Đáy địa ngục

Tạ Tỵ

Post by Sơn râu 22 May 2024

Chương V: Về xuôi

Phần 3

Chúng tôi cứ sống như vậy từ ngày này qua ngay khác, khi làm “Trạc”, khi sửa đường, đào mương. Vì sức yếu, tên Công An lao động lại thích vẽ, khi xem lý lịch biết tôi có chuyên môn, nên hắn cho nghỉ lao động, mỗi ngày tôi ngồi trong lùm cây khuất, vẽ cho hắn bằng bút chì trên giấy học trò, cảnh “Thạch Sanh bắn đại bàng”, lẵng hoa, phong cảnh doanh trại v.v…. Nhưng công việc này cũng chỉ kéo dài được ít lâu vì thay quản giáo lao động. Tôi lại trở về với đống “Trạc” và chiếc cuốc.

Cái nóng của miền xuôi cũng ghê gớm, không thua gì miền núi. Những ngày nắng đổ lửa, mỗi trưa đi lao động tôi phải ấp chiếc khăn uớt lên đầu cho đỡ nóng. Chỉ trong ít phút, chiếc khăn đã khô, nhưng quần áo lại ướt đẫm mồ hôi. Trời mấy bữa nay đổ mưa luôn. Những cơn mưa cuối mùa hạ càng dữ dội nhiều khi mưa to, gió lớn do từng cơn bão gây ra. Những cơn bão trước đây đã qua đi, chưa cơn nào lớn, nhưng theo đài sáng nay báo, có cơn bão số 9 sẽ đi qua vùng này với gió cấp 10, như vậy khá lớn.

Buổi chiều nay, chúng tôi sửa soạn đi lao động, trời bỗng vần vũ, những đám mây đen bay vùn vụt trên vòm cao, gió thổi vật vã lay động hàng cây bên sườn núi. Mọi người đều khấn: lậy trời mưa xuống cho chúng con được nghỉ lao động! Mỗi lần trời vần vũ, tù thường cầu xin như vậy. Nếu mưa thật, tù nói: “Ông trời của chúng ta!”. Nếu không, tù nói: “Ông trời của Việt cộng!”. Nhưng thực ra, ông trời không của ai cả. Chuyện mưa nắng do sự luân chuyển của trời đất từng mùa đã có hàng tỷ năm trước, chứ phải đâu vì có con người mói có ông trời làm ra mưa, nắng?

Những khối mây đen đuổi nhau tới tấp, vẫn chưa mưa. Tiếng kẻng lao động đã gõ. Anh em uể oải, đội nón, mang gô ra sân tập họp lao động!

Chiếc sân tập họp, chiều nay mát hẳn vì không có nắng. Từng Đội một, lại đứng lên theo tiếng gọi, đi ra khỏi cổng. Khi Đội tôi đi đến chỗ làm, gió thổi tung bụi cát, bay mù trời. Cây cối trên núi chao chát như lũ say. Tên quản giáo lao động cho lệnh làm việc. Những nhát cuốc lại bổ vào sườn núi, bột đá rơi lả tả. Chúng tôi lao động giữa cơn gió thổi hung cuồng. Những chiếc nón bay đi xa, bị cuốn hút vào cơn lốc. Mưa bắt đầu rơi, anh em nhốn nháo, kẻ lấy áo mưa, người đi nhặt nón. Mọi người đợi cho tiếng kẻng “gom tù” như những lần có mưa trước. Nhưng chờ mãi không thấy, nên vẫn phải làm việc dưới mưa, tuy chưa to, cũng đủ ướt. Tên quản giáo và tên vũ trang đang ngồi trong chiếc chòi nhỏ, cười nói hô hố! Cơn mưa từ đầu núi kéo xuống trông rất rõ. Vừa lúc ấy, tiếng kẻng khua vang. Mọi người, áo mưa bọc kín, quần xắn tới bẹn, chuẩn bị đi về. Tên vũ trang cẩn thận, bắt xếp hàng điểm số trước khi cho cất bước, trong lúc anh em muốn về ngay để tránh mưa gió!

Lớp mưa dầy đặc quất ào ạt theo chiều gió. Mọi người không còn giữ được đội hình, đi lung tung, mạnh ai nấy bước. Đến cổng trại lại chờ, vì có nhiều Đội đã tới trước. Nước mưa thấm qua khe áo luồn vô người lành lạnh. Khi Đội tôi được cho vào, anh em đã ướt như chuột, kể cả những ai có áo mưa loại tốt.

Vào đến “chuồng”, anh em líu ríu thay đồ để tránh cảm vì theo lời các “tu-bíp”, nếu để thấm mưa, sẽ mất nhiều calori, do đó, dễ bệnh. Trời tối âm u, mưa gió tơi bời, trông như sắp tối, nhưng sự thực hãy còn sớm! Anh em lại quây quần “kéo pháo” chờ ổ bánh. Mưa mỗi lúc, một nặng hạt. Gió thổi làm rụng hết những bông hoa trong vườn cảnh, một vài cây bị gãy gục. Có lẽ đây, trận bão to nhất trong năm mà địa phương gánh chịu.

Tôi ngồi thu lu, hút thuốc lào vặt, nhìn gió mưa đi qua cửa sổ để nhớ lại cơn mưa rừng ở Nghĩa Lộ và dòng suối hung hãn đã cuốn trôi căn lều trú ẩn, rồi nhìn vết còng cứa đứt nơi cổ tay nay đã thành sẹo. Mỗi lần nhìn, mỗi lần uất hận!

Ổ bánh mì mềm xèo đã trôi vào bụng từ lúc nào, sao chẳng cảm thấy gì? Nếu trời không mưa, có thể ra vào nhìn ngắm cho khuây khỏa, chứ ngồi suông thế này, cơn đói càng hành hạ. Tôi ăn đã biết ngon, luôn luôn cảm thấy đói, chứng tỏ sức khỏe điều hòa, nhưng lấy gì ăn, cái đó mới quan trọng! Khi còn bị giam ở các trại do “cối xanh” quản lý, ít nhiều gì cũng còn quơ quào được củ khoai, khúc sắn vô miệng. Chứ ở đây, tuyệt nhiên không! Chẳng có ai “cải thiện” được gì, do đó, mọi người cùng đói, chỉ riêng toán làm bếp no. Chắc chắn như vậy. Tôi nghe nói, luật ở đây, toán làm bếp được ăn kỳ no tại chỗ, cấm không được mang về “chuồng”. Trước khi về, mỗi tối, mọi người đều phải để cho tên Công An hậu cần khám túi, lần lưng. Nhưng đó, chỉ là sự đề phòng vô ích. Vì nếu có bánh đem cho bạn bè, họ cho từ ban ngày làm sao kiểm soát, dù có lệnh cấm không ai được vào bếp, nhưng không cấm nhà bếp ra ngoài! Họ có một ngàn lẻ cách cho nhau, như ở Lào Cai, Đ. đã cho tôi.

Tối nay, mọi người đều đi ngủ sớm vì mưa gió chả biết làm gì. Cơn mưa cứ đều đều trải dài như vậy, không có sấm sét, đúng 7 ngày đêm mới tạnh. Chúng tôi được nghỉ lao động đúng một tuần lễ, ai cũng ca tụng ông trời tốt bụng!

Sớm nay, trời trong xanh, không một gợn mây. Từ phương Đông mặt trời đỏ như chậu máu lơ lửng treo cao trên đầu ngọn núi. Cái màu đỏ chói chang, nhìn nhức mắt, nhưng nó lại có giá trị tuyệt dối cho muôn loài. Người ta có thể chịu đụng được cả tháng nắng nhưng chỉ mưa một tuần đã thấy nản. Lao động ai cũng sợ, ở nhà lại chán, đằng nào cũng chết. Nhưng theo tôi, thà lao động tuy vất vả nhưng ít nhất thời gian cũng qua mau, ít làm mình suy nghĩ. Sụ suy nghĩ, làm hao mòn thể xác và tinh thần dễ suy sụp!

Các Đội lại “ra quân” ngồi kín chiếc sân rộng. Tên Thịnh mang quân hàm thiếu úy lại đứng thu hình sau chiếc cửa tò vò, gọi Đội đi làm. Tên này là một trong những “hung thần” của trại Nam Hà. Nó đểu cáng, ba que, ác độc vô cùng. Nó không nhân nhượng cho ai, dù vô tình phạm lỗi. Dưới nó, còn tên Lực, Trung sĩ, cũng ác ôn không kém. Ai bị nó khám, đừng hòng giấu diếm. Nó bóp cả “chim”, bảo rằng: – “chim của các anh cũng biết ăn đường, uống sữa!”. Hai tên đó, chuyên giữ phòng trục, gọi tù đi lao động và cho tù nhập trại. Chúng, điển hình cho chế độ Cộng Sản!

Tiếng gọi hách dịch vang lên, các Đội lại tuần tự đứng lên cầm nón, mũ trong tay, đi ra khỏi trại!

Buổi nay, chúng tôi không làm công tác như thường lệ, mà đi vác đá. Từ trên cao, tôi nhìn cả một vùng nước trắng xóa, chỉ còn chừa lại vài mái nhà cao và những rặng cây nhô lên khỏi mặt nước, sau 7 ngay đêm mưa liên tục. Tụi Công An, một số được điều đi cứu lụt, cơn lụt trầm trọng làm hư hại tất cả hoa mầu trong vùng nếu không kịp thời đối phó! Quang cảnh trại hôm nay có không khí nhộn nhip khác thường. Đội sửa đường, đội vác đá, đội dọn dẹp những nơi đổ nát. Tất cả đều làm việc theo nhu cầu sau cơn bão. Trời hôm nay, nắng rất đẹp. Mầu xanh cẩm thạch trong suốt như tấm thủy tinh trải suốt chiều rộng không gian. Tôi vác những viên đá lớn, nặng khoảng 10 kilô trên vai di chuyển khoảng 100 thước, xong quẳng xuống, người khác sẽ mang đi một khoảng xa tương tự, rồi người khác lại mang đi. Cứ thế, chúng tôi làm dây chuyền từ chỗ có đá vào đến cổng trại để xây thêm 2 nhà tù mới. Hai khu này kiến trúc y như các khu đã có. Ở đây chỉ khác Lào Cai, các cửa ngỏ đều không có, vì thiếu cây, nên chúng tôi chỉ phải khóa có một lần cửa mỗi tối. Nhưng không vì thế, ai muốn đi đâu cũng được, sau khi mở khóa. Nội quy cấm liên hệ, giữa buồng này, buồng khác, nếu có, chỉ lén lút. Có một chiều, tên cán bộ buồng đã trói một “Đại úy tù” vào cây cột phơi đồ vì anh này bị bắt quả tang liên hệ. Cửa “chuồng” đã khóa, trời sắp tối. Từ trong “chuồng” chúng tôi còn thấy anh bị trói, đứng ủ rủ nơi cây cột. Hai cánh tay bị trói ghì vào cột bằng một sợi dây thừng! Trước khi trói, anh còn bị loi mấy cú đấm vào người, vào mặt. Buổi tối, muỗi nhiều, chắc chúng đốt dữ, nên anh cựa quậy liên hồi. Ở trong này, dù thương anh lắm, nhưng chẳng có cách nào cứu anh. Cứ đứng chịu trận như vậy cho tới kẻng ngủ, anh được tên Công An cởi trói đưa về buồng anh ở.

mạnh hải flickr

Toàn khu Ba Sao, Đầm Đùn có 3 trại: A, B và C.

Trại A, nơi tôi đang ở, tưong đối rộng rãi, khang trang. Từ xa nhìn, nó giống như một dẫy khách sạn treo lơ lửng bên suờn núi. Nhưng ở gần, nó đúng là nhà tù với đầy đủ những tiêu chuẩn dành riêng cho trại giam chứa trên dưới 2,000 người.

Trại B, nằm sâu trong triền núi Chiné, lọt thỏm giữa một thung lung nhỏ, xung quanh núi cao bao bọc. Trại B, bé hơn Trại A, chứa chừng 500 tù. Đặc biệt, trại B còn có một căn nhà dành riêng để biệt giam, nếu vi phạm kỷ luật. Hình phạt tùy theo nặng nhẹ, nhưng nặng nhất là “kiên giam”, cùm một chân. Kiên giam, hình phạt man rợ! Mỗi ngày tù kiên giam chỉ được mở cùm một lần để làm vệ sinh cá nhân, cơm ăn chỉ có muối và đựng trong bịch nylon, nếu ai biết trước mang theo được, còn không thì ăn cơm ngay trong lòng tay. Mỗi căn, giam 2 người, cấm không được nói chuyện. Giống như ở cachot vậy. Xung quanh kín mít, chỉ có những lỗ thông hơi nhỏ trên cao. Thỉnh thoảng tên Công An gác nhà giam, buồn tay buồn chân lại mở còng, gọi ra đấm đá bất kể ngày đêm. Những ai trốn trại, hoặc chống đối lao động đều bị phạt kiên giam!

Trai C, ở ngay trên con lộ dẫn đến trại A. Nó nằm khuất nẻo trong một khu có lũy tre bao bọc, có đụn rơm, nhà cửa. Ở ngoài nhìn vào, giống hệt xóm dân thường, nhưng đích thực là nhà tù. Trại này, cách xa trại A khoảng 3 cây số, giam giữ khoảng 700 tù.

Như vậy toàn khu Ba Sao trong vùng núi Chiné giam giữ trên dưới 3,000 tù. Tất cả 3 khu đặt dưới quyền kiểm soát của Ban Giám Thị, do tên trung tá Hà Mạnh Xuyên làm thủ trưởng, với tên đại úy Huy phó trại, chúng tôi thường gọi là “Hoàng tử lưng gù”, vì lưng hắn u lên như lưng con bò rừng. Tên Huy, rất khôn ngoan, đúng là “con cáo già Công An”. Mỗi khi ban chút ân huệ nào cho tù, hắn xuất hiện với nụ cười hoan hỉ. Khi cần trừng phạt, hắn lánh mặt, để đàn em thi hành, do đó, tù không oán! Ở bên dưới, còn rất nhiều tên khác, mỗi tên lo phần vụ riêng, nhưng tên phụ trách an ninh, quả là tên ác ôn có hạng. Nó như con chó săn, luôn luôn sục sạo chỗ nay chỗ khác, dò hỏi mọi người, nó đặt “ăng ten” ở mỗi buồng. Một buổi, tôi nghỉ bệnh, nó dò hỏi:

– Sao anh không đi lao động?

– Tôi bệnh !

– Bệnh gì?

– Sốt rét!

– Sốt rét, sao anh không nằm nghỉ, lại ngồi đây?

– Tôi không muốn nằm, vì nằm bệnh thêm. Tôi vừa qua cơn sốt!

Nó nhìn tôi chằm chặp hỏi thêm:

– Tên anh là gì?

– Tên Tỵ!

– A, tôi có nghe, anh vẽ giỏi, làm thơ, viết văn hay lắm, hả?

– Tôi đâu biết gì, cán bộ!

– Này, anh đừng có giấu tôi , không được đâu! Tôi hỏi thật anh câu này nhé!

Nói xong, nó nhìn chăm chăm vào tôi như tìm phản ứng.

– Cán bộ cứ hỏi?

– Anh có biết trong buồng này có ai buôn bán, đổi chác gì không? Có ai đánh bạc, uống rượu không?

– Tôi chắc không có!

– Anh không thành khẩn rồì!

– Tôi thấy sao trả lời vậy. Nếu cần, cán bộ nên hỏi buồng trưởng.

Thấy tôi trả lôi ậm ừ nó bỏ đi. Nhưng sau nay, nó tìm cách hạ nhục tôi như tên Kỳ ở Lào Cai vậy.

Vác đá từ sớm đến trưa, mỏi và mệt lắm, tôi rã rời tay chân. Mồ hôi chảy uớt đẫm áo. Tôi dùng chiếc nón lá quạt liên hồi cho tan cơn nóng nực!

Tiếng kẻng tan tầm khua vang, Đội xếp hàng điểm số, trở về. Cầm ổ bánh mì trong tay, tôi đưa lên miệng. Ăn không quá 5 phút, xong uống nửa gô nước, mong bột bánh nở ra trong bụng, cho đỡ đói. Buổi trưa lại điểm số. Anh em ai ngồi chỗ đó, tên Công An đi một vòng đếm. Đếm xong, nó khóa cửa và sẽ mở lại trước giờ lao động buổi chiều. Cứ như vậy, đời tù, mở và đóng khóa mỗi ngày 4 lần. Nhưng lần mở quan trọng nhất, vẫn là buổi sáng. Nếu sáng nào mở khóa, có hai tên cùng đến, sáng đó thế nào cũng có chuyện, hoặc chiếc chốt cửa bị tháo ra, mang theo cả chiếc khóa, cũng vậy. Sau này ở lâu, do kinh nghiệm, tôi biết và đoán được những sự việc báo trước đó! Nhưng biết để mà biết, chẳng làm gì hơn được vì mỗi quyết định đều ở ngoài tầm tay.

Sau tuần lễ vác đá, chúng tôi lại quay về công tác làm ‘Trạc”. Tổ tôi, bữa nay được phân công phát quang suờn núi, lấy chỗ cuốc “trạc” vì nơi đang lấy, đã gặp đá cứng, không ra”trạc”. Tôi vừa làm, vừa nhìn ra vũng nước rộng. Mực nước đã rút nhiều, để lộ những nếp nhà cũ kỹ và thấy cả con lộ nhỏ khúc nổi, khúc chìm. Những chiếc thuyền thúng bơi qua, bơi lại để lưới cá, vì theo kinh nghiệm, sau mỗi cơn lụt, cá về nhiều hơn. Dẫy “núi răng cưa” in lên nền trời như miếng bìa cắt vụng. Tôi nghe nói, chẳng con thú nào thích sống ở vùng “núi răng cưa” vì không có mồi, cây cối cũng không cao.

Chiều qua, tù hình sự vừa bắt được một con trăn to bằng bắp đùi, dài cả chục thước, khi nó đang nuốt một con dê đực, trại nuôi thả rong trên sườn núi. Mỗi chiều, vào khoảng 4 giờ, tên tù hình sự tự giác chăn dê đi vòng vòng gọi: Dê ơi! về đi! Tiếng gọi âm vang vách đá, đàn dê nghe tiếng gọi, lục tục trở về. Tụi Công An chở con trăn và con dê đã chết, trên ca-pô xe Jeep. Con trăn bị đánh dập đầu, nằm cuộn tròn, chiếc đuôi còn thòng dài chấm đất. Con dê nằm sóng soài trên mình con trăn, hai chiếc sừng nhọn hoắt, râu ria xồm xoàm. Tôi không hiểu tại sao, con dê to với hai chiếc sừng nhọn sắc như vậy mà con trăn có thể nuốt được con mồi? Việc quấn chết, dễ hiểu, nhưng nuốt, quả thực khó hiểu. Nhưng đó là việc của Thượng đế, khi sinh ra muôn loai, đã ban phát cho mỗi giống dù to hay nhỏ, một khả năng để tự vệ, để săn mồi, cũng như để tiêu thụ những gì thích hợp với cơ thể để sinh tồn!

Những nhát dao chém liên tiếp, cây cỏ nằm rạp xuống. Mùi lá tươi ngai ngái đưa lên mũi, làm tôi nhớ đến buổi phát quang ở Yên Bái. 3/4 gô nước hồ đã tiêu sau bãi tiểu. Lại đói như điên. Giữa lúc ấy, từ phía dưới, tôi nghe tiếng gọi:

– Ông Tỵ ơi! sắp có thăm nuôi đó!

Tôi ngừng tay, nhìn xuống. Mấy anh đang khom người đẩy chiếc xe cải tiến chở đầy “trạc” lên dốc.

Tôi hỏi vọng xuống

– Bạn không nói đùa đấy chứ?

– Em gái ông đến thăm!

Tôi bỏ dao chạy nhanh xuống. Sao lúc đó, tôi cảm thấy khỏe thế, bước phăng phăng từ dốc núi cao xuôi dần tới mặt lộ. Anh em đang làm dừng tay nhìn, như nhìn một kẻ điên. Khi xuống tới mặt đường, tôi ngó lên con dốc, không thấy gì. Thất vọng, tôi toan quay lại. Bỗng từ đầu dốc nhô lên một bóng người đàn bà, theo sau, người đàn ông dắt chiếc xe đạp, trên xe chở một gói lớn. Tôi mở to mắt! Đúng em gái tôi, với cái dáng người ấy, tầm cao ấy, không thể nhầm được. Tên quản giáo lao động, từ trong chòi nhìn ra quát:

– Anh kia,” nàm” gì đứng đấy, đi “nào” động ngay! – Tên này nói ngọng.

Tôi bẽn lẻn đi lên, nhưng không đi mau, cố tình bước thật chậm, chờ nhìn lại cho rõ. Thời gian sao dài thế, có mấy bước chân, mãi không tới! Tôi đang nóng ruột, hai bóng người đã đi ngang. Tôi gọi:

– Cô Hạnh!

Người đàn bà ghé nón, ngước mắt nhìn lên, cười:

– Anh, em đây! Chờ chúng em vào trình giấy tờ nhé! Nói xong, em tôi giơ tay vẫy, người đàn ông đi sau là em rể? Đã mấy chục năm xa cách, bây giờ gặp lại nhau trong hoàn cảnh khốn khó này. Không hiểu sao, mắt tôi bỗng mờ đi, tuy lúc này trời đang nắng dữ dội!

mạnh hải flickr

Anh em ai cũng mừng cho tôi sắp được no ít bữa. Tôi, người thứ hai được thăm nuôi ở trại nay sau Thiện, Tổ trưởng. Từ lúc đó, tôi không còn thiết lao động, chỉ mong chóng tới giờ tan tầm. Tôi tìm một lùm cây, khuất tầm mắt của mọi người, ngồi thu lu suy nghĩ! Trong đầu tôi, hiện lên hình ảnh gia đình nào bố mẹ, anh em, từ ngày xa xưa khi còn trẻ thơ. Tôi đã sống và lớn lên nhờ gia đình đùm bọc, anh em che chở. Tôi, đứa con hư hỏng, không làm ăn gì để giúp đỡ bố mẹ, anh em, chỉ lo học làm nghệ sĩ! Lúc tuổi tôi còn ăn học, bố mẹ đã già, do đó, các anh lớn phải đi làm để gánh vác. Tôi có hai người anh đã bị Cộng Sản sát hại: một anh, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, và anh kia vào năm 1958. Cả hai đều chết, trong lúc bị giam cầm tại Trại Cải Tạo, nay đến lượt tôi, cũng đang bị cải tạo không có ngày về! Người đàn bà đến thăm là em gái thứ 7. Cô lập gia đình sau khi chia đôi đất nước. Do đó, đây là lần thứ nhất, tôi gặp người em rể! Tôi chẳng hiểu vì đâu họ tìm ra tôi ở địa điểm này? Trại cấm không được tiết lộ địa điểm cải tạo trong thư từ, dù nói xa xôi, nếu trại biết, sẽ nghiêm trị. Hồi gần đầy, tụi Công An mới cho phép các buồng trưởng, Đội trưởng, Đội phó và những ai phục vụ tại “nhà Văn Hóa” mới được gửi thư về nhà, báo địa điểm thăm nuôi. Tất cả độ vài chục người, trong số gần 2,000 tù !

Tiếng kẻng tan tầm như đẩy tôi ra khỏi suy nghĩ.

Tôi xuống núi từng bước dài để tập họp điểm số. Trên con lộ, các Đội đi dài dài, áo quần lem luốcướt đẫm mồ hôi. Vế đến trại, không nhìn thấy hai em tôi đâu. Chắc họ được nghỉ tại căn “nhà chờ” bên hông trái. Chiều nay tôi sẽ được thăm nuôi.

Buổi trưa, nằm không ngủ được chút nào. Cánh cửa”chuồng” đã khóa. Tôi ngồi hút thuốc lào vặt, ruột nóng như chiếc hỏa lò đầy than hồng. Nhưng cái gì tới, sẽ tới. Tiếng kẻng khua vang. Tôi nhảy xuống đứng chờ ngay nơi cửa, đợi tên Công An mở chốt, nhào ra đầu tiên. Tôi quên cả đói mệt, chỉ mong gặp em gái, để biết chuyện gia đình trong Nam, ngoài Bắc.

Tiếng kéo chốt đánh rầm. Cửa mở toang. Tôi nhào ra, tên Công An buồng tỏ vẻ kinh ngạc.

– Anh kia, đi đâu vội thế?

– Dạ, đi ra!

Nó nhìn tôi một lát rồi thôi. Tôi ra giếng gầu nước rửa mặt mũi, tay chân vì không muốn cho các em tôi thấy mình nhơm nhếch, dù ở hoàn cảnh tù tội!

Giờ lao động đã đến. Tên Công An trực thay vì gọi các Đội đi làm như thường lệ, gọi tên tôi trước, được ở nhà thăm nuôi! Gần 2,000 khuôn mặt quay về phía tôi. Tôi đứng dậy, ra khỏi hàng, quay về “chuồng!” Sau khi các Đội đi lao động hết, tôi được tên Công An buồng đưa đến căn nhà cạnh phòng Trực. Khi tôi đến, hai em tôi đã ngồi nghiêm chỉnh trước tên Công An đeo quân hàm Trung úy, mặt tím bầm như miếng thịt trâu

Vừa nhìn thấy, em gái tôi đã đứng lên, ôm lấy tôi òa khóc. Tôi không muốn, quả tình không muốn nhỏ lệ trong hoàn cảnh này, nhưng trước những giọt nước mắt của em gái, tôi cầm lòng không được! Cơn xúc động qua đi, em gái tôi cười, nụ cười buồn bã!

– Ô, anh già và gầy quá! Sao, có ốm đau gì không?

– Không, anh chẳng ốm đau gì!

Tôi không có cách nào nói thực cho em tôi nghe tất cả những gì đang giấu trong lòng tôi, vì tên Công An lúc nào cũng nhìn và theo dõi từng lời nói, từng cử chỉ. Người em rể luôn luôn nói theo đúng chính sách nhà nước “chờ ngày được cứu xét, sớm được sum họp với chị và các cháu”. Giá ở hoàn cảnh khác, chắc chắn người em rể không bao giờ dám nói với tôi những lời đó, nhưng lúc này vì có sự hiện diện của tên Công An, nên phải nói, để tỏ ra mình cũng thông suốt đường lối!.

Chúng tôi chưa nói được với nhau nhiều, tên Công An đã bảo hết giờ. Em gái tôi nói vội: năm ngoái, hai vợ chồng có lên Yên Bái tìm, nhưng tôi đã chuyển trại. Tất cả những đồ thăm nuôi này do vợ con tôi thực hiện. Một số do họ hàng quen thuộc cho. Trước khi về, em gái tôi móc túi, lôi ra 40đ dúi vào tay! Tên Công An nhìn thấy:

– Chị không được đưa tiền cho anh ấy! Nếu muốn, phải “đăng ký” qua chúng tôi, khi cần, chúng tôi sẽ trả lại!

Em tôi bẽn bẻn xin lỗi, rồi gửi số tiền đó cho tên Công An. Nó cầm số tiền đút ngay vào túi, không biên nhận gì cả. Sau khi hai em tôi ra khỏi, tôi đứng ngay nơi cửa ngó theo. Họ vừa đi vừa ngoái lại đưa tay vẫy vẫy. Ánh nắng đã ngả dài trên chiếc sân rộng. Hai cánh cửa sắt to đóng kín. Tên Công An vũ trang, đứng trên chòi gác nhìn xuống với con mắt lạnh lùng. Chờ cho hai em đi khuất sau hàng cây ven lộ, tôi quay vô. Tên Công An lạnh lùng nói:

– Bây giờ, khám đồ!

Tụi này chuyên môn dùng thủ đoạn, dù chuyện nhỏ nhất! Lúc còn các em tôi, nó không khám, làm như cho nhận hết, nay nó khám, làm sao tôi dám phản đối?

Tất cả mọi gói đều được mở. Nào đường, nào bánh bích quy in theo khuôn con gà, con vịt, con heo, loại bánh nhà quê dành cho con nít. Nào thuốc lào, kẹo do Hà-nội sản xuất, 1 lọ thịt heo kho khô, 1 nải chuối, 3 cái bánh chưng, mỗi cái bằng lòng bàn tay và 1 gói café. Nó khám rất kỹ, bánh chưng bi cắt làm đôi xem có “nhân” không? Nó tưởng ở giữa có cái nhân chăng?

Sau khi khám, không tìm ra gì ngoài 10 bao diêm, nó cho nhận 2, tịch thu 8!

Tôi gom lại cho vào chiếc bị cói mang về. Trước khi vô cổng tôi phải đứng nghiêm, báo cáo với tên Công An trên vọng gác:

– Thưa cán bộ, cho phép vào trại.

Sau khi nói xong, phải đứng chờ, khi nào nó nói: “cho vào!” mới được đi. Tôi cho tay đẩy mạnh cánh cửa sắt. Khi khoảng rộng vừa đủ, tôi lách người vào. Thế là xong! Tôi đi nhanh về khu mình ở!

Anh em đi lao động hết, chỉ còn vài người làm vệ sinh ở nhà. Tôi mang đồ đi thẳng vào nhà ăn. Những quả chuối đã rời khỏi cuống, vài quả đã nát ngướu. Tôi chẳng cần thu xếp gì, ngồi ngay xuống đất bóc bánh chưng đã được cắt đôi, đưa vào miệng nhai ngấu nghiến. Tôi ăn một hơi hết cả 3 chiếc bánh chưng với những quả chuối dập. Ăn xong, vẫn còn thèm. Tôi ngồi liếm những hạt gạo nếp còn dính ở lá, kỳ hết mới thôi! Cũng may, tôi ăn một mình không ai thấy. Tôi nghĩ, nếu hai em tôi nhìn thấy cảnh này, không biết họ nghĩ sao? Vì quá thèm đường, tôi cầm cả túi, dốc vào miệng. Từ lâu lắm, buổi chiều nay tôi mới cảm thấy được no một bữa, còn biết bao nhiêu anh em khác đã và đang bị đói triền miên! Nhưng với số quà này, chắc cũng chẳng được bao lâu. Tôi tự nhủ, sau bữa ăn “hoang phí” này, sẽ tằn tiện, vì lần thăm nuôi sau, nếu có, phải chờ 3 tháng nữa.

Buổi chiều, anh em đi lao động về, đều mừng tôi.

Tôi mở gói kẹo, mời những ai đã giúp đỡ tôi trong lúc đói khát và vài người bạn tốt trong tù. Ở đây rất nhiều chuột. Một anh bạn, đã chuẩn bị trước một chiếc thùng sắt tây đựng quà, nhưng quà chưa tới, cho tôi mượn đỡ. Tôi bỏ tất cả vô, đậy nắp lại. Thùng quà phải để ở nhà ăn, không được mang về buồng. Từ đó, mỗi buổi tối tôi thủ một gói bánh bích quy con gà, con vịt, mang vào “chuồng” ăn thêm cho “ấm bụng!”


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply