anh Sang đi lính, Ngọc thấy bà cố giấu nỗi buồn dưới vẻ mặt thật bình tĩnh. Ngọc nức nở tiễn anh Sang đi, lúc trở về, Ngọc thấy hai mắt bà đỏ hoe. Suốt mấy hôm sau đó, bà không hề nhắc đến tên anh Sang.

Phương vẫn còn hát ồ ồ bên ngoài. Ngọc kêu:

– Phương ơi, hát hay lắm sao mà hát hoài hát hủy vậy không cho người ta ngủ.

Phương ngừng hát, cười:

– Em hát mặc em, chị ngủ cứ ngủ mắc mớ gì! Hát hay không bằng hay hát mà.

– Mày khi nào cũng cà rỡn. Má đi đâu rồi?

– Hình như đi đám anh Ngữ.

– Ngữ nào?

– Ngữ thiếu úy con bà Đội Hàng chớ Ngữ nào!

Ngọc chưng hửng:

– Trời ơi, anh chàng cao cao, đen đen, mới về phép hôm trước đó phải không? Mà chết ở đâu vậy?

– Chết đâu ở Quảng Tín, mới chở xác về chiều hôm qua.

Ngọc đi rửa mặt và cảm thấy xao xuyến. Lúc này, cái chết nào cũng thật bất ngờ. Ngọc nhớ đến anh Sang, chợt rùng mình. Anh Sang viết thơ về lúc nào lúc nào cũng nói đến số mệnh. Số mệnh là niềm tin cuối cùng cho những người đối diện với cái chết. Ngọc viết thư cho anh Sang cũng bảo Ngọc tin ở số mệnh. Nhưng Ngọc vẫn lo sợ. Anh Sang ơi, sao lại có quá nhiều người trùng hợp số mệnh với nhau, họ chết cùng một lúc, chết rất bất ngờ và thê thảm như thế. Em không biết rõ là em có sợ chết hay không, nhưng mỗi lần nghe tin một người quen chết là em hoang mang. Và mỗi lần hoang mang, em lại nhớ anh và rùng mình.

Ngọc đứng tựa cửa sổ nhìn nền nhà sũng nước mưa. Ngọc mường tượng căn phòng học cũ có cửa sổ mở trông ra vườn, tự dưng thấy bàng hoàng tiếc nuối. Hồi mới chạy giặc về, nhìn ngôi nhà sụp đổ, Ngọc thản nhiên như nhìn một trò chơi con nít bị phá hủy sau khi hết hứng thú. Nhưng về sau, khi phải ở chật chội trong căn nhà xây tạm, Ngọc mới có cảm giác mất mát. Phải chi anh Sang về lại đây để nhìn buổi chiều mưa, nước đọng thành vũng trên nền nhà cũ, những song cửa sổ cong queo, lởm chởm còn mắc trên vách, những hình vẽ rồng phượng trên bức tường kê tủ thờ, nhòe nhoẹt bên đống gạch vụn. Anh Sang ơi, có thể khi đi hành quân qua các làng mạc, chứng kiến bao khung cảnh hoang tàn còn thê thảm hơn thế này, chắc anh rất dửng dưng lúc được tin nhà mình sập hết sau Mậu Thân, chẳng thế mà khi nghe em báo tin, anh không hề hỏi tới hỏi lui. Lúc mới trở về em cũng như thế, dửng dưng. Cả thành phố đổ nát chứ đâu chỉ riêng nhà mình. Nhưng giá dụ, bây giờ anh có mặt ở đây, chắc anh mới thấy những tiếc nuối – những tiếc nuối thật tình cờ – như em.

Phương đến bên Ngọc, nói:

– Chị Ngọc, hôm nào đi lính, em phải nói với má sao cho ổn?

– Làm sao mà ổn được. Chắc chắn má không bao giờ cho em đi. Má đã khổ sở vì anh Sang lắm rồi đó.

– Biết làm sao. Chả lẽ ngày hai bữa ăn rồi đi long nhong ở cái thành phố này, chán muốn chết. Mà đến lúc rồi cũng phải đi thôi chị Ngọc. Thời buổi này, chạy đâu cho khỏi lính, trốn đâu cho khỏi chiến tranh hả chị Ngọc?

– Nhưng em vẫn còn miễn dịch mà.

– Mà ở nhà thì làm quái gì? Chị biết không, đôi lúc, thấy mình vô trách nhiệm thấy mẹ. Thằng Thụ chết, thằng Lượng cũng chết, thằng Phong cụt chân, thằng Thành mù một con mắt. Chị cứ nghĩ, mỗi lần tụi bạn đi hành quân về kể toàn chuyện khổ cực mà mình thi ăn rồi đi chơi, nghĩ nó không ra làm sao cả.

Nói xong, chưa kịp hỏi thêm, Phương đã bỏ đi. Bây giờ, số phần con trai như treo trên trời. Mà có lẽ số phần của mọi người cũng đều như treo trên trời. Bom đạn không còn phải là một biến cố, mà thường trực. Nhiều đêm, Ngọc nằm mơ thấy những giấc mơ bom đạn khủng khiếp, tỉnh dậy, Ngọc thấy mình rơi xuống từ một khoảng không. Lúc đó, Ngọc có cảm giác sắp chết và thấy thèm một vòng tay thật ấm, vòng tay của Hưng, của Sa. Ngọc ôm gối nghe một nỗi thiếu thốn kỳ lạ mà tình yêu si dại của Hưng dường như không đủ bù lấp. Tình cảm của anh chàng lúc nào cũng lộ liễu, tràn đầy với những đưa đón, những buổi đi dạo, những món quà hay những bức thư tình chất đống nhàm chán lắm khi chưa đọc đã biết nói gì. Ngọc khỏi cần phải chạy quanh, đuổi bắt băn khoăn. Tình yêu chả lẽ chỉ chừng đó thôi sao! Trông tầm thường quá. Với Ngọc, sự gắn bó giữa Hưng và Ngọc bây giờ nằm trong những kỷ niệm xưa cũ đã bắt rễ từ quá khứ và có lẽ không còn gì hơn nữa. Ngọc đâm ra chán ngán.

Những lần như thế, Ngọc say sưa nghĩ đến Sa, xót xa tiếc nuối. Sa thấp thoáng trong Ngọc bằng hình tượng những kỷ niệm thật chải chuốt. Trí nhớ đưa Ngọc trở về ngôi nhà ở Kim Long với hàng dừa trước cổng và một khu vườn đầy cây ăn trái. Sa ở nhà cạnh bên. Ngọc có tuổi thơ và có Sa. Những kỷ niệm êm ả giữa Sa và Ngọc thành hình, không toan tính, không sửa soạn. Chưa hề một thư tình, chưa hề một nụ hôn. Ngọc còn nhớ rõ, đêm trước hôm Sa theo gia đình và Đà Nẳng, Sa cầm tay Ngọc bóp mạnh, im lặng. Ngọc khóc nức nở, rứt tay bỏ về. Rồi thôi. Mãi đến bây giờ, Ngọc không hiểu rõ vì sao chuyện tình giữa Sa và Ngọc bị bỏ dở. Có thể là vì thế mà mỗi lần nghĩ đến Sa, lúc nào Ngọc cũng mang máng tiếc nuối. Hưng đến, vồ vập, hăm hở. Nhưng không hiểu sao, tình cảm sô nổi dành cho Hưng lúc đầu cứ lịm dần theo những ngày tháng hẹn hò đều đặn và buồn nản. Thật buồn cười. Trong Ngọc, Sa chen vào Hưng, Hưng lẫn trong Sa.

Phương vừa chảỉ tóc vừa hỏi Ngọc:

– E cũng hơn nửa tháng rồi, sao không thấy thư anh Sang gửi về, chắc lại bận đi hành quân, chị Ngọc hả?

Ngọc ậm ừ trong cổ, đưa mắt nhìn mưa rơi trên những đám lá non run rẩy. Dạo này, thường có những ngày mưa bay, mưa không lớn, nhưng liên miên. Những trận mưa ào ạt khoảng tháng bảy đã qua. Mùa thu thật dịu. Ngọc rời cửa sổ, tự dưng bâng khuâng. Ngọc nghĩ đến những đôi tình nhân đang dìu nhau đi dưới mưa và nhớ Sa một cách kỳ lạ. Yêu một người và bị níu kéo bởi một người khác, khiến Ngọc luôn luôn thấy tâm hồn mình bất định. Tiếc nuối chồng chất tiếc nuối khác, xô đẩy nhau tạo nên trong Ngọc những xao động. Ngọc đâm ra sợ hãi ngay cả những ước mơ và mong đợi của mình. Nhìn trở lại, dường như ước mơ nào rồi cũng rã rời, mong đợi nào rồi cũng thành thừa thãi. Ngọc không nói được với má, cũng chẳng nói được với Hưng. Má thì xa cách. Hưng thì hồn nhiên, lúc nào dường như cũng tỏ ra thỏa mãn với những gì mình có. Anh chàng chung tình, chung tình quá đỗi, nhưng cách sống yên phận của Hưng làm Ngọc bực mình. Ngọc ao ước được si dại, được đắm đuối trong tình yêu, muốn luôn luôn chạy theo, muốn đuổi bắt một cái gì khó khăn để khỏi thấy mình thừa thãi. Hưng vô tâm, chẳng hề hiểu điều đó. Lắm lúc, Ngọc thấy mình thật phi lý, vừa muốn đuợc yêu, được chiều lại vừa muốn bị hất hủi. Càng thấy phi lý, Ngọc càng khắc khoải.

*

Buổi chiều, Hưng đến đón Ngọc ở trường. Hưng đưa Ngọc đi ăn kem, rồi hai dứa vào Đại Nội. Sau Mậu Thân, cà khu hoàng thành tan hoang. Thành quách, cung điện, lâu đài đổ nát. Nắng chiều vàng nhạt xuyên qua các mái ngói rệu rã, đậu trên các cây bông sứ, phản chiếu xuống hồ một thứ ánh sáng bơ vơ, buồn thảm. Ngọc mênh mang nhớ những ngày trước chiến cuộc, khi mọi thứ còn nguyên vẹn, anh Sang chưa đi lính, Tài Vân chưa chết, buổi chiều rủ nhau long nhong vào Đại Nội, vừa đi lang thang vừa trò chuyện vẩn vơ thật là êm đềm hết biết. Anh Sang thì lúc nào cũng triết lý, Hưng thì lúc nào cũng rộn ràng, Tài Vân như dáng dấp cổ kính của các cung điện thì lúc nào cũng hiền hòa, trầm lặng. Lúc đó, nắng vàng, nắng tươi, cỏ cây xôn xao lay động. Ngọc lắng nghe giọng anh Sang say sưa nói về hạnh phúc, đau khổ, nhìn nụ cười Tài Vân nhẹ nhàng, loáng thoáng như có như không, nghe Hưng vừa đi vừa hát, Ngọc thấy cuộc đời sao mà dễ thương một cách kỳ lạ. Anh Sang và Tài Vân, Hưng và Ngọc tươi vui, trong sáng, tưởng như cứ như thế mãi mãi, không có gì trắc trở.

Nhưng rồi tất cả đột nhiên thay đổi. Anh Sang bị gọi nhập ngũ, bỏ học nửa chừng. Hôm tiễn anh lên đường, Tài Vân buồn thật buồn. Khi chiếc xe GMC chuyển bánh, anh Sang đưa tay vẫy vẫy, đôi mắt Tài Vân long lanh, ươn ướt. Rồi chiến cuộc nổ ra, lay động tận gốc rễ cái thành phố bình yên và trầm lặng của Ngọc. Những tưởng hiểm nguy chỉ dành cho người ra đi, ai ngờ lại rơi vào người ở lại. Giờ đây, đôi mắt Tài Vân đó đã rữa nát trong lòng đất trong lúc anh Sang đang dẫn lính đi hành quân một vùng đâu đó ở miền Nam. Những gãy đổ tình cờ như con bão rớt cuốn hút những mơ ước vào hư vô, không còn một dấu tích. Ngọc như bị xô đẩy vào một vùng hoang dã, xa lạ, ở đó, mọi kỷ niệm đều vỡ vụn như những đống gạch ngói trên lầu Ngọc Môn. Ngọc đổi tính, nhìn đời sống bằng một tâm trạng bất an thường trực. Anh Sang ơi, lúc nào anh về để được cắm vài cành hoa trên mộ của Tài Vân? Anh biết không, khi bị pháo kích chết ngay giữa ngã tư trên đường chạy giặc về chợ Cầu Kho, Vân được người đi đường bó vào trong chiếu, hối hả chôn ở một góc hồ Tịnh Tâm, đây vốn trước là những vồng khoai, bây giờ là nơi chôn cất tạm bợ những người chết. Anh Sang ơi, bây giờ Tài Vân vẫn còn nằm đó, chưa biết khi nào mới được cải táng. Chẳng lẽ cứ ở đó đến ngàn đời!

Nói là vào Đại Nội chơi, hóa ra, cả hai đứa đi đứng lừng khừng, chẳng thấy hứng thú gì mà rốt cuộc chỉ để chịu đựng những cảm giác lạc lõng. Cảnh lạc lõng, người lạc lõng. Nản chí, Ngọc kéo Hưng đến ngồi ở tầng cấp dưới cùng của lầu Ngọ Môn, lượm những hạt soỉ nhỏ ném vu vơ, đầu óc lang mang nghĩ đến sự mất mát tiếp nối của những ngày sắp đến. Hưng nói giọng thật buồn:

– Chỉ còn một tuần phù du thôi, Ngọc nhỉ.

– Đừng nhắc nữa, Hưng. Hết chia tay rồi lại chia tay. Em chịu không muốn nổi nữa.

Chì Ngọc, Hưng chỉ nhắc nhở những kỷ niệm xưa cũ. Ngọc nghe xôn xao. Nhớ đến những lần lạnh nhạt với Hưng, Ngọc thấy thật vô lý và bất nhẫn. Sự chân thành của Hưng nhiều lần làm Ngọc bực mình, chán ngán, bây giờ đột nhiên làm Ngọc xúc động. Hưng đi rồi, những ngày bình an bỏ lại. Như anh Sang, Hưng sẽ ôm súng, sẽ hành quân, sẽ là những cánh thư nhàu nát từ chiến trường gửi về. Hưng tầm thường, nhưng lúc Hưng đi rồi, biết đâu, Ngọc chẳng thèm khát sự tầm thường đó như một chuyện cần thiết không thể thiếu vắng. Ngọc yên lặng nhìn những đọt cây trụi lá khẳng khiu, những cây phượng mùa hè không nở bông đỏ chói như thường lệ, vô tình ngả xuống lòng Hưng, vội nhỏm dậy. Hưng cảm động gỡ những cánh bông sứ trên áo Ngọc vò nát, thì thầm nói về sự nhớ nhung, cô độc khi xa Huế, xa Ngọc và nhẹ nhàng hôn tóc Ngọc. Ngọc gỡ tay Hưng, đứng dậy.

Lúc trở về nhà, Ngọc thấy má ngồi tiếp chuyện với ông Thành, người-tình-xưa-cũ-của-má. Ông ta dong dỏng cao, khuôn mặt rắn rỏi, lâu lâu lại ghé đến thăm má. Má tiếp ông ta ở bàn làm việc ngoài mái hiên như khách quen hơn là người tình cũ, nhưng trông bà rất vui. Ông ta nguyên là sĩ quan, bị thương nặng trong một trận đánh dữ dội ở cao nguyên, ruột đứt phải nối bằng ống cao su, giải ngũ, giờ là thương phế binh. Hỏi, má chỉ cho biết ông ta là bạn cũ của má, và không nói gì thêm. Ngọc tò mò hỏi cậu, cậu Ngọc nói là hai người hồi trước thương nhau lắm, nhưng vì ông ta có tham gia trong một tổ chức thanh niên chống Pháp, nên ông bà ngoại má vốn là công chức của Pháp không chịu gả. Chuyện tình đành dang dở. Về sau ông bà ngoại ép gả cho ba Ngọc. Tuyệt vọng, ngày đám cưới, má Ngọc uống thuốc ngủ tự tử, nhưng người nhà hay được, cứu sống. Đúng là vết thương định mệnh. Hèn gì mà má có một cuộc sống lặng lẽ. Từ ngày biết chuyện, Ngọc thấy xốn xang, thương má nhiều hơn. Và đâm ra thông cảm với thái độ dửng dưng, đôi khi lạnh lùng của má. Nếu tình yêu của má không trắc trở thì không có Ngọc trên đời. Ngọc nghĩ giá mà như thế cũng hay.

Ngọc nói chào bác Thành. Người đàn ông cười hiền hòa:

– Cháu đi học về?

Ngọc cúi đầu nói dạ, rồi đi vào trong. Ngọc loáng thoáng nghe má Ngọc nói: “tính con Ngọc nó giống tôi lắm.” Giọng người đàn ông: “tính giống mà dáng dấp cũng chẳng khác mấy Phượng hồi xưa, đã ít nói lại hay buồn vơ vẩn. Khổ là phải. Thế mà cũng hăm lăm hăm sáu năm rồi.” Dường như người đàn ông thở dài.

Ngọc thay quần áo lên giường nằm, suy nghĩ vẩn vơ về những rắc rối của cuộc đời. Những yêu thương, dang dở, những gặp gỡ, chia cách. Tường như mọi người đều xô đẩy nhau cuốn vào vòng luẩn quẩn. Anh Sang, Tài Vân, Sa, Hưng, má, người-tình-xưa-cũ-của-má, mỗi người đều có một chỗ hỏng dưới chân, đàng sau là kỷ niệm chen chúc với những tiếc nuối, những hoa hoè, những vỡ vụn. Tương lai dựng nên bằng những dấu tích mờ mịt. Ngọc thảng thốt nghĩ đến định mệnh, nghĩ đến ngày lấy chồng, đẻ con, rồi cuộc sống lăn tròn trong những tháng ngày đều đặn, nối tiếp nhau. Sự lựa chọn nào cũng mang lại một cảm giác rã rời. Ngọc tưởng chừng như mình đang lao vào một khoảng trống mênh mông. Có ngày rồi Ngọc cũng như những cành cây mít, cây sầu đông khẳng khiu trong vườn, mệt nhoài như lũ chim xác xơ sau cơn gió bão. Có ngày rồi cũng không biết phải đợi chờ gì nữa.

Phương đã về, hát nghêu ngao từ ngoài cửa ngõ. Thằng nhỏ đến lạ, gì đó thì gì, hắn vẫn chơi vui hớn hở như thể chẳng còn gì xảy ra. Mai kia mốt nọ, Phương đi lính rồi, cái giọng hát ồ ồ vô duyên ấy sẽ cũng làm Ngọc nhớ tiếc bâng khuâng.

*

Lúc đi học về, Ngọc thấy Phương đứng đợi ở của ngõ, reo lớn: có thư anh Sang, chị Ngọc ơi. Ngọc hỏi mới đem lại chiều nay hả? Phương nói không phải thư bưu điện, thư tay gửi riêng cho chị, anh Thức đem đến. Thế mày đọc chưa? Chưa, thư riêng viết cho chị mà.

Ngọc vội vã lấy thư bóc ra đọc. Chữ anh Sang viết run run:

“Ngọc thương,

Anh đang nằm tại bệnh viện. Anh bị thương nặng ở chân trái trong trận đánh hôm 4/8. Không chắc khỏi cưa. Anh không mất bình tĩnh. Anh vẫn còn tin ở số mệnh. Em đừng buồn lắm và khoan báo tin gì cho má biết hết. Cách đây hai hôm, anh mơ thấy Tài Vân suốt đêm. Trận đó, có ba người bạn cùng khóa với anh chết, trong đó, có Sa. Chắc em còn nhớ Sa, anh ta hồi xưa ở gần nhà mình trên Kim Long đó. Dù sao, anh cũng muốn đưọc sống để về. Thương em.

Tái bút: Cắm hương trên mộ Tài Vân giùm anh.”

Phương hỏi dồn dập: anh Sang viết chi vậy chị Ngọc, chi vậy…?

Ngọc vứt thư cho Phương rồi úp mặt khóc nức nở.

*

… Đàng nào, anh Sang cũng sắp về. Con cầu nguyện anh vẫn còn nguyên vẹn. Suốt mấy hôm rồi, con không ngủ được. Con có cảm tưởng mất hẳn chỗ tựa. Con bỏ học đi lang thang ba bốn ngày nay. Như má biết, Hưng cũng đã đi lính tuần trước. Mấy lần, khi ngồi ăn cơm với má, con định nói với má về chuyện anh Sang, nhưng con vẫn không nói đươc. Biết anh Sang sẽ về, con vừa mừng vừa sợ. Chắc con không đủ can đảm nhìn nếu anh bị cưa mất một chân. Con còn nhớ có lần má vào bệnh viện quân đội thăm anh Lương về má nói: con người ta lúc sinh ra đầy đủ bộ phận, săn sóc từng chút mà lớn lên kẻ mất tay người mất chân nhìn không được con mắt. Bây giờ, con không còn bình tĩnh nữa má. Con hoang mang quá sức. Má ơi, chiến tranh gì mà buồn quá, hả má…

(Tạp chí Văn số 125, Sài Gòn 1969)


Kỷ vật cho người ở lại

Diễm Vy

Posted by Longhai  November 05, 2019  

Post by Sơn râu 22 May 2024

Kỷ vật cho người ở lại…

Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm Y tá của một Bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở Tiểu bang Arizona. Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau sau bữa tiệc. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn. Em trai bị chấn thương sọ não và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. Em gái hôn mê bất tỉnh phải mổ gấp, không biết có cứu được hay không?
Thật đáng buồn, em trai tử vong là một em Việt Nam, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và đang sắp rời nhà để vào một trường đại học danh tiếng. Các em còn lại đều người ngoại quốc.
Lúc đó tôi đang làm tại khu ICU (Intensive Care Unit). Bệnh nhân tôi được giao đêm đó là em gái 17 tuổi của tai nạn vừa kể trên. Một cô bé người ngoại quốc, đẹp hay không thì tôi không biết vì cả khuôn mặt lẫn cái đầu tóc vàng của em đều tím bầm, sưng to như trái dưa hấu vì những cú va chạm kinh khiếp. Em đang được mổ não khẩn cấp trong phòng mổ.
Tôi được (hay bị) kêu vào phòng họp gấp để nhận một nhiệm vụ quan trọng.
Sau khi được biết nhiệm vụ của mình là gì, tôi nhăn nhó phản đối, “Tại sao lại là tôi? Đây là nhiệm vụ của bác sĩ mà!”
“Tôi biết, nhưng người nhà của bệnh nhân không biết tiếng Mỹ rành lắm, cô đi theo thông dịch cho bác sĩ, và ráng van xin họ giúp chúng tôi,” bà y tá trưởng năn nỉ.
Sau một hồi bàn qua tính lại, tôi lê bước đi theo ông bác sĩ đến phòng chứa xác của em trai Việt Nam mới tử nạn, với nhiệm vụ là cùng bác sĩ, năn nỉ gia đình người chết hiến tặng những bộ phận còn tốt trong cơ thể của em cho bệnh viện.
Một em trai 17 tuổi đang khỏe mạnh nhưng chết vì tai nạn, là một ứng cử viên tuyệt vời để làm người hiến tặng, vì hầu hết các bộ phận trong cơ thể em còn rất khỏe, rất trẻ, rất thích hợp để cứu sống các bệnh nhân đang chờ đợi để được thay các bộ phận trong người. Đó là lý do bệnh viện hết sức cầu xin gia đình.
Thời gian đó, đối với người Việt mình, khái niệm hiến tặng bộ phận cơ thể còn rất mới mẻ. Nếu không là cho người thân trong gia đình, hầu như rất ít ai hiến tặng cho những người không quen biết. Huống hồ gì, chuyện cha mẹ đồng ý hiến tặng các bộ phận trong cơ thể của con thì hình như chưa hề xảy ra. Có cha mẹ nào mà nỡ lòng nào làm như thế? Mất con đã đau đớn lắm rồi…
Chúng tôi gặp cha mẹ nạn nhân trong phòng đợi, trong khi người con đang được chờ quyết định để rút tất cả ống support bên trong, tôi bắt đầu trình bày lý do. Quả như tôi lường trước, cho dù có van xin, nài nỉ, giải thích cách mấy, bác sĩ và tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu quầy quậy, ánh mắt oán ghét, và những lời xua đuổi…
Tôi lắp bắp xin lỗi rồi bước nhanh như chạy ra khỏi phòng.
Phòng ICU rất vắng lặng vì ở đây toàn những ca rất nặng. Những y tá cùng trực với tôi đêm đó ai cũng bận rộn với bệnh nhân của mình nên chỉ có một mình tôi ngồi tại nurse station. Thường thì ở ICU, mỗi y tá lãnh hai bệnh nhân trong một ca. Nhưng đêm nay tôi chỉ có một, vì một bệnh nhân mới chuyển sang phòng thường. Bệnh nhân còn lại là cô gái đang trong phòng mổ, nên tôi cũng khá rảnh rỗi, cho đến khi ca mổ xong.
Bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt.
Tôi đảo mắt nhìn quanh.
Không có ai cả!
Tôi vẫn thường thấy lao đao như vậy lắm, có lẽ vì tôi bị chứng bịnh thiếu máu kinh niên. Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi.
Tôi dợm đứng dậy để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên Á Châu rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi ngồi. Cậu đi nhẹ nhàng như lướt trên không vậy, xuất hiện trước mặt tôi mà không gây nên một tiếng động. Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Có vẻ như cậu đang bị lạc đường. Chắc là cậu đi nuôi người nhà bệnh và lạc từ khoa khác sang.
Thấy cậu đứng yên lặng không nói gì, tôi hỏi bằng tiếng Mỹ, “Em cần gì, tôi có giúp được gì cho em không?”
Lạ thay, cậu trả lời bằng tiếng Việt, “Em đi kiếm đồ!”
Giọng của cậu nhỏ và thanh, nghe văng vẳng như từ một nơi xa xôi nào đó vọng về.
“Em bị mất cái gì à?”
“Em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị…”
Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng sau góc quẹo…
Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt, cái lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi rùng mình. Lạ thật, Tháng Sáu Mùa Hè ở cái xứ sa mạc này nóng cả trăm độ. Cho dù máy lạnh có mở cũng chỉ vừa đủ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lạnh cóng bằng cái lạnh của hiện tại.
Đầu óc tôi quay cuồng và tiếp tục nhức. Chắc mình sắp bịnh rồi, tôi tự nhủ. Sao tự nhiên lại cảm thấy lạnh và nhức đầu quá. Tôi đứng lên định đi theo cậu bé nhưng rồi lại choáng váng ngồi phịch xuống một chiếc ghế.
Vừa lúc đó, một cô bạn đồng nghiệp từ đâu đi tới. Nhìn thấy sắc mặt tôi, cô la lên, “Oh my God! Trời ơi sao cái mặt cô xanh lè xanh lét thấy ghê quá. Are you OK?”
“Tôi thấy lạnh quá, cô lấy dùm tôi một cái áo lạnh được không?”
Cô bạn nhanh chóng đi lấy cho tôi một cái áo labcoat mới được giặt ủi và hấp nóng. Tôi mặc áo vào, ngồi co ro mà thấy vẫn còn lạnh, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương.
Tôi uống thêm hai viên Tylenol. Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ?
Cả khu ICU này có 6 phòng. Hiện giờ đang có năm bệnh nhân, mỗi người nằm một phòng. Tôi coi lại danh sách bệnh nhân viết trên bảng treo trên tường. Không có bệnh nhân nào người Việt. Vậy cậu từ khoa nào đi sang đây?
Tôi đi lòng vòng với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé người Á châu không, ai cũng lắc đầu không biết.
Thất vọng, tôi trở về khoa đúng lúc bệnh nhân của tôi đã được giải phẫu xong và chuyển về phòng ICU. Bác sĩ bảo em được cứu sống nhưng đôi mắt sẽ bị mù vĩnh viễn vì chấn thương quá nặng. Chỉ có một hy vọng duy nhất là được thay đôi mắt khác em mới có thể thấy lại ánh sáng.
Ba mẹ em ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng.
Người mẹ buồn rầu nói, “Tội nghiệp chúng quá. Rồi đây Jane sẽ ra sao khi tỉnh dậy và biết là người yêu của nó đã chết?”
“Người yêu của Jane là anh Việt Nam ngồi chung xe hả bà?” tôi hỏi.
“Đúng vậy, chúng nó yêu nhau lắm. High school sweethearts mà. Hai đứa đều học giỏi và có tương lai. Thế mà, chỉ qua một đêm, một đứa ra đi vĩnh viễn, một đứa trở nên mù lòa.” Bà sụt sịt khóc.
Tôi ngập ngừng, “Bác sĩ nói con bà còn có hy vọng thấy lại ánh sáng, nếu…”
“Vâng tôi biết! Nhưng ở đâu ra có cặp mắt để thay kia chứ? Nếu đó là cặp mắt của một người còn sống cho con tôi, tôi biết chắc chắn nó sẽ không chịu nhận. Nó là cô gái rất tốt, không bao giờ muốn làm khổ ai.”
“Nhưng nếu đó là cặp mắt của một người vừa mới mất thì hoàn toàn có thể dùng được, chỉ có điều…” tôi bỏ dở câu nói vì tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đừng bao giờ nên hỏi cha mẹ cậu bé Việt Nam thêm một lần nữa.
Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà mẹ thở dài, “Cô y tá ạ, tôi biết nỗi đau của người mẹ mất con nó khủng khiếp như thế nào. Tôi không dám đòi hỏi gì thêm. Số phận con gái tôi bị mù thì tôi sẽ hết lòng chăm sóc cho nó. Con gái tôi có nghị lực lắm, tôi tin nó sẽ vượt qua…”
Xót xa nhưng cũng rất xúc động trước những lời nói của bà, tôi nhẹ nắm lấy tay bà. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát đang rảo bước tới, trên tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi, “Người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá người Việt ở đây. Cô nói được tiếng Việt chứ?”
“Dạ được. Ông cần gì không?”
“Tôi muốn nhờ cô đi với tôi đến gặp gia đình người tử nạn trong tai nạn xe chiều nay. Chiếc xe bị total lost. Trước khi xe tow kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho thân nhân của cậu.”
Ví, xe, người tử nạn… những mảnh rời rạc của chiếc hình puzzle tự nhiên ráp nối lại với nhau một cách có trật tự. Tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói?
Không lẽ mình vừa gặp ma sao?
Tôi lắp bắp hỏi ông Cảnh sát, “Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?”
Ông ngần ngừ một chút rồi nói, “Cũng được, nhưng trong ví không có gì quý giá hết, chỉ có tấm bằng lái xe và một ít tiền mặt vậy thôi!”
Tôi tần ngần mở chiếc ví ra. Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì.
Vậy ra cậu chính là người đã chết đó sao?
Một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng của tôi. Tôi thầm thì, nhắc lại lời của cậu bé khi nãy: “Trong ví này có một vật rất quan trọng…”
“Cô nói gì?”

Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái.
Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé, “chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…”
Tấm bằng lái!
Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. Đây rồi, vật quan trọng mà tôi cần tìm chính là tấm bằng lái này đây.
Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé. Còn nữa, nằm ngay ngắn ở góc phải của tấm bằng là cái sticker nhỏ màu hồng, trên có dòng chữ “DONOR” màu đen in đậm nét.
Tim tôi đập thình thịch. Như vậy là, chính cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính cậu đã tìm đến tôi, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp tôi để mọi người có thể biết được ý nguyện của cậu. Thì ra ngay từ khi mới có bằng lái, cậu đã quyết định là nếu có điều gì xảy ra cho mình, cậu sẽ sẵn sàng hiến tặng những bộ phận còn tốt trong người cho tất cả ai đang cần chúng nên đã tình nguyện ghi tên làm người DONOR. Có phải cậu đến tìm tôi vì biết tôi là người chăm sóc cho người bạn gái thương yêu của cậu đêm nay và muốn nhờ tôi tìm cách để trao tặng cho cô gái đôi mắt của cậu như một kỷ vật cuối cùng?
Tôi chỉ vào chữ “DONOR” và nhờ vị cảnh sát xác minh lại với DMV. Sau khi xác nhận là cậu bé Việt Nam chính thực đã ghi danh làm người “DONOR”, nhưng đồng thời vị cảnh sát cũng thông báo rằng theo luật pháp, vì cậu bé mất khi cậu chưa đủ 18 tuổi, nên quyết định cuối cùng, cho hay không, cũng vẫn là quyết định của cha mẹ.
Phái đoàn gồm các bác sĩ, cảnh sát cùng với tôi sau khi đưa chiếc ví lại cho cha mẹ cậu và thông báo về tất cả những sự việc trên cho họ. Trong khi chờ gia đình cậu bé bàn thảo với nhau, chúng tôi đều lui ra ngoài đứng chờ.
5 phút, 10 phút trôi qua. Một bầu không khí yên lặng đến nghẹt thở.
Rồi cha mẹ cậu bé cũng bước ra. Người mẹ ôm mặt khóc, trong khi người cha nghẹn ngào nói với chúng tôi: “Thôi thì con tôi nó đã muốn như vậy, chúng tôi xin nghe theo ý nguyện của cháu. Xin bệnh viện giúp cháu làm tròn tâm nguyện, hãy giúp đỡ tất cả những ai đang chờ được giúp.”
Tôi bật khóc vì quá xúc động. Tất cả những người có mặt lúc đó đều khóc và cảm ơn cha mẹ cậu bé đã làm quyết định đau đớn và khó khăn nhưng rất cao cả này. Cảm ơn ông bà, tôi thầm thì. Trên cao kia, tôi biết cậu bé đang nhìn xuống và mỉm cười.
Những ngày sau đó, có ít nhất là cả chục bệnh nhân đang chờ thay thận, gan, tim, v.v… đã được cứu sống nhờ được ghép những bộ phận trong cơ thể cậu bé. Cô bạn gái cũng đã nhận được cặp mắt của cậu. Trên gương mặt trắng bóc và mái tóc vàng hoe, đôi mắt nâu trong veo luôn tỏa những tia sáng ấm áp dịu dàng. Đôi mắt như biết nói những lời yêu thương đến mọi người. Cậu bé đã ra đi mãi mãi, nhưng tình yêu quảng đại của em vẫn tiếp tục tồn tại.

***

Ngay sau cái đêm “gặp ma” trong bệnh viện đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Tôi về bàn với chồng, và vợ chồng tôi đã cùng đi đến quyết định là ra DMV để ghi tên tình nguyện làm người “DONOR.”
Nếu một mai có người nào phải ra đi trước, chúng tôi không muốn người thân mình ở lại phải suy nghĩ để làm những quyết định đau lòng thế cho mình…
Cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. Thế thì tiếc làm chi các xác thân tạm bợ này! Nếu sau khi mình ra đi mà vẫn còn có ích cho người khác thì đó chính là một niềm an ủi và hạnh phúc vô biên cho mọi người chúng ta rồi.


Diễm Vy

Hái Thận

Văn Hải Ngoại Sau 1975

Nguyễn Xuân Quang

Post by Sơn râu 22 May 2024

Nguyễn Xuân Quang sinh 1941 tại Đà Nẳng, dùng tên thật làm bút hiệu. Chánh quán: Phượng Lâu, Kim Động, Hưng Yên, Bắc-Việt. Di cư vào Nam năm 1954. Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn 1969. Cựu sĩ quan VNCH, Quân Y khóa 16 hiện dịch. Di tản sang Hoa Kỳ 1975. Tốt nghiệp chuyên khoa thận và cao máu tại Hoa Kỳ năm 1986. Làm assistant clinical professor tại đại học Y khoa Irvine, Orange County, CA, USA. Khởi viết trước 1975.

-Nhớ tối nay đi hái thận đấy.

Tên fellow chuyên khoa bệnh đường tiểu (urology) nhắc Phan rồi bỏ đi.

Tối nay có kidney harvesting tại một nhà thương ở mãi tận trong sa mạc Mohaje, California. Kidney Harvesting, Hái Thận.

Phan là một fellow chuyên khoa bệnh thận (nephrology).  Bác sĩ đường tiểu lo việc giải phẫu mổ lấy thận rồi ghép thận. Bác sĩ thận như chàng chăm lo săn sóc về mặt nội khoa quả thận từ lúc hái thận, trước khi ghép và sau khi thận đã được ghép vào cơ thể người bệnh. Cả hai ngành cùng chung sức chăm lo việc ghép thận.

Năm nay mưa nhiều nên được mùa thận. Gần như tuần nào cũng có một vụ hái thận và có tuần có tới hai, ba vụ hái thận và ghép thận trong một ngày.

Hái thận cũng bận rộn theo mùa. Mùa mưa đường xá, xa lộ trơn trượt, mùa sa mù, mùa sương muối làm giảm thị lực, mùa lễ xe cộ di chuyển nhiều, ăn nhậu say sưa, lái ẩu… những mùa đó tai nạn xẩy ra nhiều, những lúc ấy được mùa thận.

Ngoài những người bị brain dead vì tai nạn, thận cũng có thể gặt hái ở những người chết vì những bệnh tật khác miễn là những bệnh tật đó không có ảnh hưởng đến thận hay không lan truyền cho những người nhận những bệnh tật hay những hậu quả tai hại…

Hái thận bây giờ không còn là đề tài nóng bỏng như mấy năm về trước. Ghép thận bây giờ như cơm bữa vì đã quá thành công. Bây giờ người ta chỉ nhắc tới những vụ ghép trái tim, ghép lá gan, ghép lá phổi, ghép là mía… vì ghép những cơ quan này còn nằm trong thời kỳ phôi thai. Những bộ phận trong cơ thể con người, tiếng Việt đều gọi bằng trái, bằng quả, bằng lá… nên đều có thể gặt hái được.

Phan từ xưa tới giờ vốn tính thích về vườn, về ruộng hái trái cây. Đến mùa hoa quả chàng thường vào dịp cuối tuần đi bộ ra ngay rừng cam ở đầu đường hái cam đường Sunkist, những giống Washington navel, Valencia…, những giống cam nổi tiếng của Quận Cam, của Cali, khác với những giống cam chỉ dùng để ép nước của Florida. Có khi ra vườn dâu Tây gần nhà ở Irvine hái những loại dâu mới lai giống của phân khoa canh nông của đại học Irvine. Những quả dâu dẹp và to che gần kín cả lòng bàn tay. Có cuối tuần vào trong Beaumont, Cherry Valley, quận Riverside hái trái anh đào, những loại cherry giống Bing cherry khổng lồ, đỏ thắm, mọng ngọt. Mùa thu là mùa hồng cốm, chàng thường lên Pomona hái hồng. Những trái hồng dòn Nhật Bản giống Fuyu khổng lồ ăn không một chút chát ở đầu lưỡi; những trái hồng mật giống Hachiya thuôn nhọn trông như những trái tim hồng; giống hồng Tamopan, trái dẹp, vuông, trông như những cái khăn đóng turban mầu vàng cam của người Thổ Nhĩ Kỳ hay người Ấn Độ… Vài khi xuống San Diego hái trái bơ avocado. Hoặc vào trong Rancho California hái kiwi, giống Trung Hoa Yangtao trái to như trứng vịt xù lông, ăn phảng phất hương vị dưa, dâu Tây và chuối…

Bây giờ lại có thêm cái thú hái thận. Hái “đậu người” cũng có cái thích, dù có khác.

-Hi Doctor Phan, làm gì mà phải vô nhà thương giờ này?

Chung người nữ thường trú gốc Đại Hàn liến thoắng hỏi, tiếng Anh nói líu lưỡi như tiếng chim. Mặt mày nhợt nhạt không phấn son, tóc tai bù xù, cái áo lá nhà mổ mầu xanh lam nhầu nát, chứng tích của một đêm gác bị hành xác hơi nhiều. Cả cái thân hình phái nữ chỉ còn thấy nổi lên bộ ngực đẫy đà đầy nữ tính, còn tràn đầy sức sống.

-Đang có một cái lọc máu thận khẩn cấp.

-Con bệnh tên là Martinez phải không?

-Phải.

-Tôi mới nhập viện hắn đêm hôm qua đó.

-Gác nguyên cả cuối tuần sao?

-Không. Bây giờ ra gác. Đêm qua một mình phải lo năm cái nhập viện.

-Về nghỉ dưỡng sức đi cô em.

-May mắn nghe.

-Sắp có một vụ hái thận.

-Hái thận hả? Làm ngay chưa?

-Tối nay mới đi hái.

-Tôi muốn dự xem hái thận một lần cho biết.

-Hôm nay phải vào trong sa mạc hái, trực thăng không có đủ chỗ đâu, hôm nào có ‘cây nhà lá vườn’, nếu cô em muốn, tôi sẽ gọi.

-Đàn anh thuộc phía nội thương sao lại phải đi? Tôi tưởng là bọn chuyên khoa giải phẫu đường tiểu phải lo chứ?

-Họ chỉ lo phần giải phẫu thôi còn chuyên khoa thận của tôi lo phần nội khoa thận. Vì thế tụi này cũng phải có mặt. Vả lại mục đích đi xa hái thận hôm nay là vì tôi muốn đi xem hái tim luôn.

-Bao giờ ghép thận?

-Sớm lắm cũng phải trưa mai.

-Người đàn anh gọi cho tôi tới dự khán được không?

-Được chứ. Khi nào sẵn sàng tôi gọi. Khoảng trưa mai, đừng đi đâu cả.

-Hy vọng giờ đó tôi thức dậy nổi.

-Số beeper của cô em bao nhiêu?

-135. Nếu không liên lạc được, bảo tổng đài gọi thẳng về nhà cũng được.

Buổi tối bọn Phan ra bãi trực thăng trước giờ đã định. Tên fellow chuyên khoa bệnh đường tiểu lúc nào cũng ta đây. Cái ego của mấy anh chàng bác sĩ giải phẫu vốn dĩ có dao kéo trong tay lúc nào cũng căng phồng, lòe loẹt như cái bong bóng sặc sỡ màu sắc Nam Mỹ châu. Mặt hắn câng câng như cái bàng quang heo căng tức:

-Hê, Phan mày đi trực thăng lần nào chưa?

-Nhờ anh tí, cái thứ trực thăng con bọ hung này ăn nhằm gì!

Phan cười khẩy rồi tiếp:

‘Trong thời chiến tranh Việt Nam vừa qua, tao đã được đi đủ loại trực thăng, nào là trực thăng chuồn chuồn, trực thăng trái chuối, trực thăng hổ mang Cobra, trực thăng Chinook… Còn máy bay thì đủ thứ như vận tải cơ Caribou, C123, C130, Galaxy, máy bay bà già L19, chưa kể chiến đấu cơ…’.

Nghe chàng nói hắn cụt hứng, Phan đè thêm cái tôi ego bong bóng của hắn xuống thêm nữa:

-Còn xe hơi thì tao đã từng đi Tầu Bò, Xe Xích, xe con cua lội nước M113, xe tăng T64… những thứ như Rolls Royce, Mercedes, Jaguar ăn nhằm gì.

-Mấy thứ đó tao không ham.

-Đâu có dễ mà đi được!

Có tiếng trực thăng bay lượn trên bầu trời.

-Sửa soạn lên đường.

-Cậu biết chi tiết vụ hái thận này không?

-Nghe đâu con nhỏ mới 16 tuổi.

-Bị tai nạn xe?

-Tao không rõ.

Chiếc trực thăng đến, mọi chuyện đã sửa soạn sẵn sàng, cất cánh ngay không trễ một phút. Thành phố bên dưới rạng rỡ ánh đèn. Những cây ánh sáng dọc hai bên đại lộ sắp hàng thẳng băng như kê thước mà kẻ. Những đường sáng chạy dọc, chạy ngang chia bóng tối mặt đất thành những ô nhỏ trông như những đám ruộng trồng hoa ánh sáng, những loài hoa nở về đêm, lung linh đủ mầu. Chiếc trực thăng bỏ dần ánh đèn phố thị sau lưng bay vào vùng cát tím thẫm mênh mông. Tthỉnh thoảng chỉ còn thấy một vài vệt sáng chạy vun vút như ngững bóng ma trơi làm gợi hình lên cho thấy con đường đen quanh co ở dưới. Không khí sa mạc nóng và khô. Phan có cảm tưởng như có tĩnh điện nổ tanh tách ở giữa lớp áo và làn da của mình.

Sau gần nửa giờ bay, chiếc trực thăng đáp xuống bãi đáp ở nóc nhà thương, chỗ có chữ H, viết tắt của chữ Helicopter, sơn bằng sơn dạ quang.

Tụi Phan đến hãy còn sớm. Vụ gặt còn hơn nửa giờ nữa mới bắt đầu nhưng phần lớn những tay ‘thợ gặt’ ở xa như những tay hái tim chẳng hạn đã tới từ lâu. Bọn chàng vào câu lạc bộ tiêu xài thì giờ. Ở đây chàng biết thêm chi tiết về vụ gặt sắp tới. Người con gái đang tuổi trăng tròn vì một phút giận dỗi cuộc đời, nàng kê súng vào màng tang bóp cò và rơi đổ xuống mê man. Người ta muốn dấu và bọn chàng cũng chẳng cần muốn biết thêm tại sao nàng lại làm như vậy.

Gia đình người mệnh bạc không biết có phải vì ân hận hay không, nhưng dù sao đi nữa họ cũng đáng được tri ân, vì đã nghĩ đến cứu mạng sống những con bệnh khác. Họ đã quyết định cho hết các cơ quan của thân thể người con gái đáng yêu hay đáng ghét của họ, những cơ quan khả dĩ có thể dùng vào việc ghép hay tháp.

Đám thợ gặt, thợ hái đến từ tứ xứ, có những kẻ đến từ miền Đông nước Mỹ, quây quần trò chuyện. Những lúc chờ đợi như thế này, người Mỹ thích nói chuyện tiếu lâm, joking. Mỗi nhóm đề cử ra một người, lần lượt thay phiên nhau nói chuyện tếu, thường thường chuyện riễu liên hệ đến ngành chuyên môn của mình. Khi đến lượt bọn chàng, tên fellow bạn muốn bán cái cho chàng.

-Này, ‘Fan’ cậu kể chuyện tiếu lâm đi. Tao thích chuyện ‘cái quạt’ của cậu.

-Tao kể chuyện sáng nay rồi. Bây giờ đến lượt mày kể trước.

-Cậu còn nhớ ông Le không?

-Ông Le sau khi ghép thận bị abcess thận chứ gì?

-Ừ.

-Hê, đừng có nói xấu người đồng hương của tao đấy nhé.

-Xin lỗi người anh em trước, đây là chuyện có thật.

Tất cả đám chuyên viên y khoa im lặng chờ hắn kể. Trong dòng máu vốn có sẵn cái khôn khéo của ông tổ ngày trước là một tay lái buôn lạc đà, hắn im lặng, le lưỡi liếm môi như thử thèm nhem nhem đám đông. Mãi một lúc sau hắn mới bắt đầu:

-Vào một ngày đẹp trời nọ, một con bệnh trở lại tái khám sau khi đã được ghép thận. Người nữ y tá đưa cho ông ta một cái hộp nhựa rồi chỉ ra phòng ngơi, rest room, lấy nước tiểu. Con nhỏ y tá rất xinh. Người bệnh đứng thộn người ra mê mẩn, không biết có phải vì nhan sắc con nhỏ hớp hồn hay vì ngôn ngữ bất đồng. Người nữ y tả chỉ vào hạ bộ con bệnh rồi chỉ vào cái hộp nhựa. Người bệnh vào phòng vệ sinh cả giờ không thấy ra. Người ý tá tưởng ông ta bị ngất xỉu trong đó. Mãi sau, con bệnh lết từng bước, tay vịn tường đi ra, mặt xanh rờn, đưa cái hộp cho người y tá. ‘Ông OK chứ? Mệt quá nói không ra hơi, con bệnh chỉ gật đầu rồi ngã xuống ghế. Người nữ y tá kinh ngạc nhìn cái hộp đựng: ‘Hê, nhà ông kia, ông lấy đàm hả ? Tôi bảo ông lấy nước tiểu mà’.

Có nhiều tiếng cười và tiếng pha chè thêm, riêng Phan chẳng thấy chẳng có cái gì đáng cười cả.

Nghe hắn nói tới người bệnh họ Lê chàng nhớ ra  anh ta đã gởi cái thiệp mời chàng ngày mai chủ nhật ghé lại nhà dự đám giỗ. Tuần trước gặp ở phòng ngoại chẩn khu bệnh thận, hắn ta đã năn nỉ chàng ráng dàn xếp bỏ chút thì giờ tới chung vui. Phan định bụng sẽ cố gắng đến với hắn ta năm mười phút. Ở Mỹ mà còn được con bệnh mời ăn kỵ, ăn giỗ quả thật hi hữu, quả thật con bệnh quí mến mình.

Vụ gặt hái bắt đầu. Bọn Phan phải sắp hàng chờ tới lượt mình. Bọn hái trái tim được ưu tiên số một. Rồi tới bọn hái hai lá phổi, bọn hái lá ga, bọn hái lá mía rồi mới tới lượt bọn chàng. Sau đó là bọn  hái giác mạc mắt…

Người con gái được ‘tẩy trần’ nghĩa là được tẩy rửa, xúc trong rửa ngoài sạch sẽ, đã được sát trùng, diệt trùng, đã được tiêm truyền thuốc chống lại sự chối bỏ, từ khước của cơ thể người nhận… Nàng đã được coi như là brain dead mặc dù tim vẫn còn đập nhờ máy điều hợp tim, phổi vẫn còn thở điều hòa nhờ máy thở, nàng vẫn được nuôi dưỡng đầy đủ nhờ tiêm truyền thức ăn vào mạch máu và vẫn bài tiết được bằng lọc máu thận nhân tạo.

Cái khó khăn là phải xác định ranh giới của sự sống và sự chết để khởi sự gặt hái các cơ quan nội tạng. Nếu lấy trước khi chết sẽ bị mang tiếng, bị kết án là sát nhân để chiếm đoạt của tư hữu của người khác. Nhưng nếu lấy càng chậm sau khi chết, những thứ gặt hái được càng ươn thiu, không còn tươi tốt khi đem ghép, khi đó có nhiều nguy cơ bị thất bại hay dễ bị hiện tượng chối bỏ nơi người nhận. Người ta phải cố gắng uốn nắn cái định nghĩa và những tiểu chuẩn về sự chết để tìm ra một cái ranh giới vừa êm đẹp về phương diện pháp lý vừa lợi ích về phương diện y học.

Chiếc đèn mổ sáng choang, tỏa ra một thứ ánh sáng trắng êm dịu, mát mắt, hội tụ phủ xuống thân người con gái mệnh bạc, nằm lõa thể trên bàn mổ. Một tuyệt tác phẩm của thiên nhiên. Một sắc nước hương trời đang độ. Một kỳ công nuôi dưỡng, luyện tập. Mặc dầu cái sắc trắng của làn da đã ngả sang mầu bềnh bệch của mầu chết nhưng vẫn còn thấy cái mơn mởn, cái hơ hớ của tuổi xuân thì. Trông nàng tưởng chừng như một Sleeping Beauty đang mê man trong giấc ngủ thần tiên.

Bọn thợ gặt áo mũ, găng tay, mặt nạ, tay dao, tay kéo đứng lăm lăm chờ sẵn giây phút hành động, trông như một bọn ma giáo đang cử hành tế lễ dâng hiến cái xác xuân nữ cho ma vương, quỷ thần. Mắt nhiều tên trông hau háu như mắt diều hâu, kên kên, cú vọ rình mồi. Mặt nhiều tên lộ rõ ra cái hăng say gặt hái, lăm le như muốn ăn gian thời gian được chừng nào hay chừng ấy hầu cứu vãn cái sống của các cơ quan gặt hái sau cái chết của thân xác. Cố thu ngắn khoảng hở giữa cái chết của thân xác và cái sống của những thứ thu hoạch. Trong cái dáng dấp đồ tể, yêu ma, mãnh thú đó hiện rõ lên mồn một cái thần thánh, cái cứu nhân độ thế.

Tất cả nín thở chờ đợi giây phút tuyên phán nỗi chết. Tiếng máy kêu bíp bíp, rè rè. Tiếng nhỏ giọt nhểu đều đều trong những túi tiêm truyền. Những giọt máu vẫn tiếp tục tiếp sinh khí vào cái xác. Tiếng thời gian tích tích…

Những đường dao như chớp, những nhát kéo cắt dòn tan gẫy rời hai dẫy sườn. Thành ngực và bụng được hất qua một bên như vừa mở ra một nắp thùng, một cái nắp hòm, để phô ra trái tim còn co bóp phập phồng, đều nhịp. Trái tim hồng tươi trẻ tràn đầy nhựa sống, tràn đầy tình yêu. Lá gan tím hồng vẫn còn tươi láng…

Mọi chuyện sẵn sàng chỉ cỏn chờ ‘hồi chuồng báo tử’. Chờ giây phút hành động. Ống thở được lệnh rút ra. Những điện cực dán ở lồng ngực được bóc ra. Trái tim lỗi nhịp. Chậm dần. Run rẩy. Chết. Sự chết bắt đầu.

-Go!

Hồi chuông báo tử đã điểm.

Đám thợ gặt tim đứng lặng như đám robot bỗng rào rào hoạt động như vừa được bấm nút. Ăn khớp. Nhậm lẹ. Chính xác. Khéo léo.

Trái tim được moi ra. Mang đi. Lũ thợ gặt tim trong một thoáng lướt đi, biến mất như những bóng ma, để lại cái trống trải xót xa trong lồng ngực người con gái. Chiếc phản lực cơ đang nổ máy sẵn ở phi trường chờ đợi chở bọn hái tim bay về một tiểu bang ở miền Đông Mỹ, để ghép tim cho một người bệnh tim.

Không để mất một giây, bọn thợ hái hai lá phổi tiến lên hái ngay hai lá phổi. Rồi bọn hái lá gan nhào tới bắt tay vào việc. Lá gan tím hồng với đầy đủ cuống lá và quả mật xanh mầu ngọc thạch được cắt rời ra mang đi trong khoảnh khắc. Bụng người con gái tan hoang.

Tội nghiệp đám bác sĩ đánh thuốc mê phải ráng vận dụng hết tài năng mình để làm sao có thể giữ cho áp huyết được quân bình hầu cho các cơ quan còn được đủ máu đem tới nuôi dưỡng, duy trì được sự sống. Từ lúc tim phổi lấy đi rồi, máu còn tuần hoàn trong cơ thể được là nhờ bộ máy tim-phổi nhân tạo đặt ngoài cơ thể.

Đến lượt bọn chàng, lũ thợ hái ‘đậu’ xông lên. Vì là những kẻ đến sau, nên càng phải tranh thủ với khoảng hở thời gian. Một cuộc đua nước rút với thời gian. Như vũ bão, những đường dao múa thật ngọt. Không do dự, không trù trừ. Không phân vân. Không suy tính. Không cứa qua xẻo lại. Không thương tiếc. Không xót xa. Lòng ruột được tách ra, hất qua một bên để phơi ra hai trái thận đang xuân, xinh xắn. Hai trái thận được bóc ra khỏi những dây nhợ ràng buộc chằng chịt. Thận vẫn còn tươi và ấm hơi người, tím thẫm.

Hai quả thận với nguyên cả cành lá được đánh ra khỏi thân người con gái, đem bỏ vào thau nước dung dịch nuôi dưỡng giá lạnh. Sau khi xúc rửa sạch sẽ, xén tỉa gọn ghẽ, hai quả thật được đặt vào hộp đá. Hai quả thật ngủ một giấc li bì đông lạnh.

Thanh toán xong mục tiêu, bọn Phan rút lẹ. Chiếc trực thăng trên nóc nhà thương đã nổ máy chờ sẵn.

Trời đêm sa mạc lộng gió, giá lạnh, thoang thoảng trong không khí mùi cát ẩm hăng hắc.

Tên fellow bệng đường tiểu ngồi ôm cái thùng đựng hai quả thận miệng nhai kẹo cao su trông rất ư là đồ tể.

Về đến nhà thương đã gần mười giờ đêm. Sự gặt hái đã hoàn tất. Bọn chàng xúc tiến việc ghép thận. Máu và mô tế bào của người con gái được gởi lên phòng thí nghiệm ở UCLA, University of California at Los Angeles. Sau đó kết quả sẽ đưa vào máy điện toán để tìm xem con bệnh bị bại thận nào sẽ được match, con bệnh nào sẽ được đồng điệu, sẽ được ‘xe duyên’. Khi đó sẽ báo cho con bệnh vào nhập viện để ghép thận. Mỗi bệnh nhân chờ ghép thận đều được phát cho một cái beeper để có thể liên lạc được hai mươi bốn giờ một ngày. Dân Mỹ là giống tạp chủng không như các giống dân khác thuần chủng hơn, rất khó tìm được ‘môn đăng hộ đối’ hoàn toàn.

Mỗi khi gặt hái được hai trái thận, người hái được ưu tiên giữ lại một để đem ghép cho bệnh nhân của riêng mình. Còn trái kia giao cho cơ quan nội tạng toàn quốc để họ phân phối đi khắp năm mươi tiểu bang. Nhưng thường thường thận được dành cho các bệnh nhân ở địa phương trước đã. Trường hợp ở địa phương không có ai match cả thì lúc đó mới gởi đi xa hầu có thể tiết kiệm được ngân quĩ, khỏi phải dùng một chuyến máy bay phản lực riêng để chở thận. Hơn nữa còn rút ngắn được khoảng thời gian chờ đợi. Thận để lâu sẽ không ghép được. Thận để lâu quá 48 tiếng đồng hồ ít khi đem ghép, trừ vài trường hợp hi hữu, tiếc rẻ, bỏ đi phí của giời. Đây là những trường hợp ngoại lệ.

Ba giờ sáng y tá dựng đầu Phan dậy báo con bệnh được ghép thận đã nhập viện. Chàng phải vào  nhà thương khám tiền giải phẫu, cho lọc máu thận để cho cơ thể bệnh nhân được sạch sẽ trước khi mổ. Bệnh nhân là một người Mường bị bại thận vì một lý do gì không rõ. Trái thận của người con gái Mỹ mới gặt hái được đem thử thịt đã hòa hợp, đồng điệu với thân thể của người Á châu vùng rừng núi Đông Nam Á này.

Công cuộc ghép thận được dự trù vào gần trưa ngày hôm nay. Nhưng phòng mổ lại bị kẹt các vụ mổ khác nên phải hoãn lại tới xế trưa. Lợi dụng khoảng thời gian chờ đợi này Phan tạt qua nhà người bệnh họ Lê ăn đám giỗ. Nhà hắn ta ở ngay tỉnh Garden Grove, chỉ cách nhà thương UCI, University of California at Irvine có chừng mười phút lái xe.

Khi đến nơi, Phan mới biết người bệnh họ Lê hôm nay vừa ăn giỗ và vừa ăn sinh nhật. Hắn tổ chứ đám kỵ để cúng một người vô danh nào đó đã cho hắn quả thận hiện đang móc ở trong người hắn. Hôm nay là cái giỗ thứ nhì và hôm nay cũng tổ chức sinh nhật thứ hai cho trái thận đang sống khỏe, sống mạnh trong người hắn. Hắn đã có nhiều lần cố ý hỏi dò la tung tích người cho hắn trái thận nhưng chàng đã né tránh. Thật sự chàng cũng không rõ gốc gác trái thận hắn đang mang trong người. Hắn có lần đã tâm sự với chàng là trái thận nhiều lúc như hiểu rõ tâm tưởng hắn. Mỗi lần hắn chửi Mỹ, trái thận như gò cứng lại thành quả đấm, tức giận. Hắn cũng nhận thấy bây giờ hắn thèm ăn đồ ăn Mỹ. Hình như trái thận thích ăn đồ Mỹ nhạt hơn so với đồ ăn Việt Nam mặn mòi nhiều mắm muối. Bữa nào ăn mắm chưng, cá kho tộ quả thận của người Mỹ phản ứng ngay làm hắn khó chịu. Hắn bảo từ ngày được ghép thận Mỹ, hắn nói tiếng Anh khá ra. Miệng nói trơn tru không còn thấy khớp nữa.

Phan liếc mắt nhìn lên chiếc bàn phủ vải điều dùng làm bàn thờ. Đồ cúng một bên có đĩa hamberger, French fries, potato chips, soda pop, có Kentucky fry chiken, có corn on the crop, có hot dog, có cần Tây, cà rốt, củ đậu cắt thành những que nhỏ bầy bao quanh cái đĩa đồ chấm ‘dip’. Có cả đĩa kẹo cao su và buble gum. Phía bên kia có bánh hỏi thịt quay, có bánh cuốn Thanh Trì, có bánh bèo tôm chấy, có gỏi sứa, có cơm chiên Dương Châu…

Bàn thờ nghi ngút khói hương, đèn nến. Có cả trái thận cắt ra từ giấy điều trên mặt có vẽ bùa ngoằn ngoèo để trên một cái khay. Người vẽ quả thận không rành cơ thể học nên trông giống như một hạt đậu ngự khổng lồ. Những nét bùa vẽ làm cho mặt hạt đậu thấy nhăn nheo trông tưởng như nó đã được ngâm nước lâu ngày, trương phình, nhăn nhúm.

Trên một cái bàn con đặt kế bên bàn thờ có một chiếc bánh sinh nhật hình quả thận rất to làm theo kiểu tarte của Pháp. Trên mặt chiếc bánh bầy những trái cây tươi. Ở giữa có hàng chữ ‘Mừng Sinh Nhật Thận, Hai Tuổi’.

Con bệnh mặt tròn xoe như mặt trăng, lấm tấm điểm những mụn trứng cá. Đó là do hậu quả của uống thuốc prednisone trường kỳ. Tóc rậm, râu xanh mướt, rậm rạp như râu tóc Fidel Castro, lông mày chổi xể. Đó là kết quả của uống thuốc Cyclosporine A lâu dài. Cứ mỗi lần nhìn các con bệnh được ghép thận, Phan lại nhới tới câu Kiều của cụ Nguyễn Du: ‘Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang’. Những người bệnh được ghép thận đều phải uống những thứ thuốc đó để ngăn ngừa hiện tượng chối bỏ của cơ thể người nhận đối với những cơ quan đem ghép.

Hắn ta mặc áo thụng xanh mầu nước biển rải rác có những hình chữ thọ tròn xanh đen đậm, đầu đội khăn đóng đang quỳ lậy lên gối, xuống gối trước bàn thờ. Một bên hình như là một lão thầy pháp đang ngồi làm lễ. Phan ngạc nhiên là qua đây rồi mà thầy cúng, đồng bóng cũng vẫn còn ăn nên làm ra.

Cúng vái xong hắn ngỏ lời cảm tạ. Cuối cùng hắn mời tất cả mọi người cùng ban nhạc hát bài ‘Happy Birth Day’ chúc mừng quả thận được hai tuổi. Hắn tự tay ‘hóa vàng’ quả thận bằng tờ giấy điều.

Một lúc sau hắn thấy chàng, mừng rối rít.

-Cám ơn bác sĩ đã bỏ thì giờ đến dự.

-Đâu có gì. Hên là hôm nay tôi có được một khoảng thời gian trống.

-Xin ghi tâm nhớ mãi công ơn của bác sĩ nuôi dưỡng trái thận.

-Đâu phải là công của tôi. Anh mới là người tự tay chăm nom, nuôi nấng trái thận. Chúng tôi chỉ là những người cố vấn.

-Bác sĩ nói vậy…

-Anh tổ chức linh đình quá! Sao không cho tôi biết trước để tôi mời một nhà báo Mỹ đến viết một bài đăng trên tờ nguyệt san của Tổ Chức Ghép Thận.

-Thôi. Làm thế rùm beng quá. Tôi chỉ muốn làm cái giỗ để tri ân, để tưởng nhớ người ta đã cho mình trái thận. Bác sĩ biết không, sau mấy năm không đi tiểu, hôm ghép thận xong, lần đầu tiên đi tiểu trở lại, tôi đã đứng trong phòng vệ sinh ôm mặt khóc ròng. Sướng không tả được. Người bình thường đâu có nhận thức được cái hạnh phúc khi đi tè…

-Tôi hiểu.

-Tôi nguyện sẽ cúng giỗ người ấy trọn đời.

-Anh tổ chức chu đáo lắm. Chắc người đó ở suối vàng sẽ hả dạ.

Người đàn ông kéo Phan ra một chỗ khuất nói nhỏ:

-Chỗ bác sĩ với tôi, tôi xin nói thật. ‘Người ấy’ nhắc tôi đấy. Hai tuần trước tôi nằm mơ thấy cô ta tiến lại gần giường tôi, vuốt ve tôi. Rồi lần tay xuống chỗ trái thận, tính chụp lấy đòi lại. Vì vậy năm nay tôi phải mời cả thầy cúng về làm lễ là vậy.

-Trái thận đem ghép cho anh là của phái nữ à?

-Tôi không rõ. Cô ta trông nhang nhác giống như cái cô y tá làm ở chỗ khu giải phẫu trong nhà thương.

Phan liếc nhanh con bệnh, chợt nhớ tới câu chuyện riễu của tên fellow bệnh đường tiểu.

-Tôi có mời cô ta đến dự hôm nay. Nhưng vào phút chót cô ta gọi điện thoại xin cáo lỗi không đến được vì bị bịnh bất thình lình. Hình như bác sĩ bảo cô ta bị sưng thận.

Phan im lặng. Chẳng lẽ hắn lại mơ tưởng tới con nhỏ y tá đó. Phải chăng vì cái vụ ‘hiểu lầm’ lấy mẫu thử nghiệm đó xui khiến nên? Trong lúc lấy mẫu thử nghiệm hắn đã mộng tưởng tới nàng. Hắn đã cố ý hiểu lầm? Hay là trái thận Mỹ đã xui khiến hắn mơ tưởng tìm đến da thịt Mỹ?

-Uổng nhỉ? Nghe nói cô ấy xinh lắm.

-Chắc tôi sẽ dành ít đồ ăn và miếng bánh cho cô ấy.

Phan khó có thể tin là người chết về đòi lại món quà thân thể của họ mà thân nhân họ đã tặng cho đời. Tuy nhiên chàng biết rõ một điều là thuốc prednisone vài khi gây ra tâm bệnh. Không chừng chàng phải gởi hắn tới bác sĩ tâm thần để tham vấn, định giá.

-Dạo này có bận không bác sĩ?

-Đang mùa. Hiện có một cái đang phải chờ phòng mổ. Mới hái được tối qua.

-Hôm trước có thằng cháu bị đụng xe hôn mê. Tôi nói người nhà cho hai quả thận. Nhưng người Á châu mình chưa đổi được ý tưởng sống trong đầu. Bố mẹ nó không chịu, bảo là nếu đem cho thận đi, cái vong khó lòng đầu thai được nữa.

Hắn nói đúng. Nhiều nơi trên thế giới con người vẫn giữ đức tin là phải làm sao giữ cho thân xác được toàn vẹn lúc qua đời…

-Xin lỗi bác sĩ, tôi phải ra cắt bánh sinh nhật.

-Tôi cũng phải vào nhà thương bây giờ.

-Bác sĩ ở lại ăn miếng bánh đã.

Hắn cắt miếng bánh đầu tiên đưa cho Phan. Người bệnh họ Lê nói cười vui vẻ, hạnh phúc như một đứa trẻ mới lớn trong ngày sinh nhật. Những cái cười hết miệng vẽ trên khuôn mặt trăng tròn biến khuôn mặt thành cái mặt ông địa vui cười trong ngày rằm tháng tám tết Trung Thu.

Ăn chưa xong miếng bánh, có tiếng beeper gọi Phan. Chàng nuốt vội miếng bánh rồi chuồn nhanh.

Khi con bệnh đã sẵn sàng leo lên bàn mổ, Phan gọi báo cho Chung, người nữ thường trú gốc Đại Hàn để nàng đến dự khán.

Con bệnh người Mường nguyên là một thầy mo. Hắn nhất định không chịu tháo bỏ cái bùa hộ mạng bằng chỉ ngũ sắc đeo ở cổ ta ra. Bọn Phan giải thích, năn nỉ cách nào cũng không được. Cuối cùng phải báo cáo nội vụ lên vị trưởng khu Tiết Niệu. Ông ta ra lệnh hủy bỏ cuộc ghép thận nếu hắn ta không chịu tháo bỏ cái bùa đi. Cả bộ lạc Mường triệu tập một buổi họp gia tộc ngay trong phòng chờ nhà thương. Cuối cùng con bệnh nghe theo ‘nghị quyết’ của tộc trưởng gia tộc miễn cưỡng tháo bỏ cái bùa.

Nằm trên bàn mổ mặt mày hắn chù hụ, bất mãn, đầy oán thù. Mất cái bùa hộ mạng, dĩ nhiên hắn càng lo lắng, sợ chết thêm.

Chung đến kịp giờ.  Nàng thở hổn hển. Bộ ngực sống động. Sau một đêm tĩnh dưỡng, người nữ thường trú trông tươi mát trở lại. Mái tóc chải kỹ, lông mi, lông mày tô điểm sơ sài, trang nhã.

-Hi Chung.

-Hai Phan. Làm chưa?

-Mọi chuyện sẵn sàng rồi. Chỉ còn chờ cô tới nữa thôi!

Cả khuôn mặt Chung che kín sau cái mạt nạ nhà mổ chỉ còn thấy đôi mắt rung động.

-Hân hạnh vậy sao?

Trái thận ngâm trong đá ‘co ro’nhỏ lại, ngả mầu tai tái như đã được đem trụng nước sôi hay đã được vắt chanh vào.

-Phan. Móc trái thái thận vào chỗ nào vậy?

Phan đứng xích qua bên nhường chỗ cho Chung đứng sát vào mép bàn mổ nhìn cho rõ hơn.

-Móc vào động mạch bụng dưới.

-Ở ngoài màng ruột à?

-Ngay dưới thành bụng.

Trái thận được móc vào động mạch bụng dưới của người Mường. Trái thận từ từ nở to ra, căng phồng, ửng hồng lên. Sinh khí từ từ sống dậy. Cuối cùng trái thận đỏ hồng, hồi sinh.

Cả đám nhân viên y khoa trong phòng mổ reo mừng vang dậy. Những tiếng reo hò vang dội như trong một thao trường. Cả đám đông reo hò hạnh phúc vì thấy trái thận ‘tè’ ngay trên bàn mổ, ‘đái dầm’ ngay trong bụng bệnh nhân. Ống dẫn tiểu chưa kịp móc vào bọng tiểu. Phải nhét cái chậu nhỏ hình hạt đậu vào bụng hứng nước tiểu. Những giọt nước tiểu mang lại hạnh phúc tràn đầy. Những giọt nước tiểu như những hạt kim cương long lanh nhểu đều đặn. Trái thận đã hồi sinh lại, sống một đời mới nơi một thân xác mới, xa lạ từ mầu da đến văn hóa.

Phan quay qua nhìn Chung. Đôi mắt Đại Hàn một mí nước mắt lưng tròng.

-Tuyệt vời! Truyệt vời!

Nàng khẽ rên nho nhỏ. Chung như đang say sưa với điều vừa xẩy ra trước mắt nàng. Chung đứng ép sát vào người Phan. Trong căn phòng mổ lạnh, chàng cảm thấy rõ hơi ấm từ người nàng truyền qua người mình.

-Tuyệt diệu! Không thể nào ngờ được.

Chung nói hà hơi thở bên tai Phan.

Từ lúc đó cho tới khi mổ xong, Chung hân hoan, hạnh phúc. Nàng vui với cái sống dậy của trái thận nơi một thân thể kẻ lạ trong khoảnh khắc như một phép lạ. Lúc rời phòng mổ hai khóe mắt nàng còn long lanh nước mắt.

-Không thể nào tin được! Trái thận làm nước tiểu tức khắc. Phan, trường hợp nào cũng vậy sao?

-Không. Có trái lười biếng phải một hai tuần sau mới làm nước tiểu. Lâu mau, tùy theo thời gian gặt hái và thời gian chờ ghép thận. Hơn nữa, trái thận này còn thanh xuân, lành mạnh, còn tràn đầy sức sống nên hồi sinh nhanh, mặc dầu đã phải hái sau vụ hái tim, phổi và gan.

-Không phải cắt bỏ hai trái thận cũ của con bệnh à?

-Không. Vô ích. Phí thì giờ, phí sức. Chỉ trừ trong vài trường hợp người bệnh bị chứng cao máu bất trị không chữa được bằng thuốc mới phải lấy hai quả thận của bệnh nhân ra. Cắt bỏ thận cũ còn khó khăn nhiều hơn móc quả thận mới vào.

-Để lại không nguy hại gì chứ?

-Thận đó không làm việc nhưng vẫn là thận cố hữu của ông ta, vô hại. Bây giờ bệnh nhân có ba quả thận. Đôi khi cả ba trái đều tiết ra kích thích tố tạo hồng huyết cầu erythropoietin nên vài khi gây ra chứng dư hạt máu đỏ thay vì thiếu máu thấy ở các bệnh nhân bại thận kinh niên.

-Trường hợp đó phải lấy máu ra?

-Phải.

-Người đàn anh còn làm gì nữa không?

-Tôi chỉ lo phần nội thương chuyên khoa thận cho người ghép thận, bọn phía đường tiểu lo hậu giải phẫu. Hy vọng tình hình sẽ êm dịu. Có mục gì không?

-Nếu tiện cho quá giang về luôn. Hồi nẫy chậy bộ từ nhà qua đây.

-Được. Tôi cũng tính ghé qua xóm đó từ lâu nhưng chưa đi được.

Phan đợi Chung thay quần áo rồi chở nàng về nhà. Chàng tính ghé nhà tên fellow chuyên khoa tuyến nội tiết ở bên xóm đó để lấy mớ tài liệu mà hắn đã hứa cho chàng mượn. Chung ở ngay khu chung cư trước bệnh viện. Đây là xóm sinh viên, thường trú trường thuốc. Họ mướn ở đây để có thể đi bộ qua bệnh viện thực tập, đi bộ qua thư viện học hành, tiết kiện được thì giờ, tiền mua xe, tiền xăng nhớt, tiền bảo hiểm xe, tiền bãi đậu xe, tiền sửa chữa xe…

Khu chung cư rất sang trọng, lịch sự, yên tĩnh, cổng ra vào có trạm gác giữ an ninh.

-Người đàn anh tính ghé thăm ai vậy?

-Tính ghé tên fellow tuyến nội tiết.

Người con gái xoay ngang người nhìn Phan dò xét.

-Có chuyện gì vậy?

Ngần ngừ một lúc, nàng lắc đầu.

-Không.

Phan biết Chung muốn dấu một chuyện gì.

-Có điều gì nói đi cô em.

Nàng nói thật nhanh như nói tiếng Đại Hàn:

-Ông ‘gay’ hả?

-Sao cô em lại hỏi vậy?

-Thằng đó vốn tính ‘vui vẻ’ đấy!

-Nói đùa chứ?

-Thật mà. Ở xóm này ai mà không biết. Hỏi hắn, hắn cũng nhận.

Phan nhìn thẳng vào mắt Chung. Đôi mắt trông có vẻ thành thật và có một chút gì như thất vọng.

-Thật vậy sao? Hèn gì hắn cứ nói quên hoài. Hắn bảo ghé lại nhà hắn lấy. Âm u thật.

-Ông mà vào phòng hắn là ông bị mang tiếng đấy.

-Ai mà biết. Chắc mấy cái tuyến nội tiết của hắn làm việc khác thường.

Chung cười ròn tan.

-Vì vậy hắn mới chọn ngành đó!

Phan ngừng xe ở cổng gác. Nhân viên an ninh nhận diện ra Chung mở cổng cho vào.

-Phan tính mượn hắn cái gì vậy?

-Mớ tài liệu chữa chứng liệt dương!

Chung trợn mắt, cười ranh mãnh.

-Để chữa cho thiên hạ. Đừng có mà nghĩ oan cho người ta.

Nàng lấy tay che miệng, hãm bớt tiếng cười.

-Có gì đâu mà đã vội bào chữa. Có tật giật mình.

-Không bệnh tật gì cả. Bảo đảm. Cũng chẳng phải chọn ngành thận vì yếu thận theo kiểu Đông y nghĩ đâu. Không tin thì thử xem…

Phan bỏ lửng câu nói nhìn Chung trai lơ.

-Ấy, ấy… quẹo tay phải. Để xem!

Theo sự chỉ dẫn của Chung, Phan chạy vòng vèo trong khu chung cư.

-Cho xe vào nhà để xe. Vào chơi tí đã.

Quẹo vào garage, đậu xe, Phan hỏi nhanh:

-Còn cô em thì sao? Thích đàn ông hay đàn bà?

-Tối dạ! Thích đàn bà, ai mà lại mời đàn ông vào nhà chơi!

Chung cười con mắt có đuôi. Nàng mở cửa xe bước xuống, bảo chàng đợi một chút rồi hãy vào nhà sau. Nàng nói tiếng Anh ríu lưỡi như nói tiếng Đại Hàn. Chung chạy được mấy chục bước vội vàng hãm lại.

-Căn nhà K 32.

Phan biết Chung chạy vào nhà trước để thu dọn nhà cửa.

Chàng bước lên thềm dẫy K32 đã thấy Chung thập thò ở cửa phòng chờ chàng.

Căn phòng Chung ở là một căn phòng dành cho người độc thân, bachelor. Chung tiếp tục lo thu dọn đồ đạc vất tứ tung trong nhà.

-Cứ để yên như vậy. Hơi đâu mà dọn. Thông cảm mà.

-Tháng này trực gác bận quá. Về nhà là lăn ra ngủ.

-Sorry vì đã nhận lời tới thăm bất ngờ.

-Đâu có sao.

-Người em qua Mỹ từ bao giờ?

Phan ngồi xuống cái sofa.

-Từ lúc mười hai tuổi.

-Hèn gì nói tiếng Anh nhanh hơn Mỹ.

-Có cái tật nói nhanh như người Đại Hàn, cố nói chậm lại mãi mà không sửa được.

Chung tiến lại phía bếp mở tủ lạnh.

-Ăn uống gì không?

-Có món gì Đại Hàn không?

-Nếu đợi được thì nấu món Đại Hàn cho ăn.

-Có sẵn thì ăn, còn không thì thôi. Chỉ thèm một giấc ngủ lấy lại sức. Tối qua bị dựng đầu vào nhà thương từ ba giờ sáng.

-Nếu không ngại. Đàn anh lăn ra đó mà ngủ một giấc. Đàn em đi mua thức ăn Đại Hàn.

-Phiền toái quá. Cho một ly nước ngọt được rồi.

-Ra ngay đường Garden Grove ngoài kia thôi mà.

Chung bưng ra cho chàng một ly coke.

-Người đàn anh muốn ăn món gì nào?

-Đồ Đại Hàn mới chỉ dám mạo hiểm vài ba món như barbecue thịt bò, sườn nướng kalbi, thịt bò nướng chảo bulgogi, món canh nghêu gome tang, món cá chiên do mi chim, món riêu cá nấu cay maeuntang.

-Anh thích do mi chim hả? Cay chết đi được!

-Có cay bằng nụ hôn Hán Thành không?

-Thử chưa?

Nàng chậy vào trong lấy cái xách tay.

-Chốc nữa so sánh!

-Chờ nghe. Cho em mượn chìa khóa xe.

Người con gái đi ra khép cửa lại. Ngồi nhấp mấy ngụm nước, Phan thấy buồn ngủ rũ mắt. Chàng vào nhà tắm, tắm rửa cho tỉnh ngủ. Mấy cái quần áo đàn bà mặc trong nhà kiểu Đại Hàn bằng lụa Koryo (Cao Ly) vắt ngổn ngang đây đó. Hộp thuốc vệ sinh phụ và ngừa thai nhét âm đạo nằm lăn lóc ngay ngoài mép bàn.

Phan trút bỏ quần áo. Mở vòi nuớc hết cỡ như muốn làm trôi đi cái cảm giác mình là một kẻ bất lương đang xâm nhập gia cư bất hợp pháp của một người con gái xa lạ. Tắm vội xong, khoan khoái, Phan ra sofa ngả người nắm xuống. Chàng hy vọng tắm xong sẽ tỉnh ngủ nhưng trong nháy mắt chàng thiếp đi…

Cái cảm giác rợn người như cái cảm giác thấy trong một giấc mộng tinh thuở mới lớn làm chàng tỉnh dậy.

-Cứ tưởng bị wet dream.

-The dream comes true!

Chung đang ngồi bệt dưới đất, cái kiểu ngồi Đại Hàn, Nhật Bản, hai chân quật ra phía sau để cho dễ cúi người xuống, để cho quì lâu không thấy mỏi.

Phan thì thào bên tai người con gái.

-I love you with all my kidneys.

-Your kidneys are hot!

-Your lips are hot too!

Người con gái Đại Hàn không giá lạnh, không tuyết giá như tiết đại hàn mà nóng bỏng. Người con gái Đại Hàn hot như món cá do mi chim cay nóng bỏng, hot như món kim chi ớt cay. Gái Đại Hàn cay xé miệng. Gái Đại Hàn chẩy nước mắt. Gái Đại Hàn xuýt xoa.

Phan ngồi dậy bắt chước kiểu quì gối bái chào Chung. Hai người bái tạ nhau như hai tay đấu vật sau một trận tỉ thí. Bái chào xong, nàng phá lên cười sảng khoái. Bốn cái mí mắt của nàng bện lại thành hai sợi chỉ.

-Để em đi tắm rửa trước rồi đi hâm lại đồ ăn.

Phan ném người nằm xuống trở lại. Chàng lơ đãng đưa mắt nhìn quanh nhà.

-Anh đi tắm rồi ra ăn thì vừa. Hồi nẫy anh tắm rồi hả.

-Ừ.

-Ai cho phép anh vào trong đó. Trong đó bừa bãi, làm em xấu hổ quá.

-Tại vì buồn ngủ quá chịu không nổi phải đi tắm. Thành thật tạ lỗi.

Tắm rửa xong đồ ăn đã sẵn sàng. Những món ăn Đại Hàn đầy ớt cay làm tăng dư vị của cuộc tình nóng bỏng. Món cá do mi chim chàng ăn đã nhiều lần nhưng bây giờ ăn thấy đậm đà hơn. Một vài món lạ, mới ăn lần đầu, chàng thấy chưa quen với khẩu vị.

-Món này là món gì vậy?

–Sinsollo. Ngày xưa món này là món ăn chỉ dành cho giới vua chúa, vương giả Đại Hàn. Sinsollo là món xào thập cẩm với thịt, cá trứng, hạt thông và bạch quả.

Chung xúc thức ăn cho Phan.

-Ghép thận bây giờ thành công quá anh nhỉ?

-Ừ. Nó mở đầu cho kỷ nguyên ghép những cơ quan nội tạng. Bây giờ đến lượt ghép tim, ghép gan đang tiến triển khả quan.

-Anh đọc bài về tháp não brain graft để chữa chứng Parkinson chưa?

-Rồi. Kết quả sơ khởi có nhiều triển vọng đấy.

Chung lại tiếp thên đồ ăn.

-Sắp tốt nghiệp nội thương rồi, có tính học thêm chuyên môn gì nữa không?

-Em cũng không biết nữa. Hơi thấy thấm mệt rồi. Chắc ra hành nghề một thời gian, nghỉ ngơi rồi sẽ tính.

-Hành nghề mà nghỉ ngơi à?

-Ít ra cũng đỡ hơn cái đời sống nội trú, thường trú này.

-Hành nghề có cái mệt cân não khác.

-Anh nghĩ nên chọn cái chuyên môn gì?

-Tùy.

Chung ngừng nhai chờ Phan.

-Tùy. Muốn kiếm nhiều tiền, muốn nhàn hạ hay muốn thỏa mãn ước nguyện, thỏa mãn chí bình sinh.

-Muốn hết!

Chung cười.

-Ở Mỹ này muốn được hết hơi khó. Nếu là người Việt Nam, tôi sẽ khuyên một sinh viên y khoa chọn cái chuyên môn này…

-…?

-Chắc chắn làm nghề đó cho người Việt Nam sẽ bận rộn.

-Ngành gì vậy?

-Nhưng mà thôi. Cô em là người Đại Hàn và đã học nội thương rồi.

Ăn xong, Chung mang một thứ bánh Đại Hàn ra ăn tráng miệng.

-Bánh này gọi là bánh Mils Sam.

Bánh thơm mùi quế.

-Anh muốn dùng poricha không?

Phan chỉ hiểu mỗi tiếng cha là trà.

-Poricha là trà gì?

-Barley tea.

Phan hiểu ra đó là thứ nước uống làm từ lúa mạch rang giống như nước gạo rang, nước cháo porridge, thường dùng làm nước tráng miệng ở các tiệm ăn Đại Hàn.

-Có gì khác hơn không?

-Thôi để em pha trà sâm Cao Ly cho anh uống để lấy lại sức.

Chung cười hóm hỉnh.

Phan kiểm soát lại cái beeper xem có còn hoạt động hay không.

-Chắc người ghép thận êm xuôi.

-Ừ, nếu cần thì tụi fellows bệnh đường tiểu đã réo gọi rồi. Móc xong cái thận vào người bệnh nhân là chúng muốn rửa sạch bàn tay nhúng máu rồi bán cái ngay cho tụi anh.

Phan từ giã.

-Hẹn đến khi nào có hái thận.

Người con gái nửa đùa nửa thật:

-Dám tối nay có đấy!

-Đâu có ngán! Lúc nào cũng ứng trực trăm phần trăm. Mới uống trà sâm Cao Ly mà! Nếu có sẽ gọi báo cho người em gái Hán Thành biết ngay.

-Để em cầu nguyện!

Tiễn chân ra cửa nàng nũng nịu:

-Anh chưa nói cho em biết cái ngành chuyên môn gì đó.

-Nếu muốn. Học tiếng Việt đi. Không rành tiếng Việt làm sao chữa bệnh Việt Nam được. Lần hái thận tới sẽ nói cho biết.

Chung làm mặt giận.

Trên đường về, Phan nhớ tới ngành chuyên môn mà chàng tính nói cho Chung biết.

Tiếc. Tiếc. Tiếc. Nếu Phan còn trẻ, chàng sẽ học ngành ghép não. Hầu hết các lãnh tụ Việt Nam, từ lãnh tụ lớn đến lãnh tụ nhỏ, ở trong cũng như ở ngoài nước đang cần phải ghép não, đổi óc.

(Trích trong Những Mảnh Đời Tị Nạn, có nhuận sắc lại).

Nguồn: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2012/10/26/hai-than-truyen-ngan/

TỲ BÀ HÀNH hay NGUYỆT CẦM

vietvanmoi.fr

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 22 May 2024

Đàn Tỳ Bà có hai giây, hình dạng như trái lê, đầu dưới to, đầu trên nhỏ. Đầu nhỏ cũng là cần đàn. Đàn Nguyệt (hay Nguyệt Cầm) như tên gọi của nó cho thấy có bầu đàn hình tròn như mặt trăng (nguyệt) cần đàn nhỏ và dài. Đàn Nguyệt có bốn giây. Về hình dạng, đàn Tỳ Bà đẹp hơn đàn Nguyệt và cũng là đề tài cho các họa sĩ khi vẽ người đàn bà ôm đàn, một nửa cần đàn che một phần hay nửa khuôn mặt người nữ nghệ sĩ. Có lẽ họ lấy ý ở câu thơ trong Tỳ Bà Hành: “Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.”

              Trong văn học nước ta, Tỳ Bà Hành là một tác phẩm văn chương rất nổi tiếng. Tỳ Bà Hành là một bài hành, nguyên tác bằng Hán văn của Bạch Cư Dị, được Phan Huy Vịnh dịch ra thơ Nôm. Từ khi có chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn (chính phủ Trần Trọng Kim, thời Nhật) đến năm 1956, Tỳ Bà Hành được đưa vào chương trình Việt Văn lớp Đệ Tứ. Khi đi học, tôi may mắn được học tác phẩm nầy. Tuy Tỳ Bà Hành không sánh được với truyện Kiều nhưng rất nhiều người mê Tỳ Bà Hành còn hơn truyện Kiều. Sách Văn Đàn Bảo Giám viết:

                        “Tỳ Bà Hành là một bài hành của Bạch Cư Dị đời Đường, gồm có một bài tự và tám mươi tám câu hát. Dưới đây là nguyên văn bài tự và bài dịch của Phan Huy Vịnh (xem phụ lục)

Bản dịch bài tự:

            “Niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười, ta phải đổi ra làm tư-mã quận Cửu Giang. Mùa Thu năm sau, đi tiễn khách ở bến Bồn. Đêm nghe thấy người gảy đàn tỳ-bà ở trong một chiếc thuyền kia, những giọng đàn lanh lảnh có tiếng ở kinh kỳ. Hỏi ra mới biết là một người xướng nữ ở Trường An, thường học đàn ở hai nhà thiện tài họ Mục và họ Tào, đến khi tuổi cả sắc suy mới gởi thân làm vợ một anh lái buôn. Liền bảo đặt rượu và gảy mấy khúc đàn chơi. Gảy xong, người ấy buồn bã, tự kể khi trẻ trung thì vui thú chừng nào, nay phải lưu lạc tiều tụy ở nơi giang hồ. Ta ra làm quan ở ngoài đã hai năm, vẫn thường lẵng lặng tự dưng, đêm ấy cảm mấy lời nàng nói mới để ý đến nỗi mình bị giáng trích, nhân làm bài ca trường thiên để tặng. Cả bài có sáu trăm mười sáu lời, đặt tên là “Tỳ-bà hành”.

              Ngay bài tự, Bạch Cư Dị cũng không dám nói thật. Ông vì lòng ngay thẳng, lời nói thật mà bị bọn nịnh thần xàm tấu với vua nên bị biếm ra đất Giang Châu. Điều đó không làm cho Bạch buồn sao? Vậy mà Bạch viết: “Ta ra làm quan ở ngoài đã hai năm, vẫn thường lẵng lặng tự dưng.”

  Không, ông không thể “lẵng lặng tự dưng” được, mà chính lòng ông ôm một mối u hoài vì lòng ngay thẳng của ông không được vua thấu rõ, lại còn đày ông ra nơi nầy. Ông không thể “đêm ấy cảm mấy lời nàng nói mới để ý đến nỗi mình bị giáng trích.”

              Câu thơ sau đây mới là nỗi lòng thật của ông:  

                        Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai

 Và:

                          Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
                        Tai chẳng nghe đàn địch suốt năm
                             Sông Bồn gần chốn cát lầm
      Lau vàng trúc võ âm thầm quanh hiên
                        Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
                        Quốc kêu sầu vượn nói véo von
                             Hoa xuân nở nguyệt thu tròn
                 Lần lần tay chuốc chen son ngập ngừng
                        Há chẳng có ca rừng địch nội
                        Giọng líu lo nhiều nỗi khó nghe
         

      Trong chế độ phong kiến độc đoán Tống Nho, một lời oán trách, buồn phiền nhà vua cũng là một trọng tội, “khi quân” thành ra chữ “lẵng lặng tự dưng” ông nói ở trên chỉ là lời nói khéo để khỏi bị triều đình bắt tội mà thôi.  

Các nhà phê bình văn học cổ cho rằng bản dịch chữ Nôm của Phan Huy Vịnh còn hay hơn cả bản chính chữ Nho của Bạch Cư Dị, chứng tỏ tài năng của nghệ sĩ nước ta.  

Câu chuyện người kỷ nữ ôm đàn sang thuyền của Bạch đàn ca bị người đời sau chê nàng là người thiếu thủy chung với người chồng đi vắng. Trong truyện Kiều, Thúy Kiều thề ước với Kim Trọng “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” cũng là muốn nói lòng thủy chung của cô với chàng Kim vậy. Vậy mà cuối cùng, vì gia biến, Kiều phải bán mình chuộc cha. Than ôi! Xưa cũng như nay, vì hoàn cảnh hay tự lòng mình không vững bền, mấy ai giữ được một tấm lòng chung thủy!       

        Bài thơ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị do Phan Huy Vịnh dịch, có ảnh hưởng rất lớn trong văn học Việt Nam, không chỉ trong cổ thi mà còn cả trong thi ca lãng mạn tiền chiến. Rõ nhất là ở bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu:

Nguyệt Cầm

                 Xuân Diệu    

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tràn như lệ ngân.

  Mây trắng trời trong đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng run mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm thu nước xanh

  Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi …
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

              Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
            Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề …
            Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
            Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
  

Một đêm trăng, Bạch Cư Dị (BCD) tiễn bạn ra bến sông Bồn (Tầm Dương). BCD viết: “Thuyền không đổ bến mặc ai, Quanh thuyền trăng dãi nước trôi lạnh lùng.” Hoặc: “Nước mênh mông đượm vẻ gương trong”. Hoặc: “Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt, Một vầng trăng trong vắt lòng sông”, v.v… Như thế, nói chung, người ta có thể hiểu là đêm tiễn bạn ấy trăng nước mênh mông và lạnh lẽo. Từ ý đó. Xuân Diệu (XD) viết: “Trăng lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời, Đàn ghê như nước lạnh trời ơi”. Và: “Mây trắng trời trong đêm thủy tinh, Lung linh bóng sáng bỗng run mình”.          

     Về chỗ bến sông Bồn (Tầm Duơng), BCD viết: “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.” Xuân Diệu như linh cảm, nghe được cả tiếng sỏi kêu dưới chân kẻ đưa, người tiễn: “Long lanh tiếng sỏi vang vang hận.” Chính XD cũng xác nhận bài thơ Nguyệt Cầm của ông mô tả tiếng đàn đêm nào trên bến Tầm Dương: “Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…”       

        “Người” XD nói ở đây là ai? Bạch Cư Dị và người bạn Bạch đưa tiễn? Không! “Người” XD nói đó chính là người ca kỷ già trong Tỳ Bà Hành. Ở một câu khác, XD nói rõ người đó hơn:  

Vì nghe nương tử trong câu hát                     
    Đã chết đêm rằm thu nước xanh.
         

     Về người kỷ nữ đó, BCD mô tả:

                          Tay ôm đàn che nửa mặt hoa  

Về sắc đẹp khi còn trẻ thì:        

                  Ả Thu nương ghen lúc điểm tô,  

Cũng giống như cô Kiều: “Hoa ghen sắc thắm, liễu hờn kém xanh” vậy.    

         Những câu khác của XD dùng để tả tiếng đàn của kỷ nữ:  

Mỗi giọt rơi tràn như lệ ngân.

  Bạch Cư Dị thì viết:

                          Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi
                         Lệ ai chan chứa hơn người
         

      Xuân Diệu viết một câu khá hay và nghe khá “ớn lạnh” có vẻ ghê rợn như trong “Bài Thơ Chiêu Niệm” của Đinh Hùng:  

Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm thu nước xanh
  

Từ bài thơ nầy của Xuân Diệu, nhạc sĩ Cung Tiến soạn bản nhạc Nguyệt Cầm. Nhìn chung, lời ca trong bài hát Nguyệt Cầm không khác với thơ Xuân Diệu, tuy ở vài câu, Cung Tiến có phát triển thêm ý thơ của Xuân Diệu mà thôi. Tôi ghi lại lời ca trong bài hát “Nguyệt Cầm” như sau đây để độc giả có thể thấy tài năng nhạc của Cung Tiến và luôn cả tài năng thơ của ông. Quí vị nào đã xem Paris by Night 58, tất có nghe Nguyễn Ngọc Ngạn phỏng vấn Cung Tiến về việc phổ nhạc bài thơ nầy.  

Nguyệt cầm

                 Cung Tiến,
(phổ thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu)  

Đêm mùa trang úa làm vỡ hồn ta…
Ngập ngừng xa…suối thu dồn lá úa trôi xa
Sầu thu, sầu lên vút mịt mù
Mà e nhớ, hương mùa thu
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng
Từng thoáng lệ ngân
Mà hồn phân vân cuồng điên nhớ
Long lanh tiếng nguyệt cầm, tiếng đàn trầm
Ai nhớ Nương Tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát…
Chết theo nước xanh…
Chết theo nước xanh…

  Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh…

  Long lanh long lanh, trăng chiếu một mình
Khơi vơi khơi vơi, nhắc lòng tỏ ngời
Nguyệt cầm ôi tiếng lệ ngân.
Chết từng mùa Xuân…

  Đêm ngời men nhớ… Nhắc tên người thủa xưa
Trăng sầu riêng chiếc… Trăng sầu riêng chiếc
Sầu cho đến bao giờ?
Hồn ghê bến bờ sao, ngập hồn xanh biếc trời cao
Kìa thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương
Nhớ nhắc lòng đêm ấy thuyền neo bến ấy

  Nguyệt Cầm nghe nức từng câu…
Có hàng mây trắng về đâu… mặt chìm sâu
Đêm lắng đợi sâu
Nguyệt Cầm khơi mãi tình sâu.
Khơi mãi nguồn đêm
  …Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta…
Ngập ngừng xa suối Thu dồn lá úa trôi qua.
Sầu Thu sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa Thu.
Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân
Mà hồn phân vân cuồng điên nhớ long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm.
Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát
Chết theo nước xanh.
Chết theo nước xanh.
Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.
          

     Người ta có thể thấy một giòng trôi của thơ, – hay thi ca, hay văn học -, từ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị bên Tàu, sang Việt Nam, Phan Huy Vịnh dịch thành thơ Nôm, tới Nguyệt Cầm của Xuân Diệu và ngày nay, Nguyệt Cầm của Cung Tiến bằng Quốc Ngữ.       

      Tuy nhiên, tôi vẫn có một thắc mắc mà chưa giải đáp đươc. Tại sao từ cây đàn Tỳ Bà của Bạch Cư Dị bên Tàu nay biến thành Cây đàn Nguyệt của Xuân Diệu và Cung Tiến?          

     Quí vị nào từng nghiên cứu thơ văn, các nhà nghiên cứu âm nhạc, nhứt là nhạc cổ của ta như Giáo Sư Trần Văn Khê, và Trần Quang Hải, và cả Cung Tiến nữa, người đã phổ nhạc bài thơ của Xuân Diệu, nếu có chút thì giờ, xin trả lời câu hỏi nầy?  

Mass, cuối mùa lạnh.

TUỆ CHƯƠNG HOÀNG LONG HẢI    

Ghi chú:

            Vào cửa Thượng Tứ, rẽ trái, đi dọc theo trường thành, xưa là đường Cột Cờ (vì đường nầy đi ngang cột cờ Ngọ Môn), sau nầy là đường Ông Ích Khiêm (họ Ông của người Chàm, không phải là tiếng để gọi như Ông, Bà …) được một đổi, quí vị thấy bên trái, phía tường thành, một gian nhà nhỏ xinh xắn, mái lợp ngói đỏ, vách tường màu vàng, trên tường có hình cây đàn Tỳ Bà; cổng có tấm biển ghi: “Tỳ Bà Trang”. Đó là ngôi nhà của cố nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba.  
Ông người làng Đạo Đầu, tỉnh Quảng Trị, người ta thường gọi là Cậu Ba, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gọi ông là Cậu Ba lé (vì ông bị lé (lác) mắt). Ông nổi tiếng giỏi cả tân lẫn cổ nhạc, chơi được nhiều loại nhạc khí cổ, cũng như nhạc khí Tây phương. Trước 1945, ông là Hội Trưởng Hội Âm Nhạc Quảng Trị (tôi nhớ điều nầy không chắc lắm) hoạt động tích cực trong ngành âm nhạc ở tỉnh nầy. Sau 1945, ông là giáo sư âm nhạc ở trường Khải Định nhỏ (cấp hai, Khải Định lớn là cấp 3).       
      Năm 1955, tôi cùng vài người bạn tổ chức một đêm văn nghệ tại rạp Julien Frère ở thành phố Quảng Trị, có dựng vở nhạc kịch “Thu Khói Lửa” là một bản nhạc của Nguyễn Hữu Ba. Tôi đến Tỳ Bà Trang để nhờ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba hướng dẫn dựng vở nhạc kịch nầy. Hôm tôi đến, nhạc sĩ đang ngồi chơi với vài cô gái Huế trong một căn chòi tranh, nằm theo triền giốc thượng thành, là vườn ổi của ông ở sau nhà. Họ đang nói cười vui vẻ lắm. Tôi đến cũng đường đột. Vì muốn đi gấp nên tôi trình bày thẳng ý muốn với ông. Khoảng 10 phút là tôi xong việc, giã từ. Lúc bấy giờ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba chưa lấy vợ, ông ở Tỳ Bà Trang với mẹ già. Đó là lần độc nhứt tôi tới Tỳ Bà Trang.  
Ở Huế, người ta đồn khi trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon thành lập, lệnh của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu là mời nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba vào Saigon làm giáo sư âm nhạc dân tộc trường nầy. Vì vậy, ông rời Huế khoảng 1957. Mãi đến sau 1975, ông mới trở về Huế sống ở Tỳ Ba Trang cho đến khi qua đời trong cảnh nghèo nàn./.

Tỳ Bà Hành
                                 Bạch Cư Dị
                                                 Phan Huy Vịnh dịch

                          Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
                        Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
                        Người xuống ngựa, khách dừng chèo
            Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty
                        Say những luống ngại khi chia rẽ
                        Nước mênh mông đượm vẻ gương trong
                        Tiếng tỳ đâu thoảng trên sông
Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi
                        Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá,
                        Bẳng tiếng đàn nấn ná làm thinh
                        Rời thuyền gạn hỏi thăm tình
            Chong đèn chuốc rượu còn dành tiệc vui
                        Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ
                        Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
                        Vặn đàn vài tiếng dạo qua
            Tuy chưa nên khúc tình đà thoáng hay
                        Nghe não nuột mấy giây buồn bực
                        Dường than niềm tấm tức bấy lâu
                        Mày chau tay gảy khúc sầu
            Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn
                        Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt
                        Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu
                        Dây to dường đổ mưa rào
            Tỉ tê dây nhỏ như chiều chuyện riêng
                        Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy
                        Mâm ngọc đâu lần nảy hạt châu
                        Trong hoa oanh ríu rít nhau
            Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
                        Nước suối lạnh dây manh ngừng đứt
                        Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ
                        Âm thầm đau giận ngẩn ngơ
            Xem ra lặng lẽ bây giờ càng hay
                        Bình bạc vở tuôn dầy mạch nước
                        Ngựa sắt rong sàn sạt tiếng đao
                        Cung đàn lựa khúc tiêu tao
            Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây
                        Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt
                        Một vầng trăng trong vắt lòng sông
                        Ngậm ngùi đàn đã gảy xong
            Áo xiêm sửa sáng dậy mong giải lời
                        Rằng xưa vốn là người kẻ chợ
                        Cồn Hà Mô trú ở lân la
                        Hay đàn từ thuở mười ba
            Giáo phường đệ nhất bộ đà chép tên
                        Gã thiện tài sợ phen dựng khúc
                        Ả Thu nương ghen lúc điểm tô
                        Ngũ lăng công tử ganh đua
            Biết bao the thắm chuộc mua tiếng đàn
                        Vành lược bạc gãy tan nhịp gõ
                        Mãnh quần hồng hoen ố rượu rơi
                        Năm năm lần lữa vui cười
            Mãi gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu
                        Buồn em trẩy lại lo dì thác
                        Lần hôm mai đổi khác hình dung
                        Cửa ngoài xe ngựa vắng không
            Về già phải kết duyên cùng khách thương
                        Khách trọng lợi khinh đường ly cách
                        Mãi buôn chè sớm tếch ngàn khơi
                        Thuyền không đổ bến mặc ai
            Quanh thuyền trăng giải nước trôi lạnh lùng
                        Đêm thâu sực nhớ vòng tuổi trẻ
                        Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son
                        Nghe đàn ta đã chạnh buồn
            Lại rầu thêm nỗi nỉ non mấy lời
                        Cùng một lứa bên trời lận đận
                        Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
                        Từ xa kinh khuyết bấy lâu
            Tầm Dương đất khách gối sầu hôm mai
                        Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
                        Tai chẳng nghe đàn địch suốt năm
                        Sông Bồn gần chốn cát lầm
            Lau vàng trúc cỗi âm thầm quanh hiên
                        Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
                        Quốc kêu sầu vượn nói véo von
                        Hoa xuân nở nguyệt thu tròn
            Lần lần tay chuốc chen son ngập ngừng
                        Há chẳng có ca rừng địch nội
                        Giọng líu lo nhiều nỗi khó nghe
                        Tiếng tỳ bỗng lắng canh khuya
            Dường như tiên nhạc gần kề bên tai
                        Hãy ngồi lại đàn chơi khúc nữa
                        Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca
                        Tần ngần dường cảm lời ta
            Dén ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây
                        Nghe não nuột khác tay đàn trước
                        Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi
                        Lệ ai chan chứa hơn người
            Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.       

Thủ Đô Miền Nam

vietvanmoi.fr

Tuệ Chương Hoàng Long Hải
Post by Sơn râu 22 May 2024

Hồi tháng 7, tôi đi Nam Cali, gặp mặt đồng hương “Quảng Trị tui”. Bạn bè còn lại chẳng bao nhiêu, qua đời cũng nhiều, số còn lại “nay ốm mai đau”, không dám đi xa. Tôi nói đùa với các bạn: “Tới khi “moi” chết, chẳng có ai đưa đám. Tuổi nầy – tuổi của tôi -, đi chuyến tàu vét, các “toi” chết hết rồi, còn ai nữa đâu.”

Có anh bạn hỏi: “Anh có tính về quê chuyến chót không?” “Không”, tôi trả lời. “Quê hương là chùm khế ngọt, nhưng tôi thấy tôi chua “thảm” lắm “ông” ơi. Hồi năm 2020, tui về Quảng Trị, đứng ngay trước nhà mình mà không dám vô. Nhà cũ, nhà hồi còn trẻ ở với mạ và anh chị em, thành bình địa năm 1972. Cái “Miếu đôi” bên cạnh nhà tui, theo thánh thần, dọn cả “đoàn trường” mà lên trời, chẳng còn dấu tích gì cả. Nay người ta làm nhà trên chỗ cũ của thần miếu làng Cổ Thành – Miếu nầy của làng Cổ Thành -. Hồi xưa, làng cúng tế hằng năm. Cái hồ cá sau lưng nhà tôi, nay mất dấu. Còn chỗ đất nhà tôi, một ông cán bộ Việt Cộng nào đó, xây lên một ngôi nhà hai tầng lầu, đẹp hơn nhà tôi hồi xưa nhiều.

Tôi đứng bên kia đường nhìn vô nhà mình, nhớ cảnh sinh hoạt gia đình ngày cũ, muốn chảy nước mắt. Tôi muốn vô nhà đó, không phải tìm lại nhà tôi, chỉ cần tìm một cục đất nơi nhà mình xưa mà thôi, mà không dám. Sợ ông cán bộ chủ nhà, tưởng mình về đòi nhà, đòi đất, kêu Công An thì bỏ mẹ. Tui ngậm ngùi đi ra phía bờ sông Thạch Hãn, muốn úp mặt xuống sông mà khóc, mà cũng không khóc được.

Quê hương tui, đã không ngọt mà sao chua lắm vậy!”

Người bạn nói: “Bên kia sông là…”

Tôi cướp lời: “Bên kia sông là làng Nhan Biều, làng ngoại tui. Xa chút nữa là “Truông Ái Tử”, Thủ Đô đầu tiên của miền Nam.”

-“Thủ Đô đầu tiên”? Anh phải giải thích cái nầy đấy. Tui cũng là dân Quảng Trị như anh, chưa từng có ý nghĩ nầy. Saigon là “Thủ Đô cuối cùng”, có phải không?

Đúng! Tháng Tư: tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng tá…, người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn… bỏ Saigon mà “bay” như ong vỡ tổ, để “Thủ Đô miền Nam” đứng lại một mình, “ngơ ngác” trông theo…

Năm 1558 Nguyễn Hoàng được anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Thuận, còn lại trong “Chợ Thuận”, một nơi “đô hội” của miền Nam ngày xưa, tuổi “thượng thọ” 400 năm. Nay chỉ còn là chợ xã của mấy làng chung quanh như Đại Hào, Vân Hòa, Bố Liêu, Phú Liêu, Phúc Lộc… Còn Hóa? Nói trại là Huế, như phong tục “kỵ húy” của người xưa?

“Đất của Nguyễn Hoàng hồi đó, chưa quá Thạch Bi Sơn – Núi Đá Bia – trên đèo Cả. Năm 1470, Lê Thánh Tôn đem quân vào đánh Chiêm Thành, lấy tới đất Phú Yên của người Chiêm, rồi chia phần đất còn lại: Ninh Thuận, Bình Thuận thành ba nước nhỏ: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, đặt ba ông vua lên ba cái ngai vàng ở đấy. Lê Thánh Tông chọn ba ông vua nầy, ưa đánh nhau hơn là chống Đại Việt, nên vua Lê “trị nước được yên”. Ai bảo người Việt Nam không “độc”?

– “Chức của Nguyễn Hoàng là “trấn thủ” mà anh. Phải không?”

– Trấn thủ là một chức quan to của triều đình sai đi trông coi, trấn giữ một địa phương xung yếu. Trịnh Kiểm cũng như Nguyễn Hoàng đều dùng nó như một cách chơi chữ. Kiểm thì muốn cho Nguyễn Hoàng đi xa cho khuất mắt, biết đâu vì mối thù Nguyễn Uông, mà Hoàng sẽ giết Trịnh Kiểm, vừa trả thù cho anh, vừa giành lại quyền bính mà Kiểm cướp từ tay Nguyễn Kim. Trịnh Kiểm dẫu biết hay chưa biết rõ ý đồ sâu xa của Nguyễn Hoàng: muốn dựng nghiệp lâu dài ở phương Nam, nhưng trong tình hình hiện tại, cho Hoàng đi xa, Kiểm thấy yên tâm hơn, tránh được việc đã giết anh, còn giết luôn cả người em thì người đời sẽ chê Kiểm là người tàn nhẫn.

– “Còn Nguyễn Hoàmg thì nghĩ gì?”

– “Nguyễn Hoàng sợ chết: Một ngày kia, để khỏi lo, để trừ hậu hoạn, Trịnh Kiểm sẽ giết luôn Nguyễn Hoàng thì sao. Vả lại, Nguyễn Hoàng bị ám ảnh bởi câu nói của Trạng Trình: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Hoành Sơn là đèo Ngang, nằm giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh. Vào phía trong đèo Ngang mà lập nghiệp, sẽ được dung thân vạn đại. Cái “vạn đại” vẽ ra cho Nguyễn Hoàng ý tưởng tạo dựng một vùng đất, một “đất nước” mà ông ta sẽ dựng nghiệp lớn, ít nhất là “nghiệp chúa”, ngang với Trịnh Kiểm. Còn như dựng một nước, một quốc gia ở phương Nam, để làm vua, có lẽ Nguyễn Hoàng chưa nghĩ xa đến vậy. “Lòng người còn nhớ nhà Lê”, “mười năm bình định giặc Minh”, vẫn còn đó, sâu đậm trong lòng người Đại Việt. \

Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng mang trong lòng ý chí dựng nghiệp, dù không dài vạn đại như câu chỉ đường của Trạng Trình, thì cũng được yên thân là trước hết. Với lại, đất phương Nam là đất người Việt cướp được của Chàm, còn bỏ hoang nhiều: Đất Quảng Bình Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, do Chế Cũ dâng mà chạy tội đánh phá Đại Việt; đất Trị, Thiên hai châu Ô và Rí “sính lễ” Chế Mân xin cưới Huyền Trân; đất Nam, Ngãi, Bình, Phú… do Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành mà cướp được. Tất cả vùng nầy “đất rộng người thưa”.

Nguyễn Hoàng chỉ thiếu “sức dân” để khai khẩn đất ruộng, còn như quan với lính, bà con nội ngoại xa gần Nguyễn Hoàng quén hết đoàn trường mang theo. Hành động như thế, không phải là một đi không trở lại hay sao? Đâu còn có ngày hẹn về cố hương.

Vào đến truông Ái Tử – là một truông cát, cây cối khô cằn, không có sông suối gì cả. Dân chúng địa phương nghĩ rằng quan quân cần nước uống, bèn “đem 7 chum nước ra dâng”. Cậu Nguyễn Hoàng là Nguyễn Ư Kỷ, – có sách gọi là Ư Dị, Ư Dĩ -, đi theo làm quân sư, bèn nói: “Nay mới đến trấn, mà dân đem nước ra dâng, nước đó là nước vậy.” Nước là nước uống mà cũng có nghĩa đất nước, là quốc gia, là con đường Nguyễn Hoàng đang mang hy vọng gì chăng?

Cảm vì tấm lòng của người dân ở đây, Nguyễn Hoàng bèn đóng đô ở Ái Tử.

Trên danh nghĩa, Nguyễn Hoàng là quan trấn thủ, trên thực tế, ông là “chúa phương Nam”. Ái Tử là “Thủ Đô đầu tiên” của phương Nam.

Khi vào Nam, Nguyễn Hoàng đem hết gia đình, bà con, thân thuộc, tướng tá, binh lính… nên chi khi đóng đô ở Ái Tử, ông phải tính kế lâu dài.

Đó là kế gì?

Phòng thủ, nuôi binh là một. Hai là “dinh điền”, nói theo cách đời nay là “phát triển kinh tế”. – Sau 1975, tưởng ngon, Võ Nguyên Giáp đưa ra chủ trương “Quân đội làm nhiệm vụ kinh tế”. Ai ngờ, – Giáp không thấy trước, không tiên liệu, tiên đoán được gì cả… – Bọn Khmer Đỏ tuân theo lệnh Tàu Cộng, “đánh phá biên giới phía Tây” nên kế hoạch to lớn, vĩ đại của đại tướng cho vô sọt rác: Quân đội chưa kịp cầm cày thì lại cầm súng ra chiến trường – Do việc nầy, ai khen đại tướng giỏi, còn tôi thì không, vì đại tướng tiên liệu trật lất. Thực ra, điều ông Giáp nói, nghe cho lạ tai, hấp dẫn, nổ: “Quân đội làm nhiệm vụ kinh tế” thì người xưa đã làm rồi. Ít ra, cũng từ đời Lê Lợi. Sau khi đuổi quân Minh về Tàu, hết giặc, binh lính còn lại làm gì? “Mười năm” đi chinh chiến, bây giờ đâu có thể để họ trở lại quê nhà. Ruộng đâu cho họ cày, cơm đâu cho họ ăn, nên nhà vua phải đặt quan “Dinh Điên Sứ”, đưa lính đi dinh điền, phát hoang, vỡ đất làm ruộng, trồng trọt… Đó là chính sách “tiến vi quân, thối vi nông” của tổ tiên. Thời tổng thống Ngô Đình Diệm, lập ra các “dinh điền”, “khu trù mật” cho dân Bắc Kỳ di cư, mà cũng để cho binh lính bị giải ngũ. Theo Hiệp Định Genève 1954, mỗi miền Nam, Bắc chỉ giữ tối đa là 150 ngàn quân.

Nguyễn Hoàng cũng không ngoài cái sách lược ngàn năm đó. Binh lính đi theo ông, ông chia làm mấy làng phòng giữ chung quanh, vừa làm ruộng, vừa “trừ bị”, phòng có giặc hay thay phiên canh gác biên thùy. Các làng chung quanh Ái Tử gồm có: Tiền Kiên, Hậu Kiên, Hữu Kiên, Tả Kiên, và Trung Kiên. Nhà Lê Duẫn, con ông thợ Tiềm, thợ mộc, ở làng Hậu Kiên, nằm cuối Chợ Sãi – Chợ Sãi nằm trên đất làng Cổ Thành. Bên kia sông Thạch Hãn là làng Trung Kiên – làng nầy có nhiều người tu theo Phật, nổi tiếng thì có hòa thượng Đôn Hậu, hòa thượng Trí Thủ. Sau khi chúa Nguyễn dời đô khỏi Ái Tử, binh lính đi theo, có làng như Tiền Kiên, Hữu Kiên… tàn lụi dần, mất dấu, mất tên…

Nói về địa danh, khi “Nguyễn Hoàng đóng đô ở Ái Tử” khi nơi nầy chưa có cái tên đó. Bởi vì, khi Nguyễn Hoàng đóng đô rồi, cho lính đi đóng các nơi hiểm yếu, như phía Nam bờ sông Gianh, canh chừng họ Trịnh ở phía Bắc, hay ở Lao Bảo phía Lào, hay ở Đèo Cả, phía Nam, canh chừng người Chàm, mới có tình cảnh cha mẹ già ở lại, con đi “lính thú”, ba năm mới về, chiều chiều mẹ ra ngồi bên cầu mà trông con, nên có câu ca dao:

“Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái tử…”

Ái Tử ở đâu?

Ái Tử, người địa phương thường gọi là “truông” Ái Tử. Quả thật đó là một cái truông, là vùng đất cao, khô cằn, thiếu nước, cây cối lên chưa quá đầu người, thường là những “bụi”, như bụi sim (cây sim), cây muồng, tràm, lau, chổi… Trên mặt đất trống, đôi khi tôi gặp những “cây ăn thịt đông vật”. Cái cây nhỏ, – như cây cải nhỏ nở ra mấy lá, màu tím, trắng. Tôi bắt một con kiến bỏ vào giữa lòng cây. Mấy cái lá khép lại, giữ con kiến vào trong lòng cây. Một lúc sau, tôi mở mấy cái lá ra. Con kiến đã chết. Nếu cứ để yên cái cây như vậy, hôm sau, các cành lá lại mở ra, con kiến chỉ còn lại cái xác khô. Nó đã bị cây ăn thịt, như cây ăn thịt người bên Châu Phi vậy.

Người ta cứ tưởng truông Ái Tử nằm giữa hai con sông Thạch Hãn và sông Đông Hà -, ̣ tên chữ là Hiếu Giang -, Thật ra nó hẹp hơn, năm giữa sông Lai Phước, một phụ lưu của Hiếu Giang. Từ Lai Phước ra Đông Hà, ở phía bắc, chỉ dài chừng hai cây số, qua một ngọn đồi thấp. Phía Nam Ái Tử là sông Ái Tử, cũng là một phụ lưu của sông Thạch Hãn. Giữa sông Ái Tử là sông Thạch Hãn, khoảng cách cũng chỉ chừng vài cây số, là làng Nhan Biều, quê ngoại của tôi. Phía Tây Ái Tử là một vùng đồi hoang, “chân” của dãy Trường Sơn. Phía Đông Ái Tử xưa là làng Trà Bát, chỗ hai sông Hiếu Giang và sông Thạch Hãn gặp nhau, trức khi đổ nước ra biển ở cửa Việt An, thường gọi tắt là “Cửa Việt”.

Quốc lộ 1 chạy băng ngang qua truông Ái Tử, hơi chếch về phía Tây.

Trong Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất, Ái Tử là con đường giao liên của “Việt Minh”, giữa chiến khu Ba Lòng -, thượng nguồn sông Thạch Hãn với vùng đồng bằng phủ Triệu Phong. Làng Yên Mô, làng Bích Khê… là nơi người ta tập trung, chờ đêm tối thì vượt qua truông Ái Tử.

Trong Chiến Tranh Đông Dương lần thứ Hai, Ái Tử trở thành căn cứ quân sự Mỹ. Nhờ quân Mỹ đóng ở đây, một số đông người Quảng Trị buôn bán khá giả lên.

Có lẽ vì Ái Tử là vùng đất khô, không tiện cho sự sinh hoạt, nên Nguyễn Hoàng chỉ đóng đô ở đó chỉ có 12 năm. Năm 1570, Nguyễn Hoàng dời đô về làng Trà Bát, cách Ái Tử 2 cây số, về phía Đông. Về sau, Trà Bát mất tên, có tên mới là làng Trà Liên. Hiện nay, ở làng Trà Liên còn lăng mộ của ông Nguyễn Ư Kỷ, cậu của Nguyễn Hoàng -, qua đời ở đó.

– Anh nghĩ gì về ý kiến một số người nghĩ rằng Quảng Trị là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”?

Điều nầy đâu phải “dị đoan”. Khi Chúa Tiên vào Nam, người đi theo ông là ai? Là bà con, thân thuộc của chúa, là quan chức của chúa, là binh tướng của chúa. Thành phần nầy không ít là “tinh hoa” ở đất Thanh Nghệ…

Để phòng vệ phương Nam, Nguyễn Hoàng đặt ra nhiều phòng tuyến để bảo vệ ông. Sợ nhất là Chúa Trịnh ở đằng ngoài đem quân vào “hỏi tội”, nên Chúa đặt nhiều phòng tuyến ngăn chận phía ngoài vào. Trong tình hình như thế, người ta thấy: Nam sông Gianh là phòng tuyến thứ nhất, nổi tiếng là một chiến lũy do Đào Duy Từ đề nghị với chúa Nguyễn, nên người ta gọi là “Lũy Thầy” ̣- Chúa Sãi gọi Đào Duy Từ bằng “Thầy” -. Sau đó là phòng tuyến thứ hai: Vĩnh Linh, nằm cuối “truông Nhà Hồ” – “Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.” Ca dao Huế – Sau đó mới là nơi chúa đóng đô. Chung quanh đô là dân chúng “theo chúa” vào Nam.

Hậu duệ các thành phần nầy, – các “tinh hoa” phía ngoài theo chúa vào Nam -, không thừa hưởng chút nào về cái tinh chất ưu việt của tiền nhân hay sao? Do đó, Quảng Trị có nhiều nhân kiệt cũng không có gì lạ cả.

Để làm ví dụ, tôi kể câu chuyện về người làng tôi: Khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, ông đem theo gia đình của một người đàn bà. Không phải vì người đàn bà nầy “sắc nước hương trời” mà vì bà có 4 người con trai đều giỏi nghề rèn. Chúa cần người rèn, để rèn cho Chúa vũ khí giáo mác gươm đao, mà cũng cần nông cụ làm ruộng phá rừng. Bốn anh em trai nầy về sau trở thành 4 chi phái Như, Văn, Đăng, Thế của họ Hoàng tôi. – Tên “chính thức” của tôi trong “sổ bộ làng” là Hoàng Thế Đức. Về sau, làng tôi có ông Trương Như Cương làm tới “phụ chính đại thần” và Quốc Trượng – bố vợ vua Khải Định. Con ông Cương là Trương Như Hy làm án sát – người làng gọi là Cụ Án Hy – bố vợ dược sĩ Nguyễn Cao Thăng. Ông nội tôi là “ông Ngự Trâm – Hoàng Thế Trâm – ngự y đời Thành Thái –

Năm 1600, – ̣ lúc nầy Nguyễn Hoàng chưa qua đời -, con Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên, thường gọi là Chúa Sãi, lên nối nghiệp cha. Chúa Sãi dời đô về làng Bác Vọng, tên chữ là xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, hiện còn vài dấu tích.

Ở ngã ba sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định, có một ngôi chợ khá nổi tiếng là Chợ Sãi. Tôi không rõ cái tên Sãi (chợ) với Chúa Sãi có liên hệ gì với nhau không. Hồi còn đi học, hỏi vài anh bạn quê ở Cổ Thành – nơi lập chợ – như Cao Tiến Tăng, Quách Đình Thoại, Hồ Xuân Diện, mấy anh nầy cũng “bù trớt”. Sách sử cũng không thấy nói tới. Điều thắc mắc nầy chắc là tôi “ôm xuống tuyền đài”.

Đến năm 1636, Chúa Nguyễn Phúc Lan, tục gọi là Chúa Thượng, dời phủ từ Bác Vọng tới làng Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Lại đến năm 1687, Chúa Nghĩa lại dời phủ Chúa đến làng Phú Xuân. Phú Xuân có núi Ngự Bình (tên chữ là Bằng Sơn). Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, Phú Xuân trở thành Kinh Đô của nước Nam, từ năm 1802 đến khi Bảo Đại thoái vị 1945. Tính ra là 143 năm.

Sau khi Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng 1949 thì nhà vua đóng đô ở Đà Lạt, rồi qua Canne bên Pháp, không còn quan tâm tới câu sấm Trạng Trình “Hoành Sơn… vạn đại”. Saigon là thủ đô của miền Nam, sau khi “ba kỳ thống nhất” năm 1949. Việt Cộng chiếm miền Nam 1975, thủ đô của nước Việt Nam Cộng Sản là Hà Nội.

Hiện giờ, một số người Việt hải ngoại, chỉ muốn “đánh đổ bạo quyền”, chiếm lại miền Nam, về lại “Thủ Đô”, dựng cờ VNCH tại Sài gòn, tái lập chế độ miền Nam với đầy đủ hoa lá cành như trước thời 1975.

Sai gòn là thủ đô không yên, thường bị xáo trộn từ thời Tây còn cai trị. Sau khi chiếm nước ta, dinh Toàn Quyền Đôn Pháp đóng tại Saigon, chưa được bao lâu thì Nhật đảo chính Pháp. “Ngày 9 tháng 3, đại sứ Nhật tại Đông Dương đến gặp toàn quyền Pháp Decoux tại Sài Gòn và đưa ra một tối hậu thư đòi Pháp phải đặt tất cả lực lượng quân sự, hải lục không quân và cảnh sát công an dưới sự chỉ huy của quân đội Nhật. Đồng thời tất cả hệ thống hành chánh và viên chức Pháp cũng phải đặt dưới sự chỉ huy của Nhật.” (trích Lê Mạnh Hùng). Chính quyền Pháp ở Đông Dương đến đây coi như xong, chỉ còn làm tay sai của Nhật mà thôi. Tới tháng 8 cùng năm thì “Vệt Minh cướp chính quyền”. Quốc Trưởng tuy có “hồi loan”, nhưng chính quyền của ông vua từ chối ngai vàng cũng chỉ dài có 6 năm. Cái gọi là Đệ Nhất Cộng Hoà của Tổng Thống Ngô Đình Diệm dài có 9 năm, Đệ Nhị Cộng Hòa của “Ông Tám Mọi” cũng chỉ từ 1967 tới 1975.

Phong thủy Saigon không được yên. Có một ông “thầy phong thủy” nói với tôi, nếu dời thủ đô qua Thủ Thiêm thì tốt hơn, có núi Thị Vãi làm chẫm, (cái sọ người, cái gối kê) thế nước vững chắc hơn. Có sông Đồng Tranh, sông Saigon làm “tả phù, hữu bật”, “tay long tay hổ”, giống như Huế, có Ngự Bình che chắn mặt trước, có sông đào Hàng Bè làm Thanh Long, có sông đào Kim Long làm Bạch Hổ, triều đại nhà Nguyễn kéo dài gần 150 năm.

– Anh có nghĩ người Việt Nam hải ngoại thường nghĩ tới “Giải phóng miền Nam, lập lại các chế độ Cộng Hoà” cũ?

Đó là “trình độ” của họ thôi, tầm nhìn không ra khỏi “Saigon hoa lệ”, mà trước 1975, chắc gì họ thuộc thành phần “ăn trên, ngồi trước”. Đó cũng là tâm lý “phân ly dân tộc” người Việt Nam thường có. Thực dân cũng biết đó là cái tâm lý chung của nhiều người. Do đó, sau “Nam Kỳ khởi nghĩa” năm 1940, Thực dân Pháp xúi dân Nam bộ “đánh Bắc Kỳ”, vì bọn Tây cho rằng sau khi Cộng Sản dời “trung ương” từ Hà Nội vào Saigon, gây nên “Nam Kỳ khởi nghĩa”. Dân Saigon ra đường hỏi anh nào đó nói Tân Sơn “Nhấc” thì tha, còn anh nào nói Tân Sơn “Nhất” thì “đánh bỏ mẹ”. Đây là câu chuyện do một ông cụ họ “Trần Thiện…” quê ở Bình Phước/ Long An, sui gia với mẹ tôi, kể cho tôi nghe trong một lần tôi đến thăm ông ở Saigon khoảng cuối các năm 1950.

Đó là “truyền thống dân tộc” Việt Nam.

– “Sao “toi” lại nói vậy?” Người bạn hỏi.

– Có gì đâu, bạn cứ nhìn vào lịch sử là thấy ngay. Lịch sử nhân loại cho thấy nhiều bộ lạc thống nhất bằng ý chí, ý muốn hay dùng vũ lực để hình thành một quốc gia. Nó tương tự như sự hình thành “quốc gia Phi Luật Tân”. Khi đế quốc Tây Ban Nha xâm lăng quần đảo Phi, Phi thành là một nước là do thống nhất nhiều bộ lạc khác nhau. Tên gọi Phi Luật Tân được lấy theo tên vua Philip II (Las Islas Filipinas) sau khi Tây Ban Nha cai trị xứ nầy. Do việc Tây Ban Nha cai trị quần đảo Phi mà Phi trở thành một nước. Nước ta thì ngược lại. Sự hình thành nước Việt thì ngược lại, bằng việc chia tay “một mẹ trăm con”. Trong Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim viết: “Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là dòng dõi Long Quân, nhà ngươi là dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 đứa ta đem xuống bể Nam Hải.”

Đó là cái gốc, là nền tảng của sự chia rẽ dân tộc Vệt Nam. Dưới thời kỳ Bắc thuộc thì không nói, nhưng hễ khi độc lập rồi thì nước chia làm 12 sứ quân. Đời nhà Mạc thì có “Nam triều, Bắc triều”, đời Lê thì có “Trịnh Nguyễn phân tranh”, “Đằng trong, đằng ngoài”, thời Pháp thuộc lại chia ba: “Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ”, từ 1954 lại chia đôi ở sông Bến Hải. “Thống nhất” năm 1975 thì thằng thắng cướp đoạt tài sản và cả sinh mạng thằng thua. “Quân viễn chinh” thì “ngồi mát ăn bát vàng”, thằng thua khoai sắn cũng không có mà ăn. Không chừng bây giờ lại chi đôi mà ngóc đầu lên được cũng nên.”

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 22 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 3

Chúng tôi cứ sống như vậy từ ngày này qua ngay khác, khi làm “Trạc”, khi sửa đường, đào mương. Vì sức yếu, tên Công An lao động lại thích vẽ, khi xem lý lịch biết tôi có chuyên môn, nên hắn cho nghỉ lao động, mỗi ngày tôi ngồi trong lùm cây khuất, vẽ cho hắn bằng bút chì trên giấy học trò, cảnh “Thạch Sanh bắn đại bàng”, lẵng hoa, phong cảnh doanh trại v.v…. Nhưng công việc này cũng chỉ kéo dài được ít lâu vì thay quản giáo lao động. Tôi lại trở về với đống “Trạc” và chiếc cuốc.

Cái nóng của miền xuôi cũng ghê gớm, không thua gì miền núi. Những ngày nắng đổ lửa, mỗi trưa đi lao động tôi phải ấp chiếc khăn uớt lên đầu cho đỡ nóng. Chỉ trong ít phút, chiếc khăn đã khô, nhưng quần áo lại ướt đẫm mồ hôi. Trời mấy bữa nay đổ mưa luôn. Những cơn mưa cuối mùa hạ càng dữ dội nhiều khi mưa to, gió lớn do từng cơn bão gây ra. Những cơn bão trước đây đã qua đi, chưa cơn nào lớn, nhưng theo đài sáng nay báo, có cơn bão số 9 sẽ đi qua vùng này với gió cấp 10, như vậy khá lớn.

Buổi chiều nay, chúng tôi sửa soạn đi lao động, trời bỗng vần vũ, những đám mây đen bay vùn vụt trên vòm cao, gió thổi vật vã lay động hàng cây bên sườn núi. Mọi người đều khấn: lậy trời mưa xuống cho chúng con được nghỉ lao động! Mỗi lần trời vần vũ, tù thường cầu xin như vậy. Nếu mưa thật, tù nói: “Ông trời của chúng ta!”. Nếu không, tù nói: “Ông trời của Việt cộng!”. Nhưng thực ra, ông trời không của ai cả. Chuyện mưa nắng do sự luân chuyển của trời đất từng mùa đã có hàng tỷ năm trước, chứ phải đâu vì có con người mói có ông trời làm ra mưa, nắng?

Những khối mây đen đuổi nhau tới tấp, vẫn chưa mưa. Tiếng kẻng lao động đã gõ. Anh em uể oải, đội nón, mang gô ra sân tập họp lao động!

Chiếc sân tập họp, chiều nay mát hẳn vì không có nắng. Từng Đội một, lại đứng lên theo tiếng gọi, đi ra khỏi cổng. Khi Đội tôi đi đến chỗ làm, gió thổi tung bụi cát, bay mù trời. Cây cối trên núi chao chát như lũ say. Tên quản giáo lao động cho lệnh làm việc. Những nhát cuốc lại bổ vào sườn núi, bột đá rơi lả tả. Chúng tôi lao động giữa cơn gió thổi hung cuồng. Những chiếc nón bay đi xa, bị cuốn hút vào cơn lốc. Mưa bắt đầu rơi, anh em nhốn nháo, kẻ lấy áo mưa, người đi nhặt nón. Mọi người đợi cho tiếng kẻng “gom tù” như những lần có mưa trước. Nhưng chờ mãi không thấy, nên vẫn phải làm việc dưới mưa, tuy chưa to, cũng đủ ướt. Tên quản giáo và tên vũ trang đang ngồi trong chiếc chòi nhỏ, cười nói hô hố! Cơn mưa từ đầu núi kéo xuống trông rất rõ. Vừa lúc ấy, tiếng kẻng khua vang. Mọi người, áo mưa bọc kín, quần xắn tới bẹn, chuẩn bị đi về. Tên vũ trang cẩn thận, bắt xếp hàng điểm số trước khi cho cất bước, trong lúc anh em muốn về ngay để tránh mưa gió!

Lớp mưa dầy đặc quất ào ạt theo chiều gió. Mọi người không còn giữ được đội hình, đi lung tung, mạnh ai nấy bước. Đến cổng trại lại chờ, vì có nhiều Đội đã tới trước. Nước mưa thấm qua khe áo luồn vô người lành lạnh. Khi Đội tôi được cho vào, anh em đã ướt như chuột, kể cả những ai có áo mưa loại tốt.

Vào đến “chuồng”, anh em líu ríu thay đồ để tránh cảm vì theo lời các “tu-bíp”, nếu để thấm mưa, sẽ mất nhiều calori, do đó, dễ bệnh. Trời tối âm u, mưa gió tơi bời, trông như sắp tối, nhưng sự thực hãy còn sớm! Anh em lại quây quần “kéo pháo” chờ ổ bánh. Mưa mỗi lúc, một nặng hạt. Gió thổi làm rụng hết những bông hoa trong vườn cảnh, một vài cây bị gãy gục. Có lẽ đây, trận bão to nhất trong năm mà địa phương gánh chịu.

Tôi ngồi thu lu, hút thuốc lào vặt, nhìn gió mưa đi qua cửa sổ để nhớ lại cơn mưa rừng ở Nghĩa Lộ và dòng suối hung hãn đã cuốn trôi căn lều trú ẩn, rồi nhìn vết còng cứa đứt nơi cổ tay nay đã thành sẹo. Mỗi lần nhìn, mỗi lần uất hận!

Ổ bánh mì mềm xèo đã trôi vào bụng từ lúc nào, sao chẳng cảm thấy gì? Nếu trời không mưa, có thể ra vào nhìn ngắm cho khuây khỏa, chứ ngồi suông thế này, cơn đói càng hành hạ. Tôi ăn đã biết ngon, luôn luôn cảm thấy đói, chứng tỏ sức khỏe điều hòa, nhưng lấy gì ăn, cái đó mới quan trọng! Khi còn bị giam ở các trại do “cối xanh” quản lý, ít nhiều gì cũng còn quơ quào được củ khoai, khúc sắn vô miệng. Chứ ở đây, tuyệt nhiên không! Chẳng có ai “cải thiện” được gì, do đó, mọi người cùng đói, chỉ riêng toán làm bếp no. Chắc chắn như vậy. Tôi nghe nói, luật ở đây, toán làm bếp được ăn kỳ no tại chỗ, cấm không được mang về “chuồng”. Trước khi về, mỗi tối, mọi người đều phải để cho tên Công An hậu cần khám túi, lần lưng. Nhưng đó, chỉ là sự đề phòng vô ích. Vì nếu có bánh đem cho bạn bè, họ cho từ ban ngày làm sao kiểm soát, dù có lệnh cấm không ai được vào bếp, nhưng không cấm nhà bếp ra ngoài! Họ có một ngàn lẻ cách cho nhau, như ở Lào Cai, Đ. đã cho tôi.

Tối nay, mọi người đều đi ngủ sớm vì mưa gió chả biết làm gì. Cơn mưa cứ đều đều trải dài như vậy, không có sấm sét, đúng 7 ngày đêm mới tạnh. Chúng tôi được nghỉ lao động đúng một tuần lễ, ai cũng ca tụng ông trời tốt bụng!

Sớm nay, trời trong xanh, không một gợn mây. Từ phương Đông mặt trời đỏ như chậu máu lơ lửng treo cao trên đầu ngọn núi. Cái màu đỏ chói chang, nhìn nhức mắt, nhưng nó lại có giá trị tuyệt dối cho muôn loài. Người ta có thể chịu đụng được cả tháng nắng nhưng chỉ mưa một tuần đã thấy nản. Lao động ai cũng sợ, ở nhà lại chán, đằng nào cũng chết. Nhưng theo tôi, thà lao động tuy vất vả nhưng ít nhất thời gian cũng qua mau, ít làm mình suy nghĩ. Sụ suy nghĩ, làm hao mòn thể xác và tinh thần dễ suy sụp!

Các Đội lại “ra quân” ngồi kín chiếc sân rộng. Tên Thịnh mang quân hàm thiếu úy lại đứng thu hình sau chiếc cửa tò vò, gọi Đội đi làm. Tên này là một trong những “hung thần” của trại Nam Hà. Nó đểu cáng, ba que, ác độc vô cùng. Nó không nhân nhượng cho ai, dù vô tình phạm lỗi. Dưới nó, còn tên Lực, Trung sĩ, cũng ác ôn không kém. Ai bị nó khám, đừng hòng giấu diếm. Nó bóp cả “chim”, bảo rằng: – “chim của các anh cũng biết ăn đường, uống sữa!”. Hai tên đó, chuyên giữ phòng trục, gọi tù đi lao động và cho tù nhập trại. Chúng, điển hình cho chế độ Cộng Sản!

Tiếng gọi hách dịch vang lên, các Đội lại tuần tự đứng lên cầm nón, mũ trong tay, đi ra khỏi trại!

Buổi nay, chúng tôi không làm công tác như thường lệ, mà đi vác đá. Từ trên cao, tôi nhìn cả một vùng nước trắng xóa, chỉ còn chừa lại vài mái nhà cao và những rặng cây nhô lên khỏi mặt nước, sau 7 ngay đêm mưa liên tục. Tụi Công An, một số được điều đi cứu lụt, cơn lụt trầm trọng làm hư hại tất cả hoa mầu trong vùng nếu không kịp thời đối phó! Quang cảnh trại hôm nay có không khí nhộn nhip khác thường. Đội sửa đường, đội vác đá, đội dọn dẹp những nơi đổ nát. Tất cả đều làm việc theo nhu cầu sau cơn bão. Trời hôm nay, nắng rất đẹp. Mầu xanh cẩm thạch trong suốt như tấm thủy tinh trải suốt chiều rộng không gian. Tôi vác những viên đá lớn, nặng khoảng 10 kilô trên vai di chuyển khoảng 100 thước, xong quẳng xuống, người khác sẽ mang đi một khoảng xa tương tự, rồi người khác lại mang đi. Cứ thế, chúng tôi làm dây chuyền từ chỗ có đá vào đến cổng trại để xây thêm 2 nhà tù mới. Hai khu này kiến trúc y như các khu đã có. Ở đây chỉ khác Lào Cai, các cửa ngỏ đều không có, vì thiếu cây, nên chúng tôi chỉ phải khóa có một lần cửa mỗi tối. Nhưng không vì thế, ai muốn đi đâu cũng được, sau khi mở khóa. Nội quy cấm liên hệ, giữa buồng này, buồng khác, nếu có, chỉ lén lút. Có một chiều, tên cán bộ buồng đã trói một “Đại úy tù” vào cây cột phơi đồ vì anh này bị bắt quả tang liên hệ. Cửa “chuồng” đã khóa, trời sắp tối. Từ trong “chuồng” chúng tôi còn thấy anh bị trói, đứng ủ rủ nơi cây cột. Hai cánh tay bị trói ghì vào cột bằng một sợi dây thừng! Trước khi trói, anh còn bị loi mấy cú đấm vào người, vào mặt. Buổi tối, muỗi nhiều, chắc chúng đốt dữ, nên anh cựa quậy liên hồi. Ở trong này, dù thương anh lắm, nhưng chẳng có cách nào cứu anh. Cứ đứng chịu trận như vậy cho tới kẻng ngủ, anh được tên Công An cởi trói đưa về buồng anh ở.

mạnh hải flickr

Toàn khu Ba Sao, Đầm Đùn có 3 trại: A, B và C.

Trại A, nơi tôi đang ở, tưong đối rộng rãi, khang trang. Từ xa nhìn, nó giống như một dẫy khách sạn treo lơ lửng bên suờn núi. Nhưng ở gần, nó đúng là nhà tù với đầy đủ những tiêu chuẩn dành riêng cho trại giam chứa trên dưới 2,000 người.

Trại B, nằm sâu trong triền núi Chiné, lọt thỏm giữa một thung lung nhỏ, xung quanh núi cao bao bọc. Trại B, bé hơn Trại A, chứa chừng 500 tù. Đặc biệt, trại B còn có một căn nhà dành riêng để biệt giam, nếu vi phạm kỷ luật. Hình phạt tùy theo nặng nhẹ, nhưng nặng nhất là “kiên giam”, cùm một chân. Kiên giam, hình phạt man rợ! Mỗi ngày tù kiên giam chỉ được mở cùm một lần để làm vệ sinh cá nhân, cơm ăn chỉ có muối và đựng trong bịch nylon, nếu ai biết trước mang theo được, còn không thì ăn cơm ngay trong lòng tay. Mỗi căn, giam 2 người, cấm không được nói chuyện. Giống như ở cachot vậy. Xung quanh kín mít, chỉ có những lỗ thông hơi nhỏ trên cao. Thỉnh thoảng tên Công An gác nhà giam, buồn tay buồn chân lại mở còng, gọi ra đấm đá bất kể ngày đêm. Những ai trốn trại, hoặc chống đối lao động đều bị phạt kiên giam!

Trai C, ở ngay trên con lộ dẫn đến trại A. Nó nằm khuất nẻo trong một khu có lũy tre bao bọc, có đụn rơm, nhà cửa. Ở ngoài nhìn vào, giống hệt xóm dân thường, nhưng đích thực là nhà tù. Trại này, cách xa trại A khoảng 3 cây số, giam giữ khoảng 700 tù.

Như vậy toàn khu Ba Sao trong vùng núi Chiné giam giữ trên dưới 3,000 tù. Tất cả 3 khu đặt dưới quyền kiểm soát của Ban Giám Thị, do tên trung tá Hà Mạnh Xuyên làm thủ trưởng, với tên đại úy Huy phó trại, chúng tôi thường gọi là “Hoàng tử lưng gù”, vì lưng hắn u lên như lưng con bò rừng. Tên Huy, rất khôn ngoan, đúng là “con cáo già Công An”. Mỗi khi ban chút ân huệ nào cho tù, hắn xuất hiện với nụ cười hoan hỉ. Khi cần trừng phạt, hắn lánh mặt, để đàn em thi hành, do đó, tù không oán! Ở bên dưới, còn rất nhiều tên khác, mỗi tên lo phần vụ riêng, nhưng tên phụ trách an ninh, quả là tên ác ôn có hạng. Nó như con chó săn, luôn luôn sục sạo chỗ nay chỗ khác, dò hỏi mọi người, nó đặt “ăng ten” ở mỗi buồng. Một buổi, tôi nghỉ bệnh, nó dò hỏi:

– Sao anh không đi lao động?

– Tôi bệnh !

– Bệnh gì?

– Sốt rét!

– Sốt rét, sao anh không nằm nghỉ, lại ngồi đây?

– Tôi không muốn nằm, vì nằm bệnh thêm. Tôi vừa qua cơn sốt!

Nó nhìn tôi chằm chặp hỏi thêm:

– Tên anh là gì?

– Tên Tỵ!

– A, tôi có nghe, anh vẽ giỏi, làm thơ, viết văn hay lắm, hả?

– Tôi đâu biết gì, cán bộ!

– Này, anh đừng có giấu tôi , không được đâu! Tôi hỏi thật anh câu này nhé!

Nói xong, nó nhìn chăm chăm vào tôi như tìm phản ứng.

– Cán bộ cứ hỏi?

– Anh có biết trong buồng này có ai buôn bán, đổi chác gì không? Có ai đánh bạc, uống rượu không?

– Tôi chắc không có!

– Anh không thành khẩn rồì!

– Tôi thấy sao trả lời vậy. Nếu cần, cán bộ nên hỏi buồng trưởng.

Thấy tôi trả lôi ậm ừ nó bỏ đi. Nhưng sau nay, nó tìm cách hạ nhục tôi như tên Kỳ ở Lào Cai vậy.

Vác đá từ sớm đến trưa, mỏi và mệt lắm, tôi rã rời tay chân. Mồ hôi chảy uớt đẫm áo. Tôi dùng chiếc nón lá quạt liên hồi cho tan cơn nóng nực!

Tiếng kẻng tan tầm khua vang, Đội xếp hàng điểm số, trở về. Cầm ổ bánh mì trong tay, tôi đưa lên miệng. Ăn không quá 5 phút, xong uống nửa gô nước, mong bột bánh nở ra trong bụng, cho đỡ đói. Buổi trưa lại điểm số. Anh em ai ngồi chỗ đó, tên Công An đi một vòng đếm. Đếm xong, nó khóa cửa và sẽ mở lại trước giờ lao động buổi chiều. Cứ như vậy, đời tù, mở và đóng khóa mỗi ngày 4 lần. Nhưng lần mở quan trọng nhất, vẫn là buổi sáng. Nếu sáng nào mở khóa, có hai tên cùng đến, sáng đó thế nào cũng có chuyện, hoặc chiếc chốt cửa bị tháo ra, mang theo cả chiếc khóa, cũng vậy. Sau này ở lâu, do kinh nghiệm, tôi biết và đoán được những sự việc báo trước đó! Nhưng biết để mà biết, chẳng làm gì hơn được vì mỗi quyết định đều ở ngoài tầm tay.

Sau tuần lễ vác đá, chúng tôi lại quay về công tác làm ‘Trạc”. Tổ tôi, bữa nay được phân công phát quang suờn núi, lấy chỗ cuốc “trạc” vì nơi đang lấy, đã gặp đá cứng, không ra”trạc”. Tôi vừa làm, vừa nhìn ra vũng nước rộng. Mực nước đã rút nhiều, để lộ những nếp nhà cũ kỹ và thấy cả con lộ nhỏ khúc nổi, khúc chìm. Những chiếc thuyền thúng bơi qua, bơi lại để lưới cá, vì theo kinh nghiệm, sau mỗi cơn lụt, cá về nhiều hơn. Dẫy “núi răng cưa” in lên nền trời như miếng bìa cắt vụng. Tôi nghe nói, chẳng con thú nào thích sống ở vùng “núi răng cưa” vì không có mồi, cây cối cũng không cao.

Chiều qua, tù hình sự vừa bắt được một con trăn to bằng bắp đùi, dài cả chục thước, khi nó đang nuốt một con dê đực, trại nuôi thả rong trên sườn núi. Mỗi chiều, vào khoảng 4 giờ, tên tù hình sự tự giác chăn dê đi vòng vòng gọi: Dê ơi! về đi! Tiếng gọi âm vang vách đá, đàn dê nghe tiếng gọi, lục tục trở về. Tụi Công An chở con trăn và con dê đã chết, trên ca-pô xe Jeep. Con trăn bị đánh dập đầu, nằm cuộn tròn, chiếc đuôi còn thòng dài chấm đất. Con dê nằm sóng soài trên mình con trăn, hai chiếc sừng nhọn hoắt, râu ria xồm xoàm. Tôi không hiểu tại sao, con dê to với hai chiếc sừng nhọn sắc như vậy mà con trăn có thể nuốt được con mồi? Việc quấn chết, dễ hiểu, nhưng nuốt, quả thực khó hiểu. Nhưng đó là việc của Thượng đế, khi sinh ra muôn loai, đã ban phát cho mỗi giống dù to hay nhỏ, một khả năng để tự vệ, để săn mồi, cũng như để tiêu thụ những gì thích hợp với cơ thể để sinh tồn!

Những nhát dao chém liên tiếp, cây cỏ nằm rạp xuống. Mùi lá tươi ngai ngái đưa lên mũi, làm tôi nhớ đến buổi phát quang ở Yên Bái. 3/4 gô nước hồ đã tiêu sau bãi tiểu. Lại đói như điên. Giữa lúc ấy, từ phía dưới, tôi nghe tiếng gọi:

– Ông Tỵ ơi! sắp có thăm nuôi đó!

Tôi ngừng tay, nhìn xuống. Mấy anh đang khom người đẩy chiếc xe cải tiến chở đầy “trạc” lên dốc.

Tôi hỏi vọng xuống

– Bạn không nói đùa đấy chứ?

– Em gái ông đến thăm!

Tôi bỏ dao chạy nhanh xuống. Sao lúc đó, tôi cảm thấy khỏe thế, bước phăng phăng từ dốc núi cao xuôi dần tới mặt lộ. Anh em đang làm dừng tay nhìn, như nhìn một kẻ điên. Khi xuống tới mặt đường, tôi ngó lên con dốc, không thấy gì. Thất vọng, tôi toan quay lại. Bỗng từ đầu dốc nhô lên một bóng người đàn bà, theo sau, người đàn ông dắt chiếc xe đạp, trên xe chở một gói lớn. Tôi mở to mắt! Đúng em gái tôi, với cái dáng người ấy, tầm cao ấy, không thể nhầm được. Tên quản giáo lao động, từ trong chòi nhìn ra quát:

– Anh kia,” nàm” gì đứng đấy, đi “nào” động ngay! – Tên này nói ngọng.

Tôi bẽn lẻn đi lên, nhưng không đi mau, cố tình bước thật chậm, chờ nhìn lại cho rõ. Thời gian sao dài thế, có mấy bước chân, mãi không tới! Tôi đang nóng ruột, hai bóng người đã đi ngang. Tôi gọi:

– Cô Hạnh!

Người đàn bà ghé nón, ngước mắt nhìn lên, cười:

– Anh, em đây! Chờ chúng em vào trình giấy tờ nhé! Nói xong, em tôi giơ tay vẫy, người đàn ông đi sau là em rể? Đã mấy chục năm xa cách, bây giờ gặp lại nhau trong hoàn cảnh khốn khó này. Không hiểu sao, mắt tôi bỗng mờ đi, tuy lúc này trời đang nắng dữ dội!

mạnh hải flickr

Anh em ai cũng mừng cho tôi sắp được no ít bữa. Tôi, người thứ hai được thăm nuôi ở trại nay sau Thiện, Tổ trưởng. Từ lúc đó, tôi không còn thiết lao động, chỉ mong chóng tới giờ tan tầm. Tôi tìm một lùm cây, khuất tầm mắt của mọi người, ngồi thu lu suy nghĩ! Trong đầu tôi, hiện lên hình ảnh gia đình nào bố mẹ, anh em, từ ngày xa xưa khi còn trẻ thơ. Tôi đã sống và lớn lên nhờ gia đình đùm bọc, anh em che chở. Tôi, đứa con hư hỏng, không làm ăn gì để giúp đỡ bố mẹ, anh em, chỉ lo học làm nghệ sĩ! Lúc tuổi tôi còn ăn học, bố mẹ đã già, do đó, các anh lớn phải đi làm để gánh vác. Tôi có hai người anh đã bị Cộng Sản sát hại: một anh, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, và anh kia vào năm 1958. Cả hai đều chết, trong lúc bị giam cầm tại Trại Cải Tạo, nay đến lượt tôi, cũng đang bị cải tạo không có ngày về! Người đàn bà đến thăm là em gái thứ 7. Cô lập gia đình sau khi chia đôi đất nước. Do đó, đây là lần thứ nhất, tôi gặp người em rể! Tôi chẳng hiểu vì đâu họ tìm ra tôi ở địa điểm này? Trại cấm không được tiết lộ địa điểm cải tạo trong thư từ, dù nói xa xôi, nếu trại biết, sẽ nghiêm trị. Hồi gần đầy, tụi Công An mới cho phép các buồng trưởng, Đội trưởng, Đội phó và những ai phục vụ tại “nhà Văn Hóa” mới được gửi thư về nhà, báo địa điểm thăm nuôi. Tất cả độ vài chục người, trong số gần 2,000 tù !

Tiếng kẻng tan tầm như đẩy tôi ra khỏi suy nghĩ.

Tôi xuống núi từng bước dài để tập họp điểm số. Trên con lộ, các Đội đi dài dài, áo quần lem luốcướt đẫm mồ hôi. Vế đến trại, không nhìn thấy hai em tôi đâu. Chắc họ được nghỉ tại căn “nhà chờ” bên hông trái. Chiều nay tôi sẽ được thăm nuôi.

Buổi trưa, nằm không ngủ được chút nào. Cánh cửa”chuồng” đã khóa. Tôi ngồi hút thuốc lào vặt, ruột nóng như chiếc hỏa lò đầy than hồng. Nhưng cái gì tới, sẽ tới. Tiếng kẻng khua vang. Tôi nhảy xuống đứng chờ ngay nơi cửa, đợi tên Công An mở chốt, nhào ra đầu tiên. Tôi quên cả đói mệt, chỉ mong gặp em gái, để biết chuyện gia đình trong Nam, ngoài Bắc.

Tiếng kéo chốt đánh rầm. Cửa mở toang. Tôi nhào ra, tên Công An buồng tỏ vẻ kinh ngạc.

– Anh kia, đi đâu vội thế?

– Dạ, đi ra!

Nó nhìn tôi một lát rồi thôi. Tôi ra giếng gầu nước rửa mặt mũi, tay chân vì không muốn cho các em tôi thấy mình nhơm nhếch, dù ở hoàn cảnh tù tội!

Giờ lao động đã đến. Tên Công An trực thay vì gọi các Đội đi làm như thường lệ, gọi tên tôi trước, được ở nhà thăm nuôi! Gần 2,000 khuôn mặt quay về phía tôi. Tôi đứng dậy, ra khỏi hàng, quay về “chuồng!” Sau khi các Đội đi lao động hết, tôi được tên Công An buồng đưa đến căn nhà cạnh phòng Trực. Khi tôi đến, hai em tôi đã ngồi nghiêm chỉnh trước tên Công An đeo quân hàm Trung úy, mặt tím bầm như miếng thịt trâu

Vừa nhìn thấy, em gái tôi đã đứng lên, ôm lấy tôi òa khóc. Tôi không muốn, quả tình không muốn nhỏ lệ trong hoàn cảnh này, nhưng trước những giọt nước mắt của em gái, tôi cầm lòng không được! Cơn xúc động qua đi, em gái tôi cười, nụ cười buồn bã!

– Ô, anh già và gầy quá! Sao, có ốm đau gì không?

– Không, anh chẳng ốm đau gì!

Tôi không có cách nào nói thực cho em tôi nghe tất cả những gì đang giấu trong lòng tôi, vì tên Công An lúc nào cũng nhìn và theo dõi từng lời nói, từng cử chỉ. Người em rể luôn luôn nói theo đúng chính sách nhà nước “chờ ngày được cứu xét, sớm được sum họp với chị và các cháu”. Giá ở hoàn cảnh khác, chắc chắn người em rể không bao giờ dám nói với tôi những lời đó, nhưng lúc này vì có sự hiện diện của tên Công An, nên phải nói, để tỏ ra mình cũng thông suốt đường lối!.

Chúng tôi chưa nói được với nhau nhiều, tên Công An đã bảo hết giờ. Em gái tôi nói vội: năm ngoái, hai vợ chồng có lên Yên Bái tìm, nhưng tôi đã chuyển trại. Tất cả những đồ thăm nuôi này do vợ con tôi thực hiện. Một số do họ hàng quen thuộc cho. Trước khi về, em gái tôi móc túi, lôi ra 40đ dúi vào tay! Tên Công An nhìn thấy:

– Chị không được đưa tiền cho anh ấy! Nếu muốn, phải “đăng ký” qua chúng tôi, khi cần, chúng tôi sẽ trả lại!

Em tôi bẽn bẻn xin lỗi, rồi gửi số tiền đó cho tên Công An. Nó cầm số tiền đút ngay vào túi, không biên nhận gì cả. Sau khi hai em tôi ra khỏi, tôi đứng ngay nơi cửa ngó theo. Họ vừa đi vừa ngoái lại đưa tay vẫy vẫy. Ánh nắng đã ngả dài trên chiếc sân rộng. Hai cánh cửa sắt to đóng kín. Tên Công An vũ trang, đứng trên chòi gác nhìn xuống với con mắt lạnh lùng. Chờ cho hai em đi khuất sau hàng cây ven lộ, tôi quay vô. Tên Công An lạnh lùng nói:

– Bây giờ, khám đồ!

Tụi này chuyên môn dùng thủ đoạn, dù chuyện nhỏ nhất! Lúc còn các em tôi, nó không khám, làm như cho nhận hết, nay nó khám, làm sao tôi dám phản đối?

Tất cả mọi gói đều được mở. Nào đường, nào bánh bích quy in theo khuôn con gà, con vịt, con heo, loại bánh nhà quê dành cho con nít. Nào thuốc lào, kẹo do Hà-nội sản xuất, 1 lọ thịt heo kho khô, 1 nải chuối, 3 cái bánh chưng, mỗi cái bằng lòng bàn tay và 1 gói café. Nó khám rất kỹ, bánh chưng bi cắt làm đôi xem có “nhân” không? Nó tưởng ở giữa có cái nhân chăng?

Sau khi khám, không tìm ra gì ngoài 10 bao diêm, nó cho nhận 2, tịch thu 8!

Tôi gom lại cho vào chiếc bị cói mang về. Trước khi vô cổng tôi phải đứng nghiêm, báo cáo với tên Công An trên vọng gác:

– Thưa cán bộ, cho phép vào trại.

Sau khi nói xong, phải đứng chờ, khi nào nó nói: “cho vào!” mới được đi. Tôi cho tay đẩy mạnh cánh cửa sắt. Khi khoảng rộng vừa đủ, tôi lách người vào. Thế là xong! Tôi đi nhanh về khu mình ở!

Anh em đi lao động hết, chỉ còn vài người làm vệ sinh ở nhà. Tôi mang đồ đi thẳng vào nhà ăn. Những quả chuối đã rời khỏi cuống, vài quả đã nát ngướu. Tôi chẳng cần thu xếp gì, ngồi ngay xuống đất bóc bánh chưng đã được cắt đôi, đưa vào miệng nhai ngấu nghiến. Tôi ăn một hơi hết cả 3 chiếc bánh chưng với những quả chuối dập. Ăn xong, vẫn còn thèm. Tôi ngồi liếm những hạt gạo nếp còn dính ở lá, kỳ hết mới thôi! Cũng may, tôi ăn một mình không ai thấy. Tôi nghĩ, nếu hai em tôi nhìn thấy cảnh này, không biết họ nghĩ sao? Vì quá thèm đường, tôi cầm cả túi, dốc vào miệng. Từ lâu lắm, buổi chiều nay tôi mới cảm thấy được no một bữa, còn biết bao nhiêu anh em khác đã và đang bị đói triền miên! Nhưng với số quà này, chắc cũng chẳng được bao lâu. Tôi tự nhủ, sau bữa ăn “hoang phí” này, sẽ tằn tiện, vì lần thăm nuôi sau, nếu có, phải chờ 3 tháng nữa.

Buổi chiều, anh em đi lao động về, đều mừng tôi.

Tôi mở gói kẹo, mời những ai đã giúp đỡ tôi trong lúc đói khát và vài người bạn tốt trong tù. Ở đây rất nhiều chuột. Một anh bạn, đã chuẩn bị trước một chiếc thùng sắt tây đựng quà, nhưng quà chưa tới, cho tôi mượn đỡ. Tôi bỏ tất cả vô, đậy nắp lại. Thùng quà phải để ở nhà ăn, không được mang về buồng. Từ đó, mỗi buổi tối tôi thủ một gói bánh bích quy con gà, con vịt, mang vào “chuồng” ăn thêm cho “ấm bụng!”

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 22 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 2

Tôi mở choàng mắt khi có tiếng nói: Gia Lâm. Trước mặt một dẫy phố cũ kỹ như hồi nhỏ tôi đã nhìn thấy nó. Sau mấy chục năm “Độc Lập – Tự Do” vẫn không có gì thay đổi. Những căn nhà thấp, khấp khểnh chạy dài hai bên lề phố đưa dần lên cao để vào cầu Long Biên. Một vài cô gái cưỡi xe đạp, chiếc nón lá úp chụp che gần kín khuôn mặt, không nhìn rõ đẹp hay xấu, chỉ nhìn thấy dòng tóc cắt ngắn đen dầy hoặc tết đuôi sam lắc lư theo vòng chân đạp. Vài chiếc xe hơi kiểu mới, bên trong toàn ngoại kiều, chắc thuộc các cơ quan ngoại giao.

Con đường Gia Lâm ngắn nên đoàn xe chạy trong ít phút đã qua. Tôi đinh ninh xe sẽ qua cầu Long Biên để vào Hà-nội. Nhưng không! Khi đến đầu dốc, đoàn xe quẹo trái đi theo con đê sông Hồng, mùa này nước còn cạn, trơ những dải cát vàng chạy dài phía bên kia đê. Mặt đê khá rộng đủ cho hai xe vận tải tránh nhau. Chiếc Jeep lúc này chạy bon bon phía trước. Hai chiếc vận tải chạy sau giữ đúng cự ly, khoảng cách an toàn. Xe chạy qua đền Ghềnh, một ngôi đền cổ. Khi xưa học trường Mỹ Thuật đã nhiều lần tôi vẽ vì ngôi đền có lối kiến trúc khá đẹp và cầu kỳ. Tôi không hiểu vì sao họ lại đưa chúng tôi đi theo con đê xuôi xuống phía dưới. Có lẽ, nơi đây mới thiết lập trại tù mới? Nếu được giam giữ ở vùng này thì quá tốt vì xung quanh toàn đồng ruộng, nước lành, ít sợ ốm đau. Bụng tôi vẫn đau quặn từng chặp. Tôi vẫn cởi truồng một nửa, để sẵn sàng “đáp ứng theo nhu cầu”.

Đoàn xe đang ngon trớn bỗng dừng lại. Tôi nghe có tiếng cãi lộn phía trước.

– Các anh tưởng Công An muốn làm gì cũng được sao? Xe các anh lấn đường không cho xe khác chạy là thế nào? Các anh – Công An, chúng tôi – công nhân viên của Nhà Nước, hơn gì nhau?

Tiếng cãi qua lại một lúc, rồi đoàn xe từ từ lăn bánh. Khi đi ngang qua chiếc xe chở đầy cỏ, tôi nhìn thấy một anh mặc bộ đồ xanh công nhân, khuy áo ngực mở toang để lộ một mảng thịt nở nang, sắc mặt đỏ bừng vì giận. Tôi nghe rõ tiếng chửi theo:

– Địt mẹ tụi Công An, chuyên ăn hiếp người!

Anh ta vừa chửi vừa chống tay vào hông như thách thức! Nhưng đoàn xe vẫn đi, tên Công An vũ trang ngồi sát chúng tôi, chắc nghe rõ và nhìn thấy dáng điệu của anh kia, nhưng nó làm như không nghe, không thấy. Chắc chiếc gậy sắt do tên bộ đội nào đó đánh trúng, chưa hết đau!

Bên kia đê, thành phố Hà-nội! Những mái nhà thấp thoáng cao, thấp thỉnh thoảng lại hiện ra rồi biến mất. Đoàn xe cứ chạy vòng vèo theo con đê. Những xóm làng dưới chân đê, nằm im lìm sau lũy tre xanh mướt. Vài con trâu đứng, nằm đây đó, chiếc mồm đung đưa nhai lại. Xe chạy vào khoảng 10 cây số, tính từ đầu phố Gia Lâm, bỗng bỏ con đê đi xuống bãi mía rộng mênh mông, men theo con đường nhỏ vừa đủ chỗ cho một chiếc xe di chuyển. Chạy chừng 2 cây số nữa, đoàn xe dừng lại. Mấy đứa trẻ từ trong chiếc quán nhỏ chạy ra bán nước vối đựng trong chiếc ấm sắt, tay cầm vài cái bát. Tôi nhìn vào chiếc quán nghèo nàn, có bày vài nải chuối, vài lọ kẹo, bánh bình dân và mấy cái bát dùng uống trà tươi. Mấy tên Công An vào quán uống nước, ăn chuối. Những người đàn bà nhà quê gồng gánh tất tưởi đi vội vàng, nhịp đòn gánh nhún nhẩy theo từng bước chân. Tôi nhìn, thầm nghĩ, không hiểu sao họ gánh nhẹ nhàng, mình gánh lại quá vất vả? Một anh bạn ngồi sát ca-bin ghé mắt nhìn ra ngoài nói:

– Sắp qua phà!

Nghe vậy, tôi nghĩ ngay đến bến phà chiến lược qua sông Hồng trong thời gian Mỹ ném bom Hà-nội. Họ không muốn đưa chúng tôi đi qua Hà-nội, sợ gợi sự tò mò của nhân dân thành phố hay vì lý do nào đó, nên dùng lối này tuy xa, nhưng tránh được những gì Cộng Sản không muốn.

Xe nổ máy, xuống phà. Những vòng bánh lăn từ từ xuống mé sông. Sau khi 3 chiếc xe nằm yên trong lòng chiếc phà khá rộng, dân chúng mới được xuống. Nào xe đạp, nào gánh gồng, nào người ào ào tràn vào lòng phà, chật ních. Có một bà tóc hoa râm đứng cạnh chiếc xe. Bà nhìn vô, thấy chúng tôi bị còng, không hiểu sao, mắt bà rưng rưng ngấn lệ. Sợ tên Công An vũ trang nhìn thấy, bà quay mặt đi. Tôi cảm thấy đôi vai nhỏ rung rung như không nén được cảm xúc. Tôi chắc bà có con cháu hoặc họ hàng thân thuộc cũng “được cải tạo” ở một trại nào đó, ở trong Nam, ngoài Bắc?

Chiếc phà nổ máy, tách bến. Mấy người phu phà cầm những chiếc sào dài, chống xuống nước đẩy phà ra khỏi chỗ cạn để giúp thêm cho sức máy. Mầu nước phù sa đục ngầu, chảy lững lờ cuốn theo nó nhiều rác rến và những khúc gỗ mục. Chiếc phà chạy chừng15 phút đã tới bến. Mọi người xô nhau lên trước. Tiếng máy xe nổi bùm bụp rồi rú to khi rời khỏi lòng phà, leo lên con dốc thoai thoải. Đoàn xe chạy ngược lên, theo con đê. Tôi chẳng hiểu ra sao, đành chờ xem nó đưa đến đâu?

Phong cảnh sông Hồng buổi chiều nay, tôi nhìn vẫn vậy. Khúc sông bên lở, bên bồi, chỗ rộng, chỗ hẹp uốn lượn nhịp nhàng tạo nên sư hài hòa thoải mái. Vài con thuyền nhỏ trôi lững lờ, xuôi ngược. Cây cầu Long Biên nổi bật từng nhịp giữa buổi hoàng hôn, sắc mây hòa hoàng im sững kéo dài trên nền trời như bức cổ họa.

Xe chạy qua cửa ô Đống Mác, tức đã tới cửa ngõ phía Đông Nam Hà-nội, rồi qua nhà Bác Cổ, xong quẹo ngang, xuyên thành phố. Tôi đang ở giữa phố phường Hà-nội. Lần thứ nhất, tôi được nhìn Hà-nội đang đắm chìm trong giấc ngủ, trên toa chở trâu bò, qua ô cửa nhỏ. Lần này tôi gặp Hà-nội trong lòng xe chật hẹp, tay bị còng, đi ỉa chảy suốt mấy trăm cây số đường dài. Ôi, Hà-nội, những phố phường này đối với tôi quá quen thuộc vì tôi đã sinh ra ở đó, tuy khai sinh ghi quê cha ở Hà Đông. Từng thước đường, từng gốc cây, từng góc phố, chỗ nào, nơi nào đối với tôi cũng in dấu chân kỷ niệm. Hà-nội đối với tôi trong những năm xa cách như một hình ảnh vô cùng thiêng liêng, vô cùng thương mến. Nhưng chiều nay, tôi gặp lại Hà-nội lần thứ hai, sau hơn 20 năm xa cách, nó khốn khổ và vô cùng tủi nhục! Tôi, tên tù chính trị đang bị giải đến một nhà tù nào đó chưa biết! Có thể Hỏa Lò, có thể nơi nào khác! Cho đến phút này, tôi không ân hận gì vì đã có mặt trong hàng ngũ miền Nam, cầm súng chống lại miền Bắc Cộng Sản. Sau 5 năm kháng chiến, tôi đã bỏ hàng ngũ của họ, quay về Thành cũng không ngoài mục đích đó, tôi không thể gánh chịu, ép mình dưới chế độ độc tài Đảng trị! Tôi yêu mến Tự Do, vì có Tự Do con người mới phát triển, miễn đừng lợi dụng như một số người đã dùng nó như một lợi khí đấu tranh cho quyền lợi riêng rẽ, làm nó sụp đổ! Nghĩ đến Tự Do, tôi nhớ lại buổi sinh hoạt chính trị tại Nghĩa Lộ, tên Phó Trại đã nói rất ngay tình:

– Ở đây, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, chúng tôi, mọi người đều có Tự do, muốn làm gì cũng được, đi đâu cũng được, miễn là phải xin phép!

Nói xong, nó không cười!

Cái “Tự Do phải xin phép” đó, xin lỗi, tôi cương quyết từ chối! Chỗ nào, nơi nào cũng có khẩu hiệu: Vì hạnh phúc của nhân dân, chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa! Đã hơn 3 năm chiến thắng rồi đó, chưa thấy tiến lên chút nào và 3 cuộc Cách Mạng đề ra cũng chìm xuồng luôn! Chắc cái chế độ tàn bạo này nó đang tiến dần dần, tiến lảo đảo, rồi ngã luôn xuống hố! Đoàn xe chạy vòng phố nọ qua phố kia. Có lúc, tôi thoáng nhìn thấy chiếc xe điện cũ kỹ vừa chạy vừa gõ chuông leng keng. Hình ảnh chậm tiến này còn tồn tại giữa một Thủ Đô thường tự hào là tiến bộ, quả thực mỉa mai! Bỗng chiếc xe dừng lại ở đầu phố, phía sau cơ quan Công An Trung Ương. Chúng tôi hồi hộp đợi chờ. Chừng 1 tiếng đồng hồ sau, xe lại rồ máy. Nó chạy ra đại lộ Trần Hưng Đạo. Chiếc nhà ga cũ kỹ khi trước, đã được sửa chữa lại bề mặt, trông đồ sộ và hiện đại. Đó là hình ảnh đổi thay đầu tiên, tôi nhìn thấy sau hơn 20 năm cách biệt, còn khu đấu xảo có Viện Bảo Tàng Maurice Long vẫn vậy. Nhưng tất cả hình như đều bé bỏng trước mắt tôi.

mạnh hải flickr

Có lẽ, trong thời gian qua, tôi đã được sống, được nhìn nhiều thành phố quá rộng lớn, nên bây giờ gặp lại Hà-nội thấy nó quá nhỏ so với cả Saigon! Đoàn xe đi về phía ga rồi quẹo trái, chạy theo quốc lộ 1, đường Nam Bộ. Khi xe đi qua khỏi nhà ga một đoạn, tôi nhìn thấy ngôi trường Mỹ Thuật, ngày xưa tôi đã theo học 6 năm. Bây giờ nó ủ rủ, nhỏ xíu trước mắt tôi. Kiến trúc cũ kỹ, dù cho nó có chiều dài cả khu phố, căn buồng học của tôi, mấy chục năm trước có chiếc cửa sổ nhìn ra dẫy chuồng ngựa, những con ngựa giống Mông Cổ của quân đội Nhật Bản trong thời gian, chúng chiếm đóng Hà-nội và cả Việt Nam. Đoàn xe cứ chạy, nhưng hình ảnh ngôi trường cũ và kỷ niệm a vào làm tâm hồn tôi nhức nhối.

Cơn đau bụng đã dịu nhưng chưa hết. Đoàn xe qua ngã tư Khâm Thiên. Tôi cố nhìn xem có vết tích điêu tàn nào do bom Mỹ để lại, nhưng không thấy. Xe chạy qua công viên Thống Nhất, một công viên mới được xây dựng để làm nơi giải trí cho dân chúng và cũng để làm đẹp thêm thành phố. Tôi không nhìn thấy gì ngoài chiếc cổng và những lùm cây, cùng vài ba bóng người qua lại bên trong. Hình ảnh thứ hai, Hà-nội có đổi thay trước mắt tôi. Thế là hết! Tôi nghe nói, cũng có nhiều thay đổi khác ở trong lòng Hà-nội, nhưng vì hoàn cảnh tôi chưa có dịp thấy. Thôi, chờ dịp khác…

Đoàn xe đã ra khỏi Hà-nội, đang chạy song song với đường xe hỏa, qua Kim-Liên, nhà thương Cống Vọng, noi đây có đổ nát vì bom Mỹ. Những vết tích chiến tranh chưa được hàn gắn, trông thê thảm, nhất là trong khuôn viên Bệnh Viện!

Trời bắt đầu tắt nắng. Đoàn xe chạy hết tốc lực. Trên quốc lộ 1, bây giờ có hàng cây cao làm mát mắt, chứ không trơ trụi như trước. Bóng tối thả xuống dần dần. Trên con lộ đất dẫn vào xóm làng xa xa, có những thanh niên, thanh nữ nhởn nhơ đi hóng mát. Đúng cảnh thanh bình!

Xe chạy đến tối mới tới chiếc bến nhỏ. Một dòng nước phẳng lừ trải dài im vắng. Cây cầu nổi giăng ngang từ bờ này qua bên kia. Chiếc xe đâm thẳng vô dẫy núi, bỏ lại tỉnh Phủ Lý (nay là Hà Nam Ninh), phía sau. Con đường này đã gợi rất nhiều kỷ niệm, vì trong tuổi niên thiếu, tôi đã qua lại nhiều lần. Đây, vùng Chiné, có sông, có núi, có nhiều cảnh đẹp, nhưng nước rất độc, dễ bị sốt rét, nhất là Ba Sao, Đầm Đùn! Không còn hồ nghi gì nữa, chúng tôi sẽ bị giam giữ tại vùng núi Chiné, nơi đó, nghe nói có một trại giam kiên cố, chuyên giam tù chính trị, như Trại Cải Tạo Trung Uơng số 1 tại Lào Cai vậy.

Trời tối hẳn. Tôi không nhìn rõ cảnh vật bên ngoài. Xe chạy trên con đường xấu, nhiều ổ gà. Chúng tôi cứ lắc lư theo chiếc xe nghiêng ngã. Tuy mệt vì đi cầu suốt ngay, tôi cố kéo quần lên, dùng bàn tay còn lại túm tấm nylon chờ dịp vứt của nợ ra ngoài xa. Tôi nhắm mãi chưa thấy chỗ thuận tiện, chiếc xe đã đi vô chiếc cổng lớn, lố nhố Công An. Hoảng qua, tôi vứt bừa tấm nylon qua ô cũi, mặc nó muốn rơi vào đâu cũng đuọc, trời đang tối mà! Tấm nylon được quăng mạnh ra ngoài. Tôi nghe rõ, tiếng kéo lê trên mặt đất, chắc cứt đái tung tóe vung vãi. Tôi nghĩ bụng, kệ cha nó, cho tụi Công An dọn, cũng có lúc mình phải làm khổ tụi nó chứ? Vừa nghĩ tới đó, xe dừng lại bất tử, tôi ngã người vào Liêm làm anh đổ theo!

Tên Công An vũ trang nhẩy xuống, mở chốt tấm chắn lên. Chúng tôi chờ chừng 5 phút, một tên khác leo lên mở khóa cũi. A, bấy giờ tôi hiểu, vì sao tên Công An vũ trang không mở cửa cho tôi xuống đi cầu và cũng không trả lời được hay không, vì nó không giữ chìa khóa, cũng không có quyền ra lệnh cho xe ngừng theo ý muốn.

Chiếc cửa con được mở, tôi và Liêm chuẩn bị xuống. Lúc này trời tối, thành xe lại quá cao, chúng tôi nhẩy không đều, nên cả hai ngã sấp xuống nền đất, chiếc còng cứa vào cổ tay. Khi dậy được, thấy đau, tôi nhìn thấy một dòng máu rỉ ra như vết mực. Đồ vật được quăng xuống chất thành đống. Anh em chọn lựa vứt tung, biến cái “đống” thành một “vũng” đồ. Mọi người chờ mở còng. Tên Công An giữ chìa khóa, xoay mãi, chiếc còng của chúng tôi không chịu mở. Tra hết chìa này đến chìa khác, vẫn trơ trơ. Sau, nó bỏ mặc hai đứa tôi đứng đó, đi mở các chiếc còng khác. Tất cả đã mở xong, chỉ còn lại chiếc của chúng tôi. Chỗ cổ tay bị còng cứa chảy máu, mồ hôi rịn vào làm xót vô cùng. Tôi nghiến răng chịu đựng. Hết đi ỉa chảy, bây giờ lại hóc còng, cái số tôi thực khốn nạn! Anh em đã mang đồ vô chiếc ngõ sâu, giống hệt chiếc ngõ ở Lào Cai, chỉ có khác ở đây không phải leo, nó nằm ngang mặt sân. Một tên Công An đề nghị, dừng cưa sắt để cắt còng. Nhưng tên giữ chìa không chịu, nó cứ thử đi, thử lại. Một xâu chìa khóa mấy chục chiếc, mỗi cái nó thử trung bình mất 1 phút, do đó, thời gian chịu đựng của chúng tôi kéo dài. Nhưng sau chừng nửa tiếng, chiếc còng cũng mở. Thì ra nó khô dầu! Tôi và Liêm, hai kẻ vào sau cùng. Anh em đã ngồi dài trước cửa “chuồng” như hệt ở Lào Cai. Theo lệnh của một tên Công An hãy còn trẻ, mọi người vào “chuồng”. Sự tranh giành chỗ ngủ lại diễn ra như hồi ở Lào Cai. Vì vào muộn, tôi và Liêm đành phải leo lên “lầu”. Lầu không có thang, chỉ có những miếng gỗ đóng vào chiếc cột làm bậc lên xuống. Sau khi xếp đồ, dọn sơ chỗ ngủ, tôi lần xuống, ra sân tìm nuớc rửa ráy vì cả ngày đái ỉa tùm lum bẩn thỉu chịu gì nổi?

Vì trời tối, chẳng biết chỗ nào có nước, tôi đi vòng ra mé sau, thấy có một đường nước lấp lánh dưới ánh đèn. Tôi tụt nhanh quần, té nước rửa. Có lẽ, vì nhịn đói nên bớt đau bụng và hết đi cầu. Làm sạch sẽ xong, tôi lại leo lên lầu. Tay chân rả rời, leo từng nấc mệt mỏi. Đêm đó, tôi không buông mùng, lăn ra ngủ, một giấc ngủ mỏi mệt.

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, mặt trời đã chiếu vô chỗ nằm. Liêm cho biết, đêm qua tôi trăn trở suốt sáng. Đầu nhức như búa bổ, lại hâm hấp sốt, tôi hỏi xin thuốc, Phùng cho mấy viên Aspirin, tôi cảm ơn không dùng, vì cả ngày qua chẳng ăn uống gì, nay uống Aspirin vào nó cồn cào chịu không nổi! Thôi đành chịu trận. Tôi lần xuống, để rửa mặt đánh răng, lúc đó mới biết có một giếng nước trong vắt ở sát chỗ chúng tôi ngồi tập họp tối qua. Sau đó, vòng ra phía sau đi tiểu, tôi mới hay vũng nước hồi hôm mình rửa ráy là đường mương, rêu xanh nổi lều bều trên mặt! Sợ quá, tôi đi lại chiếc giếng, gầu nuớc, mang ra chỗ khuất cởi quần rửa lại!

Phần ăn sáng ở đây, đặc biệt phát cho mỗi người mới đến một ổ bánh mì nướng. Thường ra chỉ được 1/4. Ổ bánh mềm xìu như chiếc giẻ rách. Vì còn bệnh, tôi chỉ nhấm nháp một chút, xong cất đi.

Đến 9 giờ, có lệnh điểm nghiệm. Mọi người bày tư trang của mình kín chiếc sân, trước buồng. Một khuôn viên trồng hoa, hình chữ nhật, ở giữa có hòn non bộ khá đẹp, đứng sững trong chiếc bể bầu dục có thả cá vàng! Cảnh trí y hệt Lào Cai, cái lối kiến trúc đặc biệt của nhà tù Cộng Sản!

Cả 10 tên Công An đi vô, chưa bao giờ tôi thấy việc điểm nghiệm có nhiều Công An tham dự như ở đây. Nó khám kiểu này khó lòng giấu đưọc cái gì! Nhưng sự thực, qua bao nhiêu cuộc điểm nghiệm, mọi người chúng tôi cũng chẳng còn gì để giấu, ngoài vài thứ lặt vặt như con dao nhỏ dùng để cắt bánh, cái kéo để hớt tóc v.v… Nếu còn càng tốt, bị thu, sẽ tìm cách khác. Riêng tôi, chẳng có gì đáng ngại, nên để khám tha hồ. Những ai nhiều lon hộp đều bị thu, chỉ được giữ một chiếc. Lon gô vứt cả đống, tù hình sự vô nhặt quăng vào “xe cải tiến” kéo đi đâu chăng biết ! “Xe cải tiến” mới nghe, tưởng ghê gớm lắm, có máy móc gì, ai ngờ nó là cái xe bò thứ nhỏ, làm toàn bằng sắt, kéo nặng chết cha!

Buổi sáng, điểm nghiệm. Buổi chiều, khai báo. Đó là những “khâu” bắt buộc mà người tù phải qua ở mỗi trại giam. Sau đó, học tập nội quy, ở đây còn thêm mục “Nếp sống văn hóa mới”, gồm 20 điều cấm kỵ!

– Đù mẹ, cứ làm như văn minh lắm, trong khi còn nói ngọng, người cầy thay trâu, ăn uống đói khát, lúc nào cũng khắc phục.

Một tiếng chửi cất lên khi anh ta nhìn thấy những điều răn cấm, viết trong tấm bảng ghi: Nếp Sống Văn Hóa Mới.

Chúng tôi được nghỉ ngơi, để làm thủ tục nhập trại, khai báo, học tập nội quy trong một tuần lễ.Tôi đã đi khám bệnh và được phát thuốc. Bệnh tuy khỏi, nhưng từ ngày tự tử không chết, sức đề kháng trong cơ thể hình như suy nhưọc hẳn đi, mỗi lần đau ốm rất khó lại sức! Tôi cứ vật vờ như con bệnh giả vờ. Mỗi bữa, chỉ ăn được nửa ổ bánh mì với muối, phần còn lại, tôi biếu anh bạn, đã cùng tôi đạp đất chung ở Lào Cai. Anh này có biệt tài kể chuyện Tam Quốc, Thủy Hử, làm quên đi những giờ phút cực nhọc, bụng đói, cật rét !!… Tên Công An, cán bộ buồng, trẻ măng nhưng vô cùng hách dịch. Nét mặt lúc nào cũng lạnh lùng, vì nó có quyền hạn lớn, muốn cho ai ở nhà làm việc nhẹ, hay đi lao động tùy ý. Nó có quyền khám xét bất cứ lúc nào. Nó có thể tùy yêu, ghét mà xử trí với mỗi tù nhân, ngay vấn đề nghỉ bệnh cũng phải trình diện nó. Việc phân công ở trại này có hơi khác với Lào Cai. Ở đây, Công An buồng chỉ lo đôn đốc cho tù đi lao động, đề phòng cưa chấn song ban đêm trốn trại, hoặc nghỉ lao động không có phép.

mạnh hải flickr

Còn lao động do tên Công An khác phụ trách. Tên này có nhiệm vụ đốc xuất tù lao động cho đạt chỉ tiêu do Ban Giám Thị đề ra và tên Công An vũ trang có trách nhiệm giữ tù trong giờ lao động. Như vậy mỗi người tù chịu 3 hệ thông kiểm soát gắt gao, rất khó trốn!

Trước giờ lao động, điểm số. Giữa giờ lao động, trước khi về trại, lại điểm số. Cứ như vậy ngày này qua ngày khác, lâu dần nó biến người tù thành cái máy!

Ngày đầu, chúng tôi đi lao động cũng ngồi xếp hàng theo Đội như ở Lào Cai. Một tên Công An đứng trong chiếc “chuồng cu” xây bằng gạch, có chiếc cửa tò vò như chiếc cửa mua vé ciné, gọi từng Đội đi lao động. Cái “chuồng cu” này nhằm mục đich tránh mưa, nắng. Chúng tôi đứng lên khi Đội được gọi. Tất cả nón, mũ đều bỏ xuống cầm tay, tới khi nào qua khỏi chiếc “chuồng cu” mới được mang lại. Ra khỏi chiếc cổng sắt, hai tên Công An, một quản giáo lao động, một vũ trang, đi theo ngay. Tên Công An quản giáo lao động, trông có vẻ cao ráo, mặt mũi sáng sủa, ăn nói khá tử tế, không hiểu sao lại vào nghề Công An? Còn tên vũ trang trông quê mùa, mặt lầm lầm như chó ăn vụng bột. Nhưng cũng như ở Lào Cai, các tên vũ trang được thay luôn, không ở Đội nào lâu.

Chúng tôi được dẫn tới chân quả núi thấp để làm “Trạc”. “Trạc” là một loại đá non, dễ cuốc. Khi cuốc nó rơi lả tả như cát, có to, có nhỏ. Toán nào cuốc, chuyên cuốc; xong toán cào, vun lại; đến toán chuyển, xúc đổ vào những chiếc “vá” đan bằng tre, chuyển lên mặt đường đổ thành đống, cho Đội khác chuyên chở đến nơi xây cất thêm nhà tù. Loại “Trạc” này được rây qua tấm lưới nhuyễn, đem trộn với vôi thành chất vữa, xây nhà rất chắc. Nó như một loại xi-măng non!

Phần ăn sáng, mỗi người được lãnh 50gr bột mì, đem ra bãi nấu. Anh em cử hai người chuyên nấu bột và nấu nước uống. Nấu bột xong, chia đều cho 52 chiếc gô để sẵn. Mỗi người được 3/4 gô hồ loãng, phần ăn sáng. Vừa làm, anh em vừa ngoái cổ nhìn xem thùng hồ đã chín chưa.? Ai cùng đói như điên. Khi anh nấu hồ giơ một ngón tay lên trời làm hiệu, Đội trưởng nhìn thấy, xin quản giáo lao động cho nghỉ giải lao, ăn sáng, uống nước. Tên nào tử tế cho ngay, tên nào “hắc ám” nhìn đồng hồ, nếu chưa tới 9 giờ, chưa được, phải làm đúng giờ, mới được nghỉ! Chao ôi! thân tù, thân tội. Làm quần quật ngày 8 tiếng, dãi nắng dầm mưa, mỗi ngày chỉ được ăn 2 ổ bánh mì to bằng cổ tay đứa bé và mỗi sáng được húp 3/4 gô nước hồ loãng, sao sống nổi? Do đó, da nguời nào cũng xanh lét, kể cả người khỏe mạnh nhất. Những gói quà từ Lào Cai mang xuống, dùng lâu cũng hết, nên ngoài khẩu phần được cấp phát, anh em chẳng có gì ăn thêm. Ở đây, nếu có tiền, có thể mua được bánh trái, tuy bị cấm, do những toán đi làm ở sát khu dân mang về, hoặc tù hình sự bán. Nhưng tụi tôi mới đến, lấy đâu ra tiền? Còn mấy chục bạc gửi từ Yên Bái, bây giờ làm sao lấy ra, tuy số tiền gửi đã được chuyển tới đây, trên giấy tờ!

Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 22 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 1

Chúng tôi mang đồ xuống Hội Trường mới được xây cất. Nó khá rộng, có bậc xây bằng gạch như một hí viện. Phía sau, cũng có phông màn tử tế, vừa dùng làm chỗ hội họp, vừa làm nơi hội diễn Văn nghệ.

Khi chúng tôi bước vô, gian phòng đã đông người, những người chuyển trại. Hội trường tối mò, không ai nhìn rõ ai. Dưới ánh đèn pin, tôi nhận thấy có mặt tên đại uý Phó Giám thị. Tên này cho lệnh tập họp để hắn nói chuyện. Chúng tôi đứng lố nhố, nên không thể đoán rõ chừng bao nhiêu người? Tên Phó Giám thị này thích đọc thơ Tố Hữu, coi Tố Hữu như thần thánh! Sau khi tập họp xong, hắn nói:

– Theo lệnh trên, hôm nay các anh được chuyển trại. Sự việc này rất tốt và thuận lợi! Các anh sẽ về miền xuôi. Nhưng ngay lúc này, tôi không thể xác định cho các anh biết, nó thuộc vùng nào. Sớm muộn gì sẽ biết thôi. Bữa nay, chúng ta cũng cần phải nói thật với nhau một điều.

Đến đây, hắn dừng lại như đắn đo, rồi tiếp:

– …Cái điều đó cũng bình thường, vì theo luật lệ của cơ quan chúng tôi, các anh sẽ bị còng tay trong suốt thời gian di chuyển.

Tuy không nhìn rõ nhau, để xem sắc mặt, nhưng suy ta ra người, khi nghe thấy bị còng, tức là xích tay. Vậy nhục quá, trong lòng tôi như bị một sợi gân siết chặt làm đau đớn toàn bộ cảm giác.

Sau vài phút im lặng, bên cạnh tôi, chợt nổi lên tiếng thì thầm. Một giọng tuy nhỏ, nhưng chứa chất đầy uất hận:

– Tiên sư cha tụi Công An. Đồ khốn nạn! Khi còng mình thì nó nói thật, còn các chuyện khác đều nói dối cả sao?

Một giọng khác:

– Thôi, cậu chửi làm gì cho tốn sức. Cái nghề của tụi nó như vậy mà! Cậu đừng bao giờ quên, đây là một cuộc trả thù, tuy máu không đổ, nhưng vô cùng dã man, tàn nhẫn!

Tiếng nói trôi đến tai tôi như những mũi kim nhọn xuyên vào da thịt. Tuy không phân biệt hai người đối thoại là ai, nhưng ít nhất, cũng chứng tỏ sự phẫn nộ ngấm ngầm tận đáy lòng mọi người cải tạo nào còn chút lương tri, còn thấy được sự ác độc của Cộng Sản đối với kẻ thù đã thất thế! Nhưng tôi tin, muốn nói gì, có uất hận ra sao, thì bạo lực bao giờ cũng thắng, nhất là bạo lực được xử dụng trong môi trường này. Cộng Sản đã làm chúng tôi sống dở, chết dở, biến chúng tôi thành lũ ma đói, ma khát, thành những xác chết chưa chôn, sau những năm tháng dài gian khổ, dưới uy quyền của chúng! Do vậy, nếu hôm nay, chúng có xử dụng thêm một hình thức đoạ đày nào nữa, cũng vậy thôi! Chúng thường quy tội chúng tôi là phạm nhân chiến tranh, là “phản Cách Mạng” và danh từ Cải Tạo nếu nhìn bề ngoài, có vẻ tốt đẹp hơn hai chữ Nhà Tù. Nhưng một khi đã sống trong nó, thì nó còn khắc nghiệt, tàn bạo hơn bất cứ loại nhà tù nào trên thế giới! Ngày vào thì có, ngày ra chỉ có Trời mới biết! Chúng tôi đã “nín thở” trên 3 năm mà chưa “qua sông” được.

Bóng tối vẫn bao trùm hội trường. Những ánh đèn pin lập loè đây đó. Cái không khí ma quái, nửa thực, nửa hư làm xáo trộn nhận thức. Một tiếng hô to lôi tôi ra khỏi suy nghĩ:

– Yêu cầu các anh mở tư trang để điểm nghiệm!

Cả hội trường nhốn nháo. Màn khám đồ tái diễn. Lại mở ra xếp lại, lần lưng, nắn túi. Xong được cho ăn cơm với canh rau muống. Mỗi người còn được phát một vắt cơm và miếng thịt heo. Lần chuyển trại nào cũng được phát chừng ấy! Sợ di chuyển bị đói, tôi cố nuốt chén cơm chan canh rau muống nấu muối để dằn bụng. Ai ngờ chén cơm này đã làm khổ tôi suốt mấy trăm cây số đường dài.

Trời mờ sáng. Cảnh vật đã hiện ra trước tầm nhìn. Tất cả những khuôn mặt đều ẩn giấu nỗi lo ngại., nhưng không hoàn toàn thất vọng vì dù sao, không nơi nào có thể khổ hơn ở đây. Đói khát và lao động quá sức làm con người mòn mỏi dần dần, sức chịu đựng lâu ngày trở nên chai đá. Ngay bây giờ có đem ra pháp trường xử bắn, chắc chắn chúng tôi không còn sợ sệt, lại còn cảm ơn, cho đó là sự giải thoát mầu nhiệm.

Nhưng không, nếu muốn, Cộng Sản đã giết rồi chứ đời nào chúng còn để “cái của nợ” này sống lây lất tới bây giờ và còn nữa! Cái nham hiểm của Cộng Sản ở chỗ đó. Giết, sợ mang tiếng đối với quốc tế và gây căm phẫn trong lòng dân chúng miền Nam, dù Cộng Sản cũng chẳng ưa thích gì miền Nam đã từng chống đối họ suốt mấy chục năm.

Tên Công An vũ trang giải tù cho lệnh mọi người mang đồ ra cổng. Tôi nhìn lần cuối toàn thể khu vực Trại Cải tạo Trung Ương số 1. Giờ này, toàn trại chưa mở “chuồng” ngoài toán phụ trách bếp. Chiếc sân rộng vắng hoe, những chiếc lá vàng rơi đầy, tao nên hoang vắng, sự hoang vắng ghê sợ của trại Tập Trung, có lẽ, kiên cố nhất của miền Bắc. Ở hai bên sân, hai khu riêng biệt. Những bức tường cao, nhẵn thín quây chặt từng khu, mầu vôi trắng quét lâu ngày, mưa nắng làm loang lổ. Một khu nằm sát mặt sân, còn khu kia ở trên cao, phải leo dăm bẩy bậc thang xây gạch. Ở bên lề, có những cây cao, tàn lá trải rộng. Hàng cây này có lẽ được trồng từ hồi mới lập trại, nên chúng cao ngất. Tôi nhìn từ chiếc cổng chính tới cuối sân, khu nhà bếp, nơi có vài bóng người qua lại.

Gần đấy, căn nhà khám bệnh, nơi đã cho tôi nhiều ấn tượng căm phẫn, hận thù. Những người bệnh đến khám nơi đây, trừ toán nhà bếp thường đem cho tụi nó bánh mì, khoai sắn nên được đối đối xử tử tế, còn lại đều được đánh giá như những kẻ ăn xin, những kẻ được ban ơn!

Căn nhà Hội Trường to lớn làm bằng cây rừng và tre nứa, có chỗ xây gạch do công lao khó nhọc của mấy trăm tù lao động khổ sai, suốt mấy tháng mới tạo dựng lên. Tôi chợt nghĩ đến những ngày gió mưa rét mướt trong mùa đông vừa qua, từng đoàn người lam lũ đi vào rừng lấy gỗ đường kính 3 tấc, dài 5-7 thước, họ vừa khiêng, vừa té lên té xuống trên những con dốc trơn trượt, tự nhiên lòng tôi dâng lên mối xúc động. Giờ này, chắc anh em toàn trại đã thức hết, nhưng chưa được ra. Chỉ riêng chúng tôi, những kẻ được coi như “nguy hiểm cho chế độ” dù đang bị giam giữ, vì chuyển trại, nên mới được nhìn cái cảnh tượng đặc biệt của nhà tù số 1, trong buổi sớm mai.

Những tên Công An quản giáo và vũ trang đi lại rộn ràng như cần giải quyết những vấn đề cấp bách. Thôi, giã từ nhé, những gì trong thời gian qua, đã tạo cho ta bao nhiêu kỷ niệm, dù vui hay buồn. Giã từ những ngày đói rét, xin ăn nhục nhã. Giã từ chỗ ngồi quen thuộc mỗi sáng, mỗi chiều chờ đi lao động. Giã từ căn “chuồng” ta đã sống, đã ngủ, đã gặp những ác mộng mỗi đêm. Giã từ anh em thân, người sơ!

Tiếng động cơ xe hơi đã nổ ngoài cổng. Tên Kỳ giục chúng tôi mang đồ ra xe. Bây giờ trời đã sáng rõ. Tôi nhìn số anh em đông đảo, khiêng vác khệ nệ giành nhau ra trước. Tôi nghĩ, có lẽ do truyền thống, luôn luôn tranh giành, cái gì cũng muốn được hơn người, ngay cả chuyện còng tay, hình như sợ, nếu chìa tay muộn sẽ hết còng.

Tôi, người sau cùng bước ra khỏi cổng, chiếc cổng được xây cất thật kiên cố, với hai cánh bằng sắt dầy, mỗi lần mở kêu ken két nghe rùng mình. Khi đến nơi, tôi nhìn thấy hai chiếc xe vận tải màu xanh đậu lù lù trước mặt và chiếc xe Jeep kiểu Liên Xô đậu gần đấy. Những tên Công An vũ trang đông nghẹt, đứng đầy xung quanh xe và trên mô đất cao. Những khẩu AK cũ rích do Bộ đội thải ra, phát lại cho Công An dùng. Dưới chế độ Cộng Sản, Công An là lực lượng chuyên về nội trị. Họ được Nhà Nước ban phát rất nhiều quyền hành vì sự ổn định chính trị trong nước có hay không đều do sự hoạt động tích cực hay trì trệ của guồng máy Công An . Bộ đội chỉ chuyên đánh trận. Do đó, nghe nói luôn luôn có sự va chạm quyền lực giữa hai khối vũ trang này.

mạnh hải flickr

Tất cả anh em đã lên xe, chỉ còn tôi và Liêm đứng dưới. Liêm, người bạn tù chưa hề quen biết, trông hiền lành nhẫn nhục. Chúng tôi quăng gói đồ lên xe. Lòng xe chật cứng. Anh em đều bị còng tay, hai người một. Mỗi xe chứa 26 người cùng tư trang. Chiếc xe lần này không giống các chuyến xe đã đưa chúng tôi chuyển trại lần trước. Nó có hàng chấn song bằng gỗ vuông 3 phân, ngăn cách giữa chúng tôi và tên Công An vũ trang ngồi sát tấm chắn hậu. Một cánh cửa nhỏ có khoá và sợi xích sắt buông lòng thòng. Chiếc ghế đẩu kê ngay lối đi, dành cho Công An áp tải.

Chiếc còng số 8, chúng tôi thường gọi đùa là “Seiko ết” được mở ra, úp chụp lấy hai cổ tay. Tên Công An ấn còng. Một tiếng “cách” khô khan, làm rùng mình. Chiếc còng quá cũ đã sét rỉ và thô sơ vì là đồ nội hoá. Từ ngày bố mẹ sinh ra tới hôm nay, 16-7-78, tôi mới biết còng tay là cái gì. Nó vướng vất khó chịu vô cùng. Nó xác định, tôi là người tù chính cống. Tuy không nặng bao nhiêu, nhưng nó lại có sức làm ai đeo nó cảm thấy nhục nhã, hổ thẹn và hình như nó có sức nặng ngàn cân trong mỗi suy nghĩ, mỗi hành động. Nếu Liêm làm một cử động gì bằng cái tay bị còng, bắt buộc tôi phải làm theo như vậy, trái lại Liêm cũng thế. Do đó, từ lúc bị còng, chúng tôi ít khi xử dụng cánh tay bị còng, chỉ dùng “cánh tay tự do” còn lại để giải quyết những gì cần tới!

Sự thực, tụi Công An cũng quá nguyên tắc. Làm sao chúng tôi có thể trốn được khi chiếc xe được quây kín như vậy. Mui xe không che bằng chiếc bạt vải như mọi lần, mà được thực hiện bằng loại tre cật đan kín, kẹp lá nón ở giữa nên rất chắc. Hơn nữa, có hai tên Công An vũ trang nồi trước và sau, có hàng chấn song gỗ ngăn cách, trốn cách nào? Chúng tôi đang ở giữa mảnh đất Xã Hội Chủ Nghĩa, làm sao lọt qua được màng lưới an ninh của địa phương mà chúng tôi không thuộc địa hình? Họ áp dụng luật lệ này, nhằm mục đích áp đảo tinh thần nhiều hơn.

Từ lòng xe, qua chấn song gỗ ngăn cách, cửa đã khoá chặt, thấy tên Kỳ đứng dưới, tôi muốn nhổ vào mặt nó bãi nước miếng. Tôi ghét nó không phải vì bị mất chiếc Zippo, nhưng vì nó đối xử tàn ác với anh em tôi trong thời gian vừa qua và còn sau này nữa. Cơn giận qua đi cùng với tiếng xe rồ máy. Hai chiếc nối đuôi nhau chạy. Chiếc xe Jeep theo sau.

Mặt trời đã lên, giữa một vùng đầy mây trôi nổi bềnh bồng. Từng vệt nắng trải dài trên những quả đồi trà làm mầu xanh nổi bật giữa mầu đất đỏ au. Chiếc xe lăn qua “hiện trường” nơi tôi đã đổ bao nhiêu giọt mồ hôi trong mùa nắng, nơi tôi đã gánh chịu bao nhiêu cực nhọc trong mùa đông, mưa phùn gió bấc. Tôi nhìn bãi đất trâu dẫm bây giờ đầy nước như chiếc hồ nhỏ. Nhìn những quả đất cao nghệu được che bằng những tấm liếp cũ nát, tôi vẫn rùng mình! Tôi cố tìm xem “quả đất” mà tôi đã dẫm hôm qua nằm ở đâu. Nó vẫn có đó, nằm im lìm bên cạnh đống gạch vụn ngổn ngang. “Hiện trường” vắng ngắt vì không có lao động. Chiếc lò gạch và ngói đang hoạt động, lửa cháy rực từ miệng lò đỏ hồng, nhìn đẹp mắt!

Thôi, giã từ nhé, dù ngày mai đây, ta ở nơi góc biển chân trời nào, ta không bao giờ quên mi, quên những bước chân rã rời, đã qua lại trên những lối mòn đó, quên những lùm cây, nhánh cỏ, quên những quả đồi trà đã ghi lại trong ta nhiều đắng cay, tủi nhục! Quên làm sao được những ngày dài đói khổ, bụng đói như cào, chân vẫn đạp đất lạnh giá, thèm từng điếu thuốc lào, từng củ khoai, khúc sắn thèm đi! Giã từ, giã từ nhé!

Chiếc xe tăng dần tốc độ. Trại nữ tù im lìm sau con đường đất nhỏ dần tới cổng. Không bóng người qua lại. Trại này bằng lá, nên trông không dữ dằn như Trại Cải Tạo Trung Ương số 1. Tuy chẳng có chút liên hệ nào, nhưng tiện đây, ta cũng gửi lại lời chào và cầu chúc cho tất cả gặp nhiều may mắn, nhất là cô gái đã vì tình yêu, mỗi ngày mất một chiếc bánh mì luộc và cô gái cũng vì yêu trái với đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước, đang kéo lê những ngày buồn vô thời hạn trong lúc men tình rạo rực trong mỗi tế bào tuổi trẻ…

Chiếc xe đi lọt thỏm trong vùng hẻo lánh, xung quanh toàn núi rừng cao ngất. Ngoài tiếng máy, không còn tiếng động nào khác. Tôi nhìn thấy một dòng suối khá lớn đang chảy song song với con đường. Những cành lá rủ xuống nước với những cụm hoa rừng làm cảnh vật tăng phần quyến rũ. Nhưng tất cả đều thoáng hiện, thoáng mất theo tốc độ. Chiếc xe Jeep cứ lẽo đẽo theo sau, tuy sức nó có thể vượt qua hai chiếc xe lớn dễ dàng! Tên sĩ quan Công An, đeo súng ngắn, đầu trần, gió thổi tóc hắn rối tung. Phía sau có ba tên Công An ngồi, súng AK dựng đứng. Vì ngồi sát chiếc chấn song gỗ như chiếc cũi nên tôi nhìn rõ hết. Xe chạy vòng vèo khi lên khi xuống, toàn đi quanh sườn núi, không qua một thị trấn nào. Có lẽ đây là con đường chiến lược làm từ thuở kháng chiến chống Pháp, nên nó không chạy song song với quốc lộ. Nhiều chỗ núi cao, mặt trời chưa chiếu xuống được, trông âm u như đang di chuyển trong đường hầm. Phong cảnh thay đổi luôn luôn khi sáng, khi tối, có nơi cây cối xanh um, mầu lá khác biệt, tạo nên cảnh trí vô cùng linh động. Các độ mầu đậm, nhạt xen kẽ, đan kết với nhau làm cho mầu xanh trở thành một tấm thảm biến ảo khôn lường, có khi sâu, có khi nông, tưởng có thể sờ mó, cầm giữ được. Nhưng cũng có những đoạn đường trơ vơ vách đá sừng sững, nặng nề khô khan, nhìn mãi mỏi mắt. “Thiên nhiên là một ông thầy”, câu nói của nhà danh hoạ Corot quả đúng trong hoàn cảnh này!

Tên Công An vũ trang chắc không chịu được sự lên xuống, vòng vèo của đường rừng núi, hơn nữa lại ngồi phía cuối xe nên nôn thốc tháo từng chặp. Mặt mũi nó xanh lè như tầu lá. Con đường từ Nghĩa Lộ lên Lào Cai đẹp ra sao, tôi không được biết, vì độc dược đã làm tôi hôn mê, nhưng tôi chắc cũng không hơn gì con đường này vì đường núi rừng nào cũng vậy cả.

Mấy tiếng sau, đoàn xe rời khỏi vùng rừng núi. Phong cảnh hai bên đã thoáng. Những dẫy đồi thấp nhấp nhô, khô cằn, phơi mình dưới mầu trời bàng bạc sắp đổ mưa. Dẫy Hoàng Liên Sơn đã mờ nhạt sau lớp cây phía xa xa. Đã mấy năm, tôi sống ở dưới chân nó, trong những chỗ khuất nẻo và gánh chịu nhiều đắng cay, tủi nhục, nhưng nó có biết gì? Và hiện nay, còn biết bao nhiêu anh em của tôi còn đang sống, hàng ngày lê những bước chân đọa đầy ngay trong lòng nó, nhưng chính nó là bức trường thành đã a tòng với Cộng Sản để giam giữ chúng tôi trong một môi trường quá ư khắc nghiệt!

Hôm nay, mỗi phút, tôi xa rời nó, vì xe càng chạy, trước mặt tôi trải dài một vùng chân trời rộng lớn. Cơn mưa đã bắt đầu rớt xuống. Những hạt mưa không to nhưng rơi đều làm mặt đường nhớt nhát, dễ trơn trượt. Nhưng chẳng vì thế, đoàn xe hạ tốc lực, nó vẫn lao nhanh dưới lớp mưa. Cảnh vật bị xoá mờ, dẫy Hoàng Liên Sơn chìm khuất sau màn nước dầy đặc. Nhưng cơn mưa không kéo dài, chừng nửa tiếng sau trời lại nắng, nhưng cái nắng rất yếu vì bị những tảng mây khổng lồ ngăn chặn.

Đến gần trưa, xe đỗ lại cho làm nhu cầu vệ sinh! Chiếc khóa cửa được mở. Vì ngồi ngoài, tôi và Liêm xuống trước. Tay vướng còng nên rất khó cử động, chúng tôi bảo nhau cùng nhẩy một lượt, chứ kẻ xuống trước, người sau, còng nó siết vào tay chịu gì nổi? Một, hai, ba chúng tôi cùng nhẩy. Mọi người đều làm vậy. Tôi thấy chột bụng, muốn đi cầu, Liêm phải đi theo. Tuy không muốn, nhưng Liêm cũng ngồi xuống như tôi. Chẳng hiểu sao, hôm nay bụng dạ tôi tự nhiên bê bối quá. Phân đi chẳng bao nhiêu nhưng bụng đau quặn liên hồi, cứ mót mà không sao đi được. Để Liêm chờ lâu quá, không tiện, tôi đứng dậy bước ra khỏi lùm cây. Từng cặp một, anh em người đi tiêu, kẻ đi tiểu, lần lượt ra khỏi bãi đất. Một tên Công An tiến đến phía chúng tôi, bảo:

– Các anh được nghỉ tại đây nửa tiếng để ăn trưa. Ăn xong đi thẳng, không ngừng ở đâu nữa.

Mọi người lục tục lên xe. Lần leo có vẻ khó hơn lần xuống vì chỉ lên được từng người. Nhưng hoàn cảnh nào tù cũng tìm cách cho mình đỡ khổ, nên mọi người vẫn leo lên thoải mái bằng cách người nọ kéo kẻ kia. Anh em lục tục mở cơm vắt ra ăn. Có người đã ăn hết trong lúc xe chưa di chuyển. Tôi thấy mệt và đau bụng không muốn ăn. Biết rằng nếu không ăn kịp, cơm vắt từ tối qua có nhồi miếng thịt mỡ sẽ hư, nên tôi biếu một anh bạn còn đói. Liêm mở gói cơm, cho tay vấu từng miếng đút vào miệng. Chắc Liêm cố ăn cho dạ dày đầy chứ chẳng ngon lành gì, vì hắn nhai hoài, mãi chưa nuốt. Cuối cùng Liêm cũng chỉ ăn hết nửa vắt cơm, nửa vắt còn lại, anh đem cho!

Vài người dân đi qua, dừng lại nhìn chúng tôi bằng con mắt tò mò.

Đoàn xe lại chuyển bánh. Một tên Công An vũ trang khác thay thế, ngồi vào ghế sau khi khoá cửa ngăn cách. Muốn quên cơn đau, tôi hỏi Liêm:

– Vì sao ông đi cải tạo. Trông ông không thuộc diện quân đội.

mạnh hải flickr

– Tôi là Hội Đồng tỉnh Quảng Ngãi, bị đưa ra đây từ cuối năm 76.

– Ông qua nhiều trại chưa?

– Không, từ ngày ra, ở luôn tới hôm nay.

– Sao tôi không gặp ông đi lao động bao giờ?

– Tôi ở Đội chẻ tre, làm mành mành xuất khẩu, do đó khỏi đi lao động xa.

– A, tôi biết. Làm công việc đó nhàn nhưng buồn chết.

– Ở tù, mình đâu có quyền chọn lựa?

– Đúng.

Như vậy, tội của Liêm cũng nặng lắm. Tội làm “Ông Hội Đồng” ở nơi sinh quán của thủ tướng Phạm văn Đồng, ít nhiều gì Liêm cũng đóng góp công lao của mình trong vấn đề chống Cộng, mà chống tích cực nên mới được bầu vào Hội đồng Tỉnh. Nhưng, bên cạnh tôi, Liêm – một người rất hiền lành, ăn nói nhỏ nhẹ, có tinh thần chịu đựng, chẳng thấy anh phàn nàn gì về chiếc tay bị còng. Không như tôi, lầm rầm chửi rủa Cộng Sản!

Có tiếng “kéo pháo” ở sau lưng. Khói thuốc tỏa ra hương thơm quyến rũ. Tôi quay lại. A, Phùng , người bạn tù làm chung ở hiện trường gạch ngói, tuy khác Đội. Tôi ngỏ ý xin bi thuốc. Phùng vui vẻ nhồi thuốc vào nõ, xong đưa tôi. Chiếc điếu cầy xinh xinh bé bằng cổ tay đứa nhỏ, ngắn chừng 2 tấc, chúng tôi thường gọi “điếu lao động” hay “điếu mini”. Nó bé gọn, dễ mang, bỏ trong túi áo cũng được. Hút tuy không ngon bằng điếu lớn, nhưng lúc này có nó cũng đỡ. Đưa điếu lên môi, Phùng châm lửa bằng mẩu giấy, dí vô. Tôi kéo một hơi dài. Từ sớm chưa hút điếu nào nên khói thuốc làm tôi ngây ngất, nghiêng ngã trong lòng xe chật chội.

Sau khi hả cơn say, bụng tôi lại đau âm ỉ. Tôi xin tên Công An vũ trang cho dừng xe để đi cầu. Nó không trả lời, cứ ngồi trơ như pho tượng. Chiếc xe vẫn chạy bon bon trên con lộ trải nhựa, hai bên đồng ruộng trải dài xa tắp. Sau bí quá, chịu không nổi, tôi lấy chiếc bao nylon, đi vô đó, xong luồn tay qua chấn song, vứt xuống đường. Tên Công An nhìn thấy, chẳng nói gì. Vừa đi xong, chừng 15 phút lại mót, bụng đau như có sợi dây cước siết chặt. Tôi lại tìm bao nylon làm y như lần trước. Đi chừng vài bận, bao nylon hết, giấy chùi cũng không còn. Tôi chẳng biết giải quyết ra sao nếu tình trạng này không sớm chấm dứt. Nhưng cơn đau khi có khi không, khó chịu vô cùng. Tôi lấy tấm nylon, vẫn dùng thay áo mưa, trải ở phía dưới, rồi tụt quần sẵn, để khi cần cứ đi vào đó.

Mùi phân xông lên khó chịu, nhưng Liêm không nói gì, anh còn tỏ vẻ thương xót. Tôi chợt nghĩ đến chén canh rau muống sáng nay, được bón toàn bằng phân người. Có lẽ trong đêm tối, toán nhà bếp rửa dối, cơ thể tôi yếu nên bị nhiễm trùng. Tên Công An thỉnh thoảng liếc nhìn. Mắt tôi hoa lên, người mệt rã rời. Phùng mời thuốc, tôi cũng không muốn hút nữa, chỉ mong chóng tới nơi để xin thuốc uống. Có thể anh em có thuốc, nhưng làm sao lấy trong hoàn cảnh này? Vì đau và mệt quá nên tôi không còn muốn nhìn phong cảnh dọc đường. Phía sau, một công-voa của bộ đội bóp còi đòi qua mặt, nhưng đoàn xe chở tù nhất định không nhường. Chờ đến quãng rộng, chiếc xe bộ đội phóng qua thật lẹ. Vài phút sau tự nhiên chiếc xe chở chúng tôi từ từ dừng lại. Những tiếng kêu oai oái từ đầu xe vọng lại. Tên Công An vũ trang nhẩy xuống đất nhìn. Phía sau, những chiếc áo xanh chạy đến, có người cầm cây sắt vung cao, xông tới đập tên Công An vũ trang. Tên này trúng một cây, chạy mất. Tôi nhìn khẩu trung liên đặt trên nóc ca-bin chiếc Molotova đậu sát chiếc xe chở chúng tôi. Có một tên đang ghì báng súng quay qua quay lại như sẵn sàng nhả đạn. Bộ Đội đánh Công An! Có tiếng nói khẽ trong xe. Nhưng rồi, chẳng biết họ giải quyết với nhau ra sao, sau cũng êm. Tên Công An vũ trang bị đánh một cây gậy lại leo lên xe, nó đưa tay lên vai xoa xoa, có vẻ đau đớn. Chờ đòn công-voa đi hết với những tiếng reo hò chế giễu, hai chiếc xe chở chúng tôi lại lăn bánh. Tôi vẫn ở trong tình trạng bê bối, ngồi ngay trên bãi phân của mình.

Đoàn xe qua Việt Trì, rồi Vĩnh Yên. Đến đây, đoàn xe dừng lại. Những tên Công An xuống xe đến một quán hàng mua nước ngọt uống. Mỗi đứa cầm một chai ngửa cổ tu cạn, xong lại lên đường. Mặt trời chỉ còn cách chân trời khỏang ba con sào. Đoàn xe hình như xả hết tốc lực. Tôi nghe tiếng gió thổi vù vù. Cảnh vật hai bên lùi nhanh trước mặt. Tôi thầm nghĩ chắc họ đưa mình về giam ở Hỏa Lò Hà-nội. Nhà giam này tôi biết. Nó nằm gần Toà Án, rộng cả một khu phố, xung quanh có tường đá bao bọc và những dây điện giăng kín trên cao. Chẳng biết ngày mai sẽ ra sao. Vì lý do nào, 48 viên độc dược không kết thúc đời tôi từ năm ngoái, bây giờ xương thịt đã nát tan dưới lòng đất nơi xó rừng nào đó, đâu còn gánh chịu thêm những cảnh khốn khó này?

Tôi cứ “đi” vào tấm nylon từng chút một, bụng vẫn đau như xé. Liêm ngồi bên chịu đựng. Chiếc tay bị còng mỏi rã rời vì không cử động. Tôi nhắm mắt thiêm thiếp, ngả đầu vào vai Liêm.

Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

5 Tháng Ba, 2021

Nguyễn Đức Tùng

gởi Kathy Hoang

Post by Sơn râu 22 May 2024

Kỳ 8

Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát, là chanson poétique.

Tiếng em hát giữa giáo đường

Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đúng ra, thơ ông có điệu nói lẫn điệu hát. Là tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa: đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ kiêm thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ. Vậy phải có mấy thứ cùng lúc: văn hóa và văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu “rằng xưa có gã từ quan” là câu thơ được nhớ nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng tôi nghĩ có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của Động hoa vàng “Mười con nhạn trắng về tha”, thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn?

Bạn nói vậy hoá ra câu “rằng xưa” ấy không có giá trị gì? Cũng không phải thế. Đó là câu nghe qua cũng tầm thường, nhưng với lối nói lửng lơ, nhiều hư từ, của người Việt, nó lại gợi ra nhiều thứ. Nó mở ra, mông lung. Bùi Giáng có nhiều câu như vậy. Một chữ thành công phải đúng thời điểm, mở đúng cánh cửa. Mà một cánh cửa chỉ có một người mở. Nhưng trước hết nó phải kết tụ tiếng nói của dân tộc, như một thứ “tổng kết thời đại.” Ở miền Nam ai không thấy cảnh nữ sinh áo dài tha thướt ùa ra cổng giờ tan trường, nhưng phải đến Phạm Thiên Thư, thơ mới bật ra bốn chữ:

Em tan trường về

Cũng một trường hợp khác, ví dụ, Nguyễn Tất Nhiên, với:

Có còn hơn không

Mà ông thường có những câu những chữ như thế. Đây là một ví dụ khác:

Thì thôi mù phố xe đường

Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nhiều hư từ. Nhưng trong lần đọc đầu tiên, tôi nhớ liền. Những chữ như thế xưa nay vẫn dùng, nhưng khi kết hợp lại, chúng trở nên mới.

Có ngần ấy thôi

Tất nhiên là từ câu Kiều;

Ái ân ta có ngần này mà thôi

Nhưng tám chữ ấy tuy hay thì hay thật, Nguyễn Du mà không hay?, lại rõ ràng, cay đắng quá. Cắt ra bốn chữ: thành mơ hồ. Cái gì ngắn cũng mơ hồ. Chỉ có một chữ thần tình phải giữ lại, chữ ngần. Chữ ấy được ông dùng tới vài lần nữa. Phạm Thiên Thư láy ca dao:

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

Động tác leo trèo là quan trọng nhất, trèo lên cây bưởi hái hoa, chứ không phải chữ, vậy nên thi sĩ đổi phắt chữ trèo trong ca dao thành leo, miễn nó hợp vần. Một câu thơ hay không bao giờ để chúng ta yên. Nó đánh thức người ta như tiếng chuông. Đang ngủ, nó dựng bạn dậy. Ủa, tiếng chuông văng vẳng đâu vậy kìa?

Ngày xưa anh đón em

Nơi gác chuông chùa nọ

Có bạn còn tưởng mình đang ở Tô Châu, gần chùa Hàn San.

Thì ra sự nối kết của loài người lớn hơn nỗi cô đơn của họ.

Tôi cần nhấn mạnh rằng mặc dù tạo ra chữ mới hay tập hợp các chữ mới là một đóng góp của Phạm Thiên Thư, chính khuynh hướng thẩm mỹ của ông, tư duy nghệ thuật của ông, phù hợp với thời đại của mình, mới là nguyên nhân làm cho thơ ông có giá trị lâu dài. Ngay những bài thơ đầy hoài niệm cũng biết lay gọi, đặt câu hỏi. Những câu hỏi kín đáo, xa vời, nhưng ám ảnh. Bài thơ đầu tiên của Phạm Thiên Thư là bài tôi vừa nhắc, Vết chim bay:

Ngày xưa anh đón em

Nơi gác chuông chùa nọ

Con chim nào qua đó

Còn để dấu chân in

Anh một mình gọi nhỏ

Chim ơi biết đâu tìm

Mười năm anh qua đó

Còn vẫn dấu chân chim

Anh một mình gọi nhỏ

Em ơi biết đâu tìm

Ngày xưa anh đón em

Trên gác chuông chùa nọ

Bây giờ anh qua đó

Còn thấy chữ trong chuông

Anh khoác áo nâu sồng

Em chân trời biền biệt

Tên ai còn tha thiết

Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây

Cho tình anh chớm nở

Như chân chim muôn thuở

In mãi bậc thềm rêu

Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Còn chi trong giả tướng

Hay một vết chim bay!

Nhịp năm chữ. Bài này được Cung Tiến phổ nhạc, hình như trước Phạm Duy với Ngày xưa Hoàng Thị, nhịp bốn chữ. Nếu là bài thơ đầu tiên thì cũng hợp lý, vì ngôn ngữ mộc mạc, không tài hoa như bài kia. Tuy vậy đã lộ ra phong cách riêng trong những câu như:

Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Những chữ như “vô lượng” hay “giả tướng” của nhà Phật lần đầu được đưa vào thơ, mà đưa tài tình. Nghệ thuật của Phạm Thiên Thư nhấn mạnh ở sự lặp lại. Âm nhạc là lặp lại, hay trùng điệp. Trong một bài thơ ngắn, chữ chim xuất hiện năm lần, chữ chuông bốn lần. Trùng điệp (repetition) là thứ dễ nhất mà cũng khó nhất trong nghệ thuật tu từ. Bên cạnh chữ và nhạc điệu, thơ Phạm Thiên Thư có hình ảnh đẹp, nhưng mang tính tượng trưng. Chẳng hạn, hoa trong thơ ông, hoa đào, hoa lan, hoa vàng, cũng nhiều như hoa trong Thơ mới, trong thơ Chế Lan Viên sau này, nhưng chúng hiện hữu như biểu tượng: nhà thơ không mô tả một bông hoa cụ thể; không cảm xúc vì một cái bông riêng biệt nào; chúng xuất hiện như cái phông (background) hay như một đại diện, gây ra các liên kết. Con người khác nhau, cô đơn, nhưng đó chỉ là những quan sát bề mặt, vì từ trong sâu xa họ chỉ là một.

Lần lưng còn một hạt đào

Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.

Nguyện sau cây lớn xum xuê

Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.

Nguyện xin trái thẫm hoa tươi

Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.

Bốn câu trên là thơ, hai câu dưới là kệ. Nhờ liên kết trong không gian mà chúng ta có thế giới, nhờ liên kết trong thời gian mà chúng ta có lịch sử. Mối quan hệ giữa tính nghệ thuật và tính thông điệp không phải dễ giải quyết. Trước hết bài thơ phải được bạn yêu mến, sau đó nó mới có thể làm bạn thay đổi. Thơ lục bát là loại thơ có hệ toạ độ, người đọc có thể đóng vai người viết và ngược lại: không có sự khác biệt lắm giữa sáng tạo và thưởng thức. Trong nghi lễ và phong tục, con người trở lại với nhạc điệu, vì vậy mà có hai chữ thơ ca, làm sống lại tình yêu đối với cuộc sống. Thơ Phạm Thiên Thư, cũng như nhiều nhà thơ ở miền Nam thời ấy, sử dụng nhiều thơ có vần. Thực ra, về hình thức, như thế là cũ. Chim chóc, suối, hoa, rừng, cũng là những hình ảnh không có gì mới, nhiều thi nhân đã nói, nhưng đến Phạm Thiên Thư chúng trở thành thiêng liêng.

Lớn lên giữa núi xanh rì

Cỏ hoa như thể tứ chi cận kề

Chữ tứ chi cũng là thần tình. Ẩn dụ là liên kết hình ảnh có tính linh cảm giữa hai sự vật, là hoạt động vô thức, bạn không biết tại sao, có những mạch ngầm bên dưới không hiểu được, những mạch ngầm ấy được chia sẻ bởi nhiều người. Phép ẩn dụ vừa cần mới lạ, gây ngạc nhiên, nhưng cũng phải chừng mực, dễ hiểu. Không những “động hoa vàng” là câu chuyện về “gã” bỏ quan trường về, mà còn là hình ảnh của con người bơ vơ đi tìm nguồn cội. Ẩn dụ của Phạm Thiên Thư lớn, đẹp, hòa hợp với tâm thức người Việt, trong một xã hội loạn lạc.

Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn

Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu

Tiếng nàng hát vọng đôi câu

Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ

Lều tranh còn ủ chăn mơ

Mối tình là một bài thơ vô đề

Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề

Gió Xuân nay có vỗ về suối hương

Đêm nao ngồi học bên tường

Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm

(Đoạn trường vô thanh)

Thơ tình không tạo ra niềm hy vọng giả dối nào: chúng đều buồn. Vì hầu hết tình yêu sẽ thất bại. Con người chấp nhận thất bại trước số phận nhưng không bỏ cuộc, mà suốt đời săn đuổi ý nghĩa của tồn tại, ý nghĩa của tình yêu, của đau khổ. Một chủ đề thường xuyên của Phạm Thiên Thư là mối quan hệ giữa tình yêu và cái chết, cuộc sống và sự lụi tàn. Xoay quanh chủ đề ấy, phong cách nghệ thuật của ông ngày càng rõ nét.

Hè sang phượng nở

Rồi chẳng gặp nhau

Ôi mối tình đầu

Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?

Bài thơ nói về sự vô vọng, sự trống rỗng, cuộc trò chuyện giả tưởng giữa hai người. Thực ra chưa phải là tình yêu mà là ước muốn, theo đuổi, tìm kiếm, chia ly, sự im vắng của kỷ niệm được ngôn ngữ bắt giữ, trở thành một thế giới không thể hiểu được, trở thành lời thì thầm độc thoại. Đôi khi bài thơ tựa như cách diễn tả những cảm xúc khác nhau, thăm dò những tình huống trái ngược, nhờ vậy tạo ra đáp ứng ở người đọc. Chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn là khuynh hướng lớn của thơ miền Nam thời kỳ Phạm Thiên Thư, bên cạnh khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng hiện sinh. Trong khi ở ngoài Bắc cùng thời nó đã bị thay thế bởi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì trong Nam sau một thời gian lùi bước, có sự quay trở lại của phong cách lãng mạn, mà Phạm Thiên Thư là tiêu biểu. Nhưng đó là một chủ nghĩa lãng mạn mới, hiện đại hơn; và tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư cũng pha màu siêu thực, là những thử nghiệm: tình yêu tuổi học trò ở một người đã qua giai đoạn ấy, tình yêu trần tục ở một thiền sư, tình yêu của cổ nhân trong con người hiện đại. Đó là tình trạng hưng cảm kèm với lo âu, lo âu về bản thân mình và về đối tượng hướng tới, bề ngoài gần gũi với thiền, mà bên trong là sự lo lắng. Thực ra:

anh trao vội vàng

chùm hoa mới nở

là những câu phi thời gian. Không còn cũ hay mới. Cũng như:

nhưng mỗi năm mỗi vắng

người thuê viết nay đâu

(Vũ Đình Liên)

Nhiều nhà thơ đương đại tránh xa xúc cảm. Kể ra cũng phải, thế giới ngày nay đòi hỏi một cách biểu hiện khác cho những tình cảm mới, giữa những người sống không quá khứ, không lý tưởng, quay đảo trong cơn lốc của chủ nghĩa tiêu thụ, ngày càng xa nguồn cội. Trong hoàn cảnh ấy, Phạm Thiên Thư là người đại diện cuối cùng của một không khí tiền chiến kéo dài. Kỳ lạ thay, ngay trong chiến tranh, cận kề cái chết, con người có thể sống đẹp như huyễn mộng. Có một cố gắng phối hợp giữa các ý tưởng luân lý hay triết học và sự giản dị có tính thơ ca, nhưng không phải khi nào Phạm Thiên Thư cũng thành công và đạt đến sự hài hòa.

Con ơi con ngủ cho lành
Chắt chiu nguyện ước gửi vành trăng non
Mẹ nghèo còn tấm lòng son
Giờ gieo câu đố, con tròn mộng sau
Thẳng gì hơn những thân cau
Mềm gì hơn những dây trầu leo quanh

(2009)

Tuy vậy, mười bài Đạo ca của ông là một thành tựu xuất sắc, được Phạm Duy phổ nhạc, và nghe nói Thái Thanh thích hát nhất.

Xưa em là kiếp chim

Chết mục trên đường nhỏ

Anh làm cội băng mai

Để tang em, chờ mấy thuở

Xưa em là chữ biếc

Nằm giữa lòng cuốn kinh

Anh là thiền sư buồn

Ngồi tụng dưới ánh trăng

Tình cảm tác giả chất phác, mà ngôn ngữ thì không.

Cái chết không chỉ là sự chấm dứt đời sống mà còn là khởi đầu của một loại thời gian khác. Chúng ta đến đó, gần bờ vực, biết rằng bên kia mọi việc đã thay đổi, có người than khóc, có người kể chuyện, hát những bài hát. Bài Em đi lễ chùa của Phạm Thiên Thư là một trong những bài thơ đặc sắc nói về cái chết. Hình như người kể là một tu sĩ trẻ, và nhân vật nữ là có thật. Nó nhắc tôi nhớ đến bài của Huyền Kiêu:

Hạ đỏ có chàng tới hỏi

Em thơ chị đẹp em đâu

Chị tôi hoa trắng cài đầu

Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Tất cả sức nặng của tình yêu, chiều sâu của cái đẹp, sự tiếc nuối, lòng thương xót, quyện vào nhau. Bài thơ là lời ai điếu cho người ra đi, nhưng cũng là tiếng cầu kinh, giúp một linh hồn sớm về cõi khác. Về đâu?

Sao ta biền biệt chưa về

Lưng đồi sim tím bốn bề chim ca

Joseph Huỳnh Văn viết trong tập Động hoa vàng: “Tìm về cái muôn thuở- muôn nơi cũng có nghĩa là không về đâu cả, nên trong thơ, người thi sĩ biết rõ điều nghịch lý đó, hiểu rằng chỉ còn có cách về, chỉ còn có những lời đẹp cho giấc mộng không bến bờ. Những chữ tìm tới giấc mộng không bến bờ không ràng buộc thường có vẻ đẹp hững hờ đạm bạc.” Thơ Phạm Thiên Thư thực ra có nhiều chữ và cách nói cũ, sáo, chứa một thứ triết lý đạo Phật bình dân; mà ông cũng không cố tỏ ra là bậc chân tu biết nhiều hiểu rộng. Sự việc một thiền sư làm thơ tình và thơ hay đã gây dư luận sôi nổi một thời. Sau Phạm Thiên Thư, hiện tượng ấy không lặp lại. Thơ ông là một thứ thơ thiền nổi loạn. Câu mở đầu của tập Động hoa vàng trong đoạn đánh số một:

Mười con nhạn trắng về tha

Như lai thường tụ trên tà áo xuân

Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền

Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

Thơ thiền mà tình tứ, không những tình tứ mà nhục thể, gợi tình, táo bạo. Độc giả lúc nào cũng thích ăn trái cấm. Nguyễn Du từng dạy: tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng vị thiền sư này làm ngược lại, ông kết hợp hai thứ. Ông nổi tiếng một phần vì vậy. Nhưng ta cần nhớ rằng những tài năng thực sự cao hơn dư luận. Trong khi tác giả nói về tình yêu thì cũng nói về tính nguyên thủy của tạo vật.

Đoạn trường

Sổ gói tên hoa

Xưa là giọt lệ nay là hạt châu

Đây là Đoạn trường vô thanh, ra đời năm 1972, được tặng giải thưởng văn chương toàn quốc 1973. Tác giả viết tiếp Đoạn trường tân thanh, như một tri âm của Nguyễn Du đến sau mấy trăm năm. Mê Kiều đến thế là cùng. Năm 1992, Phạm Thiên Thư viết: “Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình – gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên – Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm – đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng… Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy – Nay thêm đôi dòng tạ tội. 21-4-1992”.

Non Hồng núi Tản chim ca

Sông Hà sông Cửu la đà dòng xuôi

Núi sông chiếu diện tinh khôi

Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng

Mừng Người Trời Đất tưng bừng

Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh

Những câu thơ cuối nhắc lại niềm mơ ước của thi sĩ: đất nước hòa bình, xã hội thanh bình, thiên hạ thái bình. Phạm Thiên Thư viết rất nhiều thơ trong một giai đoạn ngắn, những năm bảy mươi, điều này làm  người đọc khó theo dõi. Tôi liệt kê lại cho những bạn quan tâm:

– Động hoa vàng (1970)

– Hội hoa đàm (1971)

– Đạo ca (1972)

– Đoạn trường vô thanh (1972)

– Suối nguồn vi diệu – Kinh thơ (1973)

– Ngày xưa người tình (1974), trong đó có các bài Ngày xưa Hoàng Thị và Em lễ chùa này.

– Trại hoa đỉnh đồi (1975)

– Những lời thược dược (2007)

– Hát ru Việt sử thi (2009)

Sau năm 1975 ông ít xuất hiện, thế hệ sau chỉ biết đến ông qua vài ca khúc được Phạm Duy phổ nhạc; nhạc ấy cũng bị cấm phổ biến nhiều năm. Đối với nhiều người khác, thơ ông quá cảm xúc, trong khi thời đại ngày trở nên khách quan, hài hước. Thế giới của ông là một thế giới đẫm vị thiền, phảng phất tình yêu thơ mộng, sầu muộn nhưng không thảm khốc. Tôi nhớ tập thơ Động hoa vàng khổ nhỏ màu vàng trong sáng, do một người bạn gái tặng, có in lời của Thích Minh Châu và bìa sau vẽ minh họa thiền sư Phạm Thiên Thư thật đẹp.

Thời thế thay đổi, chàng thi sĩ của Hoàng thị cởi áo cà sa hoàn tục; người yêu thơ không mấy khi thấy ông nữa. Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Thiên Thư cũng như nhạc Phạm Duy là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội, một thứ kỳ hoa dị thảo chỉ nở trong một giai đoạn khi những giấc mơ được phép sống lại, các thế giới được phép giao thoa. Thực ra Phạm Thiên Thư cũng có cố gắng viết theo yêu cầu mới, sau 75, nhưng không được chú ý mấy. Tôi thấy tiêu biểu là mấy bài như sau đây.

Trong lòng đất thâm sâu

Thốt một nhành thược dược

Đóa hoa như giọt nước

Lóng lánh hồn thiên thâu

Từng cánh hồng đan nhau

Xòe những lời bất tận

Lòng đất già lận đận

Ướp thơm những chùm hoa

Hoa nhiệm mầu trong ta

Đất nhiệm mầu trong nụ

Cây dương cầm vũ trụ

Đất góp khúc tình ca

Thược dược hồng môi hát

Gió tơ trời bay đi

Cây đàn tình xanh ngát

Mười ngón đời vân vi

Ai biết đất nói chi

Trong những lời thược dược

Đóa hoa như giọt nước

Lóng lánh hồn thiên thâu

Trên môi nàng ca sĩ

Những cánh tình bay mau

(Những lời thược dược. 19-12-1988)

Mai em ra trường

Đi xa dạy học

Hứa dạy trẻ đọc

Trang sử đấu tranh

Của dân tộc mình

Miệng cô xinh xinh

Giảng về cách mạng

Và trên vầng trán

Ngời ánh quang vinh

Em đem bình minh

Về từng mắt trẻ

Anh tưởng tượng thôi

Đã rưng nghẹn lệ

Yêu em vô kể

Cô giáo ngày mai

Con đường tương lai

(Ngày mai) (1)

Thơ như thế thì cũng chưa phải là cách mạng lắm. Có lẽ Phạm Thiên Thư giống những trí thức miền Nam trước, ngây thơ, thánh thiện, cũ. Không khí lãng mạn đã chết, thiết chế xã hội nâng đỡ nó không còn, một vài nhà văn vẫn viết nhưng Phạm Thiên Thư gần như đã xong, dù có xuất bản vài tuyển tập khác, và có lần xuất hiện bên cạnh Phạm Duy, trong một chương trình sân khấu rực rỡ. Vậy, thơ giúp người ta sống cuộc đời mình như thế nào?

Một đêm nằm ngủ trong mây

Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời

Bài thơ tựa như người được đánh thức, giây phút bừng sáng chiếu rọi khắp trang giấy. Bất chấp những ý niệm cũ, những chữ đã được dùng nhiều lần, trở nên mòn sáo, sự quyến rũ của Phạm Thiên Thư vẫn còn đó. Ông nhiều lần nhắc đến hình ảnh từ quan:

này mộng ảo trả về mộng ảo

khăn gói lên, treo ấn từ quan

Một bài thơ hay làm ta thao thức, trở đi trở lại, tự hỏi, đặt ta vào dòng chảy của đời sống. Thơ giải phóng con người khỏi thế giới đầy tin tức, những ứng dụng hữu ích, ở đó con người đầu hàng các phương tiện, trở thành một phần của các phưong tiện ấy. Thơ đi ra từ nhịp điệu vũ trụ, bốn mùa, nhịp điệu cơ thể. Thơ làm cho những kinh nghiệm riêng tư chốc lát trở nên có thể hiểu được và tái lập được. Tái lập là điều quan trọng trong các thí nghiệm khoa học và cũng quan trọng không kém đối với nghệ thuật. Một bài thơ hay mang lại cảm giác tương tự, dù bạn đọc ở đâu, lúc nào. Thơ mang chúng ta vượt qua ranh giới giữa hữu thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người nói và người nghe.

Đầu mùa Xuân cùng em đi lễ

Lễ chùa này – vườn nắng tung bay

Và ngàn lau – vàng màu khép nép

Bãi sông bay – một con bướm đẹp

Cái chết là ngưỡng cửa, không những cho người chết mà còn cho người sống. Người sống mới là nạn nhân của cái chết. Kẻ thương tiếc nhận ra cái bóng của sự chết, như nhìn thấy vực thẳm, chia lìa, đoán trước được nó, và sự tiên đoán ấy làm họ lo âu, khốn khổ.

Trời cuối thu rồi em ở đâu

Nằm trong đất lạnh chắc em sầu

(Đinh Hùng)

Thơ Phạm Thiên Thư khác thế, cũng dẫn người đọc đi qua mất mát, đi qua cái chết ấy, nhưng hồi tưởng mà không sợ hãi. Đó là thơ của sự đau buồn sâu xa nhưng dịu dàng, sự kháng cự số phận theo kiểu khác. Nhà thơ mang lại hình ảnh luân chuyển của sự sống và cái chết, của hạnh phúc và đứt gãy, như nhịp tuần hoàn vũ trụ. Sự lặp lại của các chữ trong thơ khi nói về cái chết chính là sự lặp lại của mùa.

Tàn mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ

Tiễn đưa em trong áo quan này

Từng cội hoa – trầm lặng thương nhớ

Tóc em xưa – tơ óng như mây

Bài thơ của Phạm Thiên Thư có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông.

Cho đến khi nào chúng ta chấp nhận nó, cái chết, chấp nhận thua cuộc, chúng ta chịu lìa bỏ hạnh phúc tạm bợ trần gian, lúc ấy mới có thể có thức tỉnh. Tuy là một thiền sư, Phạm Thiên Thư không nhắc nhiều đến các lý thuyết Phật giáo, và về mặt này, ông hồn nhiên. Nếu có ý thức làm một tu sĩ, ông sẽ có những câu thơ nặng rao giảng, khuyên nhủ, cũng như trường hợp các thiền sư khác, như thơ Nhất Hạnh. Nhưng thơ không phải là tiếng nói của triết học. Khác với một số nhà thơ đi trước, ông không đẩy tình cảm của mình, yêu ghét, hạnh phúc, đau khổ, lên đến cực điểm. Không có những câu ca ngợi diễm ảo:

Anh nhớ em ngồi đây tóc ngắn

Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

(Nguyên Sa)

Thơ tình Phạm Thiên Thư cũng không nặng về nhục thể như Bích Khê, không thần bí như Đinh Hùng, không đau đớn như Du Tử Lê, không bất cần như Nguyễn Tất Nhiên. Đó là sự cân bằng giữa thực và ảo, giữa hiện thực và siêu thực, một thứ chủ nghĩa lãng mạn hiện đại. Trong một vài năm ngắn ngủi, Phạm Thiên Thư trung thành với câu chuyện tình yêu của mình. Nhưng có khi ông càng viết, người đẹp của ông càng trở nên một thánh nữ:

Khép mắt ta nhìn em

Thấy hình hài diễm lệ

Đứng trên ngàn sóng bể

Trấn át ngàn phong ba

Hình ảnh ấy không thuyết phục. Tôi e rằng nàng thơ (Muse) của các thi nhân không thích cái gì quá siêu phàm, mà chỉ thích bay la đà mặt đất? Bốn chủ đề: tình yêu, đạo pháp, cái chết và thời gian, thiên nhiên và giấc mơ thái bình. Ngôn ngữ Việt trong thơ ông trở lại với sự trong sáng của thơ có vần, đôi khi như lời hát ru, đôi khi mạch lạc như sự thức tỉnh. Một thứ chủ nghĩa sinh thái nguyên sơ, gần với tôn giáo nguyên thủy.

nền chợ xưa giờ họp lách lau

hỏi cô hàng xén giạt về đâu

đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc

tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu

(Đom đóm)

Tình yêu dưới mái hiên chùa là sự táo bạo vừa phải, cũng thách thức xã hội nhưng được dư luận chấp nhận, vì hình như đó chỉ là tình hư ảo. Việc dùng nhiều điển tích hoặc giai thoại cũng là một đặc điểm thú vị.

Ván cờ bày trắng bông đào

Sao lên núi thẳm trăng vào chén không.

Thiên nhiên có mặt thường trực. Dù viết về đề tài gì, thơ ông cũng được đặt vào phong cảnh, cây cối, chim chóc, đất trời, bằng một ngôn ngữ có phần tượng trưng. Không thấy rõ trong thơ các ý thức về xã hội chính trị, thậm chí chiến tranh cũng chỉ hiện ra thấp thoáng. Thế nhưng niềm mơ ước đối với hòa bình ở ông thật lớn. Có ba khái niệm khác nhau: hòa bình là để phân biệt với chiến tranh, không có chiến tranh tức là hòa bình, không có hòa bình tức là chiến tranh. Thanh bình tất nhiên phải có hòa bình nhưng là một tình trạng tốt đẹp hơn, không có xáo trộn, chính sự phiền hà. Nhưng thái bình mới là tình trạng lý tưởng, ngày xưa được hiểu như thời thịnh trị, chính quyền liêm chính, trí thức trong sạch, người dân sống tự do, vui vẻ, lành mạnh. Thơ ông là niềm ao ước về một xã hội thái bình như vậy, lời kêu gọi trở về nguồn cội, đi tìm cái vĩnh viễn trong sự chuyển dời, là lời cầu nguyện dành cho quê hương. Đó là một trong vài chủ đề lớn nhất của Phạm Thiên Thư. Kết thúc trường thi Động hoa vàng, tác giả nói lại giấc mơ của mình lần nữa, về non nước cũ.

Mai sau trời đất thái bình

Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

Gây dàn thiên lý vàng hoa

Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây

Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt, về xuất thân và thi pháp. Thơ ông giàu nhạc tính, di chuyển giữa những trầm tư, giấc mộng, độc thoại và đối thoại, ngôn ngữ thơ ấy giản dị nhưng không chất phác, vần điệu cũ nhưng phối hợp chữ rất mới, và ý tứ thoáng đãng, tác động đến người đọc trong mênh mông các liên kết văn hóa. Người đọc về sau còn nhớ đến thơ ông vì đó là suối nguồn trong lành tắm mát cái tôi của họ. Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn tiền chiến là cái tôi cô độc lẻ loi, với trục tọa độ một chiều, thời gian qua đi không trở lại. Lòng yêu đời là sự khao khát vội vã, tiếc nuối vì thời gian vụt mất, chóng mặt:

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi

(Xuân Diệu)

Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn mới như trường hợp Phạm Thiên Thư là cái tôi trở lại với thời gian như những chu kỳ, có sinh có diệt, có được có mất, trong lẽ tuần hoàn. Thấy được như thế nên thi nhân tiếc nuối mà không đau đớn, yêu đương mà không vội vã. Đối với cái chết, cái mất mát, những bi kịch con người, câu trả lời của đạo, của thơ là trở về với uyên nguyên. Nhà thơ có lần tâm sự: “Trước khi viết, tôi ăn chay, nhập thiền, cầu nguyện và viết. Tôi không nghĩ đó là thứ ngôn ngữ của mình mà cảm giác có một phép mê dụ, ảnh tượng vô hình nào đó dụ dẫn. Khi tĩnh tâm đọc lại từng trang thơ, tôi không nghĩ là mình có thể viết được như vậy”. Nhờ những điều kiện xã hội thời ấy, đầu những năm bảy mươi thế kỷ trước ở miền Nam, Phạm Thiên Thư đã viết được một loại thơ phi chính trị, phi lịch sử, “như có một phép mê dụ”. Cõi thơ bát ngát của ông đặt trong bối cảnh loạn lạc ấy vốn đã là một thứ gì siêu thực.

Tường thành cũ phiến bia xưa

Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay

Chiều xanh vòng ngọc trao tay

Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

Nhà thơ tìm ra tiếng nói của mình trong tự do, tìm thấy căn nhà của mình trong chính ngôn ngữ thơ ca mà ông sáng tạo. Mất ngôn ngữ ấy, mất căn nhà ấy, ông không còn là ông nữa.

Ông chuyển qua làm nghề hốt thuốc chữa bệnh.

Ngày xưa có tục con cầu
Khẩn xin Trời Phật cho đầu thai nhi
Lòng thành như ngọc lưu ly
Làm lành lánh dữ suốt kỳ mang thai

Phạm Thiên Thư chưa bao giờ tỏ ra có ý định làm mới nghệ thuật. Mặc dù trong một cuộc phỏng vấn đâu đó, thi sĩ ngụ ý rằng ông vào chùa là để trốn quân dịch, và quả thật sau 75 cũng đã hoàn tục, nhưng thơ ông thấm đẫm sâu sắc vị đạo, hương thiền. Dòng thơ ấy mở rộng cánh cửa cho mọi người bằng ngôn ngữ nhiều giao tiếp, chính xác, đẹp. Người đọc không cần phân vân suy nghĩ. Đó là loại thơ giả tưởng rằng người đọc và kẻ sáng tạo cùng trong một truyền thống văn hóa. Cũng do đó sức hấp dẫn do tác động liên văn bản là sâu xa. Nhân vật và tác giả đổi chỗ cho nhau. Đừng quên rằng thơ viết trong thời kỳ lửa đạn, vì vậy còn cảm giác thanh bình tạm bợ, giữa sự đứt gãy của chủ nghĩa hiện đại, sự phân rã xã hội, vết thương tình tự dân tộc. Còn lâu Phạm Thiên Thư mới tới gần chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng hoàn cảnh của một xã hội dịch chuyển mang lại cho thơ ông tính chất vô trung tâm, tính rời rạc, không cố định, gần như vô mục đích.

Thơ hôm nay đã đi xa hơn thời của Phạm Thiên Thư, tất nhiên, vì thời đại thay đổi, đa dạng hơn, mặc dù thế người đọc sẽ còn nhớ đến ông, nghe nhạc phổ thơ, đọc lại, vì họ tìm thấy ở đó dấu vết của một đời sống khác, ngôi nhà của một tâm thái khác, không phải chỉ nhớ tiếc mà còn là tham chiếu cho những giá trị hiện tại. Chúng ta chứng kiến sự trở lại trong thơ Việt ngày càng rõ cái tôi trữ tình sau một thời kỳ dài vắng mặt trước các hồi ký, tiểu thuyết, trường ca, thơ phản ảnh hiện thực nông cạn, lời kêu gọi; cái tôi này sẽ làm nên giọng điệu chính của thơ hôm nay, và không phải là không có một mối liên hệ ngấm ngầm nhưng sâu sắc giữa nó và thơ thời kỳ những năm sáu mươi bảy mươi ở miền Nam. Sau mỗi khúc quanh, thơ hình thành một dòng chảy mới, mang theo nó những yếu tố nhận được từ gia tài quá khứ. Việc nhớ lại Phạm Thiên Thư chỉ bằng một vài ca khúc là điều đáng tiếc, người đọc thơ cần đọc ông nhiều hơn, một trong những nhà thơ quan trọng của nền văn học chiến tranh mà ở ngoài chiến tranh. Thơ Phạm Thiên Thư không mới lắm, mà có lẽ ông cũng không có ý định làm mới, nhưng trước ông và sau ông, chẳng ai viết thế. So với nhiều nhà thơ cùng thời, những thành tựu của ông khó nắm bắt hơn, khi miền Nam phải đối diện với những vấn đề lớn như chiến tranh, hỗn loạn. Đó là tiếng hót của loài chim quý, tiếng hót ngắn ngủi, cuối cùng, ngân lên trong những ngày cuối, vì vậy mà buồn đau, ngọt ngào, thương xót. Cùng thời với Phạm Thiên Thư là Du Tử Lê; cả hai đều viết thơ tình. Cần nhớ rằng trong suốt một thời gian dài thơ miền Nam chính yếu không phải là thơ tình, mà là thơ về thân phận, quê hương, chiến tranh. Sau những năm thanh bình đầu tiên thời đệ nhất Cộng hoà, của Mùa thu Paris, Áo lụa Hà Đông, thơ chỉ còn là dằn vặt khôn nguôi về số phận, đất nước, nội chiến. Không phải tình cờ mà ông và Du Tử Lê cùng được trao giải thưởng văn chương toàn quốc VNCH năm 1973, về bộ môn thơ (chính xác là Du Tử Lê về thơ, Phạm Thiên Thư về trường thi). Nếu tôi không lầm, đây là giải thưởng toàn quốc cuối cùng. Như điềm báo hiệu:

Cuối xuân ta lại tìm qua

Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn

Sớm thu ta đánh đò sang

Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

Thân xác của người nữ hay của giấc mơ tự do?

Thơ Phạm Thiên Thư còn là lời tri ân đối với đời sống. Nhớ lại tức là sống, quên đi tức là kết thúc. Khi một người chết đi, không được ai nhớ lại, đó là biến mất vĩnh viễn. Khi một người chết đi, được người khác nhắc lại, đó là lúc người ấy trở về. Không cách nhớ nào đẹp bằng cách nhớ của thơ ca. Vì ký ức ấy là ký ức bền vững, chưng cất, thăng hoa. Chúng ta nhớ lại một người tình, một quãng đời, một xã hội, một bài thơ, hầu hết là vì ân huệ mà người ấy, quãng đời ấy, nguồn thơ ấy, bầu khí quyển ấy, trong đó ta hít thở như khí trời, đã từng ban tặng cho ta.

Nguồn tham khảo:

(1) Toàn bài Ngày Mai. Phạm Thiên Thư, Ngày xưa người tình, NXB Văn nghệ, 2006.

(2)Tiểu sử:

“Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình Đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn – Tp.Hồ Chí Minh (1954 đến nay).
Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh (1972); Kinh Thơ…

(https://www.thivien.net/Ph%E1%BA%A1m-Thi%C3%AAn-Th%C6%B0/author-zUJYhrTgVIBip1y-0rpXeA)

(3) Đặng Tiến: Ngày xuân tìm động hoa vàng (http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c300/n14236/Ngay-xuan-tim-Dong-hoa-vang.html)

(4) Vĩnh Hảo: Đọc thơ Phạm Thiên Thư (https://thuvienhoasen.org/a18370/doc-tho-pham-thien-thu)

Nguồn: https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=26068

Văn học Miền Nam 54-75

vanviet.info

Phạm Thiên Thư

 1 Tháng Ba, 2021

Trương Văn Dân

Post by Sơn râu 22 May 2024

Kỳ 7

Chàng lãng tử và nhà thơ thiền

Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.

Đó là câu chuyện về hai người bạn có tính cách và số phận rất đỗi khác nhau. Trong khi Narcissus là một thanh niên duy lý, coi trọng tri thức, sống trong tu viện và có ít quan hệ với đời thường nên ít hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống; còn Goldmund thì được người cha gà trống nuôi con muốn nó phải hiến dâng cuộc đời cho Chúa để bù đắp tội lỗi của người mẹ Di-gan hoang đàng. Hai nhân vật là đôi bạn nhưng có hai lối sống trái ngược và bổ sung nhau như hai phần đen trắng trong một con người. Một bên nghiêm túc, kỷ luật, bên còn lại buông thả, lãng mạn đậm chất nghệ sĩ.

Chính Narcissus đã giúp Goldmund nhận ra rằng cuộc sống của nhà tu không phải dành cho anh và sau đó Goldmund trốn khỏi tu viện.

Nhớ và tự nhiên liên tưởng đến tác phẩm của Hesse vậy thôi chứ hai người đi trên xe máy này không ai khổ hạnh và cũng chẳng lang thang. Vì, nếu nói cho đúng thì có lẽ đây là một gã lãng tử, và nhà thơ thiền, một nhà tu hoàn tục. Gã lãng tử hở cứ vác ba lô lên vai là đi, một mẫu “Típ-phờ-nờ”[1] đã từng làm biết bao nhiêu trái tim loạn nhịp còn nhà thơ thì cũng một thời đa đoan.

Hai người đó là Lê Viết Yên và Phạm Thiên Thư.

Hình như định mệnh chỉ vận vào Lê Viết Yên có một nửa: Trong tên anh có chữ “Viết”, nhưng tính thích rày đây mai đó, khoái… “Lê”… la, nên không thể ngồi “Yên”. “Viết” là phải kiên nhẫn ngồi hằng giờ trước trang giấy thế mà đôi chân cứ ngọ nguậy, hễ nghe tiếng máy xe gầm gừ cám dỗ thì chữ nghĩa khó mà tuôn chảy. Thế nên định mệnh chỉ vận vào anh theo một hệ luỵ gián tiếp: Đó là sách. Có thể nói hiếm người yêu sách như Lê Viết Yên. Trong chiếc ba lô cuả anh, ngoài bộ ấm trà lúc nào cũng có sách, sách để cho, ba lô để nhận. Anh được rất nhiều bạn bè tặng sách, mà đáp lại anh cũng thường mua sách mới in của bạn bè để giới thiệu hay phát hành giúp. Ai trả tiền thì lấy, “quên” cũng chẳng sao. Hễ nhìn thấy sách quý hiếm là anh hỏi “xin”, không thì mượn, photocopy lại, cưng như của quý nhưng ít khi giữ được lâu, ai hỏi cũng lắc đầu “em chả, em chả” nhưng phụ nữ hỏi xin, mủi lòng, cho tuốt.

Lê Viết Yên quảng giao, thích kết nối bạn bè trong Nam ngoài Bắc, vùng thấp miền cao, tạo cơ duyên gặp gỡ để mọi người quen nhau, nối vòng tay lớn. Trên mạng xã hội anh vô tư chia sẻ các bài viết hay, từ văn học nghệ thuật đến triết học tôn giáo, nhưng đề tài yêu thích vẫn là… “tdh”[2].

Bản tính ham vui, thích chọc trời khuấy nước để… vui là chính nên có bạn khắp các vùng miền, và hễ bình xăng đầy mà bạn rủ, là đi. Hết lòng bênh vực và không bỏ rơi bạn trong những lúc khó khăn. Tính cương trực, không ưa thì nói thẳng, tuy vậy khi không vừa ý thì rất… dễ hờn, mà giận buổi sáng, chiều hôm đã cười xoà!

Những năm gần đây… số phận của chàng lãng tử Lê Viết Yên hình như gắn liền với nhà thơ Phạm Thiên Thư. Có nhiều chuyện không vui trong cõi trọ trần gian, sức khoẻ kém, lại bị mất ngôn ngữ nên nhà thơ hoàn toàn bị cô lập. Mỗi sáng ngồi dưới quán cà phê, ngậm ống điếu nhìn người qua kẻ lại với ánh mắt sâu hun hút… Chàng lãng tử, dù ở rất xa, vẫn chạy xe, băng từ đầu này qua đầu kia thành phố để ngồi với nhà thơ, để ông bớt cô đơn. Có khi đi một mình, có khi chàng nhắn tin hay gọi điện mời thêm nhiều bạn bè cho đông đủ.

Những khi trong thành phố có sự kiện văn nghệ chàng lãng tử chạy lên chở nhà thơ đến, xong lại đưa về. Tiêu pha nhiều thời gian và tiền bạc: chỉ để giúp nhà thơ bớt cô độc giữa cõi đời.

Bảy tám năm trước tôi và Elena cũng được hội ngộ lần đầu với nhà thơ Phạm Thiên Thư, cũng qua sự kết nối của Lê Viết Yên. Giới thiệu xong, ông như đang bận theo đuổi một ý nghĩ nào đó, lơ đãng quay nhìn vào khoảng không trước mặt. Tôi còn đang lúng túng thì bất ngờ thấy ông quay lại nhìn với nụ cười thật hiền và nói: “Tớ mất ngôn ngữ… nên cậu thông cảm… đừng buồn nhé !”

Sau những phút ngắm cõi hư không qua những vòng khói, nhà thơ bảo người nhà đem ra mấy tập thơ, bảo tôi viết tên lên một tờ giấy để ông chép lại cho đúng rồi ký tặng. Ngoài mấy tập thơ, ông còn tặng cho tôi các bài báo viết về ông như nhà văn hoá Unesco, về kỷ lục gia hay nói về trường sinh học, nhân điện và sách viết về các phương thuốc trị bệnh.

Những lần sau đến thăm tôi vẫn thấy nhà thơ ngồi bình dị như một nông dân, phì phèo ống píp, ngắm mây trời, bên cạnh lúc nào cũng có một chiếc túi vải màu nâu mà các nhà sư thường dùng, trong đó đựng sách, các tập thơ, thuốc xắt và các thứ linh tinh.

Tuy nhà thơ không nói chuyện nhiều nhưng ông rất thân tình, dễ mến. Đặc biệt là đôi mắt và nụ cười thật hiền. Những lần không gặp ông đều hỏi tin tức về vợ chồng tôi và nhờ Lê Viết Yên chuyển lời thăm.

Nhà thơ tự cho mình có khả năng ngoại cảm, có khi gặp ai, anh nheo mắt nhìn và phán một câu kèm một nụ cười bí hiểm: ” Anh (chị)… hai, ba… ngày nữa sẽ có tiền…” hay “sẽ có tin vui…”.

Tôi thường ngồi nghe và không khi nào kiểm chứng, nhưng câu phán về nhà thơ Đoàn Văn Khánh lúc còn độc thân thì tin vui xảy ra thiệt: Hết cô đơn và có được vợ hiền Carol Kim chăm sóc!

Khi ngồi với nhau thân tình hơn, những lúc cao hứng, ông nói về sự tương đồng của ông với Nguyễn Du: Cùng sống qua hai chế độ, mỗi người có bốn người con, nhưng trọng tâm vẫn là “Tớ có ba bà vợ, cụ Nguyễn Tiên Điền cũng chỉ có vậy, không hơn!…” Nói xong ông gõ gõ ống pip lên bàn, cười tít mắt làm ai nghe cũng phải bật cười.

Ông thích so sánh thế vì có lẽ là nhà thơ hậu bối dám viết “Đoạn trường vô thanh” một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều.

Khi các em tôi Đạo, Nguyệt từ Australia về, vì Đạo thường hát “Anh theo Nguyệt về…” nên tôi đưa hai em đến thăm ông, sau có bạn mang guitar đến nên mọi người ca hát rất vui. Từ quán cà phê vang vang lên giai điệu mượt mà: “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…” làm mọi người như đang nhìn thấy một con đường trải nắng có cậu học trò si tình lẽo đẽo theo sau cô nữ sinh mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, tóc xoã ngang vai… và đêm về chàng viết lại những vần thơ lung linh như thấm vào lòng nhiều thế hệ:

…Em tan trường về

Cuối đường mây đỏ

Anh tìm theo Ngọ

Dấu lau lách buồn…

…Em tan trường về

Đường mưa nho nhỏ

Trao vội chùm hoa

Ép vào cuối vở…

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nên được nhiều người biết và yêu thích.

Ca hát xong chúng tôi cùng nhà thơ Tâm Nhiên đi đến quán cơm chay, nói tiếp chuyện thơ ca.

Mỗi lần “gặp nhau bên động hoa vàng” ngoài nhà thơ và Lê Viết Yên, thường có các bạn văn như Hoàng Kim Oanh, Nguyên Tâm, Tuệ Lãng, vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Nguyên Cẩn… bạn bè nói cười rôm rả… vẫn biết Phạm Thiên Thư như một hiền sĩ ngồi bên lề của đời sống ta bà, nhưng khi chia tay thường để lại trong lòng tôi một nỗi buồn man mác.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư sinh trong một gia đình bố mẹ làm nghề bốc thuốc nhưng từ nhỏ rất thích thơ văn. Lớn lên ông đi tu, làm thơ, hoàn tục và sống trong cội quán café Hoa Vàng.

Có người kể là năm 1964, nhà thơ đã xuống tóc, đi tu với Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964-1973), ông đã chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chú tiểu và nàng đều rất trẻ và tình yêu của họ chớm nở tự nhiên như những bông hoa sau sân chùa. Trong những lời khấn nguyện, cô gái thường cầu xin cho hai người được bên nhau mãi mãi… Chiến tranh loạn lạc, cô bé chết trong lúc chạy tránh đạn bom trên đường di tản. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt nước mắt đưa tiễn người đi trong một ngày thật buồn: Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi có những cụm hoa đang nở. Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi hoàng hôn buông xuống…

Nhà thơ Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài thơ nổi tiếng “Thoáng hương qua”. Sau này, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến giờ.

Có người nói là Phạm Thiên Thư chứng kiến, nhưng cũng có ý cho rằng chú tiểu đa tình ấy chính là ông[3], không biết thực hư thế nào, hay chỉ là một giai thoại được dựng lên như nhiều chuyện viết trên báo mà không chính xác?

Tuy vậy bài thơ được phổ nhạc… là có thật:

Em vừa nằm xuống đất này

Vườn trong có bông đào nở

Con bướm chập chờn hương bay

Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ

Nắm đất nào vừa lấp mộ

Có con chim hót đầu cành

Tiếng tan trên giòng suối xanh

Nước ơi sao buồn nức nở.

Về câu chuyện “gã từ quan” coi thường danh lợi, chán ghét những tranh giành trong cõi đời để tìm về với thiên nhiên, nhà thơ đưa ta đến không gian siêu thực tựa cõi tiên của động hoa vàng. Bài thơ được sáng tác vào đầu thập niên 1970 trong giai đoạn quê hương đầy khói lửa nên xuất hiện như một giấc mơ thoát tục để hướng về một thuở thanh bình. Câu chuyện hoà quyện giữa Đời và Đạo “tu là cội phúc tình là dây oan” nhưng gã từ quan cứ vương vấn, chơi vơi giữa tình yêu và đạo pháp nên làm sao thoát khỏi nghiệp chướng đoạn trường:

Thì thôi tóc ấy phù vân

Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương

Thì thôi mù phố xe đường

Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi

Thơ Phạm Thiên Thư nặng tính tâm linh nên thường làm cho độc giả lãng đãng và ngẩn ngơ. Ông viết về tình yêu bằng ngôn từ thánh thiện, kín đáo, nhẹ nhàng trong một cõi thi ca trữ tình độc đáo. Nhà thơ Phạm Thiên Thư còn được biết đến như người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,… ông sáng tác những thi phẩm hay và đẹp thuộc diện hiếm trong văn học Việt Nam… Thơ của ông được nhiều người có tên tuổi trong giới và rất nhiều bạn đọc mến mộ…

Thế nhưng cũng có người cho rằng Phạm Thiên Thư đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục. Ông đáp lại bằng một nụ cười:

“Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình” rồi ông viết chính con vạc cũng ghẹo tôi nữa là:

Hỏi con vạc đậu bờ kinh

Cớ sao lận đận cái hình không hư

Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư

Khoác chi cái áo thầy tu ỡm ờ

Trước 1975, Phạm Thiên Thư đã rất nổi tiếng nhờ những bài thơ của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, ngoài ra tác phẩm “Đoạn trường vô thanh” của ông còn được giải nhất văn chương MIỀN NAM.

Với một người nổi danh như thế thì khó mà có được một cuộc sống an lành: ganh ghét và đố kỵ, mượn danh và lợi dụng tất cả những sỏi đá đó thường vung vãi trên con đường ông đi, mang theo hệ luỵ là vinh quang và cay đắng.

Nếu có những người yêu thơ, tìm nhà tài trợ để tổ chức các đêm: Thơ Phạm Thiên Thư – Nhạc Phạm Duy, để gây quỹ từ thiện, có giới làm sách báo & phát hành những ấn phẩm của Phạm Thiên Thư… thì cũng có những bài báo kiểu Phạm Thiên Thư trả lời phỏng vấn, với lời lẽ tung hô, kỷ lục, phô trương… trong khi ông đang bị mất ngôn ngữ, mấy năm trước còn bị tai biến, phải vào chùa rồi rời xa quán Hoa Vàng… hiện chỉ nói được những câu ngăn ngắn; có người còn dùng tên tuổi Phạm Thiên Thư như một nhà tiên tri, thầy thuốc trị được bá bệnh… bao chuyện hư hư thực thực…

Có lẽ cái nghiệp của Phạm Thiên Thư là vậy. Chàng lãng tử Lê Viết Yên cho hay là khi có chuyện không vui ông chỉ cười trừ hay một đôi lần bộc bạch: “Hãy tha thứ! Tha thứ cho những người đã làm điều sai trái, tha thứ cho cả những người đã gây khổ đau cho mình”.

Rồi ông đọc:

Phật – Tôi nào khác chi nhiều

Một người đã ngộ ra điều sắc không

Một kẻ còn đang lông bông

Nhưng rồi sớm muộn cũng mong trở về.

Mấy năm trước cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đã đề nghị Tập san Quán Văn làm số 32 Tháng 8 năm 2015 Phạm Thiên Thư & Ngày xưa Hoàng thị… Chân dung văn học cho Phạm Thiên Thư, và ngày ra mắt sách, thân hữu, người hâm mộ, bạn bè đến chung vui, hát ca đông vui nhất.

Tuy không “viết” nhưng Lê Viết giúp tập san Quán Văn phát hành, không chỉ vài ba số mà nhiều khi trọn bộ 30, 40 số. Cũng chính Lê Viết Yên, theo mong muốn của nhà thơ Phạm Thiên Thư, đề nghị nhà thơ Nguyên Cẩn và vợ chồng tôi trích chuyển ngữ tập thơ Huyền Ngôn Xanh ra tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Pháp để in với số lượng hạn chế, giới thiệu với các bạn yêu thơ.

Rồi hôm nay cũng chính chàng lãng tử Lê Viết Yên đứng ra kêu gọi bạn bè hùn chữ, hùn giấy mực,để in một tập sách bạn bè viết về Phạm Thiên Thư, lấy tên là “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” nơi mà nhiều bè bạn quây quần bên ông để thăm hỏi, cùng về một nơi để trầm tư, thanh lọc tâm hồn sau những mệt mỏi về cuộc sống đầy bon chen, bụi bặm. Chàng lãng tử Lê Viết Yên nói một câu làm tôi xúc động:
“Phải làm sớm, ông Phạm Thiên Thư đã U.80, yếu dần theo thời gian, trễ nữa là không kịp!”

Thời gian, và tấm lòng! Dù vẫn biết, làm được hay không, đối với thiền thi Phạm Thiên Thư thì đâu có chi mà quan trọng!

Nhờ bản tánh hiền lành, khiêm tốn và dễ hòa đồng cho nên Phạm Thiên Thư được nhiều bạn bè và anh em văn nghệ sĩ mến thương.

Mỗi lần nhớ đến Phạm Thiên Thư, tôi thường hình dung đến những buổi sáng tinh mơ ông ra ngồi một mình dưới quán café Hoa Vàng mong chờ bạn đến. Ông mỉm cười khi thấy các bạn đến ngồi quanh, nheo mắt nhìn mọi người, gỡ ống píp khom khom gõ nhẹ xuống bàn, dáng dấp cong cong như con rùa mắc cạn đang mừng vui vì con nước tới:

Có con rùa nhỏ ngoài khe,

Từ lâu đợi suối trở về, nằm đây.

Ẩn mình dưới chiếc mai dày,

Ngó bờ rêu lục tưởng ngày xa xưa…

Những lúc ấy tuy chẳng nói nhưng tôi biết ông vui, lạ một cái là ánh mắt đang chiếu sáng niềm vui thì bất chợt khép lại, trầm tư: có thể là ông đang hồi tưởng lại thời con người biết mơ mộng, theo chân cô Ngọ, sống bình dị cùng thiên nhiên… hay thuở đi tu, hoàn tục, theo chân Từ Thức… đã trôi qua, không bao giờ trở lại. Một phản diện tích tắc đầy bí ẩn bên trong tâm thức một con người kỳ lạ: rất… Phạm Thiên Thư.

T.V.D

Mùa dịch Covid.19

Milano 10-2020

Nguồn: sách “Gặp nhau bên Động Hoa Vàng” do Lê Viết Yên chủ biên (NXB Hồng Đức 2021)


[1] TYPN – Tôi Yêu Phụ Nữ.

[2] Tình dục học.