Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 22 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 2

Tôi mở choàng mắt khi có tiếng nói: Gia Lâm. Trước mặt một dẫy phố cũ kỹ như hồi nhỏ tôi đã nhìn thấy nó. Sau mấy chục năm “Độc Lập – Tự Do” vẫn không có gì thay đổi. Những căn nhà thấp, khấp khểnh chạy dài hai bên lề phố đưa dần lên cao để vào cầu Long Biên. Một vài cô gái cưỡi xe đạp, chiếc nón lá úp chụp che gần kín khuôn mặt, không nhìn rõ đẹp hay xấu, chỉ nhìn thấy dòng tóc cắt ngắn đen dầy hoặc tết đuôi sam lắc lư theo vòng chân đạp. Vài chiếc xe hơi kiểu mới, bên trong toàn ngoại kiều, chắc thuộc các cơ quan ngoại giao.

Con đường Gia Lâm ngắn nên đoàn xe chạy trong ít phút đã qua. Tôi đinh ninh xe sẽ qua cầu Long Biên để vào Hà-nội. Nhưng không! Khi đến đầu dốc, đoàn xe quẹo trái đi theo con đê sông Hồng, mùa này nước còn cạn, trơ những dải cát vàng chạy dài phía bên kia đê. Mặt đê khá rộng đủ cho hai xe vận tải tránh nhau. Chiếc Jeep lúc này chạy bon bon phía trước. Hai chiếc vận tải chạy sau giữ đúng cự ly, khoảng cách an toàn. Xe chạy qua đền Ghềnh, một ngôi đền cổ. Khi xưa học trường Mỹ Thuật đã nhiều lần tôi vẽ vì ngôi đền có lối kiến trúc khá đẹp và cầu kỳ. Tôi không hiểu vì sao họ lại đưa chúng tôi đi theo con đê xuôi xuống phía dưới. Có lẽ, nơi đây mới thiết lập trại tù mới? Nếu được giam giữ ở vùng này thì quá tốt vì xung quanh toàn đồng ruộng, nước lành, ít sợ ốm đau. Bụng tôi vẫn đau quặn từng chặp. Tôi vẫn cởi truồng một nửa, để sẵn sàng “đáp ứng theo nhu cầu”.

Đoàn xe đang ngon trớn bỗng dừng lại. Tôi nghe có tiếng cãi lộn phía trước.

– Các anh tưởng Công An muốn làm gì cũng được sao? Xe các anh lấn đường không cho xe khác chạy là thế nào? Các anh – Công An, chúng tôi – công nhân viên của Nhà Nước, hơn gì nhau?

Tiếng cãi qua lại một lúc, rồi đoàn xe từ từ lăn bánh. Khi đi ngang qua chiếc xe chở đầy cỏ, tôi nhìn thấy một anh mặc bộ đồ xanh công nhân, khuy áo ngực mở toang để lộ một mảng thịt nở nang, sắc mặt đỏ bừng vì giận. Tôi nghe rõ tiếng chửi theo:

– Địt mẹ tụi Công An, chuyên ăn hiếp người!

Anh ta vừa chửi vừa chống tay vào hông như thách thức! Nhưng đoàn xe vẫn đi, tên Công An vũ trang ngồi sát chúng tôi, chắc nghe rõ và nhìn thấy dáng điệu của anh kia, nhưng nó làm như không nghe, không thấy. Chắc chiếc gậy sắt do tên bộ đội nào đó đánh trúng, chưa hết đau!

Bên kia đê, thành phố Hà-nội! Những mái nhà thấp thoáng cao, thấp thỉnh thoảng lại hiện ra rồi biến mất. Đoàn xe cứ chạy vòng vèo theo con đê. Những xóm làng dưới chân đê, nằm im lìm sau lũy tre xanh mướt. Vài con trâu đứng, nằm đây đó, chiếc mồm đung đưa nhai lại. Xe chạy vào khoảng 10 cây số, tính từ đầu phố Gia Lâm, bỗng bỏ con đê đi xuống bãi mía rộng mênh mông, men theo con đường nhỏ vừa đủ chỗ cho một chiếc xe di chuyển. Chạy chừng 2 cây số nữa, đoàn xe dừng lại. Mấy đứa trẻ từ trong chiếc quán nhỏ chạy ra bán nước vối đựng trong chiếc ấm sắt, tay cầm vài cái bát. Tôi nhìn vào chiếc quán nghèo nàn, có bày vài nải chuối, vài lọ kẹo, bánh bình dân và mấy cái bát dùng uống trà tươi. Mấy tên Công An vào quán uống nước, ăn chuối. Những người đàn bà nhà quê gồng gánh tất tưởi đi vội vàng, nhịp đòn gánh nhún nhẩy theo từng bước chân. Tôi nhìn, thầm nghĩ, không hiểu sao họ gánh nhẹ nhàng, mình gánh lại quá vất vả? Một anh bạn ngồi sát ca-bin ghé mắt nhìn ra ngoài nói:

– Sắp qua phà!

Nghe vậy, tôi nghĩ ngay đến bến phà chiến lược qua sông Hồng trong thời gian Mỹ ném bom Hà-nội. Họ không muốn đưa chúng tôi đi qua Hà-nội, sợ gợi sự tò mò của nhân dân thành phố hay vì lý do nào đó, nên dùng lối này tuy xa, nhưng tránh được những gì Cộng Sản không muốn.

Xe nổ máy, xuống phà. Những vòng bánh lăn từ từ xuống mé sông. Sau khi 3 chiếc xe nằm yên trong lòng chiếc phà khá rộng, dân chúng mới được xuống. Nào xe đạp, nào gánh gồng, nào người ào ào tràn vào lòng phà, chật ních. Có một bà tóc hoa râm đứng cạnh chiếc xe. Bà nhìn vô, thấy chúng tôi bị còng, không hiểu sao, mắt bà rưng rưng ngấn lệ. Sợ tên Công An vũ trang nhìn thấy, bà quay mặt đi. Tôi cảm thấy đôi vai nhỏ rung rung như không nén được cảm xúc. Tôi chắc bà có con cháu hoặc họ hàng thân thuộc cũng “được cải tạo” ở một trại nào đó, ở trong Nam, ngoài Bắc?

Chiếc phà nổ máy, tách bến. Mấy người phu phà cầm những chiếc sào dài, chống xuống nước đẩy phà ra khỏi chỗ cạn để giúp thêm cho sức máy. Mầu nước phù sa đục ngầu, chảy lững lờ cuốn theo nó nhiều rác rến và những khúc gỗ mục. Chiếc phà chạy chừng15 phút đã tới bến. Mọi người xô nhau lên trước. Tiếng máy xe nổi bùm bụp rồi rú to khi rời khỏi lòng phà, leo lên con dốc thoai thoải. Đoàn xe chạy ngược lên, theo con đê. Tôi chẳng hiểu ra sao, đành chờ xem nó đưa đến đâu?

Phong cảnh sông Hồng buổi chiều nay, tôi nhìn vẫn vậy. Khúc sông bên lở, bên bồi, chỗ rộng, chỗ hẹp uốn lượn nhịp nhàng tạo nên sư hài hòa thoải mái. Vài con thuyền nhỏ trôi lững lờ, xuôi ngược. Cây cầu Long Biên nổi bật từng nhịp giữa buổi hoàng hôn, sắc mây hòa hoàng im sững kéo dài trên nền trời như bức cổ họa.

Xe chạy qua cửa ô Đống Mác, tức đã tới cửa ngõ phía Đông Nam Hà-nội, rồi qua nhà Bác Cổ, xong quẹo ngang, xuyên thành phố. Tôi đang ở giữa phố phường Hà-nội. Lần thứ nhất, tôi được nhìn Hà-nội đang đắm chìm trong giấc ngủ, trên toa chở trâu bò, qua ô cửa nhỏ. Lần này tôi gặp Hà-nội trong lòng xe chật hẹp, tay bị còng, đi ỉa chảy suốt mấy trăm cây số đường dài. Ôi, Hà-nội, những phố phường này đối với tôi quá quen thuộc vì tôi đã sinh ra ở đó, tuy khai sinh ghi quê cha ở Hà Đông. Từng thước đường, từng gốc cây, từng góc phố, chỗ nào, nơi nào đối với tôi cũng in dấu chân kỷ niệm. Hà-nội đối với tôi trong những năm xa cách như một hình ảnh vô cùng thiêng liêng, vô cùng thương mến. Nhưng chiều nay, tôi gặp lại Hà-nội lần thứ hai, sau hơn 20 năm xa cách, nó khốn khổ và vô cùng tủi nhục! Tôi, tên tù chính trị đang bị giải đến một nhà tù nào đó chưa biết! Có thể Hỏa Lò, có thể nơi nào khác! Cho đến phút này, tôi không ân hận gì vì đã có mặt trong hàng ngũ miền Nam, cầm súng chống lại miền Bắc Cộng Sản. Sau 5 năm kháng chiến, tôi đã bỏ hàng ngũ của họ, quay về Thành cũng không ngoài mục đích đó, tôi không thể gánh chịu, ép mình dưới chế độ độc tài Đảng trị! Tôi yêu mến Tự Do, vì có Tự Do con người mới phát triển, miễn đừng lợi dụng như một số người đã dùng nó như một lợi khí đấu tranh cho quyền lợi riêng rẽ, làm nó sụp đổ! Nghĩ đến Tự Do, tôi nhớ lại buổi sinh hoạt chính trị tại Nghĩa Lộ, tên Phó Trại đã nói rất ngay tình:

– Ở đây, dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, chúng tôi, mọi người đều có Tự do, muốn làm gì cũng được, đi đâu cũng được, miễn là phải xin phép!

Nói xong, nó không cười!

Cái “Tự Do phải xin phép” đó, xin lỗi, tôi cương quyết từ chối! Chỗ nào, nơi nào cũng có khẩu hiệu: Vì hạnh phúc của nhân dân, chúng ta tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa! Đã hơn 3 năm chiến thắng rồi đó, chưa thấy tiến lên chút nào và 3 cuộc Cách Mạng đề ra cũng chìm xuồng luôn! Chắc cái chế độ tàn bạo này nó đang tiến dần dần, tiến lảo đảo, rồi ngã luôn xuống hố! Đoàn xe chạy vòng phố nọ qua phố kia. Có lúc, tôi thoáng nhìn thấy chiếc xe điện cũ kỹ vừa chạy vừa gõ chuông leng keng. Hình ảnh chậm tiến này còn tồn tại giữa một Thủ Đô thường tự hào là tiến bộ, quả thực mỉa mai! Bỗng chiếc xe dừng lại ở đầu phố, phía sau cơ quan Công An Trung Ương. Chúng tôi hồi hộp đợi chờ. Chừng 1 tiếng đồng hồ sau, xe lại rồ máy. Nó chạy ra đại lộ Trần Hưng Đạo. Chiếc nhà ga cũ kỹ khi trước, đã được sửa chữa lại bề mặt, trông đồ sộ và hiện đại. Đó là hình ảnh đổi thay đầu tiên, tôi nhìn thấy sau hơn 20 năm cách biệt, còn khu đấu xảo có Viện Bảo Tàng Maurice Long vẫn vậy. Nhưng tất cả hình như đều bé bỏng trước mắt tôi.

mạnh hải flickr

Có lẽ, trong thời gian qua, tôi đã được sống, được nhìn nhiều thành phố quá rộng lớn, nên bây giờ gặp lại Hà-nội thấy nó quá nhỏ so với cả Saigon! Đoàn xe đi về phía ga rồi quẹo trái, chạy theo quốc lộ 1, đường Nam Bộ. Khi xe đi qua khỏi nhà ga một đoạn, tôi nhìn thấy ngôi trường Mỹ Thuật, ngày xưa tôi đã theo học 6 năm. Bây giờ nó ủ rủ, nhỏ xíu trước mắt tôi. Kiến trúc cũ kỹ, dù cho nó có chiều dài cả khu phố, căn buồng học của tôi, mấy chục năm trước có chiếc cửa sổ nhìn ra dẫy chuồng ngựa, những con ngựa giống Mông Cổ của quân đội Nhật Bản trong thời gian, chúng chiếm đóng Hà-nội và cả Việt Nam. Đoàn xe cứ chạy, nhưng hình ảnh ngôi trường cũ và kỷ niệm a vào làm tâm hồn tôi nhức nhối.

Cơn đau bụng đã dịu nhưng chưa hết. Đoàn xe qua ngã tư Khâm Thiên. Tôi cố nhìn xem có vết tích điêu tàn nào do bom Mỹ để lại, nhưng không thấy. Xe chạy qua công viên Thống Nhất, một công viên mới được xây dựng để làm nơi giải trí cho dân chúng và cũng để làm đẹp thêm thành phố. Tôi không nhìn thấy gì ngoài chiếc cổng và những lùm cây, cùng vài ba bóng người qua lại bên trong. Hình ảnh thứ hai, Hà-nội có đổi thay trước mắt tôi. Thế là hết! Tôi nghe nói, cũng có nhiều thay đổi khác ở trong lòng Hà-nội, nhưng vì hoàn cảnh tôi chưa có dịp thấy. Thôi, chờ dịp khác…

Đoàn xe đã ra khỏi Hà-nội, đang chạy song song với đường xe hỏa, qua Kim-Liên, nhà thương Cống Vọng, noi đây có đổ nát vì bom Mỹ. Những vết tích chiến tranh chưa được hàn gắn, trông thê thảm, nhất là trong khuôn viên Bệnh Viện!

Trời bắt đầu tắt nắng. Đoàn xe chạy hết tốc lực. Trên quốc lộ 1, bây giờ có hàng cây cao làm mát mắt, chứ không trơ trụi như trước. Bóng tối thả xuống dần dần. Trên con lộ đất dẫn vào xóm làng xa xa, có những thanh niên, thanh nữ nhởn nhơ đi hóng mát. Đúng cảnh thanh bình!

Xe chạy đến tối mới tới chiếc bến nhỏ. Một dòng nước phẳng lừ trải dài im vắng. Cây cầu nổi giăng ngang từ bờ này qua bên kia. Chiếc xe đâm thẳng vô dẫy núi, bỏ lại tỉnh Phủ Lý (nay là Hà Nam Ninh), phía sau. Con đường này đã gợi rất nhiều kỷ niệm, vì trong tuổi niên thiếu, tôi đã qua lại nhiều lần. Đây, vùng Chiné, có sông, có núi, có nhiều cảnh đẹp, nhưng nước rất độc, dễ bị sốt rét, nhất là Ba Sao, Đầm Đùn! Không còn hồ nghi gì nữa, chúng tôi sẽ bị giam giữ tại vùng núi Chiné, nơi đó, nghe nói có một trại giam kiên cố, chuyên giam tù chính trị, như Trại Cải Tạo Trung Uơng số 1 tại Lào Cai vậy.

Trời tối hẳn. Tôi không nhìn rõ cảnh vật bên ngoài. Xe chạy trên con đường xấu, nhiều ổ gà. Chúng tôi cứ lắc lư theo chiếc xe nghiêng ngã. Tuy mệt vì đi cầu suốt ngay, tôi cố kéo quần lên, dùng bàn tay còn lại túm tấm nylon chờ dịp vứt của nợ ra ngoài xa. Tôi nhắm mãi chưa thấy chỗ thuận tiện, chiếc xe đã đi vô chiếc cổng lớn, lố nhố Công An. Hoảng qua, tôi vứt bừa tấm nylon qua ô cũi, mặc nó muốn rơi vào đâu cũng đuọc, trời đang tối mà! Tấm nylon được quăng mạnh ra ngoài. Tôi nghe rõ, tiếng kéo lê trên mặt đất, chắc cứt đái tung tóe vung vãi. Tôi nghĩ bụng, kệ cha nó, cho tụi Công An dọn, cũng có lúc mình phải làm khổ tụi nó chứ? Vừa nghĩ tới đó, xe dừng lại bất tử, tôi ngã người vào Liêm làm anh đổ theo!

Tên Công An vũ trang nhẩy xuống, mở chốt tấm chắn lên. Chúng tôi chờ chừng 5 phút, một tên khác leo lên mở khóa cũi. A, bấy giờ tôi hiểu, vì sao tên Công An vũ trang không mở cửa cho tôi xuống đi cầu và cũng không trả lời được hay không, vì nó không giữ chìa khóa, cũng không có quyền ra lệnh cho xe ngừng theo ý muốn.

Chiếc cửa con được mở, tôi và Liêm chuẩn bị xuống. Lúc này trời tối, thành xe lại quá cao, chúng tôi nhẩy không đều, nên cả hai ngã sấp xuống nền đất, chiếc còng cứa vào cổ tay. Khi dậy được, thấy đau, tôi nhìn thấy một dòng máu rỉ ra như vết mực. Đồ vật được quăng xuống chất thành đống. Anh em chọn lựa vứt tung, biến cái “đống” thành một “vũng” đồ. Mọi người chờ mở còng. Tên Công An giữ chìa khóa, xoay mãi, chiếc còng của chúng tôi không chịu mở. Tra hết chìa này đến chìa khác, vẫn trơ trơ. Sau, nó bỏ mặc hai đứa tôi đứng đó, đi mở các chiếc còng khác. Tất cả đã mở xong, chỉ còn lại chiếc của chúng tôi. Chỗ cổ tay bị còng cứa chảy máu, mồ hôi rịn vào làm xót vô cùng. Tôi nghiến răng chịu đựng. Hết đi ỉa chảy, bây giờ lại hóc còng, cái số tôi thực khốn nạn! Anh em đã mang đồ vô chiếc ngõ sâu, giống hệt chiếc ngõ ở Lào Cai, chỉ có khác ở đây không phải leo, nó nằm ngang mặt sân. Một tên Công An đề nghị, dừng cưa sắt để cắt còng. Nhưng tên giữ chìa không chịu, nó cứ thử đi, thử lại. Một xâu chìa khóa mấy chục chiếc, mỗi cái nó thử trung bình mất 1 phút, do đó, thời gian chịu đựng của chúng tôi kéo dài. Nhưng sau chừng nửa tiếng, chiếc còng cũng mở. Thì ra nó khô dầu! Tôi và Liêm, hai kẻ vào sau cùng. Anh em đã ngồi dài trước cửa “chuồng” như hệt ở Lào Cai. Theo lệnh của một tên Công An hãy còn trẻ, mọi người vào “chuồng”. Sự tranh giành chỗ ngủ lại diễn ra như hồi ở Lào Cai. Vì vào muộn, tôi và Liêm đành phải leo lên “lầu”. Lầu không có thang, chỉ có những miếng gỗ đóng vào chiếc cột làm bậc lên xuống. Sau khi xếp đồ, dọn sơ chỗ ngủ, tôi lần xuống, ra sân tìm nuớc rửa ráy vì cả ngày đái ỉa tùm lum bẩn thỉu chịu gì nổi?

Vì trời tối, chẳng biết chỗ nào có nước, tôi đi vòng ra mé sau, thấy có một đường nước lấp lánh dưới ánh đèn. Tôi tụt nhanh quần, té nước rửa. Có lẽ, vì nhịn đói nên bớt đau bụng và hết đi cầu. Làm sạch sẽ xong, tôi lại leo lên lầu. Tay chân rả rời, leo từng nấc mệt mỏi. Đêm đó, tôi không buông mùng, lăn ra ngủ, một giấc ngủ mỏi mệt.

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, mặt trời đã chiếu vô chỗ nằm. Liêm cho biết, đêm qua tôi trăn trở suốt sáng. Đầu nhức như búa bổ, lại hâm hấp sốt, tôi hỏi xin thuốc, Phùng cho mấy viên Aspirin, tôi cảm ơn không dùng, vì cả ngày qua chẳng ăn uống gì, nay uống Aspirin vào nó cồn cào chịu không nổi! Thôi đành chịu trận. Tôi lần xuống, để rửa mặt đánh răng, lúc đó mới biết có một giếng nước trong vắt ở sát chỗ chúng tôi ngồi tập họp tối qua. Sau đó, vòng ra phía sau đi tiểu, tôi mới hay vũng nước hồi hôm mình rửa ráy là đường mương, rêu xanh nổi lều bều trên mặt! Sợ quá, tôi đi lại chiếc giếng, gầu nuớc, mang ra chỗ khuất cởi quần rửa lại!

Phần ăn sáng ở đây, đặc biệt phát cho mỗi người mới đến một ổ bánh mì nướng. Thường ra chỉ được 1/4. Ổ bánh mềm xìu như chiếc giẻ rách. Vì còn bệnh, tôi chỉ nhấm nháp một chút, xong cất đi.

Đến 9 giờ, có lệnh điểm nghiệm. Mọi người bày tư trang của mình kín chiếc sân, trước buồng. Một khuôn viên trồng hoa, hình chữ nhật, ở giữa có hòn non bộ khá đẹp, đứng sững trong chiếc bể bầu dục có thả cá vàng! Cảnh trí y hệt Lào Cai, cái lối kiến trúc đặc biệt của nhà tù Cộng Sản!

Cả 10 tên Công An đi vô, chưa bao giờ tôi thấy việc điểm nghiệm có nhiều Công An tham dự như ở đây. Nó khám kiểu này khó lòng giấu đưọc cái gì! Nhưng sự thực, qua bao nhiêu cuộc điểm nghiệm, mọi người chúng tôi cũng chẳng còn gì để giấu, ngoài vài thứ lặt vặt như con dao nhỏ dùng để cắt bánh, cái kéo để hớt tóc v.v… Nếu còn càng tốt, bị thu, sẽ tìm cách khác. Riêng tôi, chẳng có gì đáng ngại, nên để khám tha hồ. Những ai nhiều lon hộp đều bị thu, chỉ được giữ một chiếc. Lon gô vứt cả đống, tù hình sự vô nhặt quăng vào “xe cải tiến” kéo đi đâu chăng biết ! “Xe cải tiến” mới nghe, tưởng ghê gớm lắm, có máy móc gì, ai ngờ nó là cái xe bò thứ nhỏ, làm toàn bằng sắt, kéo nặng chết cha!

Buổi sáng, điểm nghiệm. Buổi chiều, khai báo. Đó là những “khâu” bắt buộc mà người tù phải qua ở mỗi trại giam. Sau đó, học tập nội quy, ở đây còn thêm mục “Nếp sống văn hóa mới”, gồm 20 điều cấm kỵ!

– Đù mẹ, cứ làm như văn minh lắm, trong khi còn nói ngọng, người cầy thay trâu, ăn uống đói khát, lúc nào cũng khắc phục.

Một tiếng chửi cất lên khi anh ta nhìn thấy những điều răn cấm, viết trong tấm bảng ghi: Nếp Sống Văn Hóa Mới.

Chúng tôi được nghỉ ngơi, để làm thủ tục nhập trại, khai báo, học tập nội quy trong một tuần lễ.Tôi đã đi khám bệnh và được phát thuốc. Bệnh tuy khỏi, nhưng từ ngày tự tử không chết, sức đề kháng trong cơ thể hình như suy nhưọc hẳn đi, mỗi lần đau ốm rất khó lại sức! Tôi cứ vật vờ như con bệnh giả vờ. Mỗi bữa, chỉ ăn được nửa ổ bánh mì với muối, phần còn lại, tôi biếu anh bạn, đã cùng tôi đạp đất chung ở Lào Cai. Anh này có biệt tài kể chuyện Tam Quốc, Thủy Hử, làm quên đi những giờ phút cực nhọc, bụng đói, cật rét !!… Tên Công An, cán bộ buồng, trẻ măng nhưng vô cùng hách dịch. Nét mặt lúc nào cũng lạnh lùng, vì nó có quyền hạn lớn, muốn cho ai ở nhà làm việc nhẹ, hay đi lao động tùy ý. Nó có quyền khám xét bất cứ lúc nào. Nó có thể tùy yêu, ghét mà xử trí với mỗi tù nhân, ngay vấn đề nghỉ bệnh cũng phải trình diện nó. Việc phân công ở trại này có hơi khác với Lào Cai. Ở đây, Công An buồng chỉ lo đôn đốc cho tù đi lao động, đề phòng cưa chấn song ban đêm trốn trại, hoặc nghỉ lao động không có phép.

mạnh hải flickr

Còn lao động do tên Công An khác phụ trách. Tên này có nhiệm vụ đốc xuất tù lao động cho đạt chỉ tiêu do Ban Giám Thị đề ra và tên Công An vũ trang có trách nhiệm giữ tù trong giờ lao động. Như vậy mỗi người tù chịu 3 hệ thông kiểm soát gắt gao, rất khó trốn!

Trước giờ lao động, điểm số. Giữa giờ lao động, trước khi về trại, lại điểm số. Cứ như vậy ngày này qua ngày khác, lâu dần nó biến người tù thành cái máy!

Ngày đầu, chúng tôi đi lao động cũng ngồi xếp hàng theo Đội như ở Lào Cai. Một tên Công An đứng trong chiếc “chuồng cu” xây bằng gạch, có chiếc cửa tò vò như chiếc cửa mua vé ciné, gọi từng Đội đi lao động. Cái “chuồng cu” này nhằm mục đich tránh mưa, nắng. Chúng tôi đứng lên khi Đội được gọi. Tất cả nón, mũ đều bỏ xuống cầm tay, tới khi nào qua khỏi chiếc “chuồng cu” mới được mang lại. Ra khỏi chiếc cổng sắt, hai tên Công An, một quản giáo lao động, một vũ trang, đi theo ngay. Tên Công An quản giáo lao động, trông có vẻ cao ráo, mặt mũi sáng sủa, ăn nói khá tử tế, không hiểu sao lại vào nghề Công An? Còn tên vũ trang trông quê mùa, mặt lầm lầm như chó ăn vụng bột. Nhưng cũng như ở Lào Cai, các tên vũ trang được thay luôn, không ở Đội nào lâu.

Chúng tôi được dẫn tới chân quả núi thấp để làm “Trạc”. “Trạc” là một loại đá non, dễ cuốc. Khi cuốc nó rơi lả tả như cát, có to, có nhỏ. Toán nào cuốc, chuyên cuốc; xong toán cào, vun lại; đến toán chuyển, xúc đổ vào những chiếc “vá” đan bằng tre, chuyển lên mặt đường đổ thành đống, cho Đội khác chuyên chở đến nơi xây cất thêm nhà tù. Loại “Trạc” này được rây qua tấm lưới nhuyễn, đem trộn với vôi thành chất vữa, xây nhà rất chắc. Nó như một loại xi-măng non!

Phần ăn sáng, mỗi người được lãnh 50gr bột mì, đem ra bãi nấu. Anh em cử hai người chuyên nấu bột và nấu nước uống. Nấu bột xong, chia đều cho 52 chiếc gô để sẵn. Mỗi người được 3/4 gô hồ loãng, phần ăn sáng. Vừa làm, anh em vừa ngoái cổ nhìn xem thùng hồ đã chín chưa.? Ai cùng đói như điên. Khi anh nấu hồ giơ một ngón tay lên trời làm hiệu, Đội trưởng nhìn thấy, xin quản giáo lao động cho nghỉ giải lao, ăn sáng, uống nước. Tên nào tử tế cho ngay, tên nào “hắc ám” nhìn đồng hồ, nếu chưa tới 9 giờ, chưa được, phải làm đúng giờ, mới được nghỉ! Chao ôi! thân tù, thân tội. Làm quần quật ngày 8 tiếng, dãi nắng dầm mưa, mỗi ngày chỉ được ăn 2 ổ bánh mì to bằng cổ tay đứa bé và mỗi sáng được húp 3/4 gô nước hồ loãng, sao sống nổi? Do đó, da nguời nào cũng xanh lét, kể cả người khỏe mạnh nhất. Những gói quà từ Lào Cai mang xuống, dùng lâu cũng hết, nên ngoài khẩu phần được cấp phát, anh em chẳng có gì ăn thêm. Ở đây, nếu có tiền, có thể mua được bánh trái, tuy bị cấm, do những toán đi làm ở sát khu dân mang về, hoặc tù hình sự bán. Nhưng tụi tôi mới đến, lấy đâu ra tiền? Còn mấy chục bạc gửi từ Yên Bái, bây giờ làm sao lấy ra, tuy số tiền gửi đã được chuyển tới đây, trên giấy tờ!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply