This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Post on January 25th, 2024 Post by Sơn râu 23 May 2024
A Legacy of Sounds — Dòng Chuyển Của Âm Thanh, là một chương trình nhạc giao hưởng do thành phố Allen (TX) tổ chức với dàn đại-hoà-tấu Allen Philharmonic và ban hợp xướng Allen Symphony Chorus, vào ngày 6 tháng Tư 2024 tại khán-thính-đường của Allen High School. Đêm nhạc có một không hai này sẽ có sự góp mặt của một số nghệ sĩ sau đây.
Lê Văn Khoa — nhà soạn nhạc, nhiếp ảnh gia và giáo sư. Sinh năm 1933 tại Cần Thơ, ông đoạt giải sáng tác toàn quốc năm 1953 với hai nhạc phẩm của mình. Sang Mỹ năm 1975, ông tiếp tục sáng tác và soạn hoà âm nhằm mục đích giới thiệu âm nhạc Việt Nam đến cộng đồng thế giới. Ước nguyện của ông là được nhìn thấy thế hệ trẻ tiếp nối dòng nhạc giao hưởng của người Việt tại hải ngoại. Dưới sự điều khiển của Ryan Ross, Allen Philharmonic sẽ trình diễn vài phân đoạn trong bản đại hoà tấu ‘Symphony 1975’ của Lê Văn Khoa cùng một số nhạc khúc kinh điển của Phạm Duy, Cung Tiến, Lê Thương v.v.
Teresa Mai, nghệ danh Sangeeta Kaur, là người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt giải Grammy vào năm 2022 với dĩa ‘Mythologies’, hạng mục Best Classical Vocal Album. Teresa có bằng Cử Nhân môn Opera Performance từ California State University và bằng Thạc Sĩ môn Vocal Performance từ Nhạc Viện Berklee danh tiếng ở Boston. Trong chương trình này Sangeeta sẽ công diễn lần đầu tiên một nhạc phẩm trong dĩa mới của cô mang tên ‘Mythologies II’, thâu tại Abbey Road Studio với London Symphony Orchestra vào cuối năm 2023.
Chí Tâm là một nghệ sĩ cải lương ở miền Nam từ trước 1975. Thập niên 1960-1970 anh từng hát cho đoàn Kim Chung và là một trong những nghệ sĩ đầu tiên trong phong trào tân cổ giao duyên. Dĩa hát ‘Chuyện Tình Lan Và Điệp’ do Chí Tâm và Thanh Kim Huệ thủ vai chánh là tuồng cải lương bán chạy nhất năm 1974. Chí Tâm còn là soạn giả và một nhạc sĩ có thể chơi nhiều nhạc cụ cổ truyền như đàn kìm, đàn bầu v.v. Anh hiện phụ trách một tiết mục hàng tuần trên đài SBTN.
Nghệ sĩ Hải Yến sinh ra trong một gia đình có truyền thống cổ nhạc. Cha chị là nhà thơ Nguyễn Hải Phương, mẹ là nhà giáo Phạm Thuý Hoan nổi tiếng với các sáng tác độc tấu cho đàn tranh như ‘Tình Ca Đất Bắc’, ‘Biến Tấu Lý Chim Quyên’. Khởi nghiệp từ trường Quốc Gia Âm Nhạc năm 1979, sau 6 năm học đàn Tranh, Hải Yến chuyển sang học môn Bộ Gõ Tổng Hợp. Hải Yến đoạt Giải Nhất đàn Tam Thập Lục năm 1981; Giải Nhất đàn K’long Put tại Nhật năm 1999. Hải Yến sẽ mang đến cho khán thính giả tại Allen những âm thanh cổ truyền của Việt Nam hoà trong dòng nhạc giao hưởng Tây Phương.
Khiếm thị từ nhỏ, Nguyễn Đức Đạt sang Mỹ năm 1991 và được học bổng Âm Nhạc tại đại học Cal State Fullerton. Đức Đạt từng thắng nhiều giải Guitar như Disney Creative Challenge Award, National Panasonic Young Solo Artist Competition. Ban nhạc Bayadera của anh từng chơi cho đại nghệ sĩ Stevie Wonder tại Universal Studio. Năm 2011 Đức Đạt và một số bạn bè nghệ sĩ sáng lập chương trình “Ngọc Trong Tim” để hỗ trợ và vinh danh các nghệ sĩ khuyết tật. Hiện thời anh là chủ tịch của tổ chức và cũng là MC cho một chương trình talk show mang tên “Ngọc Trong Tim” trên đài TV SBTN.
Phạm Hà là một giọng ca Baritone khá quen thuộc trong những chương trình nhạc thính phòng tại Nam Cali từ năm 1999 đến nay. Anh thường xuyên xuất hiện cùng ban hợp xướng Ngàn Khơi hoặc trình diễn solo những ca khúc operatic cổ điển bằng tiếng Anh, Pháp, Ý v.v. Phạm Hà nói anh luôn muốn sử dụng giọng hát của mình để làm việc từ thiện, chẳng hạn như giúp chương trình gây quỹ thường niên của tổ chức Vietnamese-American Cancer Foundation. Khi hay tin có “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là anh tình nguyện tham gia liền, với điều kiện “chỉ cần bù cho mình tiền lương 3 ngày nghỉ việc!”
Jon Lê Culpepper là người sáng lập ca đoàn chuyên nghiệp Dallas Chamber Choir (DCC) và hiện là Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Dưới sự điều khiển của Jon, DCC đã đoạt giải American Prize in Choral Performance – Professional Division năm 2019-2020. DCC từng trình diễn với Fort Worth Symphony, nhạc sĩ Hans Zimmer (2 Oscars, 4 Grammys) và Ramin Djawadi (“Game of Thrones”). Năm 2021 Jon được tặng American Prize của giải Dale Warland Award cho bộ môn Choral Conducting, hạng mục Professional Division. Jon sẽ điều khiển một ban hợp xướng học sinh chọn lọc từ ca đoàn của Allen High School.
Cựu học sinh của Trung Học Allen, Patrick Vũ tốt nghiệp Cử Nhân môn Music Composition tại Texas Christian University năm 2022 và sẽ hoàn tất bằng Thạc Sĩ môn Vocal Music Education tại đại học Texas Tech khoá mùa Xuân 2024. Patrick là tác giả nhiều nhạc phẩm đã được xuất bản và trình diễn bởi nhiều ca đoàn tại nhiều nơi trên nước Mỹ. Năm 2023 Patrick Vũ được trao giải Raymond Bock Prize của American Choral Directors Association. Patrick sẽ ra mắt một bản hợp ca soạn riêng cho Allen Philharmonic để tưởng niệm nạn nhân vụ xả súng ở Allen hồi tháng Tư năm ngoái.
3 – Mimos: Quật mồ các nhân vật lịch sử, gả bán họ cho nhau, thậm chí bắt quá khứ làm tình với hiện tại… Ông định đi đến đâu?
* Nhà văn Trần Vũ trả lời:
Lịch sử là một sự diễn dịch của người đương sống đối với quá khứ. Với nhiều phiên bản khác nhau và cách tiếp nhận khác nhau. Nếu Tây phương cố gắng diễn dịch một cách trung thực dựa trên số liệu có thể kiểm tra và hồ sơ giải mật, tại Việt Nam lịch sử hoàn toàn bị biên tập. Tiểu đoàn Phủ Thông là một bằng chứng. Nhân lễ kỷ niệm 60 năm thành lập tiểu đoàn này, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam niêm yết: “Ngày 25-7-1948, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đánh đồn Phủ Thông – một cứ điểm có công sự vững chắc, do lính Lê dương đóng giữ. Đây là trận đánh mở màn Chiến dịch Đường số 3, đồng thời thực nghiệm chiến thuật dùng cường thuật đánh cứ điểm có công sự vững chắc cho toàn quân. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Được sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị bạn, sự chăm sóc của Hội Liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam, nhân dân địa phương, tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ, chiến thắng vẻ vang. Với ý nghĩa của chiến thắng, tiểu đoàn đã được Bộ Tổng Chỉ Huy tặng danh hiệu Tiểu Đoàn Phủ Thông và trở thành đơn vị đánh cứ điểm nổi tiếng sau này.”
Trận Phủ Thông trong thực tế là một thất bại đẫm máu của Việt Minh sau ba ngày đánh công kiên đã không triệt được đồn, tuy quân số đông gấp bội quân giữ đồn. Trong quân sử Pháp, Phủ Thông Hóa là biểu tượng của chiến thắng Lê dương tại Việt Nam. Trên những trang sách của Quân Đội Nhân Dân là chiến thắng vẻ vang của tiểu đoàn 11… Vậy phiên bản nào đúng?
Phía Pháp đếm xác. Phía Việt Minh phủ lấp thất bại bằng cách đặt danh hiệu Tiểu Đoàn Phủ Thông rồi với thời gian Hội Liên hiệp Phụ nữ đã tin là chiến thắng thật. Tương tự, tiến sĩ Đào Tuấn Ảnh trong một tiểu luận về tiếng thơ Anna Akhmatova cũng đã tin vào quân sử Nga. Bên cạnh những lời bình thật hay và những vần thơ trích dẫn đến não lòng Nước Nga sao người thích máu… Đào Tuấn Ảnh đã tin quân đội Phát-xít Đức đông gấp nhiều lần Hồng Quân Sô Viết trong Chiến tranh Vệ Quốc. Những ai nghiên cứu chiến tranh Nga-Đức, ngược lại, đều biết chính Hồng Quân đông gấp nhiều lần quân Đức. Gấp 3 đến 5 lần tùy theo từng giai đoạn chiến tranh. Có nghĩa cứ một lính Đức phải đương đầu với 5 anh hùng Sô Viết.
Với một lịch sử chính quy và chính thống như vậy, tính chất “hư cấu” đã đầy ắp. Người viết tiểu thuyết có hư cấu thêm nữa, cũng chỉ là thêm vài hạt muối vào trong biển mặn mà thôi.
Tại sao không hư cấu khi tiểu thuyết khác với lịch sử? Khi tiểu thuyết không phải là một khoa học chính xác. Ngay trong môn sử, trào lưu “duyệt xét lại” của lớp sử gia mới như David Glantz, Newton Steven, Zetterling Niklas, Frankson Anders, Jean Lopez đang “Quật mồ các nhân vật lịch sử” là các tướng lãnh và thống chế Nga-Đức khi đánh giá lại những trận đánh lớn như Kursk không phải là mồ chôn các sư đoàn Panzer Đức Quốc xã, như thế giới hằng tin như vậy đến hôm qua. Kursk là một chiến thắng chiến thuật của các xa đoàn Panzer. Lớp sử gia mới này chứng minh huyền thoại Prokhorovka của Hồng Quân Sô Viết là không có thật, những hồi ký của Joukov, Eremenko, Rokossovski, Tchouikov, Vassilevski ít giá trị vì phục vụ tuyên truyền… Họ đã làm công việc quật mồ lịch sử, như chữ dùng của Mimos. Vì sao người viết truyện không được quật mồ những triều đại vua chúa trong tác phẩm mình? Còn việc gả bán những vương tử với công nương cho nhau trong lĩnh vực fiction dường như các tác giả Việt Nam và cả tôi nữa đã hư cấu còn nhẹ tay, nếu chúng ta đọc tiểu thuyết lịch sử Giàn Thiêu của Võ Thị Hảo, Gió Lửa của Nam Dao, Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác hay Mùa Mưa Gai Sắc của tôi hoặc Vàng Lửa của Nguyễn Huy Thiệp rồi so với những Truyện kỳ trong phủ Chúa, Việt Sử Giai Thoại hay Đại Việt Sử Ký Toàn Thư… những ghi chép trong thâm cung bí sử của người xưa kinh dị hơn rất nhiều.
Định đi đến đâu? là câu hỏi của Mimos. Cá nhân tôi không đặt câu hỏi này với mình những khi đọc sách Tây đem Nã Phá Luân ra chế diễu và quay phim về những cuộc ngoại tình của các hoàng hậu Catherine de Médicis, Joséphine de Beauharnais… Khi viết thể loại siêu hư cấu lịch sử, như trong Gia Phả, tôi muốn miêu tả sự băng hoại của triều Trần vì loạn luân và cũng vì đã quá kiêu hãnh với những chiến thắng bất diệt, những đại thắng mùa xuân trùng trùng điệp điệp đến xa rời thực tế. Đến triều Trần Thiếu Đế, tộc Trần đắm chìm trong những giấc mộng huyễn hoặc và dân Việt đã phải gánh nhiều đau thương vì các giai cấp cầm quyền tại Việt Nam từ Gia Long đến bây giờ đều theo di chỉ của Trần Thủ Độ để lại là “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc.” Trong Nhã Nam, tôi không hư cấu khi cho Lê Lợi dìm sống thiếp yêu là Phạm Thị Ngọc Trần xuống sông Lam để tế hà bá với lời khấn xin thủy thần cho phá được thành Đông Quan. Đây là một chi tiết lịch sử có thật. Dìm một người đàn bà xuống sông thì Lê Lợi phải tàn nhẫn. Chi tiết này trong Lê Lợi và Thanh Hóa Trong Khởi Nghĩa Lam Sơn của nhà xuất bản Thanh Hóa, bản in 1987.
Định đi đến đâu? Đi tìm bản chất vị kỷ của chúng ta: Chúng ta là một dân tộc tôn vinh chiến thắng, thờ cúng tướng lĩnh lập công trạng, vinh danh những kẻ cầm quyền thắng trận và làm ngơ trước tội ác hay đúng hơn, chúng ta sẵn sàng đánh đổi tất cả cho chiến thắng. Tây phương cũng vậy, dân tộc nào cũng ưa chiến thắng, không ai muốn chiến bại, nhưng Tây phương vẫn lục tìm tội ác và đánh giá giai cấp cầm quyền của họ đúng công trạng. Chúng ta không làm vậy, chúng ta thờ cúng xem là thiêng liêng và muốn kẻ anh hùng được yên giấc. Không động mồ mả là tâm lý Việt.
Còn bắt quá khứ làm tình với hiện tại? Chuyện lịch sử chỉ hấp dẫn khi phóng chiếu vào thời đại của chúng ta. Mỗi tác giả một quan niệm. Cá nhân tôi tin chuyện xưa phải viết thật hiện đại, dùng ngôn ngữ hiện đại với phong cách hiện đại của bây giờ, thay vì viết theo cung cách của Hoàng Lê Nhất Thống Chí hay Chiêu Quân Cống Hồ. Như phép tính của Chu Văn An trao lại cho hậu thế: Sự chính trực khi lũy thừa thời gian của lòng người sẽ tiến đến vô cực, từ một cực tiểu trở thành cực đại… là cách nho sĩ giao hoan với tương lai để tương lai thụ thai những thái học sinh một khi trở thành quan triều biết vì dân, vì nước.
Rời quê khi vị thành niên nên tôi không giỏi tiếng Việt. Năm 1984 tôi bắt đầu đọc nguyệt san Làng Văn xuất bản tại Gia Nã Đại. Tôi ưa mục Bút Chì do Nguyễn Hữu Nghĩa với Nguyên Hương và hình như cùng với học giả Tự Tỉnh đã dịch tiểu thuyết võ hiệp Thạch Kiếm đảm trách. Mỗi kỳ Bút Chì giải đáp thắc mắc của bạn đọc về các danh từ hay các ngạn ngữ. Bút Chì giúp tôi hiểu thêm tiếng Việt. Khi ấy còn là ngôn ngữ của trân quý. Ra đường giữa ngã tư mà nghe một âm Việt là mừng rỡ. Khi ấy, người lớn đọc một chữ Việt như uống chén chè mạn quê xa, lũ thiếu niên như ăn múi mít ngọt lịm. Giờ, với khá đông, tiếng Việt chỉ còn là ngôn ngữ quê mùa của một cộng đồng thiểu số, không bảnh bao sang trọng như tiếng Tây tiếng Anh. Nhưng nghĩa chính xác của quê mùa là gì? Quê đây chắc không còn là quê hương nơi chôn nhau nhưng vì sao Mùa, thì tôi chưa hiểu. Hay Quê là nhà quê? Còn Mùa là mốt, là thời trang của dân quê? Nhưng dân quê là dân Việt.
Bỗng dưng tôi khám phá Trung Tâm Ngày Ngày Viết Chữ ở lầu 3, số 319-B13 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, Sàigòn. Tôi không biết những vị nghiên cứu chữ là ai nhưng ngã sấp vào các giảng giải. Xin phép giới thiệu công lao sưu tập này. Các trang sưu khảo chừng như là công sức của một tập thể vì không thấy tên người soạn. [Trần Vũ]
Em… Yêu dấu
Mình vẫn thường nói, em yêu dấu, “yêu” thì hiểu rồi, nhưng “dấu” nghĩa là gì?
“Dấu” là một từ cổ, sách Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: “dấu” nghĩa là “yêu mến”. Tự điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (năm 1651) cũng giải thích “dấu” là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là “bùa để làm cho yêu”… Tục ngữ Việt nói “Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu”, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái Quạt Giấy (bài 2) thì viết “Chúa dấu vua yêu một cái này”. Có thể thấy, “dấu” và “yêu” là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ “yêu” vẫn còn được viết hay nói một mình, chứ từ “dấu” thì không ai dùng một mình nữa. Giờ mà, thay vì “anh yêu em” mà nói “anh dấu em” thì không khéo lại bị hỏi “anh giấu cái gì?”
Chợ búa
Trong từ “chợ búa” thì “búa” có nghĩa là gì?
“Búa” trong “chợ búa” chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng “búa” là âm xưa của chữ âm Hán Việt hiện đại của chữ này là “phố”, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán. “Búa” trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa.
Cần cù
Có câu, “cần cù bù thông minh”, “cần cù” là từ láy hay từ ghép? “Cù” có nghĩa gì không?
“Cần cù” là từ ghép, cả “cần” và “cù” đều có nghĩa. Ðây là từ gốc Hán, viết là . “Cần” là siêng năng chăm chỉ, “cù” là khó nhọc, vất vả. Chữ “cù” này còn xuất hiện trong từ “cù lao” chỉ công ơn cha mẹ (thường nói Chín chữ cù lao). Truyện Kiều có câu: “Duyên hội ngộ, đức cù lao/ Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn.” Không nên nhầm lẫn từ “cù lao” này với từ “cù lao” chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.
Bếp núc
Bếp là nơi nấu ăn; núc là “đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn” (theo Huỳnh Tịnh Của, Ðại Nam Quấc âm Tự vị), cho nên có thể hiểu “núc” chính là ông Táo.
Thêu thùa… Vải vóc…
Thêu thùa, đây không phải từ láy! “Thêu thùa” là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa. Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn; Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp. Nói chung, cũng giống như “cần cù”, “gậy gộc”, “hỏi han”, “thêu thùa” cũng là từ ghép dù “thùa” nay đã hiếm khi dùng độc lập. Nhân tiện, chữ “vóc” trong “vải vóc” cũng có nghĩa. Và “vải vóc” đương nhiên cũng là từ ghép. Cụ thể: Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông; Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may. Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng “vải vóc” …là từ láy.
Gậy gộc
Người ta nói “gậy gộc”, “gậy” thì hiểu rồi, còn “gộc”?
“Gộc” là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, “gộc” là chữ này Sách Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: “gộc” là “cây củi có khúc đẩn mà lớn” (đẩn, đẵn, đốn có thể là do phát âm vùng miền có ý nghĩa là chặt), và cho ví dụ “ông gộc” là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng “gộc” là “đoạn gốc của cây tre, cây… vầu” hay có nghĩa là “to lớn”. Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Hỏi han
Mình hay “hỏi han” nhau, “hỏi” thì rõ nghĩa rồi, vậy “han” có nghĩa không?
Tương tự như “gậy gộc”, “hỏi han” không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả “hỏi” và “han” đều có nghĩa. Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: “han” nghĩa là “hỏi tới”, “nói tới”. Theo đó, “hỏi han” nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó. Nguyễn Du từng dùng “han” như một từ độc lập, không dính đến từ “hỏi”, trong câu: “Trước xe lơi lả han chào/ Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi…” (khi Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). “Han chào” chính là chào hỏi.
Xinh xắn
Mình vẫn nghĩ “xinh xắn” là từ láy và cho rằng chữ “xắn” vô nghĩa. Nhưng không, đây là từ ghép đẳng lập, trong đó: xinh là đẹp, cũng có nghĩa là lịch sự. Ðại Nam Quấc âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích “xinh trai” là chàng trai lịch sự. Xắn là sáng, chói, cũng có nghĩa là đẹp. Chữ “xắn” này, vốn là từ sinh đôi (*) của chữ “xán” trong “xán lạn” có nghĩa là rực rỡ, sáng chói (thường… bị viết sai thành “sáng lạng”). Túm gọn lại thì “xinh xắn” là từ ghép và cả hai chữ đều có nghĩa. (Riết rồi tôi không còn tin vào từ láy nữa, tưởng láy hoá ra không phải láy.)
(*) từ sinh đôi hay song lập thể (doublet) là một thuật ngữ của ngôn ngữ học, tạm hiểu là những cặp từ có chung nguồn gốc nhưng phát âm khác nhau.
Sáng láng
Là từ gốc Hán, viết là trong đó: Sáng âm Hán Việt đọc là “sảng”. Tên nữ diễn viên Trịnh Sảng chính là chữ này. Láng âm Hán Việt đọc là “lãng”.… Cả “sáng” và “láng” (tức “sảng” và “lãng”) đều có nghĩa là sáng, rõ, trong. Một lần nữa, “sáng láng” là từ ghép đẳng lập trong khi vẫn bị nhầm tưởng là từ láy và chữ “láng” thường không dùng một mình do nhiều người không rõ nghĩa.
Mông muội
Từ gốc Hán, viết là trong đó:
– Mông là tối, bị che lấp. Chỗ mặt trời lặn gọi là đại mông;
– Muội là mờ mờ, tối tăm.…
“Mông muội” không phải là từ láy mà là từ ghép, ban đầu dùng để chỉ giai đoạn đầu xã hội nguyên thuỷ, khi đời sống con người còn nhiều u mê, như «thời kỳ mông muội». Về sau, «mông muội» còn dùng để chỉ sự ngu ngơ, khờ dại, như “đầu óc mông muội”, «con người mông muội».
Đo đạc
Từ Hán Nôm, trong đó:
– Ðo là tiếng Nôm, viết là đọc là /đo/, nghĩa là dùng thước để so xem dài ngắn rộng hẹp;
– Ðạc là từ gốc Hán, viết là (một âm khác là “độ”), đọc là /dù/, nghĩa là ước chừng, mưu tính.…
“Ðo đạc” là từ ghép, đều mang nghĩa là đo, ước chừng, tính toán khoảng cách. Hiện tượng ghép từ đồng nghĩa giữa Hán và Nôm thật ra rất phổ biến trong tiếng Việt.
Thu thập
Từ gốc Hán, viết là đọc là /shoushi/, trong đó: Thu là bắt, như “thu giám” là “bắt giam”; thập là nhặt nhạnh.… “Thu thập” là từ ghép mang nghĩa là góp nhặt, tập hợp, gom góp lại.
To Tát
Khi mình nói về một chuyện gì đó “to tát” thì “tát” có nghĩa là gì? “To tát” không phải là từ láy mà là từ ghép, cả “to” và “tát” đều có nghĩa. Tuy nhiên, “tát” ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. “Tát” đúng ra phải dùng là “tác”. “Tác” nghĩa là lớn, mình thường gặp qua từ “tuổi tác”. Khi nói “tuổi tác” thì đã mang nghĩa lớn…
Săn sóc
Từ Việt gốc Hán, trong đó:
– Săn là truy đuổi (trong săn thú, săn đuổi). Tiếng Hán viết là đọc là /chèn/, âm Hán Việt đọc là “sấn”;
– Sóc là chăn nuôi, nuôi dưỡng. Tiếng Hán viết là đọc là /chù/, âm Hán Việt đọc là “súc” (trong gia súc).…
“Săn sóc” là từ ghép với nguồn gốc là một “thuật ngữ” của nghề chăn nuôi, chỉ việc săn bắt và nuôi dưỡng thú. Sau này, có lẽ người ta không săn bắt thú nữa (chuyển sang mua bán hết rồi) nên cái nghĩa săn bắt bị mờ dần đi, chỉ còn cái nghĩa chăn nuôi, nuôi dưỡng. Thành ra, “săn sóc” trở thành động từ mang nghĩa chăm nom, chăm sóc.
Trằn trọc
Trong một đêm trằn trọc, mình làm từ “trằn trọc”. Vâng, “trằn trọc” là từ ghép, trong đó:
– Trằn là trì xuống, dằn xuống, đau bụng “trằn trằn” là bụng đau mà cứ trì xuống…
– Trọc, vốn là biến âm của “trục” nghĩa là do dự, nao núng. Chữ «trục» này còn có một âm khác là “trạc”. Hiện tượng biến âm còn có thể thấy qua “cực nhục” thành “cực nhọc”, “túc” thành “thóc”. Như vậy, “trằn trọc” là từ ghép có nghĩa là lẩn quẩn không yên, không dứt ra được. Từ này thường dùng nhất là lúc ngủ mà không ngủ được, cứ day dứt chẳng yên trong bụng.
Đầm đìa
Ðầm là vùng nước trũng, thường có cây cỏ mọc um tùm, nơi chim và cá tụ lại đẻ trứng… Ðìa là ao vũng, chỗ nước moi sâu mà nhử hoặc nuôi cá. Thông thường, “đầm” là vũng nước trũng tự nhiên còn “đìa” là vũng nước trũng nhân tạo. Nói chung, “đầm đìa” là danh từ chỉ hai loại hình thuỷ vực. Nhưng mà dân ta mượn “đầm đìa” để dùng trong các trường hợp ướt sũng, sũng nước, kiểu “nước mắt đầm đìa”, “mồ hôi đầm đìa”.
Lố lăng
“Lố lăng” là một từ ghép (không phải láy) nửa Nôm nửa Hán. Trong đó:
– Lố là từ Nôm nghĩa là quá mức, thái quá;
– Lăng là từ gốc Hán nghĩa là lấn lướt, xâm phạm, là chữ “lăng” trong “xâm lăng”.
“Lố lăng” là từ dùng để chỉ những gì vượt quá lẽ thường, vượt quá chuẩn mực chung của xã hội, như “hành vi lố lăng”, “ăn nói lố lăng”, “ăn mặc lố lăng”.
Sầm uất
Từ gốc Hán, chữ Hán viết là phiên âm là /cényù/, trong đó:
– Sầm là núi nhỏ mà cao;
– Uất (còn có âm là “úy”) là tên một loại cỏ, gọi cỏ úy, cũng có nghĩa là cây cỏ xanh tốt, rậm rạp, từ đó nảy sinh thêm nghĩa là hưng thịnh.
Từ điển Nguyễn Quốc Hùng giảng “sầm uất” là “cao và rậm rạp, nói về những cánh rừng rậm trên núi” và cũng dùng để “chỉ sự đông đảo, thịnh vượng”. Ngày nay chúng ta đều dùng theo nghĩa chuyển này.
Giỗ quải
Bữa viết về từ “cô hồn”, mình có nhắc từ “giỗ quải”, thì nay mình nói về từ này luôn.
“Giỗ quải” là từ Nôm, trong đó:
– Giỗ là kỵ cơm, cúng cơm cho vong hồn, làm lễ giáp năm, lễ cúng cơm cho người chết mà có nhắc công lao khi còn sống;…
– Quải là cúng cơm cho tổ tiên, dọn bữa ăn mà có nhắc mời ông bà cha mẹ đã khuất.
Nói chung thì “giỗ” có thể nói chung cho việc cúng cơm người đã khuất thân hay không thân, còn «quải» thì khu biệt chỉ việc cúng cơm cho người trong họ tộc gia đình đã mất.
Tìm hiểu nghĩa của những từ như này thú vị lắm các vị. Cũng có một số từ mình không lý giải nổi, thí dụ từ “Tết nhứt (nhất)”. Cho tới bây giờ, mình cũng chưa tìm được duyên cớ nào cho ra từ này mà mình thấy thuyết phục. Chờ cao nhân giải thích.
Hống hách
Từ gốc Hán, viết là đọc là /hou xià/ trong đó:
– Hống là gào, thét, gầm, rống;
– Hách là doạ nạt.…
“Hống hách” là từ ghép, ban đầu có nghĩa là lớn tiếng nạt nộ, gào thét để thị uy. Sau này dần biến nghĩa trở thành từ dùng chỉ thái độ ra oai để tỏ rõ uy quyền. Kiểu cán bộ mà tỏ thái độ khinh khỉnh, coi thường dân thì bị cho là có thái độ “hống hách” dù cán bộ không có gào thét gì.
Nói “thái độ hống hách” thật ra không đúng lắm, vì “hống hách” là động từ, không phải tính từ, không thể dùng miêu tả thái độ.
Vậy chứ đố mọi người, “hống hách” và “hách dịch” có giống nhau không?
Hách dịch
từ gốc Hán, viết là đọc là /hèyì/, trong đó:
– hách là to lớn, lẫy lừng;
– dịch là to lớn, long trọng.
“Hách dịch” vốn có nghĩa là vẻ to lớn, chói loá, thậm chí là dữ dằn khiến người khác khiếp sợ. Sau này dùng theo nghĩa làm ra vẻ oai nghiêm, lên mặt với người khác.
Bồ bịch
Tại sao hai người yêu nhau thì gọi là bồ bịch?
– Bồ bịch là một từ ghép, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; bịch cũng là dụng cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy mà lấy nền nhà làm đáy. Ca dao có câu: “Bởi anh chăm việc canh nông, cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.”
– Tiếng Việt trước đây có từ “bầu” (trong bầu bạn), biến âm của từ “bầu” là từ “bồ”, tương tự như đậu xanh – đỗ xanh, thi đậu – thi đỗ… Cho nên thay vì nói “bầu bạn”, cũng có thể nói thành “bồ bạn”. Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên người ta mượn từ “bồ bịch” để chỉ những người thân thiết, yêu nhau. Ðây là hiện tượng mượn âm trong tiếng Việt. Rồi từ đó có thêm các từ chỉ việc có người yêu như “cặp bồ”, “có bồ”. (Ðương nhiên, “bồ” và “bầu” là hai âm tương đương nghĩa, nhưng từ “có bồ” đến “có bầu” lại là câu chuyện khác!).
Buồng số 8, nơi tôi ở cũ, đêm qua có chuyện lộn xộn. Nghe đâu anh em trùm mền đánh “ăng ten”. Tin đồn loan truyền rất nhanh trong khu vực lao động.
Cũng vì chuyện đó, Buồng trưởng kiêm Đội trưởng Cường đã bị bắt giam, vì có trách nhiệm trong vụ lộn xộn này. Tụi Công An nghi, chính anh đã tổ chức, nếu không, anh cũng che chở cho công việc đánh người. Cường bị phạt kiên giam tới khi nào trại tìm ra thủ phạm hoặc chính anh tố cáo. Nhưng chẳng bao giờ tụi Công An tìm ra thủ phạm, cũng như thà bị kiên giam chứ không đời nào Cường chịu tiết lộ tên tuổi người đánh “ăng-ten”! Trong những ngày gần đây, chuyện gì xẩy ra ở trong buồng 8, tụi Công An đều biết. Do đó, phải có người báo cáo. Anh em để tâm tìm, dò xét xem ai có lòng dạ khốn nạn, bán sống anh em? Sau khi tìm ra, chờ tối, sau kẻng ngủ, trùm mền “đánh hội chợ”. Tên bị đánh, hôm sau được chuyển qua buồng khác, và cũng từ đây, đời hắn tàn, không ai thèm nói chuyện. Hắn ngồi đâu, anh em lánh chỗ khác. Hắn bị khinh bỉ và được coi như “hủi”.
Vấn đề đánh “ăng ten” do một nhóm anh em trẻ, cấp bậc từ Đại Úy trở xuống và những người, tuy không thuộc diện quân nhân nhưng “có lòng”, phát động. Phần đông, họ thuộc Đội 20, một Đội nổi tiếng “ba gai” gọi Công An bằng mày như gọi bạn! Một buổi, tôi lao động bên cạnh Đội 20, có tên nữ Công An đi qua, một anh trong đội 20, vỗ vai tên Công An quản giáo lao động đứng gần:
– Ê mày, con đó trông được đấy chứ?
Nóixong, anh phá ra cười, cả Đội cười theo, làm cô gái ngượng quá bỏ chạy! Lao động khi nào muốn nghỉ cứ nghỉ, nghỉ bao lâu tùy ý, họ gọi là “xù”. Danh từ này bây giờ được phổ biến trong các Trại Tỵ Nạn khi đồng bào bị phái đoàn nào đó từ chối: bị đóng mộc xù rồi! Nó xuất xứ từ trong nhà tù Cải Tạo. Đội 20 tượng trưng cho tinh thần bất khuất của Quân Lực Cộng Hòa. Họ sáng tác những ca khúc quật khởi, chống Cộng triệt để. Họ chống đối ra mặt. Anh em trong Đội rất đoàn kết, thương yêu nhau. Tuy nhiên không phải Đội 20 gồm toàn những người có tinh thần như thế cả. Có vài người đứng tuổi, tuy không muốn, cũng vẫn phải theo vì thuộc thiểu số. Họ cũng gánh chịu, hậu quả do những người trẻ tuổi chủ động.
Cường, Đội trưởng, được anh em quý vì luôn luôn đứng về phía anh em dù ở trường hợp hoàn cảnh nào. Một chiều, không hiểu có chuyện gì, một tên Công An đánh tù, người kia đánh lại. Tên Công An kêu mấy tên khác vào để bắt anh kia mang đi. Cường nhìn thấy, phát động anh em la hét rầm trời:
– Cán bộ đánh tù, anh em ơi, cán bộ đánh tù!
Hàng trăm cái miệng kêu lên như vậy, tụi Công An sợ to chuyện, thả anh kia ra!
Có sáng chủ nhât, anh em đi đánh “ăng ten” tại buồng “Bò Lục”. Tuy cấp lớn, nhưng nhiều vị bê bối, sợ sệt tụi Công An quá đáng, làm tụi nó khinh khi chung. Ba người tiến vô, một anh chỉ về phía có người ngồi phơi nắng trên chiếc ghế đẩu ngoài sân. Anh kia nhận diện xong, lừng lững đi vô, tiến đến phía người ngồi trên chiếc ghế, đưa tay túm lấy ngực áo hỏi:
– Mày làm “ăng-ten” hả?
Người kia chưa kịp trả lời, đã ăn mấy loi vào mặt. Đánh xong, buông tay, người kia ngã lăn xuống đất. Ba người lừng lững đi ra trước những con mắt vừa sợ, vừa ngạc nhiên của các vị Đại Tá đứng quanh đó. Nhưng đến chiều, biết đánh lầm, thay vì đánh ông anh, lại nhè đánh người em vì hai anh em giống nhau như đúc. Người đánh đến tận nơi xin lỗi, nhưng người bị đánh không chịu, cứ làm đơn thưa Ban Giám Thị. Nhưng họ cũng chịu, vì không có bằng chúng để bắt. Đối với Cộng Sản khi nào bị bắt tại trận, lúc đó hãy hay, còn không, cứ chối dài dài, chẳng sao. Nhưng cũng từ đó, Đội 20 bị theo dõi rất sát.
Ngoài vấn đề đánh “ăng-ten”, Đội 20 còn lo bảo vệ quyền lợi của anh em về vấn đế ăn uống. Nếu ai thông đồng lấy bánh, cơm, bo bo hoặc rau ra khỏi nhà bếp bị thấy, cũng ăn đòn. Do đó, vấn đề thất thoát cũng đỡ. Còn chuyện buôn bán, đổi chác cũng được Đội 20 kiểm soát, cho ăn lời với mức độ vừa phải. Ví dụ một hột vịt mua 80 xu, chỉ được bán cao nhất 1 đồng. Rau dưa cũng vậy. Chính họ cũng mua về, để bán lại với mức lời ấn định. Ở buồng tôi, cũng có anh gia nhập vào phong trào đó. Anh tên Khang, hạ sĩ I, người nhái. Anh còn trẻ, có sức mạnh, bị bắt vì hoạt động Phục Quốc. Năm ngoái, anh đã cưa chấn song sắt toan vượt nguc nhưng không thoát, bị kiên giam 3 tháng. Một chiều, khi anh em ngồi chờ vào “chuồng”, Khang đứng dậy nói:
– Thưa quý bác, quý anh, tôi xin phép được nói vài lời. Lúc này, ở đây không còn Đại Tá, Trung Tá, Thiếu Tá gì ráo trọi. Tôi, Hạ Sĩ I đây, nhưng được anh em tín nhiệm, cử ra để gìn giữ và bảo vệ quyền lợi chung. Buổi trưa nay, tôi có bắt gặp một anh trong buồng ta, thông đồng với nhà bếp mang về trái bí để ăn riêng. Tôi yêu cầu anh đó tự giác bỏ ra và xin lỗi anh em, nếu không, tôi bắt buộc phải thi hành kỹ luật, tức dùng bạo lực.
Một anh đứng dậy nhận lỗi. Đó là một sĩ quan lái F5 đã nhiều lần Bắc tiến! Anh có vẻ ngượng, nhưng anh em không có thái độ gì về chuyện này, vì nghĩ một trái bí có đáng gì cho mấy ngàn người ăn, trong khi tụi Công An hậu cần nuốt cả ngàn trái bí, chẳng thấy ai nói!
Tin vợ Cường ra thăm nuôi chồng không được gặp, đồn rầm Trại. Người đàn bà ấy cương quyết đòi tụi Công An phải cho gặp chồng, nếu không chị sẽ quay về Hà-nội thưa tại Bộ Nội Vụ, vì chị ra thăm chồng có giấy phép của Hà-nội. Nếu không được nữa, chị sẽ ở lại đây, tuyệt thực đến chết. Chị đã nhịn ăn 24 giờ. Tụi giám thị, sau những cân nhắc, quyết định tha Cường, sau 6 tháng kiên giam, cùm 1 chân. Khi được thả ra, anh không đi đưọc, phải có 2 người dìu. Nước da anh xanh mướt như tầu lá chuối non, vì thiếu ánh nắng. Tụi Công An còn ban ơn cho anh được hưởng 24 tiếng trong “căn nhà hạnh phúc”!
Mọi người đều phục chị Cường, người đàn bà can đảm và có lòng thương chồng tuyệt đối.
Hôm nay, nghỉ bệnh ở nhà, buổi chiều tôi đến thăm Cường. Nhìn thấy tôi, Cường reo lên:
– A, anh, ở trong nhà kỷ luật, anh em vẫn thường nhắc đến anh. Độ này trông anh khá nhiều!
Tôi cảm ơn và hỏi Cường về những ngày gian khổ. Cường cười:
– Chúng em ở trong ấy vẫn vui. Tối nào em cũng chiếu phim.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Phim đâu mà chiếu, chiếu cách nào?
– Chiếu đây, là kể lại những chuyện phim cũ đã xem, để giải trí. Vì mỗi phòng cách nhau có bức tường thấp nên nói gì đều nghe được, cũng như mỗi ngày, em vẫn nói chuyện được với các anh em Trại B, lao động gần đấy. Do dó, tuy bị biệt giam, nhưng mọi tin tức em đều biết, cả chuyện đánh lầm!
– Bây giờ cậu được tha hẳn chưa?
– Tụi nó tha rồi, lại còn cho về Đội 20!
– Nó còn cho làm Đội trưởng nữa thôi?
– Không, lúc này là đội viên, như anh vậy. Mai em đi lao động cho chóng khỏe, vì thiếu nắng người yếu lắm.
– Sao không nghỉ thêm ít bữa?
– Ở nhà chán lắm, tụi Công An ra vô sùng sục, khó nói chuyện!
Tôi đi về, Cường tập tểnh đưa tôi ra tới thềm.
mạnh hải flickr
Đây là căn buồng, tôi đã ở một thời gian. Có anh Trung Tá mất một giò, suốt ngày chống nạng đi lộc cộc và nhà văn Trọng Bình, đã từng viết chung với tôi trong Tạp chí Thế Kỷ vào những năm 1951 -1952 – 1953 tại Hà-nội, do Bùi Xuân Uyên chủ trương. Bây giờ anh đã quá già, lại nghễnh ngãng nặng, mỗi lần nói chuyện với anh phải hét lên, do đó, ít khi tôi nói, nhất là chuyện tâm tình. Anh bị đi cải tạo vì hoạt động đảng phái. Anh có hai người con trai cũng đi cải tạo như anh, nhưng ở trong Nam. Hiện ở Saigon, anh có hai đứa con gái nhỏ, chả biết chúng làm gì để sống? Có lúc buồn quá, anh nói với tôi:
– Lúc còn trẻ hăng say hoạt động, có bao nhiêu tiền đều cùng các “đồng chi” tiêu chung, có bao nhiêu sức khỏe đem dâng cho Đảng. Nay đã già bị tù tội, gia đình khánh kiệt, chả thấy ai hỏi đến, buồn ghê!
Anh nói câu nào, tôi đều nghe rõ, còn tôi nói, anh không nghe, do đó, tôi chỉ ngồi im.
Còn người nữa, chắc chẳng bao giờ tôi quên. Đó là một ông già người miền Nam, khi trước làm Hội Đồng Xã, nay bị đi cải tạo, suốt ngày mồm ngậm điếu thuôc rê, dù cháy dù không, đầu quấn khăn rằn ri, lẩm bẩm như tụng kinh từ sáng sớm tới giờ ngủ. Ông đã rụng hết răng, nên nhai bằng lợi. Mỗi lẫn ăn bo bo, ông không nhai mà nuốt. Trông thật tội nghiệp!
Một nhân vật nữa, hãy còn trẻ. Thiếu Úy ngành cảnh sát, có tài ăn cắp. Ai để cái gì ăn được ở đâu, hắn đều biết, chỉ cần 5 phút, lấy ra khỏi túi đồ. Đi lao động thì thôi, khi ở nhà, nằm dài, chụp chiếc mũ vải lên mặt, mắt lim dim dò xét chung quanh. Một hôm bị bắt quả tang, ăn cả chục cú đấm. Nó ôm mặt khóc rưng rức. Quả thực, hắn quá thiếu, không quà, không thăm nuôi, sức trẻ làm sao chịu đựng nổi với cơn đói triền miên từ ngày cải tạo đến nay.
Ở trong tù, không mấy ngày, không có chuyện, dù vui, dù buồn, do đó, đời sống trong tù không kém phần sống động, nếu chịu quan sát.
Từ cuối năm 1979, việc thăm nuôi dồn dập, không ngày nào không có. Hôm trước đây, vừa xẩy ra cuộc đấu súng giữa Công An và thương phế binh Cộng Sản ở “ngã ba Tâm Thần”. Tụi thương phế binh thường đón đường những người đi thăm nuôi để xin tiền hoặc cướp bóc. Có hôm, tụi nó nói với một người thăm nuôi:
– Tại sao, chị lại tiếp tế cho những thằng Ngụy quân đó. Chúng nó có tội đối với Tổ quốc không đáng hưởng. Người đáng hưởng là chúng tôi đây!
Nói xong, tụi nó cướp đồ rồi cười hô hố. Người đi thăm nuôi mất của, trình Công An. Ban Giám Thị Trại cho Công An vũ trang đến can thiệp. Thế là súng nổ. Một em bé cùng đi với mẹ thăm nuôi bố ở trại B bị trúng đạn chết! Câu chuyện này làm anh em tức giận, nhưng cọp ở trong chuồng, có tức cũng đành chịu.
Nhờ thăm nuôi, nên có nhiều tin đồn, tin nào cũng “hồ hỡi”. Buổi tối, khi sắp đến giờ kẻng ngủ, anh bạn nằm kế bên, nói nhỏ: ·
– Ông ơi, ông có biết tụi Mỹ nó chuộc tù chưa? Mỗi người 20,000 Mỹ kim! Tụi mình sẽ được đưa thẳng xuống Hạm Đội 7, qua Mỹ luôn!
– Ai nói vậy?
– Tin thăm nuôi!
Tôi không dám phản đối, sợ anh bạn thất vọng, nên nín thinh. Lại có tối, anh thầm thì bên tai:
– Ông ơi, ngủ gì sớm vậy, có tin hay lắm!
– Ông nói nghe!
– Tin ông Kỳ qua Bắc Kinh hội với Sihanúc, thành lập Mặt Trận Liên Minh chống Cộng, sẽ đánh chiếm lại Căm Bốt và miền Nam.!
– Ai nói vậy?
– Thăm nuôi!
– Thôi đi ông, nguồn tin thăm nuôi, toàn ba xạo. Nghe nói, ông Kỳ đang đánh tennis ở Cali, đang uống rượu và khiêu vũ ở Night Club mà, tôi chưa thấy tin nào đúng cả.
Tuy nói vậy, trong thâm tâm tôi cũng cảm ơn những nguồn tin thăm nuôi đó, dù đúng, dù sai, nó cũng cho những người tù khổ sai vô thời hạn, chút hy vọng để sống nốt chuỗi ngày vô định, khỏi mang niềm tuyệt vọng!
Thỉnh thoảng, tôi có gặp Duy Lam. Bây giờ anh không đi lao động, ở nhà làm bếp. Anh cùng khóa Thủ Đức với tôi. Khi còn lao động kéo xe “trạc” đã có lần chứng kiến anh chửi Công An, khi thấy tên này nặng lời với người bạn tù.
– Tại sao cán bộ lai sỉ nhục một người già như vậy?
Tên Công An sừng sộ:
– Tôi nói gì, anh bảo là sỉ nhục?
– Cán bộ nói: “đồ con chó!”, không phải sỉ nhục sao?
– Tôi không nói anh
– Cán bộ không nói tôi, nhưng nói bạn tôi cũng vậy!
Tên Công An trợn mắt.
– Tôi nói, đồ con chó, đã sao chưa?
– À, bây giờ tôi mới biết, Xã Hội Chủ Nghĩa đều xài danh từ như vậy cả.
Nói xong Duy Lam quay người nhổ bãi nuớc miếng xuống đất. Tên Công An là quản giáo lao động Đội của Lam, tôi biết, từ nay, Lam sẽ bị theo dõi và làm khó.
Buổi sáng nay, chủ nhật Lam sang thăm tôi.
Chúng tôi ngồi nói chuyện tầm phào. Duy Lam, nhà văn trẻ nhất, cũng là nhà văn cuối cùng được kết nạp vào nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Là cháu của nhà văn Nhất Linh, nên chịu ảnh hưởng chính trị của nhóm Tự Lực do Nhất Linh làm lãnh tụ. Cùng là Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng thuộc hệ phái riêng, không cùng chung hệ phái với Vũ Hồng Khanh. Nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng này, đã có một thời gian bị giam giữ tại đây cũng như Bác sĩ Hoàng Cơ Bình. Nay các vị đó đã được tha về! Lam là anh ruột nhà văn Thế Uyên, một cây bút trẻ viết rất sâu sắc, nhưng dưới chế độ này, chắc gì còn có cơ hội để phô diễn tài năng? Thường thường Duy Lam hay nói với tôi về chính trị nhiều hơn văn học. Duy Lam thường chủ quan khi phân tách tình hình thế giới với những dữ kiện không tưởng. Anh thuờng đánh giá kẻ thù rất thấp và luôn luôn tin tưởng có cơ hội làm lại những gì đã đổ vỡ. Duy Lam rất thích mấy câu thơ:
Lũ chúng ta, bầy kình ngư mắc cạn Chờ chết khô vì thiếu sóng đại dương Chúng ta đi trên vạn nỗi buồn Của thương nhớ từng mô hình dĩ vãng Xa vắng vợ con, chia lìa bè bạn Quê hương tan nát, đã mấy thu rồi? Hỡi anh em, bè bạn, chúng ta ơi! Cùng đứng lên, phá tan vùng Địa Ngục….!
Mây câu này, trích trong một bài thơ dài, tôi làm trong tù. Vấn đề làm thơ trong tù cũng khó khăn lắm. Phải làm và sửa thơ trong đầu, không cần giấy mực! Tôi đã nói với Thế Hoài nhiều lần, đừng có chép thơ trên giấy, cố gắng học làm thơ trong đầu, nhớ lấy, khi nào được tha, sẽ chép ra không muộn, chứ nếu ghi lại, nó khám bất ngờ bắt được, lôi thôi lắm. Y như rằng, Thế Hoài bị khám “đột xuất” vì có “ăng-ten” báo cáo. Tụi Công An tìm ra tập thơ. Đến sáng thứ hai, trước khi gọi các Đội đi lao động, tên Thịnh tuyên án trước trại: Thế Hoài bị cúp gửi thư và thăm nuôi 6 tháng vì tội “làm thơ chống chế độ”. Khi gặp, tôi trách, sao không nghe lời! Thế Hoài đáp:
– Trí nhớ quá kém, thuộc không nổi, thôi đành chịu vậy!
Khi còn ở Long Giao, Suối Máu, tôi làm thơ cũng chép ra giấy, sau thấy nó khám kỹ quá, phải làm thơ và nhớ trong đầu, vì thế, nên thoát. Các bài thơ làm ở Long Giao, Suối Máu được Thu Hy, người mê thơ, chép lại, lúc được tha vào năm 1978, anh mang về, trao lại cho Lê, người bạn rất thân của tôi cất giữ. Khi tôi được tha, Lê đã trả lại. Tất cả, hơn 10 bài. Nếu không có Thu Hy, chắc mười mấy bài thơ đó đành quên, vì có bài dài gần 100 câu, thơ tự do!
Mấy ngày Tết mưa gió dầm dề. Ai cũng ngồi thu lu một chỗ, uống nước, hút thuốc lào vặt. Có một sòng bài xập xám được tổ chức ngay trong “chuồng”, anh em sát phạt nhau đến nơi ! Tôi không hiểu sao họ lại có tiền và có nhiều tiền là đằng khác. Có lẽ, vì mua qua bán lại dần dà có vốn. Một dạo, thỉnh thoảng tù được ăn cơm, có người nhịn, mang cơm đi bán, mỗi phần 3 đồng, bánh mì luộc 2 đồng một chiếc. Với số tiền ấy họ làm ăn lâu dần, góp lại.
Hôm Tết, chiếc “bánh chưng thăm nuôi” được bán với giá 20 đồng. (tức 10,000 đồng tiền cũ).
Thường thường mỗi chiều, tôi và Tài ngồi trên một tảng đá trong sân, nhìn lên dẫy núi răng cưa, sương che mù mịt. Chúng tôi nhắc đến những ngày đã qua và những ngày sắp tới trong tù. Cả hai chúng tôi không ai nghĩ đến chuyện được tha. Tôi và Tài không ở chung buồng, thỉnh thoảng qua lại, nhưng luôn luôn cảnh giác vì sợ bị bắt trói vì liên hệ!
Mấy ngày Tết qua đi rất nhanh. Ngày mai, mồng 4 lại đi lao động. Mưa rét làm con người dễ trở nên lười biếng. Nhưng dù thích hay không, mọi người sáng nay nghe tiếng kẻng đều phải sửa soạn. Những bộ quần áo lao động được mặc vào, trông lem luốc, vá chằng vá đụp. Hồi trong Tết, nhiều người nhận được quà 5 kí, vì có bồi dưỡng, trông cũng phần nào đỡ thê thảm! Tuy vậy, nhìn chung, đa số vẫn hốc hác. Tướng Huỳnh văn Cao, ngày ngày đẩy xe “trạc”, tuy nhiên, cũng chưa đến nổi nào. Vị tưóng này, có một thời là con cưng của ông Ngô Đình Diệm và cũng là vị Tổng Cục Trưởng đầu tiên của ngành Chiến Tranh Chính Trị. Sau này vì hoàn cảnh, ông rời bỏ quân đội đi làm chính trị. Đôi lúc, tôi và tướng Cao ngồi nói chuyện, nhưng ông vốn kín đáo, khó hiểu. Tôi nghe nói, có một lần ông cũng như tôi, dùng độc dược, nhưng cũng không dứt được nợ đời. Tôi hỏi, ông chỉ cười!
Ngay mồng 6 Tết, tôi được gọi thăm nuôi. Em gái tôi lại đến. Lần này, anh em tôi gặp nhau ở căn nhà thăm nuôi mới được xây cất gần nơi làm “trạc”. Lần này tôi được em tôi mang cho mấy chiếc bánh chưng lớn, cùng nhiều thứ khác, trong đó có mấy chiếc bánh lá, là loại bánh đặc biệt của miền Bắc, làm bằng bột lọc, nhân đậu xanh có miếng mỡ nhỏ và hạt tiêu thơm phức.
Thèm quá, tôi bóc một chiếc đưa vô miệng. Tên Công An phụ trách thăm nuôi, nhìn tôi nói:
– Này, anh quên nội quy thăm nuôi rồi sao?
Tôi bỏ vội chiếc bánh xuống. Các em tôi, nhìn thương hại. Em gái tôi nói nhỏ cho nghe về chuyện gia đình tôi ở trong Nam với những khó khăn mà vợ con tôi đang gánh chịu dưới chế độ Cộng Sản. Đứa con trai lớn, Trung Úy Không Quân, học tập ở Phước Long đã vượt trại, do mẹ và vợ nó tổ chức cướp tù. Nó đang trốn và tìm đường vượt biên. Em tôi vừa nói vừa liếc nhìn tên Công An đang ngồi ở chiếc bàn gần đấy. Em tôi hỏi, tôi đã lấy lại được 40 đồng chưa? Tôi nói, tuy khộng lấy ra được nhưng đã đăng ký hết vào việc mua phở và thịt heo do trại bán.
Nói đến phở, hồi trong năm, trại có tổ chức bán phở trâu cho tù, mỗi bát giá 1 đồng, được trừ vào số tiền gửi thăm nuôi. Mỗi nồi 10 bát tức là 10đ/1nồi… Có anh đăng ký mua tới 20 bát, tức 2 nồi, ăn liền một hơi hết 17 bát. Anh tên Thanh, em ruột tướng Đổ Cao Trí. Tôi cũng mua 10 bát phở trâu, nhưng tuy đói, ăn hết sức chỉ hết 7 bát! Bát đây là chén ăn cơm chứ không phải tô đựng canh.
Trại còn tổ chức bán thịt heo, giá 20 đ/một kí, nhưng sau này giá tới 45đ/một kí vì đồng tiền mỗi lúc mỗi xuống giá! Chúng tôi tính ra, mỗi lần bán phở, Ban Giám Thị lời cả mấy triệu tiền cũ. Gần 2,000 tù, mỗi người trung bình 5 bát, mỗi bát lời 50 xu, trên dưới 10,000 bát phở, có mấy triệu như chơi ….
Lần nay anh em tôi được nói chuyện 2 giờ, theo quy định. Bây giờ cửa thăm nuôi đã mở rộng, chắc Cộng Sản nghĩ mình không nuôi nổi tù, cho gia đình tù nuôi đỡ. Có nhiều loại tù được hưởng ân huệ từ 24 giờ đến 72 giờ, nếu có vợ đến thăm nuôi. Anh nào được 24 giờ mừng húm, mặt mày phởn phơ sau một đêm “ăn nằm” trong “căn nhà hạnh phúc”, có hai chiếc gối thêu đôi chim đang mớm nhau với mầu chỉ sặc sỡ. Tôi chưa có hân hạnh bước chân vào căn nhà hạnh phúc đó bao giờ, nghe anh em nói lại như vậy. Nhưng không phải ai cũng vui vẻ đón mừng đặc ân do tụi Công An ban phát. Có người đã can đảm từ chối ân huệ. Đó là Đội trưởng Ngân, cựu Trung Tá Hạm Trưởng. Anh đã cương quyết từ chối, trước sự ngạc nhiên của tên Huy, Phó Giám thị và truớc sự năn nỉ của người vợ hiền thương chồng.
– Anh cứ ở lại với em và con một đêm. Em đã “uống thuốc” rồi!
– Không, không! anh nhất định từ chối ân huệ này, dù anh thương em lắm! Anh không muốn hưởng chút hạnh phúc do kẻ thù ban phát. Chúng ta không phải những con vật, chúng ta là người, dù là người thua trận, đang bị trừng trị trong trại cải tạo. Em hãy cố gắng chịu đựng chẳng những hôm nay, cả mai sau nữa. Khi kẻ thù vì một lý do nào đó tha anh, anh cũng sẽ đi vào mật khu chiến đấu, hoặc đi ngoại quốc, chứ anh không thể sống một ngày chung đụng với tụi Cộng Sản!
Nói xong anh đi về “chuồng” ngủ với anh em! Anh không giấu diếm gì, nói với tôi như vậy! Sáng hôm sau, anh được ra thăm nuôi, cho đủ 24 tiếng. Anh dùng thì giờ để viết thư cho mẹ, cho anh em với những lời giã biệt! Nghe anh em cùng ở chung với Ngân, từ các trại tù ở Hoàng Liên Sơn mấy năm trước, cũng có lúc anh tin vào chính sách 3 năm của Đảng và Nhà Nước, cố gắng “học tập tốt, lao động tốt”, nhưng sau 3 năm, thấy Cộng Sản không giữ lời hứa, từ đó, anh thay đổi thái độ.
Lần thăm nuôi này, em gái tôi không khóc. Chúng tôi nói được nhiều chuyện, tuy chưa hết, nhưng hơn lần trước nhiều. Chúng tôi nắm tay nhau trước khi từ biệt. Tôi có lén đem theo được bức thư gửi về cho vợ con. Em gái tôi cho biết, vợ tôi muốn ra thăm, nhưng Công An địa phương không cấp giấy phép! Trước khi chia tay, chúng tôi nhìn nhau như cố thu hút tất cả những nét thân yêu vào trong tâm khảm!
Một mình tôi phải mang hai túi đồ thăm nuôi nặng chừng 30 kí, kể cả mấy chiếc bánh chưng và túi gạo. Khi vào đến nhà trực, tôi phải trình khám. Lần này tên Lực khám đồ. Nó mở tung từng gói, cắt đôi mỗi chiếc bánh chưng, cho dao vào lọ thịt kho khoắng. Sau khi khám đồ xong, nó lần lưng, nắn túi, sờ “chim”, không chừa chỗ nào. Khám xong nó cho mang vô trại! Cũng như lần trước, tôi phải xin phép tên Công An vũ trang gác trên chòi cao, trước khi vào. Bên trong cánh cửa sắt, đã có vài anh em chờ sẵn mang dùm vô buồng.
Tuy đã mùng 6, nhưng hương vị Tết hình như chưa phai vì trời vẫn lạnh, cái lạnh khan, không mưa không nắng chỉ có gió thổi dào dạt trên các lùm cây bên sườn núi. Tôi mời anh em, những người có mặt, ăn bánh lá và bánh chưng với mứt bí cho vui.
Được thăm nuôi, tôi lại có thể no được một thời gian ngắn. Lúc này bột mì đã hết, trại cho ăn bo bo, loại bo bo vỏ, rất khó ăn, ăn bao nhiêu đi cầu bấy nhiêu, có thăm nuôi cũng đỡ phần nào. Vì có thăm nuôi, nên trại cho đun nấu, nhưng cấm không được đun nấu trong buồng. Tuy vậy tù vẫn tìm mọi cách để đun bằng những bao và chiếu nylon trong chiếc lon đục thủng làm lò.
Mỗi buổi tập họp đi lao động, trước khi ra khỏi cổng, một tấm tranh bích họa đập vào mắt, về một tên Trung Cộng bị đánh một gậy, ôm đầu chạy, có dòng chữ “Bài học thứ nhất cho quân bành trướng”. Tôi nghĩ, chính vì tên bành trướng nay, chúng tôi được đưa về từ miền biên giới suối độc rừng thiêng về miền xuôi, khi tên đó đánh luôn 7 tỉnh, san phẳng Lạng Sơn – một tỉnh địa đầu cách Ải Nam Quan không xa và phá luôn nhà máy gang thép Thái Nguyên! Trại mới tiếp nhận thêm một số mấy trăm người tù nữa từ biên giới đưa về mang cấp bậc từ Thiếu Tá trở xuống!
Trong số này, tôi gặp lại Quân, một sĩ quan trẻ trên tầu Sông Hương. Vừa nhìn thấy tôi, Quân cười hì hì:
– Con đâu ngờ lại còn gặp bố ở đây!
– Tôi cũng vậy! Sao, từ ngày ở bến Sáu Kho cậu đi đâu?
mạnh hải flickr
– Con đi nhiều trại lắm, thuộc Hà Bắc. Cứ luẩn quẩn trong các thung lũng miền biên giới, nào leo núi vác cây, chặt dang, làm nhà, đắp đường, việc nào cũng khổ sai, lại đói dài dài, bố ơi!
– Đói, ai không? Chủ trương của Cộng Sản như vậy mà! Chúng nó đầy đọa để trả thù lúc trước mình đã làm tụi nó khổ trong mấy chục năm, cậu không nhớ sao?
– Nhớ chứ bố, nhưng con nghĩ, cái gì qua, cho qua luôn, nhớ làm gì cho mệt!
– Cậu ngây thơ bỏ cha, vì thế nên bây giờ mình vẫn bị tụi nó đánh lừa từ việc nhỏ đến lớn!!
– A, tụi con mới bị nó đánh lừa xong đó bố! Khi chuyển trại từ trong rừng ra, không có phương tiện, tụi nó tập họp bảo: “Các anh được tha, nay chuyển về nơi làm lễ phóng thích, nhưng lúc này trại không có phương tiện, các anh chịu khó đi bộ vậy”.
Hơn 100 con người hoan hỉ reo hò, vội vàng thu xếp hành trang lên đường. Tụi nó chỉ có 4 tên cảnh vệ võ trang áp tải. Chúng con đi 5 ngày. Ngày đầu ai nấy còn sức, mang vác còn được. Mấy ngày sau vứt hết, vì nghĩ mình sắp được tha, cần gì giữ đồ nhiều. Ngày đi, đêm ngủ vạ vật, ăn lương khô, uống nước suối. Nhưng ai nấy đều hồ hỡi, quên cả mệt mỏi chỉ mong cho chóng đến nơi làm lễ phóng thích. Khi tới nơi, một trại tù mới, anh em vỡ lẻ, bị đánh lừa, nhưng đã muộn! Mùng mền đã vứt hết ở dọc đường, nay chẳng còn gì dùng. 4 tên cảnh vệ võ trang áp tải chuồn đâu mất, chỉ có tụi cối xanh lạ hoắc. Anh em hỏi, chúng nó trả lời, không biết! Nghe vậy đành nhìn nhau dở khóc, dở cười, tức như điên, không ai dám chửi công khai. Cũng may, lúc này đang mùa nóng, và nhờ có anh em ở trại trước, giúp đỡ, cho ngủ chung mùng, nên cũng đỡ khổ! Ở được mấy tháng, lại chuyển xuống đây, rồi chẳng biết ngày mai đi đâu nữa? Bố ở đây lâu chưa? dễ chịu không?
– Được trên 1 năm rồi! Trại tù nào cũng vậy, có gì đâu mà dễ chịu! Chỉ có khác, đây thuộc Công An nên tụi nó giữ tù chặt lắm! Lúc di chuyển, cậu có bị còng tay không?
– Không, vì tụi “cối xanh” không có còng. Chúng con được đi tầu hỏa từ ga Ấm Thượng, Phú Thọ. Chán quá, biết đến bao giờ mới thoát khỏi cảnh này?
– Muộn rồi, cậu! Nhưng chưa hẳn tuyệt vọng!
Quân ở khác buồng, khác Đội, nên ít khi gặp, nhưng mỗi lần nghĩ tới chuyện này, tôi tưởng như có Quân bên cạnh.
Để tiêu diệt giai cấp Tiểu Tư Sản và những giai cấp đối lập khác, Hồ Chí Minh đề ra khẩu hiệu: “Trồng cây 10 năm, trồng người 100 năm!” Nếu ta quan niệm, mỗi thế hệ là 20 năm, phải mất 5 thế hệ mới có thể gây dựng được những con người trung kiên với chế độ Cộng Sản. Một khi chế độ này có mặt, coi như Việt Nam chẳng bao giờ thoát khỏi sự kềm kẹp dưới chế độ Cộng Sẩn độc tài! Ngày nào cũng vậy, tôi cứ phải nhìn, cũng như phải đọc 4 tiêu chuẩn cải tạo viết trên bức tường đối diện. Những dòng chữ lừa bịp, dối trá như:
“Thành thực khai báo, tố cáo đồng bọn! Học tập tốt, lao động tốt. Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước. Không được tồn trữ sách báo khiêu dâm và đồi trụy. Không nói tiếng nước ngoài v.v….”
Đó, đại khái nội dung 4 tiêu chuẩn Cải Tạo như vậy. Ở đâu cũng ngần ấy chữ lập đi, lập lại!
Một buổi sáng, chia phần ăn sáng, tự nhiên nghe có tiếng đấm đá thùm thụp ngay bên canh. Tôi quay người nhìn, thấy hai người đang ôm nhau lăn lộn dưới đất. Người nằm trên thoi liên tục xuống kẻ nằm dưới. Cũng may trời còn lạnh, mặc nhiều áo, nếu không, với những cú loi đó, chắc kẻ nằm dưới ăn đòn đau. Anh em xúm lại can, kéo anh nằm trên ra, nhưng trước khi buông, anh còn cố loi thêm vài cú nữa! Anh nằm dưới cũng không vừa, bàn tay cứ tới tấp đưa lên, thoi vào mặt anh nằm trên. Khi hai người đứng lên, mặt mũi đều tím bầm, đầu tóc bù xù, áo quần tơi tả. Tôi biết một anh là trung tá Dù, anh kia cùng cấp ở Thủy Quân Lục Chiến. Anh Dù chỉ vào mặt anh Thủy Quân Lục Chiến chửi:
– Đù mẹ mày, chuyên chia ăn gian, đến phần của mày là “ém”! Tao để ý nhiều lần rồi!
Anh kia không kém.
– Đù cha mày. Phiên mày chia, mày cũng làm vậy, tao biết, không thèm nói đó. Trưa nay, lao động về, tao với mày tử chiến.
– Đù mẹ, nói phải giữ lời. Trưa nay!
Tôi nhìn hai chiếc chén “tàu thủy” nằm tênh hênh trên nền đất. Mỗi cái chứa trong lòng nó 2/3 bo bo, loại có vỏ. Trong lòng tôi quặn đau, vì không ngờ chỉ hơn kém vài chục hạt bo bo, xẩy ra cảnh uýnh lộn! Tuy chuyện cá nhân, nhưng cũng làm thương tổn rất nhiều đến tinh thần đoàn kết giữa anh em đang sống trong một khung cảnh cần đoàn kết hơn bao giờ hết!
Buổi trưa, sau khi ăn xong, cửa chuồng khóa, do đó, hai anh không thực hiện được lời thách thức! Ai cũng tưởng chuyện đó qua đi. Nào ngờ, sáng chủ nhật, hai anh vẫn quyết đấu tới khi có kẻ thắng, người bại!
Sáng nay, trời hanh nắng. Sau khi anh em ăn sáng xong, ai có quà thăm nuôi lui cui cải thiện trong những chiếc lò nhỏ, ai không có, ngồi nói chuyện tầm phào cho qua cơn đói! Ở một góc sân, hai anh đã đứng thế thủ đang gườm gườm nhìn nhau bằng con mắt thù hận
Không ai nói câu nào, anh trung tá Dù tấn công trước, có lẽ do tinh thần xung phong nơi trận mạc đã quen, lòng hiếu thắng lấn áp cả lương tri. Anh cố gắng hạ đối phương đo ván bằng những cú đấm, đá liên tục. Anh kia tuy nhỏ con hơn, nhưng né đòn rất hay. Bao nhiêu cú đấm đá như sấm sét chỉ là những đòn gió không trúng. Còn anh Thủy Quân Lục Chiến loi cú nào đích đáng cú ấy. Khi đánh quyền Anh, mỗi hiệp có 3 phút, mà hai anh đấm đá liên tục cả nửa tiếng vẫn chưa chịu nghỉ. Anh em đứng quây xung quanh xem, như xem cuộc chọi gà. Đấm đá mãi, mệt quá, anh nào mặt mũi cũng xanh lét, đường quyền đã lảo đảo. Sau cùng, tự ý nghỉ chơi, như vậy huề! Từ đó, hai anh đã biết sức nhau, nên không dùng võ lực, nhưng cũng chẳng bao giờ nói chuyện với nhau nữa. Họ sẽ giận nhau suốt cuộc đời!
Tin đồn sắpcó biên chế được tung ra! Anh em bàn tán mỗi ngày, nhưng chuyện đó chưa xảy đến ! Vì lo nghĩ nhiều chuyện khác, nên cũng quên đi. Đùng một cái, tin biên chế thành sự thực. Một buổi trưa, các Đội xếp hàng đi lao động như thường lệ, tên Thịnh đứng sau chiếc cửa tò vò trong “chuồng chim”, nói:
– Chiều nay, khỏi lao động. Các anh được “biên chế” lại, cần chú ý nghe tên mình thuộc Buồng nào, Đội nào, để sau đây cứ thế thi hành. Đây là việc “biên chế” toàn trại, do đó, mất rất nhiều thì giờ, sau khi nghe xong, phải thi hành ngay mới kịp ! Các anh nghe rõ chứ ?
Tên Thịnh gọi qua chiếc loa cầm tay chạy bằng pin, như loại các cán bộ Tâm Lý Chiến thường dùng trong các công tác vận động quần chúng !
– Tiên sư tụi nó, lại đểu cáng! Nếu mất nhiều thời giờ, sao không cho mình làm từ sáng? Nó sợ mất nửa ngày công lao động của tù!
Một tiếng chửi cất lên trong hàng! Tôi quay nhìn thấy Thạch, Tổ trưởng.
Chiếc loa phóng ra từng tên, số Đội và số Buồng.
Đây công việc cho tên tù vào rổ xóc, rồi bốc ra từng nắm, nhằm mục đích để tù không có hoàn cảnh và thời gian cấu kết, âm mưu chuyện gì đó không có lợi cho Cộng Sản. Việc gọi tên, được thực hiện cả 2 tiếng đồng hồ. Sau đó, anh em ùa về như đàn ong vỡ tổ. Buồng nào, buồng ấy loạn cả lên. Tất cả đều vội vàng, nhồi nhét vào bao, chuyển ra sân để đến nơi ở mới. Có người, sau khi thu xếp xong, để đó đi xem nơi ở mới, lúc quay về, mất gói đựng đồ ăn, kêu như cha chết!
Tôi bị chuyển đến căn buồng ngay cổng trại. Mỗi Buồng gồm 2 Đội, làm hai công việc khác nhau, tùy theo quyết định của Ban Giám Thị mỗi ngày. Trời bắt đầu vào mùa lạnh. Những cơn gió đầu mùa đã thổi từng cơn dào dạt mỗi sáng, mỗi chiều. Mọi người đã mang áo lạnh đi lao động. Con nước đã rút từ lâu, để lộ những bờ đất ngang dọc, đan kín một vùng rộng lớn. Đội tôi phải đi vớt cỏ ruộng.
Buổi sớm nay mưa gió tơi bời, những cơn mưa không đủ lớn, để có thể nghỉ lao động. Gió thổi vun vút, chúng tôi đi dưới cơn mưa. Những chiếc áo tơi đủ kiểu được khoác lên người. Từ trại đi đến ruộng cũng khá xa, khoảng 2 cây số. Đường đi phải men theo sườn núi rồi xuống con dốc, đi theo con đê nhỏ dẫn đến khu làm ruộng. Công tác này, không phải một Đội, mà nhiều Đội. Mỗi Đội làm một việc. Đội rắc vôi, Đội sửa bờ, Đội khai mương, bắc cầu, Đội làm cỏ. Ở giữa ruộng, có chòi gác cao. Một tên Công An vũ trang đứng trên đó nhìn bao quát toàn khu.
Tên Công Ạn quản giáo xua chúng tôi xuống ruộng kéo cỏ. Buối sáng trời mưa gió lạnh giá, chúng tôi xắn quần tới bẹn. Vài người cởi quần dài, mặc xà-lỏn lội xuống. Có người hụt hố, nuớc ngập tới ngực. Những chiếc hố sâu do sự lấy đất đắp bờ. Chỗ nông, nước quá đầu gối. Tôi vừa cho chân xuống đã thấy 2, 3 con đỉa đói đang đo nước tiến đến. Nhìn thấy chúng, tôi bước nhanh để tránh. Nhưng dù cẩn thận đến đâu, buổi sáng hôm đó, tôi cũng bị 3 con hút máu, khi lên đến bờ, mới biết vì máu chảy ròng ròng. Theo kinh nghiệm, tôi xé chút lá nón áp vào chỗ máu chảy, tự nhiên máu ngưng liền. Hay thật, người nông đân Việt Nam có nhiều cách trị đỉa. Thuở nhỏ, tôi về quê, thấy gã lực điền, mỗi khi đi cầy, thường mang theo ống tre nhỏ, đựng vôi trộn với bồ hóng bếp để trị đỉa. Mỗi lần đỉa bám, họ cầm chiếc que cắm sẵn trong ống tre, gạt nhẹ, đỉa nhả ra ngay. Trong trường hợp lội ít, có thể dùng nước miếng thoa vô, đỉa cũng nhả, nếu không, gỡ ra còn khó! Trên rừng có vắt, dưới nước có đỉa, quả trời sinh ra những loai này quá vô ích, cũng như ruồi muỗi vậy!
Chúng tôi làm công tác kéo cỏ thì ít, bắt cua, ốc thì nhiều. Mỗi buổi, người nào cũng mang về đầy nhóc hai túi ốc, cua. Có buổi, khi về đến cổng, chờ được vô trại. Nhưng chờ mãi chua thấy gọi, trong khi các Đội khác tuy về sau lại được vô trước. Chúng tôi biết ngay có sự chẳng lành. Tên hung thần Lực tiến đến:
– Đội 15, đứng dậy. Mỗi người, đứng cách nhau 1 thước.
Mọi người đứng lên, mặt buồn xo. Những túi cua, ốc được vứt ra xa từ trức, vì biết thế nào cũng bị khám. Mọi người đều dang ra đứng nghiêm chỉnh. Một anh, đứng trước mặt tôi, có túi cua, ốc con để nguyên trong chiếc mũ vải. Tôi tin, thế nào anh cũng bị tịch thu, còn bị viết kiểm điểm nữa. Nhưng anh quả tài tình, tên Lực khám kỹ như vậy, anh ta phớt tỉnh cứ đưa lên, hạ xuống chiếc mũ, khiến tên Lực không để ý, thế là thoát. Mọi người đều bị thu hết, nếu chưa vứt kịp.
Sau khi khám xong, tên Lực còn xỉ vả một hồi, mới cho vô trại. Về đến buồng, tôi hỏi anh, sao tài thế? Anh cười cười:
– Có gì đâu Bố, tụi nó cũng có 2 mắt, 2 tay, 2 chân như mình. Ai lanh người ấy được! Con chỉ nhờ lanh, qua mặt được tụi nó!
Ngày tháng phai đi. Mùa lạnh đích thực đã về với nhưng cơn mưa phùn lê thê kéo dài theo gió Bấc. Chúng tôi đã được gửi thư có phiếu quà từ 2 tháng trước, nay quà thấp thoáng tới. Vì thiếu thốn quá, lại lao động khổ sai lâu ngày, không còn sức chịu nổi, nên ngã bệnh rất nhiều. Phần đông, trông như những xác ma. Có lẽ, tụi Cộng Sản nhìn rõ, nếu không cho thăm nuôi, sớm muộn gì tù cũng chết 1/3, 1/3 ngất ngư, còn 1/3 gồm những người còn có sức chịu đụng thêm một thời gian ngắn, rồi cũng quỵ. Cứ ăn bánh mì nướng, bánh mì luộc với muối thì không sao sống nổi. Do đó, họ quyết định cho viết thư về gia đình nói rõ địa điểm giam và báo cho gia đình biết, thể thức thăm nuôi. Nhưng từ ngày viết, đến lúc gia đình nhận được thư, lo sửa soạn xin phép địa phương, đến lúc thăm nuôi được, ít nhất cũng nửa năm! Thư đi, mỗi tháng được gửi một lần nhưng thư nhận mỗi năm may ra được 2 lần. Do đó những gì cần nói, hay cần biết về gia đình đều mất hết thời gian tính. Vấn đề này nằm trong phương cách kềm chế tù của Cộng Sản.
Còn gần 1 tháng nữa đến Tết. Chuyến thăm nuôi của em gái tôi qua đã lâu. Tôi lại quay về với ổ bánh mì chấm muối, đôi khi có phát cá khô, nhưng con cá nhỏ xíu, ở miền Nam dùng làm phân bón.
Một sáng, tên Công An buồng vô mở cửa “chuồng”. Khi vừa mở khóa, rút luôn chiếc then sắt cầm trong tay. Chờ mọi người ra sân hết, nó nói:
– Các anh sửa soạn, mang tư trang ra sân điểm nghiệm.
Ai nấy quên cả việc đánh răng, rửa mặt vội vàng thu xếp đồ đạc mang ra sân. Buồng trưởng Cường nguyên là cựu Chuẩn Úy biệt phái qua Bộ Giáo Dục, giáo sư Toán, bị bắt đưa ra đây vì ở trong mặt trận Phục Quốc. Anh rất trẻ, tính tình hòa nhà, có thái độ rõ ràng với Cộng Sản, nhìn tôi nói:
– Tụi “chèo” lại giở trò gì rồi, anh cẩn thận!
Ở đây, tù thường gọi tụi Công An là “chèo” vì ngụ ý khinh khi, coi thường. Tụi nó chỉ là những tên nhà quê đóng tuồng, không có giá trị gì, tuy bộ môn hát chèo là một nghệ thuật cổ truyền của Dân Tộc.
Một buổi, có tên Công An hỏi người tù:
– Tại sao các anh lại gọi tôi là “chèo”?
Anh kia trả lời cho xong :
– Chúng tôi gọi cán bộ là “chèo”, nhằm đề cao đó. Con thuyền Cách Mạng hôm nay đạt tới bến vinh quang, nhờ có nhiều người “chèo lái” giỏi, mà Công An là những tay “chèo” chính, chuyên lo về nội trị mà!
Chăng biết lời giải thích đó có làm tụi Công An hết thắc mắc không, chỉ biết từ đó chúng không hỏi thêm nữa!
Anh em cứ ngồi chờ hơn 1 tiếng đồng hồ, không thấy tên Công An nào vào khám đồ. Trời lất phất mưa. Bỗng tên Công An buồng từ ngoài xồng xộc bước vô nói:
– Các anh thu đồ lại, ra sân lớn chờ lệnh!
Tuy không ai có thì giờ nói với ai, nhưng mọi người đều đoán, sẽ chuyển Trại.
mạnh hải flickr
Chiếc sân lớn đã kín người và hành trang. Không khí hôm nay hoàn toàn khác biệt với những buổi tập họp hàng ngày. Rất nhiều Công An vũ trang đứng lố nhố ngay nơi cổng Trại. Tên Huy, phó Giám Thị, hai tay khoanh sau lưng, đi đi, lại lại trước “chuồng cu”. Tên Thịnh đứng sẵn bên trong tay cầm chiếc loa:
– Các anh im lặng! im lặng!
Tiếng ồn ào im bặt.
– Hôm nay có một số anh chuyển Trại. Tôi đọc tên anh nào, anh đó đứng dậy mang đồ ra khỏi cổng. Nghe rõ cả chưa?
– Chưa rõ, yêu cầu nói lại!
Đúng, chiếc loa yếu pin, nên chỉ người nào ngồi gần nghe, còn ở xa không rõ!
Tên Thịnh thử loa, nhưng nó vẫn rè rè, sau tên Huy cho lệnh đi lấy chiếc khác. Chiếc loa mới được mang đến.
– A lô, A lô, các anh nghe rõ không?
– Rõ!
Trên 1,000 cái miệng cùng há ra, tạo nên âm thanh vang động!
– Bây giờ, tôi bắt đầu gọị!
Không khí im phăng phắc. Sau mỗi tiếng gọi, một người đứng dậy vác đồ lên vai len lách đi ra phía cổng. Cuộc gọi tên đến trưa mới dứt. Số người đi, chừng nửa trại. Những ai còn ở lại cũng được biên chế qua buồng khác. Tôi được biên chế qua buồng kế bên.
Vào xế trưa, có mấy trăm người tù trại C và B chuyển tới. Đây là “biên chế Liên trại”
Chúng tôi sống luôn luôn bị đe dọa bởi những bất trắc. Ngày Tết gần kề. Đây là cái Tết thứ tư tôi đang sống trong tù. Tôi gặp lại Tài, người bạn trẻ đã chặt dùm tôi mấy cây dang khi còn ở Yên Bái. Có Tài, đời tù cũng vui lên một chút, vì có người tâm sự. Tài hãy còn trẻ nhưng rất kín đáo. Những gì chúng tôi nói với nhau như nói với chính mình. Tài lúc này làm ở Đội mộc, chuyên đóng mái nhà tù, những nhà tù đang làm thêm, hoặc làm nhà cho tụi Công An ngoài trại.
Tết nào cũng vậy, tù được phát bánh chưng, kẹo bánh, thuốc lá. Nhưng mỗi cái Tết qua đi, hình như tặng vật được thu gọn lại. Chiếc bánh chưng mỏng như chiếc bánh xu xê, chỉ có gạo đậu, không thịt. Kẹo, bánh, thuốc lá, mỗi thứ một chút cho có lệ.
Tết, mưa gió tơi bời. Mưa phùn và gió bấc làm mọi người ngại đi, chỉ muốn ngồi một chỗ. Ở đây không nhiều trò chơi như ở Lào Cai, cũng chẳng có bích báo. Ngày Tết tù đuợc nghỉ lao động từ hôm 25, trừ Đội làm ruộng, phải cấy lúa cho xong trước Tết.
Từ ngày biên chế, qua buồng khác, tôi làm công tác đào kinh. Con kinh dài khoảng 3 cây số, được thực hiện nhằm mục đích “thủy lợi”, có thể lấy hoặc tháo nước tùy theo nhu cầu canh tác. Nơi đào kinh, là vũng sình lầy, nước đen ngòm, đỉa cả đống. Mùa lạnh, ngâm chân suốt ngày, sao chịu nổi? Vì sức yếu, tôi xin làm trên khô. Tên Công An quản giáo lao động nhất định bắt xuống. Nó nói:
– Nếu anh không xuống lao động, tôi đấm vỡ mặt anh ra.
Tôi trả lời:
– Đấm, là quyền của cán bộ! Tôi sức yếu, đang ốm làm sao ngâm chân cả ngày dưới nước, tôi làm trên khô!
– Quăng anh ấy xuống nước!
Một tên Công An đứng gần đó nói. Tôi cứ đứng trơ trơ, sau chẳng đấm, cũng chẳng quăng, họ cho tôi đi theo Đội khác xây cất kho dụng cụ. Công việc này làm mấy hôm xong. Nó bảo tôi giặt áo quần. Công việc này nhục lắm, nhưng còn hơn ngâm chân dưới nuớc đầy đỉa, tôi cũng đành nhận. Bộ quần áo vàng nó thay ra, nhìn thấy đã ghét, đã căm thù, làm sao có thể giặt? Tôi đem dúng nước vò sơ, rồi vắt lên cây phơi! Vài lần như vậy, nó chê tôi giặt bẩn, bắt xuống bùn đào kinh. Lúc này tôi nghĩ thà đào kinh, bị đỉa cắn, còn hơn kéo dài sự nhục nhã. Từ hôm đó, hai chân tôi ngâm nước giữa mùa đông, mưa gió như cắt ruột, các kẽ chân bị nước ăn lở loét, sưng vù! Mấy hôm nghỉ trước Tết, tôi cố gắng bôi thuốc, nhưng không đỡ chút nào. Khi ngứa gãi sướng lắm, nhưng gãi xong, đau như chết! Đêm qua, lúc Giao Thừa, cũng như trên Lào Cai, tụi Công An mũ mảng đàng hoàng vô chúc Tết tù. Buồng trưởng lại đáp lễ. Thêm một lần giả dối!
Sáng nay mồng 1, trước khi ra “chuồng”, anh em lại chúc nhau, những câu như những năm trước, nghe nản quá ! Tôi qua thăm “tu-bíp” Nhâm, để uống café như đã hẹn trước. Trại có 5, 6 “tu-bíp”. Từ sáng, mỗi vị khoác áo bờ-lu trắng, đứng ở đầu “nhà văn hóa” giữa sân, như những tên lơ xe, đón khách! Xin chớ hiểu lầm, mấy ông “tu-bíp” này, có giá lắm. Các ông có quyền cho nghỉ hay không, tùy theo bệnh và số bệnh của mỗi buồng. Họ cho nghỉ theo tỷ lệ. Tôi có đi khám vài lần. Sau khi bệnh nhân tự khai bệnh, và nhìn sổ bệnh mỗi sáng, các ông tùy nghi quyết định.
– Anh đau gì? À, đau bụng đi cầu, anh ra góc kia cố “rặn” một tí, đưa lại đây tôi xem!
– A, anh bị sốt rét. Cứ đi lao động, trưa về lãnh thuốc.
– Còn anh này sao? Đau chân hả, đưa coi! Có gì đâu, đi lao động! Anh kia nữa, bệnh gì? Ho hả? Nhẹ mà, đi lao động. Còn anh này, nghỉ mấy hôm rồi, chịu khó đi lao động, hôm nay đến phiên người khác.
Cứ như vậy, các ông “tu-bíp” nói, như đọc bài học thuộc lòng! Người bệnh thật, người bệnh giả. Có người quá mệt, muốn nghỉ một hôm, nói thẳng:
– Nói thật với Bác sĩ, hôm nay khai bệnh không ngoài mục đích muốn nghỉ lao động một bữa, mong Bác sĩ thông cảm!
– A, ô kê nghỉ! Cứ thành thực như anh, chúng tôi dễ làm việc!
Buổi sáng nào cũng vậy, mỗi “tu-bíp” phụ trách vai buồng, thỉnh thoảng lại thay vị trí để đỡ “bắt bồ”. Nhâm, tương đối, một “tu-bíp”, biết điều và đứng đắn. Khi mới đến đây, Nhâm có ở chung buồng với tôi. Ngoài ra, còn ông “tu-bíp” già Trương Như Quýnh, anh ruột Trương Như Tảng, một đảng viên Cộng Sản, Bộ Trưởng Tư Pháp trong thời gian đầu Cách Mạng của Mặt Trận Giải Phóng trá hình, bất mãn phản Đảng, nên “tu-bíp” Quýnh chịu ảnh hưởng lây, cho đến nay vẫn còn bị giam trong khi các “tu-bíp” khác được tha về gần hết. Quýnh có vợ đầm, nói tiếng Pháp như Tây, nay lại cầu mong được về để ăn mắm cá lóc với mẹ già trên 80 tuổi. Còn các “tu-bíp” khác như Võ Tam Anh và Mã Thanh Phong, anh này liều một cây. Hồi còn bị giam ở trong Nam, khi chữa bệnh cho một nữ cán bộ, không hiểu anh tán tỉnh thế nào mà xơi được tên “phún” đó.Tụi nó biết, đưa ra Bắc, tuy cấp anh nhỏ, đáng lẽ được ở lại trong Nam. Tôi nghe anh em nói lại như vậy.
Trong số các “tu-bíp” tại Trại Nam Hà, có tên Diễn là đểu cáng nhất. Nó nạt nộ anh em, chuyên môn làm khó dễ mỗi khi tù khám bệnh. Một bữa, vợ nó đến thăm nuôi, vô tình gặp anh em lao động nơi mé lộ hỏi:
– Chị đi thăm nuôi ai vậy?
– Tôi là vợ Bác sĩ Diễn.
Tất cả anh em đều ồ lên:
– A, chị là vợ thằng khốn nạn đó hả? Chị nên mang quà về, thằng đó không xứng đáng làm người.
Người vợ quá ngượng, cúi gầm mặt lùi lủi đi vô nhà thăm nuôi. Tên Diễn cũng được tụi Công An ban đặc ân cho 24 tiếng để giải quyết sinh lý trong căn nhà hạnh phúc!
Nhưng anh “tu bíp” tốt nhất phải nói là Trần văn Chơn, em ruột Cựu Bô Trưởng Y Tế miền Nam Trần văn Lữ Y. Chơn một bác sĩ có nhiều tinh thần bác ái, thương mến anh em cùng chung cảnh ngộ. Khi trước, anh phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Anh được tha vào giữa năm 1980 cùng một số bác sĩ và anh em khác.
Tôi đến, Nhâm đã ngồi chờ trước phin café. Mùi café bốc lên thơm ngát. Chúng tôi không chúc nhau câu nào chỉ nói chuyện vui. Tôi đột nhiên mang câu chuyện tự tử bằng 48 viên độc dược, tại sao không chết? Tôi nói dối với Nhâm, đó là trường hợp của người bạn ở Lào Cai. Nhâm cho biết, nếu anh kia chỉ uống 1 trong 2 thứ đó, chắc chắn chết, vì uống cả hai thì chúng hóa giải nhau, do đó thoát. Qua lời Nhâm, tôi biết ngay Lan chết vì chỉ uống có Chloroquine!
Chúng tôi uống Café, hút thuốc Tam Đảo, nói chuyện về y học và nghệ thuật. Nhâm có một kiến thức khá rộng về chuyên môn cũng như nghệ thuật. Anh vào tù vì chức Thượng Nghị Sĩ trong Ủy Ban Quốc Phòng.
Chương 12 Chiếc xe chở tù lao vùn vụt trên đường phố Manama ra phi trường. Trời chập choạng tối. Chiếc TV trong xe đang có chương trình thời sự tối. Mặc dù nói tiếng Ả Rập, tôi vẫn hiểu rằng câu chuyện chính là về Nam Hàn. Tôi thấy những sinh viên bịt mặt bằng mùi xoa ném bom xăng vào cảnh sát cơ động. Có vẻ những trận chiến ác liệt đang diễn ra tại phố phường Hán Thành. Cảnh tượng này càng khiến tôi tin rằng xã hội Nam Hàn là thứ xã hội phát-xít vô phương cứu chữa, và “hạ đẳng“vô cùng so với Bắc Triều Tiên. “Khởi đầu của kết cục là đây!” – tôi nghĩ. Vài giờ nữa, tôi sẽ bị đưa tới Hán Thành và không gì cứu nổi tôi khỏi sự dã man của chính quyền Nam Hàn. Henderson ngồi cạnh tôi, im lặng. Tôi biết chương trình thời sự là mưu mẹo cuối cùng để tôi phải khai trước khi tôi bị đưa đi. Nghĩ lại, hóa ra tất cả những gì diễn ra trong nhà tù đều có một mục tiêu duy nhất. Khi Camilla động viên tôi chớ để bị đưa đi Hán Thành, bà đã thử những nỗi sợ hãi của tôi. Vì tôi tin rằng tôi sẽ bị tra khảo không thương tiếc ở Hán Thành, Henderson đã có khả năng sử dụng điều đó trước tôi. Tôi nhớ lại những món quà của Maria: bánh nướng, quần áo, nữ trang. Tôi ngây ngất vì cử chỉ thân thiện của Maria, nhưng đó chính là mục đích của cô ta. Ngoài ra, Maria còn mang đến cho tôi bộ quần áo thể thao: quần, áo “ba lỗ” và áo khoác, rất hợp với nhau. Ở Bắc Triều Tiên, đó là thứ ai cũng mơ ước! Trong các cửa hiệu không làm sao mua được, họa ra thì ở chợ đen. Đặc biệt là đồ quần áo ni-lông là đồ quý hiếm, và Maria đã cho tôi đúng những thứ đó. Người phương Tây hẳn sẽ thấy lạ là tại Bắc Triều Tiên, những đồ này lại mang tính biểu tượng. Năm 1987, Kim Nhật Thành tặng cho toàn dân một món quà là mọi học sinh trung học và cao đẳng đều được mua một bộ quần áo pha ni-lông. Mẹ tôi cũng tất bật để mua cho Bamso, nhưng ít lâu sau em đã qua đời. Mẹ biết con bà không sống được bao nhiêu nữa nên muốn để cậu được hạnh phúc. Bamso bị quyến rũ bởi món quà, em để bộ quần áo ở đầu giường để có thể chạm vào nó bất cứ lúc nào. Em mỉm cười với mẹ, vẻ hàm ơn, mỗi khi tỉnh lại giữa hai lần bất tỉnh nhân sự. Bamso đã ra đi trong khi vẫn ôm bộ quần áo! Không bao giờ em được mặc nó… Tóm lại, khi Maria mang cho tôi đúng loại quần áo ấy, cố nhiên tôi đã biết ơn cô. Đồng thời, tôi đã tính đến chuyện chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ bị tử hình và tôi cho rằng bộ quần áo là cử chỉ cao thượng cuối cùng trước khi tôi lên đoạn đầu đài. Ở vào một hoàn cảnh như thế, tôi luôn phải phân tích những “ý đồ’ của những kẻ giam giữ tôi, nhưng mỗi khi tôi muốn suy nghĩ một cách tỉnh táo và khách quan, nhiều khi tôi bị cuốn vào sự bối rối của tình cảm. Trong xe tù, tôi ăn vận bộ quần áo đó và như thế, tôi sẽ xuống xe tại Hán Thành khi vẫn mặc nó, tôi nghĩ vậy. Lúc ấy, tất cả có vẻ như đều rất mang tính biểu tượng. Trên xe, ngoài 4 người lính, còn có Maria. Cô hay nhìn tôi vẻ thương cảm, nhưng lặng thinh. Chúng tôi đã không còn gì để nói với nhau, mặc dù tôi muốn cám ơn cô đã thân thiện với tôi. Khi tôi được các y tá mặc quần áo – tôi thấy họ như sắp khóc -, Maria đứng gần đó, gương mặt vô cảm. Hẳn là cô thất vọng vô cùng về tôi, nhưng theo tôi cô hiểu được tôi phần nào… Sau “sự cố” tại nhà tù, đám lính gác đã không còn tử tế với tôi nữa. Khi xe đến, họ lôi tôi ra ngoài và tống tôi lên xe một cách thô bạo. Tôi thấy còn có hai xe cảnh sát chạy sau, như thế, tôi rời Bahrein với cả một “đoàn” hộ tống!
Khi chúng tôi ra tới phi trường thì trời đã tối. Chúng tôi ra thẳng cửa ra để lên máy bay, giữa những hàng thiết bị bảo dưỡng vì đèn chỉ đường. Khi nghe thấy tiếng động cơ máy bay, tim tôi bắt đầu loạn nhịp, tôi toát mồ hôi lạnh. Thế là hết!
Xe ngừng lại. Tôi được nhấc ra khỏi xe và trước tôi, sừng sững chiếc máy bay của Korean Air như một con quái vật bằng thép. Lòng tôi tràn ngập một cảm giác sợ hãi đến tột cùng, khủng khiếp hơn nhiều so với những gì tôi đã từng cảm nhận. Tôi gào thét và tìm cách vật lộn với nhóm lính canh, nhưng họ khỏe hơn tôi nhiều. Tay tôi bị xích, chân tôi cũng không thể cử động. Nhóm lính canh kéo tôi xềnh xệch về phía chiếc thang dẫn tới cửa máy bay. Dưới chân cầu thang là hai điệp viên Nam Hàn đứng chờ đợi, gương mặt không để lộ chút cảm giác nào. Họ khéo léo nhận tôi từ toán lính canh Bahren, nhét vào miệng tôi một thứ gì đó rồi dán miệng tôi bằng băng dính. Đó là một thứ dụng cụ gì đó bằng nhựa để tôi khỏi cắn lưỡi. Hai điệp viên Nam Hàn tống tôi lên máy bay như một thứ lành lý. Họ lôi tôi đến đoạn giữa máy bay rồi ấn tôi xuống một chiếc ghế. Bên phải tôi là một nam điệp viên, bên trái là một nữ, và cả hai luôn khoác tay tôi. Tôi khóc nức nở và một người thứ ba thì lau nước mắt cho tôi. Anh này nói nho nhỏ gì đó để dỗ dành tôi, thấy vậy, người nữ điệp viên bên trái tôi bảo. – Kệ cô ta, rồi cô ta sẽ tự khắc im thôi. “Giá mình có thể chết được!”, tôi nghĩ, không biết rằng những gì xấu nhất còn ở sau lưng tôi… Trong những phút đầu của vụ giam cầm mới này, tôi đã phạm phải sai lầm đầu tiên và cũng mang tính quyết định. Lại một điệp viên nữa tới chỗ tôi và xem bàn tay tôi. – Đây là tay của một điệp viên được huấn luyện bài bản – anh ta nói với người ngồi cạnh tôi. – Các cậu thấy cô ta để mở bàn tay không? Lập tức, tôi nắm chặt tay. Bằng hành động này, tôi đã chứng tỏ – một cách vô ý thức – rằng tôi hiểu tiếng Cao Ly. Chiếc máy bay cất cánh mà không hề có thông báo gì. Nó chỉ chở mình tôi, nên không hề có đội chiêu đãi viên. Tôi thấy hơi tức cười vì cả một chiếc máy bay chỉ chở một người Bắc Triều Tiên. Đại đa số dân Bắc Triều Tiên không bao giờ được ra nước ngoài. Muốn xuất ngoại, cần có ô dù, hoặc phải có quan hệ đặc biệt với gia đình họ Kim. Ngoài trời đã tối mịt, trong ca-bin sáng đèn. Chuyến bay này không ai ngủ được, và tôi thì càng không. Tôi tìm cách sắp xếp lại những gì người ta đã biết về tôi. Tôi dùng hộ chiếu Nhật giả mạo, tôi muốn tự sát, và tôi thạo võ thuật. Từ đó, cũng chưa có gì trực tiếp suy ra tôi có liên quan đến vụ nổ máy bay, tuy nhiên, đã hình thành một bức tranh cho phép kết luận về tội trạng của tôi một cách xác quyết. – Cô thấy trong người thế nào? – người nữ điệp viên ngồi cạnh tôi hỏi, bằng tiếng Nhật. – Nói với cô ta bằng tiếng Hàn ấy! – người điệp viên ngồi bên phải tôi nói xen vào. Nhưng khi họ lên tiếng bằng tiếng Cao Ly, tôi giả bộ như không hiểu gì cả; vì vậy, người nữ điệp viên đôi lúc nói với tôi bằng tiếng Nhật. Chuyến bay như dài vô tận. Tôi chìm đắm trong suy nghĩ không biết sẽ bị hành hạ như thế nào khi đến Hán Thành. Dìm trong nước, dùng kìm búa, hay thanh sắt nung nóng – hình như người Nam Hàn thường sử dụng những nhục hình như thế. Trên cả chặng đường, tôi run rẩy vì sợ hãi và khi được đắp lên vai một chiếc chăn, tôi cũng vẫn tiếp tục run như cầy sấy. Giữa đường, một điệp viên nói: – Dù cô ta phạm phải tội ác tày trời như thế, nhưng các cậu có thấy cô ấy giống nàng công chúa ngủ trong rừng không? Tôi thầm nghĩ “hội này chỉ nói nhảm”, và chỉ về sau tôi mới biết tay điệp viên muốn ám chỉ nàng Bạch Tuyết. Đối với tôi, “điển tích” ấy không nói lên điều gì cả, vì tại Bắc Triều Tiên văn học phương Tây bị cấm đoán, và sách vở dành cho trẻ em chỉ độc một đề tài ca ngợi Kim Nhật Thành. Một bận, một điệp viên mang trộm được vào trại huấn luyện cuốn “Ngàn lẻ một đêm” và chúng tôi đọc nó, vừa hồi hộp, vừa sợ hãi. Để “tiêu” thời gian, và giữ được tinh thần quả cảm, tôi hát thầm nhiều lần bài “Hành khúc những đội xung kích”: Các đồng chí, hãy chuẩn bị vũ khí Tiêu diệt quân xâm lược đế quốc Tiến lên, hãy dũng cảm chỉ tiến chứ không lùi Dù phải liều thân, cũng phải cho quân xâm lược nếm mùi! Hãy lao mình vào trận cuối cùng Để cuộc chiến ngày mai mang lại thắng lợi Hãy siết chặt vũ khí trong tay Dù phải liều thân, cũng phải cho quân xâm lược nếm mùi! Và tôi cũng nhớ đến gia đình. Tôi hồi tưởng lại cảnh bà ngoại đến thăm tôi, nhiều tháng trước khi tôi về thăm nhà lần cuối. Đã 15 năm tôi không được gặp bà và bà khóc òa khi rốt cục hai bà cháu cũng được thấy nhau. – Ôi, Hyon Hee – bà ôm tôi vào lòng -, bà sống đến giờ cũng bõ vì đã được thấy lại cháu. Bao năm qua, bà luôn mường tượng khuôn mặt cháu! Tối hôm ấy, chúng tôi ăn món “sinsullo” của Triều Tiên, ai nấy đều vui như hội và chúng tôi lại nhắc đến “những ngày xưa tháng cũ đẹp đẽ”. Hyon Ok, lúc đó vừa lấy chồng, cũng đến. Một chút sau, có tiếng gõ cửa dồn dập. Mẹ tôi ra mở. Một thanh niên đầm đìa mồ hôi đứng ở ngoài và kể với giọng run rẩy, rằng chồng của Hyon Ok vừa qua đời ngày hôm trước bởi một cơn đau tim đột ngột khi anh đang bơi ở Chhangvanvon. Bởi, việc đưa khách đến bể bơi lớn nhất của Bắc Triều Tiên cũng là một phần công việc của hướng dẫn viên du lịch. Còn trẻ, nhưng đã từ nhiều ngày nay, anh than phiền vì phải làm việc quá sức, và Hyon Ok thì lại an ủi, bảo “anh đừng lo”. Và thế là anh ra đi, để lại Hyon Ok mới qua tuổi hai mươi, góa bụa. Trước khi nhận được tin dữ, phòng khách gia đình tôi tràn ngập tiếng cười, từ đó trở đi chỉ còn tiếng than vãn khóc lóc. Tôi hồi tỉnh. Ánh sáng ban ngày rọi vào cửa sổ máy bay và tôi cảm thấy nó hạ độ cao rất nhanh chóng. Tim tôi lại đập thình thịch khi một giọng nói cất lên: – Chúng ta sắp tới Hán Thành rồi!
Chương 11 Tôi tỉnh lại và thấy mình đang trên giường, giữa một căn phòng quét vôi trắng. Tôi nghe loáng thoáng, câu được câu mất, câu chuyện bằng tiếng Bahrein và tiếng Anh ở quanh quẩn đâu đó. Căn phòng không có cửa sổ, nên không rõ đang là ngày hay đêm. Tay trái của tôi bị xích vào giường. Trong mũi tôi có một ống tiếp dưỡng khí, một ống khác thì được đưa vào họng tôi, có lẽ để rửa dạ dày cho tôi. Tay tôi được chuyền nước. Tôi không thể suy nghĩ một cách tỉnh táo. Những cảm giác của tôi bị cùn đi, hoặc vì bị gây mê, hoặc do quá kiệt sức. Chỉ để mở mắt tôi cũng phải tốn rất nhiều sức lực và cố gắng. Tôi còn nhớ, khi đó tôi nghĩ rằng, phải chăng, tất cả chỉ là một giấc mơ, và căn phòng trắng này là một chặng nào đó giữa hai thế giới. Tôi chỉ nhớ láng máng rằng tôi đã cắn ống độc dược và thoạt đầu, tôi nghĩ chất độc đã có hiệu quả.
Tôi nằm ngơ ngẩn một thời gian và không nghĩ ngợi gì cả. Tôi như lơ lửng giữa một giấc mộng và sự bất tỉnh, những cảm giác của tôi trở nên đò đẫn và không thể tập trung nổi. Tuy nhiên, dần dần, óc tôi trở lại hoạt động và tôi mở được mắt. Tôi liếc thấy hai y tá ăn vận quần áo Ả Rập truyền thống, họ ngồi cạnh giường tôi và quan sát tôi. Ở cửa phòng, có hai người đàn ông hằm hằm đứng tấn, tay lăm lăm súng máy làm thành một góc 45 độ và ở tư thế sẵn sàng nhả đạn. Tôi hoảng hốt tự cấu vào đùi. Không có gì xảy ra cả. Tôi không mơ. “Không!” – tôi nghĩ. “Mình còn sống!” Trong cơn thất vọng, tôi rên lên. Sao tôi không chết đi?! Chắc hẳn tôi không hít đủ lượng độc dược. Rõ ràng là tôi đã từng khá gần tử thần, nhưng như thế chưa đủ. Tôi không cảm thấy mừng rỡ vì thoát chết. Tôi hiểu ngay rằng những cực hình của tôi giờ mới bắt đầu. Vừa yếu ớt về thể xác, vừa trong tâm trạng hoảng hốt, thực sự tôi như kẻ nửa tỉnh nửa mê. Tôi thấy trong túi một y tá có thòi ra cái kéo. Tôi muốn vớ lấy nó để tự sát trước khi họ có thể ngăn cản được tôi; có điều, tay tôi bị xích vào giường.
Rốt cục, người ta cũng rút các ống khỏi mũi và họng tôi, lập tức tôi lấy hết sức để cắn lưỡi. Thời thơ ấu, tôi đã nghe những mẩu chuyện kể lại rằng như thế cũng tự sát được. Nhưng tôi chỉ khiến mình đau điếng mà không làm được gì khác. Nhìn lại, có vẻ kỳ quặc khi tôi đã từng tin vào những chuyện cổ tích kiểu ấy. Sau đó, tôi tìm cách tự ngạt thở. Tôi nhịn thở cho đến khi mặt căng phồng lên. “Một chút nữa thôi – tôi tự nhủ -, tẹo nữa thôi mà!” Có điều, đến giây phút cuối cùng, tôi không chịu được nữa và bắt đầu thở lấy được. Khi ấy tôi không biết rằng nếu tôi mất đi sự tỉnh táo, thế nào cơ thể tôi cũng chiếm phần điều khiển và như thế, tôi lại phải thở. “Tổ sư! – tôi bực dọc. – Sao có tự tử mà mình cũng không làm nổi thế này?!” Tôi không biết Kim Song Ir còn sống không. Có lẽ là không. Nếu chất độc không khiến ông tắt thở (giả thiết là ông kịp cắn ống thuốc), ngay sự căng thẳng kéo dài từ khi chúng tôi bị bắt cũng đủ để ông qua đời. Chỉ có điều kỳ lạ là tôi vẫn sống sót. Nghĩ đến Song Ir, tôi lại càng hoảng sợ. Ông chết rồi và thiếu ông, quả thực tôi chỉ còn lại một mình. “Mình phải cứng cỏi lên – tôi nhủ thầm. – Lãnh tụ Kính yêu đã đặt niềm tin vào mình. Mình phải hy sinh cho Tổ quốc, cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Không thể để Tổ quốc lâm nguy được”. Nhưng có một điều là chắc chắn: chiếc máy bay đã bị hạ. Trong khoảnh khắc ấy, tôi đã không còn cảm thấy tự hào vì nhiệm vụ của mình. Trước khi bị bắt, như đã nói, đa phần tôi chỉ quan tâm làm sao thực hiện được sứ mệnh của tôi, chả mấy khi tôi bị dằn vặt lương tâm. Nhưng giờ đây, tôi bắt đầu ngẫm nghĩ về thân phận những kẻ đã bỏ mạng và tôi cảm thấy mình thật tội lỗi. Các y tá trò chuyện nho nhỏ và tôi lắng nghe xem họ nói gì. May mà họ nói tiếng Anh nên đại thể tôi còn hiểu được. Họ bảo tôi sống sót, nhưng Kim Song Ir thì chết rồi. Tin ấy khiến tôi sầu não. Những cảm xúc khác nhau khuấy đảo trong tôi. Tôi đau đớn vì mất Kim, một đồng đội của tôi. Tôi cũng ghen tị vì ông chết rồi, ông không phải trực diện với những gì mà giờ đây tôi phải đối đầu. Và tôi giận ông vì ông nỡ ra đi, để lại tôi giữa ngàn trùng quân thù thế này. Cho dù Song Ir bệnh tật, gần ông, tôi luôn có cảm giác bình an vì kho kinh nghiệm vô cùng rộng lớn của ông. Trong chuyến đi, tôi luôn được dựa vào ông nếu có tình hình gì bất thường xảy ra. Và khi ấy, tôi đã làm một điều mà cả đời chưa bao giờ tôi làm, một điều thật đặc biệt: tôi cầu nguyện! Nhớ lại, trước khi em Bamso của tôi ra đi ít lâu, đúng lúc tôi về thăm nhà, mẹ tôi đặt những túi nước trong phòng ngủ, trước bàn thờ do bà tự làm. Phải dũng cảm lắm mới dám làm điều đó vì tại Bắc Triều Tiên, tôn giáo bị cấm ở mức ngặt nghèo nhất. Mẹ tôi đã đi đến cùng để cứu vãn con bà: bà còn mạo hiểm cầu khẩn Đức Chúa trời… Và bây giờ tôi cũng cầu nguyện. “Con xin Người, dù ở nơi đâu, hãy cho con được chết ngay lúc này. CON XIN NGƯỜI…” Động thái này cũng thật đau đớn: tôi phải cầu nguyện một thực thể mà tôi không quen biết. Tôi sợ nhất là nếu sống sót, tôi sẽ không giữ được bí mật nhân thân thực sự của tôi, cũng như nhiệm vụ tôi được trao. Và, trong giây phút đó, khi tôi khai ra tất cả, tôi vĩnh viễn trở thành kẻ phản bội trong mắt các “sếp” và Tổ quốc tôi. Bị bắt chưa có nghĩa là nhiệm vụ của chúng tôi thất bại. Kim Song Ir chết rồi mà ông mang theo bí mật của ông xuống mồ. Nếu tôi cũng có thể lặng im được, có khi tôi còn trở thành người cứu tinh cho Bắc Triều Tiên là đằng khác. Có điều, óc tôi không hướng về Bắc Triều Tiên. Tôi nghĩ về gia đình. Và tôi nhận ra, khi tôi cầu nguyện lên Đấng bề trên để xin Người rủ lòng thương, tôi đã không cầu khẩn Lãnh tụ Vĩ đại Kim Nhật Thành như tôi thường làm cho đến giờ, vì căn cứ vào những hiểu biết của tôi, ông gần nhất với những vị thánh thần! Thời gian trôi. Một y tá người Philippines đến thay hai người y tá cũ và một nữ cảnh sát cũng vào phòng. Hẳn họ được nhận chỉ thị phải theo dõi nhất cử nhất động của tôi và bằng mọi giá, phải giữ tôi sống. Đến ngủ tôi cũng không được yên. Chắc họ sợ nếu ngủ, tôi sẽ lại bị hôn mê và không tỉnh lại được. Chỉ mới vừa nhắm mắt, cô y tá lại nhào đến giường tôi và tát tát vào mặt tôi: – Mayumi! Mayumi! Có vẻ như họ cũng quý tôi, nhưng tôi phải nghĩ rằng họ chỉ làm theo lệnh để rồi bắt tôi khai. Thoạt tiên, tôi chửi rủa họ vì điều này, tôi đòi họ để tôi yên, nhưng rồi tôi vỡ ra rằng người y tá và nữ cảnh sát chỉ muốn cứu một mạng người. Giờ đây, tôi cảm thấy tiếc vì đã không có lời cám ơn họ vì thái độ dễ chịu này. Tôi, một kẻ giết người hàng loạt, thực sự không đáng để được sống. Nhưng họ không cho tôi chết và bây giờ, trong cuốn sách này, tôi chỉ có thể nói lời tri ân họ. Khi những giác quan của tôi bắt đầu trở lại làm việc bình thường, tôi cảm thấy đau nhừ tử khắp cơ thể. Chủ yếu tôi đau bên đầu gối phải, cứ cử động là đau ghê gớm. Miệng tôi đầy vết thương vì độc được, lưỡi tôi sưng vù khiến tôi không thể nuốt được. Những cơn ác mộng cứ nối tiếp nhau. Tôi mơ rằng gia đình tôi đi trên chuyến bay số 858. Tôi đặt bom trong khoang để hành lý rồi la hét với gia đình tôi để họ xuống máy bay. Kim Song Ir – khi ấy chỉ còn là một bộ xương, da thịt xanh lè đã rữa – cầm tay và kéo tôi khỏi chiếc máy bay. Tôi muốn thoát khỏi tay ông, nhưng ông không thả tôi ra. Tôi gào như một con rồ với gia đình tôi, nhưng dễ thấy là không ai hiểu tôi muốn gì ở họ. Cuối giấc mơ, Kim tóm lấy tôi và quẳng tôi khỏi máy bay. Tôi rơi tõm và la hét. – Mayumi! – cô y tá lao đến để dỗ dành tôi. Nhưng nhiều giờ liền tôi chỉ kêu khóc. Một giấc mơ khác, tôi thấy mình trên một góc núi tuyết phủ. Gia đình tôi tiến đến gần tôi, nhưng họ không để ý đến tôi, như thể tôi là một kẻ xa lạ, mà lại đi ngang qua tôi với cái nhìn ác cảm hay thờ ơ. Nhưng em Bamso thì ở lại sau, nó nắm tay tôi và chúng tôi bay lên trời; trên những đỉnh núi, chúng tôi bay vút như lũ đại bàng. Rồi chúng tôi bắt đầu lượn quanh một miệng núi lửa. Cười khẩy với tôi, Bamso thả tay tôi và tôi rơi rõm xuống cõi hư vô. Tôi lại bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Tôi đánh mất cảm giác về thời gian. Như thể tôi đang ở nơi chuộc tội. Đôi lúc, tôi tỉnh lại và luôn thấy những y tá và nữ cảnh sát khác nhau ngồi bên tôi. Một y tá da đen, có cặp mắt tuyệt đẹp dịu dàng lau mặt và chải tóc cho tôi, khiến sự nghi ngại và giận dữ trong tôi nhanh chóng bay đi. Cô nắm tay tôi và bảo: – Chúng ta là bạn của nhau, Mayumi ạ. Hãy tin như thế! Cô ta nói bằng tiếng Cao Ly. Tôi bất ngờ tới mức chỉ thiếu chút nữa là mở mắt, nhưng rồi tôi kịp định thần. Lập tức, tôi quyết định không thể để lộ xuất xứ dân tộc của mình. Cố nhiên, những người quanh tôi nhiều lần tìm cách, nhưng tôi không phản ứng gì. Đồng thời, thực sự tôi thấy vui vì được nghe tiếng mẹ để nơi xa xôi này. Nhưng như thế, sự im lặng càng khiến tôi không chịu nổi. Rồi một giọng Nhật vang lên. Tôi mở mắt. Hai người đàn ông đứng trước mặt tôi: một người từng giữ chúng tôi tại phi trường, còn anh kia (người Nam Hàn) đã vặn hỏi Song Ir ở khách sạn. Từ đó trở đi, tôi chỉ trả lời những câu hỏi được đặt bằng tiếng Nhật. Anh người Nam Hàn mất bình tĩnh khi tôi không để tâm tới các câu hỏi của anh ta và lẩm bẩm trong miệng, anh ta đi đi lại lại trong phòng. – Cô này – anh người Nhật nói. – Chúng tôi cần một số thông tin ở cô. Chúng tôi muốn giúp cô, Mayumi-san ạ, nhưng nếu cô cứ im lặng thì chúng tôi bó tay. Chúng tôi chỉ muốn cô lành bệnh nhanh. Tôi gật đầu nhưng tôi biết, anh ta nghi ngờ tôi. Tôi biết anh ta chỉ làm ra vẻ đồng cảm với tôi và đôi khi, tôi phát hiện ra anh ta ngờ vực nhìn tôi. Được một lúc, hai người nhận ra tôi không muốn cộng tác với họ và họ bỏ đi. Tôi thở dài. Tôi đã vượt qua thử thách đầu tiên, nhưng đây mới chỉ là khởi đầu. Tôi nhận ra rằng đã đến lúc tôi phải tìm một lối thoát nào đó. Tôi sẽ chờ cơ hội để tự sát, nhưng từ giờ đến khi đó, tôi cũng cần phải quyết định là sẽ khai gì với họ. Lần hỏi cung đầu khiến tôi mệt mỏi. Tôi huy động tất cả những thuật về tâm lý học đã được học hỏi và chẳng mấy chốc, tôi đã lấy lại được sự bình tĩnh tinh thần của một điệp viên mật. Hay nhất, đáng ra tôi phải làm như thể câm điếc. Có điều, tôi đã nói trước các y tá, ít nhất là đã rên rỉ trước mặt họ. Điều quan trọng nhất là chớ nói tiếng Cao Ly, thành thử nhiệm vụ của tôi đơn giản: tôi chỉ cần quyết định nhập vai một người Nhật hay người Hoa. Những người bắt tôi đã biết rằng hộ chiếu Nhật của tôi là giả mạo, ngoài ra tôi còn quan hệ với Song Ir. Tôi tính đến chuyện sẽ bị trao trả cho Nhật. Bộ máy tuyên truyền Bắc Triều Tiên bảo rằng cảnh sát Nhật tra khảo rất dã man và họ thường dùng nhục hình khiến tù nhân phải khai. Tôi cũng còn được nghe rằng, người Nhật đối xử tệ nhất với dân Cao Ly, họ thường thực hiện những cuộc tra tấn một cách khoái trá. Có điều, dầu như thế vẫn còn hơn bị đưa về Nam Hàn. Người ta nói rằng cảnh sát Nam Hàn thường đánh lòi con ngươi, gẫy răng, hoặc rút móng tay tù nhân. Có lẽ vì vậy mà mỗi điệp viên Bắc Triều Tiên sống sót hồi hương từ Hán Thành đều được coi là anh hùng. Tôi không thể nào nhập vai một người Triều Tiên hoặc Nhật, như vậy còn lại… người Hoa. Nếu họ tin vào lời khai của tôi và trao trả tôi cho Trung Quốc, khả năng là tôi sẽ được đưa về Bình Nhưỡng vì chính phủ hai nước có mối liên minh mật thiết với nhau. Không có bằng cứ trực tiếp nào để chứng tỏ tôi có dính dáng tới vụ phá hoại, và khi đó tôi tin rằng cũng sẽ không thể có những bằng chứng như thế. Chừng nào tôi chưa đầu hàng những kẻ bắt giữ tôi, chừng ấy mọi sự không đến nỗi hoàn toàn tuyệt vọng. Tôi tìm cách nghĩ ra cho mình một vỏ bọc có thể tin được. Khi cùng Sukhi làm nhiệm vụ ở Ma Cao, chúng tôi đã đóng giả những phụ nữ Trung Quốc có thực. Như vậy, tôi nghĩ có thể chấp nhận được nếu tôi dùng tên một người – Pai Chui Hui – và khai những số liệu nhân thân và tông tích của một người khác, Vu Eng. Đây không phải là giải pháp thật chắc chắn, nhưng tôi không nghĩ ra cách nào hay hơn. Sức khỏe tôi ngày một bình phục. Tôi mặc bộ pi-gia-ma màu xanh da trời của viện và đi lại trên chiếc xe lăn mà tôi bị xích vào đó. Các y tá tắm rửa cho tôi và theo tôi cả những lúc đi vệ sinh, khiến tôi cảm thấy phiền phức. Không bao giờ, dù chỉ trong khoảnh khắc, tôi được ở một mình: ngày cũng như đêm, luôn có một tốp lính canh có vũ khí đứng trước cửa phòng tôi. Chẳng bao lâu, tôi bị bắt phải uống một thứ nước gì như là sữa. Tôi nhận ra là chỉ ít lâu nữa, tôi sẽ đủ khỏe để có thể bị hỏi cung một cách chính thức. Tôi cố gắng tập trung mọi sức lực cho giờ phút ấy! Nhiều ngày sau đó – tôi không nhớ chính xác là khi nào -, người ta đẩy tôi trên chiếc xe lăn ra chiếc xe cảnh sát đậu ngoài phố. Trời hôm ấy tuyệt đẹp, ấm áp và rạng rỡ, nắng chói chang khiến tôi không thể mở được mắt. Từ khi bị bắt tới giờ, lần đầu tiên tôi được thấy phố phường và cảnh tượng bên ngoài khiến tôi buồn bã. Nó càng củng cố lại một điều mà tôi đã đoán biết khi bị giam ở trong kia: trong khi cả thế giới của tôi đổ sụp, thế giới vẫn điềm nhiên tiếp tục sống của sống của mình. Theo tục lệ Ả Rập, tôi bị trùm khăn bịt mặt và thoạt tiên, tôi nghĩ mình bị tử hình. Nhưng rồi người ta chỉ nâng tôi vào chiếc xe cảnh sát và xe lăn bánh trong thành phố. Bahrein là một thiên đường điển hình của vùng nhiệt đới. Tôi rất muốn được ra bờ biển, hòa mình vào làn nước, quên đi rằng có thời mình đã là điệp viên, đã làm nổ một chiếc máy bay. Tôi muốn nhớ đến Cuba, nơi tôi và gia đình đã có dịp tắm biển một lần và không phải để tâm đến bất cứ điều gì. Có điều, tôi không còn là một đứa trẻ và gia đình tôi giờ cũng không thể giúp gì được cho tôi. Là một kẻ trưởng thành, tôi sẽ phải trả giá cho những hành động của tôi, tôi sẽ chỉ có một mình và sẽ một mình đi vào cái chết. Mang trong mình bao mộng ước, tôi nhìn những con người hồn nhiên đi lại trên đường phố, cách tôi chỉ vài bước chân về mặt thề xác, nhưng hoàn cảnh chúng tôi lại khác nhau cả ngàn năm ánh sáng! Tôi ghen tị với họ biết chừng nào! Chúng tôi ra khỏi Manama và đi trên một con đường hẻo lánh. Rồi, xe đến một căn cứ cảnh sát gì đó, có hàng rào bao quanh và ở cửa ra vào có lính gác. Xe dừng ở đây, tôi được bưng khỏi xe và đưa vào một căn phòng nhỏ tồi tàn, ở đó có một chiếc giường sắt và một bàn làm việc. Chỉ cần liếc nhìn “cảnh vật” ở đây là tôi đủ biết rằng, những khó khăn giờ mới bắt đầu. Tôi bị đẩy ra giường và còng tay vào đó. Một phút sau, một cặp nam nữ da trắng, tầm trung niên, bước vào phòng. Cả hai đều có mái tóc vàng, mắt xanh, và họ nhìn tôi vẻ tò mò, nhưng không ác ý. Một phút trôi qua, người đàn ông nói tiếng Anh rất chậm và nhấn từng vần một. – Tôi là Ian Henderson – ông ta nói -, còn đây là nhà tôi, Maria. Tôi là cảnh sát trưởng Bahrein. Rồi ông ta hỏi tôi khỏe chưa. Maria thì chỉ nhìn tôi, cặp mắt to và xanh và ánh mắt của bà khiến tôi không chịu được. Khi tôi òa khóc, bà lấy ra chiếc mùi-xoa và lau nước mắt cho tôi trên trên mặt. – Không sao đâu cô ạ, không sao đâu! – bà nói và hôn lên má tôi. – Đừng sợ nữa. – Bà vẫy tay ra hiệu các y tá đang đứng chờ đợi quanh tôi; khéo léo, họ cởi bộ pi-gia-ma bệnh viện khỏi người tôi và mặc cho tôi bộ quần áo Trung Quốc màu xanh. – Cô ấy thật đẹp! – hai người bảo nhau. Tôi cảm thấy rằng với sự đồng cảm giả bộ ấy, họ chỉ muốn hành hạ tôi. “Lại một cú lừa mới để bắt mình khai đây mà – tôi nghĩ. – Mình phải cảnh giác!” Dường như Henderson đoán được tôi nghĩ gì. – Tôi khuyên cô nên hợp tác với chúng tôi – ông nói. – Chính phủ này không ưa gì cô mấy, vì hầu như cô không chịu khai một câu nào. Trong giọng nói của ông, dường như có vẻ dọa dẫm. – Tôi phải khai cái gì cơ chứ? – tôi bướng bỉnh hỏi lại. Ông sa sầm mặt, có vẻ thất vọng về tôi. – Ngày mai chúng tôi trở lại – ông đứng dậy. – Từ giờ đến khi ấy, cô hãy suy nghĩ về điều tôi vừa nói.
Tôi không nhớ tôi đã ở bao nhiêu ngày tại căn cứ cảnh sát ấy. Cũng như khi ở trong bệnh viện, tại đây, đi đâu tôi cũng bị y tá theo kèm. Ai nấy đều tò mò với tôi, có thể vì tội trạng nặng nề của tôi, hoặc cũng có thể vì tôi là một phụ nữ trẻ. Hàng đêm, tôi bị ba cảnh sát và một hộ lý canh giữ. Và cho dù khuỷu tay tôi sưng vù vì bị xích và đầu gối tôi vẫn rất đau, nhưng không bao giờ tôi phàn nàn với những kẻ canh giữ. Tôi quyết định, ít nhất cũng sẽ giữ phần “nhân phẩm” còn lại của mình! Ngày nào tôi cũng được điều trị theo kiểu vật lý trị liệu. Hai giờ liền, tôi phải đi đi lại lại trong căn tiền sảnh, dưới sự theo dõi của các bác sĩ. Dựa vào người y tá, tôi phải nhấc mạnh chân trái. Mỗi giờ, tôi lại được kiểm tra thân nhiệt và mạch; các bác sĩ bắt tôi phải ăn và dùng thuốc. Một bận, họ muốn lấy máu của tôi và chỉ thiếu chút nữa là tôi lên cơn thần kinh. Ở Bắc Triều Tiên, người ta bảo rằng nếu bị bắt, tôi sẽ bị tiêm một loại thuốc đặc biệt khiến tôi phải khai hết với những kẻ bắt giữ tôi. Người y tá ngạc nhiên quá chừng vì thái độ của tôi, cô ta tìm cách trấn an tôi. Cuối cùng, cô trói tay tôi lại và lấy máu tôi. Khi ấy, tôi vỡ ra rằng không thể im lặng mãi được nữa. Tôi phải nói cho họ một cái gì đó, bằng không, tôi sẽ bị giam cả đời ỏ đây, trong căn phòng này! Tôi xin họ uống nước và báo cho họ hay rằng khuỷu tay tôi đau quá. Cả cô y tá, cả mấy cảnh sát đang canh gác tôi đều hồi hộp và chỉ trong nháy mắt, cả khu nhà đã biết rằng Maymui đã cung khai! Hendersen và bà vợ – tôi không biết bà có nhiệm vụ gì, có lẽ sự hiện diện của bà cũng chỉ nhằm mục đích cho tôi khai – chiều nào cũng qua chỗ tôi. Họ mang quần áo và bánh nướng cho tôi, làm tất cả để tôi cảm thấy dễ chịu hơn nữa. Họ trò chuyện về những đề tài thường nhật rồi đột ngột trở về vụ nổ máy bay. Đa phần, tôi không trả lời hoặc tuyên bố rằng tôi chả biết gì cả. Rốt cục, hai người mệt mỏi và viết vài câu hỏi bằng tiếng Trung để tôi trả lời. Tôi đáp như sau.
Hỏi: Tên cô là gì? Đáp: Pai Chui Hui Hỏi: Dân tộc? Đáp: Trung Quốc. Hỏi: Cô sinh khi nào? Đáp: Ngày 27 tháng Giêng 1964 Hỏi: Ở đâu? Đáp: Thành phố Vuchang, tỉnh Heilung-kiang, Trung Quốc. Hỏi: Địa chỉ gần đây nhất? Đáp: 4-10-6 Shibaya, Đông Kinh, Nhật Bản. Hỏi: Cha mẹ cô còn sống chứ? Đáp: Không. Hỏi: Tên anh chị em? Đáp: Không có. Tôi bảo họ tôi mồ côi và chả liên quan gì đến vụ nổ máy bay của Korean Air. – Tôi chả hiểu các ông bà cứ hỏi tôi làm gì? – tôi tìm cách lật lại ván bài. – Đi trên chuyến bay ấy là tội hay sao? Càng nói nhiều, dễ thấy là họ càng ít tin tôi! Tuy nhiên, họ vẫn đối xử lịch sự với tôi: họ luôn nhấn mạnh rằng họ lo lắng cho tình trạng sức khỏe của tôi. Một buổi sáng nọ, họ không hỏi tôi có muốn vào nhà tắm không, mà chỉ đưa tôi ra và bảo tôi hãy tự rửa mặt. Tôi phải dùng một tay để vệ sinh cá nhân đôi chút. Rồi người y tá lấy một chút thuốc đánh răng ra bàn chải cho tôi và bảo tôi tự chải răng. Tôi cảm thấy sảng khoái một cách lạ kỳ, và khi trở lại về phòng, họ hỏi tôi muốn uống trà hay cà phê. Tôi chọn trà, nhưng thấy mất bình tĩnh. Chả hiểu trò này nghĩa là sao đây? Khi uống xong tách trà, vợ chồng Henderson tới và vui vẻ chào tôi. Tôi đang muốn chào lại thì thấy một nhóm người đông đảo sau lưng họ. Tôi nhắm nghiền mắt, bụng đau thắt. Trời ạ, các ký giả! Vừa bước vào phòng, họ đã chụp ảnh lia lịa. Người ta ra lệnh cho tôi phải theo lời các nhà báo, thành thử tôi phải để họ chụp từ mọi tư thế, góc cạnh. “Giờ đây, mình sẽ phơi mặt trên trang nhất tất cả báo chí thế giới! – tôi nghĩ. – Mọi người sẽ nói về tên sát thủ ác độc đã sát hại 115 linh hồn vô tội”. Gia đình tôi cố nhiên sẽ không hay biết, mặc dù trong lá thư gần nhất, bà bảo cha tôi sẽ đi công tác một tháng ở Angola. Tôi hình dung ra cảnh cha tôi, buổi sáng, bước xuống căn tiền sảnh ở khách sạn, mua một tờ báo và thấy khuôn mặt con gái mình với hàng chú thích: TÊN SÁT THỦ! Đám ký giả vừa ra, hai điệp viên Nam Hàn đi vào và khám xét mọi ngõ ngách trên cơ thể tôi, như thể tôi là một con vật không bằng! Tôi bật khóc và lấy tay che mặt. Khi hai người Hàn đi, Henderson tới giường tôi và ngồi xuống. – Mayumi, sao cô lại sợ người Nam Hàn thế? – Tôi không sợ – tôi chối. – Có điều, cách đối xử của họ thật tệ! – Nghĩa là cô không ngạc nhiên khi họ tới “thăm” cô? – Có gì mà phải ngạc nhiên cơ chứ? Các vị buộc tội tôi làm nổ một chiếc máy bay Nam Hàn, dễ hiểu là người Nam Hàn sẽ để tâm đến tôi. Hôm sau, người Nhật qua chỗ tôi và họ cũng tìm cách để tôi phải mở miệng. Tôi thấy có vẻ họ không hoàn toàn chắc chắn rằng tôi không phải người Nhật, vì thế, tôi cố gắng nói tiếng Nhật thật sõi. Có lẽ tôi đã thành công một phần vì khi đi, họ cũng phân vân chưa biết phải nghĩ sao. Tôi mệt rã rời, nhưng thở phào nhẹ nhõm. Không hề dễ dàng chút nào cả! Nhưng lúc ấy tôi chưa biết rằng những gì diễn ra sau này mới nhọc nhằn chừng nào!
Sự kiên nhẫn của những kẻ đang giam cầm tôi hẳn đã đến tận cùng: họ mời một nữ phiên dịch viên từ Hồng Công đến. Đó là một phụ nữ người Anh, bạn của Maria, nói thạo tiếng Trung theo thổ ngữ Quảng Đông. Tự giới thiệu mình là Camilla, cô ta cho biết: 34 tuổi, hai năm nay sống với chồng người Hoa tại Bahrein, hai người có ở đó một tiệm ăn Tàu. Đó là một phụ nữ hấp dẫn, tôi ghen tị với cô vì cuộc hôn nhân đơn giản và hạnh phúc của cô ta. Trong đời, chưa bao giờ tôi thấy một phụ nữ hạnh phúc hơn Camilla. Trước khi cuộc hỏi cung bắt đầu, tôi đã òa khóc, vì thế những câu hỏi đầu của họ mang tính đồng cảm và đời thường. – Mayumi à, chúng ta làm lại từ đầu nhé – Camilla nói khi tôi đã hơi bình tâm lại. – Cô chào đời ở đâu? – Ở Vuchang. Cha tôi là lãnh đạo ở một xí nghiệp xây dựng. Thời cách mạng văn hóa, ông bị coi là “phản bội”. Ông bị tra tấn rồi được thả, nhưng sau đó ít lâu ông tự vẫn. Tôi bị mẹ bỏ rơi, mẹ tôi trốn lên Bắc Kinh làm vợ một người đàn ông khác. Lúc ấy tôi phải ở một mình. – Rồi tôi lại khóc vì thật kinh khủng khi phải nói về cha mẹ, cho dù chỉ là chuyện bịa đặt. Hai người phụ nữ cứ tưởng tôi khóc vì nhớ lại thời thơ ấu cô độc, và kiên trì chờ để tôi hồi lại. – Tôi không biết phải đi đâu – tôi nói tiếp. – Cuối cùng, bà tôi nhận nuôi tôi: bà bán báo rong ở Kuangzhao, còn tôi kiếm được việc hầu bàn. Khi ấy tôi gặp nữ đồng chí Vu Eng cùng độ tuổi của tôi, và chúng tôi cùng trốn đi Ma Cao với một vài thanh niên khác bằng tàu. Có vẻ như họ tin tôi. Dần dần tôi cũng tự cảm thấy tin vào những gì tôi nói. – Ở Ma Cao tôi làm trong một sòng bạc. Tại đó tôi làm quen với Hachija Shinichi, một người đàn ông Nhật đứng tuổi, rất quý tôi. Khi được nghe tôi kẻ về đời mình, ông ấy bảo nếu theo ổng về Nhật, ông sẽ nhận tôi làm con nuôi và cho tôi làm quản gia. Thời đó tôi sống rất khó nhọc, nên đây quả là một cơ hội thực sự. Đằng nào cũng không thể trở về Trung Quốc, vì thế tôi đã nhận lời ông. Ở Đông Kinh, Shinichi có nhà ở quận Shinbujachu Ebishu. Ông ấy đặt cho tôi cái tên Mayumi và quan tâm đến tôi như con đẻ, nhưng tôi không được rời khỏi nhà. Ông cảnh báo là cảnh sát có thể bắt tôi vì tôi không có giấy phép cư trú, bởi vậy không mấy khi tôi đặt chân ra đường. Shinichi hứa hàng năm sẽ cho tôi đi Châu Âu 2-3 lần, có thể đi cả Mỹ nữa. Vài tuần trước đây chúng tôi qua Châu Âu. Shinichi lo hộ chiếu và vé máy bay. Và bây giờ tôi bị chết dở vì thế! Người duy nhất có thể xác nhận chuyện của tôi thì đã chết và có vẻ như tôi phải bị trừng phạt vì một tội mà tôi đâu có làm. Tôi sẽ bị đưa về Nam Hàn, ở đó người ta sẽ hành hạ tôi, rồi tử hình tôi nữa! – Tôi bắt đầu khóc và thật lạ lùng là hai người phụ nữ cũng rơi nước mắt. Camilla hỏi cô có thể giúp gì cho tôi, dường như quả thật cô ta lo rằng tôi sẽ bị tử hình một cách vô cớ. – Chui Hui! – lần đầu tiên, Camilla gọi tôi bằng tên thật -, cô phải đòi để khỏi phải về Nam Hàn. Ở đấy người ta sẽ bắt cô phải khai, dù cô có tội hay không. – Tôi biết mà – tôi nức nở và trong thâm tâm, cảm thấy tội lỗi vì đã đánh lừa họ. – Nhưng ở đây người ta không thả tôi đâu! – Và tôi nhận thấy rằng, dù tôi không khai cái gì cho họ, nhưng vì tình người trong họ mà tôi vẫn trở nên tốt lên. Trước mắt, họ chấm dứt việc gạn hỏi và để tôi một mình với toán lính gác. Tôi chìm vào giấc mộng chập chờn. Luôn bị những cơn ác mộng dày vò nên tôi sợ nhỡ nói ra cái gì bằng tiếng Cao Ly. Đêm ấy, tôi mơ rằng tôi đang ở trại huấn luyện Kesong và chuẩn bị để bơi hai cây số. Tôi bơi qua hồ và Pak Chivon, người huấn luyện tôi, thì chèo thuyền ngay trước tôi. Tôi bơi hết sức nhưng không tiến được lên trước, và bặt đầu chìm nghỉm. Nước tràn vào miệng tôi, tôi vùng vẫy như điên và gào lên với Chivon. Anh ta quay đầu lại, và tôi nhận ra đó là… bố tôi, chứ không phải Chivon! Ông thờ ơ nhìn tôi và tiếp tục chèo thuyền. “Cha ơi! – tôi dùng hết sức lực cuối cùng và hét lên. – Cha ơi, con chết mất!” Cứ nức nở như thế, tôi bừng tỉnh dậy, người ròng rã mồ hôi lạnh. Người y tá vuốt ve để trấn an tôi. Nhưng tôi cứ khóc ròng. Không bao giờ tôi còn được thấy cha tôi, không bao giờ! Không bao giờ tôi còn được là công chúa của cha tôi! * Hàng ngày, người phụ nữ canh giữ tôi nhiều lần ấn một nút chuông, rồi trải một tấm thảm Ba Tư ra sàn nhà: cô quay về hướng Tây Nam, tức hướng có Thánh địa Mecca, rồi sụp xuống cầu nguyện trên tấm thảm. Tôi cảm thấy lạ lùng vì cô cầu nguyện một thánh thần mà chúng ta không thể thấy được. Từ khi chào đời, dân Bắc Triều Tiên đã được học rằng tôn giáo là một trò kinh tởm, phản tự nhiên và cái chính nó phản cách mạng. Chúng tôi được dạy rằng những người theo đạo là giả dối, và nếu được nghe từ “tín ngưỡng”, tôi chỉ cảm thấy khinh bỉ. Tôi cảm thấy rằng, vì, bất cứ ai, bất cứ lúc nào, cũng có thể nhìn thấy Lãnh tụ Vĩ đại, nên việc nhìn thấy ở ông hình ảnh một người anh hùng, một tấm gương là điều “thượng đẳng” và “tỉnh táo” hơn nhiều. Có điều, trên gương mặt người phụ nữ canh giữ tôi, tôi luôn thấy một vẻ nghiêm trang mê mải, nét sùng kính chìm đắm, và tôi ngẫm nghĩ không biết dân Bắc Triều Tiên có thực sự tôn sùng hình ảnh Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật đến thế hay không? Ở lũ trẻ thì đây là điều dễ hiểu vì chúng còn chưa biết nói khi đã bị bắt phải tôn sùng hai lãnh tụ họ Kim. Nhưng đối với người đã trưởng thành thì không đơn giản như thế. Họ chỉ sùng bái họ Kim ở vẻ bề ngoài: sự nhiệt thành của họ đa phần là giả bộ. Họ không mạo hiểm để bị đày ải – hoặc tệ hại hơn -, để bị tử hình. Bởi lẽ, ở Bắc Triều Tiên, có cả một đạo luật cho phép dùng gậy sắt đánh đến chết kẻ nào xúc phạm gia đình họ Kim. Người lính canh chấm dứt bài kinh cầu, cuốn tấm thảm rồi đến cạnh tôi, và đặt tay cạnh tay tôi. – Mayumi ạ, chắc chắn cô là người Nhật, vì da cô trắng thế. Cô nhìn đây này, để tay tôi cạnh tay cô mới thấy da tôi sẫm thế nào! Tôi mỉm cười, nhưng trong dạ tôi hiểu ý đồ của cô ta. Cô ta chỉ làm bộ thân thiện với tôi, nhưng trong thực tế cô coi tôi là tên khủng bố. Xuất phát từ cách cư xử của vợ chồng Henderson, tôi thấy rằng những cuộc hỏi cung tôi không được “tốt đẹp” như họ hy vọng. Họ phải đổi chiến thuật và đưa đến một nữ phiên dịch viên tiếng Nhật; tôi nhận ra người này. Tôi đã thấy cô ta tại khách sạn nơi tôi và Song Ir ở tại Manama. Tôi còn nhớ đôi lúc tôi phát hiện rằng cô ta để ý chúng tôi tại căn sảnh, hoặc cũng có lúc cô đi theo chúng tôi ngoài đường. Tôi điên người vì không nhận ra ngay cô ta là gián điệp! Người phụ nữ tên là Okubo này gạn hỏi tôi về thời gian tôi sống cùng “Shinichi” ở Nhật, và tôi cũng trả lời cô ta như với Camilla. Cô ta dịch những câu tôi trả lời Henderson, và dịch những câu hỏi của ông ta cho tôi. Một bận, Henderson ra hiệu cho Okubo ngừng lại và vừa ngẫm nghĩ, ông vừa bảo tôi: – Chui Hui à – ông nói chầm chậm -, cô phải biết là hiện nay, có vô số điệp viên Nam Hàn đang ở Bahrein và họ đề nghị chúng tôi trao cô cho họ. Chúng tôi làm tất cả để giúp đỡ cô. Nếu cô chịu cộng tác với chúng tôi, chúng tôi sẽ tạo điều kiện để cô trở về Trung Quốc. Nhưng nếu cô vẫn tiếp tục nói dối chúng tôi, chẳng còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc đưa cô tới Hán Thành. Cô hãy suy nghĩ xem!. – Henderson ngừng một chút để tôi hiểu kỹ điều ông nói, rồi ra hiệu cho Okubo tiếp tục. Khi họ dò hỏi về những chuyến đi Âu Châu của chúng tôi, tôi trả lời rất chắc chắn. Tôi đấu trí với Henderson và từng bước, từng bước, tôi cứ phải chịu thua. Khi Henderson hỏi về lúc lên chuyến bay 858, tôi đáp rằng chúng tôi bị kiểm tra rất ngặt nghèo: người ta xem xét rất kỹ cả hành lý, cả người chúng tôi. Henderson không hề tin rằng tôi vô tội vì cứ mỗi lần nhắc đến “gia đình”, tôi lại òa khóc. Nhưng tồi tệ nhất là khi ông hỏi tại sao tôi lại sử dụng độc dược. Tôi trả lời như thể tôi là một cô nữ sinh ngù ngờ, ngốc nghếch. – Vì Shinichi bảo tôi thế! Sau đó, Okubo gạn hỏi: tôi cảm thấy thế nào về Shinichi. Tôi biết trước là thế nào họ cũng sẽ hỏi tôi điều này. Tôi đã nhắc đến chuyện Kim Song Ir là một người rất “trượng nghĩa”, có điều, dầu sao đi nữa tôi vẫn là một phụ nữ trẻ chín muồi và tôi đoán rằng đại diện những nền văn hóa khác cố nhiên sẽ nghi rằng chúng tôi có quan hệ tình cảm với nhau. Nói thực là trước chuyến đi Châu Âu đầu tiên, ở Bình Nhưỡng, tôi đã nhắc thượng cấp của tôi về điều này. Ngoài ra, cứ nghĩ đến đi phải công tác là tôi lại mất hồi hộp, và tôi hay e thẹn nên không thể bỏ qua một chuyện như thế. Nhưng khi tôi đặt câu hỏi, “sếp” của tôi kêu ầm lên. – Đồng chí nghĩ kiểu gì vậy, chúng ta lấy đâu ra tiền để thuê hai phòng cho các vị? Rồi ông ta nhìn tôi như thể tôi vừa phạm phải một sai lầm ý thức hệ gì đó. Tôi là điệp viên đặc biệt, như thế tôi có nhiệm vụ phải vượt qua mỗi khi cảm thấy điều gì không chắc chắn. – Trong những chuyến đi, cô và Shinichi ở cùng phòng phải không? Toi nghĩ là chắc cô và ông ấy không có chuyện gì? – Okubo hỏi. – Không, tất nhiên là không rồi – tôi nhảy dựng lên. – Ông ấy như là cha tôi mà. – Phòng cô và ông ấy đặt thường có hai giường, hay một giường đôi? – Giường đôi. – Cô thay quần áo ở đâu? – Trong buồng tắm. – Khi tắm rửa, cô có khóa cửa? – Hẳn rồi, sao không? – Cô thấy Shinichi khỏa thân chưa? Tôi cứng người vì ngạc nhiên. – Cái gì cơ? – Ví dụ – Okubo điềm nhiên tiếp tục hỏi – cô thấy vết khâu sau một ca phẫu thuật ở bụng Shinichi chứ? – Không, nhưng tôi biết ông ấy có một ca mổ ở bụng. – Cô này, cho chúng tôi biết – trước mặt Hendersen, Okubo nhìn sâu vào mắt tôi -, ngoài Shinichi, cô đã ngủ với những người đàn ông khác chứ? Tôi lặng thinh. – Cô đã đạt cực khoái bao giờ chưa? Im lặng. – Là một nữ điệp viên, cô đã từng mồi chài đàn ông phỏng? Im lặng. – Trong đời cô, làm tình với Shinichi là sướng nhất hả? – Tổ sư bố mày! – tôi gào lên bằng tiếng Anh. – Ông ấy già thế rồi, trời ơi! – Vậy hả? – Hendersen nói xen vào. – Nghĩa là ông ta có cố gắng, nhưng mà không thành? Trừng trừng nhìn ông ta, tôi giận điếng người. Tôi tìm cách trả lời, nhưng cơn thịnh nộ trong tôi tích tụ đến mức tôi chỉ biết thở ra và lẩm nhẩm một câu gì đó. – Chán nhỉ? – Okubo nhận xét. – Theo biên bản mổ tử thi thì cái ấy của Shinichi khủng khiếp đấy! Đây là giọt nước cuối cùng! Không để bất cứ ai kịp làm gì, tôi nhảy qua chiếc bàn và tung một quyền đặc thù của võ thuật vào mũi Okubo. Tôi nghe tiếng xương sụn cô ta kêu “rắc” và máu tung tóe. Henderson kêu lên và bẻ quặt tay tôi ra đằng sau. Tôi dẫm gót lên ngón chân Henderson khiến ông ta phải để lỏng tay tôi, tôi đấm vào hạ bộ, rồi dùng cùi chỏ thượng vào đầu ông ta. Henderson lảo đảo. Lập tức tôi sấn đến chỗ ông ta, định cướp súng để tự sát tại trận ngay lúc đó. Nhưng đám lính gác đã rượt theo tôi. Đúng lúc tôi giằng khẩu súng lục của Henderson, họ giật tôi ra khỏi ông và khiến tôi không cựa quậy được. – Đừng bắn! – Henderson thở phì phò. Tôi liếc thấy ông ôm hạ bộ, đứng dựa vào tường. – Cô ta muốn điều đó! Phải bắt sống cô ta! Tôi biết cách làm sao thoát khỏi đám lính canh. Lại thụi vào hạ bộ người lính đang giữ tôi và ngay sau khi anh ta thả tôi ra, tôi dùng tay kia nắm lấy tóc anh ta, giật như điên về phía sau để chuẩn bị cho một đòn chí mạng. Nhưng khi vừa giơ tay lên, tôi có cảm giác như bị điện giật. Tôi ngã quỵ lập tức, cả cơ thể tê liệt. Tôi xoay người và liếc thấy một người lính canh khác, tay lăm lăm khẩu súng điện. Chưa kịp cử động, người lính thứ ba còng tay tôi ra sau lưng. Tôi bất lực! Henderson bám tường đứng dậy. Khuôn mặt ông đỏ bừng, thở khó nhọc. Ông nhìn tôi với vẻ kinh tởm và đờ đẫn. – Vậy là kết thúc, Mayumi ạ – ông nghiến răng. – Cô tự bỏ lỡ cơ hội cho mình rồi. – Rồi ông quay về phía một ai đó mà tôi không thấy rõ. – Hãy đưa cô ta đi. Bây giờ cô ta thuộc về người Nam Hàn rồi!
Chương 10 Chiếc máy bay số 585 của Hãng Hàng không Korean Air đứng tại đường băng khởi động, cách chúng tôi chỉ chừng 50 mét. Qua cửa kính khổng lồ của phi trường, tôi ngắm nhìn các nhân viên phục vụ mặt đất chấm dứt công việc bảo trì của họ. Giá họ biết điều gì sẽ xảy ra trong hôm nay… Bữa ấy là ngày 28 tháng Mười một, mặt trời còn chưa lặn. Baghdad vẫn còn rất nóng nực. Chúng tôi vừa đến từ Baghdad theo đúng lịch bay và vài giờ sau, sẽ bay tiếp đi Abu Dhabi. Hôm nay, sau bao ngày chuẩn bị, chiến dịch sẽ bắt đầu. Kim Song Ir đứng cạnh tôi, tôi cảm thấy ông cũng có chung suy nghĩ với tôi. Ông nắm tay tôi và siết chặt. Đây là một biểu hiện hiếm hoi của tình yêu thương. Và nó cũng phù họp với vai diễn của hai chúng tôi: cha tỏ ra chiều chuộng con. Cho dù ông đã cao tuổi và giàu kinh nghiệm, tôi biết rằng ông cũng hồi hộp, chí ít cũng như tôi. Trong một khoảnh khắc, tôi chợt nghĩ rằng trong chuyến đi này, quả thực ông đã như người cha tôi. Rồi tôi nghĩ đến gia đình thực của mình và cảm thấy, tôi muốn về nhà biết chừng nào! – Chẳng bao lâu nữa, Okhva ạ – Song Ir thì thầm. Giờ, lần đầu tiên ông dám dùng tên Cao Ly của tôi.
– Chẳng mấy nữa đâu! Khi vừa quay mặt khỏi cửa kính phi trường, chúng tôi liếc thấy hai người Cao Ly ăn vận chỉnh tề đang đi trong đám đông về phía chúng tôi. Một trong hai người cầm chiếc cặp xách khá to. Lập tức, tôi hiểu rằng đó là người mà chúng tôi phải bắt liên lạc và quả bom nằm trong cặp của ông ta. Tôi cổ tỏ ra bình thản nhưng kỳ thực, bụng tôi quặn đau. Hai điệp viên đó đều có tên là Cho và giống nhau như hai giọt nước, mặc dù hình như họ không có họ hàng gì với nhau cả. Cả hai đều cao hệt như nhau, đều mặc Âu phục màu đen sang trọng và hợp thời trang, đều đeo kính gọng kim loại. Tóc họ được chải y hệt nhau và tôi thoáng nghĩ rằng họ là một cặp sinh đôi vậy. Trong hai người, người nhiều tuổi hơn là trưởng nhóm, còn người kia là điệp viên đặc biệt. Chúng tôi cất lời chào hỏi và sau vài lời úy lạo lịch sự, chúng tôi cùng vào quán bar của phi trường để uống chút gì đó. Ông Cho “già” thành thực lo ngại cho sức khỏe của Song Ir khi được biết Kim không khá lên mấy kể từ khi chúng tôi rời Bình Nhưỡng. – Đây sẽ là nhiệm vụ cuối cùng của tôi – Kim đáp. Cho vỗ vai Kim. – Nếu quả thực là như thế, tôi không thể hình dung ra nhiệm vụ gì phù hợp với đồng chí hơn thế này, để đồng chí có thể chấm dứt đời hoạt động. – Ông ta nhấp môi vào ly nước, rồi nhận xét. – Tôi hy vọng rằng chắc cả hai đồng chí đều không quên cách đặt bom chứ? – Tất nhiên, sao quên được?! – Kim đáp. – Tuyệt! – Cho uống sạch ly nước và liếc nhìn đồng hồ. – Tôi nghĩ là đến lúc chúng ta phải đi rồi. Không nên để người ta thấy chúng tôi cùng các đồng chí thế này. – Ông ta nhìn Kim, rồi quay sang nhìn tôi. – Chúc các đồng chí may mắn! Chúng tôi bắt tay nhau và họ ra đi. Chiếc cặp được để lại. Tôi nhẹ nhõm rất nhiều trong lòng khi biết là Kim sẽ mang chiếc cặp đó. – Nhớ đây, cô à – Kim giảng giải khi chúng tôi bước ra phía cửa. – Chất nổ lỏng trong chai sẽ làm tăng sức nổ của trái bom đài này, vì vậy luôn phải giữ chúng cùng nhau. – Ông nhìn quanh xem có ai nghe chúng tôi không. Rồi ông hạ giọng nói tiếp. – Chớ quên là không thể thay pin trong đài, thành thử cô không được làm mất chúng. – Tuy không hay nói đùa, song Kim cũng mỉm cười và nói thêm. – Và đừng có nhầm chất nổ lỏng với thuốc men của tôi đấy nhá! Tại điểm kiểm tra, chúng tôi chia tay nhau. Ở xứ này, không chỉ hành lý mà cơ thể hành khách cũng bị xem xét. Bề ngoài, tôi cố bình thản nhưng kỳ thực tim tôi đập thình thịch, có lẽ tôi còn hơi choáng váng nữa. Mọi thứ diễn ra trôi chảy cho đến khi nhân viên kiểm tra – một phụ nữ trạc ba mươi, không lấy gì làm thiện cảm và mặt mày ảm đạm – phát hiện ra mất cục pin và chai “nước” trong va-li của tôi. Lập tức, cô ta bắt tôi phải bỏ ra.- Ở phi trường này không được mang pin lên máy bay!
Tức thì tôi rơi vào cơn hoảng hốt. Thiếu pin, bom làm sao nổ được và toàn bộ nhiệm vụ phức tạp, dai dẳng và tốn kém sẽ đại bại, tất cả những nỗ lực của chúng tôi đều sẽ vô nghĩa. Gần như phát khóc, tôi xin người nhân viên trả lại tôi mấy cục pin, nhưng cô ta tỏ ra rất cương quyết và đã có ý nghi ngờ tôi (có mấy cục pin vớ vẩn mà cũng xin xỏ!) Mất cục pin bị vứt vào hòm rác là tôi nhận thấy, cô nhân viên bắt đầu mất bình tĩnh.Đúng lúc tôi muốn tiếp tục cãi cọ (tôi biết nếu không hoàn thành nhiệm vụ, tôi sẽ không thể trở về Bắc Triều Tiên), tôi nhận thấy Kim đã đến gần tôi vì ông đã xong thủ tục. Nghĩ là ông có thể cứu vãn tình thế, liến thoắng, tôi kể lại mọi sự cho ông nghe. Kim sa sầm mặt, thò tay vào hòm rác và lấy mấy cục pin ra. Rồi ông cho vào đài, bật ngay xem đài có chạy không. – Cô xem này – Kim nói với người nữ nhân viên kiểm tra -, mấy cục pin này để cho vào đài. Chúng tôi đã đi khá nhiều nơi và chưa ở phi trường nào, có ai kêu ca gì về chúng. Nếu cô cấm chúng tôi mang đài trong trạng thái hoạt động được lên máy bay, khi đến Tokyo tôi sẽ khiếu nại tại tòa đại sứ Iraq. Nhưng trước tiên, tôi cũng sẽ có lời tại đại sứ quán Nhật ở Baghdad. Trong khoảnh khắc đó, tôi bắt đầu hiểu quyền lực của sức mạnh kinh tế Nhật Bản. Cô nhân viên do dự và nhìn sang một sĩ quan khác đứng bên cạnh. – Xin quý vị thông cảm – người sĩ quan nam tiến đến gần chúng tôi. – Xin quý vị hiểu cho, chúng tôi chỉ thi hành mệnh lệnh. – Anh này cũng do dự một chút, rồi nói thêm. – Tùy quý vị. Quý vị có thể mang đài lên máy bay. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì trút được gánh nặng. Thế là xong, chúng tôi được đi tiếp. Rồi lại đến một điểm kiểm tra mới, mọi thứ lại bắt đầu từ đầu. Có điều, lần này Kim giấu chiếc đài dưới thắt đai quần và chúng tôi “thoát hiểm” dễ dàng. – Tại Bình Nhưỡng, tôi đã bảo lũ hợi ấy là ở đây, thế nào cũng gặp khó khăn! – Kim lẩm bẩm khi chúng tôi đã đi ra. Gần đến cửa, chúng tôi thấy có rất nhiều người miền Nam tại phòng chờ. Như thể hai chúng tôi đang ở một phi trường của Nam Hàn. Tôi tìm hai ghế riêng chưa có ai và ngồi xuống. Kim mang cặp vào phòng vệ sinh nam, nhưng vài phút sau đã thấy ông đi ra. – Mayumi, nhà vệ sinh nam đông nghịt. Cô mang bom vào vệ sinh nữ và đặt giờ nó đi! Trong phòng vệ sinh nữ, tôi vào một buồng và khóa lại. Tôi đã tập đặt giờ trên trái bom giả cả vạn lần, nhưng bây giờ, khi cầm bom thật trong tay, tự nhiên tôi trở nên hồi hộp lạ thường. Tay tôi run đến nỗi không làm sao trấn tĩnh được. Cuối cùng, tôi nhủ rằng thế nào cũng phải làm việc này một lần! Tôi liếc nhìn đồng hồ, lúc đó là 10 giờ 40. Hai mươi phút sau chúng tôi sẽ lên máy bay. Từng bước một, theo đúng cách của nó, tôi đặt bom sao cho 9 tiếng nữa nó sẽ nổ. Và sau đó, tôi nín thở (vì sợ bom sẽ nổ ngay tức thì vào lúc đó), tôi đặt công-tắc nổ vào vị trí của nó. Xong! Tôi đã thực hiện điều cần làm! Tôi thở nhẹ nhõm và thấy đau nhói vì từ giờ trở đi không còn đường lui. Trong khoảnh khắc đó, tôi không hề thấy cảm giác tội lỗi, cũng không thấy áy náy lương tâm, trước mắt tôi chỉ có một mục tiêu là phải thực hiện nhiệm vụ. Tôi không thể để Tổ quốc lâm nguy! Nhưng đi ra phía cửa lên máy bay, nhìn thấy trong gương khuôn mặt của chính mình, tái nhợt và mệt mỏi vì những sự việc đầy kịch tính trong những ngày cuối cùng, bất giác tôi nghĩ trong lòng: sao mình lại đến nông nỗi này?
Trong một giây đồng hồ, tôi như thấy lại khuôn mặt tôi thời thơ ấu, không phải là khuôn mặt của một kẻ trưởng thành mà tôi vừa thấy trong gương. Thế rồi khuôn mặt trưởng thành ấy đột ngột trở nên xa lạ với tôi, như thể tôi trở thành người lớn mà không hề nhận ra giữa chừng, như thể tôi đã quên mất mình là ai. Tôi nhìn thấy khuôn mặt mẹ tôi trong khuôn mặt tôi và thầm hỏi không biết giờ này bà nghĩ gì về tôi. Tôi cảm thấy rất rõ rệt rằng bà không tán thành điều tôi làm, cho dù tôi có được tặng thưởng huân, huy chương gì vì nó đi nữa, và tôi phải mất một lúc mới lôi được mình ra khỏi tấm gương đó. Khi trở lại cùng Kim trong phòng chờ, ông nhìn tôi vẻ dò hỏi. Tôi gật đầu, mỉm cười nhợt nhạt và ngồi xuống cạnh ông. Chúng tôi chờ đến giờ lên máy bay. Kim móc một vỉ thuốc và lấy ra bốn viên. Ông cho vào miệng hai viên và đưa tôi hai viên còn lại. – Cái này cho vững thần kinh – ông nói và biết ơn ông, tôi cũng uống hai viên an thần.
Đã đến giờ lên máy bay, người ta thông báo qua loa phóng thanh. Chúng tôi lên chiếc xe buýt để ra máy bay. Khoảng cách từ phòng chờ đến đó chả bao nhiêu, vậy mà tôi vẫn thấy nó thật dài. Màn đêm đã bao trùm Baghdad và phía trước chúng tôi, lừng lững chiếc máy bay sáng choang vì ánh điện. Nếu giờ đây tôi nghĩ đến đám đông trong phiên tòa khi phán quyết được tuyên, tôi không thể không nhắc lại khoảnh khắc ấy trên xe buýt. Hành khách hầu như đều là người Nam Hàn, họ trò chuyện huyên náo. Cho dù là người miền Nam, tôi vẫn cảm thấy họ là những người con của dân tộc tôi. Sự chia cắt của đất nước chúng tôi là phản tự nhiên. Tôi phải tự thuyết phục bản thân rằng nhiệm vụ của tôi sẽ phục vụ lợi ích của cả hai miền. Người ta bảo tôi thế và tôi cũng tin như thế. Nhưng giờ đây, hồi tưởng lại, tôi chỉ còn thấy gương mặt đẫm lệ của những thành viên gia đình trong phòng xử án, và tôi tìm cách liên hệ những gương mặt ấy với những khuôn mặt tươi cười mà tôi thấy trên xe buýt. Càng ngày, tôi càng muốn đoán xem ai có thể là thân nhân của ai. Xe buýt dừng bánh, tôi không còn thời gian nghĩ ngợi. Chúng tôi xuống xe và đi bộ trên sàn bê-tông dẫn đến cầu thang máy bay. Phía trên thang, hai cô chiêu đãi viên chào đón chúng tôi, còn một cô thứ ba đưa chúng tôi về chỗ ngồi. Kim đặt hành lý lên chỗ đựng đồ phía trên chúng tôi. Giữa chừng, tôi quan sát ông và thấy ông mệt mỏi biết chừng nào! Trong giây phút ấy, ông trông già nua và yếu ớt vô chừng, nhưng trong ông vẫn toát lên vẻ oai phong nào đó: một điệp viên cựu trào, trong 70 năm của đời mình đã kinh qua biết bao thăng trầm! Tôi ngồi bên cửa sổ, cạnh Kim, còn ghế ngoài phía đường đi thuộc về một người đàn ông da trắng. Lạ lùng là đối với tôi, tôi thấy nhẹ nhõm vì ông này không phải là người Nam Hàn, rồi tôi cũng lại băn khoăn suy nghĩ, chả hiểu mấy tiếng nữa ông ta sẽ có hay không trong đám nạn nhân. Quả là một cảm giác đáng sợ! Khi lên máy bay tôi đã bình tĩnh lại được chút chút, nhưng đến giờ tôi lại thấy sợ. Bên ngoài là bóng đêm, trong máy bay thì như thể có một thế giới nhỏ, riêng biệt bao trùm lên tôi, siết tôi rất chặt. Tôi như ngạt thở trong cái không gian kín này. Hơn thế nữa, có thể bom sẽ nổ trước thời hạn! Bất cứ giây phút nào, tôi cũng có thể bỏ mạng và không ai biết được rằng điều gì sẽ xảy ra. Ý nghĩ ấy thật khó chịu!
Máy bay cất cánh đúng lịch trình. Tôi cố ngủ mà không được, thành thử cứ chờn vờn bên tai tôi tiếng người xung quanh trò chuyện. Đa phần đó là những công nhân Nam Hàn, chủ yếu làm trong ngành công nghiệp dầu khí và họ mừng rỡ vì được về thăm nhà. Một số người phàn nàn về công ty của họ cũng như hoàn cảnh nơi họ làm việc, và điều này lại chứng tỏ các hãng Nam Hàn bóc lột người lao động như thế nào, đúng như những gì chúng tôi được học. Cứ mỗi lần cô chiêu đãi viên đi ngang qua tôi, tim tôi lại đập thình thịch. Gần chỗ của tôi, có một nhân viên an ninh ngồi quan sát hành khách; như thể, anh ta cứ nhìn tôi chằm chằm. Tôi lại tìm cách tự trấn an. Tôi nghĩ nếu nhiệm vụ thành công, tôi được nhận phần thưởng lớn nhất mà tổ quốc có thể trao cho tôi. Tôi cũng nghĩ đến điều mà tôi được nghe trước khi lên đường ở Bình Nhưỡng: xong việc, tôi sẽ không bao giờ phải làm điệp viên nữa và cả vụ này sẽ vĩnh viễn được giữ bí mật. Tôi nuôi hy vọng được trở về với gia đình, và đây là điều tôi mong ước hơn tất cả mọi thứ khác! Các hành khách khác đã ngủ, đèn trên máy bay được tắt và chúng tôi chìm trong bóng tối. Chỉ còn tiếng ù ù đều đều của động cơ máy bay. Tôi liếc nhìn Kim, dễ thấy là ông đang luyện thiền rất say sưa. Đồng thời, tôi cũng nhận ra một mạch máu trên cổ ông đập đập theo từng nhịp của tim ông, và ông phải thở rất gấp để lấy dưỡng khí. Chuyến bay này, cho dù chỉ kéo dài một giờ mà tôi cảm thấy như nó dài vô tận. Mọi lo âu và khó khăn tôi gặp phải trước khi lên máy bay đều không thấm vào đâu với khoảng thời gian này. Tôi không có việc gì khác, ngoài chờ đợi. Khi người phi công nói trên loa rằng chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ hạ cánh ở Abu Dhabi, chỉ thiếu chút nữa là tôi nhảy cẫng lên. Kim và tôi nhìn sang nhau, tôi nghĩ rằng cả hai chúng tôi đều nghĩ đến một điều. Càng gần những giây phút hạ cánh bao nhiêu, tôi càng hồi hộp bấy nhiêu, như thể tôi đã phải bắt đầu đếm ngược để chờ một thảm họa không tránh khỏi. Rốt cục, máy bay cũng xuống đường băng và phanh lại, nhưng phải mất một lúc mới dừng. Lập tức, chúng tôi đứng phắt dậy và lấy hành lý từ khoang đựng đồ bên trên chỗ ngồi. Tôi sững người trong một thoáng khi nhìn thấy chiếc cặp đựng thuốc nổ. Trông nó quả là vô hại! Khó tin được trong đó lại có một trái bom có thể làm tan tành chiếc máy bay! Tôi rùng mình rồi quay lưng đi thẳng.Xuống máy bay cũng phải xếp hàng, mà hàng thì di chuyển về phía trước thật chậm chạp! Nhiều hành khách đi Hán Thành và chỉ xuống máy bay để duỗi chân tay xả hơi. “Nhanh lên nào, lũ chó chết!” – tôi nghiến răng nghĩ thầm. “Đi đi nào!” Khoảng thời gian xếp hàng ở cửa ra của máy bay như thể kéo dài đến vô tận. Tôi luôn sợ sẽ có ai đó nắm vai tôi kéo lại, hoặc họ mang chiếc cặp lại cho chúng tôi vì nghĩ rằng nó bị bỏ quên. Nhưng rồi cô chiêu đãi viên đứng ngoài cửa đã mỉm cười với chúng tôi. – Tạm biệt. Cám ơn quý vị đã đi với hãng chúng tôi. Chân tôi run lẩy bẩy khi ra khỏi máy bay, hầu như tôi đứng không vững. Vậy mà tôi vẫn cảm thấy nhẹ nhõm hẳn trong lòng. Như thể, tôi vừa trải qua một thử thách ghê người và tôi được sống sót, không suy suyển. Tôi nhìn Kim, ông mỉm cười. Nhưng cảm giác nhẹ nhõm của chúng tôi không kéo dài lâu. Tại phòng chờ ở phi trường, một nhân viên an ninh đã thu vé và hộ chiếu của khách “vãng lai” (tức là người chuyển tiếp), và phát một thẻ lên máy bay màu vàng cho những người sẽ đi tiếp chuyến bay đó. Lập tức, Kim mất bình tĩnh. Theo kế hoạch, chúng tôi lẽ ra phải đi chuyến bay số 603 của Hãng Hàng không Jordanian Airlines qua mman tới Roma. Nhưng điều nan giải là ở đây: nhân viên an ninh đột ngột yêu cầu thu vé của chúng tôi. Vấn đề đặt ra như sau: nếu đưa vé theo chặng Abu Dhabi – Amman – Roma cho anh này, khả năng là anh ta sẽ nghi ngờ. Một ông bố và con gái người Nhật tại sao lại bay từ Baghdad sang Abu Dhabi, rồi từ đó bay thẳng qua Amman sang Roma, trong khi thiếu gì chuyến bay trực tiếp từ Baghdad sang Roma? Chúng tôi cũng không thể nói rằng chúng tôi muốn ở lại Abu Dhabi vì muốn làm điều này phải xin thị thực, mà đây là điều “bất khả thi” vì giữa Nhật và Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất không có quan hệ ngoại giao. Chúng tôi đâu có lường được những rắc rối như thế. Như chúng tôi được biết, chả phi trường nào khác trên thế giới lại thu vé của hành khách chuyển tiếp. Mọi thứ bắt đầu trở nên nguy hiểm! Bởi vậy, khi nhân viên an ninh đến thu vé, chúng tôi đã đưa loạt vé trá hình chặng Vienna – Baghdad – Bahrein cho anh ta. Anh này mang vé đi và cho chúng tôi hay: anh sẽ xử lý thủ tục cho chúng tôi lên máy bay. – Bây giờ mình phải làm gì hở bác? – tôi hỏi thầm Kim. – Càng nhanh càng tốt, phải rời Abu Dhabi! – Kim đáp. – Trước hết phải tới Bahrein, rồi từ đó qua Roma. Giữa chừng, chuyến máy bay 858 cất cánh về hướng Băng Cốc và Hán Thành, và tôi nhìn những ánh đèn của nó chìm dần trên bầu trời đêm. Trong tôi, sự chờ đợi và nỗi khiếp đảm hòa trộn khi tôi thấy chiếc máy bay biến đi trong không trung. Tôi không làm sao quên được những người miền Nam và nụ cười của họ… Thời gian trôi. Phi trường Abu Dhabi vắng lặng trong màn đêm. Người nhân viên an ninh đã thu vé của chúng tôi ngồi ở phía bên kia của phòng chờ, trò chuyện với các đồng nghiệp, đôi lúc anh ta lại liếc nhìn chúng tôi. Rồi Kim đứng dậy và tiến đến chỗ anh ta hỏi về những chiếc vé đó. Anh ta đáp rằng chúng tôi sẽ nhận lại được trước 9 giờ, khi máy bay cất cánh, và từ giờ đến đó chúng tôi chớ lo lắng gì. Kim ngồi lại, tay xoa mặt và lại phàn nàn rằng ngay từ đầu, ông đã biết lộ trình thế này là quá tệ. Rồi ông nhận ra, trò chuyện như thế có thể khiến tôi lo ngại, ông tìm cách khích lệ tôi. – Tìm nguyên nhân các vụ tai nạn máy bay bao giờ cũng mất thời gian. Chắc chắn chúng ta đã về lại Bình Nhưỡng khi họ bắt đầu dò tìm chúng ta. – Tuy vậy, có thể thấy rằng bản thân ông cũng không mấy tin vào những gì ông nói, và tôi thì lặng thinh. Rạng đông, tôi nhìn đồng hồ. Theo đồng hồ của chúng tôi, bom sẽ phải nổ lúc 6 giờ. Bây giờ là 5 giờ 54 phút. Tôi hình dung trước mắt chiếc máy bay, giờ nó đang trên biển Andamán, gần Miến Điện. Rồi đây, bất cứ phút nào nó cũng có thể… Tôi chìm vào giấc ngủ chập chờn. Khi tôi tỉnh dậy, trời nắng chan hòa và máy by của chúng tôi chẳng bao lâu nữa sẽ cất cánh. Rốt cục, người nhân viên an ninh cũng trả lại hộ chiếu và vé và chúng tôi lên chuyến bay đi Bahrein. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi ngồi trên máy bay, mừng rỡ vì rời khỏi Abu Dhabi.
Một giờ sau, Chủ nhật ngày 29 tháng Mười một, chúng tôi đến Bahrein. tại đó, chúng tôi cũng không cảm ấy an toàn gì cho lắm và muốn mua ngay vé đi Roma. Vì trong vé chúng tôi, chặng khởi hành là Abu Dhabi nên lẽ ra phải làm lại vé tại văn phòng, nhưng nó lại đóng cửa Chủ nhật. Kim cay đắng vò đầu bứt tai rồi tuyên bố rằng chúng tôi buộc phải ngủ đêm tại Bahrein, và chúng tôi xin thị thực có hạn trong ba ngày tại đây. Qua điện thoại, chúng tôi đặt phòng tại Khách sạn Intercontinental và đi taxi tới đó. Ở khách sạn, hầu như cả ngày chúng tôi chỉ ngủ vùi. Chả có việc gì cả, chỉ phải chờ đợi. Sáng thứ Hai, chúng tôi đã muốn mua vé đi Roma, nhưng văn phòng vé bảo hết chỗ, phải chờ đến thứ Ba. Trong ngày, chúng tôi đi vòng vèo khắp Manama để nhập vai du khách Nhật, nhưng cả tôi và Kim đều chẳng nhớ là đã thấy gì. Chúng tôi cũng mua vài thứ lặt vặt để tiêu thời gian. Kim mua vài chiếc bánh mỳ kẹp thịt và chút hoa quả cho bữa tối để ăn trong khách sạn. Đang ăn, bỗng có chuông điện thoại. Tôi sững sờ đến mức làm rơi quả chuối trong tay. Không ai biết chúng tôi đang ở đây, kể cả các “sếp”. Không có lý do gì để bất cứ ai gọi điện cho chúng tôi cả! Tôi liếc nhìn Kim và mặt tái đi. Kim nhìn thẳng vào mắt tôi rồi cầm điện thoại. – Vâng? Kim nghe chừng một phút rồi đặt điện thoại. Ông đứng dậy, tay chắp sau lưng và đi về phía cửa sổ. Tôi hỏi có gì đáng ngại không, nhưng ông không đáp. Nhìn mặt ông, tôi biết ông đang căng thẳng. Tim tôi bắt đầu đập loạn xạ, miệng khô khốc. Vài phút sau, chuông điện thoại lại kêu. Kim lại nhấc máy rồi ra hiệu tôi mang hộ chiếu cho ông. Tôi đưa ông. Ông đọc tên và số hộ chiếu chúng tôi, rồi đặt máy. – Đại sứ quán Nhật họ gọi. – Ông thở dài rồi nói tiếp. – Đừng lo! Không dễ truy ra chúng ta đâu. Tôi nhìn vào mắt ông. – Cháu không thể tin được! – Quả thực là tôi không hề tin. Đột ngột, tôi có cảm giác là nhà chức trách biết rõ chúng tôi là ai và đang ở đâu. Kim nhún vai, nét mặt vô cảm. Tôi đứng lên dọn bàn khi chuông điện loại lại kêu. Kim nhác mấy, nghe một chút rồi đặt xuống. – Mayumi, ở sảnh dưới nhà có hai nhân viên của tòa đại sứ Nam Hàn. Họ muốn lên gặp chúng ta. Cô hãy giả ngủ nhé, để tôi xử lý mọi việc. Vài phút sau, có tiếng gõ cửa. Kim mở cửa và hai người đàn ông bước vào. – Xin lỗi các anh – sau khi chào hỏi, Kim nói -, nhưng cháu nhà tôi mệt quá, nó đang ngủ. Ba người ngồi vào bàn. Hai người Nam Hàn không nói tiếng Nhật nên cuộc trò chuyện diễn ra bằng thứ tiếng Anh “giả cầy”. Bực bội và bất lực, nhiều khi họ văng tục bằng tiếng Cao Ly, nhưng Kim “thủ vai” của ông rất hoàn hảo. Cuối cùng, hai nhân viên sứ quán nói thẳng. Họ cho biết chuyến bay số 858 tới Hán Thành của Hãng Hàng không Korean Air đã mất tích cùng 115 hành khách trước khi hạ cánh ở Băng Cốc, họ nghĩ rằng nó đã bị rơi. Nghe giọng họ, tôi cảm giác họ nghi chúng tôi có liên quan đến vụ này và họ hỏi, chúng tôi muốn đi đâu tiếp. Tôi hình dung trước mắt chiếc máy bay bị rơi. Phải thú nhận rằng trong khoảnh khắc ấy, tôi không thấy có chút áy náy lương tâm nào, tôi còn mừng rỡ vì nhiệm vụ của chúng tôi đã được hoàn thành, chúng tôi đã trung thành với lãnh tụ Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật. Tôi chắc mẩm rằng sẽ không có Thế vận hội 1988 tại Hán Thành và rằng, một bước tiến dài đã được thực hiện cho sự nghiệp thống nhất hai miền Nam – Bắc mà tôi cũng được góp phần. Hai người Nam Hàn tạm biệt và cho biết hôm sau họ sẽ trở lại. Vài giờ sau, có tiếng gõ cửa. Kim hé mở. Ai đó ném một hộp kẹo sô-cô-la vào phòng rồi đi ngay. Rõ ràng là chúng tôi đã bị theo dõi! Đêm hôm ấy tôi không tài nào chợp mắt. Kim mệt mỏi và ngủ li bì, cả đêm ông ngáy rất to. Tôi thì nhìn trân trân lên trần nhà và cứ vài phút lại liếc đồng hồ. Gần như tôi bị tê liệt. Tôi nghĩ rằng việc chúng tôi bị bắt chỉ còn là vấn đề thời gian! Đến sáng, Kim vẫn ngủ mê mệt. Tôi đánh thức ông và hối hả sắp xếp hành lý cho kịp chuyến bay. Khi đã xong xuôi và tôi đang bước ra cửa, Kim gọi tôi: – Mayumi, chờ chút đã! Tôi quay lại. Gương mặt Kim nghiêm nghị, tôi không chịu nổi và phải rời ánh mắt ông. Ông thọc tay vào túi áo và đưa cho tôi bao thuốc Marlboro mà ông có nhiệm vụ cất giữ tới nay. – Nếu điều tồi tệ nhất xảy ra – ông nói và khi tôi nhận bao thuốc, tôi thấy tay ông run rẩy. Tôi nghĩ rằng cả hai chúng tôi đều biết thế là mọi sự đi toi! Tuy nhiên, cho đến lúc ấy, cả tôi, cả Kim đều không hề nghĩ đến việc phải dùng thuốc độc. Vì cũng không rõ là chúng tôi có đủ can đảm làm điều đó hay không! Trên đường ra tới thang máy, Kim nhắc đi nhắc lại câu nói mà ông đã buông ra từ hai hôm trước: – Tôi đã bảo với lũ hợi ấy là lịch trình rất tệ. Tôi bảo rồi! Nếu về tới nhà, tôi sẽ làm ầm ĩ vụ này lên! Chúng tôi ăn sáng mà chỉ trả các hóa đơn. Không quan tâm đến những cái nhìn nghi hoặc của đám nhân viên khách sạn, chúng tôi nhào vào ánh sáng chói chang của buổi sớm mai. Bất cứ ai cũng có thể thấy chúng tôi hoảng sợ. Cho dù gắng sức bao nhiêu đi nữa, chúng tôi không sao tỏ ra bình tĩnh được.
Chúng tôi vẫy một taxi và bảo anh tài chở ra phi trường. Nhìn cảnh vật trơ trụi ven đường, tôi siết chặt bao thuốc lá và cầu Trời để khỏi phải dùng đến nó. Nắm trong tay bao thuốc và biết rằng chỉ một tẹo độc dược trong đó cũng khiến tôi chết tức thì, tôi có cảm giác là lạ. Nghĩ đến đây, tôi đau quặn trong bụng. Chúng tôi đến phi trường trót lọt và Kim vội vã đi nhận thẻ lên máy bay. Tôi nhìn quanh xem có bị ai theo dõi không, nhưng không thấy gì đáng ngờ. Rốt cục, Kim trở lại và chúng tôi rảo bước về phía cửa. Chúng tôi đứng vào hàng chờ đợi cùng những hành khách đang chuẩn bị lên máy bay và tôi lại hy vọng có lẽ chúng tôi sẽ thoát nạn. Khi ấy, sau lưng tôi, ai đó nói tiếng Nhật rất sõi: – Xin chị đưa tôi coi hộ chiếu! Tôi quay lại và thấy một người đàn ông châu Á. Chúng tôi lặng thinh đưa hộ chiếu và ông ta biến luôn. Kim và tôi bị buộc phải ra khỏi hàng. Chúng tôi chỉ còn biết đứng nhìn dòng người lên máy bay. Trong đầu, tôi bất giác nhớ lại những lời mà ông giám đốc từng nói ở Bình Nhưỡng. – Các đồng chí, nhiệm vụ này phải giữ tuyệt mật! Trong trường hợp xấu nhất, các đồng chí cũng phải sẵn sàng để cắn viên thuốc chứa độc dược để giữ bí mật. Chớ quên rằng, khi từ giã cuộc sống thể xác, các đồng chí sẽ bước vào cuộc sống chính trị vĩnh hằng! Vâng – tôi nghĩ -, con nguyện là đứa con tự hào của Tổ quốc, con hạnh phúc khi được hy sinh đời mình cho sự nghiệp thống nhất đất nước! Từ nhiều ngày nay, lần đầu tiên tôi thấy bình tĩnh.
Và đúng lúc ấy, tôi nghe loa báo rằng chuyến bay đi Roma đã cất cánh. Tôi quay ra cửa sổ, thấy chiếc máy bay lăn bánh trên sân khởi động và mọi hy vọng của tôi bay biến. Mọi quyết tâm mấy phút trước của tôi sụp đổ! Cố tỏ ra cứng rắn là điều thừa thãi! Khi quay lại, người đàn ông châu Á trở lại, tay cầm hai cuốn hộ chiếu của chúng tôi. Gương mặt ông ta toát lên vẻ thê lương. – Các vị phải ở lại đây. Cả hai. – Tại sao? – Kim hỏi. – Tôi là nhân viên tòa đại sứ Nhật tại Bahrein. Hộ chiếu mang tên Hachiya Mayumi là giả mạo. Các vị phải ở lại cho chúng tôi lấy cung. Cảnh sát sẽ tới ngay bây giờ. Toi cảnh báo các vị, chớ làm điều gì ngu xuẩn! Ông ta rời chúng tôi ra xa xa và nhìn quanh như thể muốn xem có thực là chỉ có hai chúng tôi không. Kim chạm vào vai tôi. Tôi quy về phía ông. Mặt ông buồn bã. – Okhva, cháu phải mạnh mẽ lên. Cháu phải cắn ống thuốc. Chúng ta bại lộ rồi. Nếu sống sót, cháu cũng chỉ kéo dài những sự chịu đựng mà cháu sẽ bị. Bác không tiếc gì khi phải chết bây giờ. Không sống đủ rồi. Nhưng cháu… – giọng ông nghẹn ngào và ông phải ngừng một chút rồi mới nói tiếp được. – … bác thương cháu! Tôi cảm thấy ông cụ khóc trong lòng và tôi hơi bất ngờ vì biểu hiện nhân tính này của Kim Song Ir. Bởi lẽ, ông là điệp viên bí mật được kính trọng bậc nhất của Bắc Triều Tiên, là một nhà cách mạng thực thụ, người chiến sĩ chân chính. Trong chuyến đi này – dù già cả, bệnh tật và dù số phận chúng tôi đã có những biến chuyển bất lợi -, không bao giờ ông tỏ ra sợ hãi. Thế mà, giờ đây ông vẫn sụp đổ, không phải do ông mà vì tôi. Tôi không nói nên lời, chỉ biết tuôn lệ như suối, nhưng tôi gật đầu, tỏ ý sẵn sàng cắn viên thuốc. Và đúng lúc ấy, trước con mắt của tâm hồn tôi, hình ảnh mẹ tôi hiện về. Vài dịp khi tôi được về thăm nhà trong thời gian huấn luyện (hai, ba năm được về một lần), mẹ tôi luôn vui mừng vì con gái bà khỏe mạnh. Mỗi khi tôi ra đi, bà phải ráng sức tự chủ để tỏ ra có kỷ luật. Cho dù bà buồn đến mức nào khi xa tôi. Dạo ấy, tôi không mấy nhận ra những cảm xúc của bà. Tôi theo bước người đi kèm trở về trại tập huấn và tự hào vì được đảng lựa chọn. Giờ đây, tôi cảm thấy đã phản bội mẹ tôi, người phụ nữ làm lụng cả đời để nuôi dạy tôi. Tôi hổ thẹn vì tính tự phụ của mình, đến giờ mới nhận ra lỗi lầm thì đã quá muộn. Không đảng phái nào đáng để con người vì nó mà không quan tâm đến gia đình! Mẹ ơi, tha lỗi cho con! Mẹ hiểu cho con, con xin mẹ… Tôi phải chết vì không phải chỉ riêng tôi, bà cũng sẽ phải trả giá vì những thất bại của tôi. Tôi liếc nhìn Kim, ông rít hết điếu thuốc này đến điếu khác bên cạnh tôi. – Cha ơi, ra hiệu cho con biết khi nào cần phải cắn ống thuốc nhé! Kim đắm chìm trong những suy tư, ông thờ ơ gật đầu. Gương mặt ông vô cảm khi ông nhả ra khói thuốc. Có lẽ ông cũng đang nghĩ đến gia đình… Khi ấy, bốn, năm cảnh sát Bahrein bước vào phòng và yêu cầu chúng tôi đi theo họ. Chúng tôi bị tách khỏi nhau: tôi bị đưa vào một văn phòng nhỏ, không có gì đặc biệt, để khám người. Hai phụ nữ làm nhiệm vụ khám người tôi rất kỹ càng. Họ kiểm tra từng ngóc ngách trên cơ thể tôi, không chừa bất cứ chỗ nào. Bộ đồ trang điểm của tôi cũng bị xem kỹ. Tuy nhiên, bao thuốc lá tôi để trong chiếc túi xắc đeo vai thì họ lại không để ý lắm. Khi tôi trở lại phòng chờ, Kim đã chờ ở đó. Gần bên ông là một cảnh sát Bahrein. Kim nhìn tôi vẻ dò hỏi, bao thuốc vẫn còn giữ được chứ? Tôi mỉm cười cho ông hiểu là vẫn còn và ông thở dài nhẹ nhõm. Ông đưa điếu thuốc Nhật mời tôi hút như thể tôi nghiện thuốc lá nặng lắm và để khi giây phút gay go đến, những kẻ đang canh chừng tôi chớ nghi ngờ. Tôi chỉ còn chờ khoảnh khắc ấy tới! Khi tôi nhận điếu thuốc và giơ tay vớ chiếc túi đeo vai để lấy bật lửa, một trong hai nữ nhân viên từng khám người tôi yêu cầu tôi đưa túi cho cô ta. Tôi không thể từ chối. Lấy bao thuốc Marlboro ra xong, tôi đưa túi cho cô. Nhưng cô ta lại ra hiệu tôi đưa nốt bao thuốc lá nữa. Điều này thì không thể được, cho dù họ có nghi ngờ tôi thế nào đi nữa. Tất cả đều ở ống độc dược kia, tôi không thể đưa cho cô ta! Người nữ kiểm tra viên kêu lên một câu gì đó tôi không hiểu và đưa tay về phía tôi. Tôi liếc sang Kim, ông lắc đầu. Trong một thoáng, tôi sững người và người nữ kiểm tra viên kịp giằng bao thuốc khỏi tay tôi. Không còn suy nghĩ gì nữa, tôi nhào tới và giật lại được bao thuốc lá. Đâu còn có thời gian chần chừ được nữa! Trước khi cô ta kịp phản ứng, tôi cắn đầu ống thuốc. Tôi còn kịp thấy cô ta thét lên và lao vào tôi, nhưng tôi không thèm quan tâm. Tôi lao vào bóng tối ngọt ngào và nhẹ nhõm! Trong khoảnh khắc ấy, người con gái trung thành của Kim Nhật Thành, kẻ được nuôi dạy trong nhiều năm trường để trở thành lũ cẩu ngoan ngoãn, không còn nữa! Tất cả đã chấm dứt, tôi không hề cảm thấy chút đau đớn gì. Bóng tối vô biên cuốn lấy tôi như một mảnh chăn êm ái…
Khi lật đến bản nhạc “Tình khúc thứ nhất”, Trang bỗng đột ngột nhớ đến Quyền, cô nữ y tá ở Tổng Y Viện Cộng Hòa. Dáng cô bé nhỏ nhắn như quá lỏng lẻo đàng sau cái “blouse” rộng thùng thình. Trang gọi đùa cô bé là con mèo. Cô bé cười, mắt nhấp nháy nửa muốn cười nửa trông thật buồn. Những ngày cuối cùng ở Tổng Y Viện, Trang nhờ Quyền mua giùm bản nhạc và Quyền đã mua bản “Tình Khúc Thứ Nhất”. Trang đọc không rõ chữ phải nhờ Quyền đọc giùm. Quyền đọc nhưng không hát. Băng trên mặt được gỡ ra, trong ánh sáng mù mờ của căn phòng, Trang loáng thoáng nhận ra dáng Quyền đi lui đi tới lẫn lộn với những cải “blouse” trắng khoác ngoài hành lang.
Bây giờ chắc Quyền cũng vẫn vậy và quên Trang rồi như quên những người khác đến nằm ở đó rồi đi. Ngày dời Tổng Y Viện, Trang không thấy rõ là khuôn mặt Quyền buồn hay vui. Ừ mà buồn hay vui ta cũng hết làm được gì. Trang nhướng người vói lấy cây guitare trên vách, ngồi xếp bàn, đàn phành phạch. Từ hôm bà má làm rơi xuống nhà, cây đàn nứt một đường, nên đổi tiếng. Thể mà cây đàn của Lộc ở Sài-gòn bể một lỗ lại có tiếng kêu hay hơn. Trang cười một mình, cao giọng hát “tình yêu theo gió mây trôi…” Tiếng phành phạch rời rạc không đuổi kịp tiếng hát. Buổi sáng thật yên tĩnh. Tiếng máy nước chảy ở đằng đập nước vang ầm ì, ầm ì. Sáng nào, Trang cũng ra bờ sông đàng sau nhà rửa mặt, nhìn lên phía đập không thấy rõ gì hết, nhưng Trang cảm thấy lòng thật nhẹ nhàng và bình thản. Những đám cỏ bên kia sông dã mọc lại xanh rờn, lẫn trong những cuộn thép gai. Sông không rộng, nhưng Trang không biết chắc là những tấm bảng vẽ hình đầu lâu với hai khúc xương tréo nhau còn không. Chắc là còn, nhưng chúng lẫn trong đám cỏ, vì cái trụ sở xã bên kia sông bây giờ được đề phòng cẩn thận. Hồi Tết, toán quân trên núi về đã bơi qua sông để tấn công, những người chưa qua được thì ở bên này bắn rát để yểm trợ. Hồi mới trở về, Trang còn thấy những vết cháy đen ở hai bên bờ sông. Nhà Trang sập mất nửa phía sau. Từ đỏ đến giờ, vùng Trang ở thật yên. Trang thấy thảnh thơi như mình chưa hề có một thời gian dài cầm súng đi hành quân.
Ngoài đường, có tiếng lao xao của những người đi chợ sáng về. Trang nhìn bóng nắng chiếu qua thềm nhà, nghĩ thầm chắc cũng còn sớm. Giờ này Hiền chưa bãi học. Trang loay hoay những ngón tay bấm “gam” rê, rồi đàn xành xạch. Tiếng những nốt nhạc kêu khô khan dưới ngón tay bấm vụng về. Nhiều lúc, Trang ấm ức tức tại sao hồi trước Trang không học đàn. Bây giờ, muộn quá, lỡ ngày nào gần dây không thấy rõ “nốt” thì thật chán. Cái ngày đó… cái ngày đó… Trang phải làm gì đây. Nếu có vợ thi nó có còn thương hay buồn tình bỏ đi. Trang phải nhờ ai đi lãnh lương. Bà má lẩn thẩn của Trang làm sao vào tận Sài Gòn lãnh thế. Phải chi chính phủ thương hàng tháng nhờ ai đó mang lại. Nghĩ như vậy, Trang thấy xốn xang như có kim chích chích trong ruột. Đúng là Trang thừa thãi và vô dụng quá rồi. Phải chi Trang cứ nằm lì dưới hố bom đó.
Có bóng người đi vào. Trang nghiêng mặt nhìn, thấy bà má đi chợ về. Trang hỏi:
– Sáng này mạ mua đồ ăn chi vậy?
– Thịt cá nhiều lắm, trưa nay tụi bây ăn đã đời. Mà thằng Du chắc có đến không?
– Đến, thế nào nó cũng đến. Ở nhà không biết làm gì nó cũng buồn chớ, mạ!
Bà má đi xuống nhà bếp. Chiếc áo đà bà mặc bốn năm năm rồi trông cũ hẳn. Bà chỉ còn một mình Trang. Chị Trang lấy chồng ở tận trong Nam. Hồi bị thương nằm ở Tổng Y Viện, Trang gắng gượng viết thư về nói với bà Trang vẫn bình an. Lúc mới ở nhà thương ra, trở về, Trang nói là Trang thành thương phế binh, bà có vẻ sửng sốt, nhìn khắp thân thể Trang rồi cười thật lớn: “Bậy nà, bậy nà, con làm mạ hết hồn.” Trang không biết nói sao, đợi qua suốt một đêm không ngủ, sáng hôm sau, Trang mới can đảm nói thật. Bà run run rờ mó lên đôi mắt Trang rồi la lên “trời ơi, trời ơi.” Bả khóc ngất, miệng cứ lảm nhảm “trời ơi, trời ơi”. Trang đau ruột bỏ di ra bờ sông và thấy hoang mang vô kể.
Trang đứng dậy, ôm đàn ra phía cửa. Mấy đứa nhỏ trong xóm Trang tần ngần nhìn Trang đàn. Trang khoát tay:
– Vào đây chơi tụi bây.
Có tiếng thằng bé cười khúc khích rồi nói:
– Vô đi bây, vô trong coi nhạc sĩ mù đàn.
Nghe nói, Trang nhăn mặt hỏi thằng bé:
– Ai nói với mầy vậy hả?
Thằng bé bỏ chạy ra ngoài, vừa nói lớn:
– Con Vân nói đó, con Vân nói đó.
Trang nhìn mấy đứa nhỏ, thấy con Vân đứng núp đàng sau mấy đứa khác. Trang gọi:
– Vân, lại anh hỏi đi.
Con Vân không chịu vào. Trang nói:
– Vân, có phải em nói không?
– Không, tui không nói. Thằng Khúc bịa ra rồi đổ hô cho tui đó.
Trang cười cười:
– Anh không nói gì đâu. Cứ vô đây chơi. Chị Hiền đã về chưa Vân?
Vân đáp:
– Chưa, trưa chị mới về.
Mấy đứa nhỏ đứng ngần ngừ giây lát rời kéo nhau bỏ đi. Tự dưng Trang mỉm cười. Thể nào ta cũng nhạc sĩ mù rồi. Nhưng nếu ta cứ đàn dở mãi như thế này thì làm sao mà kêu là nhạc sĩ. Liệu Hiền có thương mãi một nhạc sĩ mù không. Trang nhớ ra chưa bao giờ Trang can đảm nói với Hiền về tương lai của con mắt còn lại. Trang cứ sợ Hiền buồn, Hiền chán. Hiền còn nhỏ quá, mới mười tám tuổi. Trang vẫn nghĩ thế, nhưng không biết đàng sau cái khuôn mặt trông ngây thơ đó, Hiền đã thực sự cỏ một cái gì người lớn chưa. Nếu Hiền người lớn rồi, biết đắn đo suy nghĩ, biết chọn lựa, hẳn Hiền sẽ không muốn quen Trang nữa cũng nên. Trang cứ ngay ngáy lo một sự tuyệt vọng ở ngày mai, một sự tuyệt vọng Trang đã hình dung ra sẵn rồi, nhưng chắc không khỏi làm Trang bỡ ngỡ và đau đớn. Những lúc đầu, khi chợt có ý nghĩ không mấy sáng sủa đó, Trang hoảng hốt tột độ.Trang thấy hết hẳn rồi. Cuộc đời như đứt đoạn. Trang thấy thấm thía cái khuôn mặt tê tái của Phước vâ câu nói “xe phi-nỉ, xe phi-nỉ” (1) khi Trang gặp hắn chống nạng đi lãnh lương. Nhưng dần dà, Trang bình tĩnh lại. Dù sao, Trang cũng thầy minh cần nuôi hy vọng ở một cái gì đó, không rõ rệt. Trang yên tâm, mơ có ngày Trang sẽ đàn thật hay và hát thật hay. Ít ra, nếu được như vậy, thì Trang cũng có điều hãnh diện với Hiền – mà biết đâu, Hiền lại chẳng thế mà hãnh diện với bạn bè.
Mơ ước của Trang thật giản dị, giản dị như đám rau khoai héo úa buổi chiều, chỉcần một đêm mát trời là sáng hôm sau ngó tươi rói, những cọng lá non đưa ngu ngơ ngu ngơ khi gió thổi qua. Có lúc Trang bỗng thấy mình yêu đời chi lạ, đến nỗi khi nghĩ đến sự thiếu hụt vô lý trên cơ thể mình, Trang cũng không có một chút xốn xang.
*
Trang cất đàn, bỏ đi ra ngoài sân. Ánh nắng chói lòa. Sự im lặng như bao trùm cả một vùng. Cái lay động bất chợt của cành lá như thể cũng để tôn kính sự im lặng đó. Nhiều buổi sáng, Trang không làm gì hết, cứ ôm gối, nhắm mắt nằm nghe cái im lặng như thấm dần mãi trong mọi sự vật. Thỉnh thoảng tiếng con chim sẻ kêu ngoài bờ tre, tiếng máy nước ì ầm, tiếng lá bàng rơi thoảng đâu đó trên mái nhà cũng hòa lẫn trong im lặng. Trang hơi rùng mình khi nhớ đền cái im lặng nặng nề, kỳ bí, bất trắc của những đêm dừng quân, cái im lặng làm người ta thấp thỏm, sợ sệt. Đôi lúc, Trang có cảm tưởng những ngày tháng như thế sao nó mơ hồ, xa xăm quá sức. Thêm vào đó là một vẻ gì vô lí. Trang thực không còn nhở rõ tại sao hồi đó, bên cạnh những cái chán chường, mệt nhọc, Trang lại cũng có những cái hứng thú, say sưa kỳ dị. Ừ, tại sao? Tại những tiếng nổ liên hồi, dồn dập hay tại những tiếng thét, tiếng hò hét lanh lảnh? Hay tại cái ấm ức tức tối khi thấy thằng bạn đồng đội vừa chạy đó, bỗng ngã lăn ra bất động. Hay thực sự là Trang có căm thù những khuôn mặt đó. Trang không nhớ rõ gì hềt.
Trang nhìn ra đường, thấy có bóng người đi vào cửa ngõ. Tiếng lịch kịch của cái nạng gỗ làm Trang nhận ra Du. Trang bước tới vỗ vai Du:
– Bữa nay trông cậu xài cái này rành quá há!
Du cười:
– Đâu có, nhiều bữa đi nhiều về tê cánh tay thấy mẹ. Sáng nay cậu không đi đâu chơi sao?
– Ở nhà tập đàn mà.
Trang dìu Du vào nhà. Trán Du lấm tấm mồ hôi. Trông Du già hẳn đi. Du vịn vào bàn, một tay để cặp nạng gỗ dựng cạnh vách tường rồi ngồi xuống ngựa. Ống quần chân trái đu đưa, đu đưa. Sư mất mát như thế quả lộ liễu. Lúc nào, Du cũng nhìn thấy sự mất mát của minh. Lúc nào, ngườí ta cũng nhìn rõ sự mất mát của Du. Trang có cảm tưởng Du tội nghiệp hơn mình. Những sợi râu trên cằm Du đã đen, lởm chởm. Nỗi bức rức, xót xa thường trực đã làm mọc râu và da mặt như cứng hẳn đi. Du đưa hai tay vuốt mặt ngáp, rồi nằm ngửa xuống. Cái ống quần chân trái lại đu đưa. Du đưa chân còn lại kéo lên. Trang im lặng nhìn Du một chốc, rồi nói:
– Trưa này, bà má làm đồ ăn thịnh soạn lắm cậu. Có “xà-lách xon” với thịt bò, cậu thích không?
Du cười nhẹ, giọng dã dượi:
– Mình thì ăn gì cũng được. Mình không kén ăn như cậu đâu. Còn nhớ hồi trước ở trong Nam mãi, thấy thèm rau khoai luộc, với nước ruốc chi lạ. Về đây, cứ bắt bà má làm món đó hoài.
Trang bỏ đi ra ngoài sân, giặt khăn lau mặt. Trang mang khăn ướt vào cho Du nói lau cho mát mặt và đỡ cay mắt. Du lấy khăn đắp hẳn lên mặt. Trang nhìn ống quần trái của Du dồn lại một chỗ rồi quay đi lấy cặp nạng gỗ của Du đi thử. Mới cặp vào nách bước hai ba bước, Trang đã nhăn mặt. Trang cười hỏi:
– Hồi mới tập đi, chắc cậu đau lắm h?
– Đau thấy mẹ, đôi lúc muốn nằm một chỗ cho khỏe. Nhưng thấy chán lại thích đi, đau cũng ráng mà đi. Bây giờ thì đỡ rồi.
Giọng má Trang từ dưới bếp: “Du đến đó hả, đói bụng chưa. Bác bưng cơm lên. Cơm chín rồi”. Trang nói lớn: “Đói rồi mạ .” Một lát, má Trang mang mâm cơm để lên ngựa, nói:
– Ngồi ăn đây cho tiện. Du, dậy ăn Du.
Du chống tay ngồi dậy, cười:
– Bác chu đáo quá. Bác ngồi ăn luôn cho vui.
– Không bác còn mệt, chưa ăn được. Thiệt tình nghe cháu.
– Tuần sau tụi mình lại phải Sài Gòn đổi phép rồi hả? Lương thì bữa nay chắc có rồi.
– Mệt thấy mẹ, què quặt thế này mà tháng nào cũng phải đi lãnh lương. Lương lãnh xong về đến nhà đã gần hết. Tức cái mình ghê đi. Khập khiễng leo lên máy bay, rồi lại khập khiễng leo xuống cho được máy bay là hết muốn lương với lương. Hôm trước mình đọc trong mục khiếu nại của tờ báo gì đó, thấy tụi nó viết thư mong được nhận giấy phép và lương ở địa phương, không thì cực khổ quá chừng. Chẳng biết ra sao?
Cậu còn đỡ hơn mình.
– Đỡ gì. Chập choạng chập choạng, chỗ nào tối tối là chẳng thấy cái gì hết. Con mắt kia mất, con còn lại yếu hẳn. Có lần lên máy bay, quờ quạng mãi, chút nữa là mấy thằng Mỹ đẩy mình xuống rồi.
Ăn cơm xong, Du và Trang nằm ngửa xuống ngựa. Nhắm mắt chập chờn, Trang cảm thấy nóng, mồ hôi chảy rịn trên cơ thể. Trang ngồi dậy, dụi mắt, lại thấy cái ống quần trái bơ vơ của Du. Trang chợt nhớ tới anh chàng Biệt động quân đẹp trai thường gặp ở chỗ lãnh lương. Anh chàng cụt cả hai chân đến tận đầu gối, mặt mày sáng sủa trắng trẻo, luôn luôn phải di chuyển trên một chiếc xe đặc biệt. Mỗi lần gặp anh chàng về, Trang lại thấy xốn xang, bứt rứt. Trang thấy mình có hạnh phúc hơn, dù là thứ hạnh phúc mờ mịt. Trang cởi áo, nằm xuống lại, nhớ đến những buổi trưa nóng bức và đầy tiếng động trên căn gác của Lộc ở Sài Gòn.
*
Trang mang kiếng vào mắt rồi ra đi. Ba bốn giờ chiều mà nắng vẫn còn chói lòa. Tiếng ve kêu vào những chiều cuối hè nghe đã rời rạc, ít ỏi. Chúng sắp dần dà biến mất trên các cây nhãn, cây cau, bờ tre. Những chiếc vỏ khô bấu chặt vào thân cây cũng sẽ không còn. Trang nghĩ thấy cũng hay hay, suốt mùa hè, chúng đua nhau hợp tấu vang trời làm khuây khỏa những giấc ngủ trưa, làm vui vẻ đám trẻ con, rồi hết mùa, chúng bặt tiếng và cũng không ai tìm thấy vết tích chúng ở đâu. Trang đi dọc con đường dưới bóng hàng tre. Đường làng thưa thớt bóng người. Cây cỏ như dã dượi dưới ánh nắng. Khung cảnh trông thanh bình nơi một làng quê ở thời buổi này vẫn có một vẻ gì bất ngờ đôi khi làm người ta bỡ ngỡ. Trang băng qua đường để vào nhà Hiền. Giờ này chắc Hiền mắc võng ở mấy cây cau sau vườn nằm đọc Tiền-phong hay Phụ-nữ gì đó. Hiền có chút nôn nao nào để chờ đợi Trang đến hay không? Hay cô bé đang lim dim mắt mơ những giấc mơ thật xa.
Trang gặp con Vân ở cửa, hỏi chị Hiền ngủ rồi hả? Con Vân cười chúm chím không trả lời. Trang đi vào nhà thấy Hiền đang xỏa tóc gội đầu ở bể nước sau nhà. Trang đến gần, gọi nhỏ:
– Cô bé.
Hiền ngẩng mặt lên thấy Trang, cười không nói gì. Trang hỏi:
– Đi đâu hết mà ở nhà một mình vậy,cô bé?
Hiền lấy tay rũ rũ tóc cho bớt nước. Giọng Hiền có vẻ bất bình:
– Cái anh này, khi nào cũng cô bé, cô bé. Người ta lớn thế này mà bé gì!
Trang cười nhắc lại câu hỏi. Hiền nói:
– Chú em lên tỉnh, mạ em về Sãi ăn kỵ. Chị Mai có lẽ ngủ đâu trên nhà.
Trang đến bàn học của Hiền, lấy mấy cuốn vở của Hiền ra xem. Một lát, Hiền đến kéo ghế ngồi đối diện với Trang. Hiền lấy mấy cuốn vở xếp lại, Trang giữ không chịu. Hiền giẫy nẩy:
– Không biết đó, vở người ta học có gì mà xem.
– Trời ơi, xem của Hiền chút không được sao. Ai chê ai khen gì đâu.
Nói thế nhưng Trang cũng không giằng lấy vở nữa để cho Hiền xếp. Trang vẫn mang kiếng ngồi nhìn chăm Hiền. Những sợi tóc còn ướt nước. Mấy nốt ruồi nhỏ gần dưới cằm. Khuôn mặt Hiền không buồn không vui, làm sao Trang có thể biết được những ý nghĩ trung thực của Hiền về Trang như thế nào. Những ý nghĩ đó có khác xa những ý nghĩ hồi trước ngày Trang thành thương phế binh không. Trang băn khoăn mãi mà không bao giờ hỏi thẳng Hiền được. Mà hỏi thẳng chắc Hiền cũng không nói. Cô bé bao giờ cũng ít ăn ít nói. Từ trước cũng vậy, tuy thương Trang nhưng không bao giờ Hiền bày tỏ rõ rệt những sự săn đón, vồn vã nên bây giờ Trang không đo lường được mức độ tình cảm của Hiền. Năm trước, dạo Trang về nghỉ phép, có một bữa, Trang cầm tay Hiền hỏi “Có thương anh không?”, Hiền cứ ậm ừ mãi không trả lời. Khi Trang ở xa thỉnh thoảng có gửi thư, Hiền cũng chẳng viết được một vài giòng thương yêu nào cả.
Trang rủ Hiền:
– Đi ra đàng sau hồ chơi đi Hiền.
– Tóc tai thế này mà đi đâu!
– Ra có gió hong tóc khô chứ gì. Cô bé lại khó tính rồi.
Hiền cười chúm chím. Trang đứng dậy đi trước. Hiền ngần ngừ một lát rồi cũng đứng dậy đi. Cả hai theo lối mòn trong vườn Hiền, xuyên qua đám tranh đã mọc cao, đến bờ hồ có những tảng đá lớn, phẳng phiu. Hồ không rộng lắm, nước đục. Những lá sen nổi trên mặt nước trông đã tàn. Hai người ngồi ở hai tảng đá cạnh nhau, dưới bóng những cây nhãn cành lá rậm rì. Gió thổi lất phất, những sợi tóc Hiền bay bay. Trang cảm thấy nôn nao, bồi hồi. Kỷ niệm thơ ấu như những làn sóng gợn trên mặt hồ, êm đềm, nhưng xa xăm. Trang thấy chúng như mất cả liên hệ với hoàn cảnh hiện tại của Trang. Mơ ước của Trang bây giờ không xa hơn khoảng cách giữa Trang và Hiền. Trang đột ngột thấy ân hận và tiếc nuối. Hiền ở đó thật gần, thật ngây thơ. Còn Trang, những ao ước tầm thường cũng thành hình khó khăn giữa những mặc cảm. Trang đòi hỏi ở Hiền những gì, nếu không chỉ là sự chờ đợi, chờ đợi đầy khắc khoải trong giâc mơ, trong ý nghĩ. Sự vồ vập, tha thiết của Trang sẽ có ích gì, nếu Hiền bỗng chân thực bày tỏ sự nghi ngờ về tương lai đối với Trang?
Hiền im lặng, ngồi vuốt ve những sợi tóc. Khi nào thì Trang được phép hôn lên đó. Biết đâu có thể lại chẳng bao giờ. Trang nói:
– Nè, Hiền, thứ ba anh lại đi Sài Gòn đó. Hiền thích mua gì ở Sài Gòn không?
– Em biết gì trong đó mà thích.
– Ờ để vào trong đó, thấy có gì anh mua về cho Hiền. Nhưng Hiền phải nhận, chứ không được từ chối nghe.
Hiền không nói gì. Trang nói:
– Hiền ơi, sao lúc nào Hiền cũng khó tính vậy. Nhiều lúc Hiền làm anh buồn quá. Hiền nghĩ bây giờ anh còn chi ngoài những kỷ niệm và tình thương giữa Hiền và anh. Anh cứ băn khoắn mãi không biết Hiền bây giờ nghĩ sao về anh…
Trang định nói thật nhiều, nhưng bỗng dưng Trang ngừng lại nhìn Hiền. Hiền vẫn im lặng nhìn xa xa, đôi môi có vẻ như muốn cười. Trang sốt ruột, muốn cầm tay Hiền rồi nói thật những bứt rứt của mình, bó buộc Hiền phải nói. Nhưng Trang chỉ hỏi:
– Sao Hiền, Hiền nói với anh đi.
Hiền cúi mặt, trả lời ngập ngừng:
– Em…em chẳng biết nói gì cả.
Cả hai lại im lặng. Một lát, bỗng Hiền cười nhìn Trang:
– Này, anh Trang, sao anh cứ mang kính hoài chi vậy?
– Anh mang quen rồi.
– Gỡ ra đi anh, em ghét ai ngồi nói chuyện mà mang kính, khó chịu lắm. Bộ anh sợ em thấy con mắt của anh sao.
Trang nhắc lại, giọng lửng lơ:
– Sợ thấy con mắt của anh…
Trang không gỡ kính. Thói quen của Trang khởi đầu từ mặc cảm. Ra đường, Trang không muốn người ta thấy rõ sự thiếu hụt của mình. Trang sợ cứ mỗi lần ai nhìn lên mặt Trang thấy con mắt giả, lại hỏi han, bàn tán mà trong ý nghĩ có lẽ không khỏi có cảm giác thương hại.
Hiền lại nói:
– Anh không thích gỡ kính ra à?
Trang nhìn chăm Hiền và tự dưng thấy khó chịu. Trang gỡ kính ra, nói:
– Hiền ác lắm!
– Em tên Hiền sao mà lại ác được.
Trang cảm thấy xót xa. Trang nhìn Hiền, ấm ức không biết đàng sau khuôn mặt dó, Hiền nghĩ những gì về mình. Phải chăng Hiền sợ ta buồn nên cứ ấm a ấm ớ. Trang bỗng như thấy Hiền ở quá xa tầm tay, ở quá xa mơ ước của mình. Thế mà lâu nay Hiền vẫn im lặng. Trang bỗng nói như van lơn:
– Hiền ơi, Hiền biết anh khổ lắm không. Đêm nào nằm cũng mơ thấy Hiền. Anh thương Hiền lắm, anh biết Hiền không thương anh, Hiền sợ cái tương lai đen tối của anh, phải không?
Hiền nhìn lên mặt Trang rồi vội vã cúi xuống. Trang rùng mình. Trang lượm những hòn sạn ném xuống mặt hồ. Những gợn sóng vòng tròn lớn dần rồi tan mất. Thứ hạnh phúc mà những lúc tâm hồn thanh thản Trang nghĩ đến, quả càng lúc càng mờ mịt. Như con ngõ cụt. Đường đi phía trước không có, mọi cố gắng len lỏi đều dừng lại ở thất bại. Còn trở lui phía sau thì muôn đời không thể được. Trang nghĩ tới nơi lãnh lương của Trang vào những ngày cuối tháng. Từng người, từng nhóm người đứng đầy sân chờ đợi đổi giấy phép và lãnh lương. Những chiếc xe ba bánh vận động di chuyển bằng tay, những cái nạng gỗ, những ống quần, ống tay thừa thãi đu đưa, những vết thẹo dài nằm vắt ngang mặt, những khuôn mặt dị dạng, hốc hác, sứt mẻ…Ở giữa đám người đó, Trang thấy mình quá đầy đủ, quá hạnh phúc. Trang còn đủ tay, đủ chân, còn đủ cả khuôn mặt, còn có thể lấp liếm sự thiếu hụt bằng cái kính râm. Ra đường, trước mặt mọi người, Trang không có gì khác họ, thua họ. Giữa đám người đó, Trang không thấy mình cần phải than van. Nỗi cực nhọc, tủi hờn của Trang làm sao bằng cái anh chàng Biệt động quân đẹp trai cụt cả hai chân, làm sao bằng người đàn ông bị mất hẳn gần nửa cái mặt. Bây giờ, trước Hiền, Trang lại thấy mình không có gì hơn những người đó. Ý nghĩ chợt đến làm Trang thảng thốt.
Trang nhìn Hiền, nói:
– Hiền, Hiền nhìn thẳng vào mặt anh đi.
Hiền nhìn Trang, khuôn mặt nửa như bình thản nửa như đăm chiêu. Trang bỗng thấy Hiền không ngây thơ chút nào. Trang hỏi Hiền, giọng thật buồn:
– Sao, Hiền có thấy sợ con mắt giả của anh không?
Hiền đột ngột cúi xuống rồi quay đi chỗ khác. Trang nhắc lại câu hỏi. Hiền đáp thật nhỏ:
– Không, có gì đâu mà sợ. Em đã từng thấy rồi chớ.
Một lát, Hiền lại nói:
– Anh Trang, tại sao anh không coi em như một người em gái?
Trang thấy xúc động. Khi Hiền quay mặt lại, Trang thấy má Hiền ươn ướt. Trang nghe trong lòng bàng hoàng. Trang lượm hòn đá ném xuống mặt hồ. Những vòng tròn lớn dần, tan loãng.
Hiền bỗng đứng dậy rồi nói “thôi em về trước.” Trang đeo kính vào, im lặng. Trang định nói thêm nhiều điều với Hiền, nhưng lại thôi. Hiền ngần ngừ giây lát rồi vội vã đi. Trang vẫn ngồi lại ở tàng đá một mình, xót xa và băn khoặn.
*
Ăn cơm tối xong, Trang ôm đàn ra ngồi trước hiên, mò mẫm bấm “gam” rê, đàn xành xạch. Bóng tối đã tràn đầy. Trang không nhìn rõ gì được hết. Tiếng dế đâu đó đã vang lên rả rích. Thứ ba lại đi Sài Gòn đổi giấp phép và lãnh lương. Mua một cái gì tặng Hiền, “người em gái” đây.Trang không hết băn khoăn về thái độ của Hiền lúc chiều. Hiền đã bộc lộ dứt khoát thái độ tình cảm của Hiền khi muốn Trang xem như em gái? Càng băn khoăn, Trang lại càng bứt rứt, xót xa. Mơ ước được cưới Hiền chừng như quá khó khăn.
Trang ngừng đàn, nhìn vào trong bóng tối. Giá như bây giờ có Hiền đứng một bên, Trang cũng không nhận ra. Trang có cảm giác như con mắt còn lại của mình càng ngày càng yếu đi. Nhất định là có ngày Trang không thể thấy rõ được gì hết. Một viễn ảnh như vậy làm sao Trang đòi hỏi một tình yêu ở Hiền. Sự thiếu hụt của Trang có che giấu được gì hơn cái ống chân cụt ngủn của Du. Phải chi, Trang cứ nằm lì dưới hố bom đó. Phải chi Trang đừng ham hố nhoài người lên đuổi theo tên địch thù đang lẩn tránh đó. Khi tỉnh dậy trên phòng cấp cứu, Trang nghe con mắt bên trái mình đau nhức dữ dội. Tuần sau, vị bác sĩ nói là Trang phải hy sinh hẳn con mắt bị thương để bảo toàn con mắt còn lại. Trang xúc động đến khờ người. Trang lắc đầu, nhưng cuối cùng vì quá nhức nhối, Trang phải quyết định. Nằm trên giường giải phẫu, Trang nghe tiếng dao, kéo xào xạo. Mổ xong, viên y tá đỡ Trang ngồi dậy, Trang thấy hết nhức nhối. Nhưng chợt nhìn thấy con mắt đỏ hỏn, đầy máu của mình nằm trong giỏ rác, trang kinh hoàng, xót xa đến cực độ. Trang ngất đi.
Trang đứng dậy đi cất đàn. Trang lại ngồi ở bàn, vặn sáng ngọn đèn dầu, lấy tấm kính lớn, nhìn lại khuôn mặt mình. Con mắt giả làm bằng thủy tinh lồ lộ, rõ ràng. Nó lớn hơn con mắt còn lại. Nó bệch bạc, vô lý, nhạt nhẽo. Trang nuốt nước miếng, cuống họng chợt khô đắng. Trang đưa ngón tay rờ rẫm lên con mắt thủy tinh, nhích nhích rồi gỡ ra. Trang run rẩy nhìn khuôn mặt của mình mờ mờ trong tấm kính. Một lổ hổng đầy gân máu, đỏ lòm. Trang hoảng hốt. Chưa bao giờ Trang thấy khuôn mặt mình quái đản như vậy. Đột nhiên, Trang có cảm tưởng nó không phải của mình, nó xa lạ, kỳ dị. Trang hấp tấp gắn mảnh thủy tinh vào lổ hổng con mắt, rồi đi nằm. Suốt đêm, Trang bị ám ảnh bởi khuôn mặt của mình, không ngủ được.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.